[0:15]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:28]Hôm nay chúng ta nói tiếp về cái loạt bài là những cặp phạm trù đối lập mình gọi là sự khác biệt hay sự phân biệt thì lần này chúng ta nói về cặp phạm trù mới và cũ. Mới và cũ thì nhiều thứ lắm, nhưng mà chúng ta chú ý nhiều về cái khái niệm mới và cũ đối với những tư tưởng, sự tu hành và con người ở trong Phật pháp. Chứ còn nếu nói mới và cũ thì mênh mông thiên hạ. Trước hết chúng ta khảo sát cái mới và cũ trong Phật pháp mà cùng một thời đại, nghĩa là sự đối lập giữa hai phía: một bên là những người đi theo đường lối cũ, rồi một bên là những người mà đi theo cái đường lối có cải cách. Chúng ta xem xét cái điều này trước.
[1:28]Thường á thì theo tâm lý chung một cách phổ quát thì người lớn tuổi thường có khuynh hướng bảo thủ, và người trẻ tuổi thì thường có khuynh hướng cải tiến. Đúng không? Phải không? Hầu hết là như vậy. Lý do là vì sao? Lý do là vì thường là như thế này: thường là người lớn tuổi là đã dựng xong cái sự nghiệp của mình rồi, dựng xong hết rồi. Cho nên cái con đường mình đã đi qua và nhờ nó mình thành công thì không ai muốn rời bỏ nó nữa. Như là biết ơn với nó, nhưng mà cũng xem nó là đúng, nó là cái chân lý, nó có giá trị nên khiến ngày hôm nay nhờ nó mà mình mình đã dựng được cái sự nghiệp như thế này.
[2:23]Đó là lý do mà tại sao cái người lớn trở nên bảo thủ như vậy. Giờ nói ví dụ như là một vị hòa thượng, một vị hòa thượng đó tu theo Tịnh độ tông là từ nhỏ vào chùa, vào cách đây là năm sáu mươi năm vào chùa tu hành. Thì vào chùa là cho gióng chuông nè, học hai thời công phu bằng chữ Nho không. Rồi những quyển kinh thì toàn là tụng chữ Nho không. Lớn lớn lên chút bắt đầu quý thầy cho phép đi tụng đám là nơi nhà nào Phật tử mà có cái việc cầu an cầu siêu thì đi đến tụng cho người ta. Hoặc là có khi tang ma cũng đến hộ niệm giùm cho người ta. Rồi lớn lên chút cái quý thầy trong chùa mới cho cái vị đó đi đi học Phật học viện.
[3:22]Thì vào Phật học viện cũng học những kinh điển làm bên Bắc tông cũ chữ Nho phần nhiều. Rồi vị đó cũng an ổn tu hành, nghiêm túc trong giới luật, cũng giữ con đường đúng cách thuần thục. Tụng kinh rất là hay, lễ rất là hay, giáo lý cũng uyên bác, rồi thường siêng là xỏ xâu chuỗi niệm Phật, giữ gìn oai nghi giới hạnh nghiêm túc. Lần lần Phật tử mến mộ, mến mộ lớn lên dần dần cái oai đức đồn xa ra rồi được bổ đi trụ trì một nơi nào rồi có nhiều người đến quy y, rồi cũng có đệ tử xuất gia, đệ tử tại gia thành cái sự nghiệp lớn. Đến ngày hôm nay vào cái thời đại này rồi vẫn còn là một vị hòa thượng
[4:07]già rồi nhưng mà đạo cao đức trọng, ai nghe danh tiếng cũng nể hết. Thì cái vị đó sự nghiệp thành được là nhờ cái con đường mình đi như vậy. Bây giờ nghe nói: "Con đường này cũ rồi, không hay nữa", thì nghe nghe vị đó chịu không? Giật mình liền, nói: "Ủa, có gì đâu cũ, nào giờ mình tu như vậy ổn định cuộc đời của mình rồi, thấy vào chùa như vậy là dễ chịu, đúng hết. Bây giờ sao nói sao mà nghe đổi mới đồ gì? Cái cách tu rồi đổi mới rồi cái tụng kinh phải khác, rồi phải vô chùa là phải hát nhạc đồ, bài Trầm Hương Đốt đồ sao nghe kỳ quá, lạ, không hiểu". Nên có những cái như vậy. Rồi dần dần sau lúc đó thì thấy sống đạm bạc,
[4:52]nghĩa là tương dưa nâu sồng, bây giờ sao thấy chùa phải có ráp điện thoại, rồi máy vi tính, rồi đôi khi là là phải có đầu máy video để coi mấy cái phim tài liệu về Phật giáo. Rồi dĩ nhiên chắc chưa có chùa nào có karaoke đâu. Nhưng mà những cái phương tiện hiện đại mới lạ đó thì làm cho một vị hòa thượng cũng bắt đầu thấy ngạc nhiên. Nên nếu mà chúng ta hỏi một vị đó là: "Bạch hòa thượng, như bây giờ thời đại mới tu hành muốn tiến bộ thì chúng con cần những cái phương tiện hiện đại là phải có điện thoại, có xe máy để đi, có những cái dàn ampli để giảng pháp, có máy thâu băng cassette đồ này kia nọ hòa thượng thấy sao?" Hòa thượng nói:
[5:37]"Tu giải thoát cần chi mấy thứ đó, không cần". Nói như là: "Thầy cả đời có cần mấy nó đâu, tu chết cũng về Phật". Hòa thượng nói ổng chết về Phật là đúng không có sai, tại một đời tu hành ổng nghiêm túc đàng hoàng, lúc nào cũng niệm Phật miên mật thì chết chắc chắn là về Phật không nói gì thêm. Nhưng mà có điều là bây giờ mà đặt vấn đề là là thay đổi cải cách, có thêm nhiều cái kỹ thuật tân tiến vô thì ổng nghe ổng ngạc nhiên liền, ổng nói: "Nào giờ ổng có cần mấy thứ đó đâu mà vẫn tu được. Bây giờ đòi mấy thứ đó mới tu được như vậy là sai". Như vậy cái gọi là cải tiến hay đổi mới như thế đó nó làm cái gì làm cho người ta sa đọa,
[6:19]đi xa Phật pháp, người ta chạy theo vật chất, chứ không có còn là chân chính tu hành sống đời đạm bạc như xưa nữa thì ổng kết luận như vậy liền. Thì bây giờ cái lớp trẻ mới lên nghe ổng nói vậy cái khó chịu, tại sao vậy? Tại vì lớp trẻ mà mới tu, tôi thuộc loại cũng hơi già già rồi, còn lớp trẻ ví dụ mới bước vào chùa tu thì từ nhỏ lớn sống là ở trong nhà là chụp là có điện thoại, có tivi, karaoke, máy tính phương tiện đầy đủ hết, thì không tưởng tượng được đời sống một người mà thiếu những thứ đó. Thí dụ vào chùa đi, thì vào chùa thì muốn nói chuyện đâu không cần phải chạy đi xa, mà chỉ cần nhấc điện thoại lên nói chuyện
[7:04]với nhau, rồi phải có băng cassette để thu những bài giảng lại, hoặc thậm chí mà những tài liệu Phật giáo mà được thu băng video hình đó chùa cũng phải cần có đầu máy để xem. Dĩ nhiên là mình không có nói cái chuyện mà lợi dụng những kỹ thuật đó để mà xem cái thế gian, xem hát nhạc hay là xem phim thì mình không có nói, mình nói là người tu nghiêm túc. Thế cũng rất cần những phương tiện này. Ví dụ như một buổi giảng pháp của chúng ta vậy, chúng ta cũng rất cần hệ thống âm thanh tốt phải không? Rồi lần lần là lớp trẻ bây giờ còn được là tiếp xúc với cái hệ thống computer vi tính nữa, thì chúng ta thấy nó còn có những cái xử lý thông tin cực kỳ tinh vi nữa.
[7:47]Thì họ không tưởng tượng được một đời sống của một con người có giá trị, có hiểu biết mà thiếu những phương tiện đó. Thì bây giờ mới xuất hiện cái tư tưởng gọi là cải cách. Cải cách là tu trong đạo Phật cũng cần những phương tiện kỹ thuật. Mà thấy tụi con có phương tiện tụi con vẫn ngồi thiền được, không bỏ bữa nào, niệm Phật vẫn tốt như thường. Ví dụ cầm xâu chuỗi vẫn niệm Phật được, hoặc là tới giờ nào giờ nào vẫn ngồi thiền được. Rồi việc sử dụng các phương tiện kỹ thuật không được cho là tạo thành sự trở ngại trong tâm linh. Thì như vậy chúng ta thấy cái tư tưởng đó nó đối kháng lại với tư tưởng cũ liền.
[8:26]Do cái lối sống, cái nếp sống, quá trình huân tập, quá trình tích lũy và sự nghiệp thành tựu được bởi con đường nào thì chúng ta sẽ giữ chặt con đường đó. Đó là một hòa thượng Tịnh độ. Bây giờ mình nói hòa thượng mà tu theo Thiền tông, là một vị đó không có chủ trương niệm Phật, thích là tự mình tìm cái sức định nơi tâm mình, rồi nơi cái phương pháp nào đó được cái định rồi được sự giác ngộ ngay trong đời sống hiện tại. Nghĩa là nơi tâm này tìm thấy được sự giải thoát, cái an lạc chứ không cầu vãng sinh, không có đợi chết rồi mới tìm về cõi Phật. Nghĩa là ngay nơi đời sống đã phải thấy được giá trị của sự giải
[9:11]thoát, của giác ngộ, của trí tuệ, chứ không có chờ đợi. Thì vị đó nỗ lực tinh tấn tu hành đến lúc đạt được sự giác ngộ thật sự, rồi đem điều giác ngộ đó giáo hóa rộng rãi khắp nơi. Khắp nơi này, khắp nơi kia trên đất nước, ngoài đất nước đều hướng về để tu hành hết. Thì bây giờ vị đó đã trở thành một hòa thượng đi vững chắc, có nhiều đệ tử xuất gia, tại gia, là tư tưởng mình đã lan tràn khắp nơi người ta chấp nhận, thì chắc chắn bây giờ mình đến mình nói với vị đó là: "Con đường Thiền tông sao thấy nó không có hợp lý, nghe nó không logic" là vị đó không chấp nhận, phải không? Tại vì nói là con đường quá thành công, đã có rất nhiều người ủng hộ điều mình
[9:55]nói, thì luôn luôn cho đó là chân lý đúng mà không thể thay đổi được. Nếu mình đưa vào một sự thay đổi thì vị đó sẽ đánh giá rằng mình lệch lạc, mình lệch lạc. Mà cho rằng cái điều mà vị đó đã rất là thành công là do được quá nhiều người ủng hộ thì đó là chân lý. Nên ở đây sở dĩ có cái tư tưởng bảo thủ là vì thế này, là vì thấy mình được nhiều người ủng hộ và nghĩ rằng điều mình nói ra đã đúng, đã đúng rồi. Chúng ta bị cái tư tưởng đó, bị cái tư tưởng đó vậy. Dĩ nhiên là cái sự thành công của vị đó nếu mà xét cho kỹ, cho sâu, nó lệ thuộc vào phước của quá khứ, phước của quá khứ. Là những đời xưa nhiều đời nhiều đời chứ không phải một hai đời mà thành tựu được.
[10:49]Một nhiều đời nhiều đời thì vị hòa thượng đó đã gieo duyên lớn với chúng sinh. Có khi vị đó là một vị quan mà chăm lo cho dân, cho nên cái lòng dân họ còn mang cái ơn. Có khi vị đó là vua, là một minh quân mà thương yêu dân, cho nên cái lòng dân còn tưởng nhớ. Thì trải qua nghĩa là năm bảy kiếp sau trở lại đi tu thì rất nhiều tín đồ
[11:19]Tôi biết có một cái giáo phái trong đạo Phật, dĩ nhiên là mình không có tiện nói tên, thì không có gì đúng lắm. Ừ nghe qua giáo lý thì không có gì đặc biệt, cái lối tu hành thì cũng có lai chút tà ở trong rồi, mà tín đồ rất đông, tín đồ rất đông. Thì chúng ta thấy cái vị mà khai sáng của cái giáo phái đó đó, từng quan sát mình thấy cái lối hành đạo của vị đó mà nghe thuật lại với những người gần gũi thì thấy không không có đặc biệt, không đặc biệt gì hết trơn, mà lai cái tà cũng khá nhiều, mà đến bây giờ những người cư sĩ, tín đồ còn ủng hộ rất là mạnh. Những ngày giỗ chạp rồi còn rất đông người đến,
[12:01]nên mình hiểu cái đó nó là cái ảnh hưởng từ cái kiếp quá khứ nào nó đến lại. Và cái quan niệm cho rằng là được nhiều người ủng hộ có nghĩa là mình đã đúng, thì đây là tư tưởng phải xét lại, vì nó lệ thuộc vào cái duyên của mình với chúng sinh. Khi chúng ta xét là ngày xưa chính dân Đức đã bầu Hitler lên làm lãnh tụ, mà gây thành cuộc Thế chiến, chính người Do Thái mới đây thôi đã bầu cho ông Netanyahu lên làm thủ tướng, mà không chịu tiến hành hòa bình với Palestine đó, thì chúng ta thấy là chính cái số đông họ đã chọn chiến tranh, mà là số đông. Nên chúng ta đừng nghĩ cái số đông là luôn luôn đúng.
[12:54]Dĩ nhiên là thường thì số đông là dễ đúng hơn là số ít, dễ thôi chứ không phải luôn luôn. Trong lịch sử đã chứng minh như vậy. Và ở điểm này, chúng ta thấy nhà hiền triết Socrates rất là sâu sắc. Nhà hiền triết Socrates, ông ấy sống như xấp xỉ trước hoặc đồng thời với Đức Phật, hình như trước một chút. Có những đệ tử nổi tiếng như là Platon, những nhà hiền triết nổi tiếng. Thì Socrates ông sống đặc biệt lắm, lúc đó thời đó cái chữ viết chưa có nhiều, thì luôn luôn ông là nhà hiền triết đi dạy dỗ dân trong thành thị, tối ngày ăn cơm xong là lang thang ra ngoài đường, kêu những thanh niên lại nói chuyện đạo giảng cho họ nghe.
[13:38]Chứ lúc đó phương tiện không có được nhiều như mình. Đó, và hỏi đáp hỏi đáp và đã làm cho nhiều người trở nên có cái đời sống tốt. Về sau, khi mà ông bị hãm hại, phải uống thuốc độc mà chết, ông bình tĩnh uống thuốc độc. Uống thuốc độc xong ông cho biết là chân ông lạnh từ từ, ông đang chết dần dần với thái độ rất là bình thản. Ấy nghĩa là người đã tự tại được trước cái chết. Thì về cái quan niệm về chính trị thì ông nói như thế này, ông chủ trương rằng lúc đó cũng có nhiều người theo cái tư tưởng đại nghị cộng hòa vì thời đó Hy Lạp là như vậy, họ theo cái tư tưởng đại nghị cộng hòa, mà Socrates ông nói rằng cái tư tưởng mà lấy
[14:20]cái số đông để chọn ý kiến là nó không có hay đâu. Cái người lãnh đạo là những người ưu tú, xuất sắc mà cái thành phần mà ưu tú, xuất sắc để có ý kiến đúng, thành phần nó rất là ít, không có nhiều, không có nhiều. Thì làm sao mà lựa được những người cái số ít đó, thì chính cái ý kiến của những người đó mới có thể xây dựng được đất nước này. Chứ còn nếu theo số đông thì số đông nó thường thường ý kiến nó sàn sàn sàn sàn giống nhau, nó chỉ từ trung bình trở xuống một chút, không có nhiều. Ví dụ chúng ta thấy bây giờ một cái người bác học, bên cạnh là mười người là người nông dân đi, là người nào giờ chúng ta không có chuyên chú vào việc nghiên
[15:04]cứu, thì chúng ta mải lo chăm lo việc đồng áng nên không có điều kiện để học. Bên cạnh một ông bác học, cả một đời ổng mới đi học không. Vậy mười người nông dân đưa ra ý kiến, mười ông cộng lại ý kiến của mười ông cộng lại có bằng ý kiến của ông bác học không? Mười ông nông dân cộng lại cũng bằng một ông nông dân, tại có nhiêu đó à. Cái tư tưởng tầm cỡ chỉ cỡ đó thôi, vì họ không có điều kiện để học. Quanh năm là nghiên cứu nếu mà hỏi về kỹ thuật trồng trọt thì có khi họ lại chuyên sâu, nhưng mà nếu nói những tư tưởng uyên bác hơn, cái nhận định về cuộc đời, về xã hội, về kỹ thuật thì không thể bằng một ông bác học.
[15:43]Cho nên ở đây số đông đã không bằng số ít. Và Socrates Socrates đã nhìn thấy điều này, nên ổng kêu gọi như vậy, nhưng mà ổng kêu gọi không thành công. Vì thời đó người ta vẫn chủ trương là lấy cái số đông. Đến bây giờ chúng ta vẫn theo cái tư tưởng đó, tư tưởng đại nghị, hễ cái gì số đông chấp nhận là phải đi theo cái số đông đó. Đây cũng là một điểm còn hở lớn của nhân loại. Nghĩa là chúng ta phải hiểu đến ngày hôm nay cách Socrates là hơn 2.600 năm, chúng ta vẫn chưa tiến bộ bằng tư tưởng của Socrates. Mặc dù rằng việc đó khó vô cùng, làm sao mà lựa được toàn những con người ưu tú mà buộc toàn cái số đông đó phải theo ý kiến của một số ít người?
[16:30]Đó, ông lý luận rất là hợp lý thấy không? Nãy giờ mình nghe mình phân tích mình thấy rất là hợp lý, nhưng mà đến ngày hôm nay chúng ta vẫn chưa thể chấp nhận điều đó, chúng ta đành vẫn phải tiếp tục chọn cái số đông. Thì ở đây cũng vậy, là chính những vị hòa thượng thật sự là do phước của đời xưa, nên đời này có duyên với chúng sinh và được chúng sinh ủng hộ, rồi quý vị đó lại ngỡ rằng à mình được nhiều người ủng hộ là nghĩa là mình đã là chân lý, và như vậy con đường mình đi đã là chân lý rồi. Thì cứ tiếp tục giữ như vậy, đừng để cho nó lệch lạc, đừng để có một cái ý kiến, một sự pha trộn nào mà làm sai mất chánh pháp đi.
[17:18]Cái vị nói như vậy là vị đó rất có thiện chí, cũng lo sợ cho tiền đồ của Phật pháp, là cứ lo sợ một Phật pháp tinh khôi, nguyên vẹn, trong trắng như vậy, mà nếu người ta cứ đưa vào đó những cái sự thay đổi cải cách mà có chắc là cải cách đúng hay chăng? Mà cứ cải cách riết rồi nhìn lại cái không còn biết cái đó là đạo Phật nữa, thì rất là đáng sợ. Nên những vị đó cũng có cái thiện chí, có tâm huyết là muốn giữ gìn Phật pháp, đó nên đã xuất hiện cái khuynh hướng bảo thủ là như vậy.
[17:56]Còn bây giờ chúng ta nói là cái người tuổi trẻ lại có cái khuynh hướng cải cách là vì sao? Là vì thế này, trước hết cái người tuổi trẻ đó chưa có dựng được cái sự nghiệp, cho nên chưa có chấp vào cái con đường nào là cố định. Đó là một cái. Thì ở đây nó xuất hiện hai trường hợp nơi người tuổi trẻ, là có người á an phận là thầy mình dạy sao, thấy ông thầy mình ổng đi con đường đó ổng thành công rồi mình thôi cũng an phận đi theo con đường đó. Tức là vào chùa thầy mình bảo là phải tụng bài kinh như thế, rồi nói chuyện Phật tử như thế, đi học ở đó như thế. Thầy ổng thành công quá chừng, thấy ổng tín đồ,
[18:47]phước đức, cất chùa to, mình nghĩ à đây là chân lý, cứ đi theo. Đó là người tuổi trẻ an phận, nên tuy là tuổi trẻ mà không có cải cách, không có khuynh hướng cải cách, đó là người an phận. Mà thường là những người như vậy thì năng lực không có lớn, nhưng họ an phận. Cứ thầy dạy sao cứ an phận một đời đi theo như vậy, yên ổn, rồi hưởng cái đức của thầy. Mà có khi ông thầy mình ổng tịch rồi thì Phật tử cũng quay sang ủng hộ mình, rồi thôi cũng làm được việc Phật sự, cũng giáo hóa được chúng sinh, cũng tạo thành cái chùa là một cái bóng mát cho nhiều người lui tới, cũng được một đời tu hành. Nhưng mà lại có những người tuổi trẻ mà họ có năng lực
[19:33]thì tự nhiên họ cảm thấy không an phận, không an phận. Cái không an phận của người tuổi trẻ nó do nhiều nguyên nhân. Mà dĩ nhiên là phải là người có năng lực, phải giỏi, phải xuất sắc cái đã, mới không an phận. Mà mình tìm sâu trong cái tâm không an phận của họ thì mình thấy nó có nhiều cái nguyên nhân, có nhiều nguyên nhân chứ không phải là đơn thuần là một cái. Nhiều nguyên nhân nào? Ví dụ thế này, ví dụ như Cái người đó, họ đang đi theo con đường của thầy họ dạy như vậy, họ chấp nhận. Dĩ nhiên là phải chấp nhận thì mới đến tu với ông thầy đó, chứ nếu không có chấp nhận ông thầy đó đâu thèm tới tu với ổng chi, phải không?
[20:16]Nghĩa là đã thấy ông thầy đó đúng rồi, ngay khi mình còn là cư sĩ, thấy ông thầy đúng rồi mình mới đến xuất gia với ổng. Nhưng mà xuất gia tu chừng hai, ba năm cái bắt đầu phát hiện ra nhiều điểm sơ hở trong con đường của ông thầy mình. Đây là cái hạng đệ tử xuất sắc, kiểu giỏi ngầm ngầm á. Trong lòng đã bắt đầu xuất hiện cái khuynh hướng cải cách lần lần mà không nói ra. Cái người thô đó thì mới thấy sơ hở là nói nói tùm lum rồi, bài xích rồi đủ thứ thì cái hạng đó không có bản lĩnh. Cái hạng đó, ví dụ thấy người trước, người đi trước mình, thầy mình, những vị đi trước đường lối cũ mà có cái điểm sơ
[20:54]hở, vô lý trong lý luận, thấy xong cái la làng lên, cái người đó không có bản lĩnh, không làm được việc lớn. Nên mình miễn bàn cái loại đó. Mình chỉ bàn cái người thâm trầm, sâu sắc, tức là đang làm đệ tử của thầy mình, phát hiện ông thầy mình đã có điểm sơ hở, không nói, lặng lẽ đấy, là đệ tử ngoan mà, không muốn nói điều gì làm thầy mình buồn, âm thầm, nhưng trong tâm đã xuất hiện cái khuynh hướng cải cách rồi, âm thầm nằm trong đó rồi. Thì ở đây nó có hai trường hợp nữa. Trường hợp một á là người này vì đạo thực sự, là muốn sẽ bổ sung những cái còn sơ hở của thầy mình để làm cho đạo Phật hoàn thiện thêm,
[21:41]cho chúng sinh được lợi ích hơn, thì đây là hạng người vì đạo thật sự. Còn hạng thứ hai á là muốn chứng tỏ cái tôi của mình, muốn chứng tỏ cái ưu điểm, cái xuất sắc, cái năng lực, cái độc đáo của mình nên tìm cách cải cách, thay đổi để cái gì lạ làm cho thiên hạ chú ý, làm nổi, chứ còn cái chìm chìm nói gì người ta nói rồi mình nói lại mình không có nổi. Cho nên người ta đã nói như vậy mình nói khác đi cho nó nổi lên một chút. Thì đây là cái hạng người trong cái thâm sâu, cái động lực thâm sâu của sự cải cách là chỉ vì muốn đề cao cái tôi của mình, thì cái hạng này rất là sai. Hạng này có thể giỏi được bước đầu nhưng về sau
[22:27]sẽ sụp đổ, vì cái nhân ban đầu đã không tốt. Đó, hai hạng. Mà cái tâm lý, tâm lý của hạng thứ hai này á nó không có tốt mà nó chi phối, chi phối trong rất nhiều người trên thế gian này. Không phải riêng trong đạo Phật, mà các tôn giáo khác, mà không riêng trong tôn giáo, trong những vấn đề của xã hội, của gia đình đều có khuynh hướng này hết. Nên các nhà tâm lý xã hội khi họ nghiên cứu họ đều thấy cái điều này, là trong một gia đình thì cái người anh trưởng thường có khuynh hướng bảo thủ, mà những cái người em thứ thì thường có khuynh hướng cải cách. Thì tại sao vậy? Tại vì ông anh trưởng á là truyền thống đã cho ổng cái quyền rồi, phải không?
[23:17]Hễ là ổng đầu thai vô nhà đó ổng làm anh cả thì quyền huynh thế phụ, phải không, quyền anh thay cha. Tức là truyền thống từ xưa đã cho ổng cái quyền đối với gia đình nên ổng đâu có phá, đâu có dại gì ổng phá vỡ truyền thống đó làm chi, phải không? Nên vô tình tạo thành cái khuynh hướng bảo thủ, nên ở đây cái bảo thủ xét cho thâm sâu là đã bảo vệ cái quyền lợi của mình. Á con người ta làm mọi việc, sự thực cái quyền lợi của mình nó chi phối hơi mạnh ở trỏng. Rồi cái người em thứ thì hay có khuynh hướng cải cách, là vì sao? Tự không mình đẻ ra cái truyền thống buộc mình phải nghe lời ông anh nên hết sức vùng vẫy thoát ra khỏi cái truyền thống
[23:58]đó, cái truyền thống mà đã làm cho mình phải thua thiệt. Đó. Cũng vì quyền lợi của mình thôi, nên thoát ra để tìm cái gì để chứng tỏ, xác định được cái giá trị của mình, chứ không quá vì truyền thống mà mình phải thua ông anh mình. Cái tiềm tàng, tiềm tàng trong cái tuổi thơ nó đã nuôi dưỡng để sau này lớn lên, cái người thứ trong gia đình hay có khuynh hướng tìm tòi, sáng tạo và cải cách. Á cái đó lại là như vậy. Đó là trường hợp mà vì sao người tuổi trẻ hay có cái khuynh hướng cải cách
[24:36]là thường là đụng tới quyền lợi của mình. Với thứ hai là họ có thì giờ, họ có thì giờ để tìm tiếp cái con đường mà ông thầy mình chưa tìm hết. Ví dụ như ông thầy mình ổng nói câu này, ổng nói: "Các con đi, đứng, nằm, ngồi ráng miên mật niệm Phật thì khi chết được vãng sanh Tịnh độ", ổng nói câu đó. Ông thầy nói câu đó có gì sai không? Đâu sai, quá đúng, tại ông thầy ổng thực hành được như vậy. Và ngay trong hiện đời lúc ổng chưa chết ổng đã vào định được rồi. Ở trong câu niệm Phật ổng đã định, mà hễ ngay khi mình sống mà tâm định thì chắc chắn chết về cõi Phật. Thì chúng ta phải nhớ cái điều này,
[25:21]là sau khi chết chúng ta đi về chỗ nào thì cái điều đó nó xuất hiện
[25:28]trong lúc chúng ta còn sống. Khi mình chưa chết, tâm mình như thế nào thì khi chết mình sẽ đi về chỗ đó. Nếu khi mình còn sống, tâm mình loạn động đủ thứ hết, niệm Phật quá chừng mà vẫn loạn động, có nghĩa là khi chết chưa về nơi yên ổn, chưa về an lạc quốc được. Còn nếu mình niệm Phật tinh tấn và ngay chưa chết tâm mình đã vào định, chắc chắn chết về cõi Phật. Đó là điều khẳng định. Nên cái cõi mà mình đến nó đã hiện ra lúc mình chưa chết chứ không phải đợi là chết nó mới hiện ra, chúng ta phải nhớ điều này. Cho nên chúng ta tu tập, ví dụ cái người không tu pháp môn niệm Phật đi, cái người tu thiền đi, thì phải bảo đảm rằng khi chưa
[26:16]chết tâm mình đã vào định thì lúc chết mới tự tại. Hoặc là người mà không có niệm Phật cũng không ngồi thiền mà bận cái gì đó không biết, nguyên nhân gì đó không biết, mà chỉ sống một đời vị tha thôi, sống hết sức vị tha, chỉ lo cho mọi người được tốt đẹp, được ích lợi, được đạo đức thôi. Rồi chưa chết mà tâm hồn đã an nhiên, hạnh phúc, nó hiện cái định ra luôn do cái công đức của đời sống vị tha.
[26:47]Tiếng nó đang cười hay nó khóc hay nó la? Do công đức của đời sống vị tha mà cái định nó hiện ra luôn thì chắc chắn người này chết phải về cõi trời. Đó, chúng ta phải nhớ, cho nên ở đây là quý Phật tử nhớ điều này: tu làm sao mà chưa chết mình phải thấy được kết quả, thì lúc đó mới bảo đảm rằng sau cái chết mình đi về nơi an lành, nhớ như vậy. Còn cứ già từ từ tới, xét lại tâm mình còn đủ thứ chuyện thì phải hiểu rằng chưa có cõi tốt đẹp nào chờ mình hết, vẫn còn đầu thai lại để tu tiếp, chưa có về nơi yên lành được. Thì ở đây ông thầy ổng dạy: "À con hãy đi, đứng, nằm, ngồi miên mật niệm Phật,
[27:33]vãng sanh Tịnh độ", vì ông thầy ổng đi theo pháp môn Tịnh độ. Rồi người đệ tử mới đầu thực hành theo, thực hành một thời gian bắt đầu mới thấy, thấy có những điểm không phải. Có những điểm thấy mình niệm Phật cả ngày tới chừng vào nhà vệ sinh đi ra ngày đó loạn liền, mới hiểu là niệm Phật không được phép vào nhà vệ sinh. Mới phát hiện thêm một điều, thì cũng cái từ ông thầy đã dạy thôi, nhưng mà khi mình thực hành đúng theo từ từ mình thấy nó có những cái tinh vi hơn. Rồi ông thầy ổng chỉ nói niệm Phật chứ ổng không nói niệm sao hết, cái người đệ tử bắt đầu niệm trong tâm cái câu là "Nam Mô A Di Đà Phật,
[28:08]Nam Mô A Di Đà Phật", thì người đó mới phát hiện ra rằng khi niệm như vậy đó là mình chỉ dùng cái biết nhẹ nhàng biết từng tiếng, từng tiếng theo cái tiếng niệm đó, chứ không phải là lắng nghe, không phải là niệm theo cái cách mà đọc to tiếng hay vân vân. Nghĩa là người đó trong cái công phu thực hành đã phát hiện được những điều tinh vi mà ông thầy mình chưa nói, nghĩa là ông thầy mình ổng mới nói cái tổng quát thôi. Cái người đệ tử khi thực hành sâu vào trong mới phát hiện ra. Thì khi người đệ tử đó mà có người Phật tử lại hỏi niệm Phật thì ông này ổng dạy hay hơn ông thầy. Ổng dạy hay hơn. Tại vì thứ nhất là ổng, ổng phải là người xuất sắc,
[28:47]người giỏi, tinh tấn tu hành, và ổng nối tiếp cái nền của ông thầy. Chúng ta nhớ cái người sau luôn luôn có lợi thế hơn người trước là vì người trước đã đặt cái nền rồi và mình bước thêm thôi, chứ mình đừng có nghĩ rằng mình hay hơn người xưa. Vì nếu không có cái nền của ông thầy mình thì mình đã không khám phá được nhiều điều mới. Luôn luôn là có cái nền, mặc dầu mình là cải cách đó, nhưng mà nếu không có cái nền của ông thầy mình thì mình không cải cách gì được hết. Đây là điểm mà chúng ta phải khiêm tốn. Tuy nhiên đó cũng là cái cải cách trong đạo Phật là như vậy. Nhưng tuy nhiên điều này, nói về cái cải cách thì có khi
[29:28]cái điều cải cách đó là đúng, mà cũng có khi điều cải cách đó trật lất.
[29:37]Đó là trường hợp là là sao mà cải cách đúng mà sao cải cách trật lất. Ở đây thế này, nó do cái nhân quả tận trong thâm tâm mình. Chúng ta thấy lạ lắm, những cái việc mà thấy tưởng không dính gì với nhân quả, vậy mà nhân quả phước đức cũng chi phối ở trỏng. Khi một cái người phát hiện được một cái đạo lý hay, nghe nhiều người thích, nhiều người thích như chúng ta nhắc chưa chắc là đúng nha, chúng ta nhắc lại điều đó chút, mà cho là cái người đó phát hiện ra điều mới, đưa ra nhiều người thích, mà trường hợp nào thì điều này là đúng luôn, làm cho Đạo Phật phát triển thêm một bước mới? Trường hợp nào thì điều mà phát hiện mới này nó trật,
[30:22]làm cho Đạo Phật thấy rộn rộn lên mạnh trong một giai đoạn rồi lại chìm trở lại? Trường hợp nào? Nguyên nhân nào? Tại sao như vậy? Thì ở đây là nó có cái nhân quả của đời này và những đời trước. Đây là điều rất là lạ. Nếu mà cái người này đưa ra cái điều mới mà được người ta tán đồng trong một thời gian thì phải hiểu là người này có duyên với chúng sinh. Chúng ta phải kết luận là có duyên với chúng sinh, chứ chưa được kết luận người này đã đúng. Phải nhớ điều đó. Vì chúng ta đừng có tưởng nghe ra thấy khen hay quá hay quá, khắp nơi nghe rần rần hay quá, đừng tưởng người đó đã đúng, mà chỉ nên nhớ người này có duyên với chúng sinh thôi.
[31:05]Nghĩa là đời trước ông này ổng bố thí rộng rãi, ổng cứ đi hết đầu này đi đầu kia ổng đắp đường cho người ta, có khi đời trước ổng làm quan làm vua ổng lo cho dân, nên đời này có duyên ổng đưa ra cái gì nhiều người thích nhưng mà chưa chắc đúng. Nhưng mà trong trường hợp này là đúng nè: Đúng là trong những đời xưa và kéo dài tới đời này ổng không có vì mình, không đi tìm cái nổi cho mình mà chỉ vì đạo thật sự thôi, lúc nào cũng nép mình trong hào quang của Phật, lúc nào cũng cầu Phật gia hộ để tìm được cái điều đúng mà giúp cho con người, giúp cho chúng sinh được tăng trưởng thiện pháp, mà tận trong thâm tâm của người này
[31:49]là không có muốn mình nổi bật, mà mọi cái hay đều thuộc về Đức Phật, mọi cái vinh quang đều thuộc về Đức Phật. Giống như câu nói của
[32:02]Evander Holyfield, võ sĩ đánh bốc ổng đánh thắng được Mike Tyson đó, hỏi ổng sao, ổng nói: "Vinh quang này thuộc về Thượng đế", trước có lần tôi nói câu này rồi. Nghĩa là con người không bao giờ nhận cái vinh quang về mình, mà lúc nào cũng nhận về ơn trên. Thì trong Phật pháp cũng vậy, ví dụ cái người đó khi họ phát hiện ra được cái điều gì hay, truyền đạt được cho mọi người, được mọi người thích và người ta được ích lợi, trong thực hành có kiểm chứng, mọi người thực hành theo thấy có ích lợi rõ ràng trong đời sống nên được cho là đúng, và cái người mà đưa ra cái điều này được coi như là có vinh quang, phải không?
[32:44]Có danh dự, có được người ta tôn trọng, mà người này có cái tác ý suy nghĩ vinh quang đó thuộc về chư Phật, vì nhờ sự gia hộ của chư Phật mà mình đã tìm thấy những điều này, và cái quan trọng là bản thân mình không quan trọng, mà quan trọng là chúng sinh được lợi ích, chứ không phải vì mình, thì người mà có cái tác ý đó đó, thì đời này đời sau hễ đưa ra cải cách nào cải cách đó là đúng, và làm cho Đạo Phật cứ mỗi ngày mỗi phát triển tiến bộ thêm. Còn nếu người nào do đời trước có một chút phước, có chút duyên với chúng sinh, thì trong đời này cũng được cái phước giỏi giắn, xuất sắc, suy nghĩ sáng tạo, rồi cũng đưa ra một vài điều cải
[33:25]cách, nhưng mà trong đó lẫn cái ý vì cái tôi của mình hơi nhiều, hưởng cái vinh quang của mình hơi nhiều, khi mọi người khen tặng, khi mọi người báo về là mình đã thành công, người ta nghe bài giảng mình người ta thích thú, người ta thành công, trong thâm tâm mình có cái tận hưởng những điều đó, thích thú vì những điều đó, tự khen mình là hay, tự khen mình là hay, không biết cúng dường cái vinh quang đó lên Đức Phật, cứ tự nhận hết những vinh quang về mình, thì lần lần cái cải cách của người đó coi hay bước đầu, rộn rộn bước đầu, từ từ tàn lụi, không bền bỉ.
[34:04]Nhưng mà do cái phước đời trước, nên họ đã thành lập xong được một cái trường phái rồi, đã một cái tông phái rồi, được nhiều người ủng hộ, có một hệ thống tổ chức, một cơ cấu rồi, nhưng mà xét cho kỹ cái cải cách của họ không sâu, không sắc và không đúng, có khi không đúng. Cái tông phái của họ cứ lẩn quẩn cái lợi ích của chúng sinh nó không nhiều, nó lẩn quẩn lẩn quẩn thời gian, đến lúc nào đó, cái sự thực hành mà người ta làm theo, người ta không có thấy nó kết quả nhiều, kết quả sâu nữa, thì từ từ nó tàn dần, lụi dần. Đó là do trong thâm sâu của cái người đó cái đạo đức chưa vững mà đã vì cái ta hơi nhiều.
[34:47]Đó, chính cái nguyên nhân đó làm cho một người có cải cách đúng hay là cái cải cách sai. Đó là trường hợp mà vì sao cải cách đúng, cải cách sai. Rồi chúng ta xét qua một cái trường hợp khác nữa là có những người vì nhiệt tình cải cách à thấy cái điều mới mà mình nghĩ ra hay quá mà nhiều người nghe theo, vì nếu mình đưa ra mà không ai nghe theo thì cũng không có gì để nói, mình đưa ra nhiều người thích thú nghe theo, rồi cái xây dựng thành một cái sự thay đổi xáo trộn tùm lum trong Đạo Phật luôn. Do cái đó là một cái nhiệt tình quá đáng đấy, thấy cái điều này hay quá đi, hay quá, thấy Đạo Phật cũ như vậy là không có còn đáp ứng được với thời đại nữa.
[35:34]Như nói là ngày nay mà còn cái mà hễ thấy thấy đám ma là thấy thầy chùa không được, nói vậy phải cải cách điều này, nghĩa là bây giờ mà hộ niệm đám ma phải tinh vi hơn, không có được mà nói quý thầy mà cứ đi theo đám ma ngoài ngoài dài dài theo đường mà gõ mõ cứ A Di Đà Phật đi dài hết cả con đường, nhìn vô không nghiêm trang, phải cải cách một cái đám ma hiện đại hơn. Quý thầy phải thế nào để nhìn vô cho nó nghiêm trang, thì ý thì cũng thiện chí, vậy cũng hay thiệt. Hoặc là nói rằng tụng kinh mà chữ Nho mau nghe không có hiểu, bây giờ phải tụng kinh bằng tiếng Việt, thì điều đó đúng không? Cũng đúng.
[36:11]Vậy thay đổi hết, bắt đầu đặt hết kinh lại, đặt lại, đặt lại. Thì những cái điều đó cũng làm sự xáo trộn quá nhiều, mà không bỏ hẳn nghi thức cũ, không còn dính chút gì hết trơn. Cái chuyện người khéo thì mình thay đổi vừa vừa thôi. Nghi thức cái sườn chính thì vẫn giữ đi, vừa vừa vừa vừa, còn có khi đổi bạo quá, vô mình tụng xa lạ, nên cái đó là cũng cái quá nhiệt tình. Rồi mới nói chứ chùa của thế kỷ 21 rồi mà còn cứ cất cái mái cong cong vậy là không hợp lý, giờ phải đường nét hiện đại, mạnh bạo. Thế nào? Thì những cái đó là cái quá nhiệt tình cải cách, mà coi chừng coi chừng nó nó đi quá xa.
[36:52]Rồi ví dụ như là nói nói là bây giờ quý thầy sống mà giữ giới khép kín như vậy nó không có thích hợp cho việc hoằng hóa độ sinh, cho nên phải cho quý thầy một cái đời sống tương đối cởi mở, tiếp xúc nhiều thì mới có thể là làm cho Phật pháp nó năng động, sinh động hơn được. Thì ý nghĩ thì cũng có cái lý do biện minh tốt chứ không phải không. Rồi lúc đó mới đặt ra một cơ cấu mới hoàn toàn hết cho Phật giáo, cho giáo hội, cho nghi thức, cho sinh hoạt, cho mọi cái lộn tùng phèo lên hết. Thì những cái điều đó tuy nhiệt tình, có thiện chí nhưng mà lại là một cái cực đoan, một cái cực đoan không nên.
[37:39]Ở đây đó, cái nhiệt tình á chúng ta phải nhớ điều này: Giữa cái người bản lĩnh và không bản lĩnh á, cái người mà có bản lĩnh là tuy họ có những cái nhiệt tình cải cách nhưng mà họ biết tôn trọng người xưa, họ biết biết ơn người đi trước, biết ơn người đi trước. Cho nên họ vẫn giữ lại những cái gì tốt đẹp mà người xưa còn đúng được cứ giữ lại. Không cần thay đổi thì đừng thay đổi. Chỉ trường hợp là cái đó quá vô lý, khi thời đại nó tiến bộ rồi, mà việc làm cái điều đó quá vô lý không chấp nhận được thì thôi đành phải bỏ, chứ còn cái gì mà của người xưa truyền thống tốt đẹp mà còn được thì cứ ráng phải giữ, chứ đừng có làm thay đổi quá.
[38:27]Là tại sao vậy? Vì có thể là người đi trước mình chưa hoàn thiện, nhưng luôn luôn có điều gì đúng trong đó. Không bao giờ người xưa sai hết. Nếu mà người xưa mà sai hết thì Đạo Phật không bao giờ tồn tại tới ngày nay, phải không? Thì có thể là có điều gì đó chưa hợp lý với thời đại thôi, chứ không thể nào mà cái gì cũng phải đổi, cái gì cũng phải đổi hết. Nên ở đây là chúng ta phải khéo trong cái sự bổ sung, cải cách, đóng góp của mình đối với Phật pháp thì vẫn phải tôn trọng cái cũ, nghĩa là tôn trọng tiền nhân. Đó cũng là cái khiêm hạ. Còn mà cái sự nhiệt tình đóng góp mà để làm thay đổi, phủ nhận hết, bài bác hết, bỏ hết cái cũ, nó cũng là một sự thiếu khiêm hạ.
[39:20]Đây là chúng ta nói cái sự mới và cũ trong cùng một thời đại, nghĩa là hai thế hệ của con người, người bảo thủ và người cải cách trong cùng một thời đại thì có những vấn đề như vậy đó. Đây chúng ta khéo léo thì dĩ nhiên sau khi mà chúng ta nhận định qua giữa cái bảo thủ và cải cách của cùng một thời đại thì chúng ta thấy điều này: Đạo Phật cần sự cải cách, phải không? Vì con người thay đổi, thời đại thay đổi, Đạo Phật cần cải cách, nên rất cần những con người có cái sáng tạo xuất sắc bổ sung thêm cái mà người xưa chưa nói tới. Cần thiết. Ờ và trong cái cải cách bổ sung đó, chúng ta luôn luôn cố gắng
[40:03]tôn trọng những cái gì tốt đẹp mà tiền nhân đã để lại, đã khai sáng và đã để lại, chứ đừng có làm xáo trộn um sùm lên. Chúng ta có thể gọi đó là dung hòa, nhưng mà sự thật cái dung hòa nó không phải chắc là cái đúng, mà cái đúng thì tự nhiên nó dung hòa. Nghĩa là sao? Nghĩa là cái người mà đúng á thì họ phải tìm thấy cái đúng của người xưa. Phải không? Và họ giữ cái người xưa lại. Nên thấy giống như họ dung hòa. Nhưng mà khi đúng thì nó dung hòa. Và đúng nơi bản thân họ là cái sự khiêm hạ, tôn trọng, biết ơn người đi trước, đó cũng là cái đúng nơi con người họ. Và thêm cái nữa là họ quan sát được thời đại,
[40:47]họ thực hành sâu sắc, họ khám phá ra cái mới cũng đúng luôn. Nên họ phát hiện ra nhiều cái đúng, cái đúng của người xưa và cái đúng của cái mới, do đó tạo thành cái dung hòa là vậy. Còn nếu mình không có cái trí tuệ sâu sắc để thấy cái đúng, mà chỉ cố ý đi tìm cái dung hòa thì đó cũng là cái thiện chí, nhưng cái đó chưa chắc là chân lý. Dung hòa chưa chắc là chân lý, nhưng chân lý thì luôn luôn đưa đến sự dung hòa. Hai điều này khác. Định lý thuận mà không có định lý đảo. Bây giờ chúng ta nói qua về cái mới và cũ của Phật pháp qua nhiều thời đại. Hồi nãy là chúng ta nói sơ qua trong cùng thời đại, bây giờ chúng ta nói qua nhiều thời đại.
[41:35]Thì trong Phật pháp bắt đầu bằng giáo lý nguyên thủy, thì giáo lý nguyên thủy hết sức là cô đọng, căn bản và phù hợp với trình độ của người bấy giờ.
[41:47]Bây giờ thỉnh thoảng có nhiều người hỏi tôi, nói thưa Thầy, sao mà hồi xưa mà Phật giảng cô đọng mà người ta hiểu được vậy? Tôi nói rằng có lẽ người xưa căn cơ họ quá sâu, quá cao đi, quá thuần thục nên Phật nói vài lời đơn giản họ hiểu, họ chứng đạo, họ thực hành được. Còn mình bây giờ nghe chừng nấy lời mình không hiểu nổi. Với thực sự nó có cái lý do này nữa, là lý do phương tiện để lưu trữ thông tin. Chúng ta nói cái ngôn từ nghe rắc rối một chút, nghĩa là không có chữ viết đó quý vị. Là ví dụ, hồi đó không có chữ viết, chỉ người thầy nói rồi đệ tử nghe và ghi nhớ, chứ không có chữ viết. Như ông thầy ổng dạy đạo thế này, là thời Đức Phật á,
[42:35]trước Đức Phật cũng vậy, và đồng thời Đức Phật học cũng bằng cách đó. Nghĩa là cứ mỗi ngày, mỗi sáng hay mỗi chiều á, hay là mỗi tối, cái ông thầy ổng tới giờ đó thầy trò ngồi với nhau chừng năm bảy người á, ông thầy ổng ngồi xếp bằng ở trên cái chỗ hơi cao, mấy ông đệ tử ngồi thấp hơn, ngồi xổm chứ không được ngồi xếp bằng giống thầy. Rồi ông thầy ổng đọc cho một cái câu kinh trong kinh Vệ-đà hay gì á, nếu nói là người ngoại đạo, đọc một câu bắt người đệ tử lặp lại. Ổng, lặp chưa được thì ổng nói lại cho lặp lại, lặp được rồi cái ổng nói qua câu khác. Tức là một ngày đó ổng cho ghi nhớ một đoạn kinh,
[43:14]tùy theo cái khả năng ghi nhớ của người đệ tử. Trong Đạo Phật cũng vậy, khi người Sa-di đi xuất gia với ông thầy của mình, đó là thời Đức Phật nha, và tồn tại mấy trăm năm sau Đức Phật cũng vậy, cứ chiều đến là cái người Sa-di là đến với thầy mình cũng ngồi xổm, cái ông thầy đọc cho một đoạn kinh thời Đức Phật, thì người đệ tử lặp lại, ghi nhớ, đã học thuộc lòng bằng cách truyền miệng nhau. Thì như vậy mà nếu cái câu kinh mà nó dài ngoằn ngoèo, nói ly tri có mạo từ, giới từ, liên từ đồ nọ kỹ lưỡng chi tiết thì người ta nhớ nổi không? Quá rắc rối, khó nhớ, phải không? Như chúng ta nãy giờ mà nói thuyên thuyên chi địa kiểu này là người xưa
[43:53]thua đó, nghe qua là bên tai bay luôn, mình bây giờ cũng bay luôn. Phải không? Bây giờ mình nghe qua một thời, nãy ông thầy ổng giảng gì, nãy ổng nói gì mới mới, cũ cũ không nhớ nữa, để về nghe băng lại chứ giờ quên rồi. Mình cũng vậy luôn. Thì người xưa cũng vậy. Mà mình bây giờ đó thì mình còn có băng để nghe lại chứ người xưa đâu có. Do đó, ông thầy ổng phải ghi nhớ cho đệ tử ghi bằng câu gọn gọn. Nên nói thế này, đây là Tứ diệu đế:
[44:21]Khổ là Thánh đế, Tập là Thánh đế thứ hai, Diệt là Thánh đế thứ ba, Đạo là Thánh đế thứ tư, hãy ghi nhớ. Khổ đế, đây là Phật và các vị thánh đã chứng, nói câu vậy đó, gọn gọn, gọn gọn thôi, người đệ tử học một đoạn là thuộc. Nó khác với mình. Chính vì lý do đó mà Phật nói cũng cô đọng để người đệ tử dễ nhớ, rồi cũng đời này truyền qua đời kia, kinh Đạo Phật cũng gọn gọn gọn như vậy. Đó là lý do mà kinh điển thời nguyên thủy gọn, cô đọng. Tới cái thời đó, năm đó Đức Phật 80 tuổi, Đức Phật mới nói với ngài A-nan là: Ba tháng nữa Như Lai sẽ nhập Niết-bàn, Phật viên tịch. Theo truyền thuyết á thì chúng ta nghe nói rằng ma vương đã hiện
[45:14]ra thỉnh Phật nhập Niết-bàn và Phật đã nhận lời, phải không? Rồi lúc đó ngài mới nói lại cho ngài A-nan biết chứ ngài A-nan không có biết cái chuyện mà mà ma vương đã hiện ra thương lượng với Phật gì đó. Thì ngài A-nan mới nghe vậy ngài mới buồn bã, ngài mới thỉnh Phật trụ thế thêm. Dĩ nhiên thì chúng ta hiểu cái tâm trạng của một người đệ tử mà cái lòng thương yêu, cái lòng tôn kính đối với thầy mình là tuyệt đối. Chúng ta phải hiểu là những vị tỳ-kheo thời Đức Phật á, cái lòng tôn kính đối với Phật là tuyệt đối. Bây giờ thì chưa ai hiểu được cái điều đó đâu. Trong chúng ta đây chưa ai hiểu được lòng tôn kính
[45:56]Phật là tuyệt đối như thế nào đâu, chưa đâu. Chừng nào chúng ta tu mà đắc đạo, chúng ta mới hiểu được cái lòng tôn kính Phật là tuyệt đối. Thì thời đó đó, với cái lòng tôn kính Phật tuyệt đối như vậy, mà nghe nói Phật nói ba tháng nữa ngài nhập Niết-bàn ngài A-nan chịu không nổi, mới thỉnh Phật trụ thế lâu dài ở thế gian. Thì Đức Phật có nói nhiều câu lắm, trong đó có nói câu này: Này, những điều gì cần nói Như Lai đã nói hết. Dù Như Lai có trụ thế thêm nữa thì vẫn không có ích lợi gì cho chúng sinh. Đức Phật có nói câu đó. Là vì những điều gì cần phải dạy để cho người ta tu theo Đạo Phật rồi chứng đạo, ngài đã nói hết rồi.
[46:44]Bây giờ, qua mấy ngàn năm chúng ta nhìn lại câu nói đó chúng ta mới thấy câu nói đó không chính xác, không chính xác. Mà vì sao vậy? Là vì rõ ràng đến bắt đầu khoảng chừng 600 năm sau Đức Phật, 400 nhiều người biết chữ viết nhiều hơn, biết đọc biết viết nhiều hơn, nghĩa là cái phương tiện để mà lưu trữ thông tin á, viết lại đó, lưu trữ thông tin, nó phong phú hơn rồi, hơn là cái chỉ nói nghe và nhớ, bây giờ đã viết thành chữ rồi. Thì rõ ràng là người ta có khả năng tiếp nhận nhiều thông tin hơn vì có gì cứ ghi lại. Thay vì một bài bài kệ, lúc đó là nó chỉ được cái người mà ký ức mạnh á, học 100 câu rồi là đủ rồi.
[47:35]Thì sau này khi mà có chữ viết người ta lặp luôn 1.000 câu trong ngày đó, có gì đọc lại. Thì lúc đó người ta bao nhiêu đó kinh điển không còn thỏa mãn con người nữa, không còn thỏa mãn. Vì chừng ấy Nikaya đọc chừng năm hết rồi. Đọc chừng năm hết rồi. Mấy người mà siêng năng tụng đọc, nghiên cứu á thì chừng một năm hay tối đa hai năm, ba năm là hết toàn bộ kinh điển Nikaya của Đạo Phật rồi, không còn. Mà nếu chỉ chừng ấy không phát triển thêm thì lần lần nó sẽ mai một. Mai một đi. Do đó, cái nhu cầu mà phải phát triển thêm lý luận của Đạo Phật, nghĩa là tăng thêm thông tin cho con người, tăng thêm đạo lý là một nhu cầu bức thiết,
[48:21]nhu cầu rất cần thiết, chứ không thể như vậy. Ở đây mà ai mà ghiền phim, coi phim, coi phim Đài Loan, Hồng Kông gì đó biết, coi phim tập, phim bộ đó, cứ luyện hết bộ này luyện qua bộ kia đó, bỏ thì giờ luyện là có đó. Thử bắt mình coi nghĩa là trong một cuộc đời mình coi tới coi lui được năm bộ phim đó thôi, gì đó, chúng tôi không rành lắm, đi hay đi ngang qua mấy cái tiệm video thấy cái tựa rồi cũng để ý. Thử bắt mình coi năm bộ phim mà coi tới coi lui suốt đời, chịu nổi không? Chết liền, không chịu nổi. Nhưng mà là lúc đó mình muốn từ bỏ phim ảnh rồi mình đi qua chuyện khác mình chơi. Nên phải có phim mới hoài, phim mới hoài.
[49:03]Tâm lý con người là như vậy và trong Phật pháp cũng như vậy. Nếu chỉ chừng ấy bộ kinh Nikaya mà bắt phải đọc tụng suốt đời, mà trong khi mình chỉ đọc qua một hai năm là hết rồi. Nghe giảng thêm chừng năm hai năm nữa hết rồi, trong khi đời tu mình là tới năm sáu chục năm mới chết. Thì năm sáu chục năm còn lại thì mình đọc cái gì đây? Đó, mà chữ viết đã có rồi nên cái nhu cầu phát triển lý luận là nhu cầu cần thiết. Chính vì thời đại bức xúc như vậy nên đã xuất hiện cái tư tưởng Đại thừa Phật giáo là nhiều vị đã bạo viết luôn kinh Phật luôn. Nghĩa là chính mình viết mà gán cho đó là Phật thuyết luôn.
[49:44]Nhiều vị rất là bạo. Có lẽ là vì do quá tự tin, tự tin rằng những điều đạo lý mình nói này không sai với ý Phật. Nếu Phật còn sống đến giờ này, Phật cũng sẽ nói như vậy. Cho nên những vị đó quá, quá tự tin nên đã viết luôn những bài kinh mà khởi đầu bằng "Như thị ngã văn nhất thời tại...", nghĩa là kỳ Thọ Cấp Cô Độc viên gì đó, nghĩa là Thế Tôn cùng với chư đại Tỳ-kheo gì đó đã đến đó và nói kinh này. Mà sự thực là không phải Phật thuyết. Chính cái vị đó đời sau này nói, sáu trăm năm sau mới viết. Bên cạnh những bài kinh mới viết sau, có thêm nhiều bộ luận mới, những bộ luận của ngài Long Thọ tuyệt vời:
[50:24]Thập Nhị Môn Luận, hay là Trung Quán Luận, và những cuốn như là Trí Độ Luận, Trí Độ tức là Bát-nhã đó, Bát-nhã Luận, rồi vô số những cái bộ luận bộ Thanh Tịnh Đạo Luận bên Nguyên Thủy, hay là Thắng Pháp Tập Yếu Luận của Nguyên Thủy, rồi về sau vô số luận, vô số luận cứ phát triển thêm là nhờ có phương tiện chữ viết. Đó là chúng ta thấy phải phát triển và phải có cái mới để cho con người có cái thích thú và, và cải tiến, chứ không thể duy trì cái gì cũ mãi được. Chúng ta thấy có nhiều cái tư tưởng Đại thừa tuy không phải Phật thuyết, nhưng rất là ích lợi cho con người. Nên ví dụ như bây giờ nói kinh, kinh Vạn Phật.
[51:09]Ở đây quý Phật tử có ai đã lạy kinh Vạn Phật chưa? Chắc chưa. Kinh đó mười mấy ngàn vị Phật á, toàn là tên của Phật không, mười mấy ngàn vị. Mà trong lịch sử thì chúng ta biết chỉ có một vị Phật Thích Ca thôi. Phật Thích Ca có giới thiệu thêm bảy vị Phật quá khứ và một vị Phật tương lai là Phật Di Lặc thôi. Vậy mà trong kinh Vạn Phật dám giới thiệu tên của mười mấy ngàn vị Phật. Và rất nhiều người tu theo đạo Phật đã lễ lạy, đã lạy kinh Vạn Phật. Nghĩa là cứ xướng lên tên một vị Phật rồi lạy một lạy. Mà nếu mà theo các nhà sử học và theo các nhà Nam tông, họ xì, họ nói cái này ngụy tạo. Phật này tên bịa, không có.
[51:57]Mà Đại thừa dám đưa kinh Vạn Phật ra để lạy. Mà phải nói cái vị nào mà dám đưa kinh đó, vị đó cũng phải có chứng cái gì mới dám làm. Vì rất là độc đáo, rất là có lợi cho chúng sinh. Lợi ở điểm nào? Lợi ở điểm này, điểm này ai thực hành thì mới sẽ thấy. Là ví dụ như bây giờ quý Phật tử về bắt đầu lạy Vạn Phật. Cứ đọc tên một vị Phật rồi lễ lạy với lòng tôn kính thật sự. Mình lạy chừng vài tháng đi, tuy mình không có thì giờ, lạy chừng vài tháng, chợt lòng mình thấy được điều này, mình ngộ ra được điều này. Thứ nhất là mình không còn thấy cái trái đất này nó là duy nhất nữa. Tại vì lạy Vạn Phật mười mấy ngàn vị Phật tức là vô lượng thế giới trong vũ trụ.
[52:45]Chợt nhiên tâm mình lúc nào cũng, cũng trùm trùm hướng về cả vũ trụ này chứ không còn với trái đất này nữa. Mà trước đây khi chưa lạy Vạn Phật á, mình chỉ lấy cái trái đất mình là cái chỗ tâm mình hướng về. Tuy mình cũng có học khoa học, mình biết à ngoài trái đất này còn vô số những thiên thể rồi trong vũ trụ, vũ trụ này vô cùng mênh mông bao la, cũng biết, nhưng mà tâm mình không hướng về nhiều, không hướng về nhiều. Nhưng khi lạy Vạn Phật một thời gian thì tâm mình từ từ hướng về, tâm lúc nào cũng thấy cả vũ trụ tại biết rằng những vị Phật đó là nằm rải rác trong các hành tinh có sự sống khắp cả vũ trụ này, là cái thứ nhất.
[53:25]Cái thứ hai, mà khi thấy có nhiều vị Phật như vậy có nghĩa là rất nhiều chúng sinh có khả năng đắc đạo. Tự nhiên mình có niềm tin với con người nhiều hơn, chứ không còn có cái thất vọng đối với con người nữa. Nghĩa là trong cuộc sống này, dù mình có gặp nhiều cái nghịch cảnh, có nhiều cái đau khổ, nhiều cái sự hắt hủi đối xử tệ bạc, nhưng mà do lạy Vạn Phật nên mình có niềm tin với con người. Coi vậy, coi con người là như vậy đó, giữa thiện và ác giằng xé nhau đó, nhưng rồi họ vẫn có cái điểm cực thiện gì trong lòng và vẫn có thể thành Phật một ngày nào đó. Nên chính lạy Vạn Phật gọi là để sám hối
[54:07]cho mau tiêu tội chướng, vậy mà lòng mình đã phóng khoáng, cởi mở, bao dung, lớn lao và thương yêu con người nhiều hơn. Đây là cái độc đáo của cái bài kinh Vạn Phật khi mà mình lạy được. Không lạy được, tụng thôi cũng đã có cái hay. Đây là cái lạ như vậy. Mà đây là tư tưởng Đại thừa đó, mà Đại thừa là xuất hiện sau Phật 600 năm. Hoặc như bộ kinh A Di Đà, cái tư tưởng mà nói rằng chết rồi cầu sau khi chết mà vãng sinh về một cõi Phật là tư tưởng bên Nguyên thủy không chấp nhận. Nghĩa là bên Theravada mà nói đến chuyện đó là họ bác đi. Nhưng mấy người mà cứ tinh tấn niệm Phật, lúc nào cũng niệm Phật với lòng kính
[54:50]trọng, vậy mà bao nhiêu cái tâm bất thiện trong lòng từ từ mất sạch luôn. Có thể trước đây mình là một người ích kỷ, niệm Phật riết, hết ích kỷ. Có thể trước đây mình là nhiều tham dục, nóng giận, niệm Phật riết thời gian năm mười năm, mất tiêu cái đó luôn. Đó, cái công đức của cái niệm Phật. Mà đây là tư tưởng của Đại thừa, rất là lạ. Hoặc là qua bên Thiền tông, mấy vị thiền sư thì thôi dạy đạo là không có khuôn phép gì hết, không có đường lối theo kinh kệ, đụng đâu hét đó, la đó, nói những cái câu mà mình nghe như vô nghĩa, bí hiểm. Vậy mà lối dạy đạo phong phú đó đã làm không biết bao nhiêu người chứng đạo.
[55:33]Nghĩa là những cái mà phát triển vượt ngoài khuôn phép, vậy mà đã đem đến hiệu quả rất là độc đáo. Đây cũng là cái sự phát triển trong đạo Phật chứ không có duy trì theo đường lối cũ. Mà chính cái mới này đã tạo thành sức mạnh cho đạo Phật lan tràn khắp cả Đông Á luôn. Chính cái tư tưởng Đại thừa đấy lan tràn khắp cả Đông Á luôn. Đây là cái sự cải cách như vậy. Và chúng ta thấy thế này: những cái sự cải cách của Đại thừa đó là nó xuất hiện cách đây khoảng, sau Đức Phật khoảng 600 năm cho tới cái thời cận đại cách đây vài thế kỷ. Cái hiệu quả làm cho đạo Phật mạnh lên và lan tràn, nó kéo dài từ sau Phật 600 năm cho đến cách đây khoảng hai thế kỷ.
[56:19]Nhưng từ hai thế kỷ trở lại đây, thì cái lý luận của Đại thừa không còn kịp đáp ứng với thời đại, với thế giới nữa. Tại sao vậy?
[56:33]Tại vì lúc này thế giới bắt đầu phát triển về khoa học kỹ thuật. Cho nên cái lý luận của Đại thừa không còn đáp ứng nữa. Đến giai đoạn này, giai đoạn mà người ta đã tiến lên mức độ rất cao về kỹ thuật, nghĩa là bắt đầu người ta đang nhóm nhúm đi tới trí tuệ nhân tạo. Việc mà xử lý thông tin, lưu trữ thông tin là cái chuyện cực kỳ tinh vi rồi bởi cái hệ thống computer rồi, thì cái lý luận Đại thừa bắt đầu đã trở nên lạc hậu. Ngày hôm nay cần cái sự phát triển mới. Ngày hôm nay. Nên ngày hôm nay là chúng ta rất cần nhiều cái bậc đại sư mới trong đạo Phật để cho đạo Phật phát triển vào những thế kỷ sắp tới.
[57:17]Còn nếu cứ tình trạng như vậy, đạo Phật sẽ yếu đi dần dần, yếu đi dần dần. Nhưng ai là những người đại sư, những bậc đạo sư cho những thế kỷ sắp tới? Ai? Không biết ai. Thì chính mỗi người ráng tu để mà tìm ra cái mới đóng góp cho đạo Phật. Mà những người đó là người như thế nào? Là người rất uyên bác kinh điển cổ của đạo Phật, từ Nguyên thủy tới Đại thừa. Người đó là người tinh tấn tu hành, thực hành tâm linh thật sự, không có nói miệng. Người đó là người rất là giỏi, nghĩa là có trình độ văn hóa cao và rất thông minh, rất xuất sắc. Bây giờ đó, những đạo sư của thời đại mới phải là những người đủ tiêu
[58:04]chuẩn như vậy thì mới có thể mở ra một lý luận mới để cho đạo Phật, đưa đạo Phật đi vào những thế kỷ mới, có thể vài thế kỷ sắp tới. Nhưng mà trong vài thế kỷ sắp tới, nếu mà đùng một chuyện này xảy ra thì những người đó cũng lạc hậu luôn. Đoán thử coi chuyện gì xảy ra? Nghĩa là trong hai thế kỷ lại đây, khi mà chúng ta đụng phải cái sự tiến bộ của kỹ thuật, đạo Phật đã bộc lộ nhiều cái sự lạc hậu. Đã đến lúc chúng ta cần cái sự phát triển, cải cách mới. Mà nếu có người nào đáp ứng được những cái điều mà chúng tôi vừa nói, nghĩa là giỏi kinh điển, nội điển, có thực hành tu tập, mà rất giỏi về khoa học kỹ thuật,
[58:48]có kiến thức, nghĩa là người đó khá toàn vẹn đó, mới làm thầy thiên hạ được. Cần nhiều người như vậy để phát triển đạo Phật đi vào thế kỷ mới, là không còn lạc hậu đối với thời đại nữa. Và đạo Phật vẫn vững vàng là ngọn đuốc dẫn đường cho thời đại. Nhưng nếu có một sự kiện này xảy ra, thì cái loại người đó cũng lạc hậu tiếp luôn. Đây là một sự tiên tri hơi quá xa, quá lo toan.
[59:18]Nếu có sự kiện này xảy ra nè thì cái người mà chúng ta đang trông đợi đó lại lạc hậu tiếp nữa. Là sự kiện gì? Sự kiện này hơi viễn tưởng. Một ngày nào đó người Trái Đất mình tiếp xúc được với người ngoài hành tinh. Tới cái ngày đó thì những người đạo sư mà phát triển được đạo Phật trong những thế kỷ sắp tới là lạc hậu luôn. Cái sự cố, bởi vì lúc đó chúng ta tiếp nhận được cái nền văn minh mới quá khủng khiếp. Về cái kỹ thuật của họ quá sức cao mà tâm linh của họ cũng rất mạnh. Nghĩa là triết lý của họ, cái nền triết học của họ, cái nền đạo học của họ, khoa học của họ quá cao, mình bị choáng ngợp liền.
[1:00:03]Thì lúc đó những bậc đạo sư mà đủ những tiêu chuẩn chúng ta vừa nói đó, đứng trước cái sự cố đó cũng lạc hậu mất luôn. Chúng ta hy vọng là nó chưa tới. Bây giờ thì mình cứ phải ráng tu tập, ráng học hỏi, hoàn thiện mình tất cả mọi khía cạnh để làm cho đạo Phật phát triển mạnh trong những cái thế kỷ sắp tới. Chừng nào mà nếu đụng đụng cái chuyện mà người hành tinh đổ bộ xuống và bắt tay nói chuyện với mình rồi rồi trao đổi văn hóa, giao lưu rồi buôn bán thì lúc đó mình cần những con người mới tiếp để phát triển đạo Phật. Thì bây giờ thì chưa tới, chúng ta chỉ nói sơ sơ, xa xa cho vui thôi. Cái chuyện đó hy vọng chưa xảy ra, vì chuyện trước mắt mình chưa có người.
[1:00:47]Trước mắt mà phát triển đạo Phật đi qua một bước mới, hoàn thiện về đạo đức cho nhân loại, xây dựng được cái cái con đường đi của tâm linh cho nhân loại là đã chưa có người. Chúng ta nhớ đạo Phật trong thế kỷ tới phải có hai điều: một á là cái hạ tầng kiến trúc và hai là thượng tầng kiến trúc của đạo Phật. Hạ tầng kiến trúc là những đạo đức căn bản, nói là căn bản chứ nó hết sức là tinh vi, hết sức là tinh vi mà vẫn gọi là hạ tầng kiến trúc. Nói một cái tâm lý đạo đức gì là nói hết sức tinh vi. Rồi bắt đầu cái giai đoạn mà thượng tầng kiến trúc á là nói về cái phát triển tâm linh. Trong cái tâm linh mà con người ta khi đạt được
[1:01:33]định xuất hiện những năng lực của tâm thì trong đó hàng triệu, hàng triệu vấn đề ở trong đó. Thì phải lý giải cho ra, có lý luận cho vững, phân bày, phân tích rạch ròi, tổng hợp, đủ hết để làm thành một cái con đường đi về tâm linh cho nhân loại về sau. Đó, sắp tới chúng ta phải như vậy. Chúng ta rất cần như vậy. Nên ở đây là những người tuổi trẻ giỏi giỏi như các Phật tử tụi con, mấy đứa trẻ trẻ như đó, nếu cảm thấy mình là người học đời rất giỏi, ha, hâm mộ đạo Phật, tu hành tinh tấn, uyên bác kinh điển thì nên xuất gia. Biết đâu tụi con là những bậc đạo sư mà thời đại đang chờ đợi? Biết đâu.
[1:02:22]Còn thầy thuộc loại già hết đát.
[1:02:27]Tuy nhiên thế này, khi mà chúng ta nhìn lại cái sự cải cách của đạo Phật trong cái thời đại của Đại thừa từ 600 năm tới 1.000 năm sau Đức Phật, chúng ta phải nhìn nhận rằng, phải chấp nhận là đã có một số cải cách đi quá xa, quá xa đạo Phật, lọt qua ngoại đạo. Mà dễ, dễ bị nhất là Mật tông. Mật tông là dễ bị nhất. Là vì sao vậy? Tại vì trong Mật tông nó có một cái căn bản là có những câu thần chú có sự linh nghiệm mà không cần nhân quả, không nói tới nhân quả. Mà một ngày nào đó, một giờ phút nào đó chúng ta rời bỏ nhân quả thì chúng ta lạc vào ngoại đạo liền. Mà Mật tông rất dễ bị. Do đó những vị mà tu Mật tông chân chính,
[1:03:20]mấy vị đó nhấn mạnh nhân quả dữ, mà chúng ta hơi hiếm gặp. Đa số những người tu Mật tông thì thường ỷ vào sức mạnh của câu thần chú. Đa số người Mật tông bị như vậy. Còn chỉ một số ít người mà được chân truyền hoặc là những bậc đạo sư mà chân sư thật sự của Mật tông thì tuy đắc đạo, tuy có thần thông, tuy có thể coi là kêu mưa gọi gió được, lúc nào cũng không rời nhân quả. Nếu mà vị nào học Mật tông mà gặp được những vị đạo sư như vậy là mình may mắn. Còn học Mật tông mà gặp cái ông nào mà ít nói tới nhân quả, cứ đề cao cái cái sự linh ứng của câu thần chú thì mình phải hiểu cái người này đã lạc qua ngoại đạo.
[1:04:07]Nên trong Mật tông có nhiều cái phát triển coi vậy chứ nó cũng sai chứ không có đúng. Ngày hôm nay thì chúng ta thấy thế này là từ thế kỷ thứ 19, 20, bây giờ sắp sang 21 rồi, khoa học thì tiến bộ quá sức nên làm thay đổi cái suy nghĩ của nhiều người.
[1:04:29]Cái thế hệ mà già già như từ tôi trở về trước mấy mấy đạo hữu đây đó coi vậy chứ cái cái cái suy nghĩ còn ổn định lắm, còn gần với truyền thống của đời xưa lắm. Nên mình yêu cái cây đa đầu làng, yêu cái tiếng sáo diều vu vơ, yêu cái con sông dài ngập nắng, những cái êm đềm của của thời xưa ít kỹ thuật. Nhưng mà cái lớp trẻ mới thì yêu cái gì? Disco, đúng hay hay gì ta?
[1:05:03]Yêu đó yêu những karaoke gì đó. Thì do cái kỹ thuật nên cái sự suy nghĩ con người thay đổi rất là nhiều và có một số người đã chọn khoa học là chân lý sống và không thích nói tới tín ngưỡng mơ hồ nữa. Đã nhiều người đã thay đổi suy nghĩ đến cái độ như vậy luôn. Nhất là lớp trẻ mà đi qua đại học. Lớp trẻ đi qua đại học thường là thay đổi. Có nhiều người trước đó đó có khuynh hướng tín ngưỡng, qua đại học rồi cái lơ là bớt tín ngưỡng và thích khoa học hơn vì hai lý do. Lý do thứ nhất là vì trong đại học có học môn chính trị, triết học duy vật và trong đó thì khảo sát tôn giáo như là một cái nhu cầu tạm thời của nhân loại chứ chưa phải là chân lý.
[1:05:55]Cho nên người sinh viên nghe thấy hợp lý, chắc vậy, nào giờ cũng vậy. Cái thứ hai nữa là những kiến thức mà mình học trong đại học nó nó nó sâu sắc quá. Những bài tập phải giải, những cái lý thuyết phải học nó quá tinh vi, chặt chẽ đi mà mình nghĩ là trong tôn giáo không thể có. Nên những người mà mình phải công nhận là những nhà khoa học mà đã xây dựng được những lý thuyết về khoa học dù là xã hội học, kinh tế học hay là vật lý học, toán học, những người cái đầu óc họ dễ sợ quá. Mình quá khâm phục, quá ngưỡng mộ. Rồi mình nhìn lại mình thấy những người mà đi trong tôn giáo thấy ông hòa thượng này, ông thượng tọa kia nói những điều coi vậy chứ
[1:06:38]cuối cùng cạn xìu à, thua những cái nhà khoa học, những nhà nghiên cứu. Ví dụ mình nói bây giờ lôi một cái đề tài mà được giải Nobel ra thì mình thấy nó quá sức tinh vi và đổ công đổ sức vào đó mấy chục năm, mấy chục năm của một đời người, họ mới tìm được một cái gì mà cái cái kết quả nó bao nhiêu năm sau mới được công nhận phát giải Nobel. Cái trí tuệ quá cao nên những người sinh viên trước những điều đó họ thường hướng về khoa học nhiều hơn là hướng về tín ngưỡng. Do đó là đạo Phật cũng cần một sự phát triển mới. Tại sao chúng ta nói đạo Phật cần sự phát triển mới? Là vì chúng ta biết, chúng ta tin chắc một điều
[1:07:21]là thế giới này có tiến bộ đến đâu thì đạo Phật luôn luôn đúng, luôn luôn là chân lý.
[1:07:31]Cái sự giác ngộ luôn luôn là một mục tiêu chân chính. Luật nhân quả luôn luôn là một nguyên lý đúng tuyệt đối. Cái đạo đức là một điều vô cùng cần thiết cho con người. Cái sự luân hồi là một hiện tượng có thật. Vân vân, nghĩa là vô số điều mà chúng ta biết rằng dù con người có tiến đến cỡ nào vẫn không đi ra khỏi điều đó. Nhưng mà chỉ vì khoa học quá tiến mà người ta lơ là với đạo Phật khiến cho cái lớp trẻ sau này không được ích lợi. Vì vậy chúng ta phải có một cái sự cải tiến đạo Phật gì đó để phù hợp được với tâm tình của mọi người, để cho cái lớp trẻ dù ưa thích khoa học đến đâu vẫn thấy đạo Phật là cái gì vòi vọi,
[1:08:11]lồng lộng giữa trời cao, rực rỡ, sâu sắc, tinh vi và tìm không bao giờ thấy đáy thì họ mới bị cuốn hút bởi đạo Phật để tiếp tục được lợi ích nơi đạo Phật. Chúng ta phát triển, cải tiến đạo Phật không phải là vì hai cái chữ đạo Phật, không phải là cái hình thức tôn giáo, không phải là vì những ngôi chùa để được sợ mất tín đồ, không phải, mà để cho những con người của thời đại mới có dịp, có cái cuốn hút tìm hiểu được những đạo lý sống tốt để có lợi ích cho chính cuộc đời của họ chứ không phải chúng ta duy trì hoặc là phát triển đạo Phật vì hai cái chữ đạo Phật, không phải, để cho những người sau này được lợi ích.
[1:08:57]Vì nếu cái người trẻ không tin nhân quả họ sẽ rơi vào trong cái mất đạo đức và xã hội hỗn loạn đi. Vân vân, vô số những điều lợi ích trong đạo Phật mà chúng ta phải đem đến cho những thế hệ sau chúng ta. Mà muốn như vậy đạo Phật cần cái sự cải tiến không lạc hậu với thời đại mà vẫn không bị choáng ngợp bởi thành tựu khoa học kỹ thuật và đủ đạo lý để hướng dẫn nhân loại. Đó ba cái điều cần thiết để phát triển đạo Phật.
[1:09:28]Chúng tôi xin nhắc lại ba điều này. Thứ nhất là không lạc hậu với thời đại. Thứ hai là vẫn không bị choáng ngợp bởi cái thành tựu khoa học kỹ thuật, nghĩa là dù khoa học tiến bộ tới đâu chúng ta vẫn thấy cái đạo lý của đạo Phật vẫn là vòi vọi, vẫn vững vàng, không hề bị lung lay gì hết dù khoa học tiến bộ. Mà có khi khoa học càng tiến bộ thì đạo Phật càng được chứng minh là đúng. Đó là cái thứ hai. Thứ ba là phải đủ đạo lý để hướng dẫn nhân loại. Đủ đạo lý nghĩa là làm sao? Nghĩa là từ những đạo lý có sẵn rồi, chúng ta đủ lý luận để phát triển những đạo lý cũ đó, nhưng mà có thêm những lý luận mới phù hợp với tâm tình con
[1:10:13]người, làm cho mọi người có thể chấp nhận được đạo Phật, hiểu được đạo Phật. Chứ bây giờ nếu chúng ta nói cô đọng như cái thời nguyên thủy dĩ nhiên là không ai đến chùa, hoặc chúng ta nói nhiều chuyện siêu hình như vào thời đại Đại thừa lần lần thế hệ trẻ bỏ chùa. Nên chúng ta cần có những lý luận mới đủ để đưa đạo Phật đến với với mọi người trong thời đại ngày hôm nay. Thì cái này ai làm được việc này? Ai làm được việc này? Thì cũng chính những người trẻ mà tụi con đó. Ai mà nhắm mình làm được thì nên lật đật mà cạo tóc đi tu. Để có thể là mình là người mà của thời đại mới, phải không? Mình nắm được những cái tiến bộ của thời đại,
[1:10:59]đồng thời mình có cái thực hành mà hiểu sâu sắc của đạo Phật thì mình mới có thể là làm lợi ích, vừa phát triển đạo Phật mà làm lợi cho những người thế hệ đến sau mình. Tụi con mấy người trẻ trẻ đâu rồi? Cúi đầu mất tiêu hết rồi. Còn thầy là thuộc loại hết xài rồi. Cho nên chúng ta thấy dù khoa học tiến bộ tới đâu thì cái nhu cầu về đạo đức và tâm linh vẫn là một nhu cầu bức xúc của nhân loại. Dù khoa học tiến tới đâu, dù họ có thể ra khỏi thái dương hệ, dù họ có thể đi vào tới tâm điểm trái đất, thì con người vẫn luôn luôn cần hai điều, thứ nhất là đạo đức và thứ hai là tâm linh. Tâm linh là cái gì?
[1:11:40]Tâm linh không phải là chuyện siêu hình. Tâm linh là một sự phát triển của tinh thần mà thứ nhất là bình an nội tâm. Và thứ hai cái sự bình an đó nó phát triển sâu đến nỗi con người ta xuất hiện được nhiều cái khả năng đặc biệt hơn, làm cho con người tăng thêm giá trị một bước nữa. Hiện nay chúng ta là những con người con người của con người. Nhưng nếu ngày nào đó chúng ta có được cái định trong tâm, năng lực chúng ta phát triển, thì chúng ta là con người mà của của siêu nhân, của những con người mới cao cấp hơn, con người mới cao cấp hơn chứ không phải như bây giờ. Thì đó, vì nhu cầu chúng ta phải phát triển con người
[1:12:25]nên tâm linh phải là cái điều quan trọng đem đến cho nhân loại, chứ không phải chỉ có khoa học kỹ thuật đâu. Khoa học kỹ thuật chỉ là một khía cạnh thôi. Mà chính vì một khía cạnh mà người ta hướng về nó nhiều quá, nên thế giới đang bị mất quân bình, đang bị xáo trộn mất quân bình, đạo đức đang đổ vỡ rất là mạnh. Thì cái việc này, cái việc mà lập lại cái sự quân bình cho thế giới giữa khoa học kỹ thuật với đạo đức và tâm linh, cái trách nhiệm đó, cái sứ mạng đó thì thôi người già như cỡ thầy với mấy Phật tử già bỏ đi. Thì thầy đại diện, thầy đại diện cho cho Phật pháp giao lại hết cho lớp tuổi trẻ tụi con.
[1:13:09]Tụi con phải gánh vác cái sứ mạng này, tạo một sự quân bình đạo đức, tâm linh và khoa học cho thế giới. Phải mình ưu tư, trăn trở về điều này, đừng coi thường giùm. Nhớ như vậy. Đó là chúng ta nói qua cái mới và cũ của đạo Phật qua nhiều thời đại. Bây giờ chúng ta nói cái mới và cũ nơi chính một con người.
[1:13:35]Nó có cái hiện tượng thế này hay xảy ra, là có thể lúc tuổi trẻ một cái người đó là cái người đề xướng sự cải cách. Lúc trẻ đó họ xuất sắc, họ phát hiện nhiều điều mới và họ cải cách, bổ sung thêm nhiều cái điều mới trong đạo Phật. Đến già họ chấp vào cái điều mà họ đã khám phá được và họ trở thành bảo thủ. Rất nhiều người bị trường hợp này. Thời trẻ thì hô hào cải cách để bỏ cái đường lối cũ nào đó, xây dựng đường lối mới. Rồi đến già là cái đường lối mà được cho là mới của ba bốn chục năm trước, giữ chặt không cho ai đụng tới thì đã trở thành người người bảo thủ. Thì người này ban đầu là cải cách nhưng mà về sau là bảo thủ.
[1:14:24]Có trường hợp như vậy. Thật ra đó, chúng ta phải biết cái này là đạo Phật luôn luôn cứ cần cái mới mãi. Luôn luôn cần cái mới hơn, cái đúng hơn, cái sâu sắc hơn cho đến vô biên vô tận luôn, không có lúc nào được phép dừng. Một lúc nào đó mà chúng ta rằng: "À, đạo Phật đến đây là đủ rồi, không được thêm cái gì nữa", lúc đó chúng ta phản bội tinh thần của đạo Phật. Vì đạo Phật là một đạo phóng khoáng, bao dung. Cái chữ phóng khoáng, bao dung mà nếu nói theo tiếng Anh là "open", nghĩa là mở, không bao giờ đóng lại để có thể đón nhận thêm nhiều cái khác. Thì cái sự mở bao dung đó của đạo Phật là vô biên vô tận, không bao giờ dừng lại.
[1:15:10]Nên ngày hôm nay, ví dụ lúc trẻ chúng ta đã đã đóng góp được một điều gì đó thì không bao giờ được khóa đạo Phật lại. Vẫn phải tiếp tục mở để chừa đón nhận những cái mới của những người đến sau mình đóng góp thêm. Chứ không bao giờ mà cho như vậy là đủ. Ví dụ đi, ví dụ cái giáo lý từ bi là từ bi đó, trước đây định nghĩa là thương yêu chúng sinh, tất cả chúng sinh, phải không? Rồi thêm cái thực hành quán từ bi là ngồi đó hãy rải lòng thương yêu đến với tất cả chúng sinh, câu nói tới đó thôi. Rồi sau đó mình phát hiện thêm, phát hiện thêm là khi mà rải lòng thương yêu tất cả chúng sinh như vậy, mình đi sâu sắc hơn đến từng đối tượng,
[1:15:59]mình nghĩ đến con người chung quanh mình, những người trên khắp các châu lục, nghĩ đến các loài thú, nghĩ luôn đến những cái chúng sinh trong thế giới vô hình, nghĩ luôn đến chúng sinh đang chịu đọa đày trong địa ngục, nghĩa là lòng mình thương yêu và mình có cái đối tượng mình hướng đến cụ thể như vậy. Thì như vậy cái quán từ bi đó đã là một cái phát hiện sâu sắc hơn hơn trước phải không? Trước chỉ nói chung chung là rải lòng thương yêu chúng sinh, dừng lại. Nhưng mà đến đời chúng ta thì chúng ta đã phát hiện thêm như đó rồi. Đủ chưa? Đủ chưa? Có vài người lắc đầu "chưa" thì xin cho biết cái mới là gì.
[1:16:37]Phải biết cái mới mới biết cái này chưa đủ chứ. Mấy người đó là xuất sắc đó. Dĩ nhiên là chưa đủ đâu. Cho nên tôi luôn luôn nói câu này, tôi nói mấy đệ tử: "Hôm nay thầy giảng từ bi là như vậy, nhưng mà hai chục năm sau tụi con phải nói khác hơn, phải sâu sắc hơn điều này. Như vậy mới làm lợi ích chúng sinh được. Chứ không bao giờ được dừng lại. Không bao giờ được dừng lại". Sự thật á mà tôi nói rằng 20 năm sau tụi con phải nói khác hơn thầy là tôi đã biết phải nói cái gì mà không thèm nói, để dành coi đệ tử mình có vượt lên nổi như vậy hay không, 20 năm sau. Ví dụ như cái khiêm hạ thì nào giờ mình cứ giảng như vậy,
[1:17:21]lúc nào cũng thấy mình như cát bụi, như cỏ rác, phải không? Được cái sự thành công nào phải nghĩ đó là thuộc về chư Phật. Mình phải suy nghĩ đủ cách tác ý, đủ cách lý luận để giữ cái khiêm hạ. Mình thấy như vậy cũng hay lắm rồi, phải không? Như vậy chưa, chưa đủ. Hai mươi năm sau phải nói khác hơn, sâu sắc hơn, hiệu quả hơn bây giờ nữa. Thì cái điều đó là chừa lại cho những người tuổi trẻ ngồi dưới. Những người mà nhỏ hơn thầy 15, 20 tuổi, 25 gì đó là phải lo cái điều đó. Hoặc là nhân quả nghiệp báo, ví dụ như bây giờ thầy viết được hai cuốn Nghiệp và kết quả luận về nhân quả, tụi con đọc chưa mấy đứa nhỏ nhỏ?
[1:18:02]Đọc chưa?
[1:18:06]Ủa sao hôm nay làm thinh hết trơn vậy trời? Đọc chưa? Nghe chưa đọc, thôi nghe cũng được đi thì cũng nghe rồi đi, phải không? Có người có nghe băng, có người có đọc rồi cũng được. Thì những điều đó là thấy đủ chưa? Chưa thì có gì nữa nói thêm đi.
[1:18:28]Nếu biết là chưa thì phải biết rằng có gì còn thiếu, phải không? Người đó là người siêu việt, xuất sắc, lỗi lạc của tu tú, Phật pháp. Dĩ nhiên hai cuốn đó chưa nói được chút cái móng chân gì của luật nghiệp báo. Chúng ta phải hiểu điều đó. Nghĩa là cái luật nghiệp báo mà được trình bày trong hai cuốn sách đó chỉ là một điều rất nhỏ rất nhỏ của nghiệp báo mà thôi, chưa có gì hết trơn á. 20 năm sau, tụi con phải viết lại cái cuốn nghiệp báo khác, sâu sắc hơn, tỉ mỉ hơn, đúng hơn cuốn nghiệp báo đó. Nhớ điều đó.
[1:19:10]Nên Đạo Phật không bao giờ lại đứng lại, phải luôn luôn phát triển. Ví dụ như bây giờ đi, như thời gian qua chúng tôi có giảng cho Tăng Ni cái đề tài gọi là Tâm Lý Đạo Đức, là từng đề mục từng đề mục về đạo đức. Thì nghe thì cũng được vài ba người thích, ở đây quý Phật tử có thích không? Thấy không? Có hai người thích thấy không? Đó, nói đúng chính xác á, được hai người thích đó.
[1:19:38]Những người mà thích á thì thấy hay, mỗi đề tài ông thầy ổng nói tinh vi, chia chẽ. Tức cười lắm, có cái người đệ tử nói tôi: "Thầy nói một cái đề tài hết lối thoát, rào trước đón sau chặt chẽ hết." Tôi nghe tôi cười, tôi nói chưa có gì hết, những đề tài mà thầy nói thầy chỉ mới đặt cái nền, sau này mỗi đề tài đó tụi con phải triển khai sâu hơn nhiều nữa, chưa có gì đâu, đừng có tưởng nhiêu đó là đủ. Nói ví dụ như cái đề tài à thầy mới giảng vừa rồi là gì ta? Nhu thuận. Thì nghe như đó chưa có gì hết trơn á, rất là sơ sài. Dĩ nhiên là mình thực hành như đó cũng cực rồi đó, nhưng mà mới sơ sài thôi.
[1:20:19]20 năm sau, ai mà giảng lại cái đề tài nhu thuận tinh vi hơn, hấp dẫn hơn, sâu sắc hơn, đúng hơn nhiều nữa mới được, chứ nhiêu đó không có đủ. Đó là cái mà chúng ta thấy Đạo Phật cần cái sự phát triển. Mà đó là một điều mà những bậc được gọi là đạo sư phải biết vượt qua chính mình. Cái đề tài Vượt Qua Chính Mình thì tôi không có nói nhiều bữa nay vì đó là đề tài giảng cho Tăng Ni, gọi là Vượt Qua Chính Mình. Nhưng mà ở đây nói với quý Phật tử gợi ý sơ
[1:20:54]là những cái người được gọi là tiên phong, những người được gọi là mở đường, gọi là khai sáng, những người trở thành đạo sư phải biết vượt qua chính mình, nghĩa là gì? Phải biết cái mà mình chưa đủ, cái còn hạn chế của chính mình. Không bao giờ được quyền cho mình đã là người nghĩa là khóa cánh cửa Đạo Phật lại. Biết rằng phía sau mình còn nhiều điều hay hơn nhiều mà mình chưa biết được, chưa nói hết. Luôn luôn như vậy và chờ đón cái điều mới của người đến sau mình. 30 năm sau, ví dụ như mình là một bậc đạo sư mới của thời đại vừa rồi thì phải sẵn sàng cái tư tưởng rằng 30 năm sau sẽ có năm sáu người khác đứng lên nói những điều mà mình chưa hiểu
[1:21:42]nổi mà cực kỳ tinh vi tế nhị và làm lợi ích cho Phật pháp nhiều hơn mình. Phải chờ cái tư tưởng đó, phải chờ những con người đến nó như vậy. Ví dụ như bản thân của tôi đi thì tôi cũng là người thuộc loại hơi lộn xộn cho nên nhiều khi nói những điều nó cũng hơi kỳ khôi, hơi lạ. Thì cũng được hai người thích, đúng hồi nãy hai người thích. Thì tôi phải nuôi dưỡng cái tư tưởng trong lòng mình 5 năm sau 5 năm sắp tới, 10 năm sắp tới, 20 năm sắp tới sẽ có một người tuổi trẻ nào đó đứng lên nói những điều mà mình không hiểu nổi. Phải nuôi dưỡng cái tư tưởng đó, không bao giờ được quyền cho mình là người đóng Phật pháp lại, không bao giờ được quyền cho
[1:22:31]mình là người nói được cái chân lý cuối cùng của Đạo Phật. Đó là cái một cái đạo đức là người tu phải biết vượt qua chính mình. Cái điều này thì sẽ nói với Tăng Ni sâu hơn, hôm nay nói sơ sơ vậy thôi. Đó là trường hợp cái người mà ở tuổi trẻ đó, chúng ta khảo sát một cái người lúc trẻ là cải cách mà tới chừng già là bảo thủ á là do đóng lại á, lầm tưởng mình là người đã nói được cái chân lý cuối cùng của Phật pháp, lầm tưởng mình là người đã đến cuối cùng để giữ chìa khóa cánh cửa phòng Phật pháp, cánh cửa lâu đài Phật pháp, khóa lại rồi không cho ai đi vô nữa. Đó là người trở thành bảo thủ dù lúc trẻ họ đã là người có công lao cải cách.
[1:23:14]Đây là điều chúng ta phải tránh, tránh được. Rồi cũng có cái trường hợp có người tuổi trẻ là một người an phận giống như bảo thủ, nghĩa là người này hiền lành, an phận, cái tính hiền quá đi, nên ông thầy dạy sao cứ ngoan ngoãn đi theo mà không thắc mắc.
[1:23:34]Ai có câu hỏi ghi gửi lên luôn nha, lát tôi trả lời cho nha. Thì cái người hiền lành tu tập như vậy đó, an phận như vậy cái chợt tu một thời gian đâu khoảng 10 năm sau cái chợt do cái công đức mà của sự hiền lành đó đó, do cái công đức đó bỗng nhiên trí tuệ sáng lên. Sáng lên rồi đến chừng già mới bắt đầu có nhiều cái cải cách mới. Nghĩa là từ thời tu từ lúc mà mới xuất gia vào chùa đến 50 tuổi mới bắt đầu có những cái cải cách, đó là do trí tuệ sáng. Thì đó là người tuy lúc đầu có vẻ bảo thủ nhưng về già lại trở thành người cải cách. Hoặc là cái người này lúc ban đầu tu thì an phận hiền lành, đến về già chợt gặp cái đường lối mới
[1:24:22]của những người khác, nghe, chấp nhận, thích và ủng hộ thì người này tuy già mà không bảo thủ, vẫn là người có tinh thần cầu tiến, cải cách. Thật ra thì hầu hết quý Phật tử lớn tuổi ở đây là thuộc loại như vậy hết, thuộc những người như vậy là tuy già nhưng mà có lẽ là do cái công đức của một đời hiền lành, an phận, tu tập làm sao đó, nên đến bây giờ gặp cái tư tưởng mới chấp nhận liền là do mình có trí tuệ. Chúng ta nhớ cái trí tuệ là do phước mà đến chứ không được nói là do tài. Mà nếu giờ này mình là người có trí tuệ, tự nhiên hiểu được những điều mới, chấp nhận những điều mới, đón nhận một cách
[1:25:07]khoan dung, cởi mở thì phải hiểu đó là trí tuệ. Mà phải hiểu trí tuệ đó là do mấy mươi năm qua mình sống một đời sống tốt đẹp, hiền lành, có làm phước, có công đức. Còn nếu người nào ví dụ nghe một cái điều mới rồi cứ khựng khựng khựng khựng, lạ lạ lạ lạ thì biết rằng ví dụ là điều mới là đúng đi, chứ điều sai thì thôi mình không nói. Ví dụ đây là điều mới mà đúng mà người này nghe cái điều đó xong, trong tâm cứ khựng khựng, mơ hồ không biết đúng sai thì người này không trí tuệ, nghiệp nặng. Mà tại sao không có trí tuệ, nghiệp nặng? Là bởi vì mấy chục năm đi qua như vậy tuy có biết Phật pháp, biết chùa chiền nhưng mà coi chừng tu trật đạo đức không có thăng tiến
[1:25:50]hay không làm được nhiều chuyện phước, nên trí tuệ không phát mà nó tối lại. Tối lại nên khi có những cái mới đến, những cái đúng nó đến mình không nắm được, không hiểu nổi. Khi người tuổi trẻ đó nghe điều mới dễ, nói không nói, nhờ những người lớn tuổi mà nghe được những điều mới, chấp nhận phải là nói cũng là cái công đức của mấy mươi năm trôi qua có tu tập, phát triển được. Một điều chúng ta thấy nữa là tâm lý con người thường hay thích cái điều mới. Đây là tâm lý chung, phải không? Cái gì mà cũ quá nó nhàm. Ví dụ bản nhạc hay đi mà mình nghe hoài chắc cũng cũng chán. Do đó, phải
[1:26:35]phải phải đi kiếm nhạc mới mà nghe hoài cho nó đỡ chán, thấy không mấy đứa nhỏ nhỏ nè. Rồi cái giáo lý cao siêu cũng vậy. Thấy Phật pháp cao siêu vậy chứ một bài đó mà nghe hoài nó cũng cũng oải, cũng mệt. Ví dụ bữa nào tới đây cũng nghe thầy giảng khiêm hạ đi nghe, mới đầu nghe cảm động thiệt: "Trời ơi, sao thầy nói về khiêm hạ thiệt là đúng, hay!" Mà cứ lần nào tới thầy cũng khiêm hạ khiêm hạ riết, trốn thầy luôn, thấy thầy từ xa là quẹo đường khác đi mất. Đó là cái tâm lý con người như vậy, thích điều mới. Chân lý hay thiệt á, nhưng mà phải làm sao cho nó cứ mới hoài giùm một chút, chứ cứ để cũ hoài coi nó cũng kỳ.
[1:27:17]Đó là cái nỗi khổ của những người mà làm giảng sư á. Cứ phải cứ phải giảng cái mới hoài mặc dầu không bao giờ được đánh mất cái cũ, vì cái cũ là nền tảng, phải không? Những cái tâm từ bi nè, tâm khiêm hạ nè, lòng tôn kính Phật nè, đời sống vị tha, những cái đó rất cũ mà rất là căn bản, không bao giờ được rời bỏ và đánh mất. Cho nên giảng dù những đề tài mới, cứ phải nhắc đi nhắc lại hoài những cái điều đó là vậy đó. Nếu mà chỉ chuyên chú vào đó mà nhắc đi nhắc lại hoài thì nhiều khi lên đây ngồi giảng dưới nó dòm, chỉ thấy bàn ghế không thôi. Cũng có một vài trường hợp có những người mà tính tình đầm thắm thì họ thích
[1:27:58]cái cũ, nhưng mà ít, chứ thường thường chúng ta cũng thích cái mới. Phật pháp cũng vậy, cũng cần đổi mới về cái nghi thức, về giáo lý để cho nó sinh động mãi. Nếu mà chúng ta cứ đều đặn cứ mỗi tối đến chùa mà tụng cái nghi thức giống như vậy với cái trình tự giống như vậy thì lần lần cái rồi đúng một tuổi trẻ bỏ chùa hết. Nên có nhiều người tâm sự với tôi vậy, nói: "Hồi con nhỏ con hay đi chùa lắm, lớn lên cái tự nhiên sao không thích nữa." Cái không thích đó là do cái nghi thức trong chùa không có thay đổi, cứ giữ yên hoài. Nên chúng ta cần phải có những cái đổi mới là vậy. Tuy nhiên những cái mới đó nó không phải là những cái áp đặt,
[1:28:41]những cái cái giật gân, cái làm cho lạ, mà cái mới phải là cái đúng hơn, hay hơn. Nhớ như vậy. Cái mới phải là cái đúng hơn, hay hơn cái cũ, chứ không phải cái mới là chỉ mục tiêu để làm cho nó lạ, cho vui vui hơn, không phải. Cái khó là cái đó. Cái khó cho những người đi tìm tòi cái mới là mới mà vẫn đúng, nghe hợp lý, hay hơn.
[1:29:08]Chứ không phải là là chúng ta cứ thích tìm cái mới rồi làm cho nó thành lố bịch, không phải vậy. Mà làm sao chúng ta tìm ra được cái mới mãi? Có cách nào để tìm mãi được cái mới để làm mới Phật pháp? Có phương pháp nào để cho chúng ta cứ phát hiện những đạo lý mới, những điều mới mẻ trong Phật pháp? Phải có cái cách nào đó, chứ nếu không có cách nào thì chúng ta không tìm được cái mới nữa. Có một cách, có một cách rất cũ để chúng ta tìm được những điều mới, đó là cứ mãi chân thành tu tập mà tìm lỗi của mình, cứ vậy, cứ chân thành tu tập tìm lỗi của mình, vậy mà những điều mình nói ra cứ mới hoài.
[1:29:55]Còn lúc nào đó mình hết thấy lỗi mình rồi thì lúc đó cũng hết giảng luôn, không còn gì mới để nói với ai nữa. Đó là cái lòng, chúng ta nhớ như vậy. Nên chúng ta nói về cái cũ và mới qua: thứ nhất là trong cùng một thời đại phải không? Thứ hai là giữa nhiều thời đại, và cái thứ ba là cái cũ và mới nơi chính một con người. Bây giờ chúng ta nói đến cái câu hỏi.
[1:30:23]Có một đoạn nói người mà không còn phân biệt thiện ác, không còn chấp hai bên hoặc là thấy được ngũ uẩn là không thì không còn nói đến nhân quả, câu nói này không có đúng. Chính những người này là người hiểu nhân quả sâu hơn ai hết. Vì tâm định chừng nào, không còn phân biệt chừng nào thì một nhúc nhích nhỏ của nhân quả nghiệp báo thấy liền. Cái mà không phân biệt á, thấy ngũ uẩn là không, không chấp hai bên là do tâm cực kỳ định mới được cái điều đó. Mà tâm định sâu chừng nào thì trí tuệ sáng chừng nấy, mà trí tuệ sáng chừng nào, sắc bén chừng nào thì cái nhân quả thấy rất rõ. Nghĩa là căn bản trí lớn chừng nào thì sai biệt trí lớn chừng
[1:31:04]đó, chứ không phải căn bản trí lớn rồi sai biệt trí mất. Cho nên người mà không còn chấp gì hết cũng chính là người cực kỳ hiểu biết nhân quả, nên cái câu nói này hoàn toàn sai. Có bạn thắc mắc về từ như "tiểu kiếp" là bao nhiêu, "do tuần" là bao nhiêu. Là một đơn vị, một tiểu kiếp là một thời gian mà trái đất bị tận thế, từ lúc mà trái đất được thành lập cho đến lúc tận thế là một tiểu kiếp. Chúng ta thấy cái ý niệm về thời gian trong đạo Phật nó vượt hơn các tôn giáo khác. Tôn giáo khác thường thường thấy bao nhiêu năm của một đời người nói chuyện tới lui. Còn trong đạo Phật, một cái đơn vị thời gian là mình thấy đã hết
[1:31:48]hồn, mình ngồi mình phải mở cái tâm mình rất lớn mới hiểu được. Mới có tiểu kiếp á, còn trung kiếp, một đại kiếp nữa thì không tưởng tượng được. Còn một do tuần thì là một đơn vị nó giống giống như cây số của mình, đại khái một đoạn đường rất dài gọi là một do tuần. Thì bây giờ mình cũng không có chính xác là bao nhiêu, nhưng mà đại khái là vậy. Có bên lạy thì lạy ngửa hai tay, có người nói: "Đạo Phật lạy ngửa hai tay để van xin, còn Cao Đài úp hai tay là không cần xin gì hết".
[1:32:24]Thật ra thì không phải. Thật ra thì khi mình lạy, mục đích của mình là mình bày tỏ lòng tôn kính, và khi mình bày tỏ lòng tôn kính, mình cúi đầu sát đất nghĩa là mình thấy mình nhỏ bé. Nghĩa là khi mình tự cho mình là nhỏ bé có nghĩa là mình tôn kính người kia. Nghĩa là mình đến trước Phật thì ông Phật vẫn ngồi yên, ổng không nhúc nhích gì được hết á. Nhưng mà chính mình cúi xuống, mình tự cho mình nhỏ bé có nghĩa là mình tôn kính Đức Phật, thì cái yếu tố đó nằm chỗ đó thôi. Còn có người thêm chút là ngửa bàn tay ra, giống như là nâng chân Đức Phật lên thì đó là cái tưởng tượng thêm, thì ai thích tưởng tượng cho vui thì cứ làm.
[1:33:00]Còn có người thì không có tưởng tượng bằng ngửa hai tay thì lại úp tay xuống, đầu chạm đất luôn thì chỉ có ý nghĩa là mình trước Phật mình chỉ như cát bụi thôi, thì đó là ý nghĩa thứ hai. Thì ai thích ý nghĩa nào thì nghĩ đó, chứ không có ngửa tay van xin đồng nào đâu, đừng có sợ. Có người, tức là nằm liệt giường không ăn được, sau một thời gian người ấy tự xưng là là con cháu bị bệnh rồi nói những chuyện gia đình quá khứ, vị lai khá đúng. Sau đó con đặt câu hỏi tại sao tâm linh người sống đi đâu mất mà để cho các vong linh không đi đầu thai nhập vào được? Cái hiện tượng mà một cái cái linh hồn khác á,
[1:33:43]một hay là thần thức khác họ nhập vào tâm của một người đang sống là hiện tượng có thật. Thì nó có mấy trường hợp lận, nó có nhiều trường hợp chứ nó không phải một. Có trường hợp á là tại sao chọn cái người đó để nhập thì nó cũng đã nhiều nguyên nhân rồi, mà khi nhập vào người đó nó xuất hiện cái hiện tượng nào thì nó cũng mấy cái trường hợp lận, nó nhiều lắm. Nhưng mà để dài quá thì chúng ta chỉ nói cái hiện tượng thôi, nó có ba bốn hiện tượng thế này: Một á là vì có duyên để nhập nên cái người âm họ nhập vào cái người sống, mà người sống này tinh thần họ còn mạnh, lúc nhập vào cái người sống họ
[1:34:16]còn biết, có điều họ không kìm chế được tay chân nữa, cứ mở miệng phải nói, tay chân phải quơ, biết hết á mà không cưỡng lại được. Đó là cái tâm của người sống còn mạnh. Có trường hợp cái người sống yếu, họ nhập vô cái người sống không biết gì hết. Tới chừng họ xuất ra rồi mới ngồi tỉnh queo không biết gì chuyện gì xảy ra. Đó là trường hợp cái người sống tinh thần họ yếu. Còn có những trường hợp mà gọi là đoạt xá đó, cái người chết, người người âm họ giết cái người sống luôn, họ làm cho người kia vĩnh viễn không còn trở lại cái xác đó được, để họ chiếm cái xác đó luôn. Đây trường hợp mình gọi là yêu tinh rồi đó,
[1:34:52]trường hợp đó, nhưng cũng phải nhân quả gì đó mới có, chứ không phải là khơi khơi mà có được. Thì nó là trường hợp có thật chứ không phải không. Nên mà cũng có cái nhân quả gì đó mới khiến người ta nhập được mình,