[0:14]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni
[0:22]Phật. Quý thầy ngồi xuống.
[0:27]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Hôm nay chúng ta học bài hoằng pháp thứ hai, bài là "Nguồn đạo lý". Đạo lý, ý bài này muốn nói rằng là sau này khi chúng ta đi ra làm cái công việc hoằng pháp, hoặc là chúng ta tiếp xúc một cách là chủ động với mọi người để đem giáo lý đến cho họ, hoặc là chúng ta đứng trên bục giảng để giảng nguyên một bài pháp dài thì chúng ta đều cần có một cái nguồn đạo lý ở trong tâm. Cái nguồn đạo lý đó phải xem như là vô hạn, để cho suốt cả đời mình luôn luôn có cái đạo lý gì đó để đến nói chuyện với mọi người. Nhất là vào cái thời đại mà trình độ con người bên ngoài càng lúc càng tăng cao.
[1:21]Nếu họ nói chuyện với mình chừng năm lần, họ biết mình có nhiêu đó, cái thôi, cái coi như họ không còn có cái ngưỡng mộ như giờ phút đầu nữa. Lúc đầu họ nghe mình nói có gì là lạ họ thích nghe, nhưng nghe năm lần có nhiêu đó nói đi nói lại hoài họ biết rồi. Hoặc là ví dụ mình giảng dạy, năm trước mình cũng giảng đề tài đó, mùa hạ năm sau mùa hạ cũng giảng đề tài đó. Năm thứ ba nữa mình bước lên cái họ ngồi nói rồi: "Ờ, biết ổng sắp giảng gì rồi." Cái rồi xong. Đó là bởi vì sao? Bởi vì cái nguồn đạo lý trong tâm mình nó hữu hạn, nó ít quá, không có tuôn trào vô tận, không có phát sinh, không nảy nở theo năm tháng mà nó cứ đứng lại.
[2:04]Mà chúng ta biết đứng lại tức là? Tức là lùi, đứng lại tức là lùi. Hôm nay chúng ta học một bài lý thuyết tiếp tục. Qua bài sau chúng ta sẽ bắt đầu phải thực hành. Trong lớp học chúng ta cũng phải hỏi đáp rất là nhiều, nghĩa là chúng tôi sẽ thường xuyên hỏi và quý thầy phải nhanh lẹ mà đáp chứ không có để mất thời gian. Và xong rồi thì còn phải đi ra ngoài thực hành. Là mỗi khi giảng chúng tôi luôn luôn cho biết cái bài giảng sắp tới là bài gì để mà chúng ta chuẩn bị trong cái tư duy. Bài sắp tới sẽ là bài tiếp xúc với những gia đình quanh chùa. Thì bài tới đó, chúng ta sẽ học về cái đề tài này.
[2:46]Thì hôm nay chúng tôi cho trước quý thầy cái tư duy để kỳ tới khi học tôi sẽ hỏi, quý thầy trả lời. Sau đó tôi xin phép ban giám hiệu quý thầy chia nhau đi khắp nơi hết những cái vùng chung quanh, chủ động đi vào nhà người ta nói chuyện đạo. Mình đến làm quen nói chuyện đạo. Tức là người giảng sư phải có cái nghệ thuật gây cảm tình với cái người chưa quen biết. Vậy đó. Tức là khi chúng ta đi vào nhà chúng ta giảng đạo, chúng ta đi ra mà mặt vẫn đẹp như cũ là thành công. Không có đi ra mà sứt mẻ miếng nào hay sưng một hai cục thì không được. Thì chia nhau cứ hai ba người chung một nhóm mà đi trong một ngày thôi, chia nhau trong một ngày.
[3:26]Một người, một nhóm như vậy đi chừng được ba bốn gia đình rồi về bắt đầu viết bài. Dĩ nhiên là mỗi bài, mỗi gia đình nó khang khác nhau hết thì tùy theo, nhưng miễn chúng ta có thiện chí, có chịu khó coi như bài đó thành công. Cách tiếp xúc, hỏi đáp. Là trong suốt năm đầu là chúng ta học nhiều cái kỹ thuật về cái việc mà đem đạo lý đến cho người ta, thường là hỏi đáp, hỏi đáp hỏi đáp nói qua nói chuyện qua lại, mình trực tiếp gợi ý nói chuyện. Năm thứ hai mới những phương pháp mà đứng trên bục giảng mà giảng liên tục chủ động một bài khoảng 30 phút, 45 phút. Vậy thôi, chúng ta cố gắng học trong 2 năm.
[4:02]Thì đó là cái chuẩn bị cho bài học sau. Còn chúng ta trở lại bài học này là bài "Nguồn đạo lý". Thì đó, tức là mục đích của bài này nói cho chúng ta biết cái cách nào để mà chúng ta luôn luôn bổ sung cái nguồn đạo lý trong tâm mình cho đến vô hạn, cho đến ngày mình già, mình chết thì vẫn không bao giờ tắt cái nguồn đạo lý. Nghĩa là dù 100 năm sau mình giảng vẫn có một bài giảng gì đó rất là lạ, rất là mới, hấp dẫn dù nó vẫn luôn luôn nhất quán với những bài giảng cũ. Nghĩa là 100 năm trước mình giảng bài gì, cái ý, cái xương sống là cái gì thì 100 năm sau vẫn không đi sai ngoài đó, nhưng vấn đề khai thác mới lạ ở một góc
[4:43]cạnh khác, có cái gì nó sâu sắc hơn, luôn luôn như vậy. Và để đạt được điều đó, hôm nay chúng ta bàn với nhau là những điều gì chúng ta phải làm để chúng ta có cái nguồn đạo lý vô tận ở trong tâm như vậy.
[4:59]Điều thứ nhất mà chúng ta phải làm để mình có được cái nguồn đạo lý trong tâm mình là làm sao? Ai nghĩ ra? Trước hết mình muốn có đạo lý trong tâm thì mình phải làm cái gì? Đúng, giỏi! Chúng ta phải học. Học ở đâu?
[5:23]Học ở đâu? Hử? Học ở đâu?
[5:32]Đứng lên nói cho la lớn lên. Sau này đi giảng đi hoằng pháp rồi. Học ở đâu?
[5:41]Quý thầy tập á, đứng giơ tay lên nói. Học ở đâu? Trong kinh, đúng. Kinh nào?
[5:55]Thường thường á người ta hay trả lời là học với với ông thầy, phải không? Mà ông thầy ổng học ở đâu? Ổng học cũng với ông thầy của ổng. Ông thầy của ổng học của ai? Học của ông thầy của ổng của ổng nữa. Nhưng mà sự thật á là tất cả cũng đều bắt nguồn từ trong trong kinh điển mà ra, từ lời Phật dạy mà ra. Thì kinh điển thì chúng ta có hai hệ thống kinh điển trong đạo Phật là kinh Nguyên thủy và kinh? Kinh Đại thừa, đúng rồi. Chúng ta có hai hệ thống kinh điển đó. Chúng ta dùng chữ Nguyên thủy và dùng chữ Đại thừa chứ chúng ta không có dùng chữ Tiểu thừa và Đại thừa nha, hệ thống kinh điển. Thế còn chữ Tiểu thừa hay Đại thừa là cái cách hiểu khác, lát nữa chúng ta sẽ nói.
[6:37]Nhưng đầu tiên chúng ta nói rằng chúng ta có hai hệ thống kinh điển: Nguyên thủy và Đại thừa. Nguyên thủy là sao? Chữ nguyên nghĩa là? Gốc. Thủy là? Ban đầu. Đúng rồi, nguyên thủy là cái gốc ban đầu, nghĩa là cái giáo lý đó là giáo lý gốc từ ban đầu, xuất phát tạo nên đạo Phật. Nghĩa là giáo lý đó là chính đích thực là lời dạy của Đức Phật. Nằm trong bộ kinh gì? Nikaya, nhớ như vậy. Còn kinh Đại thừa là những bộ kinh xuất hiện sau Phật với những tư tưởng có cái phát triển thêm, có những cái cải cách thêm.
[7:19]Thì giáo lý Nguyên thủy
[7:24]gồm những cái giáo lý căn bản gì?
[7:31]Nói cho lớn lên. Tứ diệu đế. Bát chánh đạo. Bát chánh đạo nằm trong Tứ diệu đế, nhưng mình tách riêng ra cũng được. Ba mươi bảy phẩm trợ đạo, mười hai nhân duyên, rồi gì nữa? Tứ niệm xứ, rồi gì nữa?
[7:48]Tứ chánh cần là trong ba, nhân quả, đúng, chính xác. Nhân quả rất quan trọng. Chính xác. Rồi gì nữa? Đúng á, cái ba mươi bảy phẩm trợ đạo thì tứ chánh cần, ngũ căn ngũ lực thì nằm trong đó hết. Thì đó những cái giáo lý đó, hệ thống giáo lý đó là giáo lý Nguyên thủy và là những giáo lý bất diệt. Dù Đức Phật xuất hiện ở thế gian này hay có một Đức Phật xuất hiện ở một hành tinh khác thì những giáo lý đó vẫn luôn luôn được tuyên thuyết, chúng ta nhớ như vậy. Là ví dụ là chúng ta đi đến một cái hành tinh xa lạ mới mà nghe nói có một bậc giác ngộ xuất hiện thì chúng ta, nếu mình học được ngôn ngữ hành tinh đó rồi,
[8:28]mình cũng phát hiện ra rằng giáo lý căn bản của một Đức Phật ở hành tinh đó cũng chính là Tứ diệu đế, là Bát chánh đạo, cũng mười hai nhân duyên, y chang như vậy không khác nhau. Đó là điều đặc trưng, nhớ như vậy nha. Tuy nhiên cái giáo lý Nguyên thủy khác với giáo lý Đại thừa ở chỗ là giáo lý Nguyên thủy cô đọng nên khó hiểu. Cô đọng và nói gọn và khó hiểu. Lý do tại sao?
[8:57]Lý do bởi vì vào thời đó chữ viết không có thông dụng. Chữ viết là một xa xỉ. Khó khi nào mà người ta có thể viết được một bài, bản văn mà như chúng ta mà viết một cái trang giấy này lắm, không có. Vì muốn viết cái đó đó, đó là một cái nghệ thuật của cung đình. Họ phải làm nhiều cái vỏ cây, lựa những loại vỏ cây ngâm, tẩm, ép ra để cho nó bền, không bị mục theo thời gian, bắt đầu mới lấy cái đá mài bén, lấy sắt mài bén hơ lửa khắc lên đó, mà khắc từng nét từng nét công phu. Nên nên để viết được một bản văn như thế này, nhiều khi họ phải làm mất ba bốn tháng. Cho nên vì vậy, thời đó chữ viết là một xa xỉ.
[9:41]Nên Đức Phật cũng không có chuộng lắm, không có tiện. Và do đó, kinh điển được truyền bằng cái gì? Đúng rồi, truyền miệng thôi. Tức là từ miệng ông thầy nói qua cái tai người học trò. Cứ sau một ngày buổi sáng đi khất thực, ngồi thiền, thuyết pháp gì đó, đến chiều xẩm xẩm tối lúc mặt trời vừa chợp xuống, còn có thể nói chuyện với nhau được, còn có thể thấy đường được thì cái người đệ tử đến vào cái giảng đường hoặc là đến chánh điện mà cũng có những cái bực như thế này. Thường thường trong đó cũng sắp có cái bực như thế này. Ông thầy sẽ ngồi kiết già trên cái bực cao, người đệ tử sẽ ngồi, dùng nguyên văn của Hòa thượng
[10:23]Minh Châu dịch là chò hõ ở dưới cái bực thấp hơn chút. Ngồi chò hõ là làm sao? Thầy Minh Lẫn ra biểu diễn chút.
[10:35]Ngồi kiết già biết rồi phải không? Mà ngồi chồm hổm là cứ ngồi vầy thôi nè, cứ ngồi vầy, chắp tay vầy. Vì cái cứ quấn cái y đó, quấn cái y cái y xà-rông quấn quấn là cứ ngồi nghiêm chỉnh chắp tay vầy, cũng mỏi nha, đâu phải dễ. Thì ông thầy ổng mới đọc một cái đoạn kinh cho người đệ tử nghe, cái người đệ tử lặp lại. À mà thuộc rồi cái ổng mới đọc lại một đoạn kinh mới, cái người đệ tử học tụng lại. Nên chữ tụng á, cái chữ tụng á là
[11:03]chant,
[11:07]chant, tức là hơi có tính cách hơi hát á. Hồi nhỏ quý thầy nhớ quý thầy học bài thuộc lòng ở trong lớp không? Mình học lúc mà đọc bài thuộc lòng đó cái giọng mình nó bị bẻ đi phải không? Để cho nó dễ nhớ hơn là mình đọc ngang ngang ngang thế này như đang nói chuyện, mình hơi có âm điệu chút xíu. Thì lúc tụng kinh Phật ngày xưa cũng vậy. Cho nên lúc đó tụng kinh còn có một cái ý nghĩa cực kỳ lớn là giữ gìn Pháp bảo. Vì nếu không có cái người mà truyền miệng thuộc nhớ từ đời này qua đời kia thì Pháp bảo mất hết, lời dạy của Phật bay vào hư không liền. Cho nên do đó, một cái nghĩa vụ thiêng liêng của bất cứ một người đệ tử xuất
[11:44]gia nào trong đạo Phật đều là phải thường xuyên tụng kinh để không quên. Cho nên chữ tụng kinh là được công đức lớn bởi vì giữ gìn Pháp bảo. Vào thời nay thì cái ý nghĩa mà tụng kinh như vậy không còn nữa, vì sao? Bởi vì nhà in họ làm công việc đó rồi. Những nhà in đó họ in kinh in sách ra, họ giữ gìn Pháp bảo, đưa vào CD, lưu vào ổ cứng rồi truyền lên trên mạng tải tùm lum thế giới, không thể nào mất được. Cho nên do đó, cái việc mà tụng kinh gọi là có công đức thì chuyện đó đã đã xưa rồi, không còn. Bây giờ tụng kinh chỉ có ý nghĩa gì? Có ý nghĩa là nhắc lời Phật để mình huân tu thôi, nha, chứ không còn có cái nghĩa lớn là giữ gìn Pháp bảo như ngày xưa nữa, như vậy.
[12:27]Và bởi vì lý do là truyền miệng, cho nên là cái lời Phật dạy phải làm sao? Phải hết sức là cô đọng, cô đọng để dễ nhớ, chứ không thể nói tràng giang đại hải như chúng ta thuyết một bài pháp suốt ba chục phút, bốn mươi lăm phút hay một tiếng, tiếng rưỡi, không được. Phải nói ý nào chắc ý đó và thậm chí có những ý lặp đi lặp lại để dễ nhớ. Và vì vậy, khi chúng ta đọc kinh tạng Nikaya, chúng ta sẽ thấy một cái điểm là khó hiểu, khô khan hay lặp đi lặp lại một cách nhàm chán. Nhưng đó là cái thủ thuật để cho kinh điển Nikaya được truyền tụng đi lâu dài. Đó, quý thầy nhớ như vậy. Và chính vì vậy, cho nên chúng ta dễ bị cái gọi là
[13:12]đánh giá thấp kinh điển Nikaya, nhưng sự thực kinh điển Nikaya cực kỳ hay, cực kỳ cao siêu, nhưng vì quá cô đọng. Nghĩa là thấp cũng cái kinh đó mà cực kỳ cao cũng kinh đó. Nói ví dụ như giáo lý về Tứ diệu đế, chúng ta nghe nói Tứ diệu đế là gì? Khổ, Tập, Diệt, Đạo, hết, phải không? Khổ là đau khổ, giờ gồm tám thứ. Tập là nguyên nhân đau khổ, gồm ích kỷ hoặc ái. Diệt tức là Niết-bàn. Đạo là Bát chánh đạo, gồm chánh kiến gì đó, rẹt hết. Nghe xong cái nói: "Ủa, Tứ diệu đế nhiêu đó hết rồi." Nhưng mình đâu biết rằng để hiểu thực sự Tứ diệu đế, mình chứng A-la-hán mới có thể hiểu được. Còn mình học vài ba chữ, nhưng mà đó là căn bản.
[13:54]Hoặc là giáo lý nhân quả, chúng ta vào nghe nói giáo lý là căn bản của Phật: gieo nhân gì gặt quả nấy, đem niềm vui cho người khác thì mình được an vui, đem nỗi khổ người khác thì mình sẽ bị đau khổ lại, vân vân. Nhưng mình đâu biết rằng khi mà tu mà càng lên cao là lên cao tới các hàng đại Bồ-tát là chỉ sử dụng giáo lý nhân quả để làm việc và độ sinh chứ không dùng giáo lý khác. Cho tới Đức Phật là hoàn toàn dùng nhân quả không. Cho nên đó là giáo lý đỉnh cao, nhưng mà khi mình mới học đó cũng là giáo lý căn bản mà mình không đủ sức hiểu nên mình chỉ hiểu càn cạn rồi cho giáo lý đó là thường thường, chứ đâu biết rằng đó là những giáo lý của đỉnh cao.
[14:31]Những giáo lý như Mười hai nhân duyên đồ này kia cũng vậy, toàn là phải những bậc A-la-hán mới hiểu hết, thấy hết, chứ không phải là người thường. Vì vậy mà chúng ta dễ coi thường kinh Ni- Nikaya. Ở đây hình như chúng ta chưa được học Nikaya phải không? Cái khóa vừa rồi thì tôi dạy Nikaya, nên tôi dạy rồi nên tôi không có lặp lại, không có dạy lại. Mà sao chưa thấy ai giảng, hơi sốt ruột. Bởi vì đó là bộ kinh căn bản quan trọng, nếu không được học thì chúng ta rất là tiếc. Vì vậy, nhắc lại một điều, nghĩa là nếu mà nói để học có cái nguồn đạo lý thì kinh điển Nikaya là chỗ y cứ quan trọng nhất, quý thầy nhớ.
[15:09]Ví dụ đọc bản kinh quý thầy không hiểu thì hãy nói rằng là chính vì sao? Vì trí tuệ mình không đủ, đừng bao giờ chê kinh nó dở nha. Đừng bao giờ đọc bản kinh Nikaya thấy nó khô khô, mơ mơ rồi cái nói kinh này dở kiếm bài khác, mang tội chết nha. Trong đó ẩn chứa một cái gì cực kỳ vĩ đại mà ta chưa hiểu, nha, nhớ như vậy. Bây giờ cái hệ thống thứ hai chúng ta phải học là hệ thống kinh điển gì? Kinh điển gì? Đại thừa, nhớ. Kinh điển giữa nguyên thủy và Đại thừa có khác nhau vài cái sắc thái, chúng ta nhớ chút. Kinh điển Đại thừa là kinh điển được viết, cho nên là những vị mà viết kinh Đại thừa họ viết dài.
[15:45]Do là lúc đó là sách và chữ viết đã bắt đầu được thông dụng, cho nên là họ viết dài, họ không cần phải viết cô đọng như lúc trước nữa, nên bài kinh Đại thừa nó văn hoa, bóng bẩy, trau chuốt hơn, nghĩa lý nhiều hơn. Nhưng có hai cái ý nghĩa, hai cái điểm khác nhau như thế này: Chúng ta nhớ kinh nguyên thủy á, thường là chú trọng cái sự tinh tấn tu hành. Bởi vì sao? Bởi vì vào thời Đức Phật, thiện căn của con người rất lớn. Vào thời Đức Phật á, nên họ không cần phải chú trọng tu tập công đức nhiều, họ chỉ dồn nỗ lực cho cái việc tu hành để họ sớm đạt được sự giác ngộ giải thoát. Đây là đặc tính. Và cái đặc tính này còn truyền lại cho đến ngày hôm
[16:28]nay, mặc dù cái thiện căn và cái công đức của con người ngày hôm nay thua rất xa người xưa. Chúng ta gặp các sư Nam tông hiện nay hoặc chúng ta vào các tu viện của Nam tông, chúng ta cũng sẽ thấy cái sắc thái tinh tấn này. Trong những lời giảng của quý sư, họ dồn chúng ta cũng phải tu quyết liệt, bỏ hết mọi việc để tu. Vì nghĩ rằng chúng ta đã thiện căn bằng các vị Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên vào đời Đức Phật. Cho nên là khi mà dồn hết tinh tấn như vậy là chúng ta đạt an lạc liền. Bởi vì sao? Bởi vì mót hết phước quá khứ mình vô để mình ép tâm mình nhiếp thì chắc chắn được yên liền, có an lạc liền.
[17:05]Nhưng mà an lạc đó không kéo dài, vì phước ta quá ít. Một thời gian an lạc đó mất, không tìm lại được nữa. Giờ mình phải bòn mót công đức vài ba kiếp tu lại nữa, như vậy. Nên có nhiều vị Phật tử họ tu ở các sư Nam tông rất là nhiều, ở họ ở nước ngoài họ đi nước này nước kia nhiều họ đến họ gặp tôi, họ nói là: "Sư, con đến các sư Nam tông con tu con được an lạc lắm." Cái tôi mới hỏi: "Giờ còn được không?" Nói: "Dạ hết rồi." Nói: "Giờ ráng không được không?" Nói: "Sao ráng hoài cũng không được." Nói đó, chính cái đó. Chính là bởi vì các vị áp dụng cái ngày xưa Đức Phật dạy cho các vị đại căn cơ, nói một cái là ngộ đạo, nói một cái chứng.
[17:44]Các vị ép tâm chừng bảy ngày chứng A-la-hán, nhưng mà thời nay không được. Nhưng mà không ngờ là các vị sư Nam tông vẫn tiếp tục duy trì cái sắc thái này, nên tạo thành một đạo Phật có thể rất tinh tấn nhưng ít tạo nên công đức và đôi khi thụ động vì ít có để ý tới việc truyền bá, bởi vì chưa chứng không chịu truyền bá. Và khi mình không truyền bá thì làm sao? Các tôn giáo bạn như là Hồi giáo họ sẽ truyền hết luôn. Như quốc gia Thái Lan vậy, miền Nam mình không truyền thì miền Nam Hồi giáo tới truyền hết luôn. Và ngày nay làm sao? Họ đuổi Phật giáo ra khỏi vùng đất đó. Lát chúng ta trở lại. Còn cái qua Đại thừa mở ra một chương mới Đại thừa,
[18:20]thì cái đặc tính của Đại thừa là thế này: là cái bài kinh căn bản của Đại thừa là bài kinh Kim Cang. Chúng ta nhớ nha, hễ ai hỏi: "Bài kinh căn bản của Đại thừa kinh gì?", mình trả lời một câu không sợ sai là kinh Kim Cang. Quý thầy đọc kinh Kim Cang chưa? Ha, kinh Kim Cang. Trong đó chỉ có cái sự trao đổi giữa ai với ai? Ngài Tu-bồ-đề và và Đức Phật. Cái khung cảnh chưa có gì đặc biệt hết. Chỉ những bộ kinh Đại thừa về sau á, bắt đầu khung cảnh hoành tráng mới được dựng nên là vô số Bồ-tát từ các bầu trời phương xa đến đứng nghẹt giữa hư không, hoa trời rải ngập đất, hương thơm ngào ngạt, đất chấn động rồi vô số trời, rồng đến đầy hết rồi.
[18:59]Khung cảnh rất là hoành tráng. Còn cái kinh Đại thừa đầu tiên là kinh Kim Cang thì khung cảnh lèo tèo, cũng có mình ngài Tu-bồ-đề với một hội chúng nào đó không rõ rệt nói chuyện với Đức Phật. Và cái câu hỏi ắt yếu, quan trọng là hỏi: "Bạch Đức Thế Tôn, khi một người mà họ có lý tưởng thành Phật", tức là phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, "có lý tưởng thành Phật, bây giờ họ làm cách gì để họ nhiếp được tâm, hàng phục tâm?" Đức Phật trả lời một câu mà tới giờ người ta còn chới với là nói: "Muốn hàng phục tâm, muốn nhiếp tâm thì phải độ cho hết chúng sinh." Cái câu đó vẫn là một thiền ngữ, một công án bí ẩn muôn đời,
[19:32]nhưng mà thật thật ra chả có gì công án bí ẩn muôn đời hết. Nó chỉ là thế này: là trong cái thời điểm Đại thừa đó cái giáo lý là thế này: xem cái việc nhiếp tâm bên trong ta và cái việc mà giáo hóa, độ người bên ngoài ta là một. Quý thầy nhớ giùm nha. Giờ ai hỏi: "Đặc điểm của kinh Đại thừa là gì? Yếu chỉ của hệ thống Đại thừa Phật giáo là gì?", chúng ta trả lời một câu không sợ sai là: xem việc nhiếp tâm bên trong và giáo hóa chúng sinh bên ngoài chỉ là một. Nói câu đó là không sợ sai. Và đây là con đường làm Phật giáo mở ra phát triển tràn lan đi luôn so với mọi căn cơ của mọi người, làm cho đạo Phật phát triển bừng bừng trở lại.
[20:12]Chứ nếu mà chỉ đi con đường của Nam Tông, xem như đã có người nào nấy thiện căn nhiều, công đức nhiều cứ lo tu không thì đạo Phật tiêu liền, tới ngày nay là tiêu liền. May là có hệ thống Đại thừa mở ra, lấy công đức làm cái điểm mốc quan trọng là xem rằng cái việc mà tu bên trong, nhiếp tâm bên trong và giáo hóa bên ngoài là một, nên từ đó mọi người đệ tử Phật vừa ráng ngồi thiền mà vừa làm bao nhiêu điều công đức, vừa giúp đỡ độ sinh, làm đủ thứ Phật sự, vì vậy là họ bắt đầu tu tiến được, con đường có lối để mở ra. Mà cái quan trọng là hạnh nguyện của một vị Bồ Tát trong đạo Phật là không có cái ý niệm về thời gian.
[20:52]Chúng ta nhớ như vậy nha, cái đặc tính của một vị Bồ Tát trong đạo Phật là không bao giờ đặt ra một giới hạn thời gian cho sự tu hành, lúc đó quên thời gian. Chỉ còn biết từng giờ phút trong hiện tại, ta làm một điều đúng là nhiếp tâm bên trong và giáo hóa bên ngoài, nhớ, hai cái đó là một, chỉ biết như vậy. Còn nói thời gian nào tu xong, mình nói không cần biết, không cần nhớ, không cần để ý, không cần quan tâm, mà xin đừng hỏi, bởi vì chúng tôi không bao giờ trả lời, vì chúng tôi cũng không đòi hỏi. Nhớ cái hạnh nguyện của Bồ Tát là vậy. Cho nên nếu ai nói tôi nhất quyết là tôi nhập thất kỳ này trong
[21:29]ba tháng tôi đắc đạo, là người đó không phải Bồ Tát hạnh. Người đó cái gì á, không phải Bồ Tát hạnh. Hoặc là nói tôi nhất sanh thành Phật, là một đời này tôi phải tu đắc đạo, thì người đó không phải, không phải Bồ Tát hạnh, xin nhớ như vậy. Nói Bồ Tát hạnh là gì? Không có thời gian. Kiếp nào cũng được, nói: "Ông tu kiểu ông là một triệu kiếp mới thành." Nói: "Chấp nhận luôn, thôi cho luôn ba triệu cho chắc ăn." Thọ ký cho, nói: "Tu cái kiểu ông lai rai không lo tinh tấn, cứ lo đi độ sanh hoài, chắc một triệu kiếp nữa mới thành." Mình nói, vậy mình cảm ơn cái lời thọ ký một triệu kiếp, nhưng mình xin đăng ký ba triệu luôn cho chắc ăn, khỏi một triệu.
[22:03]Tức là Bồ Tát là không có giới hạn thời gian. Nhớ như vậy, cái đặc tính như vậy. Và đó là một cái điểm son, điểm son của Phật giáo Đại thừa. Nhờ như vậy mà đạo Phật tung bay mở ra những chân trời vô hạn. Dĩ nhiên, nó cũng có những cái mặt nhược, có cái mặt nhược của Phật giáo Đại thừa chứ không phải không. Cái mặt nhược là thế này: là trong Đại thừa hay nói tới cái nghĩa... nghĩa Không. Nghĩa Không. Cái nghĩa Không này gây hiểu lầm rất là lớn mặc dầu cái giáo nghĩa này rất là hay. Mà tiêu biểu cho cái nghĩa Không này là bài kinh nào? Bát Nhã gì mới được? Bát Nhã Tâm Kinh. Mỗi ngày chúng ta đều, chúng ta đều tụng.
[22:47]Nó chỉ có gần 300 chữ mà không biết bao nhiêu là chữ "không" ở trỏng: chữ "không", chữ "vô", chữ "bất" này kia nọ. Chữ "không". Chính vì vậy mà nhiều người hiểu rằng Đại thừa là thấy cái gì cũng không, đây là cái hiểu lầm lớn. Mà tiêu biểu là bài Bát Nhã Tâm Kinh. Bài Bát Nhã Tâm Kinh đó, một có thể làm cho chúng ta thành một vị thánh vĩ đại, hai có thể quăng chúng ta xuống địa ngục luôn. Hiểu sai là chúng ta tu từ từ đọa xuống dần dần, dần dần; còn nếu ta hiểu đúng thì ta làm thánh từ từ, từ từ. Cái chữ "không" này rất là lợi hại, rất là nguy hiểm. Tôi nói là cái bài kinh Bát Nhã nó giống như cánh cửa,
[23:26]mà trên cánh cửa đó nó gắn nhiều chữ "không", gắn nhiều chữ "không". Những người đi đến cánh cửa Bát Nhã đó dừng lại đứng đó nhìn những chữ "không" đó và ca tụng cái chữ "không" đó, sống trong cái chữ "không" đó rồi cuối cùng cái người đó không còn gì cả, mất hết, bởi vì gieo nhân Không rồi ra không. Chỉ có những người mà có trí tuệ, họ nhìn xuyên qua chữ "không" đó thì họ thấy đằng sau đó là một chân trời hạnh nguyện Bồ Tát đầy những cái Có, đầy những cái Có. Cho nên, kinh Đại thừa thế này: nói Không cái này để ám chỉ Có cái kia. Quý thầy nhớ giùm đó. Thấy ai hỏi, ủa nói sao trong đạo Phật nói không
[24:04]tùm lum vậy, cái gì cũng không không hết? Thì mình nói thế này: xin thưa, kinh Đại thừa nói Không điều này để ám chỉ Có điều khác. Ví dụ như là cái họ mới nói, chỉ một cái người đàn ông, họ nói: "Cái ông này không nghèo", thì mình hiểu ông đó làm sao? Ông đó làm sao? Ông đó giàu. Đó là mình có trí tuệ. Nhưng có cái người họ nhỏ tới lớn họ chưa hiểu cái giàu là gì, do họ quá thiếu phước, họ không hề biết cái chữ "giàu" trên thế gian nghĩa là gì, cho nên khi nghe nói cái ông này không nghèo, cái họ không biết, không biết là không nghèo tức là giàu. Họ mới than: "Trời ơi, cái nghèo mà cũng không có nữa tội nghiệp ghê ha!"
[24:47]Tới họ tưởng là không nghèo tức là mạt hạng bần đinh, không còn một xu nào, không còn quần, không còn áo, còn gì nữa hết trơn. Tức là cái hiểu lầm, tưởng không là không có gì. Đâu có, nói Không này là để Có một cái kia. Ừ, ví dụ nói là thầy này không xấu, tức là làm sao? Đẹp rùng rợn, mê ly, ly kỳ, hấp dẫn gì đó, phải không? Nhưng mà có cái người là họ không có phước, nào giờ họ không biết cái đẹp là cái gì, tự nhiên nghe nói ông thầy này không xấu, trời ơi cái xấu mà cũng không được nữa hả, tội quá ha, mà tưởng chắc là ma chê quỷ hờn gì còn ghê gớm hơn nữa. Đâu phải, Không cái này tức là để Có cái kia, Đại thừa là vậy.
[25:25]Cho nên tôi giảng bài Bát Nhã Tâm Kinh tôi có nói, tôi nói bây giờ có diễn tả về một người mà chúng ta chỉ dùng chữ "không" để diễn tả thôi, không có diễn tả bằng cái chữ "có". Ví dụ nói người đó không có tóc, mặc bộ đồ không giống ai, ăn thức ăn không có nhiều dinh dưỡng, trong nhà không được mở nhạc tình, ờ gì nữa, không được ngủ sớm, không được dậy trễ, ờ gì nữa, không ai dám yêu, đúng không? Thì đó là ai? Đó là ai? Đích thị ông thầy chùa, còn trật đường nào nữa. Nhưng mà cái người mà họ không biết, họ không hề gặp một vị sa-môn thì họ nghe diễn tả dùng cái chữ "không", nói: "Ủa, con người gì đâu giống ma vậy, không có gì hết trơn vậy?" Tới họ tưởng,
[26:10]nghe chữ "không" là họ tưởng không có gì hết, nói không có tóc rồi không quần áo đẹp, không ăn gì, coi họ tưởng ủa cái người gì đâu kỳ ta, sống ngộ vậy ta. Đó, cái họ không biết. Nhưng mà nếu mình là người biết, mình đã từng gặp một vị sa-môn rồi, mình biết: "A! Cái này là diễn tả ông thầy ở trong chùa kia, có thấy rồi, đúng, ổng là người không có tóc nè, nghĩa là thức khuya dậy sớm nè, tụng kinh gõ mõ, mặc áo cà-sa, là không ai dám yêu, đích thị là ông thầy tu." Do mình có biết, cho nên cái người mà nghe chữ Không này nhưng mà hiểu được cái Có kia thì mới thấy đúng là một bậc sa-môn, một người đệ tử Phật đã xuất gia từ bỏ gia đình,
[26:46]sống không gia đình, một mình ba y một bát đi giữa cuộc đời để đem giáo lý đến với chúng sinh ha, thảnh thảng bước trên đường đời đầy hoa rơi lá rụng, tức là họ hiểu được cái điều Có cực kỳ đẹp, còn cái người không hiểu á thì mới nghe cái gì cũng không không không, lát: "Ủa người đó là cái gì ta? Mờ mờ mờ hồi giống ma." Đó, cái chữ Không của Đại thừa là vậy, là nói Không này để Có cái kia, mà cái khó là bởi vì sao? Mình khó hiểu cái Có là cái gì á, cho nên mình đứng kẹt ở chữ Không luôn. Giống như một người chưa biết giàu là gì thì không hiểu chữ "không nghèo", người nào chưa biết đẹp là cái gì thì không hiểu chữ "không xấu", một người chưa gặp ông thầy tu
[27:22]lần nào thì không bao giờ hiểu được cái ông không có tóc mà sống cái kiểu đó. Cũng vậy, bây giờ ví dụ chúng ta nghe bài kinh Bát Nhã Tâm Kinh, nói có đoạn thế này: "Thị cố không trung vô sắc, vô thọ tưởng hành thức, vô nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý, vô sắc thanh hương vị xúc pháp, vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới, vô vô minh diệt vô vô minh tận, vô lão tử diệt vô lão tử tận, vô khổ tập diệt đạo, vô trí diệt vô đắc." Tức là những khái niệm trong kinh của Phật, không hết, đúng không? Đúng không? Không hết. Tứ Diệu Đế cũng không, Mười Hai Nhân Duyên cũng không, khái niệm về Thập Bát Giới, lục nhập, lục xúc gì không hết,
[27:59]cấu trúc tâm lý năm uẩn không luôn, tức là toàn bộ giáo lý đạo Phật quét hết luôn. Thì ngay chỗ này mình hiểu như vậy muốn nói cái gì? Nếu mà mình hiểu theo kiểu không á là như vậy là không kinh điển Phật luôn, mình hiểu câu đó mình xuống địa ngục liền. Địa ngục thì chắc không xuống nhưng súc sinh là cầm chắc. Vậy đằng sau cái đoạn đó cái Có là gì? Cái khó là chúng ta không đủ trí để thấy đằng sau cái không đó là một cái Có rất lớn, mà chúng ta cứ tưởng là nói Không là không luôn, mà như vậy mình đọa chết, hiểu Đại thừa kiểu đó đọa chết luôn. Vậy cái đó là gì? Đó là cái này: tức là đoạn đó nói lên cái hạnh nguyện của một vị Bồ Tát khi mà
[28:37]đem giáo lý dạy chúng sinh á, làm ơn đừng chấp kinh điển. Đừng chấp kinh điển. Tức là cái ngôn ngữ văn tự của kinh ngày xưa mình hiểu nhưng khi mình đến mình giảng chúng sinh thì xin hãy dùng bằng cái lời nói của chúng sinh. Chúng sinh hiểu bằng ngôn ngữ nào mình nói bằng ngôn ngữ đó chứ đừng có cố chấp cái chữ mà mình đã học ở trong trường, trong kinh. Và cái đoạn đó là vậy, tức là cái đoạn mà một vị Bồ Tát giáo hóa chúng sinh bằng thiện xảo phương tiện, không có nghĩa là đạt ý mà quên lời, không cố chấp vào ngôn ngữ văn tự. Cái đoạn đó rất là hay, nhưng mình hiểu lầm một chút mình tưởng là Bát Nhã bác hết kinh của Phật. Thế là từ đó mình cũng bắt chước,
[29:15]mình ngông ngông nghênh nghênh, mình bác hết kinh của Phật, mình bảo đảm đi đọa liền, làm súc sinh liền, không nói gì hết. Ví dụ bây giờ mình đến mình tiếp xúc với một người ở gia đình ở gần chùa thì cái người đó nói, nói: "Không biết sao tôi có thằng con giờ nó tưng tưng à. Trước không có sao, giờ nó tưng tưng tưng." Thế là mình mới nói bằng ngôn ngữ kinh điển, tại mình học giỏi á, mình mới nói là: "Như vậy là con của cô á, cái sắc thọ tưởng hành thức nó trục trặc, có vấn đề." Cô trợn mắt hỏi: "Sao tự nhiên không hiểu, nói gì sắc sắc vậy?" Tức là mình nói bằng ngôn ngữ, họ nói: "Không, như vậy là từ vô minh mà duyên hành,
[29:50]hành duyên thức của người này là có cái trục trặc." Cô nói, không hiểu gì. Đó, nếu mà mình dùng cái ngôn ngữ của kinh mình đã học, người ta nghe người ta biết không? Không. Giờ mình phải trả lời làm sao? Nói nó tưng tưng thì tức là về cái tâm lý á ha nó bị bị trục trặc, cho nên dẫn đến não bộ có thể bị thương tổn. Tức là người ta chỉ biết hai cái chữ "tâm lý", chữ "não bộ", phải không, người đời? Thì mình dùng hai chữ đó nói với người ta, chứ đừng có nói theo cái chữ của mình. Đó, cái đoạn kinh nó là như vậy. Khi chúng ta đến với mọi người, chúng ta nói chuyện tiếp xúc với họ là phải dùng ngôn ngữ của họ.
[30:21]Và cái nguyên nhân mà cái tâm lý tổn thương dẫn đến não bộ tổn thương có thể là chú này trước đây hơi bị kiêu ngạo chăng, có đúng không? Cái bà này mới nói: "Ờ đúng rồi, sao thấy nó không nể ai hết trơn, nó gặp mấy thầy nó cũng kênh kênh, rồi thầy giáo nó nó cũng coi thường." Đấy, đúng, đó nguyên nhân là một người kiêu mạn sẽ đưa đến cái tổn thương về tâm lý rồi tổn thương cái não bộ. Cho nên bây giờ mà cô muốn độ cái người đó thì cô khuyên người đó phải ráng lễ Phật, phải khiêm tốn, biết tôn trọng mọi người thì tự nhiên nó phục hồi công đức lại cái sẽ được thăng bằng tâm lý lại. Đó, mình nói bằng ngôn ngữ người ta, chứ ngồi đó mà cứ nói y chang cái
[30:56]mà năm uẩn, mười hai nhân duyên gì thì làm sao, người ta không biết. Đó, cái đoạn đó là vậy. Cho nên Đại thừa, cái chữ "không" là để ám chỉ một cái Có, nhưng mà chỉ coi chừng cái này: cái điều mà kinh Đại thừa muốn ám chỉ cái Có, cái đó chúng ta không thấy, không biết. Mà nên chúng ta tưởng Không là không hết là chúng ta sẽ bị bị đọa, nhớ như vậy. Cho nên sau này khi chúng ta đọc cái kinh Đại thừa mà đọc tới chữ "không", hãy cẩn thận, còn một cái Có gì để ám chỉ mà ta chưa biết, nhớ như vậy nha. Thì khi mà chúng ta học ờ kinh điển nguyên thủy, kinh điển Đại thừa rồi thì sau này các vị đại sư còn
[31:35]viết ra rất nhiều bộ luận để lý giải về những điều đó. Ừ. Tuy nhiên là không ai có đủ thời gian mà để đọc hết những bộ luận của các vị đại sư đó, quá nhiều, mênh mông. Nên trong đời chúng ta, thường chúng ta chỉ lựa những bộ luận tiêu biểu để đọc thôi, chứ không có đủ sức đọc hết đâu. Sau này rảnh rỗi có thời gian thì mình tùy duyên thích đọc thì đọc, chứ không có ai đủ sức đọc hết. Nhất là những nguyên bản bằng chữ Nho, bằng tiếng Pali gì đó thì mình phải có thêm cái vốn ngoại ngữ hay vốn cổ ngữ nữa thì mới có thể mà thông suốt được. Mà chỉ cần để trau dồi cái nguồn đạo lý của ta là không phải
[32:12]chúng ta chìm hết vào trong cái việc học kinh điển đâu. Thấy người nào hiểu lầm là tưởng rằng muốn có một nguồn đạo lý vô tận trong tâm thì phải suốt một đời chui trong kinh, chìm trong cái thế giới của kinh điển mà học là sai lầm lớn. Lát nữa từ từ chúng ta sẽ thấy là những yếu tố để tạo nên cho một nguồn đạo lý vô tận trong tâm ta là còn rất nhiều vấn đề chứ không phải chỉ có một việc học. Ừ. Nhưng có điều chúng ta để ý thế này, khi chúng ta đọc những bộ luận của các vị đại sư sau Phật mà phân tích, lý giải thêm Đạo Phật á là chúng ta sẽ bắt gặp một cái tư tưởng là phân phái, phân phái. À là bắt đầu cái vị đó lý giải Đạo Phật từ từ lạc qua theo
[32:50]một cái hướng của mình, là đi thành lập một cái phái. Vị khác tạo ra một bộ luận kéo theo cái hướng của mình, lập ra một cái giáo phái mới, cứ như vậy. Đạo Phật bị phân phái từ từ do những cái vị về sau. Chúng ta cũng nghe rằng sau thời Đức Phật là bộ phái đã xuất hiện phải không? Là gồm hai bộ phái chính là gì? Thượng Tọa bộ và Đại Chúng bộ. Rồi trong hai cái bộ phái đó lại phân ra nhiều phái để tất cả thành ra 20 bộ phái. Nhưng đến khi mà tư tưởng Đại thừa xuất hiện thì tư tưởng Đại thừa mới nhiếp lại hết tất cả những bộ phái đó để thành ra chỉ còn có Đại thừa và nguyên thủy. Đại thừa và nguyên thủy.
[33:27]Nhưng mà rồi trong nguyên thủy á các vị lại bắt đầu phân phái ra nữa. Và Đại thừa lại cũng phân phái nữa. Chẳng biết sao người ta khoái phân phái không biết nữa. Nghĩa là nguyên thủy bây giờ chúng ta đến bên Nam tông, chúng ta sẽ thấy mỗi vị chủ trương một đường lối riêng. Mặc dù kinh điển họ rất là thống nhất với nhau. Chúng ta sang Miến Điện, những trung tâm thiền họ dạy về thiền thì có người dạy quán thân, qua một cái trung tâm khác dạy quán thọ, qua trung tâm khác dạy quán tâm, chứ không có trung tâm dạy quán pháp. À như vậy là không đúng với Tứ niệm xứ của Phật. Tứ niệm xứ của Phật là ngay một người chúng ta thực hành
[33:59]đã đủ cái quán thân, quán thọ, quán tâm, quán pháp. Đó là sự nhất quán giữa bốn cái quán đó. Còn chẻ ra từng cái quán thì không phải là Tứ niệm xứ nữa. Nhưng mỗi vị họ chủ trương như vậy, họ phân phái như vậy là ta đành chịu. Còn trong Đại thừa cũng vậy, phân quá chừng phái luôn: Thiền tông, Tịnh độ, Mật tông, Thiên Thai, Hoa Nghiêm, Thành Thật, Duy Thức là quá chừng tông luôn. Và điều ngày hôm nay là chúng ta cố gắng đi tìm lại một Đạo Phật chung đồng, một Đạo Phật chung đồng. Mà Đạo Phật đó đó là lấy được cái tinh tấn của cái Chánh tinh tấn trong Bát Chánh Đạo nhưng mà cũng thực hiện được cái công đức
[34:34]của của Chánh nghiệp, nghĩa là đi vừa thành cái con đường Đại thừa. Vì sao vậy? Bởi vì thế này, chúng ta hiểu á giáo lý nguyên thủy á như cái cây có gốc cây, còn giáo lý Đại thừa như là như là cái gì? Như là thân cây à tàng lá, hoa trái là sự phát triển về sau. Đại thừa. Thế Tiểu thừa là gì? Chúng ta có ba khái niệm: nguyên thủy, Đại thừa, Tiểu thừa. Thì nguyên thủy là giáo lý gốc là nằm phần này xuống, đồng ý rồi. Đại thừa là sự phát triển ở đây, đồng ý rồi. Vậy còn Tiểu thừa nằm ở đâu? Tiểu thừa là cũng từ gốc, nhưng thay vì gốc đi lên thì cái gốc này nó lại chui xuống. Đó, nó chui xuống. Nghĩa là cái chữ "không" hồi nãy á.
[35:20]Nghĩa là nếu chúng ta nghe nói cái người này không nghèo thì ta hiểu là là giàu, tức là người đó hiểu Đại thừa. Còn người nào nghe nói chữ "không nghèo", tưởng là cùng đinh mạt hạng không có gì hết thì người đó hiểu theo Tiểu thừa. Hiểu Tiểu thừa. Cho nên buông xuôi, thụ động và không làm gì hết. Nên từ một giáo lý nguyên thủy ta có hai cách hiểu: một cách để vươn lên thành Đại thừa Phật giáo và một cách đi xuống đã thành Tiểu thừa. Là như vậy. Chứ còn mình thấy các sư Nam tông thì khoan kết luận là Tiểu thừa nha. Mà chỉ nói đó là các sư tu theo nguyên thủy. Đó, không biết, còn vị nào mà hiểu Chánh nghiệp
[35:57]biết tạo công đức thì vị đó dù mang tông phái là nguyên thủy nhưng đang dấn thân Đại thừa. À không phải Tiểu thừa. Còn cái vị nào ngay cả người đó tu Bắc tông mà khi chúng ta hỏi về nghĩa không thì vị đó nói là cái gì cũng không, trên đời cái gì cũng không, không cha, không mẹ, không anh, không em, không trước, không sau, không ta, không người, không Phật, không chúng sinh, cái gì cũng không, không làm gì hết thì người đó mặc dầu là mang màu áo Đại thừa nhưng cũng đang hiểu giáo lý thành ra gì? Tiểu thừa, tức là đưa tới cái không gì hết và thụ động. Không thấy được phía sau cái không đó là cả một khoảng trời
[36:29]có mênh mông đầy những cái hạnh nguyện Bồ Tát vi diệu. Đó, nên cái Đại thừa, Tiểu thừa này nó không lệ thuộc vào cái hệ phái ta, không hề thuộc vào tông môn ta mà tùy thuộc vào cách hiểu của ta. Nên cái cách hiểu mà dấn thân tích cực, năng nổ thì thành Đại thừa, không biết tông nào. Còn hiểu cái gì cũng không hết, không làm gì hết thành Tiểu thừa. Đó, vậy. Và bây giờ vậy khi hiểu điều đó rồi thì chúng ta cố gắng là đi tìm lại sự chung đồng cho Đạo Phật chứ không có để cái tình trạng phân phái nữa bởi vì phân nhiều quá mệt mỏi rồi. Chúng ta thấy bất cứ kinh điển nào cũng tự cho mình là làm sao? Hay nhất, phải không?
[37:08]Kinh này là vua của các các kinh, như là biển cả mà mọi dòng sông đều đổ về, kinh này là thù thắng hơn tất cả. Rồi chúng ta gặp ông thầy nói tông của ổng thì sao? Nói tông này là nhất thiên hạ, không có tông nào bằng tông này. Bởi vì mình đến làm đệ tử một ông thầy tu thiền thì ổng nói chỉ có thiền là số một, các tông khác không bằng. Rồi gặp một thầy Tịnh độ thì ông thầy Tịnh độ nói không, chỉ có tông này là nhất. Thời thời này chỉ có tông này, mấy tông khác tu dễ bậy. Nên chúng ta thấy cái tâm lý chung là ai cũng cho mình là nhất. Và chính cái tâm lý đó làm cho Đạo Phật bị phân phái. Ngày hôm nay mình là một người học Tăng,
[37:42]mình phải khách quan thoát ra khỏi những điều đó. Nghĩa là mình học giáo lý, còn mà nghe cái giáo lý vị thầy đó hay kinh điển đó tự cho mình là nhất thì mình cười để yên qua một bên, mình không bị thành kiến bởi những điều đó, nhớ như vậy. Mà cái chúng ta đi tìm, chúng ta đi tìm đạo lý chân thật, khách quan, không có cái tình cảm kiểu đó, không có tình cảm tự tôn để chi? Để mình đi tìm lại một Đạo Phật chung cho thế giới ngày mai, nhớ như vậy nha. Thì à như vậy là chúng ta học học kinh, hai hệ thống kinh, rồi học luận. Bây giờ chúng ta tới tham khảo. Tức là ngoài những điều ta học bây giờ tới giai đoạn ta tham khảo.
[38:24]Cái điều gì mà ta phải tham khảo tiếp tục sau khi chúng ta đã nắm vững được kinh điển trong Đạo Phật? Là gì? Là khoa học nha, khoa học. Khoa học là cái kết tinh trí tuệ của loài người trong cả triệu năm tiến hóa. Thực sự mà khoa học tiến bộ đó chỉ chừng năm sáu trăm năm nay thôi là tiến bộ vượt lên mà nhất là những giai đoạn gần đây khi mà người ta đã chế tạo ra được bộ óc điện tử bằng cái máy vi tính à thì là khoa học tiến bộ vượt bực. Nhưng mà phát hiện mà tiến bộ rõ nhất là khoảng năm sáu trăm năm nay. Nhưng mà sự thực là khoa học đã bắt đầu khởi động từ khi loài người có mặt là do con người ta luôn luôn có thông minh, sáng tạo, tìm tòi.
[39:07]Cứ người trước để lại những cái kinh nghiệm, những ảnh hưởng cho người sau. Nên khoa học là cái kết tinh trí tuệ của loài người mà chúng ta phải biết. Và nếu chúng ta phủ nhận khoa học là chúng ta phủ nhận cái trí tuệ của loài người và chúng ta sẽ mắc một cái quả báo rất là nặng, đó là gì? Cái người nào phủ nhận khoa học, tức là phủ nhận trí tuệ loài người thì người đó sẽ mắc quả báo gì? Không có trí tuệ nữa. Ha, mình dùng chữ không thôi mình đừng nói cái có. Chứ không mắng người ta ngu si, vô minh nó tội nghiệp. Mình nói người này sẽ không có trí tuệ, vậy thôi. Hiểu gì đó hiểu. Nhưng mà giữa cái học và cái tham khảo khác nhau điểm gì?
[39:49]Học rồi tham khảo. Ai phân biệt được hai từ này? Học và tham khảo?
[39:57]Cứ đứng dậy nói, chúng ta phải mạnh dạn, tới lúc phải làm người hoằng pháp rồi. ... người học và nghiên cứu. Học có thể là chỉ học qua loa, còn nghiên cứu có nghĩa là mình nghiên cứu sâu hơn. Rồi, cảm ơn. Có ai có ý kiến gì khác không? Khác nhau giữa học và tham khảo. Mình dùng chữ tham khảo chứ mình không dùng chữ nghiên cứu. Có ai có ý kiến gì không? Phải hiểu này cho chắc một chút. Ai có ý kiến gì không nè? Dạ Mô Phật, kính bạch thầy cùng toàn thể đạo tràng. Theo sự hiểu biết của con thì học là chúng ta tiếp thu cái kiến thức gọi là căn bản, có nghĩa là nhất định muốn làm điều đó thì căn bản kiến thức phải đạt đến đó.
[40:47]Còn sự tham khảo ở đây nó có nghĩa là nâng trình độ cái kiến thức của mình lên và mở rộng cái kiến thức mà phát sinh từ căn bản. Nói chung là nói gần tới rồi đó, tốt lắm. Rồi, cảm ơn nhiều nha. Thầy pháp danh gì? An Tấn. Thầy An Tấn nói cũng gần tới, gần tới. Mà quý thầy nhớ như vậy, là trong suốt cuộc đời mà quý thầy đi giảng giải đó, gặp một cái chữ quý thầy phải nhìn xuyên vô bản chất cái nghĩa của nó liền để mình hiểu và mình sử dụng cho chính xác. Chứ lúc đó không ai định nghĩa giùm mình đâu, nên mình phải hiểu cho chắc. Mà tự mình có cái trí nhìn xuyên qua nó luôn. Từ đây về sau vậy chúng ta sẽ học và hỏi trong lớp rất nhiều.
[41:27]Bài này tôi còn ít hỏi nha, qua bài sau trở đi là luôn luôn hỏi, luôn luôn hỏi, và quý thầy phải sẵn sàng tinh thần luôn luôn đáp. Một câu đưa ra là phải mười mấy ngón tay giơ lên là sẵn sàng đáp liền, tập như vậy. Phải như vậy nhớ nha, bữa nay là cho phép, bữa sau á là tôi chỉ ai trả lời người đó phải trả lời. Nếu không trả lời là trưởng lớp ghi sổ. Trưởng lớp đâu ta? Ai là trưởng lớp? Mắt kiếng hả, rồi. Nhớ nha, ghi tên cho An Tấn thêm một điểm trong bài làm. Nửa không biết bài làm mấy điểm, nhưng mà nhớ ghi sổ người nào trả lời tôi kêu ghi sổ là tặng thưởng một điểm, còn người nào tôi chỉ mà không trả lời, trưởng lớp ghi trừ một điểm,
[42:03]nửa làm bài làm không biết nhiêu điểm sẽ trừ bớt một điểm. Rồi từ đây sắp tới không được là không trả lời, nha, không được không trả lời. Bắt buộc phải luôn luôn, bắt buộc phải luôn luôn trả lời, cho dạn miệng lên, dạn miệng. Micro đưa tới là cầm nói ào ào liền, nha. Nói làm sao mà tôi không còn thời gian để nói nữa là thành công, nói vậy. Học, đúng vậy đó, tức là chúng ta nương vào cái lời dạy của Phật để chúng ta lấy đó làm căn bản, làm nền tảng, làm cốt lõi, làm xương sống cho mình. Tức là mình là đệ tử Phật thì phải học kinh của Phật, là không chạy đường nào hết, và chúng ta học cái đó, chúng ta tạo nó thành bản chất của mình.
[42:43]Tức là một người Sa-môn đệ tử Phật là phải hiểu nhân quả như thế, phải có đạo đức như thế, phải biết ngồi thiền như thế, là tạo thành một cái bản sắc, một cái bản chất của người đệ tử Phật. Học để tạo thành bản chất của mình. Mà nếu chúng ta lỡ xui học nhầm thầy tà thì tôi không ráng chịu không nói, nhưng căn bản là hầu hết là đều đúng, bởi vì lời Phật dạy, kinh Phật dạy để lại đó rồi. Chúng ta học để tạo nên bản sắc của mình, bản chất của mình. Còn tham khảo, tham khảo tức là chúng ta có cái bản sắc của mình rồi, chúng ta tham khảo để chúng ta có cái nhận định, học hỏi, tiếp nhận, phê phán. Nó thêm có cái nữa là phê phán nữa. Nó khác với học.
[43:23]Học là bao nhiêu mình lấy hết bấy nhiêu, giống như mình là một cái thùng trống, một vị thầy của mình ổng rót nước vào nó đầy vậy thôi. Còn cái tham khảo là mình có cái chắt lọc, có cái chọn lựa, có cái nhận định, kể cả có cái phê phán. Cái nào xài được, cái nào không xài được, chứ không phải là lấy hết vô để làm thành cái của mình như là học. Nhớ như vậy, nha. Và bây giờ, cái điều mà ta phải tham khảo trước hết là khoa học. Khoa học là gì? Khoa học gồm có hai ngành là khoa học tự nhiên và khoa học nhân văn. Khoa học tự nhiên là gồm những môn gì? Khoa học tự nhiên là gồm môn toán, lý, hóa, sinh nữa. Gì nữa?
[44:05]Địa thôi chứ sử lại thuộc là nhân văn. Địa lý thì vẫn thuộc về khoa học tự nhiên, nhưng mà sử thì thuộc lại là nhân văn rồi. Những môn kỹ thuật, cơ khí phải không? Vân vân. Đó, môi trường, sinh thái đều là khoa học tự nhiên hết. À, chúng ta thấy không? Còn khoa học nhân văn là văn, sử, không, địa là bên khoa học tự nhiên rồi. Ngoại ngữ, đúng. Ừ, văn, sử nè, ngoại ngữ nè, triết học nè, luật học nè, xã hội học nè, tâm lý học nè. Đó, những cái đó là khoa học nhân văn, nha, ừ vân vân. Thì dĩ nhiên là chúng ta không có cái thời gian để mà biết hết mọi môn học đó đâu, để tham khảo hết đâu. Chúng ta chỉ biết tổng quát thôi.
[44:48]Ví dụ bây giờ nói tới môn địa lý thì mình phải biết là trái đất là hình hình cầu, rồi trên đó mỗi quốc gia nằm ở đâu đâu đâu đâu, châu nào châu nào phải biết, thế nào là vĩ tuyến, thế nào là kinh tuyến, rồi ranh giới quốc gia, rồi ở những cái vùng đó khí hậu thời tiết mưa gió nhiều, rồi có những cái sông nào đặc biệt, có ngọn núi nào đặc biệt, dân số khoảng bao nhiêu, mình biết tổng quát tổng quát thôi chứ không có đi sâu. Nhưng mà những kiến thức như vậy cũng phải biết sơ sơ. Bởi vì sao? Bởi vì từ cái địa lý đó nó mới dính qua khoa học nhân văn là văn hóa của mỗi quốc gia. Nghĩa là với địa lý đó họ đã hình thành nên cái văn hóa như thế,
[45:22]cái tư tưởng đó đã xuất hiện trong cái vùng địa lý đó và hình thành một cái văn hóa như vậy nó tràn lan như thế nào. Đó, thì đó là khoa học nhân văn, khoa học tự nhiên. Thì cái người mà làm công tác hoằng pháp á, chúng ta càng có kiến thức về khoa học chừng nào thì chúng ta càng có cái lợi khí trong tay chừng nấy. Vì sao vậy? Là bởi vì cái nguyên tắc của cái người hoằng pháp là chúng ta nói điều mà người nghe họ quan tâm, chứ không phải chúng ta nói điều mà ta quan tâm. Nhớ như vậy. Ví dụ như ta quan tâm điều gì? Ta quan tâm là cái đạo đức ta chưa hoàn chỉnh, hoặc là cái đạo quả mình chưa chứng,
[46:02]chùa mình chưa xây, ông thầy mình ổng bệnh mà ổng sống hơi dai. Ví dụ đại khái không biết sao không biết, những điều ta quan tâm. Nhưng mà khi mình nói những điều đó thì người ta nghe không được, nhưng mà mình nói những điều người nghe quan tâm. Thì những cái điều mà người nghe quan tâm có khi họ không quan tâm giống mình, họ quan tâm những vấn đề khác, mà thường người ta quan tâm những điều gì trong cuộc sống xã hội bên ngoài, những điều đó nó liên quan tới khoa học tự nhiên và khoa học nhân văn. À, gặp một cái người cán bộ thì mình phải có cái lời nói phù hợp với điều quan tâm của họ về cái ổn định cuộc sống,
[46:34]về trật tự trị an, rồi mình phải có kiến thức về đó để nói chuyện. Hay gặp một người mà đi làm lụng nuôi con, mình phải hiểu về vấn đề mà dạy con, vấn đề kinh tế gia đình, mình phải biết, mình nói chuyện để đưa đạo lý vào những cái đó hết. À, nhờ cái kiến thức rộng mà ta có thể biết được nhiều điều trong cái cuộc sống này. Và nhờ như vậy là bài giảng của ta rất là phong phú. Mà ai mà có cái lợi thế về giỏi toán đó thì rất là lợi. Ai mà giỏi toán thì rất là lợi, bởi vì sao vậy? Bởi vì không có cái môn nào mà nó đòi hỏi cái logic khủng khiếp như là môn toán. Logic tức là sự hợp lý, sự chặt chẽ trên cái việc mà suy luận,
[47:13]nên cái người mà giỏi toán á, khi họ đi ra họ giảng một bài á không ai bẻ được hết. Bởi vì chính họ đã phản biện hết rồi, họ đã rào trước đón sau. Trước khi nói một câu, họ đã biết câu đó kết luận như vậy nó sẽ có bao nhiêu cái kẽ hở và họ tiếp tục họ lấp những kẽ hở đó hết. Cái người giỏi toán rất là có lợi. Còn cái người mà không giỏi toán á, nhiều khi mình có giỏi văn, giỏi nghệ thuật, hoặc là mình có tu, mình nói nghe hay nhưng rồi vẫn hở, vẫn hở. Như có lần tôi đọc cái cuốn sách của một tác giả bên Ấn Độ, ông này cũng nổi tiếng, cái tôi đọc ra vài trang tôi mới phát hiện là ông này là người có tu hành, có tham khảo nhiều, ừ có tính nghệ sĩ, nhưng dở toán.
[47:54]Dở toán. Bởi vì cái lý luận của ông ta không chặt chẽ, không chặt chẽ. Mà không chặt chẽ thì nó giống như nó hở mất cái căn bản à. Có thể ông nói nghe hay nhưng mà không chặt chẽ. Nên cái người mà có thể độ được cái người họ thường thường, họ không đòi hỏi khó tính thì thôi chấp nhận được, nhưng mà với cái người mà họ khó tính nhất là người của thời đại nay họ học giỏi thì họ không chấp nhận được cái mà kết luận vội, không logic, cái kết luận thiếu logic, thiếu logic. Thì tôi không có muốn diễn tả từng câu văn, nhưng quý thầy nhớ điều này là người giỏi toán rất là quan trọng, người giỏi toán rất là quan trọng.
[48:31]Những cái người học sinh mà họ giỏi toán á, họ mê làm bài tập. Quý thầy nhớ hồi đó học toán có hai cuốn tập thấy không? Một cái tập là lý thuyết, một tập là bài tập. Cái người mà học sinh giỏi toán là ở nhà tự động giải hết những bài tập trong đó luôn, không đợi ông thầy mình nhắc đâu, ở nhà giải hết. Mà giải rồi không đã nữa, đi kiếm sách khác về giải tiếp. Có không? Đó, ví dụ như mình học lớp mười đi, cái toàn bộ cái toán của lớp mười là cái tập bài tập mình giải sạch, chưa đã, đi kiếm thêm những đề thi mà giỏi toán cấp quốc gia, cấp quốc tế về giải tiếp coi coi mình còn dở chỗ nào, mình thua với cái thế giới chỗ nào, giải tiếp.
[49:06]Đó, cái người mà như vậy là người giỏi toán. Mà trong thực tế trong việc học, tôi có phát hiện ra có những người suốt đời không bao giờ giải được một bài toán hình học nào nha. Không biết đây có ai bị cái đó không ta? Hồi tôi đi học vậy, lúc mình học thì mình không để ý, tại vì tôi hay là đứng vai trò phụ đạo á, tôi hay hướng dẫn lại cho lớp để vậy mình không để ý, mình cứ ráng. Nhưng mà rồi học qua rồi cái mình nhớ lại: Ủa như hình như cái anh chàng đó cả đời chưa bao giờ giải được một bài nào, cứ ngồi loay hoay loay hoay lại rồi ai giải xong cái anh chép thôi. Mà không biết sao cũng lên lớp, từ từ cũng lên lớp cũng hay, không biết sao.
[49:39]Nhưng mà ai mà làm toán giỏi thì sau này bảo đảm là giảng sư tài ba. Giảng sư tài ba. Bởi vì cái logic chặt chẽ trong lý luận của họ, họ nói một câu họ biết trước là cái kẽ hở, họ biết trước là phải bao nhiêu yếu tố mới được kết luận chứ không kết luận đại. Còn cái người không giỏi toán đó, hễ mình nêu ra vấn đề này mình kết luận, nêu thêm kết luận kết luận đại, kết luận ẩu. Còn người giỏi toán họ không dám kết luận vội, hễ nói phải chắc. Nên cái người giỏi toán rất là có lợi khí. Rồi một nguồn ta tham khảo nữa, nãy là chúng ta nói tham khảo khoa học, giờ có một nguồn ta tham khảo nữa là các tạp chí.
[50:17]Tạp chí là gì? Tạp là gì? Tạp không phải là tạp nhạp mà là nhiều phương diện. Tạp chí tức nghĩa là loại sách báo mà nói về nhiều lĩnh vực của đời sống. Điển hình đây như là hiện nay có những tạp chí nổi tiếng như là gì? Thế Giới Mới, Kiến Thức Ngày Nay, Khoa Học Phổ Thông gì đó. Nhưng mà thực ra Thế Giới Mới thì vững hơn, bởi vì Thế Giới Mới là tập trung những cái cây viết mà có trình độ cao, cao hơn cho nên họ viết sắc hơn, những bài viết có giá trị hơn. Cái đó hình như của Bộ Giáo dục á, cho nên cái bài viết rất là cứng. Còn cái Kiến Thức Ngày Nay là chỉ của những nhà viết văn họ viết à, cho nên nó cũng hơi bị loãng.
[50:57]Thì những cái bài tạp chí như vậy á làm cho chúng ta thay vì mình phải đọc chuyên ngành, mình muốn biết tâm lý mình phải đi vào thế giới tâm lý học, biết sử đi vào thế giới sử học, thì cái tạp chí họ lượm giùm mình, họ lấy trong đó ra họ viết họ chất một đống trong cuốn tập, mình cứ đọc hết một tập đó thì mình biết tùm lum chuyện. Lâu lâu mình đọc cuốn chứ cũng không phải đọc nhiều, mà cứ tùy duyên trời Phật đưa mình, tự nhiên đưa cuốn nào lợi ích cuốn đó vậy thôi, thì biết đủ thứ chuyện hết á. Nhờ mình biết như vậy bắt đầu con mắt mình mở ra. Mình không còn là chỉ biết cái cổng chùa trong chùa nữa,
[51:27]mà biết trong thế giới này con người ta sống như thế nào, người ta suy nghĩ như thế nào, và đây là một cái động tác cực kỳ quan trọng, quý thầy nhớ giùm. Hôm nay là truyền trao y bát chỉ cho quý thầy hết mọi điều. Khi chúng ta đọc một cái tạp chí họ kể về những điều trong cái thế giới này, chúng ta phải làm một cái công việc là chúng ta đối chiếu cái sự kiện đó với giáo lý của đạo Phật. Chúng ta phải dùng giáo lý đạo Phật để lý giải sự kiện đó như thế nào, và đây là một cách để làm cho cái nguồn đạo lý trong tâm ta đạt được vô tận. Cái cách này rất là bí mật, đây là một cái cực kỳ quan trọng, là bất cứ nhìn vấn đề gì,
[52:06]ta phải đem đạo Phật ra lý giải hết, không sót bất cứ vấn đề gì. Giờ thậm chí nói họ sinh con không được cái họ thụ tinh nhân tạo để có đứa con, mình phải lý giải trong đạo Phật, dùng giáo lý đạo Phật lý giải tại sao. Hoặc nói cái ông đó ổng học mới lớp bốn mà ổng dời những cái công trình to từ nơi này qua nơi kia mà mấy kỹ sư không dám làm, mình phải dùng giáo lý đạo Phật mình lý giải chuyện đó là tại sao. Nên cái người nào mà giỏi, nghĩa là khi mà biết một sự kiện của thế giới rồi đem đạo Phật để lý giải sự kiện đó, là người đó càng ngày càng có cái nguồn đạo lý vô tận ở trong tâm. Đây là một cái cách rất hay của giảng sư, và tôi cũng đi con đường này đây.
[52:45]Nên có người sư đệ ổng rất là thích giảng, rồi ổng hay thấy tôi giảng những điều mới lạ đó, cái ổng tưởng tôi tu cao siêu chắc là chứng đắc dữ lắm, cái ổng lật đật ổng nhảy vô ổng tu mất tiêu. Tại ổng không gặp tôi, gặp tôi tôi chỉ có vậy thôi chứ không có gì hết trơn. Mình ráng tu, nhưng lúc nào mình biết nhìn mọi điều bằng con mắt của đạo Phật, lấy đạo Phật, lấy giáo lý của Phật lý giải hết mọi điều trong cái cuộc sống này. Ví dụ vừa rồi quý thầy có nghe cái chuyện mà ở miền Nam Thái Lan Hồi giáo nó chặt đầu mấy ông sư không? Đó, bây giờ chúng ta phải đem đạo Phật lý giải chuyện đó, là chúng ta bằng con mắt đạo Phật chúng ta nhìn cái sự kiện đó như thế nào.
[53:24]Giờ ai lý giải đi, hồi sáng mấy cô nói hay lắm á, để chiều nay coi quý thầy có thua không? Cái việc mà đó ai cũng nghe, nhưng mà nghe không được bỏ qua. Bất cứ một nghe một chuyện gì tương đối là nổi cộm, mình phải nhìn bằng con mắt của đạo Phật liền. Chúng ta lý giải việc đó như thế nào? Rồi, trưởng lớp nói trước đi. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Thưa thầy, chúng con thì vấn đề mà báo chí thì chúng con cũng có hạn chế, nên sự mà hiểu biết về thời sự nó cũng không có sâu lắm. Nhưng mà theo con nghĩ á thì về vấn đề của Phật giáo ở miền Nam Thái Lan á, đó là không hẳn là của Phật giáo làm ra mà do chính quyền.
[54:08]Chính quyền đã tạo cái sự xung đột giữa Phật giáo với Hồi giáo, nên muốn giải quyết vấn đề đó thì đòi hỏi chính quyền có những cái chính sách gì đó để hòa giải các tôn giáo lại với nhau, để tránh cái tình trạng mà giết hại lẫn nhau giữa Phật giáo và Hồi giáo. A Di Đà Phật. Cảm ơn thầy, cứ nói bậy cũng được, cứ nói đại vậy đó thì không mất một điểm nha. Chứ còn mà không nói là xin ghi sổ mất một điểm. A Di Đà Phật, kính bạch Thượng tọa, kính thưa toàn thể đại chúng. Theo sự hiểu biết của con, ít có đọc báo chí nhưng mà theo như thầy mới vừa hỏi, con xin trả lời với sự hiểu biết của con. Với cái sự mà kích động của Phật giáo ở bên Thái Lan như vậy
[54:58]là do họ chưa hiểu biết được cái sự nhân quả của đạo Phật. Cảm ơn thầy, cứ nói như vậy, mình cứ nhìn, có cái nhìn mà nói. Phải không? Có cái nhìn mà nói. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Bạch thầy và toàn thể đạo tràng. Theo sự hiểu biết của con thì giữa bên Hồi giáo giết những nhà sư Thái Lan thì nói theo kinh của luật nhân quả thì do những nhà sư đó có những cái mối mà quan hệ cũng như là từ tiền kiếp là đã tạo những cái duyên không lành, và đưa đến bây giờ là những người Hồi giáo đó đã oán kết và cũng như là luân hồi nghiệp báo gặp. Cảm ơn thầy. Có ai nói gì nữa không? Rồi thầy An Tấn hả?
[55:46]Nam mô Phật, kính thưa thầy con xin trả lời theo sự hiểu biết nông cạn của con.
[55:56]Kính thưa thầy, một cái sự việc gì hay một cái kết quả gì nó hiện hữu trên cuộc đời này thì nó cũng không phải là một yếu tố hay một nhân duyên, có nghĩa là nó đã kết tụ từ rất là nhiều nhân duyên và yếu tố hợp lại, cho nên nó mới có một cái kết quả như vậy. Thì nếu đối chiếu vào cái lý nhân duyên của Phật giáo thì đó là chúng ta đã cũng trong quá trình của quá khứ, chuỗi dài của quá khứ thì mình cũng đã gieo một cái nhân gì đó, hay là trong một cái sự truyền thuyết nào đó mà mình có những cái lời để người ta kích động. Một là mình chủ động còn hai người ta chủ động. Thì con xin tóm ý đó là cái dòng xoáy của nhân duyên mà vô tình mình
[56:41]tạo hay cố ý mình tạo, và liên quan đến cái giáo lý đó là nhân quả. Con xin hết. Rồi, cảm ơn quý thầy. Cứ hỏi vậy, cứ trả lời như vậy, chúng ta không mất điểm, còn nếu ai nói hay thì tôi bảo trưởng lớp ghi một điểm liền. Thì thầy An Tấn chỗ này là chưa được điểm, nhưng mà tương đối quý thầy cũng nói khang khác. Khi mà chúng ta nghe chuyện đó đó, chúng ta phải trong đầu mình hình dung ra năm cái câu hỏi và mình phải tự tìm câu trả lời. Câu hỏi thứ nhất, theo nhân quả là quý thầy có nói đó, có thể là cái vị sư hay vị Phật tử đó là kiếp xưa cũng đã từng chặt đầu ai, phải không? Bây giờ bị chặt đầu lại, đó là mình nhận lỗi về mình trước, đó, là trước hết.
[57:19]Cái thái độ đó rất là tốt, nhận lỗi về mình cái đã. Và sau đó chúng ta sẽ đặt tiếp cái câu hỏi thứ hai là cái dã man cực đoan của Hồi giáo do đâu mà có? Do đâu mà họ xử sự với đồng loại một cách dã man như vậy? Có gì nói chứ mắc mớ gì chặt đầu người ta? Mà chưa hết đâu, họ còn đuổi hết những người Phật giáo đi ra khỏi vùng đó để họ lập một quốc gia riêng. Và ngày xưa vậy, ngày xưa đạo Phật là từ Iran, Iraq á, Afghanistan là đạo Phật không á. Hồi giáo họ nổi lên họ cũng bằng cái con đường đi chặt đầu kiểu đó họ đuổi sạch hết người Phật giáo ra khỏi vùng đó, bây giờ vùng đó biến thành Hồi giáo hết luôn.
[57:53]Cho nên nó có một cái gì cực đoan nằm trong giáo lý rồi, chứ không phải không. Bên Mỹ có cái bộ phim, phim này, Tuấn Mã Hidalgo. Tuấn Mã Hidalgo là tên một con ngựa của cái anh chàng á, anh chàng cao bồi. Thật ra đây là nhân vật có thật, Hopkins. Anh này ảnh cưỡi con ngựa Hidalgo này, ảnh làm người kỵ sĩ đi đưa thư ở cái vùng nước Mỹ, miền Tây nước Mỹ lúc mà mới mới lập nghiệp, và thường ảnh đua con ngựa này đua đâu thắng đó, rồi con ngựa này như ngựa thần vậy á, biết hết trơn. Rồi sau này nhận một lời thách đua ngựa ở bên Ả Rập, ảnh mới đem ngựa đi qua Ả Rập để ảnh đua. Đua mà qua mấy ngàn cây số qua sa mạc á, nhiều người đã bỏ mạng trong cuộc đua
[58:29]đó, và anh với con ngựa này cũng suýt chết mấy lần giữa cái cuộc đua đó. Thì nhờ đi dự cuộc đua này nên ảnh sống trong cái thế giới của Hồi giáo, và bộ phim nó cho chúng ta những nét chấm phá về cái văn hóa của Hồi giáo, những nét chấm phá về văn hóa Hồi giáo, về tình ái, về hôn nhân, về quan điểm lối sống là đủ hết, nhưng bộ phim rất đàng hoàng, chúng ta coi được. Nó không nói nặng, nhưng mà mình phải tinh ý mình mới thấy được cái triết lý trong bộ phim này, rất là hay. Và tôi cũng khuyến khích cho đệ tử tôi coi phim này để cho biết cái đạo lý trong đó. Trong đó có cái đoạn thế này, là các kỵ sĩ tự mình cứ băng
[59:01]qua sa mạc làm gì đó làm, thì có một cái người đi trước cái lọt xuống cái vùng cát lầy, cát chìm á, cát lún á. Con ngựa không biết sao nó phóng qua được, còn cái tay kỵ sĩ Ả Rập đó rớt xuống cái bị cát lún xuống còn ló cái mặt và nó từ từ nó lún nữa thì chết. Thì anh Hopkins với con ngựa Hidalgo này đi đến sau thì mới thấy cái cảnh đó. Thấy con ngựa kia thì nó lẩn quẩn lẩn quẩn ở đó nó không bỏ đi, còn cái người kia thì bị chìm xuống cát rồi, còn ló có cái đầu mà mệt mỏi tại vì nắng rọi cả ngày nữa, không nhúc nhích được, hễ mà cựa quậy chừng nào thì nó lún nhanh chừng nấy, chết luôn. Thì cái người kia thấy anh Hopkins này tới mới nói:
[59:31]"Anh hãy bắn tôi, bởi vì đây là ý của Allah. Ý Allah là muốn tôi phải chết ở đây, nên tôi vui vẻ chết ở đây". Giáo lý Hồi giáo là vậy đó, tất cả nằm trong ý Allah, nghĩa là Allah muốn cho mình thành công mình thành công, muốn thất bại thất bại, muốn mình sống mình sống, muốn mình chết mình chết. Cái giáo lý lạ lùng như vậy. Nhưng mà anh chàng Hopkins này ảnh không nghe, ảnh quăng sợi dây vào, ảnh quăng vào, ảnh có cái tài quăng dây rất là hay, ảnh quăng dây vào ảnh kéo anh kia lên khỏi đống cát, ảnh bưng về lều ảnh chữa trị. Thì anh này mới nói là: "Anh còn phải đi lo để mà thắng cuộc đua". Thì Hopkins trả lời, nói: "Mạng một con người quý hơn tiền".
[1:00:02]Cho nên cứ chữa trị. Anh này mới nói rằng là: "Nhưng mà ý của Thượng đế là muốn tôi chết". Là ảnh đưa ra là God's will, là ý của Thượng đế muốn tôi chết cho nên tôi vui vẻ chết. Thì anh Hopkins này ảnh nói thế này: "Nhưng mà còn cái ý của anh và ý con ngựa?". Hay ghê lắm. Ông kia nói là: "God's will", là ý của Thượng đế muốn tôi chết, nhưng mà cái ông Hopkins nói: "Nhưng mà còn your horse's will? Nhưng mà ý của con ngựa anh là vẫn còn muốn chiến thắng trong cuộc đua". Chết, sống trên đời này không phải chỉ có ý Thượng Đế không. Cái làm anh kia, ảnh tỉnh ngộ. Tức là một cái đoạn nói rất nhẹ, nhưng họ phê bình cái giáo lý Hồi giáo.
[1:00:38]Họ không đả phá nha, nhưng chỉ đưa một sự kiện nhỏ thôi. Tức là người kia họ tưởng cái gì cũng gán cho là Thượng Đế rồi không chịu phấn đấu. Nhưng cái người này họ sống kiểu của Mỹ họ nói: "Không, còn cái ý của anh, ý chí của con ngựa nữa. Hãy ráng mà đua tiếp". Cái anh kia bừng tỉnh thôi, ảnh ráng chữa trị ảnh leo lên lưng ngựa, cỡi ngựa đi đua tiếp. Thế nên nó có nhiều việc trong một cái bộ phim này. Nếu mà quý thầy tìm ra thì để tôi về tôi chép lại để gửi xuống đây cho coi. Thỉnh thoảng vậy tôi vẫn phải cho các đệ tử mình coi một bộ phim. Tại vì ở trên rừng, trên núi cứ thấy cây thấy núi không, cái từ từ cái tâm mình nó nhỏ lại.
[1:01:09]Lâu lâu phải cho các con coi bộ phim để biết ờ thế giới là như thế nào, tâm mình mở ra. Sau này mình mới đi thuyết pháp được, không phải dễ. Nó khác với một người coi mà ghiền, mà coi mà mê, mà coi không hiểu gì hết, chỉ bị ghiền mà coi. Còn mình coi là thuộc loại tham khảo, để hiểu thế giới họ sống như thế đó, họ suy nghĩ như vậy đó, rồi đạo Phật mình mình lý giải những điều của họ như thế nào. Chúng ta trở lại cái vấn đề Hồi giáo. Khi mà nghe sự kiện Hồi giáo mà họ bức hại những người đệ tử Phật ở miền Nam Thái Lan, chúng ta có năm câu hỏi phải đặt ra, năm vấn đề phải lý giải, đặt ra liền: Thứ nhất là có thể đây là nhân quả của cái người Phật tử đó.
[1:01:44]Cái thứ hai là cái giáo lý cực đoan của Hồi giáo từ đâu mà có. Cái thứ ba là đạo Phật sẽ như thế nào nếu mà Hồi giáo họ cứ tiếp tục dùng bạo lực để lấn chiếm dần dần đất đai của đạo Phật giống như thế kỷ thứ tám. Và cái thứ tư là đạo Phật phải làm gì để bảo vệ trước cái việc mà Hồi giáo họ lấn cái đó, mình phải làm cái gì. Và thứ năm là có thể thay đổi được giáo lý Hồi giáo hay không. Đó là khi nhìn một sự việc chúng ta phải đặt năm cái vấn đề ra, vấn đề đó. Vân vân, và vô số điều trong cuộc sống này là chúng ta vẫn phải biết mà dùng cái giáo lý của đạo Phật để mà lý giải. Mà khi chúng ta đặt những vấn đề như vậy,
[1:02:22]bỗng nhiên mình có cái nguồn đạo lý vô tận nó sinh sôi nảy nở trong tâm mình, chứ không có bị đứng lại, không có bị khép kín lại. Nè. Hoặc là bây giờ mình nghe nói cái chuyện mà thế giới tự nhiên xuất hiện những cơn bệnh lạ. Ví như bệnh SARS, viêm phổi cấp tính nó chết một loạt á quý thầy có nghe không? Rồi cúm gà rất là khó chữa, nghĩa là cọp mà mạnh sồng sộc như vậy mà bị cúm gà là chết hàng loạt luôn. Rồi bệnh sida, AIDS. Đó, những bệnh làm cho y học bó tay. Tại sao? Mình phải nhìn bằng con mắt đạo Phật để trả lời. Tôi xin báo cáo tôi đã từng bị cúm gà mà không chết. Ở trên núi mấy con chó nó vào trong rừng ăn những con chim, gà chết trong đó.
[1:03:04]Cái về nó lây nhau nó chết từ từ từ. Mà một con nó vào cốc tôi cái nó từ giã, nó nhỏ nước dãi đầy hết, nó lây qua tôi luôn. Rồi tôi bị cúm gà. Nhưng mà nhờ một cái loại thuốc đặc trị của, thuốc Nam đặc trị mà qua được cơn đó. Nhưng mà sau cơn đó tôi rất là yếu. Năm nay sức khỏe tôi rất là sút, bởi vì tôi bị cúm gà. Nó vẫn còn tổn thương sức khỏe bên trong. Nhưng mà hên là không chết vì còn nợ Long An chưa xong cái môn này. Hừm! Sức khỏe kém rồi. Cái nhược điểm của cái lối học kinh điển mà không đối chiếu á, làm cho tăng ni đi ra trường không có thuyết giảng hấp dẫn cái quần chúng được. Tại mình nói những điều mình đã học
[1:03:41]chứ mình không nói những điều mà đời sống bên ngoài họ quan tâm. Quý thầy nhớ cái yếu chỉ để giảng bài pháp hay là nói những điều mà người khác quan tâm, chứ không phải nói những điều mà mình quan tâm. Nhớ như vậy giùm nha. Đây là cái bí mật của việc thuyết giảng. Sau này quý thầy đi tiếp xúc hay đứng trên bục giảng hãy nhớ điều đó. Những người kia họ quan tâm điều gì, mình thương yêu họ, mình tìm hiểu điều đó và nói về những vấn đề đó. Đây là một cái mánh, một cái bí mật của giảng sư muốn giảng hay, hãy ghi nhớ điều đó trong lòng. Cái thứ ba nữa là kinh nghiệm tu hành. Chúng ta học rồi, chúng ta tham khảo rồi, bây giờ nói tới kinh nghiệm tu hành.
[1:04:17]Tu là gì? Thế nào cũng nói sữa Ensure. Hễ nói tu là gì thế nào cũng nói sữa Ensure, sữa Hà Lan. Nhưng bây giờ mình định nghĩa thế này: Tu tức là hoàn thiện đạo đức. Phải không? Nói gì nói, tu phải là đạo đức cái đã. Có thể mình chưa chứng thánh, nhưng phải có đạo đức cái đã. Còn hễ làm ông thầy mà không có đạo đức thì vất đi. Thí dụ mình nghe nói một ông thầy đó ổng giỏi trị bùa, trị bệnh, phù phép làm cho phép người ta buôn may bán đắt, nhưng mà ổng bê bối, lôi thôi, ổng không đạo đức thì người ta cũng chán à. Người ta không có nể phục. Cái quan trọng, hễ nói cái người tu là phải có đạo đức cái đã. Đồng ý không?
[1:04:54]Đồng ý không? Nhưng mà tu hoàn thiện đạo đức dễ không? Khó. Tại vì sao? Bởi vì cái gốc của đạo đức là cái ích kỷ hay cái vị tha? Ví dụ như mình có cái ích kỷ, bây giờ mình thắng nó không phải dễ, không phải dễ. Tôi nói ví dụ bây giờ, ví dụ như quý thầy mới đến đây trường, mình đến cái mấy thầy trong Ban Giám Tự dắt mình vô cái phòng, kê một số đơn sẵn hết trơn. Nói mình thôi tới trước lựa cái đơn nào đó lựa. Thế trong đầu mình đầu tiên nghĩ lên một cái là lựa cái đơn chỗ nào? Tốt phải không? Vị trí ngon lành. Nghĩa là có ánh sáng, rồi có gió để ngồi học mát mẻ rồi thoải mái. Mình nghĩ đầu đó liền.
[1:05:33]Và mình lật đật chiếm liền sợ cái người đến sau họ chiếm đúng cái của mình. Vì tâm đó là tâm gì? Tâm ích kỷ. Thì sau này quý thầy đi ra giảng nó không có lửa, bài giảng nó không có lửa. Tại vì chỉ vì lúc còn học tăng mình vô mình giành cái đơn tốt trước. Còn lúc đó nếu mà vô mà cho lựa cái đơn, cái mình lựa một cái đơn nào xấu nhất, nơi cái chỗ nào nhiều khi gần cái nhà vệ sinh á. Mình nằm ở đó rồi mình cản đó để không ai bị nằm cái đơn đó nữa. Mình sẽ chấp nhận 4 năm ở đây mình ngửi mùi vệ sinh cho vui. Nhưng mà nhờ vậy mình hi sinh cho người khác không ngửi. Vậy đó mà sau này mình đứng lên mình giảng là bài giảng có lửa ngút trời liền.
[1:06:08]Nghe là lay động tâm hồn người nghe. Chỉ bởi vì mình đã lựa cái đơn xấu nhất để mình nằm. Nên cái đạo đức nó làm thành cái nguồn đạo lý mà sau này mình đi giảng á. Nhưng mà không dễ phải không? Không dễ. Nhưng mà phải làm cho được, phải làm cho được. Không phải là chúng ta học nhiều rồi giảng hay đâu, mà chính là chúng ta hoàn thiện được đạo đức ta sẽ giảng hay. Kế đến nữa là cái công phu nhiếp tâm trong thiền định. Công phu nhiếp tâm trong thiền định là vì sao? Bởi vì thiền định làm cho chúng ta thoát ra bản ngã lần lần. Cái bản ngã chúng ta là nó tập hợp của nhiều cái lớp động loạn: Động loạn từ thân, cho tới cảm xúc,
[1:06:48]cho tới tư tưởng, cho tới ý niệm, cho tới cái biết. Đều là những cái động loạn. Và khi mình vào mình tu thiền là mình bỏ từ từ những cái động loạn này dần dần dần dần, cái mình thoát bản ngã từ từ từ từ ra. Và khi mình càng thoát bản ngã thì con người mình càng thánh thiện và trí tuệ mình càng sáng suốt. Và như vậy mình sẽ giảng rất là hay. Cho nên cái người tu mà không có ngồi thiền thì sau này không đi giảng được. Hoặc là mình nói nói gì cạn cạn, nhàn nhàn thôi à, chứ không có sâu, không sâu. Nên do đó là để làm một người hoằng pháp giỏi, một giảng sư giỏi, ngoài cái việc mà chúng ta hoàn thiện đạo
[1:07:22]đức bản thân, xin thưa phải chịu khó nhiếp tâm mà, mà ngồi thiền nữa. Và ngồi thiền dễ không? Rất là, rất là khó. Hừm! Là vì sao vậy? Vì ngồi thiền là để chúng ta vượt ra khỏi bản ngã, nhưng bản ngã nó lừa chúng ta từng giây từng phút á. Ví dụ mỗi một khi mà mình vượt qua một lớp động loạn thì coi như mình thoát được bản ngã một chút. Nhưng mà khổ, bản ngã nó trồi đi ngõ khác nó ngóc lên lại. Ví dụ hôm đó mình ngồi thiền tâm được thanh tịnh, thì nguyên tắc là hôm nay ngồi thiền thanh tịnh tức là bớt ngã rồi chứ gì? Nhưng mà không ngờ, lúc đó mình thấy mừng, phải không? Mừng là hôm nay tôi tu khá rồi.
[1:07:59]Thì chính cái mà khen mình đó lại gì? Bản ngã chứ gì nữa. Nên mình tưởng là lột được bản ngã khi mình tu có tiến bộ, nhưng không ngờ cái tự hào, cái kiêu mạn lại là một cái bản ngã khác nó trồi lên lại liền. Nên cái việc mà chiến đấu với bản ngã như thế rất là dai dẳng, rất là vất vả, rất là tinh tế. Mà khi ta vất vả như thế, tự nhiên trí tuệ ta sáng lên từ từ, chịu cực như thế. Và làm cho cái nguồn đạo lý trong tâm ta trở nên vô hạn. Thế còn cái người tu mà dễ dãi, tu qua ngày, tu sao cũng được, không phải đối diện, không phải chiến đấu gì với bản ngã mình hết thì không có đạo lý đâu. Sau này ra giảng sờ sờ sờ sờ chơi vui à,
[1:08:36]không có sâu sắc, không có lửa, bài giảng nghe hìu hìu. Hừm! Còn một cái kinh nghiệm tu hành nữa là hoàn thiện đạo đức ha, thiền định ha. Cái thứ ba nữa là cái đối xử tử tế với con người. Bắt đầu này nó ra ngoài. Toàn bộ cái trên đây là những điều chúng ta làm để chúng ta có được cái nguồn đạo lý. Nhưng mà những cái trên đây chúng ta làm á là thường là tự làm nơi chính mình. Chúng ta học là học mình biết, phải không? Bao nhiêu việc chúng ta tham khảo là mình biết. Chúng ta tu hành, chúng ta hoàn thiện đạo đức là tự mình biết. Chúng ta ngồi thiền tự mình biết. Nhưng bắt đầu cái tới cái thứ ba của cái này là cái
[1:09:11]đối xử với con người là cái lộ ra bên ngoài. Bắt đầu là cái tác động ra bên ngoài, chứ không còn giống như là một loạt ở trên này là cái bên trong nữa. Và cái đối xử tử tế với con người cũng là một phương pháp để củng cố cái cái nguồn đạo lý của ta. Củng cố. Mà đối xử con người tử tế dễ không? Thật ra á thì trong tâm chúng ta, chúng ta theo lời Phật dạy ai mình cũng thương. Nguyên tắc là như vậy: Ai mình cũng thương. Thú vật mình cũng thương, con người mình cũng thương, người nghèo cũng thương, người giàu cũng thương, người xấu cũng thương, người tốt cũng thương. Ai cũng thương. Nguyên tắc là như vậy, nhưng trong thực tế
[1:09:49]mà xử sự ai cũng tốt lại không phải là đúng, không phải là đúng. Ví dụ như là có cái người đó họ khó khăn, họ đến nhờ mình giúp đỡ, thì trên nguyên tắc là mình giúp đỡ là đúng và mình tùy theo khả năng của mình. Lúc đó mình giúp được cái gì, hoặc là một lời nói, hoặc là một sự giới thiệu, hoặc là một ít tiền mình có, hoặc là chia sẻ gì mình có là tốt. Nhưng có cái người họ đến họ cũng nhờ giúp, nhưng mà trong cái ý họ có thêm ý lợi dụng, lợi dụng mà hơi lừa dối nữa, chứ không phải là họ thuần là họ thật sự khó khăn, họ hiền lành, họ chân thành họ đến nhờ giúp đỡ. Là trong cái khó khăn đó con người họ có thêm
[1:10:27]có cái lừa dối nữa, có cái lợi dụng nữa. Mà chúng ta cứ tử tế một cách trọn vẹn như với những người khác thì chúng ta lại sai với đạo Phật, sai với đạo nha. Tại vì sao vậy? Bởi vì nguyên tắc của đạo Phật là buộc chúng ta sử dụng một đồng nào cho đúng đồng đó, làm một việc gì phải chính xác cái việc đó, chứ không có được là sử dụng sai. Vì sử dụng sai mình hết phước á, mình mang tội đối với đạo liền. Mang tội liền. Và lúc đó chúng ta thấy là con người nó có trăm ngàn cái tánh ý khác nhau, mỗi người đến với mình đủ thứ chuyện khác nhau. Nguyên tắc là mình tử tế, nhưng mà không phải đối xử với ai cũng
[1:11:03]giống như vậy đâu, phải tùy trường hợp, tùy từng người. Ngay trong huynh đệ sống với nhau cũng vậy. Huynh đệ sống với nhau á có người mình cởi mở ruột gan, không quan trọng. Nhưng mà có người mình phải thủ thế á. Tại vì người đó chưa tốt. Người đó có thể là tâm còn có cái gian manh, còn có cái thủ đoạn, hoặc là còn có đi nói tới nói lui sau lưng. Cái người đó mình nói một lời gì sơ hở họ đi họ nói qua người khác, cái gây xáo trộn trong chúng. Thì những người đó phải cẩn thận, tức là trong tâm mình có cái thủ thế. Ờ không phải là lúc nào mình cũng hễ tử tế rồi là bộc bạch ruột gan ra hết, không phải.
[1:11:37]Nên cái việc mà đối xử với con người á là trong cái vừa khôn ngoan mà vừa đúng đạo lý, vừa từ bi vừa nhân ái là điều rất là khó. Mà chính cái mà chúng ta đối xử con người chính xác từng người, người nào đối xử chính xác người đó, tự nhiên làm cho đạo lý trong tâm mình tăng lên. Còn mình đối xử sai, cái tâm mình tối lại từ từ. Người đáng lẽ mình phải ân cần, mình lại lạnh lùng, lạnh nhạt, cái là đạo lý trong tâm mình nó tắt á. Cái người đáng lẽ mình phải nghiêm khắc, cái mình lại đi xởi lởi, từ ái, khoan dung, cái là đạo lý trong tâm mình nó cũng tắt từ từ. Cái công đức nó mất, là đạo lý trong tâm bị tắt. Mà tại sao công đức mất?
[1:12:14]Bởi vì chúng ta đối xử sai, chúng ta đối xử sai với con người. Và cái trí tuệ mà để đối xử đúng với con người cũng rất là khó, mà cũng là cách làm cho chúng ta tăng được cái nguồn đạo lý trong tâm của mình. Và cái thứ tư nữa là cái xử lý công việc. Cái xử lý công việc. Tức là, ngoài những việc đối xử với con người, chúng ta còn có cái trách nhiệm, bổn phận đối với chùa của mình và mình phải xử lý. Ví dụ như là, bây giờ mình làm trưởng lớp, cái quý thầy giao cho mình là phải điều động, phân công anh em. Cái người dọn vườn, người lo bếp, người ra ngoài ruộng, người lo dọn chùa. Cứ là như vậy. Thì đó là cái xử lý mà mình phân công cho đúng nha.
[1:12:55]Cái người nào làm việc nào, người làm việc kia, làm sao cho có lợi, cho phù hợp, phù hợp với ngày, giờ, tháng, năm, có những công việc ăn khớp với nhau. Thì cái một việc mà tính toán sắp xếp công việc, xử lý công việc đó mà nó đúng á, tự nhiên nó cũng tăng cái nguồn đạo lý trong tâm mình lên nữa. À, lạ vậy. Còn mình xử lý sai, ví dụ tới đúng thời điểm đó rồi thì cái chùa chưa có quét xong, cái ở ngoài hàng rào ngoài sân vườn chưa dọn xong. Hoặc là lúc đó là cái người kia họ làm công việc ruộng xong sớm rồi, không có chuyện gì để làm, mà trong khi những người khác thì đang còn làm vất vả. Tức là chúng ta xử lý công việc không hợp lý
[1:13:30]thì tự nhiên cái phước mình cũng bị tổn, rồi cái đạo lý trong tâm mình nó cũng giảm nữa. Ồ, cũng khó như vậy chứ không phải dễ. Nên là, trong cái việc mà tạo nguồn đạo lý, thì một loạt ở trên này là những điều ở bên trong của mình. Nhưng mà chỉ riêng có hai cái này, là cái đối xử tử tế với con người và cái xử lý công việc cho nó thích đáng, lại là những việc ở bên ngoài. Nhưng mà hai công việc bên ngoài này đó, lại là hai cái tạo nên cái nguồn đạo lý trong tâm rất là quan trọng. Nên cái người đó mình nói tu gì tu, nói gì nói cho đã đời, mình sẽ nhìn hai cái này để mình đánh giá cái khả năng tu hành của họ.
[1:14:02]Nếu mà mình thấy họ đối xử con người rất là tử tế, rất thích hợp, từng người nào chính xác người đó, họ sắp xếp công việc đâu ra đó, rõ ràng, ổn định, khôn ngoan, chi tiết, kỹ lưỡng, nhìn hai cái này mình biết là toàn bộ những cái này phía trên này là họ đúng. Họ tu tốt, học tốt. Những điều họ tham khảo, học hỏi đúng hết. Còn nhìn hai cái này, mình thấy họ đối xử với con người không thích hợp, không hay, không khéo, không tử tế, không rộng lượng, khoan dung và xử lý công việc không có tinh tế là biết ngay họ tu, cái phần phía trên họ dở hết rồi. Họ có sai cái gì ở trển á, họ học sai, họ tham khảo sai, họ hành sai cái gì á.
[1:14:37]Nên nói là thiên kinh vạn quyển, tốn biết bao nhiêu thời gian để cho việc học, việc hành, tham khảo đủ thứ, nhưng mà nhìn hai cái điểm này thôi là biết ngay bên trong người đó. Và biết ngay tương lai người đó sẽ sẽ giảng hay hay không. Cứ nhìn hai điểm này, vì hai cái này nó lộ ra ngoài, còn mấy cái này bên trong không, mình đâu có biết đâu. Họ học kinh điển gì, mình đâu có biết đâu. Họ tu tới đâu rồi, mình đâu có biết đâu. Không biết, nhưng mà lộ ra là hai điểm này. Đánh giá một giảng sư giỏi hay không lại là hai cái này. Chứ không phải là đánh giá là do người đó nói hay đâu. Thế nên nhìn nè, quý thầy nếu mà tu sao mà được hai cái
[1:15:09]này tốt á, mình đối xử con người đúng mức, xử lý công việc thích hợp á, là bảo đảm quý thầy sẽ đi giảng hay. Bảo đảm quý thầy có nguồn đạo lý trong tâm vô tận, đi giảng rất là hay. Còn nếu quý thầy có hai cái này rồi mà giảng không hay, thì quý thầy hãy đi tìm tôi mà mà kiện. Lúc đó tôi cũng đã đi trốn rồi, không sao hết. Cái việc mà xử lý công việc á, nó có một cái khó này nữa, là không phải luôn luôn chúng ta hiền lành là đúng đâu. Có khi mình phải cứng rắn nữa. Vì vậy chư Tổ ngày xưa á, các ngài mới dặn chúng ta cái gì? Các ngài mà dặn chúng ta nhiều điều, sợ chúng ta quên, các ngài tạc cái bức tượng Hộ Pháp cầm gươm để trước cửa chùa là nói cái gì á?
[1:15:54]Là báo cho biết trước, Hồi giáo vô là phải làm như vầy nè. Không, tôi không nói đùa đâu. Ngày xưa chư Tổ biết trước những chuyện này sẽ xảy ra. Có những lúc mà Đạo Phật sẽ bị đối diện với bạo lực, tiêu diệt. Và nếu mà Đạo Phật hiền lành là chết, phải có cái người dám như vậy. Nên tượng Hộ Pháp thì chúng ta có thể nghĩ là à, có một cái ông thần Hộ Pháp nào đó ổng cầm gươm ở đâu trong cõi vô hình, không phải, chính chúng ta đó. Sau này nếu mà đụng chuyện mình cũng phải như vậy đó. Cũng phải như vậy. Nên có lúc phải cứng rắn. Đây là ba cái yếu tố làm cho chúng ta có nguồn đạo lý. Rồi chúng ta còn thêm một cái yếu tố nữa là chính nghề dạy nghề.
[1:16:32]Kinh nghiệm hoằng pháp. Kinh nghiệm hoằng pháp là nghề dạy nghề. Là chính cái việc mà chúng ta đi, chúng ta tiếp xúc, chúng ta giảng dạy, chúng ta thuyết giảng là cũng làm tăng thêm cái nguồn đạo lý. Mình nói theo bình dân là nghề dạy, nghề dạy nghề á. Vì sao vậy? Vì khi mình đi giảng á, cái mình có kinh nghiệm. Mình đi tiếp xúc người ta cái mình có kinh nghiệm. Như hôm nay mình đến nói chuyện với người đó, cái nói xong đi về mình suy nghĩ lại, cái mình thấy mình nói hớ mấy chỗ, làm người ta không vui. Cái rút kinh nghiệm, mai mốt đến nói chuyện mình không nói như vậy nữa. Thí dụ như là mình vô nhà người ta, cái mình khen người ta.
[1:17:08]Thì đầu tiên phải khen nữa, nguyên tắc lấy thiện cảm là phải khen. Mình khen, "Thấy ông thật là tốt, mặt ông phúc hậu." À, "Là cái người mà phước được như ông vậy là thiệt là dễ tu." Đó, mình khen trước lấy tình cảm. "Ông mới là thân căn đầy đủ." Nói trong Đạo Phật là con người rất là dễ tu, không bị què, bị sứt. Nhưng mà thật ra, là đằng sau cái tấm màn của ổng là ông bố ổng bị què nằm ở đằng sau á. Bây giờ mình chửi cha người ta mình không hay. Thành thử là nó đụng chạm. Mình thấy mình được, mà sao nói trật cái kia. Thấy họ đang cười cười, cái mình nói tới, "Ông không bị què sứt" cái ổng sừng mặt lại. Là lý do.
[1:17:41]Nhưng mà nghề dạy nghề, cái riết mình có kinh nghiệm, mình có kinh nghiệm. Tôi nhớ có một lần mắc cười, lúc đó giảng trường hạ, năm đó là cũng cái trường hạ thì có ông thầy Chánh đại diện ổng lại bị cái tật cái chân ổng đi cà nhắc. Thì khi giảng thì phần tôi thì tôi thủ thân à, tôi không bao giờ nói đụng chạm mấy cái chuyện đó. Nhưng mà cũng có một cái ông thầy khác, ổng lên giảng, ổng khen ngợi, "Chư Tăng ở đây thiệt là tốt, không có ai què, đui, mẻ, sứt." Cái tôi nói, "Chết cha!" Cái ông Chánh đại diện ổng nằm ở đó kìa. Ổng đi cà nhắc, cà nhắc. Thành thử mình mình quên miệng nói, nhưng mà cái đó thì chắc rút kinh nghiệm, đó là nghề dạy nghề.
[1:18:13]Mình biết mình nói những điều gì nó phù hợp hay không phù hợp lần lần lần lần, đó gọi là kinh nghiệm hoằng pháp. Rồi ví dụ bữa đó mình giảng một bữa thành công, mình cũng phải phân tích là yếu tố thành công ở đâu. Mình nói tự nhiên sao người ta thích quá à? À, những điều gì nó phù hợp với tâm tình người khác, nó mới lạ, hấp dẫn, nó đào sâu, làm người ta bị thu hút, người ta cuốn hút. Mình nhớ lại lý do gì? Lý do là những ngày trước mình tuy mình tu tốt hơn, mình có khiêm tốn, mình có lễ Phật, đồng thời cái giáo lý của cái ngày bài giảng hôm đó là nó rất là phù hợp với tâm tình của người cái vùng đó.
[1:18:44]Người ta trí thức cỡ đó, à người ta giàu sang cỡ đó hay người ta nghèo cỡ đó, mình nói sao rất là vừa, vân vân. Những cái đó làm mình có kinh nghiệm. Rồi nữa là những cái điều mà ta phải chịu đựng của một người hoằng pháp. Bởi vì sao? Bởi vì làm sứ giả của Như Lai đó, đủ thứ điều người ta tấn công mình, người ta đánh mình đủ thứ chuyện. Tức là nội đi tìm cái đề tài giáo lý cho hay đã là khó, mà giảng cho hay rồi, bắt đầu phải chịu đựng những cái sự ganh tị, những cái ngờ vực, những cái bất đồng của người khác, cũng rất là mệt. Còn thêm vào cái thời đại ngày hôm nay nữa là các tôn giáo bạn, lúc nào họ cũng dùng những cái cách này cách
[1:19:22]kia để họ lấy tín đồ và họ tìm cách phá Đạo Phật. Họ bí mật, họ chen vào trong Đạo Phật để họ xúi Đạo Phật chống lẫn nhau. Trong Đạo Phật mà có người nào ưu tú nổi lên là họ đánh cho sập xuống. Nhiều khi mấy thầy mình chống nhau không có biết rằng mình đang ở trong cái âm mưu của ngoại đạo. Nhiều khi họ đến họ cúng dường 5, 10 ngàn đô la rồi họ xúi chống thầy này, chống thầy kia cái mình chống theo liền là không ngờ là mình đã rơi vào âm mưu của ngoại đạo. Tại Đạo Phật nó rời rạc á, không có nhất quán, không đoàn kết nên dễ phá, dễ ly gián, dễ bị ly gián. Một người làm giảng sư, trong cái việc mà giảng cho hay,
[1:19:56]giảng cho phù hợp còn phải chịu đựng được biết bao nhiêu là nghịch cảnh. Thì trong cuộc đời mà hoằng pháp chúng ta, nghề dạy nghề đó, chúng ta lại có thêm kinh nghiệm để cho cái đạo lý trong tâm mình càng lúc càng càng nhiều. Thì chúng ta để ý điều này: trong cái việc hoằng pháp á, nó có hai khuynh hướng hoằng pháp. Là vào trong cái thời đại mà con người ta công đức đã nhiều, đời sống bên ngoài thì thanh bình, êm ả, đó là cái người thời đó mình thấy phước họ nhiều, đời sống hoàn cảnh thanh bình, êm ả thì mình dạy cái giáo lý gì? Mình khuyến khích nhiều về cái sự tinh tấn để họ đi sớm đạt được giác ngộ, giải thoát.
[1:20:33]Đó, còn nếu cái hoàn cảnh lúc đó nó không thuận, còn nhiều khó khăn thì mình dạy người ta cái giáo lý gì? Đúng rồi, cái công đức á, làm cái hạnh Bồ Tát, tức là vừa tu mà vừa vừa tạo phước. Thì đó, cái đó là nguyên tắc hoằng pháp của ta là như vậy. Mình đến cái vùng đó, hay là trong cái thời đại đó là chúng ta thấy khi nào thuận thì hướng dẫn người ta tinh tấn tu để sớm giải thoát. Không thuận thì khuyến khích người ta tạo công đức. Thì mình làm như vậy rất là đúng với ý của Phật, và Phật sẽ gia hộ cho ta để mà trong cái việc giảng dạy của mình phù hợp. Còn nếu mà mình nói ngược là mình không được sự gia hộ của Phật nha.
[1:21:11]Vào cái thời đại mà cuộc đời còn nhiễu nhương, mà mình kêu người ta bỏ hết để tinh tấn, mình nói ngược ý Phật á. Hoặc là trong thời đại mọi chuyện nó thanh bình, êm ả hết rồi mà mình cứ dạy người ta, mình không bắt người ta tinh tấn, mà cứ bắt người ta làm phước hoài, không cho người ta đi sâu vào thiền định là mình cũng đi ngược với ý của Phật á. Cho nên phải biết khéo điều này một chút. Thì hôm nay chúng ta nói về cái mà nguồn đạo lý vô tận ở trong tâm của một người giảng sư. Tức là người giảng sư suốt đời phải biết học hỏi giáo lý, phải biết tham khảo, tinh tấn tu hành cho có kinh nghiệm, rồi quan trọng là biết đối xử tử tế con người,
[1:21:48]xử lý mọi việc thích hợp, rồi được thêm cái nghề dạy nghề, kinh nghiệm hoằng pháp, thì chúng ta có cái cái đạo lý suốt cuộc đời của ta để ta không bao giờ cạn cái nguồn giáo lý đó. Đến khi mà mình sắp chết, mình vẫn là một người giảng sư sáng suốt và nguồn đạo lý tuôn tràn không bao giờ dừng. Như vậy, nha! Lần sau thì chúng ta sẽ giảng về đề tài "Tiếp xúc với những gia đình quanh chùa". Những gia đình quanh chùa là ở đâu? Quý thầy muốn biết định nghĩa thế nào là một gia đình ở chung quanh chùa thì hãy leo lên nóc, nóc chùa, mắt mình thấy cái nóc nhà nào thì đó là gia đình quanh chùa. Tới lui chia làm từng nhóm, nhưng mà bây giờ tư duy trước thôi chứ chưa làm.
[1:22:27]Bài học tới bắt đầu mới làm điều này nha. Thôi chúc quý thầy an vui và tràn đầy đạo lý. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[1:22:38]Nghỉ, đứng lên. Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả,
[1:22:56]đệ tử và chúng sinh
[1:23:04]đều trọn thành Phật đạo.