Lời giảng: Vua Bình Sa Vương Theo Phật - Kể Chuyện Đức Phật 07

  • Thuyết giảng: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Thời lượng: 55:13

Toàn văn lời giảng, chép từ phụ đề. Bấm vào mốc thời gian để nghe đúng đoạn đó.

[0:09]Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Như thông lệ, vào ngày lễ Phật Đản, chúng ta nghe tiếp về cuộc đời của Đức Phật. Lần này chúng ta nghe lại cái giai đoạn mà sau khi Đức Phật đã giáo hóa được cho ba anh em Ca Diếp từ những người thờ lửa trở thành những bậc thánh ở trong đạo Phật. Và khi mà những vị đó đã được độ thì ta nghe có một bài pháp Đức Phật nói về lửa rất là nổi tiếng. Chính vì cái bài pháp này mà vào thời đó, lần lần người ta từ bỏ cái đạo thờ lửa.

[0:57]Vì ngày xưa, lửa là một công cụ quý giá của con người. Tâm lý mà sùng bái lửa nó có cái nguồn gốc xa xưa, thì thứ nhất là khó tạo ra lửa. Bây giờ thì ta có vô số những cái hộp quẹt, quẹt ga, quẹt diêm, ta có thể tạo ra lửa bất cứ lúc nào. Nhưng mà vào thời xưa, rất là hiếm hoi, rất là vất vả, người ta mới tạo nên được một cái đống lửa. Mà lửa thì rất là cần thiết cho con người, vừa là để nấu ăn, mà vừa là để sưởi ấm. Khí hậu thời đó cũng rất là lạnh giá, nhất trong rừng trong núi ở phía Bắc Ấn Độ, mà khí hậu của lục địa thì rất là khó chịu. Có thể là ngày nóng lên tới 40, 50 độ, mà đêm tuột xuống một cái là còn 9, 10 độ.

[1:54]Khí hậu lục địa, khí hậu lục địa là loại khí hậu mà xa bờ biển, rất là khắc nghiệt. Và lửa luôn luôn là cái người bạn thân thiết, quý giá của con người. Người xưa đó, họ có một cái mẹo, có cái mẹo là quý cái điều gì mà muốn cho con cháu biết yêu quý, giữ gìn cái điều đó thì người ta gán cái tính chất thần thánh vô trong đó. Vì vậy, để cho con của mình nó biết sợ, biết yêu quý lửa, đừng có coi thường, phải giữ gìn đừng để cho cái đống lửa nó tắt, cứ phải mồi hết cái cây củi này đến cây củi kia, phải giữ lửa trong nhà thường xuyên, thế người ta gán cho lửa cái tính chất thần thánh. Lửa là thần linh.

[2:42]Lửa là thần linh để đem cái ước nguyện của con người gửi lên trên cái cõi trời. Chính vì người ta gán vào đó một cái tính chất của thần thánh, nên bắt đầu tạo nên một cái tâm lý là sùng bái lửa. Rồi có những vị ẩn sĩ tu trong rừng thẳm, hang sâu. Các vị có khi chỉ ở một người, có khi chỉ ở hai, ba người thì cái đống lửa chính là cái bầu bạn thân thương, là cái trung tâm điểm của cái phòng sinh hoạt. Nhiều khi các vị một người ngồi thiền ở một góc, nhưng mà cái trung tâm thì có một cái đống củi, lửa nó cứ cháy bập bùng, bập bùng như vậy. Và mỗi khi gặp nhau nói chuyện gì thì cứ lại cái chỗ đống lửa đó mà nói chuyện.

[3:28]Khi ăn uống gì cứ lại gặp nhau chỗ đống lửa đó mà lấy thức ăn ra nướng, nấu gì đó mà ăn. Cho nên cái ngọn lửa vào cái thời đó trở thành một cái gì thật là ấm cúng, thân thiết, quý báu. Cả một thời gian dài, ta thấy như rất là nhiều cái căn nhà ở phương Tây, trong cái phòng khách, cái phòng sinh hoạt chính của gia đình họ luôn luôn có một cái bếp lửa sưởi ấm. Cái hình ảnh đó là hình ảnh rớt lại từ ngàn xưa để lại. Lửa nó quý giá như vậy, thân thiết, cần thiết như vậy, và người ta đã tìm mọi cách để cho con cháu mình phải biết yêu quý, giữ gìn lửa. Thay vì là người ta chỉ cần thi vị cái lửa thôi,

[4:12]nhưng mà người xưa đã đẩy lên đỉnh điểm luôn, đưa lửa lên trở thành thần thánh. Và từ đó, các vị thầy cứ nối tiếp nhau, cứ phát triển thêm cái lý luận để củng cố cho cái sự thiêng liêng của lửa, và cộng thêm cái sự cố chấp của con người, thế là lửa đã bay lên trời, trở thành một vị thần linh cao siêu. Đây là một cái tâm lý vậy, chứ ban đầu chưa phải là như vậy. Cho nên ta thấy có những cái tín ngưỡng từ ngàn xưa để lại cho chúng ta hôm nay, và chúng ta nghe rất nhiều cái lý luận, cái lý thuyết, cái niềm tin truyền lại. Đôi khi cái khởi điểm ban đầu chỉ là một điều rất đơn giản, nhưng mà cứ qua nhiều thế hệ rồi người ta cứ củng cố,

[4:56]củng cố mãi, biến thành một cái gì hết sức là cao siêu. Như khái niệm về ông trời cũng vậy. Ông trời ở khái niệm mà bên Tây phương với bên Đông phương đều có cả, nhưng mà mỗi bên lại có cái hiểu khác nhau về ông trời. Ví dụ như bên Tây phương, ban đầu cũng giống như Đông phương là nghĩ rằng chắc có một ông trời ổng tạo ra đủ thứ chuyện. Họ nghĩ như vậy tại vì không giải thích được mưa từ đâu mà đến, sấm sét từ đâu mà nổ vang, rồi những gió, bão, hạn hán. Có nhiều điều con người không giải thích được nên họ nghĩ chắc có lẽ có một ông trời. Cái suy nghĩ mà chắc có lẽ có một cái ông trời nào đó tạo ra

[5:38]tất cả là một cái suy nghĩ rất chung của toàn thể nhân loại ngày xưa từ Đông sang Tây đều giống nhau hệt, giống hệt. Nhưng ở bên Tây phương thì người ta đẩy lên đỉnh điểm lần lần. Cứ hết đời này tới đời kia người ta tạo thêm những lý luận để tô vẽ thêm cái khái niệm về ông trời đó càng lúc càng thiêng liêng hơn, huyền bí hơn, quyền năng hơn, can thiệp vào cuộc sống con người nhiều hơn. Nghĩa là với ban đầu người ta chỉ nghĩ có một ông trời để tạo ra mưa nắng, nhưng mà rồi người ta cứ củng cố cái lý luận đó đến lần lần có một ông trời ổng can thiệp vào cuộc sống con người, từ cái bước chân đi, từ bát cơm con người ta ăn,

[6:18]lúc người ta sống, người ta chết đều chắc có lẽ là do ông trời luôn. Nghĩa là ban đầu chỉ là chuyện mưa nắng, nhưng mà qua nhiều lý luận, ông trời đi vào cuộc sống con người. Còn bên Đông phương thì lại khác. Bên Đông phương thì ban đầu cũng nghĩ như vậy, có lẽ có một ông trời tạo mưa, tạo nắng, nhưng mà các nhà hiền triết, các thánh triết, các đạo sư của Đông phương ngừng ngang đó, không cho phát triển nữa. Nhất là Khổng Tử. Khi mà hỏi Khổng Tử về ông trời, Khổng Tử cũng nói về ông trời, nhưng mà để ông trời ở trên cao, không cho ông trời can thiệp vào cuộc sống con người. Điều rất là lạ là Khổng Tử là không cho ông trời can thiệp vào cuộc

[6:57]sống con người, mà buộc con người phải làm chủ vận mệnh của mình. Nghĩa là mình phải cải sửa cái đức hạnh để làm cho cuộc sống này an vui, hạnh phúc, và phải sống chân chính, và cái sống chân chính đó không cần mình phải có hạnh phúc. Khổng Tử như vậy, tức là anh phải sống cho đúng, làm người quân tử cho chân chính, và từ khi anh làm người quân tử chân chính thì lúc đó anh hạnh phúc, anh an vui trong cái cao thượng đó mà không cần phần thưởng gì hết và cũng chẳng cần thần linh. Ai hỏi Khổng Tử về chuyện người, quỷ thần, Khổng Tử nói: "Ta chưa chết nên ta không biết chuyện của người chết", trả lời thẳng thắn và đệ tử không dám hỏi,

[7:38]và ngài không có tạo thêm lý luận để củng cố cho cái ý niệm về trời, về thần thánh. Từ đó ảnh hưởng của ngài bao nhiêu ngàn năm, khái niệm của ông trời bên Đông phương dừng ngang đó, không đi sâu. Rồi ngược lại, ở một góc cạnh khác bên Ấn Độ thì người Ấn Độ lại tưởng tượng ra có rất nhiều vị thần linh. Mỗi vị thần linh phụ trách điều này, phụ trách điều kia, và người ta cứ củng cố cái lý luận, cho nên người Ấn Độ họ tưởng tượng nhiều, tô vẽ nhiều và thần linh cũng hết sức đa dạng. Cho đến khi Đức Phật, ngài mới thấy là cái tâm lý mà sùng bái lửa đó, xét cho cùng từ mấy nghìn năm qua thật ra chỉ là cái cố chấp con người,

[8:22]chỉ là sự tưởng tượng và cứ thế hệ này nối tiếp thế hệ kia củng cố là con người ta cứ tăng thêm, tăng thêm cái tín ngưỡng từ một chuyện rất vô lý. Vào thời đó, cái kiến thức khoa học con người chưa đủ để hiểu lửa là gì. Bây giờ thì ta hiểu rồi. Bây giờ ta hiểu lửa là gì. Ở đây ta biết lửa là gì ạ?

[8:44]Vậy chứ hỏi tới chừng có người bí đó nha. Lửa mà cái bập bùng cháy bập bùng cháy á sự thực đó là một cái luồng không khí nóng bay lên và khi nó nóng quá nó bức xạ ra ánh sáng, thế ta thấy đốm lửa có màu chói vàng hay là đỏ hay xanh là cái bức xạ của một cái không khí nó bị nung nóng quá. Khi mà nó bốc lên đến mức độ nào thì nó nguội rồi cái nó tắt cái bức xạ đó ta không còn thấy nữa. Lửa chỉ là vậy thôi. Và Đức Phật không giải thích Đức Phật mà giải thích nó bức xạ rồi ánh sáng như nọ thời đó người ta không hiểu. Đức Phật giải thích về lửa theo một cái góc cạnh khác, ngài giảng bài lửa như thế này.

[9:22]Này các tỳ kheo tất cả đều đang bốc cháy. Vào bài kinh bằng mấy câu đó nghe ấn tượng liền, là thay vì xem lửa là thần linh thì Đức Phật lại nói tất cả đều đang bốc cháy. Tất cả là vô thường, thân ta đang bốc cháy đang từ từ già từ từ chết, tất cả thế gian cây cỏ, nhà cửa, sông núi này đều đang thay đổi dần dần thay đổi dần dần. Để sinh ra tăng trưởng lớn lên rồi tàn lụi rồi hoại diệt. Và cái quá trình đó Đức Phật gọi là tất cả đều đang bốc cháy. Mới nói ngang đó thì ta thấy chấp nhận, đúng tất cả đều đang bốc cháy, chỉ vì ta không thấy nó đang cháy thôi, ta không thấy nó đang suy tàn, ta cứ tưởng nó tồn tại mãi ta đắm luyến.

[10:11]Bây giờ Đức Phật nói tất cả đều đang bốc cháy là tất cả đều là vô thường, cái câu nói đầu tiên đánh động ta liền và chuyển từ cái ý niệm tôn thừa thờ lửa bỗng nhiên hiểu rằng lửa là tiến trình cái sự vô thường thay đổi của vạn vật. Bắt đầu Đức Phật mới nói sâu hơn: Thân ta đang bốc cháy, thân ta đang vô thường tàn lụi già chết từng giây từng phút. Tất cả những điều ta cảm nhận được trong cuộc sống này, những đối tượng mà ta thấy được cũng đều đang đang bốc cháy, đều đang vô thường đang thay đổi. Tất cả những tâm tình, những suy nghĩ, những cảm thọ sâu xa nhất của ta bên trong cũng đều đang bốc

[10:53]cháy thay đổi vô thường, cho nên không có gì là của ta, không có gì là ta. Từ cái bài thuyết pháp mà nói về lửa trên cái ý niệm đó làm cho rất nhiều người ngộ đạo đắc đạo. Ta mới không còn đắm luyến thế gian và nhập được sâu vào trong thiền định. Nên cái bài lửa nó trở thành một bài kinh rất nổi tiếng đã độ được cho rất nhiều người hiểu được chánh đạo thay vì sùng bái lửa một cách mù quáng, bây giờ hiểu rằng cả thế gian là vô thường bốc cháy và người ta vượt khỏi sự đắm luyến tầm thường đó. Bài kinh đó rất là nổi tiếng. Từ cái bài kinh đó người ta cứ truyền miệng ra, truyền miệng lan lan ra. Gặp nhau người ta đều nói: "Ồ, tất cả đều đang bốc cháy,

[11:39]tất cả đều đang bốc cháy", mà thay vì nói là lửa là thần thánh. Mọi người bỗng nhiên hiểu thêm được một cái đạo lý mới và cái đạo thờ lửa suy yếu dần dần dần dần. Còn cái đạo thờ bò hiện nay của Ấn Độ là sau Phật giáo suy tàn rồi mới xuất hiện cái đạo thờ bò. Bây giờ ta thấy bò đi nghênh ngang ngoài đường không ai dám đụng tới. Bây giờ thấy cười lắm, bên Hồi giáo á thì không ăn thịt heo, bên đạo Ấn Độ thì không ăn thịt bò. Bây giờ thì vẫn còn nhưng mà từ thời Đức Phật thì chưa có cái tệ sùng bái bò, mà sau này mới có. Lý do tại sao? Thì cũng tại cái kiểu này. Cũng tại vì cái thời đó con người ta cần phải làm ruộng

[12:23]và cái sức người không đủ để mà cày cấy những cái thửa ruộng to lớn, nên buộc phải dùng tới cái sức của bò, của trâu. Để cho con cháu mình biết yêu quý cái sức lực của con bò, con trâu, người ta đẩy con bò lên thành thần thánh luôn. Nói con bò là thiêng liêng, mình phải mang ơn nó, nó là do trời sai xuống để giúp con người nên ai mà giết nó, mà đánh nó, mà đánh roi nó, mà chửi mắng nó là mang tội. Từ cái yêu quý cái sức lao động của con bò để giúp con người thôi mà đẩy con bò lên làm thần luôn nên đã có cái tục lệ thờ bò. Bây giờ mà nếu mà như vậy bắt đầu ta phải làm sao? Bây giờ ta phải thờ chiếc máy cày.

[13:01]Ta phải đưa chiếc máy cày là ông thần ở trên trời xuống phụ kéo cho người ta. Nên nếu mà có ai đó giảng một bài bài kinh về bò thiệt hay thì người ta mới sẽ bỏ đi cái tín ngưỡng về bò. Ở đây ai có thể giảng được bài kinh về bò thiệt hay giống như Đức Phật giảng về lửa tất cả đều đang bốc cháy? Giờ ai nghĩ ra? Bây giờ nếu mà muốn giảng bài kinh về bò ta phải bắt đầu câu này: "Tất cả đều đang cày." Tất cả đang cày. Thế là lần lần người ta sẽ hiểu ra à không phải thờ bò nữa mà cuộc sống của ai cũng phải vất vả, ta phải mưu sinh rất là vất vả để duy trì miếng ăn miếng mặc của mình từng ngày từng giờ nên ai cũng đang cày.

[13:43]Thì từ từ ta mới hiểu rằng ai cũng làm bò hết chứ không phải là chỉ có con bò nó mới cày. Và bây giờ ta thấy còn cái tục lệ nữa là tín ngưỡng sông Hằng. Xác chết mà quăng được xuống sông Hằng thì sẽ siêu thoát lên trời. Ai trong đời phải đi xuống tắm nước sông Hằng thì sẽ gột rửa được tội lỗi. Rồi bây giờ người ta qua Ấn Độ người ta sẽ thấy cái cảnh rất kỳ lạ, một cái xác chết thì thả xuống sông Hồng trôi lồng bồng lềnh bềnh, thì người xuống họ xô xác chết đó ra họ múc miếng nước họ uống miếng, họ tắm miếng cho nó để được giải thoát á. Bây giờ vẫn còn. TV họ vẫn chiếu cảnh đó. Nên bây giờ nếu mà ai giảng được một bài kinh về sông Hằng cho

[14:19]hay thì có thể làm cho người ta bỏ được cái tín ngưỡng đó. Như vậy nếu mà muốn giảng một bài kinh về sông Hằng cho hay thì ta bắt đầu làm sao? Bắt đầu làm sao? Bằng câu nào? Tất cả đều đang trôi! Đúng đúng, ai nói câu đó hay. Tất cả đều đang trôi đi, tất cả đều đang trôi đi. Thì như vậy sẽ làm người ta hiểu đúng về một con sông, chứ đừng có nghĩ rằng đẩy nó lên thành thần thánh rất vô lý như vậy. Mọi chuyện phải thực tế hơn một chút và đúng đạo lý hơn. Và từ cái bài kinh Lửa này mà bắt đầu Đức Phật nổi tiếng, cái đạo pháp được lan ra từ từ và người ta giảm bớt cái tín ngưỡng về lửa. Bây giờ tới một giai đoạn thứ hai.

[15:07]Sự thật Đức Phật mới nhớ tới cái lời hứa của mình đối với vua Bình Sa vương khi mà ngài mới xuất gia, ngài còn đi lang thang khất thực ở cái thành Vương Xá. Sau khi độ được ba anh em Ca Diếp rồi, có hơn cả ngàn đệ tử rồi thì mấy thầy trò mới kéo về thành Vương Xá, đến một cái khu rừng ở phía tây nam của thành. Thì thành Vương Xá nó ở đúng cái thế phong thủy là có tay long, tay hổ, ở đằng sau có cái hậu chẩm làm chỗ dựa thì cái kinh thành lại lọt ở trong cái lõm ở giữa. Nhưng chỉ có một điều là cái cái lưng dựa của thành Vương Xá nó có một núi nhọn nó chĩa vào kinh thành nên nó sinh ra một tệ là có sự phản phúc của đời sau đối

[15:49]với đời trước, nên cái kinh thành đó cứ nhiều đời con cứ giết cha để giành ngôi vua, con cứ giết cha để giành ngôi vua liên tiếp năm, sáu đời. Vì cái thế địa lý nó rất là phản. Vào thời đó kinh thành Vương Xá cũng nằm lọt giống như là một cái đồng bằng mà được núi che ba bên, chỉ có trước mặt là không. Về địa lý thì coi như là khá đẹp. Cổng mà nhìn về phía tây á, phía tây lách qua tây nam chút xíu thì lúc đó có một cái khu rừng cũng mát mẻ và Đức Phật mang cả ngàn đệ tử mình đến ở trong rừng. Thì tin là có một vị sa môn trẻ đầy uy nghi đạo hạnh chói ngời cùng với cả ngàn đệ tử đến ở nơi cái khu rừng đó vang tiếng vào trong cái kinh thành.

[16:32]Và người ta biết rằng vị sa môn đó là dòng họ Gotama của đất nước Sakya, của đất nước Thích Ca ở từ cái phương bắc được nghe nói rằng là đã đắc đạo hóa độ đông đảo đệ tử và hiện nay đã đến ngoài thành Vương Xá để ở. Cái tin đó lan lan lan lan khắp trong dân chúng trong thành và nhiều người cũng tới lui và có khi thấy được những vị đó đi khất thực để mà cúng dường. Cái tin nó lan đến tai của vua Bình Sa. Vua Bình Sa mới sực nhớ lại: "À khoảng bảy, tám năm trước mình có gặp một vị sa môn mà hỏi ra là cũng dòng dõi quyền quý, con của vua Tịnh Phạn ở đất nước Thích Ca ở phương bắc. Một người mà khi mới gặp mình đã hết sức là kính ngưỡng và mình có nói cái câu là:

[17:16]Nếu mà ngài đắc đạo xin về đây độ cho con." Cái vua sực nhớ cái lời hẹn ước đó thì nói: "Có khi nào mà vị đó đã đắc đạo chăng? Thôi ta hãy tìm đến." Vua hôm sau mới sai tùy tùng là chuẩn bị cùng với vua đi đến cái khu rừng đó gặp Đức Phật. Vua kém Phật năm tuổi. Năm đó là Đức Phật 37 tuổi và vua là 32 tuổi. Vua lên ngôi năm 15 tuổi và lúc đó là Đức Phật được 20 tuổi. Nghĩa là khi mà Đức Phật còn ở kinh thành Ca Tỳ La Vệ thì đã nghe tin rằng ở cái đất nước Ma Kiệt Đà ở phía nam có một vị vua trẻ 15 tuổi đã vừa lên ngôi vua. Thì cái chuyện mà vua đến với Đức Phật á là một câu chuyện có cái ý nghĩa rất là lớn

[18:05]đối với cuộc đời hoằng hóa của Đức Phật. Và khi vua đến cùng với tùy tùng vào trong khu rừng, cho dừng xe lại, ngừng lại theo đúng cái nghi thức, vua mới cởi bỏ những cái trang phục mà nó quá nghiêm trang của vua chúa xuống. Tại vì nếu mà mặc những trang phục đó, nó xem như là sự bất kính đối với một bậc Thánh. Cho nên vua cởi lại để gươm kiếm đồ lại theo đúng phong tục cho người giữ cẩn thận rồi vua mới đi bộ cùng với một số người đi vào trong khu rừng. Nhưng mà khi đi vào trong khu rừng, vào trong cái gian chính rồi đó, nơi một cái bãi đất trống chính thì vua mới nhìn thấy là rất đông các vị Sa-môn.

[18:43]Rất đông các vị Sa-môn cũng ngồi quấn những cái tấm y cũ kỹ ngồi đó, ngồi thanh tịnh trang nghiêm đó mà vua nhìn vào thì cả ngàn người như vậy không biết ai là ai. Lúc đó nhìn kỹ thì dường như ở chính giữa có một cái vị Sa-môn mà mình đã gặp mặt bảy tám năm trước, thân hình cao lớn hơn mọi người, gương mặt rực sáng hơn mọi người, nhưng mà lại rất là nhỏ tuổi, mới 37 tuổi. Còn chung quanh của cái vị đó, cái vị mà mình đã gặp đó, thì có nhiều vị Sa-môn lớn tuổi hơn cũng uy nghi cũng đẹp đẽ nhưng mà lớn, có người lớn tới năm mươi tuổi, sáu mươi tuổi. Nhiều hơn nữa là các Sa-môn ai cũng lớn tuổi, mà cái vị Sa-môn chính giữa mình đã gặp thì dường như lại là nhỏ tuổi nhất.

[19:26]Lúc đó vua hơi lúng túng. Vua hơi lúng túng là không biết trong những vị Sa-môn này ai mới thật sự là bậc thầy, là bậc Đạo sư. Thì vua đang đứng đó phân vân, thì ngài Ca-diếp ổng đọc được tâm vua liền. Tại lúc đó là ngài Ca-diếp, Ca-diếp thờ lửa chứ không phải là Đại Ca-diếp. Còn cái ngài mà Ma-ha Ca-diếp sau này đó thì là sẽ đến sau, còn đây là trùng tên. Kassapa tên đó người ta hay đặt tên trùng tên lắm. Thì cái ngài Ca-diếp này là ba anh em từ cái đạo thờ lửa mà bỏ ra theo Phật. Cái ông anh cả đầu tiên á, ổng ngồi cái vua vừa phân vân cái ổng đọc được tâm vua liền tại ổng đã chứng A-la-hán rồi.

[20:00]Cái lúc đó ổng đứng lên, ổng quỳ xuống ổng đảnh lễ Phật. Ổng nói là: "Kính bạch Đức Thế Tôn, từ trước kia con mê muội, con sai lầm, con theo cái đạo thờ lửa. Nhưng mà nhờ Đức Thế Tôn đã giảng dạy cho con biết thế nào là lửa, tất cả thế gian đều đang bốc cháy và chúng con đã giác ngộ nên chúng con đã theo Ngài, chúng con đã được những điều tốt lành trong pháp vị. Nay xin Thế Tôn hãy từ bi giảng lại cho chúng con nghe bài thuyết pháp về lửa để cho những người mà chưa được nghe có thể hiểu được giáo pháp vi diệu này." Thế ngài đảnh lễ Phật ba lễ thì Đức Phật mới bắt đầu giảng bài về lửa một lần nữa.

[20:46]Sau khi Đức Phật giảng bài về lửa rồi rồi đó thì lúc đó, vua Bình Sa mới biết rằng: "À à à à, cái vị Sa-môn mà rất là trẻ mà ngồi ở giữa này mới thật sự là bậc Đạo sư của bao nhiêu cái người Sa-môn lớn tuổi ngồi chung quanh." Thế là chạy tới quỳ xuống đảnh lễ Phật và xin Phật thuyết pháp. Bây giờ ta tạm ngưng cái chỗ này, ta sẽ nói về cái ý nghĩa mà giữa vua và Phật một chút. Phật là ta tượng trưng cho tín ngưỡng, tôn giáo; còn vua là tượng trưng cho quyền lực chính trị. Khi mà vua theo Phật làm đệ tử rồi thì từ đó quần thần của vua cũng đều theo Phật và dân chúng nghe như vậy cũng đều theo Phật.

[21:32]Cho nên khi có một vị vua sùng bái đạo giáo rồi thì cái tôn giáo đó rất là dễ phát triển. Vì quyền lực của vua chúa mà, nên ở đây nó có một cái sự tương quan rất rõ giữa cái tín ngưỡng và chính trị. Muôn đời từ xưa cho tới bây giờ, chưa bao giờ tôn giáo tách khỏi chính trị được, chưa bao giờ. Bởi vì cái người mà làm việc tôn giáo, tự nhiên họ gắn bó với quần chúng, họ lãnh đạo được cái tâm hồn, cái tinh thần của quần chúng và đó chính là điều mà nhà chính trị mơ ước. Nhà chính trị nào cũng muốn nắm được cái linh hồn, cái tâm hồn của quần chúng, của con người. Tại vì muốn cái vị trí quyền lực của mình vững chắc thì mình phải

[22:16]nắm được cái tâm hồn của con người, giữ được cái sự trung thành của con người, của nhân dân thì quyền lực mình mới vững. Nhưng người mà đã nắm trước mình hết lại chính là những nhà tôn giáo. Vì vậy, vô tình nó có một cái sự hợp tác, một sự thương lượng, một cái gì đó giữa cái nhà chính trị và nhà tôn giáo. Cái nhà làm tôn giáo thì đúng là cũng cần cái sự ủng hộ của chính quyền, của triều đình. Thì có vua ủng hộ rồi thì cái việc truyền đạo, giáo hóa của mình rất là dễ dàng. Thì ông vua, ổng cũng cần có những nhà tôn giáo lãnh đạo quần chúng như vậy theo mình, ủng hộ mình, giúp đỡ mình thì người dân cũng sẽ ổn định tâm tình và trung thành với vua.

[22:58]Nên từ xưa đến nay, cái việc mà tôn giáo và chính trị có cái sự liên kết với nhau nghĩa là dù vô tình hay cố tình đều luôn luôn đã xảy ra như vậy. Tuy nhiên, có một cái khác ở chỗ này. Cái nhà chính trị á thì họ nắm quyền lực trong tay, nắm binh quyền trong tay, nghĩa là quân đội, vũ trang, kho tàng, kinh tế nắm trong tay. Còn cái nhà tôn giáo thì bằng cái đạo đức của mình ảnh hưởng lên quần chúng. Tuy nhiên, là cái thái độ của vua đối với cái nhà tôn giáo đó lại tùy thuộc vào cái đạo hạnh của bậc Đạo sư đó. Nếu đó là một bậc Đạo sư chân chính, uy nghiêm, đức độ thì cái vị vua đó họ thật lòng tin theo, họ kính trọng, họ ủng hộ

[23:46]thì nó cũng tạo thành cái sự liên kết giữa tôn giáo và chính trị. Nhưng mà tự nhiên bậc Đạo sư đó, cái tôn giáo đó đứng ở một vị trí lãnh đạo cao, làm nhà cầm quyền họ kính nể. Ngược lại, nếu bậc Đạo sư đó tuy gây ảnh hưởng được quần chúng, nhưng mà bí mật bên trong lại là một con người tham vọng, tầm thường, ô nhiễm và cái nhà cầm quyền họ nhanh chóng phát hiện ra liền. Tại vì sao? Bởi vì cái nhà cầm quyền lúc nào trong tay họ cũng có phương tiện, nhất là những phương tiện về tình báo, thám tử, họ rất là giỏi. Nên một cái bậc Đạo sư bên ngoài coi thì đạo mạo mà bên trong có những cái lầm lỗi thì cái nhà cầm quyền họ nhanh chóng họ phát hiện liền.

[24:32]Mà khi họ nhanh chóng họ phát hiện thì họ không đặt cái lòng kính trọng của họ lên cái bậc Đạo sư đó nữa, mà họ tìm cách khống chế và lợi dụng. Thế là họ sẽ tìm cách buộc cái vị Đạo sư đó phải vâng lời, phải tuân phục họ và giữ quần chúng cho họ. Tức là bây giờ anh lãnh đạo bao nhiêu con người, tinh thần con người, anh phải bảo các tín đồ của anh theo tôi thì tôi cho anh tồn tại. Còn nếu không, tôi sẽ khống chế, tiêu diệt anh hay là thế này thế kia. Nên cái sự liên kết giữa chính trị với tôn giáo lúc này nó lại ở một cái hình thức khác là sự khống chế, sự ép buộc, sự lợi dụng và sự coi thường.

[25:10]Nó khác nhau hẳn. Nó có hai trường hợp, nên Thầy nhắc lại hai trường hợp thế này giữa cái tôn giáo và chính trị. Khi nào đó là một tôn giáo chân chính, khi nào ta có những bậc Đạo sư uy nghiêm, đức độ thì cái nhà làm chính trị họ thật sự kính phục thì nó cũng tạo thành một sự liên kết. Nhưng mà cái cách liên kết nó khác, đó là sự kính phục của nhà cầm quyền, sự ủng hộ của nhà cầm quyền và lúc đó cái đạo đức của tôn giáo lan tỏa vào trong xã hội một cách chân chính. Còn ngược lại, nếu đó là bậc Đạo sư ta nói gần như là giả, tức là bên ngoài thì hào nhoáng, làm ra vẻ đạo mạo nhưng bên trong có nhiều lầm lỗi, bậc Đạo sư này sẽ bị cái người chính trị họ

[25:54]khống chế, họ thao túng, họ lợi dụng và họ sai khiến. Khi họ sai khiến họ buộc phải làm thế này thế kia thì ta sẽ thấy rằng cái đạo đức nó sẽ không lan vào trong xã hội được nữa và cái tôn giáo đó bắt đầu bị khủng hoảng từ bên trong, bị rỗng từ bên trong bởi vì cái người Đạo sư đó do họ không có cái đạo lực tu hành thực sự và họ ỷ lại là mình được ông vua yểm trợ, cho nên mình cũng không cần phải tu, mà mình cứ hưởng thụ, làm gì rồi sẽ có cái ông vua ổng bảo vệ. Và chính vì họ cứ nghĩ là họ có quyền hưởng thụ mà vẫn được tồn tại, vẫn được tôn kính, vẫn được chức vụ thì họ mất đạo hạnh dần dần và họ không có

[26:31]cái đạo hạnh để mà dạy dỗ cho quần chúng, lúc ta sẽ thấy cái đạo đó suy tàn liền. Cho nên cái việc liên kết giữa chính trị và tôn giáo nó có hai cái loại liên kết như thế. Và khi ta hiểu rằng có hai cái loại liên kết như thế thì ta phải hết sức là cẩn thận. Ta phải giữ mình nghiêm túc để tu tập như thế nào để cho tôn giáo của ta phải được cái người cầm quyền họ kính trọng thật sự chứ không phải là họ lợi dụng. Nếu ta tu bê bối họ khống chế, họ lợi dụng liền. Nhưng mà nếu ta tu đàng hoàng, chân chính, nghiêm chỉnh thì họ kính trọng ta, họ ủng hộ ta thật sự. Thật ra khi ta đổ cái trách nhiệm nơi cái người tôn giáo

[27:10]là một phần, tức là người tôn giáo khi hiểu cái điều này rồi thì phải ráng mà tu cho đàng hoàng để được cái sự ủng hộ của nhà cầm quyền một cách chính đáng, đừng để cho nhà cầm quyền coi thường, họ sai khiến, họ lợi dụng rồi đạo mình cũng hư luôn, cái xã hội cũng sẽ hư theo luôn và mình sẽ đọa. Đó, nên ta tránh. Nhưng cái nhà làm chính trị cũng phải suy nghĩ lại. Cái nhà làm chính trị cũng phải suy nghĩ lại thế này. Tại vì có một số nhà làm chính trị có cái ý nghĩ như thế này: "Ồ, mấy cái tay làm tôn giáo nắm quần chúng, bây giờ ta khống chế được cái tay đạo sư này thì coi như ta nắm luôn nguyên cái đạo đó." Họ suy nghĩ cực kỳ đơn giản, cực kỳ thủ đoạn.

[27:49]Cái suy nghĩ đó là cái suy nghĩ rất thủ đoạn. Suy nghĩ thủ đoạn rằng à, biết cái ông đạo sư đó ổng có cái bê bối thế là lại khống chế ổng, buộc ổng phải vâng lời, buộc ổng là phải giữ nguyên cái đạo đó đi phục tùng nhà nước. Cũng không cần, cứ cho ổng hưởng thụ nói: "Bây giờ tôi biết ông như vậy, bây giờ ông cứ tiếp tục hưởng thụ tôi biết hết á, nhưng mà ông phải dạy cái tín đồ của ông phục vụ cho tôi." Cho nên đây là một cái sự thương lượng, một cái sự liên kết ma quỷ, một sự liên kết ma quỷ giữa nhà cầm quyền và đạo giáo, thế là người tín đồ thì bị lợi dụng và cái đạo giáo nó từ từ nó suy tàn vì tín đồ không hưởng được cái đạo đức thực sự của bậc thầy của

[28:31]mình, không hưởng được cái đạo đức thực sự bậc thầy của mình. Vì ông thầy của mình ổng nói vậy chứ không phải vậy, không phải làm như vậy. Cho nên lâu ngày bỗng nhiên cái đạo tâm mọi người cứ tuột dần tuột dần mà ta không biết tại sao, không biết tại sao. Chính vì cái chỗ này, chính vì có những ông thầy được nhà nước yểm trợ sau lưng nên không cần phải tu tập nhiều, không cần phải giữ vững đạo hạnh của mình vì biết rằng mình được chống lưng bởi nhà cầm quyền nên không cần phải tu. Chính vì cái không cần phải tu mà ảnh hưởng lan vào trong lòng của quần chúng khiến cho đạo tâm mọi người tuột dần tuột dần và cái đạo đó nó

[29:04]suy dần suy dần rồi cái xã hội cũng bắt đầu rối loạn theo luôn. Cho nên đây là cái sai của nhà chính trị là cứ thích khống chế một cái nhà làm tôn giáo để mình sai khiến để mình lợi dụng, mà đâu biết rằng khi mình khống chế một nhà tôn giáo để mình sai khiến mình lợi dụng theo kiểu thủ đoạn của chính trị và tình báo là mình phá cái đạo đó nhưng mà phá luôn cái xã hội của mình luôn. Sau này cái đạo đó suy rồi cả cái xã hội cũng rối loạn luôn. Cho nên những nhà làm chính trị phải suy nghĩ lại là như thế này: Ví dụ như trong cái đất nước mình có tồn tại các tôn giáo và lựa ra những tôn giáo có quan điểm tốt

[29:40]nhất và ráng mà xây dựng cho nó tốt thêm, là phải luôn luôn nhắc nhở, góp ý với các bậc đạo sư tu hành là họ phải tu cho chân chính chứ không được canh cho họ phạm sai lầm để mình lại mình lợi dụng mình khống chế, đó là cái sai. Nếu họ có sai mình phải sửa cho họ đừng sai nữa, nên buộc họ phải tu chân chính để họ giữ cái đạo của họ. Và khi họ giữ cái đạo của họ tức là họ giữ cho cái xã hội của mình luôn, cho cả đất nước của mình luôn. Đây là cái quan điểm mà các nhà chính trị trên khắp thế giới phải suy nghĩ lại, phải thay đổi lại. Còn suốt mấy nghìn năm qua, các nhà chính trị cứ canh các nhà làm tôn giáo

[30:18]mà sơ hở về đạo hạnh cái là lại chụp, khống chế liền, lợi dụng liền. Chính vì điều đó làm cho các tôn giáo cứ chao đảo chao đảo đi vào cái tà đạo rối loạn tùm lum cho đến ngày hôm nay điều đó cũng chưa thoát khỏi. Cho nên nhân hôm nay, nhân hôm nay khi ta kể lại câu chuyện mà vua Bimbisāra theo Phật, ta nói về cái sự liên kết giữa chính trị và tôn giáo và ta trân trọng yêu cầu các nhà cầm quyền trên khắp thế giới này phải làm lại là trong lòng phải thật tâm xây dựng cái tôn giáo cho tốt, nhất là những cái người mà lãnh đạo các tôn giáo. Những người mà lãnh đạo các tôn giáo phải được nhắc nhở, góp ý thường xuyên để không cho các vị đó phạm sai lầm,

[31:01]nếu phạm sai lầm phải sửa sai để làm lại cho tốt. Anh phải tu thật sự để anh dạy tín đồ, anh dạy tín đồ bằng cái sự tu hành thật sự của anh chứ không phải là bằng cái sự giả dối. Đừng ỷ rằng có nhà nước chống lưng rồi cứ tự tung tự tác làm bậy bạ không chịu tu, không được. Nên hôm nay ta trân trọng góp ý với nhà nước khắp thế giới cái điều này: Phải từ bỏ cái thủ đoạn chính trị khi mà suy nghĩ về tôn giáo, khi mà làm việc về tôn giáo. Ta cứ phải làm việc cho chân chính, xây dựng tôn giáo cho tốt lên, xây dựng các bậc đạo sư tốt lên thì xã hội ta sẽ yên bình, đất nước ta sẽ phát triển, đừng bao giờ dùng thủ đoạn đối với tôn giáo, nhớ như vậy.

[31:50]Khi mà vua Bimbisāra biết được rằng cái vị Sa môn trẻ tuổi nói mà chói ngời đó mới là bậc thầy của bao nhiêu vị Sa môn lớn tuổi, ngài mới đến quỳ xuống đảnh lễ mới nhắc lại: "Kính bạch tôn giả", lúc đó là ngài cũng chưa biết gọi Phật là Thế Tôn. "Kính bạch tôn giả! 8 năm trước con đã từng gặp ngài và hôm nay con rất là hạnh phúc được gặp lại. Hôm nay con thấy ngài đã chói ngời rực rỡ, có đồ chúng Sa môn đông đảo, con tin rằng ngài đã thành tựu được một thánh vị gì đó, xin ngài hãy từ bi thuyết pháp cho con nghe." Vua rất là khiêm tốn. Thì Đức Phật đầu tiên ngài thuyết pháp là giảng về nhân quả nghiệp báo.

[32:35]Nhớ như vậy, chúng ta nhớ là ta bắt chước Phật điều này. Từ đây về sau, tất cả tăng ni và Phật tử chúng ta khi mà muốn độ ai á, chúng ta đều phải bắt chước Phật là đầu tiên phải nói về nhân quả nghiệp báo trước, đừng nói gì cao siêu, cứ nói về nhân quả nghiệp báo. Vì Đức Phật cũng vậy, Đức Phật là gặp bất cứ ai đầu tiên ngài cũng đều nói về nhân quả nghiệp báo. Nên Đức Phật mới giảng cho vua nghe về nhân quả nghiệp báo. Đức Phật nói rằng cái đời sống của con người bị chi phối bởi nghiệp. Nếu mà đời trước người ta làm những hạnh lành thế này thế này thế này, thì đời sau người ta sẽ được hưởng những quả phúc thế này thế này thế này.

[33:12]Còn nếu đời trước người ta làm những điều ác thì đời sau người ta đọa vào những ác đạo như thế này: Địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ, làm người than khổ, khốn khổ, vân vân. Là Đức Phật cứ dùng cái nhân quả mà giải thích, để chi? Để cho gạt hết những ý niệm về thần thánh ra. Tại vì con người ta vào thời đó dễ tin rằng có thần thánh can thiệp vào cái cuộc đời của mình và khi nghĩ rằng có thần thánh can thiệp vào cuộc đời của mình thì bỗng nhiên người ta không nỗ lực, người ta chỉ lo cầu xin mà không có chịu nỗ lực làm những điều tốt cho cuộc sống này. Vì vậy, người ta phải xóa bỏ cái ý niệm mà thần thánh can thiệp

[33:47]vào cuộc đời của mình đi, phải tin sâu nhân quả, từ đó người ta mới nỗ lực làm những điều tốt cho cuộc đời này. Nên cái giáo lý nhân quả rất là quan trọng. Đến khi mà vua đã thấm nhuần, tâm đã trầm lắng được như một tờ giấy trắng, bắt đầu Đức Phật mới giảng về bài Tứ Diệu Đế, tức là một giáo lý rất là cao siêu là cốt lõi của Phật. Khi mà nghe xong như vậy thì vua và tùy tùng rất là xúc động xin được làm đệ tử tại gia của Phật. Vua là người đầu tiên lập ra một cái nghi thức quy y bằng lời nói hay nhất vì vào thời đó không giống như ta bây giờ. Bây giờ mà ta muốn quy y thì ta phải vào chánh điện được

[34:30]quý thầy quý cô hướng dẫn đọc từng lời, lạy thế này, nói thế này, vân vân vân vân rồi ta mới làm cái lễ quy y. Còn vào thời đó thì cái người mà muốn làm đệ tử phải tự mình nói lên chứ ông thầy không có nói trước. Và vua là một con người học rất là giỏi, vì vua là người được học để lãnh đạo từ nhỏ nên vua rất là giỏi về văn thơ, cả văn võ nên vua nói một cái câu thế này mà câu đó nổi tiếng luôn về cái hình thức quy y, cái câu đó là thế này: "Kính bạch Thế Tôn! Trước đây con là một kẻ mê mờ không hiểu gì cả nên con đã phạm nhiều sai lầm trong cái đời sống của mình cũng như trong cái việc mà cai trị đất nước, nhưng nay Thế Tôn đã khiến cho

[35:15]con tỏ ngộ được nhiều điều, khiến cho con biết được thế này là đúng, thế kia là sai, mở cho con một cái con đường và con tin rằng cứ theo cái con đường này con sẽ tìm thấy được cái điều an vui, hạnh phúc, giác ngộ và những người chung quanh con sẽ được hạnh phúc." Câu tiếp theo này mới biến thành cái nghi thức muôn đời luôn nè: "Như người dựng đứng lại một cột đài đã bị quăng ngã, như người chỉ dẫn lối đúng cho người đã bị đi lạc, như người đem đèn soi sáng cho mọi người trong căn phòng đã bị che tối, cũng vậy, Thế Tôn đã thuyết pháp khéo léo, hợp lý, rõ ràng cho chúng con. Bạch Thế Tôn! Nay con xin quy y Thế Tôn, quy y giáo pháp của Thế Tôn, quy y tăng chúng của Thế Tôn.

[36:10]Xin Thế Tôn nhận con làm đệ tử cư sĩ tại gia để con được suốt đời quy ngưỡng." Vua lạy ba lễ và cái nghi thức này trở thành nghi thức muôn đời luôn, từ đó người ta cứ đọc đi đọc lại câu này. Mỗi khi ai quy y Phật người ta thường hay đọc câu này, có khi sai chút, có khi đúng một chút và từ đó người ta bắt chước. Người ta cần nghe lại một lần nữa không? "Như người dựng đứng lại một cột đài đã bị quăng ngã, như người chỉ dẫn lối đúng cho người đã bị đi lạc, như người đem đèn soi sáng cho mọi người trong căn phòng đã bị che tối, cũng vậy, Thế Tôn đã thuyết pháp khéo léo, hợp lý, rõ ràng cho chúng con.

[36:55]Bạch Thế Tôn! Nay con xin quy y Thế Tôn, con xin quy y giáo pháp của Thế Tôn, con xin quy y tăng chúng của Thế Tôn. Xin Thế Tôn nhận con làm đệ tử cư sĩ tại gia để con được suốt đời quy ngưỡng." Nhớ từ đây chúng ta học cái câu này. Mỗi khi lễ Phật mà ta nói được câu này thì ta cũng được nhiều công đức lắm nha. Lúc đó vua mới thỉnh Phật và tăng chúng nhận sự cúng dường thực phẩm do vua mang đến vào ngày mai và Đức Phật im lặng nhận lời. Ta nhớ thêm một nghi thức này nữa là mỗi khi Đức Phật đồng ý điều gì, nhận lời cái sự cúng dường thì Đức Phật im lặng chứ không có nói lời cảm ơn. Nhưng mà thời bây giờ thì không được, ví dụ ai đến cúng dường thầy,

[37:41]thầy cứ im lặng cười cười người ta không biết thầy nghĩ sao kỳ quá, không biết mình cúng ổng có vui không hay là ổng chê ít hay gì nữa, cũng kẹt. Nên buộc lòng thầy phải nói vài lời. Nhiều khi cúng dường thầy cái thầy nói: "Ờ, thầy chúc lành mọi điều", thì thầy cũng phải nói vài lời chứ hồi xưa là Đức Phật im lặng. Đức Phật im lặng tức là ngài đồng ý cái sự cúng dường đó. Qua ngày hôm sau vua mới tùy tùng mang thực phẩm đến để sớt vào bát của Đức Phật, Đức Phật không phải đi khất thực, vua mang đến cứ sớt vào từng cái bát cái bát cúng dường cho Đức Phật ăn. Ăn xong và nghe thuyết pháp, sau đó cái vua mới nói với Phật thế này, nói:

[38:17]"Bạch Thế Tôn! Ở ngoài kinh thành phía Bắc của thành Vương Xá có một khu rừng trúc rất là đẹp. Đó là một cái khu rừng mà con vẫn thường hay đến đó dạo chơi. Cái cây trúc nó cao, nó thanh, nó che mát kín đáo, có những cái hồ nước trong xanh, có những con sóc, con thỏ chạy nhảy rất là xinh đẹp. Con xin được cúng dường Thế Tôn cái khu đó để làm một cái tinh xá như cái chùa." Rồi Đức Phật nói làm sao? Nói sao? Đúng, cũng im lặng. Giỏi rồi đó, vậy là giỏi rồi đó. Đức Phật cũng im lặng. Sau đó, vua mới thỉnh là xin Phật cho vị tôn giả nào đó đi với chúng con để chúng con chỉ cái khu đất. Thế là Đức Phật mới cho các anh em Ca Diếp đi đến xem trước cái khu đất,

[39:01]rồi vua cho lính đến mới chặt cây tre làm thành những cái lều. Cho nên những cái cái chùa đầu tiên của Phật là làm bằng tre, làm bằng tre. Những cái tre đan lại với nhau thành cửa, thành mái, thành vách như vậy. Cứ hai cái cây thế này, đan xéo lại với nhau thế này cái thành cái mái nhà. Đan xéo lại cái cột cột lại, và bắt đầu che thêm cái lá nên vô ta thấy bây giờ cứ bắt chước là cái mái vòm nó cứ như thế này, là vậy đó, cái cửa đi vô cũng vậy, rồi lần lần cứ đan che cho kín lại. Cái nhà của Phật thì rộng vừa phải. Thì từ đó, Đức Phật và chư Tăng dời về đó nên ta có cái Tinh Xá đầu tiên là cái Trúc Lâm, Trúc Lâm, nên ta thấy lác đác nơi này nơi kia

[39:39]có những ngôi chùa cũng đặt tên là Trúc Lâm là vậy đó, là để kỷ niệm lại cái Tinh Xá đầu tiên mà Đức Phật có trong cái cuộc đời hoằng hóa của mình là do vua cúng, mà nơi đó rất là rộng rãi, xinh đẹp. Và vì thời xưa, đất đai cái giá nó còn rất là rẻ cho nên không có ai cái lấn đất của Tinh Xá, không ai lấn đất. Đức Phật cứ ở thoải mái và cái ranh giới cũng không có rõ ràng, biết khu đó Đức Phật ở rồi thôi, cũng vậy thôi. Còn bây giờ thì sao? Bây giờ thì hễ mà cái khu chùa ở đó thì phải rào, còn người dân họ lấn dần dần, lấn dần dần, nay một tấc, mai một tấc, mốt một tấc vô mất cái chùa của người ta luôn, vô tới sát chùa.

[40:14]Đây ai ở gần chùa mà lấn đất chùa đâu, giơ tay lên đây coi. Ta nói về vua Bình Sa Vương một chút xíu. Việc vua làm đệ tử của Phật dần dần ấy nó được đồn đãi ra, thì không giống như ta bây giờ, ta bây giờ một chuyện gì vừa xảy ra họ lên internet họ phổ biến cái rà vèo cái là khắp thế giới biết hết. Nhưng mà hồi hôm đó cái người ta phải đồn miệng, từ từ nó mới lan ra, nên mấy tháng sau thì bắt đầu ở kinh thành Ca Tỳ La Vệ, vua Tịnh Phạn biết được chuyện này. Vua Tịnh Phạn mới biết rằng cái người con của mình là sau 8 năm rời khỏi nhà đi tu, hiện nay đã không biết tu được cái gì rồi đó mà bỗng nhiên có nhiều đệ tử, và ngay cả một cái ông vua của

[40:56]một vương quốc rất là lớn là Ma Kiệt Đà là cũng theo làm đệ tử. Đây là một cái vinh quang cực kỳ lớn cho cái dòng họ Gotama và cho cái đất nước Thích Ca. Khi mà triều đình nghe tin đó ai cũng hết sức là hãnh diện, hết sức là vui mừng. Nói một cái con người đã từ bỏ đất nước này ra đi mà bây giờ trở thành thầy của một cái vương quốc khác, nên đây là một điều cực kỳ hãnh diện. Đó là cái tin nó lan tới Ca Tỳ La Vệ. Nhưng mà có nhiều giáo phái cũng nghe tin này luôn. Thời đó rất là nhiều giáo phái mà nổi tiếng nhất là sáu cái giáo phái. Ngoài cái đạo Bà La Môn truyền thống còn có cơ man nào là những giáo phái.

[41:31]Ôi ai cũng lập ra đạo, cái thời đó đạo tự do mà. Mà kinh thành Vương Xá là cái nơi tụ hội của những cái giáo phái. Không biết tại sao, ta không biết cái lý do gì, có lẽ là tại cái lòng của vua Bình Sa mến đạo hay sao á, ông thích nghiên cứu về triết học, đạo học nên ông có cái ưu ái đối với những bậc sa môn, đối với những giáo phái. Cho nên rất nhiều giáo phái về cứ là cắm cái trụ sở chung quanh cái thành Vương Xá, thành Vương Xá trở thành cái kinh đô của triết học và đạo học thời bấy giờ. Và chính Đức Phật của chúng ta khi mà mới xuất gia, Ngài cũng đi tìm về Vương Xá để hy vọng rằng có một bậc đạo sư nào lỗi lạc tại đó chăng.

[42:09]Mà đúng là cũng có những bậc rất là giỏi, nhưng mà mọi người đều không thỏa mãn và chính Đức Phật đã tự đi tìm, rồi Ngài đắc đạo. Thì bây giờ chung quanh đó còn rất là nhiều giáo phái, rồi khi các giáo phái đó nghe tin rằng vua Bình Sa Vương của vương quốc này đã theo làm đệ tử của một Sa môn Gotama còn rất là trẻ tuổi, mới 37 tuổi, và họ rất là khó chịu, rất là khó chịu. Và cái sự khó chịu này cái sự khó chịu này nó gây cho Đức Phật cũng nhiều trở ngại về sau này. Họ dấy lên cái phong trào chống đối, cái sự chống đối đối với Đức Phật trong suốt cuộc đời hoằng hóa của Ngài rất là gay gắt, rất là gay gắt.

[42:49]Họ đủ thứ âm mưu để mà mưu hại Ngài, hạ uy tín của Ngài. Người ta biết có một lần mà có một cô gái mà độn bụng vô nói bậy nói bạ, chúng ta có nghe chưa, có nhớ câu chuyện đó không? Thấy không? Rồi thậm chí có một lần có một số cái giáo phái ngoại đạo nó dở cái trò thế này: Nó kêu một cái cô gái, cho tiền cổ, nói bây giờ cứ mỗi ngày cô đi vào trong cái Tinh Xá đó, cô đi vòng vòng vòng rồi chiều cô đi ra giùm tôi. Cứ như vậy mỗi lần đi vô đi về nó cho mấy ký gạo, cho mấy ký gạo, cứ vậy, cứ đi vô Tinh Xá rồi đi vòng vòng vòng giống như là đi học đạo á, rồi chiều đi ra. Cứ sáng đi vô, chiều chiều đi ra rồi nó cho ít tiền, ít gạo.

[43:24]Khi mà được một tháng, cái mọi người quen mặt, tức là những cái người mà cư sĩ họ tới lui trong Tinh Xá họ thấy cái cô này quen rồi. Khi mà quen rồi thì bí mật trong một đêm nó giết chết cổ liền, bò vào Tinh Xá nó đào lỗ nó chôn cổ sơ sơ. Chôn cổ sơ sơ, qua sáng hôm sau cái tự nhiên có một số người tới xưng là người nhà tới, nói rằng: Cái người con gái của tôi hôm qua đi vào Tinh Xá này tối không thấy về, cho chúng tôi đi tìm. Thì họ kéo rần rần vào đi tìm và họ đến ngay cái chỗ mà vùi xác, tại chính họ vùi chứ ai đâu, họ vùi xác họ lôi lên cái xác mà họ la làng lên là những cái người mà của Sa môn Gotama này là ác độc,

[44:00]là tà hạnh, là thế này thế kia, đủ thứ chuyện hết. Thời đó cái chuyện đó rất là lớn chuyện. Nhưng mà Đức Phật tỉnh queo à, không trả lời. Ai nói thì nói Đức Phật cứ tỉnh queo, không trả lời một tiếng nào, cứ sáng đi khất thực, về chiều thuyết pháp, chẳng nói tiếng nào. Rồi một thời gian chuyện nó tự tan luôn, tự nhiên đến giờ không ai nhắc lại, cũng chẳng ai tin nữa luôn, nó lạ như vậy. Cái hay của Đức Phật là ai nói xấu thì nói xấu Ngài chẳng thèm trả lời rồi chuyện nó tan. Nhưng mà đôi khi có những lúc nào đó Ngài giải thích, nhưng mà riêng cái chuyện đó Ngài không trả lời. Thì ta biết rằng là khi mà được một vị vua quy y theo làm đệ

[44:33]tử thì gây cái sự ganh tị rất lớn ở các giáo phái khác. Đó là chuyện từ từ sau này rồi ta sẽ biết thêm nữa. Thì vua Bình Sa Vương á là cưới em gái của vua Ba Tư Nặc. Thời đó có hai cái vương quốc lớn, một cái vương quốc phía Bắc là nước Kosala thì lúc đó là vua Ba Tư Nặc đã lên làm vua, còn cái vương quốc ở phía Nam là Ma Kiệt Đà là do vua Bình Sa làm vua. Hai nước thường có hôn nhân qua lại. Vua Bình Sa cưới em gái của vua Ba Tư Nặc ở phương Bắc, bà tên là Kosala Devi. Vào khoảng năm 18 tuổi, lúc mà năm Phật 23 tuổi á thì có xảy ra cái hôn nhân này. Năm 28 tuổi thì vua Bình Sa sinh ra A Xà Thế,

[45:17]cái người mà sau này giết cha mình để mà giành ngôi vua đó. Lúc mà vua Bình Sa đến gặp Phật thì lúc đó A Xà Thế được 5 tuổi, và vua Bình Sa không dẫn đi theo cho nên A Xà Thế không biết gì về Đức Phật. Rồi lớn lên chút nữa thì A Xà Thế được đưa đi đào tạo. Một mặt á là được đào tạo từ trong kinh thành, mời những danh sư đến dạy, một mặt đưa đến Hoa Thị thành. Ở phía Bắc cái nước Kosala có một cái thành phố gọi là Hoa Thị thành, có một cái trường dạy về chính trị tình báo rất là nổi tiếng. Không biết tại sao mà thời xưa họ đã có tiến bộ như vậy. Là những cái vị mà quan chức lớn đều gửi con của mình đến đó học.

[45:58]Và những người mà đến đó học ở cái thành phố Hoa Thị thành này khi đi về đều trở thành những siêu nhân, đều trở thành những siêu nhân. Tức là một người có thể đánh bại cả trăm người, biết cả chiến thuật, chiến lược trong quân sự, biết cả những mánh lới, thủ thuật trong tình báo, và biết cả việc mà điều khiển về chính trị. Nên cái thành phố Hoa Thị đó có một cái trường đặc biệt dạy về tình báo về chính trị, thì vua A Xà Thế cũng được học trong cái trường đó. Bởi vì ta biết á cái thủ đoạn của tình báo chính trị nó đều luôn luôn kèm theo cái sự ác độc, nên sau này A Xà Thế đã xuống tay với cha mình rất là nặng, gây cái nghiệp sát sinh cũng rất là lớn.

[46:34]Khi mà A Xà Thế lúc mà lên 38 tuổi thì bắt đầu nóng lòng lên ngôi vua, mà thấy cha mình sao ổng khỏe mạnh ổng không chết, bắt đầu tỏ thái độ, vua Bình Sa mới nhường ngôi cho con, mà A Xà Thế vẫn chưa thỏa mãn, qua năm sau giam cha mình rồi giết cha mình luôn. Rồi sau khi giết cha mình rồi mới bắt đầu mới gặp Phật Pháp sau, chứ còn trong khoảng thời gian đó cứ say mê trong quyền lực, trong chính trị, trong tình báo, mà không biết gì về Phật Pháp, nên đã gây cái nghiệp rất là lớn. Hai cái vương quốc này nó thường là họ hàng qua lại với nhau nên cái biên giới nó không rõ ràng. Vào cái thời đó cái biên giới các quốc gia nó không có

[47:08]rõ, ta có thể đi từ quốc gia này sang quốc gia kia chẳng ai xét hỏi, cái đường biên giới không có hải quan. Chỉ có cái điều thế này: Là cái cư dân ở mỗi vùng đất á thì phải đóng thuế, cho nên lúc đó người ta xác lập cái ranh giới để đóng thuế thôi. Nghĩa là cái làng này là của nước tôi, tôi đóng thuế, cái làng kia của nước anh, ở bên cái bờ sông đó thì anh đánh thuế, không có lấn qua, lấn qua lấn lại là gây chiến tranh liền. Còn người dân cứ đi qua lại tự nhiên. Và cái ngôn ngữ nó không khác nhau lắm, nó hơi trọ trẹ trọ trẹ một chút nhưng mà nói người ta hiểu được. Vì vậy mà Đức Phật đi cũng trong các nước đó,

[47:38]Đức Phật đi từ cái Ca Tỳ La Vệ mà xuống cái nước Ma Kiệt Đà, rồi quành trở lại Kosala, qua một số nước Anga, Vesali đồ vòng vòng mấy nước đó cái tiếng nói họ na ná na ná nhau, cho nên họ hiểu được Đức Phật nói gì, ở cái thời đó ngôn ngữ nó là là như vậy. Vào cái thời đó thì ta cũng biết rằng là chưa có máy móc như bây giờ, cho nên cái lời mà Đức Phật thuyết pháp á thì người ta nghe được cái người ta về người ta kể lại. Khi mà kể lại thì chuyện gì xảy ra? Khi ta nghe một điều rồi ta kể lại thì chuyện gì xảy ra? Tam sao thất... thất kinh, thì nó hoàn toàn nó ngược hết với những điều mà bản gốc nói từ đầu.

[48:18]Cũng vậy, có người đó khi họ đến cái buổi đó họ nghe Đức Phật thuyết pháp, họ về họ thuyết lại liền cho cái người dân làng họ nghe, nhưng mà nói trật cù chìa hết trơn, nói bậy nói bạ đâu. Nhưng sau đó là nhờ rồi người ta lại kéo nhau đến nghe Phật, nghe chính miệng Phật thuyết cho được đính chính lại một lần nữa. Ví dụ người ta đến nghe Đức Phật thuyết, Đức Phật đầu tiên cũng giảng về nhân quả: "Đời trước ta phải sống thế này, đời sau được thế này." Thì cái ông đó ổng về làng ổng kể lại liền, ổng về ổng nói sao? Ổng nói: "Tôi vào tôi gặp Thế Tôn, Thế Tôn nói về nhân quả nghiệp báo rất là hay. Thế Tôn khen tôi là người đời xưa có căn lành, cho nên đời này tôi được thế này,

[48:50]tôi được thế kia." Thêm vô vài chữ liền, thêm vài chữ liền. Có không? Có. Còn thời bây giờ mà muốn sửa thì người ta phải vào vi tính rồi người ta cắt xén cái băng giảng ra. Giống như mà bài giảng của thầy bị người ta cắt xén rồi nên nói bậy nói bạ là cũng vậy, ừm. Lúc đó là do được vua ủng hộ, cho nên là sự cúng dường của dân chúng đối với Tăng đoàn rất là đầy đủ và Đức Phật không cần phân tán đệ tử nữa. Chớ còn 60 vị A-la-hán đầu tiên mà Đức Phật sai đi thuyết pháp là phân tán ra, nhưng mà với cả ngàn đệ tử này Đức Phật không phân tán, ngài giữ yên một chỗ để cho trang nghiêm Tăng chúng. Và lần sau chúng ta sẽ nghe hai cái sự kiện sắp tới là việc

[49:28]mà Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên tìm đến để làm đệ tử và việc mà vua Tịnh Phạn gọi ngài về, trở về thăm Ca-tỳ-la-vệ. Năm sau ta sẽ nghe chuyện này, nên năm nay nghe tới đây thì ta nghe một cái bài kệ chút xíu là: Như người dựng đứng lại Một cột đài bị ngã, Như người đã chỉ ra Con đường cho kẻ lạc, Như người đem đèn sáng soi đến chỗ tối tăm. Cũng vậy, Đấng Từ Tâm Đã hiển bày diệu pháp, Khiến cho con thông nhập Vào chân lý nhiệm mầu. Nay có lòng tin sâu, Con xin quy y Phật, Con xin quy y Pháp, Con xin quy y Tăng, Xin chứng giám cho con Suốt đời và mãi mãi. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Thì bây giờ chúng ta đến cái nghi thức kế tiếp.

[50:20]Xin thỉnh quý thầy, quý cô vào trong chánh điện để ta tụng bài sám rồi đến cái nghi thức dâng hoa. Thầy cũng xin cảm ơn, mà cũng cảm ơn nữa, tất cả quý Phật tử đã về đây để dự cái ngày lễ trọng đại này, kỷ niệm Đức Phật của chúng ta đản sinh, đã đem đến cho thế giới một ánh sáng chân lý chói lọi. Thầy mong rằng tất cả mọi người đều được an vui, hạnh phúc vì cái công đức mà ta đã tưởng nhớ đến Phật trong ngày thiêng liêng này.

[51:19]Trầm đốt khói tỏa bay, trang nghiêm hương nến bay, đứng nơi Niệm Phật đài tâm thư thái.

[51:33]Trong tiếng mõ thanh thao, chuông ngân như đón chào, lời kinh Phật như đóa hoa vạn màu. Sinh nhật Phật Thích Ca, muôn người luôn thiết tha, xin quy nơi Đức Phật lòng vị tha.

[52:00]Xin Ngài ban phước cho, nhân loại vui ấm no, tương lai vang tiếng tụng kinh khói mờ.

[52:14]Từ khắp bốn phương trời, muôn nơi đồng cất lời, ca mừng ngày Phật Đản vui phơi phới.

[52:28]Muôn ánh sáng huy hoàng, bay trên vạn nẻo đường, từ bi lòng thanh thoát theo nhịp đàn.

[53:09]Trầm đốt khói tỏa bay, trang nghiêm hương nến bay, đứng nơi Niệm Phật đài tâm thư thái.

[53:23]Trong tiếng mõ thanh thao, chuông ngân như đón chào, lời kinh Phật như đóa hoa vạn màu.

[53:36]Sinh nhật Phật Thích Ca, muôn người luôn thiết tha, xin quy nơi Đức Phật lòng vị tha. Xin Ngài ban phước cho, nhân loại vui ấm no,

[53:57]tương lai vang tiếng tụng kinh khói mờ. Từ khắp bốn phương trời, muôn nơi đồng cất lời, ca mừng ngày Phật Đản vui phơi phới.

[54:17]Muôn ánh sáng huy hoàng, bay trên vạn nẻo đường, từ bi lòng thanh thoát theo nhịp đàn. Muôn ánh sáng huy hoàng, bay trên vạn nẻo đường, từ bi lòng thanh thoát theo nhịp đàn. Muôn ánh sáng huy hoàng, bay trên vạn nẻo đường,

[54:52]từ bi lòng thanh thoát theo nhịp đàn. Muôn ánh sáng huy hoàng, bay trên vạn nẻo đường,

[55:08]từ bi lòng thanh thoát theo nhịp đàn.