Lời giảng: Kinh Pháp Hoa 04 - Phẩm Tín Giải

  • Thuyết giảng: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Thời lượng: 1:38:12

Toàn văn lời giảng, chép từ phụ đề. Bấm vào mốc thời gian để nghe đúng đoạn đó.

[0:10]Trước mình có nghe qua cái phẩm Tín Giải phải không? Gã cùng tử đi lang thang đó mà.

[0:20]Có cái đoạn kệ mà nói rằng cái người con, tức là cha thì giàu như vậy nhưng người con thì chỉ đi tìm miếng ăn, miếng mặc một cách khổ sở, rồi lang thang từ ấp này đến ấp khác, nước này sang nước nọ, hoặc có khi được của hoặc có lúc không được, đói thiếu hình gầy gò, thân thể sanh ghẻ lác. Nghe nói tới gầy cũng mắc cỡ phải không? Lần lựa đi trải qua đến thành cha gã ở, xoay vần làm thuê mướn. Tức là cha mình giàu mà mình không sử dụng được, chạy đi tìm kiếm miếng ăn miếng mặc một cách khổ sở. Ai biết ám chỉ cho cái nghĩa gì?

[1:08]Mấy đoạn này nghe giống. Tức là mình bỏ cái Phật pháp cao siêu mà mình chỉ cầu các lý thuyết thấp kém của ngoại đạo, các triết lý sơ đẳng của các triết gia tầm thường.

[1:26]Ví dụ như là sao? Như mình có Phật, có Pháp, có Tăng, nhưng mà mình sao? Mình không đến đó để học hỏi, cuối cùng mình chạy lại mình hỏi ai? Mình hỏi ngay cái ông thầy bói. Đó là gã cùng tử lang thang đó. Cha mình giàu mà mình không biết hưởng, mà tới chừng đi đâu gặp cái bà nào đồng cốt hay lắm chạy lại hỏi, đó là nhờ bà lên gì đó, mẹ nào đó nhập đồng vô, mới nói rằng: "Con có căn tu không? Nửa con có giàu không?" này kia nọ. Mà không chịu đến nơi cái Tam bảo mà chư Tăng sẽ diễn giải cho mình con đường đi về đâu. Nhiều khi nói chán, ví dụ lại gặp ông thầy, thì thầy mới nói: "Thôi đừng bận tâm gì cái chuyện tương lai, cứ để ý ngay trong hiện tại mình

[2:13]có làm được cái việc phước gì hay không?" Nghe vậy mình không thoả mãn. Nghe vậy mình thấy: "Cái này nói không bói được, ông thầy này chưa biết bói." Mình đang thắc mắc muốn biết là năm tới làm ăn được hay không lại hỏi ổng, ổng nói: "Thôi đừng có lo, bây giờ lo đi làm phước." Nghe nó không có thích, không thích bằng gặp bà thầy bói bả lim dim lim dim nói: "Sang năm làm ăn khá, đi về hướng Đông Nam sẽ gặp tài lộc." Mình nghe mình thích hơn. Đó, đó là cái mà gã cùng tử lang thang mà cha mẹ giàu mà không hưởng được, cuối cùng đi kiếm ăn kiếm mặc bậy bạ. Nhưng mà cái người mà có trí tuệ đó thì chính cái lời nói của vị thầy mà nói rằng:

[2:51]"Đừng bận tâm tới chuyện tương lai hay quá khứ, hãy sống an trú trong hiện tại một cách bình an." Lúc đó thì tâm mình bình an, không bận tâm vì quá khứ hay tương lai, và trong cái lúc hiện tại này mình chỉ lo thương yêu mọi người, giúp người được từng chút từng chút, bòn mót từng chút phước từng chút phước, vậy mà cái tương lai mình nó sáng lên dần dần, sáng lên dần dần. Nên cái người trí á họ nghe cái câu của vị Tăng khuyên thì họ rất là thấm, họ thấy rất là hay. Nó cho mình cái sự an lạc trong tâm hồn hiện tại, mà nó cho mình cái hướng đi đích thực của tương lai. Có thể là năm tới á cái nghiệp mình là nghèo,

[3:31]nhưng mà năm nay mình biết làm phước, sang năm cái nghèo nó cũng ít, nó đỡ hơn. Có thể năm tới cái nghiệp mình là giàu, nhưng mà năm nay mình biết làm phước thì năm tới giàu nó sẽ giàu hơn. Cho nên đó là con đường đúng đắn nhất, mặc dầu vị Tăng nó có vẻ như là không biết coi bói. Mà đây là chính là cái gia bảo, cái tài sản lớn, nhưng mình thì thích chạy đi lang thang hơn. Hoặc là cái lý thuyết Phật pháp cao siêu như vậy, dựa trên nền tảng nhân quả vững chắc, có cái mục tiêu đi đến cái lý tưởng giải thoát siêu việt, nhưng mình không cảm nhận nổi, không cảm nhận nổi, rồi mình đi đến gặp mấy người

[4:11]mà nói chuyện triết lý mà nói chuyện sơ sài thôi, nói những điều bình thường, cạn cợt, mình lại thích. Nhiều khi họ nói về chuyện thần bí, ví dụ họ nói cái cuộc đời này chia ra làm mấy hạng người, cái hạng người nào đó là sống là khổ sướng ra sao, rồi cái cõi âm phủ nó có mấy ông thần, tức là họ nói chuyện bông đùa, tào lao, nó không dựa trên nền tảng nhân quả mà không đưa đến mục tiêu giải thoát, nhưng mà nhiều khi mình do cái óc tò mò, hiếu kỳ, thích cái chuyện kỳ lạ, mình lại thích. Đây là cái gã cùng tử lang thang.

[4:53]Đó là một nghĩa thứ nhất, cái nghĩa mà gã cùng tử lang thang bỏ cha. Còn nghĩa thứ hai nữa. Nghĩa thứ hai nó tế nhị hơn, vi diệu hơn nghĩa là gì? Nơi con người mình, mỗi người đều có một cái gã cùng tử lang thang hết. Nghĩa là sao? Mình không tìm về nơi cái tâm thanh tịnh mà mình đi lang thang vào cái sự suy tư loạn động. Đó là gã cùng tử lang thang. Nơi cái tâm thanh tịnh của mình đó, đó là tài sản lớn, đó là hạnh phúc mênh mông, mà mình không có hưởng, cuối cùng mình chạy theo cái suy tư loạn động, mình suy nghĩ chuyện này suy nghĩ chuyện kia, làm cho tâm hồn mình nó bất an, nó phiền não. Đó là gã cùng tử lang thang đó.

[5:43]Cho nên ở đây chúng ta không làm gã cùng tử lang thang nữa, mà mình có gì? Có cả một cái gia tài lớn là cái nội tâm thanh tịnh. Cho nên người biết tu thì từng giờ từng phút mình ráng đi tìm sự thanh tịnh, vượt bỏ hết những cái suy nghĩ loạn động thì lúc đó hạnh phúc, lúc đó cái chân lý nó bày hiện.

[6:13]Khi mà chúng ta nghe nói á là cái tâm không suy nghĩ gì hết, đôi khi chúng ta không cảm nhận nổi cái hay của nó là cái gì. Nói bình thường mình suy nghĩ chuyện này chuyện kia cho vui, mà sao hổng suy nghĩ gì hết chắc buồn chết được. Cũng giống như là ở không buồn thấy mồ, bật cái video coi phim Hồng Kông rồi thấy nó vui. Nghe thầy nói tâm không suy nghĩ chắc nó buồn, nhưng mà sự thật nếu người biết tu, lắng tâm được 5 phút, 10 phút, 20 phút sẽ thấy những giờ phút đó là những giờ phút giá trị, hạnh phúc. Còn chính những lúc mình bận tâm suy nghĩ chuyện này chuyện kia lại là những lúc phiền động, đau khổ.

[6:56]Có những người sẽ hỏi rằng: "À thì tui sống trên đời thì tui phải suy nghĩ chuyện này chuyện kia để tính chuyện làm ăn, chớ đâu phải như mấy thầy ở không mà ngồi không suy nghĩ, chờ người ta tới cúng?" Phải không? Có ai hỏi không? Cũng dám có người hỏi lắm. Thì xin thưa như thế này, là với cái người mà bình thường họ giữ được tâm thanh tịnh thì người đó rất sáng suốt. Đây là cái điều kỳ diệu của tâm hồn. Chúng ta nhớ, đây là điều kỳ diệu của tâm hồn. Một cái tâm bình an không suy nghĩ thì cái tâm đó rất trí tuệ, rất sáng suốt. Thì người đó khi mà gặp công việc phải giải quyết thì giải quyết rất lẹ.

[7:40]Trong một ngày của mình thì bình thường thôi mình làm việc 8 tiếng đồng hồ, nhưng mà trong 8 tiếng đồng hồ đó bình thường á không phải là suốt 8 tiếng, từng giây từng phút đều có những câu chuyện mà mình phải nặn óc để tìm ra phương hướng. Thường thường một ngày mình có chừng ba công việc hay bốn công việc mà mình phải sắp xếp thôi, sắp xếp cho ngày mai, cho tuần sau, cho tháng sau. Qua ngày mai lại có khoảng ba bốn công việc thôi. Thì trong ba bốn công việc mà phải sắp xếp á, cái người mà không có trí tuệ đó họ tính cả ngày chưa ra, phải không? Ba bốn công việc chứ mà tính ngồi sáng đứng chiều đi rồi ngồi lên ngồi xuống

[8:15]mà nghĩ chưa có ra cách giải quyết, thành thử ra thấy dường như 8 tiếng đồng hồ rồi mà 10 tiếng, 12 tiếng nghĩ chưa ra cách giải quyết. Còn cái người mà có trí tuệ, ba bốn công việc đó, công việc vừa tới thì trong tích tắc họ thấy được cái cách giải quyết liền, bằng nhờ cái trí tuệ sáng suốt á. Cho nên ở đây cái người mà tâm thanh tịnh đó họ được hưởng cái hạnh phúc của tâm hồn rồi mà họ còn có cái trí tuệ để giải quyết công việc rất nhạy bén, rất nhạy bén.

[8:46]Ở đây có một lần tôi gặp cái anh anh bạn Phật tử, anh này ảnh cũng tu dữ lắm mà tâm ảnh cũng yên, rồi ảnh có cái nhạy bén trong công việc do ảnh điều hành một cái cơ sở phức tạp. Một ngày ảnh phải giải quyết 200 công việc bình thường, trung bình là 200 việc, tới tấp tới tấp. Vừa giải quyết xong bên này cái bên kia báo cáo là phải giải quyết lập tức, không có thì giờ để mà ngồi suy nghĩ. Nghĩa là khi người ta đưa cái vấn đề lên là phải giải quyết liền để người ta trở về người ta thực hiện liền. Mà một ngày ảnh phải giải quyết 200 công việc mà tích tắc tích tắc. Đó là cái công năng của tu hành, rất là hiệu quả, không cần tính toán nhiều.

[9:22]Cứ giữ tâm thanh tịnh, khi công việc vừa đưa tới thì ngay đó cái hướng giải quyết bật ra liền, giải quyết luôn, mà rất sáng suốt. Nên cái người mà tâm thanh tịnh họ rất là thông minh, rất sáng suốt. Cho nên khi mà đạo Phật khuyên chúng ta quay về với nội tâm thanh tịnh thì ở đây không có nghĩa là tiêu cực, thụ động mà đây rất là tích cực, tích cực trên hai ý nghĩa. Ý nghĩa thứ nhất là chúng ta đạt được cái hạnh phúc sâu thẳm, nội tại mà không phải tốn kém vay mượn từ bên ngoài, là cái thứ nhất. Cái thứ hai là chúng ta đạt được cái trí tuệ sáng suốt để giải quyết, đối phó với công việc hằng ngày một

[10:07]cách mau mắn, nhanh lẹ, không mất thời gian. Đó, cho nên cái tâm thanh tịnh nó được cái lợi trên hai cái mặt đó. Và gã cùng tử lang thang trở về quê nhà nghĩa là gì? Nghĩa là chính chúng ta nè, chúng ta không đi lang thang vào những cái suy nghĩ loạn động nữa mà quay về với với nội tâm thanh tịnh của của chính mình. Chịu không? Nghĩa như vậy đúng không?

[10:36]Cho nên chúng ta thấy kinh Pháp Hoa cái nghĩa nó sâu thẳm mà nó bí mật, mà hiểu được thì rất là hay.

[10:47]Rồi có đoạn mà ông trưởng giả ổng sai tôi tớ mà bắt đứa con đem về, mà đứa con không chịu đi về á. Nó có cái đoạn nè: "Ông liền bảo kẻ sứ đuổi theo bắt đem về, gã cùng tử sợ kêu mê ngất ngã trên đất, người này theo bắt tôi chắc sẽ bị giết chết, cần gì đồ ăn mặc khiến tôi đến thế này." Tức là cái đoạn người cùng tử than thở không hiểu được cái lòng tốt của ông trưởng giả. Là như chúng ta cũng vậy, đối với Phật pháp cao siêu vi diệu mà chúng ta nghe ai nói: "Thôi về tu đi", cái mình sợ à. Như có mấy đứa nhỏ nè, hỏi: "Nữa lớn con chịu đi tu không?", nói: "Thôi, cạo đầu xấu lắm", ví dụ vậy. Hoặc là chúng ta không thấy được cái hay của đạo Phật

[11:37]mà nghĩ vào tu như là một sự đày đọa, hành hạ. Như cái người cha mẹ thấy đứa con đòi đi tu cái khóc rớt nước mắt: "Trời ơi, sao mà con tôi nó khổ sở thế này, thế kia." Đó, đây là cái tâm trạng của người cứ thấy con người ta khắc kỷ, kiềm chế chính mình cho rằng đó là cái sự khổ sở. Như hôm trước trong cái phẩm mà phẩm thí dụ cái nhà lửa đó nó chỉ có cái cửa hẹp để đi ra đó, nhớ không? Đó. Chúng ta muốn đi ra khỏi nhà lửa là phải đi qua cái cửa rất hẹp, nghĩa là gì? Cửa hẹp đó là tượng trưng cho cái sự sự khắc khổ, phải không? Sự kềm chế, giới luật. Nó không có sống buông lung buông tuồng được.

[12:15]Nên thấy một người mà họ sống điềm đạm, khắc khổ, ăn thì ăn chay, đầu thì phải cạo, mặc đồ thì không được mặc model, vân vân thì mình thấy sao mà khổ vậy. Thì bởi vì nó là cái cửa hẹp mà, muốn ra khỏi cái nhà lửa mà, phải đi qua cái cửa hẹp đó. Nên chúng ta thấy như khổ. Cho nên ai mà kêu mình đi qua cái cửa hẹp đó mình nói mình khóc mình giãy lên, nói: "Trời để tôi ở ngoài này tôi coi video, nghe nhạc cho sướng, karaoke, tự đâu bắt tôi đi qua cái cửa hẹp?" Thôi không dám kêu nữa, thôi không dám kêu đi tu nữa. Nghe nói đi tu: "Trời ơi sao bắt tôi khổ thế này?" Đây là cái tâm trạng của người cùng tử lang thang.

[12:51]Nhưng khi ông trưởng giả thấy con mình nó không hiểu được điều đó, thôi không bắt về nhận làm con nữa, cái cho người khác lại nói: "Thôi ở đây có cái chuyện mướn làm, ngươi chịu làm kiếm cơm ăn không?" Kiếm cơm thì chịu. Làm cái gì? Nói: "Hốt phân." Hốt phân chịu.

[13:12]Mình đối với Phật pháp là cũng như vậy đó. Thấy dọn phân nhặt đồ ve kiếm ăn thì thôi chứ không bao giờ nghĩ là mình có thể đủ sức hưởng cái gia tài của người cha của mình. Thì chúng ta cũng vậy, cả một cái Phật pháp mênh mông vi diệu mà kêu mình tu mình sợ. Bắt mà ngồi thiền ngày này qua ngày kia chắc chết quá, chịu không nổi. Nhưng mà thôi vô chùa quét lá đa rồi kiếm chút phước, được. Dạ, hễ việc gì cái đó làm được. Bữa mai là thầy có đám nha, vô xuống bếp nấu giùm thầy cái nồi cà ri nha, dạ dạ, cái đó làm kiếm chút phước có lý. Còn thôi lên con ngồi thiền hai tiếng đồng hồ cho thầy, khóc giãy nảy bỏ chùa đi liền.

[13:50]Đó, là cái cao siêu mình làm không nổi, còn mấy cái rác rưởi, tức là những cái phước lặt vặt á, mình chịu, mình chịu. Thì đây nè, đó mình về tới với Phật pháp rồi, nhưng mà mình chỉ thích làm cái công quả lặt vặt thôi. Hôm nào vô mà gặp thầy kêu lau chánh điện mừng ghê lắm, là được có phước, nên xin thầy cho con lau chánh điện bữa, thì đó hay là quét trước cái sân Phật Bà, chịu lắm, nói: "Dạ có phước." Nhưng mà sự thật trong Phật pháp những cái đó là gì? Cái lặt vặt. Còn cái cả một cái giáo pháp vĩ đại mênh mông, mình nghe nói tới cái sợ. Nghe nói tu mà như quý thầy hay tu hơn quý thầy nữa, nghe nói sau này nữa là thành Bồ Tát độ tất cả chúng

[14:35]sinh, nghe cái đó ớn hồn quá, không dám. Nói: "Thôi bây giờ thấp thấp hơn, thôi ráng tu nữa làm giảng sư giảng pháp cho người ta." Nói: "Dạ thôi, con mà giảng ai nghe." Thôi tu thấp thấp chút nữa, thọ bát quan trai rồi cũng được, nói: "Thôi thọ không có thời giờ nữa, ngày con mắc đánh bài tứ sắc hết mấy tiếng đồng hồ rồi mất cả ngày." Nói: "Thôi khi nào rảnh thì vô quét chùa", à vậy thì được, chừng nửa tiếng, một tiếng thì được, như vậy. Tức là cái công đức mà cao mình không chịu, do cái tâm trí của mình nhỏ hẹp, mình chọn những cái phước nó nhỏ dần, nhỏ dần xuống, cuối cùng còn quét lá chùa giống như mình đi đi hốt phân.

[15:10]Nhưng mà chịu an phận cái. Rồi sao, ông trưởng giả mới thấy trải qua 20 năm cho hốt phân, lần lần mới làm những công việc khá hơn. Là do cái công đức, ví dụ mình vào chùa mình phụ việc này, phụ việc kia chút đỉnh, cái lúc đó mình có chút phước, cái tâm mình mới phát thêm, có thêm chút lý tưởng, mình mới cảm thấy rằng vào trong Phật pháp mà cứ đi vô chùa mà nấu cà ri riết rồi cũng không khá, coi có gì hơn, bắt đầu mới tập tu, thọ bát quan trai, rồi học giáo lý, rồi ngồi thiền, rồi đi làm việc từ thiện, theo thầy đi làm việc từ thiện nơi này nơi kia, vân vân. Đó lúc đó là mình mới tăng trưởng thêm công đức trong Phật pháp.

[15:56]Chứ không còn chạy vô chỉ ngồi hư sức thích quét cái sân chùa nữa, mà bắt đầu thích làm những công việc lớn lao hơn, có ý nghĩa hơn và lợi lạc cho chúng sinh hơn. Đó là là lúc mà ông trưởng giả mà kêu lên làm thơ ký rồi đó. Đó làm nữa, làm thơ ký coi kho đụn đồ chút đỉnh. Nhưng mà chưa. Cho đến cái ngày mà ông trưởng giả giao hết cái gia tài cho. Ngày đó là ngày nào? Ai biết?

[16:27]Chừng nào mà được ông trưởng giả giao hết gia tài? Quý Phật tử nè. Chừng nào?

[16:40]Chừng nào ngộ đạo, phải không? Chừng nào tâm bừng ngộ, trí tuệ vô cùng sáng suốt, tâm hồn vô cùng thanh tịnh, lúc đó là lúc ông trưởng giả giao gia tài: "Đây là con ta, bỏ ta đi lang thang đó là mấy triệu kiếp luân hồi, ngày hôm nay trở lại ngộ được Phật pháp, và Phật pháp này là của người con này, từ đây nó thay ta để mà lo cho chúng sinh." Lúc mà tâm chúng ta ngộ đạo. Nghĩa là từ lúc chúng ta đến với đạo mà tu cho đúng hướng, hai chục năm, ba chục năm. Đó, 20 năm mà, bắt đầu giao lên cái chức nữa, quét phân 20 năm. Nên chúng ta cũng vậy, chúng ta đi đúng hướng từ cái ngày mà làm phước ban đầu, tới ngày bắt đầu quy y Tam Bảo,

[17:26]thọ bát quan trai, tụng kinh, tọa thiền, làm phước, học giáo lý, hai, ba mươi năm cho đến cái ngày mà tâm mình bừng ngộ. Thì ngày đó là ngày mà mình được giao phó cái gia tài của Phật pháp. Quý Phật tử ráng lên ha. Ở đây có ai được giao chưa?

[17:49]"Đức Phật cũng như thế, biết con ưa tiểu thừa," tiểu thừa tức là những cái chí nguyện nhỏ đó, "nên chưa từng nói rằng các ngươi sẽ thành Phật, mà chỉ nói chúng con đều có đức vô lậu, trọn nên quả tiểu thừa, hàng Thanh văn đệ tử. Đức Phật bảo chúng con nói đạo pháp tối thượng, người tu tập pháp này sẽ được thành Phật quả. Chúng con vâng lời Phật vì các Bồ Tát lớn dùng các món nhân duyên, dùng các món thí dụ, bao nhiêu lời lẽ hay để nói đạo vô thượng.

[18:27]Thời thấy các Bồ Tát được Phật thọ ký sẽ thành Phật, mà không nghĩ rằng mình có thể đảm đương được. Chúng con diệt bề trong tự cho là đã đủ, chỉ xong được việc này lại không biết việc khác." Nghĩa là thế này: chúng ta tu tâm được thanh tịnh, nhưng cái chấp ngã vi tế đó nó còn nó chưa có hết hẳn, nên tâm mình chưa có hiển lộ được cái đại bi, chưa hiển lộ được đại bi. Là thế này: cái mục đích cuối cùng của Phật pháp là chúng ta ngộ đạo, tâm thanh tịnh đến tận cùng, phá tan hết cái chấp ngã trong lòng mình, thì lúc đó mình mới trải lòng thương yêu đến tất cả chúng sinh được. Đây là cái mục đích của Phật pháp.

[19:16]Sở dĩ bây giờ chúng ta chưa thể thương yêu khắp tất cả chúng sinh vì mình vẫn còn cái chấp ngã trong lòng, mình vẫn còn thấy cái ta của mình là quan trọng. Cho nên tuy là đến với đạo Phật chúng ta được dạy là phải thương yêu chúng sinh, giúp đỡ mọi người, thì mình cũng nghe lời như vậy, nhưng tâm mình chưa có chưa có trải rộng. Mình vẫn nghĩ về mình nhiều nhất. Khi mình đi làm một việc phước thì không phải là vì mình thương chúng sinh mà mình làm, mà vì mình cầu phước cho mình ở đời sau. Phải không? Cho nên tuy bên ngoài là làm được nhiều việc thiện, nhưng mà bên trong cái ích kỷ, cái chấp ngã nó vẫn còn lớn.

[20:05]Đó, đó là cái gọi là quả tiểu thừa đó, nhỏ hẹp, cái hẹp hòi ích kỷ nó còn tiềm ẩn trong tâm hồn mình. Thì người tu theo đạo Phật cái mục đích là đến cái tận cùng của cái phá tan cái chấp ngã, lúc không còn thấy cái ta này nữa. Nghĩa là tuy mang cái hình hài này nhưng mà sự thật không còn thấy có ta nữa, không còn thấy có ta nữa. Thì lúc đó cái lòng thương yêu tất cả chúng sinh nó lan tỏa khắp pháp giới, không còn có cái ngăn mé, không còn có cái hạn lượng, cái giới hạn nữa. Đó, đây mới thực sự là cái đích cuối cùng của Phật pháp. Đây là con đường mà các Bồ Tát đi. Cho nên chúng ta tụng kinh học theo kinh Pháp Hoa

[20:50]thì phải nhớ cái điểm này, là từng giờ từng phút mình cố gắng không xem cái ta mình là quan trọng nữa, để làm chi? Để trải lòng thương yêu được mọi người. Hôm trước vẫn nói với Phật tử hoài đó, mình tập rải lòng từ bi thương yêu tất cả chúng sinh là chỗ này. Như khi chúng ta nhìn mọi người chung quanh mình, mình nhìn với cái tâm niệm gì? Nhìn với tâm niệm gì?

[21:22]Mình nhìn người ta bằng cái tâm bình thản là cũng là hay lắm rồi phải không? Chưa ghét người ta là hay lắm rồi đó. Chứ còn cái người mà tệ đó dòm qua dòm lại cái thấy bà này đen thui, bà kia lùn xịt. Đó là cái ác tâm mình cứ khởi niệm xấu để mà ghét chúng sinh. Còn cái người mà tu khá đó nhìn mọi người với cặp mắt bàng quan mà là tu khá lắm. Chứ chúng ta chưa được cái tâm mà khi nhìn thấy mọi người thì luôn luôn khởi lên lòng thương yêu. Chúng ta chưa được điều đó. Và đây là cái chỗ mà chúng ta phải thực hành, phải tập. Khi quý Phật tử làm khi sống một mình mình giữ tâm thanh tịnh, nhưng khi đối diện với mọi người một người hay nhiều

[22:06]người luôn luôn mình khởi lên cái tâm thương yêu. Khi mình bước ra ngoài đường, mình nhìn mọi người xuôi ngược, vô tư trên đường, chẳng ai quen biết ai, mình cũng phải tập khởi lên cái lòng thương yêu mọi người, phải tập như vậy. Đây là công đức tu tập từ tâm đó. Cái công đức này rất là lớn. Một người mà tu tập thuần thục như vậy thì ngày đêm thường có chư thiên theo hộ vệ. Tôi nói câu này là không có nói ngoa đâu, không phải là tôi nói quảng cáo đâu. Tôi nói thật sự đó. Một người mà tập cái lòng từ bi này thuần thục, tức là lúc nào cũng vậy hễ đối trước mọi người lòng luôn luôn khởi lên sự thương yêu thì người đó ngày đêm luôn luôn có chư thiên theo hộ vệ.

[22:53]Đây là điều chắc chắn, tôi xác định, tôi khẳng định điều đó. Và đây là con đường mà gọi là Đại thừa. Nên quý Phật tử hãy nhớ cái con đường này, từ bỏ cái ngã chấp của mình mà trải lòng thương yêu chúng sinh.

[23:12]Chúng con dù có nghe phép tịnh cõi nước Phật cùng giáo hóa chúng sinh đều không có lòng ưa vui. Như thế là vì sao? Vì tất cả các pháp thảy đều là không lặng, không tịch, không sanh cũng không diệt, không lớn cũng không nhỏ, vô lậu và vô vi. Suy nghĩ thế đó rồi chẳng sinh lòng ưa muốn.

[23:37]Chúng con đã từ lâu đối với trí tuệ Phật không tham không ưa thích, không lại có chí nguyện, mà đối với pháp mình cho đó là rốt ráo. Cái đoạn này thì mình nghe phất phớt rồi nhưng mà nó thâm thúy lắm. Ở trong đạo Phật có cái lý gọi là lý Bát Nhã đó, lý không đó. Nhìn thấy vạn hữu trên cuộc đời này nó đều là hư giả, như là một giấc mộng mà thôi. Đây là một cái lý rất quan trọng trong đạo Phật gọi là lý Bát Nhã. Như mỗi khi tụng kinh đó, cuối bài kinh chúng ta đều tụng bài Bát Nhã Tâm Kinh đó, nhớ không? Là soi thấy năm uẩn đều không nên thoát được cái khổ, không có thế gian, không có xuất thế gian,

[24:22]không có khổ, không có chấm dứt cái khổ, vân vân, phải không? Tất cả đều không. Nơi cái lý đó mà chư Phật được được thành đạo. Nên đây là cái lý Bát Nhã, một cái lý rất quan trọng. Người tu theo cái lý này thì thường xem cuộc đời này như một cái giấc mộng. Nên mình tồn tại ở đây giống như là một người đang sống trong mộng, cái người này không thật và cái cảnh vật bên ngoài cũng không có thật. Nhờ luôn luôn quan sát tất cả đều là như một giấc mộng nên tâm mình nó bình thản, không có tham đắm, không có chấp trước. Đó là cái lý Bát Nhã. Cái lý này rất là sâu xa, khó hiểu, khó hành. Mà người đạt được cái này cũng rất là hiếm, mà vi diệu lắm.

[25:14]Như bây giờ quý Phật tử ngồi đây này, lắng tâm thanh tịnh thử đi, rồi ngồi khởi nghĩ cuộc đời này như là một giấc mộng. Chúng ta ngồi đây nghe pháp như là chuyện trong mơ. Giống như ngồi nhìn tôi vậy, đúng là một cái người trong mơ đang nói chuyện trong mộng. Còn tất cả quý Phật tử đang ngồi cũng như là một giấc mơ, mà đang đi trong giấc mơ không có thật. Thử suy nghĩ như vậy, thử tưởng tượng như vậy.

[25:43]Khi lắng như vậy á, tự nhiên mình thấy sao? Mọi cái tâm tham muốn mình trên đời nó lắng xuống, những ý nghĩ này kia nọ nó nó vắng lần lần, nó thanh tịnh lần lần, phải không? Đúng không? Chưa có thấm. Chưa có thâm nhập được. Thâm nhập được sẽ thấy rất là hay. Đó, đây là lý Bát Nhã. Tuy nhiên, cái chỗ này là chỗ mà ngài Ma-ha-ca-diếp thấy được cái khuyết điểm của nó. Tuy cái lý đó làm cho mình có thể được cái tâm thanh tịnh, bình yên, nhưng mà làm sao? Nó làm cho mình trở nên thụ động, mất ý chí. Nó có cái hay mà cũng có cái dở. Nó làm cho chúng con suy nghĩ như thế rồi chẳng sinh lòng ưa muốn. Có một lần tôi gặp một anh Phật tử.

[26:37]Anh này anh cũng rất là trí thức mà nghiên cứu nhiều, tu cũng dữ lắm. Khi anh nghe tôi à có một vài cái ước mong mà làm một cái tu viện gì đó thì anh mời về nhà nói chuyện. Thì anh giảng cái lý Bát Nhã cho tôi nghe. Thì suốt nửa tiếng đồng hồ, tôi cứ ngồi yên lặng cho anh ngồi anh giảng cái lý Bát Nhã. Anh ngồi anh nói: "Cái này như huyễn, cái kia không thật." Anh nói nửa tiếng đồng hồ vậy đó. Thì tôi cứ ngồi tôi cũng chịu nghe lắm, anh nói thì cứ ngồi lặng lẽ ngồi nghe. Khi mà anh nói xong hết rồi, bắt đầu thấy anh không nói bắt đầu tôi mới hỏi. Tôi mới hỏi rằng: "Có phải là từ khi mà anh hiểu được cái lý Bát

[27:14]Nhã này, lòng anh rất thanh thản phải không? Nhờ anh không dụng công nhiều mà tâm nó tự nhiên nó an định phải không?" Anh nói: "Đúng." Và tôi mới hỏi thêm câu nữa: "Có phải là cũng từ đó, anh cảm thấy rằng mọi cái mục đích của anh đã chấm dứt hết phải không? Kể cả mục đích thế gian và mục đích ở trong đạo, anh cảm thấy không còn có mục đích nào nhắm tới nữa phải không?" Anh ngồi anh ngẫm nghĩ nói: "Đúng, đúng." Thì tôi mới nói: "Đó, đó là cái chỗ không khéo của người tu Bát Nhã, lại mất cái chí hướng. Mất cái chí hướng, mất ý chí, nó thụ động và nó mất cái tinh tấn dần dần mà mình không hay. Đây chỗ mà nếu mình không khéo rất nguy hiểm."

[27:57]Anh ngồi ngẫm nghĩ cái anh giật mình, anh mới thấy là đúng.

[28:04]Thật ra là mấy chỗ này thì quý thầy cũng tu qua hết rồi, cho nên quý thầy cũng có cái cái kinh nghiệm, biết chứ không phải là không. Nhưng ảnh thì ảnh mới nhận được nên ảnh rất là hứng thú để mà đem giáo hóa cho quý thầy, sợ quý thầy cũng chưa biết. Cũng tội nghiệp, nhưng mà có cái là phải cảnh giác, tại vì cái người mà nắm được lý Bát Nhã như vậy đó thì lần lần dễ mất cái ý chí, mất cái sức tinh tấn, không còn cái mục đích gì nữa. Thấy tất cả cuộc đời này như giấc mộng nên đối với mục đích thế gian là làm giàu, làm có không ham; đối với mục đích trong đạo là tu cho chứng cho đắc cũng không cần nữa.

[28:43]Nói như vậy, cho nên tuy cái lý thì hay nhưng mà cũng nguy hiểm. Ở đây cái chỗ mà ngài Ca-diếp ngài nhắc nhở: "Lòng không còn ưa muốn gì nữa, không tham không ưa thích, không còn có chí nguyện."

[28:59]Cho nên chúng ta hiểu học Phật pháp như vậy đó, phải hiểu cho tới nơi, chứ còn không khéo chúng ta dễ kẹt lắm. Chúng ta đi tìm cái tâm thanh tịnh á, nó có hai con đường để đi đến cái tâm thanh tịnh: một con đường đi theo triết lý, một con đường đi theo đạo đức. Con đường đi theo triết lý là sao? Mà đi theo đạo đức là sao? Đi theo triết lý nghĩa là mình dùng cái lý Bát Nhã, mình ngồi mình quan sát cả thế gian này như một giấc mộng, thấy nó như huyễn như hóa, như mộng mà thôi. Thì nhờ cái đi theo con đường triết lý này tâm mình được thanh tịnh, đó là con đường triết lý. Thì con đường triết lý này nó dễ mắc hai cái nhược điểm:

[29:45]Cái nhược điểm thứ nhất á là như hồi nãy nói á mình mất cái chí nguyện, ở trong kinh cũng nói. Cái nhược điểm thứ hai là mình dễ tự cao, tại mình hiểu cái lý sâu quá rồi đó, ai nói gì mình cũng bác, ai nói gì mình cũng bác. Người nào lại nói: "Thôi đi làm phước với tôi." "Ôi làm phước chuyện trong mộng, không thèm làm." Nói: "Anh ráng mà ăn chay giữ giới." "Ôi ăn chay giữ giới chuyện trong mơ." Hơ, nghĩa là ai nói gì mình cũng bác, cũng bác, thành ra mắc cái bệnh tự cao hồi nào mình không hay. Đó là con đường mà đi theo cái con đường triết lý đó, nó cũng có cái hay là nó phá chấp nhanh, tâm mình dễ thanh tịnh, nhưng rồi nó xuất hiện

[30:24]những cái nhược điểm cũng nguy hiểm lắm. Còn mình đi tìm cái định bằng con đường đạo đức á thì nó sâu sắc hơn, thực tế và ích lợi hơn. Ví dụ như khi mình động tâm lên thì mình coi mình động vì cái gì? Là vì chuyện cho bản thân mình hay là chuyện vị tha đối với chúng sinh? Rồi mình thấy cả ngày mình động chuyện toàn chuyện của mình không. Phải không? Mình suy nghĩ: "Chuyện của tui nè, trưa nay tui ăn món gì, cà ri gà hay cà ri dê, hay ăn chay bữa nay phải ngày ăn chay hay không?" Rồi nếu có ai đánh số đề thì không biết chiều nay phải lựa con số nào cho nó trúng, hoặc là mình lo cho con mình, lo cho chồng mình,

[31:07]cái gì cũng có mình không à chứ không có ai đâu, lo cho nhà mình, lo cho ba mình. Mỗi cái động niệm khởi lên thì mình thấy đều mang theo cái bóng dáng của sự ích kỷ. Và như vậy mình mình loại bỏ, mình không bận tâm nữa, mà mình chỉ chấp nhận những cái suy nghĩ nào mà nó đưa đến cái lòng thương yêu tất cả chúng sinh thôi. Thì như vậy tức là mình đi vào định bằng con đường đạo đức, chứ không phải bằng con đường triết lý.

[31:37]Có hiểu không? Hiểu không? Nói lại ha. Tức là bây giờ mình đi vào Định bằng con đường đạo đức, nghĩa là khi đi vào đạo đức mình sẽ loại bỏ hết những tư tưởng mà có mang bóng dáng của sự ích kỷ, và mình chỉ chấp nhận những tư tưởng nào thuần những vị tha. Và như vậy mình xem cả ngày mình suy nghĩ chuyện gì. Ví dụ mình sân lên thì rõ ràng mình sân cái chuyện gì người ta xúc phạm tới mình, phải không? Rồi mình bỏ cái sân đó xuống, bớt được một cái động mà nhờ con đường đạo đức. Hoặc tự nhiên mình khởi niệm, mình muốn làm sao chiều nay mình được hai cây vàng. Cái mình nói, "Ờ cái niệm này là niệm ích kỷ nè,

[32:19]niệm tham nè, mất đạo đức", mình buông bỏ xuống. Thế là bỏ được nó là được Định rồi, phải không? Bỏ được thanh tịnh chút. Đó là đi con đường đạo đức. Hoặc là ngồi, lúc đó mình tự nhiên mình bận tâm lo cho con mình, cho chồng mình quá đáng, cái mình nói cái này cũng là ích kỷ. Tại sao nghĩa là chuyện khác, mọi người đau khổ, bệnh hoạn trong làng trong xóm mình không bận tâm, mà chỉ lo lo cái gì của thuộc về mình. Ích kỷ, thôi buông nó nhẹ xuống. Tuy vẫn làm bổn phận nhưng mà nó không bận tâm lắm, vì mình biết nó mang bóng dáng của sự ích kỷ. Nhờ mình cứ gạn lọc, gạn lọc như vậy, lần lần mình đi vào Định bằng con đường đạo đức.

[33:00]Hiểu không? Cho nên ở đây chúng ta có hai con đường để vào Định: một là cái con đường Bát Nhã mà như ngài Ca Diếp nói trong phẩm Tín Giải nè, "không sanh cũng không diệt, không lớn cũng không nhỏ, vô lậu và vô vi" thì ngài nói nó cũng sinh ra cái nhược điểm làm ngài mất chí hướng. Còn ở đây mình đi theo con đường Đại Thừa đó là đi vào Định bằng con đường đạo đức, làm sao phát triển được lòng từ bi thương yêu chúng sinh. Hễ động tâm cái gì, lo cái gì là chỉ vì chúng sinh mà suy nghĩ. Như mình bắt chân lên mình ngồi thiền, mình cũng chỉ nghĩ là mình tu này để lợi ích chúng sinh về sau. Vào chùa mình tụng kinh, thọ Bát quan trai,

[33:40]cũng nguyện hồi hướng công đức này cho chúng sinh. Cứ vậy chứ không có cho mình nữa. Như mấy cụ già vậy, nhiều khi nghĩ, "Thôi giờ mẹ già rồi, mẹ ráng là tu ít năm để đức cho các con, kiếp sau mẹ lên mẹ cũng sướng một chút" cũng là bóng dáng của sự ích kỷ. Bây giờ không nghĩ điều đó nữa. Giờ con cháu hỏi, "Mẹ đi đâu rứa?" "Mẹ đi chùa tụng kinh, cầu nguyện cho tất cả chúng sinh được an vui, được hạnh phúc." Đó. Mấy mẹ nhớ vậy nha.

[34:15]Đi vào Định bằng con đường Đại Thừa, bằng con đường đạo đức.

[34:23]"Chúng con ngày hôm nay được pháp chưa từng có,

[34:28]chẳng phải chỗ trước đã mong mà nay tự nhiên được, như gã cùng tử kia được của báu vô thượng." Ở chỗ này là nói rằng giống như là một người mong cầu thành Phật vậy đó. Nghĩa là từ xưa đó, nghĩ mình tu như vậy là đã được rồi, chứ không nghĩ mình sẽ thành được một vị Phật mà cái oai đức vô lượng trùm cả cõi trời, cõi người. Không dám nghĩ như vậy. Thấy mình thanh thản, giải thoát, thôi vậy cũng được rồi, nghĩ vậy. Chứ không nghĩ mình cầu thành Phật. Nhưng ở đây là chỗ mà không mong mà tự nhiên được. Chỗ này nó có hai ý nghĩa: Ý nghĩa thứ nhất là khi mình không mong cầu cho chính mình cái gì cao thượng

[35:18]thì cái mà mình chỉ lo cho mọi người thôi, thì không ngờ chính mình lại được trước. Mình lại được trước. Ví dụ như là một người mà không lo cho mình giàu sang, no ấm, cứ lo cho người khác thôi, cứ làm cái này cho người khác được lợi, làm cái kia cho người khác có việc làm, lo việc. Cuối cùng, người đó được cái phước giàu sang, no ấm trước. Cái nhân quả là như vậy. Cũng như một người là không nghĩ rằng mình sẽ thành Phật, mà cứ đem pháp đại bi giáo hóa chúng sinh thôi. Cứ làm hoài kiếp này kiếp kia, cuối cùng người đó thành Phật trước. Cứ chỉ mong cho chúng sinh được đắc đạo, được thành Phật trước chứ không nghĩ tới mình.

[36:00]Cuối cùng mình lại thành trước. Cho nên ở đây cũng vậy, là mình không mong cho mình mà cái gì tốt đẹp mình mong cho người khác trước, cuối cùng không ngờ chính mình được trước. Đây là cái chỗ mà trước đây chưa từng mong cầu mà nay tự nhiên được, trang 174.

[36:26]Tới cái gọi là cầu thành Phật, nó có ba cái ý nghĩa:

[36:32]Thứ nhất là Phật bản thể, thứ hai là Phật công đức, thứ ba là Phật tri kiến. Phật bản thể, Phật công đức, Phật tri kiến.

[36:47]Phật bản thể nghĩa là khi một người tu thiền định vượt qua bao nhiêu lớp tâm thức, hết cái bản ngã, thì người đó đến được cái bản thể tuyệt đối đồng với chư Phật. Đây là người tu đắc đạo, giải thoát hoàn toàn, gọi là Phật bản thể. Còn Phật công đức là gì? Phật công đức tức là cái tích lũy của một vị đó mà trong vô lượng kiếp đã làm lợi ích chúng sinh do cái tâm vô ngã của mình. Do mình không còn bản ngã, từ kiếp này sang cái kiếp kia mình cứ đi làm lợi ích cho mọi người thôi, nó thành cái công đức vô lượng, gọi là Phật công đức. Cái điều này sang tới cái phẩm Thọ Ký mình sẽ giải thích về mười hiệu của Phật.

[37:31]Thứ ba là Phật tri kiến. Phật tri kiến là cái trí tuệ, cái thấy biết của Phật. Cái trí tuệ của Phật là do tu chứng, đồng thời là do cái sự phát triển trong vô lượng kiếp mà giáo hóa chúng sinh mới thành được. Cho nên ở đây, thường một vị tu hành đến được cái Phật bản thể, nghĩa là cái thể tánh đồng như Phật thì cho đó là đã đủ, cho là đã đủ nhưng mà không phải đủ. Mà sự thật, người này phải tích lũy thêm, vị này phải tích lũy được cái công đức như Phật để đạt được cái tri kiến như Phật. Đó mới là cái mục tiêu cuối cùng của đạo Phật. Và như vậy, chúng ta không còn có cái hạn lượng thời gian nữa,

[38:15]không còn nói mình phải tu năm kiếp, mười kiếp hay làm lợi ích cho chúng sinh chừng mười kiếp, năm kiếp, ba kiếp, không có nữa. Cái khái niệm thời gian chấm dứt. Người này mãi mãi mãi mãi cứu độ chúng sinh mà thôi, không còn tính thời gian nữa, không còn tính kiếp số nữa. Đó, cái tâm nguyện như vậy là cái tâm để thành Phật. Tâm không còn có hạn lượng nữa. Cái đoạn cuối của phẩm Tín Giải thì ngài Ca Diếp mới nói rằng, "Ai có thể đền được", đền ơn, "ơn lớn của Thế Tôn, thương xót dạy bảo cho, làm lợi ích chúng con, trải vô lượng ức kiếp, ai có thể đền được?" Tức là ngài thấy cái việc mà Đức Phật đem cả một giáo lý,

[38:59]đạo quả vi diệu mà giáo hóa cho mọi người, ngài thấy cái công ơn nó vô lượng. Vô lượng là vì sao? Vì sao là vô lượng? Là vì cái người mà đạt được cái lợi ích đó đó, cái lợi ích đó nó tồn tại vô biên.

[39:20]Như ví dụ một người cho chúng ta một triệu đồng, thì chúng ta xài được bao lâu? Cái ơn đó nó tồn tại bao lâu? Tùy mình có đánh số đề hay không, ha? Nếu sống bình thường á thì cũng được gần tháng theo thời giá thị trường. Còn mấy người mà nhậu hay đánh bài tứ sắc thì không kể, chắc hai ba ngày thì hết. Thì như vậy cái số tài vật mà đem cho ai đó, cái giá trị nó tồn tại một thời gian ngắn. Nên người ta mang ơn mình nó cũng chỉ chừng mực nào đó, cái ơn đó nó có hạn lượng. Còn ví dụ như là chúng ta được một người giáo dục về đạo đức thì cái sự tồn tại đó bao lâu? Hết cả một đời của mình, phải không?

[40:11]Đó là mình nhờ cái đạo đức đó mình sống được tốt đẹp, an vui, và kiếp sau mình còn hưởng được những quả báo lành nữa. Nó tùy cái mức độ mà người đó giáo hóa mình nhiều hay ít, sâu hay cạn để đủ cái đạo đức đó nó tồn tại qua bao nhiêu kiếp, thì cái ơn đó nó giá trị bao nhiêu kiếp. Như mình nghe một người nói nhân quả, nghiệp báo mà họ nói ít ít thôi, rồi mình làm có một chút à, thì nó tồn tại được kiếp này, kiếp sau rồi cái hết, mình không nhớ rõ. Còn mình gặp một người họ giáo hóa mình về đạo đức nhân quả mà họ nói quá kỹ làm cho mình phát tâm lớn, cho nên cái dấu ấn đó nó in đậm vào tâm hồn mình để cho

[40:50]suốt kiếp này mình thực hành và nó còn mang theo những kiếp sau mình nhớ lại làm nữa, thì cái ơn người này đối với mình rất là, rất là lớn vì nó tồn tại qua nhiều kiếp. Còn ở đây, Đức Phật đem cái giáo lý giải thoát, cái trí tuệ Phật mà giáo hóa thì người mà chứng ngộ được cái đó rồi, nó tồn tại bao lâu thì nó hết? Không bao giờ hết, phải không? Vĩnh viễn. Chẳng những là lợi ích cho người đó, mà cái người đó còn đem cái trí tuệ đó tiếp tục giáo hóa bao nhiêu chúng sinh khác nữa. Phải không? Như vậy cái lợi ích nó là vô cùng, vô tận. Thì mới nói là trải vô lượng ức kiếp, ai có thể đền được cái ơn của Phật này?

[41:38]Tay lẫn chân cung cấp, đó là chặt tay chặt chân mà đưa Phật, chắc Phật không lấy đâu. Đầu đảnh lễ cung kính, tất cả đều cúng dường đều không thể đền được. Hoặc dùng đầu đội Phật, hai vai cùng cõng vác, trong kiếp số hằng sa tận tâm mà cung kính, lại đem dâng đồ ngon, y phục báu vô lượng, và các thứ đồ nằm cùng các món thuốc thang, gỗ ngưu đầu chiên đàn và các vật trân báu để dựng xây tháp miếu, y báu lót trên đất, như các việc trên đây đem dùng cúng dường Phật, trải số kiếp hằng sa cũng không đền đáp được. Ngài nói như vậy, cái ơn đó vô lượng.

[42:17]Các Phật thật ít có, Đấng Vô Lượng Vô Biên, Đấng Bất Khả Tư Nghì, đủ sức thần thông lớn, bậc Vô Lậu Vô Vi, là Vua của các Pháp, hay vì kẻ hạ liệt, nhẫn việc cao thượng đó, hiện lấy tướng phàm phu, tùy cơ nghi dạy nói. Đây là những đoạn mà ca ngợi Đức Phật, công đức của Đức Phật. Này là đoạn cuối phẩm Tín Giải.

[42:43]Vậy mình làm sao để đền ơn Phật? Hử? Ai biết? Nhưng mà Ngài Ca Diếp nói nãy giờ mấy cái việc đó làm không được. Cõng Phật qua hằng số kiếp cũng không đền được ơn Phật. Vét hết tủ mình có bao nhiêu tiền cúng hết mà bao nhiêu kiếp làm như vậy cũng không đền được ơn Phật. Vậy làm gì đền được ơn Phật? Ai nói đi.

[43:17]Hiểu giáo lý, tinh tấn tu hành, gì nữa? Truyền bá, gì nữa? Như

[43:30]vậy là nói cũng bổ sung nhau là cũng đầy đủ đó. Nên mình phải chứng đến tận cùng cái mà Đức Phật muốn mình chứng. Tức là đến tận cùng của cái vô ngã đó, phát được tâm đại bi vô lượng, chứng tới cái thể tánh tuyệt đối đồng như Phật, đó là mình làm cho Phật vui, và sau đó gọi là truyền bá, tức là mãi mãi giáo hóa chúng sinh, nối tiếp Phật pháp để cho cái chân lý này, cái ánh sáng giáo pháp này không bao giờ bị tắt, không bao giờ bị gián đoạn ở giữa thế gian này.

[44:04]Người phát tâm như vậy là đền ơn Phật. Bây giờ qua đến phẩm Dược Thảo Dụ.

[44:13]Hồi xưa có một lần ở một cái vùng đó bị hạn hán, cái các cái vị quan đó mới không biết làm sao để cầu mưa, mới thỉnh vị Hòa thượng, cái vị mới khai kinh Pháp Hoa để giảng. Thì khi giảng đến cái phẩm Dược Thảo Dụ thì tự nhiên bên ngoài trời tuôn mưa luôn. Đó cũng là cái công đức lạ lùng. Bên trong thì dùng cái phẩm mà trời tuôn mưa của cái phẩm này để ví dụ cái đạo lý, nhưng mà không ngờ nó cũng cảm ứng theo cái tâm cầu của mọi người ở đó. Là vị Hòa thượng mới khai đàn giảng Pháp Hoa, thì bao nhiêu người tới để dự mà nghe, lắng lòng thanh tịnh nghe Pháp Hoa, nghe tới đúng phẩm Dược Thảo Dụ thì trời tuôn mưa, hạn hán chấm dứt.

[44:58]Cái công đức cũng là lạ lùng.

[45:06]Bây giờ, Đức Thế Tôn mới nói với ngài Ma Ha Ca Diếp và các vị. Cái câu này muốn nói lên điều gì? Nghĩa là Đức Phật khẳng định là ngoài những cái công đức mà ông hiểu được thì còn vô lượng vô biên những cái công đức khác mà các ông không thể nói hết được.

[45:31]Cái đoạn này có nghĩa gì?

[45:36]Có nghĩa cái giá trị của Phật chính là cái công đức mà Đức Phật đã làm được trong vô lượng kiếp, chứ không phải là cái danh hiệu Phật, phải không? Mình nói Phật Phật, không phải là cái chữ "Phật" đó là cái gì cao quý, mà chính cái công đức mà Đức Phật đã dày công, cực khổ tích lũy qua vô lượng kiếp, làm lợi ích chúng sinh, cái đó mới là giá trị thật sự của Đức Phật. Cho nên ở đây chúng ta nghe người này xưng là Phật sống, ông kia xưng ổng là bà vô thượng sư, thì mình biết làm sao? Biết là chuyện, chuyện đùa cho vui. Bởi vì cái giá trị không phải là cái danh xưng mà giành nhau, chỗ này Phật sống, chỗ kia vô thượng sư, phải.

[46:20]Cái giá trị là người đó đã làm được điều gì cho mọi người, cho thế giới, cho con người hôm nay. Chúng ta hãy nhìn vào cái đó để đánh giá con người, chứ không phải là nhìn vào cái danh hiệu. Cũng nhiều khi có những ông thầy cò mồi, đặt ra một cái danh hiệu nào đó để cho đệ tử truyền đi truyền đi để mà lấy uy tín cho mình. Như cái ông giáo chủ gì bên Nhật mà rải hơi độc cho người ta chết đó, ổng cũng xưng ổng là một cái đấng đã giác ngộ tận cùng. Nhưng mà rồi cái hành động là gì? Hành động giết chúng sinh. Nó đâu phải, phải không? Rồi cũng có người xưng là Phật sống, rồi có bà nào đó xưng vô thượng sư.

[47:00]Nhưng mà hãy nhìn vào cái cuộc sống của họ, cái công đức họ làm gì được cho cuộc đời này. Cho nên nhiều khi một người không cần cái danh hiệu, kể cả danh hiệu tu sĩ, hay thiền sư, hay Bồ Tát gì hết, nhưng lại là một con người có một tâm hồn vô cùng thanh tịnh, tâm tràn đầy thương yêu chúng sinh, và cả cuộc đời chỉ hy sinh làm lợi ích cho mọi người, thì người đó mới thực sự là người có giá trị, đáng để cho mình tán thán, đảnh lễ, cung kính, phải không? Và như vậy, chúng ta đi trên con đường Phật pháp, chúng ta đi tìm cái giá trị thực sự thì chúng ta cũng biết bỏ qua đừng quan trọng cái, cái danh hiệu.

[47:49]Đừng quan trọng cái danh hiệu. Không cần cái hiệu chùa to, Phật lớn. Không cần cái hiệu là người tu ở cái phái này linh hơn hay là tu ông hòa thượng kia có oai đức, có uy tín hơn, không cần điều đó. Mà cái điều là cái vị thầy mà chúng ta nương theo đã làm được điều gì cho Phật pháp, cho chúng sinh. Và chính bản thân chúng ta đã làm được điều gì cho Phật pháp, cho chúng sinh. Đó là, là cái giá trị chân thật, phải không? Cho nên nhiều khi một cái câu nói gọn mà chúng ta thấy hàm chứa những cái nghĩa lý rất là sâu sắc. Mà chỉ một câu này mình suy ngẫm, mình hiểu, mình áp dụng tu, mình cũng thấy cuộc đời mình nó được thăng hoa lên, phải không?

[48:41]Có cái đoạn để thầy đọc nguyên văn: Ca Diếp nên biết Đức Như Lai là vua của các pháp, nếu có nói ra lời chi đều không hư dối vậy. Phật ở nơi tất cả pháp dùng sức trí tuệ phương tiện mà diễn nói, pháp của Phật nói đều đưa đến chỗ nhất thiết trí. Nhất thiết trí là cái cứu cánh đó tuyệt đối đó. Đức Như Lai xem biết chỗ quy thú của tất cả pháp, tức là cái gốc của tất cả pháp, cũng rõ biết chỗ tâm sở hành của tất cả chúng sinh không thấu không ngại, thông thấu không ngại, chỗ tâm sở hành riêng biệt của chúng sinh đó, không ngại. Phật lại ở nơi các pháp rốt ráo rõ biết hết, chỉ bày tất cả trí tuệ cho các chúng sinh.

[49:30]Ở đây là có hai điểm, chúng ta thấy rằng một á là Ngài biết cái gốc của các pháp, cái chỗ tận cùng của nhất thiết trí này, tức là biết tận cùng của cái chung của các pháp này. Cái thứ hai là biết chỗ sai biệt, cái sở hành sai biệt của chúng sinh. Một bên là biết cái riêng, cái ngọn, cái ngọn ngành đó biết hết, từng cái lá, cái lá biết hết, nhưng cũng biết cái gốc nó ở đâu. Biết cái chung mà vẫn biết cái riêng, cho nên Đức Phật á khi mà Ngài nói ra một cái pháp chung, tận cùng, cao siêu thì vẫn không mất những cái cái căn cơ sai biệt của từng người, như là khi nói với một người thấp, Ngài nói cái lý thấp, nhưng mà cái lý thấp

[50:21]đó nó hàm chứa cái lý, lý cao rồi, cái gốc rồi. Đó là cái hay của Phật, hoặc gặp một người cao thì Ngài nói cái lý cao mà nó vẫn đồng với cái gốc, cái gốc thực sự của Phật pháp, cái chỗ giải thoát tột cùng. Đó. Nên là tuy mà nói cái riêng vẫn không bao giờ mất cái chung, tuy nói cái chung nhưng nó vẫn sao? Phù hợp với căn cơ sai biệt của chúng sinh. Đó nên Đức Phật nói là cái trí tuệ của chư Phật là như vậy, là biết tận cùng cái chỗ chung, chỗ quy thú hết của các pháp, nhưng cũng biết tất cả những cái sai biệt của nó. Nên khi nói pháp nó không có ngại, là khi nói bên này mà không có kẹt bên kia, không mâu thuẫn bên kia.

[51:02]Khi nói bên kia không mâu thuẫn bên nọ, tại vì tất cả các pháp tuy sai biệt, rắc rối, nhiều phương, nhiều ngả, nhiều khía cạnh, nhưng nó có cái gốc chung, mà người nắm được cái gốc đó rồi thì nói pháp nó không có sai với chân lý, không có lầm lỗi, không mâu thuẫn.

[51:20]Ca Diếp, thí như trong tam thiên đại thiên, nơi núi, sông, khe, hẻm, ruộng, đất sinh ra cây cối, lùm rừng và các cỏ thuốc, bao nhiêu giống loại, tên gọi, màu sắc đều khác. Mây khởi lên dầy, bủa giăng trùm khắp cõi tam thiên đại thiên, đồng thời mưa xối xuống khắp nơi nhuần thấm. Cây cối, lùm rừng và các cỏ thuốc hoặc thứ gốc nhỏ, thân nhỏ, nhánh nhỏ, lá nhỏ, hoặc thứ gốc bực vừa, thân vừa, nhánh vừa, lá vừa, hoặc có thứ gốc lớn, thân lớn, nhánh lớn, lá lớn. Các giống cây lớn, nhỏ tùy hạng thượng, trung, hạ mà hấp thụ khác nhau. Một cụm mây tuôn mưa xuống, xứng theo mỗi giống loại mà cây cỏ được sinh trưởng, đơm bông, kết trái,

[52:06]dù rằng một cõi đất sinh, một trận mưa thấm nhuần mà các cỏ, cây đều có sai khác. Đất thì giống nhau, một trận mưa đều xối từ trên xuống giống nhau, nhưng mà cây cỏ sinh trưởng khác nhau, vì tùy theo cái gì? Tùy theo cái loại của nó ha. Cái loại cỏ thì mưa gì mưa thì cũng lớn lên cỡ này là hết mức. Còn loại dây leo thì mưa gì mưa thì cũng bò ngoằn ngoèo vậy là hết mức đi. Nhưng mà cái cây đại thụ mà mưa được như vậy thì nó vươn lên, vươn lên ngút ngàn trên trời xanh. Đó là tùy cái cái chủng loại, cái hạt giống, hạt giống ban đầu. Hạt giống này là gì? Tượng trưng cho cái tâm nguyện của mình từ ban đầu khi mình đến với Phật pháp.

[52:57]Tức là chung một Phật pháp đều làm lễ cho chúng sinh, nhưng mà cái lễ đó nó sẽ khác tùy theo cái nhân, cái nghiệp, cái nguyện của mỗi người khác nhau. Như một người cùng đến nghe cái lý nhân quả, tội phước, nhưng một người nghe xong á, nói: "À, mình muốn đẹp trai thì mình phải đem hoa cúng Phật." Họ kết luận được câu đó rồi lo làm vụ đó thôi, cho nên đời sau họ được, được đẹp đẽ, đó. Rồi một người nghe như vậy, ngồi nghĩ: "À, nhân quả thì như vậy, nếu mình kính trọng mọi người, mình giúp đỡ mọi người kiếp sau mình làm bộ trưởng." Cái người đó lo, thế là làm những cái hạnh đó để được làm bộ trưởng, là cái nhân nó lớn hơn.

[53:46]Còn một người thì nghĩ là: "Để được làm tăng thì thôi giữ gìn giới hạnh, cung kính chư tăng, à làm nhiều cái phước điền, đời sau được làm tăng." Do biết nhân quả mà. Còn một người thấy rằng muốn được giải thoát vượt khỏi bản ngã thì bây giờ đừng có chấp ngã mà phải biết thương yêu chúng sinh, họ gieo cái nhân đó. Nên cùng một lý nhân quả nhưng mỗi người rút ra một khía cạnh để mà, mà thực hành. Như người đến với chùa vì cái nhân duyên gì? Vì nhân duyên gì? Có người do bữa đó đó là mẹ mất cái đến chùa nhờ thầy tụng kinh, cái nhờ đó kết duyên với Phật pháp. Thì đầu tiên hiểu đạo, chùa tức là chỗ tụng kinh cho người chết. Nhớ vậy.

[54:35]Rồi từ từ mới tới nữa. Còn có người thì hai đứa giận nhau vì buồn quá vô chùa, rồi cái từ từ cái cũng nghe mấy cô, mấy thầy cái giảng đạo, cái bớt buồn. Thì người đó đến với chùa bằng cái con đường đó. Rồi có người là ơ thấy ông thầy ổng hiền lành quá, ổng ăn chay mà không biết tu làm sao mà ổng ăn uống cực khổ, thấy ổng hiền lành cũng dễ thương, lân la tới ngồi hỏi chuyện, tức là do mến vị tăng mà tới chùa. Mỗi người đến với chùa một cách khác nhau. Nên cùng là một cái mái chùa nên cái tâm trạng mỗi người đến khác nhau thì nó phát sinh những cái quả báo khác nhau, cái sự phát tâm sẽ khác nhau.

[55:18]Cái người mà đi tìm chân lý á, tìm cái lẽ phải á, họ đến với chùa với cả một cái tâm trạng, cả một cái tìm tòi, suy tư, học hỏi, và những người đó họ được nhiều lợi ích từ nơi giáo pháp.

[55:42]Rồi Đức Phật nói như là Đức Phật khi xuất hiện giữa đời này là một bậc chứng đạo, khai đạo, thuyết đạo cho tất cả trời, người, a-tu-la cùng đến đây để nghe pháp. Nó giống như hình ảnh một cái trận mưa lớn mà xối xuống cuộc đời vậy, giống như vậy. Rồi Đức Phật xem xét theo cái sức, cái căn cơ của chúng sinh mà nói lên những giáo pháp làm cho người nghe được vui mừng, thực hành, thấm nhuần, hiểu biết.

[56:19]Có cái chỗ thế này: Ta là Đấng Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Người chưa được độ thời làm cho được độ, người chưa tỏ ngộ thì làm cho tỏ ngộ, người chưa an thì làm cho được an, người chưa chứng Niết bàn thì làm cho chứng Niết bàn. Đời nay và đời sau Phật đều biết đúng như thật, Ta là bậc Nhất Thiết Trí, bậc Nhất Thiết Kiến, là bậc tri đạo, bậc khai đạo, bậc thuyết đạo. Các ngươi hàng trời, người, a-tu-la đều nên đến đây để nghe pháp. Cái câu nói này đây là cái điểm tế nhị này.

[57:03]Cái câu này có giống như một sự khoe khoang không? Giống không? Cũng giống lắm chứ phải không? Cũng giống. Như một ông thầy nào mà xưng lên: "Ta là người đắc đạo", thì cũng giống như Đức Phật cũng tuyên bố mình là người đắc đạo thành Phật vậy, phải không? Hai lời này giống nhau. Nhưng nó khác nhau chỗ nào?

[57:28]Khác nhau là thật hay giả? Cái người thật á là người cái bản ngã không còn. Cái người này nói lên cái chỗ thành tựu của họ không vì để khoe khoang, không vì để cho mọi người cung kính mình, mà mục đích là để cho người khác phát tâm tinh tấn tu hành. Tức là dựng cái niềm tin cho mọi người. Nên khi mà tuyên bố về mình á, nó không hàm ý khoe khoang để cầu mong sự cung kính cúng dường, mà khẳng định để cho mọi người vững niềm tin mà tu. Đó, đây là cái khác. Nên đây là vì lợi ích chúng sinh mà nói về mình. Còn một người cái bản ngã chưa hết, một người cái bản ngã chưa hết, mà khi nói về mình nó có hàm cái ý mong được người ta cung kính,

[58:29]thì thì sao? Thì cái lời tuyên bố như vậy là là sai.

[58:39]Hôm nay về giảng pháp cũng báo cho Phật tử biết mình nghỉ vài tháng trị bệnh rồi mới giảng tiếp. Hôm nay cũng bệnh dữ lắm mà ráng về, giờ nói hết nổi rồi. Con là một Phật tử ở Mỹ về, thành ra mấy người bạn có nhờ con hỏi giùm Thầy những câu hỏi mà những người bạn bị kẹt trong vấn đề tu học. Thì cái câu hỏi số một, thì ở trong cái cuốn băng Ý Thức và Sắc Ngũ Uẩn, Thầy có nói về năm thức, thí dụ như nhãn thức vân vân, thì các sợi dây thần kinh giác quan là cái thức. Các Phật tử nghĩ rằng cái thức không sờ mó được, còn cái dây thần kinh là vật chất có thể sờ mó được. Như vậy hai hai vấn đề nó có mâu thuẫn với nhau hay không?

[59:31]Thật ra, cái hoạt động của tâm thức mình có hai tính chất: một là tính chất vật chất, hai là tính chất siêu nhiên hay tâm linh đó. Hiện nay á thì khoa học chỉ biết cái hoạt động của tâm thức hay tâm lý á trên hình thức vật chất của não bộ, của hệ thống thần kinh. Ví dụ như là cái đường truyền của cảm xúc nó đi theo hệ thống thần kinh, hay sự tiếp nhận những cái tín hiệu từ ở ngoài mắt, ngoài tai, ngoài da nó truyền ngược lên trên não như thế nào, thì hệ thống đó ngày nay khoa học họ nghiên cứu rất là kỹ. Cho nên mình tạm thời mà mình nói rằng cái tiếp nhận tín hiệu hoặc là hoạt động của tâm lý nó liên quan tới não bộ.

[1:00:12]Thầy dùng chữ liên quan. Liên quan chứ không phải tức là, không phải chính là. À, mà có liên quan. Nhưng mà cái cái hoạt động tâm thức mình á nó lại có hai mặt: một là nó dựa vào não bộ hay hệ thống thần kinh, hai là nó độc lập được với não bộ và hệ thống thần kinh. Đây là tính độc đáo. Nên đó là lý do ví dụ khi chúng ta còn sống á, mà chúng ta lệ thuộc rất nhiều vào não bộ. Nếu não bộ trục trặc, bảo đảm mình hư cái tâm mình liền. Nên có người sau khi bị té cái điên luôn, là vì não bộ hư, cái tâm hư luôn. Nên là vật chất nó ảnh hưởng vào trong tâm thức. Nhưng mà tâm thức nó cũng độc lập với não bộ.

[1:00:53]Bằng cớ là sau khi mình chết, não bộ hư thì cái linh hồn hay cái thần thức đó vẫn rất là tỉnh táo, biết rõ mọi chuyện. Ví dụ như cái người đó họ tạo nhiều tội thì khi họ chết họ mờ mịt, họ đọa lạc. Nhưng mà nếu họ không tạo tội, họ là một người bình thường thì họ vẫn tỉnh táo nhớ hết mọi chuyện, hoặc họ quá có phước thì khi họ thoát khỏi xác này họ lên cõi trời thì họ còn sáng suốt gấp ngàn lần bây giờ. Cho nên chúng ta có nói là tâm thức liên quan đến hệ thống thần kinh, hệ thống não bộ, nhưng mà nó vẫn độc lập. Thầy dùng chữ liên quan, chứ nó không phải tức là. Đừng có nghĩ rằng nó hoàn toàn không sờ mó được, nó có ảnh hưởng á.

[1:01:34]Mình ai đánh mình một cái mình bất tỉnh liền, hoặc là bị va chạm nặng có thể chúng ta tàn tàn mất trí nhớ lại luôn, ảnh hưởng vào tâm liền. Nhưng còn bình thường khi mình chết, não bộ hư hết, hoại hết rồi mình vẫn tỉnh tỉnh táo. Ở trong cuốn Ngũ Uẩn con coi cũng lâu rồi, thì con nhớ là khi người mất đó thì Thầy nói năm sắc, thọ, tưởng, hành, thức đều mất hết. Như vậy thì cái thức đó làm sao mình trở lại cái cái cái kiếp sau còn cái thức? À, cái này nó là cái hay: năm uẩn nó làm thành bản ngã. Mà thật sự á, khi mình chết cái thân chứ nó chưa chết một kiếp, nó chưa chết một kiếp. Ừ, nó chưa hết cái bản ngã đó, cho nên chưa có chết.

[1:02:21]Ví dụ mình tên là Nguyễn Văn Xoài, mình chết mình vẫn nghĩ mình là Nguyễn Văn Xoài. Nên bản ngã nó chưa hết, cho nên năm uẩn nó vẫn còn, là nó mất cái uẩn của cái sắc vật chất này nhưng nó lại có một cái sắc ấm mới, cũng có cái hình dáng hình dáng, còn cái thọ, tưởng, hành, thức nó vẫn chưa hết. Đây là một cái điều đặc biệt của cái cái thế giới gọi là siêu nhiên đó. Tức là đầu tiên là nó xuất hiện đồng thời với thân xác, lớn lên dần với thân xác, nhưng khi thân xác mất rồi nó lại tách ra độc lập, thời gian rất là dài. Theo nghiệp, có người là tồn tại trong cái cõi gọi là Thầy nói cõi ma, có khi trăm năm, hai trăm năm chưa đầu thai.

[1:02:58]Còn có những vị thiên tử sống lên cõi trời cả mấy ngàn năm, không sao hết. Nghĩa là cái ngã đó vẫn tồn tại. Còn khi có duyên mà vào kiếp khác á, lúc mà phải vào thai cha mẹ đó, lúc đó bản ngã đó mới mất á. Cái bản ngã đó mất là nó chuyển hẳn qua một kiếp khác. Khi mà bắt đầu tạo thành cái phôi đầu tiên á, mắt thường mình nhìn không thấy, cho nên cái chỗ đó thật sự là nó không có một cái linh hồn nào gá vô được hết. Tại vì cái linh hồn mình lúc đó cũng rất là lớn, mà cái noãn á của cái thai á, cái trứng cái phôi thai, dùng chữ phôi đúng hơn, cái phôi thì nó có nó mắt không nhìn thấy được, nên nó không tương xứng để gọi là cái thần

[1:03:34]thức gá vô trong cái trứng đó, không có thích hợp. Mà đây là một cuộc chuyển tiếp theo nhân quả rất là độc đáo. Khi mà cái duyên cha mẹ mà tới, cái phôi của mình mà thành đó, trước khi cái phôi nó thành đó là mình đã bị cuốn hút về cha mẹ đó rồi. Cái duyên, hoặc là do chúng ta chọn, hoặc là do cái duyên nó kéo, luôn luôn là mình hướng về hướng về người cha người mẹ đó, đã đến hết trơn. Nhiều khi chúng ta chọn, chúng ta có phước, chúng ta biết cha mẹ đó là người có đạo đức, ngày xưa có duyên với mình, đã có một lần giúp mình, thương mình gì đó, mà mình cái phước mình tương ưng, thế mình thích, thôi về chỗ nhà này được.

[1:04:11]Đó là trường hợp mình có ý chọn. Còn trường hợp có người không có ý chọn mà do nghiệp thì cũng bị cuốn hút cuốn hút về, tự nhiên mến thích mến thích gia đình đó. Đó, rồi về. Cho tới khi mà thành tựu được cái phôi thì do cái tâm mến đó, bắt đầu cái nhân quả nó ra tay một cái lần cuối cùng, một cái cú cuối cùng, làm cho mình bỗng nhiên trong đó mình chợt một cái mình mê mất luôn, quên liền. Mất một cái tự nhiên mình thấy mình mất tiêu luôn, mình mất ý thức luôn, là lúc cuộc sống mới bắt đầu nơi cái phôi. Không có ý thức gì hết, tại bộ não chưa thành lập xong. Cái phôi đó quá nhỏ, bộ não chưa có,

[1:04:45]mình đã trở thành cái phôi đó rồi, nên không còn biết gì nữa, mất luôn. Lúc đó từ từ cái phôi thành lập lại lớn lên dần lớn lên dần, não bộ hiện ra đủ, rồi sắc, thọ, tưởng, hành, thức mới bắt đầu hiện ra trở lại trở lại theo nhân quả. Và theo nhân quả này là nó không phải tạo thành một cái Thầy nói là cái cái hardware là cái phần cứng, là cái hệ thống tế bào, cái sự thông minh, này kia nọ, mà nó còn có cái software đi theo luôn, nó hình thành luôn theo nhân quả. Nghĩa là cả cái tính tình của mình luôn. Nghĩa là khi một con người được thành hình á, họ thành hình cả hai: cái phần cứng tức là cấu trúc cái khả năng của não bộ với cơ thể,

[1:05:21]cái phần mềm là cái tính tình cái khuynh hướng đi theo luôn, cũng tạo ra luôn. Đây là cái chỗ mình hay nói cha mẹ sinh con trời sinh tính. Cho nên cái này không do hoàn cảnh uốn nắn. Nghĩa là cha mẹ đẻ một lạt đứa con chứ mỗi đứa tánh khác hệt nhau, khác nhau hết, không đứa nào giống đứa nào, mỗi đứa một thế giới riêng. Cho nên là do cái nhân quả chúng ta đã tạo kiếp trước, cho nên khi mình xuất hiện trong thai, mình xuất hiện trong thai thì cả cái hardware, cái software đều đi theo hết luôn, cả tính tình mình cũng đi theo luôn, nên không có... Và lúc đó mình thành con người mới, một bản ngã mới, mình không còn nhớ mình là Trần Văn Xoài nữa.

[1:05:53]Lúc đó cha mẹ đặt tên gì theo duyên thì mình có cái tên mới đó để sử dụng, quên kiếp trước luôn. À, lý do quên là vậy đó, là do lúc đó không có một thời gian dài mình không có bộ não. Lúc cái phôi thai mới hình thành chưa bộ não, nên cái trí nhớ cũ nó không còn cái chỗ để nó gá, nó xóa, tạm thời xóa luôn. Chỉ còn nhân quả thôi, là lúc đó nhân quả điều khiển hết cuộc đời, điều khiển sự tiến triển của tâm hồn và thân thể mình luôn. Như vậy. Con hỏi thêm về cái vấn đề này: Khi mình mất đó thì tất cả những cái chủng tử đều phải trổ ra quả hết để vô cái để trong cái đời sống mới phải đợi có những cái duyên đó tiếp theo từng giây,

[1:06:33]từng phút, từng chủng tử, làm sao mà đổi tất cả để qua một cái đời sống mới được? Cái nhân quả mình rất là đặc biệt. Cái nhân quả mình á, ví dụ mình có bao nhiêu cái nhân quả, bao nhiêu tính cách, ví dụ như mình đã quy định mình thành con người hiền, mình nhưng mà trong cái hiền đó mình hơi bướng, trong cái bướng đó mình lại có cái độ lượng. Tức là một con người nó có nhiều cái tính chứ không phải là một tính. Và nó đều có đầy đủ trong đó hết trơn. Mình cứ lớn lên dần dần thì những điều đó cứ phát triển từ từ từ từ. Rồi khi mình gặp cái người này thì cái hiền nó hiện ra, mình gặp cái người kia cái bướng hiện ra,

[1:07:08]mình gặp một người khác thì cái độ lượng nó hiện ra. Là những điều đó trong con người mình có nó mới hiện ra, nhưng mà không phải nó hiện một lúc qua một kiếp sau á, lúc ra. Mà có những trường hợp có những cái nhân quả nhiều khi tới hai chục kiếp nó mới hiện ra. Có những cái nhân quả mà nó không đủ duyên, cái người đó người oán đối với mình nhưng mà tới hai chục kiếp sau mới gặp lại họ, và tất cả bắt đầu mới lặp lại, lặp lại để mình phải phải đối phó với một cái nghiệp nào đó, chứ không phải kiếp trước kiếp sau có liền. Có nhiều khi ví dụ như hai người có duyên oan trái nhau, một người đầu thai làm người còn người bay lên

[1:07:38]cõi trời tuốt trên, cả ngàn năm mới xuống lại. Rồi một ngàn năm sau, hai người đó mới gặp lại để xử lý cái nhân quả. Cái thời gian thật là linh động trong nhân quả nhưng mà rất là hợp lý. Dạ thưa thầy, câu hỏi thứ hai là cái câu vạn pháp do tâm tạo là thế nào? Làm sao tâm ta có thể tạo ra được núi, sông, biển, rừng? Nếu tâm tạo ra được tại sao tâm ta không tạo ra gạo, củi, thức ăn để đỡ cực khổ? À cái chữ mà vạn pháp do tâm tạo á, mình phải hiểu, hiểu ba mức, ba cái thế này, hiểu ba cái: cái thứ nhất là câu đó sai. Tại vì không thể là mọi thứ đều do tâm mình tạo, tâm chủ quan mình tạo. Ví dụ như là nếu trên thế thế giới này có nhiều người phải

[1:08:27]không, nhiều người muốn thế giới này tròn, người kia: "Thôi, tôi thích thế giới này ovan à", người nói: "Thích thế giới vuông à", ví dụ vậy thì thế giới này nó nổ tung liền do nhiều người có ý muốn. Cho nên thứ nhất câu đó là sai theo cái ý nghĩa như vậy. Nhưng mà câu đó đúng trên hai cái ý nghĩa như thế này: là mình phải hiểu tâm là một cái khác. Tâm là động cơ để tạo thành nghiệp chúng sinh. À từ vô lượng kiếp, chính những cái tâm này đã thương, đã buồn, đã giận, đã ghét và vô số chúng sinh với vô số những nghiệp mà họ đà tạo ra như vậy, nó nắn thành cái thế giới như thế này. Thì mình hiểu nó, tâm là khởi đầu của nghiệp,

[1:09:04]và nghiệp chính là cái chủ nhân để tạo thành muôn hình vạn trạng của thế giới và vũ trụ này. Tức là mình phải hiểu tâm xuyên qua cái nghiệp thì cái điều này đúng. Chứ tâm không phải là Thượng đế là direct, lập tức muốn là tạo thành, nhưng phải qua nghiệp và qua nhiều ngàn, nhiều triệu, nhiều tỷ năm. Mình hiểu như vậy. Còn mà hiểu theo một cái nghĩa khác nữa, mà tâm tạo tất cả như thế này nữa, tức là thế giới này sở dĩ mà có giá trị bởi vì có người biết tới nó.

[1:09:37]Ừ cái này nữa, ví dụ như thế này, ví dụ bây giờ mình nói cái cây thông, nếu mà không có một thi sĩ để biết nó đẹp, thì tự nhiên nó không đi vào bài thơ, nó không có giá trị, không ý nghĩa. Chính vì có chúng sinh sống dưới cái bóng thông này, có những con chim reo hót trên đó, có nhà thơ ca tụng cái cái cây thông đó, bỗng nhiên cây thông đó nó hiện diện rõ ràng, nó có ý nghĩa, nó có giá trị. Còn nếu trong thế giới mà hoàn toàn không có một con người nào hết, không có chúng sinh hết, chỉ có một cây thông hoặc là rừng cây, thì giống như nó vô nghĩa. Cho nên chính cái sự nhận biết, cái là chính vì vũ trụ,

[1:10:08]vì vạn pháp được nhận biết, cho nên giống như nó có giá trị để hiện hữu. Còn ví dụ như có vạn pháp đó mà không có ai biết tới nó hết thì nó có mà cũng như là không. Cái câu này nó có cái ý nghĩa là tương tác. Nghĩa là mọi sự tồn tại trên đời này chỉ có giá trị khi chúng ta có ích lợi cho người khác, khi chúng ta được tồn tại trong tâm của người khác, trong ánh mắt của người khác. À ví dụ như mình nói là à có người chồng nói: "Trong đôi mắt anh em là tất cả", nói với vợ vậy. Rồi nếu mà không có cái người đàn ông này thì người đàn bà này giống như là không có giá trị. Hoặc là trong trong đạo mình nói là mình mình sống trên đời này là vì tất

[1:10:49]cả chúng sinh, lại không có chúng sinh này cuộc sống mình vô nghĩa. Cho nên cái câu mà tâm tạo ra tất cả là ý nói rằng chính nhờ có cái tâm, có sự nhận thức mà bỗng nhiên tất cả có giá trị hiện hữu, có giống như là được tồn tại thêm một lần nữa. Chứ còn nếu không có chúng sinh để nhận biết cái vũ trụ này thì vũ trụ này có mà cũng như không. Nếu mình phải hiểu theo nghĩa như vậy. Chứ còn mình hiểu theo nghĩa mà như mình nói chủ quan tâm muốn gì hiện ra cái đó là ý nghĩa đó sai, không giải thích được, nó đưa tới bế tắc, bí lối và không giải thích được mọi điều gì hết. Câu hỏi thứ ba là làm sao phân biệt được cõi vô hình do chủ quan hoặc khách quan?

[1:11:29]Thầy có thể, thầy có thấy được không hay thầy nói do suy luận? Nhiều người nói thầy giảng như thầy thấy chắc 100% rồi. Hông, thầy đâu có nói thầy thấy chắc 100% đâu. Thầy đâu có phép đâu mà thấy cõi siêu hình. Nhưng đây là những đạo lý, à thầy nói theo những đạo lý. Đạo lý là thế, luật nhân quả là thế, cho nên đương nhiên nó phải ra như thế. Giống như chưa bao giờ mà thầy cầm được một tỷ đồng, nhưng mà vì thầy đã cầm được hai tờ năm ngàn đồng, à trong cuộc đời thầy đã có lần thầy cầm được hai tờ năm ngàn đồng và thầy biết nếu cứ cộng riết như vậy thì nó sẽ tới một một tỷ, cho nên thầy cũng nói chuyện một tỷ cho người

[1:12:09]ta cho người ta nghe, người ta tưởng thầy có một tỷ, không có, thầy có hai lần năm ngàn là có mười ngàn à. Còn nếu ai cho thầy thêm hai, hai chục ngàn nữa cái thầy nói chuyện hai, ba tỷ. Thì cuộc sống này cũng vậy. Ví dụ như là mình tâm là như thế, thân là như thế, nhân quả như thế, luân hồi như thế, là cái sự tồn tại như thế, sự chết chóc như thế. Khi mà tất cả mọi yếu tố đó thầy biết hết rồi thì tự nhiên những chuyện của thế giới siêu hình thầy biết hết. Thầy biết hết, biết như là họ hiện trước mặt thầy vậy. Và vì vậy đó là lý do mà mà thầy thương yêu cái thế giới siêu hình lắm. Rồi trước hết là sao?

[1:12:47]Ví dụ đối với người cõi Trời thì thầy rất là kính trọng tại vì thầy biết họ như những vị thánh, họ sống rất là tốt họ mới lên cõi Trời. Nếu mà họ họ hiện ra đây trước mặt mình với cái tâm hồn như thế, với nhân cách, mình kính phục liền, mình lễ lại liền những vị trên cõi Trời. Còn đối với những người mà gọi là ngạ quỷ hay địa ngục hay là những cái vong mà lếch, nó lẩn khuất thì mình lại rất là thương, vì mình hiểu họ có một sự tồn tại và họ thiếu thốn, họ đau khổ, họ cần sự giúp đỡ. Mà trong khi loài người mình thì cứ cứ tránh né, hễ ai nói tới cõi siêu hình thì mình ngại, sợ. Chính vì mình không biết về họ, cho nên mình làm họ buồn rất là nhiều,

[1:13:24]mình không quan tâm, giống như là mình sống trên đời này mà mình không quan tâm đến những người nghèo khổ vậy đó, nó cũng là một cái thiếu sót. Cho nên vì vậy thầy luôn luôn kêu gọi mọi người phải thương yêu thế giới siêu hình là vậy. Thứ nhất là giúp đỡ họ vì họ cần mình giúp đỡ. Ừ như chuyện vừa rồi á có cô Diệu Hòa á, cô lãnh cái chùa mà cái chùa ma, khóc. Chùa ma mà không một người nào trong mười mấy năm mấy chục năm nay không một người nào ở đó một đêm được, kể cả mấy ông thầy. Nghĩa là hễ mấy ông thầy nào vô đó ở thì khoảng tới mười giờ mười một giờ là ôm gói đâm đầu chạy ra khỏi chùa, ra nhà hàng xóm xin ở chứ không dám ở.

[1:13:56]Mà vô ngủ trưa là hất văng xuống đất luôn, hoặc là người đó mở cửa đi là một bàn tay lạnh vuốt từ trên đầu xuống tới lưng là đâm cửa chùa chạy ra mất, không dám ở lại. Thì có một thầy đó ổng ở, ổng không ở được trong chùa ngày nào, ổng mới ra cất cái cốc bên cạnh chùa ổng ở, vẫn là trụ trì chùa đó nhưng không bao giờ vào chùa được, chỉ cất cái cốc bên chùa. Và ổng nói những cái lời coi thường cái người người âm, à đến khi họ họ giận, họ vật ổng một cái, ổng nằm luôn sáu năm nay không nhúc nhích nổi. Người ta cứ nói là tai biến nhưng sự thực là bị. Thì cô Diệu Hòa cô về là cô vậy, cô cũng bị phá phách.

[1:14:29]Nhưng mà sau đó cô đem kinh chùa mình ra tụng thì đêm đó cô nghe tiếng vỗ tay rồi họ hiện ra là người sứt đầu, sứt tai, sứt chân chật cứng chùa luôn vậy đó. Cô hỏi: "Bộ đây trước nuôi toàn tàn tật hả?", nói: "Không, chúng tôi là chiến sĩ." À thế sau đó cô cúng cơm rồi thầy mới khuyên là về phải bày ra cúng thật nhiều tại quá nhiều năm họ đói, quá nhiều năm là không ai cho họ ăn. Ừ bây giờ là phải cúng cho họ ăn và tụng cầu siêu cho họ. Rồi thầy hứa là chùa mình sẽ lên đó để tụng hỗ trợ thêm, sẽ bày ra cúng thật nhiều, cúng ê hề cho ăn một một bữa thoải mái như vậy. Khi bắt đầu mà cô làm theo thầy như vậy thì tự nhiên những cái nhà

[1:15:06]chung quanh mà đặc biệt là có cái nhà Thiên Chúa giáo, Thiên Chúa giáo đâu có tin đạo Phật, mà cái người đó chết nhập vào trong cái gia đình, là người thân trong gia đình Thiên Chúa giáo nhập vào, bắt phải đưa lên chùa nhờ sư cô đó tụng cầu siêu. Rồi một gia đình Cao Đài cũng nhập vào người nhà mình, bắt phải đưa lên chùa cho tụng cầu siêu. Thì cái ông thầy mà nào giờ chê bai cái chuyện siêu hình á, bắt đầu nhìn mới thấy. Nếu nó là một chuyện mà tưởng tượng, huyễn hoặc thì không thể có một người mà đạo Thiên Chúa mà đành phải đưa cái người nhà mình đến chùa cầu siêu hết. Tại vì họ tự ái tôn giáo, nhưng ở đây vì họ bị nhập

[1:15:44]bắt buộc, cho nên đó là những chuyện có thật. Mà cái người người ở cõi siêu hình á, nhất là những cái vong á, có một điều mà làm họ buồn nhất là người sống không công nhận sự tồn tại của họ, không có gì làm họ buồn bằng điều đó. Cho nên họ hiện hữu và họ luôn luôn muốn được nhận biết, muốn được tôn trọng nhưng mà loài người mình thờ ơ quá, nó làm cho cái con người mình mất từ bi mà họ thì khốn khổ. Vì vậy thầy hay dặn các phật tử của thầy cứ siêng phải cúng thí thực mỗi ngày cho họ ăn vì khắp nơi chung quanh mình đâu cũng có người âm. Mà nếu mình làm được điều đó thì cái thế giới loài người mình tự nhiên cũng được phước, no đủ và bình yên.

[1:16:22]Thầy không phải là thầy thấy 100%, tại đôi mắt thầy cũng hổng có cái ít khi đeo kiếng á, thầy không thấy gì nhiều hết, nhưng mà thầy theo nhân quả, theo đạo lý thì nó phải như thế, không thể khác được. Giống như vậy, cũng như từ hai với hai là bốn, hoặc là từ mà hai đường thẳng là song song thì không bao giờ gặp nhau, vân vân, những nguyên tắc toán học như vậy mà cuối cùng chúng ta giải được những bài toán cực kỳ phức tạp. Thì vậy cũng là từ những cái căn bản mà chúng ta hiểu được hết mọi điều của vũ trụ. Dạ đúng rồi.

[1:16:56]Dạ câu hỏi thứ tư là ở trong tám cái thức dùng thức gì để tu? Dùng ý thức để tu. Ý thức là chính. Năm cái thức kia đó là mình nhận biết thế giới bên ngoài, nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân á mình biết thế giới bên ngoài. Còn ý thức là cái biết chính nội tâm của mình. Ví dụ khi mình suy nghĩ, mình vẫn có một cái biết mình đang suy nghĩ. Khi mình buồn, mình vẫn có một cái biết mình đang buồn. Mình vui, mình biết mình đang vui. Thì cái biết chính nội tâm mình gọi là ý thức. Thì cũng chính cái đó đó là cái bắt đầu của sự tu hành. Biết để kiểm soát nội tâm, nhờ cái ý thức mình mới có thể kiểm soát nội tâm.

[1:17:39]Nhưng cái bài vừa rồi trong cái thiền mà thầy dạy ở Long An á thì có ra cho một cái ví dụ là ví dụ như mình ngồi mình xem một đám con nít nó nhảy múa nó chơi đùa. Có khi mình chỉ đứng mình nhìn thôi, nhưng có khi mình nhào mình nhảy vô mình chơi với nó. Nhưng rồi một lát mình nói: "Ồ, mình lớn rồi chơi kỳ quá", cái thôi mình tách ra mình nhìn nó chơi. Rồi một lát cái mình bị thấy nó chơi vui quá cái mình lại nhảy vô mình chơi với nó. Thì cái ý thức mình cũng vậy á. Tức là bên trong cái mình thấy những cái vọng tưởng của mình nó lăng xăng, nó nhảy múa nó nghĩ chuyện này chuyện kia. Rồi có khi cái ý thức cũng nhập chung vô,

[1:18:10]mình cũng nhập chung vô với ý nghĩ đó để mình trôi lan man hết nơi này tới nơi kia. Có khi mình tỉnh mình tách ra, mình nói: "À, nãy giờ là cái sự suy nghĩ", là lúc ý thức tách ra. Nhưng có khi ý thức mình lại bị lôi, mình nhập chung với những cái ý nghĩ để mình trôi đi miên man, mình quên mất. Thất niệm á, mất chánh niệm. Nhưng có khi mình lại tách ra, mình nhìn thấy những cái suy nghĩ đó mà mình không suy nghĩ theo nó, gọi là lúc đó mình chánh niệm tỉnh giác. Nó vậy, khi mình nhảy vô nhảy ra, ý thức như vậy. Nhưng mà nếu luôn luôn mình tách ra, mình không có nhập chung với cái ý nghĩ nữa, ý nghĩ tự nhiên nó sẽ yếu dần yếu dần cho tới khi nó tắt.

[1:18:43]Nó tắt nhưng mà do nó không phải tắt vĩnh viễn nên có khi nó khởi lên lại. Vậy cũng như vậy, mấy đứa nhỏ nếu mình nhảy vô mình chơi đùa với nó thì nó rất là hứng thú, nó sẽ chơi dữ dội. Nhưng mà nếu mình tách ra mình nhìn nó thì tự nhiên nó mất hứng, nó nó giỡn yếu dần, yếu dần, yếu dần. Thì cái vọng tưởng mình cũng vậy và ý thức cũng vậy. Cho nên trong việc tu hành thì rất là nhiều cái phương pháp để tu. Ví dụ cái biết mình dùng cái biết, cái cảm nhận để mình theo dõi hơi thở, mình biết toàn thân, hoặc mình dùng cái lý luận để quán thân vô thường. Nhưng mà khi lên cao lần lần nó tới cái cái mốc rồi thì

[1:19:15]ý thức lại là chính, biết tâm mình lại là cái chính. Dạ câu hỏi thứ năm là về sự giấu kín của những thành quả của sự tu luyện để tránh sự khoe khoang, nhưng thật ra nếu biết được những kết quả tốt của sự tu tập cũng rất khuyến khích mọi người trong việc tu hành. Thầy có thấy như vậy không? Thầy cũng thấy như vậy, nhưng mà tiếc rằng thầy không có gì để khoe á, cho nên thôi thầy nín luôn chứ làm sao bây giờ? Còn ai có gì nói ra thầy nghe, để thầy được khuyến khích coi. Sự thật cái điều đó rất là nguy hiểm, mà không phải riêng cái sự tu tập mà rất nhiều điều trong cuộc sống này. Ví dụ khi cái đức mình không đủ, cái phước mình không đủ mà mình lộ ra những

[1:19:57]cái hay của mình thì những điều đó rất chóng qua, rất chóng qua. Ví dụ như là một cái người đó gặp ai cũng dễ chiếm được cảm tình người khác, một thời gian họ cảm nhận họ có khả năng đó. Rồi khi họ tự khen họ, rồi họ đi khoe người khác thì hai ba lần sau tiếp xúc người khác người ta không ưa nữa, mất liền, không phải riêng trong sự tu. Rồi nhưng mà trường hợp mà họ phước họ rất dày về việc đó thì họ khoe nó không mất liền, nó phải khoe chừng hai ba năm sau bắt đầu mới hết. Ăn thua cái phước mình nhiều ít nữa. Cũng vậy cái công phu tu tập của mình mà nếu mà mình mỏng mà mình khoe ra mình mất rất là lẹ.

[1:20:38]Mà nếu công phu tu tập dày rồi thì mình khoe không mất liền, mấy năm sau mới mất. Mà nó mất rồi mà khoe thì nó không bao giờ trở lại nữa, nó mất luôn. Cho nên cái việc mà khoe khoang thật là nguy hiểm đối với sự tu hành. Nên vì vậy cái hay nhất của người tu á mình làm lợi ích cho chúng sinh được mà vẫn giữ được cái sự tu hành của mình á là mình giữ tư cách thôi. Giữ tư cách thôi. Tức là người ta nhìn mình người ta cảm thấy mình có gì hay hay, hình như tu khá khá, mà không biết tu tới đâu, hỏi thì không nói, mà thấy hay hay cái người ta ráng tinh tấn người ta tu theo được. Chỉ như vậy thôi. Chừng nào mình thành Phật rồi thôi muốn nói gì đó nói. Không sợ mất nữa.

[1:21:15]Trường hợp của con thì có những người bạn mà con muốn khuyến khích người ta đi tu tập này kia thì con hay nói để những cái kết quả tốt đẹp của cái sự tu tập. Chứ tâm con không nghĩ là khoe. Như chẳng hạn như con nói: "Ờ, thì mình cứ tu đi thì như nước đục mà nó lắng thành trong thì mình sẽ thông minh hơn". Dạ, đó con nói như vậy. Nói vậy đâu phải khoe, chừng nào nói: "Tôi tu, tôi lắng được nước đục, tôi thông minh hơn" là mình khoe. Còn mình nói nguyên tắc tổng quát thì không phải khoe. Hoặc là mình kể của người khác, mình đổ thừa qua người khác, vậy thì được, không sao. Chừng nào có chữ "tôi" trong đó mới khoe.

[1:21:58]Hình như con nói có "tôi" á. Dạ câu hỏi thứ sáu: Lúc tế bào thai nhi manh nha cực nhỏ, thần thức cộng với nhân quả không thể nhập vào. Thần thức và nhân quả không hình không tướng thì không có lệ thuộc vào một hình tướng nào cả. Như thế hai chuyện này có trái ngược nhau không? Cái cái thần thức lúc đó là biến mất. Giống như là mình chết thực sự đó, lúc đó mới chết thực sự, biến mất luôn. Thì cái sự sống mới ngay lập tức nó hình thành nơi cái phôi mới liền, phôi mới. Còn nhỏ gì nhỏ thì nhân quả vẫn chi phối được hết. Nhân quả siêu hơn tất cả mọi điều chúng ta biết. Cho nên nhân quả là đi tới chỗ cực kỳ nhỏ, cực kỳ nhỏ.

[1:22:48]Cho tới khi nào mà tới tận bản thể của vũ trụ luôn là tận tới cái điểm tột cùng để cái nhỏ đó nó trở thành toàn thể vũ trụ, lúc đó chúng ta mới chạm được tới luật nhân quả. Cho nên khi mà cha mẹ gặp nhau, lựa chọn trong các gen, các nhiễm sắc sắc thể, chromosome á, thì đã chọn xong rồi. Tức là sắp xếp từng gen từng gen cho con người đó hết rồi. Rồi chúng ta thấy nhân quả chọn hết. Đối với mình là nhỏ nhưng đối với nhân quả vẫn là quá lớn. Những cái chromosome, những cái gen đó vẫn còn là quá lớn. Nhân quả sắp hết. Chứ luật nhân quả không phải là là là chỉ nhỏ có mới chi phối được lớn đâu, luật nhân quả thâm thấu hết, chi phối được hết toàn bộ mọi điều.

[1:23:31]Như chúng ta sinh ra mà mắt mình lé, môi mình xệ là sao thì xong hết, nhân quả sắp xếp hết. Tất cả đều công bằng. Dạ thưa thầy câu số bảy: Nói về chánh mạng và chánh nghiệp, làm những nghề ghê gớm thí dụ như là đao phủ, nhưng nếu tâm không cảm thấy sợ thì không có nghiệp báo hay sao? Sao không? Sợ hay không sợ gì cũng có nghiệp hết trơn á. Không sợ, lì nữa còn nghiệp nặng nữa. Cho nên thật ra mỗi cái nghề của mình á nó đều là một cái nghiệp, làm cái điều gì mình đã chọn ở kiếp trước á. Ví dụ như mình thấy người ta bệnh, mình xót xa, mình muốn chữa bệnh, thì lại cái nhân để kiếp nào làm bác sĩ.

[1:24:11]Tức là chị á. Có thể là chị kiếp nào chị cũng hay day dứt về cái bệnh tật người ta, có thể mình làm bác sĩ. Nó là cái nghề nghiệp của mình. Còn cái có một người nào đó nói thiệt mấy thằng trộm cướp tao thiệt đem ra chặt đầu nó hết cho rồi. Nói một câu đó rồi thì kiếp nào đó sẽ làm đao phủ. Tức là cái nghiệp từ cái ý của mình chứ không chi không đâu. Và mà chúng ta thấy ví dụ như từ một cái ý của người đao phủ là giận cái người xấu, phải không, từ ý giận, rồi qua kiếp đó làm đao phủ thì trong cái đao phủ đó đó mà nếu người này giết người có cái tâm thích thú thì nghiệp thành rất rõ, nghiệp đã thành rất rõ.

[1:24:54]Tức là được giết cái người ác thỏa mãn, vừa thỏa mãn cái tính hiếu sát của mình, vừa thỏa mãn cái tâm giận người xấu của mình thì kiếp nào đó họ sẽ không được tha thứ. Còn nếu mà họ cái nghiệp đao phủ mà lúc đó họ biết đạo thì họ nói giờ theo lệnh họ phải làm, tại vì khiến dồn vào không có nghề nào làm hết, chỉ còn nghề đó thôi. Khi mà nghiệp nó đã dí mình rồi thì mình không có chọn cái nghề nào khác được, tự nhiên đưa tới đưa lui rồi lọt vô đó. Như nhiều người cai tù á, đưa tới đưa lui rồi phải lọt vô làm nghề đó. Bỏ nghề đó tự nhiên thất nghiệp không có tiền, chỉ được một nghề đó thôi. Nghiệp nó dí mình rồi, nó dồn mình vào rồi là chỉ con đường đó mà đi.

[1:25:30]Thế là làm, nhưng mà khi làm cái bấm nút hay là bấm điện để giết người ta đó lòng mình có cái xót xa, tội nghiệp thì nghiệp nó giải lần lần, giải lần lần, giải bỏ cái nghiệp đó, mai mốt hết. Cái tâm mình lúc đó lại rất là quan trọng. Còn ví dụ như một người làm bác sĩ cũng vậy. Là do đời trước có cái thương người bệnh nên bây giờ cái mình khiến lọt vào nghề bác sĩ. Mà khi làm nghề bác sĩ á mà nếu trong đó mình có cái thương người bệnh thì cái phước nó cứ tăng lên. Cái nghiệp nó dí vô đó rồi, nhưng mà cái nghiệp đó lại là có thêm cái tâm thiện nên nó thành cái nghiệp lành, cái phước lành. Nhưng mà nếu mình làm bác sĩ mà lúc đó mình lại có một lý do gì mất đạo đức,

[1:26:07]mình vì tiền nhiều hơn hay là mình khinh người bệnh vân vân thì cái phước nó mất dần mất dần, mai mốt mình lại lạc qua đi qua một con đường khác, vậy á. Cho nên từ một cái ý niệm gì đó nó đưa mình đến cái nghề. Đó ý nghiệp nó tạo cái nghiệp đưa đến nghề, rồi trong cái nghề đó tùy cái tác ý của tâm mình mà mình sẽ bắt đầu thành phước hay thành tội sau đó nữa. Nó phức tạp hơn nhiều. Câu: "Con gái nhờ đức cha, con trai nhờ đức mẹ" có đúng với tinh thần nhân quả hay không? Và con cái câu thứ chín cũng hơi giống như vậy là: "Hình như con trai yêu thương mẹ hơn, con gái yêu thương cha hơn, phần đông như vậy, tại sao?".

[1:26:45]Chắc là tại quy luật âm dương ha, luôn luôn như vậy. Đúng là cái trong con người mình cái cấu tạo của nhiễm sắc thể nó tạo thành một loại điện á, nên có những lý do là thuộc về những cái điện vô hình giữa nam và nữ. Còn con gái nhờ đức cha, con trai nhờ đức mẹ thì theo nhân quả thì nó không chính xác lắm nhưng nó có đúng một phần thế này. Ví dụ như một người cha mà sống đàng hoàng thì con gái hưởng được cái sự đàng hoàng đó nên cuộc đời cũng sẽ ổn định hơn, như vậy. Nếu người cha sống lăng nhăng bừa bãi thì sẽ chứng kiến được thấy con gái mình sẽ bị lận đận khổ sở trong đời sống hôn nhân. Thường thường là như vậy. Thầy thấy chỉ thấy nhân quả chỗ đó thôi.

[1:27:30]Chứ còn những cái điều khác thì dường như không. Dường như là con á đều hưởng chung phước của cha mẹ, tại vì cha mẹ tâm lành chung thì con được hưởng chung. Câu hỏi thứ 10 này thì con nhớ Thầy có giảng ở trong cái băng Từ Bi và Trí Tuệ, nhưng đầy đủ về đề tài Hiểu và thương hay Hiểu để thương cũng có nghĩa là Từ Bi và Trí Tuệ. Thầy thì Thầy chủ trương là thương trước hiểu sau. Từ bi trước cái trí tuệ sau trong cái nhân quả, tại vì Thầy nghiệm cuộc đời Thầy nó vậy. Nhưng mà nó sẽ có một cái ngược lại. Thế này nè, trước hết có ví dụ có người mấy vị thầy muốn hỏi Thầy về cái diễn giảng làm sao để có đạo lý để mà tìm đề tài mà giảng,

[1:28:19]tại vì thấy là đâu phải là đề tài nhiều mà có thể tìm ra giảng hoài. Mà thấy Thầy hay có đề tài là lạ giảng á. Lâu lâu tự nhiên thấy bên lở bên bồi cũng giảng được, đất cũng giảng, rồi sỏi cũng giảng, rồi lửa cũng giảng, rồi tức tức là nhiều đề tài thì người thấy người ta đi mà gắn bánh xe đó, người ta thay bánh xe thì cũng giảng được một bài, thấy cũng là lạ. Hỏi Thầy làm sao tìm? Thì Thầy nói thật ra Thầy cũng không biết đâu, nhưng mà Thầy chỉ biết có một điều là Thầy Thầy rất thương yêu con người. Là từ nhỏ vậy, từ nhỏ là Thầy thấy nếu sống trên đời mà không ai thương ai thì cuộc đời này thôi chết cho rồi sống làm chi?

[1:28:55]Chỉ vì có cái tình thương mà chúng ta nên sống giữa đời, nên từ đó Thầy cứ hay suy tư, hay tìm tòi và sống như vậy, sống như vậy. Mà cái lòng thương càng lớn lên thì cái nó nó hay bận tâm nhiều chuyện cuộc đời, chuyện con người, chuyện thế giới, chuyện Phật pháp, chuyện đủ thứ, là cái bận tâm á. Khi mình thương ai mình sẽ bận tâm về người đó. Mình thương một người mình cũng bận tâm một người, mà thương hết thế giới mình cũng bận tâm hết thế giới. Mà chính cái bận tâm đó, chỗ đó nhân quả tác động. Chính cái bận tâm về con người với lòng thương yêu á thì bắt đầu nhân quả tác động vào tâm mình mở ra trí tuệ liền, làm cho mình hiểu được nỗi khổ của

[1:29:31]người đó, hiểu được những vấn đề khó khăn mà người đó phải đối phó. Và khi mình thấy được những vấn đề đó, bỗng nhiên mình muốn tìm một cách để giải quyết. Và giáo lý bắt đầu mở ra. Mọi người có thấy cái logic đó không? Chính là điều đó đó, chính vậy thôi. Cho nên để làm một giảng sư trong Phật pháp thì trước hết hãy thương yêu con người thật lòng, thương yêu sâu đậm, thương yêu thật lòng, rồi bỗng nhiên sẽ có vô số bài pháp mở ra. Còn nếu mình chưa thương yêu con người mà mình chỉ muốn có những bài pháp cho hay để mình nổi thì sẽ thất bại, không thành công, nó không có đề tài gì tìm ra hết. Vì vậy Thầy chủ trương là thương trước hiểu sau.

[1:30:10]Đầu tiên mình chưa có trí tuệ thì mình vẫn có trái tim, hãy tập thương yêu, hãy thương yêu, hãy tập thương yêu. Và cứ nuôi dưỡng như vậy, lúc đó lần lần rồi mình sẽ thấy trái tim nó sẽ lớn dần lớn dần, rồi mình cái tâm mình tự nhiên trùm hết à. Hồi đó lúc mà Liễu Nguyên còn sống á Thầy nói câu này, Thầy nói câu là: "Thế giới trong trái tim Thầy", không biết có nhớ không ta? Có ai nghe không ta? Hình như không ai gật đầu hết trơn. Thầy nói câu "Thế giới trong trái tim Thầy", bởi vì Thầy Thầy thương yêu cả thế giới này và làm cho Thầy tự nhiên thấy bận tâm cái nhiều chuyện của thế giới. Và khi Thầy bận tâm nhiều chuyện của thế giới thì bỗng

[1:30:43]nhiên đề tài nó cứ mở ra, đề tài nó cứ mở ra hoài.

[1:30:49]Nhưng mà Thầy thấy Thầy giảng hoài nó cũng kỳ á, nó cũng nhàm để người ta ghét á. Thầy nghĩ lúc nào chắc cũng phải nghỉ. Mà bây giờ thì cái tuổi của Thầy nó cũng lùng lừng sừng chưa có nghỉ được, không biết sao. Đến đợi đệ tử Thầy giảng được rồi để nuôi Thầy được rồi Thầy nghỉ, ở nhà Thầy làm thơ, làm nhạc cho vui, hình như chưa tới tuổi nghỉ hay sao. Còn cái mà biết để thương yêu thì thế này, thật ra nó không có cái thương yêu làm nền tảng thì cũng khó. Thường thường mình nói theo một cách lạc quan á, tích cực thì nói thế này: ví dụ như mình thấy một người đó họ họ họ hằm hằm cái mặt của họ, mà họ gay gắt, họ khó chịu,

[1:31:25]thì nếu mà mình nhìn sâu và mình biết thì thật ra là họ vừa trong bụng họ thì đang đau bụng, mà lại có ai vừa mới chọc giận họ, nếu mình biết được điều đó tự nhiên mình có cái thông cảm. Thì cái thông cảm chính là thương á, tức là biết rồi sẽ thương. Nhưng mà sự thật là nó cũng có cái nền là mình có cái độ lượng trước đó, cho nên mình biết mình thương. Còn mà mình không có cái độ lượng á, nhiều khi biết chứ mình vẫn chửi người ta thêm nữa. Nói thì có gì từ từ nói chứ hằm hằm, ví dụ vậy. Nên thật ra cái thương yêu vẫn làm nền, nên Thầy không thích hiểu rồi thương, mà Thầy thích thương rồi hiểu.

[1:31:58]Thương rồi hiểu. Mà cái thương rồi hiểu nó là đúng nền, nó đúng nhân quả. Mà trái tim thì ai cũng có sẵn, còn cái biết, cái hiểu, cái trí tuệ đôi khi có người có ít, người có nhiều. Nhưng trái tim thì ai cũng có sẵn, nên mình phải tu trái tim trước, rồi cái bộ óc sẽ mở ra sau. Dạ thưa Thầy con còn một câu chót nữa. Có một buổi con đi nghe thuyết giảng mà con hơi thắc mắc nhưng mà con không có kịp hỏi người vị giảng sư đó. Thì vị giảng sư đó có đưa ra một cái thí dụ là có một người Phật tử người Mỹ thì họ là cũng như là một nhà khoa học. Họ làm việc về nguyên tử này kia. Họ không có tu hành, nhưng mà tới một lúc nào

[1:32:49]thì người đó thấy là cái thân người đó là cũng Không, cái nguyên tử nó cũng Không, cái nhà cũng Không, vợ họ cũng là Không. Nghĩa là cả đời của mình, mình ngồi thiền để mình tìm thấy cái lý Không đó mà không được, cái ông này là không có ngồi thiền gì hết mà ổng thấy được lý Không. Nhưng mà sau khi thấy như vậy, đó là Vô sư trí thì phải là tốt đẹp lắm, nhưng mà ông đó trở thành cái người rất là bi quan, người đó chỉ muốn tự tử thôi. Thì gặp vị giảng sư đó, thì vị giảng sư đó mới khuyên rằng là: "Nếu anh thấy cái gì cũng là Không hết thì anh nên lấy cái tiền bạc của anh, anh đi cho những người nghèo khổ đi thì coi nó ra làm sao".

[1:33:41]Thì cái người Phật tử đó thực hành như vậy thì một khoảng thời gian sau thì tinh thần của cái người Phật tử đó được ổn định, cân bằng và từ đó đi theo đạo luôn. Thành ra con không có dịp hỏi người giảng sư, con nghĩ rằng như vậy thì cái Hữu sư trí nó quá cần thiết cho cái cuộc đời tu tập của một người. Còn cái Vô sư trí đó nếu mà không có cái nền tảng Hữu sư trí thì có làm được việc gì hay không? À cái trường hợp mà cái ông kỹ sư đó, ông ông thấy cái nguyên tử rỗng rồi ông nhìn tới cuộc đời đều rỗng thì không phải là là là Vô sư trí đâu, không phải Vô sư trí. Tại Vô sư trí nó làm cho người ta có cái định hướng rất là tốt, nó sáng suốt, nó ổn định và nó phát triển.

[1:34:35]Cho nên việc ông thấy tất cả rỗng để rồi ông suy sụp thì không phải là Vô sư trí. Ở đây cái nguyên nhân của ông là nó khác với cái người Phật tử là thế này: chúng ta có được một Đức Phật chứng ngộ huy hoàng, nên khi nghe Đức Phật nói về cuộc đời là vô thường, là Không, thì chúng ta bên cạnh cái Phật nói về vô thường, về Không, chúng ta cũng thấy cái sự chứng ngộ vinh quang của Đức Phật. Cho nên chúng ta tin đằng sau những lời nói có vẻ dường như có vẻ bi quan là cái sự giác ngộ vinh quang đang chờ đón. Vì vậy chúng ta không có bị suy sụp, mà lại thêm hy vọng. Là thấy cuộc đời vô thường, thấy tất cả đều hư ảo,

[1:35:19]nhưng chúng ta luôn có cái hy vọng về một sự chứng ngộ vinh quang về sau, nên mình không bị suy sụp. Cái may mắn chúng ta là chúng ta có Đức Phật. Còn ông kia ổng không có Đức Phật, nên khi ổng thấy cái gì cũng rỗng: nguyên tử rỗng, rồi con người được cấu tạo bằng nguyên tử rỗng, rồi vợ cũng rỗng, con rỗng, nhà ổng cũng rỗng, tất cả đều vô nghĩa, mọi sự tương tác thương yêu giận hờn con người chỉ là những điều rỗng, mà ổng không thấy được phía sau đó là một sự chứng ngộ huy hoàng, cho nên ổng bị depress. Vì vậy đó, nên chúng ta may hơn ổng, mình có một Đức Phật. Bây giờ mình cho ổng một Đức Phật thì ổng sẽ thoát ra liền, ổng sẽ vươn lên liền.

[1:35:53]Đó là cái thứ nhất. Cái thứ hai nữa, cái ổng thấy nguyên tử rỗng là ổng thấy chưa thấy thêm nữa, phải thấy cho tới chỗ cực nhỏ của vật chất là gì. Bởi vì khi mà tìm thấy được bản chất của vật chất thì ngay lúc đó chúng ta hiểu được bản chất của vũ trụ luôn. Mà hiểu được bản chất của vũ trụ thì chúng ta biết không đơn giản. Từ một cái nhỏ nhất cũng trở thành một cái toàn thể vũ trụ, trong đó đầy chứa cả cái từ bi, trí tuệ và sự công bình của nhân quả. Cho nên người đó sẽ trở thành Đấng Giác Ngộ. Nhưng mà đó là cái sự giác ngộ á phải tâm chứng đàng hoàng. Còn đây ổng nhìn quan sát bằng cái đôi mắt bên ngoài,

[1:36:28]bằng các thiết bị điện tử kỹ thuật, thì ổng chỉ hiểu có cái gì nó nhỏ nhất mà ổng chưa tìm tới, chứ ổng không thể nào cảm nhận được cái cuối cùng cái nhỏ nhất lại chính là toàn thể vũ trụ, chưa tới mức đó. Mà khoa học hiện nay cũng chưa tìm tới cái nhỏ nhất. Cứ đi tìm mà chưa bao giờ thấy được cái nhỏ nhất, chưa bao giờ thấy được cái nhỏ nhất cho nên chưa bao giờ khoa học biết được bản chất của vũ trụ. Chỉ thấy vũ trụ như là một khoảng không bao la trong đó có nhiều vật chất, chứ không biết cái vũ trụ nó còn cái tính chất đa chiều, giao thông, một là tất cả, công bình, có từ bi, có thương yêu, có trí tuệ.

[1:37:01]Khoa học chưa thấy được cái tính chất đó của vũ trụ, chỉ thấy là một khoảng Không có nhiều vật chất vậy thôi. Còn nhiều cái nguyên lý vi diệu hơn nữa thì chỉ có Đấng Giác Ngộ đi sâu trong thiền định mới biết. Cho nên vì vậy là như chị Ngọc nói, chị Tường Pháp nói á, là cái trí hữu sư là cần thiết, cái ý chị nói cũng rất là chính xác đó. Tức là chúng ta may mắn có một Đức Phật cho chúng ta cái đường lối ban đầu, gợi ý cho chúng ta cái hướng đi, cái nền tảng. Nên từ đó chúng ta xuất phát, chúng ta không bị hụt hẫng, bị suy sụp, mà dù tu không tiến, nhưng mình lòng mình vẫn an, mình vẫn có cái hy vọng, mình vẫn ổn định được là như vậy.

[1:37:41]Nên như chị nói cũng không có sai, là cần cái lời dạy của một bậc giác ngộ để soi sáng cho chúng ta luôn luôn là sự cần thiết. Mà chúng ta hiểu như vậy chúng ta cũng khiêm tốn, chúng ta cũng khiêm tốn, rồi mình biết mình cúi đầu trước Đấng Giác Ngộ để mình đi theo con đường của Ngài, đó cũng là một cái rất là hay. Thôi cảm ơn chị ha, hết câu hỏi. Con xin cám ơn Thầy, tại vì con hết mấy câu hỏi rồi. Rồi, ừ...