Lời giảng: Là Ánh Mặt Trời - Kể Chuyện Đức Phật 05

  • Thuyết giảng: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Thời lượng: 51:31

Toàn văn lời giảng, chép từ phụ đề. Bấm vào mốc thời gian để nghe đúng đoạn đó.

[0:09]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Cũng như lần trước, lần này chúng ta lại tiếp tục nói về cuộc đời của Đức Phật. Hôm nay là lần thứ năm, và lần trước chúng ta đã kể đến cái đoạn là Đức Phật đã chiến thắng được ma vương ở Tam thiền, và bây giờ đến giai đoạn bắt đầu Đức Phật thành đạo. Sau khi chiến thắng được ma vương trong cái cảnh giới của Tam thiền, thì tất cả mọi chuyện bình yên, không còn gì quấy phá, và ẩn sĩ Gotama tiếp tục nhập sâu vào Tứ thiền. Thì Tứ thiền này là một giai đoạn đặc biệt, vượt ra khỏi tâm thức. Là ở giai đoạn Tam thiền là giai đoạn cuối cùng của tâm thức, nhưng còn ở trong tâm thức.

[1:08]Nhưng đến Tứ thiền thì đã thoát ra khỏi tâm thức. Nhưng ra khỏi tâm thức, cũng như ra khỏi bản ngã, vẫn chưa được gọi là đắc đạo. Đây là điều rất là tế nhị, đặc biệt mà ta phải hiểu. Chúng ta đừng nghĩ Tứ thiền tức là đắc đạo, chưa. Tứ thiền chưa phải đắc đạo. Vì phải thành tựu được tam minh, là Túc mạng minh, Thiên nhãn minh, Lậu tận minh thì một vị này mới được coi là giác ngộ viên mãn. Thì Đức Phật ta cũng vậy, khi ngài an trú được trong Tứ thiền, thoát ra khỏi tâm thức, thì ngài tiếp tục an trú, tự nhiên cái thần thông thứ nhất hiện ra, đó là Túc mạng minh. Cái Túc mạng minh hiện ra, nó có nhiều trường hợp khác nhau.

[2:03]Nếu một người bình thường chưa bao giờ đắc đạo, cái giai đoạn Túc mạng minh này sẽ đi rất là chậm, để nhớ lại hết vô lượng kiếp của mình phải mất một tháng, hai tháng. Nhưng vì Đức Phật của ta, từ nhiều kiếp từng là những vị Bồ Tát, nên cái giai đoạn Túc mạng minh này ngài chứng rất là nhanh. Nhưng dù sao nó cũng có cái trình tự của nó, là bắt đầu ngay trong kiếp này, cái kiếp sống hiện ra rõ ràng rõ ràng. Từ cái thời điểm mà Đức Phật đang ngồi ở dưới cội Bồ-đề, lui ngược lui ngược về quá khứ dần, quá khứ dần, cho đến khi mà ngài những ngày ngài còn là thơ ấu, những việc đã làm, những điều gì đã học,

[2:46]những lời đã nói với ai, rồi lui dần lui dần đến lúc ngài sơ sinh, từ lúc mới vừa ra khỏi thai mẹ, ngài nói cái gì, ngài làm cái gì, những ai đã đứng ở chung quanh ngài làm gì, nói gì thì ngài nhớ lại hết. Rồi ngài lui tiếp lui tiếp ra khỏi kiếp này, ngược ở kiếp trước, lúc đó ngài là một vị Bồ Tát ở trên cung trời Đâu-suất mà giáo hóa cho chư thiên thời gian rất là dài để chờ đợi cái ngày đủ duyên mà xuống trần làm một vị thái tử để chuẩn bị cái thành Phật, đắc quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Rồi cái Túc mạng minh đó tiếp tục đưa ngài lùi xa lùi xa về quá khứ đến cái hạnh nguyện Bồ Tát của ngài từ trong vô lượng kiếp.

[3:32]Ta phải hiểu Bồ Tát có nhiều nghĩa. Ví dụ như ta niệm Bồ Tát Quan Âm thì ta phải hiểu đó là một vị Bồ Tát đại thần lực, đại uy lực đang ở cõi thánh, cảm ứng khắp nơi để có thể cứu độ chúng sinh khi nghe tiếng cầu, tiếng gọi. Hoặc là những vị Bồ Tát đắc đạo mà thị hiện đầy thần thông phép lạ. Nhưng cũng có những vị Bồ Tát mà mang cái hạnh nguyện Bồ Tát nhưng đang hiện thân ở loài người. Và các vị đó, theo cái hạnh nguyện của mình, sống ở loài người để làm vô số điều lợi ích cho chúng sinh, nhưng mà nếu ta nhìn vào, vẫn thấy như một con người bình thường, mặc dù là vị đó rất là đạo đức, rất là sáng suốt.

[4:23]Thì cũng vậy, khi Đức Phật mà nhớ lại vô lượng kiếp của mình, ngài nhớ nhiều kiếp lúc ngài còn ở cõi người, thì ở những kiếp đó ngài sinh ra cha là ai, mẹ là ai, ngài tên là gì, trong kiếp đó ngài làm những cái hành nghiệp gì, đã thành tựu được những điều gì, đôi khi cũng phải trả những quả báo gì, vân vân, rồi lại cứ lui ngược về những kiếp xưa, kiếp xưa hơn. Dần dần tiếp tục ngược về quá khứ xa xăm trăm kiếp, nhiều trăm kiếp, nhiều nghìn kiếp và nhiều triệu kiếp. Và khi mà ngài nhớ lui ngược lui ngược về quá khứ như vậy thì đi xuyên qua hết những cõi nước và cõi đất. Cái việc mà nhớ lại những tiền kiếp của mình thì ngài

[5:10]cũng thấy luôn cái diễn biến của cái trái đất này. Trái đất này bắt đầu có con người là như thế nào, rồi lúc mà chưa có con người thì con người, chúng sinh ở đâu, vân vân. Lúc đó ngài thấy rõ là cái cõi nước nó vô thường. Có khi một cái quả đất, cái hành tinh từ cái không có gì, bắt đầu cái nó có điều kiện để có sự sống, nó có cái từ trường, nó có cái không khí, có nước, có gió, rồi những men nấm sống dậy như thế nào, từ từ nó phát sinh, tạo thành cái sự sống, vân vân, để đủ điều kiện để cho con người đầu thai. Mà khi mà chưa có điều kiện cho con người đầu thai thì những chúng sinh tầm thường hơn, cá tôm rồi nó xuất hiện, nó chuẩn bị cho cái đời sống cao cấp từ từ.

[5:55]Thì lúc đó cái con người ở cái cõi nước khác, có khi ở cõi trời, có khi họ ở một cái hành tinh khác. Đến khi cái hành tinh kia theo cái luật vô thường nó bị tàn hoại rồi chúng sinh cũng bị hủy diệt rất là đau khổ, bơ vơ lạc lỏng, nhưng mà đến khi cái trái đất này hình thành được sự sống thì họ lại tái sinh về đây. Là trong cái việc mà nhớ lại tiền kiếp của mình, Đức Phật cũng thấy cái sự lưu chuyển, di chuyển sự sống từ cái hành tinh này sang những hành tinh khác. Rồi ngài cũng thấy trong nhiều kiếp nhiều kiếp của mình như vậy, có những khi ngài đã từng ở cõi trời và thậm chí có những lúc ngài

[6:34]cũng mang thân cầm thú để mà gieo duyên hóa độ chúng sinh. Cái hạnh nguyện của ngài thật là đa dạng. Và ngài cũng thấy rằng cái cõi trời có khi thăng thịnh, có khi suy giảm vì cái phước nghiệp của chư thiên. Những lúc mà có một vị Phật xuất hiện, một vị Đạo sư xuất hiện gieo rắc được cái đạo lý sáng vào lòng người thì sau đó một thời gian người ta sinh lên cõi trời rất là đông. Còn sau một thời gian dài vắng bóng những bậc Đạo sư chân chính, cái tà pháp nó thịnh lên, người ta tin vào những giáo lý bậy bạ mà cứ tưởng là mình đúng, người ta giết hại nhau mà vẫn tưởng là mình đúng, người ta mưu hại, người ta tham lam mà vẫn tưởng mình là lý tưởng cao đẹp,

[7:18]vân vân, thì sau những thời gian đó, cái cõi trời lần lần không có người nhiều. Bởi vì không có ai sinh lên cõi trời, còn chư thiên ở cõi trời thì đã hết phước mà sinh xuống cõi người, rồi phải chiến đấu vất vả giữa cái đúng và cái sai, cái thiện và cái ác ở nơi cái cõi người. Bởi vì cõi người luôn luôn là sự giằng xé của thiện và ác, đúng và sai, nên những vị nào mà có mang cái tâm thiện như là những chư thiên mà sinh xuống đây thì đều là những người vất vả phải chiến đấu. Còn cái người loài người ở đây không có cái duyên thiện thì rất dễ bị lôi cuốn bởi cái ác nó vây bủa khắp nơi, như vậy. Rồi ngài nhớ lại vào những cái đời xưa xưa xưa mà khi ngài

[8:00]đã gặp những chư Phật quá khứ và ngài đã phát tâm cung kính, cúng dường, tạo nên các công đức vô lượng như thế nào. Vì thật sự là đã có những cái kiếp mà ngài đã từng gặp các vị Phật, ngài đã phát tâm tu hành đắc đạo. Và nhờ cái lời phát tâm, lời phát nguyện đó mà ngài tu tập và đi trong luân hồi để thăng hoa cái nghiệp phước của mình thành vị Bồ Tát vĩ đại cho đến ngày mà ngài thành Phật. Ngài cũng thấy được có những lúc ngài làm vua đầy quyền lực và thậm chí có những lúc ngài dường như là bá chủ thế giới. Có những cái cái kiếp mà cái phước của ngài lớn đến cái độ mà cả cõi đất này đều phải quy phục.

[8:43]Và cái việc mà lúc đó cái cõi người như là cái cõi thần thánh vậy, lúc đó con người cũng có nhiều thần thông phép lạ mà ta hay nghe đồn trong những cái truyền thuyết là con người cũng như là tiên vậy đó, tức là con người đó mà cũng là tiên đó, bởi vì lúc đó con người có nhiều thần thông, nên cái việc ở một chỗ mà cai trị khắp cả quả đất là việc có thật. Lúc đó không có cái kỹ thuật cao, nhưng mà lại có cái thần thông để con người, để một vị vua, một vị bá chủ có thể cai quản gần như khắp cái quả đất này, ngài cũng đã từng là như vậy. Ngài cũng nhớ đã từng có những lúc mà ngài hy sinh cả cái mạng sống của mình để cứu người khác.

[9:25]Là cái hạnh nguyện của ngài, cái lòng từ bi của ngài được tích lũy như vậy. Và cứ lui ngược lui ngược về quá khứ, ngài nhớ đến cả những cái khởi đầu của luân hồi. Nhưng mà đây mới là cái bí mật nhất. Cái kiếp đầu tiên của con người là gì để rồi con người phải trôi lăn vô tận? Thì cái kiếp đầu tiên này là điều mà chỉ có Phật với Phật mới biết, chỉ có A-la-hán với A-la-hán mới biết, chứ chúng ta không thể biết và cũng không thể nói thành lời. Nên vì vậy, đây là một bí ẩn cuối cùng của những vị đắc đạo mà ta cũng vậy, cũng đành phải khi nào đắc đạo ta mới có thể biết được. Thì cái thời gian mà Đức Phật quan sát lại vô lượng kiếp của

[10:07]mình á mất khoảng một tuần lễ, chứ không phải là một hai canh giờ như là trong truyền thuyết ghi đâu, mất cả tuần lễ. Mà nếu là một người đầu tiên đắc đạo thì cái thời gian mà nhớ lại vô lượng kiếp này phải cả tháng. Nhưng vì mà ở những kiếp trước Ngài đã từng có những cái mức độ đắc đạo nào đó rồi, Ngài đã từng nhớ lại một số kiếp rồi, nên lúc này khi mà thành Phật, Ngài nhớ vơ vù vụt đi qua rất là nhanh, không còn phải như là một người đầu tiên mới nhớ lại tiền kiếp. Rồi sau khi mà Ngài thấy suốt được tiền kiếp của mình thì ngay lúc đó là Ngài thành tựu Túc Mạng Minh thì bỗng nhiên Thiên Nhãn Minh cũng theo đó mở ra luôn.

[10:46]Lúc đó Ngài quan sát cái nghiệp lực, sự lưu chuyển của chúng sinh. Cái này nó rất là tự nhiên, không cần cố ý, cái này nó dắt qua cái kia. Là khi thấy suốt được hết tiền kiếp của mình rồi thì bỗng nhiên là tự nhiên phải quan sát qua chúng sinh. Quan sát qua chúng sinh không còn phải là quan sát một người hay hai người nữa, mà cái tâm trải thấy vô biên chúng sinh, vừa có khi thấy tổng quát mà có khi cần thì thấy chi tiết của một chúng sinh nào đó. Đầu tiên là Ngài thấy chúng sinh trôi lăn, lưu chuyển từ đời này qua đời khác, từ thân này qua thân khác, từ cõi này qua cõi khác theo cái nhân quả riêng của mình.

[11:26]Lúc đó mới thấy cái Túc Mạng Minh á thì chỉ quan sát một mình mình, mà khi quan sát một mình mình như vậy thì thấy được cái duyên của mình với vô số người khác trong cái luân hồi. Người kia đã từng là anh chị em, người kia đã từng là cha là mẹ, người nào đã từng là vợ là chồng, là bạn bè, vân vân. Tức là thấy một kiếp của mình nhưng mà thấy ra được vô lượng duyên với chúng sinh. Còn ở nơi Thiên Nhãn Minh này Đức Phật thấy tổng quát sự lưu chuyển của tất cả chúng sinh. Và lúc đó cái luật nhân quả nó chi phối rất là rõ ràng. Cái người tạo cái nghiệp thiện thì sẽ nhận được một quả báo vui, cái người tạo nghiệp ác thì sẽ nhận quả báo khổ là điều rất là công bằng, rõ ràng.

[12:14]Nhưng cái thiện, cái ác nó không phải là dễ đánh giá. Có khi ta thấy một việc đó là thiện, nhưng nhiều khi bên trong nó ẩn chứa cái ác; có khi ta thấy một việc đó là ác, mà bên trong nó ẩn chứa cái đó là thiện. Cho nên vì vậy, nếu ta nhìn cạn cợt ở bên ngoài rồi đánh giá, ồ người đó làm điều thiện, người kia làm điều ác, có khi ta bị chủ quan, vội vã, nông cạn và đánh giá oan người khác. Cho nên vì vậy, khi hãy còn là chúng sinh mê mờ nên chúng ta luôn luôn dè dặt với chính mình, không bao giờ dám vội vã mà đánh giá ai là đúng là sai, là thiện là ác nhiều, vì mình chưa đủ trí tuệ. Nên cái vội vã đánh giá ai là thiện ác đúng sai có khi làm oan cho người ta.

[13:06]Chỉ có chư Phật, chư Thánh thì nhìn suốt suốt vào tâm của người, nhìn suốt suốt vào nghiệp lực của người từ vô lượng kiếp mới biết điều đó thật sự là đúng hay là sai. Trong cái cái sự lưu chuyển của nghiệp chúng sinh như vậy là chúng sinh tạo thành cái duyên ràng buộc, đan xen, chằng chịt lẫn nhau. Nghĩa là người A có duyên với người B, người B có duyên với người C, người C có duyên với người D. Nên cái việc làm của người A tác động đến người B, người B tác động người C, người C tác động người D, rồi lan truyền lan truyền tới vô tận, cho nên thành ra cái nghiệp cái phước nó trùng trùng trùng trùng.

[13:46]Nghĩa là một cái điều thiện là từ một người làm có khi nó lại lan ra thành cả nghìn, cả triệu cái điều thiện phía sau, nên gọi là cái nhân duyên nó kích hoạt từ một điều thành cả triệu điều phía sau đó. Thì cũng vậy, có khi một điều ác từ một người nó kích hoạt, nó lan truyền thành cả triệu triệu điều ác ở phía sau đó, rất là đáng sợ. Cho nên vì vậy, khi chúng sinh còn mê mờ, nhiều khi ta thấy ta chịu những quả báo khổ ta không biết vì sao, vì ta thấy mình sống rất là thiện nhưng tại sao mình khổ? Đâu biết rằng ngày xưa có một lần mình đã kích hoạt một điều ác mà điều ác đó nó lan truyền ra cả triệu lần qua cả triệu người khác mà ta không ngờ được.

[14:30]Cũng vậy, nhiều khi ta thấy cái người đó sao họ không có gì đặc biệt mà họ thành công, giàu sang. Đâu biết rằng ở một kiếp nào đó vô tình họ kích hoạt một điều thiện, và điều thiện đó đã lan truyền lan truyền cả triệu triệu lần đi. Nên cái duyên của chúng sinh nó chằng chịt, đan xen cực kỳ phức tạp mà chỉ có Phật nhãn mới nhìn thấu suốt được. Còn chúng ta gọi là chữ vô minh á, chữ vô minh á dùng chữ rất chính xác. Nên nhiều khi nói nhớ khi chúng ta sám hối với Phật chúng ta nói rằng: "Chúng con vì vô minh nên đã tạo nghiệp", cái câu sám hối đó cực kỳ hay. Cái câu nói: "Lạy Phật, con vì vô minh nên đã tạo nên lầm lỗi", cái câu đó rất là hay.

[15:15]Mà đúng như vậy đó, chúng ta vì vô minh nên đã tạo thành vô số lầm lỗi. Chúng ta không biết điều này là thiện, không biết điều kia là ác. Chúng ta nói một lời sai, chúng ta không biết cái điều sai nó lan truyền đến bao nhiêu người phía sau này. Cũng vậy, nhiều khi chúng ta làm điều đúng chúng ta không ngờ là nó lan truyền đến bao nhiêu người ở phía sau này, cái đó gọi là vô minh. Chúng ta không thấy hết đường đi của nhân quả, không thấy được hết cái đường đi của nhân duyên đan xen chằng chịt giữa người này và những người khác. Vì vậy, sống giữa cuộc đời này giống như chúng ta đi trong bóng đêm vậy đó, thật sự là như vậy.

[15:49]Bây giờ thì ai cũng có đôi mắt, cũng nhìn thấy ánh mặt trời, cũng nhìn thấy trăng sao, cũng nhìn thấy hoa nở buổi sáng, sương tàn buổi chiều, vân vân, ai cũng thấy và cứ tưởng mình sáng mắt. Nhưng mà chỉ có những bậc Thánh mới biết rằng thật sự chúng sinh đều như mù lòa, đều như đi trong tăm tối. Vì sao vậy? Vì họ cứ lần lần mò mò mà đi, cứ làm bậy thường xuyên à. Đi nhưng mà họ không biết là việc làm của họ cái nhân đó quả đó sẽ đưa họ về đâu, nên cứ gây tạo lầm lỗi, cứ gieo rắc cái điều ác, điều xấu, gieo rắc cái hận thù, tham lam, ganh ghét khắp nơi. Và như vậy cái khổ báo nó cứ chực chờ, nó cứ chờ đợi ở phía trước, đó gọi là là vô minh như vậy.

[16:34]Quan sát vô số chúng sinh như vậy, Đức Phật cũng thấy là có nhiều chúng sinh có duyên với Ngài, là thật sự đã có rất nhiều chúng sinh đã có duyên với Ngài. Có người đã sinh về gần với Phật và sẽ chờ đợi khi mà Phật bước ra giáo hóa họ sẽ theo Phật để xuất gia. Có những người ngày hôm nay Đức Phật đã đắc đạo rồi họ vẫn chưa có tái sinh vào cõi người, vài năm sau họ mới sẽ tái sinh vào cõi người rồi cũng sẽ gặp Phật để theo Phật tu hành. Và Đức Phật cũng thấy rằng có những người có duyên với Phật nhưng mà cái kiếp đó, kiếp mà Phật sinh ra đắc đạo ở đất nước Ấn Độ đó thì họ lại không sinh về Ấn Độ để gặp Phật,

[17:17]mà lại đang tồn tại ở một nước khác vì cái nhân duyên đó. Nhưng rồi giáo lý của Phật một ngày nào đó sẽ đến với họ và họ cũng sẽ là những người tu tập và truyền bá giáo lý, truyền bá Chánh pháp. Đức Phật cũng thấy cũng có những vị Thiên tử ở trên trời cũng có duyên với Ngài, đang dõi theo Ngài từng bước từng bước từ khi mà Ngài tái sinh xuống trần gian làm một vị Thái tử, tức là những vị đó đi theo bước chân Ngài từng chút từng chút một. Cho đến ngày hôm nay Ngài đã đến cái giai đoạn tột cùng chuẩn bị thành vị Phật chính thức thì họ vẫn đang hân hoan, sung sướng, đang chắp tay, đang kính ngưỡng hướng về cái cội bồ đề này để chờ

[17:58]đợi cái giây phút vinh quang của thế giới này qua cái sự đắc đạo của một con người siêu việt. Và lúc đó, nơi cái Thiên nhãn mà quan sát các chúng sinh này, Đức Phật biết hết về các cõi nước, các quốc độ luôn. Nghĩa là trong cái vũ trụ này có vô số cái cõi nước mà có chúng sinh sống được, có các hành tinh có sự sống mà có nhiều cái dạng sống rất là lạ chứ không phải là lúc nào cũng mang cái thân vật chất này, Đức Phật biết hết. Rồi trong một cái cõi nước thì có bao nhiêu cái quốc độ, bao nhiêu cái bộ lạc, bao nhiêu làng xóm, rồi những đường xá nó chạy chằng chịt đan xen như thế nào Đức Phật thấy như trong lòng bàn tay. Đây là điều rất là đặc biệt.

[18:36]Vì vậy ta nhớ một điều thế này: Đức Phật không bao giờ có cái chuyện đi đâu mà hỏi đường nha, đó là điều đặc biệt. Cho nên nếu mà người nào đó xưng mình là Phật đi đâu chút xíu dừng lại: "Nè nè, anh anh cho hỏi đường đi tới ai...", là biết không phải Phật. Nhớ, cái đặc điểm của Đức Phật là không bao giờ hỏi đường. Nghĩa là khi mà Ngài muốn đến nơi nào thì đường xá hiện ra rõ ràng như trong bàn tay vì Ngài đã biết điều đó ở trong Chánh định rồi, chứ không có đợi mà đi rồi đi tới đâu hỏi đường tới đó. Cho nên đó là cái mà đặc điểm á, một trong những điều để mà ta phân biệt được nữa, người đắc đạo chưa đắc đạo là vậy.

[19:12]Thì đắc đạo cỡ nào không biết, người ta thử cho đi mà còn hỏi đường là không phải. Rồi trong cái quan sát thế giới, quan sát chúng sinh, Ngài cũng thấy cả cái tương lai của thế giới này sẽ đi về đâu, chúng sinh sẽ đi về đâu. Nhưng dĩ nhiên cái vị lai nó không giống với quá khứ, vì quá khứ là đã qua rồi, đã cố định, còn vị lai cái tổng quát nó sẽ như thế, nhưng mà trong cái tổng quát đó có những chi tiết nhỏ có bị biến đổi là do tâm chúng sinh có thể biến đổi. Ví dụ như trong cái tổng quát là trái đất này đến bao nhiêu triệu năm nữa sẽ phải tiêu, thì đó là tổng quát, nhưng mà trong cái chi tiết á

[19:55]là trong bao nhiêu triệu năm đó là có thể quả đất thật là hạnh phúc sung sướng vì ở trong đó chúng sinh đã biết tu hành rất là nhiều. Nhưng mà đến cái thời gian tới hoại cũng phải hoại, nhưng mà nhờ chúng sinh có phước cho nên họ về được cái cõi lành, vân vân. Còn nếu mà chúng sinh không biết tu hành thì đến khi mà quả đất hoại thì chúng sinh cực kỳ đau khổ. Ví dụ như là trái đất nó vỡ, mọi người chết thiêu, chết cháy thê thảm, rên la thành những cái hồn ma vật vờ ở trong cái không gian vô định thì rất là khổ, vân vân là như vậy. Cho nên nói là biết được vị lai, nhưng vị lai là cái gì nó rất là tổng quát chứ không phải giống như quá khứ đã cố định.

[20:36]Có cái nhiều cái người họ có cái suy nghĩ rất là ngộ nghĩnh là họ có thể từ tương lai họ dùng cái cỗ máy họ đi ngược về quá khứ, họ sửa cái quá khứ lại, thế là vị lai thay đổi. Nói đó là sai, theo những cái truyện khoa học viễn tưởng á mà sửa quá khứ lại đó là cái sai, vì quá khứ không bao giờ sửa được nữa. Đức Phật cũng nhìn thấy cả ba cõi sáu đường, cái cấu trúc của vũ trụ này hiện ra rõ ràng với mọi cõi giới: các cõi trời, các cõi a-tu-la, các cõi ma, cõi địa ngục, cõi ngạ quỷ, cõi súc sinh, cõi người, vân vân. Nghĩa là cái cấu trúc phức tạp của vũ trụ Ngài thấy rất là rõ, mà đây là điều mà không có một giáo chủ nào có thể thấy được.

[21:18]Là ta sẽ thấy trên thế giới có nhiều tôn giáo, rồi các vị giáo chủ cũng hay nói tổng quát sơ sơ, có cái địa ngục này là ai làm tội bị quăng xuống dưới thiêu đốt, là ai làm phước thì được sinh lên cõi trời hưởng sung sướng. Nhưng mà họ sẽ không bao giờ biết địa ngục có bao nhiêu loại, bao nhiêu tầng, bao nhiêu lớp. Họ sẽ không bao giờ biết cái cõi trời có bao nhiêu cõi giới, bao nhiêu loại chúng sinh, những người thuần thiện ở cõi trời nào, những người thiện nhiều ác ít ở cõi trời nào, những người mà phước rất lớn mà tâm còn ác sẽ ở cõi ma nào, vân vân. Tức từng cái sự tu tập tiến bộ khác nhau của các thiên tử tạo thành

[21:55]những cõi trời khác biệt vô cùng thù diệu, vô cùng phong phú. Những cái điều đó chỉ có Phật mới thấy, chỉ có Phật mới biết chứ không một ai có thể biết được. Các giáo chủ khác có thể ước đoán, nói sơ sơ, nói sơ sơ mà thôi. Nên ta thấy, chính vì nói sơ sơ mà có nhiều tôn giáo đã tạo nên cái sự cực đoan khủng khiếp. Vì họ không biết gì về cõi trời, họ chỉ ước đoán nói đại nên họ nói rằng à chỉ có một chúa tể duy nhất ở trên cõi trời cai trị cả trần gian này, chỉ có một chúa tể duy nhất, nên hễ thêm có một chúa tể nào nữa là họ phải giết đi. Họ không chịu, không chấp nhận, nên cái mà cho rằng chỉ có một chúa

[22:35]tể duy nhất ở trên cõi trời đó là một cái sự vô minh, không thấy rõ cõi trời và tạo thành sự cực đoan, sự ác độc của cái tôn giáo đó. Còn ở trong đạo Phật, Đức Phật nhìn thấy rõ cõi trời rất là phức tạp, rất là đa dạng, nhiều tầng nhiều lớp, mỗi lớp có cái vị chúa tể. Nhưng cái vị chúa tể đó cái lòng rất là quảng đại từ bi và ở trên cao hơn lại có những vị chúa tể cái cõi cao hơn, trùng trùng điệp điệp như vậy, chứ không phải là chỉ có một cõi trời gần gần đâu đây và chỉ có một ông trời duy nhất như là nhiều cái tôn giáo đã hiểu lầm. Nên đạo Phật không có cực đoan, chỉ bởi vì từ một Đức Phật đã

[23:16]nhìn rất rõ nên Ngài không có tạo thành cái sự cực đoan. Do đó các đệ tử của Phật cũng không cực đoan là vì vậy. Còn những tôn giáo khác họ không thấy rõ điều đó, họ tưởng có một chút à, có một ít người, nên họ đã tạo thành cái sự hẹp hòi khủng khiếp, không bao dung ai hết, không chấp nhận ai và chỉ tưởng rằng có một vị chúa tể mình tôn thờ là cao nhất mà thôi, gây nên không biết bao nhiêu là đau khổ cho loài người vì cái sự hẹp hòi và vô minh không thấy rõ của họ. Mà trong các cõi đó, từ các cõi trời, các cõi a-tu-la, cõi địa ngục, cõi ngạ quỷ, súc sinh, cõi người nó đều có cái sự liên quan với nhau.

[23:56]Nghĩa là cái cõi người tốt thì cõi trời sẽ thịnh, còn cõi người xấu thì cõi trời sẽ suy giảm theo. Cho nên vì vậy, chư thiên ở trên cao phải có trách nhiệm giúp đỡ những người tu hành là vì vậy. Nên mỗi khi con người ở dưới cõi đất này mà phát tâm tu tập đều luôn luôn được chư thiên phù hộ. Vì sao? Vì chư thiên biết rằng nếu con người tốt thì cõi trời sẽ tăng thịnh, sẽ phát triển. Nếu con người xấu thì cõi trời sẽ suy giảm, mà cõi trời sẽ suy giảm nó tạo thành một cái bất an chung cho cả cái cõi trời. Nên do đó, ví dụ như ngày hôm nay là ngày Phật đản, chúng ta về đây với lòng thành kính, chân thành, tha thiết để tưởng niệm về Đức Phật,

[24:41]để sống trong cái không khí đầy cái đạo tình ấm áp này, để chúng ta tu tập thương yêu nhau. Những ngày qua mình có thể trong lòng còn cái ganh người này ghét người kia, nhưng ngày hôm nay cúi đầu trước Đức Phật từ bi, sống trong cái không khí thiêng liêng của ngày Phật đản, chúng ta dẹp hết những cái ganh ghét oán hờn trong tâm mình, chỉ còn lại cái lòng thương yêu mênh mông vô tận. Thì khi mà chúng ta tác ý được như vậy thì lập tức chúng ta được sự gia hộ của chư thiên liền. Vì chư thiên luôn luôn chờ đợi những con người phát tâm như thế để cho các ngài ủng hộ, mong rằng những cái người mà tu tập tốt như thế sẽ làm

[25:19]cho cái quả đất này tốt lên theo và cũng làm cho cái cõi trời vững mạnh lên theo. Nên do đó, chúng ta phải biết là chúng ta không cô đơn khi chúng ta phát tâm tu tập. Có đôi khi chúng ta gặp những cái nghiệt ngã, những nghịch cảnh gì đó trong cuộc sống thì đó chỉ là một cái nghiệp nào đó của kiếp xưa mà ta phải trả, nhưng phải biết rằng trong cái giây phút mà ta gặp nghịch cảnh, ta gặp khó khăn khốn khó thì ta không cô đơn vì vẫn có những vị chư thiên vẫn âm thầm che chở, ủng hộ ta để vượt qua cái sóng gió của nghiệp quả đó và giúp cho ta vượt lên để tiếp tục tu hành. Cũng vậy, trong một cái cõi người có nhiều tầng lớp người:

[26:01]có những tầng lớp người rất là bình dân, nhiều khi nghèo nàn, có khi ít học; có những tầng lớp họ giàu sang, sang trọng, nhiều học thức, nhiều kiến thức. Các tầng lớp như vậy cũng đều có mối tương quan với nhau. Nếu cái tầng lớp thấp càng lúc càng đau khổ, càng lúc càng tăm tối thì cái tầng lớp trên cao cũng sẽ sụp đổ xuống theo. Do đó, cái người nào mình thuộc lại cái tầng lớp hơi cao, nghĩa là mình có giàu sang, mình có học thức thì không được bỏ quên những người khốn khó hơn mình. Nghĩa là nếu mình là người có điều kiện, mình giàu sang, có tiền bạc, có học thức thì phải luôn luôn giúp đỡ những người kém hơn mình vượt lên.

[26:42]Nghĩa là thấy cái người nghèo phải giúp cho họ khá lên, thấy cái người ít học phải giúp cho họ được học hành, tăng thêm kiến thức, tăng thêm trí tuệ, thấy cái người chưa biết Phật pháp phải giúp cho họ biết Phật pháp. Vì sao? Vì khi mà cái tầng lớp dưới được nâng lên cao, cái giai cấp ở trên cũng sẽ được vững mạnh, được phát triển. Còn nếu cái tầng lớp dưới mà suy sụp thì tầng ở trên cũng sụp đổ luôn theo, đó là sự tương quan. Nên chúng ta thấy, trong thực tế đúng là con người có nhiều giai tầng, có nhiều giai cấp, có nhiều hạng, nhưng mà nếu cái hạng ở trên sống ác độc, ích kỷ, bỏ mặc để cho cái cái lớp dưới khốn

[27:23]cùng thì ngày kia cái lớp ở trên cũng sẽ tan vỡ hết, không còn gì nữa. Đây là cái sự liên đới về trách nhiệm, nên người ta vô minh không biết thì người ta mới bóc lột cái người dưới mình, người ta mới hà hiếp, gây đau khổ, bỏ mặc cái người dưới của mình. Chứ còn nếu cái người đó họ có trí tuệ, biết nhân quả, biết đạo lý thì không bao giờ ỷ cái thế của mình mà bóc lột người dưới, ăn hiếp người dưới, làm khổ cho người dưới, đó là như vậy. Trong cái quan sát của thiên nhãn minh này, Đức Phật thấy rất rõ là có nhiều hành tinh có sự sống giống như trái đất và Phật cũng đã từng nói rải rác ở một số bài kinh.

[28:01]Thậm chí là có những cái cõi đang có một Đức Phật nào đó đang xuất hiện và đang giáo hóa như thường cũng như Ngài ở đây vậy, đó gọi là thiên nhãn minh. Thì nơi thiên nhãn minh này, Đức Phật tự nhiên Ngài có luôn tha tâm thông, thiên nhĩ thông, thần túc thông. Tha tâm thông nghĩa là biết rõ tâm ý của chúng sinh. Thiên nhĩ thông nghe được mọi loại tiếng nói của chúng sinh. Thần túc thông là ngài có thể biến hóa phi thường bất cứ điều gì mà ngài muốn: bay lên hư không, một thân biến thành vô lượng thân, thân nhỏ biến thành thân lớn, thân lớn biến thành thân nhỏ, tức là lên hư không, chui xuống đất, đi trên nước, đi vào nước,

[28:45]đi vào lửa, tất cả đều tự tại, vô ngại gọi là thần túc thông. Nơi Thiên nhãn minh, tự nhiên ngài có luôn ba cái thần thông kia. Nhưng mà ví dụ như nói là Túc mạng minh là biết về quá khứ, Thiên nhãn minh là biết về nhân quả của chúng sinh, Tha tâm thông biết về tâm chúng sinh thì cái chữ biết đó nó khác với cái biết của chúng ta. Ví dụ bây giờ ví như ta đứng ta nhìn một người, tức là cái thấy của chúng sinh, cái biết của chúng sinh là nó hạn chế và mình đứng ở chỗ mình để mình nhìn về phía cái đối tượng để mình thấy, còn cái biết của Phật là không phải như vậy. Cái biết Phật không phải là à ngài ngồi ở Bồ Đề cái ngài

[29:26]mới thấy chúng sinh xa xa, không phải, khác nhau. Cái thấy cái biết của Phật là khi Đức Phật biết về chúng sinh vì lúc đó ngài đang chính là chúng sinh đó, nó khác nhau một chút ha, ngài chính là chúng sinh đó. Nhưng mà nếu quý Phật tử đắc đạo thì lúc đó không phải là mình ngồi nhìn nữa mà mình đã trở thành cái người đang ngồi nói. Mọi cái tính chất của cái con người đó mình biết biết rõ hết và biết rõ hơn chính cái người đó biết về họ. Ví dụ như có một người bệnh nằm quằn quại đau đớn, mình thấy họ rên la, mình tội nghiệp. "Ừ, tội nghiệp tội quá ha, cái người này đau quá ha." Nhưng mà sự thật, mình chả biết người ta đau làm sao.

[30:04]Vì mình không biết người ta đau làm sao cho nên mình chép miệng mình tội nghiệp cũng chỉ là ngoài miệng, chỉ là ngoài miệng thôi. Còn một vị đắc đạo, họ nhận ra được cái nỗi đau của cái chúng sinh đó như là họ đang đau, nên họ thương thương khủng khiếp. Cái lòng từ bi nó phát lên rất là mạnh bởi vì cảm nhận được cái nỗi đau của người kia như chính mình đang đau. Cho nên cái lòng từ bi thật là lớn. Đây là cái chỗ mà ta phải hiểu. Như có một cái người đó họ rất là ích kỷ, hẹp hòi, chả thương ai. Họ chỉ thương cái người mà đau sỏi thận thôi. Vì sao vậy? Bởi vì họ đã từng bị đau sỏi thận, đau kinh hồn,

[30:41]đau thê thảm, nên sau này thấy ai nói là à tôi đau sỏi thận cái họ xót xa liền, họ thương liền, tại họ biết cái nỗi đau nó ghê gớm vì họ đã từng đau. Còn mà mình chưa từng đau, thấy người ta quằn quại, lăn lộn mình không hiểu. Các vị Bồ tát, các vị Phật thương chúng sinh là vậy đó, vì cảm được cái nỗi đau của chúng sinh như là chính mình đang đau. Đó là cái biết của Phật. Nên nói là Đức Phật biết rõ tâm chúng sinh là không phải ngài đứng đây ngài rình rình mà ngài nghe, thấy tâm chúng sinh nói gì, mà bởi vì lúc đó ngài chính là chúng sinh nên nhận ra hết những cái ý niệm thầm kín nhất của người

[31:16]đó, gọi là tha tâm thông hoặc là thiên nhãn thông, vân vân là như vậy. Cái biết đó nó không có cái khoảng cách của thời gian, không gian. Ví dụ như là bây giờ ta nhìn một người nào ở xa quá, ta không còn thấy rõ vì cái khoảng cách. Hoặc là ta nhớ về một người nào mà lâu quá rồi, ta không còn nhớ rõ nữa vì thời gian nó đã làm xoá nhoà bớt cái kí ức. Còn cái trí tuệ của Phật, ví dụ nhìn thấy một người ở rất xa, nhưng mà thật ra là mình đang chính là người đó nên biết rất rõ, không có khoảng cách. Hoặc là nhớ về một người nào thì nhớ rất rõ vì không còn cái khoảng cách của thời gian nữa. Nên không có thời gian, không có không gian và

[31:54]cái người biết và người bị biết là một nên biết rất là rõ. Nên ta hiểu như vậy để thấy rằng cái trí tuệ, thần thông của Phật thật là siêu việt, khó nghĩ bàn. Mà nếu ta không biết, ta cứ diễn tả bậy bạ nhiều khi vô tình lại xúc phạm Đức Phật, làm cho giảm giá trị của cái trí tuệ của Phật là như vậy. Bây giờ ta nói tới Lậu tận minh. Tức là sau khi mà Đức Phật đã nhớ lại vô lượng kiếp của mình để chứng Túc mạng minh rồi nhìn thấy sự lưu chuyển của tất cả chúng sinh để chứng Thiên nhãn minh thì bắt đầu tới lúc ngài chứng Lậu tận minh. Mà chứng Lậu tận minh rồi mới được gọi là giác ngộ thành Phật, chứ còn chưa chứng Lậu tận minh thì chưa được gọi là giác ngộ thành Phật.

[32:36]Mà Lậu tận minh là cái gì? Thật ra, Lậu tận minh không phải là một thần thông giống như các thần thông khác, mà Lậu tận minh có nghĩa là một sự minh triết xuất hiện sau khi biết rõ mọi điều. Chúng ta nhớ lại, Lậu tận minh tức là một cái minh triết xuất hiện sau khi đã biết rõ mọi điều. Tức là sau khi biết hết mọi điều, ngài rút ra được một kết luận. Cái rút ra được kết luận chính xác đó gọi là Lậu tận minh. Ở đây đó, biết là một chuyện mà rút ra được một cái đạo lý, một kết luận là một chuyện khác nghen, hai cái đó khác nhau. Chính vì khác nhau nên mới có một cái gọi là Lậu tận minh phi thường, khác biệt rõ ràng.

[33:22]Ta ví dụ thế này để ta hiểu cái gọi là biết và rút ra kết luận là khác nhau. Ví dụ có một người đó họ có cái trực giác, thần thông, họ đoán được tâm ý của người khác. Cái họ được mời đi dự một cái đám cưới. Sau khi họ đi vào cái đám cưới thì họ thấy cô dâu, chú rể rất là giàu và rất là đẹp đôi thì cái người đó cũng nhìn thấy khách khứa lại chúc mừng, ai nấy cũng vỗ tay, nâng ly chúc mừng rồi khen ngợi không tiếc lời. Nhưng mà cái người này vì họ có thần thông, họ đọc thấy cái sự ganh tị quá nhiều. Họ nói: "Ồ, cái cô gái mà đang chúc mừng cô dâu, trong lòng sôi sục lên vì căm tức; còn cái những người bạn trai đang chúc mừng chú

[34:05]rể, trong lòng đang thèm thuồng cái cô dâu." Tức là ngoài miệng, ngoài mặt là một cái, mà trong tâm con người là một cái khác hẳn. Thì đó là cái biết. Rồi từ cái biết này họ mới rút ra được một kết luận thế này: cái người mà có phước thì sẽ hơn được người khác. Mà khi hơn được người khác á thì sẽ bị người ta, bị người ta? Ganh tị. Mà khi bị người ta ganh tị rồi, đời mình có yên, có vui hoàn toàn không? Hổng, mệt mỏi thấy mồ. Cho nên vì vậy, thế gian này không bao giờ có niềm vui trọn vẹn. Đó là câu kết luận cuối cùng. Đồng ý không? Quý Phật tử phân biệt ha.

[34:48]Nên là cũng có thần thông biết tâm người khác nhưng mà biết tâm người khác rồi để rồi đi từ từ kết luận. Kết luận cuối cùng là thế gian này không bao giờ có niềm vui trọn vẹn dù mình rất nhiều phước. Rút ra được kết luận đó thì ta gọi là một cái minh triết. Tức là người này làm thầy thiên hạ được. Có thần thông, biết được tâm người, chưa chắc làm thầy thiên hạ được, nhưng mà tới chừng nào mà biết rút ra được những kết luận, đạo lý thì người này mới có thể làm thầy thiên hạ được. Thì đó là một ví dụ. Còn Đức Phật, sau khi thấy được vô lượng kiếp của mình, sau khi quan sát thấy ba cõi chúng sinh lưu chuyển trong

[35:30]nhân quả, trong luân hồi, thấy mọi điều hết của vũ trụ rồi, ngài mới rút ra được một kết luận. Kết luận đó là gì mà để gọi là ngài đã thành Phật? Túc mạng minh ngài mất hết cả tuần lễ, ở Thiên nhãn minh ngài mất gần cả tháng, nhưng mà tới cái Lậu tận minh này Đức Phật chiêm nghiệm chỉ trong khoảng một canh giờ là ngài đã thấu suốt được cái đạo lý của vũ trụ, thấy được cái cái minh triết đó, rút ra được cái kết luận cuối cùng của đạo lý. Và ta gọi rằng ngài chứng Lậu tận minh để thành Phật. Cái đó là cái chân lý phi thường của mười phương chư Phật. Khi ngài nhìn ra cái đó bởi chính trí tuệ của ngài không phải

[36:09]do học hỏi thì ta gọi là ngài chứng được Lậu tận minh. Cái chân lý đó rút gọn lại trong ba chữ. Chân lý mà Đức Phật thấy được đó, ngài quan sát thấy hết cả vũ trụ, thấy hết xuyên suốt cả không gian và cả thời gian vô lượng kiếp rút lại gọn trong ba chữ. Ba chữ gì? Ba chữ gì? Tứ Diệu Đế. Ba chữ ha. Thật ra, cái chân lý đó mà Đức Phật rút ra được á có thể mở rộng ra muôn triệu quyển kinh nhưng mà rút lại được ba chữ Tứ Diệu Đế, mà thật sự rút lại nữa không có chữ nào. Không có chữ nào vì đó chỉ là một cái trí tuệ siêu việt, nhiệm mầu, không có ngôn ngữ, không có cái ba chữ Tứ Diệu Đế, không có bốn chữ Khổ Tập Diệt Đạo,

[37:00]không có cái từ gọi là Bát Chánh Đạo, không có ngôn ngữ. Nhưng mà nếu cần dùng ngôn ngữ để diễn tả thì ta nói rằng à đây là Tứ Diệu Đế, đây là Khổ, là Tập, là Diệt, là Đạo, đây là Bát Chánh Đạo. Và có thể nói thêm nữa thì thành muôn muôn, triệu triệu quyển kinh. Và từ cái trí tuệ đó không có một cái lời nào có thể nói trong vài lời rất gọn, mà có thể phát triển thành vô số ngôn ngữ, vô số kinh điển. Đây là cái đặc biệt của cái minh triết mà Đức Phật đã nhận ra. Đây là sự nhận thức sắc bén, không có cái ngôn từ, nhưng mà cái sự sắc bén tột cùng này của một trí tuệ, một Đức Phật, một bậc đắc đạo.

[37:43]Nơi đây Đức Phật nhận rõ ra thế này: Thế gian ba cõi này không phải là vui, chỉ là tạm bợ và đau khổ. Nói gì thì nói, ai có phước cỡ nào thì có phước, cuối cùng thế gian này vẫn là tạm bợ và đau khổ. Hãy nghiệm lại, dù cho cái người nào đó bướng bỉnh nhất, không tin tôn giáo, không tin Phật, có thể hãy bình tâm chiêm nghiệm lại thế gian này có thật vui hay không. Mà nhất là cái người càng lớn tuổi, càng kinh nghiệm, càng chín chắn thì sẽ cảm nhận một điều: Thế gian này không bao giờ là vui trọn vẹn. Một chút vui nào đó rồi lại thoáng qua, một chút vui nào đó phải đánh đổi bằng rất nhiều điều cái vất vả, rồi cũng tạm bợ, rồi lại thoáng qua và cái nỗi buồn

[38:28]lại chờ chực, và ta lại phải phấn đấu, phải bươn chải, phải đi tới. Giờ ai bướng bỉnh nhất, dù cho không tin Phật nhất, rồi cũng sẽ nhận ra điều này, mà chỉ là nhận ra một điều rất là nhỏ. Còn Đức Phật với cái trí tuệ nhìn khắp cả tam thiên đại thiên thế giới, nhìn thấu suốt cả vô lượng thời gian và không gian, thì cái việc mà Ngài nhìn thấy thế gian này bản chất chỉ là khổ đau và tạm bợ là đừng ai cãi mất công. Đó là chân lý. Và chỉ có cái Niết Bàn giải thoát mới thực sự là nơi an vui tuyệt đối. Chưa phải Niết Bàn tuyệt đối thì thực sự tất cả đều là tạm bợ, giả dối và đau khổ thôi. Nếu có cái gì đó hay, cái gì đó đúng,

[39:11]cũng chỉ là tạm trong một cái không gian nào đó, trong một đất nước, một xã hội, một khung cảnh nào đó mà thôi, chứ không bao giờ đó là điều đúng tuyệt đối vĩnh viễn. Chỉ có Niết Bàn vi diệu, tràn đầy từ bi, tràn đầy trí tuệ mới là cái nơi an vui tuyệt đối thực sự. Đức Phật mới nhận ra rõ rằng là: Chúng sinh trôi lăn đau khổ bởi vì vô minh. Rồi cái vô minh này mới tạo nên chấp ngã, thấy có một cái ta giả. Từ cái chấp ngã này tạo thành cái ích kỷ là chỉ biết cho mình. Từ ích kỷ này, chúng ta tạo nên vô số cái phiền não, bất thiện, cái thương ghét xoay quanh cái ích kỷ này. Rồi từ nơi cái cái ái luyến

[40:01]bất thiện này, ích kỷ này, chúng ta gây rất nhiều nghiệp xấu. Và khi đã gây nghiệp xấu rồi, đã làm khổ người khác rồi, buộc ta phải tái sinh để trả quả. Thế là vòng luân hồi cứ luân chuyển vô tận, mà cái đầu mối của luân hồi nằm ở trong tâm ta là từ cái vô minh, từ cái chấp ngã, từ cái ích kỷ, từ cái thương ghét xoay quanh cái bản ngã của mình rồi biến thành nghiệp xấu ác, tạo nỗi khổ cho mọi người, và cái nghiệp buộc ta phải tái sinh, không cho ta giải thoát để ta phải phải trả quả. Luân hồi là như vậy. Và muốn giải thoát khỏi cái luân hồi đau khổ này, muốn chứng đạt Niết Bàn tuyệt đối này thì ta phải hiểu rõ đạo lý, đó là Chánh kiến.

[40:50]Ta phải thanh lọc nội tâm thuần thiện, đó là Chánh tư duy. Ta phải gây tạo vô số công đức lành, đó là Chánh ngữ, Chánh nghiệp. Để rồi ta có phước để sống cho thoải mái, đó là Chánh mạng. Rồi sau đó, ta phải dồn sức để tu tập thiền định, đó là Chánh tinh tấn, Chánh niệm. Rồi ta phải chứng được Tứ thiền rốt ráo, đó gọi là Chánh định. Và như vậy, cái con đường để đi ra khỏi luân hồi sinh tử bắt buộc phải là Bát Chánh Đạo, không còn con đường nào khác. Nên việc mà Đức Phật nhận thức thấu đáo về Tứ Diệu Đế này kéo dài khoảng một giờ, khi sao mai vừa hiện lên ở góc trời, được cho là ngày mùng 8 tháng 12 âm lịch.

[41:38]Lúc đó, đêm Ấn Độ rét như là cắt da cắt xương. Ngay khi mà Đức Phật nhận thức đầy đủ về Tứ Diệu Đế rồi thì cái trái đất rung lên nhiều lần. Mà không phải là động đất, mà chỉ là toàn đất rung lên bởi vì chấn động bởi sự giác ngộ của một con người phi thường. Lúc đó, tiếng nhạc vang lừng, hào quang chói bừng hết các cõi nước. Là chư thiên vui mừng khôn xiết, tấu nhạc vang lên cả đầy trời cao. Cái ánh sáng thành đạo của Phật chiếu bừng cả tam giới. Ở các cõi trời là ngập tràn ánh sáng, ai cũng biết hết. Còn ở cõi người thì sao? Ở cõi người trong trái đất này, nó có nơi còn tối, nơi thì đã vào ban ngày.

[42:22]Cái nơi mà đã vào ban ngày thì có sáng lên nữa người ta có thấy không? Có thấy không? Không ai thấy hết. Nhưng mà ở những nơi còn chìm trong bóng tối thì bỗng nhiên đêm nó sáng. Lúc đó trời sáng sớm, người ta cứ thấy là: Bữa nay trời sáng hơi sớm. Thì khi mà sao mai vừa hiện ở góc trời, tự nhiên nó giống như là trời đã sáng, sáng bừng, người ta cứ tưởng là cái ngày hôm đó nó hơi sáng hơn, và người ta không biết gì rồi mọi việc chìm vào quên lãng, chứ người ta không biết rằng lúc đó cả trái đất này đang ngập chìm trong cái hào quang thành đạo của Đức Phật. Còn cái ngôi làng mà ở gần nơi Đức Phật tu á,

[43:00]cái ngôi làng mà có cái bà Sujata đã cúng dường thức ăn để Phật phục hồi sức khỏe sau 6 năm khổ hạnh á, thì cái ngôi làng đó cũng vậy, cũng mọi người bỗng nhiên tràn ngập cái niềm vui mà không biết tại sao. Và cái ngôi làng đó được hưởng cái phúc rất là dài sau này. Còn bà Sujata thì ngay lúc đó tâm bà giống như nhập vào trong Sơ thiền, tràn ngập an vui. Sau này mất, bà sinh lên cõi trời. Mà lúc đó, bà có cái cảm giác là cái người Sa-môn khổ hạnh mà mình đã cúng dường bấy lâu nay dường như đã đắc đạo, tự nhiên bà có cái linh cảm như vậy. Đức Phật thành tựu được đạo quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh

[43:39]Giác đúng như lời thọ ký từ xưa của Phật Nhiên Đăng và nối tiếp con đường của Chư Phật là tiếp tục thắp sáng thế giới này với chân lý giác ngộ siêu việt. Ngài ngồi thêm 7 ngày nữa trong chánh định, rồi sau đó trong cái 7 ngày này đó, Đức Phật mới cảm ứng với Chư Phật ở quá khứ và ở mười phương. Là lúc đó, trong 7 ngày mà nhập định sau này thì Ngài với mười phương Chư Phật trở thành một với nhau. Ngài hưởng cái quả vị giải thoát, giác ngộ của mình tột cùng. Lúc đó là chư thiên thì mở hội vui mừng, Đức Phật thì an trú trong chánh định, Ngài trở thành duy nhất với mười phương Chư Phật. Sau đó, Ngài xuất định, Ngài đứng lên Ngài đi.

[44:26]Ngài bước vài bước một khoảng vừa để nhìn thấy hết được cái gốc cây bồ đề rất là to, Ngài quay lại nhìn gốc cây đó và Ngài đứng đó nhập định 7 ngày nhìn về phía cây bồ đề. Thật ra, trong cuộc sống của Ngài, trong cuộc đời của Ngài á, có nhiều nơi Ngài ở lâu hơn, ví dụ như kinh thành Ca Tỳ La Vệ, Ngài ở cả quãng đời tuổi thơ, hoặc là cái vườn của ông Cấp Cô Độc, Ngài ở mấy chục năm, gần 27 năm để giáo hóa. Còn cái chỗ mà gốc bồ đề, Ngài ở có mấy ngày. Nhưng cái nơi đó Ngài ở, Ngài tu tập nhập định 49 ngày, ngồi thiền thêm 7 ngày rồi đứng nhìn cây bồ đề đó bất động 7 ngày nữa, nó tạo thành cái khí thiêng ở nơi cái vùng đó,

[45:06]mà cái khí thiêng đó cứ được chư thiên bảo hộ suốt từ mấy nghìn năm qua. Cho nên bây giờ cũng vậy, ai hành hương về Ấn Độ mà đến cái nơi Bồ Đề Đạo Tràng, không ai cầm được nước mắt. Người ta gọi là động tâm xứ á. Cái nơi mà đến ta phải động tâm, ta phải khóc á, vì lúc đó thần lực chư thiên vẫn tràn ngập ở đó, thần lực của Phật vẫn còn tồn tại ở đó. Nên Ngài đứng đó nhìn cây bồ đề 7 ngày, rồi Ngài đến một gốc cây khác, Ngài ngồi thiền. Lúc đó không hiểu làm sao lại cái mùa đông của Ấn Độ mà lại có mưa bão rất là lạnh, thì có tương truyền rằng có một vị thần rắn đã hiện ra dùng cái thân để che chở cho Phật khỏi bị cái nước mưa.

[45:47]Rồi sau đó, lúc mà khi Đức Phật... Xuất định, có một vị Phạm thiên tên là Sahampati đã hiện ra đến đảnh lễ Ngài trong cái hào quang chói lòa. Vì những vị thiên tử mà ở cõi Phạm thiên, vị nào cũng có cái hào quang rất là sáng. Phạm thiên Sahampati vì nóng lòng muốn nghe Phật thuyết pháp, nên đã hiện ra để đảnh lễ, thỉnh cầu Ngài, thay mặt chúng sinh nói những lời rất là cảm động: "Kính bạch Đức Thế Tôn, từ lâu thế gian chìm trong si ám, không có một bậc giác ngộ để dẫn đường, đưa lối. Nhiều người vì vô minh đã tạo vô số nghiệp sai lầm, trôi lăn trong sinh tử, làm nhiều điều bất thiện, và cái khổ đau nối tiếp khổ đau, không biết ngày nào mới ra khỏi.

[46:36]Hôm nay, Đức Thế Tôn đã thành tựu vô thượng chánh đẳng chánh giác, xin hãy vì tất cả chúng sinh còn mê muội như chúng con mà cất lên tiếng đại hùng của một con sư tử, cất lên tiếng nói của một bậc đại y vương, của một bậc thầy của trời người để tuyên giảng chánh pháp, đưa chúng sinh thoát khỏi bờ mê, nẻo khổ, để đưa chúng sinh về cái bến bờ giác ngộ an vui." À nói rất là cảm động, nói hay hơn thầy nói nhiều. Thì lúc đó Đức Phật, dĩ nhiên là Ngài biết Ngài phải làm gì, nhưng mà Ngài vẫn cảnh báo: "Này Phạm thiên Sahampati, cái giáo lý mà Như Lai giác ngộ được rất là khó nhận hiểu. Tâm tánh của chúng sinh thì nông cạn,

[47:25]căn cơ của chúng sinh thì thấp kém, trong khi cái đạo lý nhiệm mầu này vượt ngoài cái ngôn ngữ, à vượt ngoài những cái sự hiểu biết tầm thường. Cho nên, rất là khó để cho chúng sinh có thể lĩnh hội được đạo lý này mà tu tập, mà thoát khổ." Đức Phật cảnh báo, thì Phạm thiên Sahampati vẫn tiếp tục nói: "Bạch Thế Tôn, đúng như vậy, giáo pháp mà Thế Tôn đã chứng ngộ được thật là phi thường, thật là siêu việt mà chúng sinh rất khó lòng nhận hiểu. Nhưng kính bạch Thế Tôn, từ vô lượng kiếp, Thế Tôn đã gieo duyên hóa độ với rất nhiều chúng sinh. Và hiện nay, những chúng sinh đó như là những đóa hoa sen,

[48:12]có những cánh hoa sen, hay còn là cái mầm nằm ở dưới bùn đang từ từ vươn lên, có những cái hoa sen đang làm cái búp sắp sửa lên khỏi mặt nước, có những cái hoa sen đã bắt đầu ló lên khỏi mặt nước và đang chờ ánh sáng của Thế Tôn rọi chiếu để nở bừng thành những đóa hoa sen rực rỡ, tươi đẹp, ngát hương. Xin Thế Tôn hãy vì chúng con, hãy vì chúng sinh mà cất lên cái lời đại hùng đại lực mà khai mở, khai thị cho tất cả chúng sinh được giác ngộ." Đức Phật mỉm cười gật đầu và Ngài nói rằng: "Cánh cửa bất tử đã mở ra, ai có lòng sẽ được bước vào." Khi Đức Phật nói câu đó, Phạm thiên vui mừng đảnh lễ Phật rồi đi nhiễu ba vòng, biến mất.

[49:03]Từ đây, Đức Phật bắt đầu cuộc đời hoằng hóa phi thường của mình. Năm tới, ta sẽ bắt đầu kể chuyện Đức Phật đã bắt đầu cuộc đời giáo hóa của mình như thế nào. Chúng ta nghe tới hôm nay là đã hiểu được một phần nào sự đắc đạo của Đức Phật thật là cao siêu. Chúng ta vô cùng tôn kính Đức Phật. Và cái tấm lòng tôn kính này, chúng ta thề có thể trên đời này ta sẽ không còn thứ gì hết, có thể trên đời này chúng ta sẽ mất hết danh dự, mất hết tiền bạc, mất hết thân quyến, mất hết tài sản, mất hết tất cả, nhưng chúng ta sẽ giữ lại lòng tôn kính Phật để sống và để chết, không bao giờ lay chuyển, được không?

[49:53]Và cũng vậy, để đền ơn Đức Phật, ngày hôm nay ta quyết lòng tu tập theo giáo lý của Ngài và quyết lòng bảo vệ đạo lý của Phật, không sợ gian nguy, không ngại khó nhọc. Chúng ta bảo vệ giáo lý của Phật bằng cái sự mềm dẻo, khéo léo hoặc là bằng sự cứng rắn, cương quyết; nhưng với bất cứ giá nào, bất cứ phương tiện nào, ta vẫn quyết lòng làm cho Phật pháp được trường tồn, không để những kẻ xấu phá hoại chánh pháp mà Đức Phật cao siêu, từ ái ta đã tuyên giảng từ mấy nghìn năm trước. Chúng ta có nói muôn vạn lời cũng không bao giờ bày tỏ hết được cái lòng kính thương của ta đối với Đức Phật. Hôm nay, ngày đản sinh của Người, chúng ta về đây với nhau,

[50:45]quỳ trước Phật để dâng lên Ngài một tấm lòng tôn kính. Lát nữa chúng ta dâng lên Ngài một đóa hoa, nhưng đây là đóa hoa lòng của ta với biết bao nhiêu cái sự day dứt, trăn trở của thân phận một con người, với biết bao nhiêu sự ước ao, khát khao về cái sự cao thượng trên cuộc đời này. Và cũng vậy, hôm nay ngồi đây dưới mái chùa này, cũng như dưới bầu trời Phật pháp này, chúng ta nguyện sẽ mãi mãi thương yêu nhau vì tất cả chúng ta đều là con của Phật. Bây giờ, chúng ta hãy quỳ lên để đọc bài sám Phật Đản, rồi chúng ta sẽ cử hành nghi thức dâng hoa. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.