[0:16]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:23]Mời Phật tử ngồi xuống.
[0:35]Nay mình nghe tiếp cái phẩm Hiện Bửu Tháp ha. Hôm trước nghe tới đâu rồi có nhớ không? Trả lại hết rồi. Chúng ta nhắc sơ sơ lại, phẩm Hiện Bửu Tháp này là cái phẩm quan trọng nhất của Kinh Pháp Hoa nhưng mà lại khó hiểu nhất. Bởi vì từng lời, từng chữ ở trong đây chỉ là những biểu tượng, chỉ là những biểu tượng mà chúng ta phải xuyên qua những biểu tượng thần thoại đó để hiểu lại được trong tâm của mình. Nên Kinh Pháp Hoa rất là lạ mà lạ nhất là phẩm này. Cái lời kinh, cái cảnh tượng của kinh bày ra đó thì muôn màu, muôn sắc, muôn hình, muôn vẻ tràn ngập cả cái không gian, cả pháp giới.
[1:34]Nhưng mà cái ý nghĩa quan trọng nhất, chủ yếu nhất thì cô đọng lại nằm ở đâu? Ở trong tâm mình, phải không? Đó. Cho nên đây là điểm mà lý thú. Trên hình thức thì mình thấy rất là đẹp đẽ, sinh động nhưng mà trong cái chiều sâu của ý nghĩa thì lại rất là gần gũi. Hôm trước chúng ta đã nghe qua những cái giai đoạn dụng công từ một người mới bắt đầu vào tu, khám phá những cái ý nghĩ của mình, từng cái vọng tưởng của mình để mà buông bỏ, làm cho tâm thanh tịnh bằng cái hình ảnh mà mười phương các Phật phân thân khắp thế giới tụ hội về cái cõi đất này. Rồi cho đến khi mà
[2:32]chúng ta đã nhiếp tâm đến chỗ tận cùng của cái thanh tịnh và chuẩn bị một cái bước cuối cùng để đạt được sự toàn giác là cái đoạn này: "Bấy giờ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thấy các vị Phật của mình phân thân đều ngồi trên toà sư tử, đều nghe các Phật cùng muốn mở tháp báu, Phật liền từ chỗ ngồi đứng dậy trụ trên hư không, tất cả hàng bốn chúng đồng đứng dậy chắp tay một lòng nhìn Phật."
[3:09]Hôm trước nói tới đây phải không? Ở đây là tượng trưng cho cái giai đoạn mà người tu tâm đã đạt được sự thanh tịnh hoàn toàn và cần một cái bước cuối cùng để đạt được sự giác ngộ viên mãn. Thì ở nơi cái định hoàn toàn này, nếu mà chúng ta tự mãn thì mãi mãi đứng lại. Giống như là hồi Đức Phật khi mà rời bỏ thành đi xuất gia, Ngài đến học với các vị đạo sĩ như Uất Đầu Lam Phất, ông A La Ra Ca Ma thì những vị đó cũng đạt được cái sức định rất sâu mới dạy lại cho Phật. Thì trong mấy ngày Đức Phật nhập tới cái định đó liền. Rồi Đức Phật hỏi: "Còn con đường nào để đi?", mấy ổng nói: "Tới đây là hết." Thì Đức Phật mới hỏi:
[4:04]"Nơi cái định này còn bản ngã hay là đã hết bản ngã?" thì mấy ổng không trả lời được. Bằng cái trí tuệ của một vị Phật tương lai, Đức Phật cảm nhận chỗ này chưa phải cứu cánh. Đây là cái chỗ mà người ta thành Phật hay không là cái cảm nhận đó. Với một người mà không đủ nhân duyên để đắc đạo, khi người đó nhập được cái định sâu thẳm, không biết đường đi tới thì đứng ngang đó an trụ lại, tự cho mình là đã xong việc. Xưa nay việc đó rất nhiều, ngay trong những vị sư của đạo Phật mình cũng bị cái tình trạng này. Là cách Phật đã xa, không còn ai là người trực tiếp hướng dẫn nên nhiều vị thiền sư tu hành đạt được cái mức định rất
[4:54]là sâu nhưng không có người chỉ đi tiếp và các vị đành đứng lại đó và tuyên bố đó là viên mãn, cũng nhiều lắm. Cho nên Kinh Pháp Hoa cái đoạn này đó để dạy cho những trường hợp đó, dạy cho những người mà khi thấy tâm mình đến chỗ cùng cực của cái thanh tịnh thì không được tự mãn nữa và phải tập trung tâm lực một lần cuối cùng để vượt qua, buông bỏ cái sở đắc. Cái chỗ này là Đức Phật trụ trên hư không là cái hình ảnh của một người mà khi đạt được cái định thì phải không được tự mãn, không được ngủ quên trên chiến thắng, không được cho mình là đầy đủ. Cái hình ảnh mà Đức Phật trụ trên hư không á, rời bỏ cái chỗ ngồi của mình á,
[5:44]tượng trưng cho một người không được bám víu với cái thành công đã có của mình. Một người đã thành công mà không bám víu cái thành công đó, người đó sẽ tiến xa hơn nữa. Nên cái hình ảnh mà Đức Phật trụ trên hư không dạy cho chúng ta điều đó. Mà không riêng gì trong cái sự tu hành, trong tất cả mọi việc của cuộc đời cũng đều như vậy. Khi mà chúng ta được một cái gì thành công trên cuộc đời, mà nếu mình khởi cái tâm bám lấy nó, chấp lấy nó thì mình đứng đó hoặc lui lại, không thể tiến hơn nữa. Ví dụ. Ví dụ như là cả một cuộc đời mình làm lụng vất vả, cực khổ, rồi mình phát đạt, được khá giả. Mình mới mua được một căn nhà lầu,
[6:40]sắm được vài chiếc xe, vân vân, thì như vậy mình cũng là khá giả. Nhưng cái người á mà ngang đó tự mãn, đứng lại, bám víu rồi thì đứng luôn hoặc lui lại. Còn một người họ thấy như vậy họ không có tự kiêu, họ vẫn giữ cái vẻ bình thường, họ thấy chưa có đáng gì hết, vẫn lo làm phước, vẫn lo làm ăn, không có kênh kênh với hàng xóm, không thấy mình là hơn người thì người đó còn giàu nữa, còn giàu nữa. Cho nên người xưa có nói câu này là: Cái người vừa mới giàu mà kiêu hãnh thì không giàu nữa. Người vừa mới được địa vị mà kiêu hãnh thì không có thêm được địa vị nữa. Người xưa nói như vậy, mà cũng trùng với cái ý của kinh Phật.
[7:33]Cho nên chúng ta nhìn một người mình biết họ giàu, nhưng mình thấy cái phong thái của họ nó trầm tĩnh, kín đáo, khiêm tốn, biết người này còn giàu nữa. Nhiêu đó chưa đủ với cái cái tâm hồn của họ. Tại giàu cỡ đó mà họ vẫn tỉnh bơ, bình thường, tức là cái chí họ còn lớn, cái tầm nhìn còn xa, cái phước họ còn nhiều. Còn người mà mình vừa mới được chút xíu mà cảm thấy thấy hơn người, gương mặt kiêu hãnh thì biết cái tâm lượng người này nhỏ. Đối với người đó cái giàu ngay đó đã tràn cái tâm họ hết rồi, họ không tiến lên được nữa. Bây giờ trong cái việc tu hành cũng vậy. Một người, ví dụ như quý Phật tử,
[8:15]mình ăn được chay trường, rồi mình đi lễ Phật, mỗi ngày Bát quan trai, ở nhà mỗi ngày mình đều tụng kinh, niệm Phật, rồi mình thấy đủ rồi, cũng không ai làm hơn mình được. Một người ăn chay trường, mỗi ngày đều lễ Phật, tụng kinh, mỗi kỳ rằm, mùng một đều đi chùa thọ Bát quan trai, thì mình thấy cũng chẳng có ai hơn tôi, tôi như vậy cũng tinh tấn, thì người như vậy là sao? Đứng lại, không tiến thêm được nữa. Trong khi con đường đạo của Đức Phật thì nó mênh mông, vi diệu, xa xôi, lớn lao, nhưng mà tâm mình lại quá nhỏ nên đứng ngang đó. Còn một người họ tinh tấn ghê gớm, từng bước chân đi là luôn luôn, từng cái việc làm thì trong
[9:08]tâm luôn luôn niệm Phật, luôn luôn kiểm soát tâm mình cho thanh tịnh. Có đồng nào thì san sẻ với người khác, giữ từng chút từng chút để bố thí, cúng dường suốt cả cuộc đời, mà vẫn không lấy đó là hay thì mình thấy người này có thể đi tới đâu?
[9:27]Có thể một ngày xa nào đó họ làm Phật được. Một người mà hết sức tinh tấn mà vẫn không thấy đủ, vẫn khiêm tốn, vẫn cố gắng tiếp thì coi chừng người này một ngày nào đó làm Phật được đó. Còn mình tinh tấn mà mình thấy à ngang đây đủ, hơn người, đứng lại, rồi thua, chẳng có tiến tới đâu hết. Mình ví dụ được hay lắm là sinh lên cõi trời là hết á. Như vậy. Cho nên cái mà không bám víu, không chấp cái thành công mình có được á, đó là điều kiện rất quan trọng để mình bước tới.
[10:02]Khi ấy Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dùng ngón tay phải mở cửa tháp bảy báu, vang ra tiếng lớn như tháo khóa chốt mở cửa thành lớn. Cái đoạn này rất là hay. Nói chung kinh Pháp Hoa, nhất là phẩm này chữ nào cũng hay hết. Câu nào cũng hay. Tại sao dùng ngón tay bên phải? Có ý nghĩa không? Tay phải là thường là tượng trưng cho cái tay mà mình mình thuận, phải không? Đa phần thì chúng ta thuận tay phải, chỉ có người một ít người thì thuận tay trái. Tôi nghe đồn những người thuận tay trái hơi khó tánh, mà không biết có không? Mình chưa dám nói nha. Thường thì người ta thuận tay phải thì cái dùng cái tay phải để mở tháp báu đó là tượng trưng cho cái duyên nó thuận rồi.
[10:53]Nghĩa là sao? Nghĩa là mình hết sức nỗ lực, không bám víu vào cái thành công của mình, nhưng vẫn phải chờ cái duyên nó thuận, cái duyên nó đủ, chứ không có gượng ép, không có gượng ép mà làm cho tới. Trong cái việc tu hành hay trong mọi việc làm giữa cuộc đời này cũng đều như vậy. Mặc dầu chúng ta có cái hướng đi tới, chúng ta nỗ lực làm đủ thứ mọi việc để đi tới, nhưng mà tới hay không, nó vẫn thuộc về một cái cái nhân duyên, cái nhân quả của nhiều đời, chứ không phải là do sự cố gắng hiện tại của mình mà được. Cho nên, vì mình biết cái lý do đó cho nên không có ép, không có dằn ép để đi tới.
[11:43]Trong tu hành cũng vậy, mà trong cuộc đời cũng vậy. Trong cuộc đời, ví dụ như là chúng ta à nói là mình có cái hướng phấn đấu là muốn ví dụ mình muốn sửa lại cái nhà của mình, thì mình cũng làm đủ mọi việc, vẫn làm lụng để dành tiền bạc đủ thứ gì đó, nhưng mà sao? Cứ thong thả, bình thản mà làm theo cái hướng mình đã định. Còn nó tới nhanh hay không tới nhanh, nó thuộc về về cái gì?
[12:19]Duyên. Về cái duyên. Tức là mình đã định hướng rồi nhưng mà cái cái chuyện nó tới nhanh hay chậm là thuộc cái duyên đó. Cho nên khi mà nó không đủ duyên thì nó hơi chậm, mình cứ bình thản, không nôn nóng. Đó là tư cách của người tu theo đạo Phật. Còn nếu mình có phước nhiều thì nó đến sớm một chút, đó cũng là cái phước của mình. Chứ không có dằn ép, gượng quá cái đi mượn tiền người ta sửa nhà, rồi tới chừng đụng chuyện xảy ra mình gỡ lại không kịp nữa, nó có những cái bất trắc. Nên người biết tu theo đạo Phật là vậy đó, tuy có cái hướng định đi tới trong việc tu hành hay trong việc đời, làm hết mọi việc cho trọn cái bổn phận của
[13:01]mình, cho trọn bổn phận của mình và hết cái trí tuệ của mình, nhưng không bao giờ gượng ép, không bao giờ gượng ép để rồi phải phải bất an. Thì trong tu hành cũng vậy, không phải là mình muốn đắc đạo rồi mình liều lĩnh, dằn ép, gượng gạo. Nên có những vị như là nghe mấy vị tổ ngày xưa tu hành tinh tấn rồi đắc đạo, cái cũng muốn đắc đạo, cái nhịn ăn, nhịn uống, ngồi thiền à dằn ép xác, tại vì nghĩ rằng như vậy sẽ mau đắc đạo. Cuối cùng cuối cùng sao? Có khi chết bỏ xác trong rừng hoang, không được cái gì hết. Cho nên ở đây là làm đủ cái nhân duyên, gieo đủ cái phước đức, rất tinh tấn, không kiêu ngạo, không cố chấp và cái ngày mà kết quả
[13:51]nó đến nó là một cái duyên, cái duyên nó thuộc về nhân quả chứ đừng có ép. Giống như mình trồng cái cây, mình trồng cây xoài, mình muốn có trái xoài cái mình gieo hạt giống, mình tưới phân à tưới nước, chăm sóc đủ thứ hết, còn cái việc mà nó ra trái thì nó thuộc về gì? Về cái đúng cái điều kiện nhân duyên thời tiết, phải không? Đến mùa nó ra trái, chứ mà nó vừa lên cái mình muốn nó ra trái bắt đầu mình sao? Mình lấy cái tay mình mình bẻ cành qua vặn qua vặn lại kích thích rồi này nọ ra trái thì nó không ra, không ra nhiều khi nó chết cái cây mình nữa. Cho nên nó hợp lý và phải chờ đợi thì trong đoạn này cũng vậy.
[14:38]Ngón tay phải Phật mở là tượng trưng cho cái thuận duyên. Cái tháp khi mà cánh cửa nó bung ra, vang lên một cái tiếng lớn như là mở cánh cửa của một cái thành lớn, cái này là gì, đố ai biết?
[14:53]Đố ai biết được cái này nói cái gì?
[15:01]Tức là người đắc đạo nó phát ra tiếng rồi cho người ta biết đó nha, không phải là tự mình khoe. Cười gì?
[15:10]Thật ra ai mà hiểu được câu này á thì không có ngồi đây. Người hiểu được câu này thì không có ngồi đây, ngồi trên bàn thờ cho người ta lạy rồi. Đây là cái cảnh giới của một người đến lúc chứng đạo. Ngang cái giây phút mà nó tan vỡ tất cả vô minh, chấp ngã và cái bản thể tuyệt đối cái Phật tánh hiện bày trọn vẹn, phủ trùm hết cả pháp giới vũ trụ. Nên cái cảnh giới mà ngang đó cái biến cố lớn, mình hay gọi là bừng ngộ đó, đắc đạo hay bừng ngộ nó là một biến cố đột ngột ngang đó. Nên cái chỗ này chỉ có người ngộ mới biết, còn không ngộ thì không hiểu được cái đoạn kinh này muốn nói cái gì. Nói tại sao là vang tiếng lớn như cái thành lớn?
[15:56]Nó tượng trưng cho một cái biến cố lớn nó xảy ra trong tâm mình, đột ngột. Giống như trong kinh hay nói đến lúc đó ánh sao mai vừa mọc á, Đức Phật bừng giác ngộ. Hoặc là các thiền sư cũng vậy, à nghe tiếng chim kêu cái tự nhiên trong tâm bừng ngộ, hoặc nghe ông thầy ổng nói một cái tiếng gì cái trong tâm bừng ngộ đó. Thì cái bừng ngộ, cái giây phút mà nó đến một cách bất chợt đó đó thì trong kinh nói là vang ra tiếng lớn là biểu tượng cho cái trạng thái đến đột ngột. Tức thời, tất cả chúng trong hội đều thấy Đức Đa Bảo Như Lai ở trong tháp báu ngồi tòa sư tử toàn thân không rã như vào cảnh thiền định, lại nghe Phật đó nói:
[16:42]"Hay thay! Hay thay! Thích Ca Mâu Ni Phật hoan hỷ nói kinh Pháp Hoa, ta vì nghe kinh đó mà đến cõi này." Cái chữ "tức thời" này tượng trưng cho nhanh. Không phải cửa mở ra từ từ từ từ rồi người ta thấy, bung một cái là thấy liền toàn bộ đó. Nghĩa là Phật tánh cũng vậy, trong giây phút mà người được đốn ngộ thì Phật tánh hiện bày trọn vẹn. Thấy Đức Đa Bảo Như Lai toàn thân không rã, tức là thấy được toàn thân Phật. Cái toàn thân Phật này hình dáng thế nào ai biết? Ai biết cái hình của Phật Đa Bảo sao?
[17:21]Ngồi tưởng tượng hả? Không thấy hả? Phật Đa Bảo này tượng trưng cho gì?
[17:35]Hử?
[17:38]Đúng, tượng trưng cho tri kiến Phật, cho Phật tánh tuyệt đối nơi chính của mỗi người. Vậy cái hình tướng ra làm sao?
[17:49]Hình tướng ra sao? Trang nghiêm thanh tịnh. Làm gì có hình tướng. Cái gì có hình tướng thì cái đó tương đối, hữu hình tất hữu hoại, còn cái tuyệt đối thì không có hình tướng. Nhớ điều đó nha. Cái tuyệt đối thì không bao giờ có hình tướng. Cho nên nói mà đại chúng thấy được Phật Đa Bảo không có nghĩa là thấy cái hình Phật mà tượng trưng cho khi mà chúng ta đắc đạo chúng ta thấy được Phật tánh là một cái có thật nhưng không hình tướng. Không hình tướng mà là cái gì có thật, chi phối trùm khắp, là một cái rất có nhưng mà không có hình tướng. Ai hiểu là cái gì không?
[18:36]Phải ráng hiểu điều này, vì khi mà chúng ta hiểu điều này, tức là chúng ta có được cái nhân lành để sau này được giác ngộ. Nhớ, đây là cái khó hiểu. Thấy được Phật tánh là một cái gì tuyệt đối, có thật, phủ trùm, mà không có hình tướng. Nhớ điều đó. Như cái câu chuyện ngài Văn Hỷ, khi mà ngài chưa ngộ đạo, ngài mới đi Ngũ Đài Sơn để lễ Bồ Tát Văn Thù. Tại bên Trung Hoa, ở Ngũ Đài Sơn có thờ Bồ Tát Văn Thù, mà Bồ Tát thường hay hiện ra, hiện ra phóng hào quang, cho nên những người Phật tử hay là tu sĩ của Trung Hoa thích đi lễ Ngũ Đài Sơn để có khi xem Bồ Tát Văn Thù phóng hào quang. Thì ngài Văn Hỷ khi mà ngài lên núi Ngũ Đài,
[19:31]ngài thấy một ông già dắt con trâu, gặp ngài mới dắt ngài vô cái chùa, mới kêu cái người thị giả, kêu cái người, cái đứa cháu á, ông già kêu Quân Đề dắt, giao cho con trâu, mới mời ngài Văn Hỷ ngồi. Vào trong cái nhà đó, thì ngài Văn Hỷ mới thấy trong nhà hiện lên tất cả cột, vách đồ gì, mái ngói đều ửng lên cái sắc màu hoàng kim như là vàng ròng vậy. Thế ông già ổng mới hỏi là, "Lúc này Phật giáo ở miền Nam như thế nào?" Ngài Văn Hỷ mới nói là, "Cách Phật đã xa, à thời mạt pháp, thời tượng pháp ít có người giữ giới." Rồi cái ng... rồi cái ông già mới hỏi là, "Chúng trong chúng nhiều, ít?" Cái ngài Văn Hỷ mới nói,
[20:20]"Trước thì nhiều, sau thì ít." Cái ngài mới hỏi lại ông già, "Còn chúng ở đây nhiều hay ít?" Ông già ổng trả lời là, "Trước ba ba, sau ba ba." Ngài nghe ngài cũng chẳng hiểu gì ông già ổng nói gì trước ba ba, sau ba ba. Cái ngài mới nói, "Xin nghỉ lại một đêm được hay không?" Ông già nói, "À thầy còn cái tâm chấp nên không nghỉ lại đây được." Cái ngài mới nói nói, "Tôi đâu có còn cái tâm chấp." Nói, "Thầy đã thọ giới chưa?" Nói, "Đã thọ rồi. Nếu không có cái tâm chấp thì đâu cần thọ giới." Ông già ổng nói ngài không cãi được, cho nên ngài phải ra đi. Thì ông già mới sai cái chú Quân Đề đưa ngài đi ra, đi xuống núi, đi ra ngoài bản.
[21:06]Thì đi ra cái ngài mới hỏi là, "Ở đây là chùa gì?" Cái chú nói, "Đây là chùa Bát Nhã trong hang Kim Cang." Chú nói xong cái ngài mới hiểu ông già hồi nãy là Bồ Tát Văn Thù. Thì ngài tiếc không gặp được nữa, ngài mới nói thôi bây giờ ngài xin một, ngài mới hỏi là, "Trước ba ba, sau ba ba là gì?" Cái chú đó mới nói là, mới gọi ngài, "Này đại đức!" Cái ngài, "Dạ!" Cái chú đó hỏi, "Vậy là nhiều hay ít?" Ngài cũng không hiểu được. Cái ngài xin một bài kệ, thì người đồng tử đó mới cho ngài một bài kệ, giống như khuyên ngài, nói là: Trong tâm thân khẩu ý thanh tịnh, đó là sự cúng dường tốt nhất. Rồi sau đó ngài rời núi ra đi.
[21:50]Rồi ngài đến chỗ hội thiền sư Ngưỡng Sơn, Linh Hựu, rồi ngài được ngộ đạo, làm à ngài giống như ngài làm quản chúng ở đó vậy. Những lần mà đến phiên ngài nấu cháo, khi mà khói bốc lên, Bồ Tát Văn Thù hay hiện ra. À quên kể chuyện này, khi mà cái chú Quân Đề đó nó đọc xong bài kệ cho ngài thì chú biến mất liền. Tất cả cảnh chùa biến mất hết, chỉ thấy Bồ Tát Văn Thù cưỡi con sư tử lông vàng bay trên mây, chung quanh là mây ngũ sắc. Một lát sau có một đám mây trắng bay lại che ngang, Bồ Tát Văn Thù biến mất luôn. Nên ngài, nhờ đó ngài thấy được cái hình Bồ Tát Văn Thù. Sau này khi đến phiên ngài nấu cháo ở hội của ngài Ngưỡng Sơn,
[22:36]ngài hay thấy cái hình Bồ Tát Văn Thù hiện lên trên nồi cháo, tại cái duyên xưa mà, thì hiện như vậy gặp mình mình làm sao? Mình sao? Ví mình đang nấu cháo, mình gặp Phật hiện lên trên nồi cơm, nồi cháo mình làm gì? Hử? Mình có quỳ xuống mình đảnh lễ, thấy không? Còn ngài ngài làm sao biết không? Ngài lấy cây dầm quậy cháo, vì cái nồi cháo lớn quá phải làm bằng cả cây dầm nè, ngài lấy cây dầm ngài đập. Ngài nói, "Văn Thù kệ Văn Thù, Văn Hỷ kệ Văn Hỷ."
[23:12]Cái Bồ Tát Văn Thù mới bay lên trên cao, mới đọc bài kệ, nói rằng: "Dưa đắng đắng tới gốc, dưa ngọt ngọt tới ngọn, đã tu ba đại kiếp, lại bị tăng đánh đòn." Nghĩa là Bồ Tát Văn Thù ngài đã tu ba đại kiếp rồi, mà còn bị ông tăng đánh đòn, ngài cười ngài biến mất luôn. Nghĩa là như vậy là ngài, ngài chấp nhận cái việc làm của ngài Văn Hỷ. Sao kỳ vậy? Ai hiểu không? Sao kỳ cục vậy?
[23:44]Trong đây thì có cái ý cũng hay. Cái đoạn đầu mà ngài nói: "Dưa đắng đắng tới gốc, dưa ngọt ngọt tới ngọn" là tượng trưng cho cái nhân quả. Tức là ngày xưa ngài cũng có những lúc mà thể hiện cái ngộ đạo của mình bằng hành động hơi ngang bướng, bây giờ ngài bị lại. Ngài tu ba đại kiếp còn bị tăng đánh đòn, cười rồi biến mất. Cái câu chuyện đó sau này được lưu truyền đó. Văn Hỷ ngài có tên là Giải Thoát, nên có người đặt câu chuyện đó nói là Văn Thù kệ Văn Thù, mà Giải Thoát kệ Giải Thoát, thì Giải Thoát cũng là ngài Văn Hỷ. Ở đây, cái ý nghĩa nó nằm ở chỗ này. Là khi ngài Văn Hỷ ngài ngộ được cái tự tánh,
[24:24]Phật tánh của mình, ngài thấy nó là hình thù của Phật tánh làm sao? Hình thù làm sao? Phật tánh của mình hình tròn hay hình elip, hay hình lục giác? Ừ, không có hình tướng phải không? Phật tánh thì không hình tướng. Cho nên nơi cái thân hình tướng mà thanh tịnh, mà biết rõ, biết rõ tội phước, biết rõ thiện ác, làm thành đạo đức, làm thành tâm từ bi, làm thành trí tuệ mà không hình tướng, đó là chân lý, đó là lẽ phải, đó là chỗ mà mình tìm và mình hướng về. Còn cái gì có hình tướng, coi chừng bị gạt. Cho nên Bồ Tát Văn Thù hiện hình tướng ra là ngài dẹp liền, ngài không chấp nhận. Đối với ngài là không chấp nhận cái gì có hình tướng hết.
[25:09]Chân lý tột cùng là không hình tướng. Chính vì ngài khẳng định cái hiểu của mình như vậy, cho nên Bồ Tát Văn Thù chấp nhận. Đối một người hiểu đạo mà giữ vững lập trường, không bị lụy vào hình tướng, tin tưởng chắc vào cái không hình tướng thì người đó đi đúng đường của đạo. Còn một người mà chấp hình chấp tướng là cách Phật còn còn xa. Đây là điểm mà chúng ta phải phải để ý. Cho nên quý Phật tử trên bước đường mình mới tu, mình dựa vào chùa, mình dựa vào thầy, mình dựa vào tượng Phật để mình gieo cái phước, mình tạo phước. Nhờ cái phước đó mình đến được với sự giác ngộ, nhưng ở nơi cái sự giác ngộ cuối cùng thì là cái, cái không hình không tướng.
[26:02]Nhớ nha. Cho nên trong cái đoạn kinh này nói, "Toàn chúng thấy thân của Đa Bảo Như Lai bất hoại", thì phải hiểu là không có tướng nha, không có tướng nha. Có tướng là có hoại, không tướng mới không hoại. Thêm cái chữ bất hoại là sao? Bởi vì cái Phật tánh đó là bất sinh bất bất diệt. Phật tánh tuyệt đối thì bất sinh bất diệt, cho nên nói toàn thân Đa Bảo Như Lai bất hoại, không có rã. Nhưng mà hình như thế nào? Hễ mình nghĩ có hình ông Phật hiện ra là không phải. Nhớ lại ngài như ngài Văn Hỷ vậy đó, lấy dầm quậy cháo đập liền. Bây giờ đừng có bắt chước.
[26:44]Trên cái chỗ này, nhiều khi chúng ta không hiểu á, chúng ta chấp hình tướng. Chúng ta nhớ cái đoạn đầu á, khi mà cái tháp Đa Bảo hiện ra, mọi người chưa thấy Phật thì ở trong đó có vang ra tiếng nói phải không? Nhớ không? Ừ, vang ra tiếng nói là khen: "Hay thay, hay thay! Đức Phật Thích Ca ha, thuyết pháp" vân vân. Thì bây giờ khi mà đã thấy Phật rồi thì lại cũng vang ra vang ra tiếng nói. Hai cái có khác gì không? Ừ, có khác. Bình thường bên ngoài thì mình thấy không khác phải không? Tại vì trước khi ngộ đạo, trong mê thì cũng những con người như chúng ta mình vẫn nói năng, vẫn đi đứng. Khi ngộ đạo rồi cũng con người này cũng nói năng cũng đi đứng.
[27:32]Một cái khác nằm ở chỗ nào?
[27:36]Khác nhau ở chỗ là trước kia đó mình mê, mình nói mình làm, ở trong mê mà nói mà làm. Như bây giờ mình ngồi đây vậy, mình nhìn nhau bằng cặp mắt si mê. Si mê này không phải là si mê đắm đuối mà là mình nhìn nhau mình không có tâm từ bi, không giác ngộ đó. Ví dụ như mình nhìn cây cối, nhìn bầu trời với cái cặp mắt si mê, không biết gì hết. Thì sau này khi mà ngộ đạo rồi thì cũng đôi mắt này, cũng bầu trời này, cũng những con người này, nhưng mà nhìn với với cái tâm từ bi, trí tuệ, giác ngộ, nó khác. Cho nên bên ngoài nhìn vào không thấy gì khác, cũng con người, cũng nói năng, đi đứng, nhưng mà cái người kia họ đã từ mê chuyển thành ngộ, mình không hiểu được.
[28:29]Như tôi có quen ông thầy, ông này tu có sở đắc. Năm ba mươi tuổi ổng cũng có một cái sức ngộ, ổng nhìn mưa rơi, ổng cảm ổng khóc, rớt mắt. Ổng nói: "Ba mươi năm rồi mới nhìn thấy mưa rơi." Làm sao? Không lẽ từ nhỏ tới lớn ổng chưa bao giờ ổng thấy mưa rơi? Ai hiểu? 30 năm rồi mới nhìn thấy mưa rơi, nghĩa là sao?
[29:08]Nghĩa là nhớ cha mẹ không?
[29:17]Không phải nhìn mưa nhớ cha mẹ đâu. Nó là như thế này. Trước kia cũng nhìn thấy mưa rơi. Mình cũng nhìn giọt mưa, từng giọt mưa rơi, mưa rơi tí tách. Mưa như muốn chết, mưa đi không đành nữa, mà người ta làm thành bao nhiêu bản nhạc, phải không? Ngoài hiên mưa rơi rơi, lòng nghe như chơi vơi, đó đúng rồi đó. Ngoài hiên mưa rơi rơi mà lòng mình nghe như chơi vơi là sao? Mình nhìn mưa mà trong tâm mình nó đủ thứ chuyện ở trong. Tức là mình nhìn mưa qua cái tâm trạng của mình. Chứ không phải là cái giọt mưa rơi đó nó chỉ là giọt mưa rơi, phải không? Đó, trước kia mình nhìn mưa rơi mà trong lòng nghe chơi vơi.
[29:59]Còn khi một người mà họ ngộ đạo, tâm nó thanh tịnh thì họ nhìn hạt mưa với cái tâm trạng gì? Với cái tâm hư vô thì từng giọt mưa rõ ràng như thế, rõ ràng như thế. Nhìn không có xuyên qua một lớp kính màu nào nữa, không nhìn cái giọt mưa rơi qua cái vọng tưởng, không có xen lẫn vọng tưởng trong cái nhìn đó. Không có xen lẫn những cái vọng tưởng, những cái tình cảm thương ghét trong cái nhìn đó. Trong cái nhìn đó nó trọn vẹn là một cái nhìn thanh tịnh, nên tất cả hiện bày rõ ràng. Hiểu không? Như bây giờ cũng vậy, chúng ta nhìn nhau, nhưng mà chưa từng nhìn nhau thật sự trọn vẹn đâu. Vì sao? Vì mình nhìn nhau, trong cái tâm mình nó còn có cái
[30:50]cái vọng tưởng, cái tâm tình, cái thương, cái ghét ở trỏng. Nên chưa bao giờ nhìn nhau thật sự. Đến một lúc nào đó mà chúng ta ngộ đạo, tâm được thanh tịnh thì lúc đó mình mới lại nắm tay người huynh đệ mình, 40 năm qua tôi mới nhìn chị lần đầu.
[31:10]Tại vì bây giờ tôi mới nhìn chị bằng đôi mắt của cái gì? Của cái tâm thanh tịnh, bởi cái tâm từ bi, trí tuệ. Chứ hồi trước tôi nhìn chị là tôi dòm coi bữa nay chị đẹp hơn tôi hay xấu hơn tôi, tóc chị bữa nay là cắt ngắn hay để dài, vân vân, phải không? Tôi nhìn chị, tôi để ý coi chị đeo khoen tai hay là vòng xuyến có đẹp hơn tôi hay không? Nghĩa là mình đối với nhau nhìn nhau bằng cả cái tâm loạn động, thương ghét tùm lum ở trỏng, so sánh hơn thua đủ thứ. Chỉ đến khi ngộ đạo mình nhìn nhau trọn vẹn của cái tâm thanh thản, vô tư trọn vẹn. Đến lúc đó thì ngoài hiên mưa có rơi rơi nhưng trong lòng thì không còn nghe chơi vơi nữa.
[31:54]Bấy giờ hàng tứ chúng thấy Đức Phật đã diệt độ vô lượng nghìn muôn ức kiếp về trước nói lời như thế đều khen là việc chưa từng có. Đều đem hoa trời rải lên Đức Phật Đa Bảo và Phật Thích Ca Mâu Ni. Thấy Phật nói mà được việc chưa từng có, đó là cái chỗ này đây. Chưa từng có là 30 năm qua chưa nhìn thấy mưa rơi, đó là chỗ này. Tức là trước đây mình cũng nhìn nhau mà chưa bao giờ nhìn nhau đó. Còn khi ngộ đạo rồi mình nhìn nhau, đúng thiệt 40 năm qua tôi chưa bao giờ nhìn thấy chị, đó là chỗ được khen việc chưa từng có đó, hiểu không? Hiểu không? Có hiểu chút xíu nào không? Hiểu cái này hay lắm á, thú vị lắm, phải không? Cái ý rất là hay nữa chứ.
[32:40]Không biết hiểu được không à.
[32:45]Nhìn cái thấy nhìn Tôi giảng những đoạn khó này, tôi nhìn quý phật tử, nhiều khi tôi cũng hơi nản. Nhìn những đôi mắt nhìn sững sờ như vô hồn, như không nghe, không không Tôi không biết là những người đó đang ở trong trạng thái thanh tịnh, đắc định hay gì hay là không hiểu gì hết. Không biết hai cái cái nào đúng.
[33:04]Cái đoạn này nó rất là hay, thú vị nhưng mà nó sâu sắc ha. Mình phải tinh tế lắm mới hiểu được. Lúc đó, Đức Đa Bảo Phật ở trong tháp báu chia nửa tòa cho Thích Ca Mâu Ni Phật mà nói rằng: Phật Thích Ca Mâu Ni có thể đến ngồi trên tòa này. Tức thời Đức Thích Ca Mâu Ni Phật vào trong tháp báu ngồi xếp bằng trên nửa tòa đó. Đoạn này ai hiểu được? Mấy đoạn cái cảnh giới cao quá. Bây giờ nghe nói từ từ. Trong cái đoạn kinh này đó, thì Đức Phật Thích Ca và Phật Đa Bảo là tượng trưng cho hai khái niệm, hai phạm trù khác nhau. Phật Đa Bảo là tượng trưng cho cái cái tuyệt đối. Phật Thích Ca tượng trưng cho cái cái tương đối.
[33:54]Tại vì Phật Thích Ca đang ở thế gian mà, tượng trưng tương đối. Thì trong lúc này đó, Phật Thích Ca lên ngồi chung tòa với Phật Đa Bảo là tượng trưng cho cái gì?
[34:07]Không phải thay thế, tượng trưng cho cái tương đối và cái tuyệt đối đã trở thành thành duy nhất, không còn hai nữa. Cho nên mà Lục Tổ Huệ Năng mới nói câu này, là lìa thế gian này mà tìm Bồ Đề thì không thể tìm được. Bởi vì sao? Bởi vì ngay trong cái tương đối này cũng là cái tuyệt đối. Những cái lời người đắc đạo họ nói giống nhau hết. Hoặc là như mà ngài Long Thọ nói,
[34:45]lìa bỏ sanh tử thì cũng không thể nào tìm thấy Niết Bàn nữa. Bởi vì Niết Bàn chính nơi sanh tử này mà có. Nên cái đoạn này mình không hiểu nổi, chỉ những người đắc đạo mới hiểu. Và đoạn này kinh này cũng nói điều đó. Khi Đức Phật Thích Ca lên ngồi chung tòa với Phật Đa Bảo là tượng trưng cho cái tương đối và cái tuyệt đối trở thành duy nhất. Hoặc là hôm trước chúng ta nhắc cái công án là một vị tăng hỏi: Thế nào là đại ý Phật pháp? Ngài Triệu Châu nói: Cây bách ở trước sân. Cây bách là một cái hình tướng, cái gì nó tương đối, nó sanh diệt. Mà ngài nói đó là toàn thể Phật pháp. Cuối cùng vị tăng cũng ngộ đạo,
[35:30]hiểu ra được cả thế gian này đâu cũng là Phật, đâu cũng là tâm. Cho nên có ông Phạm Thiên Thư làm trong 10 bài Đạo Ca nói: Đâu không là Phật, đâu chẳng là trời. Dù bông hoa nhỏ, dù hạt bụi rơi. Như suối trên non, như mây trên trời. Những cái đoạn là đó là diễn tả này là cái mà chúng ta thấy khi mà chúng ta chưa ngộ đạo thì chúng ta thấy rằng mọi việc đều vô thường, biến đổi, sanh diệt. Nhưng khi mà ngộ đạo rồi, tất cả ngược lại. Tất cả đều tràn đầy, đều sáng tạo hết. Nên Hòa thượng Hư Vân mới nói: Nếu trong các ông không khởi một niệm thì các ông sẽ thấy rằng thấy rằng cái sinh khí thanh tịnh hiện hữu tràn đầy nơi tất cả mọi vật.
[36:28]Như một vị Bà-la-môn đến hỏi Phật. Nói đoạn này chắc có giảng rồi. Thôi nói lại. Đến hỏi Phật rằng: À thưa Tôn giả Gotama, tôi nghe rằng tôn giả đã tuyên bố tôn giả là người giác ngộ thành Phật. Sau đó tôn giả dạy rằng thế gian này là vô thường, là bất tịnh, là đau khổ.
[36:58]Như vậy tôi có thể kết luận rằng khi một người mà được giác ngộ thì người đó thấy cuộc đời là vô thường, là đau khổ, là bất tịnh, có phải không? Ổng kết luận vậy cũng hợp lý, phải không? Ổng nghe vậy. Nhưng Đức Phật trả lời: Không. Khi một người đã giác ngộ thì người đó thấy mọi vật là thanh tịnh. Chỗ này nhưng Phật không nói, ngài tuy đối với cặp mắt của một đấng giác ngộ, ngài thấy được cái tuyệt đối trong cái tương đối, nhưng ngài không giảng nói vội. Ngài giảng cái căn bản để người ta tu, nên ngài nói tất cả đều vô thường, là đau khổ, là biến dị, là sanh diệt. Nhưng mà đến khi ông ông Bà-la-môn ổng kết luận
[37:47]thành một cái tà kiến thì Phật phải đổi liền, Phật phải sửa liền, chứ không để ổng thành tà kiến. Phật mới nói là không, khi một người đã giác ngộ, người đó thấy mọi vật đều đều thanh tịnh. Thì ở đây cũng vậy, Phật Thích Ca là tượng trưng cho cái tương đối, Phật Đa Bảo tượng trưng cho tuyệt đối. Với một người ngộ đạo thì cái tuyệt đối và cái tương đối đã trở thành duy nhất. Đó là một ý. Cái nữa, Phật Thích Ca tượng trưng cho cái dụng. Phật Đa Bảo tượng trưng cho cái thể. Nên vì là Phật Đa Bảo tượng trưng cho thể, cho nên ngài ngồi bất động một chỗ. Phật Thích Ca tượng trưng cho dụng, cho nên ngài di chuyển, ngài nói,
[38:34]ngài năng, ngài làm việc này việc kia, ngài đến mở chốt, mở cửa thành, lên tòa ngồi, tượng trưng cho cái hoạt dụng, cái thần dụng của con người, cái thần lực của một người đắc đạo. Thì ở chỗ này, thể tánh là cái thanh tịnh, bất động, còn cái diệu dụng là cái mà nó khởi lên những cái tác dụng thần thông, trí tuệ, từ bi. Từ cái thể tánh, Phật tánh mình nó thanh tịnh không có gì hết, vô hình vô tướng, nhưng nó đủ sức nó khởi lên thành trí tuệ, thành thần thông, thành tâm từ bi vô hạn. Ha? Và Phật Đa Bảo tượng trưng cho thể tánh bất động đó, Phật Thích Ca tượng trưng cho cái thần dụng đó. Thì khi hai vị ngồi với nhau là tượng trưng
[39:15]cho thể và dụng là là một, là duy nhất. Rồi Phật Thích Ca đó là tượng trưng cho hiện tại, phải không? Phật Đa Bảo tượng trưng cho quá khứ. Quá khứ, phải không? Là Đức Phật Đa Bảo là đã lâu vân vân. Phật Thích Ca tượng trưng cho hiện tại, Phật Đa Bảo tượng trưng cho quá khứ. Tức là tượng trưng hai vị đó tượng trưng cho sự sai biệt của thời gian vô hạn, phải không? Thời gian này, thời gian kia khác nhau. Nhưng mà khi hai vị ngồi chung một tòa có nghĩa là quá khứ, hiện tại hay vị lai là một. Tượng trưng cho một nghĩa là sao? Với chúng ta nhìn á thì chúng ta thấy cái hiện tại của mình sống ở đây với cái quá khứ cách đây 50 năm nó khác nhau chứ.
[40:09]Cách đây 500 năm, 5000 năm nó khác nhau chứ. Thì bằng cái con mắt nào mà một người đắc đạo thì lại thấy rằng nó chỉ là một?
[40:21]Ráng suy nghiệm đi.
[40:26]Thôi giảng luôn nha. Khi một người đã đến tuyệt đối thì người đó thấy tất cả thời gian quá khứ, hiện tại, vị lai nằm chung một chỗ. Đây là cái thấy của người giác ngộ, người chưa giác ngộ không thể thấy điều này được, không thể thấy điều này. Vì quá khứ, hiện tại, vị lai nằm chung một chỗ, cho nên một vị đắc đạo họ có thể thấy được vô lượng kiếp của mọi người. Nên chúng ta nhớ cái chuyện mà khi Đức Phật ngài đắc đạo thì đầu tiên là ngài có được túc mạng minh nghĩa là gì? Túc mạng minh nghĩa là gì? Là thấy được vô lượng kiếp quá khứ, nhớ lại vô lượng kiếp quá khứ của của ngài, phải không? Đó, thấy được vô lượng kiếp. Mà tại sao?
[41:14]Có phải là ngài trí nhớ nó quá siêu, ngài cứ nhớ lại nhớ lại, phải vậy không? Không phải, mà bởi vì trong cái tuyệt đối đó, hiện tại, quá khứ và vị lai nằm chung một chỗ, nên chỉ cần nhập định, các ngài thấy toàn bộ vô lượng kiếp của mình hoặc là của người khác. Sau khi Đức Phật nhớ lại vô lượng kiếp của mình, ngài mới tiếp tục quan sát tất cả chúng sinh, thì cái thứ hai đó gọi là gì? Không phải là chỉ thời gian thôi, mà toàn bộ không gian cũng vậy. Toàn bộ không gian cũng vậy nghĩa là sao? Nghĩa là với vị mà đã đắc đạo thì mười phương hư không nằm ở một một chỗ, không còn cái khái niệm xa gần nữa.
[42:04]Một lát nữa chúng ta cũng nói tới đó. Tức là Phật Thích Ca tượng trưng cho cái gần, bởi vì ngài ở ngay cõi của mình; Phật Đa Bảo tượng trưng cho cái xa, phải không? Ngài từ ở đâu cõi nước phương đông nào ngài tới. Phật Đa Bảo tượng trưng cho khái niệm xa trong không gian, Phật Thích Ca tượng trưng cho cái ý niệm gần, và gần với xa nó thuộc về không gian thì bây giờ hai vị ngồi chung với nhau một chỗ nghĩa là gì? Nghĩa là xa và gần là là một, nghĩa là cái không gian mười phương hư không này đều chỉ là một chỗ mà thôi. Cho nên khi một vị đắc đạo á, đối với các vị đó không có khái niệm xa gần. Các ngài nhập định một cái thì cái một người đã ở trên cõi
[42:54]trời hay một chúng sinh ở bên Mỹ hoặc kể cả một thế giới khác, một hành tinh khác, các ngài đều biết rõ hết. Vì không gian không còn xa nữa, tất cả nằm chung tại một chỗ hết. Cho nên cái ý này rất là vi diệu. Chúng ta thấy cái đoạn mà nói Phật Thích Ca lên ngồi chung với Phật Đa Bảo, đoạn này gói ghém không biết bao nhiêu là cái ý đặc biệt trong này, phải không? Rất là vi diệu, nên Kinh Pháp Hoa hay vô cùng, hay nhất là cái phẩm này. Toàn bộ những vi diệu của Phật pháp gói hết trong phẩm này, mà dùng cái ý những cái câu văn, những hình tượng bình thường, thần thoại, mà thật ra vô cùng cao siêu giấu trong này hết.
[43:35]Còn nhiều cái nữa, còn nhiều cái nữa. Bấy giờ, hàng đại chúng thấy hai Đức Như Lai xếp bằng trên tòa sư tử trong tháp Bảy Báu đều nghĩ rằng: "Đức Phật ngồi trên cao xa, cúi mong Đức Như Lai dùng sức thần thông làm cho bọn chúng con đều được ở trên hư không". Tức thời, Đức Thích-ca-mâu-ni Phật dùng sức thần thông tiếp hàng đại chúng đều ở hư không, rồi dùng tiếng lớn mà bảo rằng: "Ai có thể ở trong cõi Ta-bà này nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa? Nay chính phải lúc, Như Lai không bao lâu sẽ vào Niết-bàn, Phật muốn đem kinh Pháp Hoa này phó chúc cho có người". Đoạn này là tượng trưng cho Phật nói tới cái công hạnh độ sinh, phải không?
[44:22]Cái đoạn mà đại chúng đều đứng ở trên hư không hết, là tượng trưng cho điều gì? Ai biết? Thanh thản. Gì nữa?
[44:36]Đại chúng ở đây tượng trưng cho cái gì?
[44:41]Đại chúng ở đây tượng trưng cho bao nhiêu nghiệp thân khẩu của mình, bao nhiêu lời nói trong đời sống, bao nhiêu việc làm trong đời sống. Lên hư không hết là tượng trưng cho gì? Tượng trưng cho tất cả đều đều thanh tịnh, đều giải thoát. Với một người đắc đạo rồi thì mỗi lời nói ra, mỗi một cử chỉ, hành động đều biểu lộ sự thanh tịnh, tự tại, giải thoát. Như nhà văn Hermann Hesse ổng viết trong cái cuốn là "Câu chuyện của dòng sông", ở đây ai đọc cuốn đó rồi? Ở đây có ai đọc cái cuốn đó chưa? "Câu chuyện của dòng sông" của nhà văn Đức Hermann Hesse.
[45:31]Ai đọc chưa? Trong đó là ông diễn tả lại một đoạn của Đức Phật, mà ông diễn tả hình ảnh Đức Phật hay lắm. Đọc cái đoạn đó mình sẽ cảm động. Ông ghi câu này, mà đúng là ông nói đúng: "Khi mà cái chàng thanh niên Tất-đạt trông thấy Đức Phật, chỉ mới trông thấy hình dung thôi, là anh chàng đã khởi lòng cung kính tột độ". Vì sao? Vì trong cái đoạn đó diễn tả lại thế này, là: "Từng cái sợi tóc của Phật, từng cái ngón tay của Phật đều giải thoát vô biên, cũng đều nói lên cái sự thanh tịnh, sự giải thoát". Tức là toàn bộ Đức Phật như một cái tòa núi, không có một cái hành vi nhỏ nào mà không biểu lộ được sự thanh tịnh.
[46:19]Như chúng ta vậy đó, coi chứ mình nhìn trong cuộc đời mình làm việc thô tháo. Dù mình có giữ cái thanh tịnh nhưng mình thấy tay chân mình nó thừa thãi, mà nó biểu lộ cái sự loạn động của nội tâm. Còn đối với Đức Phật, từng ngón tay, từng cất chân, mình có thể nói luôn từng cái tà áo bay phất phới cũng thanh tịnh, giải thoát, nhìn vào cũng đẹp.
[46:46]Và khi mà đại chúng đã lên trên hư không là tượng trưng cho một người tu đến chỗ viên mãn, nội tâm đã hoàn toàn trong sạch, thanh tịnh và mỗi lời nói, mỗi cái việc làm của người đó đều cũng cũng thanh tịnh. Với cái người mà tu hành đạt đến trình độ này thì đi đến cái giai đoạn nào nữa? Giờ phải làm điều gì nữa?
[47:15]Một người tu cho đến cái giai đoạn tâm đã cực kỳ thanh tịnh, đạt đến tuyệt đối và từng lời nói, từng cử chỉ, từng ngón tay, ngón chân đều thanh tịnh, đều giải thoát thì người đó làm việc gì tiếp?
[47:33]Làm việc gì? Cứu độ chúng sinh, phải không? Đúng rồi. Cho nên bắt đầu cái đoạn sau Đức Phật nói nè, như là: "Ai có thể ở trong cõi Ta-bà này mà nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa thì đây là tới lúc thì đây chính phải lúc, nay chính phải lúc". Tức là kinh nói cái chuyện đâu đâu nhưng sự thật dùng từ cũng chỉnh lắm, nghĩa là tu mà đến cái chỗ này thì đây này chính là lúc người đó có thể bước ra để hóa độ chúng sinh. Cái chữ mà có thể giảng kinh Diệu Pháp Liên Hoa là tượng trưng thôi, chứ không phải là chỉ giảng kinh Diệu Pháp Liên Hoa, mà có thể là có nghĩa là có thể tự tại ở trong sinh tử để giáo hóa chúng sinh.
[48:11]Cho nên nói: "Ai có thể ở trong cõi Ta-bà đó", có nghĩa là người mà ngộ đến chỗ này, tu đến chỗ này thì lúc này là lúc có thể ở trong sinh tử để hóa độ chúng sinh. Người này có thể nối tiếp cái sự nghiệp của Phật. Nên: "Như Lai không bao lâu sẽ vào Niết-bàn, muốn đem kinh Pháp Hoa này phó chúc cho có người". Tức là Đức Phật có nhập diệt rồi thì những người mà tu đến cái giai đoạn cái tương đối và cái tuyệt đối trở thành hợp nhất, bao nhiêu công hạnh, oai nghi đều vô cùng thanh tịnh thì người đó là người xứng đáng thay Phật để ở trong sinh tử này mà giáo hóa chúng sinh. Đó, đoạn này. Bây giờ đoạn sau là tới cái bài kệ.
[49:01]Bài kệ thì lặp lại cái ý của đoạn, cho nên chúng ta không có nói, chỉ nói những cái khúc kệ nào mà quan trọng. "Đức Đa Bảo Như Lai và cùng với thân ta, nhóm họp các hóa Phật, phải nên biết ý này". Trong cái bốn câu kệ này bài kinh mới nói nè: "Đức Đa Bảo Như Lai và cùng với thân ta, nhóm họp các hóa Phật, phải nên biết ý này". Nghĩa là Đức Phật dặn người sau đọc cái phẩm kinh này á, đọc cái phẩm kinh này phải hiểu cái thâm ý Phật muốn nói cái gì đằng sau, chứ còn mà chỉ hiểu trên cái thần thoại như kể nãy giờ là chưa hiểu được cái ý Phật đâu. Cho nên Phật mới dặn cái câu, gài một câu là "Phải nên biết ý này".
[49:44]Mà chúng ta đã biết chưa? Biết, biết rồi, nhờ ráng tu, kỳ trước giảng kỹ rồi phải không? Cho nên cái phẩm Hiện Bảo Tháp của Pháp Hoa rất là bí mật. Mà Phật ngài cũng giấu nữa phải không? Ngài cũng nói thần thoại, nhưng mà rồi ngài dặn "Phải nên biết ý này", cái ý bí mật mà ngài giấu. Thì có đoạn này: "Các thiện nam tử này đều nên suy nghĩ kỹ, đây là việc rất khó, phải phát nguyện rộng lớn. Bao nhiêu kinh điển khác số nhiều như Hằng sa, dù nói hết kinh đó cũng chưa đủ làm khó." Nghĩa là bao nhiêu kinh Phật nhiều lắm, giảng được hết, hiểu được hết không khó, hiểu kinh này mới khó. "Hoặc đem núi Diệu Cao ném để ở phương khác cách
[50:33]vô số cõi Phật, cũng chưa lấy làm khó. Nếu người dùng ngón chân động cõi nước đại thiên ném xa qua cõi khác, cũng chưa lấy làm khó. Phật đứng trên Hữu Đảnh nói vô lượng kinh khác vì để dạy bảo người, cũng chưa lấy làm khó. Nếu sau này lúc Phật diệt, người ở trong đời ác có thể nói kinh này, đây là việc rất khó."
[51:02]Vì những kinh kia không có những biểu tượng quá bí mật, quá bí mật, quá sâu sắc như kinh này, cho nên đọc vào thông minh hay có thầy dạy mình, mình có thể hiểu được rồi mình nói người khác nghe được. Thì mình làm nhiều chuyện động trời cũng còn dễ, ví như mà lấy ngón chân mà động cả đại thiên nè, mình đi quậy động trời cho nổi tiếng đăng báo công an đồ lên thì dễ, coi như dễ. Nhưng mà nói được kinh này nó rất khó. Cho nên nói là: "Nếu sau lúc Phật đã diệt nè, người ở trong đời ác có thể nói kinh này, việc này rất là khó." là như vậy. Vì đây là một cái chân lý tuyệt đối vượt ngoài ngôn ngữ, nói đến một cái tuyệt đối, dùng cái lời tương đối này để diễn
[51:44]tả cái tuyệt đối, mà hơn nữa trong cái kinh này là cái kinh mà ẩn, chỉ là những biểu tượng, biểu tượng nói mênh mông cùng trời cùng đất á, mà sự thật đi sâu vào trong cái tâm mình với những cái lý lẽ vô cùng sâu sắc á, rất là khó. Mà hôm nay quý Phật tử được ngồi đây nghe kinh này, mà nghe cho tới tận cùng cái nghĩa lý rất là sâu, thì như vậy quý Phật tử có phước nhiều hay ít? Có phước nhiều không ít đâu. Không mấy người, nói rằng không mấy người trên cuộc đời này kể cả từ ngày xưa xem kinh Pháp Hoa, nghe kinh Pháp Hoa mà có thể hiểu được tột cùng cái ý của Pháp Hoa đâu. Không mấy người. Cho nên quý Phật tử cũng như với tôi, có lẽ từ nhiều kiếp xưa mình có kết
[52:31]duyên lành với kinh Pháp Hoa này, nên ngày hôm nay gặp lại nhau mà
[52:38]giảng kinh này ở nơi cái đạo tràng của thầy trụ trì, thì chúng ta phải biết rằng chúng ta đã có cái nhân duyên gì với kinh Pháp Hoa rất là sâu sắc, nên hôm nay mình nghe được cái nghĩa lý của kinh rất là đặc biệt, thì phải biết rằng đây là việc việc hy hữu, hiếm có, là cái phước lành, một cái nhân duyên lớn. Do đó, chúng ta được cái phước đó thì đó cũng là một cái khuyến khích như một sự ca ngợi mình cũng đã gieo nhân lành ở những kiếp trước, ngày nay mới gặp lại. Nhưng chúng ta phải làm gì nữa? Phải ráng mà mà tu. Đó mình đã gieo duyên nên hôm nay gặp được Chánh pháp sâu xa thì phải ráng mà tu hành
[53:28]để những kiếp sau mình không có gặp nhau ở đây mà gặp nhau ở đâu? Gặp nhau về ở ở cõi Phật.
[53:40]Lúc đó mà thấy ai ốm ốm là biết tui.
[53:46]"Giả sử lại có người dùng tay nắm hư không để mà dạo đi khắp, cũng chưa lấy làm khó. Sau khi Ta diệt độ, nếu người tự thọ trì hoặc bảo người thọ trì, đây mới là việc khó." Nghĩa là cái người mà có phép bay lên hư không, Phật nói dễ, nhưng mà người hiểu được kinh này, tu hành đạt được như kinh này, khuyên người khác tu được như vậy, thì việc này mới khó. "Hoặc đem cả cõi đất để trên móng ngón chân bay lên đến Phạm Thiên, cũng chưa lấy làm khó." Mình để cả cái trái địa cầu này lên ngón chân mình bay lên trời luôn, không khó. "Sau khi Phật diệt độ, người ở trong đời ác tạm đọc kinh pháp này, đây mới là việc khó.
[54:37]Giả sử gặp kiếp thiêu gánh mang những cỏ khô vào lửa không bị cháy, cũng chưa lấy làm khó. Sau khi Ta diệt độ, nếu người trì kinh này vì một người mà nói, đây mới là việc khó."
[54:53]Nói là mang cỏ khô đi ngang qua lửa không cho cháy thì coi cũng không khó, mà mình vì một người bạn của mình khuyên người ta tu hành mới rất là khó, nhất là theo cái nghĩa lý trong kinh rất sâu xa này. Nói như là ông nhà ảo thuật David Copperfield mà đi xuyên qua Vạn Lý Trường Thành không khó, nói cái kinh này mới khó.
[55:19]"Hoặc người trì tám muôn bốn nghìn các tạng pháp, đủ mười hai bộ kinh, vì người mà diễn nói, khiến các người nghe pháp đều được sáu thần thông, dù được như thế đó cũng chưa lấy làm khó. Sau khi Ta diệt độ, thọ lãnh kinh điển này, hỏi nghĩa thú trong kinh, đây mới là việc khó." Tức là cái người mà học hỏi kinh tạng nhiều khắp nơi mà có thể đem dạy người khác được, Phật nói chưa khó, mà đối với kinh điển này mình có suy tư, truy tầm, tìm hiểu nghĩa thú mới là khó. Tại vì sao? Cái người mà đọc tới những biểu tượng trong kinh mà không có hiểu cái nghĩa thần thoại mà muốn tìm cái nghĩa sâu, đây là người đã có duyên lành.
[56:04]Ví dụ nghe nói Phật Đa Bảo hiện ra: "Ờ, chắc là Phật Đa Bảo hiện ra." Không hiểu cái ý thú nó nói cái gì sâu xa hơn. Còn cái người nghe Phật Đa Bảo hiện ra, tự nhiên cảm nhận có một cái gì đó sâu xa trong này, không đơn giản, đây mới là việc khó. Người này đã thầm có cái nhân trí tuệ lớn mới có cái thắc mắc như vậy. Chính cái thắc mắc đối với kinh điển này, Phật nói: "Đây mới là việc khó."
[56:33]"Hoặc có người nói pháp làm cho nghìn muôn ức đến vô lượng vô số hằng hà sa chúng sinh chứng đặng quả La Hán, đủ sáu phép thần thông, dù có lợi ích đó cũng chưa phải là khó. Sau khi Ta diệt độ, nếu người hay phụng trì những kinh điển như đây, đây mới là việc khó." Đoạn kinh này có vẻ hơi cường điệu ha. Chớ dạy người ta đắc đạo đâu phải đơn giản. Tại vì sao? Tại vì chỗ này, sở dĩ cường điệu là vì cái kinh này đưa đến Phật quả. Người tu đắc đạo, hiểu cái nghĩa lý Đại thừa sâu sắc rồi sau đó không có nhập diệt, mà đi trong sinh tử để hóa độ chúng sinh, đó mới là việc khó. "Ta vì hộ Phật đạo ở trong vô lượng cõi
[57:21]từ thuở trước đến nay, nói nhiều các loại kinh mà ở trong kinh đó, kinh này là bậc nhất. Nếu có người trì được, tức là trì thân Phật." Tức là người mà giữ được kinh này á là người đó là người giữ được cái thân Phật, hay là người giữ được Phật pháp. "Các thiện nam tử này, sau khi Ta diệt độ, ai có thể thọ trì và đọc tụng kinh này thì nay ở trước Phật nên tự nói lời thệ." Tức là phát lên lời thề nguyền là một đại nguyện. Người nào mà sau khi Phật diệt độ có thể thọ trì kinh này thì nên phát lời đại nguyện. Nghĩa là sao?
[58:10]Nghĩa là đối với cái chân lý tối thượng này, chúng ta phải có cái lời đại nguyện làm cái nhân để giữ từ kiếp này qua kiếp khác. Chứ chúng ta hời hợt, chúng ta không thể đi xa được. Cứ mỗi ngày như quý Phật tử vậy, quỳ trước bàn thờ Phật phát một cái đại nguyện lớn là nguyện con đời đời kiếp kiếp tu theo Phật pháp, không bao giờ thối tâm, nguyện đạt được sự giác ngộ viên mãn như chư Phật, chư Bồ-tát, nguyện hóa độ tất cả chúng sinh để đền ơn chư Phật, vân vân. Đó những cái lời đại nguyện lớn như vậy mà quý Phật tử dám phát nguyện mỗi đêm mỗi đêm, thì đó là cái huân tập nó làm thành sức mạnh, nó làm thành sự hộ trì của Tam Bảo cho mình.
[58:58]Do đó khi mình sinh qua kiếp khác, từ từ khiến mình gặp được Phật pháp, mình không ngờ được. Như có những vị mà nhiều khi mình không biết Phật pháp, sinh trong gia đình không có Phật pháp, nhưng rồi gặp cái nhân duyên đặc biệt khiến mình tìm tới Phật pháp trong cái hoàn cảnh rất là là là là lạ, đó đó là sự gia hộ của Tam Bảo của nhiều kiếp. Mình chết rồi mình quên, nhưng cái lời đại nguyện không mất khiến cho Tam Bảo giữ gìn, gia hộ, đưa mình gặp lại Phật pháp để mà tu hành tiếp. Thì cái việc mà thọ trì kinh này cũng vậy, thọ trì kinh này có nghĩa là chúng ta hướng tâm đi tìm đến cái giải thoát, cái giác ngộ tối thượng như là Phật,
[59:45]cho nên nó đòi hỏi cái chí nguyện lớn, cái lý tưởng lớn, và cái chí nguyện, cái lý tưởng lớn đó chúng ta phải huân tập mỗi ngày mỗi ngày. Tức là mỗi đêm chúng ta lễ Phật, chúng ta đều phát cái đại nguyện để giữ gìn cái hướng đi, hướng đi cho mình.
[1:00:05]"Kinh pháp đây khó trì, nếu người tạm trì đó thì Ta rất vui mừng, các Đức Phật cũng vậy. Người nào được như vậy, các Đức Phật thường khen đó là rất dõng mãnh, đó là rất tinh tấn, đó là người trì giới, bậc tu hạnh đầu đà thì chắc sẽ mau được quả vô thượng Phật đạo." Đây là những lời khen của Phật đối với người mà hiểu được kinh này, tu theo kinh này, nghĩa là tìm đến sự giác ngộ tối thượng. "Có thể ở đời sau đọc trì kinh pháp này là Phật tử chân thật, trụ ở bậc thuần thiện." Chúng ta nghe bốn câu này: "Sau khi Phật diệt độ, có thể hiểu nghĩa này thì là mắt sáng suốt của trời người trong đời."
[1:00:59]Cái đoạn này giống như trong ngày xưa à thiền sư tôi lại quên tên. Ngài có thần thông, ngài biết hết mọi chuyện quá khứ vị lai. Thì bên đây mà trong cái chức của ngài trong chùa ngài không có để cái chức thủ tọa. Ai làm chức gì làm nhưng chức thủ tọa bỏ trống. Thì có lần cái ngài nói, "Thủ tọa của ta vừa ra đời." Thì ứng với đó là ngài Vân Môn ngài vừa được sinh ra. Khi ngài Vân Môn lớn lên đi tu, rồi bắt đầu đi hành cước đi tham vấn khắp các nơi, thì ngài mới nói, "Thủ tọa của ta đang đi hành cước." Hì, tức đi tham vấn để được ngộ đạo. Thì ngài Vân Môn bên đây đi tham vấn đến chỗ ngài Trần Tôn Túc.
[1:01:43]Thì ngài Trần Tôn Túc cái cơ phong của ngài bí hiểm quá, ít ai lãnh hội nổi. Có lần đó ngài Vân Môn đến tham vấn ngài Trần Tôn Túc, vừa gõ cửa ngài Trần Tôn Túc bước ra nắm áo hỏi, "Nói! Nói!" Kêu ngài Vân Môn phải nói lên cái gì để biểu lộ cái hiểu mình. Thì ngài Vân Môn không nói được, cái ngài buông áo ra mới đẩy, "Tần cái dùi nó xoay lăn." Ngài buông ra ngài đóng cửa lại, không tiếp. Ngài Vân Môn thiết tha. Thiết tha xô cửa vô, cái ngài Trần Tôn Túc lấy cái cửa đánh mạnh một cái dập cái bàn chân của ngài Vân Môn, dập nát bàn chân. Nhưng mà ngay cái đau thấu xương đó làm ngài Vân Môn đại ngộ.
[1:02:25]Nên cái cơ phong của những vị xưa không hiểu nổi. Ngài dùng cái đau thấu xương mà làm cho ngài Vân Môn ngộ đạo. Sau này ngài Vân Môn ngộ rất là sâu, ngài làm tổ một cái tông mới luôn là tông Vân Môn. Rồi sau ngài Vân Môn sau khi tham vấn nhiều nơi rồi mới chống gậy về với cái thiền sư mà nãy tôi nói. Thì khi đi tìm tới thì ở đây cái ngài đó mới nói, ngài đánh chuông gọi chúng ra đứng hai hàng bên đường để đón thủ tọa về. Hì. Lúc ngài Vân Môn tới thì ngài sung chức, giao chức thủ tọa trong chùa luôn. Sau này có ông quan đến thăm vị thiền sư đó. Ổng muốn cất quân đi đánh ở đâu, thì trước khi ông quan đó tới
[1:03:06]cái ngài trụ trì vị thiền sư đó ngồi kiết già tịch luôn. Tức là ngài tránh không trả lời câu hỏi về binh đao. Nào giờ ngài nói nhiều việc chắc cũng đúng nên ông đó đến hỏi, ông mới là muốn cất quân đi đánh ở đâu. Ổng chưa tới là đây ngài ngồi kiết già ngài tịch liền để không trả lời. Ngài chỉ ghi cái tờ giấy là, à: "Văn Yển thủ tọa là con mắt của trời người." Nghĩa là sao? "Thiên nhơn chi nhãn mục" là con mắt của trời người, nghĩa là sao?
[1:03:39]Nghĩa là một bậc giác ngộ phải không? Một bậc sáng suốt, siêu việt, có thể làm thầy cho cõi người và cõi trời được, phải không? Ý là như vậy. Cho nên mới nói là thiên nhơn chi nhãn mục là tượng trưng cho cái người đã hiểu đạo cao. Nên đây Phật khen: "Sau khi Phật diệt độ, có thể hiểu nghĩa này thì là mắt sáng suốt của trời người trong đời." Nên quý Phật tử mà tu theo kinh mà hiểu được cái kinh Pháp Hoa này thì Phật khen người đó là cặp mắt sáng suốt của trời người trong đời.
[1:04:22]"Ở trong đời kinh sợ, hay nói trong chốc lát, tất cả hàng trời người đều nên cúng dường đó."
[1:04:30]Thì phẩm này tới đây là hết. Thì trong bộ kinh Pháp Hoa đó, tôi tâm đắc nhất là phẩm này. Hì. Ý nghĩa sâu sắc, toàn những biểu tượng khó hiểu, nhưng mà rất là hay. Không biết Phật tử người nào à nghe kinh Pháp Hoa thì tôi cũng biết là có người có mặt bữa thì có mặt, bữa thì vắng, phải không? Nhưng mà người nào cái phẩm này mà nghe hết phẩm thì theo tôi thì người này có duyên đối Phật pháp rất là lớn. Bây giờ qua tới phẩm thứ 12 là phẩm Đề-bà-đạt-đa.
[1:05:04]"Lúc bấy giờ Đức Phật bảo các vị Bồ tát và hàng trời người trong bốn chúng: Ta ở trong vô lượng kiếp về thời quá khứ cầu kinh Pháp Hoa không có lười mỏi. Trong nhiều kiếp thường làm vị quốc vương phát nguyện cầu đạo Vô thượng Bồ đề lòng không thối chuyển. Vì muốn đầy đủ sáu pháp Ba-la-mật nên siêng làm việc bố thí lòng không lẫn tiếc, bố thí: voi, ngựa, bảy báu, nước, thành, vợ, con, tôi tớ, bạn bè cho đến đầu, mắt, tủy, óc, thân, thịt, tay, chân chẳng tiếc thân mạng. Thuở đó nhân dân trong đời sống lâu vô lượng, vua vì mến pháp nên bỏ ngôi vua giao việc trị nước cho thái tử, đánh trống ra lệnh cầu pháp khắp bốn phương:
[1:05:43]Ai có thể vì ta nói pháp Đại thừa, ta sẽ trọn đời cung cấp hầu hạ." Đoạn này khỏi lặp lại quý Phật tử tụng kinh biết rồi. Thì có một vị tiên tới mới nói rằng: "Nếu mà đại vương tùy thuận với ta, ta sẽ nói." Thế là vua nghe ổng đi theo. Chuyện này thì có vẻ hơi ngây thơ ha, có vẻ cả tin, nên trong kinh nói thì có vẻ chắc là biểu tượng thôi. Vua theo cái vị tiên đó mà làm mọi việc: hái trái, gánh nước, lượm củi, nấu ăn, vân vân. Cả ngàn năm rồi, bắt đầu vị tiên đó mới nói, mới nói pháp.
[1:06:22]Thì chúng ta biết vị tiên này là ông Đề-bà-đạt-đa, phải không? Trong kinh này nói, quý Phật tử tụng kinh rồi thì biết. Cho nên chúng ta thấy rằng Đề-bà-đạt-đa đi theo Phật từ kiếp này sang kiếp khác. Trong cái kiếp mà Phật ra đời làm Phật thì ổng là một người chống lại Phật. Là ổng chia rẽ Tăng chúng, xúi vua A-xà-thế giết Phật. Có lần ổng đứng trên bờ ổng xô đá xuống làm cho Phật bị chảy máu chân, vân vân. Tức là ổng chống Phật rất là kịch liệt. Nhưng chúng ta nhớ Đề-bà-đạt-đa là ai? Ừm. Trong cái kiếp đó đó là bà con với Phật, là anh của Da-du-đà-la, anh ruột của Da-du-đà-la đó,
[1:07:13]mà ổng đủ phước sinh vào trong cái dòng dõi hoàng tộc. Về thời đó là dòng họ lấy lấy với nhau nên Da-du-đà-la với Phật chứ cũng có anh em chú bác xa trỏng á. Ừ. Cũng lấy gần nhau trong họ hàng bởi vì cùng giai cấp mà, chứ không có lấy ra giai cấp khác. Trong hoàng tộc thì ông Đề-bà-đạt-đa này cũng là hoàng tộc, cũng là một hoàng thân, vương tử chứ không phải là người thường, phước cũng lớn. Nếu một người ác, những đời trước từng có tâm niệm ác, làm việc ác thì đời này làm sao mà sinh được vào hoàng tộc, phải không? Không sinh vào hoàng tộc. Phải có cái phước gì đó. Mà nếu chúng ta đọc trong kinh Bổn Sanh á,
[1:07:52]chúng ta sẽ thấy nhiều kiếp nhiều kiếp ổng hay theo Phật phá Phật, chống Phật. Nếu cứ như vậy phá Phật, chống Phật thì ổng đọa mất rồi, chứ làm sao mà đủ phước Phật đi đâu ổng theo đó, Phật đi đâu ổng theo đó. Phước Phật cỡ nào mà ổng theo sát sát sát một bên rồi phước ổng cũng lớn gần gần gần như vậy. Thì nghĩa là sao? Cho nên nói như kinh á là để muốn hiểu ông Đề-bà-đạt-đa này thì chúng ta phải nêu một vài ví dụ thế này để hiểu. Bây giờ mình nói mình tu hạnh bố thí. À. Và bây giờ mình có 1 triệu đồng. Ở trong nhà mình có 1 triệu đồng thì vì mình sẽ bố thí bao nhiêu? Thì nói thật tình mỗi ý nghĩ mỗi người đi, cứ nói thật.
[1:08:45]Ví dụ mình có 1 triệu đồng, mình vét hết trong túi mình 1 triệu đồng thì mình sẽ bố thí cho một cái người hàng xóm bao nhiêu tiền khi người ta đang khổ? Hay thậm chí là đem cúng chùa đi. Thì gặp lúc chùa cất chùa. Hay bữa nào dòm thấy mặt tui ốm quá cái cho ít tiền để uống thuốc. Ví dụ vậy thì nhắm cho bao nhiêu, nói đi? Cho 100 ngàn? À là quá, phải không? 10% rồi. Rồi ai nữa? Ai có ý nghĩ nào khác cứ nói lên.
[1:09:20]Nên có người cũng cho 500, người cho 1.000, phải không? Người cũng không, ví dụ tùy duyên, vân vân. Thì tùy lúc, tùy dịp, không biết được. Nhưng mà chắc là mình không dám cho hết 1 triệu, phải không? Đó. Thì bình thường là như vậy. Là mình tu hạnh bố thí thì mình nghĩ là tôi phát tâm tu hạnh bố thí. Tôi có 1 triệu thì trong lúc thấy quý thầy cần hay thấy cái nhà bên khổ thì cho 100 ngàn là cũng vĩ đại lắm rồi, phải không? "Tôi làm cực khổ mà bên kia có làm đồng nào thì cho 100 ngàn là ngon lắm, còn đòi cái gì nữa, nói gì nữa?" Thì mình tu hạnh bố thí bình bình, bình thường bình thường như vậy.
[1:09:53]Nhưng bây giờ này, muốn một người mà thành tựu cái hạnh bố thí thì phải dồn người đó vào cái lúc không còn một đồng nào trong túi, rồi gặp một người khổ hơn mình, tính làm sao? Đó là lúc đó, lúc đó để thành tựu được cái hạnh bố thí hay không. Ví dụ nhằm cái lúc mình trong nhà không còn tiền, nhưng mà mình không chết tại gạo mình còn, thức ăn còn, rồi mai bắt đầu có tiền rồi. Nhưng chỉ ngày hôm nay không có thì đừng có mua gì, đừng lấy tiền mua gì hay mua chịu mai trả cũng được. Nhưng mà cái người kế bên hoặc là cái người hàng xóm hoặc người nào mình thấy á, bây giờ mà họ không có 50.000 họ chết liền vì
[1:10:27]không có tiền mua thuốc uống, đang trong cơn bệnh nặng. Bây giờ mình sao, tính sao? Nói, "Nếu tôi có 1 triệu thì tôi cho 50.000 cũng được, giờ tôi không có đồng nào thôi anh chịu khó anh kiếm xin chỗ khác." Nhưng mà không, người tu hạnh bố thí chính những lúc ngặt nghèo đó là những lúc để mình thành tựu được cái hạnh hay không.
[1:10:46]Thì lúc đó cái người mà tu hành bố thí đó đi mượn tiền cho người ta dù mình không có đồng nào. Đó là lúc thành tựu hạnh bố thí. Bây giờ đi, ví dụ nói một người tu hành giữ giới, tu hành giữ giới. Thì bình thường là trong cái giới mình có cái giới không ăn cắp phải không? Thì thôi mình không ăn cắp của ai, mình có lượm tiền thấy không tìm cách đem trả lại bình thường, không có gì, không có gì xảy ra. Nhưng phải dồn người đó vào cái lúc cám dỗ nhất, thử thách thì mới thành tựu được cái hạnh bố thí hạnh giữ giới. Ví dụ như nhằm cái lúc con người đó nào giờ không ăn cắp gì của ai bình thường, trong tâm mình chỉ mê có một cái, là mê cái gì?
[1:11:29]Mê thấy như mê cái nhẫn kim cương xoàn 4 cara nào giờ mê cái việc đó. Thì gặp một lúc, gặp một lúc đi trên đường thấy cái nhẫn 4 cara rớt nằm dưới đường. Mà trong cái hạnh trì giới của đạo Phật thì thấy của rơi không lượm phải không? Hoặc nếu nhặt tìm cách đem trả lại cho người mất. Bây giờ đúng ngay cái mình mê nó rớt dưới đường không có ai nhặt, không ai nhận hết. Thì lúc đó mình sao đây? Trời ơi, giữ giới thì uổng quá!
[1:11:58]Đó, chính những lúc đó là lúc mình thành tựu cái hạnh trì giới hay không, trong lúc cám dỗ nhất. Thì cũng vậy, bây giờ nói tôi tu hạnh nhẫn nhục. Thì lúc nào gặp ai cũng cười vui, hiền lành, không nổi sân thì thành tựu được chưa? Chưa, phải gặp làm sao?
[1:12:17]Phải gặp cái người ta chọc mình, người ta phá mình mà giữ được lúc đó mới thành tựu hạnh nhẫn nhục. Cho nên chúng ta nói á, chúng ta nhớ điều này, là muốn thành tựu sáu cái pháp Ba-la-mật là phải được dồn vào trong cái nghịch cảnh tối đa. Ví dụ như mình mình tập cái hạnh là tôi không có sân với ai hết, ai chửi gì cũng không sân hết. Lần đó mình vừa ngồi xuống cái ghế, cái thằng nhỏ sau lưng nó rút cái ghế mất. Thì sao?
[1:12:46]Lúc đó, lúc coi mình có sân hay là hay là không. Đó, những cái lúc mà phải thử thách như vậy đó mới thành tựu. Thì cũng vậy, Đề-bà-đạt-đa, Đức Phật a Ngài tu cái sáu pháp Ba-la-mật quá quá chuẩn đi. Ví dụ nói tới bố thí thì ổng dám bố thí vợ, ai xin dám cho luôn, ngôi vua dám giao luôn, tài sản dám giao luôn. Cái hạnh của ổng cái bố thí thì hết thử rồi, không có gì ổng cho sạch hết trơn, thôi hết thử ổng. Cái mạng ổng mà ổng dám cho luôn, mà xin cái đầu ổng dám cắt đầu ổng đưa luôn rồi, thôi, với cái hạnh bố thí thì người này quá tuyệt phải không? Nhưng mà còn hạnh nhẫn nhục, nhẫn nhục được mới khó.
[1:13:22]Thế là phải có một người phá. Cái người mà chuyên môn đi quậy, đi phá thì Đề-bà-đạt-đa ổng làm cái hạnh đó, để cho Phật thành tựu được cái pháp Nhẫn nhục Ba-la-mật. Mà phá xong thì ổng có tổn phước không? Tổn, cho nên ổng phải tạo phước cách khác. Ổng đủ phước ổng mới theo Phật theo đời này phá, theo đời kia phá rồi ổng lại làm phước, đủ phước ổng rượt theo Phật theo Phật phá tiếp. Nhờ đó mà Phật mới nói rằng: "Nhờ ổng mà ta mới đầy đủ các pháp Ba-la-mật trí tuệ, biện tài. Ngày nay ta thành Phật là nhờ công của Đề-bà-đạt-đa." Có câu chuyện mà chúng ta thấy là muốn học đạo phải chịu nhiều cái cần
[1:14:01]khổ, nhẫn nhục, kiên trì giống như là ông vua này mà theo tiên Trường Thọ để học đạo, gánh nước, lượm củi, nấu ăn đủ thứ hết trơn. Nên phải nhẫn nhục, kiên trì. Bây giờ chúng ta cũng vậy. Giờ như quý Phật tử đến cái chùa học đạo, nhưng mà trong lòng mình á nhiều khi mình thấy hễ chùa vui thì tới, chùa buồn thôi né. Đến á, bữa nào gặp thầy trụ trì ổng cười cười: "Sao, con khỏe không?" thì tới. Không là nhằm bữa thầy trụ trì hôm nay có chuyện gì ổng bực, ổng đang rầy la chúng, mình vô cái ổng quắt: "Đi đâu đó?". Rồi, bữa sau vĩnh biệt thầy. Thế là: "Thầy đường thầy, con đường con, tình nghĩa đôi ta có chút xíu thôi đó."
[1:14:42]Đó, chúng ta không đủ cái kiên trì, cần khổ để mà theo đuổi cái việc đạo lớn hơn. Như chúng ta nhớ không? Nhớ cái trong truyện sử nhân vật Trương Lương không? Khi mà Trương Lương á làm việc nghĩa muốn tiêu diệt Tần Thủy Hoàng để mà cứu dân tộc Trung Hoa. Mới đầu ổng nhờ một người võ sĩ đột kích tấn công Tần Thủy Hoàng, dùng cái quả chùy mà đập vào trong cái kiệu nhưng ông Tần Thủy Hoàng ổng khôn, ổng đi kiệu khác, đập đó không có, rồi võ sĩ bị giết chết. Trương Lương trốn đi, buồn bã, lần đó đứng bên cái bờ cầu có ông già ổng đi ngang. Cái ổng nói: "Nè nè chú nhỏ, lượm giùm cái đôi dép ta rớt dưới sông."
[1:15:21]Cái Trương Lương chạy xuống lượm, thấy ông này cốt cách phi thường mới nể, mới quỳ đưa hai tay đàng hoàng. Cái mới vừa lui ra cái: "Thấy rớt rồi, xuống lượm nữa." Thế là leo xuống lượm ba lần như vậy. Cái ổng thấy thằng này dạy được á, ổng nói: "Thôi, sáng mai mày tới sớm đi, tao cho mày cái này hay lắm." Sáng mai tới thấy ông già ổng tới trước rồi. Thấy: "Mày tới trễ vậy ai dạy mày? Học trò vô phép, tới sau thầy." Cái ổng bỏ đi mất. Sáng sau tới thiệt sớm cũng thấy ổng tới trước rồi, ổng mắng cho một trận nữa. Thế là nghe không thèm nghĩa là không thèm về nhà, đêm đó Trương Lương ở lại đó luôn.
[1:15:56]Thì tới ông già ổng tới ổng gặp cái ổng mới trao cho cuốn gì đó, bí kíp binh thư gì đó đem học, sau này Trương Lương mới phò Lưu Bang mà dựng nên nghiệp đế, thấy không? Đó, con người kiên nhẫn học một cái gì cũng phải vậy. Như Milarepa theo mà tổ Si Mạc Ba mà học đạo, có ai đọc cuốn "Milarepa - Con người siêu việt" chưa? Ừ. Milarepa là người có năng lực tâm linh. Vì trả thù gia đình nên ổng cũng tàn hại nhiều người, sau ổng hối hận đi theo đạo Phật. Thì gặp tổ Si Mạc Ba, thì ông này thôi ổng đày đọa Milarepa không còn nước nào. Bắt làm chuyện này, bắt làm chuyện kia, không cho ăn, không cho mặc, đánh lên, đánh xuống.
[1:16:35]Đánh mà lưng đồi trầy toét, bắt khiêng đá mà lưng trầy toét. Rồi ổng đang ngồi ổng giảng đạo cho các đệ tử mà Milarepa bước vô xin học đạo là ổng đánh, ổng đá văng ra ngoài cửa rớt ngoài kia. Dữ dội vậy, hành hạ đủ cách, không chịu nổi trốn đi rồi quay về, trốn đi quay về. Có một lần chịu không nổi trốn ông thầy đi, cái giữa đường gặp một ông già. Ông già này tôi nghĩ chắc là Bồ Tát thị hiện. Ông già ổng nói: "Cậu có biết đọc chữ không? Đọc giùm tôi bài kinh này. Thì tôi tôi trả tiền." Đang đói mà, đang cần tiền, cái ngồi đọc. Thì ổng đưa ngay cái phẩm Bát Nhã, trong đó có cái phẩm vị Bồ Tát vì cầu đạo
[1:17:18]mà chấp nhận sự cần khổ, khoét mắt, cắt tay, cắt chân cho người ta để vì cầu đạo. Đọc tới đó sực tỉnh quay về lại với thầy mình lại. Tôi nghĩ ông già đó chắc là Bồ Tát thị hiện. Quay về tiếp tục ông thầy ổng chửi, ổng mắng, ổng đánh đập nữa. Nhưng cuối cùng vì Milarepa lại trở thành người đệ tử giỏi nhất của ông đó, trở thành người mà ổng truyền đạt tất cả những cái bí yếu của ổng. Sau này Milarepa trở thành tổ sư nhất Tây Tạng. Người Tây Tạng thờ Milarepa nhiều khi còn hơn thờ Phật nữa. Linh thiêng vậy đó, nhưng mà khi học đạo rất là cần khổ, thiệt đó. Ở đây có ai thấy lại mấy cái tiệm mà sửa xe
[1:17:55]Honda mà thấy mấy cái người học việc chưa? Thấy không? Mình có đi sửa xe Honda gặp cái ông chủ mà ổng nuôi mấy người học trò để sửa xe cho ổng, nhớ không? Vừa sửa xe học việc á, thấy ổng nói cái ngôn ngữ mà ông thầy ổng nói với mấy cái ông thợ học việc làm sao? Mở miệng tiếng chửi thề, mở miệng tiếng chửi thề, coi như là một con chó. Nhưng mà cái người kia phải nhẫn nhục vậy mới học nghề được. Thấy mà cự nự nói: "Hồi xưa tao đi học nghề cũng vậy, cũng phải bị thầy tao chửi mắng vậy tao mới nên ngày hôm nay." Vậy đó. Hễ lỡ tay sai một cái là ổng thiếu điều ổng đá, nhưng nhờ vậy không dám làm phạm sai nữa. Như vậy, khủng khiếp á.
[1:18:34]Nên cái gì phải có sự đánh đổi, nhất là đạo nó còn tới bao nhiêu lần quý giá hơn, còn phải đánh đổi nhiều hơn. Chúng ta vào chùa cũng thấy, đâu phải một người mà xuất gia vào chùa rồi là gặp chuyện dễ dàng đâu, phải không? Trong đó chung quanh mình cũng là những người họ mới tu đâu phải ai cũng thành Phật. Thế là huynh đệ trong chùa nhiều khi họ cũng xỉa xói nhau, người này ghét người kia, người kia ghét người nọ cũng mệt lắm, phải không? Cho nên mà quý Phật tử biết chuyện đó thôi cũng thông cảm, nói thì quý tăng ni cũng đang tu, kệ từ từ tu tính sau. Nên không phải ở đâu là cũng là thiên đường cho mình bước tới.
[1:19:10]Mà một người tu hành thì phải chấp nhận cái cực khổ. Có một lần tôi gặp cái cô đó, cổ lên chùa nói chuyện. Thì hỏi: "Mục đích con là gì?" Cổ nói: "Dạ, con sống sao cho mình thấy hạnh phúc là được." Nói: "Quan điểm con sai rồi. Quan điểm mà mình chỉ nghĩ tới hạnh phúc của mình tức là sự ích kỷ. Sống trên đời là chỉ đi tìm hạnh phúc cho người khác thôi. Còn bản thân mình đừng bao giờ đặt một cái mục tiêu gì cho mình hết. Hạnh phúc, đau khổ, sung sướng không cần. Mà nhiều khi cái sự cực khổ á, nó chính là cái cao thượng. Cái mà mình cực khổ vì người khác nó là cao thượng, nó có ý nghĩa hơn là cái sung sướng.
[1:19:51]Có khi người ta sung sướng, giàu sang, cuộc đời lại vô nghĩa. Còn có khi mình cực khổ, lăn lóc cực khổ, nhưng cái cực khổ mình nó có giá trị, có lợi cho những người khác, cái cực khổ nó nó đáng quý hơn, đáng tìm hơn." Nghe về nhà có thực hành chút nào không? Từ lúc mà đi Bát Quan Trai nghe giảng, nghe quý thầy giảng thế này thế kia, quý Phật tử có thấy tâm hồn mình thay đổi không? Vậy là tốt. Thôi, hồi hướng ha. Nguyện đem công đức này... Hướng về khắp tất cả,
[1:20:39]đệ tử và chúng sanh, đều trọn thành Phật đạo.
[1:21:40]Chúng con máu chảy một dòng, thương nhau như nước Biển Đông dạt dào.
[1:21:52]Non sông rừng thẳm núi cao, tổ tiên khí phách biết bao anh hùng.
[1:22:01]Nhiều phen vận nước khốn cùng, nhưng rồi hào kiệt chung lòng đứng lên, giữ gìn xã tắc vững bền, dựng xây bờ cõi, đắp nền văn minh.
[1:22:19]Nghìn xưa chùa miếu hiển linh, dưới chiến tinh kỳ lòng thành bay xa.
[1:22:28]Phật từ như một người cha, chở che dân tộc hiền hòa yên vui.
[1:22:39]Chúng con triệu triệu con người, một lòng theo Phật đắp bồi quê hương.
[1:22:48]Trái tim Phật là tình thương, nghìn lời Phật dạy là đường thăng hoa.
[1:23:52]Tôn kính Phật, yêu nước non, nên tình dân tộc sắt son chẳng mờ.
[1:24:03]Dù kẻ hèn hoặc người hơn, làm sao qua được tình thân đồng bào.
[1:24:41]Nay con dâng cả tấc lòng, cúi xin chư Phật đoái trông độ trì.
[1:25:01]Trước là đạo đức chói ngời, ai ai cũng biết sống đời vị tha.
[1:25:38]Bao năm xương trắng máu đào, giờ đây ai cũng khát khao thanh bình.
[1:26:35]Xóa đi hiềm cũ cha ông, Sông Gianh, Bến Hải đau lòng biết bao.
[1:26:53]Xin thương yêu đến mọi người, chung tay xây dựng núi non Lạc Hồng.
[1:27:10]Tặng nhau sự sống hiền lành, giúp nhau sinh kế
[1:27:18]để thành công chung. Mai này nước Việt hưng long, góp vào thế giới đại đồng bao la.
[1:27:41]Lòng người chỉ có tình thương, hành tinh chỉ có
[1:27:49]thiên đường mà thôi.