Lời giảng: Kinh Pháp Hoa 02 - Phẩm Phương Tiện

  • Thuyết giảng: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Thời lượng: 1:26:57

Toàn văn lời giảng, chép từ phụ đề. Bấm vào mốc thời gian để nghe đúng đoạn đó.

[0:10]Và chúng ta cũng nhận diện được thêm nhiều điều mới trong kinh. Thì cái khúc trước đó bữa hôm bữa trước thì ngài Di Lặc trình bày cái sự việc hỏi ngài Văn Thù,

[0:32]và chúng ta nghe ngài Văn Thù trả lời. Ngài trả lời rằng: khi mà thấy một người, mà thấy Đức Phật á ngồi nhập định yên lặng, rồi khắp bầu trời rơi hoa, rồi ánh sáng từ Đức Phật chiếu soi khắp cả mười phương, làm cho chúng hội thấy cả mười phương thế giới, thấy từ sai biệt của tội phước các chúng sinh, thấy công hạnh của vô lượng chư Phật. Thì ngài nói rằng ngài biết rằng như vậy Đức Phật sắp sửa nói một giáo pháp vĩ đại, giáo pháp lớn á, gọi là Đức Phật Thế Tôn muốn nói pháp lớn, tuôn cái pháp vũ lớn, thổi cái pháp loa lớn, đánh cái trống pháp lớn và diễn cái pháp vị lớn. Sắp sửa Đức Phật nói giáo pháp vĩ đại qua cái biểu hiện trước.

[1:37]Ở đây có điều rất là hay. Trong cái ý nghĩa này chúng ta thấy ngài Văn Thù là tượng trưng cho cái trí của một người đã nhiếp tâm được vào định. Có thể là một người này chưa chứng được tột cùng của con đường Phật pháp, nhưng khi mình đã nhiếp tâm được thanh tịnh, có cái trí, mình hiểu được những cái điều mà nó vượt hơn cái chỗ chứng của mình. Như hôm trước chúng ta nói, một người bằng cái tâm suy nghĩ sẽ không hiểu được tại sao người không suy nghĩ lại sáng suốt hơn người suy nghĩ. Mình không hiểu được, nhưng khi một người có nhiếp tâm thanh tịnh được thì chấp nhận liền là đúng: những người không suy nghĩ sẽ sáng suốt hơn những

[2:25]người mà tâm thường suy nghĩ loạn động. Điểm thứ nhất. Thứ hai nữa, khi một người tâm thanh tịnh thì mưa hoa rơi cả bầu trời là ám chỉ rằng cái thanh tịnh, cái hư vô của nội tâm một người nó không phải là cái không có gì hết, mà chính từ cái hư vô nó hiện ra thành cái sự cảm ứng đối với tất cả mọi người, tất cả chúng sinh.

[2:56]Từ nơi cái yên lặng, thanh tịnh đó làm cho người ta có trí tuệ sáng suốt hơn. Cho nên đây vào đầu kinh Pháp Hoa trình bày những điều này giống như nêu lên một cái điểm cơ bản, quan trọng nhất của đạo Phật: tất cả mọi chuyện đều bắt đầu bằng cái tâm thanh tịnh, và nơi cái tâm thanh tịnh này nó không phải là hư vô mà nó sẽ có đầy đủ mọi cái. Nhất là hình ảnh Đức Phật ngồi thiền yên lặng, mưa hoa rơi cả bầu trời là tượng trưng cho cái sự cảm ứng vô lượng, vô biên của chư Phật đối với chúng sinh. Nhiều giờ chúng ta nguyện, khi chúng ta lạy Phật, chúng ta cầu mười phương chư Phật một điều gì đó, nghe cái chữ mười phương chư Phật chúng

[3:42]ta vẫn nghĩ chư Phật ở xa xôi, nhưng không ngờ rằng cái cảm ứng của chư Phật không có hạn lượng, ngay từ cái tâm niệm chúng ta vừa ứng đã có cái sự cảm thông đối với chư Phật. Cho nên cái thanh tịnh, cái hư vô đó không phải là cái trống rỗng chẳng có gì, mà chính là cái cánh cửa để mở ra mọi điều kỳ diệu. Chúng ta là đệ tử Phật, chúng ta phải học được bài học này đầu tiên. Đức Phật muốn nói với chúng ta biết rằng muốn đi vào Phật pháp, muốn đi đến con đường giác ngộ thì làm gì làm, phải hiểu trước cái ý nghĩa của cái tâm thanh tịnh. Chúng ta tu bao nhiêu công hạnh không cần biết, dù cho chúng ta có tụng kinh,

[4:31]trì giới, nhẫn nhục, bố thí gì đó không cần biết, nhưng cánh cửa đầu tiên mà chúng ta phải mở ra cho bằng được là tâm thanh tịnh, cái sự thiền định.

[4:44]Và khi thấy một người tâm được thanh tịnh, tỏa ra được cái cảm ứng, cái từ bi, cái trí tuệ thì chúng ta biết rằng một người như vậy xứng đáng, xứng đáng và có khả năng nói lên được những chân lý sâu xa, vi diệu của đạo.

[5:04]Lặp lại đoạn này rất quan trọng: khi nào chúng ta thấy một người tâm được thanh tịnh, từ nơi cái thanh tịnh này mà người đó tỏa ra được cái lòng từ bi, cái trí tuệ thì chúng ta biết rằng người này xứng đáng hoặc là người này có khả năng để nói lên được những giáo pháp sâu xa, vi diệu. Là ý nghĩa của đoạn kinh này, nghĩa là ngài Văn Thù thấy Đức Phật ngồi kiết già, bất động, im điềm lặng, biết Đức Phật sắp sửa nói cái giáo pháp vĩ đại, nghĩa là như vậy. Như chúng tôi vậy, là ngồi đây nói pháp nhưng mà chưa xứng đáng là vì sao? Bởi vì mình chưa đủ cái thanh tịnh, chưa đủ từ bi, chưa đủ trí tuệ, nhưng vì gượng mà trình bày cái pháp này với Phật tử.

[5:57]Nhưng cái ẩn ý trong kinh này là như vậy: người nào mà tâm thật sự thanh tịnh, từ bi và trí tuệ, người đó có khả năng nói được những giáo pháp vi diệu.

[6:09]Ngài nói rằng: vô lượng, vô biên a-tăng-kỳ kiếp về trước, có đức Phật hiệu là Nhật Nguyệt Đăng Minh. Nói chung hiệu: Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Cái mười hiệu này sau này khi vào phẩm Thọ Ký chúng ta sẽ giải thích, còn bây giờ thôi mình lướt qua là để cho xong cái phẩm Tựa. Cái đoạn này thì nói như chúng ta đã nghe bài kệ ban đầu là Đức Phật: những người cầu đạo Thanh văn thì nói pháp Tứ đế, những người cầu Duyên giác nói pháp Mười hai nhân duyên, vân vân. Chúng ta đã nghe lần trước, không lặp lại.

[6:51]Rồi đến hai vạn Đức Phật đều cùng một tên là Nhật Nguyệt Đăng Minh cứ nối tiếp nhau, nối tiếp nhau thành Phật thì đoạn này nói có ý nghĩa gì? Đoạn này có hai ý nghĩa quan trọng. Ý nghĩa thứ nhất á: cái gì là chân lý nó đúng cho bây giờ thì nó cũng đã đúng từ từ vô lượng kiếp trước, nếu nói về chân lý. Và nhất là cái chân lý mà nói rằng cái tâm giác ngộ, cái tâm thanh tịnh mà từ bi, mà sáng suốt này, đây là một cái chân lý tối thượng mà đã đúng từ vô lượng kiếp trước, đã đúng trong hiện tại và sẽ đúng mãi mãi vô lượng kiếp về sau. Nên cái chân lý này đã được khẳng định bởi vô số chư Phật. Cái đoạn này nói như vậy đó, nên chúng ta ngày hôm nay chúng ta tu theo đạo Phật,

[7:50]chúng ta phải xác quyết, phải tin chắc rằng nếu tâm chúng ta được thanh tịnh thì từ bi và trí tuệ sẽ xuất hiện, chứ không phải cái thanh tịnh là hư vô. Và đây là một chân lý mà đã đúng từ vô lượng kiếp trước và còn sẽ đúng mãi mãi vô lượng kiếp về sau, do đó chúng ta phải quyết tâm chúng ta đi theo con đường này. Cái ý nghĩa thứ hai nữa là có cái tính ám thị: thường cái tâm chúng ta hẹp hòi, chúng ta chỉ thấy cái gì nó nhỏ bé, gần gũi, ngắn ngủi xung quanh mình. Chúng ta sống một kiếp người sáu, bảy mươi năm, chúng ta chỉ nghĩ lẩn quẩn lẩn quẩn trong một cái kiếp sáu, bảy mươi năm này, mà đó là người khá.

[8:37]Còn những người mà tệ, kém, nhiều khi chỉ nghĩ quanh quẩn trong vài năm, vài tháng trong cái đời đang sống. Sống ngày hôm nay thì biết việc ngày hôm nay hoặc là một vài tháng nữa, chứ không nhìn xa xưa, không nhìn lui lại những kinh nghiệm quá khứ của mình, và không chuẩn bị cho mình để đi vào tương lai như thế nào. Cứ lo ăn, lo mặc, lo dẹp cái sự sống từng ngày, từng giờ. Như vậy là cái tâm chúng ta rất là hẹp hòi. Còn một người giỏi hơn, họ vượt khỏi cái khung thời gian đó để họ biết được trước đây mình đã từng làm điều gì sai, đúng và cần phải làm những điều gì để chuẩn bị đi vào hết cuộc đời mình sắp tới, chuẩn bị đi vào thêm bao nhiêu kiếp tới nữa.

[9:23]Nhưng cái mà nói rằng thời gian lui lại hết kiếp này, một vài kiếp tới, kiếp xưa, một vài kiếp sau vẫn còn gọi là hẹp hòi. Nên trong đoạn kinh này, khi mà nêu ra hình ảnh của chư Phật từ xưa, xưa, xưa mãi như vậy để mở cái tấm lòng chúng ta ra, cái tấm lòng mà chỉ nhìn thấy cái điều gì nhỏ bé, ngắn ngủi. Khi đọc cái đoạn kinh này, nhất là những Phật tử khi tụng những cái đoạn kinh này đến đây, chúng ta sẽ thấy cái lòng mình tự nhiên nó cởi mở ra. Tự nhiên mình thấy rằng cái kiếp sống này nó tạm bợ, không phải là duy nhất, không phải là để ngắn ngủi, mà cái sự hiện hữu, cái ảnh hưởng của nhân quả

[10:06]nó đã bắt đầu từ rất lâu, rất xưa và sẽ còn ảnh hưởng rất lâu, rất xa về sau nữa. Nên khi chúng ta phải có cái cái mở toang cái tâm hồn mình nó lớn lao như vậy, chúng ta mới có thể tiếp nhận được những cái ánh sáng chân lý cao quý hơn. Còn nếu tâm hồn chúng ta hẹp hòi trong một vài cái thời gian, cái không gian ngắn ngủi chung quanh, chúng ta sẽ không đủ sức để hiểu được bộ kinh Pháp Hoa này nữa. Cho nên quý Phật tử khi mà tụng kinh thường tụng kinh qua những điều này, phải nhớ mở tung cái tâm hồn mình ra, đừng có nhìn cái vấn đề gì nhỏ bé, hẹp hòi nữa. Đừng có hơn thua, chấp nhất nhau từng việc lặt vặt, lặt vặt nữa.

[10:55]Đừng có giằng cãi nhau, người này nói hơn một tí mình lại phải cãi lại. Thấy người ta mua chiếc xe này thấy người ta mua chiếc xe tốt hơn lại cảm thấy nóng ruột. Mình cất được cái nhà hai tầng, người ta cất cái nhà ba tầng cảm thấy khó chịu. Những cái đó là những cái chỉ thấy được trước mắt, tâm hồn mình nó hẹp hòi rồi nó sinh ra cái ích kỷ, hơn thua, đố kỵ, căm ghét, hận thù không đáng, không đáng, những chuyện đó không đáng để mình bận trong cái tâm hồn của mình. Vì điều sau, ta phải mở tung cái tâm hồn mình ra để thấy được cái chân lý từ vô lượng kiếp trước và vô lượng kiếp sau. Chừng nào mình nghĩ ra, không có chấp cái cuộc đời này nó là quan

[11:38]trọng nữa, chúng ta thấy nó chỉ là một cái chặng rất nhỏ, rất nhỏ trong cái chuỗi thời gian vô lượng kiếp như vậy đó, tâm chúng ta nó mở rộng ra để mình đón cái chân lý vi diệu, cao cả này. Quý Phật tử đã mở lòng được chưa? Mỗi đêm tụng kinh lạy Phật phải mở tung cái tâm hồn mình nghe. Đừng có lúc nào cũng thắc mắc chuyện hàng xóm người ta cứ quăng rác qua nhà mình, con dâu mình nói tấc bấc mình những cái chuyện lặt vặt đừng thèm để

[12:11]ý. Có cái đoạn này rất hay, Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh cuối cùng, lúc chưa xuất gia có tám vị vương tử, người thứ nhất tên là Hữu Ý, người thứ hai tên là Thiện Ý, thứ ba tên Vô Lượng Ý, thứ tư tên Bảo Ý, thứ năm tên Tăng Ý, thứ sáu tên Trừ Nghi Ý, thứ bảy tên Hướng Ý, thứ tám tên Pháp Ý. Đây là Đức Phật mà lúc chưa xuất gia, Ngài chưa có tu hành, chưa có giác ngộ, Ngài có tám người con mà cái tên của người con này đều có cái chữ ý. Đây là ám chỉ điều gì?

[12:54]Đây là một cái ẩn dụ ha, không phải là nghĩa đen, một ẩn dụ rất là hay. Người ta nói rằng tám vị vương tử đó oai đức tự tại đều lãnh trị bốn châu thiên hạ. Nghĩa là tám người con này cai trị khắp cả mọi miền đất nước. Ám chỉ điều gì?

[13:15]Không biết hồi tụng kinh có hiểu ra chưa? Đoạn này có nghĩa là lúc mà chưa xuất gia, tức là tâm chưa ngộ đạo, lại cái tâm của mình đó, khi mà chưa ngộ đạo thì cái ý của mình nó là cái vọng tưởng. Nó cai trị hết mọi miền đất nước nghĩa là gì? Là là sao? Là cái ý khi thì nó nhảy ra Hà Nội, phải không? Khi nó chạy về Cà Mau, khi nó bay qua bên Mỹ, khi nó chạy về bên Úc. Đó, bởi vì cái ý của mình nó cai trị hết bốn châu thiên hạ, rồi vọng tưởng nó chạy tùm lum khắp xứ. Đây là một cái ý nghĩa. Đức Phật Phật chưa xuất gia, nghĩa là tâm mình chưa tìm được sự giác ngộ thì cái ý của mình nó tán loạn chạy khắp ra.

[14:03]Nó tán theo cái ngoại cảnh bên ngoài mà nó rong ruổi hết trong khắp thời gian, không nhiếp lại được. Nên cái câu văn nói thì nghe đã tai, nghe hay lắm, có oai đức tự tại cai trị bốn châu thiên hạ, thực ra không phải. Là ám chỉ khi một tâm mà chưa ngộ đạo được thì cái vọng tưởng nó rong ruổi cùng khắp các thứ. Một lát nữa chúng ta sẽ nghe nói khi Đức Phật mà ngộ đạo rồi thì tám người con đi tu theo. Tức là tâm mình mà giác ngộ rồi, tất cả cái niệm của mình đó nhiếp lại hết, nó cũng đi theo con đường của Phật pháp. Hiểu không? Chịu không? Cho nên kinh Pháp Hoa có cái điều lạ ở chỗ này: nói những chuyện rất là cao siêu, xa xôi,

[14:46]huyền thoại nhưng kỳ thực là ám chỉ những điều rất gần ở trong tâm mình. Cho nên chúng ta tụng kinh Pháp Hoa dễ bị lừa lắm, bị gạt. Nghe kinh linh thiêng, huyền thoại quá nên mình thích tụng, nhưng bởi vì kinh này nó lại độ được mọi hạng người là vậy đó. Những hạng người mà những người thích sự linh thiêng thì thấy kinh này linh thiêng hơn là cái mẩu mẹ đồng bóng ở đâu, mẩu mẹ đồng bóng coi dở không bằng kinh này. Cho nên kinh này độ được những người mà mê thích cái chuyện thần bí. Nhưng mà sao? Lại cũng độ được những người trí tuệ. Họ đọc như vậy nhưng họ không hiểu như vậy. Họ lại hiểu những cái nghĩa rất gần gũi,

[15:26]thực tế, khoa học mà có lợi cho sự tu hành của mình. Và vì chính khi họ hiểu được điều này, họ xa dần những cái điều mê tín ở đây. Nghe vua cha xuất gia chứng đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, đều bỏ ngôi vua cũng xuất gia theo, là như vậy thấy không? Hễ mà tâm chúng ta tìm được Phật pháp, ngộ rồi thì những cái niệm rong ruổi, lang thang của mình nó đều nhiếp lại trở về một chỗ. Có một đoạn:

[16:04]Khi ấy có một vị Bồ Tát hiệu là Diệu Quang có 800 đệ tử. Nói Bồ Tát Diệu Quang lát nữa thì cho biết đây chính là Bồ Tát Văn Thù. Bây giờ Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh từ trong chánh định mà dậy vì Diệu Quang Bồ Tát nói kinh Đại thừa tên là Diệu Pháp Liên Hoa. Đoạn này ám chỉ điều gì?

[16:28]Đoạn này ám chỉ cái điều là Diệu Quang Bồ Tát tượng trưng cho trí, trí tuệ. Và Đức Phật từ trong chánh định mà dậy là tượng trưng cho sự giác ngộ tối thượng. Và Đức Phật giảng pháp cho Bồ Tát Diệu Quang nghĩa là cái trí tuệ của mình nó sáng lên, sáng lên theo cái sự ngộ đạo của mình, theo cái chứng đạo của mình. Cho nên ở đây cái trí tuệ của một người tu nó không phải là do học hỏi từ bên ngoài mà do người đó chuyên tu, thâm sâu đi vào trong tâm hồn mình. Chính từ trong cái nội tâm thanh tịnh của mình mà một người có cái trí tuệ biết được cùng khắp mọi điều. Cho nên ở đây Diệu Quang Bồ Tát được Phật dạy

[17:15]có cái ám chỉ là như vậy, cái ẩn nghĩa là chính cái thanh tịnh, cái sự giác ngộ đó làm cho cái trí tuệ của mình được tăng trưởng. Cho nên nếu quý Phật tử có tu sẽ thấy điều này, nhiều khi cái tâm mình loạn á, mình hiểu Phật pháp một cách cạn cợt, hời hợt, mình đọc một câu kinh mình hiểu không hết nghĩa. Nhưng nếu quý Phật tử nhiếp tâm được thanh tịnh, được an định, cũng một cái câu Phật thuyết, mình nghe qua tự nhiên mình hiểu rất sâu sắc và có thể giảng cho người khác một cách rành mạch được.

[17:50]Có một đoạn thế này: Quý Phật tử ngồi đây nghe là đã tụng qua bộ kinh này chưa? Có ai chưa tụng qua bộ kinh Pháp Hoa không? Thì nên ráng tụng nha, tại vì sao? Tại vì khi mà chúng tôi giảng, chúng tôi không có lặp lại từng chữ, chúng tôi lướt qua lướt qua vì nghĩ là quý Phật tử là đã tụng rồi, ha. Cho nên khi mà nghe giảng, mình đối chiếu lại từng đoạn mình đã tụng hoặc là lấy cuốn kinh mình lật ra mình xem, như mấy bà với lại mấy cô đó, rất tốt. Có đoạn thế này: Khi đó có vị Bồ Tát tên là Đức Tạng được Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh thọ ký, nói rằng: "Ông Đức Tạng Bồ Tát này sau này sẽ thành Phật, hiệu là Tịnh Thân Như Lai."

[18:41]Đây là điều này ám chỉ điều gì? Chữ đức tạng, tạng là cái kho, đức là gì? Đức là đạo đức. Cái người mà có cái kho đạo đức ở trong tâm hồn thì người đó được thọ ký thành Phật. Ở đây nói cái nhân quả này. Nên chỉ có cái người giác ngộ, người giác ngộ đó mới biết được cái nhân quả của một người nào khác sẽ giác ngộ hay không, căn cứ vào điều gì? Căn cứ vào vào gì? Đạo đức. Đức Tạng. Không thọ ký cho ai mà thọ ký cho Đức Tạng Bồ Tát. Có nghĩa là cái một vị mà sáng suốt, có trí tuệ, họ nhìn mọi người tu như vậy á nhưng họ biết người nào sau này sẽ giác ngộ tiếp là họ nhìn trên cái gì? Nhìn trên cái đạo đức. Cái đạo đức rất thâm sâu là cái nhân để có thể đắc đạo.

[19:38]Cho nên chúng ta đến với Phật pháp này, hãy bắt đầu bằng đạo đức và cũng chấm dứt bằng đạo đức. Bắt đầu bằng đạo đức. Có nhiều người đến với Phật pháp tu hành, đôi khi mình không để ý cái cái đạo đức mà chỉ lo về những việc đôi khi gọi là bên ngoài, ví dụ như làm phước. Sự thật là phước cũng chỉ là việc ngọn thôi. Chúng ta có thể rất thích cúng dường, rất thích bố thí, rồi rất thích đi quyên lạo nơi này nơi kia, việc không phải là sai, nhưng những cái việc phước đó chưa chắc xuất phát từ một tâm hồn đạo đức thật sự. Nếu trong cái làm phước chúng ta còn có cái mong cầu cái phước về sau cho mình, hôm nay mình cúng chùa, hôm nay mình bố thí đồng bào lũ lụt

[20:26]nhưng mà trong thâm sâu mình vẫn hy vọng đời sau chắc mình làm công chúa, ví dụ như vậy, thì chính cái tuy là phước mà đạo đức không có. Rồi sẽ thấy trong cái huynh đệ ở cùng một chùa với nhau mình lại thấy mình bực mình người này, mình lại thấy mình không ưa người kia, và lại thấy mình hơn thua với người nọ. Những cái bực mình giận hờn lẫn nhau trong giới Phật tử là đều do cái gì? Đều do cái đạo đức mình trau dồi chưa kỹ. Mình chỉ lo làm việc ngọn. Ngay cả như tôi cho rằng mà cứ siêng năng tụng kinh niệm Phật, tôi vẫn cho là việc ngọn. Chúng ta phải thấy cái gốc. Mà cái gốc là ở chỗ Đức Tạng Bồ Tát, tức là mình nhìn lại tâm hồn mình,

[21:08]gột rửa sạch trơn những cái tham lam, thù hận, ích kỷ, hơn thua. Rửa hết. Đó là cái đạo đức vô cùng căn bản để chúng ta đến với đạo, mà chỉ những người nào mà bắt đầu vào đạo bằng đạo đức, người đó sẽ được thọ ký thành Phật. Mà nếu mà không có Đức Phật để thọ ký, nhiều khi tôi cũng dám càn ngang tôi thọ ký đại nữa. Nếu một người nào đó mà tôi nhìn thấy đạo đức rất là viên mãn, rất là trọn vẹn, hoàn toàn. Đâu ai đạo đức hoàn toàn giơ tay lên?

[21:46]Hổng ai giơ tay lên thì không phải đạo đức hoàn toàn ha. Có nhiều điều lắm về đạo đức mà tự chúng ta phải xét lấy nếu mình muốn được thọ ký.

[22:00]Sau khi Đức Phật diệt độ, Diệu Quang Bồ Tát trì kinh Diệu Pháp Liên Hoa trải 80 tiểu kiếp và cũng vì người để diễn nói, đây Diệu Quang.

[22:13]Tám người con của Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh đều học với ngài Diệu Quang và nối nhau thành Phật, đều thành Phật đạo. Vị sau hết hiệu là Nhiên Đăng. Điều này nghĩa là gì?

[22:30]Là giống như nói rằng chư Phật đều do kinh Pháp Hoa mà thành Phật, mà kinh Pháp Hoa là gì?

[22:42]Chúng ta đã nghe qua lần lần trước từng lời thì cái yếu chỉ cơ bản của kinh Pháp Hoa là gì? Nếu nói rằng chư Phật đều từ kinh Pháp Hoa mà thành Phật thì chúng ta hiểu lại kinh Pháp Hoa là gì? Từ cái

[23:02]phẩm Tựa đầu tiên đã nói rồi,

[23:08]kinh Pháp Hoa là gì? Là là nội tâm thanh tịnh nhưng tràn đầy từ bi và trí tuệ, phải không? Đó, kinh Pháp Hoa là như vậy. Cho nên nói chư Phật nhờ kinh Pháp Hoa mà thành Phật có nghĩa là chư Phật đều đi con đường tâm thanh tịnh mà tràn đầy từ bi và trí tuệ. Thì nếu ai muốn thành Phật thì cứ đi con đường này. Trong hàng 800 người đệ tử của Bồ Tát Diệu Quang có một người tên là Cầu Danh. Người này tham ưa danh lợi, dầu đọc tụng các kinh mà chẳng thuộc rành, phần nhiều hay quên nên gọi là Cầu Danh. Người này cũng do có trồng các nhân duyên căn lành nên được gặp vô lượng trăm nghìn muôn ức các đức Phật, cúng dường, cung kính, tôn trọng, ngợi khen.

[23:58]Đoạn này ám chỉ gì? Rồi lát còn nói: "Di Lặc nên biết, lúc đó Diệu Quang Bồ Tát chính là ta Bồ Tát Văn Thù, còn Cầu Danh là ông." Nghe nói mình thấy có vẻ như mất đoàn kết quá ha, nghe thấy đứt lòng hàng xóm ghê. Mà tại sao kinh lại nói như vậy? Đây là một cái ẩn ý ha, chứ không phải là ngài Bồ Tát ngài khen ngài mà ngài chê ngài Di Lặc. Một vị Bồ Tát thì không tầm thường như vậy, nhưng mà chúng ta nghe cái đoạn kinh rất là kỳ cục. Nếu một vị Bồ Tát thì phải khen người khác mà chê mình, ở đây không, ổng khen ổng chê ngài Di Lặc. Hồi đó Cầu Danh là ông, ham mê danh lợi, còn Diệu Quang là ta, ta tốt lành.

[24:37]Bình thường mà nghe nói vậy nghe nói vậy là ngồi dậy rầy nhau liền. Vậy ám chỉ điều gì? Ám chỉ là thế này: như chúng ta nói, Bồ Tát Di Lặc tượng trưng cho cái thức phân biệt của mình, Bồ Tát Văn Thù tượng trưng cho cái trí từ tâm thanh tịnh. Cái thức phân biệt á, khi mà nó muốn biết mọi điều á luôn luôn nó đặt cái tên. Chữ "cầu danh" là thích đặt tên. Ví dụ như chúng ta nhìn cái này gọi cái gì? Gọi cái gì? Cái ly, thấy không? Mình đặt cho cái tên ly ứng với cái tướng này. Rồi mình nhìn cái này mình gọi là cái cái máy. Nhìn cái kia mình gọi là cái quạt. Tức là mỗi cái sự vật, mỗi sự việc mình đều đặt tên cho nó, đặt tên.

[25:32]Và cái đặt tên đó là gì? Cái ý thức của mình, ý thức phân biệt của mình, phải không? Cái vọng tưởng phân biệt. Nên mình nhìn người này mình nói là cô Lan, người kia mình nói là cô Liên, người nọ mình nói là ông Tám, người kia nói ông Bảy, rồi cây liễu, cây tùng. Mọi sự vật trên cuộc đời này đều được ý thức đặt tên, đều được ý thức đặt tên nên gọi là cầu danh. Mà nói là tham ưa danh lợi là như vậy. Cái ý thức của mình á, vì là cái tâm vọng động cho nên nó dễ bị chìm theo cái bản năng ham muốn, cái bản ngã ích kỷ. Cho nên cái ý thức mà mình sử dụng nguy hiểm là như vậy, vì nó thích gầy dựng tên tướng.

[26:14]Dựa trên cái tên gọi, dựa trên hình tướng để rồi có sự tham lam, có sự tham lam cầu về mình cho thật nhiều. Ví dụ mình gọi đồng này là 5.000đ kia là 50.000đ và mình cũng muốn tiền đó được bỏ vào trong túi mình. Nên cái ý thức luôn luôn biết được với sự vật

[26:39]là nhờ là nhờ tên gọi, là nhờ tên gọi. Còn cái trí tuệ á, ví như mình nhìn cái ly, không khởi cái tên cái ly ở trong cái tâm mình lẫy lên. Cho nên quý Phật tử về thử coi tâm mình có thanh tịnh hay không. Ví dụ nhìn cái này kêu là cái gì? Kêu cái này là cái gì? Khởi lên đặt tên, cái này cái khay hay cái dĩa, vừa đặt tên thì biết cái này là cái thức. Còn nhìn mà mình vẫn thấy nó rõ mà trong lòng không khởi cái tên gì hết trơn, không khởi cái nào, thì cái đó là cái gì? Trí. Biết là thấy rõ, đều là thấy biết, trong lòng không đặt cho nó cái tên gì hết, vẫn thanh tịnh, không động ý niệm nào hết, cái đó là cái trí.

[27:19]Còn người ta đưa lên là cạch thành cái khay liền, nhỏ là cái ly, đặt cái tên liền thì đó là cái thức. Phân biệt được chưa?

[27:31]Và người này cũng trồng các nhân duyên căn lành nghĩa là sao? Là đôi khi chúng ta đến với Phật pháp chúng ta chưa có cái trí thanh tịnh liền, mà chúng ta vẫn dùng cái thức đó để để tu hành, dùng cái thức đó để tu hành. Chúng ta chưa có nhập vào định được mà, cho nên mình vẫn phải dùng ý nghĩ đó. Nói: "Mai mình đi cúng chùa này, mốt mình đi cúng chùa kia, ngày kia thì mình đi bố thí chỗ nọ." vân vân, phải không? Hoặc là mình bàn với nhau in cuốn kinh này, giúp đỡ cái người nào nghèo khổ vân vân, đó. Tức là bằng cái ý nghĩ của mình, cũng cái ý nghĩ đó, cái vọng tưởng, cái ý thức đó mà mình đã tham lam,

[28:10]mà mình đã thù hận, thì hôm nay đến với Phật pháp cũng bằng cái cái ý thức đó, cái vọng tưởng đó mà mình làm điều phước thiện, làm điều tốt lành. Cho nên cái tâm vọng tưởng hay ý thức này nó có cả hai cái khía cạnh thiện ác của nó mà tùy mình sử dụng. Nếu mình sử dụng cái tâm vọng tưởng đó theo con đường tà, đường ác thì cuộc đời mình đi về đi về cái hướng đau khổ. Còn nếu mình sử dụng cái vọng tưởng đó theo cái hướng thiện, tốt lành, chánh kiến thì cuộc đời mình đi về cái hướng hạnh phúc, giác ngộ.

[28:54]Cho nên chúng ta bắt đầu đến với Phật pháp cũng bằng cái gì? Bằng cái suy nghĩ, bằng cái suy nghĩ. Nhưng mà chúng ta cố gắng học hỏi với quý thầy để chúng ta có được những cái suy nghĩ tốt lành. Còn trước kia, do chưa biết Phật pháp, chưa quy y Tam Bảo, chúng ta đã dùng cái suy nghĩ của mình đi theo những cái nẻo đường bất thiện và cuộc đời mình đã chịu quá nhiều cái đau khổ. Ở đây có ai không đau khổ không? Thường thì ít nhất chúng ta cũng đã nếm qua một vài chuyện đau khổ nào đó trong đời, phải không? Mà có những người đã nếm qua vài trăm, vài ngàn chuyện đau khổ thì mình hiểu rằng nhìn vào cái đó

[29:37]thì mình cũng biết rằng trong những kiếp xưa và trong kiếp này mình đã dùng cái suy nghĩ của mình đi theo cái con đường con đường gì? Bất thiện. Bây giờ ngày hôm nay, chúng ta ngồi dưới mái chùa, chúng ta được quy y Tam Bảo, được nghe quý thầy giảng dạy, chúng ta quyết không phạm sai lầm nữa. Chúng ta quyết sẽ dùng cái suy nghĩ của mình để đi về con đường con đường con đường thiện, phải không? Con đường tốt lành để cho cái cuộc đời của mình đi về cái hướng hạnh phúc, giác ngộ. Và chẳng những mình được hạnh phúc, được giác ngộ mà chắc chắn những người xung quanh mình cũng sẽ được ảnh hưởng điều đó.

[30:22]Đó là mình nói trên cái cạn cợt á. Còn nếu mình nói lớn lao hơn là từ đây mình sẽ dùng cái tâm nguyện của mình, cái suy nghĩ của mình để phát một cái nguyện lớn lao là nguyện mãi mãi sau này, từ kiếp này đến vô lượng kiếp sau luôn luôn lòng mình sẽ thương yêu tất cả chúng sinh, sẽ luôn luôn tức là hy sinh trọn cả cuộc đời mình để đem lại đạo đức, đem lại hạnh phúc, đem lại giác ngộ cho tất cả mọi người. Mình phải tâm nguyện điều đó một cách kiên định, vững chắc trong lòng mình từng ngày, từng giờ. Đó là chúng ta dùng cái suy nghĩ mà ngày xưa cái suy nghĩ đó là một cái suy nghĩ tội lỗi, thấp hèn, ích kỷ, ác độc, thì ngày nay mình dùng cái suy nghĩ đó để mình

[31:09]phát được những cái đại nguyện lớn lao đối với chúng sinh, đối với nhân loại. Cho nên quý Phật tử nhớ mỗi khi đêm, mỗi ngày khi chúng ta lễ Phật, khi chúng ta ngồi thiền, tụng kinh, mình phải thầm nguyện trong lòng mình trước bàn Phật là: "Con nguyện mãi mãi cho đến vô lượng kiếp sau con sẽ thương yêu tất cả chúng sinh, không phân biệt thân sơ, không bao giờ còn hận thù một ai nữa và con sẽ hy sinh tất cả cuộc đời mình để đem lại lợi ích, đem lại đạo đức, đem lại giác ngộ cho tất cả mọi người." Quý Phật tử nguyện như vậy được không? Được không? Nói câu cho mạnh coi. Cố gắng được như vậy, bởi vì đây là cái khởi điểm giống

[32:00]như là ngài Cầu Danh này nè đã tham ưa danh lợi là cái xấu, nhưng mà chuyển qua cái căn lành và ngày nay là Bồ Tát Di Lặc mà được thọ ký sắp thành Phật. Chúng ta từ cái tư tưởng mình để gieo một cái gen mới. Rồi nè. Lúc đó, cái người đệ tử tên là Cầu Danh này là một trong 800 đệ tử của Bồ Tát Diệu Quang, phải không? Kinh ghi như vậy là ngài Diệu Quang Bồ Tát có 800 đệ tử, mà một trong số đó tên là Cầu Danh. Điều này ám chỉ cái gì? Ám chỉ cái gì? Có nghĩa là cái trí á, cái trí gốc á thì nó rất là lớn, còn cái ý thức á chỉ là một cái một cái nhánh rất nhỏ của cái trí mà thôi. Nhánh rất nhỏ. Chúng ta cũng

[32:53]vậy, thật ra cái mà mình suy nghĩ á, nó là một cái điều rất nhỏ bé của tâm mình. Nhưng mình không biết, mình tưởng nó lớn, nên suốt ngày, suốt đêm mình cứ suy nghĩ mãi. Mình không biết rằng vượt khỏi cái suy nghĩ này cho nó yên lắng xuống đi, mình sẽ thấy cái trí huệ thực sự nó vô cùng lớn lao. Thế nên đó có 800 vị đệ tử, còn cái Cầu Danh có một, một phần nhỏ trong đó. Tức là cái ý thức phân biệt suy tư vọng tưởng á chúng ta tưởng đó là cái tâm của mình, thực ra nó chỉ là một cái phần rất nhỏ của tâm. Mà nếu chúng ta buông lắng nó xuống được, nó yên lắng lại được, chúng ta mới thấy cái tâm mình nó

[33:32]lớn hơn nhiều lắm, cái trí của mình mênh mông hơn rất là nhiều.

[33:39]Bây giờ ngài mới nói lại bài kệ, diễn tả lại cái ý mà ngài đã nói bằng văn xuôi nên chúng ta không có lặp lại.

[33:50]Cái đoạn kệ thì có nói thêm một đoạn nhỏ này rất làm sáng cái nghĩa: Diệu Quang Pháp sư đó có một người đệ tử tâm thường giải đãi, tham ưa nơi danh lợi, Cầu Danh lợi không nhàm, thường đến nhà sang giàu,

[34:08]rời bỏ việc tụng đọc, vân vân. Nhưng cái chỗ này là tâm thường lười biếng giải đãi là cái người Cầu Danh. Đoạn này nói cái gì? Chúng ta nói theo cái tâm lý mình rất là hay. Chúng ta thấy rằng cái người mà tâm loạn động á, hay suy nghĩ á sẽ là một người không có nghị lực nhiều. Đó là người ít nghị lực, ít ý chí. Còn cái người mà họ ít suy nghĩ á, ví dụ họ nhìn mọi chuyện một cách điềm thản, nhẹ nhàng, mấy cái người đó lì khủng khiếp, có ý chí dữ dội lắm. Nên cái người mà ít suy nghĩ chừng nào thì ngoài cái sáng suốt hơn, họ có cái sức mạnh tinh thần hơn, nghĩa là có nghị lực hơn. Khi họ làm họ quyết là họ làm được.

[34:56]Còn cái tâm mà suy nghĩ lung tung thì cuối cùng rồi là bọt bóng, như cái biển cả nó có những cái hàng bọt bọt, cái bọt tưởng của mình, cái tâm suy nghĩ của mình coi nó yếu xìu. Còn những cái luồng nước ngầm chảy dưới đủ sức nó xô núi, xô đá đi, cuốn đá, cuốn núi nổi. Chúng ta cũng vậy, đây là ám chỉ cho cái tâm mình. Cho nên người mà muốn phát khởi cái ý chí á mà cứ suy nghĩ thì không phát được ý chí. Quý Phật tử sẽ thử xem điều này mình sẽ thấy, như là mình có một người nào đó ghiền hút thuốc xin lỗi nghen, nói có đụng chạm ai thì lại đau lòng, xin lỗi trước, hoặc là quý cụ nào mà lỡ ghiền bài tứ sắc

[35:39]ví dụ vậy, bây giờ muốn bỏ, muốn bỏ thì mình phải dùng ý chí, phải không? Mà một cái người nào đó nói rằng vậy: Tôi thề từ đây về sau tôi bỏ, thì đúng là từ đây về sau bỏ chứ trước không bỏ. Là nói á, nó sẽ dở, không làm được. Hoặc là người không nói nhưng suy nghĩ, suy nghĩ: Thôi bỏ tứ bài tứ sắc đi, rủ không đánh nữa à nha, hay là tôi bỏ hút thuốc á. Nhưng mà người mà cứ lải nhải trong đầu mình như vậy á lại không bỏ được. Không bỏ được. Quý Phật tử để ý lại mình coi, những người đã ghiền mà muốn bỏ, có phải là mình càng suy nghĩ như vậy mình lại càng không bỏ được. Phải để ý. Còn cái người á họ bỏ được là người như thế này:

[36:19]Họ không có suy nghĩ nhiều, họ khởi lên một cái tâm, cái tâm đó nó không thành cái vọng tưởng rõ, bỏ thuốc. Nó nhẹ nhàng, lạnh lùng. Rồi, không đụng tới điếu thuốc nữa. Cái người đó họ không thèm nói, họ làm. Và cả trong tâm họ cũng không suy nghĩ, phải bỏ thuốc, mình phải bỏ thuốc, họ không lải nhải, họ chỉ lừ lừ, họ lặng lẽ từ ngày đó bỏ thuốc lá, rồi. Sau giờ phút đó không đụng tới nữa. Họ dứt khoát bằng cái ý chí. Để ý, tôi thấy cô này, xét lại tâm mình từ nhỏ tới lớn, những cái mà mình bận tâm suy nghĩ nhất là những cái mình ít làm được nhất. Nên cái tâm mà ý thức suy nghĩ là cái tâm không có sức mạnh của ý chí.

[37:07]Còn cái tâm thanh tịnh lặng lẽ thì là nghĩ cái gì làm cái đó, muốn cái gì làm cái đó.

[37:15]Đúng không? Xét lại coi.

[37:22]Bây giờ chúng ta qua cái phẩm thứ hai là phẩm Phương tiện. Bấy giờ, Đức Thế Tôn từ chánh định an lành mà dậy, bảo ngài Xá-lợi-phất quay qua nói ngài Xá-lợi-phất: Trí huệ của các Đức Phật rất sâu vô lượng. Cái cửa trí huệ đó khó hiểu, khó nhập. Các ngài Thanh văn cùng Bích-chi Phật khó thể biết được. Vì sao? Vì Đức Phật ngài nói ngài đã trồng quá nhiều công đức. Xá-lợi-phất, từ khi ta thành Phật đến nay, ta đã dùng rất nhiều cái thí dụ, rất nhiều cái phương tiện, rất nhiều cái lời nói để mà giáo hóa chúng sinh xa lìa cái lòng chấp. Vì sao? Vì Đức Như Lai đã đầy đủ phương tiện, tri kiến và Ba-la-mật.

[38:18]Xá-lợi-phất cái đoạn này hay để mình đọc nguyên văn, tri kiến của Như Lai rộng lớn sâu xa được cái vô lượng, cái vô ngại lực, được cái vô sở úy, được thiền định, được cái giải thoát tam-muội đều sâu không còn có biên giới, được tất cả các pháp mà chưa bao giờ từng có. Này Xá-lợi-phất, Như Lai hay dùng các cái phương tiện các lời nói khéo léo làm đẹp lòng mọi người. Xá-lợi-phất, nói tổng quát lại là tất cả những cái pháp chưa từng có vô lượng vô biên thì Đức Phật đều đã thành tựu được.

[39:01]Này Xá-lợi-phất, thôi cũng không cần nói nữa, vì sao? Vì cái giáo pháp đó khó hiểu, ít có mà Phật được đó chỉ có Phật với Phật mới hiểu được tột cùng là cái tướng như vậy, cái thể tánh như vậy, cái thể như vậy, cái sức như vậy, cái tác dụng như vậy, cái nhân như vậy, duyên như vậy, quả như vậy, báo như vậy, trước rồi sau như vậy. Chỉ có Phật với Phật mới hiểu được, chứ thấy như vậy rồi giải thích lại người khác rất là khó. Cái đoạn này kệ thì mình nghe ha. Cái đoạn mà Đức Phật từ chánh định an lành đứng dậy giảng pháp là nói điều gì?

[39:46]Ám chỉ điều gì? Cho chúng ta bài học gì?

[39:55]Đây là một điều khá lạ. Quý Phật tử đã từng khi gặp những người thân quen của mình hay đem Phật pháp giảng cho người ta nghe chưa? Có không? Có không? Cũng có, phải không? Cũng có khi nhất là mấy ông á, mấy ông mà cái trí huệ này sáng bén hơn, đi đọc kinh, nghe pháp hiểu rồi về nhà cũng hay nhiệt tình mình giảng cho người khác cùng nghe, điều này tốt hay xấu? Tốt. Nhưng ở đây Đức Phật nhắc cái gì? Chúng ta nói pháp cho người khác nghe là tốt, nhưng mà nếu chúng ta quá hứng nói đi, quá hăm hở, quá nhiệt tình nói đi bắt đầu thành xấu. Vì sao? Vì cái pháp mà nói từ cái tâm trong đó chúng ta có một chút khoe khoang bày

[40:50]tỏ sự hiểu biết của mình, trong đó chúng ta có một chút tâm cầu cái sự kính trọng của người khác, mà đôi khi trong lúc giảng pháp mình chê người này chê người kia để chứng tỏ mình hơn là trong đó tâm mình còn cái hơn thua, thì những cái lời pháp mà nói ra tuy nói thuyên thuyên như mây như gió đủ thứ vi diệu nào nói trên Phật, Bồ Tát đủ thứ gì đấy, đủ thứ hết, nhưng mà cái kín ở bên trong mà mình không tự thấy được là cái tâm gì? Ham nói, muốn khoe mình biết nhiều, hiểu nhiều, muốn được người khác tôn trọng, muốn hơn thua với người khác, vân vân. Chính cái tâm đó lại là một điều không tốt mà chúng ta để ý điều này.

[41:36]Khi mà chúng ta nói pháp cho người khác trong cái tâm trạng đó đó, người nghe họ thấy không? Thấy không? Thấy không? Có khi thấy, có khi không thấy. Chúng ta quý Phật tử á nếu mà thường đi nghe giảng á mình chỉ nói là nghe Phật tử với nhau, mình không dám so từng quý thầy, mình chỉ nói giữa Phật tử với nhau, cũng hai ba người nói pháp cho mình nghe, nhưng một người nói trong cái tâm hiền lành thanh tịnh với một người mà nói trong cái tâm trạng có cái xao động và tham vọng, mình nghe mình phân biệt được, được không? Và lúc đó mình thích nghe cái người nào nói?

[42:16]Cái người hiền lành nói. Cho nên ở đây nhiều khi mình đến nghe pháp là nghe bằng cái lời nói coi vậy chứ ít, mà chính mình thích nghe bằng cái gì? Bằng cái cái tâm. Chính ra mình thích nghe bằng cái tâm nhiều hơn. Cũng cùng hai người giảng, hay ba người giảng, bốn người giảng, nhưng nếu cái tâm của người nào mà mình thấy hiền lành, từ bi, an định thì mình ngồi nghe mình thấy nó sao? Dễ chịu hơn, mình thấy mình tiếp nhận được hơn và trong lúc ngồi nghe tâm hồn mình nó nó thoải mái. Đúng không? Và như vậy cái người nói pháp cũng phải biết điều này, nghĩa là khi mình nói pháp cho người khác nghe không phải chỉ dùng lời nói để nói, mà phải dùng cái gì để nói nữa?

[43:07]Dùng cái tâm của mình để nói. Nên muốn là một người

[43:16]thuyết pháp chân chính thì trước hết mình phải biết cái gì? Biết cái gì ai nói đúng khen liền.

[43:26]Muốn là một người nói pháp chân chính, trước hết chúng ta phải biết yên lặng. Cho nên trong cái phần Tựa, Đức Phật không nói lời nào mà chỉ nhập định. Nghĩa là, trước khi muốn nói pháp mình phải biết gì? Yên lặng. Cái yên lặng này không phải là cái lầm lì, mà cái yên lặng này nó chứng tỏ cái tâm hồn của một người đã... đã được chuẩn bị, được thanh tịnh, được dọn dẹp, được sửa soạn. Trong đó nó không còn những cái hơn thua, ham muốn, không còn mình nói pháp để cho người khác tôn trọng mình, không còn phải mình nói pháp để mình khoe bày cái sự hiểu biết của mình nữa. Khi nào mà chúng ta tâm được như vậy,

[44:15]mà khi một người không còn muốn khoe khoang, không còn muốn được người khác kính trọng, không còn muốn hơn thua thì người đó còn thích nói không? Hết thích nói. Hết thích nói. Đó là sự thật đấy. Người mà nói pháp sâu sắc, nói pháp hợp với đạo lý á, là chính là những người ít muốn nói nhất. Còn người mà thích nói pháp á, coi chừng nói pháp không sâu. Cái hình ảnh mà Đức Phật yên lặng từ chánh định rồi xuất định rồi mới bắt đầu nói, cho chúng ta một bài học rất là thấm thía khi chúng ta bắt đầu sử dụng cái... cái ngôn từ của mình. Rồi lúc đó Đức Phật xác quyết một điều, xác quyết một điều là cái chỗ chứng của Phật

[45:08]cao siêu, bởi vì nó có cái nhân từ vô lượng kiếp chứ không phải là điều cạn cợt, mà những người chưa có sự chuẩn bị sâu xa như vậy thì khó thể nào mà tin hiểu được. Điều này lại cho chúng ta một bài học nữa, là chúng ta chuẩn bị tâm hồn mình để đón nhận những cái điều khó hiểu, khó tin, khó chấp nhận Đức Phật sắp nói. Chính cái điều mà Đức Phật khẳng định điều này nè, mà một lát nữa có một số vị Tỳ-kheo bỏ đi. Chúng ta thấy không? Chính là điều mà Đức Phật xác quyết cái sự cao siêu của kinh đã làm cho năm trăm vị Tỳ-kheo bỏ đi, chúng ta sẽ từ từ đi tới. Còn tại sao mà nói rằng vô lượng pháp môn Đức Phật đã đạt được,

[46:02]thì đây là sự giải thích về sau, chúng ta nghe tiếp. Pháp đó không dạy được, không thể nói bằng lời được. Vắng bặt tướng nói năng, tức là không có còn có thể ngôn ngữ nữa. Các loài chúng sinh khác không có ai hiểu được, trừ các vị Bồ-tát, người sức tin bền chắc. Chúng ta nói về cái sức tin một chút. Ở đây, cái lòng tin, có nhiều người đã hiểu rằng đến với đạo Phật nếu chúng ta có một niềm tin vững chắc là một điều quý. Nhưng cái niềm tin này nó có hai nghĩa.

[46:43]Cái nghĩa thứ nhất là chúng ta chấp nhận một cái điều mà lúc mình chưa để ý trước, nhưng nghe nhiều người nói quá mình tin. Thì tin như vậy là mê tín hay chánh tín? Ví dụ như nói rằng: Ở ấp Bốn có bà bả bả lên đồng, bả kiểu đình coi bói rất đúng, ban phép cho về nhà làm ăn được giàu có. Mình nghe nhiều người đồn như vậy rồi mình chấp nhận điều đó. Cái kiểu chấp nhận cái điều do người khác nói lại một cách dễ dãi như vậy cũng gọi là niềm tin đó. Nhưng cái niềm tin này dễ bị sai, phải không? Còn cái tin mà nói là cái sức tin bền chắc của Bồ-tát có nghĩa là thế này: Nghĩa là ví dụ quý Phật tử do cái công hạnh tu hành của mình,

[47:35]tâm nhiếp được vào định, thì mình hiểu à đây là hạnh phúc, đây là sự an lạc mà chư Phật muốn dạy cho chúng sinh. Ngày xưa mình cũng nghe cái điều này, nhưng mà tâm mình chưa thanh tịnh, cho nên mình hiểu điều này chưa kỹ, chưa sâu. Ngày hôm nay, do thực hành có kết quả, tự mình kiểm nghiệm lấy trong cuộc đời của mình, thế là mình... mình chấp nhận. Đây là cái tin mà do suy xét và thực hành có kết quả. Ví dụ như mình nói khác rằng, nói rằng chỉ có lòng thương yêu mới xóa được hận thù. Trước kia thì mình thấy ai làm điều gì sai, xúc phạm mình thì mình muốn sao? Muốn rầy, quở để cho mình phá cái sai của người đó.

[48:19]Nhưng rồi mình nghe nói rằng có thứ nhẫn nhục mà có thể cảm hóa người ta được tốt thì mình không tin. Nhưng nếu trong đời mình có một lần... có một lần khi gặp phải người nóng giận xúc phạm đến mình, mình đã dùng cái tâm nhẫn nhục, từ bi để mình đối xử lại, tự nhiên mình thấy sao? Bên kia thay đổi. Chính trong đời mình đã đi qua một lần kinh nghiệm như vậy, nên từ đấy về sau nghe ai nói rằng nhẫn nhục được công đức lớn, cái tâm thương yêu hóa giải được hận thù, mình nghe mình chấp nhận được liền. Thì người này cái tin của mình đối với cái giáo lý đó là ít hay nhiều? Chắc chắn là nhiều, phải không? Vì mình đã được kinh nghiệm điều đó.

[48:58]Cho nên ở đây nói rằng các Bồ-tát mà sức tin bền chắc có nghĩa rằng vì chư vị Bồ-tát đã thực hành tu tập một cách sâu xa, nên có thể chấp nhận điều này, nghe nói hiểu liền, vì mình đã có kinh nghiệm. Rồi nói rằng: Giả sử đầy thế gian đều như Xá-lợi-phất, tức là thông minh như ngài Xá-lợi-phất, cùng chung lại để mà suy nghĩ để tìm cho ra cái trí của Phật thì không thể nào lường được cái trí của Phật, không thể đo được cái trí của Phật. Và các đệ tử khác đầy mười phương cõi nước chung lại để mà suy nghĩ, tìm cũng không thể nào hiểu được, biết được cái trí của Phật là như thế nào. Các bậc Duyên Giác trí rất là nhanh,

[49:52]sáng, đầy mười phương cõi đông như lau tre, chung lại mà là xét nét cái chân trí của Phật cũng không thể nào biết được chút phần. Đều như vậy, tức là chung lại mà tìm hiểu không thể nào hiểu được cái trí của Phật. Đoạn này nghĩa là gì?

[50:14]Đoạn này có hai nghĩa. Một, thứ nhất là cái nghĩa đen như kinh nói á, là cái trí của Phật quá sâu xa vi diệu, cái người chưa có thành Phật không thể hiểu được. Đây là nghĩa đen thứ nhất mình dễ hiểu, phải không? Nhưng nghĩa thứ hai nghĩa bóng là rất là đơn giản: Sở dĩ chúng ta không hiểu được trí Phật bởi vì mình suy nghĩ, chung lại mà suy nghĩ. Càng suy nghĩ thì càng... càng không hiểu.

[50:46]Mà buông sự suy nghĩ xuống thì... thì sao? Hiểu liền. Dễ không? Cho nên cái đoạn kinh này nói nghe rất là mênh mông, vĩ đại, nhưng mà chỉ dạy cho mình một điều rất là căn bản: Cứ chung nhau mà suy nghĩ Đức Phật giỏi như thế nào thì không bao giờ hiểu được, ngay khi nào buông hết không có suy nghĩ lại, không có ngồi tụm tụm lại mà ngồi bàn nữa, cứ mỗi người lặng lẽ nơi cái tâm của mình mà lắng đọng, dứt được các vọng tưởng thì hiểu được trí của Phật là gì,

[51:24]đồng ý chưa? Cho nên đừng chung lại suy nghĩ nữa, đừng ngồi bàn lại, tụm bàn nữa, mà yên lặng nơi chỗ mình tìm lại nội tâm mình, chúng ta sẽ hiểu được cái trí của Phật. Khi đó trong đại chúng có các vị Thanh văn, A-la-hán đều nghĩ:

[51:47]Hôm nay Đức Phật tại sao lại ân cần nói một điều là cái pháp của Phật rất khó hiểu, mà hàng Thanh văn, Duyên giác không thể đến được?

[51:59]là Đức Phật đã nói cái nghĩa giải thoát Niết bàn, mình đã hiểu, đã đạt được, tại sao lại nói là không hiểu được? Vì sao? Ngài Xá Lợi Phất mới biết lòng nghi của chúng mà mới thưa: "Vì sao Ngài nói như vậy, trong khi chúng con là đã đạt được cái lậu tận?". Cái đoạn này là cái đoạn mà mọi người tụng kinh Pháp Hoa hay bị đổ nghiệp là vì chỗ này. Quý Phật tử có nghe nói tụng kinh Pháp Hoa hay bị đổ nghiệp không? Có. Tức là người tụng kinh thời gian cái chuyện nhà nó xui

[52:38]xẻo đủ thứ hết á. Có nghe không? Có. Mà mình đã bị chưa? Có. Cũng nhiều người bị lắm chứ không phải không. Nhưng mà rất nhiều người bị. Nó có cái nguyên nhân của nó. Rồi có người lại nói là: "Kệ, đổ cho hết nghiệp, hết rồi thôi mình tu được". Có người lại đổ chịu không nổi, tức là chưa khai kinh tụng thì thôi, vừa khai kinh tụng cái bắt đầu trong nhà bất hòa, xáo trộn, chụp giựt, đủ thứ chuyện khổ xảy ra không ngờ được. Lúc mà chưa tụng kinh không có gì. Cái nguyên nhân nó nằm trong những cái đoạn này. Đây là một cái đoạn bí hiểm, một đoạn ẩn dụ. Nhưng mà khi mình không hiểu, mình hiểu sai thì mình tổn phước.

[53:16]Mình tổn phước là hiểu thế này: nghĩ rằng các vị A La Hán là còn thấp, còn thấp. Vì tới cái đoạn này nói rằng Thanh văn Duyên giác không hiểu được, chung lại suy xét đều không hiểu được. Cho nên lúc đó khi mình tụng qua cái đoạn này mình chợt nghĩ lên trong cái đầu mình là các vị A La Hán mà còn còn thấp. Cái niệm đó vừa khởi lên thì mình bị tổn phước, bắt đầu xảy ra chuyện liền. Nhớ rõ nghe! Cho nên chúng ta hiểu đây chỉ là ẩn dụ mà thôi. Khi mình tụng qua đoạn này, đừng suy nghĩ như vậy nữa mà phải hiểu rằng khi một vị A La Hán đạt được Lục thông Tam minh như Phật thì không khác với Phật. Chỉ có điều là các ngài luôn luôn khiêm tốn

[54:05]nghĩ mình vẫn là đệ tử Phật, thấp hơn Phật, dở hơn Phật. Đó là cái nghĩa thầy trò. Đây là cái đạo đức đáng tôn trọng của những bậc thánh, chứ không phải vì các vị thấy mình thấp hơn Phật mà chúng ta khởi nghĩ là A La Hán còn còn thấp. Chúng ta bị tổn phước liền. Ở đây chúng ta thấy cái khéo của một vị thánh thực sự là như vậy. Là dù có bằng thầy mình rồi mà luôn luôn đứng lễ thầy mình cúi thấp xuống sáu mét sau. Mở một lời hai lời đều nhận là mình dở hơn thầy mình. Đó là cái đạo đức chân thật. Còn chúng ta đôi khi chúng ta chưa được chừng này, chúng ta được vài điều hay, mình cảm thấy mình giỏi hơn cái

[54:49]người đã dạy mình thì đấy là cái nhược điểm, vì cái đạo đức chúng ta chưa được chuẩn bị kỹ, chúng ta chưa hết cái bản ngã. Còn các vị A La Hán, bản ngã đã sạch, cho nên cái nghĩa, cái tình nó sâu đậm là như vậy.

[55:06]Khi quý Phật tử mà tụng kinh qua đoạn này nhớ, đừng có niệm mà nghĩ rằng các vị A La Hán còn thấp. Vì nếu khởi nghĩ thì nghiệp nó sẽ đổ ra.

[55:20]Khi mà ngài Xá Lợi Phất nói lên đoạn kệ

[55:29]là khi Đức Phật nói lên một cái điều sâu xa khó hiểu thì mọi người đã nghi ngờ, vân vân. Thì chúng con là chư vị A La Hán, Bồ tát, trời rồng, quỷ thần, đông vô lượng trong pháp hội này thì đang cần, cầu để lắng nghe cái pháp vi diệu đó. Xin Đức Phật vì chúng con mà nói. Nhưng mà Đức Phật từ chối: "Thôi, không nên nói. Nếu nói ra thì trời và người đều khiếp sợ". Thì ba lần ngài Xá Lợi Phất tha thiết khẩn cầu, ba lần Đức Phật từ chối.

[56:13]Đoạn này ám chỉ điều gì?

[56:23]Có phải Đức Phật không từ bi mà không muốn nói pháp?

[56:31]Thật ra mọi điều vậy đều có cái giá trị của nó, đều có cái giá của nó. Có khi nào một người mà đi đậu cái bằng cử nhân, tiến sĩ bằng sự học hành lười biếng được? Không được phải không? Nên cái giá trị cao luôn phải được đánh đổi bằng một cái công sức xứng đáng. Chúng ta cũng vậy, đến với Phật pháp, đối với pháp môn mà cao siêu, vi diệu, chúng ta không thể đem cái tâm hời hợt, cạn cợt để có thể lãnh hội, tìm hiểu được. Trong cái luật Phật có dạy một điều rằng khi một người đến hỏi pháp mà nếu người đó không nghiêm túc thì vị thầy không được giảng pháp cho người đó nghe.

[57:20]Đó là cái luật của Phật. Điều đó nói gì? Nói rằng cái người mà đến nghe pháp không nghiêm túc, chứng tỏ rằng họ có thật tâm nghe pháp? Họ không thật tâm mà với cái tâm hời hợt thì họ sẽ không hiểu và nói ra họ coi thường, nên không được nói pháp cho người đó. Ví dụ họ có hỏi thì cũng lảng lảng, không trả lời hoặc làm cách nào chứ không trả lời. Ví dụ như nói rằng khi ông thầy đang đứng, cái người đó đến ngồi hỏi pháp tức là vô lễ thì không có được nói pháp cho người đó nghe. Hoặc mình ngồi mà họ nằm dài mà hỏi pháp thì không được nói pháp cho người đó nghe. Hoặc họ đến hỏi pháp mà mặc quần áo không kín đáo,

[58:04]nghiêm túc thì không được nói pháp cho người đó nghe. Đó, pháp là cái quý, chỉ được san rải cho những người nào đã chuẩn bị cái tâm hồn họ, họ có cái tha thiết khẩn cầu, biết được cái giá trị cao siêu của pháp. Mà một người thiết tha cầu, biết được cái giá trị cao siêu thì cái thái độ của họ rất là, rất là nghiêm túc. Cho nên ở đây chuẩn bị nói cái giáo pháp vi diệu thì Đức Phật đã từ chối để thử thách. Nên cái sự thử thách ám chỉ rằng chúng ta cần cái rất thiết tha để có thể hiểu được cái giáo lý cao siêu. Hôm nay chúng ta ngồi nghe kinh Pháp Hoa cũng vậy, nếu quý Phật tử xét lại trong lòng mình

[58:51]mà cảm thấy mình nghe một cách hời hợt, bình thường như bao nhiêu điều mình đã từng nghe thì nên thay đổi cái ý nghĩ đó

[59:02]lại. Quý Phật tử phải có cái tâm tha thiết vì phải biết rằng pháp của kinh Pháp Hoa nó vi diệu, tế nhị, khó khăn. Nó là một cái điều, là một cái chân lý mà vô lượng chư Phật đã xác nhận, mà vô lượng chư Phật về sau cũng tuyên giảng. Hôm nay chúng ta có duyên được nghe lần lượt lần lượt thì không bao giờ được coi thường mà phải thiết tha để cần cầu tìm hiểu.

[59:29]Qua cái này, khi đó Đức Thế Tôn mới nói rằng: "Thôi thôi, không nên nói. Pháp của ta vi diệu, khó thế nào hiểu được. Những kẻ tăng thượng mạn nghe sẽ không kính tin". Tăng thượng mạn là những người tự cao. Ngài Xá Lợi Phất lại năn nỉ: "Đấng Vô Thượng Lưỡng Túc xin nói pháp đệ nhất, con là trưởng tử Phật xin thương mà nói cho chúng con nghe. Vô lượng chúng hội ở đây đã từng kính tin pháp này. Đời đời, bao nhiêu đời Đức Phật cũng đã từng giáo hóa chúng sinh như thế.

[1:00:11]Chúng con đều một lòng chắp tay muốn nghe được cái lời Phật. Cúi xin Tôn miệng nói, chúng con đây nghe pháp đó thì lòng chúng con sẽ vui mừng". Đức Phật, Thế Tôn mới bảo rằng: "Con đã ân cần ba lần thưa thỉnh thì ta sẽ nói. Thì nay các ông phải khéo lắng tâm suy nghĩ, ta sẽ phân biệt mà nói cho các ông nghe". Nhưng khi Đức Phật vừa nói lời đó xong, trong hội có các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, cận sự nam, cận sự nữ, cả thảy năm ngàn người liền từ chỗ ngồi đứng dậy lễ Phật mà lui bỏ đi, không nghe, không nghe. Vì sao?

[1:01:03]Bấy giờ Đức Phật bảo ngài Xá Lợi Phất: "Trong chúng ta đây không còn cành lá, chỉ có hạt chắc. Xá Lợi Phất, những kẻ tăng thượng mạn như vậy, lui về cũng là tốt. Các ông nên khéo nghe, ta sẽ vì các ông mà nói". Điều này ám chỉ điều gì? Nên có một số học giả khi mà nghiên cứu tới kinh Phật, cái đoạn này họ đặt nhiều nghi vấn. Họ nói rằng Đức Phật lòng từ bi vô lượng, nói rằng chúng sinh nào cũng thương yêu mà tại sao từ đây cho đến cuối kinh Pháp Hoa không bao giờ nhắc tới năm ngàn người đã bỏ đi này nữa, coi như ngài đã bỏ mặc chúng sinh, để chúng sinh không nghe được cái pháp vi diệu này? Nói rằng như vậy phải chăng là Đức Phật không đủ lòng từ bi?

[1:01:54]Có người đã phê bình như vậy. Ở đây chúng ta hiểu đoạn này như thế nào?

[1:02:04]Đến đây, đây là một bài học mà đúng là suốt quyển kinh Pháp Hoa này, không bao giờ chúng ta còn nghe nhắc tới 5.000 người này nữa. Lý tưởng...

[1:02:17]Đây là những người tự cao.

[1:02:21]Có nghĩa là người nào Phật cũng độ được hết, trừ người tự

[1:02:30]cao. Đây. Nếu một người đó thì tham lam, tham tiền, tham trúng số đủ thứ hết trơn á, coi vậy chứ có khi còn độ được. Thì mình đưa cái phước ra, thấy họ tham tiền, tham trúng số, nói còn cái này quý hơn cái trúng số nữa là cái gì? Nói cái gì vậy? Cái gì vậy? Họ tham mà, bắt đầu từ từ mình mở Phật pháp ra cho họ nghe. Từ cái tham đời lần lần thành cái tham đạo, người này độ được. Hoặc là những người nóng, người nóng nảy. Tức là gặp chuyện gì cái nổi sân lên cự nự đủ thứ, coi vậy á mà vẫn dần dần mình có thể độ được. Hoặc là một người nhiều khao khát dục, một người ghiền rượu, một người hay nói dối, vân vân, nghĩa là những cái tánh xấu

[1:03:17]khác của những cái phi đạo đức á, coi vậy á mà còn có chỗ để độ họ được. Vẫn có chỗ để độ họ. Còn cái người tự cao rồi thì thì sao? Không ai độ được nữa. Mà suốt quyển kinh không bao giờ nhắc tới họ nữa. Có nghĩa là cái người mà đã tự cao rồi mà nếu không bỏ cái tâm tự cao mình á thì vĩnh viễn suốt đời hết kiếp này đến kiếp sau không bao giờ mà được lợi ích trong Phật pháp nữa.

[1:03:51]Chúng ta nghe điều này đáng sợ. Rất đáng sợ. Vì cái tự cao là cái bệnh chung của nhiều người lắm, nhất là những người học được một số giáo lý á, cảm thấy mình hiểu rồi khởi tâm tự cao. Và người đó coi như tuy là đệ tử Phật mà sự thật cái con đường Niết bàn, con đường Thánh đạo đã đóng lại rồi, không bao giờ mở nữa, vĩnh viễn hết kiếp này đến kiếp sau không bao giờ tiến được. Chỉ trừ khi nào mà họ bỏ được cái tâm tự cao đó thì con đường đó mới mở ra trở lại cho họ. Cho nên quý Phật tử cũng vậy, chú ý điều này.

[1:04:34]Là có thể mình đến với Phật, mình còn nhiều cái tánh xấu, còn nhiều tội lỗi, nhưng chúng ta càng tội lỗi thì mình càng phải tìm đến với Phật nữa. Vì sao? Vì Đức Phật đủ từ bi để thương yêu, để tha thứ cho những lỗi lầm của mình. Có một lần một cô Phật tử đó, do cái tâm sự buồn đến khóc với tôi thì cô mới nói rằng:

[1:05:12]"Cả gần một năm nay con không bao giờ lễ Phật và không dám nhìn lên tượng Phật vì con thấy con có lỗi." Tôi mới nói rằng: "Bây giờ như thế này, con tin rằng thầy đủ lòng từ bi, thương yêu để thầy chấp nhận những lỗi lầm của con. Con tin điều đó và hãy trình bày cái lỗi đó cho thầy nghe."

[1:05:41]Và khi cô ta nói xong, thì tôi mới nói rằng: "Con nên tin cái này nữa, là Đức Phật lòng từ bi, thương yêu còn gấp tỷ tỷ lần thầy nữa. Cho nên phải nhớ điều: chúng ta càng lầm lỗi thì càng tìm đến Đức Phật. Nên nhớ điều đó." Và ví dụ như rằng có hai người ăn cướp, cùng đi ăn cướp, trộm giống nhau. Nhưng một người về á, còn thắp nhang cho Phật, đi giựt đồ người ta nhưng về thắp nhang cho Phật, còn một người không hề biết Phật là gì, thì mình thấy người nào có thể trở thành người tốt? Cái người biết thắp nhang phải không? Tức là dù ác thì ác nhưng còn có gieo cái duyên với Phật pháp là cái sau này có ngày, sau này có cái ngày mà họ hối hận họ quay lại.

[1:06:27]Còn cái người mà không thắp nhang cho Phật rồi thì cái ác nó chìm sâu trong đó, khó có ngày quay lại. Nên cái lỗi nào cũng vậy, đều có thể độ được nếu chúng ta kính tin Phật, nương tựa nơi Phật. Chúng ta nhớ mình cũng như là một cái hạt cát trong sa mạc, so với Đức Phật bao la, hùng vĩ, thương yêu, trí tuệ này nè, thì chúng ta càng lầm lỗi, mình càng tìm đến Đức Phật, không có việc gì phải sợ hãi. Chỉ trừ một điều mà chính Đức Phật cũng phải chịu thua là nếu chúng ta tự cao. Nếu chúng ta tự cao thì mọi công đức lành đều đóng lại. Đó là cái thứ nhất. Cái thứ hai nữa, đó là phần mình á, còn phần thứ hai là đối với người khác.

[1:07:19]Có khi chúng ta gặp một người nào đó, chúng ta trao đổi đạo lý, mình trình bày những đạo lý với nhau để cùng nhau tìm hiểu Phật pháp mà tu hành. Nhưng nếu chúng ta thấy người đó nói chuyện đạo với mình trong cái ý hơn thua, tự cao thì mình có nên nói nữa không? Không nên nói nữa, không nên nói. Vì không có kết quả gì hết. Khi một người đã cảm thấy họ hơn người khác rồi, họ tự cao rồi thì không có điều gì đi vào tâm hồn họ được nữa, không điều gì đi vào tâm hồn họ được hết. Như cái câu chuyện mà trong "Góp Nhặt Cát Đá", một bác sĩ mà đến thăm vị Thiền sư đó, thì Thiền sư rót tách trà tràn đầy mà vẫn rót, rồi ông kia nói:

[1:08:08]"Đầy rồi, rót đâu có vô nữa." Ông nói: "Cũng vậy, tâm ông đã đầy hết mọi điều thì làm sao đem thêm được chân lý nào nữa vào trong lòng ông." Câu này nó không có cái nghĩa là người kia phải bỏ hết những kiến thức mà mình đã học, không phải. Mà chỉ cần bỏ đi cái tự cao, đừng nghĩ mình đã giỏi, đừng nghĩ mình đã đã biết đủ rồi, chỉ cần vậy thôi thì có thể tiếp nhận được Phật pháp. Thì chúng ta cũng vậy, đối với cái người mà mình nói chuyện đạo hoặc là sau này quý Phật tử có duyên giảng đạo cho người khác thì cái đầu tiên là coi chừng người đó có tự cao hay không. Mình phải có trực giác. Nếu cảm thấy người đó tự cao thì cứ im lặng cười là tốt nhất.

[1:08:57]Vì nói ra họ tiếp tục họ cãi, họ muốn hơn mình, nó không có lợi. Buổi nói pháp, trao đổi pháp sẽ trở thành một cái cuộc cãi lộn, đem Phật pháp như là một cái phương tiện để tranh hơn tranh thua, vô ích, không nói. Trong Pháp Bảo Đàn có câu chuyện là có một ông Thiền sư tên là Ngọa Luân, ổng nghe tiếng ngài Lục Tổ rất là giỏi, ổng mới viết một bài kệ bốn câu trình cái kiến giải là ổng nói rằng:

[1:09:29]là tâm bất động, đối cảnh là không còn khởi tâm, cái bồ đề trong lòng mỗi ngày mỗi lớn lên. Ổng viết cái bài kệ đưa ra cho Lục Tổ ngài nghe. Thì ngài Huệ Năng mới viết lại bài kệ gởi lại cho ổng. Ngài Huệ Năng mới nói rằng: Ngài không có được cái gì cả, tâm ngài thì cứ động, đối cảnh thì tâm ngài cứ khởi lên, bồ đề trong lòng ngài không có tăng trưởng. Và cái điều đó trở thành cái nghi vấn cho những người học Phật về sau, nói là: "Ủa, đối cảnh mà tâm khởi là cái đạo lý gì? Là phương pháp tu thiền sao?" Từ trước đến nay có nhiều người nghi vấn cái điều đó. Nhưng sự thật, ngài Lục Tổ không dạy cho ông Ngọa Luân

[1:10:16]một cái pháp môn tu, mà ngài chỉ dạy cho ông cái gì? Cái đạo đức gốc để có thể tiến đạo được, đó là sự khiêm tốn, không khoe khoang. Ngài thấy rằng có thể là ông này cũng tu thiền được cái gì đó rồi, tức là tâm cũng thanh tịnh, là cũng chắc cũng khá ổn. Nhưng còn một cái khuyết rất nghiêm trọng nằm chôn trong lòng ông mà ông không thấy được, đó là cái thấy mình hơn người khác, cái thấy mình giỏi và khoe. Nên là một cái lỗi lầm rất nghiêm trọng mà chính ông lại không tự thấy, mà ngài Lục Tổ thì không chỉnh thẳng thắn cái điều đó. Bởi vì người tự cao mình nói thẳng không được, nên ngài khéo nhất là ngài chê ngài,

[1:11:00]ngài tự ngài chê ngài để làm cho ông kia thức tỉnh, thấy được cái lỗi lầm của mình. Nó là như vậy. Giống như Đức Phật á là đối với một người mà tự cao thì chúng ta đừng nói pháp mà chỉ làm biểu hiện gì đó mà nếu họ hết được tự cao thì tốt, có thể đem đến giáo pháp cho họ, còn không thì thôi. Còn bao nhiêu người khác coi vậy chứ mà còn độ được hết. Sao? Trừ người tự cao. Ở đây là nhắc chúng ta hai điều: chính chúng ta đừng tự cao. Nếu chúng ta ngồi đây mà trong lòng chúng ta cảm thấy mình đã hiểu được Phật pháp khá nhiều rồi thì ngay lúc đó mọi con đường đóng lại,

[1:11:46]không đi đâu được hết. Vì có thể có những người ngồi đây cũng đã từng đi nghe đầu này giảng, rồi nghe nơi kia giảng, nghe băng giảng này, xem cuốn phim kia đủ rồi, cũng rất là nhiều, phải không các bác? Thấy không? Nhưng nghen đó cảm thấy mình ngon rồi thì thì có quyền đứng lên bỏ cái pháp hội này mà mà ra đi. Và suốt cái bộ kinh Pháp Hoa này không còn ai nhắc tới nữa.

[1:12:12]Lúc đó, Đức Phật mới nói rằng: "Cái pháp vi diệu như vậy, Đức Phật Như Lai đúng thời ứng duyên mới nói, như bông linh thoại đến thời tiết mới hiện ra một lần. Các con nên tin rằng lời của Phật không hề nói dối."

[1:12:32]Đây Đức Phật nói rằng: Tôi đọc bản tuyên ngôn trong kinh Pháp Hoa chúng ta nghe: "Xá Lợi Phất, Ta nói rằng các Đức Phật Thế Tôn chỉ do một đại sự nhân duyên để mà xuất hiện ở nơi đời là vì Đức Phật Thế Tôn muốn cho chúng sinh khai tri kiến Phật để được thanh tịnh mà hiện ra nơi đời, khai tri kiến Phật. Vì muốn chỉ tri kiến Phật cho chúng sinh mà hiện ra nơi đời, chỉ tri kiến Phật là khai là một, chỉ là hai. Vì muốn cho chúng sinh tỏ ngộ tri kiến Phật mà hiện ra nơi đời, thứ ba là tỏ ngộ. Vì muốn cho chúng sinh chứng vào đạo tri kiến Phật mà hiện ra nơi đời, thứ tư là chứng." Như vậy là khai, phải không?

[1:13:24]Mở ra, mở cái pháp; chỉ dạy, phải không? Để làm cho chúng sinh tỏ ngộ và thứ tư làm cho chúng sinh chứng đắc thật sự.

[1:13:37]Thì như vậy mục đích của kinh Pháp Hoa đây chúng ta sẽ thấy có những cái từ ngữ như là tri kiến Phật, một cái từ như là cái mục đích mà Đức Phật nói suốt toàn bộ như thế này. Luôn luôn họ đạt được tri kiến Phật, cái thấy biết của Phật, của bậc giác ngộ. Tri kiến Phật tức là cái thấy biết của bậc giác ngộ, hay cái thấy biết giác ngộ. Và ở đây Đức Phật khai, chỉ dạy, và chúng sinh thì được tỏ ngộ và chứng nhập. Đó, bây giờ chúng ta nói qua cái danh từ đó một chút. Tri kiến Phật tức là cái sức thấy biết của bậc giác ngộ. Thì cái chỗ này tùy cái tâm của mỗi người mà hiểu cái tri kiến Phật ở một mức độ khác nhau.

[1:14:21]Như có người đó thì hiểu tri kiến Phật, cái thấy biết của Phật á, chỉ là cái sự suy nghĩ thôi. À, nói Đức Phật ngày xưa ngài hiểu được nhiều điều, thấy được điều này điều kia là do ngài ngồi suy tư dưới cội Bồ-đề mà ngài hiểu được điều này điều kia, ngài rất thông minh. Đó là cái người họ hiểu như vậy đó. Hiểu như vậy đúng không? Đúng không? Không đúng. Vì như vậy Đức Phật chỉ bằng các ông triết gia bình thường ngồi suy tư mà thôi, nên người này làm giảm giá trị của đạo Phật. Mà tại sao người đó lại hiểu tri kiến Phật chỉ là cái sự suy tư? Trong khi đoạn đầu kinh đã nói, dù cho bao nhiêu người thật giỏi và thật

[1:15:06]thông minh chung lại suy tư cũng không bao giờ hiểu được, phải không? Kinh đã nói. Nhưng mà nếu chúng ta ngày hôm nay chúng ta hiểu rằng Đức Phật do suy nghĩ dưới cội Bồ-đề mà hiểu được Tứ thánh đế, vân vân, thì chúng ta đã hiểu, hiểu lầm Đức Phật. Đó mà tại sao? Vì chúng ta cái trình độ mình như vậy, cái tâm tư mình như vậy, nên mình đã đánh giá cái chữ tri kiến Phật này rất thấp. Đó cái lỗi của người ta. Bây giờ nói tới người kế nữa là người này có tu hành, có chứng đắc được một phần cái pháp thân tròn vẹn. Và người đó sẽ hiểu cái tri kiến Phật giống như cái tâm mà người đó đang chứng. Hỏi: "Tri kiến Phật là gì?", thì người đó sẽ trả lời:

[1:15:48]"Đó là cái tâm thanh tịnh mà vẫn thấy, vẫn biết rõ ràng. Cái tâm thanh tịnh đó nơi chính mình chứ không có cần phải cầu tìm bên ngoài nữa. Cái tâm nơi chính mình đó mà được thanh tịnh, sáng suốt đó, đó chính là Phật tánh, là Chân tâm, là tri kiến Phật." Thì người khi nói câu này, mình có nghe thấy cao hơn cái người nói trước kia không? Cái người vừa nói bằng sự suy tư, thì rõ ràng cái người mà nói: "Đừng có tìm tri kiến Phật ở bên ngoài mà hãy tìm nơi chính mình, phải không? Bởi vì nơi cái tâm nơi mình mà thanh tịnh, sáng suốt thì đó là tri kiến Phật, đó là Phật tánh, là Chân tâm." Thì người nói câu này rõ ràng là cao siêu hơn cái người người trước.

[1:16:30]Nhưng mà như vậy đã đúng như Phật pháp chưa? Chưa đúng. Vì đó chỉ là cái bước chứng đắc rất là thấp, rất là cạn. Mà sở dĩ người đó nói như vậy thì người đó hiểu lầm: "Thấy mình tu tới đó rồi, chắc tưởng ngày xưa các Phật cũng giống như mình, chắc cũng tu tới cỡ này." Nhưng mà người ta gạt, người ta nói: "Ta đã thành Phật, ta đã thấy được Phật tánh rồi đó, thành Phật bằng Phật." Đây lại là một cái tăng thượng mạn thứ hai nữa, là một cái niềm ngạo mạn, tự cao, cách sai lầm vì hiểu lầm. Do cái tâm mình quá hẹp hòi, nhỏ bé, cái chứng mình còn thấp rồi cứ tưởng cái chữ tri kiến Phật của Phật cạn như là cái chỗ mình đang chứng.

[1:17:09]Nên đây mới nói rằng lấy bụng tiểu nhân mà đo lòng của người quân tử. Thấy người mình xấu, mình hơn thua, mình ích kỷ, mình cứ tưởng mấy ông kia chắc cũng ích kỷ, tham lam, nói dối như mình. Nên cái người mà hay nói dối là không có tin ai hết. Đúng không? Cái người nào hay nói dối nhiều thì không tin ai. Còn cái người mà dễ tin là cái người hay nói thật. Bị người ta gạt miết nhưng mà tại thật á, ai nói gì mình cũng tưởng giống mình, mình tin. Đó mình hay lấy bụng ta mình suy ra bụng người như vậy. Thì cái chỗ mà cái chỗ mà hiểu về tri kiến Phật cũng vậy. Cái người mà tu cỡ nào cứ tưởng Phật chắc cũng giống như mình,

[1:17:49]là đó là tri kiến Phật, làm cho đạo Phật bị thấp xuống. Còn người chứng đắc thật sự thì họ sẽ hiểu tri kiến Phật nó vô cùng mênh mông, vĩ đại. Nó là một cái gì mà nó vượt thời gian và không gian, trùm phủ cả ba đời. Cho nên một vị mà Phật hay một vị A-la-hán, những vị đó họ có túc mạng thông, họ có thể biết được vô lượng kiếp của họ mà có thể biết được vô lượng kiếp của bất cứ một người nào nếu họ muốn biết. Như chúng ta gặp một vị A-la-hán, họ không biết gì về mình hết, họ biết sơ sơ thôi. Nhưng nếu cần, họ nhập định thì họ biết suốt vô lượng kiếp của mình. Đó. Nên cái tận cùng, cái thấu đáo đó chỉ những người chứng tới nơi rồi mới biết.

[1:18:32]Hôm nay không biết là có cần giảng tri kiến Phật kỹ không? Không. Vì sao? Vì chúng ta đã giảng điều này trong trong bài nào? Trong đâu? Trong Tứ diệu đế rồi, phần Diệt đế đó. À, phần Diệt đế chúng ta đã giảng kỹ về cái thể tánh tuyệt đối này rồi. Tức là ở đây kinh này gọi là tri kiến Phật, mà trong Tứ diệu đế chúng ta gọi là Niết-bàn đó, gọi là thể tánh tuyệt đối. Thì hôm nay chúng ta không phải giảng cái tri kiến Phật kỹ nữa. Nếu quý Phật tử nào muốn nghe, hiểu được chữ tri kiến Phật thì đi tìm lại cái cuộn băng Tứ diệu đế mà nghe cái phần Diệt đế ha. Nếu mà không thì hỏi thầy trụ trì. Thầy có băng. Nghe rất kỹ về điều này.

[1:19:20]Bởi vì cái tri kiến Phật này thầy đã giảng cả tiếng rưỡi đồng hồ lận. Hôm nay chúng ta không cần phải lặp lại, nó nhàm. Mất thời gian, vì điều này đã nói rồi. Nhé. Cho nên cái tri kiến Phật này rất là sâu xa. Cái điều chúng ta đáng ngại là cái tâm chúng ta đó mà chúng ta cảm nhận nó thấp á, sau này chúng ta sẽ chứng nó cạn, chính thế. Đây là cái nhân quả nằm ngay chỗ này. Mặc dầu hôm nay chúng ta chưa chứng được đạo, chúng ta chưa chứng nhập được tri kiến Phật, nhưng mà chúng ta sẽ chứng được hay không á là do cái nhân ngày hôm nay, là cái sức cảm nhận của ngày hôm nay. Người nào mà cảm nhận cái tri kiến Phật một cách cạn cợt,

[1:20:01]hời hợt thì sau này người đó sẽ chứng một cái quả vị rất thấp. Còn người nào ngày hôm nay mà có cái sức cảm nhận cái tri kiến Phật rất là sâu xa, vi diệu thì người đó sau này được cái quả báo là chứng được tột cùng của tri kiến Phật. Nên ngày hôm nay, quý Phật tử phải làm sao cho mình đạt được cái cảm nhận về cái tri kiến Phật nó mênh mông, vi diệu như vậy để trên đường tu của mình, kiếp này hoặc những kiếp sau, không bao giờ mình tự mãn giữa đường. Nhớ vậy, không bao giờ tự mãn giữa đường. Nghĩa là dù có đắc được một cái phần nào của đạo thì luôn luôn phải biết rằng đây chỉ là mới một, một phần đường.

[1:20:44]Nhờ mình không tự mãn nên mình sẽ chứng được tiếp tục nữa. Còn người nào mà có chứng được rồi rồi nghĩ: "Ồ, ta đã chứng được Phật tánh", thì người đó sao? Đứng lại. Đứng lại và lui. Nghe lui ngộ quá ha? Lạ không? Tại sao nói chứng được một phần đạo rồi lại bị thối lui?

[1:21:11]Có hai trường hợp bị thối lui, không biết thầy đã giảng chưa ta? Bên Nhân Quả có giảng cái này chưa? Dạ chưa. Ở đây chưa nghe, có giảng mấy tăng nghe, mấy sư nghe thôi. Có hai trường hợp để cho người đó bị thối lui, mất cái tâm chứng của mình. Tức là mình đã đắc được cái định đó rồi nhưng mà rồi về sau bị loạn, mất cái tâm chứng đó vì hai nguyên nhân. Trường hợp thứ nhất á là một người tu được đắc được một cái trình độ cũng còn thấp nhưng rồi tưởng mình đã cao, tưởng mình không lui sụt được nữa, cho nên hơi khoe và trong lòng thì tự hào tự hào à mình đã chứng được, mình không còn lui nữa. Trong khi người đó chưa thật sự được cái trình độ bất thối,

[1:22:01]người đó vẫn còn có thể thối lui mà tưởng mình đã bất thối. Cho nên, ngay trong kiếp này người ta bị thối lui, người đó mắc quả báo ngay trong hiện đời. Vì đã tự hào thì ngay trong hiện đời cái tâm chứng của mình sẽ bị lui từ từ, lui sụt từ từ lại. Đó là quả báo thứ nhất. Cái trường hợp thứ hai là một người tu hành rất tới, chứng được một phần đạo khá sâu, đạt được trình độ bất thối chuyển, dứt khoát không còn thối lui được nữa. Nhưng người đó cho rằng mình đã chứng trọn vẹn. Bất thối chưa phải là xong việc, chưa bằng Phật. Thấy không? Tâm họ định rất vững, tâm rất sáng, có một số thần thông, không lui sụt được nữa nhưng chưa phải là viên mãn đồng với Phật.

[1:22:49]Nhưng người đó nghĩ hiểu lầm, do không có thầy dạy, nên cứ tưởng là mình đã viên mãn thì người đó mắc cái quả báo trong kiếp này không bị lui. Trong kiếp này không bị lui vì kiếp này đã đạt được bất thối. Nhưng mà khi tái lai lại ở đời sau sẽ bị lui sụt, không còn đạt được cái trình độ mà như kiếp trước đã chứng được nữa. Bởi vì đã có cái tự cao thầm kín, hiểu lầm tưởng mình đã viên mãn trong khi mình thật sự chưa viên mãn. Cho nên, cái tri kiến Phật này quý Phật tử phải phải để ý cho kỹ mà chúng tôi nói tới nói lui kỹ là vì nó rất quan trọng trong suốt bộ Kinh Pháp Hoa này. Nghe ba chữ tri kiến Phật, quý Phật tử phải có cái tâm

[1:23:37]cảm nhận rằng cái chỗ chứng của gọi là tri kiến Phật nó vô cùng sâu xa, vi diệu chứ không phải là đơn giản. Thấy không? Mà cái mức độ mình cảm nhận được sâu xa chừng nào thì sau này cái quả chứng mình nó sẽ đạt tương xứng chừng đó. Nhớ giùm. Bây giờ chúng ta trở lại mới nói rằng: "Khai, thị, ngộ, nhập".

[1:24:03]Đức Phật á mở ra cái giáo pháp nói rằng có một con đường đi đến tri kiến Phật. Và Đức Phật chỉ dạy con đường đi đến tri kiến Phật, đó là việc của một vị thầy. Còn cái người tu có thể nào nhờ được cái lời chỉ dạy của vị thầy mà mình chứng được không? Có thể không? Không bao giờ, nếu chính mình không không nỗ lực tu hành. Nên đây là chúng ta nhớ Đạo Phật khác với các tôn giáo là ở chỗ khai, thị, ngộ, nhập. Khai, thị là việc làm của thầy và ngộ, nhập là việc làm của trò. Nên đều có cái tương quan với nhau. Chỗ này chúng ta phải hiểu chút nữa là

[1:24:48]ở các tôn giáo khác á nhiều khi cái người đó không cần nỗ lực nhiều lắm. Chỉ cần cầu nguyện cái ơn trên của họ thì ơn trên ban cho họ là họ sẽ được điều đó. Họ nằm trong cái bàn tay của ơn trên. Là ơn trên cho hay không cho thì họ sẽ được hay là không được, họ không có quyền, họ không có trách nhiệm. Có khi họ trúng số thì họ nói: "Trời cho, Chúa cho" này kia. Có khi nào cái bị tông xe chết thì "Chúa cất đi, Chúa lấy về" này được này kia. Nằm trong bàn tay của Chúa, còn chính họ không có trách nhiệm gì hết trong cuộc đời của họ. Cuộc đời của họ, họ không có trách nhiệm mà trách nhiệm nằm ở bàn tay của của trời đất, của ông trời nào đó không biết.

[1:25:31]Còn trong Đạo Phật, Chư Phật có từ bi, có gia hộ nhưng mới có nửa phần, mới khai, thị, còn cái nửa phần còn lại là thuộc về chúng ta. Mình phải có làm phước, phải có tu hành thì mới ráp được cái gia hộ của Chư Phật với cái tu hành của mình ăn khớp lại và ứng thành được cái cái sự tốt lành, cái quả báo tốt đẹp. Phải không? Chư Phật luôn luôn gia hộ, luôn luôn che chở và chúng ta phải tu tập, chúng ta mới ứng được cái sự gia hộ đó liền luôn luôn tới được. Còn nếu mà Chư Phật có gia hộ mà mình chỉ chờ sự gia hộ của Phật thì không bao giờ mình đạt được điều gì tốt đẹp hết. Thì cũng vậy, trong cái sự khai,

[1:26:19]thị, ngộ, nhập này thì Đức Phật có mở, có dạy nhưng Đức Phật không thể làm cho mình chứng đạo nếu chính mình không tu hành. Cho nên, tuy nghe lời dạy của Phật nhưng mà chúng ta phải hết sức nỗ lực, hết sức tìm tòi, hết sức cố gắng, chúng ta mới có thể đến được cái tri kiến Phật đó. Có hiểu không? Bây giờ hết giờ có ai hỏi cái gì chút không? Còn một vài phút. Rồi nếu không ai hỏi gì thì hẹn lần sau ha.