[0:09]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:23]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:37]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:48]Mời quý phật tử ngồi xuống. Bữa nay là ngày đầu trong năm, chúng ta bắt đầu học lại.
[1:00]Lần này cũng nói về loạt bài là sự khác biệt. Chúng ta đối chiếu những cái phạm trù mà đối lập với nhau để tìm ra cái con đường trung đạo.
[1:12]Hôm nay chúng ta nói về đề tài tùy duyên và bất biến. Thì cái khái niệm tùy duyên và bất biến này thì chúng tôi nghĩ là mọi người đã nghe rồi phải không? Thường hay nói đạo Phật tùy duyên mà bất biến. Thì hôm nay chúng ta cùng với nhau bàn lại những cái ý nghĩa của nó như thế nào để chúng ta có thể áp dụng được đạo Phật trong cuộc sống của mình. Thì cái ý nghĩa tùy duyên và bất biến này luôn luôn thường là đi đôi với nhau mà cũng nói lên được cái bản lĩnh của đạo Phật. Cái bản lĩnh của đạo Phật nó thể hiện ở chỗ này, là có những cái nguyên tắc nòng cốt cơ bản thì dù chúng ta có phải bỏ cái thân mạng này
[2:03]cũng không được để mất, nhưng mà lại có những nguyên tắc mà chúng ta lại khéo léo, linh hoạt, thay đổi để chúng ta ứng dụng trong cái cuộc sống, giúp cho đạo Phật tiếp cận được, giáo hóa được với mọi người. Đó đây là cái bản lĩnh. Tại vì có những điều mà phải giữ cho chặt chẽ mà mình không đủ sức giữ thì có nghĩa là mình không có bản lĩnh. Cũng giống như có những điều phải khéo léo, sáng suốt, thay đổi thích ứng mà chúng ta không biết thay đổi để thích ứng thì chúng ta không có bản lĩnh. Nên cái khái niệm tùy duyên mà bất biến, bất biến mà tùy duyên là cái bản lĩnh lớn của đạo Phật. Mà chúng ta khó tìm thấy ở nơi các tôn giáo khác.
[2:51]Đây cũng là một đặc điểm rất là hay, chúng ta cũng phải nghiên cứu. Nhưng nói có những nguyên tắc nòng cốt cơ bản mà dù cho chúng ta có phải bỏ thân mạng này cũng không được để mất ví dụ như những điều gì? Ví dụ như là cái niềm tin, hiểu về luật nhân quả, về luân hồi thì điều này ai nói gì nói mình không bao giờ đánh mất cái niềm tin này. Vũ trụ này, thế gian này, cuộc sống này được chi phối bởi một luật nhân quả nhẹ nhàng nhưng mà bí mật bên trong. Người nào gây cái nhân gì chắc chắn phải nhận lại cái quả báo của nó. Đó là điều mà dù bao nhiêu tiền của cũng không đánh đổi được cái niềm tin này của chúng ta.
[3:38]Và dù chúng ta có tan xương nát thịt thì cũng không bao giờ chúng ta đánh mất cái niềm tin hiểu về luật nhân quả công bằng như thế trong cuộc đời này. Và như vậy thì khi mà một người giữ vững được sự tin hiểu đối với luật nhân quả thì người này khó thể là một người không có đạo đức. Vì mỗi khi làm việc gì chúng ta đều cân nhắc cái quả báo của nó hết. Nghĩa là khi mà chúng ta giận, mình muốn mắng ai, mình đã biết cái quả báo của nó, mình dừng cái miệng mình lại. Hoặc những khi mình giận, mình muốn đánh ai, biết cái quả báo của nó, mình dừng lại. Và sâu hơn nữa trong tâm mình thôi, chỉ vừa mới khởi lên cái tâm tham là mình
[4:26]đã biết nó sẽ dẫn mình đi về đâu trong luân hồi sinh tử, buông bỏ liền. Nên người mà hiểu được cái luật nhân quả, nghiệp báo thấu đáo thì người đó tự mình hoàn thiện lấy nhân cách của mình dần dần, dần dần. Và luân hồi cũng vậy, chúng ta biết cuộc sống này không phải là một kiếp sống duy nhất. Bỏ cái thân này chúng ta sẽ trở lại với những cái thân kế tiếp. Chúng ta đã sống, đã chết từ vô lượng kiếp trước và trong những kiếp tới nếu mình không có tu hành đặc biệt chúng ta sẽ tiếp tục chết và tiếp tục sống nữa, không có gì lạ. Chỉ có một điều là khi chúng ta sinh vào một kiếp mới chúng ta quên đi.
[5:11]Nhưng bây giờ nếu mà ai đặt vấn đề tháng sau nữa mình sẽ chết, mình nghe mình sợ liền. Tại mình thấy sao cuộc đời mình ngắn số vậy, chết rồi mất hết, bỏ hết thân thuộc, ruột rà, vân vân, làm cho mình sợ hãi. Nhưng mà nếu mình sáng suốt, chưa cần đắc đạo thì mình đã thấy rằng mình đã chết rất nhiều lần. Thì bây giờ mình bình tĩnh, ví dụ tháng sau chết, chết thêm lần nữa không sao, tại chết nhiều lần quá rồi, không sợ nữa. Thì khi mình nghĩ vậy mình cũng cảm thấy bình thản. Và cái luân hồi như vậy đưa mình trôi lăn từ kiếp này đến kiếp kia, từ nơi này đến nơi kia. Và có những khi lạ lắm, có khi ví dụ như kiếp này mình làm phước gần chết
[5:56]kiếp sau không có hưởng, mà ba kiếp nữa mới hưởng, kỳ khôi vậy chứ không phải là làm kiếp này là để dành cho kiếp sau đâu, không có. Có nhiều khi cái nhân duyên nó chưa có đến. Ví dụ trong kiếp này à biết Phật pháp, mình buông xả sạch hết luôn là có bao nhiêu làm phước hết. Có tiền bạc giúp đỡ nè rồi có băng giảng thì đem đưa người khác nghe nè, mình làm cho được 50 năm như vậy luôn thì phước người này nhỏ hay lớn? Cực kỳ lớn. Cái phước này đủ để đưa mình ở một kiếp nào đó làm thủ tướng, có thể như vậy. Nhưng mà cái duyên nó chưa tới cho nên kiếp sau nhiều khi mình thôi làm giáo viên dạy học đỡ một kiếp đi, để để đó, đi dạy học đỡ một kiếp.
[6:41]Rồi cái kiếp nữa tới thì mới bắt đầu làm thủ tướng được. Cho nên cái nhân quả mình cứ gieo thôi mà cái lúc gặt quả không đoán được trước. Chỉ có những vị thánh thông vô hình thì họ mới biết thôi. Ví dụ như là nhiều khi kiếp này mình đang là một người đạp xe ba gác bình thường, nhưng mà sự thật là đời trước mình làm phước lớn nhưng mà trong cái kiếp này cái quả nó chưa có trổ, giờ đang còn đạp xe ba gác mướn. Nhưng mà thánh thần ở trong cõi vô hình họ mới biết, họ biết người này cái đức rất lớn. Người này qua đời sau sẽ vinh quang, nhưng mà trong kiếp này cái duyên nó chưa tới lúc. Nên có những người nhiều khi đời này chỉ là ngồi bán bánh
[7:24]ướt ở ngoài lề đường, nhưng mà cái phước là đủ để làm hoàng hậu, công chúa ở kiếp sau chứ không phải kiếp này. Mà bây giờ thì cứ lặng lẽ ngồi bán bánh ướt, nó kỳ lạ như vậy. Nên cái nhân quả của luân hồi nó cứ trùng trùng điệp điệp mà nó luân chuyển như vậy. Đó là điều mà chúng ta phải vững tin chứ chúng ta không có lung lay cái niềm tin của mình. Dù chết vẫn không đánh mất cái niềm tin về nhân quả luân hồi. Hoặc một điều nữa mà chúng ta không bao giờ bỏ mất là lý tưởng giác ngộ, giải thoát. Nghĩa là chúng ta biết được Phật pháp rồi, biết cái luân hồi là đau khổ, biết chúng sinh là chìm trong si mê nên chúng ta thiết tha đi tìm cái ánh sáng của sự giác ngộ.
[8:08]Chúng ta thiết tha đi tìm cái sức mạnh, cái đạo lực để chúng ta tự tại bình an trước luân hồi sinh tử. Nghĩa là phải tu như thế nào là khi cần mình không muốn tái sinh thì không tái sinh. Hoặc là khi cần tái sinh thị hiện để độ chúng sinh thì thị hiện độ chúng sinh. Chúng ta đi tìm cái sức mạnh thắng được cái sức mạnh của nghiệp báo bởi cái sự tu tập của mình. Cũng giống như chúng ta biết cái sự si mê làm cho chúng ta tham, sân, si, chấp ngã từ nhiều kiếp, bây giờ mình phải đi tìm một cái trí tuệ giác ngộ vượt qua khỏi những điều đó, không tham, không sân, không si, không chấp ngã nữa. Như vậy cái lý tưởng về giác ngộ,
[8:51]giải thoát là một lý tưởng kiên cường của mỗi người Phật tử chúng ta. Dù cho một người nào đó đem muôn vàng, muôn bạc đến dụ chúng ta từ bỏ, chúng ta quyết không từ bỏ. Hoặc là một người nào đó đến hăm dọa giết chúng ta để chúng ta phải từ bỏ cái lý tưởng này, chúng ta cũng thà chết chứ không từ bỏ. Đó là cái bất biến, những nguyên tắc mà chúng ta phải giữ sự bất biến không bao giờ để cho thay đổi. Hoặc là lòng từ bi thương yêu chúng sinh cũng vậy. Có khi chúng ta tu cao siêu gì không biết, nhưng mà nếu mình không khởi được tâm từ đối với chúng sinh thì mình chưa thật sự là người vào đạo Phật lắm đâu.
[9:32]Có thể mình hiểu mênh mông trời đất, hiểu những kinh điển cao siêu Bát Nhã, Hoa Nghiêm gì đó, mà nếu mình không có cái thực hành đơn giản là trong lúc nào đó lắng lòng lại, khởi lòng thương yêu tất cả chúng sinh thì mình chưa vào sâu trong đạo Phật. Có thể chúng ta chưa thực hành được sâu nhưng phải có thực hành. Mà dù thực hành được ít thì đây cũng là một cái giáo lý nòng cốt cơ bản. Dù chúng ta bỏ thân mạng cũng quyết không bao giờ bỏ cái lòng thương yêu chúng sinh. Đó, đây cũng là một trong những cái bất biến của đạo Phật. Tức là bây giờ ai nói ra nói vào gì đó, để cho mình phải căm hờn cái chủng tộc này,
[10:12]để cho mình phải căm thù cái tôn giáo kia, mình dứt khoát không là không. Vì mình đã thề trước Phật, sống chết không bao giờ từ bỏ lòng thương yêu chúng sinh. Nên dù đó là một cái chủng tộc gì đó, một bộ tộc nào đó, họ có man rợ gì mình vẫn thương yêu. Dù họ có một cái tôn giáo nào đó, có thể tôn giáo đó chưa phải là đúng, có thể tôn giáo đó có tà kiến, có bạo lực, nhưng mà mình vẫn thương yêu vì mình đã nguyện lòng thương yêu chúng sinh. Nên có ai mà kích động để mình căm thù con người, ganh ghét con người thì dứt khoát là mình không nghe theo. Đó như vậy. Hoặc là có một người nào đó dụ cho mình một cái thánh
[10:54]vị cao siêu mà nếu mình bỏ hết loài người, bỏ chúng sinh để mình vào cái thất kín mình chỉ lo tu để đi tìm cái quả thánh đó, mình dứt khoát không làm. Vì sao? Vì không bao giờ mình mơ ước hão huyền đến một cái địa vị, một cái danh vị nào đó mà đánh mất lòng thương yêu mọi người. Nên đây là điểm dù gì thì dù vẫn không bao giờ chúng ta bỏ mất. Hoặc cái giáo lý quan trọng của đạo Phật là Tứ Diệu Đế. Bài pháp đầu tiên mà Đức Phật dạy cho chư Tỳ kheo là Tứ Diệu Đế. Thì cái nguyên tắc căn bản Tứ Diệu Đế này ai nói Đông nói Tây gì nói mình không bao giờ để bỏ mất. Những cái tuyên bố hùng hồn của Đức Phật
[11:39]về cái bản chất đau khổ của cuộc đời, về nguyên nhân của đau khổ, về Niết bàn vượt qua đau khổ và Bát Chánh Đạo là con đường đưa đến Niết bàn thanh tịnh đó, là bốn cái điều, bốn sự thật, bốn chân lý cao quý chúng ta không bao giờ để đánh mất. Có thể ai đó đưa ra một cái lý luận nào đó để chứng tỏ rằng họ có một giáo lý cao hơn Tứ Diệu Đế, chúng ta mặc kệ họ. Chúng ta nguyện suốt đời suốt kiếp giữ vững niềm tin đối với cái giáo lý Tứ Diệu Đế này. Và nếu chúng ta có hiểu sâu đạo Phật cũng chỉ là triển khai từ cái Tứ Diệu Đế này mà ra. Đây là điều chúng ta lưu ý một chút. Nhiều luận bản, sách này sách kia
[12:23]thì có thể là đào sâu thêm, triển khai mạnh thêm, rộng thêm, nhưng không bao giờ được nói ngược lại Tứ Diệu Đế. Vì nếu nói ngược lại Tứ Diệu Đế thì người này đã ra khỏi đạo Phật. Chúng ta nhớ vậy. Đó là những cái căn bản không bao giờ được để mất với bất cứ lý do nào, với bất cứ giá nào. Nhớ như vậy. Nhưng mà lại có những nguyên tắc ứng dụng có thể được thay đổi để giúp cho đạo Phật tiếp cận với quần chúng. Đây là cái mà chúng ta phải dùng trí tuệ để biết mà linh hoạt thay đổi. Ví dụ như là cái nghi thức cúng lễ thì đừng cố chấp. Thì cái đó không nơi nào giống nơi nào hết. Miễn làm sao tải được đạo lý,
[13:05]miễn làm sao nuôi dưỡng được cái đạo tâm trong lòng mọi người. Như bây giờ chúng ta đến cái ngôi chùa, chúng ta thấy tụng khác, vào cái tịnh xá tụng khác, leo núi Dinh thấy tụng khác. Cứ mỗi nơi mỗi khác một chút vậy á. Nhưng cái khác đó không quan trọng, sao cũng được hết á. Cái quan trọng là cái bài kinh tụng đó khi mà mọi người tụng cái bài kinh đó có xúc động không? Có nhắc nhở mình thêm được nhiều cái đạo lý thâm sâu trong đời sống hay không? Đó là cái quan trọng. Chứ còn tụng cái giọng nào thì tùy cái duyên của cái tông phái đó, của ngôi chùa đó, nó không quan trọng lắm. Và đây cái điểm mà chúng ta biết cần phải có cái sự linh động thay đổi.
[13:45]Ví dụ như mình về đến xứ Huế thì mình phải tụng theo cái giọng hò Huế vậy á, cho phù hợp với tâm tình. Về miền Tây thì mình tụng lai lai cải lương, vọng cổ chút. Còn à thí dụ mình về ở chỗ nào mà gần nhà thờ thì mình tụng giống như hát chút xíu. Nó vậy á. Nghĩa là những cái đó, cái mà nguyên tắc ứng dụng đó, nó không cần phải cố chấp. Chớ đừng có khư khư là phải như thế này mới đúng, như thế kia mới đúng. Cái đó là cố chấp, đó là không biết tùy duyên. Hoặc là y phục cũng vậy. Thời Đức Phật thì người Ấn Độ vậy á, một tấm vải không có cắt, không may đâu, chỉ biết quấn thôi. Khéo quấn cách này, khéo quấn cách kia.
[14:26]Còn người Trung Hoa thì khéo hơn. Vào cái thời 3000 năm trước vậy chớ đã biết cắt may rồi. May quần, áo thành ống, xỏ vào, sinh hoạt rất là dễ dàng. Nên về cái ngành may mặc thì người Trung Hoa có vẻ tiến hơn người Ấn Độ. Nhưng thời Ấn Độ đó người ta quấn quấn. Cho nên khi mà đạo Phật vào Trung Hoa thì người Trung Hoa họ thấy cái y quấn quấn nó không văn minh bằng cái bộ đồ mà may có ống. Chư Tăng nhanh chóng thay đổi liền, vẫn mặc đồ có cái ống, quần có hai ống, áo hai cái tay, có nút gài. Nhưng mà vẫn hay là giữ một cái tấm y để biểu tượng cho đạo Phật xuất phát từ Ấn Độ nên ngài quấn bên ngoài thêm một cái y nữa.
[15:07]Đó cũng là biết tùy duyên mà bất biến đó, là cái hay. Chớ chúng ta đừng cố chấp, đừng cố chấp là phải quấn cái y cho giống hệt Đức Phật. Chúng ta chỉ cần cái tâm cho giống Đức Phật. Còn cái hình thức bên ngoài thì nó phải phù hợp vào cái xã hội mà mình đang sống. Chỉ có điều là vì buộc cái người tu sĩ phải hơi khác với người thường chút, cho nên cái áo cũng phải hơi khác một chút. Như là cái áo hậu của quý thầy mặc đây là nó giống như áo lễ ngày xưa của cái người nho sinh đó, cái tay rộng rồi mặc cái tràng như thế này. Còn bây giờ cởi cái áo hậu này ra bên trong thì có bộ đồ vạt thì nó giống cái gì?
[15:44]Giống bộ đồ bà ba. Nhưng mà nó thêm cái hò để cho nó phân biệt cái người đời chút xíu. Chớ bản chất nó vẫn là cái bộ đồ bà ba của dân tộc. Đó là cái mà mình tùy duyên đi vào cuộc đời. Hoặc là cái ngôn ngữ, khi mà mình nói chuyện đạo với mọi người thì mình phải nói bằng cái ngôn ngữ mà người đó hiểu được, chứ đừng có nói những ngôn ngữ xa lạ. Như vừa rồi, khi mà chúng tôi đến chùa Từ Tân thăm thầy trụ trì, thầy trụ trì ổng mới đứng ổng tâm sự, ổng mới nói: "Sao kỳ quá? Sao tôi thấy thầy giảng mấy bài thì tôi nghe cũng bình thường, không có gì đâu lạ đâu, mà sao... phật tử thích quá?" Rồi thầy mới nói tiếp, thầy nói:
[16:25]"Tôi ra tới Quảng Trị, vô cái chỗ mà khỉ ho cò gáy, người ta cũng hỏi tôi trong Sài Gòn thầy có biết thầy Chân Quang không? Nói sao mà thầy hấp dẫn phật tử dữ vậy? Tôi cũng thắc mắc. Chứ tôi cũng ngồi đây tôi cũng nghe thầy giảng hoài có gì đâu! Thấy có gì hay?" Thì lần đó ra ngoài Đại Ninh gặp một thượng tọa đang giảng, nghe hay lắm, nhưng mà ngồi nghe rồi mới biết, mới phân biệt được là tại sao như vậy. Là vì thượng tọa đó vẫn tiếp tục dùng những cái thuật ngữ của đời xưa, những cái từ ngữ đời xưa, cho nên người phật tử ngồi nghe chớ hiểu chừng được sáu, bảy chục phần trăm à. Còn thầy giảng thì dùng cái ngôn ngữ của thời đại,
[17:01]cho nên người ta nghe ta hiểu được hết tám, chín chục phần trăm. Do đó, phật tử họ thích. Tôi, tôi đứng tôi cười cười tôi chả nói chả rằng gì hết. Vì mình có cái con đường của mình, mình hiểu là mình giảng như thế nào để lợi ích chúng sinh, nên tôi chỉ cười cười. Còn thầy, ổng tự ổng phân tích như vậy. Nhưng trong đó ổng phân tích ra được một lý do, một lý do đó là ngôn ngữ. Chúng ta phải luôn luôn dùng ngôn ngữ của người ngồi trước mặt mình. Cũng may là tôi chưa ra miền Bắc để giảng, chứ tôi mà ra miền Bắc thì chắc cũng phải nói giọng Bắc.
[17:35]Nên ở đây chúng ta thấy cái nguyên tắc tùy duyên bất biến vậy. Khi đạo Phật đi vào một xã hội nào thì liền khéo tùy duyên để thích ứng, chứ không để cho đạo Phật mình trở thành một cái thực thể mà tách rời khỏi cái xã hội đó. Nhìn vô người ta thấy sợ, người ta thấy xa lạ, người ta không dám đến gần, đó là cái dở. Trong đạo Phật có những điều bất biến nhưng mà phải tùy duyên, không được cố chấp. Ví dụ thế này: Ví dụ bây giờ mình đã là người đạo Phật rồi thì mình có nên bỏ đạo Phật không? Bỏ không? Ai cho 1000 cây vàng bỏ không? Nói không thiệt đâu, ai cho 1000 dám bỏ lắm á. Cho 10 cây thì còn thôi, 100 cây là bắt đầu rung
[18:16]rinh, cho 1000 cây, rồi kêu đưa giấy ký liền. Nên chỗ này là cái gọi là bất biến nè, là dù chết vẫn không bỏ đạo. Bây giờ nói cho 1000, dứt khoát không bỏ đạo. Cho 1001 cũng không bỏ đạo luôn, nhớ như vậy nghe không? Nhớ như vậy. Tức là dù sống chết phải giữ cho kỹ, đó là cái bất biến. Nhưng trong bất biến này có cái tùy duyên là mình vẫn phải hoan hỷ, quý mến người khác đạo. Đó là cái tùy duyên, phải không? Ví dụ mình gặp người theo đạo Cao Đài là đạo Tiên nè, hoặc là mình gặp người theo đạo Nho, mình vẫn quý mến, vẫn thương yêu. Hoặc mình gặp người theo đạo Thiên Chúa, mình vẫn quý mến, vẫn hoan hỷ. Đó.
[19:05]Mặc dầu đối với đạo mình thì mình giữ tuyệt đối không thay đổi, nhưng vẫn thương yêu người khác đạo. Gặp những người Java mà mình kêu là Chà Và đó, họ đen đen rồi đó, mắt bự bự đó, răng trăng trắng nè. Những người đó họ theo Hồi giáo, mình vẫn thương yêu, vẫn hoan hỷ. Có điều mình phải đề phòng. Đó là cái tùy duyên đó. Rồi khi mà mình gặp gỡ, mình tiếp xúc thì vẫn phải đối xử tử tế, đó là điều chúng ta cẩn thận. Cái mình đối xử tử tế này nó là gì? Nó là nguyên tắc của từ bi, phải không? Từ bi thương yêu mọi người, nhưng mà cũng là để giữ được cái danh dự cho đạo Phật. Người ta biết mình đạo Phật, nói chuyện với nhau một lát
[19:47]cái mình cự nự, mình sân si, thì như vậy người ta nói: "Người đạo Phật không có từ bi, không có văn hóa." Do đó mà để bảo vệ cái danh dự cho đạo, thì chúng ta gặp ai cũng vậy, nhất là những người khác đạo, mình càng phải thương yêu, quý mến, phải làm ra vẻ lịch sự. Đi lỡ mình có hay sân si thì bữa đó nhịn một bữa, nghe không? Mình gặp đạo Phật mình cự nự nhau được, nhưng gặp người khác đạo ráng tử tế để mà giữ danh dự cho đạo, nghe không?
[20:19]Ví dụ như một cái nguyên tắc mà bất biến với tùy duyên nữa là thường thì người đạo Phật chúng ta hay thích nơi yên tĩnh để mình dưỡng tâm. Có ai tu theo đạo Phật mà thích ồn ào không? Có không? Coi chừng cũng có đó, coi chừng cũng còn thích ở gần cái chỗ mà hát karaoke đó. Nhưng mà đa phần thì khi chúng ta biết đạo Phật, chúng ta thích yên tĩnh, phải không? Thích buổi chiều buông xuống, tiếng chuông chùa thong thả đong đưa, mình lặng lẽ đến chùa lạy Phật. Thích cái khung cảnh yên vắng của một ngày mình đã xao động, vất vả vì miếng cơm manh áo rồi. Mình cần có một lúc nào đó yên tĩnh để dưỡng tâm hồn mình.
[21:02]Hoặc là có khi người Phật tử lớn tuổi rồi, đã xong cái bổn phận đối với gia đình, đối với cuộc đời rồi, lại thích có một cái mảnh vườn ở nơi xa thành thị, về đó mình niệm Phật, tụng kinh, cũng thích yên tĩnh như vậy. Lâu lâu con cháu phải tới thăm, hổng đứa nào tới thăm cũng buồn, vậy. Nhưng mà thường trong đời sống thì mình không chịu đựng được cái ồn náo nữa, đó là đa phần như vậy. Tuy nhiên, mặc dù mình thích yên tĩnh, nhưng mà những lúc nào đó cần phải dấn thân để làm lợi ích cho chúng sinh thì không từ chối, không từ chối. Ví dụ như một chuyến đi cứu trợ mệt mỏi, vất vả vào cái nơi ồn ào dữ lắm.
[21:44]Đông người đến á để nhận quà ồn ào nhưng vẫn phải dấn thân, như vậy. Nên không có cố chấp, đạo Phật là yên tĩnh là mình cứ núp cái nơi yên tĩnh là cũng cái sai nữa. Tuy là bất biến nhưng có lúc phải tùy duyên là vào những nơi ồn ào như vậy để mà làm lợi ích cho chúng sinh hoặc là để giáo hóa cũng có. Nên có nhiều người biết đạo Phật rồi cái chiều xuống đi rảnh việc cái chạy ra công viên gom gom mấy cái đứa bụi đời lại ngồi nói chuyện với tụi nó. Đó là những anh hùng, những Bồ tát á. Chứ nói chuyện mấy đứa sợ lắm, vừa giảng đạo cho nó nghe chứ nó vừa móc túi mình mình không hay nữa. Nhưng mà vẫn phải kiên nhẫn để mà hóa độ.
[22:24]Đó là những Bồ tát giữa cuộc đời đó. Đây ai mà có khả năng làm được cố gắng làm điều đó. Chiều xuống mình rảnh việc, tuần một hai ngày ra công viên kiếm mấy đứa bụi đời, ngồi nói chuyện cho mấy đứa nghe, cho tụi nó tin nhân quả, vân vân. Đó là điều rất là tốt, nên làm. Phải dấn thân vào nơi ồn náo như vậy, mặc dù trong thâm tâm của mình chỉ thích nơi yên tĩnh. Hoặc là có những vị phải dùng nghề thuốc để chữa bệnh cho chúng sinh để gieo duyên, rồi sau đó mới nói tới đạo lý nhân quả. Thảy mà chữa bằng thuốc không thì thì sai. Tại vì người này chưa phải đạo Phật. Nếu mình chỉ hành nghề thuốc đơn thuần để cứu bệnh cho chúng
[23:06]sinh thì không phải đạo Phật, chỉ là một lương y thôi. Phải lợi dụng nghề thuốc gieo duyên và nói đạo cho người ta, làm cho người ta tin nhân quả nghiệp báo thì người này mới là cái hạnh của Phật tử. Là đem cái nghề nghiệp mình ra, đem cái y phương minh của mình để đến với cuộc đời. Còn nếu mình chỉ chữa bệnh mà nói rằng à cái chữa bệnh cứu đời đó thật sự là cứu đời là độ đời thì hiểu sai, hiểu sai, chưa phải. Vì chúng sinh còn nghiệp, cái bệnh cũng là nghiệp. Mà thuốc chỉ là cái duyên, là cái phương tiện chứ cái thuốc không có chữa được tới cái gốc nghiệp. Cho nên nếu người làm thầy thuốc là cái tùy duyên rồi thì vẫn phải giữ cái bất biến đó là cái đạo lý.
[23:50]Là vừa chữa bệnh cho người bệnh mà vừa khuyên người ta làm phước, người ta tránh tội thì người ta mới có thể hết bệnh một cách vĩnh viễn. Đó là cái tùy duyên mà bất biến. Vào thời xưa vậy, có nhiều vị sư họ hòa vào cái đời sống nông tang, nông tang tức là vừa làm dệt mà vừa làm ruộng làm rẫy với với nông dân để mà giáo hóa đấy, có nhiều vị như vậy đó. Có những đời mà khi Chúa Nguyễn mới dời dân vào trong miền Nam á, khi miền Nam mới khai phá thì còn đầm lầy, còn hổ, còn sấu nhiều lắm. Thì Chúa Nguyễn mới dời dân từ ngoài Trung vào trong Nam để khai khẩn thì nhiều vị sư đã đi theo. Nhiều nhà sư đi theo thì lúc đó đâu có mà ở không được.
[24:34]Dân làm, nhà sư cũng phải làm. Dân là đào đất, đắp mương, đắp nền nhà thì nhà sư cũng nhảy xuống mà làm luôn. Chiều xuống khuya dậy thì công phu tụng kinh, gặp người chết thì mình tụng niệm, đưa đám, còn bình thường vẫn làm việc đồng áng với người dân. Nhưng mà trong cái đời sống làm việc nông tang, đồng áng đó vẫn phải giữ được cái nhân cách của mình. Đó là cái bất biến. Cái mà hòa theo đời sống ruộng rẫy của dân nó là cái tùy duyên, nhưng mà giữ cái nhân cách mình cho kỹ đó là cái bất biến, và như vậy mới độ được người khác theo đạo. Đó đó là những cái tấm gương như vậy. Có những trường hợp thế này, về âm nhạc á thì chúng ta có
[25:17]hai cái hệ thống âm nhạc chính, có thể có nhiều hơn. Một cái hệ thống âm nhạc của Đông phương mà nhất là Việt Nam mình là hệ thống ngũ cung là có năm cái nốt nhạc thôi, năm cái nốt nhạc, hò, liu, xàng, xê gì đó tôi cũng không rành lắm, tôi không rành vọng cổ. Còn cái hệ thống thất cung là hệ thống bảy nốt nhạc, là hệ thống nhạc Tây phương á là là gì ai biết? Đó, có mấy người cũng rành á: Đô, rê, mi, fa, son, la, si phải không? Đó. Cái nhạc mà ngũ cung mà đánh lên á khi mình nghe nó biến thành thành vọng cổ phải không? Còn nhạc mà thất cung, tức là bảy nốt đánh lên thì nghe như tân nhạc hiện nay.
[25:55]Nhưng mà hiện nay thì nhạc ngũ cung đã dần dần bị bị bớt cái ưu thế, nghĩa là không còn được ham thích lắm. Còn nhạc thất cung, tức là nhạc bảy nốt của Tây phương thì lần lần chiếm lĩnh hết thế giới này, đó, dần dần như vậy. Thì ở đây, người Phật tử mình thì thôi tùy duyên tùy đời chứ mình cũng chả chấp, thì vì mọi cái nó vô thường như vậy. À một thời nào đó người ta thích cái vọng cổ thì mình tụng kinh cũng giống giống cái vọng cổ theo nhạc ngũ cung, phải không? Nhưng mà cái lớp trẻ hiện nay đi chùa mà tụng cái kinh theo cái điệu đó thì coi bộ không ham lắm. Phải không mấy lớp trẻ? Mấy tụi con à, mấy đứa? Đúng không? Nói thiệt một câu thầy nghe. Thiệt tình đấy.
[26:38]Như bản thân thầy cũng vậy, như thầy cũng không ưa lắm. Thầy tụng kinh cũng dở. Từ hồi mới vô chùa tới giờ cũng vậy, mỗi lần thầy tụng kinh là mấy mấy người tu sĩ ngồi sau cứ ngồi cười không à. Vì hồi nhỏ lớn thầy chơi nhạc Tây phương không á, nên vô cái điệu tụng trong chùa nó giống với vọng cổ quá, cái làm cho mình hơi bị khó. Thì sau này khi nghe thầy Lê Mạnh Thát mới nói rằng ngày xưa vào cái thời thế kỷ thứ hai thứ ba thì đạo Phật của Việt Nam mình tụng kinh theo điệu nhạc thất cung, là bảy nốt y như nhạc Tây phương bây giờ, lạ lùng. Và có mười một loại nhạc khí để đệm trong cái lúc tụng kinh như vậy.
[27:22]Không biết ổng khám phá đâu ra, ổng tìm ra như vậy. Nghĩa là vào cái thế kỷ thứ hai thứ ba thì âm nhạc của Việt Nam mình rất giống với âm nhạc Tây phương hiện nay. Nhưng mà sau này không hiểu lý do tại sao thì lại bị mai một mà mình bị cái nhạc ngũ cung của Chiêm Thành nó khống chế. Thì lúc trước chúng tôi có học sử thì nhớ vậy. Vào đời nhà Lý, nhà Trần, lúc đó khi mình đánh, mình chiếm Chiêm Thành á thì có bắt từ trong Chiêm Thành ra một số nhạc sĩ, số ca sĩ của Chiêm Thành ra ngoài Hà Nội để cho họ phổ biến cái âm nhạc mà các vua vào đời Lý, đời Trần rất là thích. Thì cái nhạc của Chiêm Thành chính là cái nhạc vọng cổ hiện nay, nhạc ngũ cung.
[28:03]Rồi sau ưa thích quá từ từ cái nhạc nó đi vào luôn trong cái bài tụng của đạo Phật. Do vua thích cho nên các chùa cũng lần lần bị ảnh hưởng theo. Nhưng mà vào thời xưa nữa thì nhạc của đạo Phật lại là nhạc thất cung, nghĩa là bảy nốt giống như nhạc Tây phương. Đến lúc nào đó mà nếu xã hội bên ngoài họ chỉ còn biết nhạc bảy nốt thì có lẽ trong chùa mình cũng phải soạn nhạc mà tụng. Như ví dụ như trên chùa Phật Quang vậy, bắt đầu mình cũng soạn một bài tán bằng một bài nhạc bảy cung để mà đang hát từ từ thử vào lúc tụng kinh. Ai thích thì lên chùa đón nghe. Rồi có một lần á, hôm đó có một thầy ở Trà Vinh lên mới hỏi chúng tôi, nói:
[28:45]Thưa thầy, ở trong chùa mà có xin xăm bói toán là đúng hay sai? Quý Phật tử nghĩ đúng hay sai? Đúng hay sai? Không đơn giản đâu. Không đơn giản để mình trả lời là sai đâu. Vì nó như thế này: nó cũng trở lại vào cái thời mà lúc đó người dân Việt Nam mình tràn xuống miền Nam để mà khai hoang lập ấp. Lúc đó có nhiều nhà sư đi theo dân chúng cũng mở chùa. Mà người dân thì thương quý thầy quý cô lắm. Mà lúc đó quý cô thì chưa có dám nhưng mà thường quý thầy xuất gia thì nhiều, thương quý thầy lắm. Coi ông thầy như là thần tượng vậy á. Đến nỗi làm sao biết không? Đến nỗi xảy ra tình trạng thế này: Thấy ông thầy thương quá, ổng cứ hiền lành á tụng kinh gõ mõ.
[29:31]Cái bữa nọ ổng buồn quá ổng nói ổng không muốn tu nữa. Không muốn tu nữa tại vì cái cô hàng xóm của cứ đi qua đi lại hoài, ổng không muốn tu nữa. Thì dân làng họ mới nói thế này: "Thôi nà bây giờ thầy bỏ tu rồi ai mà mà tụng kinh cho tụi tui? Rồi có chuyện gì là ai nhà có ma tang hay là lễ này lễ kia là ai tụng? Thôi thầy cứ tu đi thì tui qua tui nói với ổng gả con gái cho thầy rồi cứ ở đây thầy tu." Bắt đầu cái xuất hiện một đạo Phật có vợ. Thế là Phật giáo Cổ truyền, Cổ Sơn Môn rồi đó, Lục Hòa Tăng á là bắt đầu cho phép. Tức là trong cái hệ phái đó cho phép có vợ. Đó là lý do tại sao mà chúng ta thấy, ủa nói sao thầy trong chùa đó ông thầy có vợ?
[30:11]Là vì cái dòng phái nó truyền từ cái thời Pháp từ thời mà Chúa Nguyễn khai hoang lập ấp nó vậy đó. Nó có lý do của nó. Thấy ông thầy ổng nói: "Thôi kệ, ơ mình cũng vì thương dân á. Thôi kệ, mình cứ ráng ở đây tu mà cũng lấy vợ được cũng không sao." Nó vậy, rồi cứ tiếp tục nó thành cái hệ phái. Rồi nhiều chuyện nữa. Nhiều chuyện là ví dụ người dân họ có cái chuyện thắc mắc, họ mất con bò, họ mới đi kiếm. Bây giờ họ lại hỏi ông thầy: "Thưa thầy, hôm qua có ai vô dắt con bò con đi mất. Giờ thầy biết không, coi chỉ con đi tìm con bò." Bây giờ nếu ông thầy mình không biết, thì người dân họ đi đâu họ hỏi?
[30:50]Họ kiếm ông thầy bói, ông thầy pháp, phải không? Buộc họ phải kiếm ông thầy bói, ông thầy pháp. Thì kiếm ông thầy bói, ông thầy pháp mà ổng chỉ cho lấy được con bò về thì người đó sau này có tới chùa nữa không? Ông thầy chùa không bằng ông thầy bói. Họ sẽ bỏ đạo Phật để đi về với ông thầy bói, thầy pháp. Đó là chuyện đương nhiên thôi, vì quyền lợi nó gắn bó trong đó. Ít có người nào mà vật chất mất thì mất mà không bỏ đạo, vì người dân họ không đủ hiểu biết và không đủ lý tưởng. Nghĩa là ai làm lợi cho họ họ theo thôi. Hễ mà chỉ cho họ cái chỗ mà lấy con bò là họ theo đạo suốt đời thôi, không nói gì hết.
[31:26]Vì vậy ông thầy mình phải học cách bói, học cách bấm độn. Nghĩa là mất con bò vào lúc mấy giờ, lúc đó ngồi ổng tính quẹo quẹo ở đây qua đây. Rồi, đi về hướng tây bắc có một cái người mặc đồ đó đang dắt như thế nào chạy đó kiếm. Thiệt, chạy kiếm ra thiệt. Nên là bắt đầu đạo Phật bị du nhập những cái bói toán lọt vào trong. Rồi ví dụ có bệnh, đáng lẽ chạy đi tìm thầy thuốc cũng chạy vô ông thầy chùa luôn. Nói: "Thầy, con nhỏ nó sốt quá làm sao?" Đưa coi, bắt mạch, ra ngoài vườn hái cái lá đó. Thành thử mọi chuyện trên đời cái gì cũng dựa vào ông thầy, nên ông thầy ngoài cái việc là dẫn dắt tinh thần,
[32:00]còn là người cố vấn trong đời sống, còn là người làm thầy thuốc chữa bệnh luôn nữa. Lúc đó là người dân họ dựa hết vô cái chùa, nên ở trong chùa mấy thầy phải kiêm đủ thứ nghề là vậy. Phải giỏi lắm mới làm ông thầy chùa ở làng được, chứ không phải dễ. Còn nếu không giỏi là mất hết tín đồ về tay các thầy pháp liền. Vì lý do đó mà một thời gian đạo Phật mình thì quý thầy phải có hai, ba nghề mới trụ trì một ngôi chùa được chứ không phải dễ. Rồi trường hợp nhà bị ếm, thư, đối, bùa, bèn, ma quỷ phá cũng kêu thầy lại. Thầy phải tụng chú, tụng đồ để xua đuổi ma tà. Làm đủ thứ hết, ngày xưa như vậy. Nên trong chùa lần lần không còn thuần là một cái đạo lý tu hành giải thoát
[32:41]mà không bói không toán được nữa, mà buộc phải có lọt cái bói toán ở trong vì nhu cầu, cái tình thế lúc đó như vậy, chứ không phải dễ. Rồi có cái trường hợp ví dụ như đời mà vua Gia Long lên ngôi được, bắt đầu ổng tàn sát cái quân của Tây Sơn Nguyễn Huệ để lại. Những danh tướng của Tây Sơn là thất lạc, trốn hết. Những cái người mà nổi tiếng thì bắt được, giết xong rồi tiếp tục tìm cái lớp con cháu, những cái tướng phụ kế bên cũng giỏi ghê gớm lắm. Những vị tướng thời xưa giỏi lắm. Ngoài nho, y, lý, số ha, võ công, binh pháp, họ còn biết bấm độn, bói toán đủ hết. Thì mấy vị đó mà khi đi trốn cái lệnh truy nã của
[33:21]triều đình nhà Nguyễn thì họ vào chùa họ tu. Họ lẫn vào trong những ngôi làng xa, vào rừng vào núi và cạo tóc tu hết luôn để mà giấu tung tích. Mấy vị đó thì thôi, siêu đẳng luôn. Nghĩa là ăn trộm mà tới, ăn cướp mà tới ăn hiếp cái làng đó thì kêu thầy ra. Nghĩa là thầy chỉ cầm cái gậy thôi, cho 30 thằng cướp thầy oánh bay hết. Nghĩa là vừa làm cái ông bảo vệ giữ làng. Rồi hễ mà mất trâu lại thầy, thầy bấm độn thầy tính là đi về hướng đó tìm, dắt con trâu về. Đó là mấy vị tướng mà ẩn tu trong chùa là những con người siêu đẳng. Cho nên một thời gian dài cái người dân mình có cái tâm tình với đạo Phật kỳ lạ lắm, nó thành ra cái gì gắn bó thiêng liêng.
[34:03]Mà cũng nhờ là quý thầy đủ thứ nghề ở trong chùa đó. Mà khi nào quý thầy buồn quá thì dân đem con gái lại gả luôn, để cho thầy đừng có bỏ chùa mà đi. Vì dân nữa không có chỗ nhờ. Nó như vậy. Mà đến thời đại cách đây khoảng chừng 20 năm thôi. Nhiều khi một cán bộ mà kiểm tra hộ khẩu mới đến cái chùa để mà kiểm tra nhân khẩu rồi đó, vô cái chùa gặp một hòa thượng thì hòa thượng thuộc cái dòng mà Lục Hòa Tăng Cổ Sơn Môn như vậy đó. Nói: "Thưa thầy, thầy kê ra giùm là dòng họ gia đình, vợ con của thầy." Thì về phần vợ ổng viết không đủ chỗ tại ổng viết tới ba người lận. Còn con thì là một dây. Nghe chuyện thì ông cán bộ ngạc nhiên lắm, ổng nói: "Trời, sao kỳ?
[34:47]Thầy đi tu vậy?" Nhưng mà không phải, nó thành một cái dòng phái từ đời xưa nó truyền vậy. Nhưng lúc đó người ta thấy nó bình thường lắm mà đến trong thời đại gần đây vẫn còn, chứ chưa có hết. Nhưng tuy nhiên, thời gian gần đây do cái phong trào chấn hưng đạo Phật của nhiều vị tôn túc á, nên lúc đó mấy cái vị mà nhiều khi thuộc Cổ Sơn Môn, Lục Hòa Tăng cũng ý thức được cái việc quý thầy mà lập gia đình là không nên nữa, hết rồi. Giai đoạn đó đã qua rồi. Bây giờ đã tới lúc người tu phải sống độc thân. Nên nhiều vị mặc dù xuất thân từ cái Cổ Sơn Môn Lục Hòa Tăng mà đã giữ giới suốt đời không có lập gia đình.
[35:24]Nên từ từ trở lại như vậy, trở lại như vậy. Nên bây giờ mà mình nghe nói một vị thầy mà có vợ hiếm hiếm, ít gặp rồi, vì quý thầy đã bắt đầu giữ giới trở lại. Đó là do thời đại. Nên có nhiều trường hợp mà mình khó quyết định lắm, mình đừng có vội nói đúng sai, đừng vội phê bình đúng sai. Hỏi sao thầy có vợ? Có cái nguyên nhân sâu xa mấy trăm năm. Nói ủa sao trong chùa đó có xăm, bói toán? Có nguyên nhân của mấy trăm năm để lại. Đến bây giờ ví dụ như là người Phật tử mình cái trình độ hiểu biết đã quá cao rồi, nên khi mình hiểu đạo, mình giữ vững lý tưởng với đạo. Giờ ăn trộm có vô nhà cạy tủ mình lấy đi mấy cây vàng,
[36:03]mình đã xem cuộc đời là vô thường, phải không? Như một giấc mộng. Không cần phải vô chùa bắt thầy phải bói cho ra thằng ăn trộm nào lấy của con mấy cây vàng, con mới theo đạo nữa. Tiền bạc là vô thường, mình giữ được tâm đạo, biết đó là nhân quả nghiệp báo nên không bận tâm. Bây giờ là do sự giáo hóa mạnh mẽ nên người Phật tử đã ý thức thì từ từ mới có thể trong chùa không cần phải coi bói nữa. Như bản thân chúng tôi vậy, là không hề biết bói toán gì hết, vậy mà nhiều người vẫn còn lại hỏi. Nói: "Thầy dòm con coi giờ sắp tới làm sao sao?" Khổ dễ sợ vậy á. Nói là người Phật tử hỏi lộn địa chỉ rồi.
[36:41]Thì có người lại hỏi: "Thưa thầy, con đang ở cái nhà này, cái ông đó ổng lại ổng nói cái nhà này không hợp hướng. Giờ con tính con mướn cái nhà kia để ở, để làm ăn cho nó dễ. Nhưng mà dù sao con cũng phải hỏi thầy vì thầy là thầy của con." Khổ tâm dễ sợ. Thì lúc đó là tôi mới dùng luật nhân quả nghiệp báo thôi, tôi không biết gì thì tôi mới nói thế này: "Mà cái nhà đang ở thấy làm ăn được không?" Nói: "Dạ, ở đây thì cũng thuận tiện làm ăn." "Thì cứ ở đó. Hễ mà không làm ăn được thì tới đó tính sau." Trả lời đúng, "Thì cứ ở đâu cứ ở đó, ăn thua phước mình thôi chứ, cứ vững tin đi." Tôi, tôi nói theo nhân quả nghiệp báo, nhưng mà cái người Phật tử nghe thì nói:
[37:22]"A, vậy là được hả thầy?" "Được rồi." Vậy thôi không ở. Cứ tưởng là tôi coi bói mà. Mà tôi, tôi nói: "Ờ, làm ăn được cứ ở đó, không sao." Mặt tôi là dòm là biết là ngu rồi đó mà còn có người tới hỏi. Thấy khổ. Nên nó như cái nhu cầu tự nhiên của con người vậy. Nên ai muốn đi tu phải học thêm nghề bói một chút nha. Nó khổ lắm á. Đó là nãy giờ chúng ta nói đó, bất biến nhưng mà phải tùy duyên là vậy. Nghĩa là có những điều mình phải giữ kỹ, nhưng trong cái giữ kỹ đó không được cố chấp mà có những lúc phải linh động, uyển chuyển để cho đạo Phật đến được với mọi người. Lại có những trường hợp chúng ta tùy duyên nhưng mà phải
[38:00]bất biến, phải kiên cường giữ đạo, chứ không được tùy duyên theo cuộc đời rồi đánh mất cái đạo mình luôn. Ví dụ thế này: Như là mình luôn luôn hòa nhã với mọi người, nhưng không bao giờ chiều theo cái thói xấu. Ví dụ bây giờ mình đến cái bữa tiệc, mình gặp người ta đang nhậu, uống rượu. Mình hòa nhã, không công kích, không nói gì hết, nhưng dứt khoát không cầm ly rượu lên uống. Vì mình là người Phật tử, mình đã thọ giới rồi. Nhưng mà chuyện này khó làm à. Vì tôi nghe nhiều người nói lắm: "Thầy ơi, khó lắm thầy ơi! Bạn bè níu kéo, mình không uống nó nói mình khinh dễ. Uống được ly hổng lẽ rồi bỏ về nửa chừng, phải ráng ngồi cho tới hết rượu
[38:43]rồi xong luôn, coi như mất cái giới uống rượu." Đủ thứ lý do hết trơn. "Nói giờ tụi con còn phải làm ăn không hút thuốc không được thầy ơi, phải ráng hút thuốc." Nó có nhiều lý do như vậy. Và đây là cái chỗ vì mình vui vẻ với mọi người là cái tùy duyên tốt rồi đó, nhưng mà không giữ được cái bất biến. Tôi thường hay nói vậy: "Bây giờ, quý Phật tử thử bàn chuyện làm ăn, người ta nhậu, mình không nhậu thử coi. Thử coi làm ăn được hay không? Vì tôi đã thấy rồi, nhiều người rồi. Như lại có những nữ giám đốc, họ điều hành một cả một công ty như vậy thì họ đâu có nhậu? Họ đâu có nhậu với đàn ông mà làm việc vẫn được như thường mà được còn hơn nữa.
[39:23]Vì họ không có cái màn đi bia ôm và đi nhậu với đàn ông. Chứ mấy ông giám đốc đàn ông nhiều khi hư lắm. Đôi khi hư, chứ không phải ai cũng hư, nhưng mà dễ hư hơn giám đốc phụ nữ. Mà giám đốc phụ nữ họ đâu có nhậu đâu, họ vẫn làm việc, vẫn ký hợp đồng được, phải không? Cho nên lấy cái cớ là vì làm ăn, vì vui với bạn bè mà phải nhậu, đó là tùy duyên mà không giữ được cái bất biến. Nên chúng ta là Phật tử phải nhớ như vậy. Tùy duyên nhưng phải bất biến,
[39:54]Có trường hợp vậy, có ông thầy đó sắp về để trụ trì cái chùa, mà nơi cái vùng đó thì quý thầy theo cái truyền thống ngày xưa đó nên cũng không có nghiêm túc về giới luật. Ông thầy ổng lo, ổng lo bây giờ về đó mà mình giữ sự trong sạch thì không sống nổi, sẽ gặp cái sự chống đối ầm ĩ của cả một cái số chư Tăng mà họ không có thói quen giữ giới luật. Giờ không biết làm sao? Thì đây là chỗ mà mình phải áp dụng cái tùy duyên bất biến, là vẫn phải chiếm cảm tình của mấy thầy ở có sẵn, vẫn phải làm giúp đỡ mọi cái, nhưng dứt khoát phải giữ giới. Đó là cái bản lĩnh. Chúng ta đã nói rồi, cái tùy duyên bất biến là cái bản
[40:36]lĩnh của đạo Phật, nên chỗ này là không để mất, đó. Người Phật tử mình cũng vậy, cái giới luật, cái đức hạnh là cái quan trọng. Nhiều khi mình chìu theo cái thói đời quá, lấy lòng người ta quá, có khi mình mình hư, không có được. Vui thì vui, mà không để sai phạm những nguyên tắc đạo lý của đạo Phật, không được. Hoặc là ví dụ thế này, ví dụ như mình ca ngợi những lời dạy đạo đức căn bản nơi tôn giáo bạn, nhưng không có nghĩa là mình chấp nhận cái thần quyền của những tôn giáo đó. Nếu như quý Phật tử mà hay nghe băng tôi giảng thì thường hay thấy tôi trích những lời dạy của Chúa Giêsu, đúng không? Có không?
[41:20]Phải không? Nhưng mà có nghĩa là tôi có tin Thượng đế không? Không, không tin, không bao giờ tin có ông Thượng đế Giê-hô-va cả. Nhưng mà lời dạy đạo đức của Chúa Giêsu thì rất là tuyệt vời, ừm tin, ừm ca ngợi, tán thán, vì những cái đó là chân lý. Nhưng mà để đánh mất cái đạo lý của mình, đánh mất cái nhân quả là không được, cũng giống như là tin có Thượng đế tạo vật là mình không tin. Đó, đó là điểm mà chúng ta tùy duyên nhưng mà phải bất biến. Thì trong một số bài giảng khác, chúng tôi có lý luận dựa vào cái Thập Nhị Môn Luận của ngài Long Thọ mà nói về cái vô lý của khái niệm Thượng đế tạo vật, thì ở đây chúng tôi không có lặp lại.
[42:05]Nhưng mà đó là những cái căn bản, chúng ta để ý như vậy. Ừm. Về một điều nữa, ví dụ như là đôi khi chúng ta vui theo những lễ hội chung của xã hội, nhưng mà không có được vui suông, vì vui suông là mình mất mình, mất cái tâm thanh tịnh. Trong cộng đồng xã hội, họ hay có những lễ hội cho vui vì người ta thích vui. Chúng ta nghe bài lễ hội rồi, phải không? Nó vậy con người ta thích bày trò cho vui chứ không gì trơn, mà nếu mình tham gia cuộc vui đó chỉ để vui thì là mình tùy duyên mà không có cái bất biến. Cho nên mình luôn luôn lợi dụng những cái dịp lễ hội vui đó để đem đạo lý đến cho con người, chứ không được quyền vui suông,
[42:49]vì vui suông như vậy là mình không giữ được tâm thanh tịnh. Nhớ như vậy, đó là cái tùy duyên mà phải phải bất biến. Rồi ví dụ như là mình là một người tu hành theo đạo Phật thì có cái tùy duyên là mình theo dõi được sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật để mình bổ sung cho đời sống tu hành của mình không có lạc hậu so với thời đại, đó là cái tùy duyên. Nhưng mà không được xem khoa học kỹ thuật là cứu cánh. Những nhà khoa học á thì họ xem khoa học là cứu cánh, suốt cuộc đời chỉ hiến dâng cho khoa học, chỉ tìm tòi, phát minh những điều mới. Nhưng mà chúng ta là người đạo Phật thì biết rằng khoa học kỹ thuật chỉ là phương tiện chứ chưa phải là cứu cánh.
[43:34]Cái cứu cánh là gì? Cứu cánh là gì? Là sự giác ngộ tâm linh. Cứu cánh là cái đó. Còn khoa học kỹ thuật chỉ là phương tiện mà thôi, nhưng chúng ta không được quyền lạc hậu. Nghĩa là khi khoa học tiến tới đâu, chúng ta biết tới đó. Như cái ngày xưa, cái lúc mà có giấy để viết chữ thì đạo Phật mình sử dụng giấy để viết kinh liền. Cho tới cái ngày mà có băng cassette thì mình dùng băng cassette để thu lại những lời giảng liền. Tới lúc có băng video thì mình quay cái bài giảng liền. Rồi tới lúc có computer là có máy vi tính thì mình cũng biết sử dụng vi tính để mà lưu trữ kinh văn, soạn văn bản, vân vân liền.
[44:17]Là mình luôn luôn sử dụng được cái tiến bộ của khoa học kỹ thuật nhưng mà không bị choáng ngợp bởi nó, vẫn bình tĩnh tu hành, vẫn giữ thời gian để tu thiền, niệm Phật mỗi ngày. Chứ không phải là thấy khoa học tiến bộ quá rồi mê theo khoa học, đó là sai. Nên ở đây là chúng ta tùy duyên, nghĩa là vẫn quan sát theo dõi và tán thán cái sự tiến bộ của khoa học, nhưng mà vẫn phải biết cái cứu cánh thật sự là sự giác ngộ của nội tâm, sự giác ngộ của tâm linh chứ không phải chạy theo cái tiến bộ của khoa học. Đó là cái tùy duyên mà phải biết bất biến là vậy. Có những thời đại á, đạo Phật bị vua cấm, ở bên Trung Hoa á, Việt Nam mình thì chưa nghe,
[45:05]nhưng bên Trung Hoa có một thời gian vậy, đạo Phật có ông vua ổng cấm, ổng đập phá chùa, đốt kinh luôn, bắt tăng sĩ hoàn tục và có những đời mà ông vua giết luôn thầy tu luôn, hễ mà thầy tu theo đạo Phật là giết luôn, dữ dội như vậy. Giờ lúc đó làm sao? Lúc đó có nhiều vị tỉnh bơ thì mặc áo đời tu, việc tu là việc của nội tâm chứ đâu phải là việc của cái áo cà-sa. À không cho tu, cởi áo cất xếp giấu, mặc đồ đời đi tu. Quan trọng là giữ được nội tâm của mình. Đó, đó là cái bản lĩnh của đạo Phật. Nên chính vì vậy khi mà nhắc lại những điều đó thì chúng ta nhớ một điều là không được chấp y áo. Không được chấp là à tôi tông phái này, đạo Phật không có phải nằm nơi hình thức.
[45:52]Tuy là trong cái bình thường không có sự kiện gì thì mình vẫn phải giữ y áo như là biểu tượng của tu sĩ, biểu tượng của Phật pháp. Mà nếu đụng chuyện thì sẵn sàng mặc quần áo bình thường để tu, ẩn tu liền, không sợ. Nhờ những cái vị mà biết tùy duyên như thế mà đạo Phật tồn tại. Rồi đến cái đời mà ông vua đó ổng chết thì mấy cái vị mà nào giờ ẩn tu á, đắp cái y lên trở lại làm thầy tu liền và đạo Phật tiếp tục được duy trì. Chứ còn nếu những vị mà chấp y áo, thà chết chứ không bỏ cái y thì đúng ông vua ổng giết liền không, ổng giết tới chừng ổng chết rồi thì đạo Phật xơ xác hết, không còn ai phục hồi.
[46:31]Nhưng mà nhờ có những vị họ sáng suốt, ẩn tu, mặc đồ thường tu. Đến khi mà qua cái cơn hoạn nạn rồi trở lại tu hành tiến bộ nhanh chóng rồi hướng dẫn người khác tu tiếp. Đó, đó là nhờ cái giáo lý mà tùy duyên bất biến mà đạo Phật tồn tại qua nhiều giai đoạn khó khăn của lịch sử là như vậy. Ừ. Hình thức thì không quan trọng mà tâm mới quan trọng. Chỉ có cái thế này, ví dụ đến lúc nào đó, một cái thế lực nào mà buộc chúng ta phải từ bỏ cái tư tưởng, cái cảm xúc của chúng ta đối với đạo, từ bỏ cái giáo lý của chúng ta đối với đạo thì dù chết mình cũng phải giữ gìn. Cho nên ví dụ như có thể là chùa không có,
[47:17]có thể cái tấm y tấm áo này không có ai mặc, nhưng trong lòng con người còn tin nhân quả, còn có lý tưởng giải thoát thì đạo Phật còn tồn tại. Chỉ có khi nào mà lòng con người không tin không hiểu nữa thì lúc đó mới thật sự là Phật pháp suy tàn, là vì nó đã mất từ trong nội tâm rồi, còn mất trên hình thức thì chưa phải quan trọng. Ví dụ ngày nào đó mà mình thấy ờ một cái xã hội nào đó người tu vẫn phải để tóc, mặc đồ đời, chưa phải đạo Phật đã mất đâu. Mà chỉ khi nào mình hỏi mọi người không còn ai biết luật nhân quả là gì, không ai biết luân hồi là gì, không ai tin được Tứ Diệu Đế, hay là có lý tưởng giác ngộ thì cái xã hội đó đạo Phật mất thiệt rồi đó.
[48:04]Nên cái nội tâm mới quan trọng. Thời xưa vậy, khi mà người Hồi giáo họ tấn công đạo Phật, thì lúc họ mới tiêu diệt đạo Phật, đạo Phật chưa mất, nhưng mà qua nhiều trăm năm, không còn ai duy trì cái giáo lý đó nữa, nên không còn người biết đến nhân quả nghiệp báo nữa thì đạo Phật đã mất thật sự. Bây giờ cũng vậy, khi mà người đạo Hồi họ muốn tràn vào trong xã hội thì cái việc mà chống họ cũng đừng chống trên hình thức, mà hãy chuyển biến nội tâm của họ, giúp cho cái người đó họ tin được nhân quả, luân hồi, họ phát khởi được tâm từ bi thì tuy là đạo Hồi mà từ từ họ đã bị tấn công, đã được đạo Phật xâm nhập vào trong thì nó không còn hung hăng, bạo lực nữa.
[48:47]Đó, đó là cái quan trọng. Cái quan trọng là nội tâm chứ không phải hình thức. Và vì vậy, chúng ta hiểu được cái nội tâm là quan trọng thì chúng ta phải giữ được cái tin, cái hiểu, cái quyết tâm theo đạo Phật cho mọi người. Hãy giữ được điều đó cho gia đình mình, cho con cháu mình, cho bạn bè mình. Tự nơi mình là giữ cái lý tưởng với Phật pháp một cách kiên cường và mình thắp cái quyết tâm đó tràn sang cho mọi người hết. Nghĩa là chung quanh mình thì người nào mình cũng phải làm cho họ hiểu đạo Phật sâu sắc, tin đạo Phật tha thiết và quyết tâm sống chết với đạo Phật. Đó là bổn phận của chúng ta là trong nội tâm, chứ không phải trên hình thức.
[49:30]Còn trong những cái đạo lý mà bất di bất dịch của đạo Phật có những điều chúng ta phải để ý, để ý để chúng ta không bao giờ bị sai lạc là vô ngã. Vô ngã này thì chúng ta nói nhiều rồi, nhưng mà giáo lý vô ngã này khiến cho cái người đệ tử Phật không có chấp cái quan điểm của mình quá, cái phong cách của mình, cái nghi thức của mình, tông phái của mình, mà có thể hòa theo được tâm tình của mọi người. Ví dụ như một người Bắc tông mà nếu phải vào sống nơi một cái môi trường của các sư Nam tông thì mình sẵn sàng đắp y Nam tông liền, hòa theo liền, nhưng trong nội tâm lý tưởng Bồ-tát không bao giờ bỏ.
[50:05]Đó là nhờ mình vô ngã nên mình không có chấp. Rồi có khi là mình thì thích à cái ngôi chùa phải xây như thế này, nhưng mà người ta xây ngôi chùa theo cách khác, mình không có chấp cái quan điểm của mình, mình vẫn vui theo quan điểm người khác. Đó là cái giáo lý vô ngã, nó đem đến cho chúng ta sự hòa vui, cái sự tùy duyên được với mọi người cũng nhờ giáo lý vô ngã. Nếu không có giáo lý vô ngã, chúng ta sẽ cố chấp, khư khư cái đường lối của mình mà mình không thể tùy duyên được. Đó, nên nhờ giáo lý vô ngã thấy mình là không quan trọng nên mình dễ bỏ cái chấp về quan điểm, về tông phái, cái phong cách của mình hòa được tâm tình mọi người.
[50:44]Rồi một cái đạo lý bất di bất dịch nữa là nhân quả nghiệp báo thì giúp chúng ta làm sao? Giúp chúng ta bình thản chấp nhận được nghịch cảnh hoặc là mình lợi dụng cái thuận cảnh để mình tạo phước. Nghĩa là khi nghịch cảnh tới á là mình biết à đây là cái nghiệp đời trước của mình, cho nên mình không có đau buồn lắm, phải không? Hầu hết Phật tử chúng ta đều biết điều đó. Có không? Rồi khi thuận cảnh nó tới, tự nhiên mình trúng số, tự nhiên mình giàu lên thì làm sao? Thì làm sao? Nếu tại đời trước làm phước rồi thôi mình ráng sung sướng không phải. Tức là nếu thuận cảnh tới thì mình lợi dụng cái thuận cảnh đó để làm phước tiếp liền.
[51:26]Rồi nếu lỡ trúng số thì đem tiền ra bố thí cúng dường liền. À nếu mà mình may mắn làm ăn phát đạt thì luôn luôn trích ra phần lời của mình để làm phước liền. Đó là cái thuận cảnh tới, mình biết nhân quả mà, tin nhân quả nghiệp báo. Còn nghịch cảnh tới thì an vui chấp nhận, vì biết cũng là cái nghiệp quá khứ. Như mới hôm qua tôi đến cái ngôi chùa ấy, cái chùa Từ Tân để làm lễ quy y cho vài Phật tử. Thì nghe nói có ông thầy ông bị đụng xe gãy một cái chân. Tôi nghe tôi xót xa nhưng mà rồi nghe thầy trụ trì ổng kể là ông thầy đó ổng mới nói là: Hồi nhỏ ông ở miền Tây đó nên ông chuyên môn câu ếch, bắt ếch, soi ếch.
[52:04]Bắt rồi bỏ vô giỏ, sợ nó nhảy nên bẻ chân nó một cái để bỏ trong giỏ cho nó đừng có nhảy đi mà không biết bao nhiêu thiên con, vạn con. Nên bây giờ mà gãy cái chân này thì ổng nói là vừa lắm, không có gì ân hận, thắc mắc. Chúng ta thấy không? Nhờ mình hiểu được nhân quả nên mình bình an trong nghịch cảnh. Mà có những nhân quả nó xa xưa ở những kiếp xưa mình không thể nào mà nhớ được, nhưng mình tin, mình tin mình cũng làm cái gì sai lúc đó rồi nên bây giờ mình trả quả nên mình bình an đối với nghịch cảnh. Còn hễ thuận cảnh mà vừa tới một cái là lập tức lợi dụng nó để làm phước tiếp liền. Vì đó là mình tin nhân quả nghiệp báo.
[52:40]Không bao giờ mình để hở, không bao giờ cái giàu sang hạnh phúc tới mà mình chỉ thụ hưởng. Người Phật tử không bao giờ có chuyện đó. Hễ mình vừa khá lên chút là lật đật bố thí giúp đỡ người khác liền. Như hồi sáng nay vậy, lúc ơ tôi đang giảng ở chùa Sài Gòn thì có cô đó đang giảng mà cứ vào xá chào rồi để đi về bên Mỹ. Thì khi ra tôi mới kể câu chuyện của cô đó cho những người khác nghe. Cái cô này lạ lắm, cô mộ đạo mà nhà cô nghèo, chồng chết để lại cho cô có mười mấy đứa con à. Thì nghèo đói thê thảm, mà mộ đạo dữ lắm, nên khi đi chùa không có tiền cúng chùa thì mới mượn chị em bạn: "Chị cho em mượn đỡ năm chục, hồi đó năm chục,
[53:25]rồi xuống chùa đó rồi từ từ em làm em trả góp ngày một đồng, hai đồng để trả lại cái số tiền đó." Rồi mai mốt đụng chuyện cúng chùa cái lại mượn nữa, mượn đi cúng chùa rồi đi làm buôn gánh bán bưng trả góp. Mộ đạo tới như vậy. Rồi quả báo tới. Quả báo tới là cái ông công an phường ổng nhìn cái gia đình đó ổng thấy sao mà giống Tây lai quá, tại có nhiều người đẹp quá. Ổng mới báo cáo lên là gia đình đó là người con lai, xin cho sắp xếp để được đi nước ngoài. Ừ gia đình cô là có con lai cho nên được nhà nước cho đi theo diện con lai, thì cô mới cự, cô nói: "Xin lỗi ông, chúng tôi làm vợ là một chồng một vợ đàng hoàng từ trước tới sau,
[54:06]ông đừng có nói bậy." Ông công an cứ cười cười, ông cứ làm hồ sơ ông ký ông gửi lên. Thế là một ngày đẹp trời bắt hết cả gia đình lên máy bay đi Mỹ luôn. Mà không có lai, không có gì trơn á. Mà qua bển nghe nói là cũng khá giả. Thì tôi ngồi tôi ngẫm nghĩ đúng là nhân quả thiệt. Thì cổ cúng không được nhiều đâu, lúc bấy giờ nghèo quá làm gì mà cúng được nhiều, ít nhưng mà cả tấm lòng. Có ai mà dám mượn tiền cúng dường không? Hễ mình có 10 thì mình trích ra 2, 3 mình cúng thôi phải không? Đó, còn ở đây không có, dám mượn cúng. Cho nên vì cái đó mà quả báo đến rất là lớn. Đó là cái nhân quả nghiệp báo đó, người Phật tử mình là vậy.
[54:41]Hễ mà có điều kiện làm được là làm phước liền chứ không bao giờ thụ hưởng hết những cái mình có là vậy. Rồi cái từ bi cũng là một cái đạo lý bất di bất dịch của đạo Phật. Tuy nhiên để ý chỗ này, là lòng từ bi khiến chúng ta sẵn lòng giúp đỡ mọi người nhưng mà nghiêm khắc trước thói xấu của con người. Cái từ bi không có nghĩa là cái bao che cho người khác làm bậy, không có nghĩa là cứ tiếp tục nuông chiều cái thói xấu của người khác, chúng ta nhớ điều đó. Chúng ta thương con người, giúp đỡ họ nhưng mà không chấp nhận cho họ gây nhân xấu, vì vậy có những khi mình phải nghiêm khắc, có những khi mình phải làm mặt ngầu, lúc đó là cần thiết.
[55:26]Vì vậy chúng ta mới thấy nhiều người làm công an mà có phước là vậy đó, công an mà thanh liêm á, chứ hối lộ thì mình không nói, thì thì những người công an mà cương quyết đấu tranh với tội phạm cũng rất là có phước, vì họ mới làm cho người tội phạm chùng tay lại không dám làm nữa. Giống như là mình là một người cha trong nhà, người mẹ trong nhà mà hễ con mình hư mình phải đánh đòn à, đó là cái có phước đó, nghiêm khắc trước thói xấu mặc dù thương con. Hoặc là bạn bè cũng vậy, bạn bè đi chùa với nhau mình thương yêu bạn, mình giúp đỡ bạn mình, đó là lòng từ bi. Nhưng bạn bè mình mà hơi nhúc nhích có cái gì sa ngã là phải nghiêm khắc chỉnh liền,
[56:02]không có để cho bạn mình đi sai lệch luôn, đó là từ bi nhưng mà nghiêm khắc. Nên có cái chùa mà chùa Ni đặt là chùa Từ Nghiêm á, cái tên nó rất là hay là vậy đó. Từ bi nhưng mà nghiêm khắc, chứ không phải từ bi mà trở thành dễ dãi. Đó cũng là những cái đạo lý bất di bất dịch của đạo Phật mà mình ứng dụng cho khéo, chứ đừng bao giờ cố chấp là vậy đó, nên. Rồi trường hợp này nữa, thí dụ như trong cái từ bi đó chúng ta gặp người khác đạo thì chúng ta bao dung, phải không? Vì lòng từ bi á, dù người này theo đạo Cao Đài, dù người này theo đạo Thiên Chúa hoặc là người theo đạo Hồi giáo thì trong lòng mình mình vẫn bao dung,
[56:46]vẫn thương yêu, thương yêu chúng sinh, không gì hết. Nhưng mà vẫn quyết tâm chuyển hóa họ hiểu được nhân quả nghiệp báo, chứ không phải bao dung rồi cứ cà hề cà hà nói chuyện cho vui, lấy cảm tình rồi thôi ngừng lại ngang đó là sai. Ví dụ mình quen cái người Hồi giáo mình qua lại, chơi với họ thì là tốt rồi, cái bao dung đó là tốt rồi, nhưng mà chỉ ngang mức độ chiếm cảm tình rồi ngừng lại đó là sai. Phải chiếm cảm tình và phải làm cách nào để cho cái người bạn của mình ở tôn giáo khác đó tin được nhân quả nghiệp báo. Đó là cái quan trọng, phải như vậy. Chứ không có dừng lại. Rồi lần lần khi họ đã tin được nhân quả luân hồi rồi
[57:32]thì mình giúp cho họ hướng về cái sự giác ngộ tâm linh, cho họ thấy rằng cái tâm con người là cả một khu rừng hoang, còn nhiều gai góc, mà phải biết thiền định để mà khai phá khu rừng hoang đó. Làm cho nó thành một cái nơi tươi mát của cuộc đời, chứ đừng để gai góc, ma quỷ đầy ở trong đó không được. Tâm con người là đầy tham sân si thù hận như vậy, phải vượt qua, phải hóa giải. Nghĩa là khi mình quen với những người khác đạo, chiếm được cảm tình, phải giúp cho họ hiểu nhân quả, giúp cho họ đi vào tâm linh, tu tập thiền định, lần lần có được cái lý tưởng giác ngộ giải thoát. Mình để yên cho người khác mà không tin nhân quả luân hồi đó là tội ác đấy nhá.
[58:22]Lúc trước thì chúng ta nói thế này: Mình giúp cho người khác tin được nhân quả luân hồi thì mình có có phước, phải không? Bây giờ chúng ta nói mạnh hơn: Mình để yên cho người khác không tin nhân quả luân hồi là mình mang tội. Sự thật là như vậy đó. Nghĩa là mình sống trong một cái cộng đồng, trong một làng xóm mình biết nhiều người trong xóm mình chưa tin nhân quả mà mình cứ để yên như vậy, mặc người ta, mình đang mang tội đó. Mình may mắn tin được nhân quả rồi chỉ để một mình mình tin là sai lầm lớn, đó là cái bỏng sẻn. Cho nên các Phật tử phải nhớ này: Suốt một đời từ khi mình biết Phật pháp rồi là phải bận
[59:06]rộn, bận rộn để giúp cho người khác cùng tin được nhân quả để cho họ tránh tội, biết làm phước, họ đối xử tốt với nhau và cả cuộc đời này trở thành hạnh phúc. Chứ còn nếu mà chỉ một hai người biết nhân quả luân hồi thì thế gian này vẫn còn tăm tối lắm. Cho nên tôi khuyên quý Phật tử vậy, mà vừa rồi có nói á, mình in cái tờ giấy thế này: Thế giới này có hơn sáu tỷ người, mỗi người chúng ta đã giúp được bao nhiêu người biết được Phật pháp? Bây giờ mỗi người Phật tử mình về nhà viết cái câu đó dán lên tường, mỗi ngày đi ra đi vô nhìn nó, để tự nhắc mình. Mình đã làm gì để giúp người khác biết Phật pháp,
[59:50]hay là chỉ gia đình mình biết rồi thôi? Cứ sống qua ngày qua ngày chờ chết rồi thôi. Hãy nhớ là trên thế giới này hơn sáu tỷ người, nên mình có độ được 20 người, 30 người biết Phật pháp chưa có thấm thía gì đâu cả. Phải phấn đấu suốt một đời mình. Nên phải dán cái con số sáu tỷ người đó trước mặt mình để nhắc mình, nhắc mình không bao giờ ngừng nghỉ, không bao giờ dừng lại, không bao giờ lười biếng được. Phải mãi mãi tìm cách giúp người khác tin hiểu được nhân quả nghiệp báo. Bây giờ chúng ta qua một cái câu chuyện thời Đức Phật để chúng ta thấy cái tùy duyên bất biến này. Cái này chúng tôi có giảng trong bài kinh,
[1:00:27]hôm nay nhắc sơ lại một chút là bài kinh Sonadanda đó. Một ông Bà-la-môn đến gặp Phật thì Đức Phật mới hỏi: "Ông có mấy tiêu chuẩn để được gọi là một Bà-la-môn?" Thì ông này ổng nói năm tiêu chuẩn. Một là huyết thống cha mẹ bảy đời Bà-la-môn, thứ hai là người này có học được kinh chú của Bà-la-môn, Thứ ba là người này phải đẹp, thứ tư là phải có đạo đức, và thứ năm là phải có trí tuệ, năm điều. Đức Phật mới nói: "Thôi bây giờ có thể bỏ bớt một điều nào mà vẫn còn được gọi là Bà-la-môn chăng?". Ông này mới nói: "Thôi bỏ bớt cái đẹp trai đi, bỏ bớt đi. Xấu xấu cũng được, nhưng mà có trí tuệ, có đạo đức, giỏi kinh chú,
[1:01:13]rồi bảy đời cha mẹ là Bà-la-môn thì cũng gọi là Bà-la-môn". Đức Phật nói: "Thôi giờ bớt thử điều nữa, ráng đi". Ông này ngồi ngẫm nghĩ: "Thôi bớt luôn cái mà giỏi kinh chú đi, có thể không biết tụng kinh như tui cũng được. Nhưng mà có đạo đức, có trí tuệ, bảy đời cha mẹ là Bà-la-môn thì cũng gọi là Bà-la-môn". Đức Phật mới nói: "Thôi bớt cái nữa đi, trả thêm tiếng nữa đó, bớt cái nữa đi". Ổng ngồi ổng nghĩ: "Thôi, bỏ luôn cái huyết thống luôn bảy đời cha mẹ đi. Chỉ cần người này có đạo đức, có trí tuệ là được gọi Bà-la-môn". Đức Phật mới nói: "Bây giờ bỏ thêm điều nữa đi". Ổng cương quyết từ chối, ngang đây dừng lại, không được nữa.
[1:01:51]Hễ trong hai cái đạo đức và trí tuệ mà mất rồi thì không còn được gọi là Bà-la-môn nữa. Tới đó ổng cương quyết giữ lại, không cho nữa. Chỗ này là một bài học rất hay, ở đây Đức Phật ca ngợi liền. Đức Phật nói: "Đúng như vậy. Trí tuệ và đức hạnh là hai điều song đôi. Ở nơi nào có trí tuệ nơi đó có đức hạnh, nơi nào có đức hạnh nơi đó có trí tuệ. Giống như lấy bàn tay để rửa bàn tay, lấy bàn chân để rửa bàn chân". Khi mình rửa chân mình tạt nước xuống mình lấy hai cái chân rửa nhau, hoặc mình khi mình rửa tay mình lấy hai cái tay mình xoa xoa nhau. Đức Phật nói cũng vậy: "Giống như lấy bàn tay để rửa bàn tay, lấy bàn chân để rửa bàn chân,
[1:02:31]thì trí tuệ làm tăng trưởng cho đức hạnh và đức hạnh làm tăng trưởng cho trí tuệ. Hai điều đó không thể mất. Ba điều kia bỏ, nhưng hai cái điều này không thể mất". Nghĩa là ba cái điều kia là ba cái tùy duyên, hai cái này là hai cái bất biến. Nghĩa là bỏ kia để mà linh động theo thời thế được, nhưng mà tới hai cái này thì giữ lại, không cho mất. Thì như vậy chúng ta học được một bài học lớn trong cái bài tùy duyên bất biến này. Nghĩa là cái sự linh động, uyển chuyển tùy duyên á nó có cái giới hạn cuối cùng của nó, không được vượt qua, phải không? Nghĩa là từ đây về sau, người Phật tử chúng ta đi vào cuộc đời,
[1:03:10]mình mang đạo Phật đến cho cuộc đời, nên mình có cái tùy duyên, uyển chuyển, linh động, nhưng mà phải nhớ có cái giới hạn cuối cùng của nó, không có được mà tùy duyên quá sức, không được như vậy. Có một lần tôi nghe kể câu chuyện này, thì đến nay tôi không dám phê phán đúng sai, kể ra quý Phật tử nghe thử coi đúng sai cỡ nào. Đây là một thầy tu đạo Phật chính hiệu, tỳ-kheo đàng hoàng, và thầy cũng rất là bao dung, phóng khoáng, thầy giao du với một ông cha, ông cha đạo Thiên Chúa. Hai người chơi với nhau rất tương đắc, là đi chơi chèo xuồng trên sông mà ngồi nói thơ văn, nói đạo lý với nhau, rồi mới trở về cái nhà ở của ông
[1:03:54]cha, thì ông cha ổng có nuôi cái ao tôm để ổng câu ổng ăn. Thì ổng mời ông thầy, ông thầy cũng ra phụ câu tôm với ông cha luôn. Hai người vô nướng tôm ăn luôn, gọi là tùy duyên, tùy duyên tới nơi luôn, hết mức luôn. Thì nghe kể chuyện này tôi cũng hơi ớn, tôi không biết đúng hay sai, thấy ông này ổng tùy duyên quá! Cho nên chỗ này quý Phật tử nghĩ đúng hay sai? Đó, Phật tử nói tôi mới biết à.
[1:04:24]Nhưng mà trong cái bài kinh Sonadanda vừa rồi thì cho chúng ta một bài học là tùy duyên nhưng mà có cái giới hạn cuối cùng của nó, phải không? Không được vượt qua, không được vượt qua. Thì đây thế này, nếu mà mình thay đổi theo thời đại quá mức thì coi chừng không còn là đạo Phật nữa. Như thời đại bây giờ đi, họ có những cái thay đổi theo thời trang nè, theo ca nhạc, theo cái sự xô bồ gì của họ, họ đòi hỏi tự do gì quá trớn, mình bình tĩnh đừng thay đổi theo điều đó. Tức là mình vẫn thích sống trong cái kỷ cương, trong cái nề nếp và mình thấy an ổn, chứ nếu mà mình cứ thích tự do xô bồ coi chừng mình mất đạo Phật.
[1:05:04]Đó, đây là điều chúng ta cẩn thận. Rồi hoặc là đạo Phật mình thì nhường nhịn, nhưng mà coi chừng nhường nhịn quá mức rồi thì cũng mất đạo Phật luôn. Hoặc là mình tùy thuận, mà tùy thuận tới cái mức mà câu tôm mà ăn với người ta thì coi chừng đi quá cái giới hạn. Do đó là chúng ta để ý, tuy đạo Phật là tùy duyên nhưng nó có cái giới hạn của cái bất biến của nó. Là chúng ta tùy thuận theo tâm tình con người, chúng ta tôn trọng con người, chúng ta hòa vui được với mọi người, nhưng mà ở một giới hạn nào đó rồi thì không có thay đổi được nữa. Nhưng mà ở đây mức độ nào thì mình dừng lại, không thay đổi nữa, không cho phép tùy duyên nữa? Mức độ nào?
[1:05:50]Giống như ông Bà-la-môn vậy, Phật gài ổng từ từ từ từ ổng bỏ hết cái đẹp trai, ổng bỏ luôn cái kinh chú, bỏ luôn cái huyết thống, nhưng mà tới hai cái cuối cùng ổng ổng cương quyết không bỏ. Là tại sao vậy? Là do đâu mà ổng thấy được điều đó? Phải do trí tuệ không, phải không? Nên ông này có trí tuệ ổng mới dám bỏ cái điều này và cương quyết không bỏ điều kia, là cái trí tuệ của người ta sắc bén. Thì Phật tử mình cũng vậy, là khi mình tùy duyên, mình hòa vui được với mọi người, nhưng mình phải có cái trí tuệ thấy ngang lúc nào dừng lại, dứt khoát không theo nữa, không theo nữa. Đó, cái chỗ này là tùy chuyện,
[1:06:32]tùy lúc chứ ngang đây nhất thời chúng ta cũng không nói ra được. Nhưng mà nhắc nhở quý Phật tử, từ đây quý Phật tử đi vào muôn trùng cuộc đời, đi vào mọi tầng lớp xã hội để đem đạo Phật đến với mọi người, thì khi mình đem đạo Phật đến với mọi người như vậy mình có cái tùy thuận với mọi người, nhưng phải tự mình biết giữ mình, phải tự có cái trí tuệ là đến lúc nào thì dừng lại, không đi quá trớn nữa. Phải tự mình biết chứ lúc đó không có ai để hỏi đâu. Như vào cuộc tiệc rượu vui như vậy, à mình đến đó vui chơi với mọi người nhưng có một cái gì đó dứt khoát không làm theo người khác, dứt khoát. Đó là một cái bản lĩnh của người đệ tử Phật phải
[1:07:13]biết giữ mình cho kỹ những điều như vậy. Chúng ta thấy thế này, có những điều cần phải linh động mà mình cứ khư khư giữ cứng thì đó gọi là cố chấp, bảo thủ. Có những điều không được thay đổi mà mình cho thay đổi luôn thì như vậy là không giữ vững được lập trường với đạo. Hai cái điều đó là hai cực đoan phải tránh. Ví dụ như thế này, có một số giới điều không còn thích hợp mà ngày xưa Đức Phật cũng gợi ý là phải sửa đổi đi, mà mình cứ khư khư giữ hoài, đó là cố chấp bảo thủ. Trước khi Đức Phật nhập Niết bàn vậy, Đức Phật nói với ngài A-nan là có một số giới điều không cần thiết có thể thay đổi, bỏ đi.
[1:07:58]Mà ngài A-nan ngài quên hỏi Phật là giới nào, nên sau này khi mà chư Tăng kiết tập, ngài Ca-diếp mới trách ngài A-nan là: "Khi Đức Thế Tôn đã nói câu đó mà tại sao ông không hỏi cho rõ, nên ông mang tội với Phật pháp muôn đời sau". Ngài Ca-diếp ngài trách ngài A-nan nặng lắm. Nhưng chính vì ngài A-nan không hỏi nên từ đó chư Tăng quyết định thôi cứ giữ nguyên toàn bộ giới luật trong đạo Phật. Và vì cái giữ nguyên đó nên đến bây giờ chúng ta cứ giữ nguyên và nhiều khi biến thành cái cố chấp. Mà trong khi chính Đức Phật đã thấy là nhiều giới không quan trọng, vì sao? Vì Đức Phật chế cái giới trong lúc mà người cư sĩ họ phản ánh.
[1:08:35]Họ phản ánh thế này: Lúc đó chư Tăng đâu có tự nấu ăn, phải đi xin ăn. Phật chưa có cấm ăn buổi chiều, cho nên có vị thì buổi sáng đi ăn xong, chiều đói cái ôm bát đi nữa. Lúc đó là trời lờ mờ tối, cái một cái người đàn bà họ đi từ trong nhà đi ra thì thấy ông tăng đứng lù lù lù trước cửa, đứng yên lặng á. Tại nguyên tắc xin ăn là khất thực là cứ ôm cái bát đứng lặng lẽ trước cửa nhà người ta. Bả mở cửa ra bả thấy trong bóng đêm một cái bóng đứng lù lù trước cửa, bả la lên, bả tưởng ma tưởng quỷ gì đó. Sau biết ra là ông tỳ-kheo bả chửi quá chừng. Rồi cái chuyện đó đến tai Đức Phật, Đức Phật cấm từ đây không được ăn chiều nữa.
[1:09:14]Như vậy cái cấm ăn chiều là nguyên nhân lặt vặt, nguyên nhân rất là nhỏ, không quan trọng. Còn tới bây giờ mình xem đó là cái quá quan trọng, chứ không phải quan trọng lắm. Vì thời ban đầu Đức Phật đâu có cấm ăn chiều. Nên bây giờ mình tùy sức khỏe, đừng có cố ăn, nhưng đừng để nhịn ăn khổ hạnh mất sức khỏe. Nó có những điều Đức Phật nói như vậy. Quan trọng là có sức khỏe để tỉnh táo để mà tu tập. Mà bây giờ mình cứ khư khư từng chút từng chút cái gì phải giữ coi chừng á, coi chừng sai ý của Đức Phật. Hoặc có những cái giới phải chế thêm, xưa thời Đức Phật không có nhưng bây giờ nó có sinh ra thì buộc lòng mình phải chế thêm,
[1:09:51]chớ mấy trăm giới để lại không đủ, ví dụ hút thuốc lá. Thời Đức Phật đâu có thuốc lá đâu cấm. Hỏi: "Thầy, sao thầy hút thuốc lá?", nói: "Trong giới điều kể ra hết đâu có giới nào cấm thuốc lá nên thầy tiếp tục hút". Mà bây giờ mình nhìn bằng cái lương tâm mình thì mình thấy điều đó phải sao? Phải cấm. Giới đó phải chế thêm. Hoặc nói: "Ủa, sao thầy uống bia?". Thời Đức Phật đâu cấm đâu, đâu có chữ bia trong giới đâu. Đó, có những cái nhiều điều như vậy. Hoặc là bây giờ quý thầy hút heroin đi, "Trời, sao thầy hút heroin?", lật trong giới coi có giới nào cấm heroin. Thì đúng là giới không cấm nhưng mà công an cấm à, cái đó công an lượm lẹ.
[1:10:32]Nó nhiều vấn đề nữa. Nhiều vấn đề mà trong thời Đức Phật không có nhưng thời đại mới nó phát sinh thì nếu mình cố chấp là chỉ bao nhiêu giới đó thôi, không hơn không kém, thì đúng là mình không biết tùy duyên, không biết linh động. Nó còn nhiều điều nữa. Và như vậy, thì có một số giới cũ nên bỏ đi và nên chế thêm một số giới mới thì cái gốc nó nằm ở đâu? Cái gốc nó nằm ở đạo đức. Cái gốc thực sự chúng ta giữ giới là để thể hiện cái đạo đức, chứ giới không phải là bản chất. Cho nên người tu khen ngợi ông đó giữ giới nghiêm chỉnh chưa chắc là đúng đâu. Quan trọng là qua cái giới đó mà thấy được nội tâm của người tu này là đạo đức thì mới là đúng.
[1:11:14]Chứ còn có thể người giữ giới nghiêm chỉnh nhưng bên trong còn tham lam, thù hận là không được, là vẫn chưa đúng với đạo Phật. Cho nên đừng có nghĩ giới là quá quan trọng. Nhiều vị tu hành cho giới là là cứu cánh, là cùng cực, không phải đâu. Giới chỉ là thể hiện nội tâm thôi, mà không bao giờ thể hiện hết được nội tâm vì nội tâm phức tạp hơn. Nên vì vậy, giới là một phương tiện chứ không phải là cứu cánh. Chúng ta giữ giới như là một phương tiện để chứng tỏ được đạo đức trong tâm hồn mình. Chúng ta đánh giá con người cũng vậy. Người Phật tử không có giới nhiều, chỉ có năm giới, cho nên chúng ta phải thêm bảy điều
[1:11:53]nguyện, bảy điều nguyện để mà bày tỏ được cái đạo đức của mình. Ở đây có ai chưa biết bảy điều nguyện không? Có không? Có nhiều người chưa biết, cố gắng nha, tìm lại bảy điều nguyện. Ngoài năm giới cấm, chúng ta phải thực hành bảy điều nguyện như vậy đó. Và có những điều mà chúng ta thấy không được quyền thay đổi, mà nếu mình thay đổi có nghĩa là mình không giữ vững được lập trường với đạo, ví dụ như là bác nhân quả, luân hồi. Cái đó mà bác là đọa luôn á. Vì thời xưa á, có ông sư là Huệ Lâm bên Trung Hoa ổng nói lý luận lát ổng bác nhân quả luân hồi luôn, rồi bị chư Tăng ở Trung Hoa đuổi qua Việt Nam.
[1:12:33]Lúc đó là xứ Giao Châu gọi là Giao Châu, Giao Chỉ, đuổi qua để ở. Cuối đời ông mù mắt luôn, ông chết trong mù lòa. Có lẽ là do cái nhân quả ông bác nhân quả luân hồi. Có một lần, một người của đạo Nho họ mới bác cái nhân quả của đạo Phật. Vì ông đạo Nho này ổng nghe các sư nói cái gì cũng nhân quả, cái gì cũng nhân quả chứ không có ngẫu nhiên. Ổng nói: "Cuộc đời vẫn có ngẫu nhiên. Ví dụ như bây giờ mình cầm một cái tờ giấy mình xé ra thành một đống giấy vụn, mình quăng lên cao thì những những cái miếng giấy bị xé đó nó sẽ rơi lả tả lả tả và ngẫu nhiên, có cái sẽ rơi vào ly nước, có cái rơi xuống đất, có cái bay lên bàn.
[1:13:12]Ổng nói cái đó ngẫu nhiên không có nhân quả gì hết." Ổng nói có lý không? Có lý không? Mới nghe thì có lý. Nhưng mà xét cho kỹ thì không có ngẫu nhiên trong đó. Vì sao? Vì cái mảnh giấy mà mảnh giấy nó nằm ở góc nào của tờ giấy là khi bị xé là nó sẽ nằm ở nơi nào? Nơi cái bàn tay. Vì khi xé xé xé để vò lại một đống vậy nè thì cái tờ giấy mà ở đầu góc nó sẽ nằm ở chỗ nào của bàn tay và khi quăng lên như vậy thì nó chịu cái lực cản khác nhau. Và chính cái lực cản không khí khác nhau và nó sẽ rơi vào vị trí khác nhau nên xét cho kỹ từng mẩu giấy nhỏ đó có nguyên nhân của nó mà tại sao nó bay lọt vào cái
[1:13:50]ly nước, tại sao nó bay lên bàn, tại sao nó bay xuống đất, không có cái nào ngẫu nhiên hết. Chỉ vì mình không thấy được nguyên nhân nên mình cho là ngẫu nhiên. Cho nên cái người mà bác nhân quả nói gì nói cũng trật. Nên người Phật tử mình phải vững để mà giữ vững được niềm tin với nhân quả và chứng tỏ được cho người khác thấy không có lung lay được điều đó. Hoặc là cái người mà bác tu tập thiền định thì đây là một cái sai lầm. Vì đi vào đạo Phật là đi vào nội tâm, đi vào tâm linh. Mà muốn đi vào tâm linh phải có sức định. Mà muốn có sức định phải ngồi thiền. Hoặc niệm Phật, hoặc là các công phu nào cũng phải ngồi thiền hết.
[1:14:30]Tâm phải cho định, không còn cách nào khác. Cho nên nếu mà một người nào đó tu cái gì không biết mà bác vấn đề ngồi thiền thì người này không còn giống đúng với đạo Phật nữa. Dù tu gì đó tu, dù tụng kinh hay cỡ nào đó tụng, vẫn chưa phải đạo Phật. Vì hễ nói tới đạo Phật là phải nói tới thiền định. Đức Phật đã ngồi thiền 49 ngày thành đạo. Bây giờ mình mà bác thiền định nghĩa là mình đã bác ông Thầy của mình. Hoặc là bác lạy Phật. Như chúng ta đã nói lần trước á, có nhiều người chủ trương là không lạy Phật vì nói rằng mình là Phật thì chủ trương đó cũng hết sức là sai lầm. Nếu mà mình không kính được một vị thánh,
[1:15:10]muôn đời không bao giờ mình làm thánh được. Phải kính thầy mới được làm thầy, có kính lạy Phật mình mới được giác ngộ. Cho nên người đạo Phật, người Phật tử, người đệ tử Phật dù xuất gia hay tại gia hằng ngày phải siêng năng lạy Phật với lòng tôn kính. Tích lũy cho mình cái phước vô hình từ từ từ từ để mình đi trong vô lượng kiếp luân hồi tới một cách vững vàng là nhờ cái công đức lạy Phật. Đây là điều mà làm gì làm không được bỏ qua, không được đánh mất. Chứ không được mà nói tùy duyên thay đổi mà đánh mất những cái điều này. Bác nhân quả nè, bác thiền định nè, bác lạy Phật thì người này không còn giữ được lập trường đối với đạo nữa.
[1:15:50]Nhớ như vậy. Ví dụ như vì lợi ích cuộc sống mà bỏ đạo thì đây cũng là một cái sai lầm, phải không? Có nhiều người đi đến một cái vùng đất mới, cuộc sống khó khăn. Gặp cái người đạo khác đến cái họ nói: "Bây giờ anh theo đạo tôi giúp đỡ." Cái theo liền. Có nhiều người đã bị như vậy, vì lợi ích cuộc sống mà bỏ đạo. Đây là cái là chúng ta được cái vật chất nhưng chúng ta đã mất mất cái tinh thần rồi. Nên sau này phải trả giá hơi nhiều. Còn chúng ta nguyện cuộc sống chúng ta có thể nghèo nàn, thân này có thể bỏ đi, nhưng cái lý tưởng đối với đạo không bao giờ mất. Đó là điều như vậy. Chấp nhận chết chứ không bỏ đạo, người Phật tử phải như vậy.
[1:16:32]Tùy duyên cái gì thì tùy, chứ đạo không bao giờ bỏ. Chỉ trừ trường hợp cái người Phật tử này quá giỏi, giả bộ đi luôn vào Hồi giáo luôn, đi theo Hồi giáo luôn. Để nằm ở trỏng biết Hồi giáo âm mưu cái gì, tính cái gì trong mà chuyển hóa cái người Hồi giáo thì cái người này được. Cái này không phải bỏ đạo, mà là vì đạo. Mà rất có bản lĩnh mới làm được. Cho nên đến lúc nào mà quý Phật tử thấy mình có bản lĩnh thì cứ vào đạo Hồi không sao hết. Để mà từ từ chuyển những người đó, thì đây là một cái bản lĩnh lớn và công việc rất khó khăn nhưng rất là cần thiết, rất là lợi ích. Chứ còn nếu vì cuộc sống người ta dụ dỗ mà bỏ đạo thì
[1:17:14]rất là dở, sẽ chịu cái quả báo nặng sau này đó. Chúng ta thấy rằng cái đạo lý mà tùy duyên bất biến á giúp cho đạo Phật phát triển dần theo thời đại mà không trở thành tà đạo, phải không? Nghĩa là chúng ta thay đổi cái này thay đổi cái kia cho hợp với thời thế nhưng giữ vững được lý tưởng giải thoát, giữ vững được nhân quả nghiệp báo thì không thành tà đạo mà đạo Phật phát triển được, lan vào khắp nơi hết, mọi hang cùng ngõ hẻm và mọi tầng lớp của cuộc sống được hết. Nên đây là cái hay. Nên cái tùy duyên bất biến là một cái sách lược rất là lớn lao của đạo Phật mà người Phật tử mình phải biết quý trọng, phải biết áp dụng.
[1:17:52]Chúng ta phải tạo thành một đạo Phật mềm như nước nhưng mà cứng như thép. Đây là điều mọi người phải suy nghĩ. Là một đạo Phật mềm như nước, mềm như hư không nhưng mà bên trong cứng như thép và cứng như kim cương. Có lẽ ngày xưa một số vị Tăng đã quên điều này, cho nên ở các quốc gia đã bị Hồi giáo xâm chiếm hết luôn. Là vì chỉ biết một đạo Phật mềm mà không biết một đạo Phật cứng. Một đạo Phật hiền lành, từ ái, nhu thuận với mọi người nhưng mà đạo Phật đó cũng phải là một đạo Phật cứng như thành đồng vách sắt, không cái gì có thể xâm phạm được. Nên trong cái thế kỷ tới, trong ngàn năm tới chúng ta hôm nay học cái bài tùy
[1:18:43]duyên bất biến này thì chúng ta phải xây dựng lại một đạo Phật như vậy. Từ ái hiền lành, mềm như nước, thậm chí mềm như hư không nhưng mà phải cứng như thép, cứng như kim cương. Thế nào là cứng như thép, cứng như kim cương? Đây là điều mà chúng tôi không nói rõ lắm, chỉ nói hơi hơi nãy giờ để cho quý thầy, quý cô, quý Phật tử về suy nghĩ thêm. Thế nào là một đạo Phật mềm như nước mà cứng như thép? Về suy nghĩ, rồi bàn với nhau, ai bàn cái gì hay thì đến nói chuyện cho chúng tôi nghe cho vui, ha. Thôi thì chúc quý Phật tử một năm mới tu hành tinh tấn, làm được nhiều phước lành, biết tùy duyên để đem đạo Phật đến với
[1:19:30]mọi người mà luôn luôn biết bất biến để giữ vững được lý tưởng của mình. Và hiểu ra được một đạo Phật mềm như nước và cứng như kim cương. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nguyện đem công đức này
[1:20:27]Bao nhiêu mến thương
[1:20:38]thắp lên cho rừng, ngàn cây tươi xanh chở che cuộc sống.
[1:20:46]Mênh mông núi sông,
[1:20:50]lá hoa muôn trùng, đan thành chiếc áo ấm ấm nhân gian.
[1:20:58]Chim tung cánh bay,
[1:21:02]thú hoang từng bầy, gọi nhau trong bóng sương mờ sườn đồi. Đường chia muôn lối,
[1:21:14]suối tuôn ngàn nơi, hoa lạc trên nước cuốn trôi xa vời.
[1:21:26]Rừng đem mơ đến,
[1:21:30]ngút sóng vượt lên,
[1:21:34]mình che giông bão,
[1:21:38]bước qua trời cao. Ngày thu thay lá,
[1:21:46]xao xác bước nai. Trời đông băng giá,
[1:21:54]tuyết bên hồ bay.
[1:21:58]Rừng cho thế giới
[1:22:02]tình đẹp không thôi.
[1:22:06]Ngàn xưa hoang vắng,
[1:22:10]rừng là tay nôi tạo nên sự sống,
[1:22:18]người bước ra đời. Ngậm ngùi đớn đau, đứa
[1:22:30]con của rừng giờ đây quay lưng quên cội yêu dấu.
[1:22:38]Cây rơi lá thu,
[1:22:42]bóng xanh bây giờ theo từng nhát chém tan biến đi mau. Rừng đang xơ xác,
[1:22:54]gốc trơ chọi phơi,
[1:22:58]bầy chim ngơ ngác, suối khô cạn nước, thú hoang gục đầu.
[1:23:09]Hãy lắng nghe rừng lên tiếng với trái tim rừng tha thiết. Nước mắt trên từng chiếc lá rơi qua lưng đồi khói nhòa. Bão tố thay ngàn tiếng thét, nỗi đớn đau của cái chết. Nắng cháy như tình đã hết khi con người rất mau quên.
[1:24:08]Hãy hứa trước khi lìa xa cõi đời,
[1:24:14]gắng sức đắp xây lại cho đất trời, rừng
[1:24:20]cây bóng cao mênh mông vời vợi
[1:24:26]là chốn tri ân mang đến con người.
[1:24:34]Rừng ơi hãy nói
[1:24:38]là rừng yêu tôi,
[1:24:42]tìm cho thế giới tình người xa xôi. Vượt qua giông bão, loài người thương nhau.
[1:24:58]Rừng đem yên ấm ngập ngừng trên cao.