Lời giảng: Tu Thiền Để Chứng Thánh Quả Giải Thoát

  • Thuyết giảng: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Thời lượng: 1:24:01

Toàn văn lời giảng, chép từ phụ đề. Bấm vào mốc thời gian để nghe đúng đoạn đó.

[0:00]Tại sao mà chứng được Thiền, thậm chí có luôn Thần thông mà không phải chứng Thánh quả? Phá được năm triền cái này mới qua được Chánh định để đi vào Sơ thiền. Có người nào mà có bốn yếu tố này thì ta tu thiền sẽ chứng luôn tới Thánh chứ không dừng lại ở chứng Thiền.

[0:36]Chúng con thành kính cung thỉnh Thượng tọa Pháp sư, kính thỉnh chư Tôn đức, kính mời toàn thể đạo tràng khởi niệm Phật cầu gia hộ.

[0:47]Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[1:05]Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[1:22]Nam mô Bổn

[1:29]Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Thành kính cung thỉnh chư Tôn đức an tọa, kính mời toàn thể hội chúng đồng an tọa.

[1:46]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Ngưỡng bái bạch trên Thượng tọa Pháp sư. Kính thưa kính bạch chư Tôn thiền đức, kính thưa toàn thể quý Phật tử. Hôm nay, ngày 26 tháng 4 năm Mậu Tuất, là khóa tu thiền hằng tháng tại đạo tràng chùa Phật Ngọc Xá Lợi Vĩnh Long. Thì vào giờ phút này, toàn thể đạo tràng chúng con thành kính được cung đón Thượng tọa Thích Chân Quang, Viện chủ Thiền Tôn Phật Quang quang lâm pháp tòa để vì chư hành giả mà ban bố cho đạo tràng chúng con một thời pháp thoại để

[2:28]toàn thể chúng con lấy đó làm những hành trang trên bước đường tu học. Kính bạch Thượng tọa, hôm nay cũng là những ngày đầu mùa an cư kiết hạ Phật lịch 2562, dương lịch 2018, Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Vĩnh Long tổ chức đạo tràng an cư kiết hạ của chư Tăng tại điểm chùa Long Khánh. Hôm nay nhân khóa tu thiền được à liễu tri Thượng tọa quang lâm, à vào giờ phút này thay lời chư hành giả an cư, à chúng con thành kính cung thỉnh Thượng tọa cũng vì chư hành giả an cư chúng con mà ban bố chỉ dạy sách tấn để chúng con à trong ba tháng an cư kiết hạ được nghiêm thân tấn đạo, nghiêm trì giới luật,

[3:15]à phát triển đạo tâm, tiến tu đạo hạnh, chóng thành đạo quả. Ngưỡng mong trên Thượng tọa vận lòng hoan hỷ chuyển bánh xe pháp, à ban bố cho toàn thể đạo tràng chúng con những dòng pháp à vi diệu để chúng con lấy đó làm những hành trang trên bước đường học Phật giải thoát. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, thành kính bái thỉnh pháp âm Thượng tọa.

[3:43]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch trên chư Tôn đức, kính thưa quý Phật tử. Hôm nay lại đến kỳ ta có cái khóa thiền ở chùa Phật Ngọc. Theo cái tâm nguyện mà Thượng tọa Viện chủ cũng nối truyền từ Hòa thượng Sơn Thắng muốn mở mang cái dòng thiền cho Phật giáo miền Tây. Nên chúng tôi là trong cái tình huynh đệ, là đàn em về đây vâng lời ông anh của mình để phụ giúp, đóng góp trong cái việc mà mở mang, xây dựng cái giềng mối thiền cho như cái ông sư huynh mình nói là cho Phật giáo miền Tây. Nên cái chí hướng của Thượng tọa rất là lớn và mong rằng cả Tăng Ni, Phật tử ủng hộ ngài để làm thành cái chí nguyện này.

[4:45]À vì sao vậy? Bởi vì ta biết rằng á, Phật giáo trên thế giới họ đều tu thiền. Tu cái gì cũng phải lấy thiền làm gốc. Từ bên Tây Tạng gọi là Mật tông, nhưng các vị Mật tông Đạt Lai Lạt Ma đó đều cũng lấy thiền làm gốc. Còn các vị bên Theravāda, các sư Khmer đều phải thành thạo về thiền. Rồi những người trí thức trên thế giới họ tìm đến Phật giáo, họ cũng chỉ hỏi về thiền là gốc. Còn những pháp tu khác, đó là một điều phái sinh trong một giai đoạn cần thiết nào đó, chứ không phải cái lõi. Nên cái việc mà cái người đệ tử Phật không thành thạo, lão luyện về thiền, đó là một điều thiệt thòi cho đạo Phật.

[5:40]Vì chỉ những người mà họ có lão luyện về thiền thì họ có cơ hội để chứng Thánh quả.

[5:49]Không lão luyện về thiền, rất khó chứng Thánh quả. Mà mục tiêu của chúng ta tu tập là để chứng Thánh quả giải thoát. Chứng Thiền thì chưa chắc chứng Thánh quả, ta nhớ điều đó. Không phải ai ngồi thiền được, nhập định được đều chứng Thánh, khác nha. Còn cái người chứng Thánh quả là một cái khác nữa. Nên tại sao mà chứng được Thiền, thậm chí có luôn Thần thông mà không phải chứng Thánh quả, thì điều này chỉ có Phật mới nói và chỉ có Phật mới biết. Trong một bài Ni kinh Nikāya vậy Đức Phật nói rõ vậy. Khi Đức Phật nói đến từ cái Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, rồi nói đến Sơ quả, Nhị quả, Tam quả, Tứ quả, Đức Phật có nói:

[6:42]"Chỉ trong giáo pháp của Như Lai mới có Tứ Thánh quả, còn ở giáo pháp khác chỉ có thể chứng Thiền chứ không thể chứng quả." Cái bài kinh đó rất ít được chú ý. Bài kinh đó suốt mấy ngàn năm qua rất ít được chú ý, rất ít được nhắc tới, rất ít được đem ra phân tích, giảng giải, nhưng đó là một bài kinh cực kỳ quan trọng để cho chúng ta biết con đường tu của mình đừng có nhầm. Nói ví dụ, tại sao mà chứng Thiền mà không phải chứng Thánh?

[7:20]Cái người chứng Thiền á thì họ có ba cái giai đoạn tu tập là Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. Ở trong Bát Chánh đạo nha, trong Bát Chánh đạo, ba cái Chánh cuối cùng á: Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định, đó là người chứng Thiền. Chánh tinh tấn là bắt đầu tu tập thiền định mà chưa có kết quả, rất vất vả, rất khổ cực.

[7:50]Cái giai đoạn Chánh tinh tấn là tu chưa có kết quả gì hết, tâm chưa yên, mà phải ngồi bất động, chân đau, chân tê, tâm loạn, nó cứ muốn nhúc nhích, nó muốn bung ra, rồi phải chịu đựng cho đúng giờ mới được xả. Giai đoạn này cực kỳ khổ sở, mà phải dùng ý chí để tu, nên Phật mới dùng chữ Chánh tinh tấn. Tinh tấn là ta phải dùng ý chí mà chịu đựng trong suốt giai đoạn Chánh tinh tấn này. Vì nếu thiếu ý chí là người ta bỏ cuộc sạch, không ai ngồi thiền nổi hết. Đó là lý do mà nếu không có một vị thầy thương yêu, khuyên bảo, nhắn nhủ, người đệ tử họ bỏ thiền sạch, rời khỏi chùa là bỏ tu liền. Vì cái giai đoạn này giai đoạn cực khổ, Chánh tinh tấn.

[8:44]Đến giai đoạn Chánh niệm thì bắt đầu chứng rồi. Thì cái người mà chứng được Chánh niệm thì ta khỏi kêu họ tu. Họ bị cái sức hút của cái Chánh niệm rút tâm vào trong, nó tự động dẫn tâm, nhiếp vào, nên khỏi cần kêu mà họ ghiền, rất thích tu. Lúc đó mà có giết họ họ cũng tu, lén lén là trốn đi tu, đó, nên họ say mê vì trong đó đó sự an lạc là không thể tưởng được. Và trong cái giai đoạn Chánh niệm này nè mà tâm đã an lạc rồi đó, gọi là vào cửa thiền được rồi đó, thì lần lượt họ phá được năm triền cái. Cái năm triền cái này cũng rất ít được nói tới. Phá được năm triền cái, phá xong năm triền cái này trong giai đoạn Chánh

[9:31]niệm này, bắt đầu họ mới bước qua giai đoạn thứ ba là Chánh định, bắt đầu mới gọi là nhập Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền. Qua hết Tam Tứ thiền rồi chứng được Tam minh mới thành A La Hán. Đó là cái con đường mà Phật đã vạch và nó là một công thức chuẩn mực, không thể khác, không thể sai. Ngay cả trời, người, thiên ma, Phạm thiên gì, không thể nói khác được cái công thức này. Cái hay của ta mà ta đi theo được Phật á, cái con đường tu tập tâm linh á, vô hình vô tướng này, nhưng mà lại trong cái vô hình đó có công thức, có đường đi rõ rệt, chứ không phải mơ hồ. Còn ví dụ như khi ta nghe ai dạy thiền mà dạy mơ hồ,

[10:17]thì ta biết người này đi không đúng con đường của Phật lắm, vì không có công thức. Giống như máy bay bay trên trời, đâu có đường đâu, vậy chứ có lộ trình hết á. Đi theo đúng đường tuyến đường, đi theo đúng tọa độ hết, chứ không được đi sai. Đi sai là ông phi công nó có vấn đề à, về xuống bị cách chức, bị kỷ luật, mà thậm chí nếu đi sai nhiều quá có thể bị bắn rơi luôn. Coi hư không vậy chứ có đường trển hết á. Cũng như tâm tâm linh vậy, không hình không tướng vậy, có đường hết, có công thức hết. Cái công thức từ Chánh tinh tấn là tu cái gì, trong Chánh niệm có những bước gì và Chánh định có những bước gì.

[10:56]Ta nhớ trong Bát Chánh đạo nha, thuộc đi thuộc lại giùm ba cái Chánh cuối cùng là Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. Nhớ giùm nha. Rất nhiều người, kể cả Tăng Ni, chúng tôi hỏi: "Nói Bát Chánh đạo ra coi?", kể không ra, kể lộn đầu lộn đuôi hết á. Đó là mới thấy cái mà mình ta mất căn bản trầm trọng về Phật học. Nhiều khi học qua trường Phật học rồi, lên tới tiến sĩ rồi, ngồi kể lại Bát Chánh Đạo coi, kể trật. Kể trật tức là chưa hề biết tu, vì Bát Chánh Đạo là con đường duy nhất mà. Nếu không giỏi Bát Chánh Đạo, không hiểu Bát Chánh Đạo thì mình tu cái gì, tu sai hết à. Trong Bát Chánh Đạo đó, ba cái cuối là về thiền định, nhớ giùm.

[11:45]Thứ nhất là Chánh Tinh Tấn, thứ hai là Chánh Niệm, thứ ba là Chánh Định. Nhắc lại cho thuộc nha. Thứ nhất là Chánh Tinh Tấn, thứ hai là Chánh Niệm, ba là Chánh Định. Ba phần cuối đó là thuộc về thiền. Trong đó Chánh Tinh Tấn là giai đoạn mà tu chưa có chứng gì cả, chưa có kết quả gì cả, cứ tới rồi lui, tới rồi lui. Thấy tâm yên được mấy bữa, bữa sau nó lui lại, yên được mấy bữa, bữa sau lui lại. Đó là giai đoạn Chánh Tinh Tấn. Và trong cái Chánh Tinh Tấn mà cứ tới lui bất chừng đó, cũng xuất hiện rất nhiều cái trạng thái vi diệu, ảo giác thanh tịnh làm cho người ta rất thích thú. Nhưng mới chỉ là Chánh Tinh Tấn, chưa có chứng được Chánh Niệm.

[12:34]Còn mà bước qua tới Chánh Niệm rồi thì người này đã thành một con người khác rồi, thành một con người khác à. Họ sống giữa trần gian nhưng mà họ không giống ai cả, vì trong nội tâm của họ cái sự tỉnh giác nó chiếm hết tâm hồn của họ, họ rất đặc biệt và có thể họ đã chứng Thánh quả trong đó rồi, có thể thôi chứ chưa. Còn mà tới giai đoạn Chánh Định thì họ ở trên mây chứ không phải ở cõi này nữa. Chết một cái sinh lên cõi trời Sắc Cứu Cánh liền. Nếu mà đã giai đoạn mà Chánh Định chứng từ bắt đầu từ Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền thì họ không phải cõi này nữa. Họ những siêu nhân, siêu nhân thôi chứ chưa phải Thánh nhân.

[13:17]Đó, cái quan trọng của cái ba giai đoạn này Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, Chánh Định thì cái khúc giữa là Chánh Niệm á, ta có năm cái triền cái phải phá.

[13:31]Năm cái triền cái phải phá, phá được năm triền cái này mới qua được Chánh Định để đi vào Sơ thiền. Năm cái triền cái phải phá là gì? Thuộc cho kỹ nha, vì đây là những công thức của Phật dạy không thể nói khác mà không thể không hiểu. Phải hiểu cho rất kỹ việc phá năm triền cái này, cũng giống như ta phải hiểu cái giai đoạn Chánh Tinh Tấn, ta phải dụng công như thế nào, điều thân như thế nào, hơi thở như thế nào, tác ý như thế nào, dụng công thế nào, biết từng chi tiết rất kỹ lưỡng, vì đó là công thức. Ví dụ, chúng ta phải ngồi đúng tư thế kiết già, buông lỏng toàn thân, giữ thân mềm mại, bất động, quán thân này vô thường, biết rõ.

[14:20]Rồi bắt đầu với cảm giác toàn thân. Khi cảm giác toàn thân sát da thịt thì lập tức hiện hơi thở ra liền. Và ta theo hơi thở đó luôn. Hơi thở vào, hơi thở ra nhẹ nhàng. Thường thì không điều khiển, nhưng có khi cũng phải điều khiển nhẹ nhàng nếu nó đi rối. Ta chỉ nắm cái hơi thở thôi là tâm ta, vọng tưởng ta nó nhiếp vào trong hơi thở. Khéo léo nắm cái yếu huyệt là cái hơi thở thì vọng tưởng nó gom vào trong đó, còn nếu ta chưa có nắm được cái hơi thở thì vọng tưởng nó đi lung tung hết, ta phải biết rõ cái đó. Rồi lúc đó, khi mà ta an trú được toàn thân, cảm giác được toàn thân sát da thịt, hơi thở hiện ra, ta nắm được hơi thở vào,

[15:08]hơi thở ra rõ ràng, nhẹ nhàng thì lúc đó ta biết được sự khởi và diệt của vọng tưởng. Những cái ý nghĩ nào giờ nó cứ suy nghĩ, lý luận, nói chuyện trong đầu ta, bây giờ nó khởi, nó diệt ta biết rất là rõ, chứ nó không tắt đâu. Nhưng mà đã bắt đầu biết nó thì bớt sợ nó và đã đạt được sự an ổn. Đó giai đoạn Chánh Tinh Tấn. Cái giai đoạn Chánh Tinh Tấn này nếu mà ta không hiểu kỹ, không thực hành kỹ thì tu hoài không tiến. Lâu lâu chập chờn thấy tâm định được bữa, yên được bữa, bữa sau loạn lại. Giai đoạn Chánh Tinh Tấn rất là vất vả, mà phải được một vị thầy nào đó dạy mình rất kỹ lưỡng và dạy rất đúng với cái lời dạy của Đức Phật ngày xưa.

[15:57]Nhớ như vậy. Ta nhớ một điều là bây giờ chư Tổ có nói hay cỡ nào cũng không bằng Phật, đó là điều ta phải xác định. Nhưng Phật nói gì Phật nói giản dị, vắn tắt, gọn gàng, ta coi thường. Ta xem lại cái kinh xưa, những kinh nguyên thủy, ta thấy Phật nói vắn tắt, gọn gàng, giản dị, nhiều khi ta coi thường, thậm chí ta phỉ báng, nói là Tiểu thừa, mang tội chết. Cái mà Phật nói giản dị, gọn gàng, nhưng trong đó ẩn chứa chứa cả một trời trí tuệ. Còn chư Tổ về sau này có nói nổ tung cả trời đất vẫn là đệ tử Phật mà thôi, không bao giờ bằng Phật được. Ta xác định điều đó.

[16:49]Trong cái Chánh Tinh Tấn này ta biết rõ từng cái dụng công, từng đường đi nước bước trong từng đường tơ kẽ tóc, không để sai. Thì để tu tập cho đúng cái giai đoạn Chánh Tinh Tấn này, ta phải cần một bậc minh sư, cần tham hiểu rất rõ về cái kinh điển của Phật dạy để không bị nhầm. Rồi đến lúc nào đó, có thể là 1 năm, có thể 3 năm, 10 năm, có thể 30 năm, ta mới chứng được cái Chánh Niệm, giai đoạn Chánh Niệm. Chứng được giai đoạn Chánh Niệm này rồi thì tâm ta tự động nó đi vào định, tâm ta tự động nó nhiếp. Nói tự động chứ có khi cũng phải 6 tháng, có khi phải 10 năm bắt đầu mới qua Sơ thiền, tùy ta có phá được năm triền cái hay không.

[17:32]Năm triền cái là gì? Xin nhớ phải thuộc lòng giùm nha. Mấy cái này phải thuộc, thuộc cho chắc. Một là tham, hai là sân, ba là hôn trầm, bốn là nghi, năm là trạo cử. Nhắc lại.

[17:48]Một là tham, hai là sân, ba là hôn trầm, bốn là nghi, năm là trạo cử. Nói lại.

[18:00]Mấy cái này phải thuộc cho chắc. Không có được mà mơ hồ, không có nói lộn cái thứ tự. Đây là công thức mà Phật đã định ra, không được nói nhầm, vì đây là sự thực hành cả cuộc đời tu hành của mình, mình phải nắm thật kỹ. Năm triền cái ta phải phá trong giai đoạn Chánh Niệm. Một là tham, hai là sân, ba là hôn trầm, bốn là nghi, năm là trạo cử.

[18:27]Năm cái đó là gì? Trạo cử là nhúc nhích đó. Tham là tham. Tức là muốn có thêm cho mình.

[18:44]Sân là giận, là bực khi mình gặp cảnh trái ý, nghịch lòng.

[18:51]Hôn trầm, buồn ngủ. Ngồi thiền mà bị buồn ngủ tức là chưa phá được cái triền cái này. Cái người mà phá được cái triền cái hôn trầm, họ muốn thức thì có thể thức cho tới kiệt sức mà chết, chứ không ngủ. Còn khi muốn ngủ thì sẽ ngủ, muốn thức thì sẽ thức. Cái đó là cái họ làm chủ được. Còn như mình leo lên thì sao? Bắt đầu là rồi phiêu diêu luôn, gục lên gục xuống, cái đó là chưa phá được cái triền cái hôn trầm. Phá được triền cái hôn trầm không có chuyện buồn ngủ à, ngồi là tỉnh luôn á. Còn nghi, cái nghi này vĩ đại lắm. Cái người mà phá được triền cái nghi thì họ có cái tự tin vững chắc nơi cái con đường tu tập của mình.

[19:43]Họ tin vững chắc như thế này: bây giờ có xách họ quăng vô lò lửa, họ cũng không mất cái thiền định của mình, không mất cái Chánh Niệm của mình. Tự tin, tin mãnh liệt. Và cái tự tin đó có khi biến thành cực đoan, có khi leo lên tượng Phật ngồi giỡn. Vì giống như là mình không thể đọa được nữa, không thể mất cái Chánh Niệm được nữa, nên nó đưa đến vài cái cái thái độ cực đoan. Nên cái cái mà phá được cái nghi, nó đem đến cái tự tin. Và cái tự tin này đôi khi trở thành cực đoan giống như một số thiền sư đã bị vướng. Còn trạo cử này là nội lực xuất hiện, tâm họ ngồi thân rất vững chắc. Rồi nghĩa là cái vững chắc của thân thực sự là do cái tâm nó yên.

[20:28]Cứng ngắc rồi để chuẩn bị đi vào Sơ thiền. Đó là năm cái triền cái mà phải phá: tham, sân, hôn trầm, nghi, trạo cử. À, đó là năm cái triền cái họ phải phá để họ đi vào Sơ thiền. Người đó là người chứng thiền, không phải chứng Thánh. Còn chứng Thánh á thì có tới 10 kiết sử phải phá. Kiết sử. Nhớ, bên này thiền là phá triền cái, bên kia Thánh là phá kiết sử. Ví dụ như cái người mà chứng được quả Tu-đà-hoàn, sơ quả đầu tiên, thì có ba cái kiết sử phải phá. Bây giờ hỏi nhiều người không biết ạ. Mà đây là con đường ta phải đi, phải biết cho rõ ạ. Ba cái kiết sử mà ta phải phá khi ta chứng được Tu-đà-hoàn là gì?

[21:28]Một là

[21:33]Thân kiến, tức là ích kỷ á. Hai là nghi, ba là giới cấm thủ, ba cái kiết sử này. Mà kiết sử này nó sâu, ta gọi là bản năng, bản năng tự nhiên. Trong con người có ba cái bản năng, có nhiều cái bản năng lắm, nghĩa là cả trăm cái bản năng á, nhưng mà chỉ cần phá được 10 cái bản năng kiết sử thì ta chứng luôn A La Hán. Nhưng mà cái sơ quả đầu tiên là phải phá được ba cái kiết sử này. Nhắc lại một là thân kiến, là phá được cái vị kỷ, hai là nghi, ba là giới cấm thủ.

[22:16]Mấy cái này phải thuộc cho chắc à nha, thuộc và hiểu cho chắc để mình quan sát mình thấy mình có tương ưng hay không, có đúng như vậy chưa. Ví dụ như là bây giờ thân kiến là vị kỷ, thì cái người mà chứng sơ quả Tu-đà-hoàn là phải không còn vị kỷ nữa. Mà không còn vị kỷ đến mức độ nào? Đến mức độ... mình không biết dùng từ nào để diễn tả, nhưng cả cuộc đời của họ chỉ sống vì chúng sinh, vì Phật pháp, không có một cái gì cho mình nữa. Mà cái người mà họ sống vị tha, mình phải ở gần mình mới cảm nhận họ. Tại có nhiều khi họ không làm chuyện gì lớn lao, nhưng mà trong từng lời ăn tiếng nói, trong từng miếng cơm, trong từng đồng tiền, trong từng vật dụng,

[23:14]chỉ muốn cho đi, chỉ muốn đem lại niềm vui, hạnh phúc, lợi ích cho mọi người. Để cái tính chất đầu tiên của một bậc Thánh sơ quả Tu-đà-hoàn là tâm cực kỳ vị tha, dù chưa phá được ngã chấp. Nha, chưa phá được ngã chấp, nhưng cái đạo đức đầu tiên mà một vị sơ quả Tu-đà-hoàn thành tựu là vị tha tột độ, không còn sống cho mình nữa. Ở đây bên cái...

[23:46]bên cái thiền ta có nhớ là phá cái triền cái đầu tiên là gì? Tham. Quên liền rồi, nhớ mấy cái này phải thuộc như cháo. Phá được cái tham là không cầu gì cho mình. Cái phá cái tham và cái bên kiết sử của Thánh là vị tha, hai cái đó giống nhau hay khác nhau? Giống nhau hay khác nhau? Khác xa lắm. Người không còn tham và người không còn vị kỷ, hai cái khác nhau rất xa.

[24:27]Ta nói ví dụ thế này. Ví dụ như ông Bàng Long Uẩn á, ngày xưa khi ổng đến chỗ Mã Tổ ổng ổng ngộ đạo,

[24:39]đầu tiên ổng đến chỗ ngài Thạch Đầu, ổng mới nói là: "Thế nào là đại ý của Tổ sư từ Ấn Độ sang?". Ngài Thạch Đầu bít miệng ổng một cái, ổng ngộ lần đầu tiên liền. Ổng có cái chỗ tỉnh giác ngộ đạo liền, nhưng mà nó chưa sâu. Đến khi ổng sang ngài Mã Tổ, ổng đem câu đó ổng hỏi lại: "Thế nào là đại ý của Tổ sư từ Ấn Độ sang?". Ngài Mã Tổ thì nói lãng mạn hơn, nói chừng nào ổng hớp một cái mà ổng hớp sạch cái nước Tây Giang này thì ta trả lời cho ông. Ngay đó ổng đại ngộ liền. Ổng đại ngộ ổng chứng một tầng rất là cao. Thì ổng về nhà, không biết ổng giáo hóa gia đình ổng sao không biết, có ngộ theo không biết, ổng chở một ghe vàng bạc đem

[25:20]ra sông Tây Giang ổng đổ sạch xuống dưới sông luôn. Kể ra ổng giàu lắm á, giàu lắm mới có một ghe, chứ lẽ ra ổng để dành cái ghe đó mà cho Phật Ngọc mình xây chùa là mình xây ngon lành lắm. Đem đổ sạch tới giờ không biết đâu mà mò lên. Thì cái đó là phá được cái gì? Phá được kiết sử hay là phá được triền cái?

[25:48]Cái đó là phá được kiết sử vị kỷ, thân kiến hay là phá được cái triền cái tham? Phá được triền cái tham, không cần tiền bạc nữa, đem đi đổ sạch. Trong khi nếu mà ổng phá được cái kiết sử thân kiến á, ổng đem ổng bố thí sạch, vì rất nhiều người cần cái số tiền, số vàng đó. Ổng chứng tỏ cái tự tại của ổng là không cần, ổng đem đổ sạch. Nhưng mà nếu là một người chứng sơ quả Tu-đà-hoàn, đem tiền đó bố thí sạch. Hai cái khác nhau xa không ạ? Xa lắm. Hoặc là như Bồ Tát Quảng Đức của mình,

[26:25]đó là một vị Thánh, vị đã chứng Thánh á, cho nên ngài ổng chứng Thánh, ổng chứng thiền không ai hay. Sống chung với chư Tăng ở Ấn Quang không ai biết á, chỉ thấy ổng hiền lành, nghiêm túc, đạo mạo, mẫu mực, không có biết ổng chứng. Nhưng mà sao? Đến khi mà Phật giáo bị lâm nguy, thì ngài là người viết đơn lên Giáo hội xin tự thiêu. Thì như vậy cái lòng của ngài có phải vì đạo pháp không? Rất vì đạo pháp phải không ạ? Mới là gì, đem cái năng lực thiền định của mình chấp nhận tự thiêu. Ngài bởi vì ngài tự thiêu, ngài biết rằng ngài lúc lửa cháy ngài sẽ giữ được sự nghiêm trang, không vùng vẫy, không giãy giụa, nó nghiêm trang,

[27:11]nên ngài xin tự thiêu để giúp cho Phật giáo đấu tranh trong lúc lâm nguy. Cái tâm đó là cái tâm vị, vị tha tột độ. Tâm vì Phật pháp, vì chúng sinh. Còn nếu mà ngài chỉ chứng thiền, ổng xách gói lên núi ổng ở à, không màng chuyện đời. Chứng tỏ rằng mình tự tại, tự do, không vướng chuyện đời, tâm mình nó thanh tịnh rồi không cần nữa, ai chúng sinh đau khổ kệ, miễn lòng mình thanh tịnh xách gói lên núi ở. Nhưng mà ngài không, ngài làm đơn, viết đơn xin tự thiêu. Cho nên ta thấy đó, cái bậc Thánh á nó thầm lặng, kín đáo, nhưng mà tâm vị tha tột độ. Đó là người phá được kiết sử gì? Kiết sử gì? Thân kiến, vị kỷ.

[28:01]Cho nên cả cuộc đời của các ngài chỉ sống vì Phật pháp, vì chúng sinh. Khác nhau, còn cái ông mà phá được triền cái tham á, ổng không cần cho ổng thôi, mà ổng cũng không cần cho ai, không nghĩ đến ai. Hai cái đó khác nhau không? Khác nhau rất xa. Nên ta hiểu một điều, trên thế gian này, nếu thiếu những bậc Thánh thì Phật pháp sẽ suy tàn. Vì không còn ai nghĩ đến vận mệnh của Phật pháp nữa, không còn ai nghĩ đến lợi ích của chúng sinh nữa nếu thiếu những bậc Thánh. Ví dụ cái người đó họ có thể chứng thiền, nhưng mà họ chỉ bày tỏ sự tự tại của riêng họ thôi. Hử, không màng đến vận mệnh của Phật pháp,

[28:51]không màng đến lợi ích của chúng sinh, mà chỉ biểu lộ rằng mình là người thong dong, tự tại. Không này không kia, không đầu không đuôi, không sinh không diệt, không lớn không nhỏ, không dài không ngắn, cái gì cũng không hết. Rồi chứng tỏ rằng mình tự tại và không màng luôn tới vận mệnh của Phật pháp, không màng luôn lợi ích của chúng sinh. Cho nên nếu thiếu những bậc Thánh xuất hiện giữa cuộc đời này thì Phật pháp sẽ suy tàn. Nhớ như vậy.

[29:24]Vì khi ta thiếu những bậc Thánh, ta thiếu những con người vị tha tột độ, mà Phật pháp, chúng sinh luôn cần những con người vị tha tột độ sống quên mình suốt một cuộc đời để lo cho Phật pháp, đem lại lợi ích cho chúng sinh.

[29:46]Hiểu điều này, ta mới thấy trách nhiệm của chính mình, nhất là chư Tăng Ni. Mình là con người phủi tóc, mặc áo cà sa, phải tu làm sao có cái chất của của Thánh. Nếu chưa chứng Thánh, cũng phải có phẩm chất của Thánh. Một đời tinh nghiêm, tinh tấn, vị tha tột độ, lúc nào cũng lo cho vận mệnh của Phật pháp, lúc nào cũng lo cho lợi ích của chúng sinh. Nhớ như vậy.

[30:24]Ví dụ như bây giờ ta nói thế này: Trong mười kiết sử mà bậc Thánh phải phá dần dần dần dần á, à quên, bây giờ mà nói giảng hết ba, ba cái kiết sử lớn chuyện lắm, sợ không có thời gian. Phá thân kiến là cái ích kỷ nè, phá cái nghi. À, hồi nãy ta có cái bên bên thiền cũng có cái triền cái nghi phải không ạ? Bên Thánh thì cũng có cái kiết sử nghi. Bên thiền á, trong giai đoạn mà ta chứng được chánh niệm, ta phá lần lần năm triền cái, phải không ạ? Quên rồi chưa? Giờ quên rồi đó. Nhắc lại giùm, triền cái thứ nhất là tham, thứ hai là sân, thứ ba là hôn trầm, thứ tư là nghi, thứ năm là trạo cử. Nhớ, giỏi.

[31:15]Còn năm cái kiết sử bên Thánh phải phá, một là

[31:24]thân kiến, hai là nghi, ba là giới cấm thủ, bốn là tham, năm là sân. À, ta gặp lại ba cái khái niệm giống như bên triền cái, có nghi, có tham, có sân. Nhưng kiết sử nghi khác với triền cái nghi, kiết sử tham khác với triền cái tham, kiết sử sân khác với triền cái sân.

[31:50]Hiểu được chỗ này ta mới thấy cái sự vĩ đại của Đức Phật. Chúng tôi nói ví dụ một chút xíu về cái nghi, ta mới thấy Đức Phật á vĩ đại như thế nào mà Ngài chia cái đó ra làm hai. Cái người mà phá được triền cái nghi á của thiền á, thì họ có sự tự tin trong sự tu tập, trong công phu thiền định. Vì họ cảm giác rằng bây giờ xách họ bỏ vô lò lửa, tâm này vẫn không mất chánh niệm tỉnh giác, đến mức độ dường như không sợ tội phước, cái tự tin của họ đến tột độ như vậy. Cho nên họ nói những lời đanh thép lắm, mà ta dễ bị dụ bởi những cái lời nói đó, người phá được triền cái nghi. Có cái niềm tin vững chắc nơi cái công phu của mình.

[32:35]Còn cái bậc Tu-đà-hoàn mà phá được cái kiết sử nghi thì nó là cái này khác à, cái nghi của bên kiết sử nó khác thế này, là người này xuất hiện được một cái trí tuệ, biết điều gì đúng, điều gì sai giữa cuộc đời này.

[32:52]Biết đây là bậc Thánh tột độ là Đức Phật, biết đây là giáo pháp, đây các bậc Thánh Tăng là chân lý, là ánh sáng phải tôn thờ. Cho nên khi cái người mà phá được cái kiết sử nghi đó thì họ tôn kính Phật tuyệt đối, họ đạt được cái tâm tôn kính Phật tuyệt đối.

[33:12]Nhớ rồi, còn chúng ta bây giờ cố gắng tôn kính Phật để có phước mà tu. Còn riêng cái bậc Tu-đà-hoàn rồi thì họ đạt được cái tâm tôn kính Phật tuyệt đối bởi vì họ phá được cái kiết sử nghi. Mà đặc biệt nữa là sống trong cuộc đời này, giữa những điều đúng sai lẫn lộn này thì một bậc Tu-đà-hoàn có đôi mắt cực kỳ sắc bén, biết điều gì đúng, biết điều gì sai trong đường tơ kẽ tóc. Ta, nói một câu cái ta nhầm, ta lẫn liền. Ví dụ bây giờ ta nói câu này, ta nói à: "Tu mà ăn chi cho nhiều. Tu mà ăn chi cho nhiều". Cái câu nói nghe giống như chân lý ha, cái người tu phải ăn ít. Ăn ít mới tu, chứ tham ăn quá rồi sao mà tu?

[34:06]Nghe giống như chân lý, nhưng một bậc Tu-đà-hoàn họ nghe xong là biết trong câu, cái câu nói đó, cái đúng đó có lẫn những cái sai ở trỏng à. Họ phân biệt ra liền, trong đường tơ kẽ tóc, họ phân biệt cái đúng cái sai liền. Vì sao vậy? Vì ăn nhiều ăn ít nó không liên quan tới đạo đức, mà nó liên quan tới cái gì? Nhu cầu của cơ thể, của lao động. Người lao động làm việc nhiều thì họ phải ăn nhiều. Người làm việc ít thì nên ăn ít, cơ thể mình nó chấp nhận. Nên cái vấn đề chân lý không phải là ăn ít ăn nhiều, mà cái chân lý là ăn phù hợp với cái, cái lao động của mình. Nên mà trên cuộc đời này, người ta dễ phán một câu nói đại lắm,

[34:51]một bên, mà nhiều người khác ùn ùn đi theo, cho là lẽ phải rồi chấp vô đó. Còn một bậc Tu-đà-hoàn, khi họ phá được cái kiết sử nghi, sống giữa cuộc đời phức tạp này, đúng sai lẫn lộn này, nhiều tin đồn, nhiều thành kiến, nhiều chủ trương, nhiều quan điểm này, thì bậc Tu-đà-hoàn biết đúng biết sai chính xác trong đường tơ kẽ tóc. Bởi vậy, nếu ta sinh ra cuộc đời này mà ta may mắn được gần gũi, gặp gỡ, tiếp xúc một vị Tu-đà-hoàn, ta có phước lớn lắm. Vì sao? Vì ta sẽ học được rất nhiều điều hay từ nơi một vị Tu-đà-hoàn này. Sống gần vị đó thôi, một lời nói nho nhỏ, một hành động nho nhỏ đều là những bài học quý giá.

[35:45]Vì những vị đó họ phân biệt đúng sai trong từng chi tiết nhỏ, trong từng đường tơ kẽ tóc nhỏ. Nên cái nghi của triền cái nó khác, và cái nghi của kiết sử nó khác, cách nhau rất là xa. Hiểu những điều này rồi ta mới thấy sự vĩ đại của Đức Phật. Hai cái nghi khác nhau, Đức Phật đưa cái này qua là triền cái nghi, đưa cái kia qua là kiết sử nghi, vì khác nhau rất xa. Ngôn từ ngày xưa không có nhiều để bày tỏ, buộc Đức Phật phải dùng chung một từ, nhưng mà nghĩa khác nhau. Hiểu điều này ta mới thấy vậy. Những điều mà Đức Phật nói thì loài người không nói được, Chư Thiên không nói được, Thiên Ma không nói được, Phạm Thiên không nói được.

[36:32]Chỉ có bậc Chánh Đẳng Giác Thế Tôn mới nói được mà thôi. Đấy. Chúng ta may mắn được làm đệ tử của Người nên hãy cố gắng mà tinh tấn tu tập là như vậy. Nãy giờ vậy ta nói sơ sơ qua về cái con đường tu tập thiền định

[36:52]là cái con đường cốt lõi của, của Đạo Phật. Cái người nghĩ đến vận mệnh của Phật pháp, nghĩ đến lợi ích của chúng sinh phải tinh tấn mà tu tập thiền định. Nhớ như vậy. Cái chữ "thiền" bây giờ nó trở thành cái thời thượng của thế giới.

[37:12]Nơi này dạy thiền, nơi kia có lớp thiền, nơi nọ có cái câu lạc bộ thiền. Và những người nào nói cũng văn chương, cũng nghe hay. Rồi trong Đạo Phật cũng vậy, chùa này dạy thiền, chùa kia dạy thiền, phái nọ dạy thiền, phái khác dạy thiền, nhiều, nhiều.

[37:35]Nhưng mục đích khác nhau. Và ta, trước khi chọn một con đường thiền để ta đi theo, ta phải tìm hiểu cái mục đích của nơi dạy thiền đó dắt ta đi về đâu.

[37:52]Ví dụ hỏi bây giờ: "Nơi này dạy thiền làm gì?" Nói: "Cho nó khỏe".

[37:58]Thiền có làm cho ta khỏe không? Có không ạ? Có, thiền làm khỏe hơn.

[38:10]Ta không thấy, nhưng mà nếu ta không ngồi thiền, ta bệnh nặng hơn lúc trước. Nhưng mà nhờ có ngồi thiền, ta đỡ bệnh hơn lúc trước. Nên thiền rõ ràng có đem lại kết quả là giúp cho sức khỏe. Và cái chỗ đó họ dạy thiền, mục đích họ chỉ nhiêu đó thôi. Và nếu chỗ đó dạy thiền chỉ giúp cho có sức khỏe, thì ta có cần tới đó học không? Có không? Không, không cần. Vì họ không phải là mục tiêu chứng Thánh quả của ta, họ không phải Đạo Phật. Nên nói là: "Tu thiền có sức khỏe", cái đó thôi mình cười chào đi đi. Rồi có người hỏi, chỗ này tu thiền để làm gì? Thì họ nói để thư giãn tinh thần, giải tỏa stress.

[38:56]Trong cái cuộc sống ngày hôm nay mọi điều nó quá căng thẳng, đó là chơi Facebook mệt quá, đầu căng quá, lên mạng rồi chơi game là mệt quá, cho nên phải cần có những lúc mà bớt chơi game, bớt lên Facebook vô tu ngồi thiền cho nó thư giãn đầu óc. Ở đây có vậy không? Mấy người trẻ trẻ này nè, dòm mặt ngờ lắm, đáng ngờ lắm cơ. Đó, nói trời, con lướt Facebook đồ mệt quá, bây giờ phải đi ngồi thiền cho nó khỏe. Thì đó là để cho bớt stress mà để thư giãn tinh thần, thì cái này có phải là mục tiêu của ta không? Không. Cái chỗ đó mình cũng không cần tới học, tại cái mục tiêu họ cạn cợt quá. Rồi có cái người nói, đến đây để làm gì, à dạy thiền ở đây, đây tu thiền để làm gì?

[39:43]Nói tu thiền để có năng lực siêu nhiên, à có thể bói được, biết được quá khứ vị lai của cái người khác. Năng lực siêu nhiên, nghe hấp dẫn không? Hấp dẫn. Vì cái ta tu thiền một thời gian, tự nhiên ta đoán được quá khứ vị lai của người này người kia, đoán được quá khứ vị lai của chính mình, đoán được quá khứ vị lai của người khác. Mình gặp người khác rồi mình cảm nhận người đó sẽ trở thành con người như thế nào, sẽ có những chuyện gì xảy ra cho họ, và cũng đoán được luôn quá khứ của họ, quá khứ người này đã từng làm gì làm gì, khi đoán được, là những cái năng lực siêu nhiên. Thì cái họ đến mà mình hỏi họ tu thiền để làm gì,

[40:26]họ nói để có được năng lực siêu nhiên, thì có phải đúng cái mục tiêu mà ta đi tìm chưa? Đúng chưa? Không, không. Nên ta không học, nha. Rồi bây giờ có người nói là:

[40:40]"Tôi tu thiền để thấy được vong, tiếp xúc được với vong linh."

[40:48]Vì cái người ví dụ như mình bình thường vậy, thì có những người rất ít người tự nhiên thấy được người âm, rất ít. Đời trước họ tu cái gì đó không biết, đời này bỗng nhiên họ thấy được người âm, nhưng số người trên đời ít và thấy một thời gian cái tự nhiên nó hết, không thấy nữa. Nhưng mà nếu cái người mà tu thiền đúng á, tâm linh họ khai mở, họ thấy được người âm ạ, tiếp xúc ạ. Và có những người chủ trương thiền là để thấy được người âm. Nhiếp tâm thanh tịnh, luyện đủ cách thần nhãn làm sao đó để bắt đầu thấy được người âm, tiếp xúc với người âm, nói chuyện với người âm. Ta nói ở đây dạy thiền là để có thể tiếp xúc được với người âm, hấp dẫn không?

[41:27]Rất hấp dẫn, rất hấp dẫn. Thấy được người âm mình biết được nhiều chuyện của cái thế giới bên kia. Thế giới người âm họ sung sướng, họ đau khổ thế nào, họ biết được nhiều, họ hiểu nhiều, họ sống ra sao, họ ăn uống ra sao, họ cần cái gì, và mình cần họ giúp cái gì, họ giúp, họ cần mình giúp cái gì thì mình biết hết. Đó, rất hấp dẫn. Thì có phải đó là mục tiêu ta đi tìm không? Không, cũng không chơi, vậy. Rồi có những người họ cũng ngồi thiền, đêm xuống thấy ông đó ổng ngồi thiền rõ ràng, thắp cây nhang lên bàn thờ ổng lạy tổ xong ổng ngồi ổng bắt chân kiết già, ổng lim dim, ổng nhiếp tâm. Sau đó mình mới thấy ông này chắc thiền sư,

[42:06]tại vì thấy ổng cũng kỳ đặc lắm, đặc biệt lắm. Ngồi thật lâu, hỏi: "Thưa thầy, thầy dạy cho con ngồi thiền." "Ủa, đây ngồi thiền làm gì?" Nói: "Mình đây ngồi thiền để mình mới đi vô được cái thế giới vong linh mà mình xây dựng một lực lượng âm binh để điều khiển âm binh." Nói: "Để chi vậy?" "Để thành một vị pháp sư điều khiển được âm binh và mình mới tác động được người này, tác động người kia. Ví dụ như có cái ông chồng đó ổng có bồ nhí, bà vợ quá đau khổ tới cầu mình thì có thể đưa mình một số tiền, thế là cái mình lấy tiền rồi cái mình mới ngồi thiền mình điều khiển âm binh, kêu âm binh tới:

[42:44]'Dặn họng cái con nhỏ bồ nhí kia cho tao!'." Thì cái con nhỏ bồ nhí kia tự nhiên giẫy đành đạch đạch nằm tê luôn, cái là ông chồng ổng đành phải quay về với bà vợ già xấu xí của ổng, nói đại khái vậy. Đó là dùng âm binh để can thiệp. Ví dụ có người nói: "Có đối thủ cạnh tranh làm ăn." Rồi đưa ổng mớ tiền là đưa nhiêu đó, cả trăm triệu nhiêu đó, thế là đối thủ kia làm sao? Đêm mất ăn, ngày mất ngủ. Đêm mất ăn thì đúng rồi, đêm ăn chi? Nghĩa là ma nó cứ quấy phá, nó đập cái hà cái mái tôn, nó đóng cánh cửa, nó vô nó quậy ổng nhức đầu cho nên ổng không làm ăn được luôn, bệnh luôn. Thế là không cạnh tranh được với cái thân chủ của cái ông thầy bùa này.

[43:22]Nên nó có một loại vậy, ngồi thiền để tiếp xúc được với cái thế giới âm, xây dựng trong đó một lực lượng âm binh và điều khiển âm binh để làm ăn. Vậy mình có đi theo không? Không, mình không không chơi cái loại đó. Rồi một cái loại nữa là xuất hồn. Tức là ngồi thiền đến một mức độ nào đó, người ta có thể xuất hồn bỏ cái xác này lại, người ta dùng cái hồn người ta đi nơi này nơi kia. Trong đạo Phật gọi là du hí tam muội. Có thể xuất hồn đi nơi này nơi kia, thậm chí lên tới cõi trời. Và chuyện này có thật. Và nói: "Tu thiền để làm gì?" Tu thiền để xuất hồn, để ban đêm cái xuất hồn bay nơi này nơi kia vui lắm.

[44:07]Ví dụ đi qua cái nhà đó bị ăn trộm mình cũng biết nữa. Mình bay ngang cái thấy cái nhà đó ăn trộm đang leo vô, kệ cha nó cho nó ăn trộm mình đi luôn. Đó, mà sáng ra biết liền. Tự nhập xác lại, nói: "Trời, cái nhà đó hồi nãy mới bị ăn trộm. Nãy ba xuất hồn ba đi ba thấy ăn trộm leo vô mà thôi ba cũng không thèm, kệ cho nó ăn trộm." Biết mà rất chính xác, đúng là bả đi báo liền. Sáng ra bả chạy công an bả la báo tùm lum hết trơn, đúng như vậy, vì xuất hồn có thật mà. Thì có phải mục tiêu ta đi tìm không? Không, không chơi thứ đó. Mặc dù cái đó nó có hết á, những năng lực đó có hết á, nhưng mà không phải mục tiêu của ta.

[44:42]Rồi có những người tu thiền để làm gì? Nói để tự tại vô ngại. Cuộc đời này người ta phiền động ha, đau khổ, còn mình tu thiền để thấy tất cả là không. Không đầu, không đuôi, không ngắn, không dài, không trước, không sau, không hơn, không kém, đại khái không hết cho nên phớt lờ, thản nhiên, tự tại trước mọi đau khổ của cuộc đời, ai chết ngó ráng chịu, vậy đó thôi ha. Tức là đi ngang ngó xe tông giẫy đành đạch kệ nó, mình tự tại mà không bận tâm tới ai hết. Tu thiền để được cái tự tại, thì cái đó phải mục tiêu của mình không? Không, vì tu mà mất từ bi luôn. Cho nên có nhiều cái mục đích tu thiền của nhiều cái trường phái nhưng mà ta

[45:25]ta ta không chấp nhận. Vì cái thiền của đạo Phật để làm gì? Ta tu thiền trong đạo Phật để làm gì? Để chứng được Thánh quả giải thoát. Chứng được Thánh quả giải thoát, đó là mục tiêu ta xác định như vậy, không phải cái nào khác hết. Còn những cái năng lực khác đều là những phản ứng phụ

[45:50]và dễ dụ ta lạc vô đường tà. Ví dụ như bây giờ mình xuất hồn được, cái mình thích quá cái mình phát triển đi theo con đường đó luôn, quên mất cái mục tiêu giải thoát, quên mất là phải phá triền cái, phải phá kiết sử để chứng Thánh, thích cứ xuất hồn thôi. Định được tâm rồi xuất hồn, rồi cái mê con đường đó, ta lạc qua mất cái đường tà. Không chấp nhận cái cái con đường đó, mà nó có hết á nhưng phải bỏ, không đi con đường đó. Và có một điều nữa là thiền chưa phải là Thánh. Nhập được định chưa chắc người đó chứng Thánh. À, cái điều này ta phải hiểu điều này. Nhập định chưa chắc chứng Thánh, mới chứng thiền thôi.

[46:34]Chừng nào phá được kiết sử thì mới chứng được Thánh. Còn chưa phá được kiết sử, chỉ mới phá triền cái thì vẫn chỉ chứng thiền, mặc dù dòm na ná nhau. Ví dụ bên triền cái ông này ổng phá được tham, phá được sân, thấy ổng rất tự tại, ta chửi tạt vô mặt ổng ổng cũng tỉnh bơ, không động tâm. Thì cái đó là phá được kiết sử sân hay phá được triền cái sân?

[47:03]Hại ổng, chửi mắng ổng, xúc phạm ổng, ổng không động,

[47:10]tỉnh bơ không động, thì người đó là phá được triền cái sân hay là phá được kiết sử sân?

[47:19]Ai nói được khen hay. Nói đúng thì thì cho người này phong chứng Thánh luôn. Sao? Triền cái hả con? Cả hai? Ờ vậy chắc con lên bàn thờ.

[47:37]Đó, cái chỗ này rất là dễ nhầm. Chửi họ, tạt vô mặt, hại họ đủ điều, họ tỉnh bơ, bất động. Vậy là họ người phá được triền cái sân hay là phá được kiết sử sân? Xin thưa, phá được triền cái sân. Triền cái, chưa phải phá được kiết sử sân. Nên đừng nghĩ cái người mà mình xúc phạm họ như như bất động nói là Thánh, không có, chưa chắc à nha, mới là phá được triền cái sân. Tâm không thể động, không thể giận, không thể khởi lên cái bực bội nào cả, đó là người phá được cái triền cái sân. Nhưng cái người mà phá được kiết sử sân mới khủng khiếp. Thẳm sâu trong tâm khảm người đó họ không thù, không ghét.

[48:28]Bởi vì cái thù, cái ghét là nó thuộc về tình cảm, mà tình cảm là bản năng rất sâu. Còn cái bực bội, khi người ta chửi mình mà mình bực bội, nó là cảm xúc chứ không phải là tình cảm. Nó là bực bội, nó là cảm thọ, không phải là tình cảm. Còn cái thù, ghét là tình cảm.

[48:57]Hiểu không ạ? Ta thấy cái tinh tế trong đạo Phật, nói lại nha. Một bên là bực khi người ta chửi mình, một bên là thù khi người ta chửi mình.

[49:15]Thì cái cái khởi bực lên, tự đáy lên cái bực lên đó, cái đó thuộc về cảm thọ, cảm xúc. Còn cái thù khi người ta chửi mình, cái đó thuộc về tình cảm. Mà tình cảm thì nó sâu trong bản năng, còn cái cảm xúc nó nằm cạn ở bên ngoài.

[49:41]Phân biệt được không à? Phân biệt được không? Thực ra cái này nó bị trộn cho nên ta không phân biệt được. Thấy người chửi mình một cái thì mình vừa bực mà vừa thù, hai cái nó trộn chung một cái nên mình không không tách ra được. Còn cái người mà giỏi á thì người ta mới tách ra làm hai: à cái bực này là cảm xúc, còn cái thù nó mai mốt trả thù nó là thuộc tình cảm ở trong sâu. Hai này nó khác nhau. Có thấy không ạ? Chư tôn, các ngài có thấy không ạ? Sống một đời quan sát tâm mình có thấy hai cái này khác nhau không ạ? Thấy bực khi người ta chửi mình cái mình nóng mặt lên liền, thì cái nóng mặt lên liền, đỏ phừng phừng lên,

[50:26]bực bội tự ái liền, cái đó thuộc về cảm xúc, cảm thọ. Còn cái mà nó chửi mình, mình cười cười cười cười không giận nha, sau đó đi vô ra đàng sau bếp lấy con dao lên thì cái đó thuộc lại cái gì? Đó là thù, đó là tình cảm.

[50:44]Thì cái này, cái ông này ổng không có không có giận, ổng tỉnh queo à, không cười cười chửi hả, chửi ổng không nói gì, ổng từ từ ổng đi vô nhà bếp nhẹ nhàng, rút con dao phay ra đi lên tay lại để sau lưng: "Làm sao, anh khỏe không?", lụi ta một cái. Thì cái đó là thù, nó sâu hơn, độc hơn. Còn cái ông kia mà mình chửi ổng cái ổng phừng phừng phừng mặt lên rồi ổng bắt đầu ổng nói bậy lại thì cái đó thuộc về bên ngoài, nó là cảm thọ, cảm xúc, dễ thấy, còn cái thù nó nằm sâu hơn. Ta phân biệt được chưa ạ? Cho nên khi ta chửi ai mà họ cười cười, họ không nói gì thì ta làm sao?

[51:26]Người ta chửi ai mà họ cười cười, họ không nói gì thì một là người này đã là phá được triền cái sân nên họ không bực. Và có thể là bí mật bên trong, họ phá luôn kiết sử sân nên họ không thù thì lo mà lật đật quỳ xuống mà lạy. Hoặc là người này họ không bộc lộ cảm xúc nhưng cái thù bên trong rất là mạnh. Và họ cười cười xong họ đi ra sau bếp thì mình làm sao? Đúng rồi. Đâm đầu mà dậy dắt xe ra mà, có bao nhiêu tốc độ, có bao nhiêu ga mà mà rú cho hết, chạy cho lẹ, trốn thật xa, đừng bao giờ về xứ nữa, nhớ như vậy nha. Đó, như vậy hai cái đó nó khác nhau. Cho nên ở đây vì để mà tu thiền chứng thiền đã khó rồi,

[52:15]mà chứng Thánh đánh sâu vào trong bản năng tình cảm, bứng luôn cả cái tình cảm đi, cái kiết sử đi, vĩ đại vô cùng. Cho nên cái sự vĩ đại của một bậc chứng Thánh nó khủng khiếp lắm. Nhưng bây giờ nhiều khi ta dùng cái chữ thánh dễ dãi. Thánh dễ dãi là sao? Ông nào ổng ngủ gà ngủ gật cái mình lên mạng mình chụp hình mình quay lên cái mình gọi là thánh ngủ, phải không ạ? Ông nào ổng lên mạng đưa lên Facebook ổng biểu diễn ổng ăn một lúc mà gọi là năm tô bún bò, mình gọi là thánh ăn, thánh bún bò, à vậy đó. Còn cái bà nào đó mà bữa bả chửi lộn với ai mà mình lén mình lấy máy mình quay được, bả chửi quá chừng bả chửi từ sáng tới

[52:54]trưa, chửi đủ thứ ngôn từ thì mình gọi bả là thánh chửi. Bây giờ mình phong chữ thánh nó dễ quá đi. Cho nên nhiều khi cái chữ thánh lại bị coi thường, chứ sự thực cái chữ thánh nó vĩ đại là như vậy. Là họ phá được tới cái tình cảm sâu thẳm ở bên trong nha. Cho nên có nhiều người sinh lên cõi trời mà chưa phải Thánh. Cho nên nhiều khi người ta nói là nhiều khi chư thiên mà còn phải kính trọng chư Tăng.

[53:30]Là bởi vì cái ông chư Tăng ổng đang ở cõi người mà ổng chứng Thánh mất tiêu. Còn chư thiên ổng lên tuốt cõi trời, ổng sung sướng, phước đức vậy đó nhưng mà nhiều khi ổng chưa chứng Thánh. Ổng phải xuống lạy ông chư Tăng ạ. Còn như trường hợp mà chư thiên họ vừa lên cõi trời mà họ vừa chứng Thánh thì họ là Bồ Tát rồi, cao siêu rồi. Những vị đó họ rất là cao siêu, ta gọi họ là Bồ Tát được. Vừa sinh lên cõi trời là chư thiên tử nhưng mà trong tâm họ, họ chứng Thánh luôn, phá được kiết sử luôn thì họ là Bồ Tát. Còn có nhiều khi chư thiên họ ở dưới đời này họ tạo phước nhiều quá, chết họ được sinh lên cõi trời nhưng chưa phải Thánh.

[54:11]À họ vẫn gọi là chúng sinh trong lục đạo thôi. Như ngày xưa đó, vua cõi trời là ai? Vua cõi trời Tam Thập Tam tên là gì? Tên là gì quý thầy?

[54:27]Thượng tọa Giác Minh vua cõi trời 33 tên là gì?

[54:33]Lâu quá bộ nói dám nói không quen với ổng lắm á. Đế Thích. Trời Đế Thích, vua trời Đế Thích Thích Ca. À ổng là vua cõi trời, vua cõi người đây mình gặp là mình đã hết hồn phải không ha. Ví dụ bây giờ nói là có bác Tổng Bí thư tới thăm, mình hết hồn rồi bởi vì là ổng vua mà, ổng là vua một cõi người chứ không phải dễ, huống chi còn vua cõi trời còn khủng khiếp hơn. Phước biết bao nhiêu mới làm vua cõi trời, vậy mà vua trời Đế Thích trong cái thời của Phật Thích Ca đó, ngài chỉ mới chứng có Tu-đà-hoàn. Nhờ Phật khai ngộ ngài mới chỉ chứng được Tu-đà-hoàn. Nhưng mà qua 2.600 năm rồi thì bây giờ thì chắc

[55:15]chắn là quả vị của ngài đã cao hơn rất nhiều. Nhưng mà vào thời Đức Phật ngài chỉ mới chứng Tu-đà-hoàn, mặc dù là vua cõi trời. Và cũng rất nhiều chư thiên tử chưa chứng thánh quả nào. Và một số chư thiên tử chứng được thánh quả, chư thiên tử mà chứng được thánh quả thì khủng khiếp rồi, vì đó là Bồ Tát. Nên nhiều khi mình cầu nguyện, mình cầu nguyện mình nói: "Trên chư thiên Bồ Tát gia hộ cho con cái gì đó." là đụng tới các vị đó liền. Ví dụ bây giờ đó nói cái nhà mình bế tắc quá, bệnh tật quá, không có đường, nói: "Hôm nay chồng cũng bệnh nằm một chỗ, đứa con bây giờ nó tìm việc làm không ra, mình nội trợ ở nhà thì phải lo.

[55:58]Thấy tiền ra cạn mà công việc chưa giải quyết gì được, hết đường binh rồi, mượn người ta cũng hết cho rồi, người ta thấy mình không có tương lai mượn ta không cho nữa. Lúc đó mình mới nghĩ tới Phật. Mình lên mình lạy Phật. Mình nói Phật cứu con cho chồng con khỏe mạnh lại để đi làm, cho đứa con con nó tìm được việc làm, đó, rồi sau này cuộc đời con là con nguyện hiến dâng cho cho Phật pháp, là con sẽ tu hành, con làm phước." Nhớ phải hứa chỗ đó nha, không hứa là không có không có Thì lúc đó là mình thì mình không biết ai hết, mình chỉ lạy Phật, xin Phật thôi, nhưng lúc đó là sao? Đụng tới chư thiên tử liền.

[56:35]Những vị thiên tử mà chứng thánh quả nằm ở trên, những cái vị đó là đều xử lý những việc đó không cần tới Phật, không cần tới Phật. Nhưng mà mình khấn Phật cái là mấy vị đó biết liền, các vị đó thương mình liền, các vị đó không cần ra mặt, không cần nói: "À Nè nè, cầu tui đi, tui tên đó đó, lại tui đi." Ngài không cần. Mình chỉ cần lạy Phật thôi là được chư thiên thương liền, các vị tới giúp liền. Khi thấy mình lời hứa này thành tâm à cái người này có thể tu hành hứa rất thành tâm, các ngài phù hộ liền. Gia hộ khiến tự nhiên ông chồng ổng ra ngoài vườn ai nấu cho ổng miếng canh rau má bậy bạ ăn hết bệnh.

[57:15]Thằng nhỏ cái tự nhiên đi xin được việc làm, thấy ổng khỏe lên ổng phụ giúp được, mình đi buôn đi bán được thêm, cái công nhà việc nhà ổn định thoát được cái bế tắc, cái mình mới nhớ tới lời hứa Phật pháp. Thế là sao? Ngày nào cũng tới chùa Phật Ngọc tụng kinh, ngồi thiền, khóa thiền nào cũng tham dự đầy đủ không có lén trốn, không có sợ đau chân mà trốn, đó là mình đền ơn lại cái lời cầu nguyện mình đã mình đã xin với Phật. Lúc đó là vậy nên mình nói là mình lạy Phật có khi là xin Phật, hoặc có khi mình chỉ xin nói là: "À, trên trên Phật, trên chư thiên Bồ Tát." Cái chữ chư thiên Bồ Tát rất là chính xác,

[57:52]là mình cầu xin tới các vị cõi trời, các vị đó có vị chứng Thánh mà có vị cũng chưa chứng Thánh. Nhưng mà những vị chứng Thánh rồi là Bồ Tát hết nên tâm các ngài cực kỳ vị tha, lúc nào cũng yêu thương chúng sinh, lúc nào cũng quan sát cái cái cõi người để tìm cách mà giúp đỡ, tìm cách mà hóa độ. Tâm các ngài cực kỳ vị tha. Nên như hôm nay vậy, ta đến đây ta dự khóa thiền thì mỗi một con người có mặt ở đây đã lọt vào cái sổ cái cái gọi là cái sổ của gọi là thiên thư á, cái sổ của trời. Chúng ta đừng tưởng mình đi chơi nha. Ta vào đây ta thành tâm ta dự một khóa thiền thì đều lọt lên cái sổ gọi là sổ trời ghi trong đó hết rồi.

[58:36]Nên đừng có đùa, đừng có đi bữa có bữa không. Nhớ cố gắng tinh tấn hết cả một đời này tới những đời khác, vì ta đã vào sổ rồi. Mình thấy à mình thấy dần thầy hôm nay mình vắng ông thầy cũng không thể nhớ hoặc là lâu lâu ổng nhớ ổng nhắc một câu. Nhưng ở trên chư thiên rất nghiêm khắc. Lúc nào cũng chư thiên cũng kỳ vọng mình tinh tấn tu tập để mà mình cũng chứng được thánh quả. Nên đừng có cô phụ tấm lòng thương yêu của chư thiên Bồ Tát là như vậy.

[59:08]Ngày xưa ta thấy á

[59:14]trong lịch sử Đức Phật có một sự việc mà đau lòng nhất là sự việc gì? Ai nhớ không?

[59:28]Cái sự có một sự tình, một sự việc, một sự kiện mà đau lòng nhất trong cuộc đời Đức Phật là gì?

[59:36]Là Đề-bà-đạt-đa em Phật mà phản Phật.

[59:43]Thật ra cái việc mà Đề-bà-đạt-đa phản Phật á cái sự tình nó lắt léo, nó phức tạp hơn trong kinh ghi. Sau này khi ta đọc hết cái Đỉnh Núi Tuyết tới phần đó ta sẽ thấy cái sự tình nó rắc rối hơn nhiều. Nhưng đó là một sự việc đau lòng trong cuộc đời của Đức Phật mà Đề-bà được Đạt-đa trong sử được ghi là chứng được thiền định và có thần thông. Mà trong khi kinh nói là chứng luôn Tứ thiền. Nhưng mà không hề chứng được thánh quả nào. Chứng thiền rất cao, có thần thông, nhưng không chứng được thánh quả nào. Nên khi vì ổng chứng được thiền, ổng có thần thông. Cho nên ổng nói một cái là rất đông tỳ-kheo tin theo.

[1:00:24]Nó có cái uy lực mà. Cái người chứng thiền rồi họ có cái uy lực tự nhiên, nói một lời ra nó đầy cái sức mạnh khiến cho nhiều người tin theo. Cho nên là ngài chư Tăng lúc đó biết bao nhiêu vị A-la-hán: Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, Aniruddha, Kimbila, Nan-đà, úi quá chừng. Vậy mà Đề-bà-đạt-đa vẫn dụ dỗ được gần cả ngàn người đi theo mình. Đâu phải là ít đâu. Mà đó là sức mạnh của thiền. Đó là một người. Một cái người nữa đồng thời với Đức Phật mà cũng có cái công phu rất khủng khiếp đó là Ni-kiền-tử, Nigathanputta.

[1:01:02]Ni-kiền-tử cái ông này ổng lập một cái giáo phái, giáo phái này nổi tiếng về cái gì ai nhớ không ạ?

[1:01:14]Phái Ni Kiền Tử này nổi tiếng về cái gì, ai nhớ không? Khỏa thể, trần truồng và cho rằng người nào dám trần truồng thì người đó đắc đạo. Tu cái phái này nó hơi dễ, cho nên mình muốn mau đắc đạo mình có thể gia nhập cái phái này. Chỉ cần là 100% là được gọi là thánh.

[1:01:41]Mà mình nghe mình thấy buồn cười, nhưng mà cái lý luận của họ mình không cãi được nha. Cái lý luận của họ mình không cãi được. Mà cái ông Ni Kiền Tử Nigaṇṭha Nātaputta này đó, ổng có một cái sức thuyết phục lay động bao nhiêu con người, tới ngày hôm nay Đạo Phật ở Ấn Độ mất rồi, nhưng mà giáo phái lõa thổ lõa thể vẫn còn tiếp tục tồn tại ngày hôm nay. Ngày hôm nay, trong những cái pháp hội của cái giáo phái đó mà họ quay phim chụp hình á, vẫn một loạt các ông đạo sĩ họ ngồi cầm micro giảng đạo, trên mình không mặc cái gì.

[1:02:20]Ở dưới đây rất nhiều tín đồ ngồi nghe, trong đó có các phụ nữ. Phụ nữ thì vẫn mặc, họ là tín đồ thôi, chứ còn cái nữ đạo sĩ lõa thể ngày nay ta không thấy. Nữ tín đồ vẫn đến ngồi nghe và tôn sùng mấy ông đó như thánh. Mà mấy ông đó vẫn trần truồng như nhộng cầm micro giảng đạo. Đến bây giờ vẫn còn. Thế là tại sao mà cái sức thuyết phục họ khủng khiếp vậy? Vì ổng chứng Thiền. Ta đọc kỹ những cái lời trong kinh, những cái đoạn đối đáp mà giữa những cái người của Ni Kiền Tử nói chuyện với chư tăng, thậm chí có những người Ni Kiền Tử nói chuyện với Đức Phật, thì ta mới nhận ra rằng là ông Ni Kiền Tử mà ông tổ đó

[1:03:01]ổng chứng được thiền không thua gì các thiền sư Trung Hoa. Ta đọc cái đó ta sẽ thấy cái tri kiến đó. Lúc mà Đức Phật đi đến một cái nhóm Ni Kiền Tử đang trần truồng, người thì đứng một chân giơ tay, người làm đủ trò. Đức Phật mới hỏi, "Các ông làm vậy để làm

[1:03:20]cái gì?" Khi đó dạ, "Thầy của tôi là Ni Kiền Tử, một người tự xưng là có tri kiến trong lúc ngủ cũng như trong lúc thức." Đây là cái giai đoạn tỉnh giác bằng các thiền sư Trung Hoa đó. "Thầy tôi nói rằng, chúng ta cuộc đời này đau khổ là do nghiệp ở đời trước, câu nói này đúng không ạ?" Nghe có lý vô cùng. "Cho nên bây giờ muốn hết khổ thì ta phải tự mình chủ động trả nghiệp, đừng đợi nghiệp nó tới đòi." Nghe có lý không ạ? Lý luận nghe quá hay đi chứ. Thế là tự trả nghiệp sao? Ta đày đọa cơ thể mình một cách khó chịu nhất mà ráng chịu đựng thì từ từ nó hết nghiệp, hết nghiệp ta được giải thoát.

[1:04:01]Nghe có lý không ạ? Đó, nghe mình mình nghe là có lý liền. Nên rất nhiều người theo. Đức Phật mới hỏi, "Thế các ông có biết đời trước các ông làm nghiệp gì không?" Dạ không. "Vậy các ông có biết là ông phải tự trả nghiệp hành hạ cơ thể này bao lâu thì hết nghiệp không?" Nói, "Không." Rồi Đức Phật hỏi một loạt câu nữa, cái ông cái gì ổng cũng nói không. Đức Phật mới nói, "Ông tu tập dựa trên những điều không biết mà ông dám nói rằng ông sẽ được giải thoát là sao?" Bên kia mới bí đó. Nên hôm nay mà thầy nói này mọi người mới thấy hết có lý ha, chứ nãy giờ nói là nghe có lý liền. Dễ sợ chưa?

[1:04:42]Rồi cái nhẹ nhàng Phật nhẹ nhàng là bẻ gãy liền, thế là họ hoang mang liền. Rồi họ thấy mới thấy thầy họ sai, chứ nào giờ là họ nghe tin răm rắp vậy đó. Rồi nói tại sao mà cởi trần cởi truồng, bởi vì nói thế này: Cái người mà phàm phu á thì có nhiều nhu cầu. Họ cần cái này, họ cần cái kia. Còn một bậc thánh thì ít nhu cầu, ít dần ít dần cho đến không còn nhu cầu thì đó là bậc thánh rất cao. Nghe có lý không ạ? Quá có lý chứ, phải không? Hay là cái người đó họ cần cái nhà cho ấm, tại vì cái nhà sơ sơ họ ở không được, nóng quá hay lạnh quá, mưa dột, nên cái nhà phải đàng hoàng. Còn bậc thánh thì sao?

[1:05:25]Mưa gió dột gì họ cũng chịu được. Còn ví cái người phàm á cần phải ngồi cái ghế, còn bậc thánh không cần ghế. Mình thấy có lý hà ta, hay quá, cuộc sống giản dị đơn giản của họ hay. Và cái người phàm á mới cần ăn nhiều, ăn tô này qua tô kia, còn bậc thánh thì ăn sơ sơ thôi, đó. Nghe có lý không? Bắt đầu có lý phải không? Đó. Cho nên vì từ từ đi tới dần dần, cái phàm phu á nó mới cần mặc đồ cho nhiều, còn bậc thánh là cần ít đồ và cho tới khi không còn miếng nào trên người nữa thì đó là thánh nhân cao siêu. Nghe có lý không? Đó, dẫn mình vô từ từ tới đó rồi cái mình chịu. Rồi thôi thế mình cũng cởi đồ mình đi theo luôn.

[1:06:08]Đó, họ có lý luận chứ không phải không. Và chính cái lý luận nó tồn tại mấy ngàn năm. Từ thời Đức Phật tới bây giờ vẫn còn tồn tại, bây giờ những pháp hội đó vẫn còn. Đó, thật sự họ sai, nhưng mà cái sai của họ ít người thấy, cái sai của họ ít người thấy. Người ta vẫn bị lầm chứ không phải là không đâu, họ nói hay như vậy. Mà cái sức mạnh họ lay động lòng người là sao? Là sức mạnh của Thiền. Họ có cái sức của Thiền họ nói người ta nghe, mà chưa phải thánh á. Cho nên vì vậy do chúng ta còn phàm phu, ta không phân biệt được ai là người chứng thiền, ai là người chứng thánh. Mà thấy cái ông thiền ổng nói mạnh quá, ta tin, ta bị đi lầm đường tà.

[1:06:50]Do đó, ta phải căn cứ trên cái nấc thang mà Phật đã dạy là phá các kiết sử. À. Cái người chứng thánh là người phải phá được lần lần 10 cái kiết sử đó. Như hồi nãy vậy đó, một cái ông Bàng Long Uẩn ổng xách vàng bạc đem đổ xuống sông, với một bậc Bồ Tát Thích Quảng Đức đem thân mình đốt để đấu tranh cho Phật pháp. Đó, một bên thiền một bên thánh, ta phải nhìn cho cho ra. Và cái con đường của ta tu tập tính là chứng chứng thánh, mà trong cái chứng thánh đó cái sân, cái tham nó khác với bên thiền, mà quan trọng là cái thân kiến á. Sống một đời tột cùng vị tha, sống một đời tột cùng vị tha vậy đó.

[1:07:39]Miếng ăn miếng uống của mình là vì chúng sinh mà ăn, vì Phật pháp mà uống, chứ không có phải sống cho mình, không ăn vì mình mà ăn, không uống vì mình mà uống. Đó là một bậc thánh. Còn cái người mà không cần ăn không cần uống, có vẻ tự tại, coi chừng người này chỉ là chứng chứng thiền mà thôi. Cái người chứng thiền thì họ có vẻ tự tại, bất cần, nhưng không vì ai. Còn một bậc thánh thì sao? Họ cũng tự tại nhưng lúc nào cũng vì vì Phật pháp, vì chúng sinh. Nhớ như vậy cái khác nhau. Ta nhận ra chưa ạ? Đó, cái điều đó rất là tinh tế như vậy. Ừ. Cho nên đừng có nghĩ rằng cái là ai mà có cái gì đặc biệt thì ta gọi họ là thánh, nhầm chết á.

[1:08:30]Thấy họ đặc biệt chứ không biết họ chỉ là chứng thiền, chứng thần thông thôi, chưa chắc là thánh. Mà phải coi cái đạo đức của họ, đạo đức sâu thẳm của họ. Đó. Hoặc nói cái giới cấm thủ thôi. Phá được cái giới cấm thủ thôi là như thế nào? Thì hôm nay ta không có thời gian cho nên ta bỏ qua. Ở trong ba cái kiết sử đầu tiên mà ta phải phá để chứng Tu-đà-hoàn á là thân kiến nè, nghi nè, giới cấm thủ. Giới cấm thủ là gì? Đó. Cả một vấn đề cũng rất là sâu sắc. Mà mình hiểu những điều đó rồi mình kính Phật vô cùng, vì chỉ có Phật mới lôi những điều đó ra mà giải thích, nói năng. Trên đời không ai nói được hết.

[1:09:13]Thiền á thì có nhiều dòng phái ta biết rồi. Trên thế giới ngoại đạo, võ thuật, yoga, cái gì cũng có thiền hết trơn á. Mấy ông thầy bùa cũng có thiền. Còn trong Đạo Phật mình cũng nhiều phái thiền. Một có những phái thiền là tông Thiên Thai giáo quán của ngài Trí Khải đại sư lập ra ở Trung Hoa, rất nhiều vị chứng đắc. Nhớ nha. Từ cái ngài Trí Khải đại sư ở bên Trung Hoa vào đời Đường á tới bây giờ rất nhiều thiền sư bên phái đó chứng đắc, mà chứng cái gì mình không biết. À chứng thiền á, không biết có thánh hay không thì không biết. Rồi một cái phái thiền của tổ là Tổ Huệ Năng, ta gọi là tổ sư thiền Thiền tông Trung Hoa

[1:10:00]á, cũng vô số những vị thiền sư chứng đắc, ta cũng không biết chứng thiền hay chứng thánh. Có những người vừa chứng thiền, người vừa chứng thánh, nhưng có những người chỉ chứng thiền mà không chứng thánh. Như là cái của ngài Huệ Năng. À. Còn như Tổ Lâm Tế thì khủng khiếp á. Ổng ngộ một lần một cái rồi là tâm vắng bặt vọng tưởng nhập luôn vào như là tam thiền, tam quả luôn. Ngài Lâm Tế sức chứng ngộ rất là cao.

[1:10:31]Nên cái dòng thiền của các vị đó thấy chứng thiền nhưng mà không tách ra được cái người nào thiền, người nào thánh. Vì họ đều có tưởng chứng thiền là chứng thánh. Chỉ có trong thời Đức Phật là Phật định rõ ra người nào thiền, người nào thánh rất là rõ, không có nhầm, còn đời sau bị nhầm hết. Rồi có một phái thiền nữa là phái thiền của Theravāda hiện nay. Các sư Nguyên thủy hiện nay thì họ phát triển cái gọi là minh sát tuệ, Vipassanā. Khắp nơi họ dạy mà thiền mà bụng nhớ không, phồng xẹp phồng xẹp thở bụng á. Có nghe chưa ạ? Vipassanā, minh sát tuệ thì cũng là một phái thiền. Và ta cũng không biết rằng họ chứng cái đó là chứng thiền hay chứng thánh.

[1:11:20]Hiện nay họ mở ra khắp nơi: Miến Điện, Thái Lan, Tích Lan, qua Việt Nam cũng nhiều. Nhưng mà cũng không phân định được rõ chứng thiền hay chứng thánh. Đó nên nếu gọi là nguyên thủy chứ cũng chưa chắc là nguyên thủy.

[1:11:37]Họ thì dựa vào kinh Nikaya, nhưng rồi họ cũng dựa vào cái Abhidhamma. Mà Abhidhamma là không phải Phật thuyết, nên ta cũng không hiểu rằng họ đi sao. Nên hôm nay vậy, ở cái mái chùa yêu thương Phật Ngọc này, Phật Ngọc Xá Lợi này, ta nói với nhau: thiền và thánh khác. Nhưng mà muốn chứng thánh thì phải tu thiền, đó là bắt buộc. Tu thiền thì mới có thể chứng thánh, chưa chắc chứng thánh, nhưng phải tu thiền. Còn không tu thiền thì

[1:12:18]không có con đường đi, không hy vọng. Trừ trường hợp kiếp trước ta đã tu gần chín muồi, đời này xuất hiện ra nhúc nhích một cái chứng luôn thì thôi, người đó không thấy tu gì mà bỗng nhiên thành thánh, đó là do căn cơ thượng thừa từ đời xưa. Còn đa phần, nếu chúng ta tự nhận mình là hạ căn, thì phải tu tập từ thiền định từng bước mà đi lên cho thật kỹ, chứ không có con đường tắt. Còn nếu tắt là bởi vì họ đã đi căn bản từ những kiếp trước rồi, vậy thôi. Và một lòng của chúng ta là gì? Phải quyết tâm mà tu tập thiền định.

[1:13:10]Bây giờ ta nói thế này: cái người chứng thiền cũng rất là kỳ đặc, cái người chứng thánh thì rõ ràng là cao siêu. Vậy ta lỡ ta xúc phạm một người chứng thiền, quả báo ra sao?

[1:13:36]Ta xúc phạm nhằm một người chứng thiền, ta cũng bị tổn phước rất nhiều, chứ không phải là không, vì người ta cũng dày công người ta mới chứng được thiền. Nên khi ta xúc phạm một người chứng thiền, ta bị tổn phước rất nhiều. Nhưng mà nếu ta xúc phạm nhằm một bậc chứng thánh thì sao? Cuộc đời của chúng ta coi như là te tua, tan tác, tơi tả, ờ và rơi tí tách như mưa luôn, không còn gì nếu ta xúc phạm nhằm một bậc chứng thánh. Nói tại sao mà các vị Bồ Tát rất ít khi trực tiếp xuất hiện giữa thế gian này?

[1:14:22]Bởi vì chúng sinh không biết Ngài là một bậc thánh cao siêu để phải kính trọng thì nó có ba hạng người khi họ nhìn thấy một bậc Bồ Tát, có ba cái tâm trạng, ba cái thái độ khi ta nhìn thấy một bậc Bồ Tát. Tâm trạng thứ nhất là ta kính trọng. Một tâm trạng khác là ta không nghĩ gì, không kính trọng cũng không coi thường. Và tâm trạng thứ ba là coi thường, xúc phạm, chê bai, công kích, nói: "Thằng cha đó mà thánh cái gì!" là xong đời rồi đó. Ta nhắc lại, khi một bậc Bồ Tát hay một bậc thánh xuất hiện giữa cuộc đời này, thì chúng sinh đối với bậc thánh đó sẽ có một trong ba thái độ. Thái độ thứ nhất là, là gì? Kính trọng.

[1:15:18]Thái độ thứ hai là bàng quan, không nghĩ gì. Và thái độ thứ ba là coi thường, bất kính, xúc phạm.

[1:15:31]Thì trong ba cái phần này, phần nào nhiều? Trong cái số người chúng sinh mà có ba cái thái độ đối với một bậc thánh á: tôn kính, bàng quan và bất kính; thì trong ba cái hạng người này,

[1:15:50]thì cái người mà biết kính trọng bậc thánh nhiều hay ít? Nhiều hay ít? Rất ít, nha, rất ít. Thì số người đó là tự động lên trời, sẽ phát sinh phước lành rồi tự động bay lên. Còn cái người mà bàng quan nhiều hay ít? Nhiều, rất nhiều. Cái người bất kính nhiều hay ít? Không ít, cũng rất nhiều. Thì như vậy trong ba phần này, rất ít người khởi được tâm kính trọng bậc thánh để mà bay lên. Còn lại rất đông chúng sinh hoặc khởi tâm bàng quan cũng bị đọa, khởi tâm bất kính đọa nặng hơn. Thì nói khởi tâm bàng quan sao cũng bị đọa? Ví dụ thế này: cái ông đó ổng mặc quần đùi, mặc áo may ô ổng ngồi chơi trước nhà cho nó mát.

[1:16:42]Trong cái con hẻm, có một vị tăng đi ngang, vị tăng đó chứng thánh quả rồi. Ổng có biết không? Ổng có biết không? Ổng có theo đạo Phật đâu ổng biết. Ông tăng nào như ông tăng nấy à, thấy ông đó hơi đẹp đẹp, nghiêm nghị vậy thôi đâu biết gì. Và ông tăng đi qua một cái ổng cũng bàng quan, không đứng lên chào phải không? Không chắp tay chào, không để ý. Ổng tiêu rồi đó. Xong rồi đó. Ít nhất mười đời làm ăn mày, làm những con người cực kỳ thấp kém.

[1:17:19]Chỉ vì có ông thánh đi qua không biết. Về đạo đức ổng không có cái gì tổn thương, tại ổng có biết thánh đâu mà kính. Biết thánh mà không kính thì đó là người không đạo đức, chứ ổng có biết đâu. Cho nên về đạo đức ổng không có bị tổn gì nhiều, nhưng về phước mất gần hết rồi. Chỉ vì có ông thánh lỡ đi ngang mặt ổng, lúc đó mặc quần đùi, áo may ô ngồi chơi trước sân. Như vậy tội nghiệp cho chúng sinh không? Tội không? Nên nếu một vị Bồ Tát xuất hiện thì mấy tỷ chúng sinh này xuống địa ngục nhiều, địa ngục không có chỗ chứa. Ta nhớ ba cái thái độ đó. Rất ít người biết đó là một bậc thánh để kính trọng. Rất ít.

[1:18:02]Đa phần coi thường hay bàng quan, rớt sạch. Vì lý do đó, rất hiếm có một vị Bồ Tát chịu cực xuống trần gian này để trực tiếp giáo hóa. Các vị toàn là đứng núp phía sau, gia hộ người này, gia hộ người kia. Nên ta mới nói: "Trời ơi, sao trong kinh con thấy quá chừng người chứng thánh, nhưng bây giờ đâu không thấy?". Không thấy. Bởi vì các ngài mà xuất hiện rồi cái một loạt chúng sinh xuống địa ngục sạch. Vì bất kính, vì bàng quan. Nên các ngài rất hiếm khi xuất hiện. Chỉ để cho chúng sinh tự giáo hóa với nhau, người đàn anh giáo hóa người đàn em, người hơn giáo hóa người kém, để cho chúng sinh đỡ bị đọa.

[1:18:47]Đó là lý do vậy đó. Còn mà nếu có gì quá đặc biệt thì mới có một vị xuống. Một vị xuống, mà một vị đó họ xuống, họ sẽ làm lợi ích được rất nhiều để bù lại với cái số mà gì? Bất kính họ đọa địa ngục rồi. Ví dụ như họ biết chắc rằng khi họ xuất hiện giữa cuộc đời này thì phải ba ngàn chúng sinh xuống địa ngục vì nói bậy nói bạ. Nhưng mà đời họ, họ sẽ độ được ba chục ngàn người đi vào chánh pháp, xây dựng được Phật pháp, mà họ tính ra lời được ba chục ngàn người thăng tiến, lời hơn là ba ngàn người sẽ xuống địa ngục, họ chấp nhận đi xuống. Đó là cái con số tính toán khôn ngoan, trí tuệ của một bậc Bồ Tát, họ mới chịu xuống trần.

[1:19:33]Còn không, các ngài rất ngại mà xuất hiện trực tiếp giữa trần gian này. Như vậy, những điều lắt léo, bí mật hôm nay ta nghe rồi ta thấy nha. Giờ nói bí ẩn tu thiền mà tại sao cái người

[1:19:58]chứng thiền mà cái người lại chứng thánh? Đây có những lý do đây: khi tâm ta thanh tịnh thì thiền và thánh giống nhau. Nhưng mà nếu ta có những yếu tố này thì ta sẽ chứng thánh: Thứ nhất là phải chứng thiền cái đã. Thứ hai là ta có cái công đức lễ kính Phật rất nhiều. Cho nên ai mà tu tập khôn ngoan cứ thường lễ Phật sám hối, cái người đó là có cái nhân duyên để sau này chứng thiền rồi sẽ chứng thánh. Cái thứ ba là cái người này thường quán kỹ cái lý vô thường, vô ngã, thấy thân này là vô thường và thẳm sâu trong tâm mình chẳng có cái bản ngã gì cả, là yếu tố thứ ba. Và yếu tố thứ tư là có lòng từ bi, thường hay đối xử tử tế, cứu giúp chúng sinh.

[1:20:56]Đó, người nào mà có bốn yếu tố này thì ta tu thiền sẽ chứng luôn tới thánh, chứ không dừng lại ở chứng thiền. Nhắc lại nha, bốn yếu tố: một là phải tu thiền, phải chứng được thiền; hai là có công đức lễ kính Phật sâu dày; ba là phải quán vô thường, vô ngã một cách sâu xa; và bốn là có lòng từ bi, sống đời tử tế, vị tha, cứu giúp chúng sinh. Nha.

[1:21:27]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[1:21:37]Nên rất mong là chư tăng ta trong cái mùa hạ này, chư tăng cố gắng mình tinh tấn tu tập thiền định. Mà nhớ tu thiền nó không dễ, rất là vất vả, nhưng mà cái vất vả đó mới thành được công đức, cái vất vả đó mới thành được gì? Chánh pháp, mới là lợi ích cho chúng sinh. Nha, như vậy, mong vậy. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Chúng con như được tắm mát dưới nguồn suối pháp từ bi trên thượng tọa đã rưới ban cho hàng đệ tử chúng con. Vào giờ phút này, thay lời cho chư tăng ni cũng như quý Phật tử thành kính niệm ân trên thượng tọa đã quang lâm thuyết giảng nhân khóa tu thiền cũng như những lời sách tấn cho hành giả an cư

[1:22:31]trong những ngày đầu khóa an cư kiết hạ Phật lịch 2562, chiều ngày hôm nay. Chúng con ngưỡng nguyện Tam Bảo gia hộ thượng tọa pháp thể vạn an, chúng sanh tác độ, Phật sự viên thành, luôn là ngọn hải đăng để soi rọi, chiếu sáng cho hàng Phật tử chúng con trên bước đường tu học giải thoát. Cung thỉnh chư tôn đức, kính mời toàn thể Phật tử trang nghiêm khởi thân hồi hướng.

[1:23:04]Nguyện đem công đức này,

[1:23:14]hướng về khắp tất cả,

[1:23:23]đệ tử và chúng sanh,

[1:23:33]đều trọn thành Phật đạo.