[0:02]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni
[0:18]Phật. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:37]Dạ,
[0:48]con kính cung thỉnh Sư phụ an tọa, kính thỉnh quý thầy cô, toàn thể hội chúng an tọa. Nhiều khi ta có những người yêu thích thiền, rồi tìm đến thiền với nhiều trường phái, nhiều thiền sư. Nhưng mà sự thật không phải ai cũng dạy đúng, làm cho chúng ta vất vả, hao công, hao sức, hao thời gian, kể cả tiền bạc.
[1:18]Và kể cả phải từ bỏ rất nhiều cái quyền lợi khác trong cuộc đời của mình để theo thiền, nhưng rồi cũng không có kết quả gì cả, thậm chí bị tác dụng ngược là bệnh luôn, rất là đáng tiếc. Nhưng mà tại sao như vậy? Thì nó cũng là một cái may mắn hay không may mắn, nói cái từ là may hay rủi, nhưng mà nói là may hay rủi, sự thật nó có nhân quả ở trỏng. Cái nhân quả nằm ở chỗ lòng tôn kính Phật. Nếu chúng ta đủ lòng tôn kính Phật thì tự nhiên chúng ta tìm được con đường đúng. Mà nếu ta đủ lòng tôn kính Phật đến tuyệt đối thì con đường của ta cực kỳ chính xác luôn, tránh được những sai lầm đáng tiếc trong việc tu tập thiền định.
[2:06]Đó là lý do mà bao nhiêu năm qua Sư phụ cứ nhắc mọi người mãi về lòng tôn kính Phật và phải tác ý là tôn kính Phật tuyệt đối. Dù tâm mình chưa đạt được nhưng phải tâm nguyện như vậy, tôn kính Phật tuyệt đối, vì cái điều đó gieo cho ta cái nhân để ta có thể hiểu được con đường của Phật, lời Phật dạy và nhất là thiền định đến những chỗ chi ly, nhỏ nhiệm, sâu mầu, nó không còn sai một cái gì nữa thì con đường, cái sự thực hành của ta nó mới có có kết quả được. Tuy nhiên vậy, cứ mỗi một bước tiến thì những cái tà kiến cứ chờ, mỗi một bước ta tiến trong thiền thì tà kiến nó bu theo, mà tới một mức nào đó ta tiến đến rất sâu thì cực kỳ
[2:56]nhiều tà kiến nó nằm bên cạnh nó chờ nó dụ ta. Đó là lý do mà nhiều người có kết quả trong thiền rồi cứ đi giảng bậy, làm hư hết bao nhiêu thế hệ, rồi đạo Phật suy tàn mất luôn, không còn gì hết. Ta cứ nghĩ đạo Phật là chánh pháp, là chân lý thì đáng lẽ phải muôn đời phải sáng tỏ, nhưng mà ta nhìn trên thực tế thì tất cả đều chìm, chìm dần, chìm chìm ngập, chìm ngấm hết, u tối hết, mờ mịt không thấy cái gì là là là hy vọng cả. Và riết rồi thì mọi người cứ tin là đạo Phật rất cao siêu, nhưng mà nhìn cứ trên thực tế thì ai cũng chán nản và đạo Phật cũng mất uy tín luôn. Mất uy tín, riết người ta không có tin đạo nữa là vậy.
[3:40]Tại vì thấy bước vào đạo gặp đủ thứ chuyện kỳ cục quá đi nên người ta mất niềm tin với đạo, chỉ bởi vì cái thực hành sai. Thấy mất uy tín ghê không? Tội cho đạo pháp ghê không? Còn cái sự giác ngộ của Đức Phật, ai cũng tin, chắc là hay lắm, cao siêu lắm, nhưng mà bước vào đạo nó dội ngược lại thì gặp nhiều chuyện cái không hợp lý, nó kỳ như vậy. Và và cái đỉnh cao của việc tu tập trong đạo Phật là thiền định. Vì Bát Chánh Đạo tới đỉnh cao là Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định, tức là thiền định. Làm tất cả rồi cuối cùng phải đi vào thiền định. Cũng giống như cái nền văn minh của Trái Đất chúng ta,
[4:17]anh có văn minh tới đâu thì tới, nếu anh không đi được vào thiền định thì Trái Đất này sẽ hủy diệt. Đó là đi sai hướng. Nghĩa là cái nền văn minh rồi cuối cùng phải đi vào thiền định thì nền văn minh đó mới là đỉnh cao, mới là sự rực rỡ, sự sáng tỏ và bền vững và trở nên mầu nhiệm. Còn cái mà gọi là văn minh của một nền văn minh vật chất, khoa học, kỹ thuật tiến đến tột cùng rồi, một cái bùm, bom hạt nhân nổ tùm lum hết trơn, chết hết, không còn gì. Và cái việc mà hủy diệt một nền văn minh nó xảy ra đầy khắp cả ở trong vũ trụ này. Rất nhiều nơi trong vũ trụ này có những tinh cầu cũng đạt được cái văn minh rồi
[4:57]hủy diệt, đạt được lên cao rồi hủy diệt, chỉ bởi vì không có thiền định. Cho nên Trái Đất này cũng vậy, nếu ta không kịp thời phát triển thiền định vô ngã, từ bi, nhân quả, với cái việc mà có thể chế tạo ra được con virus, với cái việc mà chế tạo ra được trí tuệ nhân tạo, Trái Đất cũng chuẩn bị chết, cũng chuẩn bị hủy diệt. Cho nên nhiệm vụ của tất cả chúng ta là những người đón nhận được, tiếp nhận được cái giáo pháp cao cả của Đức Phật, ta phải cố gắng thực hành và truyền bá để cứu cả thế giới này, chứ không chết hết. Chết hết, không còn chỗ để ở, không còn nơi để trở về nương náu. Cho nên cái nhiệm vụ của chúng ta nó quan trọng,
[5:36]không còn là trách nhiệm cá nhân, không còn là cái chuyện chỉ lo cho chính mình tu tập, mà mỗi một cái giây phút ta tu tập chính là một hành động, một giọt nước góp vào cái việc để cứu vãn, giữ gìn, bảo vệ cái thế giới này, chứ không phải là chuyện nhỏ đâu. Ráng như vậy. Hôm trước Sư phụ có nhắn một cái tin gồm tóm tắt quy trình thiền căn bản, mọi người có hết chưa? Có hết không? Có hết? Trời, cái gật đầu cũng không gật nổi nữa. Gồm 14 cái gạch đầu dòng.
[6:17]Mới in ra Sư phụ mới thấy hết một trang A4. Thế lúc Sư phụ bấm trên máy thì họ chỉ bấm rẹt một cái, rồi Sư phụ tưởng bài nó ngắn, mà in ra đầy một trang giấy A4, dễ sợ thiệt. Mọi người ráng thuộc cái này nha. Thì tại vì Sư phụ sẽ không nói lại 14 này, không nói lại 14 cái bước này, vì ai cũng có rồi. Ai chưa có giơ tay lên? Vậy số nhiều... Hầu hết là có hết rồi phải không? Thôi vậy Sư phụ yên tâm để Sư phụ lướt nhanh qua, không cần phải nói nhiều. Không nói... tại vì 14 cái bước này á là cái những cái lộ trình lắt nhắt lắt nhắt để đi vào thiền, mỗi người phải tự viết ra. Mỗi một gạch đầu dòng là viết thành một bài giáo lý, tự mình viết.
[7:05]Và mình trao đổi với huynh đệ rồi mình nộp vào ban điều hành. Để làm chi vậy? Phải chêm tiếng Anh vô. Để sau này mình có vừa có ngôn ngữ, có lý luận, vừa rèn luyện chữ viết cho đẹp. Viết bằng tay nha, cấm gõ máy à. Gõ máy là quỳ nhang à nha, quỳ nhang điện à. Nên viết bằng tay, luyện chữ đẹp, luyện văn, luyện tiếng Anh, vì sẽ có lúc ta dùng nha. Nước lúc này đã đã đã đã ráo riết đẩy cái gọi là tiếng Anh vào thành ngôn ngữ thứ hai. Nên cái người mà mình không sử dụng được tiếng Anh một mai này mình sẽ bất lợi nhiều thứ, bị lạc hậu, bị bất lợi. 5 năm nữa thôi, 10 năm nữa rồi thấy liền, thấy mình bị tụt hậu, mình không còn cơ hội nhiều.
[7:48]Cho nên làm cái gì ráng sử dụng tiếng Anh, nhắn tin cho nhau huynh đệ là phải có chêm tiếng Anh ở trong. Hai ngày nay rất nhiều người nhắn tin cho Sư phụ thiếu cái này. Nhưng mà Sư phụ bận quá, để đó, ghim để đó, sau này tính sổ nha. Không phải, nhắn tin phải chêm tiếng Anh vào trỏng à, nha. Rất nhiều người, hai bữa nay tự nhiên quên ha, tự nhiên gọi là lách lách lấy cơ hội, lợi dụng cơ hội thấy Sư phụ bận cái là nhắn tin không tiếng Anh, tàn nhẫn như vậy đó, ác như vậy.
[8:23]Sư phụ nói sơ chút xíu, rồi tự mọi người phải hiểu, viết thành 14 bài giáo lý, để sau này mình đi giảng cho người khác nha. Một là cái gì? Làm phước, nha. Làm phước. Cái chuyện làm phước này không, người ta giảng thành một ngàn bài giảng. Mấy chục năm trời Sư phụ đi giảng cũng chỉ là nói tới làm phước nè, gạch đầu dòng thứ nhất, nhiều vấn đề. Mà làm phước tức là giúp người khác, mà giúp người khác gì? Từ cái thấp nhất: miếng ăn, miếng mặc, vật chất cho tới tinh thần, học nghề cho tới khi tu tập, cho tới khi giác ngộ luôn. Cái làm phước, cái vực của nó rộng như vậy. Cho nên khi ta hiểu phải làm phước, ta phải hiểu cái vực làm...
[8:58]làm phước tức là giúp chúng sinh đó, mà giúp cái gì? Giúp từ cái thấp nhất là miếng ăn cho tới giác ngộ. Cái cái đoạn đường nó rất là lớn, cái vực, cái lĩnh vực đó, cái vực rất là lớn mà ta phải hiểu. Ví dụ nói hôm nay mình giúp người khác học nghề, cái học nghề bao nhiêu vấn đề phải nói. Hoặc là mình nói mình giúp người khác mà kiếm việc làm, bao nhiêu việc vấn đề ở trong đó. Hoặc mình nói mình giúp người khác quy y Tam Bảo, biết bao nhiêu điều phải thuyết phục, phải lý luận người ta người ta mới tin để quy y Tam Bảo, không phải dễ. Cho nên chỉ có gạch đầu dòng làm phước này thôi là ta tốn mấy chục năm để hiểu về nó, không phải dễ tí nào.
[9:37]Cái gạch đầu dòng thứ hai là: Lễ kính Phật là là công đức nền tảng. Có mấy chữ à, dễ không? Bài này chắc dễ nhất ha? Không dám đâu, bài này mới là bài khó, đây là căn bản rất là lớn. Mà để hiểu lễ kính Phật thế nào cho đúng thì hẹn tới lễ Thành đạo, Sư phụ sẽ gói những cái ý nghĩa này trong cái bài cảm niệm của lễ Thành đạo. Lúc đó ta sẽ hiểu ta lễ kính Phật với cái tâm như thế nào, với cái tâm nguyện như thế nào trong cái ý nghĩa này về lễ kính Phật kỳ lễ Thành đạo. Cho nên lễ Thành đạo năm nay nó không còn giống như mọi... cái bài cảm niệm không còn giống như mọi năm là cứ ngồi đó nghe ở trên
[10:20]quý thầy đọc xong, ở dưới đọc lại, trên đọc, dưới đọc lại, rất là sung sướng. Năm nay không có nhàn hạ như vậy nữa, nha. Năm nay sẽ cực khổ hơn rất nhiều. Nên nếu năm nay mà lễ Thành đạo này ai về dự lễ Thành đạo sẽ rất là vất vả, rất là khổ sở nha. Chuẩn bị tinh thần.
[10:42]Cái gạch đầu dòng thứ ba là: hoàn thiện đạo đức nội tâm. Thì cũng mấy chục năm trời Sư Phụ giảng là cái này không. Quá chừng giảng, mọi góc cạnh, làm sao mà mình nhìn tới khía cạnh gì nó cũng cũng thành ra cái đạo đức để mà ta phải phải thực hiện. Nó nhỏ nhặt như là một con kiến vậy đó, như một sợi tóc đều phải thấy được cái ý nghĩa đạo đức trong đó hết.
[11:08]Nhiều, vô số điều mà hôm nay Sư Phụ không lặp lại nổi tại vì quá nhiều vấn đề. Nhưng mà khi ta có đạo đức, ta có trí tuệ thì ta soi hết mọi điều trong cuộc sống của mình và trong mọi người vậy. Không không nói hết được. Nhưng mà cái ý nghĩa giá trị của đạo đức là gì? Tâm chúng ta vốn là tán loạn, bị mênh mông trời đất ra hết. Thì cái giá trị của cái tâm thiện, tâm đạo đức chính là gom cái vọng tưởng lại gần về gần nơi bản ngã. Nhớ như vậy. Về gần nơi bản ngã. Cái tâm loạn, cái tâm bất thiện, cái tâm không có đạo đức là cái tâm tán loạn đi tung hết cả trời đất. Nên muốn nhiếp tâm thì phải gom lại.
[11:50]Nhưng mà mà gom lại thành một cái trụ cột nơi chính bản ngã để nhiếp vào Định không phải là một giờ, một phút mà được liền. Mà nó là cả một thời gian gom hết những cái tâm tán loạn mênh mông khắp trời đất gom lại dần, gom lại gần lại từ từ lại chứ chưa vào Định được. Và gom lại về ở đâu? Về gần với bản ngã. Nhớ giùm câu đó. Bản ngã. Thì bản ngã ta nó nhiều tầng. Khi mà ta tán loạn tâm, ta suy nghĩ tùm lum thì ta không thấy bản ngã mình đâu. Biết mình có bản ngã nhưng không thấy đâu cả. Thì chính cái tâm đạo đức, cái tâm thiện á nó gom những cái tâm tán loạn nó về dần về dần về. Thì cái tâm thiện lành của ta là cái tâm là vây quanh bản ngã, về gần tới bản ngã.
[12:36]Ơ vậy bản ngã là cái điều tốt đẹp hả? Bản ngã là điều tốt đẹp nếu ta biết sử dụng. Còn ta trong bản ngã chứa đầy những cái kiết sử, những cái bản năng bất thiện. Nhưng chính nơi bản ngã cũng là nơi để ta diệt trừ bản ngã. Mà ta có một bài trong Nền Tảng Đạo Đức là cái bài gì? "Ôm lấy niềm đau". Ta muốn diệt bản ngã thì ôm lấy bản ngã, an trú nơi bản ngã chứ không phải lìa bỏ bản ngã. Thì cái tâm thiện này là cái tâm gom cái tâm tán loạn của ta hết về gần gần với bản ngã chứ chưa vào được bản ngã. Nhớ như vậy.
[13:21]Đó là ý thứ năm á là mục tiêu tối thượng của việc tu hành là đạt được vô ngã. Mà muốn đạt được vô ngã thì phải tập trung nội tâm ôm lấy bản ngã, an trú bản ngã rồi bản ngã sẽ tan biến trong thiền định. Mà quá trình chúng ta về lại với bản ngã chính là đạo đức. Chưa về được với bản ngã nhưng về gần lại lại chính là đạo đức, nhớ như vậy. Khi mà về và ta cũng nói sơ về khi mà an trú nơi bản ngã thì bản ngã chúng ta nó nhiều tầng, nhiều lớp, nhiều tâm niệm. Cái hay của Phật là Phật đưa ra khái niệm Tứ Niệm Xứ. Khi tâm ta thanh tịnh thì cái bản ngã đầu tiên mà ta sẽ nhận ra trước chính là cái thân này.
[14:07]Nói về việc mà quán thân vô thường là một phép quán trong thiền định nhưng mà cái quán này nó không phải là cái chứng, nó không phải là kết quả. Mà ta vì tin Phật, vì thấy Phật chứng minh nó rõ đúng như vậy nên ta tác ý. Cái đó là phép quán chiếu trong thiền định đó. Thiền định có hai cái: Chỉ và Quán. Thì cái quán thân vô thường là phép quán để nó tạo thành sự tỉnh giác. Còn cái bản ngã đó mà Phật nói trong Tứ Niệm Xứ nó cũng nói về thân, cũng nói về thân. An trú nơi thân và cái thân đó là bản ngã. Nhưng cái an trú nơi thân trong Tứ Niệm Xứ là sự chứng, là một kết quả của thiền định. Nó khác với cái quán chiếu của ta về cái thân vô thường là chưa phải
[14:51]kết quả mà chỉ là một cái sự dụng công của chánh tinh tấn. Hai cái này nó tế nhị lắm á. Nói nó dễ bị nhầm lẫn. Nhưng mà ta tu thiền ta phải hiểu rồi sau này mình còn dạy người khác. Ai ngồi thiền rồi cũng phải để cái tâm sau này dạy người khác. Nhớ giùm Sư Phụ cái tâm nguyện đó nha. Chứ mình không có tu cho mình nha. Không có chuyện tu cho mình đâu. Tại vì đời Sư Phụ gặp rất nhiều người chứng thiền rồi chết trong quên lãng. Uổng vô cùng uổng. Uổng quá chừng đi. Nên Sư Phụ mới căn dặn đệ tử của mình vậy. Mỗi giờ phút ta tu tập là vì chúng sinh mà tu chứ không phải tu cho mình, nhớ như vậy. Còn kết duyên lành với vô số chúng sinh để hóa độ
[15:35]chứ không phải là ngồi yên mà tu cho một mình mình. Thì cái chỗ này trở lại cái thân vậy. Khi ta quán thân vô thường, đó là sự dụng công trong chánh tinh tấn, chưa có kết quả. Còn khi ta an trú được toàn thân tự nhiên trong Tứ Niệm Xứ là một loại chứng, là một kết quả buổi đầu. Kết quả buổi đầu khi tâm ta bắt đầu có sự thanh tịnh, có sự tỉnh giác thì tự nhiên cái cảm giác nó hiện rõ toàn thân mình một cách tự nhiên. Làm cho vọng tưởng rất là khó khởi. Và lúc đó ta vung tay, bước chân gì thì mình đều cảm giác được cái thân của mình hết. Đều cảm giác được toàn thân. Lúc ta lao động, ta làm việc cái gì,
[16:15]ta đang nói chuyện cái gì đều không có rời cái thân mình. Cái cảm giác ta đều nằm nơi thân của mình hết. Đó gọi là quán thân trên thân. Phật gọi là quán thân trên thân là đã là kết quả rồi. Rồi cái cái một cái bản ngã nó sâu hơn nữa là không còn phải thân nữa mà là chỉ là một cảm giác thôi. Cái "ta" chỉ còn lại là một cảm giác, ha. Nó cũng ở nơi thân, cũng ở nơi thân nhưng không còn đó là cái thân mà ta cảm nhận cái da thịt, xương như như cái phần thô lúc trước nữa. Cái phần mà kết quả đầu tiên ta cảm nhận được cái thân của mình, co tay, duỗi chân thì ta đều biết thân mình nhưng ta vẫn nhận nó là
[16:54]một cái thân thô, thân tứ đại, thân vật chất, thân vật chất. Còn khi mà tâm ta yên hơn thì cũng bắt đầu cái bản ngã ta nó không còn là cái thân nặng nề vật chất mà nó trở thành một cảm giác vô hình cũng ở nơi thân. Thì lúc đó đi, đứng, nằm, ngồi, nói năng gì cũng lúc nào cũng thấy cái cảm giác nơi thân đó. Thấy cái này cái bản ngã cảm thọ, cái cảm giác một cái "ta", một cái "ta". Còn cái mà ta quán chiếu thọ là đau khổ, thọ là vô thường là cái quán chiếu của dụng công trong chánh tinh tấn. Còn cái mà ta cảm nhận cái thọ, cái mình là một cái thọ thường xuyên, đó là kết quả của thiền định. Hai cái đó khác nhau.
[17:41]Cứ nghe thấy giống giống nhau nhưng sự thật là hai cái đó khác nhau. Cái này ta bị lầm cả mấy ngàn năm nay bị lầm. Còn họ bị nói là tới khi mà ta định sâu hơn thì ta thấy cái bản ngã mình là cái tâm. Nó không còn là cái thân vật chất nữa, cũng không còn là một cái cảm giác nữa mà thấy rõ cái bản ngã là cái biết trong sâu thẳm cũng nơi thân này, cũng không có lìa cái thân này. Cho nên trong quá trình tu tập mà ta cứ bỏ cái thân ra là ta đã mất chánh niệm, mất tỉnh giác. Lúc nào nơi thân. Nhưng ban đầu là cái thân vật chất rồi một cảm nơi thân cái cảm giác và nơi thân cái biết, cái biết sâu thẳm.
[18:25]Thì khi ta ví dụ nói là quán tâm này là vô ngã hay quán tâm này là vô thường, cái quán chiếu đó gọi là dụng công của chánh tinh tấn. Còn cái mà an trú nơi chính mình mà cái chính mình đó bây giờ là cái tâm thì đó là kết quả của thiền định ở mức độ rất là sâu. Còn quán pháp trên pháp thì đã vượt qua bản ngã rồi. Cái "ta" bây giờ là chân lý của vũ trụ, đó là giai đoạn chứng hẳn rồi. Đó, nhớ như vậy. Đó là gạch thứ sáu. Gạch thứ bảy là sau khi hoàn thiện đạo đức thì thực hành thiền định với phép Chỉ và Quán. Chỉ là kỹ thuật, Quán là quán chiếu, là lý luận. Chỉ là kỹ thuật thì nó gồm có những điều gì?
[19:15]Biết toàn thân, phải không? Gì nữa? Biết hơi thở nhẹ nhàng mà không cố gắng điều khiển. Rồi biết ở phía dưới, dưới bụng. Rồi gì nữa? Rồi bắt đầu thở hơi thở chậm, ít, êm. Cái này quan trọng vô cùng. Cái hơi thở chậm, ít, êm quan trọng. Tại vì nếu ta không biết nó sau này ta bị quậy á. Sau này ta có ngộ đạo rồi ta bị quậy á nếu không giữ được hơi thở chậm, ít, êm. Và cái đỉnh cao của Chỉ là gì? Tìm được chỗ mà hơi thở dính với tâm ở dưới bụng á. Chỗ đó nó thanh thản, nó nhẹ nhàng, nó là đầu mối của tâm. Phải tìm cho ra chỗ đó. Đó là đỉnh cao của Chỉ, tức là kỹ thuật.
[19:59]Vì sau này khi mà ta buông hết mọi cái lý luận, mọi cái Quán rồi thì ta chỉ còn tu với Chỉ thôi. Chỉ còn cái Chỉ để tu. Lúc đó cái Quán hết dùng. Lâu lâu mới dùng. Tại vì sao vậy? Bởi vì cái Quán là lý luận. Lý luận là thân này là vô thường, thân này là bất tịnh, tâm mình tội lỗi, chấp ngã. Nhận ra tới đó thì là đỉnh cao của của của lý luận về quán chiếu. Nhưng mà nó cũng là lý luận. Như hôm trước ta nói một ông tăng sinh ổng ngộ đạo ổng la lên á: "Tôi ngộ rồi! Tôi ngộ rồi! Ni cô cũng là nữ." Tức là cái lý luận mà ta dùng để tu hành, ta dùng để quán chiếu, ta dùng để tạo nên sự tỉnh giác cũng là vọng tưởng.
[20:45]Nằm trong chín loại vọng tưởng mà ta đã liệt kê. Thì khi mà ta thực hành
[20:54]Chỉ và quán như vậy thì nó có xuất hiện cái sự tỉnh giác. Cái sự tỉnh giác này nó tùy người mà xuất hiện ít hay nhiều, sâu hay cạn, sáng hay là chưa đủ sáng. Mà cái chức năng của sức tỉnh giác là thấy được nội tâm của mình, thấy được chính mình, thấy được nhiều thứ lắm, sức tỉnh giác. Nhưng mà ban đầu là thấy được chính lại vọng tưởng, để chuẩn bị mà ta buông hết mọi vọng tưởng đó, giống như là ta xô được cái cổng thành bước vào cái thế giới của thiền định bên trong. Thì cái giai đoạn mà ta thấy được vọng tưởng để bước vô bên trong thì cũng có người nhanh, có người chậm. Có người đẩy cái cửa đó đi qua cũng phải bao nhiêu năm trời.
[21:44]Có người cửa nó mở sẵn bước vô luôn. Đó là tùy căn cơ đời trước, ta cũng không có kết luận là lâu hay mau. Nhưng mà cái quan trọng là không bị vọng tưởng lừa nữa. Mà cái không bị vọng tưởng lừa là tới chín loại. Trong đó kể cả những loại tình cảm, thương, ghét ở trong luôn. Và cái cuối cùng, cái lớp vọng tưởng cuối cùng chính là nykō, nghĩa là những lý luận về sự tu hành. Trong đó cái kể cả cái lý luận quán chiếu, à. Ta cũng phân biệt ra hai loại, nói là những cái ý niệm thiện và cái quán chiếu thấy thân này là vô thường, thế giới là tạm bợ, thấy mình là vô minh tội lỗi. Cũng cả hai đều là tư tưởng khác nhau chỗ nào?
[22:30]Thì cái khác nhau ở chỗ là cái tâm thiện cho ta cái bản chất đạo đức, xây dựng cho ta cái đạo đức để gom bao nhiêu cái vọng tưởng gom về lại gần với bản ngã. Còn cái quán chiếu, lý luận quán chiếu, à thấy thân này vô thường, thấy ta là vô minh tội lỗi, là để tạo nên sức tỉnh giác. Hai cái đó nó khác nhau như vậy. Nên đều là lý luận. Ừ. Mà cái lý luận quán chiếu nó tạo nên sức tỉnh giác,
[23:02]nó có công lớn để đưa ta vào thiền định là cái lý luận quán chiếu á. Nhưng mà như Phật dạy qua sông rồi phải bỏ bè. À. Cái lý luận quán chiếu đó đưa ta đến với sức tỉnh giác, sức tỉnh giác nó bắt đầu nó nhìn lại nó thấy cái lý luận đó là cục nợ. Nó là kẻ có công nhưng cũng là cục nợ, ta phải bỏ đi. Kẻ có công mà trở thành cục nợ. Đó. Nên ở trong thiền định cũng vậy mà trong thực tế cuộc sống cũng như vậy. Và đúng là cái đạo lý dạy chúng ta là điều đừng chấp công, làm rồi buông thì thế giới này mới tốt đẹp được. Trong thiền định cũng vậy, chính những cái lý luận quán chiếu dùng những cái ý nghĩ, nghĩ rằng thân này là vô thường,
[23:52]tâm này là vô ngã vân vân, lý luận đó giúp cho ta sức tỉnh giác hiện ra. Nhưng nó cũng là cục nợ, phải buông luôn. Trong thiền cũng vậy mà ở trong xã hội, quốc gia cũng vậy. Con lấy khăn quấn cổ hông con? Hồi nãy nhảy mũi làm sư phụ hết hồn, đang giảng tự nhiên hắt xì hết hồn. Lấy khăn quấn cổ cho cho cho... À.
[24:28]Cái thú vị kế tiếp là khi ta có sức tỉnh giác làm cho ta biết, thấy được vọng tưởng. Mà khi ta có sức tỉnh giác, ta thấy được vọng tưởng thì vọng tưởng nó không tiếp tục được nữa, tự nó tan. Cái chỗ này là chỗ mầu nhiệm, chỗ vi diệu là chìa khóa của thiền định. Khi ta biết được vọng tưởng thì vọng tưởng nó tan. Đây là chỗ mầu nhiệm của thiền định, cái chìa khóa của mọi cánh cửa đi vào thiền. Ta xô được cái cổng thành để ta bước vô trong cái thành đó là gì? Chính là chỗ này. Thấy được vọng tưởng thì vọng tưởng nó tan. Nhưng có rất nhiều vấn đề ngay cái chỗ thấy được vọng tưởng. Hễ ta thấy được vọng tưởng, vọng tưởng nó tan,
[25:09]ta thích quá, ta cứ canh để thấy vọng tưởng. Vọng tưởng nó khởi ở đâu? Khởi trên đầu. Và nếu ta canh để thấy vọng tưởng thì tâm ta chú ý ở đâu? Trên đầu và ta mất cái chân âm. Mà đây là điều bất ngờ. Cái gốc của tâm nó không nằm trên đầu mà gốc của tâm lại nằm ở ở dưới bụng. Đó là lý do khi ta hiểu cái nguyên lý này, tu thiền ta chỉ an trú dưới bụng mà thôi, không ở trên đầu. Và tự nó biết, không biết thì thôi. Mặc dầu không biết được vọng tưởng khởi là sai mà cứ cố ý muốn biết vọng tưởng cũng là sai. Cái chỗ trung đạo này là một sự thông minh, một sự khéo léo, không phải ai cũng thực hành được.
[25:56]Đó là lý do coi vậy chớ ta cũng cần thông minh để để tu thiền là như vậy. Không biết được vọng tưởng, vọng tưởng khởi lên không biết là sai mà cố ý để biết vọng tưởng cũng sai luôn. Vọng tưởng khởi ở trên đầu nên rình canh trên đầu là phải là sai, phải để tâm ở dưới bụng mà vẫn phải biết được vọng tưởng trên đầu. Cái chỗ này làm đòi hỏi một sự khéo léo vô cùng. Nên chỉ những người khéo léo, thông minh mới thực hành được cái chỗ này. Còn nếu không thực hành được chỗ này là đi sai, đi lạc. Không bao giờ. Ta tràn đầy yêu thương một cách sâu đậm, một cách sâu sắc, một cách tinh tế, một cách tử tế thì tất cả những điều đó,
[26:39]vô số những cái công đức ta làm đó và ta khiêm hạ, cẩn thận trong từng lời nói của mình để không bộc lộ cái sự kiêu hãnh, bản ngã, là ba điều đó, tôn kính Phật, từ bi, khiêm hạ mà đến mức độ rất là tinh tế thì tất cả những điều đó, ba cái điều đó nó gom lại vào tâm ta thành cái sự tinh tế trong thiền định ở chỗ này.
[27:02]Biết vọng tưởng mà không cần cố ý biết nhưng phải biết. Biết vọng tưởng trên đầu nhưng tâm đang để ở dưới bụng. Đây là một cái, đó, cái cái cái khó đó, cái tinh tế đó nó nằm ở trong đời sống của ta, thành cái phước để đi vào vào nội tâm ta. Ừ. Mà khi mà ta biết vọng tưởng, vọng tưởng nó tan. Nó không phải tan vào hư vô, nó không phải tan vào hư vô.
[27:36]Nó phải ngồi uống nước một cái.
[27:48]Mấy cái bài thiền này ngồi nghe dễ ngủ ha. Bắt đầu trình mây đồ.
[28:04]Thí dụ người ta nghe thế này: à vật chất rồi ta nghiền cái vật chất đó ra thành hạt bụi. Ta nghiền hạt bụi nó đến nhỏ như là gần như không rồi ta nghiền nó nhỏ thành hư không luôn, nó mất tiêu. Lý luận đó đúng không? Đúng không? Không. Bởi vì ta hiểu rằng không có cái chuyện vật chất mà nó mất kiểu đó. Dù nó nhỏ đến tận cùng mà ta đập vỡ nó rồi là cả cái căn nhà này sụp đổ. Năng lượng nó thoát ra. Sập đổ căn nhà, mà nếu nó chỉ kình cục bằng ngón tay, nó sập cả thành phố á. Nên không có chuyện mất đi. Mà vật chất nó là nó là năng lượng. Nó là năng lượng. Chưa bao giờ ta đập được mấy cái cái cái cái vật chất nào mà nó tan hết trơn.
[28:55]Vì đó là một sự kết tụ của năng lượng rất là khủng khiếp nên không có chuyện mất đi. Thì vọng tưởng của ta cũng vậy. Khi ta biết nó, nó tan thì nó thành năng lượng. Thành năng lượng thế nào? Lập tức nó rơi xuống thân ta, nó thành cái biết rất là rõ toàn thân. Đó là lý do mà Phật dạy chúng ta biết toàn thân. Cảm giác toàn thân tôi thở vào, cảm giác toàn thân tôi thở ra. Thì cái biết toàn thân đó là một loại năng lượng. Cái biết đó là một loại năng lượng. Thôi ngồi xuống đi con. Con đứng đứng con che mấy người phía đằng sau. Cái biết toàn thân là một loại năng lượng, một cảm giác rất rõ ràng. Cái vọng tưởng của ta nó khởi lên, nó chút xíu à, khởi lên thoáng thoáng trong đầu à.
[29:42]Mà khi ta biết, nó dừng một cái thì tạo thành một cái biết toàn thân rất là mạnh và rất là rõ. Sư phụ vừa nói cái chữ rất là mạnh, rất là rõ. Nên lúc đó khi mà ta ngồi thiền hoặc là trong đời sống ta đi, đứng, nằm, ngồi mà ta biết được vọng tưởng thì nó không mất. Biết thì nó tan liền nhưng đừng tưởng là thành hư vô, không có. Ngay lập tức nó trở thành năng lượng nó rớt xuống thân, nó an trú toàn thân, làm cho cái biết toàn thân của ta rất mạnh và rất rõ. Và chính cái rất mạnh và rất rõ đó, nó lại giữ cho tâm ta không loạn. Cho nên cái người mà lúc nào cũng biết toàn thân, cái người đó không bị loạn động.
[30:22]Vì cái cảm giác toàn thân như vậy nó trở thành cái tuần hoàn lành tính. Là khi không có vọng tưởng thì ta biết toàn thân, mà khi ta biết toàn thân thì ta không có vọng tưởng. Mà khi ta không có vọng tưởng thì ta biết toàn thân, khi ta biết toàn thân thì ta không có vọng tưởng. Đây là một vòng tuần hoàn lành tính, một vòng tuần hoàn thiêng liêng. Đó lý do là ta buông được vọng tưởng hay thấy được vọng tưởng, vọng tưởng nó tan thì trở thành cái năng lượng an trú nơi toàn thân ta. Đây là chìa khóa. Đây là chìa khóa để ta vào thiền là vậy. Chứ không phải là hết vọng tưởng là không có gì, không phải.
[31:01]Vọng tưởng tan một cái là lập tức toàn thân hiện ra liền, biết toàn thân rất rõ. Đi, đứng, nằm, ngồi gì cũng biết toàn thân. Là ta rơi vào đúng cái gì?
[31:14]Quán thân trên thân của Tứ niệm xứ là nó, chính là ngay chỗ đó đó, vậy đó.
[31:28]Ngay chỗ này là bắt đầu ta xô cửa thành để bước vào trong. Ta bắt đầu xô cửa thành để bước vào trong, nhưng bước vào trong rồi mới rất nhiều chuyện rắc rối. Và hôm nay ta nói về cái chuyện mà ở trong thành. Nãy giờ là sư phụ ôn lại cái quá trình mà đi ngoài rừng đi vô từ từ, nhưng bắt đầu hôm nay nói về chuyện đi trong thành. Hết bao lâu rồi ta? Gần... ừm... 40 phút là nhập đề đó, giờ bắt đầu mới vào thân bài.
[33:01]Già rồi nó vậy đó.
[34:06]Khi ta có sức tỉnh giác á thì ta thấy được vọng tưởng, khi thấy vọng tưởng, vọng tưởng tan thì tâm ta an tĩnh, ta vào định từ từ. Vào định thì nó sâu theo theo bốn cái mức thiền. Nhưng mà khi tâm ta an tĩnh thì nó cũng tạo lại sức tỉnh giác, mà khi sức tỉnh giác thì làm cho tâm ta an tĩnh, cái này gọi là vòng tuần hoàn lành tính một lần nữa. Như nãy chúng ta nói á là
[34:30]vọng tưởng tan thì cái biết toàn thân nó rõ, mà biết toàn thân nó rõ thì là vọng tưởng nó tan, vọng tưởng tan thì biết toàn thân nó rõ, cũng là một loại vòng loại tuần hoàn lành tính. Đây cũng vậy, khi ta có sức tỉnh giác thì ta biết vọng tưởng, vọng tưởng tan thì tâm ta an tĩnh, mà tâm ta an tĩnh thì nó làm cho sức tỉnh giác lại tăng trở lại, mạnh trở lại. Đây cũng là một loại vòng tuần hoàn lành tính.
[34:54]Để ý cái chữ tĩnh này dấu dấu hỏi, chữ tĩnh này dấu ngã nha. Này tâm an tĩnh, nói kiểu giọng Bắc. Sức tỉnh giác, nói theo giọng Bắc. Còn miền Nam thì hai tĩnh nói giống nhau. Thầy kiếp trước Bắc Kỳ cho nên...
[35:16]Hồi nhỏ sư phụ mê giọng Bắc lắm. Có cô hàng xóm người Bắc cứ ngồi cứ nghe cô nói chuyện hoài. Mấy cái người Bắc 54 á, quanh hàng xóm ai cũng có... chung quanh là hàng xóm toàn Bắc không hà. Thì khi mà tâm mà vào càng sâu đó thì vô số điều nó xuất hiện. Chính những vấn đề ở phía sau này mới là nhiều. Cái hồi trưa ăn cơm với sư Bác, sư phụ cũng nói một vài điểm ở chỗ này. Thầy cũng nói lý do tại sao mà mà người ta vào thiền rồi người ta sai là vậy, phạm sai lầm. Cái phạm sai lầm thứ nhất là...
[36:03]Cái phạm sai lầm thứ nhất là cái sức tỉnh giác á. Sức tỉnh giác là cái gì ta không được nói tới, không được nhìn tới,
[36:14]mặc dù nó là công cụ. Cho nên khi ta cứ... Mà cái sức tỉnh giác này có nhiều tên, nhiều khi ta gọi nó là gì? Chân tâm, rồi Phật tánh, rồi kiến tánh, gì đủ thứ á. Ông chủ nhân, gì đủ thứ hết trơn á. Nhiều cái tên hoa mỹ. Và càng tên hoa mỹ chừng nào thì càng chết chừng đó, làm cho ta làm cho ta cái gì? Kiêu mạn.
[36:42]Nên đây là chỗ mà ngài Hy Thiên Thạch Đầu bịt miệng ông Bàng Long Uẩn. Khi ông đến ông hỏi kẻ chẳng cần muôn pháp làm bạn là ai, ngài bịt đầu bịt miệng ổng một cái, ổng ngộ đạo liền. Chỗ đó không được nói tới, không được nhìn về nó. Nhưng cái sai lầm đầu tiên của tất cả mọi người chứng thiền là cứ chiêm ngưỡng sức tỉnh giác này.
[37:23]Mọi người nhớ giùm sư phụ cái lỗi...
[37:27]Cái lỗi đầu tiên của thiền định là chiêm ngưỡng cái sức tỉnh giác khi tâm ta có sức tỉnh giác. Nhớ giùm. Tội lỗi rất là nặng nha, cái sai rất là lớn á, chiêm ngưỡng sức tỉnh giác.
[37:44]Khi ta đã có sức tỉnh giác rồi và cái sức tỉnh giác nó giúp ta kiểm soát tâm hồn mình, giúp ta kiểm soát vọng tưởng rồi, nhưng ta nói về nó, ta chiêm ngưỡng nó, ta nhìn nó là một sai lầm rất là lớn.
[38:07]Vậy lúc đó ta làm gì?
[39:45]Hôm nay có thể là nhiều người đã có cái trạng thái của cái tỉnh giác, yên tĩnh thì nghe bài này sẽ rất là ích lợi. Có những người chưa vào đây được, chưa vào được trong cổng thành, nhưng hôm nay sư phụ nói trước. Tại không phải lúc nào cũng có người bên cạnh mình để nhắc nhở nhớ những điều này để sau này mình tránh cái lỗi lầm.
[40:07]Đầu tiên là tránh cái lỗi về sức tỉnh giác. Không được nhìn về sức tỉnh giác, không được quan sát, không được chiêm ngưỡng cái sức tỉnh giác đó, cấm kỵ, cấm tuyệt đối luôn. Tại vì sao vậy? Vì là Phật, các thiền sư gọi là đầu lại thêm đầu.
[40:27]Lúc đó ta chỉ được cái gì? An trú nơi chính mình, mà cần thì khởi thêm cái tác ý lý luận lại: Chính mình là vô minh, tội lỗi. Chỉ vậy thôi. Và còn cái chính mình đó, có khi nó đang là thân vật chất, có khi nó là một cảm giác vô hình, có khi nó là cái biết sâu thẳm. Vậy thôi, chứ không được chiêm ngưỡng cái sức tỉnh giác này, không được nói tới, không được trải... À còn cái nữa, còn cái rỗng rang. Khi mà tâm đã yên tĩnh rồi thì nó xuất hiện cái trạng thái rỗng rang. Cái rỗng rang này trong khi ngồi thiền ta dễ bị, và trong đời sống ta cũng dễ bị, mà chăm chăm nhìn vô nó là chết nha. Nó gọi là một loại hưởng thụ phước, mà chạy ra ngoài.
[41:18]Cái trạng thái rỗng rạ rang đó cũng là một cái chạy ra ngoài, rời khỏi bản ngã. Mà hễ rời khỏi bản ngã thì không bao giờ đạt được vô ngã, mà chỉ làm cho bản ngã lớn lên. Đây là nguyên tắc. Cho nên khi ta ngồi thiền tự nhiên tâm mình trống rỗng hết, rồi mình ngồi mình an hưởng cái đó rồi không đi tới đâu, ít bữa mất, là bởi vì hưởng cái phước đó. Cấm kỵ cái trạng thái rỗng rang. Mà chỗ này người ta cưỡng lại nổi không?
[41:50]Từ xưa tới giờ ít ai cưỡng lại nổi. Từ xưa tới giờ ít ai cưỡng lại nổi, khi vào được thiền rồi, hiện cái trạng thái rỗng rang ra rồi mà khước từ nó, tiếp tục an trú nơi chính mình. Mà lúc đó cái hơi thở chậm, ít, êm nó cứu mình đó. Lúc đó cái hơi thở mà nó dính với tâm nó cứu mình, bám chặt nơi đó để không bị chiêm ngưỡng sự tỉnh giác, không bị chiêm ngưỡng cái trạng thái an trú cái rỗng rang này, chỉ giữ chặt cái hơi thở chậm, ít, êm nơi chính mình sâu thẳm đó, không buông ra. Chỗ này làm nổi không? Không ai làm nổi hết. Vì nó hấp dẫn vô cùng, nó vi diệu vô cùng, nó thanh tịnh, nó mầu nhiệm, nó thiêng liêng.
[42:33]Ta buông tay hết á. Lúc đó ta không giữ được cái hơi thở nhỏ nhiệm, chậm, ít, êm nơi chính mình để mà tránh nó nữa. Ta bị an trú vào đây, ta rời khỏi cái bản ngã mình và cái để chiêm ngưỡng cái này và bản ngã nó lớn lên liền, nó không thu lại, không đi về vô ngã nữa mà bắt đầu bản ngã đang phát triển trở lại, cái phước ta đang tổn trở lại. Cái chỗ này thường không ai cưỡng lại nổi. Nếu không có một bậc thầy sáng mắt chỉnh chỗ đó, nhắc chỗ đó, tất cả đều chết vì chỗ này hết.
[43:10]Giờ cái trạng thái thanh tịnh của mình, tâm trong cái yên yên lặng, hư vô không có chỗ bám đó, ta ta thụ hưởng cái trạng thái đó, và ta rời khỏi bản ngã, rời khỏi chính mình để không còn thấy mình là vô minh tội lỗi nữa. Lúc này là nó đang tự khen mình. Lúc này là những cái trạng thái khi ta an trú những cái này, ta an trú những cái này thì cái tâm ta tự kiêu mạn, tự khen mình, là những cái kiêu mạn nó cứ khởi lên.
[43:42]Thêm cái trạng thái hỷ lạc, nó hạnh phúc, an lạc.
[43:48]Lúc đó não ta tự nó tiết ra dopamine rất là mạnh, ta hạnh phúc vô cùng và tất cả cái này giết chết ta, làm ta không tiến nữa. Bỗng nhiên bản ngã ta từ từ tăng lại. Chỉ những người rất có căn lành, chỉ những người biết tôn kính Phật tuyệt đối, biết lễ kính Phật tuyệt đối, biết yêu thương chúng sinh, phát nguyện xây dựng một tinh cầu giác ngộ, lúc đó có cái phước cưỡng lại, giúp chúng ta không bị an trú bởi những cái này, giúp cho chúng ta níu chặt cái hơi thở chậm, ít, êm, nhỏ nhiệm của mình nơi chỗ mà tâm với hơi thở dính nhau, giữ chặt núp trong đó kỹ luôn để tránh thoát những cái trạng thái này, thì còn đi qua được, còn đi qua được.
[44:29]Còn không ta rời khỏi cái hơi thở chậm, ít, êm, ta rời khỏi cái chỗ hơi thở dính với tâm, ta rời khỏi cái ý niệm mình là vô minh tội lỗi, thì ta rơi vào ta trạng thái những cái chiêm ngưỡng những cái này. Rồi không tiến xa được nữa, rồi luẩn quẩn đâu đó cái tâm động lại, loạn lại. Mà nếu khi ta đạt được kết quả thế này rồi ta bị những cái này, thì hoặc là ngay trong kiếp này ta lui lại, trở thành một phàm phu bình thường, hoặc qua kiếp sau, hoặc qua kiếp sau nữa, hoặc qua mười kiếp sau nữa loạn trở lại, làm những người phàm phu tầm thường. Sư phụ gặp được nhiều người như vậy rồi. Có nhiều người đến họ khoe cái công phu:
[45:11]"Trời, lúc trước tôi ngồi thiền nó như thế này thế kia." Ổng nói chữ "lúc trước" thì nhìn mặt ổng biết bây giờ hết rồi. Hết rồi. Tại vì sao? Bởi vì chiêm ngưỡng những cái này.
[45:24]Và có những người thì không có nói kiếp trước, không có nói lúc trước, nhưng là những người từng là thiền sư, bây giờ tái lai lại cũng là những người bình thường, hoặc có khi là cư sĩ, có khi được xuất gia, nhưng không còn kết quả thiền định nữa, chỉ bởi vì ở cái kiếp mà chứng được thiền định bị chiêm ngưỡng, an trú, tận hưởng những điều này, không nắm được cái hơi thở chậm, ít, êm, làm cho bản ngã tăng lên, kiêu mạn xuất hiện, tức là tổn phước. Ba kiếp sau, năm kiếp sau, thậm chí mười kiếp sau rơi trở lại thành những người tầm thường. Rất nhiều người ngồi ở đây, trong hội chúng này, kể cả là người là xuất gia và những người tại gia,
[46:10]cũng là những người đã từng chứng thiền ở kiếp trước, nhưng bây giờ trở lại đây ngồi đây trước mặt sư phụ mất hết, không còn gì hết.
[46:22]Không còn gì còn đỡ, có những người hư luôn, có những người rất hư. Chỉ bởi vì thế.
[46:33]Nên hồi nãy sư phụ nhắc đi nhắc lại đó là tuyệt đối cấm chiêm ngưỡng, nói về cái này.
[46:44]Hôm trước ra Ninh Hòa, trong một buổi tối ngồi nói chuyện thiền với Khải Tạng, bắt đầu giảng về sự tỉnh giác cho các Phật tử nghe, sư phụ chặn lại liền. Sư phụ nói: "Con mắc cái lỗi giống các thiền sư."
[46:59]Sư phụ giảng thì được, nhưng tụi con cẩn thận, vì nếu không khéo tụi con đang bắt đầu chiêm ngưỡng, trình bày, ca ngợi và rơi vào cái này: kiêu mạn. Nên đó là cái không được đụng tới, không được đụng tới, mà thẳm sâu trong nội tâm mình không được nhìn luôn. Thẳm sâu trong nội tâm mình chỉ có một điều để ta giữ gìn là gì? Nếu mà nói về kỹ thuật, giữ cái hơi thở chậm, ít, êm, chỗ hơi thở dính với tâm hơi thở rất là nhỏ. Nếu nói về quán, chính mình lúc nào cũng là vô minh tội lỗi, giữ hai cái đó cho chặt, đi cho tới tận cùng, đi cho tới tận cùng trời đất với nó.
[47:45]Sợ nhất là cái thần thông. Khi mà chúng ta đạt được an tĩnh và bắt đầu một số thần thông xuất hiện. Cái thần thông những cái thần thông đơn giản, ví dụ như biết tâm người khác, biết cuộc đời người khác, thậm chí biết túc mạng người khác, tiếp xúc được với người cõi âm, vân vân. Những cái đó nó hấp dẫn vô cùng và nó cũng giống như cái này, làm cho ta chiêm ngưỡng, ta thụ hưởng, cứ xài hoài. Đó là lý do mà Đức Phật cấm dùng thần thông. Đối vị A-la-hán thì các vị đó tự tại, biết lúc nào dùng hay lúc nào không nên dùng, các vị dùng mà không có bản ngã. Nhưng vì chưa ai là A-la-hán, nên khi ta sử dụng thần thông một cái,
[48:27]bản ngã khởi lên liền, và kiêu mạn lập tức nó xuất hiện đi theo liền. Thì cái cái mà dùng thần thông nó cũng giống như là sự thụ hưởng những trạng thái này mà nó còn nặng hơn nữa. Nên những cái vị mà họ có trí tuệ, họ có thần thông, nhưng họ không có nói, không có dùng, biết như không biết. Ví dụ họ biết một người đó nội tâm có cái gì, xấu ra sao, tốt ra sao thì họ không có bình phẩm. Chỉ dùng lòng từ bi đối xử thôi, chứ không có mà nói: "Ồ, coi chừng thằng này nó nó thằng này nó ích kỷ nha, thằng này nó dối nha." Không có ngồi mà tối ngày mà kê rê ca ca nói không ai sống với mình nổi nha. Tại mình biết người ta hết trơn rồi sợ không ai dám sống với mình được hết trơn.
[49:07]Giống như trong chuyện Pháp Cú vậy. Cái cái ông đó ổng động tâm gì là cái bà lão bả biết, bả đem thích ăn chuối bả đem dâng chuối, thích cà ri bả nấu cà ri. Ổng sợ quá ổng xách gói ổng đi, chạy về liền. Đức Phật hỏi: "Sao không ở đó mà tu?" Nói: "Con nghĩ cái gì bả biết hết trơn con không dám ở. Cái là cái riêng tư nhất, bí mật nhất." Đức Phật bắt phải lại: "Không, đi lại Bát Nguyệt Nham bây giờ." Đức Phật phải làm mặt ngầu vậy. Xin lỗi Phật, con nói Phật làm mặt ngầu, Phật không bao giờ mặt ngầu nhưng Phật rất nghiêm, bắt trở lại. Thế là ổng phải lại và rất là sợ bả tại vì bả cũng biết hết. Nhưng mà nhờ vậy rồi cái ổng chứng đạo.
[49:43]Còn bây giờ mình mình gần sống gần một người mà người đó họ biết tâm mình, mình nhúc nhích gì biết hết mình sống nổi không? Không sống nổi. Đó là lý do mà các vị họ có thần thông họ không có dùng, giống như không biết gì. Và ta sống bên cạnh họ rất là thanh thản, nhẹ nhàng, vì họ chỉ dùng cái lòng từ bi để đối xử với ta thôi, họ biết như không biết. Chứ còn cái người nào mà cứ lạm dụng những cái thần thông kiểu này là
[50:08]tổn phước, bản ngã lớn ra, nguy hiểm vô cùng. Tới khi nào mà thực sự là chứng vô ngã, lúc đó ta mới tự tại trong cái thần thông, ta dùng mà bản ngã không lớn ra. Còn nếu chưa phải A-la-hán, mình đụng tới thần thông bản ngã lớn ra liền, giống như những mấy cái trạng thái này vậy, hỷ lạc vậy.
[50:30]Đây là chỗ rất là nguy hiểm. Những cái này làm cho ta trong kiếp này mất hết kết quả thiền định, hoặc là nếu ta đủ phước quá lớn thì kiếp này không mất, mười kiếp sau mất, trở thành một người tầm thường trở lại. Sư phụ nhắc lại một lần: rất nhiều người ngồi trong hội chúng này đã từng là thiền sư, từng là người có kết quả trong thiền định nhưng bây giờ ngồi trước mặt sư phụ là những người rất bình thường, không có gì đặc biệt. Chỉ bởi vì nhiêu đây.
[51:01]Như đây.
[51:05]Thậm chí có những người điên loạn luôn vì cái kiêu mạn nó nhiều quá. Điên loạn luôn. Đây cái chỗ này làm ơn thấm giùm sư phụ nha, hiểu rất kỹ để khi mà ta đi vào những trạng thái này thì nhớ hôm nay sư phụ đã nói rồi, không phải cưỡng lại cho bằng được. Mà cưỡng không nổi, nó hấp dẫn, nó kéo tâm mình ra quá thì ngồi đó mà niệm Phật sám hối để tìm lại cái hơi thở trầm, ít, êm, nhỏ nhiệm ở dưới bụng, núp trong đó cho kỹ để tránh những cái này. Tại cái này đây là một cuộc giằng xé, một cuộc chiến tranh khốc liệt không khác gì cuộc chiến tranh vệ quốc giành độc lập. Không khác gì như vậy, sư phụ nói đến mức độ cường điệu đến như vậy á.
[51:49]Tức là khốc liệt vô cùng, vì nó cực kỳ hấp dẫn để ta kéo tâm ta chạy ra ngoài, ta an trú. Bây giờ ta không chạy ra thế gian nữa, nhưng ta chạy ra mấy cái này làm bản ngã tăng lên. Trước khi không biết tu thì ta chạy ra thế gian đủ thứ chuyện danh lợi, nhưng khi ta biết tu trong thiền định rồi, cái này cũng là những cái kéo ta đi ra ngoài khỏi bản ngã rồi làm cho ta hết phước, rồi sau đó loạn trở lại. Loạn đến mức độ nào? Một, trở thành người bình thường, tìm định lại không có nữa; hai, phát điên luôn. Chính vì những điều này. Chúng ta cẩn thận, lúc nào cũng vậy nhớ mình là vô minh tội lỗi, giữ cái kỹ thuật hơi thở trầm,
[52:29]ít, êm, hơi thở ở dưới bụng và cái quán mình là vô minh tội lỗi. Hôm nay sư phụ nói đi nói lại rất kỹ chỗ này, nhớ đi nhắc mà nhớ giùm cho sư phụ
[52:44]cho đến khi chứng A-la-hán mới được quên những điều sư phụ vừa nói nha. Không có được quên, có chết rồi cũng mang đi theo nha, nhớ như vậy. Nếu không thuộc, viết giấy. Khi mà chết nhớ con liệm bỏ tờ giấy đó giùm cho thầy vô trong túi để đem theo xuống hòm mà đọc nha, mấy cái này. Nha, chết rồi cũng phải đem tờ giấy đi theo, nghe không? Không có bỏ, tất cả điều trên thế gian này bỏ lại hết. Tiền bỏ lại, danh lợi thế gian bỏ lại, chỉ viết ra tờ giấy mấy cái chữ này đem theo bỏ vô hòm cho sư phụ rồi hãy chết nha. Chưa tìm chưa ra cái tờ giấy này tụi con không được chết, nghe không? Nha, tìm được tờ giấy rồi cầm bỏ túi rồi,
[53:19]rồi, chết thì đóng đóng hòm lại đi, tao chết rồi đó, tụi bây đóng hòm lại. Rồi lúc đó nhớ vậy nha, còn mọi cái bỏ lại hết cho thế gian, nhớ như vậy. Còn cái này nữa, cái thụ động.
[53:33]Ta nghe nói cảm giác thụ động tức là người không thích làm gì. Nhưng mà ai vào định rồi thì mới bị lọt cái bẫy này. Phật nói một câu rất nhẹ nhàng, trong cái thượng phần, năm thượng phần kiết sử của một bậc A-na-hàm có một cái kiết sử là gì? Dải đãi, lười, Phật chỉ nói chữ nhẹ đó thôi. Nhưng đó là một sự thụ động kinh khủng. Người ta nhập vào định rút rồi không còn muốn làm gì và không thấy sự tồn tại của mình và không cần thấy sự tương tác với bất cứ ai. Cả thế gian này vô nghĩa, khủng khiếp như vậy. Cả thế gian này vô nghĩa, khi người ta vào trong cái định đó rồi, cả thế gian này vô nghĩa. Và khi thấy cả thế gian này vô nghĩa thì còn muốn làm cái gì nữa không?
[54:18]Không muốn làm gì nữa, không muốn tương tác gì nữa. Và cái câu mà nói cả thế gian này vô nghĩa, đó là một tà kiến. Mà cái tà kiến đó nó phát sinh ra từ cái kiết sử thụ động rất là mạnh, do cái định nó kéo ta vào trong đó rồi. Thật sự không còn muốn làm gì nữa hết. Nhưng hồi đó họ thanh tịnh quá mà họ hạnh phúc quá. Nó vừa hạnh phúc, nó trạng thái hỷ lạc và thấy nhiêu đây đủ rồi. Thế gian này mọi thứ cần gì nữa đâu, có chết cũng được. Sống cũng được thì chết cũng được, tất cả vô nghĩa, không cần gì nữa. Và nó tạo thành cái không muốn làm gì, không thích làm gì, không cần ai. Bắt đầu từ cái thụ động này nó sinh ra cái gì?
[55:01]Sinh ra mất duyên với chúng sinh.
[55:09]Mất duyên với chúng sinh. Mất duyên chúng sinh mình nhìn dùng chữ gì ta, dùng chữ vô duyên hả? Dùng chữ vô duyên. Hết duyên hả gì đó? Thành ra về thành thử mà nếu ai mà mắng mình mà: "Đồ vô duyên!", tức là mình đang ở cấp độ rất cao của thiền định. Cái mặt tụi con đồ vô duyên, tức là tụi con ở cấp độ cao lắm mới có cái này chứ không phải dễ đâu. Cái thụ động này vì cái những cái tà kiến lúc đó nó khởi lên, ta thấy mình không thích làm gì, cái định nó rút ta lại, không khởi ý gì, không làm gì, không muốn tương tác với ai, mất luôn cái từ bi, không thương ai, nó tạo ra cái vô duyên. Hồi sáng, hồi trưa lúc ăn cơm với sư bác Nguyên
[55:51]Nguyên Giác á, sư phụ có nói câu này: Ổng chứng thiền, ổng A-na-hàm rồi, ổng thụ động, ổng dải đãi, ổng vô duyên thì kệ ổng, thân phận mình ổng, nhưng mà khổ cái ổng sẽ đem điều này ra ổng giảng. Khổ cái ổng sẽ đem điều này ra ổng giảng. Tức là ai hỏi đạo ổng sẽ nói kiểu đó: Thế giới này vô nghĩa. Thế giới này không có giá trị, không quan trọng, không cần phải tương tác, không cần phải làm gì cả. Chính ổng giảng mấy cái tà kiến đó mới giết chết chúng sinh về sau, Đạo Phật suy tàn luôn vì những con người này, vì cái lối giảng này. Và đó là lý do ta thấy có những người tu càng lúc càng cô độc, về già không có ai,
[56:32]chùa có một mình, hoặc tu nơi am vắng, nơi rừng hoang có một mình rồi chết trong cô quạnh, mặc dù có thể người đó trong tâm có cái chứng ngộ gì đó, nhưng không còn duyên với ai hết. Chết trong quên lãng và lúc sống, sống vô nghĩa, sống vô ích, không có lợi gì cho cuộc đời này, chỉ bởi vì cái này, cái tà kiến này. Cái kiết sử nó tác động, Phật chỉ nói một câu dải đãi, nhưng bây giờ ta phải hiểu sự thụ động, mà ta phải hiểu cái thụ động tột cùng của sự thụ động, mà cái thụ động tột cùng đó nó sinh ra vô số tà kiến khiến cho chúng ta tạo ra những lý luận nó gieo rắc cho mình và cho mọi người làm cho ta hết duyên với tất cả chúng sinh.
[57:14]Mà khi hết duyên với chúng sinh, không còn tương tác với ai nữa, thực sự ta sống một đời vô nghĩa, vô ích. Thấy họ chứng ngộ, nhìn thấy người đó thấy họ chứng ngộ, nhưng rồi không thấy họ làm gì lợi chúng sinh, đau vô cùng. Chứ nếu với cái tâm thanh tịnh đó mà họ được trang bị lại chánh kiến, vượt qua hết những cái điều này, nắm được những căn bản này, thì họ là một tấm gương rực rỡ cái đời sống của đạo hạnh và thiền định làm cho biết bao nhiêu người đi theo để tu tập. Nhưng chỉ bởi vì cái tà kiến nó xuất hiện trong những cái trong thiền định, cái thiền nhất là cái thụ động và cái kiêu mạn, rồi đi truyền dạy lại phá hư hết bao nhiêu tâm hồn của những người khác.
[57:56]Người khác nhiễm cái tà kiến này rồi, rồi họ hết phước luôn. Mà đệ tử Phật ai cũng hết phước hết thì Đạo Phật thì sao? Lập tức suy tàn liền. Ta nhìn vào chùa cảnh quạnh hiu, không ai tới, tới không thấy gì hay rồi bỏ, chán không tới nữa, không ai tới tu tập nữa. Nên cái sai lầm của mình, là cái tà kiến của mình làm cho mình hết phước, làm cả Đạo Phật cũng suy yếu theo luôn. Nguy hiểm vô cùng. Vậy phải làm sao? Nhớ, đó là lý do để tránh những cái điều này, trước khi ta bước vào tu tập, mỗi khi ngồi thiền ta đều phải tác ý gì? Ba cái tâm hạnh. Đừng tưởng ba cái tâm hạnh đó là là đơn giản nha. Đó là cái căn bản để cứu ta sau này.
[58:44]Khi ta chứng rồi, ta chứng thiền rồi thì ba cái tâm hạnh đó cứu ta. Một là tôn kính Phật, từ bi, khiêm hạ. Chính cái từ bi của ta nó chống lại, nó cưỡng lại cái cái sự thụ động ở trong tâm ta. Lúc đó ta thật sự không muốn gì nữa, nhưng chính vì những buổi đầu khi mới tu tập, ta đã phát nguyện yêu thương chúng sinh, phát nguyện xây dựng cái thế giới này thành một tinh cầu giác ngộ, nhờ cái đó nó thành một động lực ngấm ngầm, ngấm ngầm, nó thúc đẩy ta, nó cưỡng ta không bị rơi vào thụ động. Thì lúc đó là ta ngồi không cần làm gì và không muốn làm gì, nhưng cái nguyện lực ở buổi ban đầu thúc ta phải làm, thúc ta phải đi gieo duyên chúng sinh,
[59:27]thúc ta phải đi giáo hóa, thúc ta phải chịu cực bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự, thuyết pháp để cứu chúng sinh. Chứ còn nếu không có cái ba cái tâm hạnh ban đầu thì cái này giết chúng ta và giết luôn Phật pháp. Nên giây phút mà ta vào định là giây phút có rất nhiều nguy hiểm, mặc dầu ta cảm thấy như mình hạnh phúc. Nhưng cái trạng thái vào định là một trạng thái nguy hiểm, đầy tà kiến chờ đợi chúng ta trong đó.
[1:00:03]Cái cái mà giằng xé ta đó, giữa cái thụ động của thiền định và giữa cái nguyện lực mà ta phải bước tới, đi vào cuộc đời làm bao nhiêu việc giáo hóa cũng là một cuộc chiến tranh khốc liệt của nội tâm. Giống như hồi nãy ta nói một cuộc chiến tranh khốc liệt cái gì, là dưới những trạng thái này mà mình giữ được cái cái chỉ và cái quán. Hơi thở chậm, ít, êm, hơi thở dính với tâm và cái quán nhớ mình là vô minh tội lỗi, đó là một cuộc chiến tranh khốc liệt. Nếu không đủ phước, không đủ ý chí là buông ra liền. Ta buông ra ta thụ hưởng những trạng thái này liền, rồi phước ta hết từ từ, ngay trong kiếp này loạn trở lại không
[1:00:44]còn gì nữa, hoặc có phước lớn qua kiếp sau cũng mất hết trở lại. Đó là một cuộc chiến khốc liệt. Thì bây giờ tới cái thụ động này cũng vậy, cũng là một cuộc chiến khốc liệt. Cuộc chiến khốc liệt ở chỗ ở chỗ là cái thụ động nó khủng khiếp lắm. Chúng ta nghe nói khủng khiếp cũng không không hình dung được nhưng nếu ai vào định sẽ thấy cái thụ động khủng khiếp của nó. Nó rút ta lại không còn gì. Tan vỡ hết, mất hết, từ bỏ hết, khước từ hết.
[1:01:17]Và thấy đủ rồi, cũng không cần gì nữa. Cái đó không diễn tả được bằng lời nhưng nó là một sự thụ động tột cùng. Và cái thụ động nó sinh ra vô số tà kiến, không làm gì làm ta mất duyên với chúng sinh. Sư phụ nhắc đi nhắc lại chỗ này vì đây là một cuộc chiến khốc liệt ta sẽ phải đối diện. Nếu khi sau này ta chứng thiền, ta đối diện nó khốc liệt. Nên ngày nào sư phụ cũng bắt mọi người phải lễ Phật phát nguyện là vậy. Phát nguyện thương yêu tất cả chúng sinh, nguyện tôn kính Phật tuyệt đối, phát nguyện khiêm hạ đã đành, nhưng cái phát nguyện thương yêu chúng sinh, phát nguyện xây dựng thế giới này thành tinh cầu giác ngộ.
[1:01:54]Hồi sáng sư phụ nói câu á
[1:01:58]mình phải có tâm nguyện làm sao cho bất cứ người nào đầu thai vào cái cõi này đều phải hướng Phật tu hành. Những cái những cái tâm nguyện đó đó ngày hôm nay ta cứ phát đi phát lại mỗi ngày thì lúc đó cái ta nhờ cái nguyện lực đó mà nó chống lại cái định lực này, chống lại cái sức thụ động này để ta sống một cuộc đời không phải là vô nghĩa, không phải là vô ích, không phải chết trong quên lãng. Cuộc đời sư phụ gặp rất nhiều thiền sư chết trong quên lãng. Đến giờ này không ai biết họ. Và hồi đó thì không có điện thoại, bây giờ thì chắc họ chết hết rồi, nhưng mà không ai biết tới họ. Mặc dù họ có sở chứng rất là cao.
[1:02:38]Đến bây giờ vẫn đang còn một số người, một số người đã chết không ai biết tới họ, rồi họ chết trong quên lãng chỉ bởi vì cái này, khủng khiếp của cái này. Nên ta phải tránh cái này để xây dựng Phật pháp, ta cố gắng vất vả cả một đời tu hành, nhiều đời tu hành, đến khi mình được định rồi cái mình mất, biến mất trong hư vô, thật là uổng phí. Nên nhớ cái lời phát nguyện.
[1:03:29]Chúng ta nhớ cái câu chuyện này nữa. Vì cái ý ý thứ ba
[1:03:36]Khi Đức Phật tu với ông Alara Kalama với ông Uddaka Ramaputta, Đức Phật chứng hết tới ngang của mấy vị đó chứng. Nhưng mà những vị thầy đó hài lòng với cái cái quả chứng của mình. Và nói với Phật đúng rồi tới đây là hết. Nhưng Đức Phật cảm nhận còn chấp ngã.
[1:04:03]Và ngài xin phép rời đi để đi tìm
[1:04:08]một cái gì đó mà để không còn chấp ngã. Và ngài mất tới sáu năm khổ hạnh cũng không tìm được. Cho đến khi thật sự chỉ an trú trong thiền, mà an trú trong Tứ thiền thì lúc đó mới tan biến bản ngã. Giống như trong cái gạch đầu dòng ta nói làm sao? Cái thứ năm, gạch đầu dòng thứ năm á. Mục tiêu tối thượng của việc tu hành là đạt được vô ngã. Mà muốn đạt được vô ngã thì phải tập trung nội tâm, ôm lấy bản ngã, an trú bản ngã rồi bản ngã sẽ tan biến trong thiền định. Cái mà gọi là ôm lấy bản ngã, an trú bản ngã là gì? Bốn mức thiền.
[1:04:50]Thế còn cái định của hai ông kia Alara Kalama với ông ừm ông Uddaka Ramaputta cái gì, Uddaka Ramaputta cái tên tới tên Ấn Độ không nhớ nổi. Là là cái định gì mà không tan biến bản ngã? Mà khi Đức Phật phải quay lại cái Tứ thiền mới tan biến bản ngã. Ta nhớ ở đây. Ừm.
[1:05:17]Đây là là là từ đây sư phụ giải thích luôn cái này. Khi ta tâm ta thanh tịnh thì nó xuất hiện trạng thái ngoài cái thanh tịnh, ngoài cái hỷ lạc, ngoài tỉnh giác nó còn có cái gọi là rỗng rang. Mà ta an trú rỗng rang này tức là ta an trú bốn mức định:
[1:05:37]Không vô biên xứ định, Thức vô biên xứ định, Vô sở hữu xứ định, Phi tưởng phi phi tưởng xứ định. Chính là vì ta an trú cái rỗng rang này ta rời khỏi bản ngã. Nhưng cái phước còn nên tâm vẫn được thanh tịnh, vẫn được hỷ lạc, vẫn được rỗng rang nhưng rời khỏi bản ngã nên không bao giờ hết bản ngã được. Còn thế nào là Tứ thiền? Tứ thiền ta rút lại, nhỏ lại nơi chính bản ngã mình mà cái bản ngã mình lúc đó rút lại trong hơi thở nhỏ nhiệm, nhỏ xíu à. Hơi thở chậm, ít, êm, an trú ở dưới bụng. Và từ cái thân thành một cảm giác rồi thành cái biết sâu thẳm mà ta giấu trong ta giữ núp trong kỹ trong hơi thở,
[1:06:20]tức là cái bản ngã ta ta an trú chặt cái bản ngã. Khi mà vào sâu được Tứ thiền thì bản ngã tan biến luôn. Có hai con đường khác nhau, hôm nay sư phụ định nghĩa lại nhớ điều đó. Đó là lý do mà Đức Phật ngày xưa chứng nơi ông Alara Kalama với Uddaka Ramaputta cái này không hết bản ngã bởi vì rời khỏi bản ngã. Đến khi sau sáu năm khổ hạnh, Đức Phật quay lại nhớ lại cái Sơ thiền mà mình đã chứng hồi lúc 12 tuổi thì cái Sơ thiền đã chứng là cái gì? An trú chính nơi bản ngã, ăn thật kỹ nơi chính mình. Và ngài ôm chính mình vào sâu dần sâu dần sâu dần, cũng nơi bản ngã nhỏ dần nhỏ dần và thật sự nó tan
[1:07:00]biến trong thiền định chính là cái Tứ thiền đó. Và ở đây có một điều thế này: Hai ông thầy đó vĩ đại mới chứng được cái gọi là Vô sở hữu xứ định và Phi tưởng phi phi tưởng xứ định là có thần thông bay được rồi. Hai ông đó rất vĩ đại. Nhưng không đủ vĩ đại để thấy rằng chấp ngã vẫn còn. Và Đức Phật đủ vĩ đại để thấy rằng cảnh giới đó cái chấp ngã vẫn còn. Ở chỗ khác nhau làm cho thế giới này chúng ta có một đạo lý giác ngộ phi thường chính là chỗ Đức Phật nhận ra rằng cái định đó chưa hết chấp ngã mà thật sự vì nó rời xa bản ngã nên không thể hết bản ngã. Cái vĩ đại của Đức Phật đó là muôn đời thế giới này phải mang ơn.
[1:07:58]Sư phụ gọi đó là một thiên tài, một trí tuệ thiên tài. Ngay đó mới nhận ra được, còn tất cả chúng ta muôn đời về sau này không ai hiểu được chỗ này. Không ai hiểu được chỗ này. Đạt được cái thanh tịnh nào đó rồi đứng đó liền. Tự thỏa mãn à. Tự thỏa mãn hết mấy cái này. Rồi không bao giờ thật sự đạt được vô ngã để giác ngộ giải thoát nữa.
[1:08:24]Thế thì những đệ tử Đức Phật thì như thế nào? Đức Chỉ có ngài Đại Ca Diếp Đức Phật mới nói à: Dù không gặp Như Lai Ca Diếp vẫn chứng được đạo quả giải thoát. Trừ ngài Ca Diếp, còn tất cả mọi người đều vì có Phật mà mới vượt qua được những cái này để mà đi tới vô ngã. Còn khi mà đạt được cái kết quả lớn lao trong thiền định này, ai cũng đứng đó kẹt lại, thụ hưởng và ôm bản ngã, giữ bản ngã và phát triển bản ngã trở lại. Chỉ ngài Ca Diếp đủ duyên lành, Đức Phật khen đó đó: Dù không gặp Như Lai, Ca Diếp vẫn chứng đạo vì vượt qua được chỗ này. Và sau này thế thì những vị Tỳ-kheo A-la-hán khác thì sao?
[1:09:09]Nếu tự họ ngồi thiền đến ngang chỗ Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền rồi là đứng lại cứng ngắt ở đó hết, không ai vượt qua được. Chỉ bởi vì có ngài Mục Kiền Liên.
[1:09:23]Nên Đức Phật mới khen ngài Mục Kiền Liên vậy: Này các Tỳ-kheo, Xá Lợi Phất như một người mẹ sinh mọi người vào trong dòng thánh là đưa mọi người chứng Tu-đà-hoàn. Ai gặp ngài Xá Lợi Phất ngài thuyết pháp thế này thế kia rồi thế nào cũng chứng Tu-đà-hoàn. Nhưng khi chứng Tu-đà-hoàn rồi bắt đầu ngồi thiền mà nhập định sâu vào đứng đó không biết đi đâu nữa. Trong cái trạng thái thụ động không còn phấn đấu, không còn cố gắng rồi an trú đứng yên đó thôi, đứng yên không biết đi đâu thì chính trong cái vô hình, trong cái bí mật đó ngài Mục Kiền Liên mới dùng thiền định, dùng cái thần thông của mình đẩy họ đi tới luôn,
[1:10:00]không cho họ đứng lại và làm cho họ chứng A-la-hán. Đức Phật mới nói: Này các Tỳ-kheo, Mục Kiền Liên như một người cha đẩy những cái Tỳ-kheo khác đã chứng Tu-đà-hoàn rồi đẩy cho họ chứng tới A-la-hán luôn. Cái lời khen của Phật đối với hai vị đại đệ tử thật là cảm động, thật là vĩ đại. Mà nếu chúng ta không hiểu nổi nếu không đi qua sự tu hành vất vả, ta không biết cái sự vĩ đại của hai hai bậc gọi là Chánh pháp tướng quân nó như thế nào. Người như một người mẹ làm cho chúng sinh sinh vào trong dòng thánh chứng Tu-đà-hoàn. Một người như một người cha đẩy cho chúng sinh một vị Tu-đà-hoàn đi tới được quả vị A-la-hán.
[1:10:44]Tại vì cái khó của chúng ta vậy là đang phàm phu mà lọt vào dòng thánh Tu-đà-hoàn không dễ tí nào. Từ cái đời sống ích kỷ bỗng nhiên trở thành đời sống vị tha của Tu-đà-hoàn hoàn toàn không dễ. Mà vào được thiền định sâu rồi đứng ngơ ngác liền. Không còn muốn gì nữa, không còn cần gì nữa, không còn cầu gì nữa, không còn phấn đấu gì nữa bởi vì cái thụ động tột cùng này. Lúc đó chính ngài Mục Kiền Liên ngài ra tay, ngài đẩy luôn vào cho tới tận cùng của Tứ thiền để bản ngã tan biến luôn, các vị đó đều chứng A-la-hán. Nên khi ta hiểu hết con đường này ta mới thấy cái sự vĩ đại, cái thiên tài của Đức Phật, ta mới thấy sự vĩ đại,
[1:11:22]cái từ bi phi thường của ngài Xá Lợi Phất và ngài Mục Kiền Liên. Như vậy hôm nay mà ta phải hiểu hết ta mới thấy được cái sự vĩ đại. Nói hừm ta hừm
[1:11:42]Thật ra Sư phụ là người hơi bị mít ướt, thông cảm. I am sorry.
[1:12:02]Cái ừm khi ta chưa vào được cổng thành, cả một đời ta vất vả tu tập, biết bao nhiêu công đức theo cái 10 14 cái gạch đầu dòng này để ta xuất hiện được sự tỉnh giác, khổ lắm chứ không phải là dễ, quyết tâm ghê lắm, cái lòng tôn kính Phật phải lớn lắm ta mới đủ sức mạnh để mà đi mãi để đạt được sự tỉnh giác. Có sự tỉnh giác rồi, ta biết được vọng tưởng theo đúng cái quy tắc mà Sư phụ nói: để tâm ở dưới mà vẫn biết ở trên, ta được an tĩnh. Mà khi ta an tĩnh, ta có kết quả sâu trong thiền định rồi thì những trạng thái này là bẫy mồi, lại là trở ngại đầy tà kiến chờ ở trong đó. Đó là lý do thế gian này thực sự rất khó có người chứng ngộ.
[1:12:51]Mà nếu không chứng ngộ, ta cứ loay hoay trong luân hồi sinh tử đầy khổ đau. Thế giới này chỉ là hang ổ của tội ác, một vài vị thánh hiền xuất hiện rao giảng được một thời gian rồi bị cái ác nó che mờ, nó lấn át, chúng sinh không có vượt lên được, cứ mang cái thân phận khổ đau mãi. Đức Phật xuất hiện cho chúng ta một ánh sáng chân lý cao siêu, nhưng mà nếu chúng ta hiểu không hết cái chân lý của Phật dạy, nếu chúng ta không quyết bảo vệ, giữ gìn cái chân lý Phật dạy, thế gian này lại sao? Chìm trong bóng tối trở lại. Nên chúng ta phải cố gắng là vậy. Bắt đầu từ căn bản: tôn kính Phật, từ bi, khiêm hạ, làm vô số điều phước lành,
[1:13:39]rồi thực hành thiền định cho đúng phương pháp. Đúng phương pháp rồi cái nó có kết quả, có kết quả rồi phải đối phó với bao nhiêu cái cái mồi cái bẫy mồi những cái trạng thái nguy hiểm thế này làm cho chúng ta lạc lối, rớt ra trở lại, từ trong thành bị đá một cái bóc, bay ra khỏi cổng thành, rớt qua trong rừng rậm lại, cái đó mới oan á. Nói: “Ủa, nãy tôi thấy anh vô cổng thành rồi sao bây giờ anh anh lang thang ngoài rừng vậy?”, nói: “Tôi mới bị đá cái bóc văng ra lại chỉ bởi vì mấy cái này.” Nên khi vào đó gặp mấy cái này rồi ráng núp cho kỹ để mà đi tới nữa. Mà nhất ta nhớ lại cái câu chuyện của Đức Phật,
[1:14:21]vào định cỡ nào cũng thấy mình vẫn còn chấp ngã, đó là Phật á, còn mình thì mình thấy làm sao? Mình thì mình thấy cái gì?
[1:14:34]Lúc nào cũng nhớ mình là vô minh, tội lỗi, chấp ngã. Đó là câu thần chú để dắt mình đi mãi đi mãi vượt qua khỏi hết cái luân hồi sinh tử này. Nhớ đó là một câu thần chú. Cũng có người nhắn tin hỏi Sư phụ về trạng thái thiền được kết quả rất là tốt, Sư phụ nói câu này: “Đừng bao giờ rời bỏ cái câu thấy mình là vô minh, tội lỗi, chứ không mấy cái trạng thái này nó giết mình chết liền á.” Nhớ như vậy. Rồi rồi còn mấy cái trạng... Mấy cái này nó hấp dẫn làm mình tăng bản ngã, rời khỏi bản ngã. Còn cái thụ động này thì nó làm mình hết phước, mất duyên với chúng sinh, làm mình vô duyên, cái này. Cái này là mình hết duyên chúng sinh rồi làm đạo Phật suy tàn luôn rồi.
[1:15:28]Đó, cái người mà giờ này điện thoại kêu là vô duyên vô cùng. Hôm nay Sư phụ nói vậy thôi, ha. Bốn giờ rưỡi. Cầu chúc cho mọi người về ta tinh tấn tu hành sớm có kết quả, mà khi có kết quả rồi thì cẩn thận với những những điều này, ha. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[1:16:02]Xin nguyện cùng nhau tay nắm tay, nguyện lòng
[1:16:13]dấn bước để dựng xây thế giới thành tinh cầu giác ngộ, cõi đời hạnh phúc kể từ đây.