Lời giảng: Một Nghìn Năm Văn Hóa Thăng Long A

  • Thuyết giảng: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Thời lượng: 50:28

Toàn văn lời giảng, chép từ phụ đề. Bấm vào mốc thời gian để nghe đúng đoạn đó.

[0:43]Xin kính thưa ông Bằng Việt, chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật của Hà Nội. Xin kính thưa Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội, và lãnh đạo khu di tích lịch sử quốc gia Văn Miếu - Quốc Tử Giám. À kính thưa tất cả các khách quý ở đây. Thực sự, khi chúng ta nhìn vào cái tiêu đề được ghi trên cái biển phía sau này, chúng ta thấy hơi sợ, vì sự thật là chúng tôi không có tham vọng một người ở miền Nam xa xôi mà dám về Hà Nội để nói về cái văn hóa nghìn năm của Hà Nội, vì thật sự là chính ngay người Hà Nội cũng chưa chắc biết hết được cái văn hóa của Hà Nội 1000 năm, đừng có nói một cái người cù bơ cù bất ở đâu miền Nam trôi

[1:33]dạt ra mà dám nói về chuyện văn hóa Hà Nội 1000 năm, là điều không có đâu, dạ. Trên cái biển này ghi thiếu ạ, biển này nếu mà ghi đầy đủ phải thưa nói thế này, là: "Thượng tọa Thích Chân Quang về đây bày tỏ cái lòng yêu kính của mình đối với cái nền văn hóa 1000 năm Thăng Long - Hà Nội", tức là sự ngưỡng mộ của mình đối với 1000 năm văn hóa của Thăng Long - Hà Nội chứ không hề dám trình bày, bởi vì không ai đủ sức làm điều đó cả. Ngay chính cả những học giả lỗi lạc mà nói tới đề tài này còn phải sợ. Khi mà chúng tôi nói rằng chúng tôi về đây bày tỏ cái niềm yêu kính của mình đối với cái văn hóa Hà Nội là chúng tôi không có nói nịnh người Hà Nội à.

[2:13]Nói rất thật lòng. Nói rất thật lòng vì sao ạ? Bởi vì cũng không biết vì sao từ thuở mà chúng tôi còn nhỏ vậy cứ khi học lịch sử về miền Bắc nhưng lòng cứ dạt dào thương mến, cứ mơ ước ngày đất nước được nối liền để về thăm quê hương miền Bắc. Khi mà nghe những bài hát, đọc những cái quyển sách nói về miền Bắc, nói về Hà Nội, cái lòng thương nhớ vơi vợi như là thương nhớ một quê hương nào trong thẳm sâu cái tâm linh của mình cũng chẳng biết được vậy. Và cứ cứ cái niềm yêu thương nó cứ lớn dần cho đến ngày mà đất nước được thống nhất, cho đến cái ngày mà chúng tôi được về thăm Hà Nội. Thật ra là mãi đến cách đây 8 năm mới lần đầu tiên được đặt chân

[2:58]về Hà Nội, và cũng là lần đầu tiên đặt chân về Văn Miếu này. Và lúc đó cái niềm cảm xúc nó không thể nào mà tính kể được. Chính vì vậy mà vài năm sau, sau vài lần đi về Hà Nội, chúng tôi mới viết cái bài mà "Đi giữa Hà Nội" mà lúc nãy ca sĩ Đen Dũng đã trình bày rất là thành công vậy. Tức là lòng bồi hồi bước chân nhẹ trên đường phố đó, là vậy. Đi từng cái nẻo đường trên Hà Nội để thấy rằng là bao nhiêu là chiến công, bao nhiêu là cái công đức của tiền nhân, bao nhiêu là lịch sử của cha ông ta đã ghi lại trên từng cái nẻo đường của Hà Nội mà lòng mình cảm xúc biết là biết là bao nhiêu. Cho nên vì vậy là hôm nay là ngồi trước mặt tất cả quý quan

[3:40]khách như vậy, chúng tôi cũng không có tham vọng để trình bày về văn hóa Hà Nội đâu, mà chỉ nói cái niềm kính yêu của mình và thật sự là đại diện cho những người ở miền Nam xa xôi nghĩ về Hà Nội, hướng về Hà Nội với cái lòng yêu mến giống như là nhà thơ Huỳnh Văn Nghệ đã bày tỏ vậy. Là: "Ai về miền Bắc ta đi với, thăm lại non sông giống Lạc Hồng. Từ độ mang gươm đi mở cõi, trời Nam thương nhớ đất Thăng Long." Mà cái bài thơ đó đọc lên dường như khó ai cầm được nước mắt là vậy. Mà sự thật mà những người miền Nam biết suy nghĩ, có lương tri đều dường như cùng cái tâm tình như thế. Từ độ mang gươm đi mở cõi, nói là:

[4:29]"Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long" mà có người nào đó đã sửa lại cũng cũng hay là: "Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long." Mà chúng tôi cũng vậy, cũng mãi ở trong miền Nam xa xôi, bây giờ thì được xe, được tàu, được máy bay đi nhanh chứ lúc trước là Nam Bắc xa vời vợi, cái niềm thương nhớ của mình nó thẳm sâu trong tâm linh, trong cái mạch sống tâm hồn của mình như thế nào không hiểu nổi mỗi khi nghĩ về miền Bắc, mỗi khi nghĩ về Thăng Long - Hà Nội. Nên hôm nay cũng bày tỏ chút tấm lòng của mình như thế trên cái góc nhìn của một người miền Nam, của một người ngoài Hà Nội, của một người đứng trong cái phương diện của đạo Phật là như thế.

[5:05]Để trước tiên nói về văn hóa là gì thì chúng ta xin đi qua một cái thang định nghĩa về các chữ "văn" trước. Trước hết là văn chương, cao hơn văn chương là tới văn học, cao hơn văn học là tới văn hóa, cao hơn văn hóa là tới văn hiến, và cao hơn văn hiến là tới văn minh. Ta sẽ đi qua cái thang định nghĩa đó trước. Văn chương là gì? Văn chương là một tác phẩm được trình bày theo cái dạng ngôn ngữ mà thường là được ghi chép lại trên giấy hơn là được truyền miệng. Tại vì văn chương mà truyền miệng thì ta thường xếp vào loại là văn chương bình dân, văn chương bình dân, còn mà khi văn chương bác học rồi hầu hết là đều ghi trên giấy.

[5:47]Và những sáng tác như là thơ, văn xuôi, những câu đối, những câu phú, vân vân, có tính bác học được ghi lại trên giấy, được chắt lọc cẩn thận thì ta gọi là là văn chương. Mà khi đã gọi là văn chương thì ta phải hiểu thế này, là nó có cái sự chắt lọc rất là cao độ. Nó khác với cái ngôn ngữ mà ta nói trong đời thường. Vì ngôn ngữ ta nói trong đời thường, nói xong ta chỉ giữ cái ý thôi, còn tất cả những điều mà ta đã nói với nhau ta quên hết, không để lại. Còn mà khi đã được gọi là trở thành văn chương, trở thành tác phẩm, là nó được lưu lại, nó lưu lại trên hai phương diện: được người ta công nhận nó là có giá trị để lưu lại trên giấy, trên sách;

[6:31]hoặc là người ta công nhận nó có giá trị để người ta truyền miệng từ người này sang người kia. Ví dụ như những câu ca dao của ta vậy: "Gió đưa cành trúc la đà, tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương. Mịt mù khói tỏa ngàn sương, nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ." Tức là những, nếu mà truyền miệng thì nó phải có cái giá trị gì đó buộc người ta phải giữ lấy nó. Còn nếu không thì được lưu trên giấy nó cũng phải có cái giá trị gì đó để người ta mới tốn giấy tốn mực mà ghi chép nó lên. Ta nhớ rằng vào thời xưa giấy rất là hiếm, không như bây giờ. Và vì vậy, một tác phẩm mà được ghi chép lên giấy là phải được

[7:08]sự chắt lọc, sự chọn lọc rất là gay gắt, rất là khắt khe. Người ta hiểu là như một nho sinh vậy, là có cái nuôi cái tham vọng đi học ra đỗ làm quan. Nhưng mà không phải ai cũng có giấy có mực để có thể học được các sách của thánh hiền, mà cũng không phải ai cũng có thể tìm được một bộ kinh thư để đem về nhà đọc. Hầu hết là cứ mượn truyền tay đọc của nhau thôi. Người nào rất giàu mới có thể mua được một cuốn kinh, một cuốn thư về về mà để trong nhà làm gia tài. Còn bình thường cứ truyền tay đi truyền tay lại, hoặc là hay lắm thì chép lại. Và có rất nhiều cái ông đồ ngày xưa, những nho sinh ngày xưa, học, dùi mài kinh sử chờ ngày

[7:48]lên kinh ứng thí đã phải học bằng cách là viết chữ trên đất, hoặc là đắp bằng đất sét trên một cái bảng cho ướt rồi cứ lấy cây mà vẽ để tập viết chữ Nho, chứ không phải là ai đi học đều có giấy viết như ta ngày nay. Chính vì vậy, mà để gọi là cái văn chương của vào đời xưa, nếu mà ta nói bắt đầu từ 1000 năm và từ đời Lý - Trần thì những cái áng văn áng thơ đó mà được chép trên giấy đều phải là những tuyệt tác. Nhưng rất tiếc là sau khi mà nhà Minh xâm chiếm ta trong hai mươi mấy năm đó, họ đã tiêu diệt, tiêu hủy gần hết cái văn hóa trước đó vào thời Lý - Trần, nên ta còn sót lại rất là ít cái văn thư.

[8:29]Sau này thoạt từ đời nhà Lê trở đi thì ta mới bảo tồn được, cũng là một cái tiếc như vậy. Thì ta thấy là như cái câu ca dao mà "tiếng chày Yên Thái", đó là tiếng chày mà giã cây giã vật liệu để làm giấy mà sản xuất ngay tại Hà Nội đó, mà để cung cấp cho cả nước này không được nhiều lắm. Cho nên cái văn chương ngày đó cái sự chắt lọc tinh túy nó nó đạt đến mức độ cao độ. Nó khác hẳn với cái văn chương bây giờ. Là vì sao vậy? Văn chương bây giờ là giấy mực ta tràn đầy, bây giờ thêm cái phương tiện internet nữa. Nên người nào biết một chút về internet có thể vào mạng được, đặt ra một cái trang blog của mình, viết đủ thứ điều gì mình muốn

[9:06]và nó dễ dãi đến cái mức độ là cái sự chắt lọc tinh túy không còn. Bây giờ thì những ngôn ngữ bừa bãi, méo mó bắt đầu tràn ngập trên internet. Ta nói đây là một cái sự phá hoại, một cái dấu hiệu của sự nguy hiểm nó xâm thực vào cái nền văn hóa nghìn năm qua của ta rất là đáng lo lắng. Chỉ bởi vì người ta dễ viết quá, dễ viết, dễ lưu lại cái điều mình muốn bày tỏ quá. Chính cái sự dễ dãi đó làm cho cái sự chắt lọc nó không còn và văn chương đã giảm đi cái mức độ mức độ cao quý như là thẩm mỹ của nó. Đó là cái sự văn chương. Và từ những bài những cái tác phẩm văn chương mà ta có như văn xuôi hoặc là thơ, thơ mà đến cái niêm luật mà khắt khe như thơ Đường,

[9:58]như như hôm trước Văn Miếu ta cũng tổ chức cái ngày hội thơ Đường vậy. Cái thơ Đường giống như là cái tinh túy về thơ mà không phải là riêng của Á Đông đâu mà phải nói của nhân loại. Những cái niêm luật khắt khe của nó mà hiếm có nhà thơ nào mà mà mà sáng tác thơ Đường thường xuyên, thường thường là tập trung lắm mới viết được một vài bài, còn đa phần ta cứ viết những cái thể loại khác để cho dễ chịu, dễ trình bày ý tưởng của mình. Còn trình bày một bài thơ Đường mà vừa đạt được cái ý tưởng của mình mà vừa tuân thủ được cái niêm luật của nó là đòi hỏi cái trí tuệ cực cao. Lát nữa ta sẽ trở lại cái chỗ trí tuệ cực cao này.

[10:33]Bây giờ, sau khi mà ta có những cái hệ thống văn chương của ta, gồm cả văn chương bác học được lưu lại trên giấy, rồi có văn chương bình dân được truyền miệng, thì ta có một nền văn chương bắt đầu ta nâng lên một cái cấp nữa gọi là nền văn học. Nền văn học là gì? Văn học là văn chương cộng với sự đào tạo, sự nghiên cứu. Sự phân loại, sự phân tích thì ta có nền văn học. Giống như là hiện nay ta có cái Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật vậy. Là tại sao lại có cái liên hiệp với nghệ thuật là ta sẽ nói sau. Nghĩa là khi mà văn chương nó thành phong phú, tràn đầy rồi thì bỗng nhiên sẽ có những người nói về cái văn chương.

[11:16]Vậy văn chương nói về cái gì mà xuất hiện văn chương? Rồi tại sao lại xuất hiện cái văn học để nói về văn chương? Đây là cái quy luật tự nhiên của loài người. Thế ta viết là viết về cái gì? Một tác phẩm văn chương xuất hiện là nói về đời sống, nói về những điều không phải của văn chương. Ta nhớ như vậy, ta nhớ như vậy. Văn chương nói về cái gì? Văn chương nói về cái không phải của văn chương, mà nói về những khía cạnh khác của cuộc sống, như chuyện chính trị, các triều đại vua, chuyện võ công hiển hách, chuyện một cái người vợ thương chồng đi rong ruổi chiến trường xa, hoặc là cái nỗi buồn của Bà Huyện Thanh Quan khi khi

[11:57]nhìn lại cái cố đô, hoặc là cái châm biếm như là của Hồ Xuân Hương những điều trong cái cuộc sống này, vân vân. Thì đó là những điều mà ta nói về những điều không phải của văn chương. Nhưng đến khi mà ta nói về văn chương thì lập tức đó là trở thành văn học, văn học. Ta phân tích, ta phê bình, ta nghiên cứu, ta đào tạo, ta truyền thừa, ta kế thừa thì văn chương đã trở thành văn học. Khi mà có văn học là ta phải có một cái gia tài văn chương đồ sộ thì mới có điều để ta nói về về văn chương, mà khi nói về văn chương là ta thành tựu cái văn học. Rồi đến khi ta nâng lên một bước khỏi văn học nữa là văn hóa. Văn hóa là gì?

[12:35]Văn hóa tức là cái nền văn học đó kết hợp với những nghệ thuật có trong cuộc sống này, cộng thêm với lối sống, đạo đức, phong tục tập quán của xã hội là ta biến thành văn hóa, văn hóa của một quốc gia, của một xã hội. Vậy là ta cái thang nâng thêm một bước nữa để thành văn hóa, ta gồm có thứ nhất là: nền văn học cộng với nghệ thuật cộng với cái lối sống, cái phong hóa, phong tục tập quán của xã hội thành văn hóa. Đó, ta bây giờ ta đi thấp trở lại. Thứ nhất là văn chương, tức là những áng tha văn, áng thơ, những tác phẩm được viết trực tiếp, như văn, thơ, cả bác học, bình dân, lưu trên giấy hoặc truyền miệng là văn chương.

[13:18]Đến khi cái gia tài văn chương lớn để khiến cho người ta phải nói về văn chương thì lập tức ta có một nền văn học. Rồi bây giờ khi văn học đó kết hợp với nghệ thuật, như là nghệ thuật sân khấu tuồng, nghệ thuật âm nhạc, nghệ thuật điêu khắc, hội họa, bây giờ có thêm điện ảnh nữa đó, vân vân. Thì khi mà cái văn học kết hợp với nghệ thuật, kết hợp với cái phong tục tập quán mà văn chương đã thổi vào trong cuộc sống này. Ta nhớ là cái phong tục, cái phong hóa tập quán và cả nhiều cái hoạt động khác của nghệ thuật, của cuộc sống con người đều từ văn chương đi ra. Văn chương là ngòi bút vậy chứ thật ra đã định hình tất cả.

[13:54]Cho đến khi mà cái văn chương đó từ ngày xưa đó, nó thổi vào trong mọi khía cạnh khác, nó thổi vào trong nghệ thuật và nó kết hợp với nghệ thuật, ta bắt đầu có cái cái văn hóa. Ví dụ bây giờ khi một cái người miền Nam ra gặp gỡ người miền Bắc thì sẽ thấy có vài điểm lạ trong cái văn hóa, trong cái lối nói chuyện, trong cái lối giao lưu. Bởi vì mỗi miền có một cái văn hóa hơi hơi khang khác nhau như vậy. Ví dụ như người miền Nam nói cái gì là nhập đề trực khởi. Muốn xin cái gì là: "Anh cho tôi xin cái đó", chưa nói lòng vòng. Nhưng mà ra người Bắc mà để ta muốn hiểu được người đó muốn xin cái gì

[14:31]thì phải rào đón trước sau rất là cẩn thận, chứ không có đường đột. Nhưng người miền Nam thì đường đột nói luôn ngay. Cho nên là chúng tôi ở trong miền Nam, nhiều khi cũng bỡ ngỡ lắm. Nhiều khi một người phật tử đến thăm mình nói chuyện, mình cứ tập trung lắng nghe để xem nói cái gì. Nói nói không hiểu, nói gì vì thầy thầy không hiểu. Thì ra là họ chưa vào đề, mới nói vòng vòng thôi: "Chúng con đến đây gặp thầy từ bao lâu nay thế này thế kia..." Nó nói nói gần năm phút rồi vẫn chưa biết nói cái gì. Hỏi: "Có gì vậy?" Mình là mình đang tập trung cao độ, cứ tưởng như người miền Nam đó, hễ nói là vào chính đề liền nên phải tập trung để mình nhận được cái ý.

[15:05]Không phải, không có, chuyện ban đầu không quan trọng. Nhưng bất ngờ một cái là vào liền. Đó là cái văn hóa. Rồi ngay cả như cái giọng nói của người miền Bắc cũng được xếp vào cái gọi là nghệ thuật cái văn hóa của Hà Nội mà chúng tôi đã đã ca ngợi: "Giọng Hà Nội tiếng muôn đời sao là thương" hồi nãy trong cái bài hát như vậy đó. Bởi vì cũng không biết tại sao chúng tôi sinh ở trong miền Nam, nói giọng miền Nam, nhưng mà từ nhỏ đã phải dùng thẳng cái chữ miền Nam là mê, mê giọng miền Bắc, nhà mê giọng miền Bắc. Vâng, bây giờ mình nói lịch sự hơn là yêu quý giọng miền Bắc. Nhưng hồi ở miền Nam là mê, cứ nhớ vậy.

[15:40]Chứ lúc chúng tôi còn nhỏ lúc còn bé mới hơn mười tuổi, mà hễ đi ngang cái nhà nào mà nói giọng Bắc cái đứng chân lại một chút xíu để nghe người ta nói chút xíu cho đỡ ghiền á, đỡ ghiền. Bây giờ ra đây thì hết ghiền vì gặp ai cũng nói giọng miền Bắc cả. Hồi đó vậy. Chơi với hàng xóm cách mình hai căn nhà có cái gia đình người miền Bắc là cứ kết thân với gia đình đó để làm chi vậy? Để được nghe cái tiếng nói miền Bắc mỗi ngày. Đến nỗi là trong nhà đó có một cái cô con gái nhỏ nhỏ nói giọng Bắc cứ mê, người ta cứ tưởng mình mê cô đó. Sự thật không phải, chỉ mê cái giọng Bắc thôi, vậy. Cũng không biết tại sao, nên lớn lên mà

[16:12]tôi là khi mà chúng tôi viết cái bài nhạc "Đi giữa Hà Nội", buộc lòng phải nói cái, phải đưa cái tình cảm của mình vào trong đó là: "Giọng Hà Nội tiếng muôn đời sao là thương". Và chính cái giọng Hà Nội này mà chúng tôi đánh giá là nó là một trong những yếu tố để giữ cái độc lập cho dân tộc. Khi chúng tôi nói điều này thì nhiều người ngạc nhiên. Nói: "Tại sao mà cái giọng Hà Nội lại cũng là một yếu tố để giữ gìn cái độc lập của dân tộc?" Lúc đó có một lần chúng tôi nói chuyện trong một bài giảng với Phật tử, chúng tôi nói là giảng trong miền Nam á, chúng tôi nói thẳng điều này: "Cái giọng Hà Nội đã góp phần giữ gìn cái độc lập của dân tộc".

[16:48]Nhiều người ngạc nhiên nói: "Muốn giữ độc lập dân tộc thì phải cầm gươm, cầm súng mà đi đánh người ta chứ, chứ làm sao mà chỉ bằng giọng nói?" Không, thật như vậy. Vì khi ta bị một cái sự xâm lược của một đất nước nào đó thì đến khi mà họ vào đây họ dùng vũ khí, họ chiếm giữ ta thì nó có cái sự giao lưu về ngôn ngữ. Họ nói ta nghe, rồi họ cũng nghe ta nói. Nhưng khi mà họ nói ta nghe đó, thì ta mới nghe một cái giọng nói của cái người này, cái giọng nói của họ không thể thẩm mỹ bằng cái giọng nói miền Bắc ta mà nhất là người thủ đô Hà Nội. Cái từng chữ, từng lời của ta trau chuốt, đẹp đẽ như thế, thẩm mỹ như thế, lịch sự, lễ độ như thế.

[17:29]Còn cái dân mà họ mạnh, họ cậy cái sức mạnh bằng cái vó ngựa, bằng lưỡi gươm, họ đem họ chiếm ta, mà nói nói cái giọng mà ta nghe cái mức độ thẩm mỹ nó rõ ràng nó kém hơn: "Ngộ đả lị tử à!" Không thể nào mà: "Xin mời anh vào đây uống với em một bát nước", không thể đẹp được như vậy. Nói giọng hơi lơ lớ không đúng lắm. Nhưng mà khi ta nghe như vậy thì ta hiểu rằng là cái người mà xâm lược ta thấp hơn ta, văn hóa thấp hơn ta. Và chính vì nhận định điều đó, ta không chịu đựng được cái sự mà cai trị của họ, nên nó nung nấu một cái sự quật cường, nung nấu một sự quật cường và đến lúc ta phải đứng lên.

[18:06]Đó là lý do tại sao mà ta bị thuộc Bắc hay là Bắc thuộc một nghìn năm, nhưng không thể nào mà không thể nào chịu đựng mãi, không thể nào chịu đựng mãi. Vì vì rõ ràng cái văn hóa ta cao hơn họ một bậc. Mà tại sao đánh giá văn hóa ta cao hơn họ một bậc khi mà cái chữ viết hoặc là nhiều cái kinh thư của họ ta phải học? Thì chính bởi vì cái giọng nói người Hà Nội cực kỳ thẩm mỹ, cực kỳ thẩm mỹ. Dựa vào giọng nói này mà ta có cái tự hào dân tộc, đóng góp vào cái tự hào dân tộc mà ta đã đứng lên. Có phải vậy không ạ? Chúng tôi đã nhận định điều đó đấy. Nên đó cũng là giọng nói của người Hà Nội cũng là một trong

[18:43]những yếu tố, một trong những sắc thái của văn hóa, văn hóa Thăng Long - Hà Nội rất là độc đáo như vậy. Thì khi mà văn hóa thành tựu được, cái văn chương đã trở thành văn học, đã trở thành văn hóa, nó đi vào mọi cái góc cạnh của cuộc sống, nó đi vào tâm hồn con người, nó tạo thành những tác phẩm của nghệ thuật, của âm nhạc, của mỹ thuật, kể cả của trang phục, làm thành cái lối sống, tập quán, cái đạo đức và nó làm thành các ngành nghề thì nó làm thành cái cái mức sống của xã hội, nó làm thành cái mức sống, nó làm thành cái quy phạm, cái tiêu chuẩn của xã hội. Mà nếu cái văn hóa đó nó được ấn định, nó không thay đổi,

[19:27]nó xác định cái giá trị của nó trong một thời gian rất dài thì ta gọi là văn hiến. Dạ. Nên ở đây để ta theo cái thang định nghĩa: từ cái văn chương là những tác phẩm được viết, được nói cho đến nền văn học để phân tích về cái văn chương đó, cho đến cái văn hóa mà do cái văn chương đó ảnh hưởng vào trong cuộc sống đến mọi khía cạnh, bắt đầu khi mà cái văn hóa đó đã được ấn định, được xác định, được tồn tại qua một thời gian rất là dài thì ta gọi là văn hiến. Như ta đã từng nghe cái từ là: "Việt Nam với bốn nghìn năm văn hiến". Khi mà nghe nói bốn nghìn năm văn hiến là ta xác định được cái văn hóa của ta đã có từ thời lập quốc, từ thời Vua Hùng.

[20:07]Cũng xin thưa là thế này: Sáng hôm qua, chúng tôi cũng có cái vinh dự được về Đền Hùng để giao lưu và nói chuyện. Hôm đó có ông giám đốc của Đền Hùng, ông mời thì chúng tôi về đó có buổi nói chuyện. Trước hết nghe ông trình bày về lịch sử Đền Hùng trong ba mươi phút, và sau đó chúng tôi trình bày những cái cảm nghĩ, những ý tưởng của mình về Đền Hùng cũng như cái triều đại Hùng Vương lập quốc. Thì chúng tôi cho rằng dựa trên lịch sử mà ta hiểu biết được thì mặc dầu là quốc tổ của ta nếu nói đúng là từ thời Kinh Dương Vương. Nhưng mà Kinh Dương Vương ổng đã ổng đã không màng tới cái ngai vị, ổng bỏ lỏng cái việc quản lý đất nước,

[20:47]cả phân nửa đất nước Trung Hoa từ hồ Động Đình. Đến khi mà giao lại quyền cho con trai là Lạc Long Quân, Lạc Long Quân cũng không màng đến ngai vị, đi lang thang về miền Bắc Việt Nam đến cái vùng khoảng Bắc Ninh gặp một nàng tiên cực đẹp. Nàng tiên cực đẹp là Âu Cơ và ông đã phải lòng, và hai người kết hôn nhau. Nhưng mà nàng tiên này cá tính mạnh quá: "Nếu anh yêu em thì xin anh vui lòng ở rể, chứ còn em vĩnh viễn không làm dâu. Chịu không chịu thôi, nghỉ". Thì không ngờ là là ông chịu. Thì khi ở lại thì cái truyền thuyết rằng là Mẹ Âu Cơ sinh ra một bọc trăm trứng, để mà ta có cái từ "đồng bào" á, bào tức là cái bọc á.

[21:27]Sinh ra trăm trứng thì sự thật chỗ này ta không lý giải nổi, ta không hiểu là Mẹ đã sinh cái cách nào kỳ lạ như vậy. Nhưng mà thôi, cứ là cho là như vậy đi. Khi mà sinh ra rồi, và lúc hai người bắt đầu có những cái mâu thuẫn. Tại vì hai người họ sống với nhau cũng cả mấy trăm năm á, vì hai vị đó đều là thần tiên, sống rồi mâu thuẫn và bắt đầu chia tay nhau. Chia tay nhau thì đến lúc này, Lạc Long Quân mới truyền lại cho con trai mình là Hùng Vương đầu tiên cái ý chí lập quốc. Chứ trước đó, ta chưa hề có lập quốc. Đến từ đời Hùng Vương đầu tiên mới có ý chí lập quốc và cái ý chí lập quốc đó Khi mà được vua cha giao lại,

[22:06]Hùng Vương mới dùng cái phép thuật của mình đi khắp cả miền Bắc, đi đến từng bộ tộc để mà thu phục các bộ tộc, thành lập đất nước Văn Lang. Cái chuyện đó dài thì chúng ta không có trình bày lại. Nhưng mà ở đây là khi mà ta có cái nền văn hóa từ 4000 năm là phải bắt đầu từ cái ý chí lập quốc của vua Hùng Vương đầu tiên, mà có thể cái ý chí lập quốc này do vua cha Lạc Long Quân truyền lại, chứ trước đó khi hai người lấy nhau, Lạc Long Quân và Âu Cơ lấy nhau, chưa hề có tính tới chuyện lập quốc Văn Lang. Nhưng vì vậy, mà ta hay thờ Hùng Vương là Quốc tổ chứ thay vì ta thờ Lạc Long Quân mới là đúng, nhưng mà ta vẫn thờ Hùng Vương,

[22:42]chính vì cái ý chí lập quốc đầu tiên là của vua Hùng Vương. Mà tại sao? Đây, nói thêm một điều nữa. Là ngoài cái giọng Bắc mà chúng tôi mê từ nhỏ, còn mê thêm một cái nữa, mà cái này nói nhỏ thôi, xin quý quan khách nghe điều này rồi ra ngoài đừng nói lại, là từ nhỏ chúng tôi có nhận định một điều, sao gương mặt người miền Bắc đẹp hơn người miền Nam. Đừng nói người miền Nam biết nhá. Nói người miền Nam biết là nguy hiểm, chúng tôi không về Nam được. Dạ. Lúc đó nhận biết như vậy nhưng mà giấu trong lòng, giấu trong lòng thấy kỳ lạ chớ. Tại vì lúc đó người Bắc năm tư họ vào trong Nam cũng nhiều,

[23:20]mình tiếp xúc cũng nhiều, nhưng mà hễ gặp người miền Bắc cứ có cảm nhận ủa sao họ lại đẹp hơn người miền Nam vậy. Cứ giấu trong lòng không nói, mãi đến khi sau này đi tu rồi lên núi, rồi hôm đó có một cái Phật tử họ về thăm, lần đó không biết nói cái gì đó vui miệng mới nói với họ, nói "Thầy thấy cái điểm này mà lâu rồi thầy không dám nói ra, thầy thấy cái gương mặt người miền Bắc đẹp hơn người miền Nam nha." Cái người Phật tử đó cũng nói "Dạ, con cũng thấy như vậy." Thì ra là có thêm một người đồng tình, nhưng mãi đến nay không tìm được người thứ ba, bởi vì không dám bày tỏ, do vẫn còn sống ở miền Nam á, chừng nào ra Bắc ở luôn thì sẽ dám nói, không dám nói.

[23:52]Vâng. Thì à, thì khi mà ra Bắc, chúng tôi mới được dịp tiếp xúc rất nhiều với nhân dân, đồng bào miền Bắc, những Phật tử yêu quý của mình thì mới nhìn thấy người nào cũng đẹp, đẹp, hầu hết là đẹp. Thì chúng tôi mới nói thế này, như vậy là cái người miền Bắc, dĩ nhiên là người miền Nam cũng được hưởng chứ không phải không, có mang hai cái gen của Mẹ Âu Cơ: một là giọng nói của Mẹ Âu Cơ. Chúng ta đang nói giọng của Mẹ Âu Cơ, xin thưa đó là điều xác định. Chúng tôi phủ nhận cái chuyện nói người Mường là người Việt cổ hay tiếng nói Việt Nam bắt nguồn từ tiếng Mường, xin thưa không có. Khẳng định tiếng ta đang nói là tiếng của Mẹ Âu Cơ truyền lại.

[24:29]Đẹp như thế, hay như thế. Và một điều thứ hai nữa, khi cái ta nhìn vào người miền Bắc mà phảng phất phảng phất cái vẻ đẹp và sang thì ta phải hiểu rằng đó là cái gen của Mẹ Âu Cơ truyền lại. Và ta muốn biết đẹp thế nào hãy nhìn vào gương. Mỗi người hãy nhìn vào gương và thấy cái nét đẹp của Mẹ Âu Cơ đã rớt lại trong, trong tâm hồn và trên xác thịt của ta là như thế. Lát tối nữa ta về nhìn gương nhá, nhìn gương vậy, đó. Đây là nói thật, không có nịnh đâu, hổng nịnh đâu, nói thật. Người miền Nam ăn ngay nói thẳng không có nịnh. Tuy nhiên là không phải tất cả mọi người miền Bắc đều đẹp. Câu này nghe hơi mất lòng. Vì sao vậy?

[25:07]Vì trong hơn 4000 năm lập nước như thế, nó đã bắt đầu có sự gọi là pha trộn huyết thống giữa cái dòng máu mà của 100 con của Mẹ Âu Cơ với rất nhiều cái bộ tộc ở khắp nơi, rất nhiều bộ tộc khắp nơi. Cho nên do đó, ta bị pha trộn nên có những người mà giữ được cái gen của Mẹ Âu Cơ nhiều thì sẽ đẹp như thế này. Mời anh Kim Quốc Hoa đứng lên chút xíu. Anh là Tổng biên tập Báo Người Cao Tuổi. Sang và đẹp, anh quay lại mọi người mới thấy cái đẹp của anh. Dạ đó! Đẹp trai như thế đó là gen Mẹ Âu Cơ, còn khi mà đã pha trộn với bộ tộc mà xấu bớt rồi thì hãy nhìn vào đây. Xấu ốm thế này nè.

[25:46]Nhưng mà 4000 năm văn hiến từ cái văn hóa của vua Hùng Vương truyền lại, nay ta khẳng định ta có cái nền văn hóa đặc thù, không lẫn với các nước, dù ta rất nhiều lần ta bị ngoại xâm và rất nhiều lần những cái cuộc xâm lược mà chiếm đóng ta rất là lâu, nhưng ta đã khẳng định cái văn hiến của mình. Văn hiến là gì? Như nói lại, đó là cái văn hóa được xác định, được ấn định qua một thời gian rất là dài. Đấy, phải không? Bây giờ bắt đầu nói về văn minh. Văn minh là gì? Văn minh tức là cái nền văn hiến đó, cái nền văn hóa đó cộng thêm những thành tựu của những ngành nghề khác trong xã hội, nhất là khoa học, chính trị.

[26:26]Như vậy khi ta có văn hóa, văn hiến cộng với khoa học kỹ thuật, cộng với chính trị, ta có cái văn minh. Dạ, rồi đây, đây là chỗ bắt đầu ta lát nữa ta sẽ bàn lại. Khi mà nói đến 1000 năm văn hóa Thăng Long Hà Nội, thì ta đành phải đặt cái mốc từ thời nhà Lý. Bởi vì năm 1010, vua Lý Thái Tổ đã dời đô về, về Thăng Long, đặt một cái nền móng cho cái nền thịnh trị lâu dài của đất nước ta và cái nền văn hóa gọi là văn hiến 1000 năm cũng bắt đầu từ đó. Và cũng từ cái văn hóa văn hiến đó, ta xây dựng được một cái đất nước văn minh đến dần dần như, như ngày nay. Dĩ nhiên là trong suốt 1000 năm đó, ta đã phát triển thêm,

[27:10]ta đã bổ sung thêm, cũng như ta đã vay mượn, học hỏi thêm từ nhiều nguồn văn minh khác để ta có cái nền văn minh ngày hôm nay. Ờ nhưng mà bắt đầu cũng từ cái văn hóa của thời nhà Lý trước. Khi mà vua Lý Thái Tổ dời đô về đây, thì như ta biết là vua Lý Thái Tổ là một người xuất thân từ ở trong chùa, mà chùa Tiêu Sơn. Nói về vua Lý Thái Tổ là ta hiểu ngay, ta nhớ ngay đến cái dấu ấn của đạo Phật trong tâm hồn của vua. Nên hễ nói tới Lý, tới Trần là ta nghĩ ngay đến, đến đạo Phật là như vậy. Mà cái nguồn gốc của vua Lý Thái Tổ cũng có hai cái nguồn sử liệu khác nhau. Chúng tôi cũng xin nói sơ qua một chút xíu.

[27:52]Cái nguồn thứ nhất là theo sách ghi thế này mà chúng tôi thực sự thật cũng không đồng ý lắm. Là mẹ của ngài đi chơi trên chùa Tiêu Sơn, gần gũi thần nhân, về có mang, sinh ra đem giao cho Lý Khánh Vân, nhà sư Lý Khánh Vân, rồi Lý Khánh Vân nuôi một thời gian, giao trở lại chùa Tiêu Sơn cho anh mình là sư Vạn Hạnh. Thế là ngài ở trong chùa lớn lên, làm chú tiểu. Lớn lên là ngài sư Vạn Hạnh không cho, không cho xuất gia mà bắt phải học tất cả mọi ngành nghề, văn võ song toàn do sư Vạn Hạnh dạy, bởi vì sư Vạn Hạnh là một siêu nhân. Ngày nay ta ít biết một điều thế này: Sư Vạn Hạnh là một siêu nhân, phi thường.

[28:32]Ngài giỏi tất cả mọi điều. Chính ngài đã đào tạo nên một ông vua lẫy lừng, mà cái tài năng của vua Lý Thái Tổ nó truyền đời dài dài dài dài cho đến xuất hiện nên những cái điều hiển hách trong đất nước ta. Mà hiển hách như thế nào là nếu mà nói thì ta không kể hết, ta chỉ kể một điều rất nhỏ thôi. Cái học nghệ, cái tài trí của Lý Thái Tổ truyền cho đến đời cháu mình là Lý Long Tường, cách đó tám đời. Lý Long Tường vì không muốn gây hấn với nhà Trần, vì biết rằng vì tổ tiên mình đã nói trước nhà Lý chỉ tồn tại tám đời. Cho nên là ta không nên gây một cuộc binh đao để mà cố giữ ngai vàng. Vì vậy, Lý Long Tường đã rời ra đi, bỏ đất nước ra đi để giữ gìn cái

[29:15]dòng họ mình và sang Cao Ly, ta gọi là Triều Tiên hay là Hàn Quốc. Và tại nơi đó, Lý Long Tường đã lãnh đạo quân đội của Hàn Quốc đánh thắng được quân Mông Cổ luôn. Như vậy khi mà quân Mông Cổ đã đặt cái vó ngựa mình lên cả cái thế giới này, gần như cả thế giới này, thì quân Mông Cổ bị thảm bại bởi hai nơi: một là tại Hàn Quốc do người Việt Nam lãnh đạo chiến đấu, hai là tại Việt Nam do người Việt Nam lãnh đạo chiến đấu. Tức là nếu nói thắng, ta thắng người, ta thắng giặc Mông Cổ trên cả hai mặt trận cách nhau rất xa, đều bởi người Việt Nam. Và cái tài trí đó cũng xuất phát từ Lý Công Uẩn hay nói là thẳng là từ nhà sư Vạn Hạnh.

[29:56]Cái điều mà thực sự là một võ công phi thường ta không bao giờ ngờ được như vậy, cả Lý và Trần đều giỏi như vậy. Thì một cái truyền thuyết thứ hai thế này: Là mẹ của, cha mẹ của Lý Công Uẩn không rõ nguồn gốc. Hai người đi vào rừng thì mẹ đang có mang. Cái ông cha mới đi tìm nước thì rớt luôn xuống cái giếng chết. Thì mối nó đùn vào thành một cái ngôi mộ mà chung quanh có tám cái gò như một đóa sen. Và cái người mẹ mà mang bầu nặng tới ngày sinh đó mới khóc và đi lang thang, nghe tiếng chuông chùa mới tìm đến. Trước đó một đêm thì nhà sư Khánh Vân đã nghe, đã nằm mộng thấy thần nhân mách bảo: "Ông dọn chùa cho sạch, ngày mai có thiên tử đến."

[30:35]Ngày mai thì ông chờ hoài dọn dẹp không thấy thiên tử, không thấy vua đến, vì vua mãi trong Hoa Lư. Chỉ thấy một cái bà mang bụng bầu đói gần chết, khát gần chết tới xin ở nhờ. Thì thương tình thì trong khi ngài đang chờ vua tới đó, thì thôi sẵn bà, bà tội nghiệp thì cho bà ở đó chờ, thì tôi đang mắc chờ vua, theo mà hộ pháp mách bảo, thì cho bà miếng ăn miếng uống đó. Vua chờ hoài tới tối không thấy, bà kia đẻ ra đứa con. Đẻ xong bà chết. Theo như rất là nhiều trường hợp các sản phụ ngày xưa sinh con rồi chết, vì các phương tiện mà sinh nở vào thời đó rất là kém. Thế là vua đâu không thấy, ôm thằng nhỏ mồ côi cha mẹ nuôi luôn

[31:13]và không ngờ nó chính là thiên tử mà hộ pháp đã mách bảo. Và đến khi lớn lên thấy cái thiên tư đứa bé này nó phi thường, mới biết rằng tài năng mình không đủ dạy nó, mới giao cho anh mình là nhà sư Vạn Hạnh. Câu chuyện như vậy. Cho nên cái văn hóa nhà Lý bắt đầu từ đạo Phật. Ta không phủ nhận điều đó. Chính các nhà sư với cái đạo lý của nhà Phật, cái từ bi, nhân quả và siêu thoát đã ảnh hưởng lên cái dấu ấn của sự cai trị của các vua đời Lý rất là nhiều. Mà đặc biệt ta còn nhớ mãi như vua Lý Thánh Tông.

[31:51]khi mà có hội nghị hội họp với triều thần đã nói rằng: "Ta yêu dân như yêu con ta. Chính vì vậy, các ngươi làm quan phải biết lo cho dân mà thương dân như là cái tâm nguyện của ta vậy." Hoặc là đêm mùa đông giá rét mà, trời Hà Nội lạnh quá, trong Nam ra lạnh sợ chịu không nổi, nói: "Ta ở trong cung, mặc áo bào thế này còn thấy lạnh, bao nhiêu cái tù nhân xét tội chưa rõ, chưa biết tội thật hư ra sao mà cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc họ lạnh biết chừng nào. Cho nên các ngươi phải cấp phát áo, cơm gạo cho người ta." Nên cái một vị vua mà để ý những điều nhỏ nhặt như vậy, nó thể hiện được cái cái đạo lý của đạo Phật trong cái cách sống và cách cai trị của vua.

[32:35]Nhưng 60 năm sau cái ngày mà vua Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long thì vua Lý Thánh Tông bắt đầu cho xây dựng Văn Miếu để thờ Khổng Tử. Như vậy nghĩa là gì? Như vậy là triều đại nhà Lý ngoài cái tư tưởng cái văn hóa của Phật giáo đã chấp nhận thêm cái nguồn tư tưởng, cái văn hóa của Nho giáo nên Văn Miếu được lập nên để thờ Khổng Tử. Rồi sau đó ta mới thờ thêm những người tiền hiền, 72 bậc tiền hiền như vân vân vân. Thì 6 năm sau nữa đó mới bắt đầu là thành lập cái Văn Miếu này như là một cái trường đại học mà ta gọi là Quốc Tử Giám. Và sau này nhà Trần gọi là nhà Thái học sinh để đào tạo các quan chức cao cao cấp.

[33:23]Cái mà ta có cái nền học thuật, cái văn hóa, cái tư tưởng của đạo Phật, sau đó ta bắt đầu sáp nhập thêm, chấp nhận thêm cái văn hóa tư tưởng của nhà Nho, nó tạo thành một cái cái văn minh, như ta đã nói vì văn hóa nó sẽ đưa đến cái văn minh. Và cái văn minh đó nó có một cái thành tựu,

[33:47]nó có hai cái thành tựu, một cái thành tựu ít được nói đến và một cái thành tựu luôn luôn được nói đến. Là cái nền văn minh của ta đó, mà do cái văn hóa Lý-Trần kết hợp giữa cái Phật giáo và Nho giáo. Vì nhà Trần vẫn rất là tôn tôn trọng cái nhà cái Văn Miếu Quốc Tử Giám này, nên ta có hai cái cái triều đại đều ủng hộ cái văn hóa Lý-Trần, đều Phật giáo và Nho giáo. Và cái văn hóa đó tạo thành cái văn minh, văn minh đó tạo thành hai cái kết quả. Hai cái kết quả đó một cái kết quả ít được nhắc tới, phải cái những nhà nghiên cứu chuyên sâu mới biết và một cái kết quả luôn luôn được cả thế giới ca ngợi.

[34:25]Cái kết quả mà ít được nói tới, chỉ có những nhà nghiên cứu chuyên sâu mới biết là thế này. Là lúc đó tại Hà Nội ta giống như là một cái xưởng kỹ nghệ và một trung tâm thương mại lớn của cả nước. Tất cả mọi cái nghề: đúc đồng, đúc sắt, đúc tiền, làm giấy, làm chuông, làm tượng đều là ở Hà Nội. Và Hà Nội các con buôn mới đưa những hàng đó đi về khắp nơi trong cả nước này. Nên ta có cái phố Tràng Tiền là cái chỗ đúc tiền ấy. Vân vân. Hoặc là cái làng Yên Thái là nơi để làm giấy, rồi cái chỗ mà cái làng Ngũ Xã là nơi đúc đồng, vân vân. Tức là nhiều cái ngành công nghệ kỹ nghệ đã được thành lập nơi cái xứ Hà Nội, Thăng Long này.

[35:11]Và đó là một cái thành tựu do văn hóa đưa tới. Ta nhớ như vậy, văn hóa nó đưa tới văn minh. Nó kết hợp với cái kỹ thuật khoa học, cái bộ mặt chính trị để làm nên cái văn minh. Và văn minh Lý-Trần là như thế. Nhưng mà cái nền văn minh mà các công kỹ nghệ của ta, các ngành các phường, các phường nghề của ta tại Hà Nội thì chỉ có những người nghiên cứu chuyên sâu mới biết là vào cái thời Lý và qua đến đời Trần các cái phường nghề của ta tại Hà Nội rất là giỏi, rất là có tiếng. Như ngành sứ ở Bát Tràng, ngành đúc đồng, ngành đúc sắt và vân vân rất nhiều mặt đều rất là thành công. Nên các con buôn từ Trung Hoa cũng về đây mua,

[35:53]thậm chí cái người Ấn Độ cũng đã có lần tới đây. Và thậm chí là cái nhiều người từ phía Chiêm Thành cũng lên đây, họ ở lại đây và họ giao lưu mua bán học hỏi với ta. Nên ta có một cái chùa, chùa cho cái người Hồi giáo họ ở họ tu. Mà sau đó thì họ có vì lý do gì đó họ không ở được nữa họ rút đi, để lại cái chùa vắng tanh không ai tới mà ta gọi là chùa Bà Bà Đanh đó. Nhớ không? Vì sao lại gọi là vắng như chùa Bà Đanh? Bởi vì chùa đó không phải thờ Phật mà chùa của Hồi giáo nên khi người Hồi giáo đi hết rồi chẳng ai tới nữa, gọi là vắng như chùa Bà Đanh. Bây giờ cái dấu vết chùa Bà Đanh cũng hơi khó tìm. Đó.

[36:27]Thì đó là cái văn minh đó là văn minh mà ít người biết là đã tạo nên cái các phường nghề rất là giỏi. Còn một cái kết quả của nền văn minh đó nữa mà ta thường hay nói tới đó là cuộc chiến thắng lẫy lừng quân Nguyên Mông. Ba lần sang đây ba lần ta đập tan đuổi về hết trong chớp mắt, không có để lâu. Lần đầu tiên sáu ngày đuổi anh ra khỏi bờ cõi liền. 27 năm sau, 30 năm sau anh trở lại, lần nào cũng chỉ hơn 1 tháng là đuổi anh ra khỏi đất nước, đánh tan tành, đánh tan tác, đánh mà không dám trở lại nữa. Đánh như vậy. Mà tại sao ta có được cái kết quả xuất sắc trong cái quân sự mà toàn dân đồng lòng mà từ quân, từ Trung ương tới địa phương

[37:07]tới làng xã đều tham gia vào cuộc chiến vĩ đại này? Văn hóa. Nó chính là văn hóa. Nó chính là tấm lòng. Nó chính là những áng văn bất hủ mà làm cho ta có cái niềm tự hào dân tộc, lòng yêu nước nồng nàn mà sẵn sàng xả thân cứu nước. Giống như bài Hịch tướng sĩ của của Trần Hưng Đạo vậy. Ông nói đến cái cái nhục của người mất nước. Một đất nước cả nghìn năm như vậy mà bây giờ giặc nó qua nó giày xéo, thế là cái tên sứ nó ngông nghênh nó đến đây nó nó nó nó làm nhục cả vua của mình. "Các ngươi không thấy nhục hay sao? Bình thường các ngươi sống nhờ ơn vua lộc nước, mà bây giờ giặc nó tới các ngươi không dám chiến đấu thì là như thế nào?

[37:47]Để đất nước nghìn thu này lại cho ai? Con cháu, vợ con các ngươi sẽ đi về đâu? Vì vậy từ bây giờ các ngươi phải lo mà rèn luyện binh lính để chuẩn bị chiến đấu mà chống giặc." Cái bài Hịch tướng sĩ thật là cảm xúc khiến cho các quân sĩ sau khi mà đọc xong cái lời đó rồi là khắc lên tay mình cái chữ "Sát Thát", quyết giết quân Mông Cổ. Mà biết rằng khi đã khắc lên tay mình rồi mà nó bắt được nó có tha không? Không tha. Tức là chấp nhận chết thôi chứ không bao giờ trở thành tù binh. Vậy chính vì vậy, chính cái bài văn Hịch tướng sĩ đó mà đã bốc thành một ngọn lửa chiến đấu mà đánh đuổi ngoại xâm.

[38:22]Thì sau này ta cũng đều có những điều tương tự như vậy, nên cái văn minh của thời Lý-Trần đã tạo thành những cái điều như vậy. Nhưng ta không có viện hàn lâm khoa học. Thời nhà Trần có lập thêm một cái Giảng Võ đường song song với cái Văn Miếu. Tức là Văn Miếu là nơi học văn, mà bên Giảng Võ đường bây giờ ta có cái đường Giảng Võ đó, là cái Giảng Võ đường để học về võ, thi cử về võ, luyện tập về võ. Bởi vì vua biết rằng là có văn có võ, đất nước mới cường thịnh được. Giống như Khổng Tử đã nói: "Túc thực, túc binh, dân tín chi." Dân chỉ tin vua khi nào mà dân đủ ăn và vua có đủ sức mạnh để bảo vệ họ.

[39:05]Thì cái văn võ như vậy, nhưng vào đời Trần còn có một cái trường học bí mật nữa mà ít ai biết đó là trường dạy tình báo của Trần Ích Tắc, Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc. Như vậy vào thời Trần ta có ba cái trường, ba cái trường lớn. Văn Miếu là nổi bật nhất vì từ thời Lý đã thành lập. Rồi sau đó tới cái Giảng Võ. Và tới Trần Ích Tắc thì ông lập thêm một cái trường riêng không tên không tuổi bên cạnh cái phủ đệ của ông, trường để chuyên dạy về tình báo. Mà đây là một điều ta biết thêm nè. Xin thưa, Mạc Đĩnh Chi cũng là một nhà gián điệp tài ba, vì Mạc Đĩnh Chi là học trò của Trần Ích Tắc. Trương Hán Siêu được thờ trong Văn Miếu cũng là một nhà tình báo

[39:51]tài ba vì Trương Hán Siêu cũng là học trò của Trần Ích Tắc. Nên vừa có học văn tại nơi Văn Miếu, học võ ở Giảng Võ đường và có cái trường tình báo của Trần Ích Tắc. Nhưng chỉ có một điều đáng buồn thế này, một điều đáng buồn mà sử ghi lại. Lúc đó Trần Ích Tắc cho rằng mình quá giỏi, giỏi hơn anh mình là Trần Thánh Tông, nên trong lòng cứ nghĩ rằng mình phải là người nắm ngôi vua mới xứng đáng. Nên đến khi mà quân Nguyên Mông chuẩn bị nó sang đánh nước ta thì nó cho tình báo đi vào trước. Đi đi vào trước thì khi mà tình báo nó xâm nhập thì cái lực lượng tình báo của Trần Ích Tắc chụp được liền.

[40:26]Tại vì ông Trần Ích Tắc ổng ổng chuyên trị về tình báo. Ổng chụp được liền nhưng mà khi chụp được rồi thì ổng bị mua luôn. Nên lúc đó là cái người đệ tử trưởng tràng là Nguyễn Văn Long là xúi Trần Ích Tắc là phải nên đầu phục nhà Nguyên, Mông Cổ để đến khi Nguyên Mông Cổ nó đánh mình chắc chắn nó thắng, nó sẽ phong cho Trần Ích Tắc làm An Nam quốc vương, mình sẽ trở thành vua. Đúng nói đúng ngay cái tim đen, cái tham vọng bí mật của Trần Ích Tắc, thế là Trần Ích Tắc đã bí mật ký kết với với quân Nguyên. Và chính vì cái ký kết bí mật đó mà Trương Hán Siêu đã bẻ phải là buông tẩu chạy trốn, chạy trốn khỏi cái trường và trốn về Ninh Bình.

[41:06]Sau này mới phò tá cho Trần Hưng Đạo, là cố vấn cho Trần Hưng Đạo trong hai cái trận chiến rất là khốc liệt. Đến khi mà cái cuộc chiến tan thì lính của Phạm Ngũ Lão mới bắt được nguyên một cái tập hồ sơ bí mật về các người ở trong triều đình nhà Trần mà đã ký kết với quân Nguyên Mông. Thì đem về giao nộp lại cho cho Trần Quốc Tuấn Hưng Đạo Vương và Trương Hán Siêu xem. Thì việc này là việc lớn của triều đình nên Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn cũng không quyết định. Sau khi đọc qua hết thấy tất cả các tên rồi mới giao lại cho vua Trần Nhân Tông. Thì hôm đó khi mà họp các triều thần để luận công luận tội,

[41:45]vua Trần Nhân Tông mới đưa cái xấp tài liệu đó ra, xấp tài liệu mà mọi người đều có ký tên với với quân Nguyên. Mà nếu theo cái luật pháp vào đời xưa vào thời phong kiến á, thì không phải chém một đời đâu, không phải chém một cái người mà đã ký tên với giặc đâu, chém mấy đời á? Chém ba đời vì cái tội phản quốc. Nhưng mà vua Trần Nhân Tông làm một điều mà lịch sử trên thế giới có lẽ chưa từng có. Vua cầm cái xấp đó vua đưa ra, vua nói: "Rất nhiều người trong triều thần, kể cả trong hoàng tộc đã ký kết với quân Nguyên, nhưng ta đã đánh thắng được giặc, Ta đã xác định được cái cái uy quyền của dân

[42:25]tộc, giặc đã thua, đã khiếp sợ, và ta nghĩ rằng các ngươi đã lầm lỡ một lần trong đời, ta cho các ngươi cơ hội để làm lại cuộc đời, chuộc tội. Phải phục vụ đất nước cúc cung tận tụy, không bao giờ được nghĩ tới cái chuyện mà phản bội quốc gia, phản bội Tiên Đế một lần nữa. Và để tha thứ, ta đốt tập này không bao giờ đụng tới." Vua đốt cái tập đó luôn trước triều đình. Mọi người thở phào, kể cả Mạc Đĩnh Chi. Thở phào, và từ đó cái coi như cái hồ sơ tội phạm mình xóa mất luôn. Cái vua Trần Nhân Tông cái đức độ lớn như vậy. Và có lẽ cũng chính vì điều đó mà con cháu nhà Trần sau này cũng hưởng được nhiều cái đức độ của của vua.

[43:04]Nhưng mà ta thấy rằng cái học thuật của nhà Trần rất là giỏi, vừa dạy văn, dạy võ và cả cả cái tình báo, nhưng ta thiếu cái cái Viện Hàn lâm Khoa học và nó để làm cái ảnh hưởng rất là lớn cho ta, để lại rất cái ảnh hưởng. Cho nên từ cái văn chương ta có những áng văn rất là hay, ta ta thành lập được cái nền văn học, ta thành một cái văn hóa, rồi ta thành cái nền văn hiến, rồi ta thành một cái nền văn minh. Nhưng mà khi văn minh mà ta có đó, ta đụng phải cái người Tây phương là người Pháp, ta thua liền. Khi mà những trận đánh Bắc Hà đầu tiên tấn công vào Hà Nội, dù là ta rất giỏi võ nghệ, ta múa cái đường gươm mà

[43:44]có thể mà hạt mưa không chạm vào người được, là ta có thể có những lời mà thuyết phục một con người người ta phải mềm lòng, ta có những câu phú câu đối để đời trong sách sử, nhưng ta thua cái súng đại bác của nó. Đại bác nó đánh nó bắn vào thành Hà Nội ầm ầm ầm, vỡ từng cái góc thành ra. Súng cái súng mà súng hoả châu của nó bắn từ xa ta chưa lại gần được nó bắn ta chết mất. Vì vậy mà ta thất thủ từ từ, rồi cả đất nước ta rơi vào tay giặc. Chỉ bởi vì ta có Văn Miếu, ta có Giảng Võ Đường, ta có cái trường tình báo Trần Dật Tắc, nhưng ta không có Viện Hàn lâm Khoa học. Nên cái nền văn minh ta thiếu một mảng đó, mà để lại 80 năm ta bị Pháp đô hộ.

[44:34]Nên cái văn minh của ta là văn hóa chưa kết hợp đủ với các ngành nghề khoa học. Ta có các phường nghề rất giỏi vào thời nhà Trần kéo dài qua các đời nhà Lê, nhưng mà không phát triển thêm nữa để không trở thành những khoa học, do ta không có Viện Hàn lâm Khoa học như là các nước phương Tây. Cả Trung Hoa cũng thua đau vì chuyện này, không phải riêng ta. Cả Trung Hoa cũng vậy, cũng có các dòng võ thuật, cũng có Văn Miếu, cũng có các đào tạo tình báo, nhưng mà rồi vẫn bị Bát quốc liên quân xâu xé đánh tan nát, bị cai trị một thời gian dài, kể cả phải lệ thuộc cả nước Nhật nữa. Cũng giống như ta thôi, chỉ bởi vì cái văn minh mà ta thành

[45:16]lập được nó thiếu một mảng khoa học kỹ thuật, mà sở dĩ thiếu cái khoa học kỹ thuật bởi vì ta thiếu cái Viện Hàn lâm. Đến ngày nay ta hình như cũng chưa có Viện Hàn lâm. Đến hằng ngày nay những cái viện sĩ Hàn lâm của ta cũng đều là viện sĩ của nước ngoài. Tuy ta là một người Việt Nam nhưng mà do cái tài trí của ta giỏi quá rồi những cái Viện Hàn lâm nước ngoài phong ta làm viện sĩ, chứ ta chính ta cũng chưa có Viện Hàn lâm, nhưng mà thôi cái đó để cho nhà nước tính, đại thừa như vậy. Nhưng mà điều đó chính vì điều đó mà ta thấy rằng điều này là cái văn minh ta thiếu một mảng. Mà tại sao? Tại sao ta giỏi đến như vậy, tài trí người Việt Nam giỏi như vậy mà ta lại thiếu mất?

[46:01]Lỗi tại đâu? Cho đến ngày hôm nay vậy, khi mà người Việt Nam ta ra nước ngoài đi học, học không thua ai mà dường như lớp học nào có người Việt Nam thì người Việt Nam đều đỗ đầu trong lớp đó. Ở đây những vị mà có con em mình đi du học có thấy có nghe nói như vậy không ạ? Có nghe nói như vậy không ạ? Ta thường đỗ đầu. Các nước này nước kia cả nên qua sang Trung Quốc học cũng giỏi nhất nhì, qua tới Tây phương, tới Mỹ, tới Âu châu ta cũng đều giỏi nhất nhì. Mà chúng tôi nghe nói thế này, người Việt Nam mình sang Trung Quốc học tiếng Trung Quốc nói hay hơn người Trung Quốc. Và đều được người Trung Quốc giữ lại để dạy và để làm việc cho họ bởi

[46:46]vì người Việt Nam nói tiếng Trung Quốc hay hơn người Trung Quốc. Xác định lại cái điều mà chúng tôi nói hồi nãy là chúng tôi mê tiếng Bắc là hoàn toàn chính xác là như vậy không phải một mình chúng tôi mê mà người Trung Quốc cũng mê luôn. Người ta cũng mê luôn.

[47:05]Ta đi đâu toàn giỏi đó, nhưng mà tại sao ta không có cái nền khoa học kỹ thuật vượt lên? Xin thưa, xin thưa chỉ bởi vì cái câu thơ ta hay quá, cái câu phú ta hay quá, cái câu đối ta hay quá, ta mê ta chìm trong đó luôn. Trong cái việc mà làm thơ làm văn làm phú á, cái khó nhất, cái đố mà phức tạp nhất là những câu đối. Những câu đối là cái một cái người họ ra câu đối thứ nhất, mình phải đối lại câu thứ hai mà mỗi cái câu nó mang tính chất gì cái ta tạo ra nó cũng phải giống như vậy, nó mang đầy đủ những tính chất đó, nghĩa là một chữ mang rất nhiều tính chất mà vẫn tải đầy đủ một cái ý người ta muốn nói.

[47:46]Ví dụ như khi Mạc Đĩnh Chi đi qua cái cổng thành, quan giữ thành đóng cửa lại, mới thảy xuống câu đối: "Quá quan trì, quan quan bế, thỉnh quá khách quá quan."

[47:59]Ta cứ nghe quan quan quan quan lặp lại. Quá quan trì, đi qua cửa trễ rồi; quan quan bế, cửa thành đóng rồi; thỉnh quá khách quá quan, ông có ngon đi qua đi. Mạc Đĩnh Chi đối lại: "Xuất đối dị, đối đối nan, thỉnh tiên sinh tiên đối." Ta cũng nghe cái đối đối đối đối lại. Tức là chữ nào quan nằm vị trí nào bên đây chữ đối nằm lại. Xuất đối dị, ra câu đối dễ; đối đối nan, đối lại mới khó; thỉnh tiên sinh tiên đối, ông có ngon đối trước đi. Nói là câu thách nhưng sự thực câu ông đã hoàn chỉnh là một câu đối, nó mang đầy đủ tính chất như vậy, nên ông kia nể quá mở cửa thành cho vô. Hoặc là những cái câu đối mà ta thấy nó nó phức tạp lắm như một ông quan

[48:37]mà nói chuyện với một cái người học trò ra một câu đối, thách câu đối: "Mu là mũ, để thì mới, đội thì cũ, đội rồi tiến lên phủ." Đây là câu đối bằng chữ Nôm. Thì ta cứ nghe mu mũ mũ mũ rồi phủ nó vần nhau, chữ này nó nối theo chữ kia. Mu là mũ, để thì mới, đội thì cũ, chữ mới với chữ đội nó vần nhau nó đứng sát bên cạnh nhau. Đội thì cũ, chữ cũ nó vần với chữ phủ. Đội rồi tiến lên phủ, chữ phủ nó vần với chữ cũ, nó vần với chữ mũ. Thì cái người học trò đối lại: "Đái là đai, để thì ngắn, dài, vắn rồi bước lên ngai." Cứ dài, ngai, đai rồi nó vần vần vần với nhau nó nối tiếp nó nằm đúng vị trí trở lại.

[49:16]Mà cái câu đầu chỗ này tính từ câu thứ hai chỗ đó phải là tính từ, câu này bên đây danh từ chữ đó phải danh từ, câu cái này nó vần theo thứ mấy thì bên đây nó phải vần mấy. Nghĩa là một cái câu đối nó một chữ nó mang rất nhiều tính chất mà nó vẫn phải hiểm hóc như vậy mà nó vẫn phải hay như vậy. Thì những cái đó nó lấy hết tất cả những cái tinh ba trí tuệ của nhà nho ta. Ta tối ngày cứ lo mà làm mấy câu đối để mà chứng tỏ cái tài năng của mình. Hoặc là như vậy, khi mà mà mà Cao Bá Quát còn nhỏ, đi đường ngông nghênh mà tánh ngông nghênh từ nhỏ cho tới lớn, gặp ông quan, quan đi mà ổng không thèm tránh đường, cái ông quan trói lại. Hỏi:

[49:55]"Mày là con nhà ai mà quan đi không biết tránh đường?" Nó nói: "Dạ, tôi là học trò." "Mày học trò tao ra câu đối mày đối được mới tha, không là đánh đòn mày." Thỉnh ngài ra câu đối. Cái ông quan ổng đứng gần cái cầu ổng thấy dưới nước trong có con cá, mới là ổng mới ra câu đối: "Nước trong leo lẻo, cá đớp cá." Thằng kia nói liền: "Trời nắng chang chang, người trói người." Ông cũng người như tôi mà ông cứ cá đớp cá, người trói người. Nghĩa là nó vần sát sát sát sát mà đầy đủ, ông kia nể quá tha liền. Đâu biết sau này Cao Bá Quát lên tới làm quan, làm quan chưa vừa ý làm loạn luôn, rồi sau này bị chém đầu.