[0:08]Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Hôm nay chúng ta học qua phần Thiền Định Ba La Mật. Ba La Mật thì có cái nghĩa là là rốt ráo, là trọn vẹn, là hoàn toàn. Thì thường cái ý nghĩa Ba La Mật á là dành cho các vị Bồ tát, là những người mà cái công phu tu hành đã rất là sâu dày, đã thành tựu được những cái thần thông, đó là ý nghĩa Ba La Mật á. Nhưng mà mình, mình là phàm phu, mà mình nói tới Ba La Mật thì mình không có hiểu, nên các loạt bài vừa rồi chúng ta nói là cũng chỉ nói những cái những cái khía cạnh thường thường, chứ không có nói hết cái ý nghĩa Ba La Mật, thì chúng ta tạm hiểu như vậy.
[0:54]Ví dụ như cái cái bài mà chúng ta nói về tinh tấn thì mình chỉ hiểu nó là một sự nỗ lực, hết sức là cố gắng để mà thực hiện được thiện pháp cho sự tu hành. Nhưng mà mình chỉ hiểu cố gắng theo kiểu phàm phu thôi, chứ nếu hiểu tới Ba La Mật thì mình không hiểu nổi. Vì sao? Vì các vị Bồ tát dùng thần thông để mà thực hiện cái cái sự tinh tấn thì mình làm không nổi. Đó là toàn là bằng cái cái phép không à, bằng cái thần lực đó, bằng cái công phu mà vài ngàn năm, vài triệu năm gì đó, những cái đó nó vượt ngoài cái cái sự nhận thức bình thường của con người. Do đó, chúng ta nói Ba La Mật cho mình cũng không có nói hết
[1:35]được cái ý nghĩa nó, chúng ta chỉ hiểu thường thường. Giống như bài hôm nay mình nói về Thiền Định Ba La Mật cũng vậy, mình cũng không nói hết được cái cái pháp Ba La Mật của Bồ tát, mà chỉ nói con đường tu của phàm phu chúng ta thôi. Vì sao? Vì khi một vị Bồ tát mà thực hiện cái thiền định á thì nó không giống như mình. Là các vị đều là đắc đạo hết rồi, có thần thông, nên các vị mà an trú trong thiền á thì đó là thường là đi vào cái Dụng, chứ không có đi tìm cái Thể. Như chúng ta vậy, bây giờ mình gọi là tu tập thiền định đi, mình ngồi mình bắt chân lên, mình ngồi mình nhiếp tâm lại cho thanh tịnh.
[2:15]Ví dụ như bây giờ nói cái giai đoạn mà giai đoạn đầu là chiến đấu vọng tưởng đã qua rồi, ví dụ như là mình đã đạt đến cái giai đoạn là tâm hồn thanh tịnh, định, thì cái định đó nó cũng không phải là sâu, định đó nó vẫn còn ở mức độ nào đó, vẫn còn phải tu. Đó là mình, còn các vị Bồ tát á thì các vị vào ngồi thiền định không phải ngồi để thiền nữa, cái giai đoạn đó qua rồi. Cái giai đoạn mà các vị Bồ tát ngồi để mà đi cho nó được cái định, không, nó qua rồi, nên nó khác mình. Hễ mình mà ngồi là để đi tìm cái định thôi, còn các ngài thì không có đi tìm cái định đó, mà mỗi khi ngồi thiền mà nhập định là đi vào một cái
[2:52]Dụng gì đó, vào cái Dụng gì đó, chứ không phải là để ngồi thiền. Như ví dụ, thường thường trong kinh hay ghi cái gọi là cái tam muội, âm từ cái chữ samadhi, có nghĩa là chánh định. Cái chánh định trong kinh ghi á luôn luôn là gắn theo một cái thần thông đó. Ví dụ như là nói rằng du hí tam muội, du hí là đi chơi á, thì khi các vị mà ngồi nhập định vào là xuất thần đi liền. Bây giờ mình hay gọi là cái thiền xuất hồn á, cái thiền mà mình hay chê á, mình hay nói là giống như ngoại đạo, chứ sự thật nó cũng là một cái gốc của thần thông chứ không phải không đâu. Nên các vị mà nhập vào đó là xuất thần đi liền,
[3:35]đi vân du á, cũng gọi là du hí tam muội. Còn có cái vị mà gọi là vào cái là phóng quang tam muội, thì các ngài nhập định vào đó cái các ngài phát hào quang khắp thân ngài, hướng cái hào quang nó về một cái chỗ nào đó, tức là các ngài nhập định là để hiện thần thông, làm một cái gì đó, chứ không phải là để để định tâm không. Hoặc là nói rằng là như sư tử hống tam muội, nghĩa là gì? Sư tử hống tức là tiếng con sư tử rống, là có trường hợp như là một vị đó đắc đạo rồi, nhưng mà cái thời xưa thì không có micro ampli như thế này, thì lúc mà trời mà phải nói trong cái hội chúng mà đông trùng trùng lớp lớp trùng trùng lớp lớp, người ta đến quá đông thì cái lời nói
[4:21]bình thường không được thì các ngài nhập vào trong định, nhập vào trong cái sư tử hống tam muội, thì nói một tiếng ở người ngồi gần nghe cũng vừa phải cái tai của mình, mà người cách đó một cây số nghe cũng vừa phải cái tai của mình, nó đều, cái tiếng nó vang đều hết khắp nơi luôn. Cái đó là dùng thần thông để mà nói chuyện. Thì các ngài vì hễ vào trong trong cái tam muội là vào trong chánh định là đi vào một cái Dụng gì đó theo như ý mình. Mà cái Dụng đó nó nó tùy mỗi vị mà tùy cái trình độ nữa. Có khi mà có những cái vị Bồ tát được cái tam muội này mà chưa được cái tam muội khác. Có những cái vị Bồ tát được cái tam muội khác mà chưa được cái tam muội này.
[5:04]Ví dụ như có cái vị gọi là đạt cái gọi là Hiện Nhất Thiết Sắc Thân Tam Muội. Tức là khi cái vị nhập định vào trong đó rồi thì ổng muốn biến thành hình gì biến, gọi là hiện nhất thiết tức là hiện thành tất cả cái hình dáng thân theo như ý mình đó. Cái ổng nhập định rồi cái biến thành bà già, thoắt cái biến thành ông già, thoắt cái biến thành một con sư tử, thoắt cái biến thành một cô gái. Cái đó gọi là Hiện Nhất Thiết Sắc Thân Tam Muội, nó cũng là một loại thần thông vậy. Nó nó nhiều dạng, và trong trường hợp đó thì cái thiền định đó đó mình hay gọi là Thiền Định Ba La Mật, tại vì các ngài dùng cái thiền định rốt
[5:41]ráo mà đi rất là sâu và cái Dụng rất là lớn. Còn như mình thì mình nói tới cái đó mình không hiểu. Thí dụ như bây giờ mình đi tìm cái định đi chưa xong, bây giờ mà nói bây giờ ngồi đó mà biến ra hình bà già, biến hình, mấy cô này chắc biến hình con gái thôi chứ không biến bà già. Thì thôi cái mình nghe mình đã không hiểu thì nói chuyện đó làm chi. Nhưng mà các ví dụ như là cái người ở trong định, ở trong cái cảnh giới đó người ta nói chuyện với nhau thì người ta hiểu. Cái cách gì đó người ta hiểu, còn mình mình không có hiểu. Hoặc là ví dụ như là phân thân tam muội đi, cái người mà họ đạt được cái định họ
[6:18]muốn, cái họ nhiếp vào trong định một cái, họ để một cái chỗ một người ngồi đây nói chuyện với mình, còn một người khác họ ra đằng kia uống nước mía gì đó. Khát nước kêu uống nước mía. Thì hai ba thân một lúc, mình thì thấy bình thường nhưng họ đã chia cái thân họ đi, mình nghe mình không hiểu nghĩa là làm sao. Nhưng mà Bồ tát với Bồ tát họ nghe họ hiểu liền, họ biết cái cách sử dụng của cái tâm như thế nào mà chia cái thân ra được, còn như mình mình không biết chuyện gì xảy ra hết, mà mình không biết là, mình chỉ biết là tâm cho nó định thôi. Ủa, rồi làm sao trong cái định mà lại hiện ra hình bà già,
[6:51]ông già, cọp, con beo rồi, hoặc là chia thân ra như thế nào, mình không hiểu. Không hiểu rồi cho nên cái chuyện mà của thánh mình bàn không tới, nên mình tưởng tượng thôi, tưởng tượng cho vui như là trẻ em. Bây giờ thì mình nói về Thiền Định Ba La Mật thì mình thôi nói thấp lại một chút, thấp nói chuyện của phàm phu, còn nói tới chuyện thánh mình nghe không nổi. Thì thiền định nó là cái giai đoạn cuối cùng trước khi chứng đạo quả. Bây giờ mình trở lại phàm phu thôi, vì mình tu từ từ qua nhiều cái công hạnh, mình tu qua nhiều cái công hạnh mình mới chứng được cái đạo quả, mà cái đạo quả là dùng cái chữ Tuệ á.
[7:38]Để nói được Giới, Định, Tuệ, thì Tuệ tức là quả đó, chứ còn ví dụ những cái hiểu biết mà không phải do Định mà có thì không gọi là Tuệ. Ví dụ như Phật tử mình đi, từ nào giờ mình cái hiểu biết của mình nó thường thôi, nhưng đến khi mình tu tập thiền định thời gian á thì mình cũng chưa phải là chứng sâu, nhưng mà tự nhiên mình hiểu giáo lý một cách rất là sâu sắc, thì cái đó cũng là do công phu tu hành mà có đó. Mà có, có một chút xíu thôi, chút xíu mà mình đã thấy mình vượt hơn ngày xưa rất nhiều. Nghĩa là hồi xưa mình đọc kinh mình không hiểu, ai nói xa nói gần mình không hiểu, hoặc là nghe một cái thiền sư nói chuyện với nhau mình không hiểu.
[8:24]Bây giờ mình thực hành mình tu chừng năm, bắt đầu mình hiểu được, đọc kinh mình thấy sáng ra. Hoặc là nghe người ta nói xa nói gần, người ta nhất là người ta hay nói xỏ nói xiên mình biết liền. Thấy nghe thiền sư mà nói bóng nói gió mình hiểu cái ý bên trong liền, thì như vậy mình đã thấy mình khác với một năm trước nhiều lắm. Mà cái đó cũng gọi là Tuệ đó, nhưng mà cái Tuệ đó mới chút xíu thôi, chưa phải thật sự. Còn vị mà đắc đạo thật sự thì cái Tuệ nó gấp bội bội lần như vậy nữa, cái hiểu biết của người ta siêu việt lắm. Đó là cái Tuệ. Nên trong trong Bát Chánh Đạo á, tới cái chánh đạo thứ tám là gì?
[9:02]Là Phật tử thuần thành quá đi, buông tới buông hết rồi. Là Chánh định mà không nói tới Huệ đi, không nói tới Huệ. Tức là Bát Chánh Đạo là cái con đường để đi, mà đi đến được tám cái giai đoạn đó, đến giai đoạn cuối cùng là Chánh định là coi như con đường coi là đã đi xong. Còn cái phần sau cái con đường đó là Tuệ giác thì tự mình chứng biết không nói nữa. Còn trong cái sáu pháp Ba La Mật, thì cái cuối cùng là Bát Nhã Ba La Mật, hôm nay mình mới nói Thiền định thôi, chưa có nói Bát Nhã. Bát Nhã là một loại trí tuệ đặc biệt của người chứng Đạo. Qua lần khác, qua lần sau thì mình sẽ sẽ nói tới. Thì cái trí tuệ đặc biệt của người chứng Đạo này, cũng là chuyện của Thánh.
[9:50]Cũng là chuyện của Thánh, dĩ nhiên là kỳ tới mình cũng sẽ không nói chuyện của Thánh đâu. Vì cái người mà chứng rồi thì họ siêu việt, mà nếu mình có nói cho ra cũng chỉ là bắt chước thôi. Nên mình phải tiếp tục nói theo cái, mình hiểu sơ sơ cái con đường của Thánh là vậy, rồi mình trở lại cái bổn phận của mình, cái vị trí của mình là một phàm phu. Cũng giống như hôm nay vậy, mình nói chuyện về thiền định cũng là nói của phàm phu. Thì thiền định là cái giai đoạn cuối cùng trước khi mình chứng được cái tuệ giác của Đạo quả đó. Nó ờm mình chuẩn bị rất nhiều công hạnh nhưng mà để cuối cùng thành tựu được cái thiền định này.
[10:27]Thiền định có nghĩa là nhiếp tâm vào vào yên lặng. Cái căn bản cái đơn giản là vậy. Tuy nhiên là chúng ta đã rất nhiều lần nói về thiền định. À trong các băng thì chúng tôi đã từng có giảng từ những năm trước. Rồi ở đây, đã có nói về các pháp môn tu hành trong Đạo Phật, cũng nói về thiền định. Thì hôm nay cái đề tài này lại trở lại. Do trở lại, cho nên chúng ta sẽ không đào sâu. Chúng ta chỉ ừm nói khái quát và bổ sung một số điểm nào đó cần thiết. Đó, thì thiền có nghĩa là làm sao mà nhiếp tâm cho thanh tịnh, đừng suy nghĩ, nói cho yên lặng, nó như vậy. Nhưng nó có cái mục đích của nó, có cái mục đích.
[11:10]Tâm định không suy nghĩ, nói thì đơn giản thôi, nhưng mà người có thực hành thì mới thấy nó có nhiều giai đoạn, nhiều lớp đó. Những cái lớp cạn, lớp sâu sâu dần sâu dần, mỗi cái trạng thái nó khác nhau hết. Ví dụ như một người mà ở giai đoạn đạt được cái chánh niệm tỉnh giác đó, thì đã thấy người mình thay đổi rồi. Thấy tâm mình rộng rang hết, tỉnh giác, sáng tỏ, nhẹ nhàng, đi đứng khoan thai, thấy người rộng rang như mây như gió, đó đã thấy mình qua một cuộc sống khác rồi, là mới có sơ sơ đó, chúng ta mới có chánh niệm tỉnh giác, là đã thấy mình sống qua một cuộc sống khác rồi. Rồi cái người mà họ vào sâu hơn nữa họ đạt được Sơ thiền, thì hoàn toàn khác hẳn.
[11:57]Cái cái cái tính cách của họ, cái tâm hồn của họ, đời sống của họ là của một vị Thánh, của một vị Thánh đó. Tuy có thể mình nhìn bên ngoài mình không biết, nhưng mà bên trong họ khác rồi. Họ thanh tịnh, rộng rang, sáng suốt, nhẹ nhàng, thư thái, vượt qua những cái tầm thường của con người. Thì cứ mỗi lớp định như vậy, thì cái nhìn bên trong của họ đối với cuộc đời nó thay đổi, cũng như những cái cái bản lĩnh rồi cái tính chất về đạo đức của họ thay đổi hết, không có giống ngày trước. Bên ngoài nhìn thì có khi mình biết, có khi mình không biết, nhưng mà bên trong những người như vậy họ thay đổi hết, đó.
[12:39]Như ví dụ chúng ta có tu đi, thì mới bắt đầu mình tu ngày hôm nay như vậy, mình tinh tấn mình tu qua một năm sau, tu với tinh tấn đi, có thể mình đạt được cái chánh niệm tỉnh giác là mình thấy nhân sinh quan này kia nọ, kiếp người thay đổi hết sạch luôn không còn gì hết á. Cái ngày trước mình thích đi vui chơi bây giờ hết thích, hoặc là những cái mà ngày trước mình đắm mê bây giờ hết, những cái ngày trước kia mình hay sân, hay giận bây giờ hết. Đó là những cái thay đổi, thay đổi khác hết. Đó là cái định nó đã nhiều lớp như vậy, nhiều lớp, nhiều mức độ như vậy. Nhưng mà cái mục đích của Đạo Phật khác và của ngoại đạo
[13:19]khác, mà trên bước đường giống nhau nhiều lắm á. Nên đây là chỗ mà chúng ta cẩn thận. Như ví dụ mình thấy một người họ cũng siêng năng ngồi thiền, có công phu, rồi cũng có thần thông hoặc là họ nói lên những cái cái trạng thái, những cảnh giới của người tu thiền rất giống với Đạo Phật. Nhưng mà khoan, khoan cho đó là Đạo Phật. Rất là giống, nên các Thiền sư hay dùng cái câu là "Giống thì giống mà phải thì không phải" là vậy. Nghĩa là cũng được cái định như vậy, cái người tu thiền theo Đạo Phật á cũng được cái chánh niệm, cái Sơ thiền, cái ngoại đạo họ cũng tu được như vậy luôn. Cái mức độ định giống giống nhau như vậy.
[14:01]Cái trạng thái mà nói ra giống hệt nhau. Ví dụ như đều diễn tả cái trạng thái của tâm là là tâm rộng rang, hư vô, nhẹ nhàng, sáng suốt, tỉnh giác, vân vân. Nói nghe giống hệt không gì khác Đạo Phật hết, nhưng mà coi chừng ngoại đạo. Ngoại đạo ở chỗ nào? Ở chỗ cái mục đích, cái mục đích. Cái điểm xuất phát và cái mục đích khác nhau, mặc dù cái định thì giống nhau. Vì chúng ta có thể chia cái thiền định làm ba ba yếu tố hay ba giai đoạn để mình phân biệt, là bắt đầu nè, ở giữa nè, đường đi nè, và cái đích đến. Thì ở giai đoạn giữa, ở cái định á, giống nhau. Đạo Phật với ngoại đạo giống nhau, nhưng mà cái điểm bắt đầu á khác và điểm cuối cùng để đến khác.
[14:58]Đây là để điều rất là lạ. Điểm bắt đầu khác nhau ở chỗ nào, ai biết? Người nào biết là người đó thuộc bài. Bắt đầu là sao? Dạ thưa thầy đạo đức. Đúng. Ồ, giỏi thiệt ta! Đúng đó, cái bắt đầu là đạo đức. Cái người Phật tử mình á kinh thì muôn thiên vạn quyển, đủ thứ chuyện hết, nhưng mà cứ khởi điểm bằng cái đạo đức cho thật sâu dày. Tu từng tâm, từng hạnh, từng chút một. Thì lỡ mình nói một tiếng nào có vẻ khoe khoang, phải hối hận. Mình lỡ mình gắt gỏng với ai, phải hối hận. Tức là cứ sửa cái đạo đức từng chút như vậy. Hoặc là mỗi lúc nào đó mình thấy có thể giúp được ai mà không giúp, đêm về phải hối hận.
[15:49]Biết là mình cái đạo đức mình chưa có tròn. Khởi điểm là như vậy. Cho nên, tuy chưa được vào định, mà cuộc sống mình đã thanh thoát, đã lợi ích cho mọi người, đã biểu hiện được cái đạo đức tốt rồi. Rồi khi vào định thì coi chừng giống ông thầy bùa bên kia ổng cũng y như mình. Nhưng mà tới khác nhau, tới khác nhau chỗ nào? Là mình mục đích của mình là phá được chấp ngã, không còn thấy có ta nữa, gọi là đi sâu hơn là phá được vô minh, chấm dứt cái sự si mê nhiều kiếp, đạt cái sự giác ngộ hoàn toàn. Mà nói luôn cái hiệu quả sâu xa nữa là vượt ngoài ba cõi ngàn đời, phá vỡ cái luân hồi luôn, không còn bị nghiệp lực lôi mình đi vào luân hồi nữa.
[16:35]Mình chỉ đi vào khi mình muốn mà thôi. Khi mình cảm thấy có duyên cần phải độ chúng sinh thì trở lại còn không thì thôi. Đó là cái mục đích của người trong Đạo Phật. Nên cái khởi điểm và cái mục đích. Còn cái người ngoại đạo á, bắt đầu họ không chú ý đến đạo đức lắm. Là chỉ cần tin ông thầy nào đó ờ ổng điểm Đạo cho, làm cái lễ gọi là điểm Đạo gì đó, rồi thực hiện một cái phương pháp để được định tâm. Cái định tâm thì có khi giống giống nhau, hơi trạng thái hơi giống giống nhau. Cái khởi điểm lại không chú ý tới đạo đức nhiều, mà chỉ cần tin ông thầy, tin vào cái thế lực sau ông thầy, nhờ ông thầy điểm Đạo gì đó.
[17:20]Rồi cái đích đến là gì? Là đạt được cái mục đích của ông thầy mình. Ví dụ như là có quyền năng, à có thường là quyền năng siêu phàm, có thần thông, có phép lạ, có năng lực giao tiếp với thần linh, sai khiến được âm binh, vậy vân vân. Nhưng mà cái cái mục đích nó khác, nó thuộc về trần gian và si mê. Nên những cái ông thầy bùa, những thầy pháp ngày xưa đó mà sai khiến được âm binh, mình đừng tưởng là mấy ổng dở nha. Mấy ổng có sức định vững lắm á, không phải dễ đâu. Hễ mà nói tới cái định thì mình phải bái mấy ổng đó. Mấy ổng cũng là rèn luyện một cách kiên trì lắm, thức đêm thức hôm mà ngồi thiền,
[18:03]nghĩa là đủ thứ chuyện mà luyện tập chứ không phải không. Nhưng mà chỉ có cái là cái điểm xuất phát không để ý tới đạo đức, cái điểm cuối cùng không để ý tới cái cái vô ngã, vậy thôi. Như tôi nhớ hồi tôi còn nhỏ, lúc đó gia đình tôi thì có quen với ông
[18:24]ông cụ già, sau này mới hay là ổng là ông thầy bùa, ông thầy bùa, thì thấy nhà ổng có thờ bàn thờ lớn, mà giống như cũng có cái duyên gì tôi hay tới chơi với cái người mà tôi hay kêu là cậu là dì vậy. Thì cái ông cậu mới được học của ông cụ đó, ông cậu tôi gọi là ông cậu đó, mới được học cái phép thuật gì của ông cụ truyền lại thì tôi không có biết. Mà tại tôi hay đến đó để ổng dạy tôi võ judo hồi nhỏ này. Rồi sau đó lúc thân tình ổng mới dạy cho một cái phép luyện tập, nói rằng cứ đến về nhà tối khi ngủ thắp cây nhang, lập cái bàn thờ, cắm cây nhang rồi cứ ngồi trước nhang yên lặng nhìn cây nhang đó.
[19:07]Nhìn đừng suy nghĩ gì hết cho tới khi nào mình thấy cây nhang bắt đầu ánh sáng nó đổi màu, phát ra. Thì tôi cũng nghe lời, tôi tập. Tập thì cũng thấy ánh sáng nó cũng thay đổi thiệt. Nhưng rồi không có duyên cho nên tôi bỏ. Tôi bỏ rồi cũng không có để ý tới. Sau này lớn lên khi mình gặp được Đạo Phật, nhớ lại những cái phép tập luyện đó mới biết, mới biết rằng bên ngoại đạo họ cũng có những cái phép luyện tập kiên trì và cực khổ chứ không phải là không. Họ cũng có những cái định nào đó của họ chứ không phải là không. Nhưng mà cái khởi điểm không bao giờ nói tới đạo đức, cho nên thường là ví dụ như chúng ta nghe nói ông thầy pháp,
[19:46]ông thầy bùa họ sống theo cảm tính nhiều lắm, có khi thù, khi hận vẫn hại người này, hại người kia vậy. Và dĩ nhiên là chẳng bao giờ mà chúng ta nghe tới cái sự giải thoát, đó cái mục đích nó khác nhau là như vậy. Còn chúng ta có cái xác định rõ ràng là chúng ta đi đến cái cái vô ngã vượt khỏi cái vô minh, vượt khỏi cái luân hồi. Cái ý nghĩa ba la mật mà chúng ta hiểu ở mức độ thấp như mình đó nghĩa là quyết tâm đạt đến cái định tuyệt đối, không dừng lại giữa đường, không tự mãn nửa chừng, đó là cái ý nghĩa ba la mật mà mình hiểu nơi cái thiền định ba la mật. Cái ba la mật mà cái vị Bồ Tát hiểu khác mình.
[20:32]Mình hiểu khác. Mình hiểu thấp lại, đơn giản lại. Ba la mật có nghĩa là trọn vẹn, là hoàn toàn. Và như vậy khi mình tu tập là thiền định ba la mật thì mình phải có cái quyết tâm đạt đến cái định tuyệt đối không có dừng giữa đường. Đây là chỗ chỗ khó, chỗ khó là thế này.
[20:55]Khó là chúng ta đi vào thiền định là chúng ta đi vào con đường mà mình chưa từng đi bao giờ. Kiếp trước mình có đi hay không thì mình không có biết, nhưng mà trong kiếp này thì đây là con đường mà mình chưa bao giờ đi tới, chưa bao giờ đi qua một lần nào qua, chưa bao giờ. Nên mình đi tới một cái chỗ đó bắt đầu nó có những cái mới lạ mình không biết đây phải chỗ đã đến chưa hay còn con đường nào đã đi tới nữa hay không? Mà cứ mỗi bước đi tới thì cứ những cái cảnh giới đẹp nó hiện ra. Ví dụ như chúng ta nghe nói rằng là có một nơi gọi là
[21:33]ví dụ như mình là ở Sài Gòn đi, mình nghe nói nếu mình đi về phía Biên Hòa đi về cái phía đó, về phía xa lộ mình sẽ đi đến một cái tịnh xá Ngọc Thạnh. Nói tịnh xá này đẹp lắm, trong đó có cái ni sư trụ trì dễ thương lắm, hơi dữ một chút nhưng mà cũng dễ thương lắm. Nên cái rồi mình đi, mà cái con đường đó mình chưa có đi bao giờ, thế mình đi được hai cây số thì mình thấy một cảnh đẹp, có hoa thơm cỏ lạ, có cái người nào cũng dễ thương, cũng hơi dữ dữ. Mình nói biết phải chưa ta, biết phải tịnh xá Ngọc Thạnh chưa? Đó, tại con đường mình chưa đi lần nào. Nếu lúc đó có người đi trước người ta nói chưa đâu,
[22:13]tới chút nữa, đi nữa đi thì à thế mình đi nữa. Chứ còn mà nếu không có ai nhắc cái mình cũng dám tưởng đây là cái cô đó, mình vô mình xin ở này kia nọ là coi như mình đã tới đích rồi. Đó, tại vì mình chưa từng đi qua thì cũng vậy. Trong cái thiền định cũng vậy, mình nhiếp tâm vào trong định thấy không còn chuyện gì để làm nữa, tâm thanh tịnh rồi thế mình nói: "Chắc tới rồi quá, xong rồi quá." Đó, bởi vì thấy định rồi, đó mà đâu có ngờ rằng là chưa, con đường vẫn còn phải đi, còn rất là xa, nó như vậy. Do đó là chúng ta phải có cái tâm nguyện là không dừng lại giữa đường, mặc dầu chả biết cái đích
[22:55]nó ở đâu hết trơn, cũng chả biết cái giữa đường là ở đâu, cái đích là ở đâu nhưng mà vẫn phải có cái tâm nguyện đó. Chính vì mình có cái tâm nguyện đó nên Tam bảo sẽ gia hộ cho mình đi tới nơi. Mà nếu mình tự mãn thì mình đứng lại ráng chịu á là bị tổn phước liền. Do đó là khi chúng ta khởi hành, khi chúng ta xuất phát thì chúng ta phải chuẩn bị một cái tâm khiêm hạ. Nghĩa là khi chúng ta xuất phát thì chúng ta phải chuẩn bị cho mình cái tâm niệm hết sức là khiêm hạ, không bao giờ cho mình là đã đủ hết.
[23:41]Cái này nó rất là khó mà mình phải chuẩn bị trước, nếu không chuẩn bị trước mình sẽ dừng lại. Vì sao? Vì nếu cái tâm này mình chuẩn bị không kỹ á đến lúc mình gặp cái cảnh quá đẹp mình sẽ tưởng là xong rồi. Như bây giờ ví dụ mình đi từ Sài Gòn về đến tịnh xá Ngọc Thạnh nó qua tới sáu, bảy giai đoạn. Mình đi tới giai đoạn thứ tư là mình chịu hết nổi rồi vì quá đẹp rồi. Tới cái trạm thứ tư là mình thấy là lâu đài điện các hiện ra, thế là hoa thơm cỏ lạ, trong đó là có bún riêu, bún bò, đủ thứ hết mà không phải là một sư cô dễ thương mà dữ, tới ba sư cô vừa dễ thương vừa dữ y như là mình được nghe diễn tả.
[24:24]Thế là nó nó nó mình thấy thôi vậy quá đúng rồi. Mình dặn là chỉ có một thôi mà ở đây tới ba lận là quá quá được rồi chứ gì nữa. Thôi mình dừng lại luôn không đi nữa, nhưng mình đâu có ngờ rằng con đường vẫn còn phải đi tới nữa. Đó đây là điều mà nó khó như vậy. Cho nên nếu mà cái tâm ban đầu mình không đủ á, mình phát nguyện không mạnh thì nó chỉ đẩy cho mình đi được tới hai, ba chặng là hết. Do đó, khởi điểm lúc xuất phát mình phải thiết tha tâm nguyện với Phật, cầu Phật gia hộ cho mình là nguyện cho con đi mãi, không đứng lại giữa đường. Gì nữa? Có ai thuộc không? "Đến tuyệt đối vô biên tâm đồng tâm chư Phật."
[25:11]Đó, mình nhờ cái tâm nguyện thiết tha như vậy cho nên đến lúc nào đó mình muốn tự mãn là sẽ có Tam bảo nhắc nhở để mà đi tiếp. Chứ những cái thắng cảnh về sau càng lúc nó càng vi diệu, mình không lường được. Mình đi ngang bãi công viên nước là thôi thấy quá thiên đường rồi nhảy vô tắm hơi chứ không nói gì nữa hết. Nhảy xuống lội bơi xì xèo trong đó chứ khỏi cần thôi Ngọc Thạnh đây rồi, hổng đâu nữa hết trơn. Đó, có thức ăn thức đồ đầy đủ, có trượt nước trượt đồ là vậy đó. Nói vậy chứ tôi chưa có vô đâu, nghe người ta kể thôi chứ không có biết. Rồi chúng ta thấy nó có trong đạo Phật có nhiều cái
[25:49]tông phái à mỗi tông phái có một cái chỗ gọi là đến đích mà chúng ta so sánh những cái những cái đích cuối cùng của họ cũng không giống nhau. Không giống nhau nữa, nên đây là điểm mà không khéo chúng ta sẽ bị hoang mang. Ví dụ, có một cái tông phái á cái tông phái A đó, mình kêu là A thôi đừng kêu tên ai mít lòng. Là khi họ tu đạt đến mức độ nào đó họ gọi là họ triệt ngộ, xong việc. Đó, thì họ thấy là đến đây là các thiền sư sẽ ấn chứng cho nhau hết. Như vậy là xong hết á. Như vậy là đã xong việc, hoàn toàn tâm đã bằng phẳng rồi, không có hơn thua gì nữa hết. Nhưng mà mình bên ngoài mình đứng bên ngoài cái tông đó mình nhìn vào mình
[26:35]sẽ thấy là cái vị đó chưa đủ tam minh lục thông, chưa có thần thông. Nhưng mà chính bản thân vị đó cũng như các vị thầy của vị đó xác nhận tu đến như vậy là viên mãn, không hơn được nữa, ha và và không còn gì phải làm nữa, đã trở thành thầy của thiên hạ rồi. Nhưng bên ngoài thì mình thấy chưa có tam minh lục thông. Rồi một cái tông phái B họ tu họ nói đạt cho được thần thông luôn, tức là được tam minh lục thông, theo như họ nhiều vị đã nói như vậy, là mới gọi là xong việc, là phải chứng thần thông viên mãn, nhớ được nhiều kiếp xưa, quan sát được cái sự sinh tử luân hồi chúng sinh, có thần thông rất là rõ.
[27:18]Đó, nhưng mà mình đứng bên ngoài cái tông đó mình nhìn mình quan sát thì mình lại thấy sao những cái biểu hiện về đạo đức, về từ bi, trí tuệ của vị này lại không có rõ ràng, không có hiển lộ. Đó là cái điều mà mà mình sẽ thấy như vậy. Đó là so sánh thì thấy nó có khác nhau như vậy. Vì đây là sau Phật rồi. Thời Đức Phật á hễ Đức Phật ấn chứng cho ai, Đức Phật xác nhận người nào xong thì đúng người đó xong thiệt. Còn bây giờ thì mỗi tông phái có cái cách ấn chứng của riêng mình, mà nếu mình đem mình so sánh với thời Đức Phật á thì mình thấy nó vẫn còn thiếu một cái gì đó. Mà không hiểu tại sao mà bây giờ thì người ta cho là đã xong việc.
[28:01]Một bên thì cho là xong rồi, tu xong rồi thì thấy chưa có tam minh, chưa có là thiên nhãn minh, túc mạng minh, lậu tận minh. Còn một bên thì cho rằng có tam minh lục thông rồi thì mình nhìn thấy cái từ bi trí tuệ nó chưa có sáng, chưa hiển lộ. Ví dụ như có thể là nói đến cái lỗi lầm của người khác với một giọng điệu khinh miệt, mình nghe thì mình biết cái này không phải từ bi. Thì vì sao? Vì cái từ bi trong đạo Phật là thương yêu tất cả chúng sinh mà thương là thương cái lầm lỗi đó. Chứ đợi người ta khổ, đợi người ta nghĩa là thiên tai, bão lụt, bị thương, bị tật, nguyền, vân vân thì mới động lòng thương thì cái đó phàm phu làm được.
[28:46]Phàm phu làm được. Chúng ta thấy nhiều cái hội từ thiện ra đời là vậy đó, là để cứu giúp những người bất hạnh, những người không may mắn. Nhưng mà nói tới tội phạm thì không có chuyện mà cứu giúp, hễ có nói là sao? Vô tù thôi, phải không? Khinh miệt, coi thường. Nhưng cái thái độ mà thương cái người khổ mà khinh miệt cái người lầm lỗi là thái độ của phàm phu. Và những người đó chỉ nhìn trên cái quả mà không nhìn trên cái nhân. Còn Bồ Tát là sao? Bồ Tát là sợ nhân, chúng sinh sợ quả. Nghĩa là thấy chúng sinh làm bậy là thấy trước cái khổ mà chúng sinh đó phải chịu là thương liền rồi. Như thấy thằng bé nó đứng nó chửi làng, chửi xóm, chửi cha, chửi mẹ nó,
[29:30]lấy tiền nó hút, nó xách, mình thì là phàm phu mình thấy cảnh đó mình thấy làm sao? Mình ghét. Nhưng Bồ Tát thấy nó vậy là thấy liền cái kiếp sau nó làm con chó liền, bị người ta đánh, người ta đập liền. Thấy liền, nhìn nhân là thấy quả liền thì ngay từ bây giờ lúc nó đang nói những lời nó chửi bới hàng xóm, nó hỗn với cha với mẹ nó là đã thương nó rồi, thấy đáng thương. Đó, Bồ Tát là vậy. Cho nên cái đạo đức, cái trí tuệ nó sắc bén mà nó sâu xa, nó bao dung. Thì chúng ta phải, do đó hiện nay có nhiều các tông phái, mỗi tông phái đều có cái đích đến của mình. Nhưng chúng ta phải cẩn thận đối chiếu lại, đừng có tin một chiều, đừng tin một chiều.
[30:18]Chúng ta phải lấy cái tiêu chuẩn từ thời Đức Phật, nghĩa là của Đức Phật, của các vị A-la-hán, của các vị Bồ tát, để chúng ta xác nhận một cái cái cái đích đến thật sự cho mình. Là mỗi tông phái đó, chúng ta nghĩ rằng họ đều có cái sở đắc rất là tốt, rất là tốt. Tuy nhiên, chúng ta mong rằng họ sẽ tiến xa hơn nữa để được đầy đủ mọi khía cạnh của đạo Phật. Đầy đủ mọi khía cạnh đạo Phật đó là gì? Đó là công phu thiền định của họ đến chỗ tuyệt đối. Cái thần thông gọi là tam minh lục thông hoàn toàn viên mãn. Cái từ bi, cái đạo đức, cái trí tuệ của họ không còn sơ hở nữa. Đó, chúng ta mong cái đích đến của tất cả các tông phái
[31:03]trong đạo Phật hiện nay đều phải được như vậy hết. Và đó cũng là cái cái đích mà chúng ta nhắm đến cho chính mình. Đó, đạo Phật phải gọi là viên mãn trên mọi khía cạnh, chứ không thể là được mặt này mà mất cái mặt kia. Đây là điều chúng ta cẩn thận. Hiện nay vậy, cũng như là có cái cơ duyên lành đối với Phật giáo nói chung và Phật giáo Việt Nam nói riêng, thì chúng ta thấy cũng xuất hiện nhiều cái vị tu hành đặc biệt là đã
[31:39]nói lên tiếng nói, hoặc là cũng đã hoằng hóa rộng rãi, đi dạy nơi này dạy nơi kia. Đó là điều gọi là cái duyên phước trong Phật pháp. Nhờ những cái vị mà có cái có cái công phu tu hành thực sự và cũng có kết quả thực sự nào đó mạnh dạn nói lên cái tiếng nói về thiền, khiến cho rất nhiều người theo đạo Phật, kể cả tăng ni lẫn Phật tử, cảm thấy hăng hái, siêng năng mà thực hành tu tập. Khác với cái giai đoạn cái giai đoạn mà không có những cái vị có cái công phu tu hành thực sự, lúc đó đạo Phật chỉ đi trên hình thức, đi trên cái giáo lý, ngôn ngữ, trong nghi lễ, trong cái niềm tin, những cái sinh hoạt tín ngưỡng thuần túy.
[32:32]Trong cái thời gian đó, mình đến chùa có niềm tin, tụng kinh, học giáo lý, nghe giảng rồi hiểu vậy thôi, chứ không có nhiều. Rồi mình cũng cảm thấy là nghe trong kinh nói thì con đường giải thoát đạo Phật khá cao, nhưng mà trong thực tế hiện tại, mình không được cái sự thúc đẩy bởi những cái vị thầy đặc biệt nào hết. Do đó mình tu tu thường thường. Còn trong cái giai đoạn gần đây, thì có một số vị thật sự là có công phu rất là tốt. Đây là điều chúng ta ca ngợi thực sự, chứ không có phải là mình mình nói bóng gió hay là nói nói khoác lác hay nói bề ngoài, mà thật sự là chúng ta khâm phục. Có nhiều vị có cái công phu tu hành rất là tốt,
[33:18]mà nhờ có cái công phu nội tại tốt như vậy nên các vị đó nói lên rất là mạnh, nói rất là mạnh, thúc đẩy không biết bao nhiêu người cùng thực hành tu tập. Và như vậy cái đạo Phật của Việt Nam mình chuyển mình chuyển mình, từ những cái ngôi chùa mà ít tu, bây giờ cũng bắt đầu phải có công phu, hoặc là phải siêng niệm Phật, hoặc là phải siêng tọa thiền, quán hơi thở, quán Bát-nhã, vân vân, là có thực hành chứ không còn có thể đến với đạo Phật trên cái hình thức nghi lễ nữa. Đó, đó là cái cái giá trị. Thì quý Phật tử cũng vậy, nếu quý Phật tử mà ngày hôm nay có cái công phu tu hành tinh tấn, thì cái phước mà để dành về sau rất là lớn, rất là lớn. Lớn ở chỗ nào?
[34:16]Lớn ở chỗ là có lợi cho bản thân mình trước, mình định mình định cái hướng cuộc đời mình từ kiếp này qua những kiếp sau, luôn luôn mình đi mạnh mẽ trên đường giải thoát. Và cái lợi cho chúng sinh khác là nếu mình có thực hành, mình khuyên ai tu mình nói mạnh, mình nói mạnh, không có nói hờ hững. Còn nếu mình không có tu nhiều á, cái mình nói không có mạnh miệng. Cho nên mình có tu thì những người chung quanh mình được lợi. Mà mình có tu nói cái lợi cho bản thân mình đó, nó như thế này.
[34:51]Ví dụ bây giờ mình còn là cư sĩ, nhưng mỗi ngày mình đều đặn ngồi thiền, lạy Phật, đều đặn, thì cái nhân đó là cái nhân xuất gia qua kiếp sau. Coi như nói kiếp này coi như mình muộn rồi đi, không thể xuất gia được đi, thì qua kiếp sau, tự nhiên mình rất dễ trở thành người xuất gia. Hoàn cảnh tự nhiên thuận tiện, rồi cái tâm nguyện của mình cũng phát mạnh lên, dễ dàng được làm người xuất gia hơn kiếp này. Mà một cái khác nữa là trong cái sự phán xét của nhân quả, là mình cũng được tha thứ rất nhiều điều.
[35:31]Nghe cái sự phán xét của nhân quả mình nghe nó giống như có một vị thần linh nào đứng ra phán xét, mà sự thật cũng vậy đó, sự thật là cũng vậy chứ không phải không đó. Sự thật là cái nhân quả là cái đỉnh cao, nhưng mà trước khi đến cái nhân quả tuyệt đối đỉnh cao đó, chúng ta bị xử xét xử qua nhiều cái trung gian cụ thể đó. Giống như ở thế gian này đi, thì có gì? Có công an, có viện kiểm sát, có tòa án là mình đã bị phán xử một lần rồi. Thì những vị đó phán xử cũng dựa dựa gần gần giống với nhân quả, nó cũng không khác lắm, phải không? Không khác lắm đâu. Dĩ nhiên là nó không chính xác hoàn toàn,
[36:11]cũng không có công bình hoàn toàn, đôi khi cũng có xử oan. Nhưng mà trên nguyên tắc, thì những cái bộ máy tư pháp, cảnh sát, viện kiểm sát, tòa án là cũng dựa vào cái lương tâm của cái luật nhân quả mà phán xử.
[36:28]Giết người, có tình tiết giảm nhẹ gì đó mười năm, hai chục năm; giết người mà không có tình tiết mà ác độc quá thì cho tử hình luôn, rồi. Nghĩa là khi mà phán xét nghĩa là cũng giống như nhân quả chứ không phải không. Đó là cái lớp thứ nhất là lúc mình còn sống. Lúc mình chết thì ai xét lần nữa? Ai xét lần nữa? Diêm Vương, quỷ sứ rồi đó. Thì đây là cái chuyện mình nghe đồn thôi, chứ vì mình chưa có chết nên không có biết. Nhưng mà cũng cũng nghe đồn như thế này, là khi mình chết thì thấy có quỷ sứ lại dắt mình xuống dưới gặp Diêm Vương. Diêm Vương mới lật sổ ra coi nghĩa là trong lúc sống mình
[37:07]làm gì, ăn bao nhiêu con chó, bao nhiêu con gà, kê ra hết rồi, nó đứng lúc nha lúc nhúc ngoài kia nó sủa gâu gâu kìa, nó đòi nó đòi thường mạng nữa đó. Rồi đã làm được bao nhiêu việc thiện, coi là tặng cho người khác bao nhiêu bộ đồ cũ, phải không? Rồi cho hàng xóm mấy lít gạo, ghi sổ hết. Rồi có cúng chùa mười ngàn nhưng mà cạy cạy lấy lại năm ngàn, thối lại năm ngàn thôi, thì cũng ghi sổ đâu đó hết rồi, chứ không có sót cái chuyện gì hết. Thì bắt đầu mới tính, à công nó vậy, tội nó vậy, thì thôi cho nó sao sao.
[37:40]Nhưng mà nếu trong đó có một cái mục là cái người này thì vừa làm phước, vừa tạo tội, nhưng mà đêm nào cũng ngồi thiền, cái ông Diêm Vương ổng gật gù, ổng nói thằng này cũng được, cũng được, có ngồi thiền là bộ khá. Nghĩa là cái nhân này là nhân tương lai thành thánh. Bây giờ thì nó còn lộn xộn, thỉnh thoảng là thấy qua quán là mua rượu uống, phải không? Có, phải không? Dạ có, uống hết mấy can, tính ra từ nhỏ tới lớn này uống hết ba chục lít rượu. Rồi cũng này có khi phước khi tội, khi thiện khi ác nó lẫn lộn, nhưng mà được cái nghĩa là những khi mà tỉnh rượu thấy cũng có ngồi thiền. Mày gieo cái nhân làm thánh ha,
[38:19]thấy phàm phu, thôi đừng có phạt nó nặng, đừng phạt nó nặng, nghĩa là cho nó lên để cho nó trả quả, cho nó làm người cho nó trả quả, nhưng rồi khiến để cho nó gặp cái cảnh nó tu lại để đừng có bỏ mất cái hạt giống này uổng. Thì chúng ta thấy nãy giờ chúng ta nói chuyện giống như chuyện đùa, nhưng mà cứ tưởng là thật đi, cứ tưởng là thật đi. Thì chúng ta thấy á là cái việc mình siêng năng mà tu tập thiền định đó, thì tự nhiên mình được cái sự khoan dung trong cái việc phán xét. Khoan xét như vậy, nên khiến đời sau cái mặc dù mình có những cái quả báo phải trả gì đó, nhưng rồi cái hoàn cảnh tu tập nó dễ đến
[38:57]với mình, những cái nghiệp nặng quá được chặn bớt lại để trả từ từ chứ không có dồn dập, coi dồn dập mình tu không nổi. Ví dụ thế này, là ông ông Diêm Vương ổng phán xét, nói này là phải coi như là bắt nó thế này, bệnh hoạn nè, bắt nó phải ốm yếu, phải không? Phải xanh xao rồi đại khái vậy đó. Nhưng mà thôi, cho nó tu, cho nó trả từ từ chứ bắt nó bệnh nặng là tội nghiệp, bắt nó si đa si đồ tội nghiệp. Thôi cho nó ốm ốm thôi mà nó tu tu rồi cho nó giảng pháp rồi chút đỉnh cũng được. Thôi kệ, cho nó đi giảng pháp rồi nó tu đồ theo thì thành thử nhờ vậy cái kiếp sau tự nhiên được tu, cũng gầy cũng ốm mà cũng tu được, chút đỉnh vậy đó.
[39:38]Đó là nhờ kiếp trước mình có ngồi thiền đó, cái được đỡ lên. Nên quý Phật tử cũng ráng vậy. Nhưng mình cái thiện ác trong đời thì không biết thế nào, nhưng mình nếu mình có tu tập thiền định, tự nhiên trong cái nhân quả bỗng nhiên mình đứng vào một vị trí khác, mình được khoan dung hơn, được tha thứ dễ dàng hơn là như vậy. Bây giờ mình nói qua cái phương pháp thiền. Thiền có hai căn bản, chúng ta nói nghĩa là hai cái căn bản: một cái căn bản theo cái khía cạnh triết lý và một cái căn bản theo cái khía cạnh kỹ thuật. Căn bản mà theo khía cạnh triết lý là gì?
[40:20]Cái căn bản của thiền là gì? Hử?
[40:26]Mới hỏi cái quên nữa rồi. Đạo đức. Nói vậy thôi à chứ không có gì hết. Nên chúng ta cứ tiếp tục. Đó. Đó là cái nền tảng. Còn cái căn bản theo khía cạnh kỹ thuật của thiền là hơi thở bụng. Hơi thở bụng lát mình nói, bây giờ mình nói trở lại cái căn bản theo khía cạnh triết lý là đạo đức. Thì đạo đức nó gồm có mấy điều? Đạo đức căn bản thì nó nhiều điều lắm, giống như là trong cái mùa hạ vừa rồi mà chúng ta có đi mà nghe giảng cho Tăng Ni thì chúng ta thấy nó có nhiều cái vấn đề về đạo đức phải không? Mà qua hạ rồi vẫn chưa hết, tôi vẫn tiếp tục giảng Long An và cái đề tài đạo đức của người tu nó nhiều vấn đề lắm.
[41:11]Tuy nhiên nó có năm cái căn bản. Nó có năm cái căn bản. Sự thực á thì thường là tôi hay rút lại ba cái thôi. Rút lại ba cái, nhưng mà chắc là quý Phật tử ở đây cũng có có người nào mới nghe tôi giảng một hai lần không ta? Có không? Có hả? Mới nghe một lần? Mới nghe một lần thì nghe cái ba cái căn bản của đạo đức, phải không? Còn đây ai nghe hơi lâu lâu ta? Ai nghe được được ba lần rồi? Thì bữa nay nhích thêm thành năm cái căn bản. Nghĩa là cái người mà mới nghe đó thì nhắc đi nhắc lại ba cái căn bản của thiền định: một là tôn kính Phật giỏi, hai là
[42:01]từ bi, ba là khiêm hạ. Ba cái này phải tu tới tu lui cho thật kỹ để làm cái nền tảng cho vô số cái công hạnh khác. Đó. Đó là tu làm như tu suốt cuộc đời của mình ba cái điều này phải huân tập cho kỹ. Giờ với những người mà nghe nhiều rồi nè, nghe nhiều rồi thì phải tiến thêm hai cái nữa. Thứ tư là một đời sống vị tha, vị tha hoàn toàn.
[42:28]Và thứ năm là là sự thanh tịnh, sự trong sạch, vô nhiễm. Thì cái thứ năm này là dành cho người xuất gia nhiều hơn, nhưng mà người cư sĩ cũng phải hướng tới lần lần. Cái người xuất gia thì phải hướng tới cái này cho mạnh, còn cái người cư sĩ thì cũng phải bắt đầu hướng tới. Đó là năm cái. Trong năm cái này thì mình cái lòng mà tôn kính Phật á, sự thực là mình tu suốt đời không đủ. Mấy cái này, trong cái nào mình tu suốt cuộc đời cũng chưa có đủ hết á. Nhưng mà mình làm được chút nào thì nó tăng thêm cái căn bản chút đó. Thường thường á chúng ta gặp được tượng Phật, mỗi lần chúng ta thấy tượng Phật,
[43:09]chúng ta quỳ xuống đảnh lễ thì cái tâm mình lúc đó là sao? Tâm mình lúc đó là sao? Hử? Kính Phật phải không? Phải không? Kể cả những người mà gật đầu ừ trả lời là tôi biết chưa có thấm gì hết. Chưa thấm thương chao gì hết. Nghĩa là đến cái lúc nào đó mình mà đối trước tượng Phật quỳ xuống mình lạy á là nó không phải là dạ con cũng kính Phật, đâu không phải. Mà cả một sự xúc động thực sự. Một sự xúc động của trái tim thực sự. Cái cái xúc động của trái tim, cái lòng tôn kính nó chất ngất này không diễn tả bằng lời được. Nó mạnh mẽ như vậy á. Nghĩa là đối trước tượng Phật là mình thấy mình như cát bụi,
[43:56]mình chỉ muốn sụp xuống và lòng thiết tha tôn kính. Cái thiết tha này nó mãnh liệt, nó mạnh. Thì người đó hơi có chút chút cái hạnh là hạnh kính Phật, chút chút thôi. Còn nhiều kiếp nữa, vô lượng kiếp nữa, nó mới là cái khởi đầu, cũng giống như cái từ bi vậy. Giống như cái lòng từ bi. Như bản thân tôi vậy, tôi tâm sự chút với quý Phật tử về cái lòng từ bi, không biết tôi có tâm sự chưa ta? Nhiều khi tâm sự hai ba lần rồi cái thấy nói đi nói lại. Như như tôi tâm sự về cái tu tập từ bi của bản thân tôi vậy. Không biết có ai nghe chưa ta? Mấy người không nghe đâu, chưa hả? Chưa. Thì như bản thân tôi vậy, hồi nhỏ thì tôi cũng thấy
[44:39]mình là một người tốt chứ không đến nỗi xấu. Là tuy còn nhỏ vì cũng rộng rãi lắm, có tiền là cũng thích cho người ta, không bao giờ hẹp hòi hay ích kỷ. Từ nhỏ mình thấy mình cũng được cái tính đó. Lớn lên một chút thì hiểu biết đạo lý thì phải tâm nguyện mình phải sống tốt với người khác. Nghĩa là giúp ai được gì giúp. Rồi lớn lên một chút, đến khi gặp đạo Phật thì cái lòng tốt còn mạnh hơn nữa. Cứ giúp được ai điều gì là ráng hết sức mình, từ khi còn cư sĩ rồi đến khi vào xuất gia, giúp người nào giúp không có kể thân mình. Có nhiều khi nghĩa là mình có mấy đồng, mình đụng ai chừng ai cho cho sạch luôn không cần thiết chứ.
[45:18]Hồi hồi tôi còn cư sĩ thì có một lần ở trong túi còn 30 đồng, thấy con rùa người ta bắt người ta chuẩn bị bán làm thịt, mua lấy hết 30 đồng mua con rùa đem thả liền. Là mình thấy như vậy là mình cũng cũng được chứ hả, cũng tốt chứ sao. Rồi đi tu, càng đi tu thì tôi càng cái tâm niệm về từ bi, nghĩa là càng hiểu sâu sắc cái quan trọng của từ bi và cố gắng tu tập lòng từ bi dữ lắm, cố gắng dữ lắm. Thì thấy là mình cũng ráng tu tập từ bi nè, mình cũng ráng dạy người khác từ bi nè, mình cũng sống tốt nè, không ráng giúp đỡ thì thấy cũng được chứ hả, cũng được. Vậy mà đến một lúc tôi mới hay rằng từ đó tới trước
[45:55]kia chưa bao giờ tôi có lòng thương yêu. Dễ sợ không? Chưa được. Cho đến cái ngày mà khi mình đạt được một chút kết quả của từ bi trong tâm, bắt đầu với trái tim mình thật sự biết thương yêu thì mới chợt hiểu ra rằng bao nhiêu năm tháng trước kia, mấy chục năm sống trong đời mình chưa hề có từ bi, chưa hề biết thương yêu ai. Vậy mà mình cứ tưởng là nào giờ mình sống tốt như vậy là mình đã từ bi ghê lắm. Sự thực không được cái trơn. Như vậy không có dễ. Mà đến khi mà có lòng từ bi thật sự rồi á thì chúng ta mới hiểu, chúng ta mới hiểu. Chúng ta mới hiểu cái giá trị và cái hạnh phúc của nó. Ví dụ, tôi nói cái điều này tôi cũng có nghĩa là tôi không
[46:42]có đạt được, mặc dù cho tôi có đạt được thì nó cũng chỉ mới là một góc rất nhỏ trong cái từ bi của chư Phật. Bây giờ, ví dụ như khi mà chúng ta tu tập từ bi đến lúc nào đó thì mắt mình chạm đến người nào thì lòng thương yêu khởi. Ví dụ như cái người mà gánh gánh chè đi bán ngoài đường, nghe tiếng rao, vừa nghe tiếng rao vang lên thì lòng từ bi cũng đã khởi lên hướng về người đó liền. Nhưng mà trong cuộc suốt cuộc sống của mình đi qua đi lại trên đường phố hoặc là gặp bất cứ ai mắt chạm tới người nào là lòng từ bi hướng về người đó liền, lòng thương yêu hướng về liền. Mà nó mênh mông, nó tràn ngập.
[47:21]Mà như vậy thì cũng chỉ mới là được một cái góc rất nhỏ của từ bi so với chư Phật thôi, chứ cũng chưa có phải là nhiều. Mà tôi nói thêm điểm này bởi vì tôi có bị mắng vốn. Nó có cái bà Phật tử đó, không biết cái này có nói với đâu chưa ta? Không nhớ đâu nè. Cái bà Phật tử bả mắng vốn qua một sư cô. Bả nói: "Cái ông thầy Chân Quang á, ổng giảng là thương yêu mọi người, giúp đỡ mọi người, cái ông chồng tôi bắt chước, ổng đi thương yêu giúp đỡ, cái ổng gặp cái bà đó, ổng cứ giúp đỡ bà đó riết rồi dính luôn." Thì thì thì tôi nghe sư cô mắng vốn lại, tôi ngồi tôi nghe tôi cũng rầu, cũng rầu. Mà nếu mà cứ vậy riết á, chắc cái con đường từ bi này mốt nó thất bại, phá sản.
[48:04]Thì nên sau này khi mà nói về từ bi thì tôi phải đành nói thêm một cái nữa: cái từ bi nó phải đi với cái vô nhiễm. Nhưng mà sự thực á, cái luyến ái và từ bi nó khác nhau dữ lắm, nó khác nhau, khác xa lắm. Tuy nó rất là giống nhau, cũng là thương yêu, cũng là thương yêu, nhưng mà cái từ bi mà nó có mặt là cái cái luyến ái mất liền à. Nhưng mà cái từ bi mà nó lui bóng cái là luyến ái giành lại, nó giành chiếm chỗ liền. Đây là cái nó rất giống nhau mà không bao giờ nó dung chứa nhau. Đây là điều rất là lạ, điều rất là lạ. Về cái luyến ái này thì tôi định là khi nào giảng cho Tăng Ni đó về ái dục á thì tôi mới nói thiệt nhiều, chứ còn nói với Phật tử thì không có tiện.
[48:49]Nhưng hôm nay chỉ nói sơ sơ thôi, sơ sơ vì dù sao quý Phật tử cũng đang trên bước đường tu tập hướng về sự giải thoát, cho nên quý Phật tử có thể nghe những điều này có thể chấp nhận được. Là hễ cái từ bi mà tới là cái luyến ái phải đi chỗ khác à. Bây giờ ví dụ, ví dụ như là thôi tôi lấy bản thân tôi đi. Ví dụ tôi gặp một cô nào đẹp ghê lắm, cái tôi tôi sao ta? Tôi thích. Tôi gặp cô nào đẹp cái tôi thích. Bây giờ rõ ràng cái tâm mình bị động, bị thích nè. Nhưng mà nếu lúc đó mình tỉnh được, cái mình hướng bằng cái lòng từ bi lại đó thì cái luyến ái, cái cái thích này lại mất liền. Đây là điều rất là lạ. Nhưng mà sự thực thì trong cái giáo trình mà thiền quán á,
[49:38]khi mà dạy về quán từ bi đó thì tôi luôn luôn dặn mọi người thế này: mình chan rải lòng từ bi đến với tất cả mọi người, nhưng mà riêng đối với người khác phái đó thì mình phải gạn lọc cái tâm ô nhiễm ra rồi mới khởi tâm từ bi đến cho họ. Cái mình dặn như vậy thì để cho sau này đừng có ai mắng vốn nữa. Cứ từ bi từ bi rồi cái bị lẫn cái luyến ái đó. Thành thử ra cái người ta đâm ra người ta sợ. Nhưng mà sự thật không phải, tôi khẳng định hai điều: Thứ nhất á là muốn quán từ bi là mình phải gạn lọc cái ô nhiễm ra đã rồi mới quán từ bi, cái thứ nhất. Cái thứ hai, mà thật sự khi mình hướng từ bi đến là tự luyến ái nó phải biến mất liền.
[50:16]Đúng như vậy. Rồi cái tâm khiêm hạ. Cái tâm khiêm hạ thật ra mình tu cả đời cũng không hết, cũng chưa đạt được sự khiêm hạ. Như bản thân của tôi cũng vậy, tôi để ý, tôi để ý nhìn nơi chính mình và tôi quan sát tôi thấy thì tôi cũng là người tâm nguyện giữ cái sự khiêm hạ cho chính mình. Và tôi cũng khuyên dạy ai mà chịu nghe tôi nói thì tôi cũng đều khuyên là phải ráng giữ sự khiêm hạ. Bởi vì sự kiêu mạn nó rất là nguy hiểm, nó phá công đức. Nhưng mà khi tôi nhìn vào tâm mình á thì tôi thấy cái ngã chấp của mỗi người rất là mạnh. Lúc nào nó cũng muốn phát khởi thành những ý niệm kiêu mạn, luôn luôn nó sẵn sàng để nó phát khởi.
[51:03]Do đó, cái hạnh mà khiêm hạ mình tu suốt một đời vẫn chưa chắc ăn. Trừ khi mình chứng A La Hán rồi tôi không biết là sao, chứ còn mà gọi là đang tu đó thì cái tâm khiêm hạ mà mình lúc nào mình sơ hở là là nó không giữ được, cái kiêu mạn sẽ chiếm chỗ liền. Đây là những cái hạnh căn bản, nói là căn bản chứ suốt cuộc đời rất là quan trọng. Còn cái đời sống vị tha thì tôi có nói trong một cái băng giảng Cuộc Sống Vị Tha giảng cho tăng ni thì quý Phật tử có thể nghe thêm cái băng đó, nghe thêm cái băng đó được nhiều hơn. Thì đó là cái căn bản về đạo đức. Đạo đức đó là căn bản cho thiền định trên khía cạnh triết lý.
[51:46]Tức là chúng ta bước vào thiền thì cứ rèn luyện cái đạo đức cho thật kỹ trước. Bây giờ mình nói cái căn bản trên khía cạnh kỹ thuật là cái hơi thở bụng. Cái tiềm lực ở trên đầu mình á, thực ra nó lại do dưới bụng mà có. Cho nên cái người tu đa số mình hay bị để ý ở trên đầu. Ví dụ mình niệm Phật đi thì câu niệm Phật nó cũng vang vang ở trên đầu mình phải không? Thế mà mình để ý biết rõ câu niệm Phật thì tức là mình cũng để ý ở trên đầu. Hoặc là những người thở hơi thở để ý nơi chóp mũi, nơi ống mũi thì cũng thừa là để ý phía trên đầu. Rồi mình theo dõi cái vọng tưởng của mình, kiểm soát vọng tưởng của mình xuất hiện hay không
[52:27]xuất hiện thì mình cũng để ý ở trên đầu. Thậm chí có nhiều người còn để trụ tâm nơi ngay trước trán, trụ tâm nơi đỉnh đầu, nó càng để ở trên đầu. Mà thì chúng ta cứ tưởng cái gì ở trên đầu thì nó có vẻ nó thanh khiết, nó cao cả hơn cái gì ở phía dưới. Phía dưới này là là thường thường nó gần với bộ phận sinh dục, những bộ phận bài tiết, cho nên mình nghĩ rằng nó là những cái gì nó tầm thường, thấp kém, dơ bẩn. Nhưng mình không ngờ cái tiềm lực của cái đầu nó lại nằm ở phía dưới hết trơn. Do đó, là trên cái trên cái khía cạnh kỹ thuật á là mình muốn tạo một cái tiềm lực căn bản cho cái việc nhiếp
[53:04]tâm thì mình phải lo cái bụng trước, lo cái bụng trước. Nên cái hơi thở bụng cần phải được tu tập kỹ lưỡng trước khi mà chúng ta đi sâu vào pháp môn để nhiếp tâm. Nên ví dụ là chúng ta có những cái căn bản là điều thân trước nè, là mình ngồi mình tập cho đúng thế bất động, là khi xả khi xoa bóp, cái mắt cái vai đồ đủ hết rồi, bắt đầu mình phải tập cái hơi thở bụng. Cái hơi, à quý Phật tử có cái tài liệu đó hết chưa? Cái giáo trình. Có hết rồi phải không? Được. Ai chưa có thì đi xin cái Ni sư trụ trì ở chùa này. Ni sư mà dễ thương mà hơi, thôi không nói nữa.
[53:53]Thì cái hơi thở bụng á, sự thực là khi mà tôi viết trong đó tôi không có viết hết, tôi không có viết hết vì sợ viết nhiều quá người ta, những người khác người ta không có thông cảm, người ta phê bình, người ta nói này nói kia, nên tôi thường hay nói riêng coi về cái hơi thở bụng. Còn trong cái giáo trình đó thì viết căn bản, căn bản giáo trình đó là như thế này: Hít vô thì sao? Phình bụng ra, thở ra thì thót bụng lại. Đó là căn bản. Mà hơi thở thì đi ở ngoài, ngoài da chứ không được cho đi sâu trong thịt, trong ruột, đi ngoài da. Khi mà mình hít vô mà mình phình bụng ra đầy thì mình thấy cái đầy
[54:30]đó ở ngoài ở ngoài da, tràn một cái vùng ở ngoài da như thế này, chứ không có sâu trong ruột, mà chỉ dùng cái ý nhẹ nhàng thôi. Nguyên tắc là như vậy. Nhưng mà nhiêu đó thì nó không có đủ. Có những trường hợp có những người hơi thở giống như là bị ngắn, nói: "Sao con hít chưa tới bụng, mới hít được có chút đây cái hết hơi rồi thành thử đâu có phình bụng được nữa". Quý Phật tử có ai bị vậy không? Có. À người nào có là người đó có tu, còn người làm thinh dòm lên là biết không có thực hành gì hết. Thì khi mà có người hỏi như vậy thì tôi mới trả lời là mình dùng cái ý mình thôi, chứ sự thực là không phải
[55:10]dùng cái cơ bắp mà hít, hít mà cho thấy nó từ từ nó xuống, tức là mình đang dùng lực á, mà đang đi bên trong á. Còn ví dụ mình tưởng, hít tôi hít hai giây thấy xuống tới rồi hết. Nó là tưởng tượng mà, chứ đâu cần phải là bằng hít thiệt. Nhưng mà vậy chứ lâu ngày bắt đầu nó thành tựu thật sự một cái hơi thở dưới bụng rất là rõ ràng, rất là cụ thể, mà mới ban đầu chỉ là tưởng tượng thôi. Hít vào, ban đầu hơi thở mình bị ngắn á, nhưng mình đi cứ đi ngoài da và cứ an trụ. Rồi khi thở ra thì sao? Phải đưa hơi thở lên lại không? Xin thưa không phải.
[55:52]Không có phải là đưa hơi thở ngược lên lại. Tự như chúng ta nói hồi nãy đó, cái tiềm lực nó nằm ở đâu? Ở dưới bụng. Mà nếu khi mà mình thở mình đưa hơi lên lại là lực nó chạy lên lại. Nó chạy lên lại cho nên nó không có tụ được ở dưới bụng. Đó là cái cái cái cái sai, không có đúng. Mà người nào có thực hành là biết à. Hít vô bụng thì thấy khỏe, mà thở mà đưa lên ngược lại sẽ thấy mệt liền, mệt tim liền. Cho nên không có đưa hơi lên. Nên tôi viết tôi không có đưa hơi lên. Vậy thôi, khâu khâu, lúc thở ra mà không đưa hơi lên thì hơi đi đâu? Nó đi đâu? Có người nói: "Hơi hít vào nó đầy hai buồng phổi là hết làm gì có xuống tới bụng, phải không?
[56:37]Cái không khí hít vào đầy hai buồng phổi hai bên chứ làm gì có cái bụng mà hơi thở bảo xuống tới bụng". Nếu mình nói theo vật lý thì đúng. Nhưng mà ở đây là một điều rất là lạ mà có thật. Khi mình thở mình mượn cái hơi thở vật lý thôi để mình tạo thành cái hơi thở tâm linh. Hơi thở tâm linh này chỉ là tưởng tượng thôi. Tưởng tượng nhưng mà lâu ngày bắt đầu mình mới hiểu nó có thật chứ không phải là tưởng tượng. Mình cứ nghĩ: "Tại tưởng tượng quá nó thành thật chứ gì?", không phải. Sự thật có tồn tại một cái hơi thở tâm linh. Sự thật có tồn tại. Mà chúng ta chưa thực hiện, chưa thực hành thì mình
[57:18]không cảm nhận được rồi mình cứ nói tưởng tượng. Cho nên đúng là chúng ta cũng mượn cái hơi thở của vật lý nè, hơi thở của thể xác nè để làm khởi phát, để khơi dòng, để làm xuất khởi một cái hơi thở của tâm linh. Hơi thở tâm linh đó mình cho xuống bụng và tâm mình chỉ để dưới bụng thôi chứ không đi lên. Tâm lúc nào cũng để dưới bụng, nhẹ nhàng, tràn đầy dưới bụng. Cái nguyên tắc của nó thế này: Hơi thì đầy mà lực thì không. Hơi thì đầy mà lực thì không. Tại vì có nhiều người khi mà hít vào phình bụng ra như vậy đó, nên ở đây tuyệt đối không được gồng cái bụng. Nó giống như lúc điều thân vậy đó, ngồi bất động mà mềm mại, nhớ không?
[58:13]Thì lúc mà hơi thở xuống bụng cũng vậy. Hơi thở xuống mình thấy đầy hết bụng nhưng mà tuyệt đối không cho một cái thớ thịt nào mà gồng hết. Đó là cái một cái nguyên tắc quan trọng trong cái hơi thở bụng. Quý Phật tử nhớ nha, cái mà không có lực á, hoàn toàn hơi thở thì rất đầy mà lực thì không có một chút nào hết, điểm này rất quan trọng nha. Còn nếu mà mình hít vào đầy bụng rồi mình cũng gồng gồng chút, lâu ngày nó sẽ hư trên não. Cái bụng nó sẽ liên quan tới trên não. Còn nếu mình hít vào hơi đầy mà không có lực thì cái não mình từ từ nó tốt lên. Đây là điều cái kết quả rất là rõ ràng, rất là rõ ràng.
[59:00]Rồi cái trường hợp mà cái người già mà bị bệnh bệnh run run tay đó, ở đây có ai bị chưa? Chắc chưa ha. Ví dụ mình gặp vị nào mà bị già bị bệnh run run tay á thì theo như khoa học gọi là bệnh bệnh liệt run Parkinson. Nó là do nguyên nhân là não cũng đã bị có những phần bị suy thoái, yếu. Mà cái suy thoái yếu đó là do cái bụng đang bị yếu rồi. Nên do đó gặp những vị đó mình hướng dẫn người ta cách thở bụng, đầy hơi mà không có lực, chừng vài ba tháng mình sẽ thấy người ta bớt bị run, bớt bị giật cái tay. Đó là cái cách chữa đó. Đâu quý Phật tử gặp người ta mình giúp người ta thử. Thêm một cái nguyên tắc quan trọng nữa
[59:44]là thường thường mình nghe nói cái huyệt nào ở dưới bụng là quan trọng? Cách rốn chừng vài phân mà cái nơi đó tự mình sẽ cảm nhận thấy khi mà mình thở hơi xuống đó đó, mình sẽ cảm thấy có một cái điểm nó khi mình để ý đó mình cảm thấy nó dễ chịu. Nó cách dưới rốn một chút, đó là cái huyệt Đan Điền, gọi là Khí Hải, cái biển chứa khí. Nó là một cái huyệt rất quan trọng so với cái nội công của Thiếu Lâm Tự cũng giống như của Đông y, huyệt nó khá quan trọng. Tuy nhiên cái huyệt đó chỉ là cái cửa ngõ thôi chứ nó chưa phải là cái huyệt gốc của hơi thở bụng. Chưa phải là huyệt gốc. Cái quan trọng, cái huyệt gốc của hơi thở bụng là huyệt nào, ai biết?
[1:00:34]Thực ra là cái huyệt Hội Âm. Nãy giờ mình nói về vấn đề kỹ thuật một chút. Cái huyệt Hội Âm nó nằm ở đâu, ai biết? Cái huyệt Hội Âm nó nằm ở dưới hết, nó nằm giữa hậu môn và bộ phận sinh dục. Cái huyệt nằm ở chỗ kín đáo nhất của con người. Thì Đan Điền á nó là cái cửa ngõ mà huyệt Hội Âm nó nằm ở dưới kín nhất. Đó, nó nằm ở dưới thì từ cái Đan Điền mà xuống tới Hội Âm qua tới cái Dương Cương, Dương Cương là cái xương cùng của mình á, nó là một cái vòng cung. Nó là một cái vòng cung quan trọng cho cái hơi thở bụng. Nên quý Phật tử khi mà thực hiện cái hơi thở bụng á là cùng một lúc phải thấy rõ một cái vòng cung đó,
[1:01:18]một vòng cung từ Đan Điền xuống dưới đa dưới Hội Âm qua luôn Dương Cương một chút. Đó là cái bầu cái bầu mà nó chứa khí á, cái chứa cái hơi thở tâm linh của mình á. Đó, lúc nào cũng thấy rõ cái màu đó. Như vậy khi thở ra thì cho hơi thở đi đâu? Đi nhưng chẳng cần đi. đi đâu nữa. Nhưng mà đừng đưa đi lên lại, đưa đi lên tâm mình mà chạy ngược lên lại thì lực nó chạy lên nó không tụ ở dưới được. Do đó có nhiều có nhiều lúc người ta đã phải tưởng tượng là khi thở ra cái hơi thở đi ra bằng hậu môn. Đó là người ta tưởng tượng như vậy chứ hơi thở thì nó không có đi ra phía dưới, nó đi ngược lên trên mũi.
[1:02:01]Tuy nhiên, người ta sợ là nếu tác ý tưởng hơi thở đi lên phía trên, tâm mình chạy lên trên, lực chạy lên trên thì nó không có tụ ở bụng dưới được. Do đó người ta tưởng nó đi dưới hậu môn để cho luôn luôn tâm mình ở dưới không đi lên trên tạo thành cái tiềm lực. Đó, đó cũng là một cách rất là hay. Đó là về cái căn bản về kỹ thuật của thiền là cái hơi thở bụng. Thì khi thở lâu ngày đó quý Phật tử sẽ cảm thấy mỗi lần mình thở mình thấy nó sảng khoái, nó nhẹ nhàng và tâm mình nó yên tĩnh tâm nó yên tĩnh. Hễ mà mất á mình mà quên theo vọng tưởng gọi là thất niệm thì mình kéo trở lại mình kéo trở lại nhớ lại cái hơi thở bụng.
[1:02:44]Thì hay là mình đang dùng cái hơi thở bụng cũng vậy là nếu mà mình quên cái pháp môn của mình có nghĩa là mình thất niệm mà nếu quên nhiều quá có nghĩa là mình thiếu phước. Thì thiếu phước thì phải lo làm phước. Lo làm phước thì phải lo lạy Phật ha, giúp người này giúp người kia, giữ tâm khiêm hạ đừng có khoe khoang. Đừng có ngồi thiền được một bữa mà đi khoe khắp xóm khắp làng: "Tôi ngồi thiền á nha, tôi ngồi thiền á nha", là phiền mạng là chết á. Lại như vậy nó sẽ tổn hết cái phước của mình, nghĩa là mình tu chỉ cho Phật biết thôi chứ đừng có cho ai biết. Thì bây giờ mình trở lại hơi thở bụng vậy,
[1:03:21]lúc nào mình cũng nhớ cái bụng của mình thấy cái bụng của mình một cách nhẹ nhàng. Mà nếu mình có quên là thiếu phước lo mà tìm cách bù đắp cái phước lại, đó căn bản là như vậy. Giờ mình nói cái khởi điểm cái dấu hiệu đầu tiên một chút là cái quyết tâm xuất hiện, cái quyết tâm này nó lạ lắm. Cái quyết tâm nó khác với cái phát tâm. Ví dụ như bây giờ mình chưa có thực hành nhiều, mình đi mình nghe quý thầy giảng mà đi Đà Lạt nghe giảng, đi Trảng Bàng nghe giảng, về Sài Gòn nghe giảng, đi Thủ Đức nghe giảng cái mình phát tâm mình muốn tu thiền, phát tâm. Thì cái phát tâm đó cũng tốt lắm, cũng tạo thành cái sức mạnh
[1:04:06]giúp cho mình mỗi đêm mình bắt chân lên kiết già chịu đau chịu tê để ráng ngồi nhiếp tâm lại, đó gọi là cái phát tâm. Mà cái phát tâm nó cũng đã làm cho mình có cái sự tinh tấn rồi. Ở đây quý Phật tử đã có người nào phát tâm chưa? Có chưa? Chắc cũng có ha. Chắc cũng có nghe giảng rồi cũng có phát tâm mà tu hành chứ không phải là không. Nhưng mà chưa có được cái quyết tâm. Bởi vì cái quyết tâm của cái thứ hai này đó nó là do công phu mà nó xuất hiện. Cái quyết tâm này đó nó là cái kết quả của cái sự phát tâm. Nó làm cho mình tinh tấn từng giờ từng phút. Là khi mình ví dụ bây giờ mình nói trở lại cái hơi thở bụng đi,
[1:04:57]hay là mình niệm Phật đi à thôi bây giờ ví dụ mình niệm Phật đi, mình đang niệm: "Nam mô A Di Đà Phật, Nam mô A Di Đà Phật" hay là "Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát, Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát", ví dụ mình đang niệm như vậy thì có cái vọng tưởng nó khởi lên kéo mình đi. Nhưng mà ngay lúc đó mình tự nhiên có cái quyết tâm nó khởi lên ngay lúc đó liền nó chặn lại, nó giữ tâm mình trở lại để mình quay trở lại cái câu niệm Phật mà không chạy theo cái vọng tưởng vừa khởi. Đó là tự nhiên nó có cái quyết tâm đó khởi lên nó giữ lại liền. Nên cái quyết tâm này nó là phước mà cũng là cái kết quả do cái sự tu tập của những ngày tháng trước đó.
[1:05:38]Trước kia đó mình nhờ phát tâm mà mình ráng mình niệm Phật, mình nhờ nghe quý thầy quý cô dạy cái mình cảm thấy là mình phải tu nên mình ráng à "Nam mô A Di Đà Phật, Nam mô A Di Đà Phật" thường xuyên không để gián đoạn. Thì đó là cái phát tâm mà làm cho mình tinh tấn. Nhưng mà khi được khi mất khi được khi mất, khi quên chuyện này khi nhớ chuyện kia, rồi khi nhớ lại niệm Phật. Nhưng mà đến một lúc nào đó cái công phu mình nó thuần thục, tự nhiên nó xuất hiện cái quyết tâm. Đó hễ mà vọng tưởng nó khởi lên muốn kéo mình đi là cái quyết tâm giữ trở lại liền. Đó. Có cái quyết tâm như vậy. Quyết tâm này nó vi diệu lắm, nó không hình không tướng,
[1:06:18]không ngôn không ngữ mà nó có cái sức mạnh để giữ mình lại mà nó không phải là dằng ép nha, nó khác nha. Nó khác ở chỗ này. Nó khác ở chỗ này là ví dụ có cái người cũng ngồi thiền, niệm Phật. Đang ngồi thiền, niệm Phật rồi cứ thấy vọng tưởng khởi lên khởi lên cái tức quá. Nói: "Tu hoài mà sao không hết?" Bắt đầu mới gồng cái đầu lên, dằn lại, ngồi gồng gồng để cho ý này dằn nó lại không cho nó khởi nữa, đè nó lại. Cái não mình thì nó đâu có bắp thịt để mà gồng gồng, nó không có gân để mà gồng. Nhưng mình cứ ráng tưởng gồng đè thì nó sẽ hư cái não. Mà khi cái não hư thì chuyện gì xảy ra? Thì nhiều người cũng biết ha, đó là mình sẽ được chở xe đưa đi về Biên Hòa như vậy.
[1:07:06]Cho nên cái não nó đâu có cái gì đâu để gồng, nên không có gồng. Đó, cái đó là thấy giống như quyết tâm á, nhưng mà không phải là cái quyết tâm tự nhiên của thiền định nó xuất hiện, mà đó gọi là dằng ép. Nên chúng ta tu tuyệt đối không được dằng ép. Hễ vọng tưởng mà nó khởi hoài là mình mất hoài, thì hiểu là mình chưa đủ phước. Dùng cái phước lạy Phật, cái phước sống vị tha đó mà tạo thành cái sức nhiếp tâm trong thiền định, chứ không phải là ngay trong thiền định mà dằng ép để được nhiếp tâm, nó khác là như vậy. Còn ở trong thiền định á mà nếu phước mình đủ á, công phu đủ á tự nhiên nó xuất hiện cái quyết tâm
[1:07:49]nó vi diệu, nó nhẹ nhàng, chặt chẽ, nó làm cho mình cưỡng lại được cái sức mạnh của vọng tưởng. Vọng tưởng nó có cái sức mạnh nó kéo mình đi, nhưng mình tự nhiên có cái quyết tâm giữ trở lại, ở lại với cái pháp môn của mình, với cái câu niệm Phật của mình hay là với cái hơi thở bụng của mình, đó. Nên đây mà đây cũng gọi là bức tranh chăn trâu thứ thứ mấy?
[1:08:17]Thứ hai. Bức thứ nhất là bức mê. Cả cái người mà đi về phía trước mà mắt nhìn về phía sau, tức là đi một đường mà lo nhìn hoa, nhìn cảnh này kia nọ đó gọi là mê. Nhưng cái thứ hai là bắt đầu xuất hiện cái quyết tâm, là không nhìn thấy con trâu mà thấy những cái dấu chân của con trâu mình chạy theo để kiếm đó, là cái quyết tâm đã xuất hiện rồi đó. Lúc mình tu mà tự nhiên mình thấy mình đang thở nè, đang nhiếp tâm trong hơi thở, vọng tưởng nó khởi lên kéo mình đi, tự nhiên mình có cái quyết tâm ở lại, không đi theo. Cái quyết tâm đó là mình đã được cái bức tranh thứ hai. Mà vậy đã có cái sức mạnh, cũng có cái công đức.
[1:08:56]Nhưng mà phải nhiều phước và tinh tấn lắm chứ đó chỉ là mới khởi đầu, chưa có gì hết, phải ráng thêm. Đó là chánh tinh tấn đó. Vọng tưởng chưa dừng đâu, nghĩa là được cái quyết tâm đó rồi thì chưa hết vọng tưởng. Nhưng mình cũng cảm thấy rằng mình có cái con đường đi, có cái đường đi nó rõ ràng, có cái thêm một chút tự tin. Đó là cái cửa ngõ đó, dấu hiệu ban đầu. Bây giờ mình đi vào pháp môn. Khi nào thì bắt đầu mình có thể là không cần đến hơi thở bụng mà đi vào pháp môn? Khi nào?
[1:09:34]Khi nào như thế này. Khi nào mà mình thấy mình hít vào đầy bụng, không có lực mà tự nó có cái nội lực ở dưới. Từ cái vùng bụng của mình, từ đan điền xuống tới hội âm, dương cường á nó qua tới cái mệnh môn ở trên thắt lưng ở phía sau luôn. Nguyên một cái vòng á từ rốn phía trước vòng bọc qua cái thắt lưng phía sau. Đi xuống đan điền rồi xuống hội âm qua dương cường rồi lên tới cái mệnh môn, nó đầy một cái lực nhẹ nhàng, tự nhiên, vi diệu, chặt. Khi mình đi đứng, từng bước đi trong đời sống mình thấy nó vững vàng, tâm mình trầm lắng xuống, cái nội lực xuất hiện. Thì lúc đó mình có thể đi vào pháp môn.
[1:10:21]Có thể là bớt cái hơi thở bụng lại. Tức trong thời ngồi thiền ví dụ 1 tiếng, tiếng rưỡi, 2 tiếng thì lúc đó hơi thở bụng mình chỉ còn bớt lại chừng 1/4 ban đầu thôi. Rồi sau đó 3/4 là đi vào pháp môn, đi vào pháp môn. Đi vào pháp môn là nó có nhiều pháp môn lắm. À trước khi đi vào pháp môn mình nói về hơi thở bụng trở lại một chút. Là bên đạo Tiên cũng như là bên những nhà tập nội công á, nhất là nội công Thiếu Lâm Tự, thì các vị đó không có cái pháp môn khác. Chỉ có nơi cái hơi thở bụng đi cho tới cái tận cùng rồi chứng đạo luôn thôi. Nhất là bên đạo Tiên á, à các vị đó biết cái quan trọng của cái đan điền, của hơi thở bụng.
[1:11:06]Cho nên cứ thở bụng thôi. Thở bụng riết rồi đạt được cái định luôn, định cũng ở hơi thở bụng luôn chứ không có đi lên pháp môn khác. Cứ tiếp tục định trong cái thở bụng đó mà định sâu định sâu cho tới khi đắc đạo luôn. Mà những vị đó đắc đạo thì thần thông dữ dội lắm, thần thông dễ sợ lắm. Tuy nhiên, cái đó nếu mà không được hướng dẫn, mình có khi không đạt được cái vô ngã. Thần thông rất là lớn mà không đạt được cái vô ngã. Vì sao? Vì cái ngã chấp mình nó nằm ở chỗ này nè. Cái gốc của ngã chấp và bản ngã nó nằm ở phía sau não á. Mình phải nhờ đi vào cái pháp môn ở trên đầu, mình mới phá được cái chấp ngã tiềm tàng nó chứa trong cái bộ não của mình.
[1:11:50]Còn nếu mà mình cứ trụ trong hơi thở bụng thì mình vẫn sẽ được cái định mà chứa riết là có thể đạt được những cái thần lực vi diệu á. Nhưng mà có coi chừng là không hết chấp ngã. Do đó, lúc đó mình phải khi mà nội lực dưới bụng đủ rồi thì phải đi vào pháp môn ở trên trên đầu. Đi sâu vào định để phá chấp ngã. Còn mà những cái vị mà tu tập nội công hay là những vị tu tiên á thì họ an trụ trong hơi thở bụng cho tới cái ngày họ đắc đạo luôn. Thì đắc đạo của họ đó chứ không phải theo mình. Nhưng mà cũng là phi thường lắm rồi. Đối với họ là mình thôi mình gặp là chắp tay xá dài chứ không nói được. Cũng vi vi diệu, phi thường lắm.
[1:12:30]Còn bây giờ mình nói qua tới đạo Phật mình. Mình nghe nói tới bao nhiêu pháp môn?
[1:12:39]Nhưng mà chúng ta phải hiểu điều này: không có cái pháp môn nào mà nó đầy đủ tuyệt đối ưu điểm hết, pháp môn nào nó cũng có hay mặt mà nó dở ở chỗ khác, do đó mình phải biết bổ sung.
[1:13:45]Lời kinh nhẹ mênh mang, từng câu là kim cang, làm tan hết nỗi đau muôn vàn.
[1:13:56]Trời mây là thênh thang, hồi chuông chùa vang vang, rừng bao kín lan tràn ngút ngàn.
[1:14:19]Rồi như là mây cao, hòa vui cùng trăng sao, người theo bóng nắng bay qua đồi.
[1:14:30]Dấu chân cuối trời, để cho nghìn sóng xua ra trùng khơi.
[1:14:38]Nắng mai chói ngời, mùa xuân ngàn đóa hoa khoe sắc tươi.
[1:14:55]Rồi như cơn gió cuốn bay về xa, bóng chim vụt qua, ngưng nghìn lời ca.
[1:16:04]Lời kinh nhẹ mênh mang, từng câu là kim cang, làm tan hết nỗi đau muôn vàn.
[1:16:16]Trời mây là thênh thang, hồi chuông chùa vang vang, rừng bao kín lan tràn ngút ngàn.
[1:16:38]Rồi như là mây cao, hòa vui cùng trăng sao, người theo bóng nắng bay qua đồi.
[1:16:58]Nắng mai chói ngời, mùa xuân ngàn đóa hoa khoe sắc tươi.
[1:21:55]Yêu tiếng chuông nhẹ ngân, khuya vắng hay ban mai, mang lời Phật cho ai.
[1:22:05]Chiều về bao êm ái, nghe tiếng kinh thâm trầm, ngọt ngào ơn Tam Bảo vang mãi đến nơi xa, luôn nhắc ta đạo hạnh chan hòa, lòng từ bi thiết tha.
[1:22:56]Nụ hoa yêu đang nở, đời vui hơn lời thơ, hồn rộn muôn tiếng
[1:23:16]tơ.