Lời giảng: Quy Y Tăng

  • Thuyết giảng: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Thời lượng: 46:30

Toàn văn lời giảng, chép từ phụ đề. Bấm vào mốc thời gian để nghe đúng đoạn đó.

[0:09]A Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:22]Hôm nay nhân lễ Trung Thu, ờ để phục vụ cho những người lớn tuổi, cho nên thầy nói về đề tài Quy Y Tăng. Thật ra hầu hết chúng ta ngồi đây thì chúng ta đều đã quy y rồi phải không? Hầu hết có quy y, mình có pháp danh cả rồi. Thì lúc mà quy y chúng ta đã được giảng về cái ý nghĩa quy y Tăng rồi, là quy y Phật, quy y Pháp và quy y Tăng. Chữ quy y nghĩa là mình đem hết cuộc đời của mình để mình tôn thờ, mình tôn kính, mình thừa sự, mình đi theo. Cái nghĩa của chữ quy y lớn lắm, chứ không phải đơn giản chỉ là trở về nương tựa, mà phải đem hết cả cuộc đời của mình để đi theo bằng tất cả cái tấm lòng thiết tha của mình.

[1:08]Thì chúng ta quy y Phật bởi vì Phật là một bậc Thánh tuyệt đối. Trên đời này cả cái cõi trời, cõi người không ai có thể hơn Phật được, mà người có phước lớn nhất là vua ở những cõi trời là phước vô cùng lớn mà vẫn phải xem Phật là Thầy của mình. Nhưng vì vậy Phật là vị Thánh tuyệt đối, cho nên chúng ta cũng tôn kính Phật tuyệt đối. Dù chúng ta có thể hy sinh thân mạng mình vì Phật, mình chết liền không sợ, là ý nghĩa quy y Phật là như vậy. Quy y Pháp là mình tôn thờ lời Phật dạy, cái đó được giải thích. Tới quy y Tăng là chúng ta tôn thờ những người, những người, những người nào? Theo lúc mà quy y chúng ta được giảng một cách

[1:56]phổ thông đó, phổ biến là những người xuất gia là những người từ giã gia đình, sống không gia đình suốt đời để tu và học lời Phật dạy, giữ gìn cái giềng mối của đạo pháp. Chúng ta tôn thờ những người đó. Nhưng mà thực tế không phải vậy. Thì có một lần thầy nói thầy tiết lộ bí mật đó, vì sao? Vì tiết lộ cái bí mật này nó động chạm. Nhưng mà tại sao thầy phải tiết lộ? Vì đã đến lúc rồi, đã đến lúc, đã đến lúc phải nói ra sự thật. Là quy y Tăng không phải là chúng ta đem cái lòng tôn thờ tuyệt đối đó với tất cả chư Tăng Ni, không phải. Thầy nói ra điều này nó hơi hơi đụng chạm nhưng mà là sự thật.

[2:38]Vậy quy y Tăng là gì? Là chúng ta đem hết cuộc đời mình tôn kính tôn thờ những vị thánh Tăng đắc đạo mà thôi. Đó mới là quy y Tăng. Nên thời Đức Phật cái nghĩa quy y Tăng nó giống như vậy, bởi vì quy y Tăng là tôn thờ Tăng như Phật, vì sao vậy? Vì thời đó chư Tăng toàn là người đắc đạo, toàn là những vị A La Hán đắc đạo không. Cho nên khi mà chúng ta tôn thờ những vị đó là thứ nhất chúng ta được phước rất lớn và thứ hai là những vị đó rất xứng đáng để nhận cái sự tôn thờ của chúng ta. Mà khi mà cái người được nhận sự tôn thờ tôn kính xứng đáng và khi mà cái người tôn thờ đó lại đúng nơi đúng chỗ,

[3:23]tăng được phước duyên thì Phật pháp sẽ phát triển. Lúc đó là chúng ta tôn kính một vị thánh Tăng, chúng ta được cái phước dữ lắm, phước là cuộc đời mình cứ may mắn hết kiếp này tới kiếp kia, sinh ra sinh vào cái nơi chốn quyền quý, từ bỏ cõi đời người này là lên cõi trời, là do chúng ta tôn kính cái bậc Thánh, bậc đáng kính. Nhưng mà khi vào những cái thời mà những bậc Thánh vắng bóng, ít có những bậc Thánh rồi, chỉ còn là những vị Tăng bình thường mà chúng ta theo cái cơ chế mà chúng ta phải tôn thờ nhất mực như vậy thì nó xảy ra một cái sự tình, xảy ra một cái sự tình là nó không có tương xứng nữa

[4:03]là những vị xuất gia đó không xứng đáng để nhận cái sự tôn kính quá sức của chúng ta. Cho nên những vị đó bị tổn phước, đó là điều có thật. Đó là điều có thật là khi một vị Tăng Ni xuất gia mà nhận cái sự tôn kính quá mức cái phẩm hạnh của mình, cái đạo hạnh của mình thì vị đó sẽ bị tổn phước. Rồi qua đời sau vị đó tự nhiên không còn được nhiều cái hanh thông tốt đẹp trong cuộc đời tu hành của mình nữa. Đây là một điều có thật. Bởi vậy những cái vị mà họ biết nhân quả, những vị đạo cao đức trọng thì họ đều khiêm đức, kiệm đức là không bao giờ dám nhận cái sự tôn kính của mọi người quá nhiều để giữ gìn cái phước cho mình.

[4:50]Hầu hết chúng ta gặp những vị hòa thượng tôn túc mà những vị có trí tuệ, những vị có đạo hạnh, chúng ta sẽ thấy một điều rất giống nhau là những vị đó rất dè dặt khi mà phải đón nhận cái sự tôn kính của người khác. Vì các vị đó biết, biết là cái giới hạn của cái kết quả tu hành của mình chưa phải là quá lớn để có thể là cho mọi người thừa sự, cung kính, cúng dường mà một cách thoải mái vô hạn được, vì cái phẩm hạnh mình còn có giới hạn. Đó là một sự thật. Nên vì vậy là hôm nay chúng ta nói thật với nhau điều này để chi vậy? Là để chúng ta có cái sự cư xử đúng và như vậy làm cho không có cái việc mà chư Tăng Ni bị tổn

[5:39]phước và khi chư Tăng Ni không bị tổn phước thì Phật pháp sẽ phát triển. Cái mục đích chính của chúng ta là như vậy. Sở dĩ mà Phật pháp chúng ta không có phát triển hoặc là có những thời gian bị suy thoái thì có nhiều nguyên nhân. Mà tại sao gọi là đạo Phật bị suy thoái? Thì thầy sẽ giảng một bài khác, một bài có tựa đề là Phật Pháp Hưng Long, một bài khác hôm nay không nói. Nhưng mà tổng quát là thế này, là khi Phật pháp bị suy thoái là khi mà tín đồ người ta không còn đi theo đạo Phật nữa. Đúng không? Không ai theo nữa là đạo Phật suy chứ gì đâu. Mà tại sao tín đồ không theo đạo Phật nữa? Bởi vì họ thấy giới tu sĩ trong đạo Phật

[6:22]không thuyết phục được họ, họ không nể, đúng không? Mà tại sao họ không kính phục những vị xuất gia trong đạo Phật? Bởi vì vị đó đúng là có bị tổn phước. Đó là lý do như vậy. Cho nên bây giờ chúng ta đặt vấn đề ngược lại là nếu những vị xuất gia trong đạo Phật không bị tổn phước, không bị tổn phước, tức là các vị đó có thể phước ít, có thể phước nhiều nhưng mà không bị tổn. Là các vị tu cứ từ từ tiến lên dần tiến lên dần, không bị tổn. Thì như vậy tự nhiên là cái người bên ngoài họ gặp quý thầy họ có cái nể ở trong. Khi không bị tổn phước tự nhiên người ta nể và người ta lại theo. Có thể là không theo quá đông nhưng mà mỗi một vị xuất gia cũng

[7:06]có thể lãnh đạo được vài ba trăm tín đồ là đạt yêu cầu. Hoặc là những vị nào quá lớn thì có thể vài ngàn, vài chục ngàn tín đồ thì đạt yêu cầu. Chứ còn nếu mà tổn phước thì nhiều khi không ai theo luôn, nó như vậy. Do đó là chúng ta phân tích nè, nếu chư Tăng Ni không bị tổn phước thì tự nhiên người ta đổ theo. Và khi tín đồ đổ theo đông thì nghĩa là Phật pháp có phát triển. Còn nhiều vấn đề khác nhưng mà tạm thời nói trên cái số lượng là như vậy. Là cái phước của Tăng Ni rất là quan trọng để giữ gìn Phật pháp. Mà trong cái vấn đề mà phước của Tăng Ni tổn hay tăng là do cái sự hưởng thụ và sự cư xử giữa Tăng Ni và Phật tử.

[7:52]Cho nên vì vậy là nhân cái đêm Trung Thu mà chúng ta nói về ý nghĩa quy y Tăng cũng tức là chúng ta nói lên một sự thật. Mà sự thật nó nhiều khi nó đụng chạm và đau lòng vì cái cơ chế là vậy. Cơ chế từ xưa đến giờ là chúng ta cứ là kính Phật trọng Tăng, là chúng ta không cần biết ai là ai, miễn cái vị đó đầu tròn áo vuông, thấy là người xuất gia thì chúng ta cứ kính trọng, cứ cúng dường mà không cần biết gì hết. Và có những vị rất xứng đáng để chúng ta kính trọng cúng dường, nhưng có những vị sự thật không xứng đáng. Quý Phật tử đồng ý không? Có, phải không? Có những vị không xứng đáng. Và bây giờ là trong cái lợi ích chung của Phật giáo,

[8:37]chúng ta không bao giờ được phép moi móc cái lỗi của chư Tăng. Vì sao vậy? Bởi vì điều đó là chính mình bôi xấu đạo mình. Cho nên là nhiều khi biết rõ mười mươi mà không bao giờ nói. Không bao giờ nói. Nhưng mình có cái cư xử thích hợp thôi, chứ mình không nói, không có nói rộng rãi ra cho ai biết hết. Vì đó là bảo vệ cái danh dự của đạo. Rồi còn cái cách mà góp ý sửa mình sẽ có những cách khác, hoặc là qua trung gian hoặc là trực tiếp, hoặc là đành phải im lặng tùy cái duyên của mình đối với vị đó. Nhưng mà không được nói xấu cái lỗi của Tăng Ni ra ngoài. Đó là nguyên tắc, nhưng mình biết rõ vị nào

[9:19]như thế nào để có cái sự cư xử thích hợp. Là hôm nay chúng ta bàn với nhau điều đó để làm chi vậy? Là vì chúng ta thương Tăng Ni. Cái quan điểm căn bản là chúng ta thương yêu, quý trọng những người xuất gia. Có đồng ý không? Có ai ghét người xuất gia không? Không ha. Tất cả chúng ta đều thương quý những người xuất gia. Nhưng mà thương quý theo mức độ nào mà chúng ta sẽ phân biệt ra, thương quý theo mức độ. Và chúng ta thương quý theo đúng cái mức độ thì tự nhiên Tăng Ni không bị tổn phước. Và Tăng Ni không bị tổn phước thì Phật pháp sẽ phát triển. Cái nguyên tắc của chúng ta cuối cùng vẫn là để cho Phật pháp phát triển.

[9:57]Lâu lâu á, chúng ta thấy là cũng có những vị thánh tăng xuất hiện trong cuộc đời. Ví dụ như chúng ta nghe chuyện như là các thiền sư đắc đạo, vào cái thời đó mọi người cũng coi như Phật à. Tại vì giữa cái cuộc đời tầm thường này mà có một vị đắc đạo nổi bật lên thì ai cũng kêu bằng Phật. Ví dụ như ngày xưa ngài Ngưỡng Sơn vậy. Nghĩa là ngài là một thiền sư đắc đạo mà ngài có thần thông, ngài biết nhiều chuyện. Cho nên một vị tăng từ bên Ấn Độ qua gặp ngài gọi ngài là Tiểu Thích Ca, tức là xem ngài như Phật, con của Phật vậy. Hoặc là chúng ta nghe chuyện Phật sống chùa Kim Sơn, có nghe không? Cái chuyện nổi tiếng á, một vị đó ở bên

[10:36]Hồng Kông á mà tu đắc đạo có thần thông thì vì có thần thông người ta gọi là Phật sống. Hoặc là chúng ta nghe chuyện Phật Thầy Tây An ở miền Tây, tức là Đoàn Minh Huyên. Ngài tu đắc đạo, dùng thần thông chữa bệnh và giáo hóa, làm nên cái Phật giáo Bửu Sơn Kỳ Hương, thành cái Tứ Ân Hiếu Nghĩa, vân vân. Những cái lúc đó là đạo Phật chính thống mình lại rất là suy. Vào thời Pháp họ tìm cách khống chế, cho nên đạo Phật yếu hẳn thì lại phát sinh những vị thánh tăng xuất hiện làm cho đạo Phật đi vào dân gian qua những cái đạo như là Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, thậm chí cả Hòa Hảo nữa. Ngay cả Đức Thầy của Hòa Hảo cũng là những vị

[11:15]mà bên đó người ta cũng gọi là Phật luôn. Nghĩa là tín đồ người ta cũng kính trọng vì có những cái thần thông gì đó. Còn cái vấn đề mà dùng thần thông để giáo hóa thì chúng ta sẽ nói với nhau trong cái bài Bát Nhã 7 sắp tới, vào mùng một sắp tới ở Từ Tân thầy sẽ giảng. Nhưng mà chúng ta thấy vậy, lâu lâu gặp được một vị thánh tăng thì người ta kính trọng, người ta mừng vui và kính trọng như vậy và lúc đó Phật pháp sẽ hưng thịnh. Ngày nay thì chúng ta không tìm được một vị thánh tăng đắc đạo, nhưng mà vì cái cơ chế cho nên chúng ta vẫn tôn kính người xuất gia. Và khi mà chúng ta tôn kính một người xuất gia theo cái quy chế thì chúng

[11:50]ta được phước vậy đó, nhưng mà tội nghiệp là tội nghiệp người xuất gia. Người ta nhận cái sự tôn kính nó quá cái sức, quá cái phẩm hạnh của mình, người đó bị tổn phước liền. Không đủ đức mà nhận sự tôn kính là bị tổn đi. Và bị tổn rồi là mọi cái uy đức nó giảm dần, cái sức thu hút quần chúng giảm dần, rồi đạo Phật cũng suy theo mỗi vị đó luôn. Mà cái khổ là cái này, là nếu các vị xuất gia tự cho mình cái quyền là mình đã là người xuất gia rồi thì mình được quyền hưởng cái sự tôn kính, ủng hộ của người khác thì hoàn toàn sai. Cái sai nằm ở cái chỗ những vị xuất gia là khi vị đó nghĩ rằng mình cạo đầu

[12:29]và mình xuất gia rồi, mình thọ giới rồi thì mình được quyền để cho thiên hạ tôn kính, mình được quyền để cho thiên hạ cúng dường, cung cấp thì đó là ý niệm sai lầm. Sai lầm mà tự vị đó tổn phước luôn. Còn mình cứ gặp ai mình cứ cung kính thì mình rất có phước không sao hết. Vị đó tốt xấu gì mình cứ tôn kính ráo hết thì mình cứ ngon lành, cứ phơi phới mình đi lên không sợ. Nhưng mà khốn khổ là khốn khổ vị xuất gia đó nếu vị đó không xứng đáng. Vị đó từ từ tiêu. Cho nên, bây giờ chúng ta phân biệt những vị xuất gia một chút xíu để chúng ta có một cái lập trường, quan điểm rõ ràng mà không bị rơi vào cái lỗi

[13:08]là làm cho vị đó tổn phước và Phật pháp vì vậy mà suy tàn theo. Giờ chúng ta phân biệt những hạng xuất gia như sau. Thứ nhất là theo cái năm, năm xuất gia, tức là lâu năm hay ít năm. Giờ nói người đó tu lâu, người đó tu mới tu thì cái câu nói nó tổng quát quá cho nên chúng ta phải biết là vị đó mới xuất gia được 1 năm, vị đó xuất gia được 3 năm, vị đó xuất gia 5 năm, hay 10 năm, hay 20 năm, 40 năm, vân vân, là chúng ta phân biệt. Là như vậy, trên tương đối thì cái người lâu năm đáng cho ta kính trọng hơn là người, người mới xuất gia, phải không? Trên tương đối. Như vậy cũng là được, phải không?

[13:47]Nghĩa là còn cái chi tiết khác thì không biết nhưng mà trên tương đối thì cái người xuất gia lâu năm là mình tin tưởng hơn, mình có thể kính trọng nhiều hơn người ít năm. Tiêu chuẩn này được không? Đồng ý không? Rồi một tiêu chuẩn khác nữa là tiêu chuẩn về cái giới phẩm. Tức là coi vị đó là mới tu chưa có thọ giới gì, hoặc là vị đó đã thọ Sa-di, vị đó đã thọ Thức-xoa, vị đó đã thọ Tỳ-kheo, vị đó đã thọ Tỳ-kheo được 25 năm, 20 năm, vị đó thọ Tỳ-kheo được 40 năm, vân vân. Tức là theo cái giới mà chúng ta đặt cái tôn kính tăng thêm. Tức là người đó mới thì mình cũng quý trọng, thương yêu, ủng hộ nhưng mà không thể kính trọng bằng

[14:31]cái người đã thọ đại giới hoặc là đã thọ quá lâu năm. Thì tiêu chuẩn này cũng chấp nhận được phải không? Được không? Được ha, không có cự nự ha. Rồi. Rồi một cái tiêu chuẩn nữa bắt đầu đi sâu hơn là cũng là người xuất gia mà người có lý tưởng nhiều hay là ít lý tưởng. Tức là người xuất gia đó thì hầu hết ai cũng có lý tưởng. Hầu hết thôi nhưng mà cũng có người không có lý tưởng nha. Có không? Cũng có á. Có người ai rủ rủ riết rồi cạo đầu đi tu, cà ngơ ngơ trong chùa. Sống vì không ở chùa thì không biết ở đâu. Có một lần thầy gặp người đó đó. Có một lần bước vô chùa gặp cái chú đó, chú nghinh nghinh ngang ngang.

[15:09]Rồi không biết ông thầy mắc cái nợ gì cũng cho xuất gia, mai mốt vô chùa gặp cái thấy cạo đầu, mai mốt vô gặp cái thấy ổng bận y Tỳ-kheo mà trước sau y như vậy, không hề có một cái phẩm hạnh nào tăng lên thêm. Nên mình biết cái người này vì cái hoàn cảnh gì đó rất là đặc biệt vì mình không giải thích được mà phải xuất gia, nhưng hoàn toàn không lý tưởng. Nhưng mà hạng đó ít, còn đa phần khi mà xuất gia thì ai cũng có lý tưởng. Nhưng mà cái lý tưởng thì quan trọng là nhiều hay ít. Người nào lý tưởng nhiều thì chúng ta tôn kính nhiều, người lý tưởng ít thì chúng ta tôn kính ít. Tiêu chuẩn này được không? Cũng chấp nhận được phải không?

[15:47]Nhưng mà nó hơi khó nhận xét hơn, hơi khó nhận xét hơn vì cái lý tưởng là cái trong sâu thẳm của con người, mình không đánh giá được. Mình phải sống gần, tiếp xúc lần lần rồi mới biết người này có lý tưởng hay không. Mà cái quan trọng á, mà nếu chúng ta lỡ mà gặp cái người mà có lý tưởng tuyệt đối thì làm sao? Thì ngon lành. Coi như người đó sẽ là cây đại thụ che mát người trong thiên hạ, mà chúng ta gặp được những người như vậy là chúng ta cũng có phước rất là lớn. Vì sao vậy? Vì người mà có lý tưởng trong đạo đến tuyệt đối thì người đó từ từ cái đạo hạnh họ cứ thăng tiến dần, thăng tiến dần.

[16:23]Mình nương tựa theo chắc ăn, không có lạc lối. Đồng ý không? Do đó, cho nên ngoài cái việc là tiêu chuẩn trước là tiêu chuẩn lâu năm, ít năm, tiêu chuẩn thứ hai là tiêu chuẩn giới phẩm, và tiêu chuẩn thứ ba là chúng ta đi sâu vào nội tâm của một vị xuất gia để biết vị đó có lý tưởng nhiều hay ít, hoặc là nếu may mắn gặp được một vị mà có lý tưởng đến tuyệt đối thì càng tốt. Lý tưởng tuyệt đối là gì?

[16:50]Tức là vị đó quyết tâm đem trọn cuộc đời mình để tu hành mà hòng đạt được sự, sự giác ngộ giải thoát. Vị đó có lòng tôn kính Phật đến, đến tuyệt đối, sẵn sàng chết vì Phật pháp, không sợ. Coi thân mạng này hễ mà, bình thường thì rất quý thân mạng để giữ cái thân mà tu, nhưng nếu phải hy sinh vì Phật pháp, chết liền, không sợ. Đó là những vị mà đạt đến tuyệt đối. Và vị đó nguyện lòng thương yêu chúng sinh vô hạn, không phân biệt, ai cũng thương, kể cả người lầm lỗi cũng thương luôn. Nếu mình gặp được người đó là mình rất là có cái duyên phước trên cuộc đời này. Quý Phật tử gặp chưa? Khi nào gặp cho thầy biết nha, thầy mừng.

[17:31]Rồi chúng ta có một cái tiêu chuẩn nữa để đánh giá người xuất gia nữa là người có đạo đức hay không. Tức là mình đến với vị đó mình thấy vị đó từ bi hay không, hiền lành không, dễ thương không, độ lượng không, khiêm tốn hay không, vân vân. Đó, hay là vị đó còn có những cái nhược điểm, ví dụ như vị đó còn hơi kiêu ngạo, kiêu mạn một chút, vị đó còn hơi nóng tánh một chút, hay vị đó phân biệt cố chấp một chút, tức là những cái khuynh hướng mà kém đạo đức, hay là khuynh hướng đạo đức mình phải thấy rõ và để theo đó mình cũng đặt cái lòng tôn kính mình cho thích hợp. Mà nếu vị đó có vẻ còn cố chấp quá thì mình cũng thương cái

[18:11]người xuất gia vậy nhưng mà mình, mức độ thương vừa chừng. Còn nếu cái vị đó không có cố chấp, tâm rất là độ lượng, vị tha, hiền lành và dũng cảm, can đảm thì xứng đáng để mình đặt cái niềm, niềm tin yêu của mình lên đó. Tiêu chuẩn này được không? Được ha, có lý ha. Rồi cái tiêu chuẩn nữa là giới, là vị đó có giữ được những cái giới quan trọng hay không. Nếu mình thấy vị đó những cái giới quan trọng tương đối giữ được thì mình đặt lên sự kính trọng, mình yên tâm; còn vị đó mà đối với những giới quan trọng không giữ được thì mình giảm bớt lại, như vậy. Rồi một tiêu chuẩn nữa là đối với những Phật

[18:53]sự, vị đó có đóng góp được nhiều hay không. Ví dụ như vị đó có đóng góp được nhiều công lao cho đạo; nhiều khi còn ở trong chùa thì lo được nhiều việc chùa, phụ với thầy để mà làm Phật sự, làm công quả; hoặc là đối với bên ngoài chùa thì vị đó có kết nối, đem đạo đến cho chúng sinh, hoặc là vị đó có những cái công tác để hoằng truyền giáo lý được hay không. Mình theo tiêu chuẩn, ví dụ nếu cái người đó cũng là người xuất gia mà ít làm được việc gì quá, thấy sao ông tu không mà không thấy trong chùa cũng thấy ít công quả, mà đối với cái quần chúng Phật tử bên ngoài ông cũng ít có tiếp xúc để giáo hóa thì cái lòng kính trọng mình giảm bớt.

[19:34]Còn nếu cái vị đó mà làm được những cái Phật sự tốt cho Phật pháp, hoằng truyền được giáo lý, đoàn kết được con người, nối cái đạo tình đối với cái mọi người được thì người đó mình đặt cái lòng, lòng kính trọng nhiều hơn. Đó là chúng ta xét trên cái công lao Phật sự người đó làm được hay không, nhiều hay ít mà chúng ta đặt lòng kính trọng cho thích hợp. Tiêu chuẩn này được không? Rồi, một cái tiêu chuẩn nữa còn khó nữa là người đó có thực hành và thân chứng được thiền định hay không. Là bởi vì trong đạo Phật á, trong cái tiêu chuẩn tu hành Bát chánh đạo á, mới ban đầu bằng chánh kiến, rồi chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp,

[20:16]chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, cuối cùng là chánh định. Tức là người tu hành phải làm sao mà đạt được cái định lực thì mới là cái công phu tu hành ở trên cái giai đoạn cao. Thì đây là cái chỗ mà chúng ta cũng đánh giá. Nếu cái vị đó mà nội tâm có cái thân chứng được thiền định thì chúng ta đặt lên đó cái niềm tôn kính nhiều hơn, hơn là một vị mà chưa đạt được nhiều cái thiền định, mình giảm cái lòng tôn kính hơn. Cái tiêu chuẩn này rất là quan trọng, đồng ý ha? Và còn tiêu chuẩn cuối cùng nữa là người đó chứng được thánh quả hay chưa. Nhưng mà cái người chứng thánh quả họ có cho mình biết không? Không.

[20:54]Cho nên thử mình cũng phải nêu ra, nhưng mà rất khó biết là ai chứng được thánh quả hay không. Cái người mà chứng được thánh quả theo bốn cái mức độ mà Phật đã nói: Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán, thì chúng ta có duyên may thì sẽ biết là vị đó phi thường, thấy hơn người, là có thiền định, có trí tuệ, có thần thông hơn người, chứ mình cũng không biết chính xác là thánh vị nào. Tại vì sao? Vì chỉ Phật mới biết thôi. Phật mới biết là vị đó chứng thánh vị nào, chứ còn chính vị đó nhiều khi vị đó cũng không biết chính xác là mình ở thánh vị nào, chỉ biết mình có đắc, mà thực sự không chính xác là mình đắc vị nào đâu.

[21:31]Nhiều khi thấp còn tưởng cao. Đó, mấy vị mà thiền sư đắc đạo hay bị cái vậy đó, thấp tưởng cao. Mà thời Đức Phật không bị là bởi vì Đức Phật xác định rõ, tức là người nào chứng quả đến trình thì Đức Phật đã biết: à, ông đã chứng được Tu-đà-hoàn, ông đã chứng được Tư-đà-hàm, ông chứng A-na-hàm. Nhờ biết như vậy nên ráng tiến tu, không có dám chủ quan. Nếu mà người chứng thánh quả thì đúng là cái nghĩa quy y Tăng mà Phật dạy, là quy y hiền thánh Tăng mà chúng ta cái lòng tôn thờ đó như là tôn thờ Phật. Sau Pháp thôi, Phật, Pháp rồi đến Tăng, tức là vị có đắc đạo, có chứng thánh quả. Còn mà những vị chưa chứng thánh quả thì chúng ta xét theo những tiêu chuẩn

[22:10]phía trước mà chúng ta vừa nói, tức là tu được nhiều năm hay ít năm, thọ giới nào, thọ giới lâu chưa, người có lý tưởng hay không có lý tưởng, người có giới hạnh đạo đức hay không, rồi người có làm được nhiều Phật sự hay không, người đó tinh tấn được thiền định hay không. Đó là những tiêu chuẩn đó để chúng ta phân loại. Và cuối cùng là cái thánh quả. Á, vì vậy mà khi chúng ta nói là đi chùa, chúng ta quy y Tăng, nhưng mà không phải là vị nào giống như vị đó đâu. Chúng ta đi nơi qua chùa này, chúng ta qua chùa kia, chúng ta thương quý, ai xuất gia chúng ta cũng thương quý, nhưng mà tùy người mà chúng ta có cái sự

[22:48]tôn kính, ủng hộ thích hợp để cho vị đó không bị tổn phước. Mà khi vị đó không bị tổn phước thì Phật pháp sẽ phát triển. Ví dụ như một vị đó cái giới hạnh còn kém, cái phẩm hạnh còn kém thì vị đó thấy rõ ràng là mình không được nhiều người cung kính thì vị đó tự biết mình phải phải sao? Phải ráng tu thêm. Đó, còn thấy cái người kia có phẩm hạnh rồi và thấy quần chúng, Phật tử theo nhiều thì thấy vị đó cảm thấy mình phải bắt chước. Còn nếu mà trong cái cơ chế thấy ai cũng như ai, hễ tu xuất gia rồi đều đáng được hưởng sự cung kính giống nhau thì vị đó không có cái nỗ lực bên trong mà chỉ ráng giữ hình thức bên ngoài thôi.

[23:26]Hễ giữ được hình thức này thì thiên hạ... Cho nên nếu mà cứ theo cơ chế là hễ ai xuất gia thì được tôn kính, cúng dường, ủng hộ thì người ta chỉ ráng giữ hình thức à. Còn ở đây từ đây về sau hễ là Phật tử mà cung kính vị nào là cung kính chính xác theo phẩm hạnh thì lúc đó đòi hỏi các vị xuất gia làm sao? Phải phải trau dồi phẩm hạnh, phải tinh tấn tu hành. Cho nên vì vậy khi mà chúng ta từ đây về sau, chúng ta không có đặt cái sự tôn kính theo hình tướng nữa mà đặt sự tôn kính theo phẩm hạnh, đây là một cái sự thúc đẩy, khuyến tấn những vị xuất gia phải phải tiến lên, chứ không còn mà chỉ ỷ vào hình

[24:05]thức rồi đứng yên lại nữa, không còn được phép như vậy nữa. Bây giờ là Phật tử chính là người giám sát mà chính là người ủng hộ, chính là người tôn kính, chính là người tôn thờ người xuất gia, nhưng quan trọng chính là người giám sát luôn. Thì như vậy chư Tăng sẽ tinh tấn lên, mà khi chư Tăng tinh tấn lên thì Phật pháp sẽ sẽ hưng thịnh. Cái điều đó rất là quan trọng. Có những người xuất gia tệ hại, họ thấy họ ở trong cái quy chế này là hễ là mang hình thức tu sĩ thì họ được nhiều ưu đãi cho nên họ không chịu từ bỏ cái hình thức xuất gia, dù là cái tâm hồn họ không còn gì hết, lý tưởng đã mất mà không chịu bỏ, không chịu từ bỏ hàng ngũ xuất gia, ở hoài.

[24:47]Vì sao vậy? Vì thấy mang hình tướng này dễ sống. Thì chính vì những hạng người này mà đạo Phật bị suy vong. Vì sao vậy? Vì thần thánh rời bỏ. Chúng ta nhớ điều này, quan trọng. Một tôn giáo mà muốn phát triển, nhất là Phật giáo mà muốn phát triển phải được thần thánh ủng hộ. Mình nói là chư Thiên, chư Bồ Tát ủng hộ. Mà chư Thiên, chư Bồ Tát ủng hộ là phải ủng hộ chính xác cụ thể từng con người chứ không phải ủng hộ chung chung. Ví dụ nói là ủng hộ cho Phật pháp phát triển thì phải bảo đảm là ủng hộ cho ông thầy nào, chùa nào chính xác. Nhưng mà cái ngôi chùa đó không xứng đáng để cho thần thánh ủng hộ,

[25:23]họ quay lưng đi liền, họ không ủng hộ nữa là mọi chuyện cũng từ từ tệ hại. Vì không ai giấu được thần thánh, con người giấu nhau được chứ không giấu thần thánh được. Cho nên vì vậy là trong đạo Phật ta vậy, chúng ta lệ thuộc rất nhiều vào sự ủng hộ của các vị Hộ pháp, Bồ Tát, chư Thiên. Ở các tôn giáo khác á thì họ nhờ cái tài tổ chức, họ có cái cơ chế tổ chức, cái cơ cấu về việc mà truyền đạo rất là mạnh. Họ tung tiền, họ biết làm kinh tế, họ móc nối, họ lôi kéo, họ luồn sâu, họ lôi kéo tín đồ. Là nhờ cái tổ chức để họ được cái tín đồ đông. Còn đạo Phật ta thì cái đó là dở, nên ta sống được á là thường là

[26:03]chúng ta nhờ sự ủng hộ của thần thánh, của chư Thiên, chư Hộ pháp, chư Bồ Tát. Cho nên vì vậy là khi mà đạo hạnh của chư Tăng mà phát triển thì thần thánh không quay lưng, sẽ luôn luôn che chở cho chúng ta. Cho nên vì vậy, bây giờ nói về cái bổn phận của chư Tăng là nếu chư Tăng mà không muốn bị tổn phước á thì đây là điều quan trọng nè, là chư Tăng đừng nghĩ mình hơn người. Đây, điểm này quan trọng nè. Mà Tăng Ni thường hay bị cái điểm này. Khi mình xuất gia rồi thì luôn luôn nghĩ mình mình hơn người. Thường thường á khi mà

[26:40]một người muốn đi tu á thì họ có cái lý tưởng về sự giác ngộ, giải thoát, chứ lúc đó không thấy mình là đi tu để được hơn thiên hạ, là chỉ vì lý tưởng mà đi. Nhưng mà khi đi vào trở thành người xuất gia rồi, bắt đầu mới thấy có cái giai cấp xuất hiện là cái người ở vai vế này tự nhiên hơn người vai vế kia. Và cái người xuất gia tự nhiên đứng vượt lên hẳn cái người cư sĩ, là người cư sĩ phải tôn kính, phải tôn trọng. Thì lúc đó cái ý niệm là để được người khác tôn trọng nó chi phối rất là mạnh trong tâm hồn của người xuất gia. Và đây chính là cái điểm đổ vỡ, điểm thất bại. Nếu mà người xuất gia giữ được cái ý niệm như lúc mình chuẩn bị đi

[27:26]tu á là không thấy mình hơn người thì đạo pháp sẽ phát triển. Còn nếu mình ỷ mình mặc bộ đồ Tỳ-kheo rồi, mình thấy mình hơn người khác chưa thọ giới gì hết thì đó là nguyên nhân của mọi sự đổ vỡ của đức hạnh, của tâm hồn, của phước hết. Đổ vỡ. Nhưng bây giờ làm sao mà Tăng Ni có cách nào để thấy mình không hơn người khác? Thì phải có cái suy nghĩ, suy nghĩ rằng mình là người chịu ơn thiên hạ. Muốn cho mình nghĩ là mình đừng hơn ai thì mình phải suy nghĩ rằng người xuất gia là người chịu ơn của thiên hạ. Mà ơn ai? Trước hết là ơn ai? Ơn Phật. Tức là nhờ Phật mình mới có chỗ mà giờ này mình đi tu phải không?

[28:11]Nếu Phật không mở ra một cái đạo, giờ này mình đâu có chùa, đâu có đạo Phật để mình đi tu. Ơn Phật là trước hết. Rồi ơn ai nữa? Ơn thầy tổ của mình. Nếu không có ông thầy ổng thế độ mình, lấy gì mình đi tu. Rồi từ Phật cho tới ông thầy mình là qua bao nhiêu đời? Biết bao nhiêu đời của các vị tôn túc tổ sư nối truyền phải không? Nên mình biết ơn những vị đó. Rồi ơn cha mẹ, người cho mình cái hình hài này. Ơn đàn na là những Phật tử đã cúng dường, giúp đỡ cho mình tu. Ơn ai nữa? Ơn quốc vương, thủy thổ, tức là một đất nước mà có cái luật pháp, có cái bảo vệ. Nhờ vậy mình ở chùa yên. Chứ nếu một đất nước nó không ra một đất nước,

[28:53]luật pháp xáo trộn, cướp bóc đầy rẫy, nó vô chùa nó cướp đồ luôn, mình tu được không? Không. Cho nên chính nhờ có cái nhà nước giữ gìn một đất nước ổn định mình mới tu được. Cho nên vì vậy ơn quốc vương thủy thổ là vậy. Và nói chung là ơn hết cuộc đời. Một cái người quét rác bên đường mình cũng cũng mang ơn họ. Một người trồng một cái cây xanh để mình đi ngang qua có cái bóng mát mình cũng mang ơn họ. Và như vậy cái người xuất gia phải tâm niệm trong tâm mình là sao? Tất cả mọi người là ân nhân, mà chính mình là người chịu ơn. Cho nên vì vậy khi mà mình mình nghĩ mình là người chịu ơn thiên hạ rồi thì mình có dám lên mặt không? Không. Mình gặp ai mình cũng nói:

[29:35]"Ân nhân, ân nhân, ân nhân, ân nhân, ân nhân, ân nhân." Cái thôi mình không dám quậy, không dám kênh, không dám thấy mình hơn người. Cho nên vì vậy cái người tu giữ được cái sự khiêm cung và cố gắng, cố gắng tu nè, cố gắng làm việc lợi ích cho đạo và cố gắng hoằng truyền giáo lý. Là mình chịu ơn những cái người đã đem đạo đến cho mình thì bây giờ mình đền ơn bằng cách mình đem đạo đến cho người chưa biết. Nên chính cái tâm niệm mà mình quý trọng mọi người, xem ai cũng là bạn, là ân nhân, khiến cho chư Tăng thành tựu được cái tâm khiêm hạ và không bị tổn phước. Và khi mà không bị tổn phước rồi,

[30:11]thì tự nhiên chư thiên, thần thánh tìm về ủng hộ, và Phật pháp bỗng nhiên phát triển hưng thịnh trở lại liền. Yếu tố này quan trọng lắm. Khi mà người tu mà kiêu mạn thì thần thánh quay lưng liền, còn khi người tu mà khiêm hạ, thấy mình là nhỏ bé, tầm thường thì tự nhiên thần thánh quay lại ủng hộ liền. Cái điều này rất là quan trọng. Cho nên, cái người tu từ đây phải lật ngược cái suy nghĩ lại, lúc nào cũng suy nghĩ mình là người phụng sự, chứ không phải mình là con người ngồi một chỗ để cho người khác phụng sự. Cái điểm này là một sự cải cách trong cái suy nghĩ của người xuất gia. Nào giờ người xuất gia hay nghĩ rằng mình là tu thì

[30:53]cứ lo tu, rồi người cư sĩ phải có bổn phận ủng hộ, bây giờ người xuất gia phải suy nghĩ ngược lại. Mình mới chính là những người phụng sự, bởi vì mình đã mang ơn cuộc đời. Mà phụng sự thì đừng có nghĩ là mình phụng sự mà phân biệt, nói: "Tôi sẽ phụng sự cho thế gian bằng cách gì? Bằng cách là tôi sẽ thuyết pháp như mây như mưa, truyền giới thọ giới, tôi sẽ làm thầy thiên hạ, chứ còn đi rửa chén không đi, hoặc là quét nhà không quét", không phải. Tức là khi mình nghĩ mình là người phụng sự chúng sinh rồi thì việc gì làm được là làm. Vì lúc đó cái nền nhà nó dơ, nhìn chung quanh hễ thấy có cái chổi là cầm ra quét liền, không phân biệt.

[31:33]Hoặc là lúc đó là không ai thuyết pháp, mà tới lúc mình phải thuyết pháp thì mình leo lên ngồi thuyết pháp liền. Là dù cái việc đó có vẻ như cao quý, dù cái việc đó có vẻ thấp hèn, nhưng mà hễ mình làm để phụng sự được là làm liền, không có nề hà, không có câu nệ. Thì người xuất gia mà có cái tâm niệm được như vậy thì phước sẽ tăng lên, thần thánh sẽ quay về ủng hộ và Phật pháp sẽ phát triển. Cho nên, chúng ta mong là quý thầy quý cô vậy, mới xuất gia hay xuất gia đã lâu năm vậy, cứ có cái tâm niệm là phụng sự mọi người như mình là một người nhỏ thôi. Rồi sau này ví dụ có lo được cả trăm ngàn công chuyện vĩ

[32:14]đại lớn lao khác, thì tâm cũng không có cái tự hào. Bởi vì ngay từ đầu mình đã xác định là mình chỉ là người phục vụ thôi, mình là người phụng sự, nên dù việc gì làm được là làm. Mà chính cái người mà có cái suy nghĩ là bất cứ việc gì làm được là làm, thì người đó tự nhiên càng lúc càng làm được nhiều việc lớn, lạ như vậy. Còn cái người mà đợi: "Hễ việc nào này đáng việc của tôi, tôi mới làm, còn việc kia không phải tu, tôi không làm", thì người đó từ từ không có việc để làm nữa, bỗng nhiên cái công việc mất dần mất dần. Còn cái người không nề hà việc gì thì tự nhiên công việc tìm tới hoài, hay như vậy.

[32:48]Bây giờ cái người cư sĩ nè, cái bổn phận của người cư sĩ thì chúng ta thương yêu những người xuất gia. Vì sao? Vì nếu không có những người xuất gia thì lấy ai giữ gìn Phật pháp, phải không? Cho nên người xuất gia nào mình cũng thương, người mới tu là mình đã thương rồi. Vừa mới nghe vị đó cạo đầu, phủi tóc là mình bắt đầu thương rồi. Thương cái người xuất gia vì đây là những người giữ gìn Phật pháp cho mai sau. Đồng ý không? Đó, mặc dù người đó còn để chóp mình vẫn thương, hoặc là vị đó là vị Hòa thượng già lọng cọng, hết hơi, không làm gì được nữa mình vẫn vẫn thương. Cứ xuất gia là mình thương vì đó là những người giữ gìn giềng mối cho đạo.

[33:28]Mà phải có cái đạo tình đó, tức là người cư sĩ phải biết thương người xuất gia thì đạo Phật mới phát triển. Đầu tiên mình chưa phân biệt, mà hễ xuất gia mình thương cái đã, chứ thầy chưa nói tới kính nha. Chứ còn muốn kính là phải thêm bắt đầu thêm tiêu chuẩn á, ai cũng thương hết. Và chính vì mình thương đó mình mới ủng hộ để cho vị đó được cơ hội để tiến tu. Ví dụ như là mình biết cái chùa đó nghèo, rồi những vị xuất gia đó mới, vị đó chưa có nhiều giới hạnh, đạo hạnh chưa cao, cũng chưa có thuyết pháp gì được, nhưng mà mình vẫn phải ủng hộ, ủng hộ cái chùa đó, vì sao vậy? Vì chính nhờ sự ủng hộ của mình mà những vị đó họ mới có cơ hội để họ tiến tu.

[34:10]Chứ còn nếu mình không ủng hộ, các vị đó phải quần quật kiếm miếng ăn, rồi vị đó không nghiên cứu kinh điển, không ngồi thiền được, thì vị đó không tiến tu rồi đạo Phật không có ai phát triển giữ gìn. Do đó là cứ người xuất gia mình cứ thương yêu và ủng hộ trước, là mình đầu tư, tức là mình cứ đầu tư, dù chưa thấy vị đó làm được điều gì hết, nhưng mình vẫn phải đầu tư, vẫn phải thương yêu. Đó, vì biết đâu là vị đó mình chưa thấy làm được điều gì, nhưng sau này vị đó sẽ làm được rất nhiều việc. Giống như vậy, hồi xưa thầy xuất gia vậy, thầy cũng làm chú điệu, cũng xơ xác, nghèo nàn, rách nát, đâu có làm được gì đâu.

[34:45]Nhưng mà cũng nhờ những cái Phật tử lúc đó họ thương yêu mình, họ nuôi ăn tới giờ còn sống mới ngồi đây mới nói chuyện, chứ còn không chết hồi đó rồi đâu còn. Cho nên bây giờ cũng vậy, ai xuất gia mình thương, mình đầu tư đạo pháp. Rồi kế đó là khi mình thấy những vị đó là những vị chân tu, có giới hạnh thì lòng kính trọng mình tăng lên dần, tăng lên dần. Còn những cái vị mà đạo cao đức trọng thì mình hết lòng, hết lòng tôn kính. Tức là mình cứ cái lòng kính trọng của mình tăng theo cái cái giới hạnh, phẩm hạnh, cái đạo hạnh của vị đó. Còn những vị xuất gia mà chỉ có hình tướng, bên trong hư rỗng thì làm sao?

[35:23]Nhất là những vị tu lâu rồi. Tu lâu rồi mà mình thấy vị đó mục nát, thấy rõ thì sao? Mình tránh xa, nghiêm khắc tránh xa, để cho vị đó biết là khi vị đó còn mới tu thì vị đó được quyền có khuyết điểm. Tu lâu, được quyền có khuyết điểm nhỏ. Nhưng mà tu lâu thì không được quyền có khuyết điểm lớn. Nên khi mà vị đó tu lâu rồi mà còn khuyết điểm lớn nhiều quá, thì tới lúc mình phải mình phải có thái độ, mình phải có thái độ để báo cho vị đó biết không được như vậy nữa, mình tránh xa ra. Để cho vị đó không ỷ y là hễ tui có mang hình tướng này là người khác phải lo cho tui, không có. Vị đó phải hiểu rằng tôi phải trau dồi giới hạnh thì người khác mới ủng hộ tôi.

[36:11]Cho nên cái người mới xuất gia thì mình chấp nhận sao cũng được, nhưng người xuất gia lâu rồi, bắt đầu mình nghiêm khắc. Nếu mà họ có khuyết điểm lớn quá, mình tránh xa. Nếu mình có cơ hội để góp ý thì mình nên góp ý. Nếu mình góp ý qua trung gian thì góp ý qua trung gian, nhưng mà đừng đem lỗi vị đó nói ra rộng rãi, vì nó xấu chung cái đạo của ta. Như vậy đây là điều cẩn thận. Cho nên là từ đây, cư sĩ chúng ta có thái độ đối với tăng ni tùy theo đạo hạnh, chứ không có theo hình tướng nữa. Điều này đồng ý không? Đồng ý với thầy không? Sẽ có người phản đối đó. Sẽ có người đòi hỏi là nói rằng nheo như cũ là hễ xuất gia rồi là mình tôn kính.

[36:51]Nhưng mà như vậy sẽ có người ỷ lại. Do đó bây giờ, cái tiêu chuẩn quy y tăng của chúng ta là cái lòng tôn kính của chúng ta sẽ tùy theo cái đạo hạnh của người xuất gia đó. Và như vậy chúng ta sẽ giúp cho những vị xuất gia cố gắng tu nhiều hơn. Và khi các vị ráng tu nhiều hơn thì lợi cho ai? Lợi cho Phật pháp, cho cho chúng sinh, đúng là như vậy đó ha. Cho nên vì vậy hôm nay chúng ta xác nhận nhau điều này. Và như vậy, khi chúng ta đối xử như vậy nó công bằng không? Công bằng phải không? Tức là vị nào thật sự đạo cao đức trọng thì lòng tôn kính rất nhiều, vị nào ít thì lòng tôn kính mình giảm xuống, và đó là sự công bằng.

[37:34]Mà cái gì công bằng thì cái đó sẽ phát triển, nhớ như vậy. Cái gì công bằng thì cái đó sẽ phát triển. Ví dụ như trong một xã hội cũng vậy, nếu đó là một xã hội công bằng là người có tội bị phạt đúng mức, người có công được thưởng đúng mức thì xã hội đó sẽ rất phát triển, rất là tốt đẹp. Hoặc là trong một cái trường học là cái người học dở là bị điểm thấp, người học giỏi được điểm cao thì ngôi trường đó sẽ rất nhiều người học giỏi. Hễ công bằng là sẽ phát triển. Và trong đạo cũng vậy, hễ là cái người mà có đạo hạnh cao thì được tôn kính nhiều, người đạo hạnh thấp thì được tôn kính ít thì đạo sẽ phát

[38:18]triển, bởi vì sự công bằng luôn luôn đưa đến sự phát triển. Và tại sao chúng ta phải tôn thờ cái luật nhân quả? Bởi vì luật nhân quả chính là luật của sự công bằng, mà công bằng tuyệt đối luôn. Công bằng tuyệt đối là sao? Là vì thế này, chúng ta có ba cái loại luật trên cuộc đời này. Thứ nhất là luật pháp do con người đặt ra, cái này có công bằng không? Tạm thời công bằng, phải không? Nhưng mà không hoàn toàn, vì sao? Vì con người có thể mua chuộc được, làm nghiêng lệch cán cân luật pháp, có không? Có những người đã hối lộ và vượt qua được tội lỗi của mình, hoặc có những người đã gài âm mưu để hại những

[38:59]người ngay, chân chính, lợi dụng luật pháp. Cho nên, cái luật pháp do con người đặt ra cũng là cái thiện chí của sự công bằng nhưng không tuyệt đối vì sẽ bị chính con người bằng cái âm mưu, cái mưu mô của mình, cái hiểm độc của mình mà phá vỡ cái cái sự công bằng đó. Cái công bằng thứ hai là công bằng của thần linh. Của thần linh tức là ví dụ như là chúng ta thờ một cái vị thần linh nào đó, thì vị đó cũng có cái công bằng. Vị thần, thần thánh ở trên cao cũng nhìn xuống trần gian, tức là thấy ai tốt thì sẽ phù hộ, mà ai xấu thì sẽ nhiều khi sẽ phạt, chứ không phải không. Nhưng mà rồi sao? Nhưng mà rồi con người cũng rất là ghê,

[39:41]con người cũng mua chuộc luôn thần thánh luôn. Có không? Có không? Có! Thần thánh vẫn bị mua chuộc nha. Bằng cách nào? Bằng cách nào? Nếu mà mua chuộc cái luật pháp ở cõi người á thì chúng ta tới gõ cửa sau của một cái ông quan đó phải không? Chúng ta đút lót và năn nỉ, phải không? Ỉ ôi, vuốt tay nắm tay nắm chân đồ năn nỉ đưa tiền là đó là chúng ta mua chuộc, phá vỡ cái công bằng của thế gian. Và đối với thần thánh trên cao thì mình không có biết nhà ổng ở đâu để gõ cửa sau thì mình làm cái gì? Quỳ năn nỉ. Chuyện này có thật. Ví dụ bây giờ ờ ừm có cái vị thần, với vị ví dụ như một vị ông quan đó,

[40:29]ổng rất là tốt, ổng làm được nhiều công lao cho cuộc đời, ổng chết cái ổng được làm thánh, ổng người ta lập cái đền thờ thờ ổng và ổng rất là thiêng. Nghĩa là thường thường ai tới cầu xin gì cũng hay được, phải không? Và ai mà tới hỗn ẩu là ổng bẻ giò đi cà nhắc về liền không nói nữa, ví dụ vậy. Rất là thiêng nên nhiều người tới cúng. Thì ổng cũng cầm cân nảy mực á chứ không phải không, tại lúc sống ổng cũng cầm cân nảy mực mà. Thì lúc chết ổng cũng vậy, nghĩa là ai mà xấu là ổng phạt, mà ai tốt ổng thưởng. Nhưng mà rồi có một cái tay đó, nó xấu, nó buôn gian bán lận, nhưng mà khổ một cái tháng nào ổng cũng tới cúng ổng.

[41:03]Năn nỉ, nói: "Xin ngài tha thứ cho con, con lỡ tháng này tháng sau, chưa biết nhưng mà ngài che chở cho con buôn may bán đắt, con cúng ngài như này này." Năn nỉ ổng xiêu lòng hay không? Thần thánh vẫn còn cảm tình. Cho nên thần thánh coi vậy chứ vẫn bị mua chuộc. Cho nên cái công bằng của thần thánh dù có cao hơn của thế gian nhưng vẫn chưa phải tuyệt đối. Đây là điều có thật á. Cho nên có nhiều người á mình thấy xấu kỳ khôi nhưng mà mộ đạo, cứ cúng cầu Trời Phật hoài, cầu thần thánh hoài cái tự nhiên thấy người đó cũng tai qua nạn khỏi. Mai mốt kiếp nào đó sẽ bị trả nhưng mà kiếp này vẫn được che chở bởi vì biết năn nỉ thần thánh. Chuyện này có thật.

[41:44]Và cái luật thứ ba đó là luật nhân quả. Luật này là thôi thua luôn, hết. Tới đây là con người hết mua chuộc được, bởi vì luật nhân quả không có một con người để mà chịu trách nhiệm, mà đây là một cái luật vô hình bàng bạc khắp trong vũ trụ. Nghĩa là ai làm tốt thì được hưởng sung sướng, ai làm xấu chịu quả báo khổ. Giờ có năn nỉ thần thánh mua chuộc, thời gian này thì tạm che được, qua thời gian khác vẫn bị trả quả báo. Giờ có mua chuộc luật pháp thế gian, mua chuộc ông quan để che đậy tội lỗi của mình thì cũng tạm che được, mai mốt cũng sẽ bị quả báo đầy đủ luôn. Cho nên luật nhân quả là công bằng tuyệt đối.

[42:19]Và chính vì luật nhân quả là công bằng tuyệt đối cho nên ngày nào mà trái đất này, hành tinh này ai cũng tin luật nhân quả hết thì trái đất này sẽ làm sao? Sẽ làm sao? Sẽ trở thành cõi Tịnh độ. Đó, đó là nguyên tắc. Hễ cái gì công bằng thì cái đó sẽ phát triển tốt đẹp, đó là nguyên tắc. Nên hôm nay chúng ta nói với nhau về đề tài Quy y Tăng là chúng ta dành cho chư Tăng Ni một sự đối xử chính xác, công bằng thì Phật pháp sẽ phát triển. Mọi người đồng ý với thầy không? Đồng ý. Bây giờ thầy nhờ thêm một điều. Thầy nhờ thêm một điều. Tất cả những người đệ tử của thầy ở khắp nơi, ai là đệ tử của chùa Phật Quang thì có một nhiệm vụ, có một nhiệm vụ này giùm thầy.

[43:07]Bởi vì hồi nãy thầy nói quý Phật tử là gặp người xuất gia là thương. Hồi nãy thầy vừa mới nói nhớ không? Thì như vậy thầy có thương người xuất gia không? Thầy rất thương. Thầy rất thương người xuất gia. Khắp nơi ai xuất gia thầy cũng thương. Nhiều khi thầy vô tiệm cơm chay mà thầy thấy có mấy thầy, mấy cô vô ăn là thầy thương và thầy thường hay trả tiền giùm. Như vậy chứ không phải thầy làm le, mà thầy thương, thầy thương. Vậy. Mà chỉ có một điều thầy thương nhưng mà thầy không làm được. Thầy không làm được. Thầy không làm được, thầy không biểu lộ cái tình thương của thầy đối với quý thầy, quý cô khắp nơi được.

[43:42]Thầy không biểu lộ được cái sự kính trọng và thương quý đối với tất cả Tăng Ni ở khắp mọi nơi được. Cho nên vì vậy thầy nhờ quý Phật tử làm giùm. Được không? Bằng cách là nơi nào quý Phật tử ở mà có chùa chiền của quý thầy, quý cô gần đó thì hãy đến chùa đó thăm quý thầy, quý cô và nói rằng: "Thưa thầy, thưa cô, con là đệ tử của chùa Phật Quang. Con thay mặt thầy con đến đây để thăm hỏi, chúc lành và gửi tới quý thầy, quý cô sự thương yêu và kính trọng của thầy con." Và luôn tiện, mình móc ra được năm ba ngàn con xin cúng dường. Rồi mai mốt lên đây thầy sẽ... Thầy sẽ khen. Chớ ai nói thầy chết?

[44:33]Làm được không? Làm được nha! Đó là chuyện thầy nhờ thứ nhất. Bây giờ chuyện thầy nhờ thứ hai là chùa mình á hay hay làm phim, làm phim giảng Phật tử coi rồi phải không? Thì với một bài giảng như vậy là cứ ngồi mà chiếu cái mặt thầy riết thì sao? Không ai thèm coi nữa, vì cái mặt thầy nó hơi bị hơi bị xấu. Cho nên là nếu quay cái mặt thầy hoài thì không ai thèm coi. Cho nên vì vậy phải quay mặt xuống Phật tử thì nó sẽ đẹp hơn một chút. Nhưng mà quay hoài người ta cũng cũng chán, cho nên là hay có những cái đoạn minh họa, phải đóng cảnh này cảnh kia minh họa, quý Phật tử có thấy không? Mà muốn có cái những cảnh đóng minh họa thì

[45:12]buộc lòng phải có diễn viên, diễn viên. Cho nên thầy hay đi nhờ người này đóng một cảnh, người kia đóng một cảnh chút chút vậy đó. Nhưng mà khổ cái đôi khi có những cảnh minh họa là phải đóng cảnh phản diện, tức là phải đóng làm nó dữ, cướp đồ thì cái phim nó mới nhiều, phong phú. Nhưng mà khổ cái nhiều khi nhờ Phật tử đóng phản diện không chịu. Cứ đến nhờ đó: "Vậy cô đóng giùm cái cảnh là cô ở gần chùa mà cô mở máy nhạc lớn nha?" Cái cô: "Không, tôi không có. Tôi ở chùa luôn luôn lúc nào tôi cũng mở máy nhỏ hết, tôi không chịu đóng cảnh này", chịu thua. Đó, nhiều khi vậy. Thành thử bây giờ đóng phim là giả bộ.

[45:46]Vì vậy nếu mà lúc nào đó mà gặp quý thầy, quý cô nhờ đóng phim thì đóng sao cũng đóng nha. Đóng ăn xin mình cũng đóng, đóng ăn cướp mình cũng đóng, phải không? Đóng ăn hàng mình cũng đóng, đóng ăn trộm mình cũng đóng, phải không? Đại khái vậy, được không? Được nha, đừng có nề hà hết.

[46:07]Không, thầy thầy thầy có ít biết như quý thầy, quý cô á, quý thầy, quý cô đi nhờ chứ còn thầy thầy ai thì cũng muốn nhờ nhưng mà thầy không phải đạo diễn. Thì thôi hôm nay bắt đầu chúng ta sẽ vui Trung thu. Chúng ta có một ít đề tài đạo lý nói chuyện như vậy. Xin mời quý thầy ở Đại Tòng Lâm vào đi chứ, để xin giới thiệu Phật tử. Ai lại mời quý thầy...