[0:08]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:20]Thỉnh quý Phật tử ngồi xuống nha. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nay chúng ta tiếp tục nói về Tứ Thánh Đế, tới phần hôm nay là phần Diệt Đế. Thử nghe cái chữ Diệt Đế, thấy a nhiều khi chúng ta hiểu lầm đó là một động từ, tức là mình trừ gian diệt bạo gì đó hổng biết. Nhưng không phải, chữ Diệt Đế lại là một danh từ. À. Cho nên cái từ cổ tới từ ngày nay nó đôi khi có sự hiểu lầm. Đây là một cái khó khăn trong vấn đề mà nghiên cứu kinh điển. Thì nhiều khi là những lời dạy của Phật rất là quý giá, nhưng vì dùng những ngôn ngữ của mấy ngàn năm trước, cho nên bây giờ chúng ta đọc lại mình dễ hiểu lầm rồi hiểu không hết ý Phật.
[1:06]Cái chữ Diệt Đế cũng vậy. Nếu mà không phải là những tăng ni đã từng học có căn bản trong trường lớp, hoặc là những Phật tử mà đã nghiên cứu cho nó có căn bản sách vở, thì khi nghe cái chữ Diệt Đế cũng hiểu sai. Trước giờ cũng vậy, có nhiều vị đã chú thích cái chữ diệt này là giống như mình diệt mất một cái gì đó, mình ra tay mình trừ gian diệt bạo, mình xóa, mình bỏ, mình hủy cái gì cái gì, không phải. Chữ diệt này có nghĩa là nói tới cái trạng thái hạnh phúc hay chấm dứt đau khổ. Ở đây mình dùng à hai cái từ thế này: đây là một trạng thái hạnh phúc, chấm dứt đau khổ, à là mình nói hơi gượng, chứ chữ Diệt Đế này không có ngôn ngữ để giải thích.
[1:48]À chúng ta hôm nay chúng ta cũng sẽ nói dòng do quanh co, nhưng mà sự thật là cái chữ Diệt Đế của Phật à không có ngôn ngữ để giải thích. Nhưng mình cứ tạm mình nói với nhau một chút. Cái cái chữ Diệt Đế Phật dùng á có nghĩa là một trạng thái chấm dứt hoàn toàn đau khổ. Nghe vậy mình không hình dung ra được cái sự vĩ đại của Phật pháp như thế nào. Đó là tại sao vì cái mục tiêu Diệt Đế này, là nơi chấm dứt đau khổ này, mà mình phải bỏ hết mọi hạnh phúc của trần gian để đi tìm cái chỗ hết đau khổ này? Cho nên nhiều khi mình nghe nó không có rõ ràng, đó là lý do tại sao mà đôi lúc đạo Phật đã không hấp dẫn mọi người như vậy.
[2:28]Vì có một số tôn giáo khác người ta vạch ra một cái mục tiêu có hình ảnh, à có minh họa, có lời lẽ để diễn tả dễ hiểu, làm người ta thích thú. Ví dụ nói: "Bây giờ mình đi về cõi trời, ở trên đó có lầu các, điện ngọc, có những bậc thánh, thiên thần có cánh đẹp đẽ, sung sướng, hạnh phúc." Mình nghe, mình hiểu được, rồi thôi từ từ người ta thích. Còn ở đây, Diệt Đế nơi không còn đau khổ, nghe không hiểu, rồi do đó mà chúng ta không thấy được cái mục tiêu vĩ đại của đạo Phật. Ví dụ bây giờ thế này, có cái người giàu à bây giờ ví dụ như có một người hỏi chứ: "Giờ lúc này anh chị làm ăn ra làm sao?" Nè nói:
[3:08]"Dạ, cũng không có thất nghiệp." Nói một câu, nhưng mà sự thực là đang làm tất bật làm ra tiền ào ào ào mỗi ngày. Nói: "Lúc này anh khá không?" Nói: "Dạ, lúc này cũng không có nghèo." Nhưng mà sự thực là tiền không có chỗ chứa. Quý vị, có những á thì đúng là nói không nghèo là đúng, nhưng mà người ta nói một cách khiêm tốn thôi, chứ không lẽ tôi nói là tôi cực kỳ giàu, phải không? Họ không dùng chữ đó, chỉ nói nhẹ nhàng một câu là: "Tôi không nghèo." Nhưng sự thực là cái ý nghĩa ngược lại rất là lớn. Thì cái chữ Diệt Đế trong đạo Phật cũng vậy. À Đức Phật nói à: "Khi mà tu đúng theo Bát Chánh Đạo của Phật rồi thì đã đến cái
[3:43]chỗ không còn đau khổ." Thì nghe chữ không còn đau khổ, mình hiểu kiểu đó là chết, đâu có biết rằng cái chỗ mà không còn đau khổ của Phật là chỗ mà hạnh phúc không thể tưởng tượng được. Hạnh phúc tràn đầy hết, không thể tưởng tượng được. Nên a đây là cái chỗ mà bởi vì trong ngôn ngữ á Đức Phật dùng khiêm tốn, Ngài không muốn thêu dệt nhiều quá. Thứ nhất là vì cái trạng thái Niết bàn á ngôn ngữ không diễn tả. Với thứ hai nữa, nói nhiều quá thành ra khoe khoang. Thứ ba nữa là cứ nói về cái Niết bàn nhiều quá, người ta bắt chước, người ta lặp đi lặp lại. Rồi người ta tự khoe mình. Có những người chưa có tu được tới nơi,
[4:21]nhưng mà cũng diễn tả về Niết bàn đồ nghe y như thiệt, cái rồi mình tưởng như là mình đã chứng thánh, thành ra mang cái tội tổn phước nặng. Vì vậy mà Đức Phật chỉ nói một từ nhẹ nhàng: "Đây là nơi không còn đau khổ." Cái chỗ này nó nhẹ nhàng lắm, nhưng mà những vị thánh mà tu chứng đạo tới chỗ này rồi mới hiểu hết cái chỗ mà gọi là không còn đau khổ. Chứ còn chúng ta nghe thì không hình dung được. Bây giờ thì quý thầy ở khắp nơi khi mà dạy về Tứ Diệu Đế, thì diễn tả lại cái Diệt Đế này khéo léo. Khéo léo làm sao giữ được ý của Phật, nhưng mà phải triển khai ra khá khá một chút để cho mọi người có thể hiểu được.
[5:00]Ừm. Nói mà cái sự chấm dứt hoàn toàn đau khổ hay là mình nói là đã đến cái chỗ hạnh phúc tuyệt đối hoàn toàn, đều giống nghĩa với nhau. Nhưng mà nếu mình nói cái chữ "hoàn toàn" á thì mình không hình dung được. Vì vậy, à chúng ta sẽ nói từng bước dần dần. Tức là nói đến từng bước tiến bộ của việc đạt được cái bình an, được hạnh phúc, được giải thoát, được giác ngộ hay mình gọi là chứng đạo, hay gọi là đắc quả thánh. Đi từng bước như vậy. Tức là những bước thấp á, mình nói là à mình theo đạo Phật mình cảm thấy tâm hồn mình được bình an, đó là mình đã có một chút Diệt Đế rồi đó. Hoặc là mình nói: "Từ khi tôi tu tập theo đạo Phật,
[5:40]tôi hiểu đạo, tôi bắt đầu cảm thấy tâm mình có hạnh phúc." Đó, bắt đầu là mình có Diệt Đế một chút rồi đó. Hoặc có người nào nữa mà tu sâu hơn, đắc những cái định cao hơn, rồi thấy tâm mình siêu thoát. Thật sự thấy tâm mình siêu thoát, dĩ nhiên là chưa giải thoát hoàn toàn như Phật đâu. Nhưng mà rõ ràng thấy tâm mình siêu thoát, trạng thái nó đặc biệt, thì đã nói bắt đầu mình đã có Diệt Đế rồi. Ừ hoặc là có người họ bừng ngộ được, có cái trí tuệ đặc biệt sắc bén, nên nhìn ra mọi cái đạo lý, cái kiến giải, được gọi là có được cái trí tuệ giác ngộ, thì người như vậy cũng là có Diệt Đế rồi. Hoặc là người mà tu sâu đến cái độ mà họ chứng được một số quả thánh,
[6:21]rồi có thần thông, có thần thông có thể có phép, biết chuyện này chuyện kia vân vân, thì cái đó cũng gọi là có Diệt Đế rồi. Đó, chúng ta thấy có nhiều giai đoạn như vậy. Và dĩ nhiên là giữa cái thời đại mà văn minh vật chất quá cao như thế này, nhất là cái thời mà xa Phật mấy ngàn năm, thì chúng ta đi tìm cái người chứng đạo thật sự hơi khó, đúng là hơi khó. Nên ở đây, vào thời Đức Phật á, có Đức Phật làm cái tấm gương tiêu biểu, mọi người hướng về, có cái lý tưởng rất mạnh, có niềm tin rất mạnh, họ tu rất là mau chứng, mau đắc. Vì hằng ngày hằng giờ thấy Phật mà. Một con người chứng đạo vĩ đại bên cạnh mình á, trước mặt mình đó.
[7:02]Từng cái oai nghi cử chỉ của Phật là quá tuyệt vời. Cho nên ai cũng thúc liễm tinh tấn tu hành, họ mau chứng đạo. Rồi xa Phật dần, xa Phật dần cái hình ảnh đó lu mờ dần, chỉ còn là những vị thánh thôi, thỉnh thoảng chúng ta gặp. Mà đến thời đại của chúng ta ngày hôm nay, thì thật là tìm một vị thánh rất là khó khăn. Như vừa rồi đó, có một cái ông trung tướng, ổng tu tập khí công và tập thiền định, thì ổng cũng có một kết quả nào đó, một số kết quả nho nhỏ, thì ổng nghĩ rằng: "Là trong đạo Phật chắc là còn có nhiều vị tu chắc cao hơn ổng." Tại vì ổng là người cư sĩ, mới có tu luyện sơ sơ. Thì ổng nỗ lực ổng đi tìm, mà tìm hoài không ra.
[7:42]Thì không biết là những vị chứng đạo ẩn đâu mình không biết, nhưng mà đây cũng là một cái thực trạng không riêng gì Việt Nam mà cả trên thế giới như vậy. Cái tâm linh lui dần lui dần. Đây cũng gọi là thời mạt pháp là như vậy đó. Tuy nhiên, chúng ta biết gốc, biết nguyên nhân, chúng ta sẽ dựng lại cái niềm tin, chúng ta dựng lại cái lý tưởng của mình để mỗi người chúng ta nỗ lực tu hành mà đi tìm lại cái giá trị Diệt Đế hoặc là cái đỉnh cao tâm linh mà Đức Phật đã vạch ra, chứ chúng ta không có thất vọng. Như chúng ta đã nói vậy, nếu mỗi người mình buông xuôi để cho cái luật vô thường từ từ nó cuốn đi, cuốn mất đạo Phật đi,
[8:21]thì đúng là sau này đạo Phật chỉ còn cái vỏ mà không còn cái giá trị nội dung nữa. Nhưng tuy nhiên, những người đệ tử Phật, chúng ta sẽ không có buông xuôi, chúng ta sẽ nỗ lực hết sức mình để mà dựng lại cái giá trị của Phật pháp. Có thể bây giờ chúng ta vẫn còn dở, à chúng ta vẫn còn kém, vẫn còn lầm lỗi, nhưng mà cái lòng tôn kính đối với Đức Phật phải là tuyệt đối, cái lý tưởng mà hướng tới cái Diệt Đế, cái Niết bàn tuyệt đối của Đức Phật cũng phải là mãnh liệt, không cùng không tận. Chúng ta quyết tâm với nhau như vậy để làm chi? Để chúng ta tìm lại, chúng ta dựng lại cái tâm chứng vĩ đại mà Đức Phật đã đạt được, đã vạch ra
[9:03]để cho đạo Phật được tồn tại lâu dài, để không bị cái cơn gió của thời gian nó cuốn phăng đi hết mà làm cho đạo Phật đi tới cái tình trạng chỉ còn cái vỏ mà không cái ruột. Chúng ta hứa với nhau sẽ cố gắng như vậy. Ừ. Trong cái Diệt đế này như chúng ta nói là có nhiều cái giai đoạn từ từ. Cái đỉnh cao tột cùng của Diệt đế dĩ nhiên là Niết bàn tuyệt đối, Niết bàn tuyệt đối mà Đức Phật đã chứng được, chư vị A La Hán đã chứng được. Thì cái chỗ đó là chỗ rất cao siêu, một lát nữa từ từ chúng ta nói với nhau. Nhưng bây giờ chúng ta chưa có đạt được. Tuy nhiên, mỗi bước đi của mình trên con đường tu tập là mình
[9:48]đã xa dần đau khổ, mình đã đến gần với an lạc hạnh phúc. Đó là cái Diệt đế đang hiện ra từ từ. Ví dụ như chúng ta sau lưng chúng ta khởi điểm là bóng tối, ở phía trước đằng xa chân trời đằng kia là ánh mặt trời. Thì chúng ta khởi hành đi từ bóng tối về phía ánh mặt trời, thì mỗi bước đi của mình thì chúng ta sẽ bỏ sau lưng cái bóng tối dần dần để đi về ánh sáng. Thì mỗi bước đi là như vậy, đi dần về với cái an lạc hạnh phúc mà xa dần cái khổ đau tăm tối. Cái nói như vậy thì chúng ta nghiệm lại trong đời sống thực tế của mình là chúng ta sẽ thấy điều đó rõ. Là ví dụ như là một ngày hôm trước, nhiều khi với cái người huynh đệ,
[10:35]anh em trong nhà mình, mình còn nổi giận, mình còn cự, còn cãi, còn giận, còn hờn. Nhưng mà chiều hôm đó mình nghe được một bài pháp hay, tự nhiên nó có một cái thức tỉnh gì đó, một cái niềm vui gì đó xuất hiện trong tâm mà mình chưa tu được nhiều nữa mình chỉ mới nghe một bài pháp thôi làm cho mình lay động tâm hồn. Tự nhiên mình có một cái cảm xúc, có một cái hướng về điều thiện. À, nghĩa là từ buổi sáng đó mình chưa có cái tâm hướng về điều thiện, chiều nghe được bài pháp tự nhiên khởi cái tâm hướng về điều thiện chỉ nhiêu đó thôi, chứ chưa tu được nhiều. Thì qua ngày hôm sau, cũng cái người anh em của mình mà ngày hôm qua mới gây lộn á
[11:13]gặp lại cũng đem vấn đề đó ra gây lại lần nữa, thì bữa nay mình hiền không gây. Nay hiền, nhịn, đúng không? Có không? Như vậy là mình đã bước được một bước phải không? Đi về ánh sáng rồi đó, là đã có hạnh phúc được một chút. Ngày hôm qua cũng cái vấn đề đó, cũng cái con người đó mình gặp mình cự nự, mình sân si, mình giận, mình buồn. Nhưng mà chỉ chưa tu được nhiều, chỉ mới khởi được cái tâm hướng về điều thiện thôi, hướng về điều thiện mà chả biết điều thiện là gì rõ lắm đâu, mới nghe có một cuộn băng à, chưa nhiều lắm. Nhưng mà bỗng nhiên qua ngày hôm sau mình đã nhịn được một chút rồi. Nó hay như vậy, đó chúng ta thấy.
[11:50]Rồi bắt đầu mình mới tâm niệm, mình nuôi dưỡng cái điều đó tiếp tục. Ừ, mình thấy à như vậy hôm nay mình đã nhẫn nhục được một chút, mình suy nghĩ tiếp tục về giáo lý, suy nghĩ thế nào là thiện, là ác, là phải trái, đúng sai, tội phước. Mình suy nghĩ dần dần dần dần thì cái đạo tâm tăng tiến thêm chút nữa, tăng tiến thêm chút nữa. Rồi qua một tuần sau, ví dụ mình nghe thêm một vài cuốn băng, đọc thêm vài cuốn sách thì bình thường mình là người chỉ sống theo ý mình, nghĩa là thích gì làm nấy. Nhưng mà qua một tuần sau bỗng nhiên là bây giờ mình không còn thích sống theo ý mình nữa, bỗng nhiên mình cảm thấy mà lòng mình nó mềm ra.
[12:29]Trước đây nó như cục đá á, bỗng nhiên bữa nay nó chảy ra một chút. Cứ thay vì mình chỉ khăng khăng làm theo ý mình là mình phải đi chơi về phía Nha Trang ví dụ mình đòi đi, người khác thì đòi đi Vũng Tàu, mình đòi Nha Trang. Chứ hôm nay bỗng nhiên lòng mình mềm ra, cái mình nói thôi kệ đi Vũng Tàu cũng được, ở đâu cũng là trời xanh, cũng mây trắng, cũng là sóng biển rì rào, thôi đâu cũng được, mềm ra. Mà một tuần trước đó thì mình khăng khăng giữ cái ý của mình. Nên ở đây chúng ta thấy đó khi mà à cái nội tâm, cái đạo tâm mà được nuôi dưỡng, được giữ gìn, bỗng nhiên cái đạo đức nó có sự tiến bộ mà cái hạnh phúc, cái an lạc nó đến dần dần.
[13:06]Mà khi tâm mình nó chảy mềm ra một chút, tự nhiên mình thấy vui một chút, ngộ vậy. Trước đây á mình khăng khăng mình giữ cái ý của mình á thì mình thấy là như vậy mới là đã, ừ. Người ta phải theo ý tôi, tôi không theo ai hết, như vậy mới là đã, mới có cái gì nó hãnh diện, khoái chí. Nhưng mà khi biết đạo rồi thì cái mà mình bướng bỉnh để mình được cái khoái chí đó mình cảm thấy nó dở, không có hay. Mà chính cái lòng mình mềm ra, mình chìu ý được người chung quanh mình, người gia đình mình, huynh đệ mình thì tự nhiên mình cảm thấy có cái hạnh phúc lạ trong đó, có cái niềm vui nhẹ nhàng, nó sâu sắc, nó thâm trầm, nó tế nhị ở trong cái khi mà
[13:45]cái nội tâm của mình mềm ra để mình chìu được cái ý người khác, không có khăng khăng bướng bỉnh theo ý mình nữa. Có đúng không? Đúng. Ai mà thấy đúng gật đầu nói lớn lớn lên giùm nha để biết rồi, chứ không này không ai mà gật đầu hết thì mình biết mình đang giảng giảng trật, phải sửa lại liền. Còn thấy có đồng minh, thấy có người dạ đúng đúng thì mình biết mình trúng rồi nói tới nữa, còn nếu không đúng không nói nữa, giống như ông thầy bói á. Hỏi đúng không? Nói đúng nói, không đúng thôi không nói nữa. Vậy đó, mấy ông thầy bói. Ở đây cũng vậy, thầy tu giống thầy bói chỗ đó, hễ đúng nói nữa, không đúng không nói nữa nha.
[14:20]Rồi cũng vậy, ví dụ như là cái đạo tâm đó mình cũng tiếp tục nuôi dưỡng, nuôi dưỡng dần dần qua một hai tháng á qua chừng ba tháng thì khi mà đụng chuyện á, trước đây đó hễ mình đụng chuyện là mình trách cứ lung tung hết. Mình nói là tại ông A ổng dữ, ông B ổng lì, ông C ổng hung hăng đồ đó, cuối cùng coi chỉ có mình là một người thiên thần vô tội, chỉ vậy. Nhưng mà đến khi qua ba tháng nuôi dưỡng đạo tâm như vậy thì cũng cái chuyện rắc rối xảy ra thì lạ một cái điều lại là mình không lo để ý người khác nữa mà cứ để ý mình. Tự nhiên mình thấy cái sai của mình chỗ đó, chỗ đó lúc đó cái câu nói đó mình hơi dữ một chút.
[14:58]Ừ, cái thái độ nọ lúc đó mình không có hơi hiền hiền, mình hơi xấc xấc chút, mình thấy mình không à, thấy lỗi mình không à. Rồi đến khi mình thấy lỗi mình thì lúc đó mình biết hối hận, biết dừng lại, không còn trách. Mà khi không còn trách những người chung quanh mình nữa thì bỗng nhiên người chung quanh mình sao? Họ cũng bớt trách mình, tự nhiên họ thấy mình dễ thương. Đây cái nhân quả lạ vậy. Trên đời này mình sống đó mình cứ đâm đầu mình trách thiên hạ thì thiên hạ trách lại mình, ờ. Còn mà mình cứ trách cái lỗi mình thì thiên hạ lại bênh mình, ngộ vậy. À, nghĩa là ngồi tối ngày mình cứ nghĩ nè:
[15:37]tôi khờ dại lắm, ngây thơ lắm, phải không? Vậy đó, chỉ biết ăn thôi chả biết gì. Mình cứ ngồi mình trách mình là mình khờ dại, mình lỗi lầm, mình ngu si. À hễ mà chuyện gì xảy ra cái mình cứ thấy cái lỗi mình chỗ đó, chỗ kia như vậy thì tự nhiên cái người mà ở ngoài họ nhìn vô mình á họ lại thấy thương. Ờ nói cái cô đó sao cô tu rồi cô dễ thương ghê, cô hiền lành. Còn mà nếu lúc cũng chuyện xảy ra đó mình ngồi trong lòng mình cứ ngấm ngầm mình mắng thiên hạ, mình chửi, mình mắng thiên hạ, mình cứ rầy, mình trách thiên hạ thì bên ngoài người ta càng lúc người ta nhìn mình người ta nói trời ơi cái bà đó bả đi chùa sao bả giống như ác quỷ.
[16:13]Kỳ lạ vậy. Mặc dầu mình chưa nói ra, chỉ trong lòng mình cứ trách người ta thôi là tự nhiên thiên hạ nhìn mình đã kinh hãi rồi, ừ. Thấy mặc dầu mặt mình cũng đẹp chứ mà họ thấy giống như có cái nanh, kỳ vậy đó. Còn mà mình ngồi mình cứ trách mình thôi thì họ nhìn mình họ thấy mình như thiên thần. Đó, thì cái mà mình biết trách mình nè, mình biết nhu thuận nè, vâng mình biết nhẫn nhục nè, một cái chút đạo đức đó nó hiện ở trong tâm mình tự nhiên nó có cái niềm vui đi theo nó bảo đảm, nó đi theo niềm vui đó nó có cái bảo đảm gì đó lạ lắm, làm cho mình thấy mình tự tin lắm, mình tự tin là mình đã đi đúng đường.
[16:53]Khi mà đạo đức nó hiện ra, mình thấy có hai điều: một á là mình thấy tâm mình có cái an vui, hai là mình có cái tự tin là mình đã đi đúng đường. Thì đó đó là một chút của Diệt đế hiện ra đó, một chút của hạnh phúc, một chút của ánh sáng đã đến với trong tâm mình. Mà đó là mình nói mới một chút nha, chứ còn nếu cái đạo tâm đó mà được duy trì, được nuôi dưỡng, được tu tập, được tọa thiền lâu ngày dài tháng thì cái hạnh phúc đó, cái trí tuệ đó, cái bình an đó, cái đạo đức đó nó còn sáng tỏ rất là nhiều nữa. Mà cái hạnh phúc đó nó lớn lao hơn nhiều. Giờ quý phật tử cứ nhìn trong tâm mình kể từ lúc mình biết đạo đến
[17:38]nay, mình biết tu tập đến nay mình đã có những bước tiến gì, là những người chung quanh mình đã đánh giá mình như thế nào, cái niềm hạnh phúc an lạc của mình đã đạt được như thế nào, vân vân. Rồi thì mình so sánh, mình cứ nghĩ là những cái bậc thánh á họ hơn mình một triệu lần như vậy thì mình phải hiểu là đạo Phật vĩ đại như thế, hiểu như vậy. Là mình có cái niềm an lạc thì mình phải hiểu những người mà họ tu tập chuyên cần, là tinh tấn, nghiêm mật thì hạnh phúc của họ lớn hơn mình cả triệu lần, cái trí tuệ hơn mình gấp nhiều lần. Những bậc thánh là như vậy. Do đó là mình ví dụ mình nói mình vừa xoay lưng vào bóng tối mình bước
[18:16]được một vài bước thôi là mình thấy đã hạnh phúc, huống hồ là người ta đã đi rất xa, người ta đã đi về gần tới ánh mặt trời rồi thì cái niềm hạnh phúc của người ta còn lớn biết chừng nào nữa, phải không? Ở đây mình nói là ánh mặt trời, mình biểu tượng cho cái Niết bàn tuyệt đối của Phật, chứ mình không đưa ra một hình ảnh là của một cái thiên đường ở trên cao là có các thiên tử, có lầu các, nó cụ thể. Mình chỉ nói rất là trừu tượng, được minh họa ra hình ảnh một ánh mặt trời ở chân trời xa xa vậy thôi, nhưng mà để chúng ta hiểu ngầm với nhau như vậy, ừ. Cho nên chúng ta thấy là mỗi bước tiến, mỗi bước mình đi không bao giờ là cái sự uổng phí công lao đâu.
[18:55]Nên mỗi người chúng ta cố gắng tu tập như vậy, mỗi bước đi là mình đến gần với Diệt đế. Tuy nhiên thế này, là cái sự an lạc, cái hạnh phúc mà chúng ta đạt được á nó luôn luôn là sự kết hợp giữa cái phước và cái trí, giữa phước và trí. Nghĩa là chúng ta cứ cân nhắc giữa hai điều đó mà chúng ta biết cái hạnh phúc của mình đã đúng hay chưa, đã đến hay chưa là vậy đó. Ví dụ thế này là Ngày xưa mình làm người nghèo túng, không có tiền bạc gì nhiều, đời sống vật chất khó khăn. Rồi sau một thời gian dài mình làm lụng, có kết hợp với nhiều cái may mắn, rồi kết hợp với nhiều cái nỗ lực cố gắng của mình, bỗng nhiên mình khá giả lên, mình có tài sản hơn.
[19:40]Gọi là mình thoát được cái khổ về nghèo khó. Vậy có phải là diệt đế chưa? Một phần chưa? Phải không? Đó là một phần đó, đúng rồi đó. Nên người tu tập á, mình không có nói gì cao siêu về tâm linh trước, mà phải đánh giá trên cái đời sống vật chất trước. Đó, đánh giá trên đời sống vật chất trước. Là mình phải bớt đi cái nghèo khổ về vật chất cái đã. Để cho đỡ phải chạy vạy cơm áo gạo tiền cái đã. Như vậy đó là cái nền trước. Bởi ông bà mình nói một câu rất là đúng: có thực mới vực được đạo. Vực là vực dậy đó, dựng đứng lên đó. Cái vực được đạo là người mà mình có ăn rồi mình mới lo cho đạo pháp được, cũng như là mình có ăn no cái bụng rồi mình mới lo tới
[20:25]cái tinh thần thiền định, tâm linh, tu tập, giác ngộ được. Nó là một điều thực tế và đạo Phật cũng như vậy. Ví dụ bây giờ có cái người họ nghèo khổ, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc rách rưới, mà thực sự là họ thiếu, họ ăn buổi sáng nay mà trưa thì không biết ăn cái gì, mà gặp mình, mình hỏi về thiền đạo thì nói thao thao bất tuyệt. Là nói thiền là không cái này không cái kia, là tự tại giữa sinh tử, là cái màu trắng nằm trong màu đen, là đêm là thức giấc giữa đêm gì đủ thứ, nói chuyện mà nghe trên trời trên mây không, mình tin không? Không. Phải bảo đảm giùm điều đó không tin. Bởi vì sao vậy?
[21:05]Vì không thể trên tổng quát không thể là một người mà quá thiếu phước mà có thể đạt được sự tiến bộ của tâm linh. Nó là cái giá trị căn bản. Chỉ trừ một vài trường hợp rất đặc biệt thì có. Là như thời Đức Phật cũng vậy, có một vị cái nghiệp đói, đói thê thảm, nhưng mà chứng A La Hán thì vẫn chứng. Đó là duyên cá biệt, một vị đó bị gây cái nghiệp đời xưa quá kỳ lạ thôi. Chứ còn bình thường chúng ta, khi mà gọi là hết khổ đó thì nó phải tiến từ từ, mà đầu tiên phải hết cái khổ về vật chất trước. Đó là cái căn bản. Là vì sao vậy? Vì sao mà khi nói tu nó bớt khổ, mà phải bớt khổ về vật chất trước?
[21:47]Là bởi vì trong các công hạnh tu hành của chúng ta đó, cái hạnh đầu tiên mà để mình tu tập mình thực hành đó là hạnh gì? Bố thí, đúng. Là phải bố thí trước. Thì vì ngày xưa khi mình biết tu là phải bố thí trước, thì đến khi mà cái quả báo nó đến á thì cái phước vật chất nó cũng phải đến trước, rồi từ từ cái phước tâm linh tới sau. Đó là nguyên tắc nha. Nên đó là lý do tại sao mà Đức Phật dạy mình tu ngũ giới, thập thiện trước, trước khi mình tu những cái cao siêu hơn. Nếu mà ngũ giới, thập thiện chưa tu được thì những cái khác không tu được. Nghĩa là sao? Khi quả báo nó đến á thì mình chưa có cái vật chất an
[22:25]ổn thì mình không thể nào có tiến bộ về tinh thần. Giờ mình nói giỏi gì thì giỏi, chiều nay không biết lấy cái gì ăn nè thì đừng nói giờ này ngồi thiền. Trừ cái người xuất gia. Tại vì sao? Vì người xuất gia là những người liều mạng, liều mạng cụ. Tại vì khi đi xuất gia đó là cái gia đình của mình, cái nơi tổ ấm, cái nơi mà họ nuôi dưỡng mình mình dám liều mình bỏ đi mà. Đi vô một nơi không biết ra sao ngày sau, biết ra sao ngày sau, đó. Là dám liều mạng, nên cái người xuất gia đầu tiên là thấy cái chữ liều trên trán mới dám đi tu, còn không không dám đi. Mình vô một cái cộng đồng mới mà không biết
[23:01]mấy người này có thương mình hay không. Đó, rồi vô đó không biết là bữa đói bữa no, nghĩa là bây giờ Phật tử còn cúng cho ăn, rồi ít bữa nữa không biết ta còn cho ăn nữa hay không, thấy vậy. Đó là người xuất gia liều, cho nên có khi đó là chiều nay không biết ăn cái gì nhưng bây giờ cứ ngồi thiền cái đã, cứ lạy Phật cái đã. Nhưng mà bình thường coi vậy nói vậy thì nói, chớ nếu mà thật sự cái chùa mình hết gạo, chiều nay không biết lấy gì ăn, đố từ thầy trụ trì cho tới điệu mà ngồi đó mà tụng kinh lạy Phật được. Để lát hỏi sư huynh coi có không? Thường làm ví dụ, nếu mà có tụng kinh không phải chia:
[23:37]"Thôi, hai ba chú tụng kinh lạy Phật ngồi thiền, hai ba chú xách túi đi ra ngoài kia giùm thầy, xách túi đi", phải không? Nó phải vậy. Cho nên vì vậy là để cho tâm mình an tâm mà nhiếp tâm vào trong được thì đừng có bị cái lo về vật chất nó bức bách mình. Thì người cư sĩ cũng vậy. Tu gì thì tu, cái đầu tiên, cái hết khổ hiện ra là thoải mái về đời sống vật chất trước cái đã. Đó là cái đáng lo. Nên phải làm phước về cái đó cho chuẩn. Nghĩa là người cư sĩ trong cái đạo lý mà mình tu tập á phải biết tạo cái phước về vật chất, tránh những cái tội mà làm mình phải rơi vào nghèo khó. Phải tránh những cái, phải trong cái nhân quả mình đi cho kỹ cái đó giùm.
[24:20]Phải có cái quan điểm về cái đó, phải có cái phương pháp đường đi về việc làm ăn, về việc tạo phước về cái đó cho rõ. Để thoát, đừng bao giờ vướng vào cái nghèo đói. Vì nghèo đói rồi là hết tu. Nên ở đây mình nói lại, nó có vài điểm mà mình tránh để không bị rơi vào nghèo đói nè: là bón sẻn quá đáng, nghĩa là thấy người ta khổ trước mắt không giúp, không có biết san sẻ cái mình có để cúng dường, bố thí. Thì khi nói tới tội này ở đây mình có bị không? Hầu như không, phải không? Hầu hết những người ngồi đây không ai bị bón sẻn hết. Nghĩa là đều phải biết là có bố thí, cúng dường gì rồi thì mới ngồi đây.
[24:58]Còn cái người mà bón sẻn, hà tiện từng đồng thì giờ này chịu ngồi đây không? Không, giờ ngồi ở đâu? Ngồi ngoài, ngồi ngoài ngoài đường bán vé số gì đó không biết. Phải không? Cho nên đó, nên bảo đảm cái lỗi thứ nhất nói về tâm mình bị bón sẻn để sau này rơi vào nghèo đói thì bảo đảm những người ngồi đây không bị. Nhưng mà chúng ta có thể bị những cái khác mà mình vô tình không ngờ. Ví dụ thế này, ví dụ là mình có căn nhà cũng hơi có giá, cái mình không có tiền làm ăn, mình đem cái giấy nhà đó mình đi thế chấp ngân hàng để mình vay vốn mình làm ăn, mai mốt mất cái nhà. Vì sao vậy? Vì cái phước mình á là chỉ có một là cái nhà thôi. Phải không?
[25:44]Khi mình xách cái giấy tờ nhà mình đi vay ngân hàng thì mình hưởng mấy phước? Hưởng hai cái phước. Vẫn cái nhà đó mình ở phải không, nhưng mà thêm được bao nhiêu triệu, mấy trăm triệu nữa để mà mở ra một cái cơ sở gì nữa thì người ta nhìn vô người ta thấy mình sao? Đang giàu gấp đôi. Mà sự thật cái phước mình thì chỉ có một. Thì như vậy phước một mà hưởng gấp đôi thì mai mốt làm sao? Nó bù lại, nó âm lại mất luôn cái nhà đó luôn, chỉ còn cái chòi. Đó là nhân quả. Thì cái này ít người biết. Có khi mình bị rơi vào chỗ này mai mốt mất nhà mình khổ sở mình không hay, đó là một cái trường hợp đó. Rồi có vài cái nó lắt léo nhân quả mà làm cho mình bất
[26:21]ngờ rơi vào khó khăn, nghèo túng mà mình không ngờ. Đó là một trường hợp lắt léo. Rồi hoặc là nhiều khi mình làm ăn thì cũng bình thường, thì nhưng mà trong cái cạnh tranh của kinh doanh thì mình cũng nghe lời sếp của mình, buộc lòng mình phải cạnh tranh, nhưng mà cái cách cạnh tranh của mình là mình diệt một công ty khác nó phá sản, thất nghiệp luôn mấy ngàn người luôn. Mai mốt mình cũng rơi vào nghèo đói mình không biết tại sao. Trong khi mình thấy mình tốt, nghĩa là mình gặp người nghèo khổ mình giúp, mình biết cúng chùa, biết này kia nọ, biết ấn tống. Mà sao giờ tự nhiên mình thê thảm? Vì trên làm ăn vô tình mình đã tạo nên cái nghiệp rất là nặng mình không hay.
[26:55]Ví dụ như vậy. Vân vân. Nó nhiều trường hợp lắm, nhiều trường hợp lắc nhúc nhắt mà mình không biết được. Nên là mình phải có cái trí tuệ để thấy nhân quả trong từng ly từng tí. Chứ nhiều khi nhất thời ngồi đây, chúng ta không có nhớ hết từng điều nho nhỏ, nhưng mà bổn phận khi mình tu tập phải hiểu nhân quả cho kỹ để không bị rơi vào những cái nghiệp chút chút đó mà nó phá tan của mình, làm cho mình rơi vào cái khổ vật chất. Đó là cái thứ nhất. Rồi đồng thời khi mà tránh được điều đó mình còn biết bố thí, cúng dường, bố thí pháp, rồi vân vân nhiều mặt, giúp ai được gì giúp. Thì chừng năm ba năm thôi, bắt đầu cái mình thấy
[27:32]đời sống vật chất mình nó tăng lên chút. Tăng lên chút là lúc đó mình dành nhiều thời gian hơn cho việc tu tập tinh thần. Thoát được cái khổ vật chất thì bắt đầu tăng tiến cái sự tu hành về về tinh thần. Rồi bây giờ nó còn có những cái khổ nữa nè, cái khổ về bệnh hoạn. Bệnh hoạn khổ không? Khổ. Nghĩa là nó đau đớn, nóng nảy, rồi ho hen đó. Rồi ốm nhom ốm nhắt rồi hay mập thù lù, vân vân, nó nhiều chuyện lắm, nhiều cái rắc rối lắm. Đại khái tức là đều làm mình khổ sở về cái con người của mình. Thì tu mấy cái đó cũng phải bớt cái đã. Nó cũng là bớt cái khổ được. Chứ còn ví dụ như là khổ quá về thân rồi thì tâm linh cũng không
[28:16]tiến bộ, bởi vì cái thân nó vật mình cũng chịu không nổi. Do đó là mình có cái làm phước về gì đó để giải cái nghiệp bệnh về thân nữa. Ngoài cái việc mình bố thí để mình thoát cái nghiệp về vật chất, rồi mình có những cái phước như phóng sanh hay là bố thí thuốc gì gì đó, nhiều cái, để bớt cái nghiệp khổ bệnh về thân. Chứ mà cái thân bệnh quá nằm rên hừ hừ rồi, giờ mình có nói thiền nói đạo người ta cũng không tin, phải không? Như vậy. Như chúng tôi cũng vậy, là chúng tôi là con người èo uột, ốm yếu, bệnh hoạn, dòm thấy nó thê thảm. Cho nên bây giờ mình có nói hay gì nói người ta cũng không tin.
[28:52]Nói trời ông tu cái gì mà ổng ốm nhom ốm nhắt, xú xí, xô lơ xô lắc như ma lem vậy mà nói gì không biết nữa, nói vậy. Cho nên vậy tôi cũng phải ráng tu vì nó, cho nên mỗi ngày đó phải cầu nguyện lạy Phật sám hối để cho nó bớt xấu, bớt ốm, bớt bệnh, để để mà mới tu được như vậy. Rồi cái nghiệp nữa là nghiệp ngu dốt nà, là nghiệp về tinh thần. Ngu dốt là làm sao? Ngu dốt là mình đọc kinh điển mình không hiểu, hoặc là trong đời sống này mình học cái gì mình học không được, rồi ai nói mình không hiểu hết ý người ta. Là cái công việc trên đời này mình không nhận định, phán đoán, sắp xếp được. Nên cái gì chứ cái mà ngu dốt thiệt là đáng thương, phải không?
[29:30]Vì trong đời mình sống với nhau vậy chứ gặp nhau á là ngoài cái mình đánh giá sơ sơ về vật chất để mình đánh giá phước con người, cái thứ hai mình đánh giá con người về cái trí tuệ. Mình gặp một người mà họ thông minh, họ sắc bén, nhìn vấn đề đâu ra đó hết mình cũng có cái nể, tức là người có giá trị. Mà đúng bởi con người mình hơn con vật bởi vì cái cái đầu, cái trí. Chứ nếu mình con người mà mình ngu hơn con khỉ thì giờ này làm sao? Giờ này là con khỉ nó nhốt mình trong chuồng á, mỗi ngày nó cho ăn nó bắt mình làm cái gì làm. Nhưng mà bởi vì mình thông minh hơn cho nên bây giờ mình nhốt con khỉ lại.
[30:08]Mình uốn nắn, mình dạy dỗ, bắt làm xiếc, làm trò. Cho nên con người ta hơn nhau cuối cùng là cái gì? Là cái cái đầu. Cái giá trị cũng vậy, cái phước cũng vậy. Nói mà về cái sức khỏe, khéo léo, con người mình thua nhiều con vật trên đời này lắm. Mình thua con cọp, con beo, con a con sư tử, con voi, con bò, con trâu, con cá voi, cá heo, con gì mình cũng thua, về nhanh nhẹn con khỉ mình cũng thua. Bây giờ nói thế này nè nha: cái con khỉ nó lớn không? Chút xíu hà, nó nhỏ nhỏ như con chó à, có khi con khỉ nhỏ hơn con chó nữa. Mà bây giờ mình bước vào trong rừng ha, một mình mình đối diện một con khỉ, đố biết ai thắng ai? Ai thắng ai?
[30:47]Con khỉ thắng mình. Tại sao vậy? Đúng là nhanh, nó cắn mình mình mình chạy không kịp, nó cào nó cắn mình mình tránh không kịp. Nhất là phụ nữ là chịu thua liền, đàn ông thì còn giãy giụa chạy la chứ không. Đó là mình thấy một con vật rất nhỏ mình vẫn thua, nhưng mà sở dĩ mình hơn được là bởi vì mình có cái đầu. Cho nên, cái khổ về ngu dốt cũng là một cái khổ rất đáng nói. Vì vậy chúng ta tu làm sao vậy, cũng phải bớt cái khổ về ngu dốt, con người mình phải có trí tuệ hơn, phải thông minh hơn. Mà muốn có trí tuệ hơn, có thông minh hơn phải làm sao? Phải? Học thì đương nhiên là phải làm phước. Chúng ta nói với nhau:
[31:26]đạo đức là nhân của tài năng. Người mà có đạo đức tự nhiên sẽ thông minh lên. Mình biết làm phước, tự nhiên cũng thông minh lên nữa. Mình lạy Phật nhiều, tự nhiên cũng thông minh hơn nữa. Mình thương người nhiều, tự nhiên cũng thông minh hơn nữa. Tức là có nhiều cách để mình thông minh lên dữ lắm chứ không phải không, nhiều cách. Đó đó, mình lạy Phật nhiều nè cũng thông minh. Bởi vậy mình có con trẻ ở nhà vậy, mình cứ khuyến khích nó lạy Phật thì một thời gian nó học giỏi lên rất là rõ. Và bản thân mình cũng vậy, ví dụ trước đây mình học kinh điển rồi mình không hiểu nhiều, đi nghe giảng không hiểu nhiều, chỉ tập một cái hạnh một là từ bi thôi.
[32:00]Lúc nào cũng nhắc trong lòng mình thương yêu con người thôi, đi đứng gì gặp ai cũng tự nhủ trong lòng mình thương yêu con người, vậy trong thời gian sau mình thông minh hơn. Thời gian sau thông minh hơn, nó rất là rõ như vậy. Nên có nhiều cách thì khi mà mình từ một cái người trước đây là mình không thông minh lắm, nhưng mà tu một thời gian mình thông minh hơn là mình cũng bớt cái khổ vì ngu dốt, cũng là đi được một phần trên con đường diệt đế, phải không? Phải đến một lần một lần vậy. Rồi có một cái khổ nữa, cái khổ này là buồn khổ. Buồn khổ nghĩa là mình có nhiều cái chuyện gì đó làm cho tâm mình buồn.
[32:38]Ví dụ như là bây giờ có những chuyện gì làm tâm mình buồn? Trước mình học khổ đế rồi, phải không, quá nhiều chuyện để làm cho tâm mình buồn, phải không? Trên cuộc đời này như vậy, quá nhiều chuyện. Bị người ta mắng một câu mình cũng cũng buồn, người yêu bỏ cũng cũng buồn, bỏ người yêu cũng Bỏ người yêu có buồn không? Chắc không quá à, mừng thấy mồ. Nó nhiều chuyện như vậy. Thì ở đây, cái buồn trong tâm là cái buồn về khổ á là chỗ này cũng phải vượt qua. Tức là tu làm sao cũng cùng hoàn cảnh như vậy mà trước đây mình buồn khổ thì bây giờ tâm mình mình đứng lại được, mình giữ tâm mình an vui được, như vậy.
[33:16]Có một lần chúng tôi gặp cái cô bé tới đến gặp nói chuyện. Cổ đến cổ nói chuyện cổ khóc từ đầu tới đuôi. Rồi mới hỏi: "Con khóc vì chuyện gì, nói thầy nghe." Thì ngồi kể, kể ra một lát thì thấy chuyện bình thường quá đi, thấy nhiều người cũng bị giống vậy mà người ta không khóc, có mình cô này cổ khóc quá chừng luôn. Nên đó là cái tâm mình đã yếu, nó cũng là một cái nghiệp á. Khi mình dễ buồn, dễ khổ, dễ khóc á cũng là một cái nghiệp. Chứ nếu cũng cái con người đó mà mình chịu lạy Phật, mình chịu thương người, chịu năng nổ làm phước thì tự nhiên cái buồn cái khổ nó bay mất liền. Cho nên cái buồn khổ nó nó giống như cái bệnh ở trong tâm vậy.
[33:51]Ở đây chúng ta để ý mình vậy, nếu mà mình cứ hay buồn hay khổ, hay than van trong tâm mình á là coi chừng mình cũng có một cái nghiệp ở trong tâm á, một cái bệnh trong tâm, nên phải vượt qua. Mà vượt qua bằng cách gì? Dĩ nhiên nhiều cách tu lắm, mình bố thí, làm phước, lạy Phật, từ bi gì cũng hết trơn á. Nghĩa là chúng ta có mấy cái vị thuốc mà trị bá bệnh, đụng gì cũng xách ra xài là cái gì? Lạy Phật, gì nữa? Từ bi, gì nữa? Khiêm hạ, rồi gì nữa? Bố thí, rồi gì nữa? Đại khái vậy, nghĩa là mình có mấy cái vị thuốc đó đụng bệnh gì cũng xách ra xài mà rất là linh, gì cũng hết hết trơn. Nhớ nha, đó!
[34:30]Nghĩa là mai mốt mà mình nói cái này rồi đó thì coi như tất cả chúng ta ngồi đây ai cũng có thể làm thầy thuốc được. Mai mốt mà ai gặp mình mà than á thì cái mình móc ra, kê đơn: "Đó, anh anh làm này cho tôi, một ngày anh lạy Phật cho tôi một trăm cái, anh ngồi anh quán từ bi nha, anh nhớ lúc nào anh nhớ mình là cát bụi cỏ rác nha, anh nhớ bố thí nha, rồi bảo đảm về một tuần sau hết bệnh, cười liền." Rồi người nào than gì cũng đem nhiêu đó ra thì người ta sẽ rất là nể mình, người ta không ngờ mình hay như vậy, mà sự thật mình có mấy thang à, trị bá bệnh, như vậy. Nó có một cái này nữa là những cái khổ này thế này:
[35:05]hồi nãy là mình nói cái khổ là thụ động mình phải chịu đựng, về cái khổ chủ động là mình tạo ra là những cái tâm mà xao động, bất an, phiền não, ích kỷ, ganh ghét, oán hờn nó thuộc về đạo đức á thì cái đó nó cũng làm mình khổ lắm, làm mình bất an lắm chứ không phải dễ. Ví dụ bây giờ thế này, bây giờ trong một cái cộng đồng 10 người sống với nhau mà đối với chín người kia mình cứ bực bực ghét ghét, bực bực ghét ghét thì mình có vui không? Không, nó cũng đè nặng tâm hồn mình lắm. Bây giờ ngược lại mình biết tu, đối với chín người ở trong chung với cộng đồng của mình mình thương họ, ngay đó mình thấy vui liền, lạ như vậy.
[35:40]Có một điều rất lạ là tình thương có mặt ở đâu niềm vui xuất hiện ở đó. Mà niềm vui là cái gì? Là một phần của diệt đế, phần của diệt đế. Nên trước đây cũng vậy, ví dụ mình là người ích kỷ, mình sống cái gì mình cũng lo cho mình thôi, bỗng nhiên mình biết đạo rồi cái mình lo cho người khác. Khi mình lo cho người khác mình tưởng mình cực ha, không ngờ, khi mình lo cho người khác tự nhiên mình lại vui hơn. Đó là một phần của diệt đế. Thì đó là mình nói cõi người á, nhưng mà nếu mà lên các cõi trời cao hơn, những cõi trời cao lên dần dần thì cái khổ ít hơn, hạnh phúc nhiều hơn, cái sự tự tại được rộng rãi hơn nhiều.
[36:19]Theo như kinh Phật dạy thì ở trên trời có nhiều tầng, có nhiều cõi. Thấp nhất là cái cõi trời Tứ Thiên Vương, rồi lên những cõi trời dần dần: cõi trời băm ba, cõi trời Đế Thích, rồi lên những cõi trời Phạm Thiên, Đế Thích, rồi Sắc Cứu Kính, rồi lên những cõi trời Vô sắc, nhiều cõi trời lắm. Rồi chúng ta ngạc nhiên, chúng ta ngạc nhiên là tại sao mà Đức Phật với cái trí tuệ mà Ngài nhìn ra được như vậy, chứ còn mình mình không biết. Thì mỗi cõi trời cao hơn á cái hạnh phúc lớn hơn nhiều, cái tự tại muốn cái gì được cái nấy. Nên ví dụ thế này: bây giờ quý Phật tử ngồi đây chứ thật ra là gần phân nửa cái số người ngồi đây đã từng ở cõi trời.
[36:59]Quý vị có nhớ không? Ai nhớ giơ tay lên. Nhớ không? Sự thật cõi trời không khó lên. Mình đọc trong kinh Phật rồi mình sẽ thấy là cõi trời không khó lên. Nghĩa là mình thiện đừng có ác quá, biết tu tập, biết lạy Phật, biết làm phước, chết rất dễ lên cõi trời. À nhưng mà mình không ở lâu thôi. Ví dụ công đức không lớn á mình không ở lâu lắm rồi mình xuống lại đầu thai cõi người lại. Khi về cõi người bắt đầu mình lại đi chùa Từ Tân mình tu tiếp, mai mốt lên nữa, nói vậy. Là không khó, cho nên chúng tôi nói cái câu này mà không có sợ sai lắm là gần phân nửa số người ngồi đây đã từng ở cõi trời. Mà gần thôi chứ không phải là ở quá xa đâu, thời gian gần mới xuống đây thôi.
[37:43]Ở trên đó nó có cái lạ thế này: ví dụ bây giờ đó mình thấy cái mái tóc mình á nó đen nó không có model lắm, mình muốn nó đỏ một chút, mình chỉ khởi ý coi là biến thành màu đỏ liền, mà không cần phải chạy ra cái mỹ viện mà mà nhuộm. Đó, ở đây chứ nhiều người là thấy nhiều cái đầu đỏ đỏ, tu vậy là khá lắm, đỏ đỏ hết trơn rồi đó. Nhưng mà mình phải tốn tiền tốn công, còn trên kia chỉ một ý nghĩ thoắt một cái biến thành ra liền. Quần áo cũng vậy, quần áo ví dụ mình muốn bộ đồ đơn giản hiện ra bộ đồ đơn giản, mà muốn bộ đồ đẹp bất ngờ hiện ra liền. Đó đó là cái phước của người cõi trời là muốn gì được nấy. Mà tại sao vậy?
[38:22]Là bởi vì lúc ở cõi người sao? Ai muốn cái gì họ đáp ứng cái đó. Chúng ta nhớ nha, bởi vì nơi nhân quả rất là công bằng. Nghĩa là thường á mình sống trên đời mình hay chiều mọi người cái điều chính đáng, mình rất dễ chiều cái điều chính đáng của người khác thì sau này mình được cái phước là muốn gì được nấy. Mà cái phước nó lớn quá thì phải về cõi trời thì mình mới hưởng đủ chứ ở cõi người hưởng không kịp. Ở cõi người ví dụ mình muốn á mình phải đi phải sắm, nó không có lẹ. Ví dụ bây giờ mình muốn bộ đồ đẹp phải đi lựa, lựa tới lựa lui cả ngày mới lựa bộ đồ ưng ý dù bộ đồ mắc tiền đi, ví dụ vậy.
[39:00]Rồi muốn mắt mình xanh xanh vàng vàng á mình phải đi nằm còng cả buổi cho người ta xăm soi này gì đó. Nhưng mà trên cõi trời thì không, hễ muốn tức khắc được liền. Thì cái phước đó chính là do lúc ở cõi người mình đã luôn luôn đáp ứng những điều chính đáng của người khác. Ví dụ như đòi tiền đi nhậu không cho, nhưng mà tự nhiên nói: "À con thèm ăn cái gì đó", mình cho liền, giúp liền. Này thấy bộ đồ con thích bộ đồ kia thì mình thấy không hại, cho liền, thường như vậy. Hoặc là nhất là giúp những người tốt, những người tu, vân vân. Chúng tôi nói giúp người tu chúng tôi hơi ngại vì sợ nói ông dụ cúng dường.
[39:38]Nhưng mà thực sự là vậy đó, ví dụ mình gặp người chân tu á mà mình hỗ trợ người ta phước cũng lớn lắm, phước lớn chứ không phải nhỏ. Mà cõi trời càng cao hơn là những cõi trời có tu tập, nghĩa là người đó giữ một đời sống mình rất là thanh khiết, rất là thánh thiện, thường hay có ngồi thiền, có nhiếp tâm được vào định thì lên những cõi trời rất là cao. Mà cõi trời cao chừng nào thì cái hạnh phúc nó lớn lao không thể tưởng được. Cái hạnh phúc nó lớn, dĩ nhiên ở dưới này mình không dùng ngôn ngữ diễn tả được đâu. Cho nên những vị mà họ lên đó rồi họ không bao giờ muốn xuống lại cõi này, tại vì họ thấy cõi này quá khổ.
[40:14]Mình nói một ví dụ vậy mình biết nè: ví dụ bây giờ ở đây quý Phật tử có ai nuôi chim bồ câu không? Có ai nuôi gà không? Chắc có phải không? Ở thành phố này ít nuôi rồi, ở nhà quê có nuôi gà. Ví dụ mình nuôi một bầy gà, thì mình nuôi mình cũng cưng, phải không? Mình cũng mỗi ngày mình cho ăn, hễ nó đói thì mình cũng cho ăn rồi đem nước cho nó uống, ừ đem cám, đem thóc cho nó ăn. Nó bệnh mình cũng cho chích thuốc với đồ, mình coi như cũng cưng, phải không? Cũng sướng. Nhưng có bao giờ mình muốn làm con gà không? Không. Bởi vì sao? Bởi vì cái đời sống của con gà, cái trí tuệ con gà, cái thân phận con gà so với con người nó quá kém đi, phải không? Quá kém.
[40:54]Chỉ trừ trường hợp là mình cắt cổ gà nhiều quá thì ngày nào mình phải làm gà bị bắt thôi, chứ còn nếu mà đừng gây nghiệp gì không bao giờ mình muốn làm con gà hết. Dù lúc mình nuôi con gà mình cũng cưng lắm. Thì bây giờ cũng vậy, ví dụ cái người ở trên cõi trời hay nhìn xuống cõi người, thì thấy cõi người cũng lao xao, cũng có xe hơi đi, cũng có áo dài mặc, rồi cũng nhuộm được tóc vàng vàng rồi thấy vậy đó, nhưng mà sự thật có bao giờ các vị muốn không? Không, tại vì cái thân phận của loài người với cõi trời cách nhau rất là xa. Nên ở những cõi trời coi vậy chứ họ được nhiều hạnh phúc là họ đến gần với Diệt đế hơn.
[41:27]Nên có những vị Thánh là họ không chứng đạo ở cõi người mà chứng đạo ở cõi trời. Đó là bậc Thánh gì? Bậc Thánh A-na-hàm. Đó là khi người nào mà chứng cái quả A-na-hàm á, thì khi chết họ sinh lên cõi trời. Và sinh lên cõi trời Sắc Cứu Cánh rồi, thì tại cõi trời đó họ chứng luôn Niết-bàn luôn, chứ họ không có xuống cõi người nữa. Đó, rồi có những trường hợp như vậy. Có những vị phải xuống cõi người rồi mới chứng đạo, ví dụ như Tu-đà-hoàn hay là Tư-đà-hàm là xuống lại cõi người mới chứng đạo, còn A-na-hàm thì chứng từ trên cõi trời. Ừ. Bây giờ mình nói nó dông nó dài, bây giờ mình nói về Niết-bàn tuyệt đối một chút.
[42:09]Niết-bàn là một thể tánh, một trạng thái, một nơi an trú. Nói vậy có ai hiểu không? Không, không ai hiểu, vì tôi cũng không hiểu luôn nữa. Thì chỗ này không ai hiểu hết, mình không chứng không hiểu. Giờ mình chỉ tạm dùng lời nói mình gợi ý thôi. Gợi ý thôi chứ không ai hiểu nổi đâu. Rồi ví dụ thế này. Ở đây mình không thấy cái hình tam giác. Giờ ví dụ mình có cái hình tam giác, ha? Có hình tam giác, cái đáy nằm ở dưới, cái đỉnh nó nằm ở trên. À. Nơi cái hình tam giác này đó cái mình mới chia ra nhiều ngăn, nhiều ngăn dần dần, cắt cắt song song với mặt đất, mặt đáy đó. Cắt song song dần dần dần dần lên tới cái điểm ở trên.
[42:52]Thì càng gần đáy ở dưới thì nó càng càng rộng, phải không? Mà càng lên tới đỉnh chừng nào thì nó càng càng hẹp dần hẹp dần. Mà khi lên tới đỉnh thì là cái gì? Chỉ còn một chấm. Kích thước của một chấm là mấy ly theo toán học? Ở đây ai học toán giỏi? Kích thước của một cái chấm trong hình học là bao nhiêu ly?
[43:17]Năm lớp sáu bắt đầu học điều này. Không kích thước, phải không? Đó. Cái nguyên tắc, cái định nghĩa một chấm trong cái hình học mà chúng ta học là không có kích thước. Nhìn xuống, ở dưới không nhìn lên được. Cái đáy rất là rộng là tượng trưng cho cõi cõi người mình. Lên cao dần là các cõi các cõi trời, các tầng cao hơn. Cái đỉnh cuối cùng là Niết-bàn tuyệt đối, Niết-bàn. Niết-bàn tuyệt đối thì không còn kích thước nữa, chỉ là một chấm thôi. Nhưng mà cái tam giác đó là ở trên nhìn xuống được mà ở dưới không nhìn lên được. Nghĩa là ở trên cõi trời ngó việc chúng ta, chúng ta không nhìn lên thấy các cõi trời.
[43:57]Rồi những tầng trời cao hơn họ nhìn xuống họ cũng thấy thấy những cõi thấp hơn, nhưng mà ở dưới này không nhìn lên được. Thì cái chấm cuối cùng là làm sao? Nhìn thấy tất cả, phải không? Một cái chấm mà thấy được tất cả, một cái chấm mà là tất cả. Thì Niết-bàn là như vậy đó. Niết-bàn là một cái chấm mà là tất cả. Nghe hiểu không? Có một số người lắc đầu, có số người gật đầu. Cái người mà gật đầu là đã sắp đắc đạo rồi. Còn người mà lắc đầu là bằng tôi, không biết gì hết. Nó như thế này, là thường thường á mình hiểu á cái gì mà nó càng lớn thì nó càng Càng lớn thì nó càng càng lớn. Cái gì nó càng lớn thì nó càng càng to.
[44:48]Thì mình hiểu như vậy, cái gì nó càng lớn thì nó càng bự, phải không? Nó càng vĩ đại. Nhưng mà Niết-bàn thì nó lạ, cái ngược lại thế này. Cái mà lớn bằng cả vũ trụ, thì cái đó nó chỉ là một cái chấm thôi, không có kích thước. Bởi vì các thiền sư hay nói câu này, là một hạt bụi bay mà che khắp cả trời. À. Một hạt cải rơi mà phủ hết tất cả mặt đất. Là ý các ngài nói cái không gian ngay cái chỗ mà tuyệt đối nó không còn khái niệm lớn nhỏ nữa. Một cái điểm rất nhỏ mà trở thành toàn thể vũ trụ. Mà trở thành toàn thể vũ trụ này mình đừng tưởng là cái vũ trụ vật lý này, vật chất này, mà toàn bộ cái vũ trụ của tâm linh luôn.
[45:36]Giống như trong cái hình tam giác á, một cái chấm ở đỉnh cao, nhưng mà nhìn suốt hết toàn bộ các cõi trời, cõi người, cõi địa ngục, cõi gì thấy hết, biết hết luôn. Cái chỗ này mình hiểu được không? Mình không hiểu hết đâu, nhưng mình tạm mình chấp nhận được, phải không? Mình tạm mình thấy có cái gì rất là là cao siêu. Nên Niết-bàn này rất là lạ. Ở đây chúng ta cũng đã nói nhiều lần, à nên hôm nay mình nói lại thì nó sẽ hơi trùng những ý những bài giảng trước đây. Ừ. Là đó là một cái thể tánh tuyệt đối, mà nơi thể tánh tuyệt đối này mình đừng có hỏi là nó ở đâu, vì sao? Vì nó không có không gian. Nó bao lớn cỡ nào?
[46:12]Không được, vì không có không có kích thước. À. Rồi hỏi: "Cái trạng thái này à là nằm ở chỗ nào hay khi nào mới có?" Là bởi vì không có thời gian. Thể tánh là vậy, nhưng mà là cái gì? Là tất cả. Không mà là tất cả. Không mà là tất cả. Nghe hiểu không? Ít bớt gật đầu rồi phải không? Cứ gật đầu đi. Thật ra đó, nghe cái câu này, Niết-bàn là một thể tánh là không gì cả mà là tất cả, mình nghe cái câu này nó nghịch lý, nhưng mà người nào nghe câu này mà thấy vui mà chấp nhận á, thì biết người đó làm sao? Trong lòng người này có thiện căn lớn đối với Phật pháp. Tại vì đây là một cái câu nghịch lý, mà nếu theo logic toán học bình thường thì mình không chấp nhận.
[46:57]Nhưng mà cái nghịch lý này mình nghe mà mình chấp nhận được, thì trong tâm mình có cái thiện căn gì đâu mấy đời trước xưa lắm rồi đó, có có tu rồi đó. Chứ nói với câu là Niết-bàn là một cái trạng thái không có kích thước, như rất nhỏ vô cùng nhỏ, nhưng mà lại là rất lớn vô cùng lớn, trở thành toàn thể vũ trụ luôn. Mình nghe câu này mà tự nhiên mình hoan hỷ chấp nhận, mặc dù chả thấy, chả biết, chả chứng gì hết, nhưng mà chấp nhận một cách hoan hỷ, thì coi chừng trong tâm mình có mầm mống của sự giác ngộ nằm trong tâm mình rồi. Cái người nghe câu này đó mà hoan hỷ chấp nhận, thì giống như Đức Phật nói á, người này giống như có ngọn đèn cháy
[47:35]ở trong cái ghè, cái ghè cái lu á, cái lu nó che hết nhưng mà trong đó có ngọn đèn thắp cháy leo lét ở trỏng á, không biết ngày nào đắc đạo. Cũng vậy, nghe cái câu nói là Niết-bàn là một cái thể tánh rất nhỏ không còn kích thước, mà lại chính là toàn thể vũ trụ, nghe mà mình hoan hỷ chấp nhận được, thì người này có thiện căn rất lớn. Bây giờ chúng ta nói nhỏ cỡ nào nha. Bây giờ nhỏ nhất hiện nay trong vật lý mà khám phá được là cái gì? Hạt cơ bản coi vậy chứ còn bị đoán mò nha. Có nhiều cái hạt cơ bản á là chưa chứng minh được, chỉ nằm trên lý thuyết, hạt quark. Cái hạt mà kêu là hạt quark là hoàn toàn không bảo đảm, chưa khoan tin cái hạt đó.
[48:20]Đầu tiên á, cái cơ sở căn bản nhất của vật chất là? Nguyên tử, đúng. Nhưng mà có những hạt dưới nguyên tử là hạt những hạt electron, phải không? Rồi những cái nhân như là gì nữa? Ừ proton, neutron, vân vân, những cái hạt đó hạt dưới nguyên tử. Nhưng mà rồi các nhà khoa học không thỏa mãn. Mặc dù là những hạt đó nhỏ quá sức nhỏ đi, nhỏ quá sức nhỏ. Quá sức nhỏ, mà người ta muốn vỡ ra tìm luôn, còn cái gì nhỏ hơn nữa. Giờ tới cái ngày mà khoa học sẽ tìm được cái nhỏ nhất. Giờ ở đây chúng ta thử làm cái nhà tiên tri nha, chúng ta cùng nhau làm nhà tiên tri. Cái ngày mà thế giới này tìm được cái đơn vị nhỏ nhất của
[49:09]vật chất, nhỏ hơn cả những electron, proton, quark, kiếc gì đó, hạt cơ bản hết, chúng ta nghĩ coi là cái gì? Không, không phải hư không. Nếu là hư không thì không còn gì hết, thì không trở thành toàn thể vũ trụ được. Vũ trụ thì quá lớn. Chúng ta thử coi tìm coi là cái gì? Một ngày nào đó nếu khoa học tìm ra được tới cái đơn vị nhỏ nhất của vũ trụ, thì lúc đó khoa học mới bật ngửa, mới phát hiện ra rằng cái nhỏ nhất của vật chất không phải là vật chất mà là một cái sự xoáy động. Chỉ là một cái động, chứ không phải vật chất. Cái động đó là gì? Chúng ta thử hình dung giống như cái không khí mình bây giờ mình thấy có gì ở đây không? Mình rờ giống như không có gì.
[49:57]Nhưng mà nếu nó xoáy thành cơn lốc thì bỗng nhiên thành cái có, thấy không? Mà nếu cái có nó đi ngang qua cái nhà thì sao? Nhà sập. Thì cũng vậy, hư không nó không phải là hư vô không có gì, mà chính nó là một cái có gì đó, mà hễ nó xoáy động thì nó thành... thành vật chất. Mà khi nó không xoáy động, thì nó là một cái gì đó, nó là một cái nhỏ nhất, nhưng mà lạ một cái là nơi cái nhỏ nhất đó cũng là toàn thể vũ trụ. Nếu một ngày nào đó khoa học tìm được tới chỗ tận cùng này, thì khoa học con người mình bước qua một cái giai đoạn mới, nghĩa là cái văn minh của loài người sẽ bước qua giai đoạn mới đi hẳn về tâm linh luôn.
[50:40]Lúc đó người ta mới thấy mọi cái phát minh hiện nay về bom nguyên tử, về hỏa tiễn đều là vô nghĩa, bởi vì người ta đã tìm được một con đường đi trong nội tâm mình để đi đến cái nhỏ nhất mà lại là toàn thể vũ trụ luôn. Lúc đó là tất cả chúng sinh giai cộng thành Phật đạo. Mà chúng ta phải nhờ những nhà khoa học cộng với những nhà... nhà tâm linh học, những tu sĩ Phật giáo mà tu hành chứng đạo cùng nhau mới tìm ra được cái điểm tận cùng này. Mà bây giờ mình chỉ ngồi mình gợi ý với nhau một chút thôi. Cái thể tánh đó là cái gì? Thì đầu tiên Đức Phật định nghĩa đó là nơi mà không còn bị nghiệp cuốn vào luân hồi nữa.
[51:22]Thường á là ví dụ như mình nói cõi người mình khi chúng ta chết là chúng ta ở trong cái cõi siêu hình một thời gian, đợi đủ duyên rồi chúng ta sẽ đầu thai trở lại, chúng ta sẽ vào cái thai cha mẹ nào đó để sinh ra làm người trở lại. Nếu chúng ta là ở trên cõi trời, nếu chúng ta trên cõi trời thì chúng ta hưởng cái phước của thiên tử đến một lúc nào đó thì phước đó hết, bỗng nhiên cái dung sắc tiều tụy, bệnh hoạn, rồi cũng phải mất lúc đó để tái sinh xuống cõi người. Đó là cái sức mạnh của nghiệp nó cuốn mình đi mà mình không cưỡng lại được. Ví dụ như là bây giờ chúng ta không cưỡng được cái lúc mà mình phải chết,
[52:05]mình sống đến lúc nào đó rồi phải chết, đó là nghiệp cuốn mình đi. Rồi khi chết rồi, vơ vẩn trong cái thế giới siêu hình lúc nào đó rồi thì nghiệp lại cuốn mình vào một cái thai mới để mình tái sinh trở lại. Đó là nghiệp dẫn mình đi mà mình không có chọn lựa nhiều được. Cái người có phước thì có thể chọn lựa, nhưng mà người ít phước thì không chọn lựa. Á, nghiệp nó đặt mình vào cái thai nào phải chịu thai đó. Nếu mà may á đặt mình vào cái thai của cái nhà tỷ phú thì đỡ, còn nếu xui đặt mình vào cái thai của cái người lúc đó là họ đang sống ở vỉa hè thì thân phận mình sao? Về đâu hỡi chiều đông không nhà thì ráng mà chịu.
[52:44]Đêm đông ta mơ ước mơ gia đình yên vui đó thì cái đó mình ráng chịu. Mà xui hơn nữa, cái nghiệp nó cuốn mình nó đặt mình vào cái thai của một con chó thì sao? Thì làm chó, thì không cưỡng được. Còn cái người mà họ có phước á, ví dụ khi chết rồi đó, thì họ có năm cái gia đình chờ họ. Và lúc đó họ muốn đến với gia đình nào họ tùy ý họ tới, là họ được có chọn lựa hơn. Nên người càng có phước thì càng được nhiều tự do. Người ít phước thì ít tự do. Nên chúng ta nhớ cái luật nhân quả là như vậy, chứ không phải ai cũng được tự do. Cái người có phước mới có tự do. Mà tại sao cái người được tới năm gia đình chờ mình đầu thai vào?
[53:25]Muốn chọn gia đình nào thì chọn, tùy chọn. Nghĩa là gia đình này đó thì giàu nhưng mà cái gen xấu. À, cho mình lựa nha. Cái nhà kia đấy thì khá khá nhưng mà học giỏi, à. Rồi cái nhà nọ đó thì gia đình khác thì lại có quen với Thủ tướng, ví dụ vậy. Thì bắt đầu mình cho mình suy nghĩ năm cái, cái được cái này mất cái kia, được kia mất cái nọ. Nghe mình tùy mình chọn. Cuối cùng nói thôi kệ, không giàu mà đẹp cũng được, đầu thai vô đó cũng được. Ai khoái đó giơ tay lên? Không phải. Còn ở cõi trời vậy, ở cõi trời mà nếu mình mà hưởng hết phước cõi trời thì cũng phải đi xuống, thì cái sức mạnh của nghiệp nó cuốn mình không cưỡng lại được.
[54:03]Đặc biệt là ví dụ cái người mà chứng đạo rồi thì hoàn toàn chuyện đó chấm dứt. Trong cái thể tánh này không còn bị sức mạnh của nghiệp cuốn trôi vào luân hồi nữa. Chúng ta nói câu này mình cẩn thận nha. Hôm nay chúng ta nói với nhau câu này quý Phật tử cẩn thận. Chúng tôi lặp lại, chúng tôi phân tích cái điểm nguy hiểm này. Chúng ta định nghĩa lại nè: Ở Niết bàn này không còn bị nghiệp cuốn trôi vào luân hồi tái sinh nữa, đó là cái câu nói rất là căn bản, rất là chuẩn, nhưng cái nguy hiểm là mình hiểu lầm. Hiểu lầm này nha, nói rằng khi một người chứng đạo thì người này không còn bị luật nhân quả chi phối.
[54:43]Đây là cái câu nói nguy hiểm và sai lầm. Đó, cái câu đầu thì đúng, nhưng mà nếu mình diễn dịch ra câu thứ hai là mình đọa súc sanh liền, là mình phỉ báng luật nhân quả liền. Mình lặp lại so sánh hai câu lại nha. Câu thứ nhất nè: Cái người chứng Niết bàn thì không còn bị nghiệp cuốn trôi vào luân hồi tái sinh. Câu thứ nhất là rất chuẩn, rất đúng. Câu thứ hai trật nè: Nếu một người, những bậc Thánh đã chứng đạo thì không còn bị luật nhân quả chi phối. Câu thứ hai này là sai lầm hoàn toàn. Nên ở đây đó có nhiều người nghe câu thứ nhất đã suy luận thêm câu thứ hai rồi đọa luôn vào súc sinh. Ai bị đọa?
[55:24]Cái ông già chồn có nhớ không? Trong cái câu chuyện nổi tiếng của Thiền sư Bá Trượng á. Đó. Có người hỏi ổng là người chứng đạo còn bị luật nhân quả chi phối hay không? Ổng trả lời không còn, ổng đọa làm thân chồn 500 đời. Và ngày nay đã hết người bị đó chưa? Chưa hết. Tại vì sao? Tại vì cái ông già chồn đó ổng dạy câu đó cho nhiều người, rất nhiều người nghe cái câu đó, và khi mà càng nhiều người nghe câu đó hiểu sai như vậy thì cái tội của ông già đó rất nặng nên ổng bị đọa làm thân chồn tới 500 đời. Chứ nếu ổng hiểu một mình ổng thì ổng không đọa tới 500 đời. Nhưng mà bởi vì ổng phổ biến cái tà kiến đó
[56:03]cho rất nhiều người nên ổng đọa 500 đời. Mà ổng phổ biến cho ai? Cho ai? Mình không biết. Nhưng mà có rất nhiều người đã nghe câu nói đó và mang cái tư tưởng đó đến kiếp này. Đến kiếp này chúng tôi vẫn còn nghe một số người phát biểu như vậy. Đến thời đại này vẫn còn một số người nói rằng khi một người chứng đạo không còn bị luật nhân quả chi phối. Khi nghe nói như vậy chúng tôi biết người này ngày xưa đã từng là đệ tử của ông già chồn đó. Mà không biết làm chồn chưa thì không biết, nhưng mà đã từng là đệ tử ông già chồn đó nên mang cái tà kiến đó. Nên ở đây chúng ta nói về một cái câu thứ nhất thì đó
[56:45]là điều Phật nói, suy luận ra câu thứ hai là ma nói. Mà cách nhau trong đường tơ kẽ tóc thấy không? Cách nhau đường tơ kẽ tóc thôi, chút xíu thôi, rất dễ suy luận, suy luận trật liền. Đây là cái chỗ mà chánh kiến người Phật tử mình phải hiểu cho kỹ ở chỗ này. Tuy nhiên, Phật giáo Đại thừa đã mở ra một con đường là trừ những vị Bồ tát thị hiện đi vào luân hồi sinh tử. À ví dụ là vị đó thay vì là khi chứng được Niết bàn tuyệt đối an lạc, hạnh phúc, là ở trong cái thể tánh đó không còn bị nghiệp lôi cuốn vào luân hồi, nhưng mà đừng hiểu là vắng vẻ tịch tịnh buồn tẻ nha, không có. Niết bàn là cực kỳ hạnh phúc.
[57:32]Nhưng mà thay vì các vị an trú trong Niết bàn, các vị đã phát nguyện tái sinh để đến với cõi người hoặc là đến với cõi trời. Tức là Bồ tát thì đến nhiều nơi lắm, có khi vị đó đến với cõi trời, có khi vị đó đến với cõi người. Thì ở đây là khi một vị Bồ tát mà đến với con người thì là do đại nguyện chứ không phải là do nghiệp, do ý muốn của mình, giống như hồi nãy mà chúng ta nói là chúng ta được quyền chọn lựa một trong năm gia đình vậy. Thì những vị Bồ tát có cái sức mạnh, có cái tự tại và quyền lựa chọn của mình, đó. Ví dụ như là các vị đó muốn làm cho Phật pháp được hưng thịnh lại à khi mà thấy con người ta chạy theo học,
[58:16]lo học mà quên tu, cái vị đó mới thị hiện xuống à không thèm học mà vẫn chứng đạo, vẫn nổi tiếng để đánh thức lại con người là bớt thời gian học lại để dành thời gian tu nhiều hơn. Ví dụ như vị nào? Tổ Huệ Năng, đúng, như Tổ Huệ Năng. Là lúc đó đó là trong đạo Phật kinh điển nhiều quá rồi người ta cứ chạy đua theo việc học mà dồn thời gian vào kinh điển nhiều quá mất thời gian lắm vì kinh đạo Phật nhiều quá đi, nên Ngài thị hiện là một vị cư sĩ thậm chí không biết chữ, không biết chữ, nhưng mà đã ngộ đạo và lĩnh được cái tâm ấn của Tổ, Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn. Nhưng về sau thì Ngài có biết chữ không?
[58:59]Về già Ngài biết. Tại vì học chữ đối với một vị tổ không khó và khi cần học, Ngài học dễ dàng. Phải coi có nhiều điều lịch sử không nói hết, mình phải hiểu. Đừng tưởng là Ngài không biết chữ suốt đời nha, Ngài sống rất là thọ. Bởi vì lúc trước là do cha mất sớm, Ngài phải đi làm lụng cực khổ nuôi mẹ, cho nên Ngài không được học nhiều. Ngài không được học nhiều, đừng tưởng Ngài hoàn toàn không biết chữ nào nha, vẫn phải biết một số chữ căn bản, chỉ có cái là không biết quá nhiều thôi. Bởi vì chữ Trung Hoa á là học chữ nào biết chữ đó, nó không giống như Việt Nam mình, biết mà ráp vần được là bất cứ chữ nào cũng biết, phải không?
[59:35]Nhưng mà chữ Tàu á thì học chữ nào biết chữ đó. Cho nên có thể là vốn liếng của Ngài không học được nhiều lắm, Ngài biết chừng hai trăm chữ, ba trăm chữ thôi, chứ đừng tưởng là nói rằng Ngài hoàn toàn không biết chữ, đó. Rồi sau khi mà Ngài lộ diện để giáo hóa thì lúc đó Ngài bắt đầu có thời gian thì Ngài cũng học chữ, đâu phải không? Mà về già thì Ngài thôi uyên bác rồi, giỏi rồi. Nhưng mà cái việc Ngài thị hiện là một cái đánh thức cho mọi người đừng có chạy theo cái học nhiều quá. Ở trong đạo Phật mình có cái chữ gọi là chữ tu học, còn ở mấy đạo khác lại có chữ tu mà tu tu luyện, là họ có một cái cách để họ tập luyện ròng
[1:00:13]rã, siêng cần và họ đạt được những khả năng rất là cao siêu. Ví dụ như người tập khí công vậy, họ rèn luyện họ phi thân nóc nhà, họ đánh chưởng vậy đó. Hoặc là những người tu theo đạo Tiên, rồi họ có phép là ếm đối rồi bùa chú rồi, họ cũng luyện do luyện lâu ngày rồi thành. Có nhiều cái tôn giáo khác hoặc trường phái khác họ chú trọng cái tu luyện, nhưng mà trong đạo Phật mình lại chú trọng cái tu tu học, cho nên coi vậy chứ vẫn dở. Tu học mà không tu luyện thì mình không có cái gì đặc biệt hết trơn, nhưng mà nếu tu luyện mà không có tu học thì sao? Dễ dễ sai, dễ đi lạc đường. Cho nên là mình phải có cái quân bình,
[1:00:49]cân đối giữa tu luyện và tu tu học, phải tăng cái thời gian lên. Thì khi một vị Bồ Tát mà xuất hiện là các Ngài muốn phát triển Phật pháp nên các Ngài thị hiện cách này cách kia mà người đời không lường được. Nhưng mà rồi cuối cùng có lợi, đó là mình nói cái chủ động như vậy. Thậm chí có những vị Bồ Tát thị hiện luôn vào làm vua luôn cũng có, theo kinh kể như vậy, họ làm vua để mà làm cho Phật pháp được phát triển, đó vậy, để che chở Phật pháp, vân vân. Bây giờ mình nói sơ một số tính chất đặc biệt của Niết Bàn một chút. Đó là một nơi hay mình nói là một trạng thái mà một cá nhân đã trở thành tất cả.
[1:01:28]Cá nhân đã trở thành tất cả là sao? Chúng ta lặp lại cái điều này hơi khó hiểu, là tất cả chúng ta đều có một cái bản ngã ha, một cái chấp ngã. Thì khi mình chứng Niết Bàn thì bản ngã đó biến mất, phải không? Mà khi bản ngã đó biến mất thì mình ngồi đây mình là ai? Mình là tất cả chúng sinh. Ở đây là chỗ khó hiểu, cũng cái con người ngồi đó ha, cũng con người tóc bạc đó, đeo cái mắt kiếng đó mà khi chưa chứng đạo thì ở trong có cái bản ngã thì người đó chỉ là người đó. Nghĩa là cô này pháp danh là Diệu Vàng thì chỉ là cô Diệu Vàng. Nhưng mà lỡ xui cổ chứng đạo một cái, bản ngã cổ mất thì mình nhìn thấy cũng con người
[1:02:12]ngồi đó, cũng cái mái tóc bạc phơ đó, cũng cái đôi mắt kiếng đó, cũng cái cô pháp danh Diệu Vàng đó, nhưng mình đâu có ngờ rằng cổ ngồi đó nhưng cổ đang là tất cả chúng sinh. Mình nhìn bằng con mắt mình hiểu không nổi, chỉ có người chứng đạo tự biết điều này thôi. Nghe hiểu không? Dễ sợ chưa, nhiều người hiểu nữa chớ, không chơi sao. Tương lai là đắc đạo nhiều lắm á, chớ không chơi đâu. Nhưng mà nghe cái này mình chấp nhận không? Chấp nhận, phải không? Trong lòng mình đang có cái thiện căn, đó là như vậy. Đó, nơi mà cá nhân đã trở thành tất cả, nơi mà cái vô ngã trở thành cái đại bi. Khi mình không còn là chính mình nữa, mình đã trở thành tất cả chúng sinh
[1:02:54]thì tự nhiên mình không nói thương mà nó đã là đã là thương yêu tràn đầy. Bây giờ mình nói tại sao mà cha mẹ thương con nhiều, tại sao? Ai biết? Tại sao cha mẹ thương con? Nói là bản ngã sao chép này nó hơi nặng quá, mình nói thế này: bởi vì con của mình là một phần mình. Thấy không, mình nói như vậy. Thôi mình nhìn cái đứa con, vì tụi tui không có con nên không biết sao, bây giờ mình tưởng tượng. Không được, tưởng tượng là ví dụ nhìn đứa con cái mình thấy nó là một phần của mình nên tự nhiên thương, không nói thương cũng thương nữa, đúng không? Ừ nhiều lên, ở đây ai cũng có con mà không ừ giùm nhiều một chút.
[1:03:35]Còn chúng tôi mới là tưởng tượng. Đó, nên cha mẹ thương con vì thấy con là một phần của mình. Còn một vị thánh, một vị đắc đạo, vị A-la-hán, vị Phật á thì khi thấy chúng sinh không phải là một phần của mình mà là chính mình, mà tất cả chúng sinh đều như vậy, là chính mình hết, thì không cần nói thương mà nó là cái gì? Là tình thương tràn đầy tuyệt đối bất tận. Cái tình thương tràn đầy tuyệt đối bất tận đó mình gọi là đại từ đại bi. Hiểu chưa? Đó, thấy tuyệt vời chưa? Tuyệt vời. Thấy đạo Phật mình đẹp không? Thấy đạo Phật mình vĩ đại không? Vĩ đại, đó. Đó, nghĩa là chúng ta chưa chứng á, mình chỉ trên lý luận mình hiểu
[1:04:17]được thôi, mình đã thấy đạo Phật mình quá tuyệt vời, phải không? Mình đã thấy được tâm của Đức Phật như vậy. Nghĩa là mình á thì mình nhìn thấy Đức Phật với mình khác nhau, nhưng mà chính Đức Phật thì lại thấy Đức Phật và mình là là một. Chỗ này là chỗ mà gọi là cái suy nghĩ không tới, ngôn ngữ nói không được. Mình trở lại, ví dụ bây giờ mình tưởng tượng mình lui ngược lại hơn 2.500 năm mình sống vào thời Đức Phật, mình tưởng tượng như vậy. Mình tưởng tượng là hôm đó mình đi trên đường à bất ngờ mình gặp Đức Phật đi khất thực. Rồi bây giờ mình tưởng tượng tiếp nha, đây là kịch bản mình tưởng tượng ra nha, mỗi người mình viết một chút.
[1:04:54]Tức là một đoàn người chúng ta đây bao nhiêu con người đây, mình gặp một vị sa môn mặc cái áo, đố biết áo màu gì? Nâu, gạch đà đà chứ không phải màu vàng như vậy ha, cũ cũ, mốc mốc, dày dày, tại thời đó không có cái kỹ thuật mà dệt vải mỏng, thời đó vải dày, hà. Đi chân mang dép gì? Dép không. Đi đi chân không à. Chân không, ôm bình bát, phải không? Mà người rất cao lớn, nghĩa là Ngài cao đến khoảng gần hai thước. To lớn, bệ vệ mà làn da thì trắng mà như óng ánh màu hoàng kim, như tỏa hào quang thấp thoáng thấp thoáng. Nghĩa là khi đi ngang qua cái cây rừng, vì hồi thời đó rừng nhiều lắm, hai bên rừng thì rừng thì luôn luôn hơi tối tối, phải không?
[1:05:41]Ánh mặt trời chiếu xuống thì đường thì có vẻ hơi sáng tại vì cái bóng cây không che hết cái đường, hơi sáng, nhưng mà hai bên đường là rừng cho nên hơi tối tối, thì vị sa môn á đi ngang qua bóng tối của rừng á thì cái khoảng đó nó sáng chói lên. Nó làm cho cái khu rừng mà đang tối tối đó, sáng lên sáng lên. Mình nhìn cái con người điềm đạm, hư vô đó, cái cảm giác mình sao? Tự nhiên mình bị xúc động mình không biết. Không biết nay tự nhiên có cái vị tu sĩ nào kỳ lạ quá, tự nhiên mình thấy mình bị xúc động, mình bị kính trọng mà không hiểu lý do. Thế mình dừng lại, mình dừng xe, ví dụ mình tưởng tượng lúc đó mình đang
[1:06:15]giàu, mình đi xe ngựa bốn ngựa đi ha, cái mình xuống xe, mình xuống mình chắp tay mình chào Ngài rồi mình quỳ xuống mình đảnh lễ. Mình mới thưa hỏi là: "Thưa sa môn," tại mình không biết là Phật, "Ngài ở đâu, danh tánh là gì, Ngài tu tập theo pháp nào mà khi chúng con thấy Ngài chúng con quá kính trọng, xin Ngài nói lên một giáo pháp gì đó để cho chúng con được an vui, được lợi ích." Quỳ xuống đảnh lễ, mình tưởng tượng như vậy. Thì lúc đó bây giờ thôi ngang kịch bản ngang đó dừng lại, mình bấm cái nút pause á, dừng lại, không chiếu nữa. Cho nên là ngang chỗ đó mình phân tích. Phân tích như thế này:
[1:06:50]là lúc đó đó mình thấy mình và Đức Phật là là hai, phải không? Tức là mình không hiểu Đức Phật mà tự nhiên mình bị Đức Phật thuyết phục, mình bị kính trọng mình không hiểu, quá kính trọng, quá xúc động. Mà lý do tại sao? Lý do tại vì lúc đó Đức Phật thấy mình và Đức Phật là một. Lúc đó giống như mình rớt trong một cái biển mà biển của tình thương Đức Phật, mình bị tràn ngập, bị choáng ngợp luôn. Cái con người mà cho mình cái tình thương yêu vô hình không nói nên lời, nhưng mình bị chìm mất trong cái tình thương của Phật luôn. Cho nên mình quá thương con người đó, quá kính con người đó mà không giải thích được.
[1:07:24]Thôi bộ phim ngang đó dừng rồi, ta cắt ngang đó, mai mốt chiếu tiếp. Giờ thôi, tiếp tục mình trở lại cái ngày hôm nay, giờ ngồi đây nghe nói tiếp. Thì cái tâm đại bi là như vậy đó, là mình nhìn con người đó mình không hiểu được nội tâm, mình nghĩ là hai, nhưng mà cái vị đó thấy mình và chúng sinh là một. Bất cứ chúng sinh nào, hễ xuất hiện trước mặt Ngài thì mình và Ngài là một, mặc dù trên ngôn ngữ Ngài vẫn dùng cái lời nói như có ta, có người để cho mình thấy bình thường, nhưng mà trong tâm Ngài, Ngài thấy mình và Ngài là một. Cho nên không nói thương mà là mà là cực kỳ thương yêu. Cho nên ngày hôm nay chúng ta quỳ xuống chúng ta lạy Phật là vậy đó.
[1:08:03]Chúng ta tin một điều thế này: là trên đời này có thể là tất cả thế gian này đều ghét mình, ừ có thể là bởi vì mình hết một mắt mình là không có xài được, phải không, hết một chân mình không đi được, à một nửa mặt mình bị tạt axit, á ví dụ vậy, nghĩa là con người quái chiêu, dị hợm, kỳ nhân, không thể tức nghĩa là trên đời này sáu tỷ mấy con người không ai thương mình hết, nhưng mình biết chắc chắn có một người luôn luôn thương yêu mình. Là ai? Là Đức Phật. Vì vậy, những lúc mà chúng ta cô đơn nhất, những lúc chúng ta buồn khổ nhất, những lúc mà chúng ta tuyệt vọng nhất thì chúng ta hãy đến quỳ dưới chân Phật,
[1:08:42]chúng ta hãy lạy Phật, hãy nói lên hết những nỗi niềm của mình, chúng ta sẽ tìm thấy được một cái tình thương để nương tựa và chúng ta chắc chắn sẽ tìm được một sự gia hộ nào đó. Nên vì vậy coi là dù cho trên đời này tất cả mọi người ghét bỏ mình, luôn luôn vẫn còn Đức Phật để thương mình. Chúng ta hiểu như vậy, chúng ta hiểu như vậy để rồi mình sống làm sao? Là mình biết rằng mình luôn luôn được Đức Phật thương thì mình nguyện: dù không ai thương con, nhưng con nguyện lòng con sẽ sẽ thương lại mọi người. Ngày nào đó con sẽ luôn luôn là chỗ nương tựa cho những người khác, những người đang đau khổ, đang tuyệt vọng, đang cô đơn.
[1:09:22]Hãy nguyện như vậy, bởi vì mình biết mình đã hưởng được cái tình thương đó từ nơi Đức Phật. Rồi cái lời nói là nơi cái thể tánh Niết Bàn đó là cái chỗ mà hết vô minh. Hết vô minh là sao? Hết vô minh là là trí tuệ. Nhưng mà câu nói đó rất khiêm tốn, giống như hồi nãy mình nói vậy đó, cái người mà không còn chỗ để cất tiền hỏi: "Lúc này anh khá không anh?", nói: "Dạ, lúc này tôi hết nghèo." Họ nói một câu khiêm tốn nhưng mà sự thực là cực kỳ giàu có. Thì cũng vậy, với một người mà cực kỳ trí tuệ, cái gì cũng biết hết, thì Ngài lại nói một câu rất khiêm tốn: "Dạ, lúc này em hết ngu rồi." Nhưng mà người đó đã đắc đạo rồi, phải nói như vậy.
[1:10:06]Cho nên mai mốt mình gặp ai hỏi: "Lúc này anh sao?", nói: "Dạ, em hết ngu rồi" thì quỳ xuống mà lạy người ta liền nha, đó như vậy, hết ngu rồi.
[1:10:16]Thì cái trí tuệ này là vì sao như vậy? Vì cũng theo cái tinh thần Niết bàn giống như một cái chấm của đỉnh tam giác đó, không gì cả nhưng mà lại chính là tất cả. Cho nên vị này biết hết tất cả mọi điều trong vũ trụ này. Biết hết Đức Phật là như vậy, khi trở thành tuyệt đối ngài biết hết mọi điều, cho nên cái trí tuệ của Đức Phật là tuyệt đối. Cái biết á nó có nhiều lĩnh vực, ví dụ như biết về luật nhân quả nè, biết về nghiệp báo nè, mình gây nhân gì mình gặt quả gì, từng ly từng tí chút chút biết hết. Cho nên để nói rằng á gọi là một người mà hiểu được luật nhân quả hoàn toàn là ai? Chỉ có Đức Phật mà thôi nha.
[1:10:54]Chúng ta nên nhớ điều đó. Giỏi cỡ gì giỏi mà để gọi là hiểu cho hết luật nhân quả chỉ có một mình Đức Phật. Nhớ như vậy. Khi chứng đạo giải thoát á thì tất cả đều giống nhau. Các vị A La Hán, các vị Bồ Tát, Đức Phật đều bằng nhau hết là không còn bị nghiệp cuốn vào luân hồi tái sinh, tất cả điểm này giống nhau. Nhưng mà thực sự hiểu hết về luật nhân quả, nghiệp báo từng ly một chút chút chỉ một mình Đức Phật thôi. Chỉ chứng tới chỗ mà gọi là đấng Chánh Biến Tri, Chánh Đẳng Chánh Giác, Vô Thượng Bồ Đề thì mới hiểu hết từng ly từng tí về luật nhân quả. Còn dưới đó thì hiểu phần nào đó thôi. Chúng ta nhớ như vậy.
[1:11:34]Rồi đó là cái biết về nhân quả, rồi cái biết về tâm lý, cái biết về xã hội, cái biết về gia đình, về con người, kể cả cái biết về khoa học, về vật lý thì Đức Phật cũng biết hết. Nhưng có điều là hồi xưa không có ngôn từ cho nên không nói làm chi, không cần nói làm chi. Đức Phật nhá nhá vài điểm như mình thấy là ngài nói ví dụ trong cái bát một ly nước có rất nhiều vi trùng, đó là ngài nhá chút xíu về khoa học, chớ thời đó nói nhiều nữa người ta điên. Tại vì lúc đó chưa có ngôn ngữ và chưa có cơ sở, chưa có căn bản khoa học, hoặc là ngài nói là trong vũ trụ này có rất nhiều thế giới cũng giống như vậy phải không? Rất giống như vậy.
[1:12:07]Đó là ngài tiết lộ chút xíu là một Đức Phật cũng biết về khoa học, nhưng mà thôi không cần nói nhiều, đâu vậy. Đây là nơi mà cái cảm ứng à thay thế khác với cái biết, thay thế cái biết. Chúng ta nói lại chút xíu. Cái biết á là ví dụ như bây giờ mình nhìn một người, mình cứ trợn mắt mình nhìn lom lom một người, nhìn chăm chăm, thì một lát mình biết cái gì về người đó? Cũng đoán cũng bói được vài điểm, phải không? Bói. Ví dụ một người mình cứ nhìn lom lom nhìn chăm chăm một lát, cái mình đoán là cái người này hơi tham ăn. Mình đoán là, tại sao? Tại mặt là có cái, có cái miệng sao đó. Không không nói mụt ruồi mất lòng, thấy nhiều người có mụt ruồi lắm, mít lòng.
[1:12:46]Thôi không nói. Thiệt, mình dòm lom lom người ta lát cái đôi mắt người ta nói cái người này sẽ hơi dữ nha. Biết không? Biết không? Biết phải không? Đó, trong thực tế là khi mà mình nhìn ai lom lom một lát là mình biết, chứ không phải không biết đâu. Đó, nhưng mà cái biết đó nó làm sao? Là có người biết và có có cái bị biết, tức là có đối tượng bị biết và có cái người, người biết phải không? Đó. Giống như bây giờ mình nghe ai nói thì có người nghe và có cái âm thanh bị nghe, hai cái đó nó khác nhau phải không? Nhưng mà nơi cái cảm ứng của Đức Phật á là cái người biết và đối tượng bị biết là một.
[1:13:24]Ví dụ bây giờ mình muốn biết về một người đó, không phải là mình chỉ có nhìn lom lom vô mặt người ta cái lát mình bói ra được vài điều, không phải. Mà bởi vì mình và người đó là một. Cho nên trong tâm người đó cái tính tình, sở thích, quá khứ, vị lai người đó mình biết hết trơn. Đó là cái cảm ứng của bậc Thánh. Còn cái phàm phu mình là cái biết, nhưng bậc Thánh là cảm ứng. Hiểu không? Nghe hiểu không? Thấy nhiều người gật đầu hay quá ha. Tương lai đắc đạo nhiều lắm á nha. Cái gì cũng gật đầu hết trơn. Ha. Rồi một cái đặc tính của Niết bàn nữa là sáu phép thần thông. Sáu phép thần thông là Đức Phật tuyên bố là
[1:13:59]túc mạng thông nghĩa là biết được vô số kiếp quá khứ của mình, nhớ được vô số kiếp quá khứ của mình mà nhớ một cách chi tiết á. Nghĩa là mình đã sinh vào trong gia đình nào, mình tên họ gì, cha mẹ là ai, trong kiếp đó mình đã tạo những cái nghiệp gì, nhớ hết, biết hết mà vô lượng vô lượng như vậy. Và mình sẽ hỏi kiếp đầu tiên là gì? Có thắc mắc không? Ai thắc mắc? Mình đồng ý theo Phật, mình tin là mình có kiếp trước phải không? Có kiếp trước nữa, kiếp trước nữa, kiếp trước nữa. Vậy kiếp đầu tiên là gì? Có ai thắc mắc điều đó không? Có không? Có phải không? Ráng tu đắc đạo rồi con sẽ biết nha.
[1:14:37]Rồi, huề, hết, câu này không trả lời.
[1:14:42]Tại vì sao không trả lời? Là bởi vì cái khởi điểm đầu tiên của luân hồi để bắt đầu mình có mặt thành chúng sinh mà tái sinh, khởi điểm đầu tiên không nói được. Mà chỉ có bậc Thánh chứng mới biết. Chứng mới biết rồi mới biết thế gian này như một trò đùa, như một giấc chiêm bao là vậy đó. Nên mới đầu mình nhớ được mười kiếp thì mình còn nhớ, nhớ một trăm kiếp còn nhớ, một ngàn kiếp còn nhớ, nhưng mà tới cái khởi điểm đầu tiên rồi là ngậm miệng không nói được nữa. Giống như ngày xưa mà Trạng Quỳnh á, ổng làm cái nhà ở giữa đảo á, không biết ổng để gì trỏng á, nhưng mà vô đó người ta coi rồi đi ra hỏi gì trỏng?
[1:15:18]Không nói được, cứ vô coi rồi biết. Trạng Quỳnh không nói được. Thì cái khởi điểm luân hồi cũng vậy, chứng rồi biết, nói không được. Cho nên cái sự vĩ đại của Niết bàn là lời nói không bao giờ cùng tận được, mà chúng ta muốn diễn tả về Niết bàn là không bao giờ nói được hết cả. Nhưng mà có cái là do người sau là không chứng được đến tận cùng, cái hiểu có sai biệt nên phân ra Niết bàn của Tiểu thừa và Niết bàn của Đại thừa. Ừ, mỗi người hiểu một cái cách, một góc của Niết bàn, cho nên chia đạo Phật ra làm hai là Tiểu thừa và Đại thừa. Ví dụ như người hiểu theo Tiểu thừa á thì cho rằng Niết bàn là
[1:15:59]cái nơi hết vô minh, tịch lặng, giải thoát, à không luân hồi. À đó là hiểu theo một cách, đúng không? Hiểu đúng không? Rất đúng, không có sai chữ nào hết. Hiểu một cách. Nhưng mà còn câu thứ hai nữa thì bên Đại thừa lại nói là Niết bàn là sao? Là là lòng đại bi, là trí tuệ, là thần thông quảng đại, là công hạnh Bồ Tát, là ứng thân hóa hiện, là trí tuệ siêu việt. Đúng không? Cũng đúng luôn, cả hai đều đúng. Nhưng bởi vì không ráp lại với nhau á, chứ phải ráp lại cả hai cái lý luận về Niết bàn của Tiểu thừa và Đại thừa á thì mới đúng là Niết bàn của Phật. Vì Niết bàn của Phật, A La Hán là cả hai ráp lại.
[1:16:41]Nhưng mà nếu mình nói có một vế à thì sẽ chia đạo Phật ra làm hai. Do đó, khi chúng ta hiểu điều này thì từ đây về sau nếu mà ai nói đạo Phật có Tiểu thừa, Đại thừa thì mình sao? Mình mình cười thôi, mình nói người ta biết là đó chỉ là sự hiểu, hiểu lầm. Đó, mình mong rằng mọi người hiểu đúng để cho đạo Phật không còn bị, bị chia rẽ nữa. Cái bài Diệt đế này thì nói chưa hết, chúng ta hẹn lần sau nói tiếp. Chúng ta còn vài phút, tôi muốn trả lời vài cái câu hỏi vì có một cái câu hỏi cũng hơi quan trọng trong cái sự việc liên quan đến chúng tôi vừa rồi. Thì vừa rồi là Hòa thượng thầy của chúng tôi là Hòa thượng Viện chủ Trúc
[1:17:19]Lâm khi giảng bài ở Nha Trang thì Hòa thượng có quở trách chúng tôi rất là nặng, có nói rằng nghĩa là ai mà đi theo chúng tôi thì đọa địa ngục. Thì làm cho nhiều người hơi hoang mang. Chúng tôi cũng xin giải thích điều này một chút. Đối với Hòa thượng Thích Thanh Từ là Hòa thượng Viện chủ của Thiền viện Trúc Lâm, là thầy của chúng tôi. Là người mà đã cho chúng tôi những cái cảm xúc đầu tiên đối với đạo. Khi mà đầu tiên đến với đạo, chúng tôi soạn nhiều bài nhạc, soạn nhiều bài thơ đều từ nơi cái cảm xúc do vị thầy của mình. Chúng tôi tôn kính Hòa thượng. Chúng tôi luôn thương nhớ, kính quý Hòa thượng
[1:18:06]và cuối cùng là xuất gia theo Hòa thượng. Là những người mà đã mớm cho chúng tôi những dòng sữa pháp ban đầu. Dù ngày hôm nay ví dụ rằng chúng tôi có làm được cái điều gì đó trong đạo là cũng đều từ những cái dòng sữa pháp đầu tiên đó. Cũng giống như một đứa con vậy, ví dụ lớn lên có bước ra cuộc đời, có làm ông này bà nọ hay làm được bao nhiêu việc thì cũng bắt đầu từ những cái dòng sữa mà mẹ mớm cho đầu tiên khi mà mới chào đời, thì chúng tôi cũng như vậy. Chúng tôi thọ ơn Hòa thượng cũng như vậy. Là cái niềm cảm xúc, cái sự quý kính của chúng tôi đối với Hòa thượng là bất tận, không bao giờ chấm dứt.
[1:18:45]Nên nửa chữ cũng thầy, một chữ cũng thầy, huống hồ là Hòa thượng đã dạy cho chúng tôi rất nhiều. Nào những bản kinh chữ nho, những cái bài giảng pháp bất tận vân vân là cái ơn nghĩa nó không có trả được. Năm 1988 thì cái nhân duyên khiến Hòa thượng tẩn xuất chúng tôi khỏi Thường Chiếu. Thì cái điều mà Hòa thượng tẩn xuất chúng tôi khỏi Thường Chiếu á cái đó không phải là một cái sự sân hận của một con người tầm thường, mà đó là cái trí tuệ của một bậc Thánh. Khi một vị thiền sư mà làm hay không làm điều gì đều có một cái nhân duyên, có cái hoàn cảnh, có cái trí tuệ chứ không phải làm theo cái phiền não của thế gian.
[1:19:27]Nhưng mà bởi vì nhân duyên lúc đó phải như thế thì phải như thế, nhân duyên là chúng tôi phải rời chúng ra đi. Mà dù Hòa thượng đã tẩn xuất chúng tôi rồi thì vĩnh viễn từ đây và vô số kiếp về sau Hòa thượng vẫn là thầy của chúng tôi. Mà dù cho Hòa thượng có giết tôi thì vĩnh viễn muôn kiếp về sau Hòa thượng vẫn là thầy của tôi, huống hồ chỉ là một lời quở trách. Khi chúng tôi nghe lời quở trách của Hòa thượng qua trung gian thì chúng tôi rất là buồn. Buồn ở chuyện này nè, vì chúng tôi nhớ lại một cái câu chuyện là có một cái người con trai đó sống với mẹ của mình, nhưng mà người mẹ rất là nghiêm khắc dạy con.
[1:20:09]Tuy con mình lớn rồi nhưng mà hễ sai là đều bắt nằm xuống đánh đòn. Thì có một lần mà thường thường đánh thì anh này ảnh không khóc, tại vì con trai mà, chịu đau giỏi không có khóc. Chỉ mẹ đánh đòn mấy roi xong thì quỳ lạy khoanh tay xin lỗi mẹ rồi thôi, không có tái phạm nữa. Nhưng lần đó mẹ kêu nằm xuống đánh thì đánh xong ảnh khóc. Bà mẹ mới ngạc nhiên hỏi, "Tại sao hôm nay mẹ đánh đòn con khóc?" Thì anh mới trả lời rằng là, "Bởi vì hôm nay mẹ đánh con không đau như những lần trước là con biết mẹ yếu rồi. Cái ngày mà mẹ bỏ con đi không còn xa nữa."
[1:20:49]Thì chúng tôi cũng vậy đó. Ngày xưa lúc ở bên hòa thượng thì chúng tôi được hòa thượng rầy la quở trách trực tiếp. Hễ có cái lỗi gì thì hòa thượng rầy la quở trách trực tiếp. Nhưng mà ngày hôm nay chúng tôi không còn được cái hạnh phúc đó nữa. Bây giờ hòa thượng muốn la, muốn rầy, quở phải qua trung gian, qua trung gian ở đâu á, rồi chúng tôi mới được nghe trở lại. Cho nên đó là một cái bất hạnh của chúng tôi. Thì mình phải hiểu điều này, là điều mà một vị thiền sư nhiều người đã xem hòa thượng như Phật, như một vị thánh mà rầy la quở trách đều có cái trí tuệ ở trỏng, chứ không phải là cái la theo lối của người thường là sân hận.
[1:21:35]Hòa thượng phải quở trách chúng tôi nặng nề như vậy là để làm chi vậy? Là thứ nhất là cảnh giác chúng tôi biết rằng mình hãy còn lỗi lầm rất nhiều. Hòa thượng phải quở trách nặng nề như vậy để cho chúng tôi biết rằng mình không được quyền kiêu ngạo. Ví dụ như giảng được năm ba bài pháp rồi có một số Phật tử đi theo, rồi cứ tưởng mình là ngon lành, thì đó là một cái tội rất là nặng. Nên vì vậy là không dạy trực tiếp được thì hòa thượng đã dạy qua trung gian, quở một câu rất là nặng, rất là quyết liệt. Mà cái quở đó là cái trí tuệ của một thiền sư, chứ không phải là cái lối nói của một người tầm thường.
[1:22:12]Cho nên vì vậy là nghe cái câu đó chúng tôi buồn là bởi vì mình không còn được cái hạnh phúc như các huynh đệ của mình mà ở một bên để hòa thượng dạy bảo nữa, mà phải quở qua trung gian như vậy. Mà chúng tôi biết mình phải thúc liễm nhiều hơn, phải tu sửa nhiều hơn để cho hòa thượng đừng có buồn, dù ở xa để hòa thượng đừng có buồn. Cho nên là dù gì thì dù chúng tôi nói một lần, hòa thượng vĩnh viễn vẫn là thầy của chúng tôi. Mỗi lời nói, mỗi cử chỉ hòa thượng đều có những cái thâm ý và có lợi cho chúng sinh hết. Nên có nhiều người đã hoang mang khi mà nghe hòa thượng quở trách chúng tôi nặng nề.
[1:22:50]Nên hôm nay có người đã hỏi như vậy nên chúng tôi đã trả lời một cách rất là rõ ràng. Mà chúng tôi chỉ năn nỉ một điều, chúng tôi chỉ xin một điều, chúng tôi xin một điều là bất cứ ai trên đời này mà có một chút lòng thương quý với tôi, có một chút lòng thương quý với tôi thì phải nhân cái lòng thương quý đó lên thành một ngàn lần để tôn kính hòa thượng. Bởi vì từ nơi hòa thượng chúng tôi mới có được ngày hôm nay. Dĩ nhiên là trong đời tu của một người mình phải học được, mình học được nhiều nơi từ nhiều vị, nhưng mà hòa thượng luôn luôn là sự khởi điểm cho chúng tôi. Giống như là cuộc đời của chúng tôi vậy, chúng tôi cũng đã học được nơi
[1:23:32]nơi sư ông Thông Lạc vậy, hoặc là những bài pháp của hòa thượng Trí Quảng cũng làm cho chúng tôi rất là thán phục, vân vân. Rồi ngay cả sư huynh Viên Giác của chúng tôi đây cũng vậy, những lúc mà huynh đệ ngồi đàm đạo với nhau, chúng tôi cũng đã học được rất là nhiều điều lợi ích từ nơi sư huynh của chúng tôi. Mà thậm chí có một số Phật tử vậy nữa, khi mà ngồi nói chuyện vậy đã có nhiều người Phật tử làm cho chúng tôi cũng rất là là kính phục. Là những người như vậy đều là những người mà làm cho chúng tôi biết học hỏi và chúng tôi biết ơn hết. Cho nên là cái việc mà hòa thượng đã quở trách chúng tôi
[1:24:07]nặng nề trong cái băng, quý Phật tử không có hoang mang. Hãy luôn vậy, hãy biết cái trí tuệ của một bậc thánh là mình không có lường được. Lúc nào cũng vậy, nếu có thương chúng tôi, có quý chúng tôi thì chúng tôi năn nỉ là phải nhân nó lên một ngàn lần để mà thương quý hòa thượng như vậy.
[1:24:35]Giữa biển sóng trập trùng, thầy là hòn đảo bình an. Giữa sa mạc khô cằn, thầy như suối lành trong mát. Giữa cuộc đời tan nát, thầy đưa lối tình yêu. Ôi, dù con có nói trăm điều, vẫn không nói hết về một thầy cả cuộc đời không biết mệt, cả cuộc đời như chiếc đuốc sáng soi. Ngày xưa, con bơ vơ trong đời tối tăm.
[1:25:13]Trầm luân, nghẹn đau thương lầm lạc con người.
[1:25:20]Từ khi hoa sen xòe rộng ngời dẫn lối, đưa con thoát cuộc sống chơi vơi, qua bên kia bến bờ đi tới, trời luôn sáng ngời ánh mặt trời. Tình
[1:25:40]thương nghe bao la ngời người sưởi ấm, tình thương nghe mênh mông biển trời chan hòa.
[1:25:55]Thầy ơi, đã cho con một niềm tin có, khi chân lý lắng chiếu tâm hồn, cho trần gian không người gục ngã, nghe thanh thoát niềm vui chan hòa.
[1:26:15]Thầy ơi, con xin hứa con không lùi bước, theo chân lý con sống an vui, quay trở về nguồn tâm trong sáng, sẽ bước thoát tử sinh này rồi, đem tâm đó lại cho mọi người, cho nhau có niềm vui đời đời.
[1:26:42]Từ đây xin ca vang một bài ca mới,
[1:26:49]bài ca tuy không tên nhưng thật bao la,
[1:26:56]là nghĩa ân như bao dung muôn loài sáng mãi,
[1:27:03]tình thương nghe mênh mông bất tận không bờ.
[1:27:10]Thầy ơi, ánh đạo vàng thầy đã sáng soi, đã trọn đời đem cho khắp nơi, cho mọi người niềm an vui mới. Ôi,
[1:27:28]ánh đạo vàng tràn ngập khắp nơi, đó là tình thương
[1:27:39]không thể vơi, đó là nguồn sống tỏa hạnh phúc. Con muốn theo thầy đường kia đã qua,
[1:28:09]suốt cuộc đời niềm tin thiết tha,
[1:28:20]chớ không rời, và muốn tiến xa.
[1:28:40]Ôi, ánh đạo vàng tràn ngập khắp nơi, đó là tình thương không thể vơi, đó là nguồn sống tỏa hạnh phúc.
[1:29:07]Con muốn theo thầy đường kia đã qua, suốt cuộc đời niềm
[1:29:29]tin thiết
[1:29:40]tha, chớ không rời, chớ không rời, và muốn tiến xa. Rạng ngời nắng sớm huy hoàng, Thầy từ trên núi về thăm. Một tình thương lớn chan hòa, mọi người ấm áp niềm vui rộn ràng.
[1:30:08]Cùng nhau cung kính bên Thầy, lời Thầy thanh thoát thương yêu, mở đường chân lý an lành, cuộc đời vơi bớt đau thương, buồn phiền.
[1:30:30]Cho chúng con mùa xuân bất tận, tâm chói chang niềm vui rất gần, không có mây, trời trong lắng ngần, để đoá hoa một lần nở mãi.
[1:30:49]Dù bóng đêm chợt tan vỡ rồi, khi tiếng chuông Thầy vang giữa đời, ai đã qua một phen sáng ngời, lòng vững tin chẳng bao giờ vơi. Thầy là cây cao bóng mát, lòng từ bao la bát ngát,
[1:31:18]lời dạy sâu xa thấu thoát, mở lối đi về vô cùng.
[1:31:28]Một mảnh đất rất khô cằn, Thầy về rạng rỡ thênh thang, dịu dàng.
[1:31:37]Thầy là ánh sáng mênh mang, cuộc đời sẽ bớt than van, trầm hùng, đỉnh núi hiên ngang, bình an.
[1:31:55]Cho chúng con đường đi giữa trời, tan bóng đêm, vầng dương chói ngời, đây khúc ca tìm không thấy lời, để bước sang một đời sống mới.
[1:32:13]Ai có tin từ trong lửa hồng, sen vẫn tươi, toả hương bất động, cuộc sống vui vượt qua huyễn mộng, bóng dáng
[1:32:38]Thầy trải khắp hư không. Rạng ngời nắng sớm huy hoàng, Thầy từ trên núi về thăm,
[1:33:02]một tình thương lớn chan hoà, mọi người ấm áp, tin vui, dạt dào. Cùng nhau cung kính bên Thầy, lời Thầy thanh thoát thương yêu,
[1:33:20]mở đường chân lý an lành, cuộc đời vơi bớt đau thương, buồn phiền.
[1:33:31]Cho chúng con mùa xuân bất tận, tâm chói chang niềm vui rất gần, không có mây, trời trong lắng ngần, để đoá hoa một lần nở mãi.
[1:33:49]Dù bóng đêm chợt tan vỡ rồi, khi tiếng chuông Thầy vang giữa đời, ai đã qua một phen sáng ngời, lòng vững tin chẳng bao giờ vơi.
[1:34:09]Thầy là cây cao bóng mát, lòng từ bao la bát ngát, lời dạy sâu xa thấu thoát, mở lối đi về vô cùng.
[1:34:25]Một mảnh đất rất khô cằn, Thầy về rạng rỡ thênh thang, dịu dàng.
[1:34:34]Thầy là ánh sáng mênh mang, cuộc đời sẽ bớt than van, trầm hùng, đỉnh núi hiên ngang, bình an.
[1:34:50]Cho chúng con đường đi giữa trời, tan bóng đêm, vầng dương chói ngời, đây khúc ca tìm không thấy lời, để bước sang một đời sống mới.
[1:35:07]Ai có tin từ trong lửa hồng, sen vẫn tươi, toả hương bất động, cuộc sống vui vượt qua huyễn mộng, bóng dáng Thầy trải khắp hư không. Bóng dáng Thầy trải khắp hư không. Bóng dáng Thầy trải khắp hư không. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[1:35:42]Kính thỉnh quý Phật tử ngồi xuống. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Hôm nay chúng ta nói với nhau tiếp về cái Tứ Thánh Đế mà ở cái phần Diệt đế. Chúng ta đã biết cái lần trước chúng ta nói, Diệt đế nghĩa là những kết quả tu hành mình có được ở trong Đạo Phật thì gọi là Diệt đế. Nhưng nhắc lại nha, chữ "diệt" này không phải là trừ diệt, trừ gian diệt bạo, làm cho mất, làm cho hết, không phải, mà Diệt đế nghĩa là những kết quả tu hành trong Đạo Phật chúng ta đạt được. Dĩ nhiên ở đây là chúng ta muốn nói nhiều mặt, từ thấp lên cao, từ xa đến gần dần dần. Mỗi một chút mà chúng ta tu hành thì chúng ta biết là đều có cái
[1:36:29]kết quả nào đó tương xứng thì đó là đường đi chúng ta đã đúng. Còn nếu mà chúng ta tu không đúng thì nó không có kết quả tốt hiện ra. Thì đây là chỗ mà mình dựa vào đó để đánh giá rằng mình đã đi đúng hay chưa, là cái nhân đã đúng hay chưa khi mà nhìn cái quả. Nếu có cái nhân đúng thì quả phải đúng, nhân sai quả sai. Mà căn cứ vào đâu nói nhân đúng quả đúng, nhân sai quả sai? Thì chúng ta tu theo Đạo Phật một thời gian á, mình đánh giá nơi bản thân mình, nơi cuộc đời mình, nơi tâm hồn mình nó có mấy cái điều thế này, nó có ba cái điểm để mình đánh giá là mình đã đi đúng đường hay chưa. Ít nhất nó có ba cái kết quả nho nhỏ này hiện ra trước.
[1:37:11]Cái kết quả thứ nhất á là tự nhiên mình thấy mình có đạo đức hơn. Đây là một điều mình tự mình nhận ra rất rõ. Rõ ràng mình có chuyển biến, trước đây mình sống ích kỷ, nhưng mà khi mình tu theo Đạo Phật một thời gian mình thấy mình bớt ích kỷ. Tức là trong những lúc đối xử với con người mình nhường nhịn nhiều hơn, mình biết hy sinh nhiều hơn, vì người nhiều hơn là kết quả thứ nhất hiện ra. Cái kết quả thứ hai hiện ra là tâm hồn mình an lạc hơn, yên hơn, bình tĩnh hơn, thản nhiên hơn, bớt có những cái buồn, vui, hờn, giận quá đáng. Đó là cái kết quả thứ hai nó hiện ra. Nếu mà tu mà được như vậy á là mình đang đi đúng đường.
[1:37:54]Để ý lại, còn nếu dù mình theo Đạo Phật một thời gian rồi mà mình cứ sôi như nước sôi là không đúng, sôi. Hồi trước mình mới hâm hâm, tu một thời gian cái nó sôi sùng sục luôn là rồi mình phải né con đường đó, mình phải kiếm đường khác mình đi lại. Đó, vậy. Phải làm sao tu mới đầu sôi từ từ nó sủi tăm, rồi từ từ nó nguội dần, nguội dần mới đúng vậy đó. Đây chúng ta để ý lại tâm mình là đang sôi hay đang sủi tăm hay đang nguội hay đang ấm ấm, vậy để ý. Đó là kết quả thứ hai: tâm mình phải an lạc hơn, bình thản hơn, bình tĩnh hơn, bất động hơn trước mọi việc bên ngoài, thì đó là dấu hiệu đúng thứ hai.
[1:38:29]Dấu hiệu đúng thứ ba, dấu hiệu này hơi khó nói, nhưng mà cũng là một dấu hiệu, là mình thấy cuộc đời mình bắt đầu có may mắn hơn. Đó là dấu hiệu thứ ba. Dĩ nhiên cái may mắn hơn nó không phải một ngày một giờ. Nó không phải một ngày một giờ, có khi nhiều năm. Mà có những trường hợp mình nghiệp nặng quá thì lây lất rất là lâu mà không chết, ngắc ngứ chứ không chết. Thí dụ kiếp trước mình đừng có gieo nghiệp nặng quá, cứ bình thường thôi, thì mình tu theo Đạo Phật mà đúng á thì một, hai tháng bắt đầu mình thấy có chuyện vui vui rồi. Mà nếu tu ổn định chừng ba năm, năm năm, mình thấy có nhiều may mắn đến với mình, nhiều niềm vui đến với mình.
[1:39:07]Đó là dấu hiệu mình đi đúng đường. Đó là ba cái dấu hiệu căn bản cho cái kết quả tu nho nhỏ, nho nhỏ thôi chứ không phải lớn. Nhắc lại, thứ nhất là... thứ nhất là đạo đức, mình thấy rõ đạo đức mình khác hơn ngày xưa, mình nhận ra rõ điều đó. Cái thứ hai là tâm hồn mình an vui hơn, an vui hơn. Thứ ba là cuộc đời mình may mắn hơn. Đó, đó là ba cái dấu hiệu chút chút như vậy. Mà khi đi sâu vào thì cái sự tu hành trong Đạo Phật còn đem cho chúng ta nhiều cái kết quả cực kỳ vi diệu mà đỉnh cao là... đỉnh cao là là sự giác ngộ, giải thoát tuyệt đối luôn, hoàn toàn thoát khỏi luân hồi sinh tử. Đó là cái kết quả cuối cùng, rất là cao.
[1:39:57]Hôm trước mình nói về... về Lục thông chưa ta? Chưa hả? Kỳ trước... Về mà sáu thần thông của một vị chứng đạo trong đạo Phật á, có lẽ là chúng ta phải phân tích trong một bài nào khác, sợ không có thời gian. Mình đã nói về cái vô ngã đại bi rồi phải không? À nói rồi, nhưng mà nói lục thông thì chưa. Nhưng mà đã kể ra sáu cái rồi chứ hả? Kể ra chưa? Có người nói có, người nói chưa. Lạ quá ta. Sáu thần thông. Tức là để xác định một người chứng đạo hoàn toàn, Đức Phật đưa ra cái thước đo sáu thần thông bắt buộc. Nên vì vậy là chuyện thần thông là một cái kết quả phải có trong đạo Phật. Nó không có được chối từ.
[1:40:47]Cho nên nói tu mà chưa có thần thông thì mình phải nhận là mình chưa đắc đạo, vậy thôi à. Còn hễ đắc đạo trong đạo Phật là phải có thần thông, bắt buộc như vậy. Tuy nhiên là cái người có trí sử dụng thần thông một cách kín đáo, hợp lý chứ không đụng đâu cũng bay đâu, không phải. Không phải đụng đâu là cũng đi bình thường gặp người thiên hạ cũng đứng lên cây nói chuyện với người ta cho vui, đứng lơ lửng nói chuyện người ta vui, đó không phải là đắc đạo mà là ma, nói rồi đó, giỏi. Cái người mà chứng đạo á, họ bình thường lắm. Họ bình thường. Mà lạ một điều đó, trong cái thời đại này mà cái hình tượng của một vị A-la-hán ẩn
[1:41:22]mình á lại nằm ở trong ở trong phim á, phim Chiến tranh các vì sao, Star Wars. Chúng ta về chúng ta coi cái phần mới nhất là Cuộc tấn công của những kẻ vô tính á, những người sinh sản vô tính á. Phim mới nhất, khoa học giả tưởng mới nhất á. Trong đó một cái người mà hàng bậc thầy của vũ trụ, của thiên hà là một ông lão mang hình dáng một con chuột nhỏ xíu, lùn lùn chút xíu. Nhưng mà ổng có cái tâm linh của một vị thánh. Trong cái cuốn phim á thì người khắp vũ trụ nhiều hình hài lắm chứ không phải là người nào cũng là mang hình dáng con người như mình. Có người mang hình dáng con cá, người mang hình dáng con thuồng luồng, à người mang hình dáng con cóc.
[1:41:58]Nhưng mà riêng một cái ông là thiền sư đó, một ông thánh thiền sư á mà cao nhất của vũ trụ lại mang hình dáng một con chuột nhỏ xíu à. Thì bình thường ổng đi đó, ổng lụm khụm ổng chống cái gậy đi lết lết đi không nổi. Bình thường á là nói năng thì nó chậm rãi, từ tốn, nhưng mà khi mà đụng chuyện, buông cái gậy rớt xuống là rút cái gươm ra là phi thân đánh không, tức là đưa tay là dùng phép đánh không. Không biết cái cuốn phim đó làm sao cái người mà họ dựng cái cuốn phim đó, họ tiên đoán cái văn minh tương lai của vũ trụ này là như vậy á, là con người ta vừa giỏi kỹ thuật mà vừa giỏi tâm linh.
[1:42:33]Mà trong đó người nào giỏi cả hai thì người đó là bậc lãnh đạo của vũ trụ. Vì vậy ở đây bây giờ ai mà muốn lãnh đạo vũ trụ thì phải phải tu giùm, phải tu, phải tu cho có thần thông như như ông thiền sư đó, chống cái gậy đi lụm khụm lụm khụm mà đụng chuyện cái rút gươm ra bay đánh không. Các vị mà đắc đạo họ vậy đó. Bình thường mình nhìn mình không biết, họ thấy lụm khụm bình thường họ che giấu. Nhưng đến khi mà đụng chuyện rồi mình mới thấy họ phi thường. Nhưng mà phải có thần thông mới là người đắc đạo, đó là điều bắt buộc, cái thước đo đó, nhưng mà không khoe thần thông thôi. Còn ai đụng chuyện là cũng nổ ra mình giỏi cái thế này,
[1:43:09]mình có phép thế kia, mình biết ngay là phù thủy, không phải, không phải là một thánh nhân trong đạo Phật. Nhưng mà lục thông là phải có. Thánh nhân trong đạo Phật là phải có phép. Cái Niết bàn trong đạo Phật thì rất là vĩ đại, nhưng mà có khi chúng ta không biết hết cho nên chúng ta chia ra làm Tiểu thừa và Đại thừa. À chúng ta cho rằng Tiểu thừa là những người chứng được ở cái mức độ thấp, những vị A-la-hán, mà Đại thừa là những người chứng được ở mức độ cao, là những vị Đại Bồ Tát. Nhưng mà thật ra thời Đức Phật thì không có chia ra như vậy. Nghĩa là chứng được A-la-hán là coi như bằng Phật, Đức Phật nói như vậy.
[1:43:46]Đức Phật nói vậy, có một lần có người hỏi Đức Phật về ngài Đại Ca Diếp, so sánh Đức Phật, Đức Phật nói: Ta có sáu thần thông thì Đại Ca Diếp cũng có sáu thần thông, bằng nhau. Nhưng mà khi người khác hỏi ngài A Nan là: Vậy chớ Đức Phật với các vị A-la-hán khác nhau chỗ nào? Thì ngài A Nan nói là: Bởi vì Đức Phật là bậc mở đường, và những người khác không phải là bậc mở đường. Tức là chỉ nói về cái trí tuệ thôi. Nhưng mà sự thực thì sự khác nhau giữa Phật và A-la-hán thì còn nhiều cái khác lắm. Tuy nhiên cái quả chứng giải thoát về tam minh lục thông thì giống nhau ở cái căn bản. Nhưng mà đi sâu vào trong trí tuệ thì chỉ có Phật là nhất thôi.
[1:44:24]Phật là nhất, không ai bằng. Chỗ này là không phải lúc chúng ta đào sâu lắm, nhưng mà tạm thời mình hiểu như vậy trước. Và có một giai đoạn đạo Phật chia ra làm hai hai cái nhánh là Tiểu thừa và Đại thừa, thì ngày hôm nay chúng ta hiểu sâu vấn đề, chúng ta cố gắng chấm dứt cái điều đó lại, là trong đạo Phật không có Tiểu thừa và Đại thừa, chỉ có cách hiểu chúng ta sai thôi. Thì cũng một câu Phật dạy, mình hiểu sai cái thành ra một đạo Phật rất là tiêu cực, ừ rất là yếu đuối, gọi là hiểu theo kiểu Tiểu thừa. Còn cũng một câu nói đó của Phật mà mình hiểu cách khác thì nó biến thành đạo Phật năng nổ, tích cực, hoạt dụng, gọi là hiểu theo Đại thừa.
[1:45:01]Chứ lời Phật nói chỉ là một, nhưng mà sợ mình hiểu sai. Ví dụ như là Đức Phật nói: Khi chứng được được cái vô ngã, vô ngã là không còn có ta, thì nếu mà mình hiểu cạn á, mình nói hiểu không còn có cái ta nữa rồi hết trơn, hết trơn. Hiểu cái chữ hết trơn á là hiểu theo kiểu Tiểu thừa. Nhưng mà nếu mình hiểu cái ta mà không còn á thì cái lòng thương yêu chúng sinh tự nhiên trở thành tuyệt đối luôn, lớn không thể tưởng tượng được. Thì nếu mình hiểu như vậy là hiểu theo? Theo Đại thừa. Đó, vậy thôi à. Cũng một câu nói của Phật nhưng mà sợ mình hiểu sai hay là hiểu đúng thôi. Cho nên thường á là Đại thừa khai thác cái chứng trong
[1:45:40]đạo Phật rất là mạnh dạn, rất là mạnh, rất là lớn. Cho nên về sau chính Đại thừa đã làm hưng long đạo Phật là bởi vì cách hiểu tích cực đó. Rồi có một điều nữa là do đời sau không có chứng bằng các vị A-la-hán thời trước, cho nên đã có nhiều người chê A-la-hán là thấp. Đây thành ra một cái tội rất là nặng, một cái tội rất là nặng là chê A-la-hán là thấp. Mà nhiều khi nó rớt vào trong những kinh văn nữa. Vì do những kinh văn có bị thêm thắt á chúng ta không biết được. Mà nhất là kinh Pháp Hoa á. Trong kinh Pháp Hoa mình tụng mình nghe không? Cứ chê đó, Tiểu thừa, Thanh văn, A-la-hán rồi đó, rồi.
[1:46:20]Có nhiều người nói không biết sao tụng kinh Pháp Hoa đổ nghiệp, đổ nghiệp có nghĩa là gì? Có nghĩa là tụng kinh Pháp Hoa mình hay gặp chuyện xui. Đổ nghiệp á tức là gặp chuyện xui á. Nghĩa là làm sao, tại sao vậy? Là bởi vì khi tụng Pháp Hoa mình có hiểu một ý nào đó trật ở trong đó. Mà một ý trật trong Pháp Hoa thường là do đánh giá thấp A-la-hán, đánh giá thấp A-la-hán. Cho nên vì vậy là chúng ta phải hiểu cho đúng lại chỗ này thì chúng ta tụng kinh Pháp Hoa sẽ không gặp xui nữa, mà sẽ gặp chuyện hên, là đừng đánh giá thấp vị trí cái quả vị của A-la-hán. Quả vị của A-la-hán rất vĩ đại mà mình không có hiểu nổi.
[1:46:59]Vào thời cách Phật mấy trăm năm sau á, có một cái ông đó ổng tên là Đại Thiên, cũng là người xuất gia. Thì tự nhiên ổng xưng ổng chứng A-la-hán. Ổng xưng chứng A-la-hán, nhưng mà trong cái tư cách ổng có nhiều cái sơ suất, trong cuộc sống ổng có nhiều cái sơ suất. Rồi có những người khác người ta mới hỏi là: Tại sao thầy nói thầy chứng A-la-hán rồi mà thầy còn có những sơ suất này? Ổng mới nói: Ờ, A-la-hán coi vậy chớ vẫn còn những sơ suất như thế. Thế là từ đó người ta tin ổng, cái người ta cho rằng A-la-hán còn sơ suất, chớ sự thật không phải, A-la-hán vĩ đại lắm. Tức là do hiểu lầm vào một giai đoạn như vậy.
[1:47:34]Bây giờ thế này, chúng ta nói qua cái ý nghĩa Hóa Thành trong kinh Pháp Hoa. Trong kinh Pháp Hoa có một cái phẩm Hóa Thành Dụ rất là đẹp. Tức là khi một người đi, đi về một cái vị trí rất là xa, đi về một cái kinh đô, nhưng mà đường đi quá xa cho nên có những vị Bồ Tát hiện ra một cái thành, một cái nhà nghỉ nửa đường rất là đẹp, cái nói: Thôi, đã tới rồi. Cái thấy như vậy người ta không cảm thấy mệt nữa, vào đó nghỉ ngơi. Vào đó nghỉ ngơi, khi mà nghỉ khỏe rồi cái vị Bồ Tát, vị thầy mới nói là: Không, đường đi đến kinh đô đây chưa phải, đây chỉ là một thị trấn nghỉ chân thôi, chúng ta hãy đi nữa.
[1:48:11]Cái người kia do cái sức khỏe có rồi cho nên đi nữa không ngán. Chứ nếu mà đi một lèo từ cái chỗ quê của mình mà về thẳng kinh đô người ta sẽ không chịu đi, không chịu đi. Cho nên thường là phải có những cái hóa thành, những nơi nghỉ tạm. Thì giống như trên đường tu cũng vậy, nếu mình nói rằng mình chưa có trí tuệ gì hết mà nói cho mình biết mình nói: Thưa thầy, bây giờ con muốn tu được giác ngộ, biểu con tu trong bao nhiêu năm? Cái ông thầy mới ổng nói: Ờ, căn cơ của con chắc con tu khoảng 1.000 kiếp. Mình nghe xong mà vĩnh biệt ông thầy liền, không bao giờ dám tới. Nghe 1.000 kiếp nó đằng đẵng thấy không?
[1:48:45]Không bao giờ dám tới dòm thấy mặt ổng nữa, sợ quá, kinh hồn. Nên là mình làm cái gì mà hai ba năm mà nó có kết quả liền thì mình làm. Cái mình chạy qua cái ông thầy pháp, mình hỏi: Bây giờ tu bao lâu thì có bùa đánh bùa người ta được? Ông thầy ổng nói: Ba năm. Rồi, là làm đệ tử liền, chịu liền. Tức là tu 3 năm có bùa là coi bộ đi dụ thiên hạ được, đi hù thiên hạ được, coi bộ làm thầy được. Ví dụ học ông thầy bói vậy, nói: Thưa thầy, bây giờ con theo học thầy bao lâu thì con có thể làm thầy bói giống thầy? Ông thầy ổng dòm tướng, thì ổng làm bói đó ổng phải dòm tướng, ổng dòm tới ổng lui ổng nói:
[1:49:17]Ờ, con có căn làm thầy bói, thầy dạy con năm rưỡi thì con lên làm thầy được, là mình theo học liền thôi. Nó dễ đó, ngắn ngắn vậy nó dễ. Còn mình nói mình nghe nói 1.000 kiếp mới đắc đạo là mình bỏ ông thầy liền. Mà sự thật, hầu hết chúng ta tu phải ngàn kiếp không à. Hiện nay là không biết được mấy kiếp rồi, chắc kiếp xưa có tu rồi, tu rồi quên rồi, tu rồi quên giờ mới lọ mọ vô đây ngồi nghe tu lại nè. Chứ nếu đừng quên á thì giờ này không có ngồi đây mà ngồi ở trên kia kìa, dòm xuống dưới đây, dòm xuống dưới đây. Chứ không phải là ngồi mà nghe vậy, mà lúc đó ngồi ở trên để mà bay đi bay kia, vì mình quên. À chúng ta hay vậy lắm.
[1:49:55]Cho nên vì vậy mà những vị thầy đó tùy căn cơ đó mà mới nói. Ví dụ như có một người đến xin tu, nói: Thưa thầy, con tu chừng bao lâu là thì có kết quả? Cái vị thầy nhìn cái mặt mình thấy cái mặt mình là thuộc loại là trí nó tệ chứ không phải trí tuệ, trí tệ quá đó, cái rồi nói: Ờ, con đây con tu chừng sáu tháng à con ơi, sáu tháng là con thấy người nó khỏe khoắn á. Cái mình nghe vậy mình mới theo thầy cũng tu. Tu qua sáu tháng cũng không thấy gì đặc biệt, ổng nói: Ờ, con không thấy chứ thầy thấy, thôi ráng tu thêm nữa rồi con mới thấy, chứ thầy bắt đầu thầy thấy rồi đó. Đó, mình cứ, tức là ông thầy đó ổng dụ lần lần, do mình trí tệ quá đó, nó vậy.
[1:50:31]Còn mà nếu mà gặp một người sáng láng á, trí tuệ thật sự á, thì ổng thầy ổng mới nói sao? Ổng nói: Chỉ có kẻ ngu mới hỏi thời gian! Con câm miệng con lại! Cái ông thầy ổng nạt một câu nghe dễ tự ái lắm, thấy dễ thâm lui, dễ xa nhau lắm, nhưng mà không tự ái, tại vì cái người này có trí tuệ, người ta không có bị giận lặt vặt. Cái người mình mà đến với đạo mà hay giận lặt vặt là người trí tệ, mất chữ u mất tiêu rồi. Còn người có trí tuệ đó nhiều khi đến ông thầy ổng nạt nộ, xua đuổi, nhưng mình biết đây là cái cơ phong, cái thử thách của một bậc thầy trước cái sự kiên nhẫn người đệ tử, nên mình cũng nạt gì nạt vẫn làm thinh. Và hỏi: Con tu bao lâu?
[1:51:09]Chỉ nói là: Câm miệng lại, ngu mới hỏi thời gian! Chỉ biết tu thôi, đừng có nói thời gian. Và thời gian đó có khi kéo dài vài trăm kiếp, chấp nhận. Bởi vì sao vậy? Bởi vì với con mắt của một bậc đắc đạo, thời gian là vô nghĩa, không có giá trị, không có giá trị. Mình á, mình phàm phu á, mình mới nghe nói một kiếp, hai kiếp, năm kiếp nghe lâu, còn người có trí tuệ, 1.000 năm như nằm trong bàn tay. Bây giờ chúng ta ngồi đây cũng vậy. Ví dụ mình nói bao lâu nữa mình chết, ai nói được trả lời câu chính xác là chừng nào mình chết?
[1:51:46]Ví dụ bây giờ nói bao lâu mình chết, không bao giờ ai nghĩ bữa nay mình chết, phải không? Nhất cũng tệ gì 20 năm nữa. Ha! Ăn được 20 cái Tết nữa, còn hưởng được 20 cái xuân xanh nữa, phải không? Mà dòm đầu nhiều khi tóc bạc rồi chứ ngồi ngẫm ngẫm chắc cũng được được năm nữa, mà đâu biết nhiều khi lát ra trúng gió chết ngắc á. Cho nên thường mình nghĩ như vậy, nhưng mà có một lần Đức Phật hỏi các đệ tử cái chết đến lúc nào, thì nhiều vị trả lời lắm, nói nghĩa là nhiều khi ngủ một đêm sáng ra chết Đức Phật không chịu, rồi có người hỏi ăn xong bữa cơm chết Đức Phật cũng không chịu, mà chỉ có cái người trả lời
[1:52:18]câu là cái hơi thở con dừng con chết liền, không nói lúc nào. Đức Phật chấp nhận. Tức là người đó sống tỉnh giác trong từng phút giây. Hơi thở vào biết vào, hơi thở ra biết ra, không cần biết gì thêm nữa. Không cần biết một giờ sau chuyện gì sẽ xảy ra, một ngày sau, một năm sau chuyện gì sẽ xảy ra, mà chỉ biết hơi thở đang ra đang vào thôi. Đó là cái người đã ngộ đạo rồi, Đức Phật chấp nhận liền, nên nó không có tính tới thời gian, như an ổn tu vậy. Nên vì vậy, cái người mà có trí đó, không biết mình mấy tuổi, nhưng lúc nào cũng nghĩ cái chết đã đến trước mắt mình. Không phải là mình kéo cái chết lại,
[1:52:55]nhưng thời gian mình nhìn cái 30 năm nó sát một bên. Nhớ, có trí là như vậy. Chúng ta nhắc lại, cái người mà có trí tuệ đó là nhìn 30 năm tới như đang ở trước mắt mình, cho nên không có thấy lâu, không có thấy ờ chắc còn 20 năm, 30 năm nữa mới chết, mà mình thấy cái hai, ba chục năm nữa mình mới chết đó đang ở bên cạnh mình. Thấy như vậy đó là người có trí tuệ á, không có thấy lâu. Mình nghe nói tới 100 kiếp mình ngán, người mà có trí tuệ nói con tu 100 kiếp nữa tỉnh queo à, dạ trăm trăm không sợ. Miễn trong từng giây phút hiện tại mình biết được từng hơi thở ra vào. Đó. Rồi ở đây khi mà nói tới cái hóa thành đó,
[1:53:37]là thường là chúng ta dành cho người mà cỡ như chúng ta đó là sợ hãi thời gian, cho nên phải vạch ra những giai đoạn ngă ngắn từ từ vậy. Khi mà chúng ta tu có những cái kết quả, nghĩa là cuộc đời mình được may mắn hơn, những kết quả nho nhỏ hay tâm mình bình an hơn, mình thấy có sáng hơn, có trí tuệ hơn, đạo đức hơn, thì mình biết đó cũng là một cái điều rất là đáng quý chứ không phải không. Nhưng mà chỉ là chỉ là chỗ tạm thôi, không được cố chấp, không được bám giữ và tuyệt đừng khoe khoang thì mình còn đi nữa. Chứ nếu mà mình khoe khoang là mình dừng lại hoặc mình lui liền. Đây là chúng ta nói thế này:
[1:54:19]Nó đáng quý thế này, ví dụ ngày xưa tâm mình xao động, mình dễ buồn dễ giận, dễ động, mà bây giờ mình bình thản trước mọi việc thì đó là một cái nơi rất là đáng quý rồi. Tu như vậy sẽ rất là đáng quý. Người đời nhiều khi tu suốt một đời cho tới khi chết cũng còn buồn thương giận ghét tùm lum hết, mà ví dụ mình mới được ba mấy tuổi, bốn mấy tuổi, năm mấy tuổi mà tâm mình đã phẳng lặng rồi là một cái rất là quý, một kết quả rất là đẹp, nhưng mà không phải là tất cả. Nhớ như vậy, phải đi tới nữa. Đó chỉ là một giai đoạn tạm thời. Cái giai đoạn tạm thời đó ở trong tâm mình đó. Và bây giờ mình nói trên cái cõi nè.
[1:54:57]Nó có những cái cõi mà khi tu được thì mình sinh về. Thì thứ nhất là mình đang ở cõi người, ví dụ trước đây mình có thể mình làm thú ở đâu á, nhưng mà có công đức nào đó mình trở lại cõi người, mình biết tu, thì cõi người này phải là cõi an ổn mãi không? Không, phải không? Chỉ là cõi tạm thôi, lúc nào đó rồi mình phải chết. Mà cái khó là thế này, là ví dụ mình là một người mà không phải giàu lắm, không phải đẹp lắm, thì mình dễ thấy cõi này là cõi tạm. Tại vì mình hy vọng ở một cõi khác mình đẹp hơn, mình sống sướng hơn, dễ thấy là cõi tạm. Nhưng có những người rất giàu, có những người ở cõi người
[1:55:34]mà rất giàu, tiền xài không thể nào hết được. Nhà cao cửa rộng, là của ngầm của chìm rất là nhiều, rất là giàu. Thì bây giờ nói với người đó là tất cả mọi điều đó chỉ là cõi tạm, chết buông bỏ hết, họ khó chịu lắm, họ sợ cái chết lắm. Bởi vì chết có nghĩa là họ phải mất hết bao nhiêu cái tài sản của họ, rất là đáng sợ. Mình thử tưởng tượng đi. Ví dụ đây là hầu hết chúng ta không có giàu, vì có một vài người giàu trốn ở trong đây thì không ai dám giơ tay vì sợ người khác xin hay ăn cướp vậy, không dám, nên giả bộ người nghèo. Vậy thì hầu hết chúng ta là nghèo. Thì bây giờ mình tưởng tượng, tưởng tượng giờ mình có 50 triệu
[1:56:10]đô la, ví dụ vậy, 50 triệu đô la coi như giàu đi, thì mình nghĩ tới cái chết tự nhiên mình sợ không muốn, vì chết là bỏ đi cái 50 triệu đó cho người khác xài, rất là uổng. Nên đây là một cái tâm lý và khi chúng ta biết đạo chúng ta phải vượt qua cái tâm lý này, tất cả chỉ là tạm bợ thôi. Dù chúng ta giàu bằng cả cái trái đất này cũng chỉ là cõi tạm. Đây là một cái đầu tiên chúng ta phải can đảm, phải gan dạ nhìn như vậy. Rồi một lúc nào đó khi mình tu quá tốt đi, mình tu quá đẹp, quá tinh tấn, quá chính xác, cái mình chết mình sinh lên cõi trời. Cõi trời á là nơi mà chứa những người như thế này:
[1:56:50]Thứ nhất là vừa có cái tâm linh, là có thiền định nha, có thiền định tâm phải định. Thứ hai là phải từ bi giúp được nhiều người, trước đây đã làm phước giúp được nhiều người, thì cộng hai cái đó đó thì mới sinh lên cõi trời. Chứ còn nếu một cái thì chưa chắc sinh lên cõi trời được. Ví dụ như tâm mình chỉ có định thôi, cũng có khi là không hẳn sinh lên cõi trời lắm, cũng dễ sinh đó nhưng mà không hẳn lắm, về một cõi trời hơi trống, không có hạnh phúc lắm. Còn hoặc là mình chỉ bố thí làm phước nhiều thôi mà không có cái tâm linh, mình cũng không sinh lên cõi trời, mình sinh lại cõi này để làm một người giàu sang thôi.
[1:57:27]Còn mình được cả hai mới sinh lên cõi trời và lên cõi trời sống rất là lâu, sống rất là lâu và rất là sung sướng, muốn cái gì có cái đó, muốn gì có cái đó. Vì mình muốn có mặc quần áo đẹp như thế nào thì hiện ra liền theo ý mình liền. Đó gọi là cái tha hóa tự tại, mình muốn cái gì được cái đó. Ví dụ cái ngôi nhà mình không thích, mình khởi tâm muốn, ngôi nhà biến thành ngôi nhà khác liền. Thay vì ở đây là mình phải để dành tiền, rồi mình phải xin giấy phép xây dựng, rồi phải mướn thầu, rồi coi tới coi lui rồi đủ thứ mệt lắm. Còn ở trên cõi trời mình nghĩ thế nào ra cõi đó liền. Đó là do lúc mình ở dưới trần gian này ai muốn cái gì mình hay
[1:58:03]giúp người ta như thế, ai muốn cái gì mình cũng giúp như thế, cho nên về sau mình sinh lên cõi trời mình được cái phước là như ý, như ý nguyện, nghĩa là cái ý nguyện của mình muốn cái gì mình sẽ được giống như thế, đạt được như thế. Và khi một cái người lên cõi trời mà được hưởng phước như vậy á, thường là họ hay thỏa mãn, họ hay hài lòng với cái cảnh giới mà họ đang có cho nên khó biết tu thêm. Vì vậy ở trên đó, các vị Bồ Tát hay tổ chức tu và giảng ở trên đó nhiều lắm. Chúng ta đừng tưởng cõi trời không biết tu nha. Cõi trời cũng có tu có học nhiều lắm chứ không phải không. Tuy nhiên là trong cái thâm sâu,
[1:58:40]bởi vì cõi đó sung sướng quá chúng ta vẫn thường hay hay chấp. Ở đây chúng ta biết Phật pháp, chúng ta phải nhớ dù cái cõi đó rất sung sướng vẫn chỉ là cõi tạm, vẫn chỉ là cõi tạm. Thậm chí thậm chí nếu có một cái cõi như là cõi Tịnh độ Cực Lạc của Phật A Di Đà có phải cõi tạm không? Phải không? Nói cho mạnh đi. Phải tạm không? Xin thưa tạm luôn. Phải gan dạ nhìn thấy cái đó. Cho nên trong cái tín hạnh nguyện của Tịnh Độ tông là có sao? Có cái là trở lại Ta-bà để mà độ sinh. Không phải sinh lên cõi Tịnh độ là ở luôn trên trển, không phải. Sinh lên rồi, học đạo chứng cái gì rồi, trở lại Ta-bà đi về nơi những cõi khổ để độ chúng sinh.
[1:59:33]Mà cái chỗ chứng cuối cùng á là chỗ không có cõi, không hình không tướng. Mười phương nằm trong một nắm tay, chứ không phải là một cái cõi có hình có dáng. Chúng ta nhớ trong kinh á: "Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng". Cái gì mà có hình tướng đều là hư dối. Thì cõi Tịnh độ có hình tướng không? Có không? Có. Thấy không? Có cõi đất bằng vàng ròng, kia nọ đó, có hoa sen, toàn là hình tướng không à. Thì giai thị hư vọng, cũng chỉ là cõi tạm thôi. Còn cái chỗ tâm chứng Niết bàn thực sự của Phật là vô hình vô tướng. Hãy nhớ điều đó. Cho nên vì vậy là tất cả cõi mà chúng ta chứng được đều biết phải chỉ là cõi
[2:00:19]tạm mà thôi, phải hiểu như vậy, nên lòng mình không có chấp một cái gì hết. Vì ngay trong cái kiếp này chúng ta đang sống, ví dụ nếu mình có cái may mắn mình tu thiền cái mình chứng ngộ được, mình có một cái trình độ là ngộ đạo, tâm mình bừng sáng, mình có một số thần thông, mình nhìn biết chuyện này chuyện kia, tâm rất an lạc, đọc kinh là hiểu hết, có thể giảng thao thao bất tuyệt, thì cũng gọi là chứng được, cũng gọi là đã có một phần tâm chứng, cũng vậy, như là ở các cõi vậy, nó không phải là cái vĩnh viễn, không phải là cái cứu cánh cuối cùng, mà chúng ta phải hiểu cũng chỉ là một giai đoạn tạm thời thôi.
[2:00:55]Đó, nếu mình hiểu đây là một giai đoạn tạm thời thì mình sẽ cố gắng tu tiếp, đi tới nữa không có đứng lại, không có tự mãn, không khoe khoang. Còn có những người vậy, nhiều khi chứng được, bừng ngộ được tâm, tâm trí rất là sáng, có thể hiểu được tất cả những thiền ngữ bí mật, có được một số thần thông, có thể nhập định được, à mà tưởng vậy là mình chứng đạo xong rồi, thì người này á một kiếp nào đó lui lại, mất liền. Ví dụ kiếp này mình không bị thoái, nhưng một kiếp khác mình sẽ bị lui mất liền. Do cái tâm tự mãn, nó phá cái quả báo của mình. Đây là cái nhân quả mà chúng ta phải biết. Nhưng vì vậy, để chúng ta nhìn một người còn có thể tiến xa
[2:01:35]trong việc tu hành nữa hay không, mình hãy nhìn cái thái độ của họ, họ đã tự mãn hay chưa, đã tự hài lòng hay chưa. Nếu mà mình thấy họ đã tự hài lòng rồi, mình biết người này đứng lại, lúc nào đó, kiếp nào đó sẽ lui lại. Còn mình biết người nào đó tiếp tục khiêm cung, kín đáo, tinh tấn nỗ lực, thì người này có thể đi đến Niết bàn cuối cùng. Mà trong cuộc sống này cũng vậy, ví dụ như mình nhìn thấy một người giàu có và mình thấy họ có một cái vẻ mãn nguyện, mình biết không giàu nữa, hoặc đã thấy hơn người rồi, bắt đầu thấy hơi kênh kênh rồi, là biết người này không giàu nữa, từ từ lui lại và con cháu
[2:02:13]về sau sẽ từ từ mạt, vì do cái thái độ kiêu mạn của cái sự giàu có. Còn ví dụ mình thấy một người đó giàu mà vẫn kín đáo, khiêm cung, nhẹ nhàng, tôn trọng người khác, thì mình biết người này còn giàu nữa. Gặp mấy người đó mình cứ ráng làm quen, tại biết thế nào cũng giàu nữa. Nên chúng ta không có tự mãn á là cái dấu hiệu mình còn tiến nữa. Vì vậy, chúng ta nói với nhau điều này để mỗi người luôn luôn kiểm soát trong tâm mình xem mình đã tự mãn hay chưa đối với cái phước của mình, đối với cái tâm của mình, đối với sự tu học của mình, cũng như đối với cái tâm chứng của mình. Cẩn thận không bao giờ được tự mãn.
[2:02:52]Chúng ta có những cái giai đoạn thế này, gọi là những cái hóa thành của một người Phật tử nè, một người đệ tử Phật mà tu, thì đây là những cái bước mà chúng ta để ý nè. Thứ nhất là mình đạt được một cái đời sống dễ chịu hơn, thoải mái hơn. Đó là cái hóa thành thứ nhất, một cái thị trấn thứ nhất. Là mình tu một thời gian rồi, cái đời sống mình dễ chịu hơn, thoải mái hơn. Đây là điều bắt buộc phải có, bắt buộc. Nếu mà chưa được cái này là mình chưa đạt được giai đoạn đầu. Cho nên cái bước đầu, kết quả ban đầu của sự tu hành á, nó không phải nằm trong nội tâm, mà nó nằm ở trong đời sống của mình á, nó nằm nơi cái túi tiền của mình á.
[2:03:26]Cho nên tu mà đúng, làm phước chuẩn á, mình thấy đời sống mình thoải mái hơn, không còn phải bức xúc lo về miếng ăn, miếng mặc nữa. Đó là cái kết quả ban đầu. Phải đi qua, phải đi qua giai đoạn này. Không thể có một người mà bắt chân lên ngồi thiền nhập định rồi ngoài kia thì vợ con nheo nhóc đói khổ, không biết chiều nay ăn cái gì mà bây giờ cứ ngồi nhập định tự tại, không có chuyện đó, không có chuyện đó. Phải ổn định về kinh tế, tâm thoải mái mới có thể tiến sâu được. Vì vậy, cái hóa thành đầu tiên vẫn là một đời sống thoải mái. Nếu ai thấy mình đời sống chưa thoải mái, phải điều chỉnh sự tu lại.
[2:04:04]Điều chỉnh sự tu lại. Tu làm sao vậy cái đời sống phải thoải mái cái đã. Có thể mình chấp nhận 5 năm, 10 năm, nhưng mà phải đi qua cái giai đoạn này cho ổn định. Đó là bắt buộc. Cái hóa thành thứ hai là một nội tâm đạo đức vững chắc hơn. Nghĩa là cái tâm đạo đức của mình rất là kiên cường, rất là vững chắc. Ví dụ như trước đây á là mình có thể nóng giận, mình buột miệng nói những lời không hay, nhưng sau này tâm mình rất là bình an, nhẫn nhục, mình thương người, tha thứ. Mình tha thứ nhiều hơn trước cái lỗi lầm của người khác, mình không có gay gắt quá. Cái mà gay gắt trước lỗi lầm người khác quá,
[2:04:43]tức là đạo đức mình cũng chưa nhiều nữa, như vậy. Rồi đối với người khổ, mình rộng lòng giúp đỡ hơn. Nghĩa là cái đạo đức nó vững chắc hơn rõ ràng lắm, không ai làm cho mình lung lay được nữa. Nghĩa là mình đang sống vị tha, không có một người nào tới mà nói này nói kia, xúi mình để cho mình ích kỷ trở lại được. Ví dụ mình đang muốn giúp một cái người nào rất là chính đáng, có người tới cản, nói thôi, giúp làm gì, bao nhiêu cho đủ muối bỏ biển, cảnh khổ trần gian này, thôi, giúp làm chi. Nói nói, mình không lung lay. Tức là cái tâm đạo đức mình đã vững chắc rồi. Đó là một dấu hiệu thứ hai. Mà sống đạo đức như vậy đó, nếu một đời mình sống đạo đức thuần
[2:05:20]như vậy đó, mình sẽ biết trước cái giờ chết của mình. Có nhiều người họ không tu đắc đạo, không có cái trình độ thiền định, họ chỉ có cái đạo đức thôi, kiên cường đạo đức sống một đời quân tử thôi, mà trước khi chết họ biết trước giờ chết. Đó là cái kết quả, cũng là một kết quả tốt đẹp. Mà có cái đạo đức, tự nhiên mình có cái sức mạnh tinh thần, tâm mình vững vàng lắm. Có thể mình chưa đắc đạo, chưa nhập định được, nhưng mà nếu cái đạo đức mình kiên cường á, tự nhiên tinh thần của mình rất là mạnh, tinh thần rất là mạnh. Cái tinh thần mạnh này á, nhiều khi nó mạnh quá như thần thông luôn á. Như ngày xưa ở Việt Nam mình có một ông quan tên
[2:05:59]là Vũ Công Duệ, ông làm quan đời nhà Lê. Ông làm chức ngự sử gì á. Lúc Mạc Đăng Dung nổi lên mới cướp ngôi nhà Lê, thì kêu ông ra làm quan cho nhà Mạc, ông không chịu ra. Thì mới dí ổng, thì ổng đeo cái ấn ngự sử của ổng, ổng nhảy ở cửa biển Thần Phù, ổng chết luôn. Ổng nhảy ổng chết. Thì đến khi mà nhà Lê trung hưng trở lại, mới sai người đúc cái ấn ngự sử, đúc hoài không được. Thì có người mới nói là ngày xưa bị quan Vũ Công Duệ ổng đeo cái ấn đó ổng nhảy xuống cửa biển ổng chết, tức là cái tinh thần ổng rất là mạnh phải không? Vua mới sai người lặn xuống đi tìm. Lặn xuống thấy xác ổng còn nha.
[2:06:38]Ổng ngồi kiết già ở dưới đáy biển á, vẫn đeo cái ấn dưới đó. À, thế mà mới đem xác ổng lên táng, phong làm thần, lấy cái ấn đó về xài, thôi khỏi đúc lại. Tức là cái tinh thần của người ta quá mạnh rồi, cái giống như có thần thông. Khi một cái điều gì đó là một điều đạo đức, một điều chính đáng mà mình kiên cường được, thì tự nhiên mình có cái công đức rất là kỳ lạ. Chúng ta nhớ, cái công đức của một cái người đạo đức, một người quân tử cũng rất là vĩ đại chứ không có đơn giản. Giữa những cái điều sai và điều đúng, nhiều khi mình chấp nhận chết hoặc chấp nhận nghèo để giữ được cái lẽ phải, giữ được cái đạo đức, tự nhiên mình có công đức rất là lớn.
[2:07:16]Ta lấy ví dụ như một ông quan thôi, một người công an hay một người cán bộ nhà nước, thì một bên á là người ta hối lộ mình số tiền rất là lớn, người ta đưa rất là khéo, giống như hối lộ mà không phải hối lộ, chỉ là quà biếu thôi, để cho mình nhân nhượng trong cái đường tơ kẽ tóc, mình cho người ta mở một cái vũ trường hay một cái gì thôi, chút xíu thôi. Thì cũng không gì quá đáng lắm, người ta cũng hứa là vũ trường mình sẽ không có thuốc lắc, vân vân phải không, bảo đảm mọi điều tốt đẹp. Nhưng mà mình vẫn cảm thấy nó có một cái gì hồ nghi, mình không chịu, mình chấp nhận không có nhận số tiền,
[2:07:48]chấp nhận nghèo, chấp nhận tiếp tục đi chiếc xe cà tàng, đó nhưng mà không có nhận một số tiền mình nghi là phi nghĩa. Thì cái người như vậy sau này công đức rất là lớn. Bởi vì cái đời sống mà đạo đức nó có kết quả giống như thần thông vậy á, giống như phép lạ. Thì đây cũng là cái kết quả thứ hai của một người tu đúng trong đạo Phật. Chúng ta không chấp nhận một cái người đệ tử Phật tu lâu rồi mà kém đạo đức. Vì đó là tu sai. Tu sai mới kém đạo đức rồi mới có cái ganh tị, đố kỵ, ích kỷ, đấu tranh với nhau. Cho nên cái dấu hiệu căn bản của một người tu đúng trong đạo Phật là phải có đạo đức, mà đạo đức kiên cường, vững chắc mới được.
[2:08:26]Một cái hóa thành thứ hai nữa là một nội tâm thanh tịnh. Nghĩa là tu đến kết quả tốt thì tâm rất là thanh tịnh. Thanh tịnh này chúng ta chưa nói tới cái nhập được thiền định, nhưng mà trong đời sống luôn luôn rỗng rang, sáng suốt, nhẹ nhàng. Cái thanh tịnh này á, trong Phật gọi là chánh niệm tỉnh giác, ở giai đoạn thứ bảy của Bát Chánh Đạo, sau này chúng ta sẽ nói. Tức là từng giờ từng phút mình thấy rõ được tâm mình. Những cái tâm niệm khởi lên mình biết liền, rồi những tâm niệm rất nhỏ vừa mới manh nha, nhốm nhốm sâu kín là mình đã thấy liền. Cho nên tâm luôn luôn giữ được thanh tịnh. Đó là cái kết quả thứ ba.
[2:09:07]Kết quả thứ ba ở trong đạo Phật, một cái thị trấn thứ ba mà đi đến giai đoạn thứ ba. Còn ví dụ như trong đời sống mình hay bị quên, tâm hay bị vọng tưởng thì biết rằng là mình chưa có kết quả thứ ba. Ví dụ đạo đức có, nhưng mà nhiều khi vọng tưởng nó hay lang thang dẫn mình đi chỗ này chỗ kia thì chưa phải kết quả thứ ba. Kết quả thứ ba là hoàn toàn kiểm soát được tâm mình, giữ tâm rất là nhẹ nhàng, thanh thản, là kết quả thứ ba. Kết quả thứ tư là nhập định hẳn luôn, là như các vị thiền sư, các vị A-la-hán, các vị có thể nhập định được thời gian rất là dài, nhiều giờ, nhiều ngày. Kết quả thứ năm là trí tuệ.
[2:09:45]Trí tuệ tức là hiểu được đạo lý rất là sâu, đồng thời biết được nhiều chuyện bí mật trong vũ trụ, trong cuộc đời của con người. Như mình nói là biết được tâm người khác, thấy được những cõi giới khác, nhìn thấy suốt được nhân quả chúng sinh, đó giống như là thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, thần túc thông, vân vân. Gọi là trí tuệ đó. Cái thần túc thông thì thuộc về thần thông. Kết quả thứ sáu là thần thông. Ta có thể làm, như Phật dạy thần túc thông là người này có thể bay, phi hành biến hóa được, biến một thân ra nhiều thân, nhiều thân gom lại một thân, hiện ra nước, hiện ra lửa, độn thổ, đi trên mặt nước như đi trên đất bằng,
[2:10:25]bay lên hư không, một tay có thể che át cả mặt trời, vân vân. Đó là những cái thần thông mà Đức Phật nói trong kinh điển, đó là một cái giai đoạn, đó là một kết quả thứ sáu. Và kết quả cuối cùng đúng nghĩa là giải thoát hoàn toàn khỏi luân hồi sinh tử. Nghĩa là không một cái nghiệp lực nào còn có thể lôi chúng ta, làm chúng ta phải tái sinh trở lại, đầu thai trở lại, hoàn toàn chấm dứt. Bất cứ cõi nào mình cũng không cần phải tồn tại. Chúng ta không cần phải xuất hiện ở cõi Trời, không cần phải xuất hiện ở cõi người, ở đâu hết. Nhưng mà khi nào muốn, tùy nguyện thì trở lại. Khi nào muốn tùy nguyện thì xuất hiện trở lại để độ chúng sinh.
[2:11:01]Chứ còn mà nói cái gì ép chúng ta để xuất hiện ở cõi Trời, không có cái gì ép được. Cái gì ép chúng ta phải đầu thai vào thai mẹ cõi người là không có bao giờ có. Hoàn toàn giải thoát. Mà cái chỗ giải thoát hoàn toàn này vĩ đại lắm, chúng ta một lời nói không có hết được, không hết được đâu. Đó là mình nói bảy cái giai đoạn, bảy cái kết quả của một người tu theo đạo Phật, mà có kết quả nhỏ rồi lớn dần lớn dần. Nhưng mà nãy giờ đó là cái kết quả của bản thân, đó là sự giải thoát của bản thân mà thôi. Nghĩa là chúng ta tu từ lúc mà đời sống mình được dễ chịu thoải mái cho tới ngày chúng ta được giải thoát, là chỉ chuyện của bản thân.
[2:11:36]Nhưng mà từ cái giải thoát bản thân này mà tiến đến cái giáo hóa chúng sinh rộng rãi, lớn dần lớn dần, nó lại là một quá trình lâu dài tiếp theo. Đây là một điều rất là khác. Chúng ta đừng nghĩ một cái người ngộ đạo, đắc đạo rồi là đều có thể dạy đúng cho mọi người. Đây là một điều rất là kỳ lạ, điều rất là kỳ lạ, là có những người đắc đạo rồi mà dạy không hay, dạy dở, kỳ cục vậy đó. Đây là điều rất là lạ. Cho nên cái khả năng mà dạy dỗ lại là thuộc một cái duyên khác, một cái nhân quả khác, một cái phước khác. Giống như là có người vậy, có bằng cấp tiến sĩ nhưng mà lên dạy người ta không thích, không thích. Có không? Đã gặp chưa?
[2:12:24]Có người bằng cấp cao nhưng mà dạy thì mình chán, mà có những người không có bằng cấp gì hết mà khi dạy mình lại, mình lại thích. Trong cuộc đời nó có như vậy, có cái kỳ lạ như vậy. Thì những vị thánh cũng vậy á. Có những vị gọi là thần thông trí tuệ, cái gì cũng biết hết trơn á, nhưng mà dạy người ta người ta tu trật lất hết trơn à. Dạy người ta hơi thở, người ta thở một lát người ta muốn điên luôn. Kỳ khôi vậy. Dạy người ta quán, quán chút lát nổ tung cái đầu luôn. Ờ, kỳ lạ như vậy. Cho nên, từ cái mà mình thành tựu được cho bản thân mình rồi mà tiến lên đến giai đoạn giáo hóa rộng rãi, chúng sinh đều được giác ngộ,
[2:12:57]đều được lợi ích an lành lại là một cái nhân quả khác. Nghĩa là vị Bồ Tát này phải gieo một cái nhân khác trong nhiều kiếp nữa, chứ không phải là đơn giản. Nên đó lúc này mới mở ra Bồ Tát đạo. Bồ Tát đạo là những vị thánh là sau khi phần mình đã được an lành tự tại rồi, lại tiếp tục tạo thêm phước, tạo thêm phước bằng cách là thường xuyên cúng dường những vị thánh lớn hơn mình, những vị Phật đi trước mình, thường xuyên gieo duyên giúp đỡ chúng sinh, thân cận người này người kia, ủng hộ người này người kia, vân vân. Họ phải gieo cái duyên cái phước đó trong nhiều kiếp nữa, trong rất nhiều kiếp nữa, mà trong kinh Phật thường hay nói là vô lượng kiếp á.
[2:13:39]Mình đọc trong Kinh Pháp Hoa nhiều khi mình ngạc nhiên, ví dụ như là Đức Phật thọ ký cho ngài này là năm ngàn kiếp nữa, hay một triệu kiếp nữa sẽ thành Phật ở cõi đó. Mình nói: "Thôi, một triệu kiếp nữa thôi chơi cho sướng chứ tu không nổi". Nghe nói tới một triệu kiếp nghe ớn. Nhưng mà cái nhìn của bậc trí tuệ là vậy đó. Họ nhìn suốt tới cả triệu kiếp, hai ba triệu kiếp họ thấy bình thường. Mà tới chừng đó kết quả mới viên mãn. Nghĩa là trong suốt từ đây cho tới một triệu kiếp đó, vị này chỉ đi làm hạnh Bồ Tát, đi gieo duyên với chúng sinh, nhiều khi chỉ là một người quét dưới gầm cầu thôi, hoặc là một người chỉ đi đắp đường bình thường thôi,
[2:14:16]hoặc là một người làm thầy thuốc đi lang thang chữa bệnh cho người ta thôi, đó. Nghĩa là đi gieo duyên lặng lẽ, rồi tùy duyên, nghĩa là dẫn dắt ai được đến với đạo thì dẫn dắt, mà phải tu cái hạnh đó trong nhiều kiếp như vậy thì sau này khi mà thành bậc Bồ Tát lớn rồi đó mới nói lên cái giáo pháp mà làm vô số người phải quy phục. Người ta nghe người ta hấp dẫn, người ta thích thú và người ta chuyển hóa, người ta chịu tu theo mình, thì đó là cả một quá trình nhân quả rất là lớn nữa chứ không có đơn giản. Chứ chúng ta đừng tưởng là tôi biết ngồi thiền tôi nhập định được, tôi đắc đạo rồi là tôi nói pháp ai cũng nghe. Không, không có.
[2:14:50]Khi nói người ta ngủ chứ không nghe. Ở đây thấy có mấy người đang ngủ đâu mất tiêu rồi. Cái sự xuất hiện của kinh tạng Đại thừa là một điều rất là lạ trong Phật giáo. Ở đây đó chúng ta nói lại một điều nữa: theo sử học, sử học tức là khoa học á, một cái điều chắc chắn thì kinh Đại thừa không phải Phật thuyết. Kinh Đại thừa xuất hiện sau Phật từ 200 năm, 600 năm, 1.000 năm, như là bộ Tiểu Phẩm Bát Nhã là xuất hiện sau Phật 200 năm. Nhưng mà giá trị của kinh Đại thừa thì thật là đặc biệt, những đạo lý trong đó rất là sâu, rất là sâu. Cho nên quý thầy mà Bắc tông á, quý thầy Bắc tông Đại thừa đó mà học hiểu về kinh tạng Nguyên thủy Nikaya
[2:15:36]đó, nhiều khi hiểu sâu hơn cả các sư Nguyên thủy. Bởi vì nhờ sự gợi ý của kinh Đại thừa, kinh Đại thừa mở ra chân trời mới cho đạo Phật, mênh mông bát ngát luôn. Rất là lạ lùng. Nhưng nói về hạnh Bồ Tát, nói về tâm đại bi, ví dụ như là trong kinh Nguyên thủy á thường chỉ nói Niết bàn là chỗ tịch diệt, chấm dứt hết đau khổ. Nói nhiêu đó ai hiểu sao hiểu. Nhưng mà trong kinh Đại thừa như kinh Đại Bát Niết Bàn nói thế này: Đại bi tức là Phật tánh, Phật tánh tức là đại bi. Lại nhấn mạnh cái khía cạnh của cái Niết bàn giải thoát á, chính là cái tâm đại bi vô tận, chứ không phải là chỉ có khía cạnh tịch diệt mà thôi.
[2:16:17]Mình tuy nghe tịch diệt mình tưởng không còn gì, vắng lặng tối thui, không có, không phải. Chính cái Niết bàn đó là tâm đại bi vô tận. Cho nên kinh Đại thừa đã mở ra nhiều giáo lý rất là đặc biệt, mà đặc biệt nhất là cái lý Không, tất cả đều là không. Cái lý Không này thì lại là con dao hai lưỡi của Đại thừa. Cho nên nếu một người mà không có tu tập đạo đức, không có tu tập lòng từ cho kỹ, mà vội vàng tu tập cái lý Không, thì người này sẽ là một người trở thành thụ động, tiêu cực và làm cho đạo Phật bị tàn lụi, là họ không có năng nổ để làm việc, để tu phước, để giúp người. Cho nên nói mở miệng nói cái gì cũng không,
[2:16:56]nên mình đoán ngay người này bệnh chứ không phải là hiểu Đại thừa. Người hiểu Đại thừa mà nói lý Không á là rất dè dặt nói lý Không, mà thường là phải nói nhân quả trước, nói từ bi trước. Chỉ có người nào mà hiểu nhân quả rất sâu, người nào có cái tâm từ bi rất lớn, người đó mới được nghe nói về lý Không, mới được quyền mở miệng nói về lý Không. Nhưng mà thời nay chúng ta hay bị cái vấp ngã, chúng ta hay bị vấp ngã là chúng ta hay thích dạy về lý Không nhiều quá, mà không có nhấn mạnh cái căn bản là cái lý nhân quả và lòng từ bi, do đó đạo Phật của mình bị hơi, hơi vênh, hơi vênh hơi nghiêng. Do đó chúng ta phải chỉnh lại là lấy lại cái căn bản
[2:17:37]về cái luật nhân quả và lòng từ bi cho thật kỹ trước khi mà chúng ta nhìn thấy tất cả đều là không, nhớ như vậy. Tại sao mà chúng ta phải nhấn mạnh cái từ bi trước khi nói lý Không? Ở đây nó có ba cái giai đoạn của một vị Bồ Tát trong đạo Phật. Ba cái tâm hạnh, ba cái công hạnh hay là ba cái tâm hạnh của một vị Bồ Tát trong đạo Phật chúng ta có thể bắt chước được. Cái thứ nhất là tâm đại bi. Thứ hai là lý Không và thứ ba là Phật sự, Phật sự. Thứ nhất là tâm đại bi nè, thứ hai lý Không, thứ ba là Phật sự. Đây là ba giai đoạn mà chúng ta để ý lại tâm mình nha. Thứ nhất là từ bi, tức là lòng thương yêu con
[2:18:20]người, chúng ta phải tu cái lòng này trước. Chúng ta phải tu, nghĩa là mỗi ngày chúng ta phải tự nhắc nhở mình thương yêu tất cả chúng sinh, mỗi ngày phải nhắc như vậy. Đừng để mà quên, một tuần nhắc là không được, không có kết quả. Mỗi tuần nhắc một lần hay mỗi tháng nhắc một lần là không bao giờ thành kết quả. Mỗi ngày phải nhắc vài lần là nguyện lòng thương yêu tất cả chúng sinh. Chúng ta tu như vậy cộng với cái thiền định, cộng với công đức, từ từ cái tâm từ bi mình có thật, nghĩa là luôn luôn mình thương yêu cuộc đời. Đó là cái tâm hạnh đầu tiên của một vị Bồ Tát, chúng ta tu cái này được.
[2:18:51]Thứ hai mới bắt đầu tu cái lý Không. Lý Không tức là nhìn thấy tất cả thế gian này như một giấc mộng, bản thân mình như một giấc mộng, cuộc đời như một giấc mộng. Đó là cái thứ hai để cho tâm mình vượt qua được mọi chấp trước mà nhập được định, mà giác ngộ. Tu được lý Không á tâm mình mới vào định được, thấy tất cả đều là hư ảo hết, mà hư ảo đi theo cái nhân quả biến thiên chứ không phải là hư ảo một cách bừa bãi. Đó là giai đoạn thứ hai. Cái thứ ba á là bắt đầu mới đi làm Phật sự. Đi làm Phật sự là sao? Là bắt đầu mới đi giáo hóa nè, giúp đỡ nè, bố thí, làm phước, cứu trợ, cúng chùa, vân vân, làm nhiều chuyện.
[2:19:35]Mà tại sao cái Phật sự mới là cái cuối cùng? Ai biết? Thế như một người Phật tử bình thường mình á là mình thấy mình đi làm Phật sự được rồi. Hùn tiền nhau mình đi cứu trợ, làm từ thiện rồi, hùn tiền nhau in kinh ấn tống là làm Phật sự được rồi. Thì mình thấy mình làm phàm phu thì mình cũng đã làm Phật sự được rồi, thế mà tại sao mình phải đi qua lý Không mới được quyền làm Phật sự thì mới là hạnh của Bồ Tát? Bây giờ mình làm Phật sự chỉ là phàm phu mà làm Phật sự, mà Bồ Tát làm Phật sự là phải đi qua cái lý Không, là tại sao? Đúng rồi. Nghĩa là vị Bồ Tát khi đi qua được cái lý Không rồi đó, làm mà không thấy có làm.
[2:20:19]Còn mình hiện nay mình làm mà có có làm, tức là mình nhớ kỹ. Mình làm là mình biết bữa đó mình đã cho ai tiền, mình đã cúng chùa bao nhiêu, mình đếm rất là kỹ và mình hy vọng có cái phước để cho kiếp sau mình được được giàu sang. Đó là phàm phu mà làm Phật sự. Còn vị Bồ Tát làm Phật sự là vì lòng thương yêu chúng sinh nè, vì thấy tất cả là Không nè, vậy mà vẫn năng nổ làm mọi điều tốt đẹp cho cuộc đời. Đó gọi là cái Phật sự của Bồ Tát, cái đại hạnh của Bồ Tát. Mình thì gọi là Phật sự cho dễ hiểu, chứ gọi Bồ Tát gọi đó là đại hạnh, bởi vì làm mà không thấy làm đó gọi là đại hạnh của Bồ Tát. Bây giờ chúng ta nói qua về những cái quả chứng
[2:21:00]thánh theo Phật dạy là có bốn quả vị. Thứ nhất là sơ quả Tu-đà-hoàn, thứ hai là Tư-đà-hàm, thứ ba là A-na-hàm, thứ tư là A-la-hán. Cái bài Diệt đế này thì hơi cao, hơi sâu, hơi dễ ngủ nha, mình ráng. Mình nghe giống như nghe thần chú á, cái bài này nó vậy, vì Diệt đế cao quá. Cái sơ quả Tu-đà-hoàn là sao? Sơ quả Tu-đà-hoàn là một vị thánh mà nhìn vô vẫn bình thường lắm, mình không biết. Chỉ có một điều là thế này, có một điều là người đó vĩnh viễn không bao giờ đọa vào ác đạo là cái thứ nhất. Người đó chỉ ở hai cái thân: hoặc là cõi người, hoặc là cõi trời là thứ hai. Người đó sẽ có một ngày chắc chắn phải đắc đạo, không biết lúc nào.
[2:21:47]Không phải bảy kiếp nha, có thể nhiều kiếp, nhưng mà chắc chắn người đó sẽ đắc đạo. Đó là ba cái kết quả mà người chứng sơ quả đạt được. Thứ nhất không bao giờ đọa vào súc sinh, địa ngục, ngạ quỷ. Thứ hai, họ chỉ tồn tại ở hai thân: thân trời, thân người. Và thứ ba, phải có một ngày đắc đạo, không biết ngày nào, nhưng chắc chắn rồi. Nếu mình chưa chứng Tu-đà-hoàn á thì mình không chắc chắn là mình có cái ngày nào sẽ đắc đạo, vì chưa có cái nhân quả. Nhưng mà chứng Tu-đà-hoàn rồi sẽ có ngày chứng đạo. Cái người Tu-đà-hoàn á ví dụ như họ có làm tội rất là nặng, họ có lỡ tay làm tội rất là nặng, họ vẫn lỡ tay làm tội nha,
[2:22:25]đừng tưởng là không, người chứng Tu-đà-hoàn vẫn có thể lỡ tay làm tội, nhưng mà họ không bao giờ bị đọa vào ác đạo là súc sinh, địa ngục, ngạ quỷ, mà họ chỉ trả ở kiếp người thôi. Họ sẽ làm cái con người rất là khổ, nhưng không đọa. Nghĩa là khổ tàn canh gió lạnh luôn, coi như là lang thang lếch thếch gì đó, phải chịu qua cái nghiệp cực kỳ khốn đốn để trả cái nghiệp xưa. Nếu một người khác không chứng Tu-đà-hoàn á mà tạo cái tội đó đó, thì phải đọa liền, làm thú liền, xuống địa ngục liền. Nhưng cái người Tu-đà-hoàn làm cái tội giống y như vậy thì không đọa, trả ở kiếp người. Cho nên người nào mà thấy mình quá khổ,
[2:23:05]coi chừng mình chứng Tu-đà-hoàn rồi đó nha. Không chịu xuống địa ngục mà cho khổ, cho nên nhiều khi mình than nhen, nói: Trời ơi, sao cuộc đời con quá khổ, khổ như địa ngục. Coi chừng mình đã chứng Tu-đà-hoàn rồi đó, là mới trả ở kiếp người. Có ai vậy không? Đó, nhiều lắm á, coi bộ chứng nhiều, Tu-đà-hoàn coi bộ nhiều dữ rồi đó. Nhưng mà thêm cái này nữa, thêm một cái đặc tính của Tu-đà-hoàn này nữa là Đức Phật nói: Người đó không có đôi bàn tay nắm lại. Nghĩa là sao? Người đó sống rất là tốt với mọi người. Nghĩa là phải thêm cái đó mới Tu-đà-hoàn nha, chứ khổ rồi kêu khổ quá chưa phải Tu-đà-hoàn,
[2:23:41]mà phải sống rất là tử tế với mọi người thì coi chừng hy vọng mình là Tu-đà-hoàn. Có không? Ai đâu giơ tay lên! Cũng nhiều à ha, không ít, cũng nhiều à, ừ. Rồi thêm cái điều này nữa nè, là người đó đối với Phật pháp có một cái quyết tâm kỳ lạ, có một cái niềm tin vững chắc không lung lay được nữa. Đó là dấu hiệu của Tu-đà-hoàn. Còn ví dụ như mình đối với Phật pháp mà hồ nghi, ai nói bên đây ít bữa mình tự nhiên đổi qua đổi lại lung lay thì không phải Tu-đà-hoàn. Tại Tu-đà-hoàn không còn cái do dự đối với đạo nữa, có một cái quyết tâm kỳ lạ lắm, gọi là kiên cường giữ đạo, thà chết chứ không bao giờ bỏ đạo.
[2:24:19]Đó là dấu hiệu của Tu-đà-hoàn. Ví dụ ai kê súng vô đầu mình kêu mình bỏ đạo thì mình cứ nói thôi bóp cò đi chứ không bỏ đạo, kiên cường như vậy. Hoặc ai đem cho mình thiệt nhiều tiền nói bỏ đạo Phật đi, qua đạo tui tui cho nhiêu đây tiền, thì mình không chịu. Không bao giờ mình chấp nhận là đánh đổi cái đạo mình, cái niềm tin của mình để lấy tiền bạc vật chất. Đó là dấu hiệu của Tu-đà-hoàn. Có ai không? Có ai vậy chưa? Ai vậy nói: Đưa cho 10 triệu kêu bỏ đạo, mình nói: Thôi 11 đi, trả một tiếng. 11 chứ 10 triệu ít quá. Còn cái bậc mà chứng là nhị quả đó, Tư-đà-hàm á, thì trong kinh ghi là tham sân được muội lược, tức là tham sân rất là mỏng, rất là nhẹ.
[2:25:05]Cái nghe câu này mới rất là lạ ha, mình nghe nói là một bậc thánh mà tham sân còn, mà rất ít, mình không hiểu. Mình cứ tưởng là như nãy mình nói bậc thánh sơ quả thôi là đã không còn đôi bàn tay nắm lại, tức là sống tử tế mọi người là không còn tham, phải không? Thế tại sao mà nói tới chứng nhị quả rồi lại vẫn còn tham, vẫn còn sân, mặc dù nó tế, tế? Có không? Có. Bây giờ lỡ đây thử ai chứng Tư-đà-hàm đi biết liền à. Mình thấy là mình rất tốt với con người, mình có tiền mình sẵn sàng bố thí, phải không? Nhưng mà nếu có ai đó dụ mình là nếu mà làm cái này chứ có thể trúng mánh một cái lời được mấy tỷ, nghe vẫn ham liền.
[2:25:47]Mặc dù có 10 tỷ rồi không xài, khổ vậy! Vì một cái người mà chứng thánh rồi đó, có 10 tỷ đồng rồi không xài. Làm gì? Cũng đi làm phước cho thiên hạ. Nhưng mà nghe 10 tỷ ham cái đã. Đó, cái đó là cái tế, cái tham tế của một bậc thánh mà nhị quả đó, ừ, nhị quả còn. Rồi cái sân cũng chưa hết. Cái sân cũng, cái nóng á, nóng chưa hết. Không có cái nóng như phàm phu là giận đùng đùng, chửi bậy chửi bạ, nhưng mà bực nhè nhẹ. Có ai làm cái gì sai đó, bực nhè nhẹ thì đó là coi chừng mình chứng Tư-đà-hàm đó nha. Nghĩa là ai mà không có nóng mà còn bực nhè nhẹ, coi chừng mình đã chứng Tư-đà-hàm. Hoặc là nghe nói tới tiền, mình hay giúp người lắm nhưng mà nghe tiền
[2:26:30]thì cũng còn ham hơi hơi, coi chừng mình chứng Tư-đà-hàm rồi đó nha. Có không? Giơ tay lên để tôi biết mà tôi lễ nha, chứ ngồi dưới tôi tổn phước. Có không? Hả? Còn tam quả A-na-hàm á, là người này được Phật nói là không còn trở lại cõi này nữa, không còn trở lại. Nghĩa là vị này đó khi chết sinh lên cõi trời, tu trên cõi trời cho tới khi đắc đạo luôn chứ không còn phải xuống làm người nữa. Vị này đặc biệt là chấm dứt hoàn toàn tham và sân, tham và sân. Vì không còn tham, không còn sân nên không còn cái duyên với cõi người nữa. Chúng ta còn duyên với cõi người bởi vì chúng ta còn tham và sân chút chút, vẫn trở lại, vẫn trở lại.
[2:27:17]Trừ trường hợp mình là đại Bồ Tát thị hiện thì mình mang thân con người mà không tham, không sân. Hoặc là mình đã đang mới vừa chứng đạo thì mình không tham, không sân. Chứ còn nếu mình có mặt ở đây thì phải biết rằng chắc chắn mình có tham, có sân, mà không biết nhiều hay ít thôi. Đó, nếu nhiều thì mình là một phàm phu hơi thô, mà nếu ít, mỏng quá, coi chừng mình đang là thánh mình không hay. Nhớ, phải về mình coi lại, nếu mà mình thấy mình tham sân quá ít, tế tế, coi chừng mình chứng đã nhị quả, mình phải tới báo cho thầy trụ trì biết liền. Tới phải báo biết liền chứ đừng có để uổng, để uổng, không ai biết uổng lắm, phải không?
[2:27:53]Phải sáng... Còn tứ quả A-la-hán, tứ quả A-la-hán thì tuyệt vời rồi phải không? Đó, đầy đủ thần thông tự tại hết. Ở đây chúng tôi có nói điều này, những tính chất của một vị thánh trong bài giảng 10 Kiết Sử, mọi người cố gắng lấy nghe bài này sẽ kỹ hơn. Nay bởi vì trong cái bài Diệt đế mình không có nói được hết, nhưng riêng cái bài 10 Kiết Sử chúng tôi có phân tích về những vị thánh này. Trong đạo Phật lại có bốn cái tầng bậc về thiền định, từ Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền. Lại có những tầng bậc về định là: Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi phi tưởng xứ, Diệt tận định.
[2:28:30]Đó, có những cái tầng bậc định. Thì có nhiều người thắc mắc là giữa tứ quả thánh với lại tứ thiền có tương quan, có giống nhau hoàn toàn hay không? Nói: Không, không giống nhau. Tứ quả thánh và tứ thiền khác nhau, không có giống gì hết. Vì cái người mà chứng Sơ thiền á, cái tự tại của họ hơn cái người chứng sơ quả.
[2:28:52]Cái người mà chứng Nhị thiền á thì họ xấp xỉ như là cái Nhị quả, người chứng Tam thiền thì bằng Tam quả, Tứ thiền thì bằng nhau. Tứ thiền và Tứ quả như nhau. Nhưng mà ở giai đoạn đầu á, cái thiền định đi một đường riêng mà quả Thánh đi một đường riêng. Quả Thánh á đi theo cái con đường đạo đức, còn cái Tứ thiền á đi theo cái mức độ định tâm. Hễ mình định sâu thì Đức Phật xếp mình vào một cái mức độ thiền khác, mình sâu hơn thì xếp mình vào mức thiền khác. Còn ở quả Thánh á thì đánh giá theo đạo đức. Mình đạo đức sâu thì mình là một vị Thánh cao, mình đạo đức ít thì mình là vị Thánh thấp, đánh giá theo đạo đức.
[2:29:32]Vì vậy, chúng ta phải tu cả hai. Vì sao vậy? Bởi vì thiền định hỗ trợ cho đạo đức. Chúng ta nhờ đạt được định sâu mà chúng ta mới có cái trí tuệ, mới có được cái đạo đức sâu, chứ nếu không có thiền định mình không có đạo đức. À ví dụ như nãy chúng ta nói cái tham sân vi tế đó, bây giờ mình là người thích làm phước dữ lắm, thích giúp chùa này, thích cúng chùa kia, thích đi cứu trợ nạn nhân nghèo khổ rồi thích ủng hộ học sinh, sinh viên nghèo. Mình thích làm phước dễ sợ lắm, cái tâm đó tốt không? Rất là tốt, nhưng mà có phải là mình có đủ tiền để làm không? Không, thì mình phải đi, đi quyên, phải không?
[2:30:08]Đi xin, đi vận động. Nên trong đầu mình lúc nào cũng nghĩ tới, tới... tiền, đúng. Nó kỳ cục vậy đó. Một cái người đó không có chịu làm phước, lúc nào cũng sống lo làm giàu á, lo cho bản thân mình thì trong đầu lúc nào cũng nghĩ tới, tới tiền. Còn mình là người tốt dễ sợ lắm, lo làm phước trong đầu lúc nào cũng nghĩ tới tiền, giống y chang nhau. Nhưng mà ở đây đó, chính nhờ thiền định á là mình không bị lầm. Cùng nghĩ tới tiền giống nhau á, mà nếu mình không có thiền định mình bị gạt liền. Bị gạt làm sao? Là từ từ khi mình cứ đi tìm tiền đi tìm tiền riết bắt đầu mình rơi vào cái bệnh tham tiền y như một phàm phu luôn.
[2:30:49]Có thể mình rơi vào mánh mung, có khi làm những chuyện luồn lách để có tiền mà đi làm phước luôn. Bị luôn chứ không phải không đâu. Nói nhiều khi nói dóc ai chút xíu có ít tiền để đi làm phước. Thì cái đó vẫn là cái tham của phàm phu, không phải của Thánh. Mà ở đây do thiền định mình thấy được điều đó. Vì vậy, khi tâm mình định sâu mình phát hiện ra ờ cái thường mình nghĩ về tiền này bắt đầu thành bệnh rồi nè, bắt đầu thành tham rồi, phải buông ra. Nên phải làm mà như không làm, có làm không có thôi, tùy duyên, chứ không phải lúc nào cũng chạy vạy đi kiếm tiền, năn nỉ đầu này, nói dóc đầu kia kiếm tiền đi làm phước, không có.
[2:31:24]Đó, do thiền định mà mình đạt được cái đạo đức sâu. Cũng như cái sân cũng vậy, là chính nhờ thiền định mà mình mới phát hiện ra được những cái bực bực nhẹ nhẹ trong lòng mình nó còn tồn tại. Bởi vì mình biết tu lâu rồi mình không còn có những cái nóng thô, nó thành cái hung dữ hay thành cái ác. Cái mức độ thô nhất là cái ác độc, thấp hơn là cái hung dữ, cái thấp hơn nữa là cái nóng nảy, thấp hơn nữa là bực bội. Thì do thiền định mình thấy được từng bước từng bước của cái tâm mình nó nóng như thế nào, nhưng mà mình bỏ hết. Cái ác là dứt khoát đã bỏ từ lâu, khi vào cửa chùa là bỏ ở ngoài cổng chùa rồi.
[2:32:01]Cái hung dữ thì rớt ở ngay cửa chùa rồi từ từ mình quét đi. Rồi cái nổi nóng cũng còn à, đụng bạn đạo còn nhưng mà tu thiền thời gian mình bỏ luôn. Tới khi cái bực bội thì phải hơi thời gian dài, đợi định mình có chút xíu mới bỏ được cái bực bội. Mà định mình sâu chút xíu, đạo đức tăng lên, mình mới bỏ được cái bực, mới còn cái bực chút chút chút chút, lúc đó mới là Tư Đà Hàm. Đó nhờ thiền định mà đạo đức được tăng trưởng. Vì vậy là người nào mà tu đúng con đường của đạo Phật là phải tu cả hai, vừa thiền định vừa đạo đức. Còn nếu người đó chỉ tu một bề thiền định thì người đó vĩnh viễn không chứng được Thánh trong đạo Phật, chỉ đắc thiền.
[2:32:42]Đắc thiền rồi làm thầy pháp, làm một thầy phù thủy thôi, không phải là một bậc Thánh. Phải có đạo đức, phải tu dưỡng đạo đức. Nghĩa là vừa ngồi thiền luôn luôn kiểm soát sai đúng trong tâm mình thì người đó là mới là một vị Thánh trong đạo Phật được. Còn nếu mình nói tôi chỉ tu đạo đức không tu thiền thì sao? Thì đạo đức không thành tựu. Vì không có định sâu chúng ta không có thành tựu được cái đạo đức trong tâm mình. Đạo đức có được là do tâm an định, tâm định càng sâu đạo đức càng sáng. Như vậy, nhớ hai điều đó là như vậy. Trong cái bốn thiền á thì chúng ta có năm cái giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất á là chánh niệm tỉnh giác.
[2:33:19]Chánh niệm tỉnh giác là tâm rất là rỗng rang sáng tỏ, cái vọng tưởng vừa nhóm khởi chút xíu manh múm là biết liền. Nó là vừa nghĩ mà chưa thành lời nói, mới nhóm rất nhẹ trong một sát-na mình thấy buông bỏ liền. Là đó là cái chánh niệm tỉnh giác. Còn cái Sơ thiền á là tâm tự động ở trong định luôn, mình không phải dụng công nữa, không có cố gắng nữa. Tự nó cũng còn vọng tưởng nhưng mà tự khởi tự mất tự khởi tự mất và tự nhiên giữ mình trong định. Cái Nhị thiền á là hoàn toàn tắt cái vọng tưởng, những cái vọng tưởng vi tế chấm dứt, nhưng mà cái biết còn, cái biết còn, bắt đầu có thần thông hơi hơi rồi.
[2:33:55]Đây là bức tranh thứ bảy trong nhà thiền á. Cái Tam thiền á là cái người này bắt đầu có thần thông nhiều rồi, vào hẳn trong thế giới vô thức luôn, người này có thần thông rất là nhiều. Cái niềm an lạc rất là lớn, thấy được cái thế giới siêu hình, thấy được quỷ thần hay thấy được chư Thiên rồi, Tam thiền. Không gian và thời gian được cảm nhận một cách khác, là chúng ta không còn thấy không gian lớn quá, thấy thời gian quá xa nữa. Cái người mà chứng Tam thiền họ thấy không gian và thời gian rất gần lại. Đó là bức tranh thứ tám của Thiền tông, bức tranh chăn trâu thứ tám. Còn Tứ thiền á gọi là xả niệm thanh tịnh không
[2:34:32]khổ không lạc, những cảm thọ vi tế hết. Từ chỗ này khởi lên trí tuệ, chứng được tam minh lục thông rồi thành A-la-hán luôn á. Thì những cái bậc thiền định này mình không có thời gian để nói nhiều, lẽ ra là chúng ta phải nói kỹ, khi mà nói về Diệt đế những điều này phải nói kỹ. Nhưng mà nói nó chuyên sâu quá mình rất là dễ ngủ, nghĩa là mình nói chưa tới Tứ thiền thì dưới kia ngủ thiền hết rồi, cho nên vì nó chuyên môn quá nên không nói. Chỉ có người nào mà mình dụng công tu thiền nhiều á thì phân tích những điểm này nghe rất là thích, rất là lý thú. Người nào mà tinh tấn tu thiền á, mình nêu từng điểm về Tứ
[2:35:09]thiền ra cái mình đối chiếu với cái dụng công trong tâm mình, à Nhị thiền là sao, Tam thiền là sao, mình đã được điểm nào, mình chưa được điểm nào, mình rất là thích. Còn bây giờ mình hầu hết dưới này có nhiều người chưa có tu thiền á, vậy nên mình không nói nhiều. Có một điều thế này, có một điều đáng buồn trong đạo Phật mình là thế này, là xa Phật chừng nào thì cái quả chứng của con người giảm dần chừng nấy, nó gọi là cái thời mạt pháp. Cái thời chánh pháp của Đức Phật á cái người chứng đạo A-la-hán rất là nhiều, nhất là vào thời Đức Phật chứng rất là nhiều. Rồi sau khi Đức Phật nhập Niết bàn, thời gian về sau những vị mà chứng A-la-hán
[2:35:47]giảm dần giảm dần đi, bớt dần bớt dần, là những vị thiền sư á. Những vị thiền sư là những vị mà chứng ngộ cũng rất là độc đáo nhưng mà chưa A-la-hán. Có một số vị có thần thông, kiến giải rất là xuất sắc, nhưng mà chưa có lục thông như A-la-hán. Bởi vì một điểm đặc biệt của A-la-hán là biết được vô lượng kiếp của mình, vô lượng kiếp của người khác. Tìm muốn biết tiền kiếp của mình nhập định lại là biết hết toàn bộ từ những vô số kiếp xưa mình đã sống ở đâu, đã sinh ở đâu, làm những hành nghiệp gì biết hết. Hoặc là muốn biết người khác cũng vậy, là nhập định rồi là quan sát là biết hết vô số kiếp
[2:36:22]của một người khác, họ đã sinh ở đâu, làm những hành nghiệp gì, nhân quả ra sao, tên tuổi là sao, biết hết. Thì những vị thiền sư không được như vậy. Nha, đó là giai đoạn mà xa Phật giảm dần giảm dần. Rồi sau này nữa cái điều đó cũng không còn luôn, mà người ta chỉ còn đạt được cái chánh niệm tỉnh giác thôi. Là tâm rỗng rang sáng tỏ coi như vậy là Thánh rồi đó, Thánh mà thực sự chỉ là được chánh niệm tỉnh giác. Rồi sau này nữa bắt đầu cái đó không còn luôn, mà chỉ còn coi cái giáo lý của Phật như là một hệ thống triết lý lý luận thôi. Nghĩa là ai lý luận hay người đó là coi như giỏi, người đó coi như Thánh.
[2:36:57]Sự thật là không còn nữa, nghĩa là lúc đó người đó hiểu về Đức Phật rất là cạn. Là hiểu Đức Phật như là một triết gia ngồi dưới cội cây Bồ-đề tư duy suy nghĩ điều này điều kia rồi đi giảng. Chết như vậy đó, chết như vậy. Không hiểu được cái tâm chứng của Phật vĩ đại mà tưởng Phật như mình á, là Phật cũng chỉ là một triết gia bình thường, ngồi bốn mươi chín ngày dưới cội cây Bồ-đề không ăn uống để mà suy nghĩ, suy nghĩ điều này điều nọ rồi đứng lên đi nói. Trời ơi, hiểu Phật như vậy đúng là thiệt là tội nghiệp, mà như vậy mang tội rất nặng mà làm cho giá trị của đạo Phật giảm dần giảm dần. Nên đây là chỗ chúng ta thấy là Đức Phật nói rất là hay về cái thời mạt
[2:37:35]pháp, xa Phật chừng nào cái quả vị của người ta giảm chừng nấy. Mà giảm đến cái mức độ chỉ còn là à lý luận suông thì đúng là đạo Phật gần như mất á. Nên hôm nay chúng ta hiểu điều này để chúng ta quyết tâm tu để mà chứng lại được từng cái mức định, chớ đừng có để mà hiểu đạo Phật chỉ là hiểu trên lý luận, trên ngôn ngữ rất là uổng, là chúng ta phải hiểu đạo Phật bằng cái nội tâm thanh tịnh thật sự, là chúng ta ráng tu thiền để từng bước từng bước đạt được cái định sâu thật sự như vậy. Chúng ta nói một vài cái nhân duyên về trường hợp mà đắc đạo của người xưa một chút. Có một lần Đức Phật đang đi khất thực,
[2:38:17]có một cái vị du sĩ ngoại đạo đến quỳ dưới chân Phật xin giảng pháp, xin học. Nghĩa là ngài cũng có cái nhân duyên gì đặc biệt quỳ xuống. Lần thứ nhất Đức Phật từ chối để thử tâm ổng thiết tha, mà để dồn cái tâm ổng cho thiệt thiết tha. Chúng ta thấy có những vị thầy mà họ từ chối là để để ép mình á cho mình phải thật quyết tâm. Rồi cái ổng cứ đi theo lết dưới chân Phật thiếu điều ôm chân Phật để năn nỉ, xin Phật dạy cho một câu. Cho đến khi Đức Phật nhìn thấy tâm ổng quá thiết tha rồi Đức Phật mới nói một cái đạo lý, là ngài tên là Bāhiya, nói: "Này Bāhiya, hãy hiểu như thế này: Trong cái thấy chỉ là cái thấy,
[2:39:00]trong cái nghe chỉ là cái nghe, trong cái biết chỉ là cái biết. Hãy hiểu như vậy." Ngay câu đó ổng chứng đạo liền, ngay câu đó chứng đạo liền. Mình chứng chưa? Chưa. Nên ở đây đó nó có những đạo lý rất hay mà mình nghe mình không chứng được bởi vì tâm mình nó nó còn cách cái đạo lý đó xa quá. Còn ngài Bāhiya đó đến gần gần rồi, phải không? Ổng đến gần sát sát rồi, Đức Phật nói chút xíu cái ổng tới luôn, chứng luôn. Đó là vậy. Nên chúng ta nghe mà tại sao có người nghe một câu nói mà chứng đạo là vì cái tâm họ đã đến sát cái vị trí đó rồi, đã tu trước đó thuần rồi, nên nói một câu tới luôn. Còn mình thì còn ở quá xa, còn quá xa.
[2:39:40]Mà tại sao mình còn quá xa? Là bởi vì... bởi vì nhiều chuyện trần gian nó lôi kéo mình quá. Nội cái World Cup vừa rồi thôi cũng làm mình thất điên bát đảo, phải không? Mà ngài xui, sau khi ngài nghe cái câu đó xong ngài chứng đạo liền, ngài đi ra bị con bò húc chết luôn. Mà hồi đó Ấn Độ người ta thả bò đi rông tùm lum à, không có giết bò. Mà mấy con bò được thờ nữa, không ai dám đụng tới. Thì không ngờ gặp con bò dữ húc ngài chết, ngài trả xong cái nghiệp. Rồi mấy vị Tỳ kheo kia mới hỏi Đức Phật là Bahiya mới gặp Phật, nói cho một câu thì ngộ đạo, rồi bị chết rồi không biết ổng sinh về đâu. Đức Phật khen, Đức Phật nói ổng đã giải thoát.
[2:40:21]Rất là đặc biệt như vậy. Có những người như vậy. Rồi có một trường hợp nữa là hai anh em Bharata với Nandaka cùng đi tu với Phật. Nhưng mà Bharata thì chứng đạo trước, còn Nandaka thì ổng tu trầy trật hoài ổng không chứng. Rồi một lần đó cái hai anh em đang ngồi bên lề đường, lề đường chắc là mùa mưa cho nên cái con đường nó có sình lầy, rồi một cái con bò nó kéo cái xe nặng. Tới cái chỗ đó nó sụp lầy cái nó không đi nổi nữa. Cái người chủ xe đó mới đánh, thúc gì nó cũng không đi nổi. Lúc đó cái ngài Bharata mới bước ra, ngài mới ngăn cái người chủ xe lại đừng đánh con bò nữa. Ngài cởi cái xe ra, tháo cái xe ra khỏi cái con bò,
[2:41:11]dắt con bò đi lại cho nó ăn, uống nước, ngài vỗ về nó cho nó nghỉ ngơi chút xíu. Bắt đầu ngài mới dắt nó trở lại cái xe bò, cột nó trở lại, rồi kêu nhiều người phụ đẩy, thúc nó một cái giựt cái là lên cái xe bò luôn. Tức là ngài làm rất là có trí tuệ phải không? Vừa là từ bi cho con bò nó nghỉ ngơi nó lấy sức, cho nó ăn uống lại, rồi đến khi nó có sức rồi thì cũng cái con bò đó giựt cái là lên chiếc xe bò liền, giựt ra khỏi cái lầy liền. Thì lúc đó ngài mới quay lại ngài nói với người em của mình một cái đạo lý cũng giống như là vậy đó. Có những giai đoạn mà như mình thối chí, mình muốn gục ngã, muốn quay lại, đừng, đừng.
[2:41:52]Bởi vì đạo phía trước rất là cao siêu. Chúng ta tu không tới vì lực mình không nổi, hãy dưỡng sức, nghỉ ngơi, tâm hồn mình buông xả, thư giãn, lấy sức, tiếp tục đi tới nữa. Khi ngài nói như vậy và người em cảm thấy phấn chấn, Nandaka thấy phấn chấn rồi tu cái chứng đạo luôn. Chứng đạo, ngài mới làm một bài kệ cảm hứng, trong đó ngài nói là như một con bò đó có đủ sức mạnh giựt chiếc xe ra khỏi cái bùn lầy tái sinh. Ngài nhìn thấy cái bùn lầy giống như là cái trầm luân của trần gian, cái sinh tử. Và khi con bò nó đủ sức rồi nó giựt chiếc xe đó ra khỏi cái đám sình lầy đó. Một bài kệ cũng rất là hay, rất là đẹp như vậy.
[2:42:36]Đó là cũng là một cái trường hợp như vậy. Có một trường hợp đặc biệt nữa là có ngài Uttara. Ngài là một Tỳ kheo xuất gia. Lúc đó có một cái đám ăn trộm nó đi ăn trộm ở đâu cái nó bị quan quân rượt nó chạy. Nó chạy đi ngang cái chòi ngài ở cái nó quăng hết cái đồ vô trong cái chòi ngài nó chạy luôn. Đúng là cái túc nghiệp đâu đời trước. Thì quan quân tới thì ăn trộm đâu không thấy, chỉ thấy một ông Tỳ kheo ngồi với một đống vàng bạc vừa mới ăn trộm được thì mình kết luận sao? Kết luận là: "Ông này là ăn trộm mà lập tức trá hình thôi, trá hình thôi." Là gặp mình mình cũng nghĩ như vậy, phải không?
[2:43:16]Nên ở đây là cái điều chúng ta nhớ trên cuộc đời này vậy, có những điều mắt mình thấy rất là rõ mà vẫn sai sự thật, phải không? Mắt mình thấy chính xác, mới rượt nó nó chạy về phía cái chòi đó, chạy tới cái chòi đó thấy vàng bạc để đó thì mình kết luận là ăn trộm chính tông rồi gì nữa, phải không? Kết luận. Nên nhớ trên cuộc đời này, có những điều chúng ta nghe đúng không? Không. Thấy chưa chắc là đúng. Vì vậy có một nhà danh nhân đã nói thế này: "Hãy tin phân nửa những gì anh thấy và đừng bao giờ tin những gì anh nghe." Có những người mà sống một cuộc đời quá kinh nghiệm rồi họ lại buột miệng phải nói như vậy, có những điều như vậy.
[2:43:57]Mà Phật tử mình thì vui lắm, hễ nghe là tin liền. Nghe người này nói xấu người kia tin liền. Thậm chí ông thầy mình, mình quy y, mình thờ đó mà người ta nói xấu tin liền, viết thư chửi ổng liền cái đã, không biết ất giáp gì. Chúng tôi cũng bị hoài. Có những người đệ tử không hiểu thầy, nghe người ta nói tin liền. Đó là cái mình dở, nên cái chuyện ngài Uttara như vậy. Thì sau khi mà thấy như vậy rồi thì họ mới bắt ngài đem về, bắt ngài đem về kết tội ngài là ăn trộm. Mà ăn trộm thiệt á thì cái thái độ nó làm sao? Nó cãi dữ dội lắm phải không? Thề sống thề chết là có trên có trời dưới có đất là tôi không bao giờ đụng tới cái món này.
[2:44:37]Không tin mình ra mình bắt người ăn trộm biết liền, thề sống thề chết. Nhưng mà gặp ông thầy tu ổng không phải ăn trộm thì ổng có làm dữ không? Không biết cãi. Cái mặt cứ khờ khờ nói đúng rồi, nói đúng tim đen nó hết cãi. Nói vậy. Thành thử ra cứ bắt và quyết định nghĩa là xử tử ngài. Mà thời xưa cũng dữ, nghiêm khắc lắm. Rồi gặp quan là chắc cũng lớn, đem cột trói ngài ra cái pháp trường chuẩn bị giết. Thì trong cái lúc mà người ngài đã tả tơi rồi, bị đánh đập dữ lắm rồi, bị cột trói ra ngoài sân rồi, chuẩn bị rồi thì Đức Phật đến. Đức Phật biết là ngài đã vừa trả xong cái nghiệp. Tại vì nghiệp đời trước chắc cũng là xét xử oan
[2:45:13]ai đó, lầm ai đó, nên đời này phải trả thôi. Mà phải để cho trả chớ không cản được. Nên có nhiều điều mình đừng có than trời trách đất, nói sợ sao tôi khổ quá mà cầu Phật không linh, mà biết đâu mình phải chịu khổ để hết nghiệp. Đó, thì lúc đó khi vừa hết nghiệp rồi, Đức Phật hiện ra liền. Ngài dùng thần thông chớ ngài không đi bộ đến. Ngài hiện ra trên hư không, ngay trước mặt ngài Uttara, hiện ra ngài giảng một bài pháp, nói về lòng kiên nhẫn, sự nhẫn nhục, thấy vô thường. Ngài vừa giảng chấm dứt bài kệ là ngài Uttara đắc đạo liền ngay đó luôn. Mà đắc đạo rồi thì cái dây trói còn trói được không? Không.
[2:45:50]Ngay đang bị cột trói ngay cái cột, ngài bay lên giữa hư không luôn, ngài hiện thần thông liền. Thì lúc đó quan quân sợ quá, buộc lòng quỳ xuống đảnh lễ luôn, chứ đâu dám mà kết án nữa. Và ngài bay về ngài sống trở lại là một vị Thánh trở lại, sống trong Tăng đoàn bình thường lại. Nhưng mà cái trường hợp ngộ đạo của ngài rất là phải nói là khắc nghiệt, khắc nghiệt, phải trả xong cái nghiệp như vậy. Mà thời đó còn có Đức Phật để mà hiện ra mà đọc một bài kệ chứng đạo, thời này thì mình chịu khó nha. Chịu cực không có. Trong Thiền tông cũng vậy, trong Thiền tông đời sau này thì cái sở chứng không có bằng thời xưa,
[2:46:27]nhưng mà có những vị có những trường hợp đắc đạo rất là lạ, rất là lạ. Mà nổi tiếng nhất là cái cú đạp của ngài Mã Tổ, cái cú đạp. Trong Thiền tông cũng hay truyền tụng, lúc đó là ngài Thúy Lạo mới đến gặp ngài Mã Tổ, mới hỏi về đại ý Phật pháp. Cái ngài Mã Tổ nói: "Lại gần gần đây mới nói cho nghe được, chứ ngồi quỳ xa quá làm sao nói cho nghe." Ngài Mã Tổ ngài dụ. Cái tới gần gần vừa cái tầm chân của ngài rồi cái ngài ổng hỏi lại cái, nói: "Bạch Hòa thượng, thế nào đại ý Phật pháp?" Cái đá cho một cú, dường như ngài cũng hơi giỏi Thiếu Lâm. Vì hồi xưa các thiền sư đều là cao thủ võ lâm hết. Khi mà viết sử về thiền sư họ cắt bỏ cái phần võ thuật đi,
[2:47:05]chứ chúng ta nên nhớ là các thiền sư rất giỏi về nội công, rất giỏi võ thuật. Nên khi mà lại gần tầm chân ngài, ngài bung cho một cú đá nghĩa là giáp sa cái của Bàn sơn cước ổng lật nhào ra ổng ngộ đạo luôn. Đó là một trường hợp rất là đặc biệt, mà trường hợp đó nổi bật nhất trong Thiền tông xưa nay như vậy. Mà nó ứng với câu sấm mà ngài Bồ Đề Đạt Ma truyền lại dần dần, nói: "Sau này dưới chân ngươi xuất hiện cái móng của một con ngựa tơ đạp chết người trong thiên hạ." Là ứng cho ngài Mã Tổ, nên ngài Mã Tổ sau này độ cho người đắc đạo cũng đông lắm. Mã Tổ ngài rất là đặc biệt, không biết ngài là vị Bồ
[2:47:39]Tát nào xuống á, mà ngài có duyên với chúng sinh á. Ngài ngộ đạo cũng dễ, mà ngài dạy người ta ngộ cũng rất là nhanh. Mà độc đáo nhất của ngài là một cú đạp nổi tiếng trong lịch sử nhà thiền, bung một cú là ngộ liền. Bây giờ chúng ta hiểu ngài đạp cái đó là ngài nói cái gì trong đó mà làm cho người kia ngộ? Ai hiểu giơ tay lên.
[2:48:02]Ai hiểu giơ tay lên. Người nào mà hiểu thì người đó cũng là giống Mã Tổ luôn.
[2:48:12]Thật ra giải thích được chứ không phải không giải thích được. Chúng ta đừng tưởng cái cú đạp đó không giải thích được bằng đạo lý, bằng ngôn ngữ, vẫn giải thích được bằng ngôn ngữ. Mà giải thích rồi mình vẫn không đắc đạo. Cho nên giải thích uổng. Cứ để đó đi, để yên trong lòng chúng ta cái thắc mắc đó, ngày nào đó lỡ ai đạp mình cái mình ngộ đạo rồi mình sẽ hiểu. Nên từ đây mà chúng ta đi đường mà thấy ai giơ giơ chân mình lại gần á, lỡ người ta đạp trúng mình cái mình ngộ đạo, có thể. Trường hợp thứ hai là ngài Lâm Tế Nghĩa Huyền, cái trường hợp ngộ của ngài cũng rất là đặc biệt. Là lúc đó ngài ở trong chúng,
[2:48:49]cái tướng mạo ngài phi phàm và đức hạnh rất là đặc biệt. Thì ngài Trưởng chúng lúc đó là vị Trần Tôn Túc mới nhìn thấy là biết đây là con người đặc biệt, mới nói với ngài Hoàng Bá nói: "Thầy sao không độ cái chú đó đi, chú Nghĩa Huyền, chú đó là bậc thầy của thiên hạ sau này đó." Ngài Hoàng Bá cười cười không nói gì. Cái ngài Trần Tôn Túc mới thấy vậy mới ra mới nói: "Nè, sư đệ, sao không vô mà thưa hỏi Hòa thượng cái gì đi?" Cái ngài Lâm Tế Nghĩa Huyền ngài nói: "Em cũng không biết hỏi gì nữa." Vì tại sao vậy? Bởi vì ngài tu ngài rất là định. Những lúc mà ngài ngồi thiền tâm ngài rất là vắng.
[2:49:23]Ngài không có hồ nghi điều gì hết, tâm quá an lạc đi, ngài không có hồ nghi gì hết. Nên không biết vô hỏi gì. Ngài Trần Tôn Túc mới gợi ý: "Thì sao chú vô hỏi đại là coi đại ý Phật pháp đi, rồi Hòa thượng trả lời cho." Nghe lời, thôi cũng được, cái đắp y áo vô. Nói: "Bạch Hòa thượng, cho con hỏi là thế nào là đại ý của Phật pháp?" Hoàng Bá lấy gậy quất vô cái bốp liền. Cái ngài phân vân ngài đi ra, không biết mình lỗi gì. Cái ra gặp ngài Trần Tôn Túc, ngài nói: "Thì vô hỏi nữa." Ăn một gậy bốp nữa, chạy ra. Nói: "Vô nữa." Vô quất ba cây cái ngài không thấy mình hiểu được cái gì hết. Bắt đầu ngài thấy kỳ quá, sao lạ quá, không hiểu là ông thầy ổng ghét
[2:50:00]mình cái gì, hay mình có cái lỗi gì mình hỏi câu nó cũng đàng hoàng. Ngài hoang mang, ngài buồn bã, từ cái lúc hoang mang nghi ngờ buồn bã, ngài xin ra đi luôn. Như vậy. Ngài đi thì cái Hoàng Bá mới vô chào Hoàng Bá, Hoàng Bá nói: "Thôi đi qua thiền sư Đại Ngu ấy, đừng đi đâu lung tung mất công." Qua ngài Đại Ngu thì mới kể lại hết câu chuyện là: "Con hỏi nghiêm chỉnh đàng hoàng, y áo đàng hoàng, đầy đủ lễ phép mà không biết tại sao cái câu hỏi về đạo lý cũng hay, mà không biết sao cái lỗi con nào mà hỏi đâu là bị quất là bị đánh liền." Cái lúc đó ngài Đại Ngu mới nói: "Hoàng Bá đã dạy ngươi tới cái chỗ tột cùng
[2:50:38]mà ngươi không biết." Ngay ngài Đại Ngu trả lời câu đó, ngài Lâm Tế đại ngộ liền. Ngài đại ngộ rồi cái Ngài mới buột miệng nói: "Phật pháp của Hoàng Bá không nhiều." Ngài Đại Ngu nghe làm vừa mới ngồi nói: "Ngươi thấy gì mà nói vậy?" Ổng dọng cho Ngài Đại Ngu một cái thoi vô bụng. Tức là ông nào cũng võ sư không à, khổ vậy đó, mở miệng là vung tay đánh chân không à. Vứt vô người một bụng một cái nhưng mà Ngài Đại Ngu cũng khí công đầy mình cho nên không có bị tổn thương nội lực. Ngài mới biết rồi: "Thầy của ngươi là Hoàng Bá thôi về đi." Cái trường hợp ngài rất là lạ, đó vậy. Nhưng mà mình đừng có bắt chước ngài Lâm Tế.
[2:51:12]Vô hỏi mình ngộ chỗ nào mình vung tay mình đập người ta một cái là coi chừng, thấy không? Thời buổi này nó khác. Tới chừng người ta lấy cây người ta đập lại hổng biết đường đâu mà đỡ. Đó là những cái công án nổi tiếng trong nhà thiền á. Một cái công án khác cũng rất là nhẹ nhàng, không có vung tay đá chân gì hết mà chỉ là một câu nói của ngài Triệu Châu. Ngài Triệu Châu ngài đặc biệt nên trí tuệ phi thường. Nó có vị tăng hỏi ngài cũng vậy: "Thế nào là đại ý Phật pháp hay là thế nào là ý của Tổ Sư từ Ấn Độ sang? Cái tinh túy của đạo thế nào?" Ngài trả lời là: "Cây bách ở trước sân." Hỏi đại ý Phật pháp mà ngài chỉ trước sân ngài nói cây bách ở trước sân.
[2:51:49]Vị tăng mới nói: "Hòa thượng đừng có lừa con, đừng có lấy cảnh gạt con." Ổng nghi là trả lời hổng dính dáng tới đạo, cái ngài mới nói: "Không, ta không có gạt ngươi, ta nói thật." Nói: "Vậy Hòa thượng hãy nói lại coi thế nào là ý Tổ Sư từ Ấn Độ sang?" Ngài trả lời lại lần thứ hai mà khẳng định hơn nữa: "Cây bách ở trước sân đó." Ông kia ngộ đạo liền. Ai hiểu không?
[2:52:15]Mình không hiểu nhưng mình cứ bắt chước thấy không? Mai mốt ai hỏi mình: "Thế nào là Phật pháp?" Mình nói cây xoài trước sân. Cây xoài trước sân, người ta cũng không hiểu luôn, vậy nó mới bí hiểm, vậy mới hay, bắt chước vậy. Bên Mật tông Tây Tạng có nhiều vị cũng chứng đạo rất là cao mà nổi tiếng nhất ở Việt Nam mình là chúng ta thường hay nghe vị nào? Milarepa. Con người siêu việt ở trong cuốn sách đó, ông Đỗ Đình Đồng dịch đó, Milarepa con người siêu việt. Cái người mà khổ hạnh tu ở núi tuyết lạnh lẽo, do cái nghiệp của ngài ngài gieo nhiều ác nghiệp, cho nên ngài tu một cách rất là cực khổ.
[2:52:54]Người ta tu nhưng người ta dễ chứng đạo, mà ngài phải đi qua những cái hoàn cảnh rất là khắc nghiệt, có khi không có gì để ăn để uống hết trơn. Và không có quần áo để mặc luôn nữa. Có những lúc mà ngài chỉ quấn những cái lá cây để che người, lúc đó em gái ngài tới thấy cảnh khổ như vậy, đi với cái người vị hôn thê của ngài tới thăm, về mới đi xin được ít vải về cho ngài. Thì được miếng vải cái ngài quấn làm cái khố ngang hông đó thôi, mà ngài tu khổ hạnh lắm. Có những lúc mà ngài ngồi thiền trên tuyết, tuyết trên Tây Tạng mà, rơi phủ hết. Ngài cái sức cái sức con người ngài tỏa ra như vậy, tuyết rớt xuống người ngài cái chảy thành nước, chảy xuống dưới.
[2:53:34]Cái phi thường gọi là cái định lực, cái nội lực của ngài phi thường. Ngài thấy có những cái con con thú khi mà mùa đông lạnh quá nó núp trong hang, mà cái lạnh nó thấm ở trong hang đến nỗi ở trong hang nó không chịu nổi luôn, cái nó vọt nó chạy ra đại. Nó vừa tung ra khỏi cái hang thì nó biến thành đá liền, nó rớt cái bộp xuống, thành cục đá liền. Coi như là những cái mùa mà đông ở Tây Tạng nó lạnh buốt như vậy. Cái lạnh đến mức độ như vậy mà ngài ngồi thiền an nhiên ở trên tuyết như vậy, cái sự chứng đạo của ngài rất là cao. Còn bên Tây Tạng thì có nhiều trường hợp lạ lắm, ví dụ như họ hay nói về việc tái sinh của một vị Đạt Lai Lạt Ma.
[2:54:09]Trước khi chết báo ở đâu người ta tới đi tìm, người đó là cái thân tái sinh đời sau của vị trước. Hiện nay thì có vị Lạt Ma đời thứ 14 là Đức Đạt Lai Lạt Ma hiện nay đang sống lưu vong ở Ấn Độ. Tuy nhiên thế này, là những cái biểu hiện của các vị Đạt Lai Lạt Ma đó mà bên Mật tông cho là Phật sống á thì nếu chúng ta so sánh với những vị A-la-hán thì còn thua xa lắm, không có đặc biệt lắm. Chưa phải là những vị đó có Nhất Thiết Trí biết hết mọi điều. Tuy nhiên, có một cái điều rất là làm chúng ta ấm lòng, làm chúng ta an ủi là Đức Đạt Lai Lạt Ma hiện nay sống ở Ấn Độ đó, giảng Phật pháp rất là hay, rất là chân chính
[2:54:49]và thu hút được nhiều người trên thế giới, nên cũng là một người làm cho Phật pháp lan đi rất là mạnh. Nhưng bên cạnh ngài đó có những người đồng đạo của ngài thì thích truyền Mật tông á, truyền Mật tông, truyền nhiều câu thần chú, nên đây là điều chúng ta để đó một bên, hổng có xét tới, không có bàn, không phê bình, nhưng mà riêng Đức Đạt Lai Lạt Ma thì rất là chân chính, rất là hay. Tu theo Mật tông Tây Tạng á mà nhiều vị có những năng lực đặc biệt lắm là bởi vì các ngài luyện yoga rất kỹ. Luyện yoga giống như bên Thiếu Lâm mà luyện khí công vậy, giống như bên Nga Mi mà luyện khí công vậy. Nhờ cái năng lực của yoga của khí công nên các ngài có năng lực phi thường.
[2:55:30]Từ cái năng lực phi thường đó bước vào thiền định rất là sâu, rất là nhanh. Nên đây là một điểm chúng ta để ý. Chúng ta để ý Đức Phật cũng vậy. Đức Phật lúc còn là thái tử trong hoàng cung, ngài được học về yoga, khí công tới trình độ siêu đẳng. Chúng ta nhớ là trong những cuộc thi mà đánh võ ngài luôn luôn thắng hạng nhất nhớ không? Đó, ngài giương những cây cung mà không ai giương nổi. Nhá! Vì vậy Đức Phật cũng rất là giỏi về khí công, về nội công, về yoga. Mà chúng ta phải hiểu cái việc mà tu tập yoga khí công nó là bước trung chuyển để chúng ta đi sâu vào tâm linh. Chứ còn nếu mình đến với thiền mà mình chỉ đi về tâm linh không,
[2:56:10]không tập khí công, mình sẽ không tiến xa, không tiến xa. Nhưng mà thời nay những điều đó bị thất truyền nên chúng ta không có biết. Vì vậy chúng ta phải lặp lại, phải ráng tập khí công để làm cái thềm, cái cửa ngõ mà bước vào tâm linh thiền định là như vậy. Một số vị có những cái hành trạng thần thông cũng rất là đặc biệt mà nổi tiếng chúng ta nhớ như ngài thiền sư Đặng Ẩn Phong. Các ngài A-la-hán thì siêu đẳng rồi, mấy ông bay trên mây là bình thường, lên cõi trời xuống địa ngục là bình thường rồi. Nhưng mà đời sau này đó có những vị thiền sư đặc biệt như là ngài Đặng Ẩn Phong á là ổng chết mà ổng chống tay ổng lộn ngược lên ổng đứng ổng chết á.
[2:56:48]Đó, tịch ngài vĩ đại như vậy. Hoặc là ngài bay lên hư không, ngài chỉ tay xuống hai đám quân đang đánh nhau để làm cho họ sợ hãi mà họ lui quân là như vậy, thấy không? Hoặc là gần đây mà có ngài Phật sống chùa Kim Sơn, Diệu Thiện mà chúng ta xem cuốn sách đó, kể về hành trạng của ngài rất là bí ẩn giống như một vị A-la-hán vậy, thoắt hiện thoắt ẩn, hiện nơi này biến nơi kia cũng rất là hay. Còn Việt Nam mình có như ngài Minh Không đó, ổng nói là cái giai thoại ổng đúc tứ khí, cái chuông đồng, tượng Phật đồng mà lấy xin đồng ở bên Trung Hoa, qua bên đó vác một cái đãi mà vô trong kho vét hết đồng của Tàu bỏ trong cái túi đó đi về.
[2:57:27]Đó, là cũng là một cái thần thông đặc biệt của thiền sư Việt Nam. Hoặc là ngài Ma Ha Ma Gia đời vua Lê Đại Hành vậy, là ổng không chịu ra làm quan, bắt nhốt ổng ở trong ngục thì cứ thấy ổng đi ngoài tỉnh bơ. Đi xuyên vách xuyên tường rồi hiện thân bên ngoài được. Đó là những cái trường hợp mà những vị thiền sư mà ngài có thần thông biến hóa được, phi hành được đặc biệt như vậy. Khi đắc đạo thì thường là có những cái chết tự tại, các vị thiền sư đều thường hay có những cái chết rất là tự tại. Cái chết tự tại đó chưa chắc là đắc đạo cao, nhưng mà đắc đạo cao thì phải chết tự tại. Chúng ta nhớ nha, nó không có đảo.
[2:58:06]Là khi một người có cái chết tự tại an lành, đừng có nghĩ rằng người đó đắc đạo cao siêu. À, đừng nghĩ. Nhưng một người đắc đạo cao siêu thì buộc phải có một cái chết tự tại, an lành. Đó, nhớ như vậy. Vì sao vậy? Vì có rất nhiều người bình thường không có tu hành tâm linh nhiều, sống một đời quân tử, đạo đức, hiền lành, khi chết cũng rất là tự tại, báo trước cho con cháu ngày chết, rồi tắm rửa sạch sẽ, rồi nói: "Ngày mai tao đi à, tụi bay về sẵn", thì đúng ngày mai nằm lên giường thiếp đi luôn. Mặc dầu chưa hề tu đắc đạo gì hết. Có không? Có, thấy không? Đó là người không đắc đạo đó, nhưng mà một đời sống đạo
[2:58:47]đức hiền lành vẫn làm mình có cái chết nhẹ nhàng, đó. Nhưng mà đừng nghĩ người đó đắc đạo, chưa đắc đạo, nhưng một người đắc đạo thì phải có cái chết an lành trừ trường hợp trả nghiệp, trừ trường hợp trả nghiệp. Là có khi chúng ta bị giết mà chết nhưng mà biết trước, chấp nhận cái chết đó là như vậy. Nổi tiếng về cái chết tự tại là cả một gia đình là gia đình Bàng Long Uẩn phải không? Tức là hai ông bà, hai người con trai con gái, muốn chết là chết lập tức, muốn chết là chết lập tức. Là con gái đó gạt cha mình để mà chết trước cha mình. Đó, ba nói tới giờ Ngọ thôi ổng leo ngồi chết, cái người con gái mới nói:
[2:59:26]"Ủa, giờ Ngọ mà hình như có nhật thực ba ơi!" Cái ổng chạy ra ổng coi cái cô gái nhảy lên cái tòa của ổng ngồi tịch liền, dễ sợ. Cái ổng chôn cất con gái xong cái người bạn ổng tới thăm cái ổng nằm trên đùi bạn ổng chết luôn. Cái cái tin báo về tại hai vợ chồng ở riêng á, cái bà vợ ổng mới báo với người con trai đang đứng cày ruộng, nói: "Trời, ổng với Linh Chiếu đi rồi kìa." Cái người con trai: "Vậy hả mẹ?", thả cái cuốc xuống đứng tịch tại chỗ liền. Còn bà mẹ thì bả bỏ vào núi luôn, bả tịch đi đâu không ai biết. Cả một gia đình đắc đạo hết, có cái chết rất là đặc biệt, thiệt là hay, thiệt là đẹp.
[2:59:59]Ở Việt Nam mình có hai huynh đệ thiền sư là Bảo Tánh và Minh Tâm. Hai vị đó thì khi mà vua thỉnh vào cung giảng rồi ngồi đó nhập hỏa quang tam muội tịch luôn. Tức là ngồi đó tự hiện lửa ra để thiêu cái thân mình, thiêu ra tro luôn và chết luôn, không cần phải lửa mồi. Ngồi đó tự hiện lửa ra, gọi là nhập hỏa quang tam muội. Chúng ta cũng nghe kể ngài A-nan cũng như vậy, khi ngài tịch ngài cũng bay lên giữa hư không, ngài tự đốt mình, tro xá lợi bay ra hai bên bờ sông chia cho hai nước, cũng vậy. Đó là những cái chết của những vị thánh rất là đặc biệt. Đức Phật chúng ta thì Ngài chết nhẹ nhàng, nhưng mà Ngài báo trước và rất là tự tại.
[3:00:41]Đến khi Ngài đã quyết định là ba tháng nữa Ngài sẽ nhập Niết bàn, rồi không có ai thỉnh cho Ngài lung lay được nữa, là quyết định luôn. Biết trước như vậy, đó là chọn cho mình chết hay không chết theo ý muốn của mình. Nếu Ngài muốn sống, Ngài vẫn tiếp tục sống được, nhưng mà Đức Phật nói sống hoài không có lợi, thà Ngài tịch như vậy nhưng mà người sau còn tiếc nuối mà ráng tu. Như vậy, rồi Ngài tịch, ba tháng rồi Ngài tịch. Và cái chết của Phật thì rất là đẹp, đẹp tuyệt vời. Chúng ta nói về vấn đề xá lợi một chút. Là những người đắc đạo, chúng ta nghe nói chết thường hay có, có xá lợi là những cái xương mà nó chảy quánh lại,
[3:01:18]nó lóng lánh lóng lánh như là thành những cái tinh thể. Thì đó thường là được hai yếu tố, thứ nhất là cái xương người đó tốt, và thứ hai là người đó có đời sống đạo đức. Vậy thôi, đừng nói người đó đắc đạo nha! Nó cũng giống như cái chết an lành vậy đó. Thiêu có xá lợi, đừng kết luận là người đó đắc đạo. Đừng kết luận. Nhưng mà biết là tốt, người đó có một đời sống tốt, xương người đó tốt, nó mới chảy quánh lại, chứ xương yếu đốt nó tan ra thành tro, mà xương tốt á nó mới chảy lỏng lại rồi nó kết tinh lại thành ra tinh thể là xá lợi. Có nhiều người được lắm. Có câu chuyện nổi tiếng trong nhà thiền vậy,
[3:01:54]ở trong chúng của một cái pháp hội đó, có một vị thiền tăng đó ổng ngồi thiền rất là lâu, rồi nên ai cũng nói ổng đắc đạo. Thì cái vị tri sự mới thử, vị tri sự này thì đắc đạo thiệt, mới lại hỏi ổng một câu, ổng không trả lời, ổng vào trong đơn ổng ngồi ổng tịch luôn. Khi thiêu ra được một số xá lợi thì chúng mới ngạc nhiên, nói sao lúc hỏi không trả lời được, nhưng mà khi chết đốt có xá lợi? Chúng mới hoang mang hoang mang không biết cái chuyện gì. Thì lúc đó ông tri sự ổng mới tới trước cái bàn thờ ổng mới nói nè, nói là: "Dù cho ông đốt ra được một đấu xá lợi, một thùng xá lợi cũng không bằng lúc mà tôi hỏi ông trả lời được một câu cho nó đàng hoàng.
[3:02:32]Trả lời được một câu, nó bảo đảm ông đắc đạo hơn, hơn là sao? Ông đốt có xá lợi." Nên cái đốt có xá lợi không bảo đảm là đã đắc đạo, chúng ta nhớ điều đó, chỉ là một đời sống tốt thôi. Đừng có xem cái đó là một cái đánh giá. Tuy nhiên hầu hết những vị thánh đốt có xá lợi, hầu hết như vậy. Chúng ta so sánh cái mục tiêu của đạo Phật mình với các tôn giáo khác. Ví dụ như đối với Khổng giáo á, thì cái mục tiêu để phấn đấu tu hành để được làm một người quân tử, vậy thôi chứ không có sinh về cõi trời hay là cõi thánh đâu hết. Đạo Nho chỉ nói tới cõi con người mà được làm một người quân tử, là người tốt là đạt yêu cầu, vậy thôi.
[3:03:10]Còn đối với những thần giáo như là Hồi giáo, Thiên Chúa giáo, Kitô giáo thì cái phần thưởng của một người biết tu á là chết được về ở với Trời, với Thượng đế, là mục tiêu của họ là như vậy, là hết, ngang đó là hết, vậy thôi. Mà trên đó có khi có những cái dục lạc, những trò vui còn quậy bạo hơn dưới trần gian nữa. Có những cái đạo họ hứa hẹn cái kiểu đó kỳ lạ lắm! Có đạo nói lên trển là sướng ghê lắm, mỹ nữ đầy hết trơn, là vậy đó, còn hơn cả vũ trường thoát lốt nữa. Đó là phần thưởng của người dưới này mà biết tu, biết làm đẹp lòng Thượng đế, nghe cũng hơi kỳ, không biết làm sao. Còn Tiên đạo, cái mục tiêu của Tiên đạo là thứ
[3:03:45]nhất sống á thì phải có một thân thể khỏe mạnh, sống được lâu, có năng lực tâm linh, mà nếu chết thì sẽ về cái cõi giới của những vị tiên, những vị tiên, giống giống như cõi trời. Chúng ta mới nói với nhau hôm nay về Diệt đế, thì lần sau gặp lại chúng ta sẽ nói về Đạo đế. Thì Diệt đế chúng ta nói qua hai lần, là nói cái kết quả tu hành mà có được trong đạo Phật. Chúng ta nói từ những mức độ rất là thấp mà tới dần dần những cái mức độ cao. Cao quá thì mình không hiểu nổi cho nên chỉ nói phất phớt, vì sợ nói nhiều thì chúng ta ngủ, như vậy. Thì chúng ta vậy kết thúc bài nói chuyện này, chúng ta cũng chúc cho nhau là ai cũng đạt được
[3:04:27]Diệt đế ha, là tu hành đều có những cái kết quả tốt đẹp, dù là ít là nhiều, nhưng mà hay nhất vẫn là một ngày nào đó chúng ta hẹn nhau một kiếp nào đó tất cả chúng ta đều thành Phật đạo. Vậy nha! Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[3:05:16]Áo em đẹp quá một màu lam Dáng xinh thanh thoát giữa dòng đời.
[3:05:26]Tôi về gom lại muôn ngàn sắc thắm Vẽ nên trọn đời nét hồn nhiên.
[3:05:39]Áo em thơm ngát khói trầm hương Ngược gió bay trên khắp nẻo đường.
[3:05:49]Đem đến cho đời nụ hồng tim yêu Tỏa sáng nơi em gương sắc nhân từ.
[3:06:02]Lam ơi Lam hiền là hạnh phúc cho ta, Một niềm thiết tha đưa ta đến chân trời yêu thương. Lam ơi Lam hiền một màu lam thanh khiết Dưới ánh trăng rằm dịu mát cho quê hương.
[3:06:27]Lam ơi Lam hiền là dòng
[3:06:34]suối thân thương Ngọt ngào lắng trong luôn tươi mát cho đời thanh tươi.
[3:06:43]Lam ơi Lam hiền một trời lam yêu dấu Vang tiếng chuông chùa trầm ấm trên non
[3:07:01]sông.
[3:07:28]Áo em đẹp quá một màu lam Dáng xinh thanh thoát giữa dòng đời.
[3:07:38]Tôi về gom lại muôn ngàn sắc thắm Vẽ nên trọn đời nét hồn nhiên.
[3:07:51]Áo em thơm ngát khói trầm hương Ngược gió bay trên khắp nẻo đường.
[3:08:01]Đem đến cho đời nụ hồng tim yêu Tỏa sáng nơi em gương sắc nhân từ.
[3:08:11]Lam ơi Lam hiền là hạnh phúc cho ta, Một niềm thiết tha đưa ta đến chân trời yêu thương.
[3:08:29]Lam ơi Lam hiền một màu lam thanh khiết Dưới ánh trăng rằm dịu mát cho quê hương.
[3:08:41]Lam ơi Lam hiền là dòng suối thân thương Ngọt ngào lắng trong luôn tươi mát cho đời thanh tươi.
[3:08:55]Lam ơi Lam hiền một trời lam yêu dấu Vang tiếng chuông chùa trầm ấm trên non sông.
[3:09:08]Áo em đẹp quá, đẹp quá
[3:09:16]một màu lam.