[0:38]Kính lạy Đấng Vô Thượng, Người là cánh hoa sen, nơi biển đời nhân thế.
[0:49]Người là nguồn thương yêu, bao dung khắp muôn loài,
[1:00]là mặt trời ban mai, đem ánh sáng cho đời, dựng lại niềm tin sâu, nơi tăm tối u sầu.
[1:25]Quỳ lạy Bậc Chánh Giác, thầy của khắp trời người,
[1:36]lòng từ bi bao la, che lành chung bốn loài.
[1:50]Người là một đại dương, mà con như giọt nước.
[2:01]Người là ngọn cao sơn, mà con như hạt bụi.
[2:15]Con xin đảnh lễ Người, với trọn lòng thiết tha, quy y và tôn kính.
[2:31]Xin đem trọn muôn đời, đi theo bước chân Người,
[2:42]xa lìa bờ vô minh, tìm về nơi giác ngộ.
[2:53]Xin theo trái tim Người, để trải lòng thương yêu, bao dung khắp muôn loài.
[3:11]Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật.
[3:27]Tác phẩm: Luận Về Nhân Quả. Tác giả: Thích Chân Quang. Giáo hội Phật giáo Việt Nam ấn hành. Phật lịch: 2540. Tây lịch: 1996. Lời giới thiệu. Sau khi đọc tập Luận Về Nhân Quả của Chân Quang, chúng tôi có gợi ý và nhuận lại chính xác để đúng với luật nhân quả mà chúng tôi đã nhận ra trong lúc vượt qua các ấm. Kinh nghiệm thấy biết nhân quả như thế nào, chúng tôi đều góp ý như thế ấy, để làm sáng tỏ đường đi lối về của nó, để giúp mọi người không còn mơ hồ, mê tín trong cuộc sống, để giải thoát khỏi nanh vuốt của quỷ thần mà từ lâu đã tạo sợ hãi, khổ đau cho loài người. Ở đây, sự góp ý của chúng tôi không tác ý chống báng một pháp
[4:34]môn nào, một tôn giáo nào hoặc một tông phái nào, mà chỉ biết nêu ra một sự thật để xác định mục đích giải thoát chân thật của Đạo Phật, để không bị ảnh hưởng của bất cứ một tôn giáo hoặc một sự vô ý thức nào làm lệch lạc Phật pháp. Nhân quả là một định luật rất công bằng cho xã hội, một lợi ích lớn lao cho thế gian, một đạo đức sâu sắc màu nhiệm. Mọi người chúng ta cần thấu hiểu rõ ràng, lấy đó làm kim chỉ nam để rèn luyện cho mình, tạo một đời sống đầy đủ chân hạnh phúc. Đọc Luận Về Nhân Quả, quý vị sẽ thấy rõ ràng đời sống của mình có hạnh phúc hay đau khổ đều do ở chính mình tạo nên. Đọc Luận Về Nhân Quả, chúng ta sẽ thấy nhân đâu quả đó,
[5:36]do vậy chúng ta sẽ hướng tâm mình đến chân, thiện, mỹ. Đọc Luận Về Nhân Quả, chúng ta sẽ thấy lợi ích thiết thực bằng cách vượt qua tất cả khổ đau, phiền não thường xảy ra trong cuộc đời. Đọc Luận Về Nhân Quả, quý vị sẽ không làm những điều ác, luôn luôn tăng trưởng những điều lành. Nhờ thế, cuộc đời của quý vị sẽ đạt được an vui và hạnh phúc. Đọc Luận Về Nhân Quả, quý vị sẽ không còn sợ hãi trước bùa chú, thần linh, pháp thuật và sẽ tự tin hơn ở chính mình để không còn bị mê mờ tâm trí, bị gạt gẫm, mất của, mất tiền một cách vô ích. Đọc Luận Về Nhân Quả, quý vị sẽ không bị lừa gạt bằng các trò xem quẻ, coi tay, nhìn tướng,
[6:34]đoán vận mạng, chọn ngày tốt xấu, xem sao giải hạn, cúng bái quỷ thần, vì nhân quả là định luật công bằng nhất của muôn loài, cho nên những việc làm trên là phi nhân quả, phi lý và không công bằng. Rõ lý nhân quả, quý vị cẩn thận giữ gìn mọi hành động về thân, khẩu, ý, bởi vì một hành vi dù vô tình cũng không thoát khỏi quả báo. Vì bay lên trời hay chui xuống đất, hay dẫu cho thành Phật thì cũng không thoát khỏi bị đền trả. Quyển sách có giá trị thực tế cho đời lẫn đạo, giúp quý vị nghiên cứu về lý nhân quả nghiệp báo một cách cơ bản hơn, đồng thời phân tích một cách sâu sắc hơn về các giáo điều ngoại đạo,
[7:29]kể cả Bà La Môn giáo, Tiên đạo, Khổng đạo và các triết thuyết khác đã tấn công và xâm nhập Phật giáo Đại thừa về mọi phía. Giá trị của tập sách là diễn đạt tiến trình của nhân quả thế gian, xuất thế gian và Bồ Tát đạo. Nội dung còn chủ trương hợp nhất Nguyên thủy và Đại thừa, đồng thời chứng minh Nguyên thủy và Đại thừa là một. Quyển sách có một giá trị tinh thần rất lớn. Chân Quang có một ngòi bút nhận định nhân quả sâu sắc và tế nhị, nêu cao ngọn đuốc chánh kiến Phật pháp, làm sáng tỏ chân lý Phật dạy. Đọc tập sách này, quý vị có dịp thưởng thức những câu chuyện đầy thú vị về nhân quả mà Chân Quang đã khéo léo trình bày, luận giải rất sâu sắc và tỉ mỉ.
[8:26]Quyển sách này dành riêng cho sự phán đoán của quý vị. Riêng phần chúng tôi, khi đọc Luận Về Nhân Quả, thấy có một lợi ích thiết thực cho mọi người trong mọi giới của xã hội, xin giới thiệu đến quý vị độc giả. Đây không phải là quyển sách đọc một lần. Càng đọc, quý vị càng thấm thía sâu sắc hơn và nhìn lại cuộc đời mình. Càng đọc, quý vị càng thấy cần tạo cho mình một lối sống an vui và hạnh phúc chân thật. Càng đọc, quý vị càng thấy đường giải thoát của Đạo Phật không phải là khó đi. Chơn Như, ngày 20 tháng 10 năm 1988. Tỳ kheo Thích Thông Lạc kính ghi.
[9:50]Tựa. Luật nhân quả nghiệp báo đã được nói đến tại Ấn Độ trước khi Đức Phật ra đời và nó trở thành một giáo lý quan trọng của đạo Phật. Điều này nói lên hai ý nghĩa: 1. Những đức Phật quá khứ, những vị Bích-chi-phật đã từng tuyên giảng về nghiệp báo và giáo lý này lan truyền đến Phật Thích Ca. 2. Đối với những giáo lý có sẵn, nếu là chân lý luôn luôn được đạo Phật chấp nhận và phát huy; nếu phi chân lý sẽ bị đạo Phật loại trừ. Đây là tinh thần khách quan, bao dung của đạo Phật. Vì nhận thấy tầm quan trọng trong việc nhận thức đường đi của nhân quả cho đạo đức của xã hội, nhất là Phật tử, nên chúng tôi chẳng ngại sự thiển cận của mình đã cố gắng phân tích
[10:46]mọi khía cạnh của luật nhân quả để góp ý kiến trong kho tàng văn hóa của đạo Phật. Nhưng dĩ nhiên, sự phân tích này không thể nào hoàn chỉnh, mong mọi người thứ lỗi cho chúng tôi. Chúng tôi bắt đầu viết luận bản này trước khi đến nương với Thầy Trụ trì tu viện Chơn Như, Thích Thông Lạc, và hoàn thành luận bản này tại đây với sự dạy bảo góp ý rất nhiều của Người. Chúng tôi xin cảm ơn những tác giả mà chúng tôi có trích những đoạn vào luận bản, mặc dù chúng tôi không có điều kiện để tìm gặp trực tiếp, nhất là Hòa thượng Thích Minh Châu với tạng kinh Nikaya vô giá.
[11:31]Công đức này thuộc về những vị thầy đã dạy bảo nuôi nấng chúng tôi, thuộc về những huynh đệ yêu mến đã chung sống đùm bọc chúng tôi, thuộc về các đạo hữu đã hỗ trợ chúng tôi và thuộc về tất cả chúng sinh trong pháp giới. Chơn Như, Đông 1988. Chơn Quang. Luận về nhân quả. Phần I La Mã: Mở đầu. Nói đến đạo Phật là nói đến luật nhân quả nghiệp báo, một nguyên lý mà con người phải chịu lấy trách nhiệm hành động của mình. Không phải thần linh nào khác đã quy định thưởng phạt kiếp sống của con người. Chính con người thực sự là Thượng đế tối cao của họ. Họ muốn làm chủ đời sống hay muốn mất quyền làm chủ,
[12:25]họ muốn khổ hay muốn vui hoàn toàn bởi họ, không do một ai khác. Luật nhân quả là nền đạo đức nhân bản cao cả hơn mọi nền đạo đức nào khác, trong đó giá trị con người được nâng cao không còn giới hạn. Câu chuyện về ông già chồn được truyền mãi trong nhà Thiền như sau: Thoáng nhìn, Tổ Bá Trượng đã biết đây không phải là người bình thường trong khi ông già chầm chậm tiến về phía Tổ. Những đệ tử khác đều ra ngoài khi buổi giảng đã xong. "Ông là ai?", Tổ hỏi. "Bạch Hòa thượng, con không phải là người. Nguyên thời Đức Phật Ca Diếp, con là tăng. Có một đệ tử hỏi con chớ: 'Bậc đại tu hành có còn bị nhân quả chi phối hay không?'. Con đáp:
[13:27]'Không bị nhân quả chi phối' (Bất lạc nhân quả).
[13:35]Thế là từ đó, con đọa làm thân chồn đến nay đã 500 đời. Không biết chỗ sai ở đâu, con xin Hòa thượng đáp lại cho đúng để con thoát được thân chồn." Tổ Bá Trượng bảo: "Bây giờ, ông hỏi lại ta đi." "Bạch Hòa thượng, bậc đại tu hành có còn bị nhân quả chi phối hay không?" Tổ bảo: "Không còn mơ hồ về nhân quả" (Bất muội nhân quả).
[14:19]Nghe câu nói, ông già liền đại ngộ, thưa: "Thế là từ nay con thoát được thân chồn, dám xin Hòa thượng lấy theo lễ tăng chết tống táng cho con." Nói rồi, ông già biến mất. Tổ Bá Trượng sai bạch kiền chùy bảo chúng sau giờ ngọ trai sẽ đưa đám một vị tăng. Tăng chúng đều ngạc nhiên vì thấy không ai chết, nhà bệnh không ai nằm. Sau giờ thọ trai, Tổ dẫn chúng tăng vòng qua sau núi đến một chiếc hang, lấy gậy bới ra xác một con chồn đem về làm lễ trà tỳ. Lúc được hỏi câu đó, ông già đang làm một vị tăng thời Đức Phật Ca Diếp, có được định lực khá vững nhưng trong cái định đó, ông chưa thấy được đường đi của nhân quả
[15:14]nên trả lời theo chỗ thấy của mình, không ngờ phạm một sai lầm quá nặng. Toàn bộ giáo lý của Phật đều dựng trên nền tảng nhân quả, dù là thế gian hay xuất thế gian hay Bồ-tát đạo. Phủ nhận nhân quả tức là phủ nhận toàn bộ Phật pháp và quả báo của tội lỗi đó là bị đọa làm thân chồn 500 đời. Đến lúc tội đã mỏng, phước làm tăng lúc trước khởi dậy, ông gặp Tổ Bá Trượng hạ một chuyển ngữ phá tan cái định không ngơ của ông từ 500 đời trước, khiến ông nhận ra bản thể trí tuệ sáng suốt hằng hiện hữu. Trí tuệ sẵn có này tuy rất thanh tịnh nhưng chẳng phải là hư vô. Trái lại, rất tinh tế, nhỏ nhiệm, bao hàm trùm khắp,
[16:09]biết rõ từng tác động và hậu quả của nghiệp không chút lầm lẫn. Nếu cứu cánh cùng tột của sự tu hành chỉ đưa đến không ngơ như cây đá thì đạo Phật quá là tai hại. Nhưng sự thật không phải thế. Cứu cánh cùng tột của đạo Phật là nhận ra bản thể sẵn có, đầy đủ trí tuệ, đầy đủ từ bi, đầy đủ hoạt dụng nhưng vắng bóng phiền não khổ đau, không một sự trói buộc nào còn tồn tại. Đó đích thực là sự làm chủ cho chính mình, không bị tham, sân, si chi phối thúc đẩy tạo nghiệp khổ đau, chỉ sống và làm vì lợi ích cho những chúng sanh khác. Đối với đạo Phật, chúng sanh có ba mục đích cần nhắm đến: Một là sống trong luân hồi bớt khổ đau, có phước báo cõi trời, cõi người.
[17:11]Hai là thoát khỏi luân hồi, chấm dứt sanh tử, có được Niết-bàn an vui. Ba là giáo hóa cho chúng sanh cùng được thành tựu trí tuệ giải thoát, gọi là hành đạo Bồ-tát. Tuy nhiên, muốn thành tựu mục đích thì phải biết nhân quả, biết nhân nào sẽ thành tựu được mục đích này. Lý nhân quả là nền tảng của đạo Phật. Nếu chưa hiểu biết thâm sâu về lý nhân quả tức là chưa hiểu đạo Phật và chưa thực hành đúng đạo Phật. Con người sinh ra đã không đồng nhau trên mọi phương diện như giàu nghèo, mạnh yếu, trí ngu, dòng tộc, gia đình. Những thăng trầm may rủi trên đường mưu sinh lại càng muôn trùng sai khác. Nguyên nhân của sự bất đồng đó quá sâu kín,
[18:06]vượt khỏi tầm hiểu biết của con người và họ thường đã dựng nên Thượng đế, quy tất cả cho Thượng đế như là một đấng Sáng tạo để che giấu sự mơ hồ của mình. Họ ngủ yên nơi niềm tin đó và thỏa mãn với sự tin tưởng đó, vẽ vời và truyền bá thêm quan niệm đó cho con cháu họ. Từ đây, con người trở thành kẻ nô lệ cho chính một thần linh mà họ dựng nên. Thật vậy, chính con người đã sáng tạo nên Thượng đế nhưng lại bảo Thượng đế sáng tạo con người. "Man created God, but said that God had created man". Chỉ có chân lý mới cứu vớt con người khỏi sự sai lầm này, phục hồi lại quyền làm chủ cho con người để tự họ quyết định cuộc đời họ theo ý muốn.
[19:01]Chân lý đó chính là luật nhân quả nghiệp báo, giúp người thoát khỏi hai quan niệm sai lầm về nhân sinh và vũ trụ: một, cho Thượng đế định liệu; hai, cho mọi việc ngẫu nhiên. Những sự kiện gần gũi quanh cuộc sống đều có nguyên nhân xa gần của nó, chỉ vì không thấy được những nguyên nhân mà một số người kết luận vội vàng là ngẫu nhiên. Cũng như quan niệm thiên mệnh, quan niệm vạn vật ngẫu nhiên cũng là biểu lộ sự dễ dãi nơi tri thức của con người mà những người chín chắn kinh nghiệm không bao giờ vấp phải. Tuy nhiên, vì luật nhân quả chi phối qua nhiều kiếp sống quá khứ đến đời sống hiện tại và kéo dài mãi đến đời
[19:46]sống vị lai, nên cặp mắt của con người còn nhiều loạn động trong tâm thức không thể nào thấy được. Có những hiện tượng tái sinh được nhiều người biết đến, được báo chí đăng tải trên thế giới khi một người nhớ đến đời sống quá khứ của mình và những người có trách nhiệm đã kiểm chứng thấy là đúng, khiến nhiều người mơ hồ chấp nhận có nhiều kiếp luân hồi. Những người chỉ tin vào khoa học thì yên lặng chờ đợi sự chứng minh của khoa học rồi mới tin là có luân hồi từ đời sống này sang đời sống khác. Nhưng khoa học thì phải tiến bộ dần dần qua nhiều thế kỷ. Có những điều lúc trước chưa được khám phá nhưng đã được khám phá thời gian sau đó,
[20:32]và chắc hẳn là tương lai về sau khoa học còn khám phá thêm những điều mà bây giờ con người chưa biết đến. Các nhà khoa học đã cố gắng giải thích về tâm lý và sinh lý của những đứa trẻ, khi mà nó hoàn toàn không giống gì với môi trường chung quanh của nó. Trong gia đình, những người con khác nhau đến kỳ lạ về tài năng và tính khí. Rồi những thần đồng học một biết một ngàn, hay chưa học đã biết. Những hiện tượng đó vẫn còn là bí mật, khi người ta chỉ cố gắng tìm hiểu bằng tâm suy nghĩ lăng xăng của mình. Thượng đế ư? Lỗi thời quá! Ngẫu nhiên ư? Dễ dãi quá! Di truyền ư? Khập khiễng quá! Phải chăng con người đã mang những khuynh hướng,
[21:25]những tình cảm, năng khiếu từ đời sống quá khứ theo đến đời sống hiện tại, và tiếp tục gánh hành trang của đời sống này đi về đời sống ở vị lai? Tại sao người em say mê nghiên cứu khoa học, trong khi người anh chỉ thả hồn theo tiếng nhạc du dương? Tại sao người cha kỹ lưỡng chi ly, trong khi người con thờ ơ hời hợt? Tại sao cả cha mẹ đều là giáo sư dạy sinh vật ở trường đại học tổng hợp, trong khi người con duy nhất của họ không thể nào nhai nổi môn học chán ngấy này? Có đời sống trước đời sống này chăng? Có sự luân hồi thay đổi từ kiếp sống này sang kiếp sống khác chăng? Và nếu có, thì làm sao biết được?
[22:11]Hay phải chấp nhận điều này bằng niềm tin? Chúng ta đã chán ngán cái niềm tin không trí tuệ này quá rồi. Bây giờ nếu có phải tin, tin cho chúng ta một niềm tin sau khi đã suy xét bằng trí tuệ. Nếu chúng ta không chấp nhận có đời sống quá khứ, tức là cũng không chấp nhận có đời sống vị lai. Đời sống hiện tại chỉ bắt đầu từ lúc gặp gỡ giữa cha mẹ, và chấm dứt khi hơi thở hắt ra lần cuối. Ngoài ra, không có gì trước và sau đó nữa. Với quan niệm như vậy, chúng ta không thể giải thích được những sự khác biệt nhau về trí tuệ, khuynh hướng, sở thích, tính khí và năng khiếu của con người, dù họ cùng sống trong một hoàn cảnh nhất định.
[23:03]Cũng đành ngạc nhiên trước những hiện tượng thần đồng phi thường mà cha mẹ và môi trường không thể đào tạo nổi. Nhưng tai hại này ít hơn tai hại kế đó. Khi con người không tin luân hồi, thấy kiếp người chỉ tồn tại vài mươi năm, họ sẽ sinh ra khuynh hướng hưởng thụ vội vàng cho bản thân. Từ khuynh hướng đó, nền đạo đức tốt đẹp của con người sụp đổ không có cách nào kéo lại được nữa. Lúc này, mỗi người là một kẻ phá hoại xã hội, là một kẻ cướp giật, tranh giành dù lộ liễu hay kín đáo. Nền an ninh xã hội sẽ khủng hoảng trầm trọng. Người ta sẽ tham nhũng, ăn cắp của tập thể, lơ là với việc chung và kỹ lưỡng với việc riêng.
[23:51]Những tội ác hình sự sẽ đầy rẫy khắp nơi mà không một quyền lực nào dập tắt được. Tình trạng kinh tế của một quốc gia chỉ kéo lê thê như cơn hấp hối. Bởi vì mỗi con người trong guồng máy đó chỉ nghĩ đến hưởng thụ cá nhân, che mắt dư luận, tranh giành xâu xé nhau, gạt bỏ người có tài ra ngoài để kết bè phái củng cố địa vị của mình. Họ không sợ tội lỗi, chỉ cần kín đáo che mắt xã hội. Vì chết rồi thì không còn quả báo nữa, không còn đời sống nào nữa, chết là hết. Chẳng phải luật nhân quả nghiệp báo là sự đối phó với tình trạng xã hội, mà sự thật, luật nhân quả là một chân lý tồn tại khách quan. Luật nhân quả nằm trong sâu kín của con người thì gọi là lương tâm.
[24:46]Trùm phủ chi phối tất cả sự việc của con người thì gọi là báo ứng. Tận trong thâm tâm chúng ta, ai cũng đồng ý rằng người có công đáng được thưởng, kẻ có tội đáng bị phạt. Chính vì lương tâm con người đã là luật nhân quả, thế nên ai phát triển lương tâm đến tột cùng minh bạch sẽ thốt lên câu: "Không còn mơ hồ về nhân quả",
[25:15]đồng với Tổ Bá Trượng một cái nhìn khách quan sáng suốt. Thật vậy, người lắng dừng mọi tâm thức vọng động, trí tuệ sáng tỏ sẽ thấu hiểu lý nhân quả nghiệp báo tinh vi hơn bao giờ hết. Luật nhân quả là nền đạo đức công bằng hơn mọi nền đạo đức nào khác, và chính luật nhân quả cũng là lương tri của nhân loại. Vì quá khứ đã đem lại an vui cho người, nên hiện tại chúng ta được hạnh phúc. Vì quá khứ chịu ơn của người, nên bây giờ phải nhận người sai khiến. Nếu đã lầm lỡ làm khổ người, thì bây giờ đành chuốc lấy tai ương. Tuy nhiên, luật nhân quả không cố định cứng ngắc, biến thiên vô cùng phức tạp.
[26:04]Nếu chúng ta không trầm tĩnh sáng suốt, dễ bị kết luận vội vàng, thiếu sót. II La Mã: Chứng kiến và chứng minh. Các nhà khoa học đã tinh tế chứng kiến những nguyên lý của thiên nhiên, suy diễn thành những định lý và áp dụng vào đời sống con người được hiệu quả gấp vạn lần hơn trước. Tôi không nói là hiệu quả lợi hay hại, vì đạo đức chưa được kết hợp vào đấy. Khoa học luôn luôn bắt đầu bằng sự chứng kiến, chứng kiến những nguyên lý khách quan sẵn có và phát triển thành những định lý được chứng minh. Như vậy, nguyên lý là do chứng kiến và định lý là do chứng minh. Ví dụ, người ta đã chứng kiến được nguyên lý bảo toàn trọng lượng
[26:50]và chứng minh được vấn đề có thể di chuyển ngoài lớp khí quyển. Tuy nhiên, nếu những nguyên lý khách quan chưa được chứng kiến đầy đủ thì chúng ta đừng đòi hỏi chứng minh những định lý khác. Căn bản là chứng kiến, nếu chưa có sự chứng kiến thì các việc khác bế tắc. Với những năng lực trí tuệ thông minh khác mọi người, các nhà khoa học đã chứng kiến những nguyên lý mà người thường không thấy được. Những người khác chỉ áp dụng những điều khám phá của khoa học vào đời sống của mình và được hiệu quả hơn. Nếu muốn tự mình chứng kiến, khám phá các nguyên lý khoa học, họ phải trải qua thời gian dài miệt mài học tập.
[27:31]Sau đây là một câu chuyện khoa học giả tưởng dí dỏm: Sau một thời gian khá lâu theo dõi quan sát những sinh hoạt của địa cầu, Z cho đĩa bay trở về hành tinh mình với vận tốc vượt hơn vận tốc ánh sáng. Ở vận tốc này, mọi vật thể đều bị triệt tiêu về kích thước và khối lượng, nhưng không phải mất hẳn. Chỉ cần một dao động đặc biệt là con tàu trở thành tàng hình và lao đi, vượt khỏi vận tốc ánh sáng. Chỉ có phương pháp này, vũ trụ mới trở nên nhỏ bé lại. Tại hành tinh của mình, Z đã trình bày mọi dữ kiện đã chứng kiến tại địa cầu cho Hội đồng Khoa học. Vì nơi hành tinh của Z không có thực vật, không có cây cối, nên đã có sự nghi ngờ xảy ra.
[28:22]Z nói: "Ở hành tinh đó đó, tức là ở trên địa cầu á, loài vật thông minh nhất đã lấy một hạt nhỏ như chiếc nút này nè, vùi xuống đất ẩm, vài ngày sau, hạt nảy mầm thành một cái cây bé xíu. Vài năm sau, cái cây ấy lớn, lớn đến nỗi có tàn che kín cả một khoảng đất rộng. Chúng gọi việc đó là trồng cây." Những người khác hỏi lại: "Tại sao một cái hạt nhỏ xíu lại biến thành cái cây quá lớn như vậy? Những sinh vật ấy có chứng minh sự kiện đó ra sao không? Nếu có, anh hãy chứng minh cho chúng tôi biết tại sao một cái hạt nhỏ lại biến thành cái cây lớn như vậy?" Z lúng túng vài giây rồi đáp: "Hơ... cái loài vật ấy không có chứng minh gì về việc đó hết á!
[29:20]Từ ban sơ của hành tinh, sự việc này đã tự nhiên diễn tiến rồi. Loài vật kia chỉ chứng kiến như một nguyên lý thông thường và áp dụng cho đời sống của chúng. Chúng chỉ chứng kiến chứ không chứng minh, vì việc đó quá hiển nhiên và phổ biến. Chúng không còn gì phải thắc mắc về điều đó. Cây cỏ mọc đầy cả đất liền và đáy biển. Chúng không có chứng minh tại sao cây lại mọc, vì đó là nguyên lý tự nhiên quá rõ rệt rồi." "Hừm, câu trả lời của anh chưa ổn thỏa chút nào. Có khi vì sự theo dõi của anh còn thiếu sót nên chưa chứng minh được việc đó." "Ồ, không! Không phải vậy mà!" Thôi, để họ tiếp tục cãi nhau
[30:04]đi, còn chúng ta trở lại công việc của mình. Cây cối mọc đầy cả địa cầu cho chúng ta không có gì thắc mắc, đó là một nguyên lý tự nhiên rồi. Chỉ những người chưa chứng kiến thì đòi hỏi phải chứng minh, còn người đã chứng kiến rồi thì biết đó là sự thật. Cũng vậy, cây nhân quả bám rễ vào lòng đất quá khứ, vươn ngọn tới bầu trời vị lai và rơi rụng hoa quả trên mặt đất của hiện tại. Người chưa chứng kiến thì đòi hỏi phải chứng minh, còn người có tâm an định lặng lẽ thì chứng kiến rõ ràng đó là một nguyên lý chân thật. Đường đi của nhân quả tuy vô hình đối với người tâm còn loạn động, nhưng bày hiện rõ ràng với người có nội tâm
[30:58]an tĩnh sâu xa, giác ngộ được tự tánh chân thật. Những đệ tử của Phật khi vào thiền định chứng được thiên nhãn minh, có thể thấy rõ những nghiệp duyên báo ứng của chúng sanh. Biết rõ do hành nghiệp gì từ quá khứ mà chúng sanh kia phải chịu khổ hay được vui. Thấy rõ chúng sanh chết từ đây này và sang nơi khác theo duyên nghiệp như thế nào. Các Ngài trông thấy rõ ràng như chúng ta cúi nhìn bầy kiến bò trên mặt đất. Các nhà khoa học đã chế tạo được máy bay di chuyển rất nhanh trên không trung. Và bây giờ, hoặc là bạn tin tưởng mua vé ra phi trường lên máy bay đi đến nơi mong muốn, hoặc bạn đợi học đến khi nào tự chứng minh được những nguyên
[31:44]tắc hoạt động của máy bay, rồi sẽ chịu du hành bằng máy bay. Bạn muốn chọn con đường nào? Các bậc đạt đạo đã chứng kiến luật nhân quả nghiệp báo. Và bây giờ, hoặc là bạn tin tưởng áp dụng tạo những nhân lành để đi về nơi mong muốn, hoặc bạn đợi tu cho đến khi tự chứng kiến được những tính cách của luật nhân quả, rồi mới chịu sống đạo đức, gây tạo nhân lành, sống vì mọi người, tận lực phụng sự quê hương đất nước. Bạn muốn chọn con đường nào? Chúng ta nên nhớ, luật nhân quả là một nguyên lý khách quan để chứng kiến, không phải để chứng minh. Nếu bạn đã chứng kiến được đường đi của nhân quả thì không còn gì để bàn cãi thêm.
[32:35]Tôi xin chân thành cúi đầu đảnh lễ bạn, như tôi đã kính trọng các bậc thánh giải thoát từ trước. Nếu bạn chưa chứng kiến được sự chi phối trùm khắp của luật nhân quả, nhưng công nhận là đúng với lương tri loài người, thật sự tin tưởng và áp dụng cho cuộc sống của mình, thì tôi xin chúc mừng cho bạn, vì từ đây bạn sẽ là niềm vui cho mọi người, là công dân tốt cho đất nước, là cá nhân tiêu biểu trong tập thể, là con người đáng kính trong gia đình. Đất nước chúng ta đang cần nhiều những con người tin hiểu nhân quả để chuyển mình phát triển, để đạo đức văn minh sáng tỏ trong lòng người, trên đường phố, chốn đông người, trong xanh nơi đôi mắt em thơ,
[33:29]cao cả nơi lời nói cụ già, thật thà trong hành vi người trai trẻ. Thiếu hiểu biết nhân quả, con người đã mưu tìm hạnh phúc cho mình bằng cách chiếm đoạt của tha nhân, của tập thể, của đất nước. Trái lại, người hiểu biết nhân quả sẽ mưu tìm hạnh phúc cho mình xuyên qua việc làm lợi ích cho tập thể trước, từ bỏ cuộc sống ích kỷ riêng mình, hòa vào đời sống công cộng vui vẻ. Vì môi trường tập thể là nơi để chúng ta có dịp phụng sự nhiều hơn đời sống cá nhân. Chúng ta chưa đủ trình độ chứng kiến quy luật nhân quả nghiệp báo đã chi phối như thế nào, nhưng không thấy đâu có nghĩa là không có. Có nhiều điều khoa học chưa khám phá,
[34:18]nhưng nó vẫn tồn tại hiện hữu và mãi về sau khoa học mới tìm thấy. Cũng vậy, dù trí óc con người suy luận không tới, dù chúng ta không đủ sức định tâm để chứng kiến, nhưng luật nhân quả vẫn trùm phủ, chi phối một cách khách quan. Luật nhân quả phù hợp với lương tâm loài người, có tính cách công bằng tự nhiên, đặt trách nhiệm nơi chính con người vì việc làm của họ, không có sự nô lệ nơi một thần linh bên ngoài, cũng không có tính cách vô luân như kẻ chủ trương ngẫu nhiên họa phúc. Chúng ta đã kêu gào đánh thức lương tâm nhân loại trước tội lỗi đang lan tràn trên thế giới, nhưng nếu không đánh thức sự hiểu biết nhân quả của con
[35:04]người thì sự kêu gào đó chỉ là tiếng than van giữa sa mạc hoang vu. Luật nhân quả là một quy luật khoa học khách quan như mọi quy luật khoa học khác của tự nhiên, chỉ khác ở chỗ: muốn chứng kiến được đường đi của luật nhân quả thì phải có một trình độ định tâm khá sâu. Các đất nước có nền văn minh phát triển cao bởi do khéo áp dụng các khám phá của khoa học cho đời sống của con người, làm tăng thêm hiệu quả các việc làm của họ. Cũng vậy, nếu ai áp dụng được sự hiểu biết luật nhân quả thì đời sống của họ sẽ trở nên tốt đẹp hơn lúc trước, ích lợi hơn cho gia đình họ, cho tập thể và cho đất nước họ.
[35:54]Nếu trong một quốc gia có đại đa số người hiểu biết quy luật nhân quả một cách thấu đáo, quốc gia đó sẽ chuyển mình phát triển không bao lâu. Bởi vì sự áp dụng được một quy luật tự nhiên đều đem đến hiệu quả lớn lao hơn trước, nhưng ưu việt hơn những quy luật khoa học khác chỉ đem đến cho con người hiệu năng, luật nhân quả sẽ đem đến cho con người đạo đức chân thật. Ở mức độ dao động tâm thức nào giờ, con người đã chứng kiến và chứng minh nhiều quy luật khoa học tự nhiên khác. Ở mức độ lắng định tâm thức sâu hơn, con người sẽ chứng kiến và chứng minh nhiều quy luật đang còn gọi là bí ẩn của nhân sinh và vũ trụ.
[36:37]Nếu chỗ an định tột cùng của tâm thức, người ta còn sẽ chứng kiến vô số những quy luật vô cùng phong phú, phức tạp, đa dạng của con người và vũ trụ, mà dù cho một kẻ thông minh nhất cũng không thể nào suy luận nổi. Ở tập hợp N, không có các con số âm. Ở tập hợp Z, không có các con số vô tỷ. Và ở tập hợp R, không có các hình thức số ảo như tập hợp C chẳng hạn. Cũng vậy, những quy luật khám phá được ở mức độ tâm thức dao động không thể nào so sánh được với những quy luật được khám phá ở mức độ tâm thức lắng định. Người ta bây giờ và mãi mãi không thể nào dùng những kiến thức khoa học hiện nay để
[37:25]chứng minh được luật nhân quả, chỉ bởi vì kiến thức khoa học hiện nay thuộc tập hợp của tâm thức dao động, còn luật nhân quả thuộc tập hợp của tâm thức an định. Thật là quê mùa nếu chúng ta đòi hỏi phải chứng minh luật nhân quả bằng những kiến thức khoa học hiện nay. Chỉ có chứng kiến, khách quan chứng kiến khi tâm thức chúng ta đã vào sâu trong an định mà thôi. Người khôn ngoan là người nhận thấy rõ tính cách hợp lý của luật nhân quả và chấp nhận nếu họ chưa đủ định lực để tự chứng kiến sự vận hành của nó.
[38:32]Ba La Mã: Môi trường của nhân quả. Một hòn đá rớt xuống hồ nước yên lặng, thế rồi những dòng sóng tỏa đi càng lúc càng xa. Mặt nước là môi trường để cho sóng lan tỏa sau khi nhận được kích động bởi sự va chạm của hòn đá. Không khí là môi trường truyền đi của âm thanh. Nước là môi trường sinh sống của cá. Vật trong suốt là môi trường của ánh sáng. Những gì có biến thiên thay đổi đều có môi trường của nó, và luật nhân quả cũng vậy, cũng có một môi trường để cho một các nhân biến đổi thành quả báo. Chị Chín đã khóc khá nhiều sau cái chết đột ngột của anh Chín. Hôm anh Chín từ nhà đi bộ qua thăm bác Ba bên kia làng,
[39:16]anh đã chọn lối đi bên trái thay vì lối đi bên phải, và giữa đường một cành cây khô gãy rơi xuống trúng vào đầu anh, anh tắt thở khi được đem đến bệnh viện. Tai nạn của anh được kết thành bởi hai điều kiện: do ý tưởng của anh chọn lối đi bên trái, tức là điều kiện nội tại, và do cành cây khô gãy đúng lúc anh đi ngang, tức là điều kiện ngoại tại. Luật nhân quả đã chi phối và tác động khắp nơi, tận trong tư tưởng và trùm phủ nơi vạn vật. Môi trường để cho luật nhân quả vận hành quả là lớn lao và thấu đáo, thẩm thấu nơi tâm và vật, ứng hiện nơi loài có tri giác và loài không tri giác, rõ ràng nơi từng tâm niệm vi tế và trùm khắp mênh mông
[40:07]trong vũ trụ, nhỏ nhiệm như mũi kim và thênh thang như pháp giới. Môi trường này mắt không thể thấy, tai không thể nghe, rờ không thể chạm, không có hình tướng, rất là thanh tịnh vắng lặng. Nhưng khi đã khởi tác dụng thì giông bão quay cuồng, quả đất rung chuyển, gió thổi sóng xô, bốn mùa thay đổi. Tốt đẹp thì mưa gió thuận hòa, nắng ấm xuân sang, mùa màng tươi tốt. Xấu xa thì ngập lụt bão tố, hạn hán khô cằn, cây trồng trơ trụi. Ứng nơi vạn hữu thì gọi tên là pháp tánh, chân như, nếu cần gọi là Thượng đế cũng được, nhưng không phải Thượng đế quan niệm theo sai lầm từ trước. Ứng nơi con người cũng thành nhiều tên gọi:
[40:56]theo tính cách biết rõ nhân quả thì gọi là lương tâm, theo tính cách bất sanh bất diệt, nghĩa là không có bắt đầu, không có chấm dứt, thì gọi là chân tâm, theo tính cách sáng suốt liễu tri thì gọi là trí tuệ, theo tính cách giải thoát thanh tịnh thì gọi là Niết Bàn, theo tính cách thương yêu bình đẳng vạn loài thì gọi là thể đại bi, theo tính cách vượt khỏi tâm thức sinh diệt thì gọi là vô ngã. Chính vì có môi trường kỳ diệu này mà có sự vận hành của nhân quả nghiệp báo. Nếu, nếu không có môi trường kỳ diệu này thì không có sự vận hành của nhân quả. Nếu người nào có thể lắng tâm mình đến tột cùng
[41:41]và giác ngộ được môi trường này, thể tánh này, sẽ thấy rõ sự vận hành của nhân quả. Có nhiều người tu tập thiền định, tuy có phần định tâm, nhưng chưa thể giác ngộ toàn triệt thể tánh kỳ diệu này, vẫn không thấy được đường đi của nhân quả. Phải là bậc giác ngộ viên mãn thể tánh đó mới không mơ hồ về nhân quả. Thiền sư Tổ Giác Hoa Nghiêm sau khi triệt ngộ đã làm bài kệ:
[42:13]Ra rừng như cũ vào bồng hao. Lưới trời lồng lộng trốn được nào. Ai tin nghiệp duyên không thể trốn. Trở về chẳng sợ lời nói cao. Nếu ngộ đến chỗ thấy không lầm nhân quả, mới có thể không còn lúng túng trước sự gặng hỏi của người khác về thiền đạo. Thể tánh này vừa trùm khắp không gian, tuy có nơi tâm một người mà vẫn bao hàm cả pháp giới, tuy rõ ràng tại một sát na mà vẫn phủ trọn cả ba đời: quá khứ, hiện tại, vị lai. Với người chưa giác ngộ thể tánh này còn nhìn vạn hữu theo tâm thức dao động, những kiến thức hạn chế trong tập hợp này thì thấy không gian là sai khác, điểm A không phải là điểm B, lúc năm giờ không phải là lúc sáu giờ.
[43:12]Nhưng người có tâm thức an định, giác ngộ thể tánh này một cách viên mãn thì không phải như vậy. Thể tánh này là hiện hữu nơi điểm A, nhưng vẫn rõ ràng tại điểm B, chẳng những riêng tại A và B mà còn đầy đủ cả pháp giới. Dòng thời gian đều đặn trôi chảy nhưng không trôi chảy khỏi thể tánh này, dòng thời gian vô cùng vô tận vẫn nằm gọn trong thể tánh kỳ diệu kia. Đây là điều mà người chưa giác ngộ không thể nào thấy được, không thể nào tưởng tượng suy nghĩ tới được. Bởi vì sao? Chỉ vì tâm suy tưởng quá nhỏ hẹp và hạn chế, cũng như không thể tìm thấy vô số tỉ trong tập hợp N chỉ gồm các số nguyên tự nhiên.
[43:59]Với con mắt phàm tục đầy loạn động như chúng ta, quá khứ là cái gì đã qua mất không còn tìm thấy được nơi hiện tại, và vị lai là cái gì chưa đến cũng không tìm thấy được nơi hiện tại. Nhưng người giác ngộ lại thấy rõ cả quá khứ, hiện tại và vị lai đều nằm gọn trong thể tánh. Tác nhân từ quá khứ trôi chảy trong môi trường thể tánh đến hiện tại và vị lai, kết thành quả báo khi duyên đã đầy đủ. Chính vì môi trường thể tánh thông đạt cả tâm và vật, nên có những quả báo sinh ra nơi tâm như được thông minh, trí tuệ; hoặc sinh ra nơi vật như được mùa màng thuận lợi; hoặc kết hợp vừa tâm vừa vật như một người dự định công
[44:46]chuyện lại được hoàn cảnh may mắn để thành công. Cái dụng của thể tánh rất lớn. Người chưa giác ngộ còn si mê tạo các nghiệp, đến khi quả báo thành có thể làm đất sụp, núi lở, cuồng phong, lửa cháy; hoặc người tạo thiện nghiệp đến khi quả báo thành có thể gió yên, sóng lặng, nắng ấm, trời trong, thú dữ quy phục, cây trái tốt tươi, mùa màng thạnh mậu. Khi có phước tâm, người ta dễ ứng thành những trực giác bén nhạy, quyết đoán công việc mau lẹ, chính xác; hoặc đoán ra thủ đoạn của đối phương để đối phó; hoặc ứng ra quy luật chinh phục lòng người. Những nhà lãnh tụ chính trị đều có cái phước này.
[45:31]Tuy nhiên, đó là dụng lực theo nghiệp. Đối với người đã giác ngộ đạt được quả báo lớn lao, có thể từ nơi thể tánh này khởi lên những dụng lực phi thường. Đây là dụng theo nguyện. Những thần thông của Phật và chư vị đệ tử A La Hán ghi đầy trong kinh điển đều là dụng lực theo nguyện. Các vị có thể một thân hóa thành nhiều thân, dập tắt một cơn cháy rừng, hóa ra lửa cháy, biến ra nước trôi, thâu ngắn kéo dài không gian thời gian, tùy ý tự tại rất là kỳ diệu.
[46:26]Có nhiều thể tánh hay chỉ có duy nhất một thể tánh? Đây là câu hỏi tế nhị và cần thiết. Thể tánh này là tịch lặng và vô ngã. Bản ngã là riêng, nhưng vô ngã thì không phải riêng. Tất cả những ai thể nhập được thể tánh này thì cùng hòa chung nhau trong tính chất trí tuệ và từ bi. Tất cả đều cảm ứng giao hòa với nhau không còn ngăn cách. Một vị khởi dụng thì các vị khác đều biết rõ. Trong thể tánh này, mọi cái riêng rẽ đều vắng bóng. Tuy nhiên, nếu một vị chợt khởi niệm quan sát, khởi công hạnh từ bi thì vẫn là thuộc về riêng của vị đó, mà tất cả các vị A La Hán, tất cả chư Phật đều biết rõ và hỗ trợ.
[47:19]Thể thì không phải riêng, nhưng dụng và hạnh thì riêng. Tất cả chư Phật đã nhập Niết bàn đều trở thành duy nhất. Chính vì tính chất chung của thể tánh nên có hiện tượng cộng nghiệp, gọi là nghiệp chung. Người dân Kuwait cùng sống trên cái túi dầu và chính phủ phải phát lương cho học sinh vì thu nhập quá nhiều. Cánh đồng phù sa màu mỡ, sông nước mênh mông, nên người dân miền Nam Bộ Việt Nam được dễ dàng lương thực. Cơn bão vừa rồi làm ngập lụt cuốn trôi cả làng ven biển và phá hoại cánh đồng lúa của huyện. Cơn động đất ở Tây Ban Nha làm chết nhiều người và hư hại tài sản khá nặng của dân chúng trong vùng.
[48:07]Những trường hợp tương tự như trên đều là nghiệp chung của nhiều người. Chính vì các loài sống trên hành tinh này cộng nghiệp, nên Mặt Trăng quay quanh Trái Đất hơn hai mươi chín ngày một vòng, Trái Đất quay quanh Mặt Trời nghiêng nghiêng hơn ba trăm sáu mươi lăm ngày một vòng. Các mùa thay đổi như thế, không khí, nhiệt độ như thế, biển trời, mây gió như thế. Tất cả biển, trời, sông, núi, ghềnh, thác đều do nghiệp chung của chúng sinh nơi đây mà hiện thành, chẳng phải ngẫu nhiên, bừa bãi. Cái dụng của thể tánh thật vô hạn. Người có thể giác ngộ được thể tánh rồi thì ứng nơi thân mình được đầy đủ lương tâm, đầy đủ trí tuệ, đầy đủ từ bi,
[48:51]được niềm vui của sự giải thoát ra khỏi mọi ràng buộc của khổ đau nhân thế. Thể tánh này thênh thang như bầu trời tự do, mà cuộc sống tâm thức xao động hiện tại của chúng ta như ngục tù nhỏ bé. Trong bài kệ Pali từ nguyên thủy Tiểu bộ kinh, Phật đã xác nhận về thể tánh này với nguyên văn: "Này các Tỳ kheo, có cái không sanh, không hiện hữu, không tác thành, không làm ra, không bởi một cái gì làm ra cái đó, Asankhataṃ.
[49:31]Này các Tỳ kheo, nếu không có cái không sanh, không hiện hữu, không tác thành, không làm ra, thì ở đây không có vấn đề xuất ly khỏi sanh, khỏi hiện hữu, khỏi tác thành, khỏi làm ra những tướng hữu vi sanh diệt.
[49:56]Do vì, này các Tỳ kheo, có cái không sanh, không hiện hữu, không tác thành, không làm ra, nên mới có vấn đề xuất ly khỏi sanh, khỏi hiện hữu, khỏi tác thành, khỏi làm ra".
[50:17]Ví như nếu không có vùng trời tự do thì không thể có vấn đề ra khỏi nhà ngục. Chính vì thực sự có vùng trời tự do nên mới có thể ra khỏi nhà ngục. Nhà ngục chính là tâm thức xao động đầy dẫy những tham lam, sân hận, si mê, kiêu mạn, ích kỷ. Chính những tâm niệm này trói buộc chúng ta trong đau khổ và tội lỗi từ vô lượng kiếp đến nay. Sự giải thoát an vui chỉ thực sự có khi chúng ta mở cửa nhà ngục tham sân si để bước ra bầu trời tự do của thể tánh bất sinh bất diệt kia. Người giác ngộ thể tánh đó, kinh nguyên thủy gọi là bậc Vô sanh - A La Hán; kinh Đại thừa thì gọi là bậc Giác ngộ hữu tình - Bodhisattva;
[51:10]Thiền tông gọi là Đấng Giác ngộ - Buddha. Chính Chúa Jesus cũng đã định nghĩa Thiên Chúa theo ý nghĩa này, trong khi cả dân tộc Do Thái cứ đinh ninh Thiên Chúa là hình ảnh ông già râu dài, toàn quyền sinh hóa và thưởng phạt. Một hôm, Chúa cùng các môn đệ đến xứ Samaria, một xứ có thù hằn với Do Thái. Chúa ngồi nghỉ tại bờ giếng ngoài làng, trong khi các môn đệ vào làng tìm lương thực. Có một cô gái Samaria đến giếng gánh nước, Chúa bảo: "Cô hãy cho ta xin miếng nước". Cô gái khinh khỉnh đáp: "Ông là người Do Thái mà lại xin nước của tôi à?". "Nếu cô biết người xin nước của cô là ai, thì có lẽ cô đã trở lại xin ta mạch nước của sự sống đời đời".
[52:15]Ông là ai mà có mạch nước đó? Trong khi giếng này á là của tổ phụ Gia-cốp của tôi đào nên. Bộ ông hơn Gia-cốp sao? Chúa bảo: "Nước giếng này không làm người ta vĩnh viễn hết khát, còn nước của ta có thể đưa đến sự sống đời đời." "Nếu ông có, thì hãy cho tôi đi." "Cô hãy gọi chồng cô ra đây." "Tôi không có chồng." "Đúng, cô đã ở với năm người đàn ông, và người thứ sáu này cũng không phải là chồng cô." "Ôi, ngài thật là bậc tiên tri! Thưa ngài, tổ tiên con á thì bảo phải thờ Thiên Chúa trên đỉnh núi kia, tại sao người Do Thái lại thờ nơi Đền Thánh ở Giê-ru-sa-lem?"
[53:11]"Này cô gái, đã đến lúc không phải thờ Thiên Chúa trên đỉnh núi hay trong Đền Thánh, mà phải thờ Thiên Chúa trong tinh thần và trong sự thật, bởi vì Thiên Chúa chính là tinh thần và sự thật." Tôi vô cùng kính trọng Chúa Giê-su từ khi được đọc đoạn Phúc Âm trên, và cũng buồn vì người Thiên Chúa không hiểu ý Chúa. Tôi cũng nghi ngờ người dịch sau này tách đôi hai chữ tinh thần và sự thật, nếu ghép lại hai chữ đó có nghĩa là chân tâm. Nếu hiểu Thiên Chúa theo nghĩa này, thì sự thưởng phạt của Thiên Chúa chính là luật nhân quả công bình và tự nhiên. Bạn muốn rõ thêm về thể tánh này, có thể xem kinh Lăng Nghiêm của Đại Thừa Phật giáo.
[54:27]Một số trường hợp điển hình về nhân quả. Bởi vì kẻ phàm phu tâm thức còn nhiều dao động như chúng ta, bị che mờ bởi những tình cảm thương ghét chủ quan, nên lương tâm chưa sáng tỏ minh bạch, thế nên chúng ta không biết rõ một nhân này sẽ kết thành quả báo như thế nào, hoặc một quả báo này đã bắt đầu bằng những tác nghiệp ra sao. Muốn đánh thức sự hiểu biết của lương tâm, để chúng ta có thể biện rõ đường đi của nhân quả, chúng ta nên bắt đầu bằng cách tham khảo lại những trường hợp nghiệp báo đã được giảng giải, phân tích bởi Phật và các vị Thánh từ trước. Qua những trường hợp điển hình cũ, chúng ta sẽ có kinh nghiệm làm sống dậy sự hiểu biết
[55:11]của lương tâm, và sau đó chúng ta có thể tự mình suy luận lấy những trường hợp nghiệp báo khác bớt sai sót hơn. Phần A: Nhân quả thế gian. I La Mã: Thiên nhãn của A-la-hán. Trích Trung Bộ Kinh 1, kinh Bhayabherava, B.
[55:35]Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm trí tuệ đến sanh tử của chúng sanh. Vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy tuệ tri rõ ràng: Chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của chúng.
[56:19]Vị ấy nghĩ rằng: Thật sự những chúng sinh này thành tựu những ác hạnh về thân, lời nói, ý nghĩ, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sinh khác thành tựu những thiện hạnh về thân, lời nói, ý nghĩ, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến. Những người này sau khi thân hoại mạng chung, được sinh lên các thiện thú, chỗ đến là thiên giới, cõi đời này. Như vậy, vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh.
[57:14]Vị ấy tuệ tri rõ ràng: Chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của chúng.
[57:32]Nhận xét: Trình độ để một hành giả thành tựu thiên nhãn siêu nhiên là Tứ thiền. Người nhập được Tứ thiền tâm thanh tịnh đến nỗi hơi thở dừng lại. Thuần thục Tứ thiền, vị này hướng tâm về những đời sống quá khứ của chính mình và nhớ lại vô lượng đời sống quá khứ ấy. Khả năng này gọi là Túc mạng minh. Rồi vị ấy hướng tâm quan sát sự lưu chuyển sanh tử của chúng sanh, và thấy chúng sanh khổ vui theo nghiệp thiện ác của quá khứ. Khả năng này gọi là Thiên nhãn minh. Rồi vị ấy hướng tâm về đầu mối của sanh tử triền phược, tìm ra nguồn gốc của đau khổ, tìm ra ý nghĩa của giải thoát và con đường đưa đến giải thoát.
[58:20]Liền đó, vị ấy thoát khỏi mọi lậu hoặc vô minh, thành tựu Niết-bàn an ổn. Khả năng này gọi là Lậu tận minh. Đủ ba minh này, vị ấy được gọi là A-la-hán. Phải là người chứng Thiên nhãn minh mới thấy được đường đi của nhân quả. Chúng ta đừng dùng mắt thịt nhìn vào cõi không gian thô thiển này mà mong tìm đường đi của nhân quả. Khoa học chưa đủ khả năng để khám phá những tầng lớp không gian sâu thẳm hơn, chỉ có người lắng sâu trong thiền định mới thấy được điều này. Và ở đây, đường đi của nhân quả nghiệp báo là một sự thật được chứng kiến rõ ràng. Một người mù từ thuở lọt lòng, dù được nghe diễn tả chứng minh
[59:06]đủ mọi cách về màu sắc, vẫn không thể nào tin hiểu được. Chúng ta là những người mù từ thuở lọt lòng, không khai phát thiên nhãn, dù được nghe diễn tả chứng minh đủ cách về đường đi của nhân quả, vẫn không thể nào tin hiểu được. Nhưng hạnh phúc thay cho những ai nghe được lương tâm mình lên tiếng nói, để có thể tin hiểu lý nhân quả nghiệp báo rất công bằng và mầu nhiệm. Chúng ta muốn làm việc nghĩa, muốn đem nhiệt tình, tài năng và bạo lực để thay đổi hoàn cảnh của mọi người, giành lấy tài sản của người này đem phân phát cho người khác, nhưng điều này không phải là nguồn gốc cho hạnh phúc của xã hội.
[59:52]Chính hạnh nghiệp quá khứ đã đưa đến hoàn cảnh đời sống khổ vui cho họ như hiện tại. Nếu chúng ta thương yêu họ, những kẻ khốn cùng, hãy giáo hóa cho họ biết thương yêu giúp đỡ mọi người, hơn là phẫn nộ và tàn ác. Kẻ càng nghèo càng dễ trở thành tội lỗi, và tội lỗi làm cho họ khốn đốn hơn. Con người phải chịu trách nhiệm lấy mọi hành động của mình, không phải thần linh quy định cho họ, nhưng cũng không phải ngẫu nhiên vô cớ. Hai quan niệm một chiều cực đoan và sai lầm rất phổ biến nơi mọi người: Một, là trút hết mọi trách nhiệm cho một thần linh tưởng tượng, và mình trở thành kẻ cầu nguyện van xin.
[1:00:40]Hai, là xem họa phúc là việc ngẫu nhiên của hiện tại, chỉ do tài năng để đạt thành, và như thế họ trở thành kẻ tự cao, ác độc. Họ phải can đảm nhận lấy khổ vui như là hậu quả của chính mình, và phải dè dặt cẩn thận trong từng hành động của hiện tại. Một người như thế, mọi người như thế, thế giới này bỗng trở thành cõi tịnh lạc vinh quang. Những câu nói mộc mạc của ông bà như: "Ở hiền gặp lành", "Gieo gió gặt bão", đã tuôn chảy vào lòng người Việt Nam thành một truyền thống đạo đức tốt đẹp. Đánh mất truyền thống đạo đức này, nền đạo đức của thế hệ trẻ Việt Nam sẽ đổ vỡ sa đọa không còn hàn gắn xây dựng được nữa.
[1:01:28]Tương lai của xã hội tùy thuộc vào thế hệ trẻ, nếu thế hệ này không còn đạo đức, trước mắt chúng ta là buổi chiều ảm đạm bên cạnh vực thẳm đau thương. Cần phải dựng lại nền đạo đức nhân bản này, để ánh sáng của tình thương phả khắp vào lòng người mãi mãi.
[1:02:15]Hai. Đẹp và giàu.
[1:02:19]Khi chưa trở thành hoàng hậu, Mallika, tức là Mạt Lợi, là cô gái bán bánh và không đẹp. Một lần cúng dường bánh lên Đức Phật, được Đức Phật cho biết cô sẽ là hoàng hậu. Sau này trở thành vợ vua Pasenadi, bà đến gặp Đức Phật và hỏi về nguyên nhân của giàu, nghèo, đẹp, xấu. Đức Phật trả lời như sau. Xem Tăng Chi Bộ Kinh 2A, trang 264. Ở đây, này Mallika! Có hạng nữ nhân phẫn nộ, não hại nhiều. Tuy bị nói ít, liền nổi nóng, nổi giận, nổi sân, sừng sộ gây hấn, biểu lộ phẫn nộ, sân hận, bất mãn. Không bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn món ăn, vật uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương, phấn sáp, giường nằm, trú xứ, đèn đuốc;
[1:03:27]tánh tình keo kiệt; thấy người khác được lợi dưỡng, cung kính, nó ganh tị, tức tối, bị trói buộc bởi ganh tị. Người ấy sau khi từ bỏ đời sống trở lui lại trạng thái này, tại đây, tại đấy, nó tái sanh hạ liệt, dung sắc xấu, sắc đẹp xấu, hình dáng hạ liệt, nghèo khổ, tài sản ít, sở hữu ít, ảnh hưởng, uy tín ít. Ở đây, này Mallika! Có nữ nhân phẫn nộ nhiều, não hại, gây hấn, bất mãn. Nó bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn, tánh không keo kiệt, thấy người khác được lợi dưỡng, tôn trọng, nó không ganh tị. Người ấy sau khi từ bỏ đời này, trở lui lại trạng thái này, tại đấy, nó tái sanh, dung sắc xấu, sắc đẹp xấu, hình dáng hạ liệt,
[1:04:40]nhưng giàu sang, tài sản lớn, sở hữu lớn, uy tín, ảnh hưởng lớn.
[1:04:50]Lược đoạn một. Ở đây, này Mallika! Có nữ nhân không phẫn nộ, não hại không nhiều, tuy bị nói nhiều, không nổi giận, nổi nóng, bất mãn. Nó bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn món ăn, đèn đuốc, tánh tình không keo kiệt, thấy người khác được lợi dưỡng, cung kính, nó không ganh tị. Người ấy sau khi từ bỏ đời này, trở lui lại trạng thái này, tại đấy, nó tái sanh dung sắc đẹp, sắc đẹp tốt, tịnh tín, thành tựu với dung sắc thù thắng, giàu sang, tài sản nhiều, sở hữu lớn, ảnh hưởng, uy tín lớn.
[1:05:50]Sau những lời giải thích này, hoàng hậu quy y Đức Phật. Nhận xét: Xã hội Ấn Độ chia thành bốn giai cấp, trong đó giai cấp Bà-la-môn được xem là tối thắng, là giai cấp lãnh đạo tinh thần của xã hội. Mặc dù được quy định bởi dòng tộc huyết thống, nhưng những vị Bà-la-môn phải sống rất đạo hạnh: trường trai, giữ giới và thiền định. Những giới luật dành cho họ khắt khe hơn những giai cấp khác. Họ là tiêu biểu cho đạo đức của xã hội. Đến khi đã làm tròn bổn phận tại gia, họ có thể lìa gia đình làm vị Sa-môn ẩn tu thiền định chuyên chú. Chính vì đạo đức của giai cấp này, ít ra là trong thời Đức Phật,
[1:06:37]mặc dù không hoàn toàn nhưng cũng khiến cho người cúng dường được nhiều phước báo. Như thế, Phật đã chỉ ra rằng sân hận là nguyên nhân của xấu xí và từ ái là nguyên nhân của đẹp đẽ. Khi người nổi cơn thịnh nộ, họ đã thể hiện sự tức giận đó bởi những nét mặt hung dữ, thô bạo, khó coi. Thường xuyên sân hận như vậy, nét mặt ấy trở thành tướng trạng cố định dành cho họ ở mai sau. Nếu người có gương mặt xấu xí đời này, họ cũng thường mang theo thói quen sân hận từ đời trước. Ngược lại, người có lối xử sự ôn hòa và tâm hồn từ ái, thương người thương vật, họ sẽ cảm thành gương mặt đẹp đẽ, dịu dàng, ánh mắt bao dung, xanh biếc.
[1:07:29]Người được nét đẹp này cũng vẫn còn mang theo đức tánh hiền lành từ quá khứ. Tuy nhiên, trong cuộc sống chúng ta vẫn thường gặp gỡ những người xấu xí, không sân hận thịnh nộ, nhưng ích kỷ, nhỏ nhoi và thường phạm ác pháp. Nét xấu xí không được gây bởi nhân sân hận, nhưng được gây bởi nhân hẹp hòi và phá giới. Rồi cũng có những người rất đẹp và cũng rất dữ, hoặc rất đẹp nhưng cũng rất hẹp lượng, độc ác. Có một công đức tác thành sự đẹp đẽ là đã từng dâng hoa cúng Phật, tô vẽ hình tượng chư thánh để cầu xin phước báo. Có thể họ sẽ trở thành đẹp đẽ như ý nguyện, nhưng trong nét đẹp bên ngoài đó vẫn để lộ ra vài nét không hoàn toàn mà một người
[1:08:22]có nhiều trực giác sẽ đọc thấy tính chất đen tối còn u uẩn, ngủ ngầm. Hoặc mặc dù rất đẹp, nhưng thỉnh thoảng đôi mắt lóe lên tia hung quang, hoặc đôi mắt để lộ nét nham hiểm âm thầm. Những nghiệp thiện ác xen lẫn từ quá khứ, nên chúng sanh khó được hoàn toàn mọi mặt. Tuy nhiên, Phật nêu ra công đức từ ái, hiền lành như là một nhân chân chánh hơn những nghiệp giả tạm bên ngoài khác. Mọi sự giàu sang đều bắt nguồn từ bố thí. Không bố thí, vĩnh viễn không có sự sung mãn tài vật. Tuy Phật khen ngợi hành vi cúng dường cho các bậc tu hành đức hạnh như là một phước điền tươi tốt, khiến cho thí chủ thu hoạch được
[1:09:08]nhiều phước báo, nhưng nếu người có lòng nhân ái sẽ không bỏ qua một chúng sanh khốn khổ nào, dù đó là kẻ tội lỗi. Bố thí là sự biểu hiện chân thật của tình thương. Không thể có tình thương ở đầu lưỡi, mà phải có tình thương nơi đôi bàn tay dâng tặng. Bố thí không những đem lại phước báo cụ thể, mà nó còn là một phương pháp để tu tập những đức hạnh khác. Bắt đầu bằng công hạnh bố thí, người này sẽ buông xả những chấp trước dễ hơn, tâm quảng đại thêm lớn, lòng tham mỏng nhạt dần. Hãy tập bố thí từng chút, và bạn sẽ cảm nghe tâm hồn mình thay đổi. Đừng tiêu xài hết những gì mình có, hãy san sẻ với mọi người, dù đó chỉ là gói bánh ngọt,
[1:10:00]đĩa trái cây, hoặc to tát như lợi nhuận thu được bởi mồ hôi nước mắt. Người mới biết tu, tức là biết trích ra một phần mười số tiền kiếm được để san sẻ với kẻ khác. Người đã thuần thục trong công hạnh bố thí sẽ san sẻ nhiều hơn nữa. Tài vật vô thường tạm bợ, không chắc ở lại lâu dài với mình. Một cuộc thay đổi thời thế, một cơn hỏa hoạn, ngập lụt, một lần bị trộm cướp đều có thể lấy đi những gì đã được tích lũy từ lâu. Khi không còn tài sản mà muốn bố thí cúng dường cũng không có cơ hội để làm. Chi bằng trong từng giờ phút hiện tại, vừa được lợi nhuận, hãy chia sớt ngay cho người, đừng để cơ hội trôi qua.
[1:10:49]Người tin hiểu nhân quả sẽ khao khát bố thí như người mù khao khát mắt sáng. Bố thí là phước báo thế gian, là công đức xuất thế gian, mà cũng chính là mật hạnh của Bồ-tát đạo. Không có bố thí, những công hạnh khác chưa đáng tin tưởng. Bố thí như là sự bảo đảm giá trị cho những công hạnh khác. Chúng ta có thể tu hạnh nhẫn nhục, trì giới, tùy hỷ, tinh tiến, nhưng thiếu bố thí, những công hạnh kia còn phải xét lại. Bố thí là cánh cửa đầu tiên của sự tu tập, chưa vượt qua quan ải này, những quan ải khác chưa thể đề cập đến. Quả báo của sự bố thí cũng sẽ đến theo hai cách: hoặc bạn phải bôn ba ra khỏi nhà để kiếm tài vật,
[1:11:43]hoặc bạn ở tại nhà mà công việc, tài lộc đến tận nơi. Nếu bạn đã từng đến tận nơi để giúp đỡ mọi người, hiện đời bạn ở tại một chỗ mà vẫn có cơ hội làm ăn khá giả. Nếu bạn đợi người đến yêu cầu mới giúp, thì đời này phải bôn ba ra khỏi nhà mới có cơ hội làm ăn. Thế nên, để thể hiện tình thương trọn vẹn hơn nữa, chúng ta hãy đến tận nơi để giúp đỡ người. Người sống vị tha thì luôn luôn nghĩ đến nhu cầu của người chung quanh để giải quyết. Không gì vui sướng bằng âm thầm mong ước cây viết tốt đã lâu, bỗng một hôm người thân đem đến tặng đúng như sở nguyện. Đôi khi người chung quanh ta có những nhu cầu mà không tiện nói ra.
[1:12:33]Chúng ta giàu lòng thương người, nhận xét thấy được nhu cầu sâu kín đó và giải quyết cho họ. Người như thế đời sau mơ ước điều gì đều được như ý. 3.
[1:13:14]Hứa hẹn. Trích trong Tăng Chi Bộ Kinh 11A, trang 108. Tôn giả Xá Lợi Phất hỏi Phật về nguyên nhân một người buôn bán thành công hay thất bại, Phật bảo:
[1:13:31]"Ở đây, này Sāriputta, có hạng người đi đến vị Sa-môn hay Bà-la-môn và hứa hẹn như sau: 'Thưa Tôn giả, hãy nói lên điều Tôn giả cần giúp đỡ.' Nhưng người ấy không cho như đã hứa. Nếu từ chỗ ấy mạng chung đi đến chỗ này, dầu cho người ấy có buôn bán gì, buôn bán ấy đi đến chỗ thất bại. Và người ấy cho như đã quyết định hứa cho. Nếu buôn bán gì, buôn bán ấy đi đến thành tựu như ý muốn. Và người ấy cho nhiều hơn như đã quyết định muốn cho. Nếu buôn bán gì, buôn bán ấy được thành tựu ngoài ý muốn." Nhận xét:
[1:14:33]Cũng như đa số những bài kinh khác, Phật khuyến khích sự cúng dường cho các bậc đức hạnh tu hành. Chúng ta có thể hiểu rộng hơn, phổ cập đến tất cả hạng chúng sinh. Như vậy, việc thực hiện lời hứa dâng tặng giúp đỡ đã đem lại quả báo kinh doanh thành công. Khi một người được hứa giúp đỡ, họ sẽ khắc khoải trông chờ, dù lộ liễu hay kín đáo, về sự thực hiện lời hứa của người kia. Nếu người hứa không thực hiện thì người được hứa sẽ phải thất vọng dù nhiều hay ít. Tạo niềm hy vọng bằng lời hứa rồi gây nỗi thất vọng bằng thất hứa, việc này đã sản sinh một quả báo tuyệt vọng ở mai sau. Chúng ta phải tập cho mình một thói quen nghiêm khắc là giữ đúng lời hứa.
[1:15:21]Trước khi hứa hẹn, hãy xét kỹ mình có đủ khả năng thực hiện lời hứa hay không, đừng hứa lấy lòng trong lúc hứng chí bồng bột để rồi phải thất hứa, làm thất vọng cho người. Ngược lại, sự thực hiện đúng như đã hứa hoặc vượt hơn lời hứa khiến cho người vui mừng sung sướng đã đem lại quả báo thành công ở mai sau. Thật là quý hóa khi hứa một mà thực hiện gấp hai, ba.
[1:15:53]Giữ lời hứa là điều quan trọng. Giữ giới đã lãnh thọ cũng là một hình thức giữ lời hứa với Tam Bảo, đối với chúng sinh. Khi chúng ta long trọng tuyên bố lãnh thọ giới pháp, lúc đó chúng ta trở thành niềm tin cho mọi người. Chúng ta ban cho họ sự tịnh tín, chỗ nương tựa, niềm an ủi nơi sự thanh tịnh của chúng ta. Nếu chúng ta thất hứa, điều ban cho đó đã đổ vỡ, mọi người mất tịnh tín, mất chỗ nương tựa, mất niềm an vui và thất vọng, chúng ta phải chịu hậu quả nặng nề về sự thất hứa này. Ngược lại, chúng ta giữ giới đã lãnh thọ một cách thuần tịnh, mọi người được tịnh tín, nương tựa, an ủi lâu dài, công đức của chúng ta không nhỏ.
[1:16:47]Công đức nào cũng đều được thực hiện bằng dũng lực. Không có dũng lực, không có tác thành công đức. Người dám san sẻ tài sản, người kiên trì giữ gìn lời hứa đều là những người có nhiều dũng lực. 4.
[1:17:32]Sống khắc khổ hà tiện. Trích Tương Ưng Bộ Kinh 1, trang 110. Rồi vua Pasenadi nước Kosala giữa trưa đi đến Thế Tôn. Sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên, Thế Tôn nói với vua Pasenadi nước Kosala đang ngồi một bên:
[1:17:56]"Này Đại vương, Đại vương đi đâu giữa trưa thế này?"
[1:18:03]"Ở đây, bạch Thế Tôn, có triệu phú gia chủ ở Sāvatthi bị mệnh chung và con đến để xem tài sản của vị không có con thừa tự ấy được chở vào nội thành. Bạch Thế Tôn, có đến 8 triệu đồng tiền vàng, không nói đến tiền bằng bạc. Bạch Thế Tôn, tuy vậy đồ ăn của vị gia chủ ấy là chỉ gồm có cháo tấm chua ngày hôm qua để lại, còn vải mặc á thì chỉ mang vải gai may thành ba tấm, còn xe á thì đi xe nhỏ cũ kỹ và hư nát, có gắn tán che bằng lá." "Thật như vậy, này Đại vương! Thật như vậy, này Đại vương! Vị triệu phú gia chủ ấy thuở xưa đã bố thí thức ăn khất thực cho một vị Bích Chi Phật tên là Tagarasikhī. Vị ấy nói:
[1:19:04]'Hãy bố thí cho vị Sa-môn.' Nói xong, vị ấy từ chỗ ngồi đứng dậy rồi bỏ đi.
[1:19:13]Nhưng sau đấy, vị ấy tiếc rẻ nói rằng: 'Tốt hơn, thức ăn này dành cho người phục dịch hay làm công.' Và hơn nữa, vị ấy đoạt mạng sống đứa con độc nhất của người anh vì tài sản của nó. Này Đại vương, vì người triệu phú gia chủ ấy có bố thí đồ ăn khất thực cho vị Độc Giác Phật tên là Tagarasikhī, do kết quả của hành động ấy, vị ấy sinh bảy lần lên thiện thú thiên giới. Do kết quả dư hưởng còn lại, vị ấy được làm nhà triệu phú bảy lần ở tại Sāvatthi này. Này Đại vương, vì người triệu phú gia chủ ấy sau khi bố thí, về sau lại tiếc rẻ nói rằng: 'Tốt hơn thức ăn này để dành cho những người làm công phục
[1:20:14]dịch.' Do kết quả của tác ý tiếc rẻ đó, tâm nó hướng đến các món ăn, đồ mặc không được tốt đẹp, tâm nó hướng đến các xe cộ, về sự thọ hưởng năm dục không được tốt đẹp. Này Đại vương, vì người triệu phú gia chủ ấy đoạt mạng sống người con trai độc nhất của người anh để giành tài sản, do kết quả của hành động ấy, nó bị nung ở địa ngục nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều trăm ngàn năm. Do kết quả dư hưởng còn lại, gia tài không con thừa tự bảy lần phải nhập vào công khố của vua.
[1:21:06]Này Đại vương, đối với người triệu phú gia chủ này, các công đức cũ bị đoạn diệt và công đức mới chưa được cất chứa thêm. Và nay, này Đại vương, người triệu phú gia chủ đang bị nung nấu trong địa ngục Mahā Roruva." "Bạch Thế Tôn, như vậy người triệu phú gia chủ đã sanh vào địa ngục Mahā Roruva?" "Này Đại vương, đúng như vậy! Người triệu phú gia chủ ấy đã sanh vào địa ngục Mahā Roruva. Lúa, tài sản, vàng bạc, hay mọi vật sở hữu, nô tì và lao công, các mạng sống tùy thuộc, tất cả nó phải đi, không đem theo được ai, tất cả phải bỏ lại khi nó đi một mình."
[1:22:13]Chỉ có các hành động về thân, miệng và ý mới thật thuộc của nó, như bóng không rời hình. Do vậy hãy làm lành, tích lũy cho đời sau, công đức cho đời sau, làm hậu cứ cho người. Nhận xét: Câu chuyện nghiệp báo này có nhiều điểm đáng chú ý: Một: Sự cúng dường vật thực cho một vị giải thoát đem đến phước báo quá lớn lao. Bảy lần sinh lên cõi trời, bảy lần sinh vào cõi người làm kẻ giàu có. Hai: Tâm tiếc rẻ là nhân để kết thành tâm hà tiện ở đời sau. Ba: Phá hoại sự thừa tự của người khác nên tài sản chính mình không có người thừa tự. Bốn: Giết người phải đọa địa ngục. Năm: Không tích lũy thêm công đức là điều nguy hiểm.
[1:23:13]Chúng ta phân tích trở lại từng vấn đề: Tại sao cúng dường cho bậc thánh giải thoát lại được phước báo quá lớn lao như vậy? Quả báo đợi chờ cho chúng ta tùy thuộc vào phúc lạc mà chúng ta đã đem đến cho người. Chúng ta bố thí vật thực cho một phàm phu sống qua một ngày, nhưng một ngày của kẻ phàm phu là một ngày tham lam, thù hận, một ngày khổ sướng, buồn vui. Vì phúc lạc của họ quá ít ỏi nên quả báo dành cho người bố thí cũng hạn chế. Ngược lại, một bữa ăn dành cho bậc đạt đạo sống qua một ngày thênh thang phúc lạc, một ngày bát ngát trí tuệ, từ bi, nên quả báo trở lại cho người thí chủ cũng là vô biên vô lượng.
[1:23:58]Tôi đặt vấn đề này để những người thọ thí hãy cố gắng tu hành đắc đức cho thí chủ được nhiều phước báo, chứ không phải nói cho người bố thí chỉ lựa người tu hành mà bỏ qua những chúng sanh khốn khổ chung quanh. Người bố thí chỉ nên vì từ bi mà bố thí, đừng bố thí bằng cách lựa chọn để mong cầu phước báo cho mình. Được sự hướng dẫn của từ bi, sự bố thí đó không còn phân biệt, không phải là việc kinh doanh phước báo cho mình. Từ bi là nguồn mạch của công đức, thế nên chúng ta hãy san sẻ tài vật trong ưu ái, thương yêu đối với mọi người. Những bậc thánh giải thoát thường giấu mình trong một hình thức tầm thường, giản dị.
[1:24:45]Trong những người tầm thường, giản dị mà chúng ta đã gặp gỡ bố thí, biết đâu cũng có những người phi phàm vượt thế. Chỉ một lần dâng tặng đến người như thế, phúc lạc chờ đợi cho chúng ta là vô hạn ở mai sau. Tâm tiếc rẻ, tức là không muốn cho kẻ khác được thọ hưởng tài vật. Kết quả của nó là người đó sẽ tự mình không muốn mình được thọ hưởng tài vật, tự mình khắc nghiệt, hạn chế với mình. Chúng ta cũng dễ thấy điều này trong đời sống, khi người nào bón xẻn không muốn kẻ khác dùng một bữa cơm trong nhà mình, nếu khi lỡ đường gặp bữa, họ rất ngượng ngùng, áy náy, bất an khi phải dùng cơm tại nhà kẻ khác.
[1:25:32]Ngược lại, người nào hào phóng, rộng rãi, ân cần tiếp đón, chiêu đãi tân khách, đến khi gặp bữa chỗ lạ, họ vẫn dùng một cách tự nhiên, thoải mái. Tâm tiếc rẻ của người triệu phú gia chủ đã biến thành tâm hà tiện, để đày đọa ông qua nhiều đời mệt mỏi, vất vả, tuy giàu mà sống lam lũ như người nghèo. Chúng ta khắc nghiệt với chính mình vì chúng ta đã khắc nghiệt với mọi người. Chúng ta phải xóa sạch tâm tiếc rẻ và tâm hà tiện, để nơi cuộc sống này, chúng ta không làm khổ mình và không làm khổ người. Tuy nhiên, tâm tiếc rẻ và ý thức tiết kiệm khác nhau rất xa, dù hai trạng thái mơ hồ tương tự. Tâm tiếc rẻ là không muốn cho người khác được thọ hưởng tài vật.
[1:26:21]Tâm tiết kiệm là không muốn cho tài vật bị hư hao vô cớ, chỉ nên để cho người thọ hưởng. Ví dụ: Một người cúi xuống nhặt lấy từng chiếc đinh rơi vãi trên đất nhưng sẵn sàng bố thí cả nghìn đồng cho kẻ khác khó khăn. Người này tiết kiệm nhưng quảng đại, không phải là kẻ hà tiện, hẹp hòi. Còn một người thì keo cóm từng chút, không muốn mất một chút gì với ai, đó là người bón xẻn, hà tiện. Hà tiện hoặc bố thí mà tiếc rẻ là nhân đưa đến đau khổ. Tiết kiệm và rộng lượng là nhân đưa đến an vui. Tuy nhiên, chúng ta phải tinh tế để đừng tự lừa dối chính mình, đừng giữ tâm hà tiện mà lại cho là tiết kiệm, cũng đừng phung phí mà lại tự cho là rộng rãi.
[1:27:13]Phung phí là tiêu xài tài vật không đúng cách, không hợp lý, là một bất thiện nghiệp chứ không phải là thiện nghiệp. Ví dụ: Có một số tiền cần để xây dựng lại nhà ở cho thân quyến, nhưng chúng ta đem đổ vào một cuộc vui tạm thời, như thế là phung phí không hợp lý chứ không phải là rộng lượng. Tặng kẻ đánh bạc vài nghìn đồng là phung phí, trong khi tặng người đói rách số tiền ấy là rộng lượng. Biếu vài lít rượu, đãi một tiệc nhậu say sưa là hành vi phung phí tội lỗi, trong khi có nhiều người thiếu thốn khác cần cơm gạo để đi qua một ngày đói kém. Chúng ta phải bỏ đi tâm hà tiện nhưng cũng đừng phung phí,
[1:27:57]phải cân nhắc cẩn thận khi sử dụng tài vật sở hữu của mình. Người gia chủ đã giết con của anh mình để đoạt lấy tài sản, vừa giết người, vừa cướp của. Ông ta đã đền trả tội lỗi ấy bằng nhiều năm ở địa ngục, nhưng chút nghiệp thừa rơi rớt cũng đủ khiến cho ông không bao giờ có con để thừa tự tài sản. Nỗi đau khổ ghê gớm của những người giàu có, những vị vua không có con nối ngôi cũng được liệt vào loại nghiệp báo tương tự. Tuy nhiên, quan niệm này cũng không thể nhìn một chiều. Người Trung Hoa đã từng quan niệm đông con là có phước. Họ đã vẽ ba ông già Phúc, Lộc, Thọ làm biểu tượng cho ba niềm sung
[1:28:43]sướng của họ, trong đó ông già Phúc bồng bế nhiều đứa con trai. Quan niệm này đã khiến người Trung Hoa tăng vọt dân số khủng khiếp và đã khiến giới lãnh đạo phải bận tâm rất nhiều. Chiến thuật biển người dùng trong chiến tranh cũng là một lối giải quyết bi đát. Lại những gia đình đông con thường là những gia đình nghèo khó, không có vốn liếng tích lũy vì phải giải quyết cơm ăn áo mặc hàng ngày. Đối với người giàu có, đông con cũng là một vấn đề phức tạp khi phải chia sẻ gia tài. Không người thừa tự tài sản là nỗi đau khổ của người ích kỷ, nhưng đông con cũng là nỗi lo lắng của mọi người. Thế gian vốn mâu thuẫn và không hoàn hảo như vậy.
[1:29:30]Giết vài con vật nhỏ đưa đến quả báo đứt tay, trầy chân hoặc bệnh hoạn vài trận. Giết thú lớn đưa đến quả báo tai nạn và bệnh hoạn nặng nề hơn nhiều. Còn giết rất nhiều thứ vật mỗi ngày để kinh doanh thì không tránh khỏi quả báo địa ngục. Tuy nhiên, giết thú không nặng tội bằng giết người. Giết người để tranh đoạt tài sản đã đưa ông gia chủ chịu hình phạt ở địa ngục nhiều nghìn năm. Chúng ta không so sánh những trường hợp phải giết người trong một cuộc chiến đấu giữ gìn bờ cõi. Ở đây, chúng ta chỉ đề cập đến trường hợp giết người vì ác tâm và những mục đích vị kỷ. Tội lỗi của hành vi này rất là nặng nề, nghiêm trọng.
[1:30:14]Bản chất của chúng sinh, dù loài nào, cũng đều ham sống sợ chết. Người tự tử cũng là người ham sống, họ tìm cái chết để tránh một cuộc sống quá đau khổ, tuyệt vọng. Giết hại chúng sinh tức là gây cho chúng sinh một sự đau đớn về thân và một sự tuyệt vọng khi lòng ham sống bị xâm phạm. Hơn nữa, cái chết của một chúng sinh luôn luôn đồng nghĩa với sự biệt ly thân quyến. Một người cha mất đi cũng có nghĩa là vợ con ở lại rơi vào túng quẩn, nghèo đói. Một người mẹ mất đi cũng có nghĩa là những đứa con còn lại sắp phải chịu cảnh mẹ kế con chồng, thảm kịch muôn đời của nhân loại. Những kẻ quen tay giết hại thú vật nhỏ sẽ dễ dàng giết hại thú vật lớn,
[1:31:05]và kẻ quen tay giết hại thú vật lớn sẽ dễ dàng giết hại con người. Thế nên, để ngăn chặn cái nghiệp giết người từ ban đầu, chúng ta phải dè dặt đừng xâm phạm tính mạng từng sinh vật nhỏ, quý trọng sự sống của mọi loài nhỏ nhất. Trong đời sống thường ngày, chúng ta cũng thường gặp những kẻ giàu sang, dư dả, nhưng họ chỉ hưởng thụ qua một đời vô vị mà không biết tạo tác tích lũy thêm căn lành cho đời sau. Những nghiệp thân, khẩu, ý hàng ngày, dù ít hay nhiều, cũng đều trở thành bất thiện nghiệp. Nói một lời hằn học, bực tức một điều gì, cũng đều là những bất thiện nghiệp nho nhỏ chất chứa dần dần theo năm tháng.
[1:31:48]Nếu không có những thiện nghiệp lớn lao để hóa giải, chắc chắn bỏ thân này, chúng ta sẽ đi về một đời sống thấp kém, khổ sở hơn. Ông triệu phú gia chủ không tích lũy thêm thiện nghiệp, ôm giữ ba nghiệp theo sự chi phối của tâm hà tiện, bón xẻn, và kết