[0:08]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:23]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:36]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:47]Mời quý phật tử ngồi xuống.
[0:52]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Hôm nay chúng ta nghe đến phần Chánh định của Bát Chánh Đạo của Tứ Thánh Đế, nghĩa là phần chót. Nghĩa là phần chót nhưng mà sợ bài giảng này không chót được, có khi phải kéo dài thêm một lần nữa. Vì sao? Có thể là chúng ta còn gặp nhau một lần nữa cho bài Tứ Thánh Đế này rồi mới chia tay nhau. Chúng ta nhớ cái phần mà cao nhất trong Tứ Diệu Đế là phần nào? Ai nhớ? Phần cao nhất của Tứ Diệu Đế là? Là Diệt đế. Nhớ Diệt đế là nói đến những quả chứng trong đạo Phật, nói đến Niết Bàn của đạo Phật, nên đó là phần cao nhất. Còn cái phần Đạo đế là phần tu tập. Tuy nhiên trong cái phần tu tập này thì có đi từ giai đoạn từ
[1:45]thấp đến cao, và cái đỉnh cao của phần Đạo đế này lại là Chánh định. Và cái Chánh định này nó lại xấp xỉ xấp xỉ ngang với phần Diệt đế, gần gần ngang với phần Diệt đế. Cho nên những điều mà chúng ta sắp nghe ngày hôm nay cũng là những cái giáo lý rất là cao trong đạo Phật, nói đến những cảnh giới tu chứng chứ không phải chuyện của người thường. Nên bài giảng hôm nay là một bài giảng cực kỳ khó cho cả người giảng và cả người nghe. Nói Chánh định trong đạo Phật thì chúng ta lấy cái chuẩn theo lời Phật dạy là gồm Tứ thiền Cửu định, bốn thiền, chín định. Đó là cái quy định và tiêu chuẩn căn bản của Phật pháp từ
[2:30]thời Đức Phật đến bây giờ không thể nói khác đi được. Nghĩa là ai nói khác là người đó chế ra thôi. Ví dụ như sau Đức Phật, có một vị thiền sư nào đó, một vị tổ sư nào, một vị đại sư nào đó đặt tên những cái loại định khác thì đó là do ý kiến cá nhân của vị đó, không được xem là tiêu chuẩn trong đạo Phật. Nếu mà lấy theo tiêu chuẩn về các mức thiền định của đạo Phật, buộc chúng ta phải luôn luôn lấy Tứ thiền Cửu định, không thể lấy cái khác được. Đây là cái tiên đề ban đầu chúng ta phải xác định. Còn nếu sau này chúng ta có nghe một vị thiền sư nào khác nói về những mức thiền định khác thì chúng ta
[3:08]chỉ nên lấy đó là tham khảo vì đó là ý kiến riêng của vị thiền sư đó mà thôi. Nhớ không bao giờ được lấy làm tiêu chuẩn chính. Tiêu chuẩn chính vẫn phải luôn luôn là Tứ thiền Cửu định của Đức Phật đã đề ra. Chúng ta nhớ xác định như vậy. Và cái chuyện mà nói về Tứ thiền Cửu định thì không còn là cái chỗ của phàm phu nữa. Nghĩa là ngày hôm nay, tất cả chúng ta, người giảng cũng như người nghe, đều là phàm phu, nhưng mà chúng ta đang nói chuyện của thánh. Nên vì vậy bài giảng hôm nay cực kỳ khó khăn. Chúng ta phải trọn tâm trọn ý, nghe một cách cẩn thận. Có nhiều đoạn ví dụ như không hiểu hoặc dễ hiểu cũng đừng có dễ ngủ giùm đây.
[3:52]Cái bài này nghe mà dễ ngủ là mang tội nha, tại vì đây chuyện của thánh chứ không phải chuyện của mình. Nên nó nghe sẽ hơi khó, hơi cao. Nhưng mà hết toàn tâm toàn ý, và nếu đối với những cảnh giới của thánh này mà chúng ta có cái lòng kính trọng thì chúng ta có cái nhân để sau này chứng thánh. Hôm nay, chúng ta nói về những từng mức thiền định, đây là những điều khó mà nếu chúng ta nghe có khi hiểu có khi không hiểu, mà trong lòng mình nghe mình với cái lòng thực sự kính trọng thì đó là cái nhân để làm thánh. Nghe mà kính trọng thì nghe làm sao? Chăm chú, kỹ lưỡng, không ngủ, không nhúc nhích, không lắc,
[4:29]không ho, không cười, không nói chuyện, không nháy mắt, không liếc qua không liếc lại, chỉ có một cái là tai thì lắng nghe và mắt chăm chăm ngắm người giảng thôi cũng được, không sao.
[4:42]Nhưng mà nói chung là nghe cho chăm chú. Và chúng ta hiểu một điều thế này, hiểu một điều thế này: là cả người nói và người nghe đều là, đều là phàm phu, chưa được cái gì trong cái những cái kết quả thiền định mà chúng ta sắp nêu ra đây, hoàn toàn không được gì hết. Kể cả người nói cũng không được gì luôn. Nghĩa là dường như người nói là đang nói dóc, nhớ như vậy, dường như người nói đang nói dóc. Bởi vì sao vậy? Chúng tôi phải nhắc đi nhắc lại điều này vì sợ có người nào nghe chúng tôi nói về các mức thiền cứ tưởng: "Chà, thầy chắc chứng vậy coi bộ ngon." Không có, xin thưa, xin đính chính rõ ràng là chúng tôi cũng như các quý
[5:25]phật tử chỉ là hạt bụi bay trong buổi chiều lộng gió, chỉ là một củ khoai sùng, chỉ là một cọng cỏ ven đường, không có được cái gì hết. Mà hôm nay vì buộc cái giáo lý đã đi đến cái mức độ này, hôm nay cái giáo lý đã đưa đến cái bài Chánh định thì chúng ta đành phải nói với nhau về Chánh định mà chúng ta phải hiểu rằng là đây là chỗ đi của chư thánh, chúng ta ngưỡng mộ, chúng ta kính trọng chứ không phải chúng ta đã đạt được. Còn cái người mà ngồi lải nhải nói trên kia cũng chả được cái gì, cũng như mình thôi, không có gì hơn mình, nhớ như vậy. Tuy nhiên, cái điều mà chúng ta trình bày lại là điều của Phật
[6:01]của thánh, là những điều mà chúng ta phải kính trọng. Cho nên chúng ta sẽ kính trọng cái đạo lý này, chúng ta sẽ kính trọng những từng mức thiền định này, nhưng mà đừng thèm kính trọng cái người nói cái đạo lý này. Nhớ như vậy. Không thèm. Cứ coi như củ khoai, cứ coi người nói như củ khoai, nhưng mà cái đạo lý này phải kính trọng, phải được kính trọng. Nhớ nha, đồng ý không? Khi nghe mà những cái giáo lý này, chúng ta nhớ một điều này nữa, là có thể chúng ta hiểu. Có khi chúng ta không hiểu là bởi vì cái từng mức nó trừu tượng quá, nói đến từng mức định thì rất là trừu tượng. Nhưng mà có khi là vì hoặc là trí tuệ chúng ta nhạy bén,
[6:42]chúng ta có cái thiện căn đời trước, hoặc chúng ta đã có ngồi thiền cũng đạt được mức nào đó sơ sơ nên khiến mình cảm nhận được những cái điều mà chúng ta sắp nói với nhau đây. Thì khi hiểu được như vậy, chúng ta nhớ một điều: hiểu để, hiểu để làm chi? Để định hướng tu hành. Hiểu không? Hiểu để định hướng tu hành, tuyệt đối không phải để khoe khoang, khoác lác. Nhớ như vậy. Bởi vì sao vậy? Bởi vì trong việc tu tập mà nhất là tu tập thiền định thì cái kết quả mà chúng ta chứng được trong tâm là phải giấu bặt, không bao giờ được nói, không bao giờ được nói, tuyệt đối. Mình chứng được rồi đó mà còn không được nói,
[7:24]huống hồ là chưa chứng được, huống hồ là mới chỉ hiểu thôi. Ví dụ nghe giảng sư giảng về Tứ thiền, ở mức độ ví dụ mình hiểu được Nhị thiền, mình hiểu được Tam thiền, hiểu thôi chứ chưa chứng, mà đem đi ra mà nói ngon lành như là mình chứng, thì sao? Thì con đường tu hành đóng lại liền, cửa địa ngục mở ra rộng chờ mình liền. Chưa chắc mình bước vào nhưng mở ra chờ rồi đó. Rất là nguy hiểm, nên nghe bài này là con dao hai lưỡi. Cái bài này đó, nghe mà hiểu được á có thể làm cho chúng ta có cái niềm tin, có định hướng để tu hành. Nhưng mà nếu chúng ta không có một cái đạo đức vững để mà biết cái khiêm cung, kín đáo,
[8:03]chấm dứt cái khoe khoang khoác lác thì cửa địa ngục cũng mở ra sẵn chờ chúng ta luôn. Mà trước khi cửa địa ngục mở ra chờ chúng ta thì cửa bệnh viện tâm thần mở ra trước. Xin nhớ như vậy. Vì sao vậy? Bởi vì người chưa chứng mà khoe khoang như mình đã chứng, cái bệnh kiêu mạn đó thì có thể bị quả báo hiện đời điên loạn mà người ta gọi là tẩu hỏa nhập ma. Nhưng mà đây là do vì mình khoe khoang, kiêu mạn mà xáo trộn tâm lý, xáo trộn tâm thần đi, nên rất là nguy hiểm. Còn nếu chúng ta nghe bài này, chúng ta hiểu nhưng mà mình kín đáo, mình định hướng, có cái lý tưởng để tu, thì đây là lợi ích cho chúng ta.
[8:41]Thì nhớ nghe bài này, những bài trước thì đem đi nổ gì cũng được hết. Nghe cái Chánh kiến, Chánh nghiệp, Chánh ngữ gì đó, Chánh tư duy đó, được quyền đem đi nổ, không sao, nhưng bài này mà nổ là banh xác. Nhớ như vậy. Bài này chỉ được nghe, giấu kín trong lòng, nghĩa là sống để bụng chết đem đi, như một bài nhạc mà của nhạc sĩ Từ Công Phụng: "Có những niềm riêng làm sao nói hết... như trăng như sao như cát biển khơi, có những niềm riêng làm sao ai biết, như trăng trên cao cách xa vời vợi." Có nghe bài đó chưa? "Có những niềm riêng một đời giấu kín...". Có nghe chưa? Chúng ta về kiếm bài đó nghe đi nha.
[9:22]"Có những niềm riêng một đời giấu kín, có những niềm riêng gần như hơi thở nhưng sao con tim cứ luôn mộng mơ...". Đó, nhớ vậy. Thì cái bài này cũng vậy, khi chúng ta nghe xong bài này rồi thì đây là cái niềm riêng mà chúng ta giấu suốt đời, đó, rồi ví dụ như ngày nào đó chúng ta có cái tâm sự với một người bạn của mình: "Tôi có một niềm riêng suốt đời không bao giờ nói cho bạn nghe được." Hay là người yêu mình hay chồng hay vợ mình: "Em có cái niềm riêng suốt đời không thể nói với anh được." Thì ổng có khai thác, ổng có điều tra cũng không bao giờ được nói. Đó là cái điều gì? Đó là cái hiểu về Chánh định, vậy thôi.
[9:55]Ổng có tưởng mình bồ bịch thì cũng phải giấu không được nói nữa, không phải. Nhớ cái niềm riêng này là cái Tứ thiền Cửu định này, cái kiến giải rất là đặc biệt, mà giấu không được nói, hiểu rồi làm thinh nín luôn. Chúng tôi cũng nhắc lại một lần nữa, đó là khi mình nghe được, mình hiểu, còn đối với cái người giảng á, có khi người giảng, nếu mà may mắn á cái người giảng ấp a ấp úng giảng mà không hiểu gì hết thì càng tốt thì coi như không có gì. Còn nếu mà may mắn, Phật độ mà người giảng có vẻ lưu loát, dễ hiểu, thì đó cũng chỉ là một người học theo kinh Phật và diễn tả lại chứ người đó không được gì hết.
[10:27]Hãy nhớ điều đó một lần nữa nha. Như vậy chúng ta có hai điều: là nếu mình may mình hiểu thì mình phải giấu cho kín. Thứ hai là cái người mà nói cho mình nghe mà nếu may mắn nói dễ hiểu thì người đó cũng chỉ là củ khoai, vậy thôi không có gì hết. Bây giờ chúng ta bắt đầu vào bài. Nãy giờ rào đón tùm lum để dặn kỹ nha, bài này phải hăm he cho nhiều mới sợ, bài này không hăm he là không sợ. Hôm trước chúng ta nói cái bài Chánh niệm, phải không? Quý phật tử còn nhớ Chánh niệm là gì không? Nhớ không? Sao nhìn nhau như xa lạ nè? Sao bữa nay trở về ta nhìn nhau xa lạ, ta nhìn nhau ánh mắt không quen vậy đó?
[11:07]Kì khôi vậy đó, mới có một tháng rồi. Không nhớ hả? Chánh niệm ừ khi mà mình tu chứng được thì thành cái trạng thái tỉnh giác trong tâm, phải không? Chánh niệm là là một phương pháp tu, mà trong phương pháp tu đó chuẩn nhất là Tứ niệm Tứ niệm xứ. Trong Tứ niệm xứ chúng ta rút ra năm hơi? Năm hơi thở. Hơi thở thứ nhất là
[11:42]Đúng là trả lại cho em khung trời đại học rồi, trả đâu mất tiêu hết trơn, không nhớ gì hết. Hơi thở thứ nhất là: thở vào biết thở vào, thở ra biết thở ra mà thở không can thiệp. Thôi phải ôn lại chút xíu. Hơi thở thứ hai là: thở vào biết rõ toàn thân, thở ra biết rõ toàn thân, nhưng mà biết nhiều ở dưới bụng, dưới chân và hai lòng bàn tay, phải không? Hơi thở thứ ba là: thở vào biết thân vô thường, thở ra biết thân vô thường, mà trong cái vô thường đó phải nghiệm cho được cả cái xương sọ, xương sống, xương tay, xương chân mình tan thành tro bụi bay theo gió mất luôn, phải nghiệm tới cái mức. Hơi thở thứ tư là:
[12:22]thở vào biết biết thân này đầy những khổ thọ, thở ra biết thân này đầy những khổ thọ. Khổ thọ tức là những đau đớn, bệnh hoạn, mà càng già thì khổ thọ càng nhiều, nhớ như vậy. Hơi thở thứ năm quan trọng nhất là: thở vào biết biết tâm còn phiền động, thở ra biết tâm còn còn phiền động. Nhớ, đó là năm hơi thở chúng ta rút ra trong Tứ niệm xứ để thành cái phương pháp tu tập chánh niệm. Thì có một người vừa rồi mới gặp chúng tôi hớt ha hớt hải, hỏi: Thưa thầy, mình biết tâm còn phiền động rồi làm sao hóa giải? Thì câu trả lời chúng tôi là không hóa giải gì hết. Cứ biết theo năm hơi thở đó và tự động hóa giải,
[13:02]mình không có phải lo, chuyện đó Phật lo, mình không có lo. Đi đúng cái năm hơi thở đó thì một thời gian bỗng nhiên vọng tưởng vắng dần và trong tâm xuất hiện trạng thái gọi là tỉnh giác, tỉnh giác rỗng rang. Nên người ta hay ghép chung cái chữ là chánh niệm tỉnh giác là vậy, cái rỗng suốt, sáng vằng vặc trong tâm. Đó là cái kết quả mà chúng ta đạt được của cái chánh niệm tỉnh giác. Khi người đạt được chánh niệm tỉnh giác thì tâm rỗng rang, sáng suốt, tỉnh giác, mà những vọng tưởng bỗng nhiên nó trở thành cái gì nó nhỏ bé, nó lạc loài, nó ở bên ngoài, nó không còn cái làm chủ tâm mình nữa. Trước đây đó, khi mình chưa đạt được chánh niệm tỉnh giác á,
[13:42]thì mỗi cái vọng tưởng khởi lên thì nó buộc cả cái chú ý của bộ não mình chạy theo cái tư tưởng đó và nó dắt mình đi, dắt mình trôi mê mang trong những ý nghĩ của mình. À ví dụ như là mình vừa mới khởi lên cái ý nghĩ về một cái bông hoa, à là lập tức tâm cái chú ý nó theo bông hoa đó, rồi cái bông hoa nó sẽ dắt mình đi tới một cái buổi tiệc, rồi cái buổi tiệc lại dắt mình đi tới những người bạn mình đã gặp gỡ trong đó, rồi những người bạn đó bắt đầu mình lại nó dắt mình đi tới ý niệm về có người giàu, người nghèo, người làm nghề này, người làm nghề kia. Nghĩa là ý niệm nó cứ dắt mình hết từ ý niệm
[14:15]này sang ý niệm khác mà từ cái ban đầu. Còn khi đạt được chánh niệm tỉnh giác rồi, ngay cái ý niệm bông hoa vừa khởi lên thì giống như là một cái người mà họ cầm một cái nắm rác, nắm lá nó ném lên giữa hư không, mà mình nhìn thấy rõ, mình đứng bên ngoài cái nắm cát đó, à nó giống như bốc nắm cát đi, tung lên giữa trời, mà mình mình đứng bên ngoài và mình thấy bầu trời thì rộng, mà nắm cát tung lên rồi sẽ rớt xuống, nó không dính lại. Là người đạt được chánh niệm tỉnh giác nó tách ra khỏi vọng tưởng, không bị vọng tưởng dắt mình đi từ ý niệm này sang ý niệm khác nữa. Một lát tự động khởi lên do tập khí nó vẫn chưa hết,
[14:52]nó sẽ có giống như một đống cát bị ai ném tung lên giữa trời rồi lại rơi xuống, mà mình không chạy theo cái nắm cát đó, rồi bầu trời sẽ trong trở lại. Đó. Còn khi mà chưa đạt được chánh niệm tỉnh giác đó thì khi ai mà bốc nắm cát tung lên á thì giống như bốc trúng mình, mình sẽ bị quăng lên theo cái nắm cát đó luôn để mình tung lên trên giữa trời và rớt xuống cái bịch lại. Là mình bị người ta nắm trúng luôn. Giống như người nào mà nắm nắm cát quăng lên thì nắm luôn chính mình quăng lên luôn khi mình còn bị mê mờ, chưa có tỉnh giác. Còn khi có tỉnh giác, ai đó nắm nắm cát quăng lên giữa trời thì không
[15:25]nắm trúng mình, mình đứng ở một chỗ khác, mình nhìn thấy bầu trời rộng, vọng tưởng khởi lên rồi rớt xuống trở lại, và cái tâm thì vằng vặc sáng tỏ, đó là trạng thái chánh niệm tỉnh giác. Thì bắt đầu chúng ta hôm nay đi tới chánh định. Nhưng mà trước hết, cái người nào mà đạt được cái trạng thái chánh niệm tỉnh giác đó, rỗng rang đó rồi, vẫn phải tiếp tục giữ cái hơi thở thứ năm. Mà nhưng mà hơi thở thứ năm nó không thành một câu nói dài nữa mà nó chỉ là một ý niệm nhỏ thôi, ý niệm nhỏ nhưng mà luôn luôn tồn tại là luôn luôn biết tâm này còn còn phiền động, nhớ cái câu đó. Nghĩa là dù tâm mình thấy rỗng rang,
[16:01]vằng vặc, thanh tịnh rồi, vọng tưởng khởi lên rất ít rồi, nhưng vẫn phải biết là trong thẳm sâu mình vẫn còn rất nhiều phiền động. Ý niệm đó không bao giờ được bỏ. Sau này mà khi cái người mà chứng lên rất cao rồi thì ý niệm đó vẫn tiếp tục tồn tại, giữ gìn, không bao giờ được bỏ. Mà cái điều này, cái đạo lý này nó giống như trong cái bài khấn nguyện chúng ta thường hay tụng hằng đêm là: Xin cho con tỉnh táo, không không kiêu mạn, tự hào, dù tu tiến đến đâu vẫn tự tìm chỗ dở. Chúng ta có nhớ bài này không? Nhớ tìm thuộc bài này nha, đây là cái đoạn trong bài khấn nguyện thì riêng cái những cái đoạn này bắt đầu dành cho những người tu tập thiền định mà có kết quả.
[16:46]Thì bốn câu này là câu thần chú phải giữ gìn suốt cuộc đời tu của mình, chừng nào thành Phật thì thôi. Thì chỗ chánh niệm tỉnh giác này như vậy, dù tâm đã vằng vặc, sáng tỏ rồi nhưng mà vẫn giữ cái ý niệm biết tâm còn phiền động thì cái tỉnh giác nó không mất, nó sẽ được kéo dài hoài. Nghĩa là khi mình biết tâm mình còn phiền động thì cái kết quả đạt được rỗng rang, tỉnh giác, sáng tỏ, vằng vặc đó nó sẽ tiếp tục tồn tại. Còn nếu mình khởi ý niệm ngược lại là nghĩ rằng mình tự khen mình, nói à tâm ta nay đã vằng vặc, sáng tỏ, tỉnh giác, thanh tịnh rồi, nếu mình có một câu khen đó thì lập tức từ từ cái tỉnh giác nó tắt dần, tắt dần,
[17:24]nó lui lại, lui lại cho đến cái ngày tắt bình thường luôn, không giống ai hết. Mà nếu còn tiếp tục khen, tiếp tục nhớ lại ờ trước kia mình tu mình được thanh tịnh, thì bắt đầu tâm không những nó trở lại bình thường rồi nó loạn dần dần, loạn dần dần giống như điên luôn. Cho nên trong tâm lý nó có một cái quy luật, trong việc tu tập nó có một quy luật rất lạ, chúng ta phải nhớ. Nghĩa là nếu người nào tự chê mình thì sẽ tiếp tục tiến bộ. Nếu người nào tự khen mình thì sẽ bắt đầu bắt đầu lui sụt từ từ lại. À, cho nên cái đạo lý mà chúng ta phải tiêu diệt cái tâm tự hào bí mật của mình là một đạo lý cực kỳ quan trọng.
[18:04]Trong tâm mình tuyệt đối không bao giờ được tự khen mình. Ở bên ngoài đó người ta khen mình á thì kệ, mình quý vì người ta khen mình người ta được phước. Mình chỉ cẩn thận mình giữ là đừng mừng thôi. Nhưng mà người ta khen thì người ta được phước. Mà trên cuộc sống này nên khen lẫn nhau để được phước. Tuy nhiên, cái khổ là cái người nhận lời khen thì tuyệt đối không được mừng. Cảm ơn cái lời khen người ta à nhưng trong tâm phải giữ vững, không được mừng. Thì như vậy mới không bị lui sụt. Còn chính mình thì tuyệt đối không bao giờ được khen mình. Ai khen mình là tự sát. Chúng tôi nói những điều này không có cường điệu.
[18:44]Chúng tôi nói những điều này là nói rất nhẹ, rất chính xác là ai tự khen mình là tự sát. Nhớ như vậy trong việc tu tập, cẩn thận hết sức. Và như vậy, cái câu mà luôn luôn biết tâm mình còn phiền động là chính cái câu mà tự chê mình đó làm cho cái trạng thái tỉnh giác á cứ kéo dài, kéo dài hoài. Kéo dài, kéo dài và kéo dài tới bao lâu? Thì bắt đầu chúng ta phá được năm triền cái. Đây là cái cửa ngõ tiếp tục, phá được năm triền cái. Năm triền cái được liệt kê theo như lời Phật dạy là thế này: thứ nhất là tham ái, thứ hai là sân hận, thứ ba là hôn trầm, thứ tư là trạo hối, thứ năm là do dự. Đây là năm cái điều mà Phật liệt kê,
[19:28]nhưng mà trong thực tế đó thì dường như là cái trạo hối được diệt trừ trước hết. Nghĩa là trong cái tâm vằng vặc, vằng vặc sáng tỏ đó, vọng tưởng nghĩa là khởi lên manh nha là bị biết, manh le nha bị biết, mới mơ mơ mơ là bị thấy là chấm dứt liền. Giống như một người mà nắm nắm cát quăng lên giữa trời mà người ta chưa kịp quăng lên, mới vừa thò tay nắm nắm cát là bị thấy, phải buông nắm cát ra, không được ném lên nữa. Như vậy cái vọng tưởng trong tâm mình cũng vậy, thay vì nó khởi lên một cái niệm rõ ràng thì bây giờ không được, nó mới nhốm muốn khởi là bị cái tâm mình thấy và nó tắt trở lại, nó yên tĩnh liền.
[20:02]Là cái trạng thái đó tiếp tục duy trì, duy trì. Những ý nghĩ lúc này nó không có ngôn ngữ. Ví dụ bây giờ khi chúng ta vọng tưởng chúng ta khởi lên á thường có cái ngôn ngữ, là ví dụ bây giờ chúng ta như có khởi ý niệm là ờ ngày hôm qua à cái ông A đã cho tôi một cuốn sách hay. Cái ý niệm đó nó diễn tả thành cái ngôn ngữ, một câu nói như vậy trong đầu mình là ngày hôm qua ông A đã cho tôi một cuốn sách hay. Nhưng mà khi mà đến trạng thái tâm tế đó, nguyên cả câu đó nó chỉ nhúc nhích bằng một sát na thôi, nghĩa là cái nguyên cái dữ kiện là ông A cho tôi một cuốn sách hay nó chỉ nhóm một tích tắc chút xíu là đầy đủ nguyên
[20:39]cái ý niệm đó và bị mình thấy liền và tắt liền, không khởi lên nữa, không khởi lên thành một câu nói trong đầu mình nữa, chỉ là một cái ý chớm một cái như hạt bụi, bị mình thấy liền và tắt liền. Thì cái trạng thái đó duy trì, được kéo dài, kéo dài thì chấm dứt cái triền cái trạo hối. Là trong tâm lặng lẽ thanh tịnh, không còn có cái do dự, nghi ngờ. Bỗng nhiên mình cảm thấy rất là vững tin đối với con đường mình đã đi. Rất là vững tin nhưng mà không được khen nha, không được tự khen. Nhưng mà trong tâm mình có cái trạng thái là mình tự tin, vững chắc, biết con đường mình đi không sai nữa. Bởi vì tâm có cái sự an lạc, rõ ràng, làm chủ, kiểm soát được tâm từng bước rõ ràng.
[21:21]Mà vọng tưởng nhốm nhốm thấy hết. Cho nên làm cho mình tự tin. Cái tự tin này nó tiêu diệt cái thứ nhất là trạo là những cái lăn tăn, mất tâm thanh tịnh, thứ hai là hối. Hối là sao? Hối là hối hận á. Nghĩa là khi một người á ví dụ chúng ta làm một điều lầm lỗi á, khi chúng ta làm điều lầm lỗi nó có ba cái trạng thái Thành á là trạng thái thứ nhất là không biết lỗi, là thuộc lại cái người mặt dày à. Cái người không biết lỗi là người bướng bỉnh. Cái người này sẽ chắc chắn là càng lúc càng đọa. Đó là một trạng thái sai lầm. Một trạng thái thứ hai tốt hơn là hối hận. Hối hận, buồn khổ vì việc mình đã làm. Ha.
[22:00]Còn trạng thái thứ ba là không hối hận. Biết đó là lỗi nhưng không hối hận và quyết tâm không phạm nữa. Đó là trạng thái thứ ba của cái người phạm lỗi mà cái người mà đã vượt qua được cái trạo hối này, tức là trong cái tâm thanh tịnh, họ đạt được cái trạng thái là chấm dứt được cái triền cái trạo hối. Ví dụ như là đặt cái ví dụ, ví dụ như là họ có nạt ai một câu nào đó, ví dụ lúc đó họ có nghiêm khắc họ nạt ai một câu nào đó. Sau đó họ biết đó là lỗi. À nhưng mà tâm không có động cái buồn vì hối hận, nhưng mà cương quyết không bao giờ lặp lại điều đó nữa, sẽ đối xử tử tế với con người hơn. Nhưng mà trong tâm không có dày vò,
[22:39]không bị dày vò, không cắn rứt, nhưng biết đó là lỗi. Còn cái hạng người mà không chịu biết đó là lỗi, lần sau chửi người ta nữa thì người hết xài. Không phải đệ tử Phật. Không biết lỗi là không phải đệ tử Phật. Hoặc là cái người biết lỗi rồi hối hận, cứ day dứt hoài, tâm bất an thì người đó chưa có diệt được cái triền cái trạo hối này. Đó, cái trạng thái của người diệt được trạo hối là như vậy. Chúng ta đồng ý rồi ha, nắm rồi ha. Rồi một cái trạo hối nữa là cái hôn trầm. Hôn trầm là buồn ngủ á. Tức là khi mà người mà chứng được cái trạng thái chánh niệm tỉnh giác và duy trì lâu, duy trì lâu thời gian bắt đầu nó chấm dứt luôn cái triền cái hôn trầm.
[23:18]Thì người này á ví dụ đúng giờ thì lên ngủ thì ngủ, nhưng mà nếu muốn thức, ngồi đó thức tới sáng, bình thường tỉnh táo. Nhưng mà không lạm dụng, không phải ráng biết mình thức được cái thức hoài sau này cũng sẽ kiệt sức cơ thể. Nhưng mà biết giữ, nhưng mà nếu đụng chuyện cần phải thức là cứ an trú trong chánh niệm tỉnh giác thức hoài thức hoài không sao hết. Đó là cái người mà diệt được cái triền cái hôn trầm, cho nên người ngồi thiền rất là tỉnh, mà ví dụ không phải ngồi ngồi thiền cũng vậy, mà vì đêm đó có cái chuyện gì phải bàn bạc, phải trao đổi thì nói chuyện có thể là sức khỏe kém nhưng mà an trú trong cái trạng thái tỉnh giác của
[23:52]mình rồi là cứ tiếp tục thức, ai thức tới đâu thức tới đó. Không cần uống cà phê, uống trà gì hết. Đó, muốn thức là thức. Đó là người diệt được cái trạng thái, cái triền cái hôn trầm. Ừm. Rồi một cái triền cái nữa là cái sân hận. Sân hận là nổi nóng, bực bội á. Thì cái người mà đạt được cái trạng thái tỉnh giác kéo dài kéo dài rồi cho đến khi họ thành công diệt được cái triền cái sân hận thì không bao giờ nổi nóng nữa. Không bao giờ nổi nóng luôn. Ví dụ như họ có nghiêm là để dạy người khác một cái gì đó chứ trong lòng không có nổi nóng nữa. Không nổi nóng, nghĩa là dù cái nóng rất tế, dù cái nóng nhỏ như một hạt bụi cũng không khởi nữa.
[24:32]Và đây là một sự thật. Rồi một cái triền cái nữa là triền cái tham ái. Tham ái là thương ai một cách riêng tư. Không có nói là thương nam nữ nha, tình thương nam nữ cũng nằm liệt kê trong đây. Mà riêng cả tất cả mọi người chung quanh mình vậy. Ví dụ bây giờ một người nam sống trong cái đoàn thể người nam hoặc một người tu sĩ, người tăng sống trong cộng đồng người tăng, người ni sống trong cộng đồng người ni hay là một cư sĩ à tu tập giữa cái cộng đồng cư sĩ. Thì khi mà mình diệt được cái triền cái tham ái này rồi, tự nhiên mình không thương riêng một người nào nữa. Không còn thương riêng. Đối xử ai cũng như ai. Thì có thể mình biết người này tốt hơn,
[25:10]người kia tệ hơn chút, ha, người này có duyên với mình hơn, người kia ít duyên với mình hơn, biết, nhưng trong tâm không còn thương riêng ai nữa. Đó là người mà diệt được cái triền cái tham ái thì đương nhiên là cái tình cảm nam nữ vượt qua luôn. Có thể là ví dụ một cái người cư sĩ còn sống đời sống vợ chồng mà nếu tu tập đến cái mức độ này rồi thì coi người vợ, người chồng mình như bạn luôn. Không còn có cái luyến ái riêng tư nữa. Phải tu tới mức này mới thành công được. Ở đây có ai được vậy chưa? Ai được vậy chưa? Chưa. Trong năm cái triền cái này, thì chúng ta thấy là trong nhà thiền hay nhắc tới câu là:
[25:48]"Bát phong suy bất động", nhớ không? Bát phong suy bất động là tám gió thổi không động á. Lợi, suy, hủy, dự, xưng, cơ, khổ, lạc á. Tức là dù cảnh khổ, cảnh vui, đói, khổ, khen, chê tới mình tâm không động. Tức là tới cái trạng thái tự tại như vậy được cho rằng cái người này đã tu rất cao. Nhưng mà kỳ thực nếu chúng ta xem lại cái quá trình của chánh định thì người này chưa chứng sơ thiền nha, chưa chứng sơ thiền. Cái người mà đạt cái trình độ tự tại tám gió thổi không động thì mới đứng ngoài cửa, chưa nhập được sơ thiền, mới ở giai đoạn cuối của chánh niệm tỉnh giác. Như vậy chúng ta thấy thiền định trong đạo Phật rất cao, không phải dễ.
[26:29]Còn các thiền sư đó hay nghiệm các thiền sinh ở cái triền cái thứ năm là cái do dự, hồ nghi. Luôn luôn thử coi cái người thiền sinh đó còn nghi hay không. Hôm nay chúng tôi nói câu này chúng tôi cũng hơi có tội với các các tổ sư. Bởi vì đây là những bí mật, những cái mánh lới của thiền sư không được tiết lộ, nhưng bởi vì giảng nhằm bài này buộc chúng tôi phải nói ra chút. À nên chúng tôi cũng mang tội với các tổ sư. Nhưng mà vì đối chiếu nó phù hợp với kinh điển nguyên thủy nên chúng tôi phải trình bày. Mà trong các công án mà để thử nghiệm coi các thiền sinh còn hồ nghi hay không, còn bị cái triền cái hồ nghi do dự hay không
[27:09]thì các thiền sư có nhiều cái thủ thuật khác nhau. Nhiều thủ thuật. Ví dụ như ngài Đại Huệ ngài cho phép đến cái buổi tham vấn thì ngài cho phép từng vị tăng đi vào cái phương trượng của ngài để đối đáp với ngài. Thì có người vào hỏi ngài, có người thì vào ngài hỏi liền. Thì có một vị tăng bước vào cốc, bước vào cốc cái ngài mới hỏi câu này: "Kẻ không cùng vạn pháp làm bạn là ai?" Chúng ta phải hiểu câu này trước rồi mới hiểu cái câu mà vị tăng trả lời. "Kẻ không cùng vạn pháp làm bạn là ai?", nghĩa là gì?
[27:46]Không cùng vạn pháp, tức là mọi điều trên cuộc đời, mọi điều biến động tương đối trên đời, mà cái người mà không dính líu với cái mọi điều tương đối biến động đó thì kẻ đó là gì? Đó là gì? Đó là một trạng thái, trạng thái của một người giải thoát, phải không? Đó, như vậy cái câu hỏi bóng gió: "Kẻ không làm bạn với muôn pháp", chúng ta phải hiểu là cái trạng thái mà giải thoát là như thế nào. Thì vị tăng trả lời: "Bạch hòa thượng, kẻ không mặt mày." Ngon không? Cũng ngon, phải không? Vì đâu có tướng, cái trạng thái giải thoát thì đâu có hình tướng, phải không? Cho nên vị tăng nó trả lời liền: "Kẻ không mặt mày." Thì câu đó đúng hay sai?
[28:25]Cũng đúng chứ không phải sai. Cũng đúng. Nghĩa là dĩ nhiên cái trạng thái giải thoát thì rất nhiều cái cách để trình bày, nhưng mà vị tăng đó chọn một cái, chọn một cái trong muôn cái khía cạnh, đó là kẻ không mặt mày, ý nói là không hình tướng. Thì ngài Đại Huệ ngài mới nói thêm câu: "Hồi nãy ta hỏi câu này, cũng có vị tăng trả lời y như ngươi, bị ta đánh đuổi ra khỏi cốc." Cái câu đó cái vị tăng mới nhíu mày, không biết ổng sai chỗ nào, vừa mới nhíu mày hồ nghi cái bị ngài phất một roi đuổi ra khỏi cốc liền. Dĩ nhiên là ngài nói dối, phải không? Ngài nói dối chứ hồi nãy không có vị tăng nào vô bị hỏi câu đó đánh đuổi ra hết.
[29:00]Nhưng mà ngài giả bộ ngài nói một câu cái là ông kia ổng giật mình liền, nói: "Ủa mình nói sao câu hay quá mà bị bị chê, không biết sai chỗ nào." Chính cái do dự không biết mình sai chỗ nào là cái triền cái hồ nghi do dự này còn còn tồn tại, nên bị người ta đánh đuổi ra liền, vì người này chưa diệt được năm triền cái. Thấy dễ sợ mấy ông thiền sư chưa, cho nên đừng tưởng mấy vị thánh không nói dối, mấy vị thánh chuyên gia nói dối. Hoặc là vì mấy cái công án này chúng tôi đọc mấy chục năm trước rồi, bây giờ nhiều khi lâu quá không có dịp xem lại, không có nhớ lại hết tên từng người chính xác. Chúng tôi kể chuyện một Hoàng thiền sư một ngày đến với ngài Phật Quả.
[29:40]Ngài Phật Quả, Viên Ngộ, Phật Giám rất gần. Một người đệ tử của ngài Phật Quả thì Viên Ngộ đến với ngài Phật Giám. Thì mấy ngài đó là đắc đạo hết trơn. Thì đệ tử mà đi từ ông này qua ông kia thì mấy ông sư bác sư chú nghiệm chơi là coi cái đệ tử của ông sư huynh mình tu tới đâu. Thì có môn đệ tử đến. Đệ tử này cũng coi như được ấn chứng rồi, mới đến gặp ngài Phật Giám. Ngài Phật Giám mới hỏi là: "Thầy của ngươi (tức là ngài ngài Phật Quả đó) có một cái câu tối hậu khuyết cạn đặc đã dạy cho ngươi chưa?" Thì cái người sư cháu mới trả lời: "Sư chú ngậm cái miệng chó sư chú lại."
[30:23]Cái lúc đó cái ngài Phật Giám mới gằn giọng: "Không phải đạo lý này!" À cái người sư cháu đó mới hỏi tiếp: "Ủa, hòa thượng thầy sư chú ăn cơm chưa mà la lối như vậy?" Nghĩa là ăn cơm chưa, nãy giờ ăn cơm chưa mà la lối dữ vậy? Thì ngài Phật Giám mới nói: "Nếu mà thầy của ngươi chưa dạy, ta sẽ dạy cho ngươi." Đó. Thì cái người sư cháu mới nói: "Nếu mà sư chú còn nghi thì xách gói đi tham vấn thêm các nơi đi." Tới câu đó rồi thì ông ngài Phật Giám cười xòa, đành chịu luôn. Tại thử gì thử cái thằng sư cháu này nó cũng không có chịu nghi. Không lay động, không nhúc nhích nó được. Tức là nói đến những câu là
[31:04]dữ dội mà gặp cái đứa sư cháu này nó tự tại quá, nó không nghi nữa, hết nghi hết triền cái nghi rồi, cho nên thử không được, thôi chịu luôn. Chấm dứt cái triền cái nghi. Cho nên trong cái việc đối đáp với thiền sư á, mình nghe nó hơi làm sao, xấc xược ha, xấc xược, nghe hỗn, nghe khó chịu. Mà đó là một á, còn nhiều cái công án mà nghe còn giật mình, nhức mẩy, nghe khó chịu. Tuy nhiên là các thiền sư dùng để nghiệm coi cái người học còn bị do dự, hồ nghi hay không. Hôm nay chúng tôi nói câu này phải sám hối với chư tổ, vì một bí mật, cái mánh lới bị tiết lộ.
[31:40]Sợ quá. Thành thử ra là một người giảng là nhiều khi không phải là tốt đẹp. Những cái điều mình nói như vậy, nghe thì người nghe giống như có ích lợi nhưng sự thực mình bị tổn phước là vì như nãy vừa tiết lộ cái điều của bí mật của chư tổ. Trong kinh Nam tông á thì Đức Phật ca ngợi một người mà thoát được năm triền cái là như thế này. Là Phật mới nói thế này: Ví như một người mà từ lâu mắc nợ, rồi cái món nợ cứ canh cánh trong lòng. Lâu lâu cái người chủ nợ hỏi, rầy, cự nự, mắng, hối mình trả, làm mình rất khổ tâm.
[32:19]Thì một hôm bỗng cái người đó có được số tiền đem trả nợ, à và khi trả được món nợ rồi thì lòng mình sao? Nhẹ nhàng, cởi bỏ được món nợ. Thì Đức Phật nói cái người mà tu mà chấm dứt được năm triền cái cũng giống như một người trả được cái món nợ. Ở đây ai từng mắc nợ và trả được nợ rồi? Vậy là hiểu được cái trạng thái này phải không? Đâu ai từng mắc nợ giơ tay lên. Không dám giơ tay lên, quê không dám giơ tay lên. Vậy.
[32:50]Rồi Đức Phật cũng ví dụ, người trước kia bị bệnh nha là thân thể nóng bức, khi nóng khi lạnh, khi đau, khi ran, khi nhức. À thì rồi lâu lâu có một người y sĩ tới là cho mấy thuốc đắng hoặc là có người tới kéo tay kéo chân gõ chỗ này chích chỗ kia, làm đau đớn cũng vậy. Rồi một thời gian sau người đó bỗng nhiên được hết bệnh, à thân thể bình phục, khoan khoái thơ thới. Cũng giống như vậy, khi một người mà tu tập đến lúc mà dứt được năm triền cái thì người cũng khoan khoái thơ thới như vậy. Ở đây có ai bệnh rồi hết bệnh chưa? Có không? Tất cả. Everyone. Tất cả chúng ta ai cũng bệnh và hết bệnh. Còn người nào mà lớn nhỏ mà không bệnh thì người đó thuộc loại sao?
[33:35]Rô bốt người máy gì đó chứ không phải chứ không phải người thường. Đức Phật cũng ví dụ giống như một người bị bắt ở tù. À ở trong tù bị kềm kẹp, bị giam cầm, bị trói, gông. À đi đâu cũng bị người ta rình rập rồi ăn ở không được thuận tiện, quần áo thì hôi hám. Rồi bị những bạn tù là ức hiếp. Rồi một hôm bỗng người đó là hết hạn tù được phóng thích được tự do thì trong lòng sao? À sung sướng, khoan khoái, thơ thới thì cũng vậy. Như một người mà tu tập đến mức độ mà chấm dứt được năm triền cái thì người đó cũng sung sướng, cũng thơ thới, cũng khoan khoái như vậy. Ở đây có ai ở tù rồi được thả tù chưa?
[34:18]Nói nói là thầy né á.
[34:24]Rồi à Phật cũng ví dụ, ví như một người bị nô lệ. Hồi xưa có cái chế độ nô lệ là vì một lý do gì đó, vì ở trong một cái đất nước mà bị thua trận cái người ta bắt về làm nô lệ. Hay là do cái gia đình mắc nợ nhiều quá cái phải tự nguyện để làm nô lệ. À khi bị nô lệ thì làm sao? Thì không còn được tự do, lúc phải làm một cách cực khổ theo cái mệnh lệnh của chủ. Là ăn không dám ăn nhiều, ngủ không dám ngủ nhiều. Lúc nào cũng phải quan sát cái gương mặt của người chủ mình, xem người chủ mình vui hay buồn mà mình có cái phản ứng kịp thời. Hiểu không? Nếu mà ông chủ mình thấy mặt ổng vui thì mình khỏe một
[34:59]chút, rồi mình tương đối nhẹ nhàng mình làm việc. Còn mà ổng quạu lên một cái là phải lật đật lo làm để mà lấy lòng ổng. Coi là không bao giờ được sung sướng, cực khổ như vậy. Thì khi một người mà như vậy, tu tập thoát được năm triền cái thì cũng giống như một người thoát được cái kiếp nô lệ, được trả tự do, trở thành một người công dân bình đẳng như mọi công dân khác, có thể làm chủ lấy cuộc đời của mình thì người đó được hưởng cái cảm giác sung sướng, thơ thới, khoan khoái như vậy. Thì tu tập chấm dứt được năm triền cái cũng được khoan khoái, sung sướng, thơ thới như vậy. Ở đây có ai bị làm nô lệ rồi thoát ra chưa?
[35:32]Chưa. Rồi Đức Phật cũng ví dụ, giống như một đoàn người băng qua sa mạc. Thì trong sa mạc đó đầy những hiểm nguy là vừa là không có lương thực, không có nước. Khó khăn mình phải ăn uống phải tiết kiệm, rồi những cơn gió bão ập đến không biết lúc nào có thể chôn vùi cái đoàn người. Đó và có thể bị những rắn độc. Ngày xưa thì có thêm những quỷ Dạ Xoa, trong kinh nghiệm những quỷ Dạ Xoa nơi sa mạc mà hại con người. Rồi đến khi người đó vừa thoát ra khỏi sa mạc thấy được cái đầu làng, thấy được cái ngôi làng của cái ốc đảo là cây cối xanh tươi, là có những em bé vui chơi, với những mái nhà tranh, có những cuộn khói bốc lên.
[36:12]Thì lúc đó làm sao? Tâm làm sao? Mừng vô cùng. Là biết rằng cái hiểm nguy ở sau lưng đã qua rồi, bây giờ chúng ta gặp được xóm làng, gặp được có sự sống, có được con người. Thì cái cảm giác thật là là vui mừng, sung sướng. Cũng vậy, một người tu tập mà thoát được năm triền cái, chấm dứt được năm triền cái cũng giống như người vượt qua được cái sa mạc mà bắt đầu đến được cái đầu làng. Vậy nên Phật ca ngợi cái người mà tu tập chấm dứt được năm triền cái đó. Bởi vì sao? Người đó bắt đầu có dấu hiệu của thánh. Bắt đầu có những dấu hiệu của thánh tính. Trong cái đời sống của người đó là có cái sự cao cả, có cái tính chất của thánh ở trong đó rồi.
[36:54]Bắt đầu bản thân mình được an vui, hạnh phúc mà người chung quanh nhìn vào cũng bắt đầu chiêm ngưỡng được cái đời sống của một bậc thánh. Hiểu không? Vậy mà làm sao? Vậy mà vẫn chưa nhập được sơ thiền, vẫn chưa nhập được sơ thiền. Như vậy sơ thiền khủng khiếp không? Dễ sợ không? Dễ sợ vô cùng. Nhưng mà vì thời xưa có Phật cho nên người nào tu tới đâu Phật báo cho biết. Còn thời nay không có Phật nên có nhiều người là đạt được chánh niệm tỉnh giác, rỗng rang thanh tịnh sáng suốt rồi tưởng mình chứng đạo, tưởng mình là thánh, không ngờ là chưa dứt được năm triền cái. Cho nên có những người chúng ta nghe kể là tu tập thiền rất tốt mà đụng
[37:36]chuyện vẫn còn sân, vẫn còn tham là vì chưa dứt được năm triền cái. Rồi có những người tu thiền rất là tốt, tâm thanh tịnh và dứt được năm triền cái, chúng ta thấy tâm người này bát phong xuy bất động, không có làm gì lung lay được hết, coi là tự tại, không bao giờ phiền não, không bao giờ hờn giận, tham lam. Rồi chúng ta nghĩ người này tu đắc đạo rồi, nhưng mà nếu so sánh với cái tiến trình này thì người này sao? Chưa vào sơ thiền. Khủng khiếp chưa? Vậy chúng ta thấy đạo Phật cao hay thấp? Quá cao, nhưng mà thời nay nhiều khi mình hiểu lầm. Có khi mình thấy một người như vậy, mình cho đắc đạo,
[38:11]kỳ thực là nếu so theo tiêu chuẩn thời Đức Phật, chưa được gì hết, chưa vào sơ thiền. Khủng khiếp chưa? Phải không? Cho nên chúng ta hiểu những điều này rồi mình sợ lắm. Biết đạo Phật rất là cao siêu mà các đạo khác không bằng nổi. Mình nói câu này là không phải là mình chê tôn giáo bạn nhưng mà đây là một sự thật. Người ta tu đến mức độ này rồi đó mà chưa vào cửa được mà, chưa nhập định được mà. Mà trong khi lòng đã chấm dứt được tham sân rồi đó, tự tại rồi đó, không bao giờ hờn giận, động tâm phiền não gì nữa đó. Thánh rồi, cao cả đến cỡ đó rồi đó. Vậy mà chưa nhập được định mà con đường nhập định phía trước còn dài dằng dặc.
[38:49]Nên chúng ta thấy đạo Phật rất cao, đạo Phật rất cao. Khó có một tôn giáo thứ hai nào trên thế giới bì nổi. Đây là không phải là chúng ta vì theo đạo Phật mà chúng ta bênh đạo Phật nhưng mà đây là một sự thật không thể phủ nhận được. Nếu mình hiểu được cái tiến trình tu chứng của đạo Phật thì buộc lòng mình phải hiểu đạo Phật quá cao siêu, quá cao siêu. Như là viên ngọc quý của nhân loại, như là ánh sáng mặt trời của nhân loại, như là một đại dương ừm đẹp ngời của nhân loại. Nhưng mà chỉ vì nhiều khi chúng ta không hiểu hết á, chúng ta sẽ đánh giá thấp đạo Phật. Hoặc là tu sơ sơ mới được sơ sơ mà tưởng mình quá
[39:26]cao làm cho người ta nhìn vào đó người ta tưởng đạo Phật thấp theo, chứ thật sự đạo Phật rất cao. Bây giờ chúng ta nói về sơ thiền. Đây là tiến trình tâm nè, Đức Phật nói nè: Khi một người xả ly được năm triền cái, xả là bỏ, ly là lìa đó nhưng mà thường dùng cái chữ nho. Khi một người xả ly được năm triền cái thì tâm người đó được trạng thái hân hoan, hân hoan. Khi mà hân hoan, cái hân hoan nó được nuôi dưỡng tiếp tục thì tâm người đó tiếp tục đi qua cái hỷ, tức là mừng. Khi mà cái mừng này kéo dài thì cái thân người đó được khinh an, nhẹ nhàng. Thì từ cái thân khinh an nhẹ nhàng được kéo dài thì cái tâm người đó được lạc thọ.
[40:11]Tâm người đó được cái cảm giác hạnh phúc, sung sướng. Rồi bắt đầu nó tự kéo cái tâm mình an trú trong định một cách tự động, automatic. Tới trạng thái này thì không phải dụng công nhiều, không cần dụng công nữa. Là từ cái niềm vui của cái phá trừ được năm triền cái mà mình duy trì á, bắt đầu nó tự động những hạnh phúc, những cảm giác của hạnh phúc, sung sướng nó cứ khởi lên trong thân, trong tâm đầy hết và nó kéo tự động nhiếp cái nội tâm mình vào trong định luôn. Lúc này không cần phải dụng công. Cho nên có nhiều người tu đến trạng thái mà tâm tự động là gần đến sơ thiền nhưng mà cái quan trọng là phải dứt được năm triền cái, dứt được năm triền cái.
[40:48]Và cái hân hoan thơ thới nó tự động nó xuất hiện. Nên ở đây nhiều khi không biết, chúng ta thấy một cái người ngồi thiền trong thanh tịnh hoặc một cái người tu theo đạo Phật mà họ giống như thích cái hư vô, điềm đạm, mình cứ tưởng là tu theo đạo Phật nó lạt lẽo, nó khô khan, không có cảm giác sung sướng gì. Đâu biết rằng khi một người mà vượt qua được năm triền cái rồi thì hạnh phúc tràn đầy cái tâm hồn của họ, nó sung sướng hơn hết tất cả mọi cái niềm vui của thế gian. Đây cũng là lý do mà cái người tu mà được đến chỗ này rồi họ không có ham ham chuyện thế gian nữa là vậy. Đó là do cái hạnh phúc nó tràn ngập trong tâm mà không cần cái điều kiện bên ngoài.
[41:27]Còn bình thường á chúng ta muốn vui á, muốn sung sướng á thì chúng ta phải đi tìm bên ngoài. Là thường thường chúng ta tìm cái gì để có niềm vui? Quý Phật tử kể thầy nghe coi, thầy không biết á. Thường thường cái gì?
[41:42]Ở ngoài nhiều trò vui lắm, ngoài đời nhiều trò vui. Người ta bày đủ thứ á. Đá gà cũng vui, đánh bài cũng vui lắm. Coi chừng công an bắt thôi à. Nên có nhiều người bỏ hết sự nghiệp tài sản của mình rồi để chạy theo những trò vui thế gian, cho đến một ngày đổ bể ra tùm lum hết trơn. Không được gì. Nên nó mong manh, nó vô thường và nó ẩn chứa phía sau nó những điều nguy hiểm, đau khổ. Như khi mà chúng ta chạy theo cái niềm vui thế gian. Còn cái người mà họ dứt được năm triền cái, an trú trong thiền định thì hạnh phúc tuôn trào trong tâm họ và không cần cái điều kiện bên ngoài. Bắt đầu chứng Sơ thiền, đây là cái câu nói của Phật nè. Nguyên văn nè:
[42:24]"Tỳ-kheo ly dục, ly ác pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sinh với tầm, với tứ". Câu này mình hiểu không? Không hiểu nổi. Văn cổ mà nói cô đọng quá, không hiểu nổi. Vì vậy chúng ta phải mổ xẻ với nhau. Ly dục, ly ác pháp, chứng và an trú Thiền thứ nhất. Ly dục nghĩa là chấm dứt hết mọi ham muốn. Cái ham muốn này nó gồm nhiều loại ham muốn. Là những cái tham bình thường của thế gian, như là nào giờ chúng ta tham gì? Tham gì? Tham tiền. Tham gì nữa? Nói hơn nó kể ra thì nhiều thứ rườm rà lắm thấy không? Nói chung là nhiều cái tham. Mình tham tham gì nữa? Tham đẹp phải không?
[43:11]Tham nhà cao cửa rộng, tham quyền chức, à danh vọng, tham tiếng khen, à tham gì nữa? Nhiều thứ. Mà cái chữ "dục" này nó hàm cả nghĩa tham dục luôn đó, ái dục luôn đó. Thì khi mà tới cái trạng thái mà năm triền cái vượt qua mà hạnh phúc tuôn trào thì cái tâm người đó ly được cái dục rồi. Và lìa được cái ác pháp. Nhưng mà chúng ta nói cái ly dục trước. Khi mà nói lìa dục, hết ham muốn thì mình tưởng tượng cái người đó làm sao? Mình tưởng tượng người đó làm sao?
[43:47]Ví dụ mình nghe nói một cái ông nhà sư à tu hành nơi cái am vắng, không còn ham muốn gì nữa thì lúc mình hình dung nhà sư đó làm sao? Héo hắt phải không? Đìu hiu gió cuốn, quạnh quẽ, cô đơn. Mình tưởng tượng vậy đó. Tại mình nghe cái chữ mà "không còn ham muốn gì nữa" đó, mình thấy trong khi mình nghĩ cái người phải thích chuyện này thích chuyện kia cuộc đời mới vui. Ừ nhưng mà nghe ờ có ông nhà sư đó ổng tu ổng hết ham muốn gì rồi, cái mình thấy trong đìu hiu gió cuốn nằm trơ vơ gác chuông ờ. Mấy năm năm rồi không gặp vậy đó. Cái thấy buồn gì đâu. Nhưng mà không phải, không phải. Chúng ta ví dụ trường hợp thế này.
[44:26]Giống như ngày xưa chúng ta có người bạn nghèo, rồi cái chia tay nhau năm năm rồi không gặp. Cái đến khi gặp lại cái mình hỏi: "À anh lúc này anh sao? Làm ăn sao?" Phải không? Mình vồ vập mình hỏi han như vậy. Chứ lúc người ta nghèo thì mình cũng trốn mất rồi, mình không dám gặp, sợ người ta mượn tiền. Nhưng mà lâu ngày năm năm rồi gặp lại, năm năm rồi không gặp từ khi anh quá nghèo, thí dụ vậy, rồi cái gặp lại cái mình cũng tay bắt mặt mừng tại thấy lúc này họ mặc đồ có đàng hoàng hơn hồi xưa. "Sao? Anh lúc này làm ăn làm sao?" Thì người kia họ khiêm tốn họ trả lời câu này: "Cảm ơn anh là lúc này tôi cũng hết nghèo." Nghĩa là làm sao?
[45:01]Nghĩa là làm sao?
[45:05]Coi chừng tiền họ đốt được mình. Nhưng mà họ nói câu khiêm tốn: "Tôi hết nghèo." Và trong đạo Phật thường hay dùng những chữ như thế này. Đức Phật ngày xưa hay dùng những chữ như vậy lắm. Ví dụ như hỏi là tu chứng tới đâu rồi, nhiều khi Đức Phật trả lời một câu: "Người này hết vô minh rồi. Hết vô minh." Mình nghe cái chữ "hết" đó, mình tưởng không còn gì nữa. Trời ơi, vô minh mà cũng hết nữa, thôi hết còn cái gì. Tu theo đạo Phật không được gì hết. Nhưng đâu có ngờ hết vô minh nghĩa là cái gì? Nghĩa là làm sao? Chuyện gì cũng biết hết. Chuyện gì cũng biết. Cũng giống như mình gặp người bạn, hỏi: "Anh lúc này làm sao rồi?", nói:
[45:38]"Tôi hết nghèo." Nói: "Trời, sao tội nghiệp quá ha, làm ăn gì riết rồi cái nghèo cũng hết luôn, không còn gì hết trơn, tội nghiệp quá ha." Nhưng mà đâu có hiểu hết nghèo nghĩa là làm sao? Là muốn mua cái gì cũng được. Vậy đó. Nên cái lối dùng chữ trong đạo Phật á, kín đáo và khiêm tốn. Mình không hiểu cái mình cứ hiểu theo cái nghĩa cái gì cũng hết, cũng không á. Tu làm sao nó hết vô minh. "Trời, tội nghiệp quá ha, tu riết rồi hết vô minh." Đâu biết hết vô minh là họ là cái gì? Họ là thầy của mình á. Còn: "Anh làm ăn sao hết nghèo rồi?" - "Trời, tội nghiệp, quá nghèo mà cũng hết luôn, không còn gì hết." Đâu biết hết nghèo rồi mà muốn mua cái gì cũng có, phải không?
[46:12]Như vậy, bởi vì cái chữ mà "ly dục", không còn ham muốn gì nữa thì nghĩa là nội tâm người này làm sao? Nội tâm người này làm sao? Quá hạnh phúc rồi. Phải không? Họ quá hạnh phúc, cho nên không muốn chuyện gì bên ngoài nữa. Chúng ta phải hiểu như vậy, phải hiểu như vậy. Chúng ta phải hiểu như vậy, phải hiểu như vậy. Nên chúng ta tu theo đạo Phật á là những cái từ ngữ mình cẩn thận là vậy đó. Nên mình đọc cái kinh ngày xưa, Phật dùng cái chữ khiêm tốn nên nhiều người cứ nói là: "Trời, đạo Phật tu theo buồn, tu buồn quá, hư vô quá, không còn gì hết trơn á." Đâu có ngờ tu theo đạo Phật là hết vô minh, hết nghèo, hết ngu, hết xấu, đó.
[46:52]Mình dùng chữ theo đạo Phật là vậy không à. Đó, mình nói tu theo đạo Phật là anh được cái gì, sao tôi thấy tu theo đạo Phật cái gì nghe nói cũng không? Nói: "Đúng vậy đó anh bạn à, tu theo đạo Phật giờ là phải hết xấu nè, hết nghèo nè, hết ngu nè." Đó, mình nói mấy cái hết đó ra họ hiểu sao hiểu. Đó vậy đó. Mà đúng không ta? Đúng là hết xấu không? Hết xấu không? Không biết. Cho nên mình phải dòm gương mình tu mà hết xấu là đúng đạo Phật. Mà lâu lâu thấy mình hết ngu là đúng.
[47:22]Cho nên cái chữ mà Phật nói "ly dục" để an trú Sơ thiền thì phải hiểu không còn ham muốn gì nữa là bởi vì sao? Có đầy đủ hết rồi, hạnh phúc đầy đủ hết ở trong tâm rồi. Ta phải nhớ cái điều đó như vậy. Nhưng khi chấm dứt ham muốn thì thân và tâm tràn ngập niềm vui. Cái niềm vui nội tại lớn, lớn quá nên hành giả không còn ham muốn chuyện thế gian. Chúng ta phải hiểu cái điều này. Hạnh phúc đó chúng ta không tưởng tượng nổi, phải tu chứng tới rồi mới biết. Rồi cái câu nữa là: "Ly ác pháp". Nó có hai điều kiện để được gọi là chứng Sơ thiền: ly dục - không ham muốn, ly ác pháp - ác pháp là gì? Tức là những cái điều bất thiện trong tâm mình đó.
[48:03]Người này chấm dứt hết những cái ác pháp trong tâm. Nghĩa là làm sao? Nghĩa là làm sao? Chúng ta nhớ luôn luôn phải hiểu cái nghĩa ngược lại, hiểu cái nghĩa tích cực. Cái câu nói thì có vẻ khiêm tốn nhưng mà cái nghĩa đó nó có một cái ý nghĩa tích cực rất lớn. Cho nên khi không còn cái điều bất thiện trong tâm nữa thì tâm người đó là làm sao? Là làm sao? Cực kỳ cực kỳ thánh thiện, cực kỳ đạo đức, đó phải nhớ như vậy. Chứ hỏi: "Nói hồi xưa thấy cái người đó họ hư hỏng, cà chớn, ác quá đi." Nói: "Lúc này anh tu hành sao rồi?" Nói: "Lúc này tôi lìa, tôi không còn ác pháp, tôi hết ác pháp rồi." "Nói trời ơi, sao tu riết mà ác pháp cũng hết,
[48:46]tội nghiệp quá ha." Đâu biết rằng họ nói hết ác pháp có nghĩa là họ thành thánh mất rồi. Tâm hồn cực kỳ thánh thiện, cực kỳ hiền lành, không bao giờ ghét một chúng sinh nào, không bao giờ giận ai, à không bao giờ ích kỷ với ai, không bao giờ ganh tị đố kỵ với ai. Tâm cực kỳ thánh thiện, cực kỳ đạo đức. Là cái chỗ đó mới chứng được Sơ thiền. Vì mình thấy Sơ thiền sao? Khủng khiếp không? Quá khủng khiếp. Cho nên chúng ta nhớ thế này: cái nguyên tắc của định là phải thuần thiện. Là cái tâm rất thiện mới vào định được. Còn tâm chúng ta còn một chút trục trặc về đạo đức thì xin thưa không thể nhập định được, hãy nhớ điều đó.
[49:26]Cho nên vì vậy trong cái việc mà tu dưỡng của đạo Phật thì cái việc mà tu tập đạo đức là phải tu tập suốt cả đời, từ khi bước chân vào đạo Phật tới khi chứng đạo. Cái đạo đức luôn luôn phải hết sức là hoàn chỉnh. Mà cái dấu hiệu là khi an trú Sơ thiền là đạo đức hoàn chỉnh. Mà tại sao đạo đức hoàn chỉnh? Vì bởi vì cái người mà chứng được Sơ thiền á, họ biết được đúng sai, thiện ác, phải trái trong từng cái chi tiết nhỏ. Tức là nhỏ như một sợi tóc mình sai biết liền. Tức là một cái ý nghĩ sai hay một cảm nhận sai, một suy nghĩ sai, một lý luận sai, dù nhỏ như một sợi tóc là người đó ta tự nhận ra liền.
[50:06]Cho nên người đó tinh tế dễ sợ lắm. Người đó có thể gọi là đạt được cái chân lý nơi cái đầu chấm cây bút chì. Cái người mà chưa chứng Sơ thiền á có thể hiểu trật qua bên đây một tấc, trật qua bên kia một phân. Còn cái người chứng Sơ thiền họ hiểu chân lý đúng vào cái đầu chấm cây bút chì ngay chính giữa, không lệch qua, không lệch lại. Và chính bản thân họ họ kiểm soát họ được như vậy cho nên cái người bên ngoài sao? Nhúc nhích là biết liền, nhúc nhích biết liền. Và cũng chính từ cái Sơ thiền này mà làm cho họ nhìn chuyện thế gian họ hiểu hết nhiều điều là vậy đó. Tại vì chuyện tinh tế từng chút từng chút nhìn biết hết,
[50:41]từng ly từng tí như một sợi tơ, như một sợi tóc là phân tích ra được hết. Là bởi vì cái trí tuệ của họ bảo đảm là thấy được điều sai, điều đúng như một sợi tóc chẻ làm tư, như vậy đó. Mình gần mấy người này mình khổ tâm không? Gần mấy người này bình thường thì rất là khó sống phải không? Khó sống. Tại vì mình mới nhúc nhích cái là họ nhìn họ biết mình sai đúng liền. Mình mệt quá mình ngồi mình dang cái chân ra, họ liếc cái chân mình họ biết. Biết mình thất niệm mình mới thò cái chân dài thòng lọng ra, rồi ngồi khép chân lại. Gần mấy cái người đó mình thấy hơi mệt. Phải không? Thí dụ như mình gặp chuyện vui mình cười há há há há
[51:16]lên, họ nhìn mình một cái họ biết mình vừa sao? Cái tâm động vui quá mức không kiềm chế được cái nụ cười của mình. Ví dụ ví dụ như là khi mà mình đang ngồi chơi với nhau vậy, có cái người chứng Sơ thiền ngồi đó, cái có ai móc đống tiền ra đếm cái họ thấy mình dòm cái đống tiền thong đỏ, cái họ nhìn mình cái họ biết là tâm mình sao? Còn còn chú ý vào tiền bạc, họ liếc họ thấy biết liền, cái mình nhìn thấy ánh mắt họ nhìn mình giật mình lại. Tức nói chung là mình sống gần cái người Sơ thiền nó mệt vậy đó. Tại vì mình sai đúng, nhúc nhích nhúc nhích cái họ thấy, họ biết hết trơn. Nhưng mà có cái khỏe là cái gì? Có khỏe là cái gì?
[51:50]Là họ luôn luôn thương yêu, họ biết hết nhưng mà họ không có rầy, không trách, không ghét mình, không chê bai, không khinh bỉ mình. Chính vì điểm đó mà mình sống gần cái người Sơ thiền được là vậy đó. Chứ nếu mà cái gì cũng biết, sai đúng phải trái họ biết từng ly từng tí mà họ bực, họ quạu, họ cự nữa thì mình sống không nổi. Gần mấy người đó thôi trốn luôn, thì thôi đừng ai chứng Sơ thiền hết á, sống cho nó khỏe. Nhưng may mắn là những vị Thánh mà chứng Sơ thiền á, họ cái sai họ đúng họ biết, cái sai đúng biết rất rõ nhưng họ rất bao dung, rất từ ái, đỡ khổ cho thiên hạ là cái đó. Còn cái người đời mà chưa chứng Sơ thiền mà khó tánh
[52:22]quá thì ông bà mình có nói một câu thế này là: Nước trong quá thì không có không có cá, người xét nét quá thì không có không có bạn, không ai dám ở gần hết. Tức là ta sai một chút là cũng bắt đầu hờn trách, cũng xỉa xói này chịu không nổi. Thôi kiếm người nào xề xoà sống gần cho nó khỏe. Là về tới nhà rồi cái cởi áo ra quăng phèo cho nó nằm đâu nằm, nằm trên giường dang tay giang chân ra cho nó đã ví dụ vậy, mình thấy sống vậy nó khỏe. Nhưng mà gần cái người cái gì họ cũng lườm, họ liếc, họ cự mình, cái gì sai họ cũng không chịu hết mình khó chịu. Nhưng mà mình gần cái người Sơ thiền đỡ một cái là ví dụ mình có sai,
[52:57]họ thấy nhưng mà họ thương, họ thương, họ không trách, làm cho mình thấy dễ chịu. Cho nên mình sống gần người đó từ từ mình sửa được, từ từ mình sửa. Tại vì cái ánh mắt họ nhìn cái mình biết là mình đã sai, nhưng mà cũng cái ánh mắt đó thương yêu cái làm mình dễ chịu, thôi từ từ mình sửa, từ từ sửa không khó chịu. Cho nên ráng kiếm mấy người Sơ thiền mà mà mình sống cho gần. Đó ráng đốt đuốc lên đi tìm.
[53:22]Trong cái nguyên văn chúng ta nhớ câu thế này là: Tỳ-kheo ly dục ly ác pháp chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sinh với tầm với tứ. Tầm tứ là gì? Tầm tứ tức là những ý niệm tế còn ở trong. À cái chỗ này phải nói là không phải Phật không ai nhìn ra. Đức Phật vĩ đại ở chỗ này. Vì sao? Vì bản thân cái người mà chứng Sơ thiền á thì họ tự thấy họ không còn vọng tưởng. Họ thấy tâm họ vắng bặt, tự động không còn vọng tưởng. Vậy mà Phật biết trong tâm đó ý niệm vẫn còn. Mặc dù mình nhìn không thấy, dễ sợ như vậy. Mà ý niệm gì? Trong đây không còn ý niệm tạp, ý niệm bậy nữa mà chỉ ý niệm về đạo lý thôi.
[54:07]Cái ý niệm về việc tu mình đã đến mức độ này, ý niệm về đạo Phật là như thế kia, tức là những ý niệm về đạo lý còn tồn tại ở trong tâm. Mà còn rất sâu nha, còn rất sâu. Chính bản thân người đó nhìn vô tâm không thấy. Tự cái người Sơ thiền nhìn vào tâm mình cứ tưởng mình là bất động hoàn toàn, không còn vọng tưởng. Nhưng mà Phật mới biết là trong thâm sâu người chứng Sơ thiền vẫn còn ý niệm, nên Phật gọi là một trạng thái hỷ lạc do ly dục sinh, tức là lìa hết cái dục, có cái trạng thái vui mừng sung sướng nhưng mà ý niệm còn. Nếu không có Phật cảnh giác câu này thì thế gian này đứng ngang đó đứng lại hết, tưởng mình đã chứng xong rồi.
[54:48]Nhưng mà chính nhờ Phật cảnh báo là còn ý niệm tế đó, nhờ vậy mà chúng ta tu tiến tiếp. Nên do đó cái câu mà chúng ta nói rằng: Thở vào biết tâm này còn còn phiền động, thở ra biết tâm này còn phiền động, đến chỗ này vẫn nên tiếp tục sử dụng, không được bỏ. Là vậy đó, bởi vì còn ý niệm. Về cái hỷ lạc của một người chứng Sơ thiền á, Đức Phật đưa ra một ví dụ này. Đưa ra ví dụ rất là ngộ, mà một cái ví dụ này á muôn đời như là bí mật để trong kinh điển luôn chả ai hiểu gì hết. Chỉ có những vị nào đã hiểu thì không thèm giải thích. Nghe ví dụ thế này chúng ta nghe. Là Phật nói: Ví dụ như có một cái người hầu tắm
[55:32]là người xưa đó, người xưa cái những người mà quyền quý á, khi họ đi tắm thì có cái người hầu để cho họ tắm. Thì cái người hầu cho họ tắm á đầu tiên á là bơm nước vào trong cái bồn nước vì cái người giàu họ cũng tắm một cái bồn. Ví dụ như mình bây giờ tắm bồn tắm vậy đó, đổ nước vào trong cái bồn nước đó, rồi bắt đầu nhồi cái bột tắm. Ngày hôm nay đó chúng ta tắm bằng cái gì? Xà bông phải không? Cầm cục xà bông chà chà chà chà. Rồi sau này cục xà bông cầm chà nó sao? Nó không tiện thì bắt đầu mình chế ra cái gì? Sữa tắm hay kem tắm hay dầu tắm, tức là nó mềm, bơm lên cái thoa nó lẹ hơn. Đó, và chỉ cần một cái vốc cỡ chừng một muỗng thôi phải không? Là đủ tắm.
[56:11]Không biết nói một muỗng đủ tắm không ta? Đôi khi tôi nói vậy nhầm hớ, mình hớ đó. Hớ là mình hà tiện quá mình tắm có một muỗng. Trong khi ở dưới kia cái người ngồi là phải tắm nửa chén thì mới đã, làm sao không biết. Cho nên tôi nói theo người nghèo và cái người hà tiện người nhà quê nha, là một muỗng ví dụ vậy, mình trét mình xoa xoa hết là tắm được. Nhưng mà người hồi xưa không phải vậy. Hồi xưa bởi vì lúc đó cái kỹ thuật khoa học chưa tiến bộ, cho nên họ phải nhồi một cục bột tắm bằng cái công thức gì đó mà bí mật ngày nay mất luôn, công thức đó bị mất, là pha những cái hương liệu gì đó, những nguyên liệu gì đó họ nhồi với nước thành ra nó mềm, nó nhão.
[56:45]Nó mềm mà nó nhão mà không được chảy lòng thòng. Cái nguyên tắc của cục bột tắm mà cái người hầu tắm mà khéo á thì nhồi trộn với nước, nhồi bóp bóp nó đều từ trong ra ngoài, không có chỗ nào nó còn khô nha, khô là bị ông chủ mắng liền. Tức là chà lên người chỗ đó là nó rớt lọc bọc lọc bọc ra, cái bột nó rớt ra là không được, phải nhồi đều từ trong ra ngoài nó thấm nước đều hết như một cục bột mà trong đó nó có chất nhờn và có chất thơm, có chất tẩy dơ. Và công thức đó ngày nay biến mất không còn, người xưa có. Ở đây có ai từng se nhang chưa ta? Có ai se nhang chưa? Se nhang lại cũng vậy, họ lấy cái bột gỗ đó,
[57:21]họ trộn với nước, nhồi nhồi lại rồi sau đó cái họ để cái cây tăm vào, họ lăn chà lên bàn chà cái rút ra được một cây tròn tròn. Có ai biết se nhang chưa? Đó chúng tôi nói như vậy là chúng tôi có biết se nhang rồi, hồi xưa là ở chùa cũng có se nhang. Thấy phải không? Thì cái cục bột nó sao? Cũng nhồi đều và mềm mềm như vậy. Đó nhưng đó mình hình dung như vậy, nhưng mà cái cục bột tắm ngày xưa nó to hơn, nó nhão hơn, ướt hơn, trơn hơn, thơm hơn và không được chảy lòng thòng. Và Phật ví dụ là cái trạng thái Sơ thiền cũng giống như vậy. Mình hiểu không? Phật nói rằng cái hạnh phúc của người chứng Sơ thiền giống như một cái bột cục
[58:00]bột tắm đã được nhồi nước đều từ trong ra ngoài mà không chảy lòng thòng. Hiểu không? Hiểu không? Ai hiểu người đó giỏi hơn giảng sư. Bởi vì đây là trạng thái chứng. Cái người chứng á mới hiểu được Phật ví dụ cái này. Tại sao bao nhiêu ví dụ Phật không ví dụ, mà Phật lại ví dụ đúng cái bột tắm? Nhồi đều, thơm, trong mát từ trong tới ngoài không có chỗ nào còn bị không ẩm ướt mà không chảy lòng thòng. Mà chỉ người chứng tới đó mới hiểu được tại sao Phật dùng đúng cái ví dụ đó mà không chọn ví dụ nào khác. Bởi vì sao? Bởi vì trạng thái tâm của người đó đó nó giống như một cái khối bột ướt mềm mại, nhu nhuyến toàn thân nha.
[58:44]Toàn thân khi mà ngồi thiền như vậy thấy toàn thân mình từ trong ra ngoài như một cái khối bột mềm nhão, ướt, sung sướng, hạnh phúc mà không chảy lòng thòng. Cái hạnh phúc đó không rớt ra khỏi thân, không có vọng động, nó vững chắc, nó an ổn, nhưng nó mềm mại, nó nhu nhuyến và thấm đều từ trong tới ngoài, không một chỗ nào mà không hạnh phúc. Mà thấy cái trạng thái cái cảm giác thân mình nó mềm như một cục bột, nó mềm như một cục bột, mềm mại, nhão như một cục bột nhão ướt. Đó là trạng thái của Sơ thiền, hạnh phúc tràn đầy. Nên cái chỗ này nếu mà người không chứng tới không hiểu, nói bộ Phật hết chuyện ví dụ hay không chi ví dụ chuyện tắm?
[59:23]Nhưng mà người chứng tới thì thấy: Ồ, Phật nói không sai. Phật nói không sai. Ví dụ bây giờ chúng ta ngồi, đầu tiên khi chúng ta ngồi thiền chúng ta thấy cái thân mình sao? Mình là một đống thịt, đống xương cứng cứng phải không? Cứng như vậy, này có tay có chân như vậy. Để ý mình về để ý dưới bụng thì mình thấy cái bụng, thấy cái tay, thấy cái chân thế. Khi mà mình tu mà đạt được chánh niệm tỉnh giác thời gian á, có những lúc nó rỗng quá mình hơi quên cái thân. Giống như không có thân, kỳ thực cái thân nó vẫn còn. Nhưng mà đến khi mà chứng được Sơ thiền á thì nó trở lại, lúc đó cái cảm giác của nó là toàn thân này nó không là một
[59:59]cái thân cứng như lúc kia hay là mất như lúc kia nữa, mà toàn thân như là một cái một cái khối bột nhão mềm mại, một khối bột nhão mềm mại, mát rượi trong hạnh phúc từ trong tới ngoài mà không có đổ ra bên ngoài một giọt nào. Giống như một đống bột ngồi như vậy, mềm mại như vậy mà không có chảy lòng thòng, không có rớt xuống, không có đổ xuống. Cái bột bình thường á ví dụ mình nhồi một cục mình để đó thì sao? Nó từ từ nó sao? Nó sụp xuống phải không? Nó sụp nó chảy tràn tràn tràn tràn ra. Còn Sơ thiền á thì giống như cục bột vậy, mềm mại nhão như vậy, dựng một đống như vậy á, nhưng mà đứng yên đó luôn, không có sụp từ từ, không có chảy lòng thòng ra.
[1:00:35]Như vậy, và đây là trạng thái chúng ta chứng tới mới biết. Ở đây ai chứng rồi?
[1:00:44]Xin nhắc lại, người giảng cũng không được gì hết, người giảng cũng chỉ là củ khoai sùng, đừng tưởng người giảng đã chứng. Đừng nghe giảng rồi đi ra đồn trời ơi ổng chứng, ổng nổi chứng thì có. Một vài điểm nữa là cái người mà chứng được Sơ thiền á thì tâm tự động an tịnh, không cần phải dụng công, là không cần phải ráng dụng công nữa mà tự động tâm nhiếp vào trong định luôn. Những ý niệm tế từ từ bị loại trừ dần dần, dần dần mà đây là cái hạnh phúc của cõi trời. Cái người mà chứng Sơ thiền họ sống ở thế giới khác rồi, họ không có sống thế giới cõi người. Và tuy họ cũng sống với mình bình thường vậy đó,
[1:01:24]nhưng họ đang hưởng cái hạnh phúc của cõi trời. Còn mình á thì mình vui theo cõi người, buồn theo cõi người, mình đau khổ theo cái kiếp sống của con người, hoặc là mình sung sướng hả hê theo những cái trò vui của con người. Còn cái người chứng Sơ thiền tuy họ còn hiện diện ở cõi này, nhưng mà họ ở trên mây rồi. Cái hạnh phúc của họ là hạnh phúc của cõi trời, không phải cõi này. Mà toàn bộ những người trên cõi trời cũng như vậy. Ví dụ ngày nào mà quý Phật tử chết mà sinh lên được cõi trời, cõi trời cho cao á thì cũng sẽ thấy hạnh phúc lúc nào cũng tràn ngập. Thì giống y như người đang còn ở cõi người mà đã chứng được Sơ thiền, y như vậy.
[1:02:06]Tuy nhiên vẫn có thể thoái chuyển, chứ không phải cái Sơ thiền là cố định. Thật ra đó, khi mà chúng ta đạt được chánh niệm tỉnh giác, tâm sáng tỏ rỗng rang thì vẫn bị thoái chuyển nếu mình có tà kiến ở trỏng, Sơ thiền cũng vậy. Mà cái tà kiến của Sơ thiền là gì? Chúng ta nhớ một điều nha, ngày xưa không bị tà kiến. Thời Đức Phật á, lúc mà Đức Phật còn á thì các Tỳ-kheo mà chứng Sơ thiền không bị tà kiến, bởi vì có Đức Phật hướng dẫn: "Con đường à các Tỳ-kheo, các ông đã đi đến đây, biết con đường phía trước còn dài", nên không bao giờ lầm tưởng mình đã cao. Còn thời ngày nay á là do không còn Đức Phật,
[1:02:41]cho nên mình chứng tới đây rồi một mình mình à, không ai nói không ai dạy gì cho mình thêm được, cái mình tưởng mình chứng quá cao, tưởng mình chứng thánh, cho mình đắc đạo, thậm chí có người dám nói là mình đã bằng Phật.
[1:02:55]Rồi không nhắm đến cái vô ngã. Vì sao? Vì chứng Sơ thiền cái bản ngã vẫn còn, chưa hết, nên cái người không nhắm đến vô ngã là trong tâm mình hay cứ tự khen mình. Tự khen mình, tự cho mình là ta đã tự tại rồi, ta đã hạnh phúc rồi, ta đã chứng thánh, tự khen mình riết. Rồi thậm chí đôi khi buột miệng chê tông phái khác, chê người khác, người tu khác. Nghe bài này mà không chăm chú mang tội nha, hồi nãy dặn rồi. Bài nào nghe thờ ơ ngủ được, bài này không được ngủ. Không được ngủ, không được cười, không được nói, không được ho, không được hắt xì, không được liếc qua liếc lại, tai chăm chú lắng nghe và mắt chăm chú nhìn giảng sư.
[1:03:34]Cấm không được nhúc nhích. Nên thậm chí ví dụ có cái tà kiến là do tưởng mình chứng cao, tự khen mình và đôi khi chê người khác. Là cái kiêu mạn như vậy thì bắt đầu nó phá tan công đức, cho nên có khi người đó đang hưởng hạnh phúc cõi trời mà nếu trong tâm có những tà kiến kiêu mạn như vậy có khi nó lật ngược rớt xuống lại thành điên luôn. Là hạnh phúc của địa ngục. Điên là hạnh phúc của địa ngục. Là do tà kiến mà ngày nay rất dễ bị, người xưa không bị. Người xưa tu theo Đức Phật không ai bị điên hết, tuyệt đối không bao giờ. Bởi vì Đức Phật định ra con đường rất rõ, biết rồi, biết mình còn dở, mặc dầu trong tâm quá hạnh phúc nhưng vẫn biết còn thấp.
[1:04:13]Còn ngày hôm nay chúng ta mà được hạnh phúc cỡ đó là mình nhảy tưng cẫng lên mình tự cho mình đắc đạo. Chính vì cái tà kiến đó mà chúng ta dễ bị tẩu hỏa, dễ bị điên. Đây là cái bất hạnh cho tất cả chúng sinh ở xa Phật, ở thời mà cách Phật đã xa. Đây là nỗi đau của tất cả chúng ta ngày hôm nay, là không có Phật để cảnh báo chúng ta. Nên nói là tại sao mà có nhiều vị than là cái nỗi khổ của chúng sinh là sinh ra đời không gặp Phật? Mình nghe nói: "Ủa, không gặp Phật không gặp chứ mình cũng sống có sao đâu, vẫn cha mẹ mình nuôi sống mình lớn lên cũng đi học, mình vẫn đậu kỹ sư, bác sĩ. Và sau này mình cũng gặp Phật pháp, cũng quy y Tam Bảo,
[1:04:53]không gặp Phật thì thôi có gì đâu mà nói sinh ra đời không gặp Phật cái gì mà phải bất hạnh dữ vậy?" Nhưng mà chỉ có người tu sâu trí tuệ cao mới biết không gặp Phật là một điều vô cùng bất hạnh. Bởi vì mình tu tới chỗ này mà không có Phật dạy, mình tưởng mình cao rồi, mình kiêu mạn, khởi tà kiến rồi rớt trở lại đau đớn vô cùng. Mà mình leo thấp á rớt xuống không đau phải không, mà leo cao rớt xuống nó đau, đó là quy luật. Phải không? Cho nên ví dụ như mình có người nào đó cho mình cao đứng lên cái ghế la làng rồi bữa nay cái ghế gãy rớt cái bịch xuống thì cũng ê ê, nhưng mà cái người mà đứng trên nóc nhà
[1:05:27]á mà la làng á, mà hô hào la lối rớt cái bịch xuống sao? Có thể chết liền. Thì cũng vậy, tu tới cái mức độ thì chứng được Sơ thiền rồi mà khởi cái tà kiến cho mình là quá cao rồi tự kiêu, rớt một cái xuống có thể điên luôn. Không phải là dễ. Cho nên cái nguy cơ vẫn còn tồn tại, chứ không phải là đã an ổn. Mặc dầu tới đó cái cơ cấu tâm mình dường như nó tự động, tự động nó vào định, nhưng mà nếu kiêu mạn thì rớt lại rất thê thảm, rớt lại còn tệ hơn người bình thường. Cái điểm đó cẩn thận. Cho nên lúc nào cũng phải nhớ cái ý niệm á tâm chúng ta bên trong sâu vẫn còn phiền động, vẫn còn vô minh, vẫn còn chấp ngã, nhớ như vậy.
[1:06:06]Giờ qua tới Nhị thiền. Nguyên văn nè: "Là Tỳ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm." Đó là nguyên văn. Giờ chúng ta phân tích. Khi nào có một người không tự mãn nơi Sơ thiền, biết mình còn vô minh chấp ngã, cho nên cái người này dần dần bỏ được cái ý niệm thầm kín về đạo lý, bỏ được cái tầm cái tứ mà nãy Phật nói đó, là tự nhiên mình nhìn thấy được những cái ý niệm thầm kín mình còn tồn tại, mình vượt qua bỏ dần dần, nó tắt hẳn luôn thì đạt được cái định bất động hoàn toàn. Đạt được cái định bất động hoàn toàn thì Phật gọi là Nhị thiền.
[1:06:45]Như vậy nào giờ mà chúng ta nghĩ rằng tâm mà bất động hoàn toàn là mình chứng đạo viên mãn là đúng chưa? Như vậy là nào giờ chúng ta đã hiểu hiểu sai hết. Nào giờ chúng ta đã hiểu sai hết. Tức là chúng ta khi mà nghe nói một người tu mà tâm đạt được bất động hoàn toàn thì mình tưởng mình đã viên mãn cuộc đời tu hành mình rồi, nhưng không ngờ ngày hôm nay mình nghe Phật nói thì người đó mới chứng sao? Nhị thiền. Dễ sợ chưa? Vậy chúng ta thấy đạo Phật làm sao? Quá khủng khiếp phải không? Con đường đạo Phật quá cao siêu nên chúng ta nói khó có một tôn giáo nào bằng được là như vậy, quá cao siêu. Tu tới cái mức độ mà cả những tâm tế không còn tồn
[1:07:23]tại, đạt được hoàn toàn bất động, nhất tâm nội tĩnh, vậy mà Phật báo cho biết mới có Nhị thiền. Nên thời Đức Phật người ta tu người ta tiến là vậy đó, nhờ Đức Phật báo. Mà chỗ này vẫn còn hỷ lạc, cái hỷ là mừng, cái lạc là vui. Cái hỷ lạc của Sơ thiền á nó thô lắm, nhưng mà nhờ ly được dục, ly được ác pháp, tâm thuần thiện nên đạt được cái hỷ lạc. Còn cái hỷ lạc của Nhị thiền á là do tâm an định vững chắc, những ý niệm tế đã hết thì niềm vui tuôn trào, nó tế hơn nhưng mà nó lớn hơn. Cái niềm vui tế hơn mà lớn hơn. Là lúc này đấy cái hành giả thực ra là sống trong thế giới của tâm, không còn sống trong thế giới của thân nữa.
[1:08:07]Chỉ thấy một cái thế giới của tâm vắng lặng và sáng suốt hoàn toàn. Trong cái sáng suốt đó, trong cái thế giới của tâm vắng lặng đó thì trí tuệ và hạnh phúc có mặt, trí tuệ và hạnh phúc có mặt. Chúng ta nói trí tuệ có mặt nghĩa là sao? Tức là người mà chứng tới Nhị thiền này đó tâm bất động họ lanh dễ sợ lắm, họ nhạy lắm, sáng lắm, cái gì nhìn cũng biết. Và hạnh phúc có mặt thì cái niềm vui hạnh phúc rất là lớn mà cái hạnh phúc của Sơ thiền trước kia coi lại thì vô cùng là xao động. Khi mà người chứng Sơ thiền cái hạnh phúc lớn như vậy mình tưởng là xong rồi, không ngờ khi mà chứng qua Nhị thiền mới biết:
[1:08:44]"À, thì ra cái hỷ lạc của Sơ thiền trước kia mình thấy quá tràn ngập, quá mênh mông rồi, không ngờ lại là xao động." Cái hỷ lạc của Nhị thiền, cái hạnh phúc của Nhị thiền á nó mới thanh tịnh hơn, thanh tịnh hơn, thú vị hơn. Phật ví dụ cái trạng thái hạnh phúc của Nhị thiền là thế này: là Phật nói ví dụ như có một hồ nước tràn đầy, cái hồ nước lớn mênh mông tràn đầy mà người ta xây bít lại hết, là nước trong hồ đó không chảy ra bên ngoài, mà tự trong hồ đó nó có những cái mạch nước nó cứ phun trào ra, nó phun trào ra thêm, và lâu lâu mưa trên trời lại đổ nước tiếp tục vô cái hồ đó. Là tự cái hồ đó có nước nha, mạch nước ở trong tiếp tục
[1:09:25]tuôn ra, mưa trên trời tiếp tục rơi xuống mà vĩnh viễn không một giọt nước nào chảy lạc ra bên ngoài. Cái trạng thái của Nhị thiền, cái hạnh phúc. Là Phật không có nói là con người nha, chỉ nói cái hồ nước thôi. Thì như vậy giữa cái nước và cái bột tắm thì cái nào nó mịn nó nhuyễn hơn? Nước phải không? Cái bột tắm coi vậy chứ nó vẫn còn cứng hơn. Mặc dầu là so với cái thân xương thịt của mình, khi mình thấy mà nó đạt được cái trạng thái bột nhão là mình thấy nó đã mềm rồi phải không? Vậy mà qua tới cái trạng thái hạnh phúc của Nhị thiền thì cái thân tâm mình, cái hạnh phúc nó tan loãng ra luôn,
[1:10:02]nó không còn giống như là cái bột nữa, bột vẫn còn cứng, mà tới đây nó mềm như nước. Mà cái hạnh phúc của cái nước thì nó tràn ngập mênh mông như cái hồ to, mà cái hạnh phúc nó tiếp tục tuôn trào, tuôn trào giống như là bên trong có những cái mạch nước tiếp tục tuôn nước cho hồ, lâu lâu trên trời mưa xuống cho hồ, nhưng mà không một giọt nào chảy mất ra bên ngoài, hạnh phúc không bao giờ mất ra. Cứ tuôn trào, tuôn trào tràn đầy mỗi ngày một mới, mỗi ngày một hạnh phúc mà cái hạnh phúc đó không bao giờ mất ra ngoài, tâm cực kỳ an định. Hiểu được không? Cũng cảm nhận được đó phải không? Khi mình nghe giải thích mình cũng mơ hồ cảm nhận được dù mình
[1:10:38]chưa chứng, nhưng mình phải hiểu là cái hạnh phúc đó rất vĩ đại, thế gian này không có cái gì có thể so sánh được. Tất cả những trò vui thế gian đều tạm bợ, qua nhanh và để lại đau khổ, còn chỉ có hạnh phúc của sự tu hành như thế mới là thật là bất tận vô biên. Cái người mà chứng được đó thì họ thấy cái niềm vui tràn ngập cả thân tâm trong mát, thanh khiết và vô tận. Là chúng ta nhớ như vậy những cái ý niệm hạnh phúc. Hạnh phúc của Nhị thiền là cả thân tâm là trong mát, thanh khiết và vô tận. Bởi vì nước là nước trong, thanh khiết như cái hồ. Cái người mà chứng được Nhị thiền thì đây là những cái đặc điểm của họ là họ tọa thiền khá lâu. Họ tọa thiền khá lâu.
[1:11:25]Ví dụ họ không muốn ngồi thì thôi, nếu họ muốn ngồi họ có thể ngồi thiền qua một vài ngày được. Là chứng được Nhị thiền. Họ có một số thần thông, biết được tâm ý người khác, biết được một số chuyện quá khứ vị lai. Và nếu cần, họ có thể tách thân và tâm ra, mình hay gọi là xuất hồn á. Cái chữ xuất hồn là cái chữ bình dân, nhưng mà có thể tách được thân và tâm ra, thân ngồi đó, tâm tách ra, đi vân du được, trở về trở lại. Là chứng Nhị thiền có thần thông đó. Nhưng mà tuy nhiên không nên dùng, không nên sử dụng những thần thông đó. Bởi vì nếu mà lạm dụng thì mình kẹt lại, cái bản ngã tăng lên, rồi công phu không tiến nữa,
[1:12:04]cho nên Phật không cho chúng ta phát huy cái thần lực ngay chỗ này. Vì cái người mà tu Nhị thiền tới chỗ này đó, nếu mà họ chú tâm luyện tập á họ có thể có chưởng, họ có thể đánh ra chưởng được, họ có thể phi thân được, nếu mà ngang mức này mà luyện tập thì chứng được những cái thần lực như vậy. Nhưng mà Phật không cho dùng, tức là không cho luyện, mình tập luyện sơ sơ cho cơ thể khỏe thì được, chứ không được luyện đến cái mức mà có thể đánh phát ra chưởng được. Vì cái người Nhị thiền á họ đánh chưởng ví dụ như họ đứng cách xa mình họ luyện, họ đánh là trúng vào mình á. Mà thậm chí nếu mình đứng cách bức tường
[1:12:40]mà họ muốn mình bị đau, họ phất một tay cái là bên kia bức tường mình đau liền. Có thể mà gọi là cách sơn đả ngưu đó, đó là cái lối cái một loại thần chưởng như vậy, nhưng mà không được sử dụng, không được rèn luyện. Bên Trung Hoa thì do cái thời xưa họ chiến tranh liên miên nên họ phải phát huy võ thuật để mà tự vệ hoặc là bảo vệ đất nước. Cho nên họ phát triển cái thiền đi sang cái hướng mà võ công, cho nên họ có nhiều cái môn võ công rất là đặc biệt, nhưng mà trong đạo Phật thì Đức Phật không cho, không cho như vậy. Cái người mà Nhị thiền này thì có thể chết tự tại được. Tức là khi mà tới cái giờ chết tới thường là biết trước
[1:13:20]và có thể có bệnh, ừ có thể có bệnh chút đỉnh, nhưng mà biết trước giờ chết và thanh thản nhắm mắt nhiếp tâm rồi ra đi. Chứ không có khổ sở bức ngặt như là người phàm phu. Người phàm phu chúng ta á khi mà cái chết tới đó nó bức ngặt dữ lắm. Bức ngặt là sao? Là để cho nó chấm dứt được cái mạng sống này á thì phải sao? Phải thê thảm đau đớn để mới tách được cái thân và tâm ra, tách được cái linh hồn, cái thần thức mình ra khỏi cái thân mình. Là đòi hỏi đau đớn, trừ những trường hợp có những người họ sống một đời tốt, thuần, họ có phước, không tạo nghiệp. Thì có khi họ trong giấc ngủ họ bị bứt một cơn đau tim cái họ chết luôn.
[1:14:04]Thấy giấc mơ gì đó rồi họ đi luôn. À nó cũng hơi sốc một chút rồi đi, nhẹ nhàng đi. Còn mà thường đa phần chúng ta là muốn mà muốn chết là sao? Phải tổn thương nội tạng, tổn thương não, tổn thương tim mạch, máu phải ngừng chảy lên não. Cái não phải dừng hoạt động, mới tách được thân và tâm ra. Mà khi mà máu mà không chảy lên nữa thì người sẽ khó chịu vô cùng. Nghĩa là có thể là không giãy giụa tay chân được, nhưng mà bên trong rất là đau đớn. Phải tổn thương nội tạng, phải tổn thương não, phải hệ tuần hoàn, tiêu hóa và hô hấp bị đình trệ. Ngừng hoạt động, invalid, không xài được nữa thì người đó mới chết.
[1:14:42]Còn cái người mà chứng Nhị thiền thì trong cái thanh tịnh đó họ bỏ thân này dễ dàng. Nhưng mà tuy nhiên, dù có thần thông mà không được lạm dụng, vì nếu lạm dụng thì sẽ ngăn trở thiền định và tăng trưởng ngã chấp. Thì cũng có thể bị tà kiến, còn nếu người nào mà do không được Phật cảnh báo cho nên có cái tà kiến là cho mình đã đắc đạo viên mãn, thì người này qua những kiếp sau sẽ bị thoái chuyển. Kiếp này thì không thoái chuyển nữa. Cái người chứng Nhị thiền có cái hay là kiếp hiện tại họ không thoái chuyển nữa vì cái định nó vững quá, cho nên cho tới chết vẫn không có mất cái định đó, dù họ có nghĩ sai.
[1:15:20]Dù họ có hiểu sai trong tâm là họ đã chứng viên mãn, cái hiểu đó hiểu sai là tà kiến đó, nhưng mà đời này vẫn không bị lui sụt, không bị lui sụt, vì cái định của Nhị thiền quá vững, nhưng đời khác bị. Họ có thể chết, họ lên cõi trời. Khi hết duyên cõi trời mà do cái tà kiến xuất hiện trong tâm họ là họ đã viên mãn, nên lúc nào đó tự nhiên phước cõi trời hết họ phải đầu thai xuống lại. Và khi đầu thai xuống lại thì họ mất cái định luôn, họ sẽ trở thành một người phàm phu bình thường lại. Phải tu tập cực khổ trở lại để đi tìm lại cái tâm chứng mà một kiếp nào đó mình đã có. Đó, đây là cái vất vả của người có tà kiến.
[1:15:57]Nhưng mà cũng may là do chứng được Nhị thiền cho nên còn cơ hội trở lại. Còn cơ hội, rồi họ cũng sẽ từ từ lại, nhưng mà vất vả. Còn vào thời Đức Phật á, ví dụ người chứng được Nhị thiền rồi họ không bị cái tà kiến, được Phật cảnh báo cho biết là mới Nhị thiền, cho nên họ không bị tà kiến nên khi họ ví dụ như là họ chết ngang đó đi, họ lên cõi trời, trên cõi trời họ tu tiếp, tu tới chứng luôn trên đó, giải thoát trên đó luôn. Chứ không có bị mà tái sinh xuống cõi người rồi phải bị loạn động lại, phải tìm tu lại vất vả. Cho nên có thể là có những người đang ngồi đây, có người nào đó một đời xưa đã chứng được Nhị thiền nhưng mà tưởng
[1:16:36]mình đã đắc đạo, cho nên hưởng hết phước cõi trời đã rớt xuống lại đây. Và ngày hôm nay đang đi tìm đạo lại vất vả, đang đi tìm sự tu hành lại rất là cực khổ vì lỡ đã có cái tà kiến. Nhưng ngày hôm nay là chúng ta cầu nguyện, dù là chúng ta không sinh ra gặp thời của Đức Phật, nhưng chúng ta cầu Phật lúc nào cũng gia hộ để chúng ta biết chúng ta còn dở, còn kém, còn thấp. Và dù tu đến đâu vẫn tự tìm chỗ dở, nhờ Phật gia hộ chúng ta như vậy để chúng ta không bị cái tà kiến đó lặp lại mà của mấy trăm năm trước có lẽ chúng ta đã từng bị, đã từng bị. Nhớ nha, nhớ vậy, hãy cầu nguyện Đức Phật, dù sinh không gặp thời Đức Phật,
[1:17:13]hãy xin cho Đức Phật gia hộ chúng ta không bị cái tà kiến này. Đây có ai có Nhị thiền chưa? Ta nhớ ai Nhị thiền thì nhớ nha, nhớ tránh cái tà kiến, đừng nghĩ mình đã đắc đạo viên mãn nha. Chứ mà đừng có khổ sở này nữa. Do đó là chúng ta luôn luôn giữ cái ý niệm là tâm vẫn còn động vi tế, vẫn còn vô minh, vẫn còn chấp ngã, là dù mình bất động rồi, nhưng mà vẫn biết rằng vô minh chấp ngã chưa hết thì người này sẽ không bị tà kiến là có thể tiến lên tiếp tục nữa. Đó nhớ hôm nay chúng ta nói một câu nhẹ nhàng với nhau nhưng mà câu này là cốt tủy. Câu này là cực kỳ quan trọng. Một ngày nào đó biết đâu những người chúng ta ngồi đây sẽ có người
[1:17:54]chứng được Nhị thiền, tâm bất động hoàn toàn, cực kỳ hạnh phúc, thì hãy nhớ ngày hôm nay chúng ta nhắc nhau một câu như thế này: Dù tâm đã bất động hoàn toàn, nhưng bên trong vô minh chấp ngã vẫn còn tồn tại. Chính nhờ cái câu đó mà chúng ta sẽ không bị tà kiến, để không bị đọa lạc trở lại trong mấy trăm năm sau. Đến cái mức độ tu này đó cái nhân quả nó xảy ra không có xảy ra liền trong vài chục năm đâu, mấy trăm năm, mấy ngàn năm mới tới. Là vì một cái tà kiến này chúng ta sẽ bị một cái họa của mấy trăm năm, sáu trăm năm sau, cả ngàn năm sau. Như vậy chúng ta thấy là cái con đường đi Tứ thiền của
[1:18:32]Phật làm sao, quá cao siêu đúng không, quá vĩ đại. Vậy mà ngày nay có những người mở miệng chê Tứ thiền của Phật. Có nhiều người học Phật pháp như thế nào không hiểu, giảng Phật pháp như thế nào không hiểu, mà dám chê bai Tứ thiền, cho rằng Tứ thiền vẫn còn là phàm phu thiền. Thì như vậy là tà kiến hay chánh kiến? Rất nguy hiểm và phải trả giá cho câu nói đó. Người nào mà dám mở miệng chê Tứ thiền, cái trình độ bốn mức thiền này, người đó tà kiến và xin thưa sẽ phải trả giá đắt cho cái câu nói này, câu nói hỗn này. Chúng ta phân tích ra từng điểm chúng ta mới thấy Tứ thiền không đơn giản thấy không, quá vĩ đại.
[1:19:13]Vậy mà có nhiều người chưa hề chứng được một thiền nào, chưa hề ngồi thiền được mấy ngày, chưa hề thành tựu được chánh niệm tỉnh giác, chưa hề vượt được năm triền cái, vậy mà dám nói à bốn mức thiền là thiền của phàm phu. Câu nói đó rất là sai lầm, làm người ta hiểu sai về đạo Phật, rất là nguy hiểm. Bây giờ chúng ta nói tới Tam thiền. Nguyên văn là: Tỳ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, xả niệm lạc trú, chứng và an trú thiền thứ ba. Những câu này thì cô đọng quá, chúng ta không hiểu, nên chúng ta phân tích với nhau. Trước đây á trong cái Nhị thiền và Sơ thiền á, chúng ta thấy hai chữ ghép đôi là hỷ và lạc.
[1:19:54]Hỷ là mừng, lạc là vui. Nhớ nha, như mình gặp đám cưới mà để cái chữ song hỷ á có nghĩa là mừng, hỷ là mừng. Thì khi mà cái chứng của Nhị thiền và Sơ thiền á trong cái niềm vui nó còn có cái mừng. Cái mừng đó động hay không? Mừng đó là động, cái vui nó ít động hơn. Thì khi chứng tới Tam thiền á thì ly hỷ trú xả, ly hỷ nghĩa là bỏ cái cái mừng đi, hết cái mừng. Là còn cái niềm vui, cái niềm vui nó rất vi tế mà cái mừng chấm dứt rồi. Ở Tam thiền chỉ là một cái niềm vui thuần tịnh, không có cái mừng xao động bí mật, nhớ. Còn cái chữ là xả niệm lạc trú, xả niệm, xả niệm là gì? Là bỏ cái niệm, mà niệm này là niệm gì?
[1:20:42]Thật ra ngày xưa tại vì không có chữ để dùng nhiều nên Đức Phật dùng chữ hơi ít, chúng ta phải hiểu thế này: Xả niệm tức là bỏ cái phần tâm thức cạn của ý thức, để an trú vào trong thế giới của vô thức bí mật. Tâm chúng ta có hai phần: một phần là ý thức và một phần là vô thức. Phần ý thức là phần cái tâm mà tự chúng ta nhìn vào chúng ta thấy được, ví dụ như mình cười, mình vui, mình buồn hoặc là mình nghĩ chuyện này chuyện kia mình nhìn vào mình có biết không? Biết không? Biết, phải không? Mình nghĩ cái gì mình có biết, mình vui cái gì mình có biết, mình thương ai, mình ghét ai mình có biết, phải không?
[1:21:22]Thì cái tâm mà mình biết được á gọi là cái phần tâm ý thức, ý thức. Còn nhưng bên trong bí mật đó còn có nhiều cái tâm tâm nhiều gấp trăm gấp ngàn lần cái phần tâm đó nữa thì chúng ta không thấy được. Phần tâm đó gọi là tâm vô thức, có người gọi là tiềm thức, nhưng chúng ta cứ gọi nhau là vô thức đi, đó. Mà đối chiếu cái vô thức này đó thì trong y khoa có một phần gọi là hệ thống thần kinh thực vật. Ví dụ thế này, bây giờ giữa cái ý thức và vô thức chúng ta muốn biết á. Ví dụ bây giờ chúng ta muốn đi thì chúng ta phải làm sao? Mình có nghĩ muốn đi phải không? Rồi mình điều khiển cái thân mình đứng lên,
[1:22:02]mình điều khiển cái chân mình bước, mặc dù là cái điều khiển đó nó quá lão luyện thuần thục cho nên giống như tự động, nhưng mình vẫn có có điều khiển. Khi mình muốn thò tay mình lấy cái ly nước thì mình phải điều khiển, phải không? Mình thò tay mình lấy ly nước. Nhưng mà trong cơ thể mình có những cái vận động mà nó tự động, mình không điều khiển nó vẫn làm. Ví dụ như cái tim mình mình không có điều khiển nó vẫn phải phải đập. Thì cái phần mà thần kinh mà nó điều khiển cái tim tự động đập á gọi là hệ thống thần kinh thực vật. Cái hệ thống thần kinh thực vật đó nó là một phần của vô thức. Hoặc là cái ruột mình tự động cứ nhồi, cứ co bóp nó tiêu hóa thức ăn.
[1:22:40]Mà lúc bấy giờ nó ăn ở trong mình đâu có thấy, đâu có biết gì nữa đâu, phải không? Cho nên nó tự động nó nhồi nó bóp, chứ mà nếu mà cái ruột mà nó nhồi bóp mà ý thức á là mình tối ngày mình phải ráng điều khiển á. Phải điều khiển cho nó tiêu, còn mình quên cái là nó ứ lại liền, nó không nó không tiêu. Nhưng mà may mắn cũng trời sinh cho mình sao nó thuộc cái hệ thống thần kinh thực vật nó tự động, nó tự động nó ngồi nó nhồi bóp còn mình cứ tiếp tục cười vui nói chuyện nghe pháp không có gì hết, bên trong nó đang nhồi bóp á. Nãy giờ ăn cái gì cũng đang nhồi bóp trỏng. Chứ còn mà nếu không có hệ thống thần kinh thực vật thì mình mệt,
[1:23:08]mình vừa nghe pháp mình vừa phải nhồi nhồi nhồi cho nó tiêu là rất là cực. Rồi mạch máu chảy nữa, tức là rất là nhiều cái hoạt động bí mật của chúng ta là do thần kinh thực vật điều khiển và nó là một phần của vô thức, vô thức lớn hơn nhiều. Thì chúng ta ví dụ giữa cái vô thức và ý thức giống như hệ thống máy vi tính cũng vậy. Ví dụ chúng ta nhìn vào màn hình những hoạt động của vi tính chúng ta thấy được đó là một phần nổi rất là nhỏ, phải không? Đó là phần ý thức, thấy được. Còn những cái mạch những cái bo, những cái mạch, những con chip, những cái RAM, những cái ổ cứng nó hoạt động bí mật ở trong cái case ở một bên á mình có thấy không?
[1:23:42]Mạch điện mà nó chạy ở trỏng tùm lum thấy không? Không, mà cái đó mới khủng khiếp hơn cái màn hình, đó là hoạt động của vô thức á. Thì tâm mình như vậy, mà cái người mà chứng Nhị thiền á là còn nhìn cái màn hình, chỉ quan sát từ màn hình, còn người chứng Tam thiền á là nhìn được vào trong cái case, thấy từng cái bo mạch, mỗi mạch điện điện tử nó chạy nó nhảy từng tín hiệu 01 01 ở chỗ nào. Từng cái phần mềm nó kết hợp với phần cứng như thế nào, dòng điện nó chạy sao thấy hết luôn. Tức là thấy được cái vô thức của mình hoạt động như thế nào, và là cái chỗ mà xả niệm, xả niệm lạc trú, bỏ được cái tâm ý thức, vào sâu được cái trong vô thức,
[1:24:18]thấy được hết những hoạt động bí mật của tâm vô thức ở trong. Mình thấy dễ sợ cái Tứ thiền cái Chánh định chưa? Cho nên lần sau chúng ta cố gắng giảng một lần này cho hết một lần nữa. Có ai hỏi gì không? Có ai hỏi gì không và ai hát gì không? Dạ. Thôi đưa giấy lên thì hay hơn.
[1:24:40]Thôi bây giờ hát trước nè.
[1:24:44]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Hôm nay mồng 1 tháng 6 năm Quý Mùi, Phật lịch 2547, Tố Lan xin cúng dường lên mười phương chư Phật, chư tôn hiền đức tăng ni, chư vị Phật tử tại chùa Từ Tân "Nhạc Phẩm Mộng Huyễn", thơ Tuệ Kiên, Nguyễn Hải và Hà Lan Phương phổ nhạc.
[1:25:38]Ta sống trong cõi mộng, nhưng nào ta có hay. Ta tưởng ta luôn tỉnh, đâu ngờ ta lại say.
[1:25:51]Ôi, cuộc đời như mộng á ha, thoáng trôi qua mất rồi như sóng về biển rộng, như tuổi mau già thôi.
[1:26:13]Hãy quay về bản thể á ha, hãy tìm về Chân Như
[1:26:23]vô thường từ vô thỉ đã chuyển hóa đời tu.
[1:26:36]Vâng lời Đức Thế Tôn, sống trau dồi phạm hạnh,
[1:26:48]Bát chánh đạo tu trì sẽ dứt nghiệp tử sanh.
[1:27:28]Ta sống trong cõi mộng, nhưng nào ta có hay. Ta tưởng ta luôn tỉnh, đâu ngờ ta lại say.
[1:27:41]Ôi, cuộc đời như mộng á ha, thoáng trôi qua mất rồi
[1:27:53]như sóng về biển rộng, như tuổi mau già thôi.
[1:28:04]Hãy quay về bản thể á ha, hãy tìm về Chân Như
[1:28:13]vô thường từ vô thỉ đã chuyển hóa đời tu.
[1:28:23]Vâng lời Đức Thế Tôn,
[1:28:30]sống trau dồi phạm hạnh,
[1:28:35]Bát chánh đạo tu trì sẽ dứt nghiệp tử sanh.
[1:28:47]Bát chánh đạo tu trì sẽ dứt nghiệp tử sanh.
[1:29:03]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Cảm ơn chị nhiều. Nghe giảng riết oải, nghe hát một bài cái mình tươi tỉnh lại được. Có câu hỏi: "Có người anh ruột siêng năng làm phước, thường siêng giúp đỡ, có ơn với nhiều người. Nhưng không bao giờ lạy Phật hay công kích những kẻ thất nghiệp mắc nợ ăn mày ăn không ngồi rồi, kể cả thầy chùa ở không tụng kinh đôi khi gắt Phật. Như vậy giữa hành vi bố thí ban ân rộng lớn và công kích, chỉ trích người khác quả báo sau này bù qua sớt lại có lời hay không?" Nó sẽ đi hai đường khác nhau đó. Có những cái nó bù với nhau để cộng trừ còn dư lại nhiêu hưởng, nhưng có những cái nó sẽ hưởng riêng từng món.
[1:29:42]Khi mình giúp người ta thì sẽ được cái phước giàu. Khi qua hết cái phước giàu rồi bắt đầu xuống địa ngục để trả cái quả báo mà mình đã công kích Phật. Tức là cái nào hưởng theo cái đó, có những loại nó không trừ sớt với nhau. Có những cái nó trừ sớt, có những cái không trừ sớt. "Con đi rất nhiều miền đất nước, đọc sách bí ẩn sau cái chết, con nghe đầy chuyện ma xin đi quá giang xe sau đó người lái xe về nhà bệnh chết luôn. Xin thầy từ bi chỉ dạy cho con." Có người bị ma đi quá giang mà về không chết, à có người bị ma đi quá giang về sợ quá chết luôn. Cái chết luôn này đó cũng là nghiệp thôi. Kiếp nào mình cũng hay làm ma mình nhát người ta á, giờ bị nhát lại.
[1:30:20]Rồi có khi là cũng có duyên người đó tới họ bắt đi, nhưng mà cũng là duyên nghiệp tới lúc phải chết rồi, chứ không phải khi không. Nhưng mà thật ra mỗi người chúng ta chết do một cái cớ nào đó, để có duyên để mình chết. Có người bị đụng xe chết, có người bị bệnh chết, có người lên tăng xông chết, có người bị ma nhát chết, thì trường hợp này cũng là một cái cớ để chết, nhưng mà cái nghiệp chết cũng đã tới. "Con hay bị nhức đầu, khủng hoảng tinh thần, căng thẳng. Mỗi lần con cúng thí thực, lạy Phật, niệm Phật thì con nghe đầu óc nhẹ hẳn ra. Kính thưa thầy, có bao giờ chứng nhức đầu, căng thẳng thần kinh do ma, thế giới siêu hình gây ra không?
[1:30:52]Ba con ngày xưa chết vào buổi trưa bây giờ trưa con rất khó ngủ. Xin thầy từ bi..." Nhức đầu mỗi lần mình niệm Phật, lạy Phật, cúng thí thực thì nhẹ thì tối ngày cứ lo niệm Phật, lạy Phật dễ tu chứ sao đâu? Rất là dễ tu. Cái nhức đầu có phải do ma gây ra không? Có khi có chứ không phải là không, cũng có khi chứ không phải là không đâu. Mình không có chối bỏ. Có khi là mình bệnh là do bệnh lý bình thường của cơ thể, nhưng cũng có khi do tác động của thế giới siêu hình. Tuy nhiên là cái việc mình lạy Phật, niệm Phật và cúng thí thực cũng là một cái có phước. Nhớ cúng thí thực có phước lắm á, chứ không phải không đâu.
[1:31:26]Mình giúp cho người âm có ăn á là rất là có phước, mình đừng có bỏ cái đó. Ba ngày xưa chết vào buổi trưa, bây giờ buổi trưa con rất khó ngủ. Bây giờ thì buổi trưa đó mình cầu siêu cho ông già. Một thời gian thì có thể sẽ hết được cái bệnh này. Buổi trưa lúc khó ngủ thì thôi cứ ngồi đó mình cầu niệm Phật, lạy Phật cầu siêu cho ông già một thời gian. Ngồi thiền đau chân để tiêu nghiệp có phải là hành hạ giống ngoại đạo không? Không giống đâu, nhưng mà nó có một phần, nó có một cái phần là khi mình đau trong ngồi thiền nó cũng bù sớt lại những cái khoái cảm mà mình đã hưởng thọ trong những kiếp sống trước, kiếp sống này.
[1:32:01]Cho nên nó là một sự bù sớt và rèn luyện ý chí, nên cái đau chân trong ngồi thiền cũng là một cái cần thiết, chúng ta đừng có sợ, phải ráng. Hai người cùng gây tội ác khá giống nhau, một người ray rứt ăn năn, một người tỉnh bơ. Thì cái tội của người ray rứt ăn năn sẽ đến sớm, cái quả báo sẽ đến sớm, đến sớm và đến nhẹ để trả cho xong, còn người tỉnh bơ thì có sẽ đến lâu mà đến rất nhiều. Thì đúng thôi. Con biết có vài người có chức quyền lớn, tiền nhiều đối xử hắt hủi, tệ bạc với cha mẹ nhưng lại hay tham gia các chương trình từ thiện giúp đỡ nhiều người có việc làm ổn định. Như vậy đối xử tàn ác với cha mẹ,
[1:32:34]bố thí ban rộng rãi thì có bù qua sớt lại được hay không? Thì giống câu hỏi hồi nãy. Có những cái thì sẽ bù qua sớt lại để hết, nhưng có những cái cái nào trả cái đó. Nên đấy là lý do chúng ta thấy nhiều người giàu mà tại sao không đạo đức là vậy đó. Nhiều khi nó có lý do gì khác để họ làm việc từ thiện, chứ không phải xuất phát từ lòng thương yêu con người. Nên có những trường hợp này cũng không bù qua sớt lại được. Nó là khi nào giúp đỡ người ta thì sẽ có gặp người ta giúp lại mình, nhưng mà khi hắt hủi cha mẹ thì sẽ có lúc nào đó bị con cái bỏ bê lại, nó như vậy. Yoga Ấn Độ có thế trồng chuối nổi tiếng làm cho máu dồn
[1:33:05]về não, thầy lại dạy con lắng lực xuống đan điền, đừng cho lực chạy lên trên, như vậy có mâu thuẫn không? Thế này, ví dụ khi một người trồng chuối á thì cái tâm họ để đâu?
[1:33:17]Nếu mà không có tâm để lên chân thì sao cái chân đứng thẳng được? Phải không? Thành thử ra khi trồng chuối sự thật là lúc đang giữ cái chân rất là nhiều, tâm để lên chân rất là nhiều, lực nó đang ở đó nó ở chân á, còn máu dồn về não máu đâu phải là lực. Mà dồn về não tập cho các mạch máu não nó chịu lực căng cho quen để sau này có lỡ lên tăng xông mình không có bị bứt, không bị bứt cái gân máu. Cho nên khi mình lạy Phật cũng được như vậy đó, khi mình đứng lên ngồi xuống mình lạy Phật mình cúi đầu xuống mỗi ngày đó máu mỗi lúc nó cũng dồn về não. Cho nên khi như vậy mình bị lên tăng xông đột ngột cái gân máu nó không
[1:33:45]có đứt vì do nó được quen, quen chịu lực rồi, quen rèn luyện. Còn người nào mà trồng cái chuối được thì là rèn luyện cũng rất là tốt, không sao. Nhưng mà trẻ thôi, già mà trồng chuối nó đứt ngay đó luôn rồi đổ thừa thầy. Thầy ơi, con bị có bệnh hạ đường huyết hay chóng mặt, thầy lại dạy con giảm ăn đường để đừng bị hôn trầm. Ờ, giảm ăn đường nhưng mà đừng bỏ ăn đường thôi có sao đâu. Nhân duyên vợ chồng có phải là định mệnh an bài khó thay đổi hay không hay là cái miệng khéo ăn khéo nói của mình? Nhân duyên vợ chồng thì đúng là cái nó có nhiều trường hợp vợ chồng lắm. Có những người có nhân duyên vợ chồng tạm,
[1:34:17]ừ không có nặng lắm, dễ lấy nhau nhưng cũng dễ bỏ nhau. Nhưng có những người có những cái lời thề thốt từ kiếp xưa nó nặng, ân nghĩa với nhau quá nặng nên cái người đó gọi là nhân duyên vợ chồng nặng khó bỏ nhau lắm. Giờ tu tu chứ cũng đeo đeo nhau tu à. Nó vậy, đúng, ư. Trong đạo sát sanh là có tội nhưng có người lại cho rằng giết chúng là giúp chúng sớm được đề thoát, giải thoát, chết sớm hay muộn có gì quan trọng? Như vậy điều này có đúng không? À nếu mà ví dụ cái người nào mà sát sanh mà nghĩ rằng là giúp cho chúng được giải thoát, còn chết sớm hay muộn không quan trọng, thì giờ đúng hay sai thầy không biết, nhưng mà thầy nói thế này nè:
[1:34:50]Sau này sẽ có người họ giết mình họ cũng nghĩ như vậy, họ cũng giúp cho mình sớm giải thoát, đầu thai đó, mà chết sớm chết muộn không quan trọng, nó cũng y như vậy á. Đó, thầy không nói đúng sai. Nhìn thấy một con vật chết ta có thể tụng một bài kinh vãng sanh như vậy có được hay không? Không cần tụng bài kinh vãng sinh, mình chỉ dùng ý niệm thôi, nhiều khi lúc gấp quá mình không có tụng được. Mình chỉ cầu Phật là cầu cho con vật này tái sinh làm người biết được Phật pháp, vậy đó. Tánh con chợt hỷ, chợt nộ, lúc đến cơn thì vua cũng không sợ, phải làm sao trị được cái sân này? Cái sân là do kiêu mạn, cho nên lúc nào cũng giữ tâm khiêm hạ.
[1:35:22]À thấy mình nhỏ bé thì tự nhiên cái sân nó tự động nó trừ lần lần, không cần trừ cái sân mà chỉ trừ cái tự cao thôi. Con xin một lời khuyên: Con muốn đi nghe pháp và muốn làm công quả, trong hai việc con phải chọn một, xin thầy cho con lời khuyên. À công quả thì thường xuyên mà nghe pháp lâu lâu mới có, ha. Thì có thể khi nào đi nghe pháp thì mình nghỉ công quả cũng được. Tại mình nghe pháp mình sáng hơn rồi sau đó mình làm công quả tốt hơn, như vậy. Chồng con nghiện ngập hơn 20 năm, con vô cùng khổ sở. Thầy cho con lời khuyên làm sao con thoát được cảnh khổ này? Thật ra đó, nếu mà cái nợ nó hết á, tự động ly dị bỏ nhau dễ.
[1:36:01]Còn mà nếu cái nợ chưa hết á, tự nhiên mình cứ phải dính vào và chịu cái khổ sở đó hoài. Cho nên nó liên quan tới nghiệp của đời trước, còn bây giờ mà thầy khuyên bậy bạ có người cầm dao kiếm thầy nữa mắc công. Thôi thì à coi như bài pháp hôm nay chúng ta tạm dừng ha. Xin chúc cho quý Phật tử à việc tu hành được tinh tấn, chúng ta bắt đầu được kết quả của chánh định để chúng ta hiểu được cái hạnh phúc của việc tu hành và cũng là để làm sáng tỏ Phật pháp giữa cuộc đời này nha. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Ta hồi hướng nha. Nguyện đem công đức này
[1:36:46]hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sinh đều trọn thành Phật đạo.
[1:37:08]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[1:37:23]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[1:37:36]Mời quý Phật tử ngồi xuống.
[1:37:42]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Hôm nay là bài cuối cùng của Tứ Thánh Đế, cũng là cái buổi giảng cuối trong cái mùa hạ này. Những bài này như chúng ta đã biết là rất là khó hiểu. Nên vì vậy như chúng tôi đã cảnh cáo, cảnh giác những lần trước là ngồi nghe cái bài chánh định này chúng ta không được nhúc nhích, không được ho, không được gãi, không được khều, không được nói chuyện, không được cười, không được ngủ, nhất là không được ngủ. Bài này mà nghe mà ngủ là là mang tội nha, nhiều kiếp là là không vào định được. Cho nên bài này chỉ được là tai thì lắng nghe và mắt thì tha thiết nhìn giảng sư.
[1:38:30]Hôm trước thì chúng ta nói tới a Tam thiền, đang nói dở chừng, giờ chúng ta nói tiếp ha. Thì trong Tam thiền có câu là: "Xả niệm, lạc trú, chứng và an trú thiền thứ ba". Chữ "xả niệm" của Tam thiền có nghĩa là bỏ cái phần tâm thức thô để vào sâu cái phần vô thức vi tế. Ừ. Cái phần vô thức vi tế là gì? Thì hôm trước chúng ta có nói là cái phần tâm thức mà tự mình không nhìn thấy được. Tâm chúng ta chia làm hai phần, nay chúng ta nhắc lại một chút, một phần là chúng ta nhìn vào tâm mình, chúng ta thấy được, như thấy mình suy nghĩ cái gì, thấy mình có thương ai, ghét ai hoặc thấy mình có vui hay buồn, nhìn vào mình biết được.
[1:39:20]Còn sâu hơn là có những cái phần tâm thức mà mình không thể biết được, mà cái phần tâm thức mà mình không biết được đó nó nhiều gấp 1.000 lần, 20.000 lần cái phần mình thấy được. Nên mình thấy được là một phần rất ít của tâm, còn hầu hết mình không thấy được tâm mình đang hoạt động như thế nào. Đây là điều rất là khó. Giống hôm trước giống như chúng ta nói cái hoạt động của bộ máy vi tính á, những cái gì hiện ra trên cái màn hình chỉ là một phần rất nhỏ của biết bao nhiêu phần mà máy vi tính nó chạy cái đầu kế bên đó, bao nhiêu phần mềm, bao nhiêu con chip, bao nhiêu mạch điện nó chạy, cả tỷ tỷ tỷ phần những con phép tính ở trong đó.
[1:40:02]Thì cái người điều khiển không thấy được những cái phép tính nó đang thực hiện ở trong cái đầu máy, mà chỉ thấy những gì nó đã hiện ra cái màn hình là những phần rất nhỏ thôi. Thì cái tâm của mình cũng như vậy. Thì ở đây, cái người chứng Tam thiền á là vào sâu được trong cái phần vô thức vi tế đó, thấy được những hoạt động bí mật của tâm. Mà khi thấy được những hoạt động bí mật của tâm rồi thì một thế giới mới mở ra, một thế giới mới mở ra. Hôm trước cái thế giới đó mới mở ra như thế nào, chúng ta sẽ nói chầm chậm lại một chút. Bây giờ chúng ta nói cái hôm trước chúng ta đang nói lỡ dở về cái thần
[1:40:41]kinh thực vật và thần kinh động vật theo như cái danh từ y khoa. Cái thần kinh thực vật và động vật cũng chỉ nói một phần của tâm thức thôi chứ không nói hết, nhưng chúng ta cũng phải biết một chút. Cái phần à thần kinh động vật là những cái phần thần kinh mà chúng ta chủ động, ví dụ mình muốn đi thì mình đứng lên mình đi, mình muốn làm thì mình cất tay mình làm, muốn nói thì mình mở miệng mình nói. Đó là phần thần kinh động vật. Còn cái phần thần kinh thực vật á là nó tự động nó làm việc. Ví dụ tự động nó bóp tim nhảy, rồi tự động làm cho ruột nhồi, tự động à mạch máu nhảy rồi vô số những cái điều tự động mà mình không kiểm soát được.
[1:41:23]Nên ví dụ mình muốn tim ngừng đập, nó không chịu ngừng. Vì bản năng sinh tồn buộc nó cứ đập để nó sống. Đó. Nhưng mà có những lúc tim chúng ta nó bị rối nhịp, nó đập mạnh hơn do nó hồi hộp, nó sợ hãi, hoặc là xúc động, hoặc là bị ai mình nghe ai nói một cái câu nào đó. Hồi nhỏ nhớ đó, lúc mới lớn lên cái ai nói câu "I love you" cái lúc đó tim nó cũng nhảy. Nghĩa là người ta điều khiển tim mình được, chứ mình muốn tim đập chậm đập nhanh không được, nhưng mà cái người kia hồi xưa họ điều khiển được. Bây giờ thì ai nói gì cũng trơ trơ rồi, phải không? Lớn rồi ai nói gì cũng trơ trơ. Nói cười trừ nữa.
[1:42:02]thì à phần thần kinh thực vật á chỉ là một phần nhỏ thôi, chứ còn cái vô thức của chúng ta khủng khiếp hơn nhiều. Tuy nhiên, khi mà cái người mà họ nhập định vào trong vô thức á thì họ bước vào một thế giới khác là thế giới của tâm. Lúc này á cái người hành giả họ thấy thế giới này chỉ toàn là tâm, không còn vật chất nữa. À đây là một cái cảm giác rất là lạ. Một cảm giác rất lạ mà ừ nó thay đổi cái quan niệm sống của con người hết, thay đổi hết. Ví dụ bây giờ là ở mức độ mà Nhị thiền á thì họ bỏ cái thế giới vật chất, họ nhập vào Nhị thiền thì họ tràn ngập sống hẳn trong cái thế giới của tâm. Có thế giới của vật chất và thế giới của tâm riêng biệt,
[1:42:49]họ bỏ thế giới vật chất bước vào thế giới của tâm, cái tâm nó tràn đầy hết, tâm tràn đầy an trú núp trong đó luôn là Nhị thiền. Còn khi Tam thiền á mà vào sâu được trong vô thức thì nó không còn hai cái thế giới giữa vật chất và tinh thần nữa, mà cả hai thế giới đó chỉ là một. Tức là những cái vật chất này cũng chính là tâm thức. Đây là điều rất là lạ. Nên họ thay đổi hết quan điểm sống luôn. Là trước đây đó khi mà chưa được Tam thiền á thì nhiều khi mình thấy vàng bạc còn quý, còn thấy nhà lầu, ờ xe hơi họ còn quý, mà khi họ vào được Tam thiền rồi cái bỗng nhiên nó tất cả như rác á, không còn quý nữa.
[1:43:31]Bởi vì cái vật chất cũng chính là tinh thần. Ví dụ mình nhìn thấy cái bông này, mình thấy bông là vật chất không? Cái người chứng Tam thiền rồi bông này cũng chỉ là một cái ảo ảnh của tâm thôi, không còn là một cái vật chất rời ngoài tâm nữa. Nên cái cảm giác này mà người không chứng không biết được. Đây là cái chỗ bí mật, nhưng mà cũng làm thành một cái tư cách siêu thoát của bậc thánh, rồi họ sống rất là tự tại, mà cũng làm thành cái khả năng phi thường của bậc thánh, bởi vì họ điều khiển được vật chất. Ờ vì vật chất cũng chính là tâm, cho nên cái tâm của họ điều khiển được vật chất. À, đây là chỗ mà tại sao khoa học đến ngày hôm nay
[1:44:10]vẫn không giải thích được các hiện tượng ngoại cảm. Làm hiện nay các nước trên thế giới đều bí mật có những cái phòng nghiên cứu về khả năng phi thường của con người, họ gọi là khả năng ngoại cảm. Ví dụ như truyền ý nghĩ từ xa, là từ xa mà điều khiển vật chất, là có người chỉ nhìn cái là cây muỗng nó bị uốn cong lại, họ không biết là cái gạch nối giữa cái tinh thần và vật chất ở chỗ nào. Họ không biết là cái gạch nối giữa cái ý nghĩ và cái vật chất thế nào mà tại sao ý nghĩ điều khiển được vật chất. Nhưng mà bước sang Tam thiền thì điều đó được trả lời hết. Thì cái người mà họ chứng tới đó thì họ thấy thì một cái cục đá đằng kia cũng chính là tâm.
[1:44:55]Mà tâm và tâm thì nó tương dung nhau hết, cho nên họ chỉ muốn cái cục đá thôi dời đi chỗ khác là nó dời đi liền. Cho nên đây là một chuyện phi thường mà tới Tam thiền thì mọi chuyện mới giải tỏa được. Mà khi vào trong Tam thiền rồi đó ngoài những cái thần thông, cái sự siêu thoát rồi họ mới phát hiện ra cái những cái tà kiến vô số của con người cũng từ Tam thiền chạy ra hết, cũng từ Tam thiền mà ra hết. Ừm là vì sao ví dụ thế này. Ví dụ như là một cái người đó họ tu hành rồi họ ừm muốn làm thánh thì họ ngồi thiền khi tâm họ họ yên tĩnh, họ có thể chứng được khoảng gần gần như Sơ thiền, Nhị thiền thì họ thấy ánh sáng hiện ra phủ trùm.
[1:45:38]Ở trong ánh sáng đó là có những vị Phật à hiện ra nói chuyện với họ, họ xoa đầu họ, thọ ký cho họ sẽ chứng đạo, vân vân. Thì những cái ảo ảnh đó họ nghĩ là thật. Những người chứng từ Sơ thiền, Nhị thiền cho là thật. Nhưng mà nếu người nào mà vào được tới Tam thiền họ mới phát hiện ra tất cả những ảo ảnh đó đều từ trong vô thức phát ra hết. Và vì trước đây họ không vào được vô thức cho nên họ không biết cái thủ phạm ở đâu. Không ngờ là những cái ảo ảnh mà cao siêu vi diệu như vậy đều là do vô thức nó bí mật ừm là phù thủy nó tạo ra và nó lừa gạt chính mình luôn, nó lừa gạt luôn cái cái ý thức luôn.
[1:46:18]Và thế là cái người đó giương giương tự đắc là cho mình đã được Phật thọ ký cho nên trở nên kiêu mạn và khi đã kiêu mạn thì cái đạo đức bị đổ vỡ, cái phước đức bị đổ vỡ rồi từ từ họ sa đọa luôn. Mà phải cái người mà chứng tới Tam thiền mới phát hiện ra những cái trò đùa tai ác quái hiểm của vô thức đã lừa gạt cái người tu như thế nào. Mà tại sao có người thì bị vô thức lừa mà có người thì không bị vô thức lừa? Thì chỉ là vì cái nhân ban đầu đúng hay sai. Ví dụ khi chúng ta phát tâm tu hành mà tâm chúng ta hiền lành, chân chính, vị tha, không có tham vọng, chỉ có lý tưởng muốn độ sinh chứ không có cái ước mơ mà muốn cho mình trở thành cao siêu,
[1:47:06]nghe cái này đừng có tằng hắng nha, nghe bài này không được tằng hắng nha. Nghĩa là không có những cái ước vọng, những cái tham vọng mà để cho mình trở thành cao siêu để cho người ta tôn vinh kính trọng, không có, mà chỉ thuần là vì thương yêu con người, tôn quý Đức Phật để mình ráng tu hành làm cái điều lợi như cho mọi người, cho chúng sinh như vậy. Thì với cái căn bản cái tâm đó đó, cái nhân đó thì chúng ta không bị cái trò đùa quái ác của vô thức. Còn cái người mà cái nhân không lành, tức là từ ban đầu khởi tâm tu hành là đã có một cái tham vọng bí mật là muốn mình sau này trở nên cao siêu đắc đạo làm thánh để mọi người phải quỳ
[1:47:42]lạy, thì chính cái tham vọng ban đầu bí mật đó là dẫn dắt gây thành cái nhân xấu nằm trong vô thức. Đến khi mình tu được hơi khá khá một chút thì cái vô thức lập tức nó tạo ra vô số những cái trò đùa, những cái ảo ảnh để nó lừa gạt mình và mình rơi vào cái kiêu mạn để rồi tan vỡ cả cuộc đời tu của mình, có thể đi vào điên loạn luôn. Cho nên cái vô thức là một cái ổ nguy hiểm, là cái nơi mà phát ra những năng lực phi thường, ờ có thể giúp cho mình có cái năng lực cao siêu, nhưng mà cũng là nơi mà tạo nên tất cả mọi cái bất hạnh cho cuộc đời mình. Cho nên cái vô thức rất là nguy hiểm. Nhưng mà nếu người nào mà tu nhập được vào trong vô thức,
[1:48:24]thấy được vô thức rồi thì thoát hết những điều đó, không bị nữa. Vì mọi cái móng động của cái tâm thức để muốn tạo thành một cái gì sai lầm thì cái hành giả thấy liền. Thấy liền, thấy tâm mình ở trong đó thủ phạm nó manh nha nó động cái là vượt qua bỏ cái hết liền. Còn cái người mà chứng từ Sơ thiền, Nhị thiền chưa thấy được, cho nên ở trong vô thức mà nó manh động, nó tạo ra được những ảo ảnh nó phát ra lên, lên trên cái màn hình của ý thức, mình không biết thủ phạm nên mình cứ tưởng là thiệt có cảnh ở bên ngoài, nhưng đâu ngờ rằng là ảo ảnh của vô thức tạo ra. Còn người chứng vào trong vô thức thấy liền, thấy thủ phạm.
[1:49:00]Nghĩa là cái vô thức muốn làm cái gì cái mình thấy chận lại liền, hết liền. Cho nên cái thế giới của vô thức thật là kỳ lạ, một thế giới mới hẳn luôn. Cái đặc tính của những người mà an trú được trong cái tịch lặng của Tam thiền, của vô thức ấy là các giác quan dừng hoạt động. Là cái con mắt của chúng ta nè, cái người đó họ mở mà họ nhập định rồi họ không thấy nữa. Hoặc là tai đang thế này nhưng mà nhập định rồi hết nghe luôn, bặt tiếng luôn. Là vì sao vậy? Bởi vì mỗi cái giác quan chúng ta có một cái khu thần kinh để chịu trách nhiệm. Ví dụ như con mắt thì có cái trung khu thần kinh thị giác,
[1:49:40]cái tai thì có cái trung khu thần kinh thính giác, rồi có cái trung khu thần kinh vị giác, khứu giác, vân vân, như vậy. Thì khi mà người mà họ nhập định được vào tới cái vô thức của Tam thiền rồi thì những cái trung khu đó tắt luôn, không hoạt động nữa. Cho nên người này họ ngồi bất động, mắt không thấy, tai không nghe nữa, không gì hết. Và bên ngoài không làm xao động họ được. Nhưng mà chỉ có một cái thế này, nghe nói tới chỗ này người ta cứ tưởng Tam thiền là rơi vào như cây đá, không phải. Đó là cái trung khu thần kinh đó không làm việc nữa, mắt không thấy tai không nghe nữa, nhưng bằng cái tâm trực tiếp họ thấy cả ba ngàn thế giới nếu muốn.
[1:50:21]Nếu muốn an trú trong tịch lặng thì thôi, còn nếu mà họ khởi cái động lên họ muốn biết một chuyện gì thì biết chuyện của những hành tinh khác, chứ không phải là biết chuyện của trái đất không. Còn nói ví dụ như biết cái chuyện đây qua tới Âu châu là bình thường, chuyện nhỏ đối với họ, khủng khiếp như vậy. Cho nên chúng ta thấy con đường đi trong thiền định của đạo Phật vĩ đại lắm. Cho nên một người chứng Tam thiền không phải biết chuyện trái đất này, biết chuyện tới sao Hỏa, sao Kim gì, muốn biết là biết luôn. Bởi vì lúc đó cái ranh giới giữa tâm và vật không còn nữa, thấy tất cả đều được tạo bằng tâm thôi.
[1:50:52]Cái bàn, núi, sông, cây, đá ừ tất cả đều là tâm. Đi một cái nhìn hoàn toàn mới, thay đổi hết. Nhưng mà trong cái kinh văn á Đức Phật ghi về tam thiền hết sức là khiêm tốn khiến cho nhiều người đọc tới đây không thấy có gì đặc biệt. Nếu mà cái người này không chịu tu chứng hoặc là không nghiền ngẫm kỹ thì không thấy gì đặc biệt hết. Phật diễn tả từ sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, mình thấy giống như không có chuyện gì xảy ra. Phật nói là: Cái tam thiền ví như là một cái hoa sen còn chìm trong nước, khi mà mới ló lên từ từ từ từ từ dưới bùn đi lên, à còn ở trong nước chứ chưa nhô khỏi mặt nước
[1:51:34]thì được nước thấm tràn đầy hết từ cái ngọn cho tới cái gốc. Và cái hạnh phúc của cái người được tam thiền cũng như vậy, cái hạnh phúc như thế, cái thanh khiết như thế, nó yên tĩnh và nó thấm đầy cả cái thân giống như là cái cọng hoa sen mà được nhúng chìm ở trong nước, còn chìm trong nước chưa nhô ra khỏi mặt nước. Mình nghe câu này không hiểu, không hiểu cái vĩ đại, khủng khiếp của tam thiền như thế nào. Cái của tam thiền một người mà có thể nhấc người bay lên được như thế nào, tam thiền họ làm được luôn. Nhưng mà Phật chỉ nói một câu rất là khiêm tốn: Như cành hoa sen còn trong nước và được nước thấm hết từ gốc cho
[1:52:11]tới ngọn, thì cũng vậy, cái người chứng tam thiền, toàn thân của họ từ ngón tay ngón chân kể cả như cái móng tay, từ những cái bộ phận nhỏ nhất cơ thể đều tràn ngập cái niềm hạnh phúc của cái gọi là ly hỷ trú xả hay là xả niệm lạc trú, an trú trong cái hạnh phúc, an trú trong cái hạnh phúc, cái hạnh phúc vĩ đại mà từng ngón tay ngón chân đều được thấm đầy như nhau hết. Chứ thường ví dụ như một người mà mới tu chứng được chánh niệm tỉnh giác á, tâm rỗng rang thanh tịnh thì họ có cái hạnh phúc rồi, nhưng cái hạnh phúc á nó bàng hoàng bàng hoàng ở khoảng từ đầu cho tới tâm này thôi. Cái hạnh phúc nó nó ngập ở chỗ khoảng từ cái đầu chúng
[1:52:51]ta xuống tới cái tâm ngực chúng ta là hết. Nhưng mà người chứng thực sự từ sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, mà nhất là tới tam thiền, thì từng cái ngón chân, cái móng chân cũng tràn ngập cái hạnh phúc mà Phật gọi là lạc trú, là an trú trong cái niềm hạnh phúc vi diệu. Cái hạnh phúc của tam thiền thì khác với cái hạnh phúc của nhị thiền. Hạnh phúc của nhị thiền còn cái xao động, còn xao động bởi vì còn cái hỷ, cái mừng vi tế nó kèm thêm với cái hạnh phúc, mà mừng là một cái gì xao động. Còn ở nơi tam thiền, cái mừng nó chấm dứt, chỉ còn cái hạnh phúc thôi, cái hạnh phúc cao siêu, vi diệu, tịch lặng.
[1:53:28]Nên Phật ví dụ rất là khéo: Nhị thiền á như là nước trong hồ, chúng ta nhớ không? Chúng ta nhớ Phật nói là nhị thiền giống như là cái hạnh phúc nó giống như một cái hồ nước kín không có nước chảy ra, mà từ trong lòng đất nước tiếp tục phun trào cho cái hồ đó, và trên trời mưa tiếp tục tuôn xuống cho cái hồ đó, mà cái hồ đó cứ vậy đó hạnh phúc cứ tuôn trào tuôn trào mà không mất đi đâu hết, không có một cái khe nhỏ để rỉ cái nước đó ra, tức là hạnh phúc nó không bao giờ thất thoát, không mất, không có suy suyển, cứ tuôn trào tuôn trào. Nhưng chúng ta nghe chúng ta vẫn cảm nhận được có cái gì nó hơi
[1:54:02]động động, nước phun, mưa rơi phải không, hơi động động. Còn qua tới tam thiền, Phật ví dụ cái hạnh phúc đó giống như cái hoa sen yên tĩnh ở trong cái mặt hồ, trong cái hồ nước yên tĩnh, rất là tịch lặng, nhưng mà cái hạnh phúc đó tràn ngập, thấm hết từng cái gai sen, giống như chúng ta vậy, nói giống như từng cái lỗ chân lông, từng ngón tay, từng cái móng chân gì cũng tràn ngập hạnh phúc hết. Nên đây là điều mà Phật ví dụ nghe nhẹ nhàng nhưng mà cái ý nghĩa nó thật là lớn lao không có đơn giản. Cái người mà chứng tam thiền như thế á thì muốn chết lúc nào cũng được. Tức là họ có thể tự tử bằng cái định.
[1:54:41]Ở nhị thiền á thì họ thanh thản chờ cái chết tới. Cái người mà chứng nhị thiền á, họ biết trước ngày chết. Rồi họ cứ ngồi, cứ như biết là tuần sau chết thì họ báo trước cho người thân: À thôi tuần sau ta đi. Thì tới cái ngày giờ, duyên nó tới rồi họ lên họ ngồi bắt chân kiết già, họ an trú, rồi cái từ từ cái chết kéo tới kéo tới cái, cái thân này nó tự động nó tắt cái sự sống theo cái duyên, họ không muốn giữ lại nữa, họ không muốn kềm. Chứ ở người nhị thiền đó, họ dùng cái định họ kềm kềm kềm, họ kéo cái cái sống này lại được, nhưng mà họ không muốn, họ biết duyên đã hết rồi, thì họ chờ và cái chết nó kéo tới cái bỗng
[1:55:19]nhiên những cái mạch sống nó cạn dần cạn dần cạn dần, nó tắt rồi cái họ bỏ thân. Cái thần thức của họ sáng ngời vượt ra khỏi thân, họ lên trời họ ở. Đó là họ chờ cái chết. Còn cái người tam thiền á thì họ không cần chờ cái chết tới, mà muốn chết thì chết, muốn sống thì sống. Ví dụ như họ muốn chết, họ đứng đó họ nhập định chết liền, chết đứng liền mà cái thần thông giữ cái thân họ đứng yên không ngã. Cái chuyện này chúng ta nghe rất nhiều về các thiền sư, thiền sư như ngài Phong Huyệt cũng vậy. Ngài lúc đó ngài chết, ngài muốn chết cái ngài nói: Ta đi xa có ai đi theo không? Thì những cái người, cũng cái câu nói của ngài như vậy thì hầu hết đệ tử không
[1:55:58]đủ cái thần thông để hiểu được ông thầy mình, ngài nói bóng nói gió. Nhưng mà người thị giả thì có thần thông, cũng chứng đạo gần như thầy nên hiểu được ý ông thầy mình bữa nay ổng nói đi xa là ổng đi luôn. Cái người đứng lên nói: Dạ con đi được. Nói: Vậy ta đi trước nha. Ngài đứng lên ngài tịch liền. Người thị giả đứng lại chắp tay ngay bên cạnh tịch luôn. Những người đó là chứng tam thiền hết. Những người đó là muốn chết là chết. Hoặc như ngài Đặng Ẩn Phong vậy. Đặng Ẩn Phong, cái câu chuyện mà chúng ta thường hay nghe kể tới kể lui nhiều lần, ngày hôm nay chúng ta kể lại một chút vậy là để thấy cái thần thông của cái người chết.
[1:56:33]Là lúc đó ngài và các đệ tử đi qua bãi chiến trường, hồi xưa bên Trung Hoa nước này oánh nước kia hoài. Thấy hai bên đánh nhau ngài mới ném cái gậy lên hư không, ngài bay lên, ngài chỉ xuống cái làm cho mọi người, hai bên quân sợ quá mới lui quân không đánh nhau nữa, ngài cứu được cái nạn đó. Rồi sau đó thì cái tiếng đồn lan ra lan ra khắp nơi hết, người ta tôn sùng ngài như thánh, ngài mới thấy cái này cái thể cách như vậy nó không phải là của một người trong đạo Phật. Tại vì đạo Phật giáo hóa chủ yếu là bằng đạo lý, bằng đạo đức chứ không phải bằng thần thông. Nếu đem thần thông mà để dạy người ta thì sẽ làm mê hoặc
[1:57:07]hết chúng sinh, chúng sinh chỉ đua nhau đi tìm cái khả năng phi thường thì như vậy là tà đạo chen vô được liền. Chúng ta nhớ, đây cái điểm độc đáo của đạo Phật là chỗ này. Cho nên người nào đến với đạo Phật mà thường thích nghe kể chuyện thần thông, thích đi tìm những vị thầy có thần thông thì biết là mình đã đặt cái bước chân mình sai hướng. Mặc dù là người tu trong đạo Phật họ phải có thần thông nếu họ chứng đạo, nhưng mà không bao giờ được xem thần thông là là cái điểm chính mà chỉ dùng cái đạo lý, cái đạo đức là điểm chính thôi. Cho nên có một số người tu theo đạo Phật, mà nhất là những người mà theo Mật tông á,
[1:57:44]là cứ hay khoe khoang, hay phô bày, hay ca ngợi những cái năng lực phi thường của thần thông thì hầu hết là chúng ta bị rơi, dễ bị rơi vào tà kiến, dễ bị những tà sư mê hoặc, lừa gạt. Vì vậy là chúng ta chỉ chủ yếu là nhắm vào cái đạo lý và đạo đức. Cho nên ngài Đặng Ẩn Phong vậy, khi mà cái tiếng đồn lan ra quá rồi, cái người ta ùn ùn tôn sùng ngài như ông thánh, cái ngài biết là ngài đã làm một hành động mà gây tác hại cho đạo Phật, bởi vì từ đây là người ta đi tìm đến đạo Phật chỉ tìm cái khả năng phi thường thì đạo Phật bị lệch hướng liền nên ngài ra đi, ngài tịch. Mà cái tật ngài ngài cũng chưa bỏ,
[1:58:24]tật dùng thần thông tới ngày chết cũng chưa bỏ. Cái ngài mới hỏi đệ tử là: Các ngươi thấy tịch nằm, tịch ngồi, các ngươi thấy ai tịch đứng chưa? Có người đệ tử nói: Dạ con có thấy có người tịch đứng. Các ngươi có thấy ai tịch lộn ngược đầu chưa? Nói: Dạ chưa. Nghe nói chưa có ai, cái ngài chống tay cái ngài lộn ngược đầu lên ngài tịch liền. Tịch mà đứng băng mà y áo không rớt nha, chứ cái áo dài như vậy á nếu mà lộn ngược thì nó sẽ xõa xuống phải không, nó che cái mặt. Mà ngài dùng cái thần thông, ngài tịch rồi, bỏ thân rồi mà y áo vẫn xếp nguyên lên ôm theo cái chân như vậy, nghĩa là nó không có rũ xuống, cho nên nhìn cũng rất đẹp, rất là nghiêm trang.
[1:59:00]Mà không ai lay được hết. Ngài cắc cớ thiệt, nghĩa là cái tật mà ngài dùng thần thông tới chết cũng chưa bỏ nữa. Sau này một cô em gái tu trên núi nghe chuyện mới xuống mới rầy ngài, nói: Anh sống là anh đã sai rồi, tức là ngài thi triển thần thông, tới chết còn phá người ta. Nói rồi xô nhẹ cái ngài ngã xuống rồi mới đem an táng được. Mà người mà chứng mà tới tam thiền này đó, họ chết thân không có mục, thân không có mục. Thân cứ còn hoài đó, mười năm sau mình dở hòm ra thấy còn ngồi nguyên trong đó á. Này thiệt, tại vì cái thần thông của tam thiền nó khủng khiếp, nó giữ được thân không cần ướp, cho nên mà chúng ta có những vị
[1:59:38]như là Vũ Khắc Minh, Vũ Khắc Trường ở ngoài chùa chùa Đậu phải không, là những vị đó lúc chết cũng chứng được tam thiền đó. Nhưng mà tuy nhiên, cái câu chuyện kể lại là lúc đó các ngài, Vũ Khắc Minh á mới có dặn thế này, nói là: Thôi ta nhập thất không ăn uống thì trong một tháng nếu mà thấy có mùi hôi thì đem chôn, còn không có mùi hôi thì thôi để vậy táng thôi. Thì ngài nhập thất là ngài nhập định ngài đi luôn á, mà ngài cũng không có chắc là ngài thân ngài có hoại hay không hoại, ngài mới nói một câu hờ: Nếu nó hoại thì nó sẽ sình, nó hôi thì thôi đem chôn, còn nếu mà nó không sình, tức là cái định của ngài giữ
[2:00:11]được cái thân thì thôi cứ để lại đó thờ cũng được. Mà đúng là không ngờ là ngài giữ được thân, cái định của ngài giữ được cái thân. Cho nên làm cho chúng ta có được cái nhục thân của cái hai vị thiền sư cũng rất là rất là đẹp, cũng là một điều vui trong cái Phật giáo Việt Nam mình. Mà khi cái người Tam Thiền như vậy chết thì họ về an trú cái cõi trời rất cao, rất cao. Cho nên cõi trời thì có nhiều lớp, nhiều cõi. Có những cái cõi trời hôm nay chúng ta không có luận về cõi trời nên mình không giải thích lắm. Mình nói sơ sơ thôi là có những cái cõi trời mà đời sống cũng rất là đơn giản như Phật nói cõi trời Tứ Thiên Vương,
[2:00:49]cõi đó không có nhiều vật chất lắm, đời sống đơn giản nhà cửa sơ sài. Mà còn bắt đầu những cõi lên cao hơn cao hơn dần dần thì thường là đẹp. Ví dụ như cõi trời Đế Thích, cõi trời Phạm Thiên thì đẹp và các vị thiên tử đó muốn cái gì hiện ra cái đó. Nhưng mà riêng ở những cõi trời của những vị mà chứng Tam Thiền rồi thì thường là không có lè loẹt như những cõi trời dưới nhưng mà nó có một cái gì đó nó sang, nó sáng, nó đẹp mà không phải là do vật chất. Còn những cõi trời thấp hơn thì lâu đài điện ngọc mọc đầy hết, những cung vàng điện ngọc hiện ra vàng ngọc đầy đầy đầy. Ở dưới này mình giành nhau từng chỉ vàng nhưng mà ở trên
[2:01:30]cõi trời đó vàng ngọc họ dính trên tường vậy nà. Họ trang trí thành cái vật trang trí rất là bình thường, theo lối đi theo cung vàng điện ngọc. Nói lối đi chứ không phải họ đi, họ chỉ bay thôi. Nghĩa là cái người mà mình chết lên trên cõi rồi mình nhìn xuống mà thấy dưới trần gian này họ lừa nhau từng chỉ vàng thấy tức cười lắm, thấy tức cười. Cũng giống như mình ví dụ như mình thấy là nói cái người ăn mặn đó nha, thấy ăn xong cái còn cục xương quăng ra, hai con chó giành cục xương mà nó cắn nhau mình thấy cũng tức cười. Trong khi đối với mình cái đó nó vô nghĩa nhưng mà hai con chó xem rất là quý mà cắn giành nhau.
[2:02:03]Thì trên cõi trời nhìn xuống mình cũng vậy, mình sống ở đây lừa gạt nhau để tìm từng đồng nhưng trong khi những cái điều đó ở trên kia là tràn ngập, tràn ngập. Cho nên chỉ có người nào mà sống ở dưới trần gian này mình không có tham tức là mình xem vật chất nhẹ mà mình xem tinh thần là quý, xem đạo lý là quý, chỉ lo thương người giúp người, tu hành, giúp cho người cái đạo lý thì người đó là cái nhân cõi trời. Người đó là cái nhân cõi trời, còn nếu mà chúng ta nặng về vật chất quá, giành giật từng chỉ vàng, tìm từng đồng lời thì mình đang gieo cái nhân của thế gian, đang gieo cái nhân của thế gian.
[2:02:39]Cho nên để ý lại, mình chưa có nói cao siêu là giải thoát hay không giải thoát mà chỉ nói cái cái đơn giản thôi là nhân cõi người cõi trời thôi. Mình hãy nhìn lại suốt cuộc sống mình trong mấy chục năm qua nếu mình nặng về tiền bạc có thể mình nghèo, có thể mình giàu không biết, nhưng mà hễ người nào là đi tìm từng cái đồng từng lời này nọ thì biết rằng mình tiếp tục gieo cái nhân của cõi người. Còn người nào sống cao thượng, xem nhẹ tiền bạc vật chất thì đó là gieo nhân cõi trời, nhớ như vậy. Tuy nhiên thế này, cái người mà chứng Tam Thiền đến chỗ này mà nếu nếu không được một vị thầy hướng dẫn thì cứ tưởng mình là chứng đạo viên mãn.
[2:03:23]Tưởng mình bằng Phật rồi. Đây là cái chỗ chết người. Cho nên đây là cũng là một cái gọi là bất hạnh của những người mà sinh ra đời không gặp Phật. Cho nên tại sao mà trong cái có những điều khó đó, có nhiều đau khổ những điều bất hạnh của chúng sinh là sinh ra vào cái thời mà không có Phật vì không có cái người mà chứng tột đỉnh như vậy. Mình cứ đi dò dẫm dò dẫm mò mò không biết tới đâu rồi. Là tới cái chỗ này không biết là mình đã xong chưa hay là còn phải đi nữa. Đây là cái cái bất hạnh. Ví dụ có người có được cái phước chứng tới Tam Thiền rồi mà nếu không có một bậc minh sư cao hơn mình thì ngang đây cứ
[2:03:59]tưởng mình là viên mãn rồi thôi ngang đó an trú ở đó thành có một cái tự mãn ngấm ngầm nó xuất hiện tồn tại trong tâm mình. Thì cái kiêu mạn bí mật vẫn tiếp tục tồn tại. Nên đây là chỗ rất là khó. Cái người này đó không ai khuyên được đâu tại vì họ quá cao siêu rồi. Cái người nói: "Ờ coi vậy chứ anh mới chứng vậy chưa phải là viên mãn." Họ rầy liền. Tại họ nghĩ họ đã quá cao siêu nên ở đây là chỗ mà mình tự nhắc mình thôi. Nếu người nào mà chứng tới chỗ này thì phải trong tâm phải tiếp tục cái tác ý. Đây gọi là Phật gọi là như lý tác ý. Như lý tác ý nghĩa là mặc dầu chứng cao siêu, thấy tâm và vật bằng nhau.
[2:04:38]Thần thông hiện ra đầy đủ, kiến giải phi thường hết. Vẫn phải tác ý như thế này: "Chấp ngã và vô minh cũng vẫn còn." Chỉ cần tác ý như đó thôi thì người này không rơi vào ngã mạn, còn có thể tiếp tục chứng Tứ Thiền để giải thoát. Còn nếu người này mà không tác ý, không cảnh giác nhắc mình là: "Coi vậy chứ vẫn còn vô minh chấp ngã" thì người này sẽ kiêu mạn, đứng lại liền. Thì có thể là vài trăm ngàn năm sau lui lại. Nhớ nha, định vẫn có cái giá của nó không bao giờ là vĩnh viễn. Ví dụ chứng được cái đó rồi đừng có tưởng là vĩnh viễn. Chứng Tam Thiền rồi có thể là năm ngàn năm sau lui trở lại nếu mà mình có cái nhân xấu tiềm tàng ở trong cái kiêu mạn tiềm tàng,
[2:05:19]năm ngàn năm sau, năm chục ngàn năm sau, một trăm ngàn năm sau sẽ rớt mất cái phước đó, rớt xuống trở lại làm người bình thường tu lại nữa. Nên rất là uổng. Còn nếu ngang đó mà mình cảnh giác mình biết được là vô minh chấp ngã mình vẫn còn thì tiếp tục đi nữa để có thể chứng đạo viên mãn luôn. Hôm nay nghe bài này mệt không? Chuyện của thánh quá cao siêu hả? Mệt không? Nếu mà người nào mà nghe bài này mà tâm hoan hỷ thích thú thì đang gieo trồng cái thiện căn lớn cho mình đó. Còn người nào nghe bài này mà nản là mất thiện căn trong Phật pháp nữa nha. Ráng đây là những điều rất quan trọng. Chúng tôi không có hù đâu, đây là sự thật á.
[2:06:00]Giờ mình bước qua Tứ Thiền. Cái nguyên văn của Tứ Thiền Phật nói thế này: "Này xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu, chứng và an trú thiền thứ tư: không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh." Cái câu nói như câu thần chú hiểu không? Rất là khó ha. Nghĩa là một cái trạng thái cực kỳ cao siêu mà Phật nói có mấy chữ nghe gọn bâng. Nên đây là điểm mà mà thành thử chúng ta thấy chúng ta đừng tưởng là chúng ta hiểu hết Phật giáo, không có đâu. Đạo Phật vẫn còn nhiều điều bí mật như một cái kho tàng bí mật mà vẫn chưa có người khai phá, không phải dễ đâu. Vài cái câu đơn giản như vậy mà Phật diễn tả trạng thái một bậc Thánh chứng cao tột.
[2:06:42]Để chúng ta từ từ phân tích với nhau. Cái xả lạc xả khổ là bỏ trạng thái lạc sung sướng, bỏ cái trạng thái khổ, diệt những cái lo, cái mừng, chứng an trú thiền thứ tư cái trạng thái nó là không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh, không còn cái cái vui của cái cái Tam Thiền vì cái vui cái hạnh phúc của Tam Thiền coi vậy chứ vẫn còn động. Nên cái chỗ này chấm dứt luôn cái cái lạc và vì chấm dứt luôn cái lạc cho nên cái cảm giác của đau khổ đối xứng với nó cũng mất luôn. Con người này đã đến chỗ giải thoát rồi. Mà thêm cái chữ là: "Xả niệm thanh tịnh". Chữ xả niệm là gì? Hồi Tam Thiền á chúng ta cũng nghe cái chữ xả niệm lạc trú phải không?
[2:07:23]Qua tới đây chúng ta nghe chữ xả niệm thanh tịnh, hai cái chữ xả niệm này nghĩa khác nhau hoàn toàn. Ở chỗ Tam Thiền á cái chữ xả niệm là bỏ cái phần tâm thức cạn mà lọt vào trong cái vô thức vi tế, vĩ đại, mênh mông. Còn ở chỗ Tứ Thiền á cái chữ xả niệm này có nghĩa là thoát hẳn hoàn toàn thế giới của tâm, không còn tâm luôn. Hồi nãy Tam Thiền á bỏ ý thức nhưng vào vô thức thì vô thức này cũng còn ở trong? Trong tâm nên bản ngã còn ở trỏng á. Hễ còn tâm là còn bản ngã. Nhưng mà qua tới Tứ Thiền thì xả niệm này có nghĩa là bỏ hẳn cái tâm luôn. Dù là ý thức, dù là vô thức thì cái người chứng Tứ Thiền này thoát luôn cả cái hệ
[2:08:09]thống tâm thức của mình luôn, hoàn toàn thoát hết luôn, vượt khỏi tâm thức luôn. Cho nên cái người này không còn cái bản ngã cá nhân nữa. Cái người mà chứng tới Tứ Thiền vì đã vượt hẳn hoàn toàn tâm thức cho nên không còn cái bản ngã cá nhân. Bản ngã chỉ tồn tại trong tâm. Hết tâm thì hết bản ngã. Ở Tam Thiền tuy rất cao siêu nhưng vẫn còn trong vô thức, dù vô thức đó rất cao siêu rất vĩ đại nhưng vì còn tâm nên vẫn còn ngã. Còn qua tới Tứ Thiền, xả niệm này có nghĩa là vượt khỏi cái tâm thức cá nhân cho nên vượt khỏi cái ngã chấp cá nhân để trở thành toàn thể vũ trụ luôn. Cái chỗ này mà chúng ta nói suốt đời không hết.
[2:08:55]Cho nên trong cái bài Tứ Thánh Đế phần Chánh Định này chúng ta chỉ ráng diễn tả chừng hai lần giảng thì là nghĩa là chúng ta nói về những cảnh giới của thánh rất là sơ sài, không đâu ra đâu hết. Chứ còn cái cảnh giới của một người mà chứng tới Tứ Thiền mình nói suốt đời không hết những cái vi diệu, những cái cao siêu, những cái tinh tế, những cái đặc biệt. Chỉ có sợ mình không hiểu thôi chứ nói hoài ra hoài. Nhưng mà ở đây là chúng ta chỉ học một phần nhưng mà chỉ mong rằng là cái người nói cũng như người nghe có thể chúng ta đều chưa chứng nhưng mà khi chúng ta nghe, chúng ta với cái tâm khát khao,
[2:09:26]thiết tha kính trọng những cảnh giới này thì khi mà chúng ta nghe cảnh giới Tam Thiền, Tứ Thiền này chúng ta khát khao kính trọng là chúng ta đang gieo cái nhân để một lúc nào đó mình cũng sẽ chứng được điều này. Còn nếu ai nghe những điều này mà tâm hời hợt thì mất đứt cái căn lành luôn nha, sẽ không bao giờ chứng được những điều này nữa, hãy nhớ như vậy. Cái hạnh phúc, cái vi tế của Tam Thiền thì cũng bị vượt qua luôn rồi, bỏ luôn, cho nên cái lạc cái khổ bỏ hết. Mà cái hạnh phúc này Phật ví dụ khiêm tốn thế này, bởi là Phật để ra những cái trường hợp này giống như một cái ẩn ngữ, một cái thách đố, một bài toán, một cái công án mà cho chúng ta phải chiêm
[2:10:07]nghiệm bằng cả cái cuộc đời tu hành vất vả của mình mới có thể hiểu được hay không? Đó là Phật nói ví dụ như một người ngồi trùm một cái tấm vải trắng, trùm phủ hết cả người thì cái toàn thân người đó từ đầu cho tới chân không có chỗ nào mà không có được cái tấm vải đó che. Cũng giống như là cái người chứng Tứ Thiền cái sự sáng suốt thanh tịnh đó thì toàn thân người đó không có một cái móng tay, móng chân, một cái sợi chân lông nào mà không sáng suốt thanh tịnh. Thường á ví dụ như chúng ta tu á, mình tu thiền hôm giờ á, hễ lâu lâu mà tâm mình thanh tịnh á, mình chỉ thấy thanh tịnh ở đâu? Cái đầu mình nó rỗng chút.
[2:10:49]Còn ở đây đó, cái người mà chứng Tứ Thiền á thì cái sợi tóc trên đầu á nó cũng bằng như là cái móng dưới chân, nó đều biết như nhau, đều sáng như nhau, đều thanh tịnh như nhau, đều trí tuệ như nhau. Chúng ta không hiểu được cái chỗ mà cái móng chân nó cũng sáng suốt, cũng có trí tuệ. Có một lần có một thiền sư cũng nói, nói sơ sơ mà giống giống như vậy. Như có người đệ tử hỏi là: "Con nghe nói trong kinh nói là khắp thân là tai, là mắt, hay khắp thân là tay, là mắt gì đó thì con không hiểu." Thì vị thiền sư trả lời là giống như trong đêm mà quơ tay ra phía sau để tìm chiếc gối. Ngài thiền sư này đưa ra một cái câu ví dụ đơn giản thực
[2:11:30]tế mà cái người thị giả, người đệ tử hiểu liền: "À, con hiểu rồi." Cái ông thầy mới hỏi: "Con hiểu làm sao?" Nói: "Dạ, khắp thân là tay mắt." Nghĩa là cái chỗ đó lúc đó bình thường á, chúng ta muốn tìm cái gì á mình phải lệ thuộc vào con mắt. Nhưng mà ví dụ như trong đêm tối con mắt không nhìn thấy được, bỗng nhiên mình cũng cảm nhận là lúc đó khi mà con mắt đóng lại rồi, không còn thấy rồi, bỗng nhiên mình vẫn cảm thấy có cái biết nó trùm khắp người mình, giúp cho mình đi rà rà tìm cái gối, chứ không phải là chỉ hễ mắt thấy thì mới biết. Còn ở đây mắt không thấy, mình vẫn cảm nhận có một cái biết gì nó phủ trùm
[2:12:03]để mình giúp cho mình mình rà rà những vật chung quanh mình, đúng không? Đúng không? Đó, không tin tối nay nhắm mắt lại đi, tắt đèn hết đi, mò mò cái gối coi. Đó, mà hễ mà đụng đầu bể trán thì chạy tới đây mắng vốn thầy trụ trì, không sao hết trơn á. Thì ở đây đó, cái chỗ mà Phật nói Tứ thiền cao siêu hơn là đến nỗi từng cái móng tay, móng chân ở trong đó cũng chứa đủ cái trí tuệ như là cái bộ não luôn. Ví dụ như cái tâm của một vị thánh chứng Tứ thiền á là họ biết tất cả, thấy tất cả, hiểu được thông suốt đạo lý hết, thì Phật nói rằng cái móng chân của họ của cái vị đó cũng hiểu như vậy, cũng biết như vậy luôn.
[2:12:41]Nghĩa là sự sáng suốt trùm khắp như vậy. Đây là điểm mà chúng ta tin mà cảm nhận thôi, chứ chứng thì chúng ta chưa ai chứng được hết. Mình nghe nói như vậy á thì mình thấy Phật ví dụ là Tứ thiền giống như người ngồi mà trùm cái tấm vải trắng lên trên mình thì nghe đơn giản. Nhưng mà Phật, không biết sao Phật khiêm tốn, Phật hay nói nhẹ nhẹ vậy, sợ người ta tưởng tượng. Nhưng chúng ta phải hiểu thế này: Tứ thiền là chỗ xuất phát của tam minh lục thông, cho nên cái cảnh giới nó không đơn giản. Một người mà đã thoát ra khỏi cái tâm thức của mình hoàn toàn để trở thành cái pháp giới bao la vũ trụ thì không đơn giản.
[2:13:16]Thực ra cái người chứng Tứ thiền á, ở cái trạng thái này đó, họ chưa có tung cái tâm họ ra trùm cả pháp giới đâu. Một lát nữa đó, chúng ta nghe cái tới cái chỗ mà Phi tưởng phi phi tưởng hoặc là Diệt tận định á thì chúng ta mới thấy nói tới chỗ này, tức là một người mà dùng cái tâm mình phủ trùm hết cả pháp giới, còn cái người chứng Tứ thiền thì họ không. Họ không bung cái tâm họ ra khắp pháp giới, nhưng mà lúc chúng ta nói về lý thuyết, chúng ta nói để mà mình thấy cái vĩ đại của Tứ thiền, chứ sự thật không. Người Tứ thiền á, họ vượt hết tâm thức rồi, nhưng mà họ vẫn chưa bung cái tâm họ ra khắp pháp giới vũ trụ mênh mông,
[2:13:51]mà chỉ đó cái sự thanh tịnh cực kỳ, mà cực kỳ đó chúng ta không giải thích được, chỉ có nói một câu thế này, chỉ nói một câu tạm đơn giản như thế này: Có một thiền sư nói câu này là mọi người đều biết là một cái giọt nước rớt vào trong cái hồ to, không có ai biết rằng cả một đại dương có thể rớt lại vào trong một giọt nước. Cái câu nói thiền sư đó rất là đặc biệt, rất đặc biệt của cái cảnh giới này. Hoặc là trong kinh Hoa Nghiêm nói đầu một cái mũi kim mà chứa hết cả tam thiên đại thiên thế giới. Cái chỗ này mình nghe mình không hiểu. Nó là một cái gì rất nhỏ cũng là chứa hết toàn thể vũ trụ. Cái câu này mình chỉ nghe mình tưởng là người ta bắn bổng hay
[2:14:38]Phật bắn bổng nói cho khó hiểu thôi, nhưng đó là chân lý. Mà bây giờ chúng ta nói theo khoa học từ từ nha, cái chỗ này rất là khó nói. Ví dụ bây giờ thế này, các nhà khoa học cứ tiếp tục đi tìm coi vật chất là gì, đi tìm cái phần nhỏ nhất của vật chất là gì, thì đầu tiên người ta tìm được cái gọi là nguyên tử, phải không? Nguyên tử, chữ "nguyên" có nghĩa là gì? Là hết rồi, nhỏ nhất rồi. Nhưng mà sau đó, các nhà bác học mới khám phá ra nguyên tử chưa hề nhỏ nhất, mà nguyên tử là gì? Là một tổ hợp của nhiều cái hạt, phải không? Ở trong nhân có nhiều cái hạt to, ở ngoài nhân là có những hạt electron nó quay cuồng này đó, quay cuồng.
[2:15:17]Và cái nguyên tử rất là rỗng, rất là rỗng. Là các nhà khoa học ví dụ thế này: Là thông thường chúng ta học ở trong lý thuyết á, chúng ta vẽ một cái cục nhân, rồi chúng ta vẽ một cái những cái vòng quỹ đạo của các electron nó quay, thì mình thấy giống như cái nguyên tử nó to, nó đặc như vậy, nhưng không, không. Các nhà khoa học ví dụ thế này: Ví dụ nguyên cái sân banh á thì những cái hạt nhân nó bằng cái cái trái banh tennis thôi. Chúng ta vẽ trong bài học chúng ta thấy vẽ to ha, những đường quỹ đạo như vậy, nhưng mà không phải. Nếu mà cái sân banh là một cái nguyên tử thì những cái hạt proton, nơtron á nó bằng cái trái banh
[2:15:54]tennis nhỏ nhỏ vậy thôi à, chút à, nên nguyên tử rất là rỗng. Mà biết như vậy rồi, mới ban đầu họ cứ tưởng đó là cái hạt cuối cùng của vật chất, nhưng sau này họ thấy không phải. Tìm vào rồi, coi chừng những hạt đó được cấu tạo bằng những hạt nhỏ hơn nữa. Họ đi tìm, đi tìm mãi. Chúng ta cũng cầu chúc cho các nhà khoa học đi tìm. Một ngày nào đó, họ tìm cho tới tận cùng cuối cùng của vật chất thì mới phát hiện ra là không có gì hết. Là vật chất không phải là một cái hạt nữa, mà vật chất chỉ là sự xoáy động, xoáy động của cái này không biết kêu bằng cái gì vì vì chưa có tên. Chúng ta ví dụ thế này, ví dụ như không khí bình
[2:16:35]thường chúng ta thấy không có gì, phải không? Mình quơ tay quơ chân thấy không đụng gì hết. Nhưng mà nếu cái không khí này mà nó xoắn mạnh một cái nó thành cái gì? Thành cơn lốc liền, hoặc là nó thổi mạnh nó thành cơn gió liền. Và vừa rồi có hai cơn bão vừa đi qua địa cầu nhớ không? Là làm cho ngoài Bắc mình cũng sập mấy ngàn căn nhà và bên Trung Quốc là chết bao nhiêu người và sập năm sáu ngàn căn nhà. Tức là từ cái không khí giống như không có gì nè, nhưng mà nó động lên một cái, nó xoắn lên một cái, nó đi mạnh một cái thì nó thành một cái gì rất khủng khiếp. Thì vật chất cũng vậy, vật chất là không có gì hết
[2:17:06]mà chỉ là những cái xoắn động của cái chất của vũ trụ. Cái gì đó, cái chất gì của cuối cùng của vũ trụ, bản chất của vũ trụ đó, chúng ta chưa có tên, nó xoắn lên thì nó biến thành cái hạt liền, thành cái hạt ban đầu. Và nhiều cái cách xoắn thành ra nhiều hạt khác nhau, thành ra vật chất. Nếu khoa học ngày nào đó tìm lại được cái bản chất cuối cùng của vật chất không phải là một cái hạt gì nữa, mà chỉ là sự xoắn động thôi, sự xoáy động thôi. Mà cái sự xoáy động nó cực kỳ nhỏ, nếu nó yên tĩnh lại một chút thì nó nhỏ vô cùng, phải không? Nhỏ vô cùng. Mà một cái điểm nhỏ nhất của cái sự xoáy động đó,
[2:17:41]điều chúng ta bất ngờ nhất là nó chính là toàn thể vũ trụ luôn, không còn khái niệm nhỏ lớn nữa. Nghĩa là một cái nhỏ nhất của vật chất khi tìm được thì nó cũng chính là toàn thể vũ trụ, chứ nó không còn có phân biệt kia là nhỏ, đây là lớn nữa. Không còn nghĩ là vũ trụ là mênh mông, vô biên vô hạn, còn cái hạt kia quá nhỏ, quá nhỏ, không, không ngờ là cái nhỏ nhất, nhỏ nhất, nhỏ nhất của vật chất khi mà dừng lắng lại tìm được thì nó cũng chính là một vũ trụ mênh mông luôn, giao thông với nhau luôn. Nên đây là một điểm mà vượt ngoài cái trí tưởng tượng, vượt ngoài ngôn ngữ, vượt ngoài những khái niệm bình
[2:18:13]thường mà khoa học chúng ta vẫn biết được. Mà chúng ta vẫn mong ngày nào đó khoa học sẽ tìm tới đó, thì để cho khoa học cũng biến thành đạo học, là Phật pháp cũng trở thành khoa học chung của nhân loại luôn. Lúc đó loài người sẽ bước lên một cái nền văn minh mới rực rỡ hơn, huy hoàng hơn, thánh thiện hơn, thiêng liêng hơn. Lúc đó khoa học cũng chính là đạo học, mà sợ ngày đó còn rất là xa. Vì chúng ta biết á là các nhà khoa học lúc nào cũng đi tìm tòi cái nguyên tắc của đĩa bay. Không hiểu tại sao đĩa bay họ bay bằng cách nào mà giống như là muốn treo lơ lửng là treo, chứ không giống như mình, muốn treo lơ lửng là phải quạt
[2:18:48]gió quá chừng, thổi bụi bùng bùng bùng bùng mới đứng yên được. Hoặc là mình muốn bay thì phải phun ra đằng sau cái lượng khói thì mới chạy phía trước, còn đĩa bay không, đứng yên nè, mà cần thoắt một cái biến là bay mất liền. Cái nguyên tắc bay giống như là phá vỡ được cái trọng lực hấp dẫn vậy đó. Thì khi nào mà khoa học tìm được tới cái bản chất của vật chất thì sẽ hiểu được bản chất của trọng lượng, thì lúc đó mới hóa giải được cái trọng lượng để mà tạo ra được những đĩa bay tương tự như người ngoài hành tinh. Cho nên nền văn minh của những người ngoài hành tinh họ rất là xa, họ đã đến gần với đạo học rồi.
[2:19:20]Họ đến gần với đạo học họ mới tìm ra được bản chất của trọng lượng, mà tìm được bản chất của trọng lượng là do tìm được bản chất của của vật chất. Mà tìm được bản chất của vật chất không ngờ chính là tìm ra được cái bí ẩn của vũ trụ luôn, bản chất của vũ trụ luôn. Thì người chứng tới Tứ thiền là đi tới chỗ này. Họ ngoài tâm thức nên họ hiểu được vũ trụ, mà mình chưa nói là tâm bung ra khắp vũ trụ. Phật nói thì nhẹ nhàng, nhưng mà bởi vì Tứ thiền là nơi xuất phát của tam minh lục thông. Ví dụ như là vị đó có thể hướng tâm nhớ lại vô lượng kiếp của mình. Nhớ lại vô lượng kiếp, vô lượng kiếp của mình.
[2:19:56]Thì nhớ lại vô lượng kiếp của mình nghe nói thì hay, Phật diễn tả là: Vị đó có thể nhớ lại từng kiếp, trong kiếp đó mình sinh ra bởi cha mẹ nào, tên gì, đã tạo những hạnh nghiệp gì, vân vân, rồi nhớ lui nữa lui nữa xa mãi xa mãi, chúng ta sẽ thắc mắc một câu: Ủa, vậy kiếp ban đầu là gì? Kiếp ban đầu của mỗi chúng sinh là cái gì, phải không? Kiếp ban đầu mỗi chúng sinh là cái gì, rồi để ngày nay chúng ta trôi lăn tới giờ này vô cùng đau khổ? Vô cùng đau khổ. Là kiếp ban đầu đó là gì? Có ai thắc mắc câu đó không? Có ai thắc mắc? Ừ. À, nên ở đây lại là một bí ẩn cuối cùng nữa. Ở đây đó, chỉ có Phật mới biết,
[2:20:34]chỉ có A-la-hán mới biết được cái kiếp ban đầu là gì. Biết mà cũng không nói được luôn. Biết mà cũng không nói được luôn, bởi vì cũng không có ngôn ngữ diễn tả được cái chỗ đó luôn. Thì mình nghe nói vậy mình nói thì nói cũng trớt quớt thì cũng trả lời gì đâu. Hì phải nói cho ngon kìa, phải làm sao Đạo Phật trả lời được cái câu cho rõ ràng: "Kiếp ban đầu là cái gì?" thì tôi mới theo Đạo Phật, chứ còn nói mà đợi tôi chứng rồi tôi mới mới biết thì thôi tôi không theo Đạo Phật. Cái chỗ này nhiều mình cũng phải ức phải không? Phật ngon Phật nói đi, sao Phật cứ giấu. Rồi Phật cũng trả lời, Phật nói:
[2:21:05]"Giống như một người bị mũi tên cắm vô người, mũi tên độc, rồi cái bác sĩ lại đòi nhổ. Cái nói: "Không, phải cho tôi biết cái người bắn tôi tên gì, giai cấp nào, dòng dõi nào, đi học võ ở đâu mà bắn hay như vậy, chứ còn tôi là không ai bắn trúng hết. Ừ. Mà cái tên đó làm bằng cái chất liệu gì, gỗ gì, tẩm thuốc độc gì, vân vân". Thì Đức Phật mới nói: "Chưa tìm được câu trả lời thì thuốc độc ngấm người này chết liền". Thì cũng vậy, cái người mà nói bây giờ phải cho tôi biết cái kiếp ban đầu từ đâu mà tôi trôi lăn tới ngày hôm nay? Mà để hôm nay tôi cứ lang thang mà tới chùa Từ Tân nghe mà ngồi dưới đất khổ quá vậy nè". Nói về như vậy.
[2:21:44]"Phải cho tôi biết tôi mới tu". Thì Phật nói: "Để mà giải thích cho được, hiểu cho được cái kiếp ban đầu đâu, thì đang ngồi chùa Từ Tân đầu già héo, tóc bạc từ từ từ chết chôn luôn, vẫn chưa nghe được câu trả lời. Vẫn chưa hiểu nổi câu trả lời cái kiếp ban đầu ở đâu. Bởi vì cái đó đụng vào chỗ tuyệt đối, đụng vào cái khái niệm của sự tuyệt đối. Cho nên vì vậy mà chúng ta không nói. Mà nói không nói thì cũng giống như không biết, phải không? Nói: "Ồ tại chắc ông không biết chớ mới nói giả bộ nói không nói. Nếu có ngon biết nói đi". Hơ thì Phật lại nói: "Muốn mà cho anh biết được thì anh phải chết trước khi anh hiểu".
[2:22:20]Cứ lẩn quẩn cãi nhau hoài. Nhưng thật ra, cái khởi nguyên ban đầu của luân hồi cũng là một điều rất là bí mật, rất là tuyệt đối, trong đó nó gồm cả hai điều vừa tất nhiên vừa ngẫu nhiên. Ừ. Tất nhiên và ngẫu nhiên. Tất nhiên á là theo nhân quả, ha. Chúng ta gieo nhân này chúng ta phải gặt quả kia. Chúng ta đã tạo những hành nghiệp này nên chúng ta phải tái sinh với cái phước lực giàu sang như thế, đẹp xấu như thế, trí ngu như thế, đó là cái tất nhiên, phải không? Đẹp xấu như thế, trí ngu như thế, đó là cái tất nhiên, phải không? Nhưng mà thật sự sự vận hành của vũ trụ nó còn yếu tố là ngẫu nhiên nữa. Ngẫu nhiên.
[2:22:56]Là chính cái kết hợp giữa ngẫu nhiên và tất nhiên này khởi đầu của luân hồi xuất hiện. Chúng ta nói sơ sơ với nhau thôi chứ cũng không thể nói hết, mà cũng không biết để nói hết, mà cũng không đủ khả năng để hiểu hết. Cho nên là chúng ta tạm dừng lại đây, không đào sâu kiếp ban đầu. Chúng ta chỉ hiểu thế này, người chứng được Tứ thiền có thể hiểu nhớ được vô lượng kiếp của mình. Và vì nhớ được vô lượng kiếp nên thấy được khởi nguyên của luân hồi từ đâu. Bởi vì biết hết, biết mà cũng không nói được. Từ cái Tứ thiền này, vị này có thể có cái thần thông phân một thân ra cả ngàn thân khác nhau. Thì vẫn ngồi ở đây giả vờ nghe pháp nhưng mà cũng có một người
[2:23:38]đang leo lên lầu để mà uống nước, ba bốn người khác, mấy trăm người khác đi ra ngoài đường để mà mà dạo chơi, ví dụ vậy. Thì một thân có thể phân ra cả ngàn thân. Trong cái câu chuyện mà ngài Châu-lợi-bàn-đặc ngài đã khi chứng đạo ngài đã làm điều này. Khi mà ngài chứng đạo thì ngài vẫn còn ở lại cái cái vườn xoài, trong khi Phật và chư Tăng được đi dự trai tăng hết, mời ta đi ăn. Thì Phật biết là ở nhà ngài Châu-lợi-bàn-đặc chứng đạo rồi mới sai một người về mời. Thì ông kia về ổng thấy 1000 ngài Châu-lợi-bàn-đặc làm những công việc khác nhau. Ổng quính lên không biết ai, chạy về hỏi Phật. Đó, rồi sau đó mới mời được ngài, đó là một câu chuyện khác.
[2:24:21]Nhưng đây là một cái thần thông thật sự của một vị mà A-la-hán chứng Tứ thiền. Phật cũng kể là vị này có thể bay lên hư không, có thể chạm tay vào mặt trời, mặt trăng. Có thể chạm tay vào mặt trời, mặt trăng. Có thể đi vào lòng đất, có thể đi xuyên qua vách núi, có thể đi trên mặt nước như đi trên đất liền. Đây là những cái thần thông mà Phật kể rất cụ thể, một người chứng Tứ thiền phải làm được. Cho nên cái năng lực của người tu chứng trong Đạo Phật khủng khiếp lắm, chứ không phải là đơn giản. Tuy nhiên, cái quan trọng nhất của Tứ thiền mà Đức Phật ca ngợi là vị Thánh này mới có thể hiểu được tận cùng bản chất đau khổ của kiếp sống. À.
[2:25:05]Cái điều lạ như vậy, mình cứ tưởng là khi chứng cao nhất rồi vị đó sẽ hiểu cái gì xa xôi, thiêng liêng lắm, không. Khi chứng tột cùng rồi mới thấy kiếp người là đau khổ. Lạ lùng như vậy. Cho nên đó là lý do tại sao mà bài pháp đầu tiên của Đức Phật là Tứ Thánh Đế nói về khổ và nguyên nhân của khổ. Mà Phật xem là trí tuệ quan trọng của Đạo Phật, là một cái chánh kiến chân chính nhất. Còn nếu chúng ta đến với Đạo Phật, chúng ta không có hiểu rõ bản chất đau khổ của kiếp người mà chúng ta chỉ mải đi tìm những lý luận cao siêu, đi tìm những cái thần thông phép lạ là chúng ta không đạt được cái ý chính mà Phật muốn dạy chúng ta.
[2:25:50]Bởi vì Phật nói rất là rõ là dù cho cái vị đó chứng được vô số thần thông nhưng mà cái trí tuệ cao siêu nhất để vị đó chứng được là thấy được cái đau khổ của kiếp người mà Phật gọi là Lậu tận thông. Mà thấy được điều này, chứng được điều này mới xứng đáng được gọi là một vị A-la-hán giải thoát hoàn toàn. Chính Phật cũng gọi mình là một vị A-la-hán, chúng ta nhớ như vậy nha. Cái chữ A-la-hán không phân biệt lắm đâu. Ngày xưa chữ A-la-hán là cao siêu nhất. Ngày hôm nay đó, sau này rồi bắt đầu mới phân biệt, à A-la-hán là mới Thanh văn rồi Bồ tát cao hơn, đó là sau này cách Phật 600 năm sau mới bắt đầu có cái khái niệm như vậy.
[2:26:30]Còn vào thời Đức Phật, A-la-hán là số một. Mà đây là một điều thế này: sau khi nói về các thần thông, Tam minh lục thông, Đức Phật chỉ công nhận một người là thấy được Tứ diệu đế thì người đó được Thánh trí của A-la-hán. Còn nếu có thần thông mà chưa thấy được Tứ diệu đế, nghĩa là chưa thấy được khổ, nguyên nhân của khổ thì người này chưa chứng A-la-hán. Đó, đây là cái định nghĩa rất căn bản. Nghĩa là muốn làm Thánh thì phải có trí. Chúng ta nhớ như vậy. Cái bậc Thánh thấp thì cái trí thấp, bậc Thánh cao thì trí cao, mà bậc Thánh cao nhất thì đạt được cái trí cao nhất chính là cái trí mà hiểu được Tứ diệu đế.
[2:27:13]Đó, đây là cái căn bản cốt tủy của Đạo Phật. Còn ví dụ như chúng ta đến với một vị nào đó mà chúng ta không thấy vị đó có một cái trí tuệ về đạo lý nhiều mà thường hay bày những khả năng này khả năng kia, ví dụ thấy vị đó hát hay, đàn giỏi là không phải, là cái người đó không phải là Thánh. Hoặc là thấy người đó có thần thông, coi bói giỏi, vị đó không phải Thánh. Mà chừng nào vị đó hiểu được bản chất kiếp người là đau khổ thì vị đó mới là Thánh. Ở đây điều này cũng trùng với bên Thiền tông Trung Hoa. Thiền tông Trung Hoa cũng trùng những điểm này cũng rất là thú vị. Giống như là cái câu chuyện công án mà Mã Tổ với Bàng Long Uẩn, ông Bàng Long Uẩn á.
[2:27:58]Thì đầu tiên ông đến với ngài Thạch Đầu, ông hỏi một câu là: "Ai là người mà không có làm bạn với vạn pháp?" Vạn pháp tức là là tương đối. Mà mình không làm bạn với vạn pháp tức là mình thoát ngoài tương đối là đã được cái tuyệt đối. Mấy ông hỏi hay vòng vòng khó hiểu lắm. Thì ngài Thạch Đầu bụm miệng ổng một cái, ổng ngộ đạo liền. Ổng ngộ đầu tiên. Rồi sau này ổng mới đến với Mã Tổ, ổng cũng đem câu đó ổng hỏi lại, ổng muốn xem cái cách mà Mã Tổ trả lời như thế nào. Thì Mã Tổ lại không dùng cái hành động bụm miệng mà Mã Tổ trả lời một câu thú vị. Ông hỏi: "Bạch Hòa thượng, ai là người mà không cùng vạn pháp để làm bạn?" Mã Tổ trả lời:
[2:28:43]"Khi nào ông hớp một ngụm uống cạn sạch dòng nước Tây Giang này ta sẽ trả lời cho ông". Ngay đó ổng đại ngộ liền. Cái đại ngộ lần này trong Thiền tông được xem như là triệt ngộ. Thì chúng ta chưa có có phải cái lúc để chúng ta so sánh cái từng mức triệt ngộ của Thiền tông đối với các quả Thánh mà theo kinh Nguyên thủy. Hôm nay chưa phải lúc mà chúng ta nói chuyện đó. Chúng ta chỉ nói rằng là cái sự khai ngộ của một vị thiền sư đối với đệ tử cũng là đánh thức cái trí tuệ của người đó lên. Mà cái câu nói bí hiểm của ngài Mã Tổ: "Chừng nào ông một ngụm uống cạn sạch dòng nước Tây Giang này ta sẽ trả lời câu đó".
[2:29:23]Cái câu đó không biết có cái ẩn ý gì, vậy mà đã khai ngộ được ngài Mã Tổ. Cái câu này đừng hiểu lầm nha, có người cứ nói rằng à Mã Tổ nói câu đó tức là cái câu này là câu không trả lời được, không phải. Trong cái câu mà "một ngụm uống cạn sạch dòng Tây Giang", trong đó có một đạo lý rất cụ thể, rất rõ ràng chứ không phải là nói lý Không. Câu đó không có nói lý Không. Câu đó không phải nói là: "Điều này không nói được, điều này không nghĩ được", không phải, không phải. Cái câu đó có một đạo lý rất rõ ràng, rất cụ thể, mà ông Bàng Long Uẩn ổng hiểu được cái đạo lý đó, ổng bừng ngộ liền. Tức từ một cái gợi ý đó ổng ngộ đạo.
[2:30:03]Hoặc là một cái công án đơn giản hơn, như là ngài Đại Đồng đến gặp ngài Thúy Vi, ngài Vô Học ở Thúy Vi. Ông mới ngài Đại Đồng mới thưa thế này: "Thưa Bạch Hòa thượng, là khi mà Nhị tổ gặp Sơ tổ Đạt Ma có sở đắc gì?" Thì ngài Thúy Vi trả lời thế này: "Nay ông gặp ta có sở đắc gì?" Ngay kia ngài Đại Đồng bừng ngộ liền.
[2:30:30]Là đạo lý gì mà bừng ngộ?
[2:30:35]Nếu mà ai hiểu được thì cũng ngộ đó. Ai hiểu được không? Mà người nào bừng ngộ là thường ngồi mỉm cười hoặc là reo lên. Mà thấy cười bộ hơi nhiều. Ngày xưa ngài Ca Diếp cũng cười đó, đâu thấy cười quá chừng. Đó, ngày xưa Huệ Khả gặp Đạt Ma có sở đắc gì thì ngài Vô Học Thúy Vi trả lời: "Nay ông gặp ta có sở đắc gì?" Nghe cái bừng ngộ liền. Thì sở đắc gì? Sở đắc gì?
[2:31:07]Thôi, để mọi người tự nghiệm. Chúng ta nhớ thế này: cái định và thần thông chưa đủ điều kiện để tạo thành quả Thánh mà phải có trí, nghe không? Đó. Nhưng mà nếu không có định dày thì có khơi gì khơi không hiểu nổi. Giống như cái câu vừa rồi đó: "Nay ông gặp ta có sở đắc gì?" Nếu mà ngài Đại Đồng chưa có định thì câu đó không hiểu nổi, không ngộ được. Nhưng vì ngài có định nên cái gợi ý nhẹ của ngài Thúy Vi Vô Học, ngài bừng ngộ liền. Còn chúng ta chưa có cái định dày như là ngài Đại Đồng cho nên chúng ta nghe lặp lại công án đó mình không hiểu, chứ nếu mình có định dày có khi nãy giờ reo bừng lên:
[2:31:43]"A, tôi ngộ rồi." Thế ngộ làm sao? Ngộ rồi không có sở đắc gì hết.
[2:31:51]Đó là chúng ta nói qua tứ thiền theo cái Chánh Định cuối cùng trong Bát Chánh Đạo và chúng ta cảnh giác nhau một số điều trong sự tu hành. Thứ nhất, bây giờ không biết mình tu chứng thiền mấy, nghĩa là những cái người mà chúng ta đang trong pháp hội này mình không biết là được sơ thiền hay là sơ sơ thiền. Không mà nhiều người là sơ sơ thiền chứ không phải sơ thiền. Rất nhiều người ở đây nói tu tới đâu rồi, nói: "Dạ, sơ sơ thiền." Nghĩa là sao? Tức là thiền sơ sơ. Thì không biết, thiền gì không biết, nhưng mà nhớ một yếu tố quan trọng là đừng khoe khoang. Đừng khoe khoang với cái người không tu.
[2:32:24]Cho nên mình tu thiền mình phải kín đáo. Mình tu thiền mà đầu làng cuối xóm biết hết thì bảo đảm mình sẽ bỏ tu liền. Là bị tổn phước đó mà trong tâm mình tự nhiên mình chán nản, mình không muốn tu nữa. Phải nhớ như vậy nha. Khi mà mình tự nhiên mình ham thích tu thiền, tức là mình đang cái phước đang phát lên. Đây là điều bí mật của phước. Hễ cái phước mà nó đến với tâm mình tự nhiên mình thích ngồi thiền, còn tự nhiên mình chán, mình muốn bỏ, dãi đãi thì cái phước đi khỏi tâm mình. Mà tại sao cái phước đi khỏi tâm mình? Có nhiều lý do, trong đó có một lý do là mình không kín đáo, mình lỡ nói ra.
[2:32:59]Đó. Mình tu ai biết biết, biết thôi. Có thể là mình vẫn không giữ kín hoàn toàn, sẽ có người biết, nhưng mà họ biết là tại họ biết, chứ còn mình thì không muốn cho ai biết hết, đó là nguyên tắc. Với cái người mà cùng tu với mình thì cũng đừng có bày tỏ kết quả. Nhớ tu tới đâu giấu giùm, giấu cho kỹ, nói ra là mất liền. Đó, đó là những cái nguyên tắc quan trọng. Ví dụ khi mà ngồi thiền chung trong một đạo tràng thì thôi ai ngồi mình cũng ngồi thì không sao. Chứ còn ví dụ mọi người đang làm công quả đi này đi kia, mình kiếm chỗ mình ngồi trên nền trước chánh điện vậy á cho người ta biết tui ngồi thiền nha thì tiêu luôn, không bao giờ tiến được nữa, không bao giờ tiến.
[2:33:37]Cái điều này chúng tôi cũng bị. Chúng tôi nhớ hồi đó chúng tôi đi chùa, đi cái chùa rất lớn ở thành phố mà lúc còn cư sĩ á, đi lang thang vào chùa, đi lên chánh điện, cái đi bước vào chánh điện cái thấy có một vị đó họ ngồi thiền ngay trước chánh điện, cũng cư sĩ, mà mình thì cũng thích ngồi thiền, cái thấy bắt chước, cái lại ngồi sau lưng cái vị đó, bắt chân lên ngồi thiền. Bây giờ nhớ lại mắc cỡ quá chừng luôn, người ta nói cái đó là khoe khoang, hồi đó ngu không biết. Nên mình ngồi thiền cái chỗ ít người thấy. Trong cái quá trình tu hành này á, cái quan trọng là luôn luôn tự tìm cái chỗ dở của mình, không bao giờ được tự khen mình.
[2:34:11]Cái người nào mà trong tâm thầm kín tự khen mình là tự triệt mất cái đường tiến của mình. Nhớ luôn luôn phải tự chê mình. Tự chê mình á là trí tuệ, mà tự khen mình là ngu si, chúng ta nhớ như vậy. Thường á ở các chùa hay thờ Bồ tát Văn Thù cầm cái gươm tượng trưng cho trí tuệ. Vậy đố mọi người chứ ngài cầm gươm ngài chém ai? Ngài chém ai? Hả? Ngài chém chính ngài. Nhớ như vậy. Nghĩa là cái người có trí tuệ mà đạt tới cái đại trí á là luôn luôn tìm được chỗ dở của mình. Đó gọi là sự khôn ngoan đệ nhất. Còn người nào ví dụ mà tu mà tâm được thanh tịnh, được sáng suốt hoặc có thần thông rồi cứ tự khen mình là người đó vẫn ngu si.
[2:35:04]Cho nên cái người khôn ngoan luôn luôn tự chê mình và tự chê âm thầm, không ai biết thì người đó tiếp tục đi tới, tiếp tục đi tới và luôn luôn tự tìm chỗ dở. Nghĩa là bởi vậy chúng ta có cái câu mà chúng ta hay nguyện hàng đêm á: "Xin cho con tỉnh táo, không kiêu mạn, tự hào, dù tu tiến đến đâu, vẫn tự tìm chỗ dở." Đó là câu thần chú để gìn giữ cho những người tu thiền. Là nhớ tu thiền tụng bốn câu đó cho kỹ. Nghĩa là khi mình được thanh tịnh rồi, mình phải nói nghen: "Coi vậy chứ trong sâu thẳm mình vẫn còn phiền động, chưa hết." Rồi ví dụ như tâm được thanh tịnh rồi, thì mình nói: "Coi vậy chứ bí mật mình vẫn còn những cái sân thầm kín,
[2:35:49]những cái tham thầm kín, những cái tham ái, tham dục thầm kín chưa hết. Coi vậy chứ mình vẫn còn cái ích kỷ, hơn thua, đố kỵ, kiêu mạn thầm kín chứ chưa hết." Tức là vẫn phải tự tiếp tục chê mình như vậy thì người này có thể tiến được. Mà tới cái chỗ tam thiền thì phải nhắc mình: "Coi vậy mình vẫn còn chấp ngã vô minh." Nghĩa là vẫn tiếp tục tự tìm chỗ dở để chê thì người này khả dĩ còn tiếp tục tiến bộ. Còn khởi một niệm tự khen mình dù không ai biết thì bắt đầu bị thoái chuyển liền. Đó là lý do tại sao mà có những người ví dụ hôm nay được định qua ngày mai tâm loạn lại, tháng này được định mà tháng sau
[2:36:30]bị loạn lại là bởi vì cứ âm thầm bí mật khen mình. Nên cái khen mình là cái rất tai hại. Mà người khen mình á, ban đầu không ai biết nhưng từ từ mọi người sẽ biết, người ta nhìn cái thái độ kênh kiệu biết liền. Còn cái người nào cứ tự chê mình, tự tâm không ai biết nhưng rồi mọi người biết, người ta nhìn cái thái độ hiền lành, khiêm hạ biết liền. Đây là cái dấu hiệu. Chỉ có một cái điều khó như thế này: mỗi khi có tiến bộ là mình luôn luôn tự khen mình. Ví dụ mình ngồi thiền được lâu giờ hơn, tâm mình rỗng rang hơn là chưa ai biết là mình đã tự khen mình liền, thế là tự mình đã triệt cái phước của mình rồi.
[2:37:09]Bởi vậy, phải nói rằng phải có đại trí, trí tuệ rất cao thì khi mà tâm mình vào được tiến bộ mà vẫn không tự khen mình, vẫn tiếp tục chê mình thì chúng ta gọi đó là người có trí tuệ lớn, gọi là đại trí, mà hình ảnh được tiêu biểu bởi ngài Văn Thù cầm cái gươm, không phải chém ai hết, tự chém chính mình. Nhớ như vậy. Từ đây chúng ta mỗi người phải cầm một cây gươm nha. Cầm cây gươm. Vô chùa mỗi người cầm cây gươm theo.
[2:37:39]Thế là thầy trụ trì trốn sạch, không bao giờ thấy. Thầy trụ trì chạy, chắc tưởng đi cướp bóc ở chùa hay gì á. Nhưng mà mình phải cản lại: "Không, con tự chém mình." Sau Phật thì đạo Phật bắt đầu bị thêm thắt, bị biến thái.
[2:37:58]Cho nên là cái lý thuyết về Tứ Diệu Đế có nhiều người đã coi thường và làm cho cái giá trị cao siêu của đạo Phật bị hiểu uổng lòng hoặc là hiểu bớt đi. Đó là lý do tại sao mà đời sau này ít có người chứng đạt đạo là vì cái Tứ Diệu Đế không được hiểu kỹ. Mà tại sao vậy? Bởi vì sau Phật không hiểu tại sao mà có nhiều người đã thêm thắt và biến thái. Ví dụ như là để khuyến khích cái người tu họ phấn khởi tu hành nên đã tặng cho cái người tu những cái ý niệm thật là tự cao, ví dụ như là: "Kia là Phật và ta đây cũng là Phật." Những câu nói nó rất là tự cao, tưởng là để khuyến khích cho cái người tu phấn khởi mà tu,
[2:38:44]không ngờ giết chết cái thiện căn của người tu bằng cái câu nói: "Ờ kia là Phật, ta đây cũng Phật." Hoặc là nói: "Tâm này là Phật, đừng tìm đâu xa bên ngoài." Những câu nói rất là nguy hiểm. Chúng ta thấy rõ ràng tu á thì tâm là con đường để đi, nhưng mà ngày nào còn ở trong tâm thì ngày đó còn bản ngã, phải không? Tới tứ thiền thoát khỏi tâm mới hết bản ngã. Cho nên mà nói tâm này là Phật là một cách nói rất là oan uổng. Phật nào mà ở chung với bản ngã được, phải không? Còn tâm là còn bản ngã, chừng nào thoát hết tâm rồi mới hết bản ngã. Nhưng mà vì có nghĩa là các ngài nhiệt tình muốn cho cái người tu phấn khởi,
[2:39:26]không ngờ cho họ liều thuốc độc, giết chết cái thiện căn họ từ từ. Còn ở đây chúng ta đi đúng con đường của Phật thì phải thấy đời là khổ, tâm này là phiền não, vậy á mà từ từ tiến tới. Hoặc là cái ý niệm về Tịnh Độ cũng vậy. Thật ra các tổ sư khi mà xiển dương pháp môn Tịnh Độ là bởi vì vào cái thời đó người ta chưa có biết cái giáo lý đạo Phật cao siêu. Cho nên các ngài mới dạy rằng có một vị Phật đã phát câu lời nguyện: "Ai niệm danh hiệu ngài thì chết được sinh về cõi của ngài để tu tiếp." Tu tiếp chứ có phải là tu chứng đâu, tu tiếp. Cho nên Tịnh Độ chỉ là một trung gian mà lúc đó là để giúp cho những người
[2:40:11]họ không có thời gian để tìm hiểu đạo lý cao siêu của đạo Phật. Ví dụ như là chúng ta nghe cái Tứ Thánh Đế của Phật, chúng ta nghe bao nhiêu tháng rồi? Mấy tháng? 15 tháng, phải không? Đây là bài thứ 15, chúng ta nghe 15 tháng thì rườm rà như vậy, rắc rối như vậy thì có nhiều người không có thời gian. Cho nên nhiều vị tổ sư từ bi, thương những cái người đó cho nên cho họ một câu niệm Phật, một cái ước nguyện về cõi Tịnh Độ để họ dễ tu rồi họ gắn bó với đạo Phật. Thì có khi kiếp này hoặc là kiếp sau nhờ cái duyên đó bắt đầu họ mới đủ sức để họ nghe Tứ Diệu Đế một cách phức tạp như thế này. Còn chúng ta đời nay thì chúng ta may mắn là mình đến với
[2:40:53]đạo Phật là mình có đủ trí tuệ để nghe được Tứ Diệu Đế. Vì vậy mình hiểu ngay cái bản chất, cái gốc yếu chỉ của Phật giáo, chứ không còn phải đi qua trung gian vòng vòng. Đó. Tuy nhiên là có nhiều khi là bây giờ chúng ta không hiểu thấu tiếng của vị tổ sư là cái ý niệm về Tịnh độ như là một trung gian mà chúng ta nâng cao lên thành một cứu cánh. Tức là, tôi không làm gì hết, không có mục đích gì khác, mà chỉ nhắm cái mục đích là sinh về cõi Tịnh độ. Thì không ngờ là cái trung gian của chư tổ đặt ra, mình đã biến nó thành cứu cánh, và như vậy cũng không phải là cái bản ý sâu xa của Phật. Đó là chúng ta nói là sau Phật,
[2:41:37]bắt đầu đạo Phật có những cái thêm thắt, những biến thái. Những thêm thắt, biến thái đó là cái tùy duyên, tùy hoàn cảnh mà các vị tổ lập ra để độ người, nhưng mà cuối cùng vẫn là Tứ Diệu Đế. Ngày nào mà chúng ta hiểu được sâu sắc Tứ Diệu Đế, chúng ta thông đạt Tứ Diệu Đế, chúng ta thực hành được Bát Chánh Đạo thì ngày đó chúng ta mới thực sự đặt chân trên con đường chân chính của của Phật đạo. Còn nếu chúng ta chưa hiểu được sâu xa Tứ Diệu Đế, chúng ta còn đi qua bên tông này tông kia, thì chúng ta vẫn đang là đi trên những cái phương tiện tạm thời mà chư tổ lập ra, chứ chưa phải đi vào cốt tủy của đạo Phật.
[2:42:19]Cốt tủy của đạo Phật là Tứ Diệu Đế, chúng ta nhớ như vậy. Mà có nhiều vị này, sau này cái đạo Phật biến thái quá đến độ mà cái tiến trình mà tu tập chánh niệm nè, diệt trừ năm triền cái nè, cái chứng ngộ của Tứ Thiền không được xem trọng, thậm chí bài xích nữa. Rồi có người còn chê Tứ Thiền là phàm phu nữa. Đâu có biết Tứ Thiền quá vĩ đại, chúng ta phân tích với nhau thấy quá vĩ đại. Mà sau này do không biết, chê bai, chê chánh niệm, chê năm, phá năm triền cái, chê Tứ Thiền, đó là do người sau này là không hiểu được cái vĩ đại của đạo Phật, cái vĩ đại của trí tuệ Phật, cái sâu xa trong cái yếu chỉ của Tứ Diệu Đế, nên ta bài xích một cách dễ dàng.
[2:43:01]Nên chúng ta nhớ một điều trong kinh Tứ Thập Nhị Chương có câu thế này: là đừng tin ý của ông, chừng nào ông chứng A La Hán hãy tin ý của ông. Là vì sao vậy? Vì chưa chứng A La Hán thì tà kiến vẫn còn. Chúng ta vẫn còn hiểu sai về nhân sinh, về vũ trụ, về đạo lý, cho nên đừng có tin cái ý của mình. Còn ngày nay chúng ta quên mất cái câu dặn dò đó, nên chúng ta dễ dàng tin cái ý của mình. Mình nghĩ ra cái gì cái mình cứ cho là đúng, và nhiều khi cái điều mình nghĩ không có phù hợp, không có ăn khớp, không có tương thích với lời của Phật dạy cách đây 2500 năm. Mà chúng ta cứ cho mình là chân lý,
[2:43:41]thậm chí là chê dần, chê dần cái lời dạy của Phật, muốn lập ra một cái đạo lý nó đặc biệt hơn, không ngờ lại là đi sai cái chân lý lẽ phải. Nên vì vậy, chúng ta trở lại cái câu trong Tứ Thập Nhị Chương mà Phật nói: đừng tin ý ông, chừng nào ông chứng A La Hán hãy tin ý ông. Do đó, chúng ta mãi mãi khiêm tốn đi theo con đường của Phật, đi theo con đường Bát Chánh Đạo để mà thâm nhập được Tứ Diệu Đế. Bây giờ chúng ta giới thiệu về năm cái định mà tương đương những vị thánh họ chứng được. Thứ nhất là Không Vô Biên Xứ định. Không Vô Biên Xứ định là trạng thái nó giống như Sơ thiền nhưng mà thay vì Sơ thiền các ngài an trú nơi thân mình để quán,
[2:44:22]thì Không Vô Biên Xứ định ngược lại các ngài tung cái tâm mình ra. Cho nên thấy cái tâm nó rộng ra khắp nơi là như là hư không khắp nơi, đây là Không Vô Biên Xứ định.
[2:44:35]Còn cái thứ hai đó là Thức Vô Biên Xứ định. Thức Vô Biên Xứ định thì tương đương với Nhị thiền, thì cái người mà phóng cái tâm mình ra, trải rộng ra thì thấy cái biết nó trùm khắp trời đất. Là không phải chỉ có tâm mình mới biết mà cây cũng biết, hư không cũng biết, mây trôi, côn trùng cũng có cái biết trong đó nữa, nên gọi là Thức Vô Biên Xứ định, mà tâm trùm ra. Kế đến là Vô Sở Hữu Xứ định, là an trú trong cái định này, các ngài thấy cả trời đất, cả vũ trụ này không có một vật gì hết. Vô Sở Hữu Xứ định, không có một vật gì hết. À tuy là thấy nước non, sông ngòi đó mà lâu đài, đền các vậy đó, mà sự thực như là không có gì cả, khắp nơi khắp nơi.
[2:45:16]Cái định thứ tư là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ định. Ở trong cái định này á thì thấy khắp đất trời này như là có tâm thức của cái biết mà như là vô tri, bởi vì quá tịch lặng. Cái tịch lặng này như là vô tri nhưng mà vẫn như có tâm thức, cho nên gọi là phi tưởng mà phi phi tưởng. Cả hai cái trạng thái cùng lúc mà mình không dùng ngôn ngữ để diễn tả được, là trong đó chỉ cảm nhận thôi, vừa như thế này mà vừa như thế kia, vừa như có tâm mà vừa như không có tâm thức nữa, bởi vì quá tịch lặng, là như vậy. Cái cảnh giới này mà chúng ta nghe các thiền sư hay diễn tả đó là: à gái đá đứng múa, thạch nữ mà đứng múa, là người gỗ xem hoa, là vậy.
[2:46:00]Cái người gỗ xem hoa, cái người gỗ có tâm không? Không, nhưng mà vẫn xem hoa. Thì cái người tu đến mức độ không còn tâm thức nữa, tâm thanh tịnh giống như là người gỗ vậy đó, nhưng mà vẫn xem hoa, vẫn múa. Như vậy, thì cái nói tương tự thôi chứ cũng không hẳn, còn cảnh giới Phi Phi Tưởng là vậy đó, là cả cái thế gian này, đất trời này như có tâm mà như không có tâm. Và cái định cuối cùng là cái định của Niết Bàn là Diệt Tận định, là dừng hơi thở. Cái thân ngồi lúc đó đừng có cái gì xâm phạm được, lửa đốt không cháy, dao chém không đứt, đạn bắn không thủng. Đó, là cái người mà nhập cái Diệt Tận định này.
[2:46:38]Trong cái kinh ngày xưa Phật có kể một vị tỳ kheo nhập Diệt Tận định lâu quá, ngồi lâu quá, nên cái người tiều phu họ đi qua đi lại mấy ngày họ thấy cứ ngồi hoài, họ tưởng đâu chết, họ lấy củi họ chất lại họ đốt để thiêu, thiêu cái vị sư. Thiêu rồi bỏ đi. Tới chừng mà lửa tàn, ngài hết duyên nhập định ngài tới chừng ngài xuất định ra, cái ngài mới thấy chung quanh toàn tro. Mà cái áo của ngài xém xém mà không cháy nè, vì cái định nó bảo vệ được cái y của ngài, còn thân thì không hề hấn gì hết. Cái ngài xuất định ngài đi ra ngoài tiếp. Tới chừng mà mấy vị tiều phu mới nhìn cái mặt ngài ú ớ: "Ủa, thiêu ổng ở trong kia mà sao thấy ổng đi khất thực ngoài này?"
[2:47:12]Câu chuyện, có câu chuyện trong kinh như vậy, nên chúng ta thấy Diệt Tận định là như vậy á, lửa đốt không cháy, dao chặt không đứt. Mà đây là cái định của Niết Bàn. Cái người mà nhập Diệt Tận định là họ vào trong Niết Bàn. Mà vào trong Niết Bàn không phải là mất nha. Họ vào trong Niết Bàn thì họ biết toàn thể vũ trụ, chuyện gì cũng biết hết trơn, chuyện gì cũng biết hết trơn, nhưng mà rất là tịch lặng, rất là tịch lặng. Thì chúng ta giới thiệu về năm lớp định thôi, chứ ở đây chả ai chứng triết gì đâu. Nghe, nghe để chúng ta hiểu được cái vĩ đại của đạo Phật là như vậy ha. Chúng ta tổng kết lại với nhau một số điều
[2:47:48]là Tứ Diệu Đế là chân lý, là trí tuệ của Phật. Chúng ta phải hiểu điều này, bởi vì đây là bài giảng đầu tiên của Đức Phật. Chúng ta nhớ không, khi mà ngài chứng đạo, ngài mới nhớ lại hai vị thầy mà mình đã học, ngài muốn độ, nhưng mà sau đó ngài biết là hai vị đó đã tịch, rồi ngài mới nhớ tới năm anh em Kiều Trần Như mà đã chịu cực chịu khổ với ngài trong nhiều cái tháng năm khổ hạnh, nên ngài mới tìm đến độ. Mà ở đây chúng ta thấy là năm anh em bỏ đi thì đâu có cho Phật biết là sẽ đi đâu, nhưng mà Phật biết, Phật đi tới nơi, tới ngay chóc luôn. Đó, một chút trí tuệ, một chút thần thông đó, là ngài lặng lẽ ngài đi, mà băng qua nhiều sông, qua nhiều suối.
[2:48:33]Bỏ đi băng qua nhiều sông nhiều suối tới cái vườn Lộc Uyển, vườn Nai á. Trong cái suốt thời gian mà Đức Phật giáo hóa, có một điều thế này: là thời đó ở Ấn Độ rất ít ghe thuyền. Sông nước mênh mông như sông Hằng, sông này sông kia vậy đó, nhưng mà không có ghe thuyền nhiều. Cái người mà họ đi qua đi lại trên sông rất là khó. Những khúc sông mà chảy xiết là chịu thua, hiếm khi nào mà có thuyền mới đi qua. Họ thường á còn ở dưới vùng mà vùng sông cạn thì họ lội lấp xấp lấp xấp đi qua. Những người có ngựa, có voi thì lội ngang chỗ sông cạn cạn đi qua, còn khúc sông lớn, sông sâu thì chịu thua, rất khó qua lại được,
[2:49:12]mà chỉ có những người giàu có họ đi ghe, đi thuyền mới được. Riêng Đức Phật, ngài đi du hành cả một cái vùng lớn từ cái vùng Trung Ấn Độ tới cả cái vùng Đông Bắc Ấn Độ, ngài đi qua rất nhiều sông suối và chỉ đi bằng thần thông thôi. Đức Phật không đi thuyền. Ngài đi từng bước chân bình thường, nhưng mà tới mé sông này biến mất, hiện ra bờ sông bên kia đi tiếp, cũng thong thả như vậy, không có gì cố gắng. Và trong thời đó, những vị tỳ kheo đi theo Đức Phật đều như vậy hết, bay qua hết, mà không phải là bay như là con chim cất lên rồi đáp xuống, biến mất bên này hiện bên kia liền trong chớp mắt.
[2:49:45]Thì cũng vậy, cái ngày đầu tiên mà Đức Phật đi tìm năm anh em Kiều Trần Như cũng vậy, ngài không có đi nhiều ngày đâu. Ngài biết chỗ rồi, ngài biến mất, ngài vượt qua, ngài đến nơi đó liền, nhưng mà ngài không hiện ngay giữa, ngài hiện ra ngay ở xa xa giống như ngài đi bộ từ lâu tới rồi đó. Tức là năm anh em ngẩng lên nhìn thấy Phật đi bộ từ từ đi tới, đâu biết là ngài vừa mới biến mất ở chỗ Bồ Đề Đạo Tràng và ngài vừa mới hiện ra đầu đường. Nè, từ từ đi tới. Nên không hề có cái thời gian mà ngài đi bộ từ Bồ Đề Đạo Tràng tới vườn Lộc Uyển, không có thời gian đó. Ngài biến mất một cái hiện ra đó liền,
[2:50:16]nhưng mà ngài không muốn khoe thần thông, nên ngài không hiện ra ngay giữa mà hiện xa xa đầu đường rồi mới từ từ đi bộ vào, đó. Thì cái bài giảng đầu tiên này như là một tuyên ngôn của đạo Phật. Chúng ta nhớ, bài giảng này rất quan trọng, là một tuyên ngôn của đạo Phật. Mà cái gì đã là tuyên ngôn, thì cái đó là một cái văn bản căn bản nhất mà chúng ta phải y cứ, chúng ta phải y cứ, phải dựa vào nếu chúng ta muốn nói vô số điều khác. Không bao giờ chúng ta được quyền nói điều gì đi sai với cái tuyên ngôn của mình, đó. Ví dụ như một nước độc lập thì có cái tuyên ngôn độc lập, hay là như cái hiến pháp vân vân.
[2:50:53]Thì cũng vậy, toàn bộ giáo lý của đạo Phật đều phải dựa lên trên cái tuyên ngôn đầu tiên của Phật là Tứ Diệu Đế. Mà cái tuyên ngôn đầu tiên này là đối diện với bản chất của cuộc sống để tìm cách vượt ra khỏi cái điều đó. Mà cái bản chất của cuộc sống, Phật nói là đau khổ. Đây là một điều rất lạ, bởi vậy có nhiều người không hiểu, nói rằng đạo Phật bi quan, bởi vì chưa chi không nói đời vui, đời sướng mà nói đời khổ. Đâu ngờ rằng chính cái người mà dám đối diện với bản chất đau khổ của cuộc đời, đó mới là người vừa khôn ngoan mà vừa vừa can đảm. Vừa khôn ngoan, vừa can đảm. Là ví dụ thế này. Chúng ta ví dụ như có một cái gia đình có con cái
[2:51:38]thì nó cũng đi học, đôi khi nó xin vắng nhà, lâu lâu thấy nó về nhà nó rũ rượi, nó rã rời. Rồi hỏi: "Con đi đâu mệt vậy con?", nói: "Con đi đá banh mệt quá", rồi nó vô phòng đóng cửa ngủ luôn. Hoặc là bữa về cái thấy cái cái hơi có mùi rượu, nói: "Con có uống rượu không?", nó nói: "Dạ không, mấy đứa bạn mời, ép con quá, con nhấp miệng chút xíu rồi con bỏ về." Rồi có nhiều đêm nó vắng nhà thâu đêm không báo. Cái nói: "Con đi đâu mà vắng vậy con?", nói: "Dạ tại con thấy con bạn con nó bị bệnh tội nghiệp quá, không ai coi, con ở lại con coi, con chăm chút." Thì có một người mới đến nói với cái người cha:
[2:52:14]"Anh coi lại, tôi thấy con anh bắt đầu có dấu hiệu sa đọa." Là cái người cha: "Không, không có đâu. Con tôi nó ngoan lắm, nó đi học đàng hoàng, nó tốt, có gì đâu." Thì chúng ta thấy người cha đó khôn hay không khôn? Không khôn. Có can đảm không? Cũng không can đảm. Là không dám đối diện với cái thực trạng của mình để tìm cách sửa, để dạy con mình mà che lấp đi, không dám đối diện. Bây giờ mà nói con mình nó đã đi hút sì ke về, nó nhậu nhẹt về, nó đi chơi sa đọa trác táng cả đêm về thì không dám, không dám đối diện, kinh khủng quá. Thôi tự mình dối mình, che đậy luôn: "Ờ thôi, con mình chắc nó cũng còn đi học đàng hoàng đâu đó."
[2:52:51]Nên đó là cái thái độ của một người vừa không khôn ngoan, vừa không can đảm. Còn cái người mà vừa khôn ngoan, vừa can đảm là con mình mà nó dã dượi cái rồi cho đi thử tiểu liền. Thử coi có heroin trong máu, trong nước tiểu không. Can đảm, mà can đảm chấp nhận con mình có hư để dạy nó, để sửa nó. Mà phải dám biết con mình có hư hay không thì mới có thể sửa dạy đúng mức được. Còn nếu che lấp, tự dối mình để cho mình khỏe, để đừng có buồn, đừng có thất vọng vì con thì nó sẽ một ngày nó hư còn khủng khiếp hơn nữa. Mà có một ngày có những người con dám giết cha mẹ mình để lấy tiền hút heroin luôn, chuyện đó vẫn đã xảy ra.
[2:53:29]Cho nên trong cái thái độ mà đạo Phật dám nói cuộc đời là đau khổ là một cái thái độ vừa trí tuệ, vừa khôn ngoan mà vừa ít có một cái triết gia nào, một tôn giáo nào dám nói thẳng như vậy. Cho nên cái đó, cái người khôn ngoan và can đảm thì người đó không hề bi quan. Mà người đó là con người đủ phương pháp và đủ sức mạnh, đủ khéo léo để vượt qua cái đời sống đó để tìm cho chúng ta một cái chân trời mới, cái an vui và hạnh phúc thật sự. Cái người mà dám nói cuộc đời là đau khổ, một ngày nào đó mà người đó nói đây là hạnh phúc thì cái hạnh phúc đó sẽ là hạnh phúc thật sự, đó sẽ là hạnh phúc vĩnh hằng.
[2:54:12]Còn người nào mà chưa dám nói cuộc đời này là đau khổ mà người đó đã vội giới thiệu về một hạnh phúc nào đó thì chúng ta phải hiểu hạnh phúc đó cũng tiếp tục mong manh và tạm bợ mà thôi, phải không? Cho nên cái bài giáo lý đầu tiên mà Đức Phật nói về đau khổ thì chúng ta phải hiểu nó hứa hẹn trong đạo Phật cho chúng ta một niềm hạnh phúc vĩ đại, chân thật, vĩnh hằng. Đó, cho nên không được nói Tứ Diệu Đế là bi quan, mà phải nói là một giáo lý vừa can đảm, vừa trí tuệ mà vừa tràn đầy hy vọng. Mọi giáo lý trong đạo Phật đều xuất phát từ Tứ Diệu Đế, chúng ta nhớ. Sau này chúng ta có học vô số bài kinh, chúng ta có học Lăng Nghiêm,
[2:54:55]Viên Giác, Hoa Nghiêm, Đại Thừa, Tiểu Thừa gì không biết nhưng mà nhớ đều phải xuất phát từ Tứ Diệu Đế. Nếu mà có một giáo lý nào mà đem so với Tứ Diệu Đế sai, chúng ta phải cắt bỏ cái đoạn đó đi. Bất cứ một giáo lý nào cũng vậy, chỉ có những giáo lý nào mà phù hợp với Tứ Diệu Đế, chúng ta giữ lại. Có thể nói dài hơn Tứ Diệu Đế, được, nhưng phải phù hợp với Tứ Diệu Đế thì đó mới là đạo Phật. Còn nếu cái giáo lý đó dài nhưng mà đem so lại không phù hợp với Tứ Diệu Đế, chúng ta phải cắt để qua một bên, xét lại bởi vì coi chừng đó không phải không phải đạo Phật. Hoặc cái phương pháp tu hành cũng vậy, dù có thể nói ra thiên kinh vạn quyển nhưng
[2:55:35]nếu so sánh mà không ăn khớp với Bát Chánh Đạo, chúng ta cắt bỏ để qua một bên. Chỉ có phương pháp nào mà ăn khớp với Bát Chánh Đạo đi từ cái Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định thì chúng ta giữ lại, đó là phương pháp tu hành chân chính trong đạo Phật, nhớ như vậy. Cho nên người đệ tử Phật từ hôm nay chúng ta phải cảnh giác về điều này. Chúng ta tìm về đạo Phật chân chính, không bị những cái thêu thắt, biến phái tà ý rớt vào là chúng ta dựa vào Tứ Diệu Đế. Phật đã gia hộ cho chúng ta đi suôn qua hết 15 bài Tứ Thánh Đế này để cho chúng ta dựng lại được những gì đã bị quăng ngã
[2:56:13]và những đem đèn sáng vào trong bóng tối để chúng ta cùng thấy với nhau. Đây là một điều may mắn. Chúng ta cũng tạ ơn Đức Phật gia hộ cho chúng ta đi suôn hết được cái loạt bài Tứ Thánh Đế này. Mà đây là điều rất là quan trọng. Chỉ có chúng ta không hiểu hết thôi, chứ giờ nguyên thủy hay Đại Thừa gì cũng không ra khỏi Tứ Diệu Đế, chúng ta nhớ điều đó. Chúng ta cẩn thận với một cái câu trong Bát Nhã Tâm Kinh mà các chùa Bắc tông hay tụng, trong đó có câu là: "Vô khổ, tập, diệt, đạo", chúng ta nhớ. Đừng nghĩ là câu đó bác Tứ Diệu Đế nha, ý nghĩa nó khác hơn. Chúng ta hẹn một lần đó chúng ta sẽ giảng về cái bài Tâm kinh.
[2:56:53]Bài "Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách", lúc nào đó chúng ta sẽ bàn với nhau về bài Tâm kinh. Nhưng mà bây giờ chưa bàn, chúng ta cẩn thận cái câu "Vô khổ, tập, diệt, đạo", đừng nghĩ là bác Tứ Diệu Đế. Thì chúng ta có một bài thơ, chúng ta có bài thơ để cùng nhau ca ngợi về Tứ Diệu Đế này. Đây là thơ, thơ... thơ con cóc, thơ con cóc.
[2:57:22]Con quỳ xuống lòng đầy thương kính Phật Đã tuyên dương bốn sự thật diệu kỳ Vén màn sương giữa biển khổ sầu ly Thắp ánh sáng cho người đi tăm tối. Đời chìm đắm trong rừng hoa tội lỗi Người quên nguồn, quên nguồn cội tâm linh Biết bao lần theo dòng xoáy tử sinh Để cúi mặt cùng vô minh đau khổ. Một buổi sáng đầu mùa xuân Ấn Độ Nơi khu rừng nhiều nai thỏ tung tăng Với pháp âm như sóng biển triều dâng Phật mở đầu bằng bốn chân lý mới. Như tia nắng đầu tiên vừa soi tới Cho trần gian đang đón đợi bình minh Đêm vỡ tan, trời đất hiện bóng hình Người ngẩng mặt biết rằng tình thương đến. Rồi từ đó người cho người yêu mến Sông cho thuyền những bờ bến an vui
[2:58:16]Rừng cho cây những hoa trái xinh tươi Môi cho mắt nhiều nụ cười rạng rỡ. Rồi từ đó người nghe lòng khai mở Ngồi lặng yên theo hơi thở thong dong Thân và tâm hòa trong cõi hư không Thoát ngã chấp để sống cùng vạn hữu. Ôi lời nói biết bao giờ cho đủ Để ngợi ca đấng Từ Phụ phi thường Đã tặng đời đầy trí tuệ yêu thương Mở chân lý bằng con đường bát chánh. Con quỳ xuống niềm thiết tha tôn kính Lòng dặn lòng theo nẻo chánh đường ngay Nguyện đời đời cùng chung sức đắp xây Cho thế giới sẽ có ngày rực sáng. Nam
[2:59:11]Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[2:59:30]Và hôm nay chuông gióng xa gần vui mừng, ngày chư tăng mãn thất an cư khắp cùng.
[2:59:43]Hoa muôn đóa trên tay ngát hân hoan rạng rỡ, yêu thương sánh màu y vàng.
[2:59:57]Và ngàn nơi với những ưu phiền oán sầu, nhẹ nhàng theo chuông khánh vang vang tiếng cầu. Hương đăng tiếp nhau dâng về Đức Thế Tôn, hồi tưởng công hạnh của Đấng Pháp Vương.
[3:00:22]Xưa kia Đức Mục Kiền Liên chí tâm, cứu thân mẹ nơi hỏa ngục, đã nương lực chư thánh tăng. Hôm nay vì thân quyến chốn đọa đày, quỳ xin đảnh lễ các ngài, cầu thoát khỏi luân hồi từ đây.
[3:00:50]Mùa Vu Lan đã đến nơi rồi hỡi người! Dù phương nào xin hãy nhớ nguồn nhớ cội. Ơn sinh dưỡng ví như biển cát mênh mông, chẳng biết bao giờ đếm được cho cùng.
[3:01:16]Một cành hoa dù trắng hay hồng đã cài, đều mang theo hình bóng thân yêu của mẹ.
[3:01:29]Rưng rưng chắp tay phát nguyện trước Như Lai, lòng hiếu muôn đời dẫu không đổi thay.