Lời giảng: Định Nghĩa Về Thiền

  • Thuyết giảng: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Thời lượng: 1:41:18

Toàn văn lời giảng, chép từ phụ đề. Bấm vào mốc thời gian để nghe đúng đoạn đó.

[0:01]A Di Đà Phật. Định nghĩa về thiền: việc làm an định nội tâm. Nếu định nghĩa thiền là một công việc làm an định nội tâm thì thiền là một động từ, đó là một sự thực hành, sự tu tập của nội tâm, không mang ý nghĩa hành động của thân thể bên ngoài. Nếu có những phương pháp kết hợp việc tu tập nội tâm với các động tác của cơ thể thì các động tác đó cũng chỉ là phụ. Việc thực hành bên trong nội tâm mới là điểm chính yếu. Ví dụ như kinh hành, trà đạo, cung đạo. Khi nói rằng thiền trong nội trong mọi oai nghi thì mọi hoàn cảnh có nghĩa là luôn cố gắng làm cho tâm được thanh tịnh. Trong khi đang làm việc hay đang giải quyết công việc bên

[0:52]ngoài, hành giả phải giống như chia tâm ra làm hai: một dành để giải quyết công việc, một dành để kiểm soát tâm. Tuy cực khổ nhưng công đức tu hành như vậy rất lớn.

[1:24]Nam Mô A Di Đà Phật. Kính bạch trên thầy và chư huynh đệ trong lớp cùng toàn thể Phật tử. Dạ. Theo con thì trong sự tu tập

[1:45]và trong cái sự tu tập đó mình phải luôn luôn chánh niệm

[1:55]trong mọi công việc làm cũng như học tập và

[2:02]ngủ nghỉ, vân vân. Thì mình đều phải chánh niệm. Trong khi làm những cái tác động, những cái ngoại cảnh

[2:16]cũng có khi là làm cho mình không chủ động được, nhưng mà mình luôn luôn cố gắng, lúc nào cũng phải chánh niệm

[2:28]trước những cái sinh hoạt của mình.

[2:33]Và để tăng trưởng những cái

[2:40]tăng trưởng cái trí huệ. Và mình phải luôn luôn là trước tiên mình làm có chánh niệm và làm luôn luôn có lợi ích cho mình và tất cả những người xung quanh. Làm thế nào đó để cho Thôi được rồi, được rồi. Nói, nói này tóm tắt được những cái ý mà vừa nghe qua đó. Rồi đổi qua người khác đi, một người nói ngắn gọn thôi, đừng có dài nữa. Chỉ định người khác nói tiếp, làm thật lẹ, thật nhanh. A Di Đà Phật, con xin mời An Tấn phát biểu ý kiến.

[3:19]Tập trí nhớ nha, tập nghe nói xong rồi nắm bao nhiêu ý đi. Phải tập như vậy. Nam Mô A Di Đà Phật.

[3:30]Thiền được định nghĩa như động từ, nếu như thiền áp dụng an định nội để an định nội tâm.

[3:40]Từ nếu ngoài tâm ra mà tất cả các hành động khác thì chỉ là phụ thôi. Ví dụ như là trà đạo thì uống trà trong thiền hay là tất cả các việc khác cũng đều là phụ. Như vậy, thiền chủ đích để an định trong nội tâm và hầu như được phân ra làm hai tâm: một là kiểm soát hành động và hai là kiểm soát tâm mình. Tuy rất cực nhưng đây là một quá trình bước đầu không thể thiếu. Nghe nắm ý vậy là tốt, mặc dù hơi trật chút xíu nhưng mà như vậy là nắm gần hết, được, tốt. Người khác khó hơn. A Di Đà Phật, con xin thỉnh sư huynh Thiện Quang.

[4:37]Nam Mô A Di Đà Phật. Kính bạch thầy, thiền là một pháp môn tu rất cần thiết đối với người tu hành. Định nghĩa về thiền, thiền là

[4:53]là một sự việc an định nội tâm là chủ yếu. Nói như vậy, nó như là một động từ.

[5:04]Việc chính yếu là thực hành nội tâm. Thiền thì thực hành đối với người tu thì ở trong bốn oai nghi: đi, đứng, nằm, ngồi đều thể hiện

[5:19]một người hành thiền. Thiền thì rất cực. Trong công việc thì chia ra làm hai tâm, tâm coi như là chia ra làm hai: một là giải quyết công việc, hai là để kiểm soát tâm. Nếu chúng ta không kiểm soát tâm thì làm việc nó không có chính xác.

[5:48]Nếu một người nào đó mà tu hành thiền đến đỉnh giới cao thì làm việc rất là chính xác. Như trong việc bắn cung, nếu ta phân tâm thì bắn không chính xác, nếu ta định tâm được thì bắn đâu trúng đó. Dạ, xin hết á.

[6:24]Còn cái micro nữa, được. Thật ra tới năm thứ ba, thứ tư á thì mới học như vầy, mà tại hôm nay tôi bệnh, tôi không có nói được.

[6:36]Nếu có duyên thuận tiện mà tôi dạy được suốt bốn năm thì năm thứ ba, thứ tư tôi sẽ dạy về môn phương pháp diễn giảng. Thì tới những năm đó là ở dưới mấy thầy phát biểu, tôi chỉ gợi ý chứ tôi không có giảng nhiều. Hôm nay thì bất ngờ học theo lối này cũng phải tập ăn nói cho quen.

[6:58]Tôi sợ mấy thầy khờ hơn mấy khóa trước mà thấy cũng không đến nỗi, vụng vụng, lanh hơn khóa trước nữa. Có, thầy có dặn không á?

[7:16]Tức là tu tâm, tu làm cho tâm an tịnh. Thì nó có hai trường hợp: một trường hợp là có cái cái cái cái cái động động tác cơ thể trợ giúp,

[7:34]trợ giúp cho cái việc mà tu tâm này, hoặc là có trường hợp là công việc

[7:42]làm phân tán.

[7:54]Ví dụ như khi tu nội tâm có những động tác nó trợ giúp thêm cho việc tu tâm á, như chúng ta ngồi bất động cũng là một cái cách để trợ giúp, hoặc khi chúng ta đi kinh hành cũng là trợ giúp, hoặc nghi thức mà uống trà mà người ta có nghi thức tỉ mỉ từng chút từng chút cũng là để trợ giúp cho việc nhiếp tâm, hoặc là việc bắn cung. Việt Nam mình không có, bên Nhật có. Người bắn cung phải tập trung dữ lắm, nên đó là cách để giúp cho nhiếp tâm. Những động tác trợ giúp, nhưng mà có những lúc mà chúng ta không có tu được, chúng ta phải làm nhiều công việc thì công việc nó phân tán cái tâm. Vì lúc đó phải chia tâm làm hai:

[8:34]một là lo công việc, một là lo tu chứ không có được bỏ. Chính cái cố gắng vừa lo công việc mà vẫn giữ tâm á làm cho công đức mình lớn là như vậy. Cái đoạn này cái ý là như vậy đó, ừ. Bây giờ qua cái đoạn thứ hai. Nhớ nha, tập lắng nghe, tay ghi chú mà cái trí ráng nhớ, tập cái trí nhớ.

[8:58]Mà nhớ bằng cái ý Việt Nam còn dễ á. Như mấy cái người mà thông dịch viên á, họ đứng ở giữa, họ nghe hai người nói chuyện, bên đứa người nước ngoài nói 10 phút, 15 phút, họ nắm hết toàn bộ ý, họ dịch qua trở lại hết, không mất chữ nào. Phải tập, mình lớn rồi, khi mình đi học mình phải tập cái đó. Nên khi mình đi làm việc trong cái buổi hội thảo, trong buổi họp, cái người bên kia họ ngồi họ nói một rẹt, mình nắm hết không sót ý nào để mình phân tích, đánh giá, bàn lại. Cái người lớn từ từ phải như vậy. Hồi tôi đi học tôi thì tôi lại không có cái bằng Phật học, tôi không có bằng sơ cấp nữa, nhưng mà tôi chỉ có cái bằng cử nhân Anh văn thôi.

[9:42]Hồi lúc mà học thi tốt nghiệp, mình nhớ phải tập nghe những bản tin tiếng Anh, tập nghe rồi viết lại mà viết không được mất chữ nào mới có điểm. Thì tới cái giờ mà thi tốt nghiệp, tôi nghe đến nỗi mà không mất một dấu chấm, dấu phết nữa. Nghe phải nhớ hết, nhớ từng chữ, từng dấu sờ, xì, tờ tờ nhẹ nhẹ là nghe ra hết, mà nghe phải nhớ, nghe ra rồi phải nhớ, nghe được hết mà không nhớ cũng thua luôn. Nên phải tập cái ghi nhớ. Thí dụ như thầy bây giờ hôm nay là học cái cách đó đó. Đọc tiếp

[10:21]đi.

[10:30]Thứ hai, định nghĩa Thiền là trạng thái của một nội tâm an định. Định nghĩa thứ hai này cho Thiền có ý nghĩa một danh từ. Đó là một trạng thái nội tâm đã thay đổi khác với lúc còn lăng xăng xao động. Tuy nhiên, tùy theo mức độ bớt vọng tưởng mà tâm sẽ có những trạng thái khác nhau. Trạng thái căn bản đầu tiên là chánh niệm tỉnh giác, đó là lúc tâm bắt đầu không còn xao lãng, thường xuyên nhớ được những sự dụng công của mình. Vọng tưởng tuy còn nhưng bị phát hiện ngay từ mới chớm khởi nên không làm mê mờ tâm, không dẫn tâm đi lang thang từ ý nghĩ này sang ý nghĩ khác. Tâm có trạng thái rỗng rang, sáng tỏ, nhẹ nhàng.

[11:24]Càng vào sâu trong Định thì nhiều trạng thái thù thắng xảy ra, tuy nhiên song song với việc lắng yên vọng tưởng thì sức tỉnh giác cũng càng lúc càng mạnh. Không bao giờ Thiền có nghĩa là nội tâm lắng yên và mờ mịt. Thiền luôn luôn phải là vừa không vọng tưởng, vừa tỉnh giác. Đó cũng là lý do tại sao khi bắt đầu tu tập Thiền, chúng ta phải biết toàn thân, biết hơi thở, biết nội tâm. Vọng tưởng được hóa giải, được kiểm soát bởi cái biết chứ không phải bởi sự tránh né hay che lấp. Có người có người đã tránh né vọng tưởng bằng cách nghĩ về một vấn đề nào đó. Có người sẽ che lấp vọng tưởng bằng cách giữ tâm một hình tượng đẹp.

[12:20]Ưu điểm của việc biết rõ vọng tưởng là càng đi sâu ta càng phát hiện những sai lầm trong đạo đức của mình để chỉnh sửa. Những phương pháp tránh né hay che lấp thì không có được ưu điểm này. Để giúp cho cái biết được mạnh và sáng, chúng ta tuyệt đối không bao giờ dằn ép, gồng bộ não, chăm chú quá sức. Chúng ta chỉ cần nhẹ nhàng biết rõ toàn thân thì dần dần cái biết sẽ mạnh lên một cách tự nhiên. Toàn thân chúng ta là một bộ máy đặc biệt, nó sẽ giúp cho sức tỉnh giác mạnh lên khi ta thường xuyên biết rõ toàn thân. A Di Đà Phật, thỉnh thầy An Thông.

[13:10]A Di Đà Phật, kính bạch thầy, kính thưa quý huynh đệ. Thì trong phần này phần đầu thì thiền an định tâm nó có nghĩa như một động từ. Trong phần thứ hai này thì thiền nó chỉ trạng thái của nội tâm, nó mang ý nghĩa của một danh từ. Nó chỉ trạng thái của nội tâm khi an định. Và

[13:41]trong phần này thì tùy theo mức độ bớt vọng tưởng khi chúng ta tiến hành

[13:50]thực tập thì tâm ta nó bớt xao lãng. Mặc dù ở giai đoạn này thì vọng tưởng cũng có nhưng mà sớm kịp phát hiện. Khi càng vào sâu trong thiền định thì tâm lắng yên và vọng tưởng biến mất, nhưng thực tế thì tâm thực sự không lắng yên bởi vì

[14:22]trong lúc này vừa phải

[14:31]giữ cho vọng tưởng không khởi lên

[14:38]và đồng thời chúng ta

[14:42]cũng phải quán tưởng những việc cần thiết và điều đáng lưu ý là chúng ta không được tránh né những vọng tưởng, không phải lo sợ khi vọng tưởng nổi lên và tìm mọi cách để dằn nén cái vọng tưởng đó, và cũng không nên chăm chú quá sức vào việc điều phục thân thể, có nghĩa như là

[15:07]chúng ta gồng cứng tay chân, cơ thể, vân vân. A Di Đà Phật, con xin hết ạ. Đó, cứ nói lưu loát vậy là tốt, mà cứ thiện chí nói, đừng sợ nha, dù mình không nói hết A Di Đà Phật, mời thầy Minh Lảnh.

[15:31]À tôi nhắc lại xíu này. Khi mà tốt nghiệp trung cấp là không biết quý thầy có học thêm được cao đẳng hay cao cấp hay không, nhưng mà phải có được ba năng lực. Thứ nhất là ngồi thiền được một tiếng đồng hồ. Thứ hai là thuyết pháp được một bài pháp hay mà ngắn, không cần dài. Thứ ba là tổ chức được một buổi lễ cho chùa cho đàng hoàng, chu đáo, biết quản lý chùa. Đó, ba khả năng khi tốt nghiệp trung cấp. Giờ thầy nói lại đi. A Di Đà Phật, theo con định nghĩa về Thiền thì Thiền chỉ là một phương pháp,

[16:12]một phương pháp thực tập để kết kết hợp cho làm cho tâm an định thôi.

[16:22]Nhưng nếu muốn được tâm an định thì phải có kết hợp giữa thể dục, sức khỏe, khí công hoặc là yoga gì đó để mà cho nó có một cơ thể dẻo để giúp cho khi tọa thiền không bị đau nhức hoặc là hôn trầm. Và cái kiểm soát tâm thì qua phần chánh niệm thì kiểm soát tâm thì mình phải thường xuyên tỉnh giác, có nghĩa là mình phải dòm ngó và theo dõi nó từ cử chỉ, hành động. Khi mình phải biết tâm khởi lên mình phải biết và biết rất rõ khi đừng để xao lãng.

[17:08]Và được lâu về lâu về dài như vậy thì tâm sẽ đi vào định mà không cần phải kìm chế hay là bất cứ một phương pháp nào, chỉ cần theo dõi tâm là được rồi. Thầy pháp danh gì? Pháp hiệu gì?

[17:29]Dạ, Minh con là Minh Lảnh. Minh Lảnh hả? Bài sau này đó, bài lần tới tôi sẽ giảng cái bài là cơ chế sinh lý của Thiền, thì bắt đầu mới nói qua những phần thầy Minh Lảnh nói. Có lẽ cho đọc lại một lần nữa cái bài đoạn hai này đi. Bài này đoạn thứ hai này quan trọng. Đọc lại một lần nữa.

[17:59]Định nghĩa, Thiền là một trạng thái của một nội tâm an định. Định nghĩa thứ hai này cho Thiền có ý nghĩa một danh từ. Đó là một trạng thái nội tâm đã thay đổi khác với lúc còn đang lăng xăng xao động. Tuy nhiên, tùy theo mức độ bớt vọng tưởng mà tâm sẽ có những trạng thái khác nhau. Trạng thái căn bản đầu tiên là chánh niệm tỉnh giác, đó là lúc tâm bắt đầu không còn xao lãng, thường xuyên nhớ được sự dụng công của mình. Vọng tưởng tuy còn nhưng bị phát hiện ngay vừa mới chớm khởi nên không làm mê mờ tâm, không dẫn tâm đi lang thang từ ý nghĩ này sang ý nghĩ khác. Tâm có trạng thái rảnh rang, rỗng rang, sáng tỏ, nhẹ nhàng.

[18:54]Càng vào sâu trong Định thì nhiều trạng thái thù thắng xảy ra, tuy nhiên song song với việc lắng yên vọng tưởng thì sức tỉnh giác cũng càng lúc càng mạnh. Không bao giờ Thiền có nghĩa là nội tâm yên lắng và mờ mịt. Thiền luôn luôn phải là vừa không vọng tưởng, vừa tỉnh giác. Đó cũng là lý do tại sao khi bắt đầu tu tập Thiền, chúng ta phải tập biết toàn thân, biết hơi thở, biết nội tâm. Vọng tưởng được hóa giải, được kiểm soát bởi cái biết chứ không phải bởi sự tránh né hay che lấp. Có người đã tránh né vọng tưởng bằng cách nghĩ về một vấn đề nào đó. Có người đã che lấp vọng tưởng bằng cách giữ trong tâm một hình tượng đẹp.

[19:47]Ưu điểm của việc biết rõ vọng tưởng là càng đi sâu ta càng phát hiện những sai lầm

[19:56]trong đạo đức của mình để chỉnh sửa. Những phương pháp tránh né hay che lấp thì không có được ưu điểm này. Để giúp cho cái biết được mạnh và sáng, chúng ta tuyệt đối không bao giờ được dằn ép, gồng bộ não, chăm chú quá sức. Chúng ta chỉ cần nhẹ nhàng biết rõ toàn thân thì dần dần cái biết sẽ mạnh lên một cách tự nhiên. Toàn thân chúng ta là một bộ máy đặc biệt sẽ giúp cho sức tỉnh giác mạnh lên khi ta thường xuyên biết rõ toàn thân. A Di Đà Phật. Thầy nói mấy Phật tử hả, thường thầy không có ghét ai hết, thầy chỉ ghét cái người ngồi ghế mà không có dựa. Nhớ nha, mua ghế dựa cúng chùa mới giùm thầy.

[20:46]Cho phát biểu tiếp lại.

[20:53]A Di Đà Phật, thỉnh thầy An Tự.

[21:12]A Di Đà Phật, kính bạch thầy. Thiền là một trạng thái nội tâm an định.

[21:24]Chúng ta phải thường kiểm soát

[21:29]chánh niệm và tỉnh giác trong mọi vọng tưởng lúc ngồi tọa thiền, lúc ngồi thiền.

[21:46]Và trong tứ oai nghi, đi đứng nằm ngồi chúng ta cũng phải chánh niệm,

[21:54]không làm xao lãng và

[22:00]đừng bao giờ che lấp hoặc tránh né những vọng tưởng trong lúc ngồi thiền. A Di Đà Phật. Rồi.

[22:14]Có người khác có ai nắm được, ai liệt kê được bao nhiêu ý trong cái đoạn vừa rồi? A Di Đà Phật, thỉnh Thầy Thiện Tâm.

[22:26]Nam Mô A Di Đà Phật, con kính bạch thầy. Cái bước thứ hai chúng ta định nghĩa về thiền: thiền là một trạng thái an định nội tâm. Thiền có ý nghĩa là một danh từ. Nó là một trạng thái nội tâm được thay đổi khi khác với lúc chúng ta cái tâm của chúng ta còn việc xao lãng. Tuy nhiên cái sự mà xao lãng đó tùy theo cái mức độ vọng tưởng của tâm mà có sự thay đổi khác nhau. Cái kế nữa là thiền thì chúng ta phải trong cái chánh niệm và tỉnh giác. Đó là lúc bắt đầu khi chúng ta tâm chúng ta còn xao lãng thì cái việc thường xuyên của công dụng thường xuyên nhớ nhớ được những cái công dụng của mình. Và vọng tưởng của chúng ta tuy nó còn

[23:23]những cái phát hiện nó vừa chớm khởi lên thì

[23:28]nó không có làm mê mờ của tâm của chúng ta, không dẫn đến cái tâm của chúng ta nó đi lang thang từ ý nghĩ này sang cái ý nghĩ khác. Và càng đi sâu vào trong cái thiền định á thì nhiều cái trạng thái thù thắng được xảy ra. Tuy nhiên tuy nhiên song song với việc lắng yên vọng tưởng thì cái sự an định mỗi lúc càng được tăng trưởng lên.

[24:06]Thiền thì trong cái pháp môn thiền thì luôn luôn nó vừa không vọng tưởng mà nó vừa không ở cái sự tỉnh giác. Thiền khi ngồi thiền là chúng ta phải biết được toàn thân, biết hơi thở, biết mà

[24:27]nơi nội tâm. Vọng tưởng khi mà nó được hóa giải đó thì lúc đó cái biết của chúng ta nó tránh đi cái sự che lấp. Mà có người đã tránh né cái vọng tưởng bằng cách

[24:48]che bằng người có người đã tránh né cái vọng tưởng bằng cách che lấp về một vấn đề nào đó. Có người đã che lấp vọng tưởng bằng cách giữ cái tâm của mình trong một cái hình tượng, chẳng hạn như một cái suy nghĩ nào đó mà ta che lấp đi cái vọng tưởng. Và cái nữa là thiền thì nó

[25:16]cái tâm của chúng ta

[25:20]có cái trạng thái là rỗng ra rỗng rang và sáng tỏ nhẹ nhàng. A Di Đà Phật.

[25:29]Cũng giỏi. Chưa hết ý nhưng mà vậy là cũng giỏi. Nói chung là mấy thầy cũng có triển vọng á, học qua bốn năm chắc nói lanh hơn tôi. A Di Đà Phật, thỉnh Thầy An Thuận.

[25:48]Bạch thầy. Cái ý nghĩa của thứ hai của cái thiền là thiền là mang cái ý nghĩa là tâm an định, cái ý nghĩa của nó là danh từ. Nhưng mà trong lúc ngồi thiền thì để tập trung tư tưởng trong chánh niệm. Nhưng mà trong lúc ngồi tập trung tư tưởng chánh niệm thì cái ý niệm nó thường khởi lên. Nhưng mà chúng ta tập tộ tập trung cái tư tưởng để cho cái tâm này, tâm vọng tưởng này nó không có khởi lên, tức là không được xao lãng, luôn thường chánh niệm. Vào trong lúc mà mình chánh niệm thì được lâu, được dài thì tâm nó dẫn tới đến cái tâm an định. Tâm an định thì tất cả các vọng tưởng không còn vọng tưởng khởi lên nữa.

[26:43]Tức là lúc đó tâm được tỉnh giác. Mà đôi lúc trong lúc ngồi thiền có những cái tư tưởng khởi lên, người ta thường mượn một cái hình ảnh nào đó hoặc hình ảnh đẹp để mà kềm chế cái tâm để không nghĩ để diệt cái trừ vọng tưởng. Nhưng mà thiền ở đây không phải là như vậy, không phải kềm chế, không phải là mượn cái hình ảnh đẹp nào để mà trụ lại cho cái tư tưởng mình. Mà thiền ở đây ý nói là để cho cái tâm mình nó luôn tỉnh giác, nó luôn điều khiển được, nó biết được toàn thân. Coi như là tâm khởi lên đều biết và thân đều biết. Chớ không bị mình không có mượn một hình ảnh nào ở bên ngoài hoặc là để mà kềm chế cái tâm mình.

[27:44]Ừm, hứ, tốt, tốt. Thôi đưa micro lên đây. À thôi khỏi để nè, tôi nói giải thích chút xíu quên, cầm micro rồi kêu đưa lên nữa. Cái nói là không xao lãng là thế này: ví dụ như người họ niệm Phật thì đang niệm cái câu niệm Phật Nam Mô A Di Đà Phật, bỗng nhiên có ý nghĩ nó khởi lên song song. Rồi nó nó khởi lên nhưng mà nó chưa mạnh, cái mình vẫn tiếp tục niệm Phật. Một lát nó khởi nó mạnh rồi bắt đầu là nó tâm mình vẫn đang niệm Phật, nhưng mình lại chú ý vào cái ý nghĩ kia, cái câu niệm Phật không còn được chú ý nữa, đúng không? Hai tâm. Ví dụ như là mình

[28:31]mai là tới phiên ví dụ mình tới phiên mình làm hương đăng. Ừ, cái đang niệm Phật cái chợt nhiên mình nhớ tới việc hương đăng, cái mình nghĩ tới chuyện không biết cái chổi hôm trước hư chưa tìm thấy. Rồi mấy hôm nay cái mưa tạt vô trong chánh điện bị ướt. Cái ý nghĩ này nó dắt qua ý nghĩ kia, rồi từ từ cái nói: "Giờ mà có chiếc xe, cái mình chạy đi mua cái chổi liền." Qua tới xe, cái nó gợi ý qua ý nghĩ kế tiếp: "Ồ, mình nào giờ mình đi xe đạp không, chưa thử đi chiếc Wave nó ra làm sao?" Ừ, vậy rồi cái bắt đầu cái nó kéo ý nghĩ kế tiếp, nó gợi ý, nó kích thích: "Ờ, phải nửa mình có Phật tử nhiều, người ta cúng mình chiếc

[29:07]là mình tìm cách mình chiếm cảm tình Phật tử." Nghĩa là cái ý nghĩ này nó dù ý nghĩ kia nó gợi tiếp, còn cái câu Nam Mô A Di Đà Phật không còn được chú ý nữa. Đó gọi là xao lãng. Còn cái không xao lãng á là ví dụ mình niệm Phật như vậy mà một cái ý nghĩ nó khởi lên, cái mình biết liền, buông nó, mình tiếp tục giữ câu niệm Phật được, gọi là không xao lãng. Hoặc là hơi thở, mình biết hơi thở ra, biết hơi thở vào, có ý nghĩ nó khởi lên, mình buông liền, mình vẫn tiếp tục giữ được cái hơi thở của mình. Tức là giữ được cái công phu của mình, giữ được cái phương pháp của mình, gọi là không xao lãng.

[29:47]Hoặc là hiện nay mình đang trong giai đoạn điều thân, là mình cứ lo biết toàn thân của mình thôi. Sửa phương pháp biết toàn thân, giữ thân cho đẹp thì ý nghĩ nó khởi lên, mình buông mình quay lại biết toàn thân của mình, không bị xao lãng, đó gọi là chánh niệm. Hiểu chưa? Phải vậy, không xao lãng. Nhưng mà có cái là đừng dằn ép. Ví dụ có người khi thấy mình vọng tưởng nhiều quá, cứ ráng dằn, ráng gồng thì đó là rơi vào cái lỗi dằn ép thì rất là nguy hiểm. Luôn luôn nhẹ nhàng. Thí lỡ vọng tưởng nó dắt mình đi thì mình niệm Phật, mình sám hối, mình quay lại thôi, chứ mình không có dằn ép. Nhớ nguyên tắc là vậy. Đó là không xao lãng.

[30:33]Còn có cái là không có tránh né hay không che lấp vọng tưởng là như thế này. Ừ, tôi nhớ cái kinh nghiệm của tôi hồi đó lúc tôi còn làm cư sĩ, tôi đi chùa, tôi nhìn thấy một cũng một ông cư sĩ, ông ngồi thiền ở trên chánh điện. Cho nên tôi mới đến sau lưng ông tôi cũng ngồi. Thì ngồi một lát thì ông xả thiền, ông ra ngoài hiên ngồi chơi thì tôi cũng xả thiền, tôi ra ngoài hiên ngồi coi như mình thưa chuyện với ông. Thì mới hỏi ông thêm về thiền. Thì ông nói thế này, ông nói: "Thiền tức là mình tâm mình giữ trong một ý niệm nào đó thôi, không cho nó qua ý niệm khác. Ví dụ như giờ cậu có người yêu, cậu cứ nghĩ tới một người yêu cậu thôi,

[31:24]đừng có nghĩ tới người khác, nó cũng là thiền." Thì hôm đó tôi nghe kỳ kỳ. Thấy ông sai mà không biết ông sai cái gì. Mà sau này mình đi tu lần lần ra mình mới mới biết là ông dùng một cái ý niệm là gọi là tránh né vọng tưởng hay là che lấp vọng tưởng, đó.

[31:45]Thì cái phương pháp mà nghĩ tới người yêu để đừng có nghĩ chuyện khác, thì ở đây chắc quý thầy không áp dụng được phải không? Không áp dụng được, thôi bỏ, không xài.

[31:56]Ở bên Mật tông á, có khi người ta dùng cái hình tượng quán tưởng một cái hoa sen. Cái người ngồi thiền cái họ tưởng tượng trước mặt họ là một cái biển mênh mông, ở giữa biển mọc lên hoa sen đẹp. Thì đó là cái gì? Là che lấp. Không biết thẳng vọng tưởng đang khởi lên mà dùng một cái hình tượng đẹp để che vọng tưởng lại, phương pháp đó không hay lắm. Vì sao vậy? Bởi vì cái đó nó che tâm mình rồi mà những cái xấu của mình mình không thấy. Nó giống như là ví dụ bức tường nó dơ thì thay vì mình phải dọn dẹp cho nó đẹp, đây mình không dọn, mình lấy một bức tranh á mình che đậy đậy che bên ngoài. Nhưng mà ở đằng phía sau nó là vẫn còn nhiều cái dơ bẩn.

[32:42]Ở như vậy, ngồi thiền thì phải sao? Phải dọn dẹp, lau cho sạch trước. Tâm, cái tâm thiền là tâm rỗng không. Nhưng mà trong cái rỗng không đó nó có cái từ bi, có cái thương yêu chúng sinh, có cái trí tuệ, chứ không phải là rỗng không rồi hổng có gì, nhớ như vậy. Cũng như bãi đất vậy đó, muốn trồng lúa mình phải dọn cỏ cho sạch. Dọn cỏ sạch rồi mình trồng lúa. Nhưng mà trước hết là phải biết giỏi cái dọn cỏ cho sạch, tức là dọn những cái vọng tưởng mình.

[33:18]Quý thầy tập làm mình nghe mình nhớ ý, mình phát biểu lại, đôi khi mình thêm kinh nghiệm của mình mình nói. Hồi nãy giờ có vài thầy nói mà có biết thêm kinh nghiệm, biết thêm nhận xét cũng là cái tốt, như vậy. Nhưng đầu tiên là thứ nhất phải tập nhớ. Thứ hai là mình thêm ý kiến mình vào. Như vậy là phát biểu giỏi. Mà phải tập cái khả năng nhớ quan trọng lắm. Sau này mình đi làm thầy, sau này mình đi làm việc, ai nói cái gì ngắn dài phải nhớ. Nhớ rồi mình mới biết phân tích, đánh giá, mình bàn bạc được. Cho nên cái khả năng mà nghe và nhớ ý, đó là khả năng của cái người mà biết học.

[34:03]Tôi kể chuyện tôi thêm chút xíu nữa, hồi mà tôi còn ở trong chúng và lúc đó đâu có máy cassette đâu mà thâu. Thầy của tôi mà ổng ngồi ổng giảng bài pháp một hai tiếng đồng hồ, tôi chỉ ngồi lặng lẽ tôi nghe, tôi nhớ lại hết toàn bộ nguyên văn. Mấy ngày sau tôi phải viết lại hết toàn bộ nguyên văn cho huynh đệ học á, tập nhớ như vậy.

[34:26]Rồi có những lúc mà hồi lúc tôi còn làm điệu á, cứ chiều xuống

[34:32]mà Phật tử các nơi lại tập trung tụng kinh đến chùa, thì khi Phật tử tụng kinh xong thấy họ đi về tội nghiệp, tôi hay kêu lại, kêu mấy Phật tử nhỏ lại để để giảng cho nghe. Mà cả ngày thì mắc lao tác, chiều tới gần giờ tụng kinh á mới chạy vô trong cái tủ kinh lục ra đại cái bản kinh nó lấy ra đọc, nhất là những câu chuyện. Đọc qua một lần một thôi rồi đóng cuốn kinh lại, chạy lên tụng kinh. Tụng kinh xong rồi lát kêu Phật tử lại ngồi tôi giảng lại không sót một chữ trong cái trong cái bài bài mà vừa đọc đó. Thấy có những lúc phải phải tập cái trí nhớ như vậy. Mà hồi lúc đó là tôi mới vào chùa.

[35:12]Mới vào chùa. Cho nên bây giờ tôi cũng tập quý thầy cái khả năng đó, quý thầy tập nhớ. Hồi nãy là có vài người nói mà tôi thấy nhớ tốt, tương đối là nắm được ý gần như đủ, chỉ còn sai một ít thì như vậy tức là tốt. Ráng tiếp tục phát huy cái khả năng đó. Mà tâm mình thanh tịnh, không xao lãng, ráng nhớ, cố ý nhớ, từ từ bắt đầu trí nhớ nó tăng trưởng. À. Nó lạ. Còn mình không cố ý nhớ, nó không ghi nhận. Lạ như vậy. Hiểu, nghe thì hiểu á mà không nhớ thì vẫn là vẫn là dở. Tôi kể câu chuyện về học tiếng Anh vậy. Có cái cái anh sinh viên đó ảnh là người bản ngữ, tức là người mà ảnh xuất phát từ cái nước quốc gia tiếng Anh.

[36:02]Thì ảnh học tiếng Anh thì ảnh có cái ỷ y là ảnh nghe đâu hiểu đó nên ảnh không cần ghi nhớ. Tới chừng vào phòng thi thì cái phòng thi họ mới phát ra một đoạn văn. Nghe xong đoạn văn đó bắt đầu mới mới làm bài, là mới có câu hỏi về cái đoạn văn đó, về nghĩa của đoạn văn đó. Là cái ông này ổng nói chuyện gì, bà kia nói chuyện gì, làm sao làm sao? Thì anh này ảnh ỷ y là ảnh là người bản ngữ, ảnh nghe đâu hiểu đó hết. Sau khi đoạn văn đọc xong một loạt rồi, bắt đầu vào làm bài thì ảnh không hề làm được một chữ nào, kỳ đó rớt luôn. Lý do là không ráng nhớ. Không ráng nhớ. Sau này thì ảnh mới làm thầy rồi làm làm giáo sư dạy lại Anh văn

[36:47]và luôn luôn nhắc lại cái kinh nghiệm đau thương đó cho sinh viên. Ảnh nói nếu mà các bạn không ráng nhớ, dù các bạn nghe hiểu, các bạn vẫn không làm bài được, vẫn thi rớt. Cho nên ngoài cái hiểu, phải tập nhớ, nghe một lần vẫn phải nhớ bao nhiêu ý. Nên ngày hôm nay vậy là tôi vẫn nhắc quý thầy cái khả năng ghi nhớ. Nghe hiểu rồi, mình phải tự mình có tác ý là ráng nhớ ráng nhớ, tự nhiên nó sẽ nhớ và trí nhớ mình tăng lên dần dần theo năm tháng, theo cách học như vậy. Hai cái định nghĩa vừa rồi, nếu mà tôi không bệnh thì tôi sẽ giảng ra rất nhiều ý, nhưng mà vì tiếc rằng tôi bệnh nên tôi không có nói

[37:25]nhiều nên quý thầy ráng mà mà tự tự mình tìm, phải không? Ừ. Trong cái bài trong cái định nghĩa thứ hai này nó có một cái quan trọng mà chúng ta áp dụng vào trong sự tu hành của mình đó là cái biết. Cái việc căn bản của cái định là cái tỉnh giác trước. Nhiều người không hiểu điều này, khi tu thiền cứ ráng tâm cho đừng suy nghĩ rồi để tâm cho nó mờ mịt, thì đó là sai, sai rất là trọng.

[38:04]Cái này hình như nó không tắt được hả?

[38:13]Vì vậy, cái đúng của cái định trong thiền luôn luôn là cái tỉnh giác, nhớ như vậy luôn, biết rõ, tỉnh giác. Và phải tập cho cái tâm mình nó có cái tỉnh giác, cái biết rõ đó là cái căn bản đầu chính là cái biết toàn thân. Khi ngồi thiền, lúc nào cũng kiểm soát toàn thân, biết nhiều dưới bụng và dưới chân. Tại sao biết nhiều dưới bụng dưới chân thì kỳ tới học cái bài mà cơ chế sinh lý của thiền thì tôi sẽ giảng kỹ hơn. Nhưng mà khi mình biết toàn thân thì nhớ thân mình nó là bộ máy, không có vô ích. Nhiều Nhiều người tu thiền cứ nghĩ là tu nội tâm, không để ý tới thân, chỉ lo kiểm soát tâm nên mất căn bản.

[38:59]Nó không phát huy không phát huy không phát huy được cái biết rồi ngồi thiền dễ bị hôn trầm, dễ bị mờ mịt, vọng tưởng nó khởi lên cái làm mình xao lãng. Do thiếu cái biết nên nó xao lãng. Cho nên là phải phải làm sao cái biết nó mạnh, nó sáng lên thành sự tỉnh giác. Mà khi tập cái biết như vậy á, nó có nhiều cái phương pháp, nhưng trong đó cái phương pháp gần nhất là luôn luôn biết rõ toàn thân thì tự nhiên tâm mình rất là tĩnh. Nó có mấy cái để làm cho tâm mình tĩnh lận. Sau này học tới cái bài mà cơ chế nhân quả của thiền thì tôi sẽ giảng thêm. Nhưng hôm nay thì chỉ nói cái cơ chế cái cái cái định nghĩa thôi.

[39:49]Thì nói là khi chúng ta biết toàn thân, biết nhẹ nhàng, giữ cho thân đúng tư thế, bất động, mềm mại, buông lỏng mà không nhúc nhích như vậy thì từ từ cái tỉnh giác nó tăng lên trong tâm mình. Biết với thân mà cái tĩnh của tâm nó tăng lên, đó là nguyên tắc, nhớ như vậy. Đó là cái định nghĩa thứ hai, bây giờ qua tới định nghĩa thứ ba. Đọc tiếp. A Di Đà Phật. Kính bạch Thầy, thưa đại chúng, con xin đọc tiếp phần thứ ba. Định nghĩa:

[40:29]"Thiền là cả một đời sống đẹp". Dưới định nghĩa thứ ba, thiền là một bức tranh tổng thể của một đời sống tốt đẹp.

[40:42]Dưới định nghĩa thứ ba, thiền là một bức tranh tổng thể của một đời sống tốt đẹp trên nhiều phương diện. Dĩ nhiên căn bản của thiền vẫn là một nội tâm thanh tịnh, nhưng người ta vẫn đòi hỏi thiền cũng phải là cả một đời sống thánh thiện, chuẩn mực mà vẫn ung dung, tiêu sái, đầy trí tuệ, khôn ngoan.

[41:12]Vì đỉnh cao của nội tâm thuần thiện chính là nội tâm an định, nên tận trong thẳm sâu tâm hồn, ai cũng cho rằng người tu thiền phải có một đời sống đạo đức đầy giới hạnh.

[41:27]Nếu ai hiểu thiền chỉ là một nội tâm an định mà không liên quan gì đến đạo đức thì họ đã hiểu sai. Một người tu thiền phải luôn luôn rất đạo đức, thánh thiện. Người tu thiền cũng biết kiểm soát tâm nên luôn biết kiềm chế bản thân trước những trò vui quá đáng. Vì vậy, đời sống họ rất chuẩn mực, nghiêm túc. Họ có thể khôi hài nhưng không bao giờ giỡn cợt. Họ biết chiêm ngưỡng nghệ thuật nhưng không bao giờ say đắm.

[42:08]Người tu thiền là người không bị cố chấp nên rất ung dung, tiêu sái. Những lề thói vô ích ràng buộc con người sẽ không còn được chấp nhận. Những hình thức lòe loẹt, phô trương sẽ không còn được xem nặng. Người tu thiền chú trọng vào giá trị chân thật của đạo đức, an vui, trí tuệ. Người tu thiền thường xuyên kiểm soát rõ chính mình, nên lâu ngày trở nên tinh tế với những sự việc bên ngoài. Cũng nhờ như thế mà trí tuệ dần dần phát triển.

[42:50]Người tu thiền có thể nhận định mọi điều trong cuộc sống sâu sắc hơn, thấu đáo hơn và do vậy cũng trở nên khôn ngoan hơn.

[43:03]Ngoài ý nghĩa chính là sự an định nội tâm, người tu thiền luôn được đánh giá cao về toàn bộ tư cách và trí tuệ. Do vậy, nhiều khi người ta không còn gọi là tu thiền mà gọi là sống thiền. A Di Đà Phật, con đã đọc xong.

[43:30]A Di Đà Phật, thỉnh Thầy An Cầu. A Di Đà Phật. Kính bạch Thầy. Về câu số bốn là cả một đời sống đẹp.

[43:46]Thiền là một bức tranh tổng thể của một số của một số đời sống tốt đẹp trên nhiều phương diện. Căn bản của thiền vẫn là nội tâm an tịnh. Đòi đòi hỏi thiền cũng là một đời sống thánh thiện, chuẩn mực, ung dung, khôn ngoan.

[44:15]Đỉnh cao của thiền là thuần thiện chính. Người tu thiền luôn luôn rất đạo đức, đầy giới hạnh. Không liên quan đến đạo đức có nhiều người cho là không liên quan đến đạo đức là hiểu sai. Người tu thiền là người không cố chấp nên rất ung dung.

[44:45]Những lệ lối vô ích này buộc con người không còn chấp nhận. Người tu thiền thường xuyên kiểm soát rõ chính mình, nên lâu ngày trở nên tinh tế sự việc bên ngoài. Ngoài ý nghĩa chính là sự an định nội tâm,

[45:11]người tu thiền luôn được đánh giá cao về tư cách và trí huệ.

[45:18]Có nhiều người

[45:22]không còn gọi là tu thiền mà gọi là sống thiền.

[45:35]A Di Đà Phật, thỉnh Thầy Thiện Tài.

[45:44]Dạ Mô Phật, bạch Thầy. Dạ về thiền là đời sống đẹp, là một bức tranh tổng thể và đời sống chuẩn mực, đời sống đạo đức giới hạnh, phải luôn luôn đạo đức và thánh thiện, khôi hài nhưng không giỡn cợt và chú trọng vào giá trị đạo đức, lâu ngày phải trở nên tinh tế và có thể nhận định trong cuộc sống sâu sắc, thấu đáo, đánh giá cao tư cách tu tập và

[46:21]và cách sống thiền. Dạ Mô Phật, bạch Thầy.

[46:30]A Di Đà Phật, thỉnh Thầy Nhựt Minh. A Di Đà Phật, bạch Thầy.

[46:42]Ừ bây giờ nói về thiền là một cuộc sống, không còn là một động từ và danh từ như trước nữa. Thì thiền là cuộc sống, đó là một cuộc đời sống, một bức tranh về đời sống tổng thể trên nhiều phương diện. Thiền vẫn cơ bản là nội tâm thanh tịnh, và cái điểm cao của thiền, tức là thuần thiện, tức là được an định. Thì người tu thiền được ờ xác định là có một giới hạnh một ừ một điểm cao về giới hạnh và giới thể. Thì ờ nếu người ta nghĩ thiền không có đạo đức thì cái điều đó là sai. Và ờ nên có thể nói được người tu thiền tức là một con người thánh thiện, ờ người tu thiền có được một cái đời sống chuẩn mực.

[47:31]Ừ

[47:36]và người tu thiền thì ờ có thể có khôi hài nhưng mà tuyệt đối là không giỡn cợt, ờ và cũng không có cố chấp. Thiền không có ờ ràng buộc con người, ờ không có

[47:55]thiền không có ràng buộc con người ờ chấp nhận một cái cái cái việc gì đó, mà phải thiền phải là luôn luôn là kiểm soát được chính cái bản thân của mình. Vì thế là người tu thiền rất tinh tế và có thể nói được rằng người tu thiền là người phát triển về trí huệ. Nhận định được cuộc sống sâu sắc như thế thì ờ mới có thể nói là người cô thiền người tu thiền là một người hiểu rất thấu đáo về cuộc sống và có thể là khôn ngoan hơn. Ừ.

[48:31]Qua qua ý nghĩa của thiền thì chúng ta có thể nói được ờ đánh giá được cái đỉnh cao của của của thiền là tư cách và trí huệ. Ờ nếu như ừ qua những điều trên thì chúng ta có thể nói là ừ

[48:50]một con người ờ không còn gọi là tu thiền, tức là con người đã sống thiền rồi. A Di Đà Phật, thưa hết.

[49:00]A Di Đà Phật, thỉnh Thầy Minh Tuấn.

[49:10]Mô Phật.

[49:14]Thầy, nói về thiền thì như hai định nghĩa trước, nó là coi như là một động từ và cũng coi như là một danh từ. Thì thiền cũng còn có một cái định nghĩa như là thiền như là một cuộc sống.

[49:38]Mang một tính chất tốt đẹp, hoàn thiện và nhưng mà an định.

[49:47]Có nhiều người cho rằng người sống thiền người tu thiền thì không cần đến đạo đức, nhưng đó là một quan niệm sai lầm. Đối với một người tu thiền thì chuẩn mực đạo đức rất là quan trọng.

[50:06]Nó là một con người phải có cuộc sống thánh thiện, chuẩn mực và khôn ngoan.

[50:16]Họ không không còn bị đắm nhiễm đối với những hoàn cảnh bên ngoài của cuộc sống.

[50:25]Những ràng buộc đó thì đối với họ

[50:31]đó

[50:44]Những ràng buộc đó đối với không Những ràng Thôi cho đọc lại một lần nữa

[50:56]đi, cho ai đọc lại một lần nữa đi.

[51:03]Phần thứ ba: Định nghĩa thiền là cả một đời sống đẹp. Với định nghĩa thứ ba, thiền là một bức tranh tổng thể của một đời sống tốt đẹp trên nhiều phương diện. Dĩ nhiên căn bản của thiền vẫn là một nội tâm an tĩnh, nhưng người ta vẫn đòi hỏi thiền cũng phải là cả một đời sống thánh thiện, chuẩn mực mà vẫn ung dung, tiêu sái, đầy trí tuệ, khôn ngoan.

[51:39]Vì đỉnh cao của nội tâm thuần thiện chính là nội tâm an định, nên tận trong thẳm sâu tâm hồn, ai cũng cho rằng người tu thiền phải có một đời sống đạo đức đầy giới hạnh. Nếu ai hiểu thiền chỉ là một nội tâm an định mà không liên quan gì đến đạo đức thì họ đã hiểu sai.

[52:04]Một người tu thiền phải luôn luôn rất đạo đức, thánh thiện. Người tu thiền cũng biết kiểm soát tâm nên luôn biết kiềm chế bản thân trước những trò vui quá đáng. Vì vậy, đời sống họ rất chuẩn mực, nghiêm túc. Họ có thể khôi hài nhưng không bao giờ giỡn cợt. Họ biết chiêm ngưỡng nghệ thuật nhưng không bao giờ say đắm. Người tu thiền là người không bị cố chấp nên rất ung dung, tiêu sái. Những lề thói vô ích ràng buộc con người sẽ không còn được chấp nhận. Những hình thức loè loẹt, phô trương sẽ không còn được xem nặng. Người tu thiền chú trọng vào giá trị chân thật của đạo đức, an vui, trí tuệ. Người tu thiền thường xuyên kiểm soát rõ chính mình

[53:03]nên lâu ngày trở nên tinh tế với những sự việc bên ngoài. Cũng nhờ như thế mà trí tuệ dần dần phát triển. Người tu thiền có thể nhận định mọi điều trong cuộc sống sâu sắc hơn, thấu đáo hơn và do vậy, cũng trở nên khôn ngoan hơn. Ngoài ý nghĩa chính là sự an định nội tâm, người tu thiền luôn được đánh giá cao về toàn bộ tư cách và trí tuệ. Do vậy, nhiều khi người ta không còn gọi là tu thiền mà gọi là sống thiền. A Di Đà Phật. A Di Đà Phật. Thỉnh thầy Nhuận Bình.

[53:57]Mô Phật, con xin trả lời là: Ba nhỏ: Thiền là cả một đời sống đẹp. Với cái ý thứ ba, chúng ta có thể nói thiền là sức mạnh... thiền là một bức tranh tổng thể của một đời sống tốt đẹp trên nhiều phương diện.

[54:16]Nhưng vẫn giữ nguyên được cái căn bản là được cái trạng thái nội tâm thanh tịnh.

[54:25]Người tu thiền luôn có đời sống đạo đức đầy giới hạnh, thánh thiện, ung dung, đầy trí tuệ, khôn ngoan. Người tu thiền biết kiềm chế trước những trò vui, không cố chấp, luôn khoan dung,

[54:43]khôi hài nhưng không giỡn cợt, chiêm ngưỡng được cái nghệ thuật nhưng không bị say đắm.

[54:52]Hình thức loè loẹt, trau chuốt bên ngoài không còn được xem nặng.

[55:02]Giá trị chân thật của đạo đức được tăng trưởng, luôn được an vui, trí tuệ. Lâu ngày trở nên tinh tế. Từ đó, người tu thiền có những nhận xét sâu sắc hơn, thấu đáo hơn, khôn ngoan hơn. Người tu thiền đánh giá cao về tư cách và trí tuệ. Từ đó, ta có thể khẳng định người tu thiền không được gọi là tu thiền nữa mà có thể được gọi là sống thiền.

[55:49]Cái đoạn này dễ hiểu chứ hả? Có gì khó hiểu không? Dễ phải không? Ví dụ như có thể khôi hài nhưng mà không giỡn cợt nghĩa là làm sao?

[56:07]Giỡn cợt là làm sao?

[56:12]Phân biệt chỗ này một chút xíu, tại vì cái này mình áp dụng trong đời sống của mình. Chùa mình ai hay tếu nhất? Thầy Thích Minh Bảo hả? Ai hay giỡn?

[56:35]Cái khôi hài á, sau này khi nào mà tôi giảng cái môn phương pháp diễn giảng á, là tôi sẽ nói về cái nghệ thuật khôi hài. Hễ mình nói ra người ta cười, nói người ta cười liền. Nói: "Tại sao như vậy?" Nhưng mà sự thực cái khôi hài nó có đạo lý trong đó. Nó có cái ý vị, nó có cái đạo lý, nó có cái tinh tế. Phải thông minh lắm mới khôi hài được, mà phải thông minh lắm mới hiểu được cái khôi hài. Cho nên nó có chiều sâu, nghe nó vui mà nó nó không có chán. Còn cái giỡn cợt là nhiều khi nói bậy bạ, ra khỏi đạo lý, rồi cái thái độ hoặc là cái cử chỉ mình nó nó nó nó giống như nó vụt chạc á, nó không còn cái điềm tĩnh.

[57:24]Đi chiêm ngưỡng nghệ thuật mà không có say đắm, nghĩa là ví dụ như mình tu thì tu, chứ mình nhìn bức tranh đẹp mình biết nó đẹp hay xấu, nghe bản nhạc biết nó hay hay dở, nhưng mà không có luỵ trong đó. Nên các thiền sư nhiều khi họ cũng biết làm thơ vậy đó. Họ biết bài thơ hay chứ không phải không. Nhưng mà không có phải là tối ngày cứ vùi đầu đi làm thơ, làm nhạc, không có.

[57:51]Trong cái cuốn Góp Nhặt Cát Đá có kể chuyện một ông thiền sư là ổng hay ghé lại nhà của một cái cái bà nhạc sĩ đó, ổng tấu đàn với bà. Tức là hai người đánh đàn với nhau, hoà tấu với nhau. Nên ổng hay mang tiếng, bị mang tiếng, bị mang tiếng là người tu hành không đàng hoàng. Đến cái ngày ổng chết á thì ổng báo trước và ổng ngồi kiết già ổng tịch, cái mọi người mới té ngửa ra là ông này đắc đạo. Mà không hiểu tại sao lúc ổng sống thì lại có vẻ như ổng ổng ổng say sưa cái âm nhạc. Trong cái câu chuyện đó vẫn để lại một cái dấu hỏi. Rất là lạ. Tuy nhiên thế này là cái người tu thiền thực sự, thật thì họ không có phải là khô khan, mà họ tinh tế.

[58:38]Chính vì cái tinh tế cho nên cái hay, cái đẹp cuộc đời biết chứ không phải là không biết, nhưng mà không có say đắm. Ví dụ bây giờ mình gặp những người Phật tử cũng vậy. Ví dụ như quý thầy là nam, mình gặp người Phật tử nữ đẹp hay xấu nhìn mình cũng biết, chứ không phải là không biết đâu. Mà nhìn cái người đó biết người ta ngoan hay không ngoan, có phước không có phước, tánh người ta tốt không tốt, cũng biết nữa. Biết, nhưng mà không có nghĩa là biết rồi mình có cái đắm liếng, không có. Biết, nhưng mà nhìn vào biết. Hoặc là một cái chữ viết đẹp, mình nhìn cái thư pháp đẹp mình biết đánh đánh giá, không phải không biết,

[59:15]tức là biết chiêm ngưỡng và có khi chính mình cũng sáng tạo được nữa. Có khi chính mình cũng làm được một bài thơ hay, viết một dòng chữ đẹp, vẽ được một bức tranh đẹp, ví dụ vậy. Tức là cả chiêm ngưỡng nghệ thuật hoặc là cả sáng tạo nghệ thuật nhưng mà không hề mê, đây là điều rất là lạ. Có khi sáng tạo luôn được nữa mà không mê. Cũng giống như tôi vậy. Nãy giờ tôi cứ kể chuyện tôi hoài, ghét quá.

[59:43]Giảng mà cứ hay kể chuyện mình nó nó nó giống như nó phô trương bản ngã á, nó cũng làm cái dở.

[59:52]Thôi lỡ nói, nói luôn.

[59:56]Như bản thân tôi thì tôi cũng cũng cũng biết khá về âm nhạc. Chắc quý thầy không biết rằng tôi biết soạn nhạc đâu hả? Biết không? Tôi biết đánh đàn nữa. Tôi biết hát nữa. Vừa rồi tôi mới soạn bài "Rừng Ơi", bài này rất là cảm động. Nhờ nhạc sĩ Bảo Phúc hoà âm và hát. Ít bữa nữa tôi sẽ quay phim cái cái bài nhạc này luôn. Kêu người ta phải biết thương yêu rừng. Nếu hôm nay mà không bệnh, có khi tôi hát cho nghe, nhưng thôi. Ở đây không có cái máy đĩa hả? Có cái máy đĩa bỏ cái bài đó mở lên cho nghe cũng có nữa. Nhưng mà nhiều người tưởng là tôi tôi thích nhạc, mê nhạc. Không, hoàn toàn không. Biết hay, mình có khiếu, vậy thôi.

[1:00:47]Nhưng mà hoàn toàn không có mê. Tự nó sử dụng. Còn cái mà người tu thiền không có cố chấp,

[1:00:59]những cái lề thói vô ích ràng buộc con người không còn được chấp nhận nghĩa là làm sao?

[1:01:09]Rồi cái mình sống bình thường lắm, mình không có sống lập dị. À ai sao là mình cũng vậy thôi, hòa đồng. Tuy nhiên có những cái truyền thống đôi khi nó nó nó phi lý không giải thích được. À nhiều khi người tu thiền như mình không chấp nhận, không chấp nhận nghĩa đôi khi bên ngoài mình cũng không bác bỏ làm chi, nhưng mà biết trong tâm mình không có chấp cái đó. Ừm ví dụ như là

[1:01:35]nói nói tôi nói đơn giản như cái ví dụ như khi sanh con ra đặt tên là phải theo họ ai? Họ cha. Mà tại sao phải theo họ cha? Mà tại sao không theo họ mẹ? Có ai giải thích không? Không ai giải thích trơn, phải không? Như một truyền thống à. Thì tôi cũng đặt vấn đề mẹ đẻ ra tại sao không đặt họ mẹ mà lại đặt họ cha? Biết có phải con của ông đó thiệt hay không? Phải không? Không chắc thế nào. Ai đẻ ra chắc con người đó. Ừm. Chứ còn ông ông bố nó đâu chắc đâu. Có nhiều cái nhiều cái cái từ xưa để lại vậy chứ không chắc, không không nhiều cái nó không có lời giải thích rõ ràng. Ừm.

[1:02:17]Hoặc là nói thế này là cái người nam thì đáng trọng hơn người nữ. Vì lý do tại sao? Chỉ vì người nam có sức khỏe hơn. Nhưng mà con người ta trong thời đại này cái đầu nó quan trọng hơn. Và nhiều khi người nữ giỏi hơn người nam. Tôi để ý trong mấy cái kỳ thi đại học, tuyển sinh đậu mà điểm cao mà thủ khoa nhiều toàn là người nữ không à, kỳ khôi vậy. Cho nên cái giá trị mà nói là người nam hay người nữ coi chừng tới lúc phải xét lại, phải không? Cái giá trị con người ta nằm ở chỗ cái cái đạo đức và cái trí tuệ. Ừm. Cái giới tính cũng là một phần thôi. Có điều phải nó nhiều cái phải xét lại lắm. Hoặc là

[1:03:05]ví dụ như tôi nói chuyện đơn giản như khi mình cúng quá đường thì cái tay nâng bát thì nâng sao?

[1:03:13]Bên tay trái là cái ấn Tam Sơn, phải không? Nâng cái bát, bên tay phải là ấn ấn Cam Lồ.

[1:03:21]Mà có ai giải thích tại sao phải vậy không? Có không? Không biết. Có không? Không, phải không? Dạ không biết thầy ơi. Ừ, không biết nữa. Đó, bên tay trái cữ cái bát là cái ấn Tam Sơn, nâng bát lên. Hồi lúc mà tôi vào chùa tu, mỗi lần cúng quá đường để cái ấn vậy tôi thắc mắc ủa để làm chi? Nhưng mà ai làm mình cũng làm theo. Thì mình hiểu ý nghĩa là nâng cái bát lên là để cúng dường Phật, phải không? Mình trước khi ăn mình cúng Phật trước rồi mình ăn sau, bày tỏ cái lòng tôn kính Phật và biết ơn Phật. Nhờ Phật dạy mình biết tu, nhờ cái phước Phật mình có cơm ăn. Cho nên cúng dường Phật là bày tỏ lòng biết ơn Phật.

[1:04:04]Ý nghĩa chính nó là như vậy. Mà tại sao phải để hai cái ấn này? Không ai giải thích. Vì không ai giải thích được cho nên tôi tạm thời tôi không dùng tới ấn đó nữa. Trong chùa tôi là tới khi tôi làm trụ trì có đệ tử là chỉ hai cái bàn tay đưa lên bình thường. Vậy thôi. Nghiêm trang đưa lên hai bàn tay đều, không bắt ấn nữa. Không biết người ta có ghét không? Không biết nữa, kệ. Tại hễ cái làm gì phải giải thích cho được cái ý nghĩa của nó rồi mới chịu làm. Còn giải thích không được thì nó chỉ là nhiều khi có những cái thói quen. Ờ, không biết nữa. Mơi linh linh không biết có linh không, không biết nữa.

[1:04:41]Nó nhiều chuyện lắm, trong đời sống còn nhiều chuyện. Cho nên cái quan trọng là khi mà không cố chấp á, mình phải hiểu cái nghĩa thực của nó. Tại sao phải làm như vậy? Giải thích được làm, không giải thích được để đó. Mình không bác, không có làm, mình không gàn, không bướng nhưng mà không phải ai nói gì cũng tin, như vậy.

[1:05:02]Còn cái gọi là trí tuệ là do chính mình hay kiểm soát cái lỗi của mình. Cái người tu thiền vì hay nhìn được nội tâm, vọng tưởng khởi lên nhớm nhớm biết hết trơn à. Rồi từ từ những cái tham nhè nhẹ khởi lên biết, cái sân lên biết, cái đố kỵ khởi lên biết, cái ích kỷ khởi lên cái mình biết. Nên mình biết chính mình rất là rõ. Khi mình biết mình rõ quá, bỗng nhiên mình biết hết thiên hạ luôn. À, lạ như vậy. Chúng ta đi tìm sự khôn ngoan không phải là quay ra ngoài mà không ngờ là bằng quay vô trong chính mình, thấy được cái lỗi của mình. Vậy mà từ từ bỗng nhiên mình nhìn con người mình biết hết trơn à, ngộ ghê.

[1:05:40]Cái người hay người dở hay là sao sao biết hết trơn, biết nhưng không phải là ghét ai. Nhiều khi mình biết cái người đó rất là tệ nhưng mà lòng không có ghét, nhớ như vậy. Cái người mình theo đạo Phật không có ghét ai. Như tôi tôi chỉ ghét có một người là ngồi ghế không dựa.

[1:05:59]Thôi, Phật tử nhớ hùn tiền cúng dường mấy ghế dựa giùm thầy nha.

[1:06:13]Khi mà mình biết được con người, mình biết được mình, mình biết được con người thì trong cái đối xử bỗng nhiên mình khôn ngoan. Ừ, khôn ngoan. Người ta muốn giở trò gì mình cũng biết rồi. Tuy nhiên không có nghĩa là khi mình khôn như vậy rồi mình dùng thủ đoạn để mình tranh hơn. Biết hết á nhưng mà lòng vẫn bao dung, vẫn thương yêu, vẫn tha thứ. Không có ghét. À biết người ta tệ tệ chứ mình không có cái hắt hủi, không có cái đối xử. Chỉ khi nào mà vì lợi ích chung, đôi khi đối với người nào đó mình phải cứng rắn thôi. Ừ, phải dứt khoát, phải cứng rắn vì lợi ích chung, chứ còn trong thâm tâm mình chẳng ghét ai hết, mặc dù rất là khôn.

[1:06:52]Người tu thiền phải vậy. Đó, đó là cái định nghĩa thứ ba là toàn bộ cái đời sống. Tôi không có thì giờ nói nhiều, không biết Hôm nay nói giải thích những cái điểm khó hiểu thôi. Giờ tới cái thứ tư, ha. A Di Đà Phật.

[1:07:16]Bạch thầy cùng đại chúng, con xin đọc tiếp: Phần thứ tư: Phong cách điềm đạm.

[1:07:26]Điềm đạm có nghĩa ngược với vội vã, hấp tấp, vục chạc.

[1:07:34]Người điềm đạm không bao giờ mở miệng nói khi chưa biết chắc là lời nói sẽ tốt đẹp, cũng như không bao giờ quyết định làm khi chưa biết chắc kết quả của việc làm.

[1:07:52]Chính sự cân nhắc kỹ lưỡng trước khi nói hay làm khiến người tu thiền có phong cách điềm đạm.

[1:08:02]Điều này có nguyên nhân từ những giờ phút ngồi thiền yên lặng, quan sát chính mình,

[1:08:10]diệt trừ những vọng động tầm thường từ từ trong sâu kín. Khi tâm yên lắng hơn, chúng ta sẽ bỏ đi những lời nói hay việc làm vô nghĩa, chỉ thích nói những điều có giá trị chân thật. Từ đó, người tu thiền tự kiềm chế không cho phép mình nói hay làm bừa bãi.

[1:08:39]Ngoài ra, điềm đạm còn có nghĩa là không thích bày tỏ nhiều nên ít nói, chỉ nói khi sự thật sự cần thiết. Người tu thiền có tiến bộ thì tự nhiên không còn tâm ham muốn cho mọi người phải để ý đến mình. Đôi khi chúng ta phải gánh vác công việc được thầy bạn giao phó, nhưng chỉ lo toan công việc vì lợi ích mọi người, chớ không vì sự nổi trội cá nhân.

[1:09:16]Tuy nhiên, chúng ta cũng nên phân biệt với người ít nói vì không biết gì để nói, cục mịch, ngây ngô, khờ khờ. Không phải người ít nói nào cũng là người thâm trầm, điềm đạm. Có những người ít nói nhưng lại là người rất nóng tính, có những người ít nói nhưng rất hiểm độc, để tâm lâu dài những điều người khác làm phật lòng và mong có dịp trả đũa. A Di Đà Phật, con đã đọc xong.

[1:09:56]A Di Đà Phật, thỉnh thầy Thiện Phúc.

[1:10:02]A Di Đà Phật, con xin phong cách điềm đạm sự tu thiền.

[1:10:14]Phong cách tu thiền

[1:10:19]điềm đạm ngược lại không hấp tấp. Ngồi quan sát thân mình cũng như quyết định trước sự nói hay làm. Khi tâm sâu lắng, từ đó mà người tu thiền kiềm chế

[1:10:41]khi sự cần thiết. Người tu thiền không nên phân biệt người khờ khờ, có người ít nói nhưng nóng tính và cũng có người ít nói nhưng điềm đạm.

[1:10:59]Con xin hết ạ.

[1:11:05]A Di Đà Phật, thỉnh Tắc Qua.

[1:11:12]Thỉnh thầy Huệ Nhất.

[1:11:22]Nam mô A Di Đà Phật. Con xin trình bày ạ.

[1:11:31]Phong cách điềm đạm là khác với sự hấp tấp và vội vã. Người điềm đạm không nói khi không biết kết quả việc làm. Làm người tu thì có... thì...

[1:11:51]Làm người tu thiền thì phải có phong cách điềm đạm. Trừ vọng động sâu kín, bỏ lời nói vội vã, nói vô nghĩa, nói lời chân thật.

[1:12:06]Còn có nghĩa là còn có nghĩa bày tỏ,

[1:12:12]ít nói, không còn ham muốn

[1:12:17]được người khác để ý.

[1:12:24]Khi làm công việc thì lo việc... lo việc lo việc vì chung, không vì cá nhân người.

[1:12:38]Nên phân biệt với người ít nói là

[1:12:45]người ít nói có khi là người nóng tính hoặc là người không biết gì mà nói.

[1:12:53]Nên hoặc là người không không hiểu...

[1:13:01]Mô Phật, con hiểu được đó thầy.

[1:13:07]Mai thầy quăng thiết cho rồi.

[1:13:12]Dạ mô Phật bạch thầy.

[1:13:16]Thiền ở cái ý nghĩa thứ tư này được mang một cái ý nghĩa là điềm đạm. Nghĩa là trái với là hấp tấp, vội vã, vục chạc. Thì điềm đạm ở trong thiền á nó có một cái sự là

[1:13:42]nó có nó có một điềm đạm ở trong thiền á thì người ta có một cái cái chánh niệm. Và khác với cái điềm đạm mà như

[1:13:58]ở ngoà không phải là thiền á thì thì...

[1:14:07]Run quá. Điềm đạm mà như ở ngoài thì người ta chỉ là một cái bản năng tự nhiên thôi. Không không phải là một sự thực tập thiền. Có thể là người điềm đạm đó người ta vẫn ẩn chứa những cái những cái tính không tốt bên trong con người.

[1:14:40]Dạ thôi thầy, hết rồi.

[1:14:45]Mở cái này lên, mở một, hai. Được rồi, để thầy nói một chút. Mình dùng cái chữ ít nói. Ví dụ cái người mà ít nói mà hiểm độc, ít nói mà nóng tính á, dùng chữ ít nói thôi chứ không phải dùng chữ điềm đạm. Điềm đạm là cái phong cách của thiền. Ở đây có ai gặp cái người ít nói mà nóng tánh chưa? Có phải không? Nhớ cười lắm, nhớ cái tôi có người Phật tử, cái tới tuổi lớn cái mẹ gả chồng,

[1:15:17]thì lựa được lựa được thằng con rể ít nói, tưởng thằng này nó hiền. Trời ơi! Tới về mới biết ổng đống lửa trỏng, dữ tàn canh gió lạnh. Tối ngày không nói gì hết trơn á, mà đụng chuyện là là là làm bậy quậy không à. Hoặc là có người ngầm ngầm ít nói nhưng bên trong họ hiểm độc, cái đó. Hoặc là có người mà hiền nhất là ít nói không biết gì để nói á. Đó, thì ba trường hợp này không phải là thiền. Còn thiền ít nói, điềm đạm nhưng mà họ rất là giỏi, rất là sắc bén. Cái đó mới đúng vậy. Chúng ta so sánh như vậy để chúng ta làm sáng lên cái nghĩa phong cách điềm đạm của thiền, như vậy thôi. Mà cái quan trọng á là khi họ làm cái gì đó, họ cẩn thận trước khi làm.

[1:16:07]Họ nói cái gì, họ cân nhắc trước khi nói thì tự nhiên thành điềm đạm. Rồi do tâm nó lắng, tâm lắng cho nên nhìn vấn đề nó xa. Cho nên thành ra họ sắc mà họ cẩn thận, muốn nói không có nói bậy. Cẩn thận khi nói ra. Hôm trước chúng ta nói cái phần Chánh ngữ trong Bát Chánh Đạo á, nói họ biết cái hậu quả rồi nói. Làm cũng vậy, biết cái hậu quả việc làm, kết quả sẽ đưa tới đâu nên sẽ làm hay không làm. Nhất là những người mà có trách nhiệm, mình có cái chức, mình có cái quyền quyết định, hễ mình quyết định một việc sai rồi sau này nó ảnh hưởng cả tập thể, cho nên phải cẩn thận dữ lắm. Thì cái cẩn thận, có trách nhiệm đó cũng làm cho người ta điềm đạm lại.

[1:16:51]Còn bình thường trong cái đời sống hàng ngày do tâm thanh tịnh, cho nên họ ít có làm những chuyện vô nghĩa, ít có nói những lời vô nghĩa. Ví dụ như đang ngồi chung với nhau như vậy thì tự nhiên mình không có phát thấy ngồi buồn buồn cái phát mở miệng nói bậy nói bạ cho vui, cho người ta chú ý cho vui thì đó không phải thiền. Đó là nói những câu vô nghĩa. Hoặc là thay vì tới lúc đó phải học cái gì cái mình cứ đi lăng xăng qua này, đi dòm cái kia, bước qua bước lại, nhìn thấy nó lăng xăng, nhìn thấy không phải điềm đạm. Mình chỉ làm cái gì nó có ý nghĩa, có giá trị thì làm. Ví dụ như đi qua đi lại làm, tưới cây tưới gì đó thì cần công việc làm,

[1:17:30]nó có cái giá trị thực, chứ không phải là lúc không có gì cần thiết mà cứ đi qua đi lại đi qua đi lại hoài thì cũng là không phải không phải thiền. Nó nhiều trường hợp, nhất là trong lúc mà có lễ lớn này kia nọ đó chúng ta để ý, ta thấy cái người nào mà thích muốn nổi lên thì biết ngay là người chưa có phong cách thiền. Ở chỗ đông người, cái người có phong cách thiền họ giấu mình lắm. Họ không cố ý phải giấu mình, nhưng mà tự nhiên không muốn nổi, không muốn nổi kia, sống thanh thản nhẹ nhàng, không cần ai biết tới mình. Nhưng mà còn cái việc gì cần phải làm có trách nhiệm thì làm đàng hoàng, vậy thôi.

[1:18:11]Mà trong tâm không có háo danh, không có muốn ai phải chú ý tới mình, thành thử họ biến thành cái người điềm đạm, thầm lặng, đó, phong cách của thiền. Giờ qua tới đoạn cuối. Phong cách vui vẻ, đọc tiếp.

[1:18:30]A Di Đà Phật, bạch thầy con xin đọc tiếp. Phần thứ năm. Phong cách vui vẻ.

[1:18:39]Điều đặc biệt là người tu thiền lại có phong cách vui vẻ mặc dù điềm đạm.

[1:18:47]Đôi khi chúng ta bắt gặp những hình tượng trong truyện hay phim về những người hùng điềm đạm, thâm trầm, khó hiểu và đôi khi phảng phất nét buồn buồn lãng mạn. Phong cách đó không giống với người tu thiền. Người tu thiền tuy ít nói nhưng gương mặt lại hoan hỷ, nhẹ nhàng. Chúng ta sẽ thấy người tu thiền có vẻ như vừa không chất chứa gì trong tâm, vừa có cái gì quý giá tràn đầy trong đó.

[1:19:25]Ta thấy người tu thiền vừa sắc bén nhưng lại vừa thân thiện, dễ gần. Tuy nhiên, dù có phong cách vui vẻ, nhưng người tu thiền lại biết ưu tư, trăn trở trước vận mệnh của Phật pháp, không bao giờ làm người vô trách nhiệm.

[1:19:49]Phật pháp thịnh hay suy đều có nguyên nhân từ nơi sự tu hành hoằng hóa của đệ tử Phật, không phải ngẫu nhiên. A Di Đà Phật, con đã đọc xong.

[1:20:08]A Di Đà Phật, thỉnh thầy

[1:20:13]An Tấn.

[1:20:21]Nam mô A Di Đà Phật. Con xin phát biểu lại đoạn vừa đọc. Nghĩa thứ năm của thiền là vui phong cách vui vẻ. Phong cách vui vẻ đặc biệt là điềm đạm nhưng vui vẻ.

[1:20:39]Thâm trầm điềm đạm ở trong những cuộn phim chúng ta được xem không có nghĩa là thiền.

[1:20:53]Tuy thiền không chất chứa, luôn an tĩnh trong tâm nhưng sắc bén ở những tình huống và những cử chỉ hành động bên ngoài.

[1:21:14]Tuy là thiền có một phong cách vui vẻ, nhưng ưu tư trước vận mệnh của Phật pháp.

[1:21:24]Không có sự vô tâm trước vận mệnh Phật pháp vì tất cả đều có nguyên nhân. Nam mô A Di Đà Phật.

[1:21:43]A Di Đà Phật, mời Thầy Nguyên Pháp.

[1:21:52]Nam Mô A Di Đà Phật.

[1:21:56]Dạ, con xin tóm tắt lại cái điều thứ năm nói về cái phong vui vẻ của người tu thiền.

[1:22:10]À người tu thiền thì à

[1:22:15]luôn à an tĩnh trong nội tâm à như những điều à thứ nhất và thứ hai và thứ ba là những điều an tĩnh trong cuộc sống. Thứ tư là điềm đạm trong phong cách, à là không có nói những cái điều mà dư thừa. Nhưng mà khi mình nhìn vô những người tu thiền, có tu thiền thì mình thấy những cái à

[1:22:45]sự sắc bén trong đó, những cái sự thân thiện

[1:22:53]và mình thấy họ toát ra những cái à

[1:23:00]sự tôn kính, mình thấy mình rất tôn kính, và coi như mình rất là kính họ.

[1:23:12]Nhưng người tu thiền không phải là họ à người tu thiền à rất biết ưu tư về những cái à công việc, à những cái à

[1:23:32]à biết ưu tư trước những cái vận mệnh của Phật pháp và không bao giờ là người vô trách nhiệm đối với Phật pháp. À

[1:23:48]Do những cái sự như vậy, là người đệ tử Phật nên

[1:24:03]nên à phải à ý thức về Phật pháp một cách rõ ràng và thích đáng. Mô Phật.

[1:24:20]A Di Đà Phật, thỉnh Thầy Huệ, Minh Huệ. Mô Phật. À con xin trình bày cái mục thứ năm của định nghĩa về thiền là phong cách vui vẻ. Thì à người tu thiền đặc biệt là có cái phong cách vui vẻ à

[1:24:46]nhưng cũng rất là điềm đạm. À người tu thiền thì ít nói, nhưng gương mặt thì à lại hoan hỷ à rất là nhẹ nhàng.

[1:25:01]Người tu thiền thì

[1:25:05]à bề ngoài thì không có chất chứa à không có chất chứa gì trong tâm, nhưng mà cái quý giá tràn đầy cái quý giá thì à tràn đầy ở trong tâm.

[1:25:25]Nhưng mà rất là sắc bén, à thân thiện và dễ gần. Người tu thiền thì

[1:25:37]thì thường à không ưu tư nhưng mà không vô trách nhiệm trước vận mạng của Phật pháp. Nam Mô. A Di Đà Phật, thỉnh Thầy Minh Trúc.

[1:26:08]A Di Đà Phật. Con xin tóm tắt đoạn năm là: Người tu thiền phải có phong cách vui vẻ mặc dù điềm đạm. Người tu thiền tuy ít nói nhưng hoan hỷ và nhẹ nhàng, thanh thoát,

[1:26:31]không chất chứa trong tâm nhưng có

[1:26:38]tràn đầy, có vẻ tràn đầy trong đó những điều ưu tư của Phật pháp. Biết biết ưu tư trăn trở đối với vận mạng của Phật pháp, không bao giờ làm người vô trách nhiệm.

[1:26:59]Phật pháp thạnh hay suy đều có nguyên nhân từ nơi sự tu hành hoằng hoá của đệ tử Phật, không phải ngẫu nhiên mà có. A Di Đà Phật, con xin hết.

[1:27:22]Cái người tu thiền á, ví dụ như mình tu mà giỏi đến có trí tuệ á, thì cái người đó họ sắc bén lắm, mình đến mình nói chuyện với họ, họ phân tích vấn đề hoặc là họ trình bày vấn đề nó sắc, mà nếu mà người không phải tu thiền không có đạo đức á, cái người mà họ khôn quá mình sợ. Đúng không? Mình gặp cái người giỏi quá cái gì cũng biết á, nhiều khi mình sợ. Nhưng mà cái người tu thiền có cái lạ là bên cạnh cái sắc bén đó họ có cái vui, có cái thân thiện, cho nên à mình đến gần họ mặc dù là thấy họ họ tinh tế nhưng mà lại không có sợ, mà lại thích gần họ.

[1:28:04]Cho nên ông bà mình có nói câu là: "Nước trong quá thì không có cá, người xét nét quá thì không có bạn." Cá nó phải ở trong nước đục đặng chi vậy? Nó mới có những cái phiêu sinh vật nó ăn. Chứ còn nước trong quá không có cá nhiều, thì người vậy, mình mình tinh tế quá, ai tới gần mình mình biết người ta sao hết trơn cái đâm ra người ta sợ, tại ai lại không có lỗi, phải không? Ai trong thâm tâm mình cũng vẫn có những cái lỗi lầm gì đó bí mật, mà mình lại gần cái người mà họ tinh tế cái gì họ cũng biết mình hết trơn, cái đâm ra mình sợ mình né mình trốn họ luôn. Sở dĩ mình ở đây còn ngồi chơi với nhau được

[1:28:45]là bởi vì không ai biết ai suy nghĩ cái gì. Chứ nếu mà mình biết suy nhau suy nghĩ gì hết trơn á thì một á là mình phải tu thật tốt, hai là mình trốn nhau sạch không ai dám lại gần ai nữa hết trơn á. Tại vì họ biết tỏng tòng tong những cái cái lỗi lầm của mình. Thì khi mình đến cái gần cái người có trí tuệ mà có đạo lý trong đạo Phật á, thì họ họ tinh tế, họ biết mình, nhưng mà mình có cảm nghe có cái thân ái, cái từ bi,

[1:29:18]cái thân thiện là mình không có sợ. Nhưng mình chấp nhận, mình tin rằng cái người kia dù cho họ biết cái sai của mình, họ cũng thương mình được. Vì vậy, mình cũng thấy thân thiện với họ. Cho nên phong cách vui vẻ của người tu thiền mang cái ý nghĩa là làm cho chúng sinh thấy thân thiện, gần gũi, mặc dù là người đó rất là có trí tuệ. Hôm nay thì chúng ta định nghĩa cái cái bài này qua một số ý vậy thì chúng ta đã đi ra lý thuyết, nhưng mà từ cái lý thuyết này chúng ta có cái cái điều chỉnh cái sự thực hành của mình. Tại có những người ví dụ như nói tu thiền, rồi cái làm ra vẻ ít nói mà không có vui vẻ với ai thì nó sai.

[1:30:04]Cho nên tuy vui vẻ nhưng mà lại cũng phải điềm đạm, chứ gặp cái gì cũng vui vẻ rồi cái giống như là thành thấy đùa giỡn, nó mất cái điềm đạm cũng sai, nó không thích ứng thiền. Còn ba cái định nghĩa ban đầu thì nó rất là căn bản, trong đó chúng ta chú ý với cái định nghĩa thứ hai: trạng thái của tâm an định mà trong cái tâm an định đó chúng ta nhớ là

[1:30:30]cộng của cái không vọng tưởng và tỉnh giác, mà cái tỉnh giác là cái đứng đầu. Cho nên khi xây dựng cái công phu tu thiền thì phải xây dựng cái tỉnh giác trước, làm cho cái biết á nó sáng lên. Mà cho biết nó sáng lên không phải là bằng cái cố gắng dằn ép, mà biết nhẹ nhàng toàn thân của mình, vậy mà từ từ cái biết nó sáng lên. Vọng tưởng khởi lên bị phát hiện liền. Còn mà mình không có cái biết á, vọng tưởng nó khởi lên cái nó dẫn mình đi, nó làm cho mình xao lãng, mình mất cái chánh niệm. Nên cái định nghĩa thứ hai là cái quan trọng của bài học hôm nay. Hôm nay thì trễ nên chúng ta không có lên ngồi thiền, cũng không có tập khí công.

[1:31:16]Báo tin mừng vậy.

[1:31:20]Mỗi ngày có ngồi thiền không? Dạ có. Tập khí công không? Dạ có. Ráng nha. Cái cái khí công nó quan trọng đối với cái người tu thiền dữ lắm. Ừm. Lần lần thì chúng ta sẽ học thêm nhiều cái cái cái bài tập về khí công. À quý thầy làm bài chưa? Dạ có. Đem nộp bài lên nha.

[1:31:59]Không được sót mất một người nào nha, tuyệt đối á. Bất cứ ai cũng phải làm, đủ bốn trang giấy. Bốn trang dữ vậy?

[1:32:10]Bốn trang. Bốn trang tức là một tờ giấy đôi chứ có gì đâu. Đâu có nhiều đâu.

[1:32:20]Càng nhiều càng điểm cao.

[1:32:27]Viết nhiều sau này mình mới giảng được lưu loát, nên cứ viết nhiều càng tốt không sao hết.

[1:32:36]Hồi cái khóa trước á, mỗi lần tôi cho làm bài á, có mấy thầy làm một xấp giấy nè, gần 10 tờ giấy đôi mà giấy ca rô to, làm chấm khùng luôn.

[1:32:51]Nhưng mà mấy thầy đó sau này lên cao cấp đều là giỏi hết, tăng sinh giỏi, phải viết nhiều.

[1:33:01]Mỗi bài đều có photo cho chúng không, trưởng lớp? Có. À để giữ làm thành cái giáo trình lâu dài. À ở đây thấy thầy Minh Lãnh có vẻ giỏi về cái cái khí công thể dục, phải không? Trong lớp thấy thầy... Dạ, thầy Minh Lãnh đảm đương cái hướng dẫn huynh đệ tập Đúng, đúng, đúng. Thầy Minh Lãnh có biết nhiều thế thì cứ biết tập nhiều thế càng tốt ha, chứ không nhất thiết là phải theo mấy cái thế tôi đã tập. Cứ càng nhiều càng tốt, nhưng mà nhớ là hơi thở nó cái động tác á nhớ phối hợp với hơi thở. Hơi thở dắt đi nhẹ nhàng chứ không có ép hơi thở, thở xuống bụng và lâu dài thở luôn xuống tới lòng bàn chân luôn.

[1:33:47]Nó có những nguyên tắc như vậy. Có những lúc phải nín thở, trong cái tập khí công có những lúc phải nín thở. Và lúc nín thở là lúc mà khí nó nạp vào trong thể tạng, trong tạng phủ của mình, vậy đó.

[1:34:04]Có ai hỏi gì không? Hỏi đi, đứng lên hỏi đi. Mô Phật.

[1:34:20]Bạch thầy, mô Phật, bạch thầy thầy giảng về cho con cái câu hỏi mà câu hỏi thầy cho cho con chưa có hiểu bạch thầy. Câu bài hôm nay á hả? Dạ. Tự suy nghiệm bản thân về những điều hợp hoặc chưa hợp với phong cách của thiền phải không? Thì trong năm cái định nghĩa vừa rồi, ví dụ như cái định nghĩa thứ nhất là thiền chú ý là cái sự dụng công trong nội tâm, động tác bên ngoài là phụ, thì mình có phù hợp không, hay là mình lại chú ý cái bên ngoài động tác nhiều mà không chú ý cái dụng công nội tâm? Đó, xem mình hợp chưa. Còn cái định nghĩa thứ hai là cái trạng thái tâm định mà trong đó đừng có xao lãng, thì mình coi lúc mình dụng công

[1:35:08]mình có bị xao lãng hay không là hợp chưa, vậy đó. Dễ không? Dễ, có gì đâu. Hoặc là cái định nghĩa thứ ba là thiền là cả một đời sống, thì vừa có cái cái này mới là khó nè, viết là cái chủ yếu là cái bài thứ ba, trong câu hỏi này thầy nhắm vào cái cái bài thứ cái đề mục thứ ba nhiều hơn. Là một đời sống thánh thiện, chuẩn mực, ung dung, tiêu sái, đầy trí tuệ khôn ngoan, mình coi mấy tiêu chuẩn đó mình có chưa. Ví dụ như là đời sống đạo đức, nhiều khi mình không trau dồi đạo đức như vậy là chưa hợp, còn mình rất chú ý đạo đức thì như vậy mình đã hợp. Hoặc là nói là chuẩn mực, nghiêm túc, thì mình có chuẩn mực nghiêm túc chưa,

[1:35:49]hay là mình hơi không nghiêm trang, đùa giỡn quá đáng, thì là chưa hợp. Tức là so sánh với những cái định nghĩa hôm nay phải không, mình đối chiếu lại đời sống mình từng chút từng chút lại. Nó như vậy. Cái bài này tuy là bài làm nhưng sự thực nó có tính cách giống như tự kiểm bản thân, đó. Mà khi viết mà tự kiểm bản thân như vậy thì cái trí tuệ mình từ từ nó tăng lên. Vừa tăng trí tuệ, vừa tăng lý luận, nên sau này lần lần mình sẽ giỏi, vậy. Nên cái câu hỏi của tôi cho là có cái chủ ý trong cái câu hỏi chứ không phải không, không phải viết chơi đâu. Để làm được mấy câu hỏi như vậy mình phải lùng sục trong nội

[1:36:29]tâm mình dữ lắm, phải để ý trong suốt đời sống của mình. Tới hai tuần nữa mới nộp bài, thì trong hai tuần đó đó, một tuần đầu là mình để ý cái đời sống của mình, cái nội tâm mình so với cái bài học hôm nay có điểm gì mình còn sơ hở, mình tự giác viết ra thật là thật thà. Thật thà viết điểm này chưa được, điểm này đã được, hay điểm này được một phần, vân vân. Khi mà tự thật thà khai báo vậy là cái cái tu bắt đầu từ chỗ đó đó. Cái tu là chỗ mà thật thà đánh giá chính mình. Vì sao vậy? Vì trong cái nội tâm sâu kín của mình á không có ai biết ở trong đó được, không ai thò vô đó sửa được, không ai phê bình mình trong đó được,

[1:37:13]mà phải tự mình biết điều đó, tự mình biết mình sai cái gì trong tâm, tự mình sửa lấy cái gì trong tâm. Thì đó là bản lĩnh của người chân tu. Cái người chân tu khác với người tay tu, à quên, người giả tu là chỗ cái người mà giả tu á là dựa vào cái đánh giá của người khác để điều chỉnh mình để vừa lòng người khác. Còn cái người chân tu á là người tự nghiêm khắc chính mình, nhiều khi người ta chưa biết mình sai mà mình đã tự biết mình sai trước, đó là người chân tu. Thì cái bài làm này á là bài tập mình làm cái người chân tu, tức là tự nhìn ra được cái chỗ sai của mình. Đây là bước đầu của sự tu hành á,

[1:37:58]nhìn ra được cái sai của mình là bước đầu của sự tu hành. Khởi xướng không ai, có ai hỏi gì nữa không?

[1:38:10]Khởi xướng hồi hướng.

[1:38:17]A Di Đà Phật, con thỉnh quý thầy hồi hướng. Nguyện đem công đức này, hướng

[1:38:33]về khắp tất cả,

[1:38:42]đệ tử và chúng sanh, đều

[1:38:53]trọn thành Phật đạo.

[1:39:31]Về thăm chùa xưa, nghe hồi chuông thoáng đưa.

[1:39:39]Trời thu đìu hiu, sương mờ giăng lối đi.

[1:39:47]Buồn vui thôi từ đây, con tìm đâu lời thầy ban pháp âm.

[1:39:55]Rồi lòng con buồn tanh, khi lìa xa tiếc thương rơi dòng châu.

[1:40:03]Nghẹn ngào ngắm chùa xưa, bên dòng sông vẫn trôi. Thời gian tàn phai, trên thềm rêu phủ giăng.

[1:40:20]Hồng trần muôn sầu đau, nên thầy đi hành đạo độ chúng sanh.

[1:40:28]Lòng từ bi vị tha, khuyên đời chung đắp xây tình người. Thầy dìu con đi, tìm về chân như xa lìa đống mê.

[1:40:44]Từ biệt vô minh, quay về ánh sáng chân lý nhiệm mầu.

[1:40:52]Về lại chùa xưa, chúng con ngày đêm tha thiết mong chờ.

[1:41:00]Bến khói hương trầm, dâng tiếng kinh cầu thầy được bình yên. Thầy không còn đây, gương hạnh con gắng