Lời giảng: Nghịch Hạnh Trong Tu Hành - Pháp Cú 67

  • Thuyết giảng: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Thời lượng: 1:56:38

Toàn văn lời giảng, chép từ phụ đề. Bấm vào mốc thời gian để nghe đúng đoạn đó.

[0:10]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:28]Nam Mô Bổn Sư Thích

[0:42]Ca Mâu Ni Phật.

[0:56]Chúng con xin cung thỉnh Thượng tọa giảng sư an tọa, xin mời toàn thể đạo tràng an tọa.

[1:06]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Vậy là hơn hai tháng rồi chúng ta mới gặp lại, phải không ạ?

[1:17]Chúng ta nghe tiếp Pháp Cú. Chúng ta nghe bài kệ này:

[1:24]Tu thiền sinh trí tuệ, Bỏ thiền trí tuệ diệt, Biết có hai con đường, Trầm luân hay giải thoát, Vì vậy nên nỗ lực, Khiến trí tuệ tăng trưởng. Phật nói bài kệ Pháp Cú này do cái nhân duyên thế này: Là trong cái hàng mà tỳ kheo trưởng lão, có một vị trưởng lão tên là Pothila. Vị này có cái lạ là tu thì chưa đắc đạo, nhưng mà thuyết pháp thì rất là hay, mà thuyết pháp rất là chuẩn. Nên vì vậy, Phật cho làm giáo thọ để dạy cho những tỳ kheo trẻ.

[2:04]Nhiều vị tỳ kheo mới xuất gia được cái trưởng lão Pothila này thuyết pháp dạy dỗ mà họ nắm được đường lối tu hành, rồi cái họ chứng đạo luôn. Riêng trưởng lão thì vẫn không chứng đạo. Nó rất là lạ. Chuyện này vẫn thường thấy nha, chuyện này đừng vẫn thường thấy như vậy. Nên đừng nghĩ là nhiều khi thầy giỏi hơn trò, có khi trò vẫn qua mặt thầy luôn. Đây là chuyện rất bình thường. Mà trò giỏi hơn thầy thì tốt thôi, không sao cả. Thì rồi Đức Phật là một người rất là nghiêm túc, thường Ngài không có nói đùa, không có khôi hài. Vậy mà riêng trưởng lão Pothila này, mỗi khi mà gọi Pothila thì Đức Phật đều gọi là, "Này Pothila rỗng, lại đây.

[2:53]Này Pothila rỗng, đến kia. Này Pothila rỗng, làm chuyện này cho Như Lai," vân vân. Tức là hễ kêu tên ổng thì có thêm chữ "rỗng". Kêu riết rồi ổng chịu cũng không hết nổi. Mới ban đầu thì thôi, thầy mình mắng mình, rầy mình sao cũng được, nhưng mà cứ chữ "rỗng" nó kèm theo riết rồi thì đối với Phật thì không ngại, nhưng mà đối với huynh đệ, bạn đạo thì bắt đầu nó thành cái ngại. Ngại cái cũng rất là xấu hổ. Thì đến một lúc nào đó cái cái Ngài mới biết rằng là sở dĩ mà Phật dùng chữ "rỗng" để mà rầy Ngài bởi vì Ngài tuy nói rất hay nhưng mà không đắc đạo.

[3:41]Và lúc đó Ngài cảm thấy rằng thôi, ngang đây cái sự nghiệp mà thuyết giảng ngưng lại được rồi, để mà chuyên chú lo tu tập thiền định, mở khai mở tâm linh cho chứng đạo. Ngài mới xin phép Phật rời khỏi hội chúng đông đang ở với Phật để đi về một cái vùng vắng mà nơi đó thì Ngài biết rõ là đang có 30 vị A La Hán ở với nhau.

[4:07]Khi Ngài đến gặp thì Ngài mới đến Ngài khiêm cung, Ngài đảnh lễ cái vị A La Hán mà lớn tuổi nhất xin học đạo. Ngài A La Hán lớn tuổi nhất mới chỉ, "Thôi thôi, ông hãy đến cái vị kế tôi, tức là xuống thấp một bậc." Thì đến Ngài mới đến đảnh lễ cái ông thứ hai. Ông thứ hai lại từ chối, chỉ xuống ông thứ ba. Xuống cho tới 30 ông, mà cuối cùng là một ông sa di nhỏ tuổi, cũng chứng A La Hán nhưng mà mới là sa di. Mà Ngài cũng kiên nhẫn đi đảnh lễ tới 30 ông, cho tới cuối cùng mấy ông chỉ lần chỉ lần xuống tới ông sa di luôn. Và Ngài cũng không tự ái, hay như vậy. Cái hay là công đức của Ngài cũng đầy đủ,

[4:49]cái sự thuyết pháp của Ngài rất là chân chính. Cho nên cái đạo đức, cái vô ngã, cái khiêm tốn của Ngài nó rất là viên mãn. Nên Ngài đảnh lễ từ cái ông lớn nhất, lễ xuống dần xuống dần, cuối cùng tới cái ông sa di nhỏ tuổi nhất. Thì cái ông sa di nhỏ tuổi nhất mới Ngài mới đến nói là, "Thưa ngài, tôi là Pothila, nay tôi muốn được đến đây để mà chuyên chú tu tập thiền định. Tôi đến tôi xin sự hướng dẫn của các ngài. Nhưng mà những vị trưởng lão đã chỉ tôi dần dần, dần dần và đến gặp ngài. Xin ngài hãy hoan hỷ, từ bi dạy cho tôi một cách dụng công tu tập." Khiêm tốn vô cùng. Thì ông sa di ổng mới đang ngồi trên bờ ao,

[5:37]ổng nói, "Nếu mà ngài muốn tu thì thôi ngài nhảy xuống ao đi." Ổng để nguyên áo nhảy xuống ao liền, tức là rất là vâng lời, bỏ hết bản ngã đó, bỏ hết bản ngã vâng lời, không thắc mắc. Cái thấy ông kia nhảy xuống ao đứng ướt dưới đó, ổng nói, "Thôi, lên đây." Kêu lên đây, rồi ổng nói thế này, nói, "Giống như một cái nhà mà nó có sáu cái cửa, thì sáu cái cửa đó nên gió đi vào đi ra, mưa đi vào đi ra, tiếng ồn đi vào đi ra làm cho cái người ngồi trong nhà không có chuyên tâm được. Thôi, ngài hãy đóng hết năm cửa, còn lại một cửa." Cái câu nói của ông sa di không có dính gì tới kinh Phật á. Nghe nó không giống một bài kinh nào mà Đức Phật đã thuyết cả.

[6:17]Tức là ông sa di chứng A La Hán này ổng nói một câu trực tiếp trong cái sự tu tập, không giống gì với những điều mà Phật đã thuyết, không trùng với bất cứ bài kinh nào. Nhưng mà ông trưởng lão Pothila ổng hiểu liền. Hay vậy, thế là sau đó ổng đảnh lễ ông sa di xong, ổng đi vào kiếm cái chỗ bằng phẳng dưới bóng mát và bắt chân lên ngồi. Và cái cách mà Ngài đóng năm cánh cửa hết, giữ lại một cánh cửa là gì? Ngài an trú toàn thân, biết rõ toàn thân. Có giống cái đường lối của mình bây giờ không? Giống hệt cái đường lối tu thiền của chúng ta bây giờ. Và khi mà Ngài an trú toàn thân, biết rõ toàn thân như vậy,

[7:02]cái lần lần cái thiền quán Ngài tăng trưởng, chánh niệm xuất hiện, rồi Ngài nhập vào định dần dần, dần dần. Lúc đó Đức Phật ở xa nhưng mà Ngài biết là ông trưởng lão Pothila này đã tới cái duyên chứng đạo. Và Đức Phật hay có một cái thủ thuật để giúp người ta đắc đạo là bằng cách Đức Phật hay hiện ra bất ngờ trong lúc đang đang đang nhập định thì cũng vậy. Lúc ổng đang nhập định vậy, Đức Phật hiện ra, hiện hào quang ra nói cái bài kệ: Tu thiền trí tuệ sinh, Bỏ thiền trí tuệ diệt, Biết rõ hai con đường, Trầm luân hay giải thoát, Vì vậy nên nỗ lực, Khiến trí tuệ tăng trưởng. Khi Đức Phật nói xong bài kệ thì Ngài chứng A La Hán luôn.

[7:46]Thì nghe cái bài này chúng ta phân tích thấy thế này: Trong đạo Phật, để độ người, một vị Bồ Tát có khi dùng thuận hạnh, có khi dùng nghịch hạnh. Thuận hạnh là những cái thái độ từ bi, những lời răn dạy tử tế, sự giúp đỡ ân cần, đó gọi là thuận hạnh. Chúng ta nhìn cái thái độ tốt của một vị Bồ Tát, của một vị chân sư đó mà chúng ta có được niềm tin để chúng ta đi theo tu tập, đó gọi là thuận hạnh, cái hạnh mà dễ biết, dễ hiểu, là ai cũng công nhận. Nhưng mà có khi Bồ Tát lại dùng cái nghịch hạnh, là cái sự nghiêm khắc, cái sự cứng rắn, sự quở trách, sự rầy la, đôi khi có phải dùng tới đòn roi,

[8:41]đó là làm cho chúng sinh bị dồn vào cái chỗ bức xúc, đau đớn, khổ sở, tự ái, nhờ vậy mà hiểu ra được một vấn đề gì đó.

[8:58]Ví dụ đó là cái mà Bồ tát ra mặt. Còn cái Bồ tát không ra mặt bí mật điều khiển cuộc đời của chúng ta nữa. Ví dụ như thế này, ví dụ như ta muốn đi chùa, hôm nay nghe nói là ở chùa có thuyết pháp, thế ta muốn đi chùa nghe pháp, thế mà nhà mình xa, hôm đó xe mình hư, rồi không biết đi thế nào, thì ta đứng ta khấn để khiến Chư thiên phù hộ, gia hộ, bỗng nhiên có một người gọi điện thoại tới nói: "Tôi tôi tôi tôi sắp đi chùa nghe pháp đây, anh có đi không?" Nói: "Tôi có đi, tôi muốn đi mà tôi tôi không có xe." Nói: "Tôi thì có xe mà tôi không biết đường." Thôi, "Ủa vậy tôi có xe, anh biết đường mình cùng đi."

[9:40]Thế anh ta lại rước mình, đó là thuận hạnh. Là ở trên Chư thiên, Chư Bồ tát dùng một thuận hạnh độ để đưa mình đi nghe pháp. Nhưng mà trường hợp nghịch hạnh là thế này. Trường hợp nghịch hạnh là ví dụ hôm đó mình muốn đi nghe pháp, à rồi mình có xe, lên xe đi, đi nửa đường xe hư, các ngài khiến cho xe mình hư. Nếu như vậy là mình còn đi nghe pháp được không? Mà tại sao lúc đó lại trên Chư thiên lại dùng nghịch hạnh? Bởi vì Chư thiên biết là mình đủ nghị lực và phải đưa ra một bài toán để cho mình vượt qua để cho tăng được công đức lên. Còn cái người mà thí dụ muốn đi nghe pháp mà nếu không có xe

[10:19]thì không thể đi thì người đó chưa đủ nghị lực nên phải dùng thuận hạnh để độ, là khiến cho có người tới chở đi, là dùng thuận hạnh đối với cái người mà chưa đủ nghị lực. Còn đối với người đủ nghị lực rồi thì bắt đầu lại dùng nghịch hạnh, đi nửa đường xe tắt máy vì đổ nhầm cái xăng pha nước lã với methanol, ví dụ vậy.

[10:41]Lúc đó mình lúng ta lúng túng mà lòng thì quyết tâm, đó, chính phải những người có quyết tâm thì Bồ tát mới đưa nghịch hạnh tới. Thế là ngồi xoay qua xoay lại không biết tính sao, cái nhìn thấy cái bãi giữ xe, đẩy xe vô đó gửi luôn. Xoay xở bằng cách gửi rồi lấy cái thẻ giữ xe ra cái là ngoắc xe ôm chạy tới tới chùa, như vậy. Tức là vẫn phải xoay xở, vẫn phải quyết tâm. Thì một lần quyết tâm trong cái khó khăn như vậy, nghị lực tăng lên, sức mạnh tinh thần tăng lên, ý chí tăng lên, công đức tăng lên. Thì thầy ta dạy ta cũng vậy, những vị thầy trực tiếp cũng vậy. Ví dụ cái người mà mới tới mà chưa xuất gia đó thì thầy nói ngon nói ngọt:

[11:18]"Ờ con ở đâu? Con học cái gì? Trời sao thấy con có căn tu quá. Con mà tu là tốt lắm nha. Con mà tu sau này chúng sinh mê lắm á. Rồi độ được nhiều người." Rồi khen quá khen. Thế mình nghe lời xiêu lòng cái mình đi vô xuất gia. Vô xuất gia rồi cái ông thầy ổng trở mặt liền. Nói: "Quỷ nhan, giờ này mà chưa dậy hả? Giờ này còn ngủ? Hư quá vậy nè! Còn tệ hơn là là mấy cái bà bán bánh bò ngoài chợ nữa! Đứng lên!" Thế là nói: "Ủa, sao ông thầy này ngộ vậy? Mới bữa trước ổng dễ thương, mình xuất gia rồi giờ ổng thành Dạ Xoa, La Sát, kỳ vậy?" Nhưng mà thực sự là cũng là ông thầy ổng từ bi tế độ. Nói: "Hồi trước là mình chưa xuất gia,

[11:58]mình tới chùa cái ổng gặp đâu ổng cười rồi ổng từ bi hỏi: "Con đâu tới? Ăn cơm chưa con? Con ăn đi." Giờ mà xuất gia rồi, ổng ngang ổng lườm một cái, cái mình không biết mình có lỗi gì." Thấy không? Không biết, ngồi cứ suy xét cả ngày: "Sao bữa nay thầy nhìn mình không vui? Thầy cứ nghiêm nghiêm nhìn mình." Ngồi cứ xét lỗi tới lui cả ngày: "Kỳ quá, sao bữa trước ông thầy dễ thương, bữa nay sao thầy ổng dễ ghét quá vậy nè?" Đó, đó là Mà tại sao ông thầy ổng dùng cái nghịch hạnh? Vì lúc đó mình đủ ý chí rồi, ổng biết cái sự phát tâm bồ đề mình mạnh rồi, thì ông thầy ổng phải dùng cái sự nghiêm khắc.

[12:29]Nghiêm khắc mới vượt lên được, chứ còn mà cứ chiều chuộng khen ngợi mình không tiến được, nhớ giùm thầy điều đó. Nếu mà chúng sinh được sống trong cảnh giàu sang sung sướng, không tiến được, không tiến tu, công đức không tăng trưởng, nên cái sự nghịch hạnh rất là cần thiết cho sự tu hành. Vì vậy, ví dụ cha mẹ thương con cũng vậy, thương con mà cứ chiều con muốn gì cũng được hết là nhớ là giết con mình đó nha. Đứa con không tiến được và nó tuột dần, tuột dần luôn. Ý chí không tăng trưởng, đạo đức không tăng trưởng, tài năng không tăng trưởng, rồi bắt đầu nó kênh kênh kiệu kiệu, nó hống hách rồi nó vô lễ, hỗn láo, là coi như cuộc đời nó tiêu.

[13:09]Nửa sau này nó ra ngoài cuộc đời không sống được với ai hết và gặp ai cũng ghét, như vậy. Cho nên các bậc cha mẹ mà thương con thì đừng có dại khờ mà cứ chỉ dùng thuận hạnh. Phải biết dùng nghịch hạnh khi cần thiết, phải biết rầy la, nghiêm khắc, bắt con mình phải vâng lời, vân vân. Thí dụ nhất là mấy đứa nhỏ, nó có cái tật khóc nhè, hễ thấy nó khóc cái lại: "Thôi nín đi con, bồng nữa nè nha. Cái này nó phá con nè." Lại đánh cái bàn một cái bốp, này cái này nó hại làm đau con tui, đánh cái cột cái bốp, đó. Cái đó là giết con mình. Vậy khi con khóc thì làm sao? Cứ để cho con mình nó khóc cho nó khỏe phổi nha.

[13:47]Nó khóc một lát nó mỏi miệng, nó hết khóc và nó hiểu một điều rằng nó khóc nó không được gì, nó ngoan nó mới được. Ở đây ai có con rồi kìa? Tất cả giơ tay lên cái thầy xỉu á.

[14:04]Nên cái nghịch hạnh là là rất là cần thiết nhưng mà phải đúng duyên, còn ví như đụng cái gì cũng dùng nghịch hạnh thì ông thầy đó cũng không có trí tuệ. Dùng nghịch hạnh khó lắm, khó hơn là thuận hạnh. Thuận hạnh khó đó đối với ông thầy. Tại vì để có thể lúc nào cũng thể hiện được từ bi, tử tế, đòi hỏi ông thầy phải rất có đạo đức. Nhưng mà khi ông thầy ổng đã có đạo đức, ổng đủ khả năng dùng thuận hạnh rồi, mà ổng cứ dùng thuận hạnh hoài thì ông thầy này chưa có trí tuệ. Nhớ như vậy. Thầy nhắc lại một điều: Ông thầy mà chưa thể lập được thuận hạnh, tức là ông thầy sao? Chưa có? Chưa có đạo đức đủ.

[14:50]Mà ông thầy chưa thể dùng nghịch hạnh đúng thì ông thầy đó là chưa có chưa có trí tuệ.

[14:59]Thuộc chưa? Thầy nói lại một lần nữa: Nếu ông thầy mà chưa thể có cái thuận hạnh đầy đủ, tức là chưa thể dùng lúc nào cũng có cái từ bi, nhân ái đối xử với mọi người nghĩa là ông thầy đó chưa có gì? Chưa đủ đạo đức. Mà ông thầy đủ thuận hạnh rồi mà chưa thể dùng nghịch hạnh, nghĩa là ông thầy đó chưa có? Chưa có trí tuệ. Nhớ giùm nha, nhớ đó, cái công thức là như vậy. Thì Đức Phật ta thì đã viên mãn giữa đức và tuệ nên Đức Phật thường là dùng thuận hạnh, lúc nào cũng từ bi, nhưng mà trong cuộc đời giáo hóa Đức Phật đã dùng nghịch hạnh rất nhiều lần. Kinh không ghi hết đâu nhưng Đức Phật dùng nghịch hạnh nhiều lắm.

[15:42]Có những lúc Đức Phật rất là nghiêm khắc, quở trách các tỳ kheo: "Này kẻ ngu si kia!" Đức Phật vẫn rầy nữa nha. Hoặc là có một lần, có một người Bà La Môn đến với mục đích là tranh biện với Đức Phật. Tại vì ở nơi cái đạo Bà La Môn của ông, ông là người rất là giỏi kinh Veda và biện luận rất là nổi tiếng, thuyết phục nhiều người. Bây giờ nghe nói có một Sa Môn Gautama đi giáo hóa đông người theo như vậy, ông không có phục và ông nghĩ rằng ai nói hay không thể bằng ông được, nên ông đến ông gặp Đức Phật để ông tranh biện. Thì khi đến gặp để tranh biện như vậy thì Đức Phật nói vài câu, ông bí. Ông bí rồi Đức Phật mới hỏi, Đức Phật mới hỏi để ông trả lời,

[16:29]nhưng mà nếu ông trả lời một cái câu đúng như Đức Phật hỏi thì tức là ông đã chấp nhận thua Đức Phật, chấp nhận rằng mọi cái giáo lý ông theo nào giờ đã sụp đổ tan tành, nên ông im ông không thèm trả lời. Ví dụ Đức Phật hỏi là: "Đối với một người Bà La Môn thì huyết thống là quan trọng hay đạo đức là quan trọng? Ví dụ một người có dòng máu Bà La Môn nhưng mà đó là một người ác hạnh, tà dâm, giết hại, thì như vậy có xứng là Bà La Môn hay không? Hoặc là một người tuy không phải huyết thống Bà La Môn nhưng mà người này có đạo đức, có thiện hạnh, có giới hạnh thì như vậy người này có xứng gọi Bà La Môn hay

[17:09]không?" Đức Phật đưa ra câu hỏi đó, ông không trả lời được, vì ông nói là nếu ông nói rằng là cái huyết thống quan trọng hơn, ví dụ cho người này có là trộm cướp gì nữa nhưng mà miễn mang dòng máu Bà La Môn thì là người này xứng đáng Bà La Môn thì coi như triết thuyết Bà La Môn tan vỡ luôn, phải không ạ? Như vậy Bà La Môn cướp cũng được. Như vậy Bà La Môn không còn gì là cao quý cả, mà cái cao quý để người ta tôn trọng Bà La Môn bởi vì đạo đức. Nên nhưng mà cái chủ thuyết của Bà La Môn thì cứ đề cao huyết thống, à. Cho nên khi mà Đức Phật hỏi tới câu đó, ông bí. Khi bí như vậy, Đức Phật hỏi, ông không trả lời vì trả lời là

[17:47]rớt vào bẫy, là phải chấp nhận cái giáo lý của của Đức Phật. Ông không trả lời, ổng cứ hỏi. Đức Phật hỏi tới lần thứ ba, lần thứ hai rồi ông không trả lời. Lúc đó, Đức Phật mới bí mật hiện ra một Thần Kim Cương, mặt mày rất là hung dữ, tay cầm cái chày vồ, hiện ra trước mặt cái ông Bà La Môn đó. Cái người Thần Kim Cang mới nói thế này: "Nếu ngươi không trả lời câu hỏi của Thế Tôn, ta đập đầu ngươi ra vỡ làm bảy mảnh." Mà rất là kinh khiếp, thế là ông sợ quá ông phải trả lời, phải công nhận đúng như vậy: "Cái đạo đức quan trọng hơn huyết thống." Và từ đó ông chấp nhận là cái đường lối, chủ trương, giáo lý, lý thuyết của Bà La Môn

[18:29]đã sụp đổ đối với giáo lý của Đức Phật. Nên trong đời giáo hóa, Đức Phật đã nhiều lần dùng nghịch hạnh lắm chứ không phải là không. Thậm chí có lần mà hăm dọa đánh bể đầu người ta chứ không phải là dễ đâu. Nhưng mà chúng ta đừng bắt chước gặp ai đòi đánh bể đầu nói: "Tôi bắt chước Đức Phật nghịch hạnh nha", không được. Thì như vậy đối với ông Pothila vậy, Đức Phật cứ là châm chọc, mỗi lần gọi: "Này, Pothila rỗng!" Cái chữ rỗng đi kèm theo mà đối với của một bậc Đạo sư thì nghe nó kỳ, nhưng mà mục đích là Đức Phật khơi dậy cái tự ái, cái xấu hổ của ông. Vì ông đang tự mãn nơi cái thuyết pháp của mình.

[19:09]Ông thuyết pháp hay quá và ông lúc nào cũng xem đó là sự nghiệp chính, là thôi cứ sống cả một đời như vậy, đi dạy hết người này dạy hết người kia coi như cũng là sống một đời xứng đáng, nhưng mà Đức Phật đâu có chấp nhận như vậy. Ngài ép phải chứng đạo tâm linh chứ không phải là ăn hay nói giỏi. Mà cái hay của ông á là nhờ ông thuyết pháp rất đúng với ý Phật.

[19:34]Nên công đức ông tăng dần, tăng dần. Thậm chí nhờ sự dạy dỗ của ông mà các tỳ kheo đến sau ông chứng đạo luôn, nên công đức ông rất viên mãn. Rất viên mãn nhưng chỉ có vướng một cái thầm trong tâm của ông là ông coi sự thuyết giảng này là sự nghiệp chính. À thôi, mình nói hay như vậy, độ được nhiều người như vậy là cũng được rồi, là một sự nghiệp xứng đáng trong đời rồi. Chính vì cái tâm bí mật đó mà ông kẹt, không không tiến được. Và bây giờ tới lúc Phật phải gỡ cái tâm đó ra. Phải dùng cái chữ rỗng, chữ rỗng riết để đánh vào cái chấp mà ông cho rằng đây là một sự nghiệp chính, đây là sở trường, đây là ưu điểm, đây là tài nghệ.

[20:16]Thì cái mà ông tự cho mình là hay thì cái đó Phật gọi là rỗng không. Không đáng, không có giá trị. Nên Phật cứ làm riết một tháng đó là đánh bứt luôn cái chỗ chấp của ông. Cái chấp của ông, ông cho rằng đó là sự nghiệp thì Phật kêu chữ rỗng, chữ rỗng riết một tháng trời, bứt luôn, tiêu luôn, hết chấp nổi. Mà khi ông hết chấp, không cho rằng cái thuyết giảng là sự nghiệp nữa, bắt đầu ông mới khát khao qua bên gì? Cái tâm linh chứng ngộ. Đó, vì cái chấp kia mà ông không khát khao thiền định chứng ngộ, nhưng mà bây giờ Phật dùng cái chữ rỗng đánh vỡ cái chỗ chấp đó, thế là mở ra cho ông một cái khát vọng mới.

[20:55]Chứ trước đây ông tự mãn với cái sự nghiệp thuyết giảng của mình, bây giờ ông mở ra một khát vọng mới là phải chứng đạo. Đó, tới lúc đó ông nhìn lại, biết rằng là so với những bao nhiêu vị tỳ kheo đắc định, đắc đạo, công phu của ông chưa được nhiều. À, thôi tới lúc phải buông hết, buông hết, từ giã hết những người học trò để mà xin đi, đi chuyên chú tu tập. Mà ông biết rằng ông ở gần Phật cũng không có chuyên tu được. Vì sao vậy? Vì gần Phật việc nhiều quá. Lúc ở những nơi mà tịnh xá của Phật ở lúc nào cũng cả ngàn tỳ kheo, mấy ngàn tỳ kheo. Người ta tới lui rất là đông, người tới để hỏi đạo, vua quan tới hỏi đạo,

[21:35]rồi người mới tu, người ra đi, người tới, ôi chu cha, thế là ông cũng phải phù việc để tiếp đãi, đón tiếp, sắp xếp việc này, sắp xếp việc kia. Thế nó giống như ngôi chùa bây giờ của ta cũng y như vậy thôi. Chứ ông thầy trụ trì rồi thôi cũng lo trăm công ngàn việc. Thì ở gần Phật như vậy đó, được cái phước nhưng mà khó có thời gian chuyên chú, nên ông đến ông xin Phật để tìm một nơi chuyên chú. Và đúng là cái duyên, Phật cho liền, chứ nếu mà chưa đúng duyên Phật không cho đâu nha. Vì cũng có một lần như vậy, có một lần một đệ tử Đức Phật là thị giả của Phật luôn, tên là Meghiya, cũng là bà con với Phật á, đang làm thị giả Phật cái tự nhiên bỏ Phật ra đi tu.

[22:13]Phật không cho mà cũng đành đoạn bỏ Phật đi. Đi rồi tu đâu được đâu, rồi phải quay về lại. Tới chừng Phật không cho rồi đi tu tâm nó loạn hết trơn lên. Ngồi thiền mà ôi chu cha đủ thứ niệm tưởng nó lên, loạn, lật đật trở về Phật liền. Mãi về sau cũng đắc đạo nhưng mà phải vâng lời Phật. Thì trường hợp ông Potthila là vâng lời Phật, Phật đồng ý cho đi, thế là ông đi. Và ông thay vì là xin sự hướng dẫn trực tiếp của Đức Phật, ông cảm thấy như vậy là nó hơi cao quá, ông sẽ đến một vị tỳ kheo nào khác để khiêm hạ hơn. Ông đến nơi gặp 30 vị tỳ kheo vậy. Mà ta nhớ một điều nè: Các vị A-la-hán với Phật là trong tâm biết nhau cả.

[22:57]Nó giống như vô trong cái mạng internet vậy đó. Cái tâm linh của A-la-hán với Phật như trong cái mạng dòm vô đó rồi là biết hết, thấy hết tất cả với nhau, tương thông tương ứng hết. Cho nên Phật xử lý thế nào thì các vị tỳ kheo A-la-hán kia cũng xử lý y hệt như vậy. Cho nên Đức Phật là dùng chữ rỗng để diệt hết cái tâm tự mãn ông này thì các vị trưởng lão tỳ kheo A-la-hán kia cũng vậy, cũng đến chào cái ông cao nhất theo đúng lễ để xin dạy thì ổng lại chỉ xuống ông thấp hơn. Đó, phải, tức là cái ngã mình hạ xuống một chút. Rồi ông này cũng không dạy, ông chỉ xuống ông trẻ hơn, thấp hơn, tới cuối cùng có ông Sa-di.

[23:37]Nhưng mà ông Potthila do công đức ông đủ, tức là những lời trước đây ông thuyết giảng cho mọi người nó chân chính, cho nên ông diệt được cái ngã mình và đủ khiêm hạ để quỳ xuống một ông Sa-di trẻ mà xin cầu pháp, hay như vậy. Ở ngang cái chỗ này thì thầy nói lại một chút xíu. Cái này nữa đọc Đỉnh Núi Tuyết thì ta sẽ biết, ừm. Ta nhớ cái lần đó, khi Đức Phật về thăm lại Ca-tỳ-la-vệ thì đó là điều mà vua cha Tịnh Phạn mong đợi. Vua cha Tịnh Phạn mong đợi hai điều. Đó là trước khi mất là ông chỉ mong được hai điều. Thứ nhất là được thỉnh Phật về thăm lại quê hương. Tại vì đã 8 năm rồi Đức Phật đã rời đi,

[24:19]6 năm tu hành và 2 năm còn ở Vương Xá với ở Lộc Uyển, mất 2 năm, là 8 năm. Bây giờ là xin được gặp Phật lần cuối. Thứ hai là cưới được vợ cho Nanda, tại vì đã truyền ngôi vua cho Nanda rồi mà Nanda vẫn chưa có vợ. Thì sau khi lựa riết, lựa được người cực đẹp, đẹp nhất nhì ở cái kinh thành đó, đã chuẩn bị đâu đó hết. Nghe tin Đức Phật đồng ý về, cho nên vua Tịnh Phạn không cho làm đám cưới trước mà đợi đến khi Đức Phật về rồi làm đám cưới luôn, tức là hai niềm vui trong đời ông cuối cùng trong đời ông rồi để ông yên lòng mà ra đi. Nhưng mà không ngờ, ông tính không bằng Phật tính. Phật về thăm xong cái lúc đó là lật đật cho tiến hành làm lễ cưới.

[25:05]Thì cũng theo đúng lễ thì Phật là anh cả mà, phải mời về dự. Đức Phật cũng tới dự đám cưới. Cho mọi người chúc tụng nhau đã đời lại xong cái Đức Phật đứng lên đi. Ngài đến ngang chỗ ngài Nanda đang mặc cái áo chú rể rồi uy lễ, đưa cái bình bát cho cầm giùm. Ngài đi ra. Thế ông kia ôm bình bát của Phật rồi Phật đi ra thì mình làm sao? Phải đi theo chứ, không lẽ ngồi đó mà lo vợ nữa. Mà nhất là Nanda là trong lòng là tôn kính anh mình vô phép, kính trọng từ hồi nhỏ là đã hết sức là tôn kính. Cho nên ôm cái bát cứ đi theo, đi theo. Thì mọi người cứ đứng ngớ, thì cứ nghĩ là đi chút xíu quay lại, thì mọi người cứ ở đây mà ăn uống chờ, đứng chờ.

[25:45]Thì Phật cứ đi nữa, thì lúc đó khi Phật về là ở đây chưa có tịnh xá, cho nên là vua Tịnh Phạn mới ra chỉ đạo là cái khu đất mà gần bên cái cung điện á, còn khu đất trống ngay nơi ba cái lâu đài mà ngày xưa xây cho Thái tử, nhớ không nè? Lâu đài mùa đông, lâu đài mùa hè và lâu đài mùa mưa, thì ở gần đó còn khu đất trống nên ở đó là dựng trại, tại vì Đức Phật không chịu vào lâu đài ở. Ngài không, ngài từ chối không chịu vào, cho nên phải dựng những cái lều trại tạm để cho Phật và cả 500 tỳ kheo ở. Thì cũng không xa cái cung điện lắm, cho nên các vị ở trong đám cưới yên trí rằng thì qua tới cái chỗ cái tịnh xá tạm đó,

[26:20]cái trại đó rồi chút về có mấy phút thôi, thôi cứ ngồi đây vui vẻ với nhau. Đâu ngờ, đâu ngờ than ôi, ai có ngờ đâu, đó, đời em là bể sầu gì đó, đại khái vậy. Thế khi mà ngài Nanda cứ kiên nhẫn vậy nè, mặc cái áo chú rể thiệt đẹp á, lững thửng lững thửng đi sau Phật, vừa đặt chân tới thì ngài Xá Lợi Phất ra đón, cái Đức Phật nói: "Đem Nanda thế phát." Nanda trừng hửng liền! Cạo tóc liền! Trừng hửng nhưng mà không dám cãi, tại vì trong lòng rất sợ và rất kính ông anh mình. Thế là ngài Xá Lợi Phất vâng lời dắt vô cởi áo ra, cạo đầu láng o, đắp y cà sa lên, ở lại đó, xuất gia rồi không đi về nữa, vợ con hết, ngồi đó tu.

[27:02]Tới bên đây cứ chờ hoài, chờ hoài thì những người thị vệ, tại vì vua Nanda đi theo thì một dàn thị vệ đi theo, tức là lính hầu đó phải đi theo. Đó là Đức Phật đi trước, Nanda đi kế thì nguyên đó là mấy chục thị vệ đi theo để hầu vua mà. Họ không hầu Phật đâu, nhưng nhiệm vụ họ là bảo vệ vua, đi theo. Tới chừng thấy vua mà cạo tóc hỏa hoảng lên hết trơn, lật đật chạy về báo thưa Đại vương vua Tịnh Phạn á là: "Vua Nanda đã thế phát xuất gia làm tỳ kheo." Trời ơi.

[27:31]Cô dâu cũng quỵu xuống chết sững luôn, quỵu xuống khóc luôn, nức nở. Thế là bà Kiều Đàm là sững người hết trơn. Công nương Da Du Đà La ngỡ ngàng không biết chuyện gì. Nhưng chỉ có một người hết sức bình tĩnh hoan hỷ là vua Tịnh Phạn.

[27:49]Lúc cái mọi người mới mới mới bà Kiều Đàm tại là con ruột của bà mà, Nanda là con ruột, mới chạy lại nói nói, "Nói thưa Ngài, bây giờ Nanda xuất gia rồi làm sao? Vua ngai vua ai giữ? Rồi đang đám cưới đây?" Vua Tịnh Phạn nói một câu: "Nếu ta còn trẻ, ta cũng xuất gia."

[28:12]Thì lúc đó là cái câu nói của ngài chưa thỏa đáng, cái ngài mới nói thêm, vua Tịnh Phạn mới nói thêm thế này: "Có lẽ duyên của Nan Đà với cái cô này, thầy quên cái tên này, nó có cái tên, là chỉ đủ để dự một cái đám cưới chứ không đủ duyên để sống một đời vợ chồng. Thôi mọi người hãy vui." Và lúc đó là có người em họ là Mahanama, mặc dù em họ chứ lớn tuổi hơn gần 20 tuổi á, lớn hơn Nan Đà gần 20 tuổi, nói: "Thôi, giao ngôi vua lại cho Mahanama luôn." Thành thử cái lễ cưới biến thành cái lễ truyền trao cái ngai vàng qua một người mới luôn ngay lúc đó luôn. Cái chuyện mà rất là là là kỳ lạ, cho nên là nói ai tính cũng không bằng Phật tính.

[28:52]Thì Đức Phật ngài có cái trí tuệ, ngài biết trước biết sau như vậy, mà vua Tịnh Phạn sở dĩ lúc đó ông bình tĩnh bởi vì ông chứng được nhị quả. Phật mới về thăm ông chứng được quả Tu-đà-hoàn. Qua một lần Phật thuyết pháp trước cái quảng trường ông nghe ông chứng được quả Tư-đà-hàm. Ngay Tư-đà-hàm lòng ông rất là, lúc đó là ông hiểu ra được nhiều điều, cho nên không còn vương vấn thế gian và việc xem việc con mình phải xuất gia là việc hết sức hạnh phúc. Cái nhìn ông khác hẳn. Rồi sau này ông lại chứng quả A-na-hàm lần nữa rồi mới mất. Thì ông Pothila vậy, ông là người mà được cái tâm khiêm hạ và vâng lời giống như Nan Đà mà vâng lời Đức Phật, nhờ vậy cái công đức vượt lên.

[29:40]Khi mà ổng đảnh lễ tới chú Sa-di cuối cùng thì cái ngã nó xuống tận cùng, mà xuống tận cùng mà ông Sa-di đó ổng chưa yên tâm, ổng bắt nhảy xuống ao. Đó, thì để trở lại cái chỗ mà Nan Đà, khi mà Nan Đà ông xuất gia rồi thì lúc ông chưa đắc đạo mà lòng thì cứ còn sao? Còn gì? Thương đứt ruột cái cô dâu kia, à, mà bị Phật bắt về thôi đành chịu, nghe lời anh mình là phải tu nhưng mà tu trong trong đau khổ. Thì một lần cái công nương Da Du Đà La mới tới thăm thăm em mình, gặp ngài Nan Đà rồi mới hỏi: "Sao, chú tu hành sao?" Nan Đà nói: "Thì em cũng ráng tu biết thì sao giờ? Giờ lỡ tu rồi." Thì nhưng mà có nói thế này trong,

[30:25]nhưng mà có cái điều cũng làm em khó chịu là mới ngày hôm trước còn là một vị vua điều hành một đất nước, trăm công ngàn việc, thoắt một cái bước vô làm Tỳ-kheo không còn việc gì để làm, hụt hẫng, khó chịu. Cái tâm trạng này rất giống như người nghỉ hưu phải không ạ? Khi trước còn làm tới chừng nghỉ hưu rồi về không việc gì làm ở nhà không khó chịu lắm. Vậy, thì Nan Đà bị cái đó mà đang còn trẻ, đang sức trẻ mới 20 tuổi à, nên là nói hết sức là khó chịu vì cái này. Và thêm một cái khó chịu nữa là thế này: là lúc làm vua thì quản lý chặt chẽ đâu đó cái gì nó có kỷ cương nề nếp của triều đình, bây giờ bước vào Tăng đoàn không có gì hết, tất cả lỏng lẻo.

[31:04]Mà em rất ngạc nhiên là Thế Tôn á, trước đây Thế Tôn là một thiên tài về tổ chức. Thế Tôn chẳng những tổ chức trong nước Sakya, nước Thích Ca, mà Thế Tôn còn tổ chức quyền lực tràn ra các nước khác mà quyền lực chặt chẽ. Nhưng mà bây giờ là Thế Tôn khi dựng lên một Tăng đoàn ngài hầu như không tổ chức gì cả. Rất là ngạc nhiên điều này, không hiểu nổi mà không dám hỏi, cứ để yên trong bụng. Đó có cái câu chuyện, nhưng mãi sau này khi mà ngài Nan Đà chứng A-la-hán rồi ngài mới biết chuyện đó. Sau này ngài mới nói chuyện với Da Du Đà La hay là nói chuyện với ai không biết, là thì ra khi trong cảnh giới chứng đạo

[31:43]các vị Thánh họ biết nhau cả, cho nên cái sự quản lý trong đó rất là chặt. Bề ngoài coi lỏng nhưng bên trong rất là chặt, bởi vì tâm linh, tâm và tâm nối nhau hết, biết nhau hết. Còn bây giờ đạo Phật ta lỏng hay chặt? Lỏng. Là bởi vì sao? Ta không có những vị lãnh đạo giáo hội mà chứng A-la-hán. Cho nên chỉ còn nhìn trên hình thức bên ngoài ráng được chút nào thì hay, còn thời Đức Phật nhìn bên ngoài thấy để lỏng để tự giác, nhưng bên trong rất là chặt vì tâm các ngài biết nhau hết. Thì cũng vậy, khi mà ông Pothila ổng bị Phật quở để diệt bản ngã, ông tìm đến các vị A-la-hán kia, các vị A-la-hán kia cũng biết rõ ý của

[32:26]Phật là để diệt bản ngã của ông, cho nên là hạ ông xuống từ từ xuống gặp tới chú Sa-di mà chú cũng chưa yên tâm, bắt ông nhảy xuống ao luôn. Tức đó hành động rất là nhục mạ, phải không ạ? Nhưng mà ông sao? Cũng chấp nhận hết, diệt hết bản ngã, nhờ vậy mà ông đủ công đức để chứng ngộ. Mà cái hay của ông Sa-di này nói không cần qua kinh điển, nói bằng trực tiếp, như căn nhà có sáu cửa: gió vào, mưa vào, ánh sáng vào, tiếng động vào, đóng hết năm cửa, giữ một cửa thôi để nhiếp tâm. Mà ông này rất là hay là nhờ bao nhiêu năm ông thuyết pháp nên giáo lý ông rất là vững và ông đóng hết cửa, giữ lại một cửa bằng cách là chỉ biết toàn thân thôi, không còn biết gì nữa.

[33:06]An trú toàn thân, biết rõ toàn thân thôi, rồi suy nghiệm, quán thân vô thường, không giờ rời thân nữa, nhờ vậy năm cánh cửa đóng hết, còn lại một cánh cửa là thân. Thế là ông bắt đầu vào thiền luôn. Cái công phu này thật là là độc đáo. Chúng ta bây giờ cũng bắt chước như vậy là đừng bao giờ rời thân, lúc nào cũng nhớ thân mình là là vô thường, nhớ như vậy nha. Cái câu thế này: "Tu thiền thì trí tuệ sinh, bỏ thiền trí tuệ diệt." Nhớ, đây là chân lý tuyệt đối. Đây là chân lý tuyệt đối. Ví dụ có thể có một người nào đó có cái thông minh khôn ngoan, nhưng mà đừng ỷ, vì sao vậy? Vì nếu họ không có thiền, cái thông minh cái khôn ngoan

[33:51]đó coi vậy không tồn tại lâu và nó không phát triển. Lúc nào đó nó sẽ cùn, nó lụt, nó bị giảm bớt và nó không nhạy bén nữa. Cho nên là phải ráng cố gắng thiền định. Một giảng sư cũng vậy, ví dụ cũng một cái đề tài đó, cũng một cái dàn bài đó, ví dụ ông giảng sư đó ổng giữ một cái dàn bài đó ổng đi giảng năm nơi, năm nơi. Như thầy là không được, thầy là một bài một là giảng một nơi một, không giảng được hai lần, trừ vài trường hợp đặc biệt thôi chứ còn là phải giảng một nơi vì thâu đĩa rồi thì đâu giảng lại được. Còn hồi xưa thì do không có thu đó nên một bài có thể giảng được hết năm này tới năm kia.

[34:32]Nhưng mà đây ví dụ như là một bài ổng soạn rồi ổng giảng năm chỗ, nhưng mà năm chỗ đó sẽ giảng khác nhau, hay dở khác nhau. Vì sao vậy? Vì cái bữa nào mà ổng ngồi thiền tốt, bữa đó bài giảng rất hay vì nó nhạy bén, trong não nó nhạy bén, nó phát triển, nó soi sáng đủ thứ hết, rất là hay. Còn bữa nào mà ông ngồi thiền chểnh mảng hoặc là ông bị mất thời gian không ngồi thiền được thì chắc chắn bữa đó cùng bài đó, cùng dàn bài đó, ông giảng rất là dở, không hay. Đó như vậy. Cho nên vì vậy làm cái người giảng sư phải siêng năng thiền định để cho bài giảng mình có chất lượng mà cũng là để mình giải thoát, cũng để là chiến đấu với với chính mình.

[35:19]Mà không riêng giảng sư, tất cả mọi lĩnh vực trong cuộc sống đều như vậy. Ví dụ đó là một người thầy giáo dạy học, ví dụ đó là một người giám đốc điều hành một cái doanh nghiệp, ví dụ đó là một nhà văn, ví dụ đó là một cán bộ công chức, mà nếu ngày đó có ngồi thiền ổn định thì công việc xử lý rất tốt, sức sáng tạo rất là nhanh, rất là sắc. Còn nếu mà bữa đó không ngồi thiền thì mọi việc mình xử lý rất là dở, rất là chậm. Cho nên tất cả mọi người, kể cả học sinh, sinh viên, ai cũng phải, ai cũng phải làm sao? Phải ngồi thiền nha. Ai cũng phải, mỗi ngày đều phải ngồi thiền, mỗi tháng đều phải tới Tự Thân mà tu thiền.

[36:04]Nha, tại mỗi tháng ở đây ta đều có khóa thiền, trước cái ngày thầy giảng hai ngày là bắt đầu buổi chiều thứ Sáu là vào khóa thiền, nguyên ngày thứ Bảy ngồi thiền, rồi sáng Chủ nhật thầy giảng là kết thúc khóa thiền. Cho nên ai cũng phải ráng tu thiền, mỗi ngày tại nhà mình và mỗi tháng tại tại chùa Từ Tân. Còn người nào mà chỉ đợi giảng mới đi nghe, còn nghe tới cái thiền thì trốn thì người đó ra sao? Người đó là gì? Người đó là gì? Là Phật kêu gì đó? Ừ, người đó là là là rỗng. Ngày xưa Phật gọi là rỗng, thời bây giờ ta gọi là dỏm nha.

[36:55]Trong bài kệ Pháp Cú có câu này: "Biết có hai con đường: trầm luân và giải thoát, vì vậy nên nỗ lực tu tập." Lại có hai con đường nó ngược nhau, một là con đường đi trong luân hồi sinh tử, hai là con đường giải thoát giác ngộ. Biết rõ rồi bây giờ dứt khoát chọn một cái giùm. Dứt khoát chọn một cái. À, dứt khoát chọn một cái là sao? Nếu mà ta đắm luyến cuộc đời thì buộc ta phải sao? Phải từ bỏ con đường giải thoát. Còn nếu ta quyết định đi con đường giải thoát thì phải làm sao? Phải từ bỏ thế tục. Đó, một hai con đường. Nhưng mà có người nói: "Bây giờ con rất muốn đi con đường giải thoát nhưng chưa thể bỏ con đường thế tục liền." Có không à? Có nhiều nha.

[37:46]Thì lúc này là đi bằng cách nào? Nói thầy nghe. Mỗi chân một một đường, phải không à? Nhưng mà hai con đường đó nó càng lúc nó càng xa nhau thì chân mình để đâu? Chân mình để đâu? Nhớ nha, hai con đường á thì một con đường là tráng nhựa, một con đường cũng tráng nhựa. À nhưng mà con đường tráng nhựa của thế tục á, đi một lát á bắt đầu nó tới cái gì? Tới hầm hố, tới hố tử thần, tới sình lầy đồ rồi đau khổ rồi đi tuột xuống dốc, là không biết đi về đâu. Còn cũng con đường tráng nhựa nhưng mới ban đầu mình thấy gai góc, gồ ghề nhưng càng đi càng êm, càng sáng nha, bay luôn. Nhưng mà khoảng giữa hai con đường đó là cái gì? Là gai góc.

[38:32]Nên nếu mình đặt chân mỗi chân một con đường thì hai con đường nó xé cái chân mình ra hai hai bên. Lúc cuối cùng mình không còn đi được con đường nào nữa và phải ngồi ở trên trên gai góc. Ngồi trên gai góc thì chuyện gì xảy ra? Cảm giác như thế nào? Tưởng tượng đi, thầy không kể làm chi, thầy không diễn tả, tự mình tưởng tượng ra. Cái gai nào gai nấy nó bằng cái đinh mười nó ló ló lên thì khi mình ngồi lên đó thì chuyện gì xảy ra? Tưởng tượng đi. Thường thường á khi ta chưa đủ phước á thì nếu người không biết gì về đạo thì đi trên con đường thế tục. Đến khi ta biết đạo rồi cái ta cứ đặt một chân lên con đường

[39:09]giải thoát, đặt được ít bữa cái bị rút về, đặt ít bữa rút về, rồi từ từ cái đứng qua hai bên mà rất là khó đi. Đó, rất khó đi là sao? Cái người mà yêu sự giác ngộ, giải thoát rồi mà sống ở đời sống không được. Nó cứ bị dằng xé, dầy vò, day dứt hoài, có đúng không à? Có đúng không? Mấy người chưa day dứt là mấy người chưa có yêu mến sự giải thoát, chứ người mình yêu mến sự giải thoát, giác ngộ rồi mình bị day dứt là nhiều khi cái ràng buộc của cuộc đời đó, có gia đình, có vợ, có con, có chồng rồi phải lo, nhưng mà trong lòng cứ ham tu, thành thử nó cứ day dứt, day dứt hoài. Còn người mà không day dứt gì hết á thì đáng ngờ lắm nha, đáng ngờ lắm.

[39:49]Nhưng mà đến khi mà ta đủ phước rồi thì ta sẽ bước hẳn qua một con đường là con đường giải thoát đi luôn. Giống như ông Pothila, bao nhiêu năm ông thuyết pháp rất là chân tình, rất là sâu sắc, rất đúng ý Phật, à nên đến ngày hôm nay khi phước đủ rồi là ổng dứt hẳn ổng đi luôn, là đi chuyên sâu để đạt được cái đạo quả luôn.

[40:11]Ở đây nó có một cái chi tiết nhỏ nhỏ thế này: Ông là người thuyết pháp bao nhiêu năm cho bao nhiêu người tu đắc đạo, nhưng đến khi ổng muốn tu, bỗng nhiên ổng không có biết đường tu, bỗng nhiên phải hỏi lại. Lạ không? Có một cái ranh giới mong manh giữa lý thuyết và thực hành. Như một người nói rất là hay, nói thao thao hết, nhưng mà nếu không có thực hành, sự thật là cái đạo lý người đó vẫn chưa thông.

[40:43]Chừng nào người đó có thực hành mới thông được, chứ không phải là dễ đâu. Nên ông Pothila vì cái thực hành ổng kém, mặc dầu nói thì đúng hết á, nhưng mà coi vậy chứ vẫn còn kém một mức. Thì ta qua nghe qua cái Pháp Cú khác: "Chỉ đốn ngã vài cây thì làm sao diệt hết cả khu rừng ái dục đầy sợ hãi, não phiền? Nếu chưa đốn hết rừng ái dục giữa nữ nam, tâm ý vẫn buộc ràng như bò con bú mẹ." Phật nói cái bài Pháp Cú này bởi vì có một câu chuyện à là lúc đó đó ở thành Xá-vệ có nhiều cái người cư sĩ nam hay làm từ thiện. Khi họ cũng cúng dường cho chúng Tăng, cho Đức Phật, rồi nghe Phật dạy là sống phải biết

[41:32]làm à giúp người, nên họ hay rủ nhau làm những việc từ thiện, giúp đỡ người nghèo, sửa đường, bắc cầu rồi xây nhà cho người nghèo, vân vân, tức là họ làm. Đến khi họ lớn tuổi lên chút xíu thì ừm thì cái họ mới a thấy: "Thôi thì mọi việc đủ rồi, giờ xin xuất gia." Thì Phật cho xuất gia nhưng mà họ theo chúng không nổi. Theo những vị Tỳ-kheo trẻ mà tinh chuyên tu tập đồ, họ tu không nổi, với lại họ giàu có của cải nhiều quá. Mà bây giờ mà ôm bát mà đi khất thực ngoài đường nắng chang chang họ cũng không làm nổi, nên họ mới xin Phật là: "Thôi cho con xuất gia, rồi con bỏ gia đình nhưng mà con theo chúng không

[42:13]nổi thì Phật du di cho con tụi con cất những cái cái am, cái cốc vậy đó cũng sát bên tinh xá để tụi con nương theo chúng mà tu, nhưng mà đời sống tụi con thì cái sự tu hành nó hơi xuống hơi hơi thấp hơn một chút." Thì Đức Phật thấy cái phước họ cũng đủ là do nhiều năm mà họ cúng dường chư Tăng nhiều quá, nên cũng có cái phước Phật cho. Thì thôi họ cất cốc có độ ba mươi giây vì nhà ai cũng giàu mà. Rồi à mà nói nữa mà bây giờ mà ôm bát mỗi ngày mà đi lang thang trên đường đi khất thực họ cũng không làm nổi, cái sau đó mới có một bà vợ của mấy ông á mới đứng ra là nhận nhiệm vụ đó: "Thôi thôi, thôi các vị khỏi đi khất thực,

[42:50]là sẵn nhà cũng rộng rãi, cứ mỗi ngày các vị cứ lại đây, à tôi nấu sẵn hết mọi thứ, các vị ăn rồi cái trở về cốc lại, tôi sẽ phục vụ hết." Cái bà phát tâm rất là tốt thì bả lo hết, còn mấy ông bây giờ khỏi lo gì nữa. Thì coi như có một bà làm osin, nấu ăn rồi y phục, may vá gì rồi bả lo tất tần tật hết, thuốc thang gì bả chuẩn bị hết. Cho nên coi như là đâu khoảng mười mấy cái ông ông Tỳ-kheo đại gia đó tu mà rất là sướng, tu rất là sướng. Cho đến một ngày đẹp trời, bả chết. Bả chết rồi mấy ông sao? Bơ vơ, khóc hu hu như là con nít, à. Cái chuyện mới tới tai mấy vị Tỳ-kheo mới mét lên Đức Phật, Đức Phật mới nói cái bài kệ đó.

[43:35]Ý Đức Phật nói thế này: Là ở hình thức bên ngoài đó thì thấy như bả là thôi bây giờ bả là một nữ cư sĩ để hộ trì cho mấy ông Tỳ-kheo già, nhưng mà lẫn ở bên trong tâm ý đó vẫn còn cái tình cảm nữ nam chưa hết. Chính vì cái tình cảm nữ nam nó cứ lẫn khuất, cho nên mấy ông vì vừa được cái ăn uống, phục vụ đời sống, vừa có cái tình cảm vui vẻ, cho nên bây giờ cái đó mất đi một cái hụt hẫng, đau khổ, khóc hu hu liền như con nít. Và Phật dùng chữ là như bò con bú mẹ. Tại cái con bò con á lúc nào nó cũng thèm bú, mẹ nó thì cứ phải ăn cỏ để có sữa thì mẹ đi đâu nó cứ chui chui chui chui đầu rồi nó cứ bám bám theo cái cái vú mẹ nó để mà nó bú.

[44:16]Cái cảnh nó gì cứ đeo đeo thì cái tình cảm nam nữ như vậy, con người ta cứ đeo đeo đeo theo nhau coi cũng tức cười giống như vậy, ý là như vậy đó, ừ. Phật mới nói thế này: "Hồi xưa á mấy ông này cũng là một đàn quạ, hồi kiếp xưa xưa như vậy, rồi cũng có cái chuyện nó giống như vậy, bây giờ thì làm người lặp lại thôi, nhưng mà thôi được làm người tu hành cũng là tốt rồi." Ừ. Ở đây là thế này: Là sự thực á, Đức Phật ta cũng rất là linh động, Ngài uyển chuyển chứ Ngài cũng không cứng ngắt. Vì khi một vị Tỳ-kheo mà tu hành á thì phải giữ bao nhiêu giới, oai nghi tế hạnh, sống trong chúng nề nếp, gương mẫu, ôm bát đi khất thực, không có

[45:00]không có xin ai là không có dồn chỗ nào mà cứ xin một người hoài, phải đổi người này qua người kia để đừng có cái tâm cố chấp. Nhưng mà trường hợp của mấy ông già này, già rồi bây giờ mà bắt mấy ổng mà sống như các Tỳ-kheo trẻ để mà thanh thoát cũng không nổi, nhưng mà bỏ cũng không được, vì sao? Vì cái phước ông mấy chục năm ông cứ cúng dường Phật và chúng Tăng, nó thành cái phước rất là lớn cũng không từ chối được, nên chính vì cái phước đó nên Phật chấp nhận cho ông các ông sống một đời tu tương đối dễ dãi. Mà chuyện đó bây giờ có xảy ra không? Bây giờ các chùa cũng xảy ra. Thầy cũng thấy nhiều lắm.

[45:36]Hồi thầy đi tu cũng vậy, thầy thấy tự nhiên có những người họ lớn tuổi mà họ xin xuất gia rồi Hòa thượng cũng cho, cho rồi họ cất cốc họ ở riêng hết trơn à. Cất cốc ở riêng, có những người có những ông già, những bà già. Khi đến đó thầy mới tò mò thầy hỏi, hỏi thì đúng là những vị đó họ theo họ hộ trì đạo lâu lắm rồi, vừa theo hộ trì cho Hòa thượng mà vừa đi cúng dường hết chùa này chùa kia, nên cái phước họ đủ rồi cái buộc lòng Hòa thượng cũng phải cho cho xuất gia. Nhưng mà xuất gia họ cũng không có theo chúng nổi. Tại chúng cái thời đó là phải thức khuya dậy sớm học hành bao nhiêu kinh điển rồi làm lụng rồi nhất là lao động trong chúng cực lắm,

[46:11]cái thời đó đang đói kém mà, cứ phải làm lụng để kiếm từng miếng ăn, đi tỉa lúa, trồng lúa rồi đập lúa, cắt lúa cực lắm, không phải dễ, họ không nổi. Ở đây có nói: "Chỉ đốn ngã vài cây thì làm sao diệt hết cả khu rừng ái dục?" Nghĩa là sao? Nghĩa là cái ái dục trong lòng của mỗi người đó nhiều lắm. Mà nếu trên hình thức à chúng ta chỉ à giống như từ bỏ được một vài mối quan hệ gia đình thì cũng chưa gọi là hết được ái dục. À mà để hết được ái dục thì phải triệt để hơn, giống như đời sống của các tỳ kheo gương mẫu vậy. Nhưng mà ở mấy ông già này do cái sức không kham, cho nên là nhìn thì thấy hình thức là bỏ nhà

[46:56]cái nhà lớn đằng kia, bỏ biệt thự đằng kia vô cốc ở. Nhưng mà sự thực cái cốc đó cũng lại là một cái biệt thự thôi. Trong đó cũng đủ đồ nghề ở trỏng hết, cũng màn hình mỏng đồ, rồi cũng điện thoại di động, cũng tủ lạnh đồ đó, cũng bếp ga, rồi cũng nệm ấm chăn êm, đại khái cũng là cái biệt thự, đại khái như vậy. Nên là bỏ cái gọi là đốn ngã vài cây đó. Nhưng mà để khi nào mà mới có thể là diệt hết ái dục? Thì theo nguyên tắc phải chứng tới Tam quả hoặc là Sơ thiền. Thì bắt đầu lúc đó cái tình cảm đó bị chặt đứt hết. Nên một vị mà Thánh chứng A-na-hàm Tam quả là vị đó không còn bị cái tình cảm buộc ràng.

[47:36]Hết luôn ái dục luôn là chứng Tam quả. Còn Sơ thiền thì cũng ly dục, ly bất thiện pháp. Sơ thiền là tương đương với Tam quả nha. Nhưng mà chỉ có cái là chứng thiền chứ chưa phải là quả Thánh. Quả Thánh khác và thiền định khác. Ví dụ như thế này, có một người chưa chứng Thánh quả nhưng họ dùng cái chánh tư duy, họ suy nghĩ là ta không nên đắm luyến chuyện đời, ta không nên đắm luyến ái dục, vân vân, họ suy nghĩ rất nhiều và họ cương quyết họ không đắm luyến. Thì cái đó gọi là dùng chánh tư duy và như lý tác ý để mà chặn cái ái dục. Nhưng mà chặn thôi, chưa phải là hết. Hết là phải chứng Tam quả hoặc là Sơ thiền. Nhớ như vậy. Hai cái đó khác nhau.

[48:19]Nên khi ta thấy một vị tỳ kheo mà nghiêm túc, không phạm thì đó là một trong hai trường hợp: một là vị đó đã chứng tâm linh tới Tam quả, hai là vị đó có cái chánh tư duy rất là tốt, có cái nghị lực rất là tốt. Nhưng mà cái nghị lực tốt thì chưa bảo đảm. Ngày nào mà có chuyện tổn công đức cái là cái nghị lực đó nó mất cái là dính lại liền. Nên là phải sao? Phải chứng quả mới là chắc ăn. Cái nguyên tắc là như vậy. Biết làm sao bây giờ? Thì trách thì trách vậy thôi. Phật trách thì mình cũng phải nghe vậy để mình biết cho mình thôi, chứ cũng không trách mấy ông già đó được. Tại vì nhiều khi mấy ông già đó chỉ đủ phước để xuất gia mà

[48:58]cũng chưa đủ phước để chứng quả, nên cứ như vậy hoài. Cái bò con bú mẹ nó là bản năng sinh tồn, thì Phật ví với bản năng ái dục, thành thử làm cho ta cứ bị, bị lôi kéo, bị lẩn quẩn. Thì nhớ điều này: khi mà nghe câu chuyện này ta hiểu một điều: khi ta chưa chứng Thánh, đừng ai nghĩ mình đàng hoàng nha. Vì bản năng nó còn nằm đó, bản năng ái dục còn nằm lẫn ở trong tâm. Nó phải rất là kiềm chế, rất giữ gìn và rất khiêm hạ, biết rằng hễ sơ sẩy mình mất liền. Nên vì vậy là cứ phải hết sức là cẩn thận. Ta nghe một câu bài khác. Bài kệ này Phật nói: "Tự cắt dây ái dục / Như ngắt đứt cành sen / Hãy tu pháp tịch tịnh / Như Phật dạy Niết Bàn."

[49:47]Phật nói cái bài kệ này là nhân cái câu chuyện này: ngài Xá Lợi Phất ngài có độ một đệ tử trẻ thì người này là một người thợ làm vàng thông minh. Ngài Xá Lợi Phất mới thấy người còn trẻ nên sợ là mắc cái ái dục nên ngài mới dạy vị tỳ kheo trẻ đó quán bất tịnh. Quán bất tịnh là hãy quan sát nơi thân mình và thân người nó là gồm những thứ gì. Trước hết là trên đầu là tóc, ở trong đầu là óc, như vậy. Giữa tóc và óc là xương sọ, da, gân, máu, thịt, những chất tủy đồ vân vân. Và xuống dưới thì sao? Thì đó, nhiều thứ nữa phải không? Nói về giải phẫu học ở trong kinh Phật là một giải phẫu học rất là hay.

[50:44]Từ đến răng, xương, rồi phổi, gan, tỳ, ruột, những chất dịch nào trong kinh Phật phân tích cái đó rõ lắm là khiến mình phải biết hết. Thì nói mà nói mà sạch á thì thân người cũng là sạch nhất, vì các huyết tương, các máu là phải vô trùng, nếu có vi khuẩn nhiễm vào là phát sốt liền, là phải rất là tinh khiết, những thành phần nó dù những vi chất hay những đa chất đều phải hết sức là hợp lý, nên máu con người rất là tinh khiết. Nhưng mà cái mùi máu thì sao? Rất là tanh, rất là tanh. Mà đã nhuốm máu rồi thì rất khó mà tẩy rửa, nên người ta phá án được là nhờ như vậy. Rồi còn cái cái mà cơ thể mình sau khi dung nạp

[51:29]rồi bài tiết ra thì nó ra là cái thứ gì?

[51:34]Toàn thứ khó xài. Ví dụ như mình hít vào thì mình lấy oxy thở ra thứ gì? CO2 à. Cái thứ đó làm sao? Thứ đó hít nhiều chết liền, rất là độc. Mình hít vào để mình lấy sự sống của trời đất, nhưng mình thở ra mình trả lại cái sự chết cho trời đất. Thải ra carbonic mà. Đó là hơi mà hít ngồi hít lát chết liền. Rồi như vậy là cái sự sống này nó làm sao? Thấy rất là ghê phải không ạ? Mình lấy cái sự sống của trời đất là oxy, mình trả lại carbonic, trả lại cái sự chết cho trời đất này. Rồi khi mình ăn vào, mình lựa những món thơm ngon, ngọt mình ăn, nhưng mà khi trả lại trả cái cái thứ gì? Thứ gì mà nói không được vậy đó. Nghĩa là khi mà khi mà ta biết như vậy

[52:23]thì ta không đắm luyến nơi thân mình mà ta nhìn nơi thân người cũng không đắm luyến.

[52:31]Nhưng mà thực tế thì sao ạ? Thực tế thì sao? Lúc đó hồi thầy mới đi vô thầy tu á thì mới nghe mấy thầy lớn hơn thầy tâm sự, mà lúc thầy cũng không hiểu lắm. Thầy không hiểu lắm. Thầy cũng nghe kinh Phật dạy bất tịnh vô thường thì mình cũng biết vậy thôi. Còn mấy thầy mà lớn hơn á, mấy thầy có kinh nghiệm thì mấy thầy mới nhá cảnh giác, thầy mới nhắc nhở. Nói: "Chứ quán bất tịnh cũng cẩn thận rồi nha. Ví dụ mình nhìn một cô gái mà mình cứ quán bất tịnh cổ thế này thế kia cái lát mình mê cổ luôn á." Thầy cũng không hiểu, sự thực lúc đó thầy cũng không hiểu. Mãi sau này thầy mới hiểu là thế này: là ví dụ như khi mà có cái nghiệp mà người ta

[53:12]thương nhau á, thì biết là bất tịnh mà mê vẫn mê. Đó là một cái có thật. Mà ngài Xá Lợi Phất á thì bằng cái tâm của một bậc Thánh thì ngài thấy rằng hễ mà thấy được sự bất tịnh thì người ta bớt đắm luyến. Nhưng trong thực tế, cái nghiệp của chúng sinh nó nặng hơn cả cái quán chiếu đó luôn á. Biết quán chiếu bất tịnh hết, nhưng mà khi mê rồi vẫn vẫn mê chứ không phải là không. Có không ạ? Có. Mà nhưng mà tại sao các vị bậc Thánh thì họ nghĩ rằng là chỉ quán bất tịnh thì họ vượt qua sự mê đắm cái cái sắc dục? Là sự thật đứng ở cái góc của vị Thánh thì nó lại khác, lạ như vậy. Ví dụ một người phàm phu, như một người nam đi,

[53:55]nhìn thấy một cô gái đẹp thì thấy rất là thích. Thích là gì? Vì cái sắc đẹp của cổ, là vì cái sự hấp dẫn tự nhiên giữa nam và nữ, nó có một cái điện sinh học vô hình khiến cho người nam cứ hay thích người nữ. Nó là cái điện sinh học vô hình không cần giải thích đâu. Cô gái đẹp mà cổ ngồi chình ình đó là bao nhiêu con mắt cứ dòm tới vậy thôi, kể cả đàn ông có vợ cũng vậy, cho nên các bà vợ bả rất là tức. Bả nói là: "Có vợ rồi mà cứ đi liếc gái." Nhưng mà phải thông cảm vì nó là bản năng, cái điện sinh học nó kéo chứ mấy ổng cũng chẳng muốn liếc gái làm chi. Nhưng mà cái điện sinh học tự nhiên như vậy nó cứ kéo mắt mấy ổng dòm lại.

[54:32]Nhưng mà một bậc Thánh khi mà nhìn thấy một cô gái đẹp thì không nhìn cái hình dáng đó mà nhìn cái khác. Đố ai biết vị Thánh nhìn cô gái đẹp là nhìn cái gì?

[54:44]Khi một vị Thánh mà nhìn cô gái đẹp á, thì nhìn cái nghiệp quá khứ của cổ, nhìn cái nghiệp tương lai của cổ, nhìn cái tâm của cổ. À mà còn cái bất tịnh thì đương nhiên các ngài thấy liền. Thấy phía trên đẹp chứ phía dưới thì nhiều thứ dữ lắm. Đó, bởi nhìn khi nó quân bình, coi vậy chứ ở trên và ở dưới khi mà cộng hai thứ lại bằng nhau thì không còn thứ gì đẹp nữa hết, nó huề, không có gì để mình hấp dẫn. Nhưng mà hễ nhìn phía trên không thì thấy nhan sắc, nhưng mà nếu biết ở phía dưới rồi cộng lại trừ lại là zero. À! Nó vậy bỏ. Nhưng mà quan trọng nhìn cái tâm, tâm cô gái đó là gì? Cổ chứng Thánh chưa? Chưa.

[55:23]Mà nếu cổ chưa chứng Thánh thì trong tâm cổ còn gì? Tham lam, phải không ạ? Sân hận, phải không ạ? Si mê, phải không ạ? Ích kỷ hả? Hơn thua hả? Đố kỵ hả? Hỗn láo hả? Chanh chua hả? Chảnh chọe, xí xọn, đanh đá, đố kỵ, ganh tị, ghen tuông.

[55:44]Dấu giếm, gian dối. Thôi thầy nói riết chắc có người chửi thầy chết. Là khi một vị Thánh mà nhìn thấy một người phụ nữ thì nhìn thấy tất cả những đặc tính đó. Thấy coi những đặc tính nó như vậy. Ví dụ như bây giờ ta nói ha, trong đêm có một người đàn ông đi vào một căn nhà, rồi cái một cái bà chủ bả bước ra, khi thấy bà chủ cái ông đó lật đật ổng chạy thì ông đó là ai? Ăn trộm, phải không ạ? Cho nên cảnh sát bắt ổng liền, vì cũng nghĩ như chúng ta: ban đêm anh vào một căn nhà, anh thấy chủ nhà bước ra, anh đâm đầu anh chạy thì anh là trộm. Bắt vô hỏi: "Tại sao ban đêm anh vô nhà người ta?" Thì ổng trả lời mà ông công an không bắt được nha. Câu thứ nhất ổng trả lời:

[56:25]"Vì nhà chung cư giống nhau cho nên tôi bị say rượu, tôi vô nhầm." Quá hợp lý phải không? Câu thứ hai: "Thế tại sao bà chủ bước ra anh đâm đầu anh chạy?" - "Tại tôi tưởng vợ tôi."

[56:40]Đó là câu trả lời đó. Câu trả lời cho ai đã có vợ nha. Còn ai chưa có vợ, hãy nhớ cái câu chuyện đó, sẽ có ngày mà hễ thấy vợ là đâm đầu chạy mất, nhớ như vậy giùm nha. Thì khi một bậc thánh mà họ nhìn vào tâm một người phụ nữ thì họ, họ thấy những điều đó. Do đó, cái cái đắm đuối nó không khởi lên được. Tâm mà bình thản các ngài mới nhìn thấy điều đó. Còn cái chúng sinh phàm phu khi nhìn một cô gái đẹp thì gì, thấy cái sắc. Nhưng mà không thấy cái đanh đá, hỗn láo đang chờ đợi mình. Cái chanh chua, cái chua ngoa đang chờ đợi. Mà những cô gái càng đẹp, bản ngã càng lớn. Mà bản ngã càng lớn thì đanh đá càng, càng dữ dội, nhớ như vậy.

[57:24]Thầy nói như vậy không biết có xúc phạm với những người đẹp ngồi ở đây không? Vì thầy thấy những người biết đi chùa hầu hết tất cả đều, đều đẹp như vậy, như vậy.

[57:36]Thì ngài Xá Lợi Phất á mới dạy cái vị đó là quán bất tịnh để ngừa cái ái dục. Nhưng mà ông tu không được. Ông tu đúng như vậy đó, ông tu ông quán bất tịnh ông thấy tâm ông không nhiếp được, mà ổng nhìn thấy mấy phụ nữ trẻ ổng vẫn đại khái là động tâm. Thì ngài Xá Lợi Phất ngài cũng bó tay. Mặc dù ngài trí tuệ như vậy mới đưa đến Phật, Phật mới nói câu này. Phật nói: "Biết căn cơ của chúng sinh đó, đó chỉ là trí tuệ của Phật thôi chứ A La Hán không biết nổi". Ghê chưa. Cho nên ta đừng tưởng là A La Hán là biết hết mọi điều nha. Mặc dù là các vị giải thoát có tam minh lục thông nhưng mà cái trí tuệ sâu xa, thâm thẳm vẫn không bằng Phật được.

[58:19]Nên ngài Xá Lợi Phất trí tuệ đến mức độ đó, xử lý mọi việc trong tăng chúng cực kỳ khéo léo. Vậy mà đến khi độ một người đệ tử, giao một pháp môn trật lất. Mới đem đến Phật, Phật mới nhắc ngài Xá Lợi Phất là: "Sự thật là để quan sát căn cơ chúng sinh mà dạy cho thích hợp là chỉ trí tuệ của Phật thôi, chứ A La Hán không biết đâu". Nên cái Đức Phật mới nhận cái vị Tỳ-kheo trẻ đó. Bắt ngài dạy. Ngài dạy là ngài kêu cái vị Tỳ-kheo trẻ đó bắt chân lên ngồi thiền. Ngài hiện ra một cái cành hoa sen bằng vàng trước mặt. Đúng như là cái nghề của cái vị Tỳ-kheo trẻ ở nhà mình là làm nghề kim hoàn, làm vàng bạc.

[58:58]Thì Đức Phật dùng thần thông hiện ra một cành hoa sen bằng vàng ở trước mặt. Và ngài ngồi nhìn cành hoa sen đó mà đọc cái câu thần chú: "Đỏ thắm, đỏ thắm". Ta, ta không hiểu, ta không hiểu cái đạo lý này là gì. Thì vị Tỳ-kheo trẻ đó mới ngồi nhìn hoa sen bằng vàng thì lòng rất là an tâm, vì nó đúng nghề của mình á. Quanh từ nhỏ tới lớn mình cứ nhìn thấy vàng không à, bây giờ nhìn thấy cái vàng trở lại rất là quen thuộc. Rồi nhìn thấy cái hoa sen bằng vàng rất là đẹp, rất là quen thuộc, tâm rất là thích. Và cứ nhìn đó, say đắm nhìn nó hoài, như nhìn cái điều gì rất là thân quen. Rồi tâm an trú trong đó và cứ đọc cái câu thần chú lẩm nhẩm là "đỏ thắm, đỏ thắm".

[59:38]Ta cũng không hiểu. Vậy đó mà bắt đầu ngài nhập vào định từ từ, từ từ. Lạ ghê nha. Cái chuyện này đúng là là là là không ai lường được, không ai lường được. Thế là ngài bắt đầu nhập vào chánh niệm, rồi dần dần ngài phá được năm triền cái. Rồi sau bắt đầu ngài nhập luôn vào sơ thiền, nhập luôn tới tứ thiền luôn, mà vẫn không chứng A La Hán, cứ ngồi đó hoài, ngồi đó hoài. Vì mà nhập được tứ thiền ngồi lâu lắm nên ngài cứ nhập ngồi đó hoài mà không chứng đạo, lạ vậy. Lúc đó Đức Phật mới biết là vị này không tự chứng được. Tại có những người mà khi nhập tới cái đó rồi, nhập tới định đó rồi là tự chứng A La Hán luôn.

[1:00:17]Nhưng mà riêng vị này lại không tự chứng được, nên cái Đức Phật mới dùng thần thông. Ngài ở đang rất xa, nhưng mà ngài dùng thần thông làm cho cái hoa sen bằng vàng bỗng nhiên nó rũ rũ rũ rũ, nó héo xuống, héo xuống từ từ, từ từ. Thì vị đó trong cái định của mình vậy, nhìn bắt đầu mở mắt ra nhìn cái cành hoa sen đó, nó héo héo héo xuống, cái vị đó thâm nhập thâm nhập được ba pháp ấn: vô thường, khổ, vô ngã. Ba pháp ấn: vô thường, khổ, vô ngã. Lát thầy sẽ nói về ba pháp ấn này. Thì Phật mới hiện ra trước mặt. Cái vị Tỳ-kheo đó thấy Đức Phật hiện đến, cái vị đó lật đật xuất định ra, đứng dậy quỳ xuống đảnh lễ Phật.

[1:01:05]Phật mới nói cái bài kệ rất là đơn giản: "Tự cắt dây ái dục như ngắt đứt cành sen, hãy tu pháp tịch tịnh như Phật dạy Niết Bàn", vị chứng A La Hán luôn. Cái nhân duyên là như vậy. Thì ta phân tích câu chuyện này nó có vài cái điểm lạ lạ. Như việc mà Đức Phật dùng một cái hoa sen bằng vàng thì thôi ta tạm hiểu đi, tạm hiểu là vì cái vị Tỳ-kheo đó cả một đời sống với vàng bạc nên khi nhìn thấy cái chất liệu vàng, thấy sự quen thuộc thì tâm mình nó yên, vui, thích, thế nó trú tâm lại, thôi được. Nhưng mà lạ một cái là dùng cái câu thần chú đỏ thắm, đỏ thắm lặp đi lặp lại mà bỗng nhiên tâm linh vị đó khai

[1:01:49]mở thì đây là điều ta không hiểu mà chỉ có Phật mới hiểu. Chỉ có Phật. Mà nếu chỉ có Phật mới hiểu thì bữa nay làm sao ta giải thích? Mà không giải thích được thì ta ấm ức ra về. Vì chỉ có Phật mới hiểu cho nên thầy có hiểu không ạ? Thầy hiểu nổi không? Không. Vậy thầy giảng được không? Dám nói không, mít lòng lắm à.

[1:02:16]Thật ra đây là cái điều bí mật. Cái điều bí mật của vị Tỳ-kheo trẻ đó vào một kiếp rất là xa xưa, từ thời những Đức Phật quá khứ.

[1:02:26]Từ thời những Đức Phật quá khứ là cái vị Tỳ-kheo trẻ này là một người gia đình cũng sung sướng, giàu sang, rồi mới lấy, lúc mà Đức Phật đã nhập Niết Bàn á, thì cái vị Tỳ-kheo trẻ này trong cái tiền kiếp đó đó cũng là làm nghề vàng, mới lấy vàng mà thếp lên tượng Phật để cho mọi người thờ. Do cái phước đó mà đời đời cứ làm nghề vàng hoài, vì đã trút vàng cúng dường làm tượng Phật. Nghe câu này cái mai mốt cái lấy vàng thếp đem kiếp sau mau làm thợ vàng lắm rồi nha, dám lắm à. Nó cái nhân quả, nghĩa là thếp lên cái pho tượng vàng mà trang trí trên cái thảm màu đỏ. Treo lên những bức lụa màu đỏ, cái tượng vàng rực với những cái phông vải màu

[1:03:13]đỏ, cái nền màu đỏ bằng vải đẹp đặt cái bức tượng Phật lên. Cho nên thẳm sâu trong cái dòng nghiệp của cái vị này, trong cái nhân quả cái thiện căn của vị này là hai chất liệu, một là chất liệu vải đỏ và hai chất liệu là vàng. Cái cái thiện căn nằm ở đó. Cái thiện căn, cái cái công đức lớn nhất đối với Phật lại là nằm hai chất liệu đó. Ngài Xá Lợi Phất không thấy tới nổi vì nó thuộc về một Đức Phật quá khứ, thời Đức Phật quá khứ, ngài Xá Lợi Phất thấy không tới. Mà Đức Phật mới bằng thần thông siêu việt của mình mới thấy tới cái điểm này. Nên ngày hôm nay Đức Phật mới dùng một cái hoa sen vàng và cho cái câu thần chú đỏ thắm.

[1:03:54]Khi mà ngài cứ nhìn cái hoa sen vàng và đọc cái câu đỏ thắm, đỏ thắm thì cái công đức từ thời xưa nó lớn lên, lớn lên, nó khơi dậy lớn lên và cái công đức đó nó biến thành cái gì? Biến thành sức định, biến thành tâm linh. Nhớ như vậy. Công đức nó có hai con đường để nó biến thành quả báo. Một là thành giàu sang, phú quý của thế gian. Hai là thành tâm linh, giác ngộ. Nhớ hai con đường khác nhau. Thì cái vị Tỳ-kheo trẻ này nơi cái công đức mà lấy vàng thếp tượng Phật và lấy vải đỏ trang trí trong cái điện Phật thành ra hưởng cái phước thứ nhất, đi trong giàu sang phú quý không biết bao nhiêu đời.

[1:04:36]Lên cõi trời, xuống cõi người, lên cõi trời, xuống cõi người, sống sung sướng. Nhưng mà cái phước giác ngộ vậy chứ vẫn còn nằm đó chưa hết. Đến đời Đức Phật Thích Ca xuất hiện thì vị này đến gặp Phật xuất gia để hưởng cái quả phước cuối cùng là sự giác ngộ. Cho nên lần này Phật dùng khơi gợi cái công đức đó để cho nó trổ thành cái quả tâm linh giác ngộ, chứ còn nếu mà không thì nó cứ chảy ra quả thế gian là cứ giàu sang phú quý mãi. Nên đây là một cái cơ duyên hết sức là đặc biệt mà trong trường hợp này Đức Phật dạy điều này ngoài kinh điển, không đúng với kinh điển. Không đúng kinh điển là nhìn cái vàng,

[1:05:19]đọc cái câu đỏ thắm hoàn toàn không đúng gì với lời Phật dạy từ trước tới giờ hết. Mà nếu một người đắc đạo mà không dính gì với cái lời dạy Phật từ trước tới giờ thì người này có nguy cơ trở thành ngoại đạo, tại nó không chuẩn trong Phật pháp. Mà chỉ có Phật mới biết là Phật dùng cái vàng và màu đỏ vì cái nhân quả của vô lượng kiếp xưa mà bây giờ làm sao Phật nói cho mọi người nghe? Do đó phải có một cái tác động cuối cùng đúng với chánh pháp làm sao cho vị này nhận ra cái tam pháp ấn: vô thường, khổ, vô ngã. Phật mới dùng thần thông cho cái hoa sen vàng đó héo xuống từ từ, từ từ. Vị này nhìn hoa sen, thấm sâu cái lẽ vô thường là pháp ấn thứ nhất.

[1:06:05]Và khi hiểu thế gian này mọi điều vô thường như vậy thì thế gian này là khổ hay vui? Khổ. Và tất cả các vô thường như vậy, từ trong cái cành sen, ngoài cành sen đều là vô thường biến đổi vậy, như vậy trong cành sen nó có một cái lõi bền bỉ, bất diệt không? Không. Như vậy nó có ngã hay vô ngã? Vô ngã. Không có cái lõi, không có giống như cây chuối vậy. Ta bóc hết lớp này còn lớp trong, bóc hết lớp trong còn lớp trong nữa, cho tới khi mà cái lớp cuối cùng cũng là, cũng chỉ là vỏ chuối, không có cái lõi. Thì chúng sinh cũng vậy, vạn pháp cũng vậy, không có cái lõi là không có cái ngã. Thấy tâm mình phức tạp như vậy á mà thật sự khi mà chúng ta phân tích,

[1:06:52]chia chẻ từng món ra thành ra sắc, thọ, tưởng, hành, thức rồi, không có cái ngã. Nói sao, tôi thấy rõ ràng tôi có cái tôi mà làm sao thầy nói không có ngã? Thì nói thế này để biết mình không có cái ngã. Quý phật tử có nằm mơ chưa? Trong giấc mơ đó ai tạo ra?

[1:07:16]Giấc mơ đó cái gì tạo ra? Chính tâm mình tạo ra phải không ạ? Chính tâm mình tạo ra chứ ai mà tạo ra. Nhưng mà cái việc mà tạo nên giấc mơ đó, mình có ý thức mình có chủ động mình sáng tác không? Hay là tự một cái tâm nào nó tạo ra, phải không? Giống như có một cái ta khác, một cái bản ngã khác ở trong đó, nó tạo ra. Nên đừng tưởng tâm ta là của ta, nha. Tâm ta không phải là của ta. Trong giấc ngủ là cái chứng minh rõ nhất tâm này không phải ta. Nó muốn tạo giấc mơ gì, nó tùy nó tạo. Còn lúc ta thức, tâm này có vẻ như của ta nhưng xin thưa cũng không phải của ta. Vì nó nghĩ lung tung trong đó.

[1:08:00]Nghiệp khiến cho nó nghĩ điều này, nghiệp khiến cho nó nghĩ điều kia, môi trường khiến cho nó nghĩ điều này, môi trường chung quanh, hoàn cảnh khiến cho nó nghĩ điều kia, nha. Nên những ý nghĩ đó hoàn toàn cũng chẳng phải của mình. Cho nên cả tâm này, cái sâu thẳm nhất này cũng chẳng phải của ta. Nên ta hiểu điều đó là ba cái pháp ấn, tức ấn nghĩa là con dấu đóng á. Ví dụ như là ta muốn đi xin phép, thì bên nhà nước họ phải lấy dấu mộc họ đóng cho cái bốp, thì có dấu đỏ tròn tròn coi như ta mới được cấp phép, người ta xác nhận là người này đã xin phép, phép này đã được cho. Đó, đó là cái con dấu mộc.

[1:08:37]Thì trong đạo Phật có tới ba cái dấu mộc, hễ ai đóng đủ ba cái thì người này là đệ tử Phật. Mà ai đóng thiếu một cái, người này chưa phải đệ tử Phật. Mà người nào chưa có cái dấu nào là đích danh là ngoại đạo. Ba cái dấu đóng đó là gì? Dấu thứ nhất là: Vô thường. Hiểu vô thường cho kỹ. Dấu thứ hai là: Khổ. Dấu thứ ba là: Vô ngã, nha. Đóng đủ ba cái dấu này, mình mới là Phật tử, mới là đệ tử Phật chân chính. Ba cái dấu này mà chưa đủ thì sao? Chưa được cấp visa vô chùa, nha. Như vậy mỗi người làm ơn coi lại coi mình được mấy dấu rồi. Có dấu nào chưa? Phải đủ ba dấu. Sau này Đại thừa thêm một dấu nữa, là bốn dấu luôn, là: Không.

[1:09:28]Vô thường, khổ, không, vô ngã. Còn trong giáo lý Nguyên thủy chỉ cần là vô thường, khổ, vô ngã, tam pháp ấn. Còn tới Đại thừa là tứ pháp ấn: Không. Không là không chấp công. Tức là một vị Bồ-tát làm vô số công đức lành mà không được chấp công, phải coi như không. Nhớ như vậy, là Đại thừa phát triển thêm một bước rất cao về đạo đức nữa, là phải làm, phải làm rất nhiều điều công đức lành cho chúng sinh, không bao giờ được chấp công. Đó là Đại thừa đã thêm một cái dấu ấn rất vĩ đại, nên lý thuyết của của Đại thừa hay lắm. Cái chỗ mà Bồ-tát làm vô số công đức lành mà không được chấp công, đây là nâng cái đạo đức của một bậc Thánh lên tột cùng luôn.

[1:10:11]Đó là lý do tại sao mà khi mà Phật giáo mở ra cái giai đoạn Đại thừa rồi là đạo Phật phát triển ồ ạt ở các miền trên thế giới là vậy đó, vì nhờ cái pháp ấn thứ tư này là cái Không. Làm tất cả mọi điều lành mà không được chấp công, coi như Không. Hay vô cùng. Vì vậy, khi vị này mà đã đủ Tứ thiền, nhưng mà chưa đủ ba pháp ấn. Nên Phật phải làm cho đủ ba pháp ấn. Khi vị này nghiệm lại được ba pháp ấn rồi, Phật hiện ra đọc bài kệ cuối rồi chứng đạo luôn. Giống như vậy. Thì chúng ta cũng vậy, ở đây ai mà muốn chứng đạo thì cũng phải làm giống như vị Tỳ-kheo này là lấy vàng mà cúng Phật, lấy vải đỏ mà trang trí Phật.

[1:10:58]Sau đó ngồi kiết già, nha, mà cứ đọc "đỏ thắm, đỏ thắm", nha. Mà nếu may mà mình không có điên á, mình từ từ mình đắc định thì nghiệm thêm cái tam pháp ấn, nha. Lúc đó Phật sẽ hiện ra. Mà nếu Phật chưa hiện ra, cứ ngồi hoài chờ Phật hiện ra, nha. Rồi sẽ đắc đạo, Phật sẽ nói bài kệ đắc đạo. Đó, đúng con đường ngài mà mà đi, như vậy không có sợ.

[1:11:25]Tại sao thầy hay là nếu mà nói so theo kinh điển á, là lúc đó ngài Xá Lợi Phất không thấy được cái căn duyên, công đức của vị Tỳ-kheo trẻ mà bây giờ là thầy lại thấy? Bộ bộ thầy hay hơn ngài Xá Lợi Phất hả? Đố ai biết tại sao? Lạ lắm nha! Thật ra nếu so với ngài Xá Lợi Phất á thì ngài Xá Lợi Phất là một hòn núi, mà thầy là một một hạt bụi, nhớ như vậy nha. Đời đời mình kính lễ ngài không bao giờ hết được. Mà sở dĩ bây giờ tự nhiên thầy suy diễn ra được là nhờ gì? Phật độ. Đã tới lúc Phật tiết lộ những bí mật mà mấy ngàn năm qua không ai biết.

[1:12:15]Cuộc đời Đức Phật còn rất nhiều bí mật, kinh điển không nói hết. Khi thầy viết cái bộ truyện tranh Đỉnh Núi Tuyết á, bắt đầu Phật cho thầy biết nhiều cái bí mật lạ mà kinh không nói. Khi thầy biết thầy cũng ngỡ ngàng, vì thầy không có trí tuệ để biết nổi những điều đó. Nhưng khi thầy viết tới đoạn đó thầy bí rồi, thầy ngồi trầm ngâm trầm ngâm bỗng nhiên là ở trên cao đưa vào đầu thầy một cái ý lạ, thầy bất ngờ luôn. Khi thầy kiểm chứng lại hết với sử thì ăn khớp hết, lạ lùng như vậy. Nên đó, nhờ vậy mà thầy cứ viết cuốn Đỉnh Núi Tuyết từ từ từ từ là vậy đó. Đây quý Phật tử có xem bộ Đỉnh Núi Tuyết chưa?

[1:12:52]Nếu ai chưa thì cố gắng thỉnh mà xem nha, truyện tranh về cuộc đời Đức Phật. Hiện nay phát hành được tới 12 tập, thầy đang viết cái tập tiếp 17, viết nhưng mà họa sĩ thì vẽ chậm lắm, mấy tháng mới vẽ được một tập. Ví dụ như có một cái điều này: Trong mười đại đệ tử của Đức Phật, thì ngài La Hầu La được đệ nhất về cái gì? Mật hạnh đệ nhất. Ngài Xá Lợi Phất là đệ nhất cái gì? Về trí tuệ phải không? Mục Kiền Liên đệ nhất về thần thông, ngài A Nan đệ nhất về đa văn, Ca Diếp đệ nhất về khổ hạnh, Ca Chiên Diên đệ nhất về thuyết pháp, vân vân, nghị luận ha, vậy đó. Ngài Phú Lâu Na là thuyết pháp, ngài Ca Chiên Diên là nghị luận, vân vân, vậy đó.

[1:13:36]Thì ngài La Hầu La đệ nhất về mật hạnh. Mật hạnh là cái gì? Mấy ngàn năm qua không ai biết. Xưa giờ không ai biết chữ này. Từ nhỏ thầy đi học đạo thầy không biết cái này, chỉ tin rồi biết là mật hạnh, chẳng biết mật hạnh là cái gì. Nhưng ngày hôm nay, đã có người bắt đầu biết.

[1:13:58]Đó là tại hạ.

[1:14:06]Là khi mà thầy viết bộ truyện tranh Đỉnh Núi Tuyết á, lúc đó là Phật mới cho thầy giải mã cái này ra luôn. À, ta mới phát hiện ra một mảng rất lạ trong đạo Phật, một mảng rất lạ trong đạo Phật. Nên ai sau này mà tập bắt đầu đọc từ tập thứ 17 trở đi là sẽ hiểu mật hạnh của ngài La Hầu La là gì. Và sẽ hiểu thêm một con người vĩ đại khác nữa mà ta không ngờ nữa, đó là bà Da Du Đà La, vợ của thái tử. Trong truyện sử thì bà chỉ là công nương Da Du Đà La, vợ của thái tử rồi phải không? Rồi ngài đi tu rồi thôi, sau này bà cũng đi tu là hết chuyện. Không có đâu! Bà mới là người đạo diễn bí mật phía sau nhiều chuyện động trời.

[1:14:46]Vĩ đại vô cùng. Nên nhiều khi thầy lạy Bồ-tát Quan Âm chứ thầy cứ nghĩ là thầy đang lạy bà Da Du Đà La. Công hạnh bà vĩ đại lắm. Cuộc đời Đức Phật nhiều sự thành công vĩ đại lớn lao cũng nhờ bà phía sau. Một con người mà ngài Nan Đà sau này mới nói: "Nếu có một người phụ nữ để cho ta kính trọng tột cùng, đó là bà chị Da Du Đà La của ta."

[1:15:13]Bà coi như là lo toan trước sau mọi việc trí tuệ cực kỳ, mà chu đáo, mà tận tụy và thủy chung. Lo cho Phật, lo cho sự nghiệp của Phật, để cho sự giáo hóa của Phật được được vững mạnh phát triển. Trong kinh không có nói tới. Đến khi thầy viết cái bộ đó rồi Phật mới cho thầy hiểu những điều đó rồi mới hiểu được cái mật hạnh của ngài La Hầu La là gì. Và thấy luôn vai trò của ngài Nan Đà cũng rất là lớn chứ không phải là nhỏ. Và nhiều khi trong kinh trong truyện sử không nói hết, rất là lạ. Nên cái chuyện mà cái cơ duyên của vị Tỳ-kheo trẻ này cũng vậy, Phật cũng cho thầy cái cơ duyên để hiểu mà ngày hôm nay thầy nói lại cho mọi người cùng nghe, cùng hiểu.

[1:15:55]Chứ đừng để mọi người mang một cái hoài nghi nghe bài giảng này xong đi về nhà cứ ấm a ấm ức tại sao lại vị Tỳ-kheo này nhìn cái hoa sen bằng vàng cứ nói đỏ thắm, đỏ thắm rồi nhập định. Nó phải có lý do! Không thể mà thầy không giải ra được, rồi quý Phật tử đi về không hiểu. Thì như vậy thầy không tròn trách nhiệm của thầy, quý Phật tử cũng không tròn công đức và đạo Phật có một cái gì đó nó sơ suất. Mà trong khi đạo Phật là không thể sơ suất, tất cả đều chặt chẽ. Và quý Phật tử phải được hưởng cái phúc của mình là phải hiểu trọn vẹn các bài pháp của Phật. Và như vậy buộc lòng thầy phải nói cho ra, do đó Phật độ thầy.

[1:16:33]Chứ thầy không có trí tuệ gì cả, nha. Thầy không có trí tuệ gì cả.

[1:16:40]Ta nghe bài cuối: "Người ngu tính lâu dài, Ba mùa sẽ ở lại, Làm nhiều việc cho xong, Đâu ngờ vô thường đến." Một bài ngắn thôi. Cái chuyện này nó như thế này: Là có một ông phú thương, là người buôn bán giàu có, ông tên là Mahadhana. Từ Benares, tức là ở Ba-la-nại đó, cái vùng mà vùng Lộc Uyển mà lần đầu tiên mà Đức Phật thuyết pháp cho anh em Kiều Trần Như là cũng vùng Ba-la-nại đó đó. Ông mới mang những cái đoàn chở rất là nhiều vải, thường là những đoàn xe, để đi về Xá-vệ bán, tại Xá-vệ kinh đô nó cũng sầm uất. Mà cái vải ở cái vùng Benares là cái vải rất là nổi tiếng. Thì khi ông đến, sắp đến Xá-vệ

[1:17:27]thì gặp mưa bão, nước sông dâng cao nên ông không qua được. Ông mới nói: Thôi lỡ cái mùa, đó là cái mùa lễ, người ta mới mua được nhiều, mới có thể bán được hết cái cái số vải mà cả bao nhiêu cả gần cả trăm cái chiếc xe như thế này. Nhưng bây giờ cái bị cái cơn lũ này, không qua được thì mất cái mùa lễ hội. Mà bây giờ quay về cũng không được, nên ông chấp nhận là ông sẽ nán lại, đợi hết cái cơn lũ, ông đi qua tới Xá-vệ, ông ở đó và ở luôn cho tới mấy mùa. Khi nào bán, có thể là là là qua tới cái mùa lễ sau để ông bán hết cả trăm xe vải này rồi ông mới quay về Ba-la-nại, ý ông là như vậy. Thì ông cứ yên tâm ông ngồi chờ ở bên đây sông.

[1:18:07]Thì lúc đó Phật đi khất thực ngang. Phật đi khất thực ngang, Phật mỉm cười. Ngài A-nan mới hỏi: Bạch Thế Tôn, Thế Tôn không bao giờ vô cớ mỉm cười. Vậy chớ vì lý do gì khi đi ngang cái đoàn xe của phú thương Mahadhana này Thế Tôn mỉm cười? Đức Phật mới nói: Bảy ngày nữa, ông phú thương Mahadhana này sẽ bị cá nuốt chết. Cái ngài A-nan nói: Bạch Thế Tôn, như vậy con có thể báo cho phú thương biết không? Đức Phật nói: Được. A-nan, ông cứ báo. Thế là ngài A-nan mới đi vào để xin gặp người phú thương. Ông kia nghe nói có một tỳ-kheo về ông cũng chạy ra, tại hồi lúc ông ở Ba-la-nại ông cũng nghe tiếng Đức Phật.

[1:18:50]Cái ngài A-nan mới nói: Này phú thương Mahadhana, Thế Tôn cho biết rằng bảy ngày nữa ông bị cá nuốt. Thôi từ đây tới còn bảy ngày, ông cố gắng làm những việc gì cần phải làm. Ông nghe như vậy ông cũng hoảng kinh. Nhưng mà cái hay của ông này là thế này: bây giờ về nhà cũng hết kịp rồi, tại hồi xưa đường xa lắm. Về nhà không hết kịp rồi, thế là ông dốc hết tiền bạc mà ông có đem theo, ông mua sắm, ông cúng dường Đức Phật và chư Tăng trong suốt bảy ngày luôn. Cứ ngày nào ông cũng dâng cúng, ông hầu hạ Đức Phật, đảnh lễ Đức Phật, cúng dường những món ngon thượng vị. Còn cái số vải thì ông dặn người nhà của ông xử lý như thế,

[1:19:27]buôn bán như thế thế thế, tiền bạc giao cho ai giữ nè, ông tính hết. Tới cái ngày thứ bảy, khi Đức Phật ăn xong rời khỏi, ông ở đây ông lên cơn bệnh, ông chết tại chỗ luôn, không bị cá nuốt nữa mà bệnh chết liền, đúng bảy ngày. Cái chuyện như vậy. Cho nên Đức Phật mới, sau khi mọi người mới báo cho Phật biết là ông cũng chết nhưng mà không bị cá nuốt, Đức Phật cho biết là ông đã sinh lên cõi trời Đâu-suất. Ông lên đó ông tu vì nhờ công đức cúng dường và thành kính Phật và chư Tăng suốt bảy ngày mà chư Tăng đó là nhiều vị A-la-hán lắm, nên công đức ông rất là lớn. Rồi Phật mới nói bài kệ như vậy:

[1:20:02]"Người ngu tính lâu dài, Ba mùa sẽ ở lại, Làm nhiều việc cho xong, Đâu ngờ vô thường đến."

[1:20:11]Ta phân tích câu chuyện thế này: Ví dụ như bây giờ nói mình sống trên đời mình đừng tính gì chuyện tương lai hết, được không? Không được, phải tính, phải không ạ? Thậm chí thí dụ như buổi sáng mở mắt dậy đi chợ cũng phải tính ăn món gì. Mặc dầu có thể là đi bước ra đường bị xe cán chết. Nhưng hễ xách giỏ đi chợ là phải tính ăn ăn món gì. Ai cũng phải tính cả. Rồi đi học là phải làm bài tập chuẩn bị trước, phải không? Thậm chí là bắt đầu học khang khá rồi đã phải tính là chọn ngành nghề tương lai. Ai cũng phải tính tương lai hết, không thể không tính tương lai. Không tính tương lai là sống mà không có nghị lực, không có phương hướng. À!

[1:20:49]Nhưng, nhưng mà ta có thể bị hố vì cái toan tính đó, là vì sao? Vì rất nhiều điều bất ngờ xảy ra. Rất nhiều điều bất ngờ xảy ra giữa chừng, không ai lường được hết, phải không ạ? Cái bất ngờ mà đau đớn nhất là cái gì? Là cái chết nha. Và nhiều cái bất ngờ khác nữa: bị thương tật, hoặc là những cái nhân duyên nó không đầy đủ, vân vân vân vân, hoặc mình không chết mà ba mẹ mình chết, mình cũng không đi học được. Cho nên là có những cái vô thường, những thay đổi, những biến động như vậy. Ví dụ như hồi nhỏ Thầy mơ ước lớn lên là Thầy làm cái gì biết không? Đố ai biết? Không, lúc đó Thầy chưa biết đạo Phật, hồi nhỏ mà.

[1:21:30]Hồi nhỏ Thầy mơ ước lớn lên Thầy sẽ là một nhà bác học nổi tiếng nha, đem danh dự lại cho nước Việt Nam. Rồi lúc Thầy nhỏ Thầy đi học á cái cũng giỏi, cái mấy ông thầy ổng cứ cũng càng khuyến khích, ổng ổng nói là sau này có bác học tên Thầy đó, đại khái vậy. Thầy cứ yên trí là mình ráng học giỏi làm bác học chơi. Đâu ngờ vô thường đến, Thầy gặp Phật pháp. Thôi bỏ hết, đi theo Phật luôn. Khỏi bác học, thất học gì nữa. Khỏi bác học, thất học gì cho mệt, đi làm thầy tu cho nó khỏe. Nhưng mà nhờ như vậy, nhờ như vậy là khi Thầy hiểu về đạo Phật, Thầy hiểu một theo tính cách khoa học. Và khi giảng một bài trong Phật pháp thì giảng cái tính logic nó rất là

[1:22:12]rất là chặt, chứ Thầy không áp đặt và không bắt mọi người phải tin. Đó là cái tính khoa học, Thầy nghĩ cũng là cái duyên may, nhưng mà nó cũng là cái điều bất ngờ, mình không lường tới được, không lường ra được, như vậy. Rồi cũng vậy, ba mẹ Thầy là nè, ba Thầy ngồi đây nè, cũng đem Thầy hứa gả không biết bao nhiêu người. Hồi Thầy còn nhỏ là cứ quen ai là: Thôi, nữa lớn tui với anh làm sui, con trai tui đây là con gái anh đó, thấy không? Nhưng mà đâu ngờ vô thường đến, Thầy đi tu mất, không có được. Hố, bị hố, ba Thầy bị hố.

[1:22:45]Thậm chí có một lần đem Thầy hứa gả cho cái cô gì Phi-lục-tân hồi nhỏ, Thầy nhớ hồi nhỏ. Rồi vô thường đến, đi tu xong luôn chuyện. Cho nên là vậy, ta mà không tính lâu dài thì người sống không có nghị lực, không có phương hướng. Nhưng mà sự thực trên đời vẫn có những cái bất ngờ, ta không có lường, lường không được. Và chỉ có những ai có thần thông á thì mới tính đúng thôi, chứ không có thần thông thì luôn luôn có những những bất ngờ. Nên cái không có thần thông á gọi là gì? Gọi là vô minh đó. Cái vô minh là không hiểu đạo lý, nhưng cái vô minh nó cũng hàm một nghĩa khác là không đủ thần thông để biết vị lai. À!

[1:23:25]Cho nên khi chúng sinh vô minh, không biết được vị lai nên tính nhiều cái trật. Tất cả chúng ta hiện nay đều là vô minh, tất cả chúng ta hiện nay đều tính đủ thứ chuyện tương lai và tất cả chúng ta đều sao? Trật. Nhớ như vậy giùm. Nên do đó, khi ta biết Phật pháp rồi thì ta vừa cái này mà vừa cái kia, cũng vừa vẫn phải tính tương lai, nhưng mà cũng vừa sao? Luôn luôn sẵn sàng cho cho cái vô thường bất ngờ nào đó xảy ra, để lòng mình không bị hụt hẫng. Tính thì vẫn phải tính hết, đó, nhưng mà vẫn sẵn sàng cho cho điều vô thường đến bất ngờ nhất, đồng ý không ạ? Đó là cái lối sống khôn ngoan nha.

[1:24:12]Và vì ta luôn luôn sẵn sàng cho điều vô thường đến nên làm sao? Nên ta sống từng ngày luôn luôn gieo nhân lành. Có nhiều người nói: Thôi để tôi giàu rồi tôi sau này tôi làm tỷ phú, đại gia đó, tôi sẽ bố thí, ta tôi tôi sẽ xây cầu cho nông thôn, cất nhà cho người nghèo, bố thí cho người đói, ấy là cấp học bổng cho học sinh hiếu học, tôi sẽ sẽ sẽ sẽ sẽ... Vừa nói tới chữ sẽ cuối cùng, sét đánh chết liền. Cho nên là sao? Là sẽ thì cứ sẽ, nhưng mà làm sao? Bây giờ phải làm. Làm được việc phước gì từng chút, đừng hẹn, cứ phải làm từng từng chút bây giờ bây giờ. Đó là khôn ngoan nhất. Mà người đệ tử Phật là phải như vậy.

[1:25:00]Tính thì cứ tính nhưng luôn luôn sẵn sàng cho cái bất ngờ. Vì vậy, trong từng giờ phút của sự sống, có cơ hội làm phước đừng hẹn nha, đừng hẹn mà sống phải an lành. Lỡ vô thường tới, mình mình ra đi vui vẻ vì sao? Mãn nguyện, vì mình không hề sống một ngày nào vô ích cả. Ngày nào cũng là ngày tu hành, ngày nào cũng là ngày làm phước hết, phải như vậy.

[1:25:30]Cái hay của chúng ta là mỗi ngày chúng ta ngồi thiền, chúng ta đều quán thân này là vô thường, đó là ta đối diện với cái cái cái chết đó. Nên cái người tu thiền là người dũng cảm là vậy đó. Ví dụ mình hù ai thì hù, chứ đừng có kiếm mấy người ngồi thiền mà hù. À ví dụ như mình gặp ai giàu có quá, mình nói "bây giờ mà tao oánh anh chết", thì kiếm mấy người đó thì cứ hù. Nhưng mà riêng một người ngày nào cũng ngồi thiền, mà người ta nói "tao oánh mày chết", tỉnh queo à. Vì sao vậy? Thì ngày nào cũng quán cái chết cả. Ngày nào cũng quán thân này là vô thường, ngày nào sẽ về với cát bụi. Bây giờ oánh chết thì nó về liền chứ có gì đâu, phải không? Tỉnh queo.

[1:26:09]Do đó cái người tu thiền họ có cái can đảm lạ lùng, không có sợ chết. Vì ngày nào họ cũng đối diện với cái chết. Cái hay của cái người tu thiền là như vậy. Nên người nào mà còn sợ chết là người đó làm sao? Chưa biết chưa biết tu thiền. Nó vậy, nên phải ráng mà tu thiền. Muốn tu thiền thì mỗi tháng phải về đây mà mà dự khóa thiền tu, đừng có ăn gian mà lúc thầy giảng thì nghe, mà lúc tu thì trốn, không có được rồi nha.

[1:26:39]Nhưng mà trong câu chuyện này nó có một cái chi tiết thay đổi là Phật bảo ông là 7 ngày nữa bị cá nuốt, nhưng mà 7 ngày sau cái ông ông bệnh ông chết, không mất xác, đó là sự chuyển nghiệp. Nhưng mà cái định nghiệp 7 ngày chết thì sao? Không thay đổi. Nhớ như vậy. Nên Phật có cái tam bất năng, trong đó một có một cái là định nghiệp của chúng sinh Phật không thay đổi được. Mà ông này cái định nghiệp của ổng là 7 ngày chết, mà một cái nghiệp là chết là bị cá nuốt mất xác, nhưng mà nhờ 7 ngày ông cung kính cúng dường Phật, chẳng những không bị mất xác mà còn được lên cõi trời. Đây là sự chuyển nghiệp.

[1:27:13]Nên trong cái định nghiệp có cái bất định nghiệp nó đi kèm. Tất cả chúng ta là như vậy. Trong cái định nghiệp đều có cái bất định nghiệp. Ví dụ thế này, ví dụ một người có cái định nghiệp là gương mặt xấu, à gương mặt xấu, mà thường gương mặt xấu, bước ra đời chúng ta dễ bị thiệt thòi, đúng không ạ? Vì mình bước tới một công ty tuyển dụng nhân viên, thấy người đẹp nó nhận trước, còn người xấu thì chừng nào không còn ai mới nhận tới người xấu, đúng không ạ? Người ta vô chùa, ta cúng dường, ta gặp ông thầy hảo tướng ta vẫn thích cúng hơn là cái ông thầy ông thầy ốm ốm xấu xấu như vầy, đó, đúng không à?

[1:27:50]Đó, nên cái trong cuộc sống này, cái người mà xấu là có một cái thiệt thòi. Mà xấu là một định nghiệp, ví dụ vậy. Nhưng nó có một cái bất định nghiệp. Bất định nghiệp là gì? Khi ta biết rằng là cái ta bị cái định nghiệp xấu nhưng ta sống tử tế, ta biết cúng dường, biết bố thí, biết hoan hỷ, biết tu thiền, mỗi khoán tới mỗi tháng đều tới chùa Từ Tân tu thiền rồi mới nghe chứ không có nghe mà trốn tu, vân vân, ha. Rồi cái thành thử ra xấu thì vẫn xấu, nhưng mà đi đâu gặp ai cũng thương. Cái xấu là định nghiệp không chuyển được, nhưng mà thay vì ta xấu thì bị ghét, nhưng lần này rất lạ, xấu mà lại được thương, đi đâu người ta cũng có cảm tình.

[1:28:29]Lạ như vậy, nên trong định nghiệp có bất định nghiệp. Ngược lại cũng vậy, có người rất đẹp, hừ, là định nghiệp. Nhưng mà có một cái bất định nghiệp đi theo là sao? Đi đâu ai cũng ghét. Vì sao? Vì không biết tu, không chịu tới Từ Tân để tu thiền và nghe Pháp. Nha! Tới ngày Chủ Nhật là đi chơi, cho nên người này đẹp thì vẫn sẽ đẹp, nhưng mà đi đâu ai cũng ghét. À, ngộ vậy. Có một chi tiết nhỏ thôi thầy nói chút cho hết. Là ở sông mà bị cá nuốt thì con cá nhỏ hay lớn? Lớn lắm. Và ngày xưa các sông ở Ấn Độ có nhiều con cá rất là to. Bây giờ cũng vậy, ở Việt Nam mình như cái sông Hồng á, khúc trên sông Hồng ở chỗ khoảng sông Đà

[1:29:11]á, đến bây giờ mà có những con cá lăng to bằng người mình á. Đến bây giờ vẫn còn, lâu lâu người ta vẫn bắt được. Nơi những khúc ba khúc sông nó giao lại nhau. Ở sông Hồng cũng vậy, lâu lâu người ta bắt được con cá rất là to. Ừ mà còn ở Biển Hồ ở Cam-pu-chia thì thôi, những con cá giống như cá lăng á, người ta gọi là cá tra đấy. Hay là gọi là cá bông lau, có những con cá to gần bằng như con người chứ không phải không. Hồi đó, à bên Ấn Độ đã có những cái đội thương thuyền họ đi buôn bán rất là xa. Sau Đức Phật một vài trăm năm, tự nhiên Ấn Độ họ có cái văn minh, họ phát triển những đội thương thuyền đi cả thế giới á.

[1:29:49]Và chỉ một không bao lâu sau Đức Phật, thì có một cái đội thương thuyền của Ấn Độ họ đi ghé Việt Nam.

[1:29:59]Ghé Việt Nam lúc đó là gặp đời vua Hùng Vương. Đời đó có công chúa tên là Tiên Dung. Và cô công chúa này khi mà đi ngao du đã lấy nhầm một cái người mồ côi tên là Chử Đồng Tử. Thì triều đình mới rất là giận. Vì một thân phận một công chúa mà đi lấy một người không nhà không cửa, không cha, thậm chí không quần áo. Không quần áo. Ta nghe nhớ câu chuyện này chứ hả? Nhưng mà cô công chúa này thì lại tin vào cái cái phần số. Ồ cô lại có cái nhân hậu, tin vào phần số, và nhìn thấy cái người thanh niên mà sợ hãi, đang núp ở trong cái cái chòi tắm của mình, run rẩy, sợ hãi, nhìn thấy gương mặt rất là làm sao?

[1:30:42]Rất là khôi ngô, tuấn tú, có nhân hậu, có đạo đức. Và cô có trực giác, cô nghĩ đây là con người tốt, mà người tốt mới là có giá trị. Chứ còn cô đi hết cùng làng khắp xóm, đi hết qua xứ này qua xứ kia, từ trong triều đình gặp bao nhiêu công tử, đi về các làng quê gặp những người giàu, nhưng mà chưa ai có gương mặt mà phúc hậu như cái người thanh niên mà không quần không áo này. Và cô nghĩ đây là số trời định nên cô lấy, lấy ngang, không cần xin phép ai hết. Cho nên để nói rằng cái người đầu tiên mà phá truyền thống, luật lệ, cãi cha, bướng với mẹ mà đi lấy chồng ngang là kỷ lục là ai? Phải cấp cho công chúa Tiên Dung, và mong rằng đừng ai bắt chước nha.

[1:31:24]Mấy đứa nhỏ nhỏ nè không ai bắt chước kiểu này, đừng tưởng mình là công chúa Tiên Dung mà đi lấy tào lao nha con, không có nha. Không có được đâu. Thì lúc đó, công chúa có một số tiền của mình mới thôi đành phải ly khai rồi dựng phố buôn bán, thì gặp cái đội thương thuyền người Ấn Độ đó đến. Khi gặp đội thương thuyền thì có một cái ừm cái người mới thấy là Chử Đồng Tử gương mặt phúc hậu quá. Con người này sao mà đạo đức quá, hiền lành, phúc hậu. Ông mới rủ đi buôn để cho mau giàu. Chứ cứ ngồi nhà bán lẻ không giàu. Thì Chử Đồng Tử mới xin phép vợ. Phải dùng nguyên nghiêm túc là xin phép vợ, tại vợ mình là công chúa, giàu có, tiền bạc là của vợ hết, mình chỉ là gì?

[1:32:07]Chỉ là chồng thôi. Nên xin phép vợ, và vợ không biết xui khiến sao cho. Nhưng mà khi ông đi thì ông cái đoàn đó ghé cái núi, gặp nhà sư tên là Phật Quang. Cái nhà sư mới dạy đạo, và Chử Đồng Tử thì ngộ đạo, đắc đạo luôn từ đó, trở về và truyền bá đạo Phật rất là sớm. Cho nên đạo Phật đến Việt Nam sớm hơn ở Trung Hoa. Tại vì đến đạo Phật đến với Trung Hoa là do những đoàn truyền giáo, trong khi cái đạo Phật đến với Việt Nam là bằng do chính người Việt Nam đi học đạo trở về. Cho nên đạo Phật đến Việt Nam rất là sớm. Nhưng mà tiếc rằng thời đó chữ viết ta chưa thịnh hành, à ta chưa có cái tăng đoàn vững mạnh, cho nên ta bị gián đoạn.

[1:32:47]Chứ sự thật là Chử Đồng Tử là ông tổ đầu tiên về Phật giáo Việt Nam và là một thánh tăng đắc đạo, một người đắc đạo. Nếu bây giờ mà nếu nói rằng thờ trong nhà thờ tổ của Việt Nam mà thờ cái người đầu tiên mang đạo Phật đến Việt Nam mà đắc đạo, phải là Chử Đồng Tử, chứ không phải Tỳ-ni-đa-lưu-chi, cũng không phải tổ Bồ Đề Đạt Ma. Không phải. Cũng không phải Phật hoàng Trần Nhân Tông, mà chính là Chử Đồng Tử. Còn những vị đó đều đáng thờ nhưng mà sau thôi. Chử Đồng Tử mới là người đầu tiên. Thôi hôm nay thì chúng ta nghe bài Pháp Cú vậy cũng vừa vừa hết giờ. Thầy chúc cho quý Phật tử mọi điều tinh tấn, may mắn nha.

[1:33:25]Là cuộc đời nhiều khi có khó khăn, có gian khổ, à nhưng mà thôi đó là nghiệp và ta cứ yên lòng sống trong hào quang của Phật, nương tựa với lời dạy của Phật mà cùng nhau đi trên con đường giác ngộ. Mà nhớ là không ăn gian, phải tu và nghe, nghe và tu, chứ đừng nghe mà không không tu là kỳ lắm nha. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Lâu quá rồi, thôi thầy cho mọi người hỏi, mà đừng hỏi nhiều quá nha. À, bên công ty có ra cái tài liệu hướng dẫn thiền gọn gọn như thế này nha, mọi người có thỉnh về để mà ta xem, đọc để mà biết cái cách a cách thiền của chùa Phật Quang như thế nào mà ta thực hành.

[1:34:06]"Con thờ tượng Phật Thích Ca bây giờ muốn thờ qua tượng Quan Âm?" Thôi đổi làm chi, thờ thêm thôi chứ không nên đổi, không nên bỏ. Này có người hỏi thầy câu này mà trên mạng cũng hỏi: "Thưa Sư phụ, nhờ Sư phụ giải thích giúp vì sao ở Ấn Độ nơi đất Phật linh thiêng, nhất là những địa danh nơi Đức Phật thành đạo, giáo hóa, mà người dân nơi đó lại sống rất nghèo khổ, ít biết đến Phật pháp? Thật đau lòng, nhân quả do đâu?" Nó có hai lý do. Lý do thứ nhất là Đạo Phật đã vắng bóng rất lâu tại Ấn Độ, cho nên cái số người mà

[1:34:44]đi theo Phật pháp thật ra không còn. Và họ đi theo cái đạo nào của họ đó nên họ chịu nhân quả của đạo họ nên ta không có ý kiến, là cái thứ nhất. Cái thứ hai là người Ấn Độ cái tinh thần phân biệt giai cấp rất là nặng. Họ khinh bỉ cái người giai cấp nghèo cực độ. Cái tinh thần đó từ ngày xưa đến bây giờ còn nguyên. Mà nhân quả, ta khinh người nghèo khổ, khốn cùng thì ta làm sao? Phải trở lại làm người nghèo khổ, khốn cùng. Nên ngày nào mà xứ Ấn Độ vẫn còn cái sự phân biệt giai cấp, vẫn còn khinh thường người nghèo khổ thì ta cứ yên trí là đất nước Ấn Độ lúc nào cũng sản sinh ra cái lớp người nghèo khổ mãi mãi.

[1:35:31]Chừng nào mà người Ấn Độ hết khinh người nghèo, đất nước Ấn Độ sẽ hết người nghèo. Và chúng ta cũng vậy, hễ trong tâm chúng ta còn khinh người nghèo, chúng ta cứ phải đầu thai làm người nghèo hoài. Chừng nào chúng ta thương người nghèo thì vĩnh viễn những kiếp sau chúng ta không còn rơi vào cảnh nghèo khó nữa. Nhớ như vậy nha.

[1:35:53]Vì sao đa số các vị Phật đều có nguồn gốc từ Ấn Độ mà không phải là nơi nào khác? Bởi vì ở Ấn Độ từ nhiều đời có cái truyền thống tâm linh rất là dễ cho cái sự giác ngộ, giáo hóa. Và sự thật là người Ấn Độ có cái ngoại hình cũng rất là đẹp. Con là cư sĩ tại gia đã thọ Bồ Tát giới. Thật ra nhiều người hay thích rủ nhau thọ Bồ Tát giới chứ không có nên. Bởi vì thọ Bồ Tát giới vấn đề nó lớn lắm. Chỉ có người thọ xuất gia, thọ tỳ kheo rồi mới nên thọ Bồ Tát giới. Còn cư sĩ mình chỉ nên gì? Ngũ giới, thập thiện, rồi làm được điều gì đó thì làm, nó vẫn hay hơn. Con là sinh viên ngành kinh tế đã ra trường và

[1:36:34]đã tìm việc trong 6 tháng mà đều thất bại. Nhiều bạn bè con đều tìm việc làm rất là dễ dàng, nhưng mà con thì không được và con cảm thấy mệt mỏi và đuối sức. Cái nguyên nhân mà mình không có việc làm thì có nhiều nguyên nhân lắm, chứ không phải một. Nhưng mà trong đó có thể có một nguyên nhân là trong kiếp nào đó mình có chê bai một vài công việc không chịu làm, ví dụ cho việc này không đáng làm. Mà cái chê bai đó nhiều khi nằm ở trong gia đình. Ví dụ như là mẹ mình á, ba mẹ mình sai mình: "Này, con nấu cơm nha con. Trưa này ba mẹ đi vắng, con ở nhà nấu cơm cho em ăn." Mình nói: "Ôi! Mình làm, đi nấu cơm gì.

[1:37:11]Mình kêu đứa khác nấu à." Nhiêu đó thôi, mai mốt ra trường thất nghiệp. Nhớ như vậy. Nên cái người mà việc gì cũng làm, việc gì cũng làm việc, miễn là phục vụ được cho con người đều không nề công, người đó xin việc làm đâu được đó. Và bây giờ để gỡ lại cái nghiệp này, thì thầy đề nghị con kiếm cái chỗ nào con công quả, con làm không công, không lấy tiền lương. Cứ phục vụ làm công việc từ thiện ở một cái đội từ thiện nào đó, hoặc là đến chùa nào đó mà chùa nào có việc bận á, tới công quả, cứ làm không công, ừ chỉ cần ăn cơm thôi. Và đến lúc con đủ phước, tự nhiên sẽ có việc làm. Mà việc gì cũng làm, kiếm việc nào mà ai chê thì mình nhào vô mình làm hết.

[1:37:54]Thì chừng năm sau này sẽ có việc làm ổn định nha. Mà khi có việc làm ổn định rồi, nhớ cái cái châm ngôn trong cuộc sống của mình, phương châm cuộc sống mình là: Bất cứ việc gì mình cũng làm, miễn là có lợi cho mọi người, không nề hà, lau cầu tiêu, quét rác, rửa chén, việc gì cũng làm. Nhớ như vậy nha.

[1:38:19]Có người thắc mắc thế này, nói rằng: "Cái công ty Pháp Quang khó khăn, mỗi lần mà con về con dự lễ ở Phật Quang, Thành Đạo, Vu Lan, Phật Đản, con thấy cái số người lên dự từ mười mấy ngàn cho đến hai mươi mấy ngàn, đậu xe từ chót vót núi đến hai bên đường quá chừng. Mỗi người chỉ mua một đĩa thôi là chùa Phật Quang đã đã bán dư sức. Rồi tại sao mà nói là bán ế? Sao kỳ vậy?" Khổ quá con ơi! Một người người ta có mua có một đĩa rồi về người ta mới chép ra 1.000 đĩa người ta cho. Khổ vậy! Hoặc ta có một người mua thôi, sau đó họ phát họ phát tràn lan. Nhiều người tới khoe thầy lắm, nói: "Thưa thầy, con con lúc nào con cũng mua đĩa thầy về con

[1:38:59]chép cả ngàn đĩa, con biếu cho người này, người kia." Thầy nghe thầy cũng không biết thầy buồn nên vui. Thấy nghe cũng vui, mà sau đó lại buồn giùm cho công ty. Cứ vậy đó. Cho nên đừng tưởng là mỗi người mua một đĩa nha. Họ rủ mua một đĩa về nghe chung, sau đó chép ra cho người ta. Ừ còn thầy thì cứ ế, không sao hết.

[1:39:19]Việc luôn biết rõ toàn thân có khi nào dẫn tới mình chỉ biết có mình không thưa sư phụ? Nó có mâu thuẫn với vô ngã không sư phụ? Ai hỏi câu này rất thông minh. Và vì vậy nên ta phải quán thân này là vô thường. Vậy còn nghĩ tới mình không? Nha, yên tâm.

[1:39:38]Cô bạn con khi xây nhà do nghe lời thầy bà nên đã yểm bùa vào cửa nhà mới xây, vì sợ nhà xây xong mẹ cô ấy bị bệnh. Do sự trù ếm này mà hiện giờ trong nhà có nhiều u ám, nhất là những đứa trẻ đêm nào cũng la hét như có ai phá. Biết sự việc con đã gửi cho cô ấy những đĩa bài giảng thì những đứa trẻ có bớt khóc đêm, nhưng hôm nào không mở là trẻ la khóc rất dữ dội. Việc mở băng giảng cũng chỉ là biện pháp tình thế vì sự trù ếm vẫn còn đấy. Nay con viết câu hỏi này mong sư phụ chỉ giùm. Đúng rồi! Bùa yểm là gì? Là âm binh. Dắt âm binh lại, cái tờ giấy là vô nghĩa, nhưng mà cái tờ giấy đó kéo một đàn âm binh về.

[1:40:14]Cho nên trong nhà đang không có ma bỗng nhiên có một bầy ma. Mà ma mình không cho ăn, bắt đầu nó quậy. Mà nhất là mấy đứa bé, tinh thần nó yếu á, ma nó tới quậy riệt, đêm nó khóc chịu không nổi. Mà nó khóc là còn hên à, chứ ma mà nó cứ tới nó nói chuyện nó đùa vui với mấy đứa con nít á, con nít nó không nói được tiếng người, nó chỉ nói được tiếng ma rồi nó tự kỷ luôn, không nói được luôn. Và cái việc mà mở băng cho âm binh nghe là việc không phải là tình thế đâu, đó là bài thuốc đúng đó. Đồng thời cúng cho cái âm binh họ ăn, mở băng cho âm âm binh nghe, thời gian âm binh nó sẽ đầu thai hết là hết chuyện.

[1:40:48]Mở băng giảng hoài cho thầy nha, mở hết, mở hết ngày này ngày kia như vậy.

[1:40:59]Con quy y từ lúc 12 tuổi, vì còn nhỏ và chưa có duyên gặp Phật pháp, bây giờ con đã hơn 50. Bây giờ con ái mộ đĩa giảng của thầy, con muốn được quy y lại tại chùa thầy điều có được hay không? À có mấy trường hợp mà thầy cho quy y lại. Ví dụ như vì bổn sư mình đã hoàn tục thì nên, hoặc là vì bổn sư đã đi đâu mất mình cũng không biết, hoặc là mình quy hồi nhỏ mà mình không có nhớ rõ cái buổi lễ đó, không ấn tượng gì hết, cũng nên quy y lại. Vân vân, một số trường hợp như vậy thì thầy cũng cho. Hoặc là nói bổn sư mất mà mất lâu quá mình không nhớ thì cũng nên quy y lại, nghe vậy nha. Con rất muốn tập tu thiền, nhưng hai chân con ngồi xếp bằng rất đau.

[1:41:35]Con phải luyện thế nào? Dạ không có luyện thế nào hết, cứ phải ngồi cho chịu đau thôi nha. Chịu đau cho nó hết nghiệp. Nhớ khi ta ngồi thiền đau chân cũng là làm hết nghiệp. Nên cái người mà ngồi thiền nhiều, chân đau sau này chết không đau. Khi này chết bớt đau êm thắm. Người đắc đạo thì tự chết được rồi, nhưng mà người chưa đắc đạo nhưng mà ngồi thiền quá lâu rồi thì khi chết không bị vật vã đau đớn nữa là do làm sao? Mấy cái đau đó vô ngồi thiền chịu hết rồi. Con nuôi ếch hàng ngàn ký, cóc nữa, bán cho người ta nuôi làm giống, con lấy tiền đó đi làm phước 50% vậy có tội không?

[1:42:15]Thì à thì bớt được 50% tội.

[1:42:27]Chúng con học ngành y tế, chúng con muốn tham gia đoàn y tế của thầy mà không biết cách thức. Đến gặp quý thầy, quý cô giùm thầy nha, quý thầy, cô hướng dẫn cho. Con 22 tuổi, con bị thoái hóa cột sống. Con có hỏi lộn địa chỉ không con? Ở đây là thầy chùa chứ đâu phải là thầy thuốc đâu mà con đi hỏi cái này. Nhưng mà con tập khí công nha, uống thêm thuốc bắc thì nó phục hồi đó, không sao đâu. Tại vì những bệnh đó vẫn hết được, coi vậy chứ nó hết được nha. Tập khí công, ngồi thiền, uống thuốc bắc. Hỏi lộn địa chỉ rồi, là thầy chùa mà cứ đi hỏi thuốc.

[1:43:05]Thưa thầy cho con hỏi phong thủy ảnh hưởng tới con người thế nào? Nếu một người ở một căn nhà mà phong thủy không tốt thì có làm cho người đó bệnh tật, làm ăn thất bại, gia đình gây gổ không, hay là còn dựa vào phước của người đó? Cái nhân quả nó hiện ra nơi mình nhiều nhiều chỗ lắm. Nhân quả nó hiện ra thứ nhất là nơi cái thời điểm mình sinh, cho nên người ta dựa vào thời điểm sinh người ta tính được cái số phận của mình. Nhân quả nó hiện ra nơi tướng mạo của mình. Nhìn cái gương mặt mình người ta biết mình khổ, vui, may mắn hay không may mắn thế nào. Và nhân quả nó hiện ra nơi khung cảnh mà mình sống.

[1:43:35]Nhân quả nó hiện ra nơi cái mồ mả của ông bà mình. Nhìn mồ mả của ông bà biết cái dòng họ phước đức ra sao. Nhìn cái khung cảnh mình ở là biết cái phước đức mình ra sao. Như vậy ví dụ như là mình nhìn cái nhà cái người ở rộng thì người đó phước nhiều hay ít? Đó thấy không, phong thủy đúng nhân quả chưa, hay không? Ờ hoặc là cái xe mình đi nữa, ví dụ một người đi xe đạp điện với người đi Air Blade thì người nào phước nhiều, phước ít? Thấy không, đó phong thủy nó hiện ra đó thấy không? Nhưng mà chưa hết, ví dụ như là khi mình đến một cái nhà mình thấy cái lối đi hợp lý, cửa rồi nó thoáng, nó phong đãng, mình thấy dễ chịu là biết ngay là sao?

[1:44:19]Nó dấu hiệu của cái nhà này có phước và chắc chắn là nhà này làm ăn được. Còn mình vô cái nhà đó nó vướng đầu này, nó kẹt đầu kia, nhìn nó bứt bứt làm sao đó, thì nhìn cái cửa trước, cửa sau bứt, mình biết là nhà này đang bị nghiệp, bị nghiệp ám. Họ sẽ nhiều cái bất hạnh như vậy. Đó nó là cái trực giác thôi chứ cũng không cần là lý luận lắm đâu. Nhưng mà những cái người họ chuyên sâu thì họ phân tích ra ờ cái kia nó xỉa vô cửa cái, cái nọ nó xỉa qua cửa hông, vân vân, cái bếp này đi vô đụng liền cái nọ là à là là nó không hên. Ví dụ như là cái cửa đằng trước đi ra đằng sau vô cái thẳng ngay đụng cái bếp, người ta nói:

[1:44:53]"Cái nhà này động, không làm ăn được." Tại vì sao vậy? Vì bếp là tượng trưng cho cái miệng ăn, cái lộc thực của mình, cái kinh tế của mình, mà đường đi nó đụng vô ngay cái đó tức là cái kinh tế mình cứ bị va chạm, bị hao tổn, bị người ta phát hiện, nó không lành. Cho nên cái bếp nên né qua một chút, nhìn vô nó cũng báo cái dấu hiệu là cái bao tử mình nó yên, cái kinh tế mình yên ổn, ít có bị thất thoát. Nó như vậy thôi, lý luận là vậy. Nó cũng là đều là nhân quả cả nha. Con pháp danh là vậy. Con đã quy y Phật, con có quen anh bạn trai đạo Chúa, gia đình anh ấy bắt buộc con phải theo đạo Chúa. Vậy con đi theo đạo Chúa thì con có tội gì không?

[1:45:30]Con không theo đạo Chúa mà tâm con luôn thờ Phật như vậy con có tội gì không? Thầy có một đề nghị nho nhỏ con. Thầy có một đề nghị nho nhỏ, con bỏ thằng bạn đó đi.

[1:45:54]Nhà con ở chung cư vì nhà nhỏ không đủ chỗ ngủ, vì vậy con là con gái phải ngủ ở phòng khách, cũng là nhà bếp và con phải trải chiếu, mắc mùng trước bàn thờ Phật. Con nghe nói con gái ngủ trước bàn thờ là không nên, nhưng con không biết phải làm sao. Xin thầy chỉ con. Nếu mà nhà mà nó không ấy á, khoan thờ Phật á con, cất cái bàn thờ Phật đi đem qua gửi vô chùa đi. Nhà mình ở chung cư không nên thờ vì người trên đầu bàn thờ mình có người ta đi trển nữa. Và trong luật là phạm giới. Vì cư sĩ không học cái giới này nên không biết. Chứ như là người thọ tỳ-kheo, trong đó có ghi cái giới rất rõ. Mình ở trên, thờ Phật ở dưới là phạm giới. Chết á.

[1:46:30]Cho nên dỡ bàn thờ cất đem vô chùa đi nha. Đem vô chùa. Rồi khi nào muốn lễ Phật mình đi chùa mình lễ nha.

[1:46:41]Làm thế nào để biết một người điên có bị bùa ngải hay ma nhập? Cô ấy lúc bình thường nói chuyện rất khôn khéo, nhưng lúc ăn, ăn nhiều gấp ba lần bình thường. Nó có mấy trường hợp á, mấy trường hợp. Thường thường á cái người bệnh mà ăn nhiều quá đó, dấu hiệu bất thường là do vong nhập. Vong cái vong nó ăn khủng khiếp lắm, ăn gấp mấy lần người bình thường, mà nhất là những người chỉ ăn ban đêm thôi. Thì người đó là cái xác của người này nhưng mà cái hồn là của cái vong khác nhập vô rồi. Nhiều trường hợp này lắm đó nha chứ không ít. Ví dụ như khi thấy cái người bệnh, thấy lúc như chết cái tự nhiên

[1:47:13]tỉnh dậy, mình tưởng là người đó hết bệnh, không có đâu. Cái người kia đã chết rồi mà lúc thân chưa kịp lạnh, cái vong kia nhập vô nó chiếm cái thân đó, thế là tim đập trở lại, ấm lại nhưng mà đã là một người khác, tính tình khác, cái sự khôn ngoan biết hết mọi chuyện trên đời, vì ma mà, nó biết hết. Và đặc biệt là nó ăn để trả thù bao nhiêu năm nó làm ma nó không ăn á, giờ bắt đầu ăn, ăn sợ luôn, ăn hết tô này qua tô kia, một con gà là ăn hết một con gà, mà thường thích ăn ban đêm. Ma mà, ta biết người này không phải là người nữa, mình đang sống với ma, ma đã nhập vô sống với người. Thì lúc đó ta cứ cầu siêu thôi, nhưng mà gia đình mình mắc nợ người đó.

[1:47:50]Gia đình mình mắc nợ cái vong đó, vong đó mới nhập vô được. Mà tại sao gia đình mình mắc nợ cái vong đó? Vì rất nhiều lần bao nhiêu năm qua mình mỗi khi cúng đất đai mình hay khấn câu này: "Vái người khuất mặt khuất mày trong gia đình phù hộ cho nhà tôi được cái này, được cái kia." thì họ phù hộ mình, họ giúp mình. Bao nhiêu năm trời họ cứ âm thầm họ giúp mình, và đến lúc nhân quả đủ rồi họ nhập vô họ làm người thân mình, mình phải nuôi thấy mồ luôn. Mà nó là nhân quả, không có chạy trốn được nha.

[1:48:22]Con xin hỏi thầy, làm bác sĩ khi thấy bệnh nhân bệnh nặng sắp chết thì mình có nên hồi sức không? Vì biết nếu có hồi sức được thì họ cũng hôn mê hoặc sau đó sớm muộn cũng chết. Con nghĩ lúc đó không nên hồi sức, mình nên cho bệnh nhân về để hộ niệm sẽ tốt hơn. Không, nó cũng đúng chứ không phải không đâu. Cho nên sau này nó có xuất hiện một trường phái là cái chết êm ái đó. Nhiều khi cái người để người đó sống nhưng mà sẽ làm năm người khác chết theo vì không đủ tiền để nuôi. Không đủ tiền để nuôi, là cứ người kia cứ sống thực vật và gia đình nghèo thì không đủ sức chăm sóc, kéo theo là cái cái nghèo khổ.

[1:48:56]Cho nên thà đừng sống thực vật, tỉnh táo ra đi hẳn. Hoặc là sống thì sống tỉnh, hoặc là đi thì đi dứt khoát, còn cái nằm rề rề rất là tội. Mà đó cũng là do nghiệp, nghiệp của người đó và cũng nghiệp của cả nhà. Nên sống chết không quan trọng, mà cái quan trọng là sống có ý nghĩa hay không, chết có êm lành hay không, chứ còn không phải là sống là quan trọng đâu, sống không phải là tất cả. Nhớ như vậy. Nhớ như vậy, cho nên coi chuyện sống chết không quan trọng.

[1:49:28]Ba con mất ở bệnh viện, vậy vong hồn ba con có được về nhà không? Ba con hay về báo mộng, ba con mới mất được sáu mươi ngày. Thì nếu mà báo mộng thì tức là về nhà được. Thường thế này, cái người chết họ có cái mấy chỗ này họ hay về. Thứ nhất là chỗ họ chết, thứ hai chỗ chôn, thứ ba chỗ họ sinh sống, và thứ tư chỗ thờ. Ví dụ ta thờ đem vô chùa thờ thì họ tới chùa được, còn nhà có thờ họ về nhà được, nhưng mà chỗ họ chết họ cứ lấn quấn ở đó, và chỗ chôn cái xác họ cũng hay tới đó hoài. Tức là người chết có bốn chỗ hay lui tới, thường vậy. Con nghe người ta nói chuyện cầu hồn người thân mình thì người thân sẽ về nói chuyện với mình...

[1:50:08]Có, chuyện này cũng có chứ không phải không, nhưng mà ta không nên lạm dụng nha.

[1:50:16]Gia đình con đạo Chúa nhưng rất thích nghe đĩa sám cầu siêu độ cho chúng sinh, vì có chữ nên tụng theo. Kính xin thầy cho ra đĩa Lạy Phật Sám Hối và Từ Bi Sám Hối vì gia đình con sống ở nước ngoài nên chúng con rất tha thiết và mong đợi được nghe. Ký tên: Phật tử. Ở trên gia đình con đạo Chúa, ở dưới ký tên Phật tử là sao?

[1:50:41]À, con cám ơn thầy vì thầy đã cho con được cái hướng đi. Con muốn đóng góp nhưng không biết làm gì. Thôi bây giờ thầy làm cái gì đó như là trang web, diễn đàn, sách báo tuyên truyền để cho những người trẻ như con có dịp đóng góp sức mình cho chánh pháp. Con đến công ty con, hai mươi tám Hoàng Diệu, gặp quý thầy quý cô rồi con nói chuyện nha. Quý thầy quý cô sẽ hỏi kỹ xem con có làm được việc gì. Ở nhà mẹ con thường hay cúng thí thực, vậy có khi nào các vong linh đấy chỉ lo ăn vật thực mà không vào chùa, không lo tu tập không? Không có dễ vào chùa đâu á. Thầy trụ trì không có cho, không vong nào vào được đâu.

[1:51:15]Cho nên khi mình cúng cho các vong ở ngoài đường thì các ở ngoài đường họ vất va vất vưởng họ đến họ ăn, rồi khi cúng vậy mình có tụng một vài bài kinh cái họ nghe đó họ tu. Qua nhiều ngày, nhiều tháng như vậy cái lần lần cái họ hiểu đạo, họ sẽ đi điều đầu thai được nha.

[1:51:30]Tại sao vào thời Đức Phật, các vị đệ tử Phật sau khi mất thì làm lễ trà tỳ, sau này các vị tôn túc khi mất thì lại nhập kim tháp chứ không làm lễ trà tỳ? Nó cũng thứ nhất là cũng là một cái tục lệ. Bên Ấn Độ thời đó người ta hoặc là người ta Lạ cái Ấn Độ không có chôn nha. Họ có cái thi lâm, tức là khu rừng xác chết. Ai chết rồi là họ đem qua đó họ chất ở đó cho cho các kền kền đồ ăn rồi mục rữa từ từ. Khu đó nó hôi khủng khiếp và ma không. Hoặc là họ đem qua đó họ đốt, cũng vậy, vô đó hôi lắm, họ chất củi họ đốt cháy hết. Cho nên cái tục lệ Ấn Độ là như vậy. Còn bên Tây Tạng, khi chết thì bằm ra hết cho chim ăn. Dòm thấy ớn lạnh luôn kìa.

[1:52:11]Cầm cái xác bắt đầu cái ông sư ổng vừa tụng chú, ổng vừa chặt bốp bốp, chặt đứt ngón tay, chặt đứt cái đầu. Cứ cái này cứ khi dòm thấy sợ. Mà bên Tây Tạng họ cho đó là hay. Còn ở bên bên đây mình thì thường mình chôn và xây mồ mả cho đẹp. Thì thôi, tục lệ. Nhưng mà thì tùy cái cái hoàn cảnh. Bây giờ thì hỏa táng hay địa táng cũng được. Lúc này càng về sau thì người ta càng thích hỏa táng là vì đất đai á, đất càng lúc càng hiếm, mắc, nên thôi cứ hỏa táng giống như thời Đức Phật cũng được.

[1:52:43]Con ăn chay được ba năm nhưng con thỉnh thoảng nằm mơ thấy con ăn thịt gà luộc. Trong giấc mơ con còn biết mình đã ăn chay rồi sao lại quên đi ăn đồ mặn, xin cho biết con là nghiệp gì? Con chỉ có chút nghiệp tham ăn còn nha con, vậy thôi, chứ không có gì.

[1:53:02]Hằng ngày cúng thức ăn cho cha mẹ rồi mình ăn những đồ cúng đó có bị si mê không? Hơi hơi ít thôi chứ không nhiều. Cái cúng mà vong ngoài đó đừng ăn, tại những cái vong kia nó nặng nghiệp. Còn cha mẹ mình thì nhiều khi cha mẹ mình cũng có phước, nó không đến nỗi. Còn mình cúng Phật thì thôi, Phật không ăn đâu nhưng mà Phật là gia hộ. Những cái trái cây hay nước mình cúng Phật rồi mình dùng, mình lại được rất là minh mẫn, mình được hưởng cái thần lực của Phật. Còn cúng vong ngoài đường thì tuyệt đối đừng ăn, cho chó cho đồ ăn thôi. Người hay gặp thất bại trong cuộc sống là do nguyên nhân gì? Gọi là hay lận đận?

[1:53:34]Nhiều nguyên nhân lắm á, nhiều lắm, không thể nói được nha. Không thể nói một trả lời một câu được đâu. Cái thất bại, cái nghèo khổ rất là nhiều nguyên nhân, nhưng trong đó có một nguyên nhân là khinh người. À khi mình khinh người thì mình hay bị thất bại.

[1:53:52]Con đang ăn chay nhưng mỗi ngày phải nấu thức ăn mặn cho gia đình nên tâm con lúc nào cũng nghĩ cách làm món ăn ngon cho mọi người. Nếu vậy con có bị quả báo ăn mặn không? Không đến nỗi đâu nha. Cái này mình vì người thôi chứ mình không phải ham. Khi xin thầy giải thích là môn học trường sinh học, thiền trường sinh học khác với thiền của đạo Phật như thế nào? Cái thiền của trường sinh học á là mục đích làm cho thân khỏe. Còn cái thiền của đạo Phật làm cho mình đừng chấp thân. Hai cái khác nhau. Cho nên cái thân có thể khỏe nhưng mà mình cứ tiếp tục luân hồi. Còn mà mình không chấp thân, mình mở một con đường để đi đến giải thoát.

[1:54:27]Khác nhau là vậy nha. Cái bệnh tự kỷ nếu mà quá lớn rồi, khó chữa. Vì sao vậy? Vì trong não mình á, cái vùng não mà nó chịu trách nhiệm về ngôn ngữ á, khi mà nó đến qua bốn tuổi nó định hình, nó cứng lại. Mà nếu qua khỏi thời gian đó rồi, nó cứng rồi mình không không làm cho khai mở được vì nó bộ não nó cứng rồi. Trước bốn tuổi ráng chữa chạy cho nó tiếp xúc với con người cho nhiều, nói cho nó nghe. Cứ nhìn nó mà nói. Nói đạo lý, nhất là nói đạo lý cho nó nghe. Mà bé tự kỷ là nguyên nhân là lúc nó còn nhỏ đó, người ta giao cho vú nuôi, ít có nuôi nấng nó rồi cái vong tiếp xúc nó. Vong nói chuyện với nó bằng cái ngôn ngữ của người cõi âm.

[1:55:09]Thế là não nó nó tiếp nhận một loại ngôn ngữ xã hội là của người âm. Sau đó nó không còn biết ngôn ngữ loài người nữa, nó không nói được nữa. Đứa trẻ tự kỷ là vậy, là do bị vong tiếp xúc, giỡn chơi, chơi đùa. Lúc đó cha mẹ không biết, bỏ mặc nó. Tưởng nó yên yên, thấy nó vui vui để nó nằm yên đó hoài, không ngờ là vong tiếp xúc với nó. Cái bộ não, cái vùng ngôn ngữ trong bộ não nó hình thành một ngôn ngữ của của cõi âm. Cho nên là muốn chữa nó khó lắm. Bây giờ chỉ còn một cách là nếu còn kịp á là phải cho một cái người nào mà biết tu á, cứ nói chuyện đạo lý với đứa bé gái, giống như nó không hiểu gì nhưng mà cứ nói cho nó nghe.

[1:55:43]Cứ nói miết, nói miết để nó đi qua lỗ tai nó. Mà phải khám thính trước nha, khám tai coi nó không bị điếc cái đã. Nói cho nó nghe để cho cái bộ não nó từ từ từ từ nó nhập dần cái ngôn ngữ của loài người vào. Biết đâu nó còn một góc nào đó nó mở ra được, nó cũng có thể nói được một số điều, chứ rất là khó chữa. Thôi thầy chúc cho mọi người không bị tự kỷ. Nghỉ nha, thôi đứng lên nghỉ.

[1:56:06]Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả,

[1:56:20]đệ tử và chúng sinh đều trọn thành Phật đạo.