[0:14]Thì ta đến với đạo Phật, điều mà chúng ta có cái cảm nhận đầu tiên là hình ảnh Đức Phật tọa thiền dưới cội cây bồ đề. Một người dù chưa biết gì về đạo Phật, chưa từng được nghe một lời giáo lý nào của Đức Phật, chỉ cần đến một ngôi chùa, cái hình ảnh đập vào mắt họ đầu tiên là hình ảnh Đức Phật nghiêm trang, trầm tĩnh, đĩnh đạc trong tư thế thiền tọa dưới cội cây bồ đề. Và chính cái hình ảnh đó đánh thức vào tâm khảm của một người sơ cơ, làm cho họ có cái thắc mắc, một cái ấn tượng về cái, đó là cái, cái biểu tượng của đạo Phật. Hình ảnh con người ngồi bất động, điềm đạm theo cái tư thế hoa sen
[1:07]là một cái gì như là một cái giáo lý đầu tiên và cũng là một giáo lý cuối cùng của đạo Phật, dù họ chưa biết điều gì. Thì như vậy, chúng ta là đệ tử Phật thì cái quan trọng nhất là phải làm sao nắm bắt được cái phương pháp thiền định, phải làm sao làm chủ được tâm hồn mình, nhiếp được tâm mình vào định. Đó là cái điều mà cốt yếu đối với một đệ tử của Đức Phật, nhất là đệ tử xuất gia, thì điều này càng không thể quên và buông được. Có thể là chúng ta chấp nhận trong đạo Phật có nhiều tông phái, mỗi tông phái khai thác một cái khía cạnh giáo lý của đạo Phật, bởi vì đạo Phật có rất nhiều khía cạnh giáo lý,
[1:55]mỗi cái giáo lý khai thác một cái tiêu điểm nào đó của đạo Phật. Tuy nhiên, nó vẫn có một cái trung tâm là chúng ta phải làm chủ tâm hồn mình, phải làm chủ tâm hồn mình. Nói một cách đơn giản là làm chủ tâm hồn mình, nhưng nói sâu hơn là chúng ta phải nhiếp tâm mình vào định thâm trầm, màu nhiệm. Đó là con đường mà Đức Phật đã đi qua, chư vị A-la-hán đã đi qua, và ngày hôm nay không có lý do gì chúng ta quay sang con đường khác cả. Thì cái kiến thức về thiền định, cái khát khao về thiền định, cái cái tâm tư ta hướng về thiền định phải là một cái cái tâm niệm khắc ghi từng giờ, phút thúc đẩy trong tâm hồn của chúng ta
[2:42]mà nó thành một cái mạch sống, thành cái hơi thở, cái dòng máu của chúng ta, không cho phép chúng ta buông lơi hay là hời hợt đối với vấn đề này. Thiền thì mênh mông. Nhưng mà có những số nét căn bản của nó trên cái lý thuyết cũng như trên sự thực hành. Mặc dầu khi đi vào trong sâu thì chúng ta thấy có nhiều cái phương pháp thiền do nhiều vị thiền sư hướng dẫn, nhưng tựu trung có những cái căn bản thì không bao giờ được sai. Bởi vì nếu sai khỏi nó là chúng ta đi vào ngoại đạo. Đó là điều khẳng định. Cho nên bỏ đi những cái riêng rẽ trong thiền của đạo Phật thì chúng ta chắc chắn có những điểm rất chung
[3:26]mà chúng ta không thể không biết, dù người đó tu bất cứ pháp môn nào về thiền. Thí dụ người đó tu về thiền công án, thoại đầu, người đó dùng câu niệm Phật để nhiếp tâm, người đó tu theo cái quán niệm hơi thở, người đó tu theo phương pháp chánh niệm, tri vọng, vân vân vân vân, nhưng nó đều có những căn bản rất chung mà nắm được nó rồi thì chúng ta chắc chắn không sai đường thiền nữa. Và khi nắm được cái căn bản đó rồi, chúng ta gặp những người khác tu thiền, họ nói nửa câu, nửa lời, chúng ta biết người này ở trong giới mức của chánh kiến hay là đã ngoài tà kiến. Đó là những cái mà chúng ta có thể khẳng định
[4:04]được khi chúng ta nắm vững cái triết lý. Thí dụ như là như hôm đó có cái điều chúng ta thấy là chúng ta sống trong thời đại hôm nay, chúng ta đang đối diện, chúng ta đang bị thử thách trước cái sự tiến bộ của cái tư tưởng con người và của khoa học hiện đại, cho nên họ nhìn tôn giáo với cặp mắt dè dặt, với cặp mắt nghi ngờ, nhất là hiện nay trên thế giới có một số giáo phái làm bậy, cho nên niềm tin của con người đối với tín ngưỡng bị lung lay. Và như vậy đối với các tôn giáo họ cũng có những cái cái xét lại. Chúng ta không nói các tôn giáo khác, chúng ta nói đạo Phật của chúng ta thì cái tư tưởng của đạo Phật nếu được xét bởi các nhà trí thức
[4:51]thì ta khá lạc quan bởi vì ai cũng đánh giá cao đạo Phật. Tuy nhiên, cái tâm tình, cái tư tưởng, cái trình độ của con người ngày hôm nay đã thay đổi thì cái sự tu hành của chúng ta trong cái thiền định, trong ứng xử, trong đạo đức nó có vấn đề, nhiều vấn đề chúng ta phải xem lại, phải nghĩ lại chứ không có cái nhìn thiển cận, một chiều như trước được nữa. Như có một lần, tôi đến thăm cái gia đình Phật tử đó thì một ông già ổng hỏi:
[5:24]"Ủa, tại sao mà lại người xuất gia rồi về không được lạy cha, lạy mẹ đã mất?" Ông là người tu theo Nho giáo, ổng ngạc nhiên. Thì cái quan niệm như vậy nó ngược hẳn với cái quan niệm của Nho giáo mấy ngàn năm qua của Á Đông, ổng ngạc nhiên. Thì hôm đó ổng là đàn anh nên tôi không dám nói gì nhiều. Xá xá chào chào vậy thôi. Chung quanh thì người con của ổng cũng là đệ tử xông xông phụng phụng lạy tôi rồi. Nhưng mà ngồi nói chuyện với đại chúng thì lại có nêu câu hỏi đó ra. Hỏi: "Thưa Thầy, Thầy nói sao?" "Họ bảo rằng cái người xuất gia rồi về không được lạy cha, lạy mẹ là bậy, phải không?" Nhưng trong thâm tâm Thầy nghĩ sao?
[6:00]Thầy thấy Thầy thấy
[6:04]Thầy mới ví dụ Thầy thấy là nếu chúng ta không khéo, chúng ta không khéo mà chúng ta chấp một chiều á thì chúng ta sẽ bị khinh liền, mà có thể bị khinh. Nếu mà chúng ta cứ chấp nhận được à có cái người tu hành cao hơn cái người cư sĩ ở nhà. Người xuất gia rồi là phải hơn người cư sĩ một bậc, coi chừng. Nguy hiểm chết. Nhất là ngày nay, họ không có phải là họ có luôn luôn có cặp mắt kính trọng người xuất gia đâu. Họ sẽ xét trên khía cạnh khác. Lúc đó tôi mới nói như thế này: "Bây giờ Thầy hỏi nè, là cái người mà giới nhiều so với cái người ít giới, cái người nào đạo đức hơn?" Như là người xuất gia 10 giới, người cư sĩ 5 giới.
[6:47]Người ta dạ, "Thì đương nhiên người nhiều giới thì đạo đức hơn." "Nhưng mà vậy Thầy hỏi tiếp, như vậy cái người đạo đức hơn là người khiêm tốn hơn hay là người tự cao hơn?" "Dạ, thì đương nhiên người đạo đức hơn là phải khiêm tốn hơn." "Thế như vậy có lý do gì để một người xuất gia nhiều giới tự cho mình ở vị trí cao?" Chính những người xuất gia nhiều giới lại là người luôn luôn thấy mình ở vị trí thấp. Thấp nhất. Không bao giờ thấy mình ở vị trí cao. Còn người bên ngoài họ kính trọng mình là cái nhận thức của họ, là bổn phận của họ khi họ cảm thấy họ tin nơi mình có cái đạo đức, có cái trí tuệ nào đó để họ có thể nương tựa, họ học hỏi.
[7:30]thì họ kính trọng là bổn phận của họ, nhưng riêng trong thâm tâm mình, đối với mọi người, dù là cư sĩ tại gia hay là tu sĩ, những người các tôn giáo khác, mình vẫn cảm thấy mình là một hạt cát vô nghĩa, là cái gì nhỏ nhoi, hèn mọn, không quan trọng. Có những quan điểm căn bản như vậy thì chúng ta thấy mọi chuyện càng thấy được rõ ràng. Như hôm rồi mà quý Phật tử, khi mà họp trở lại, chúng ta nghe tôi kể vấn đề thiền sư Triều Châu, ngài Cảnh Uyển thiền sư, ngài thiền sư đó, thì ngài nói rằng người mà có sở đắc trong thiền thì hơn cái người chưa có sở đắc trong thiền, thì người đó phải được ở địa vị cao, được mọi người tôn kính.
[8:17]Nghĩ như vậy, họa nó phải xảy ra liền. Nếu chúng ta nghe câu chuyện trong Nikaya, trong kinh Bổn Sanh, hôm đó cái việc tiền kiếp xưa kể về Trưởng lão Losaka, là cái Trưởng lão, một người tuy chứng A-la-hán mà suốt đời đói thiếu, từ nhỏ là đã bị cha mẹ thất vọng bỏ đi ăn xin, lớn lên tuy được là được xuất gia, vẫn thiếu thốn, tới khi chứng quả A-la-hán rồi, còn không ai cúng dường, bưng chén... Đói thiếu tới khi nhập Niết-bàn. Thì các vị Tỳ-kheo mới hỏi Phật cái nguyên nhân. Đức Phật mới kể chuyện rất là xưa, rất là xưa, vào thời Đức Phật Ca Diếp, nhưng có một vị Trưởng lão xuất gia tu hành, trụ trì một ngôi Tịnh xá ở một làng.
[9:05]Thì hôm đó có một vị Trưởng lão đã chứng A-la-hán đi đến làng đó. Thì cái vị Trưởng lão đã chứng A-la-hán đi đến làng đó, đầu tiên là vào Tịnh xá để viếng ngôi chùa, thì vào lại gặp, gặp một ông Trưởng lão đó, người ta gọi thế này: vị Trưởng... lão A-la-hán đến đảnh lễ tỳ kheo trụ trì và hỏi xin chỗ ở trú ngụ qua đêm, thì vị trưởng lão trụ trì là hoan hỷ sắp đặt phòng ở cho vị trưởng lão A-la-hán. Vị kia không xưng là A-la-hán. Rồi sau đó, rồi cái vị A-la-hán sau khi mà có chỗ ở mới đi vào làng để khất thực. Tôi nhìn phong thái ngài khang nghệ thì chúng ta thấy một vị mà khi được cái tâm linh sâu thẳm là tự họ đã khiêm tốn,
[9:52]không xưng mình là A-la-hán và đối với mọi người khác đều là tôn trọng. Đó, chúng ta thấy cái biểu hiện của đạo Phật, của cái sở đắc tâm linh chính là cái khiêm hạ, là cái đạo đức chứ không phải là cái lanh lợi, tranh lời nói để cho mình hơn người khác, để giành phần hơn của mình đối với người khác. Cho nên nếu chúng ta nghe một vị thầy nào đó nói rằng vị đó tu cao, có được cái trình độ tâm linh sở đắc nào đó, chúng ta khoan hãy tin lời nói của họ hay là cái biểu hiện khác, mà hãy xem cái đạo đức và cái lòng khiêm tốn của họ để biết rằng họ đã đi đúng trong cái giới mức của chánh kiến đạo Phật hay chưa mà thôi, chứ đừng bận tâm vì cái lời nói lanh lợi của họ.
[10:37]Có khi họ có sở đắc thật, đúng. Những thầy bùa cũng có sở đắc tâm linh, những người yoga cũng có sở đắc tâm linh, những người mà tu khí công cao cũng có sở đắc tâm linh. Nhưng những vị đó không đứng hẳn trong giới mức của đạo Phật. Còn cái người đứng hẳn trong giới mức đạo Phật, chúng ta thấy cái sở đắc tâm linh nó luôn luôn kèm theo cái lòng khiêm hạ vô biên. Đây là cái điểm mà chúng ta đánh giá một vị thầy đó đủ chánh kiến hay chưa đủ chánh kiến. Còn nếu vị đó có sở đắc tâm linh, có kiến giải sắc sảo, lanh lợi để có thể thuyết phục được người khác nhưng nếu vị ấy không có cái lòng tôn trọng mọi người,
[11:17]cảm thấy mình hơn mọi người thì vị đó đang đứng ngoài giới mức của Phật pháp, đừng bận tâm vì cái sự lanh lợi, vì cái kiến giải sắc sảo của họ. Chúng ta thấy, trong thiền định như vậy. Như vậy cái thể hiện của thiền chính là cái đạo đức, chứ nó không phải là cái lời nói nhiều. Ở đây chúng ta thấy thế này, từ cái định này, dĩ nhiên là nó có nhiều cái nó mới đưa đến được cái định, nhưng nếu chúng ta có được cái định, chúng ta có được bốn cái: Thứ nhất là đức hạnh, là cái chắc chắn phải có. Chứ không bao giờ trong đạo Phật người càng định trở nên càng nóng nảy, tham lam, tự kiêu, hơn thua, không có chuyện đó.
[12:00]Một người mà có định đúng của đạo Phật thì cái biểu hiện đầu tiên sẽ là đức hạnh. Cái cái mà chúng ta đạt được thứ hai khi mà chúng ta có định là trí tuệ. Mà trí tuệ là gì thì có lẽ sau này khi chúng ta học cái chuyên đề, chúng ta sẽ đào rất sâu để xem trí tuệ là cái gì. Chứ nào giờ chúng ta dễ hiểu lầm về trí tuệ lắm. Chúng ta cứ tưởng ai nói hay, nói giỏi, giảng được nhiều, rồi viết sách được thật dày là trí tuệ. Không phải. Không phải trí tuệ, trí tuệ đạo Phật nó là cái khác hẳn. Sau này chúng ta sẽ nói, trao đổi với nhau. Cái thứ nhất là chúng ta được đức hạnh, cái thứ hai là chúng ta được trí
[12:38]tuệ khi chúng ta có định, cái thứ ba là chúng ta được cái trực giác. Cái chỗ trực giác này tùy theo mức độ sâu cạn mà có người còn gọi là thần thông.
[12:51]Nhưng ở những người mà cái trực giác họ quá sâu sắc, quá sáng thì họ có thể đọc được tâm người, họ có thể biết được từng biến chuyển từ rất xa, họ có thể biết lui lại những kiếp quá khứ, vân vân thì người ta gọi cái đó là thần thông. Nhưng mà ở cái danh từ mà đương đại đó nhiều người dễ hiểu hơn gọi là trực giác. Từ nhỏ hay lớn ta gọi là trực giác. Ví dụ như là một người họ nghe mình kể một phần ba câu chuyện mà họ đoán hết toàn bộ câu chuyện dù chưa kể xong, đó cũng là một cái trực giác. Hoặc là khi mà mình một người nào họ vừa đối diện với người trước mắt lần đầu tiên thì họ đọc được hết toàn bộ cái bản chất của người trước mặt mình.
[13:34]Mà họ biết được cái cuộc đời của người kia là hạnh phúc, đau khổ, thăng trầm như thế nào. Cái đó nó rất gần. những cái trực giác như vậy nó nhỏ thôi,
[13:51]nhưng vẫn là có nếu một người được cái định. Là cái thứ ba mà chúng ta đạt được nếu chúng ta có định. Cái thứ tư mà chúng ta sẽ đạt được nếu chúng ta có định đó là hạnh phúc. Mà nếu cái chữ hạnh phúc này chúng ta dùng theo cái ngôn từ của thế gian để cho nó có vẻ chung, chứ nếu dùng trong danh từ của đạo Phật là an lạc. Chúng ta đạt được sự an lạc, sự tự tại. Đây là bốn cái mà chúng ta đạt được nếu chúng ta có định. Chúng ta sẽ thấy rằng cái bốn cái lợi ích này nó không phải chỉ riêng cái người tu mới cần mà bất cứ người nào sống trên cuộc đời này dù trong đạo Phật, ngoài đạo Phật, nếu họ muốn là một người có khả
[14:29]năng, nếu họ muốn là một người có thể đem lại được ích lợi cho mọi người khác thì họ đều cần bốn cái điều này. Nhất là trong thời đại ngày hôm nay. Trong cái thời đại mà con người ta căng thẳng vì cuộc sống, vì sự đấu tranh sinh tồn với nhau, vì cái tội ác nó gia tăng cực độ thì cái an lạc, cái đạo đức, cái trí tuệ, cái trực giác là một điều hết sức cần thiết cho họ cũng như cho chúng ta. Hơn ai hết chúng ta là người đệ tử Phật, mà Đức Phật là một người đạt được bốn điều này là viên mãn thì không lý do gì chúng ta tự xưng là đệ tử của Phật hay là xuất gia mà chúng ta thiếu bốn điều này. Có thể đây là dĩ nhiên chúng ta không thể đạt được viên mãn
[15:15]như Đức Phật, nhưng một phần nào của cái đức hạnh, của trí tuệ, của trực giác, của hạnh phúc chúng ta phải có. Chúng ta mới thấy cái cuộc đời tu hành của mình có ý nghĩa đây. Giờ chỉ nói cái hạnh phúc, cái an lạc, tự tại thôi chúng ta sẽ thấy chúng ta là những người sống cô độc, cô đơn trong cái nếp sống tu hành của mình. Nói cô độc, cô đơn nghe cho nó dễ nghe, thật ra là độc thân thì chúng ta cô độc, cô đơn trong cái đời sống tu hành của mình. Chúng ta không có hưởng thụ những cái khoái lạc của cuộc đời. Chúng ta sống một đời sống hết sức đơn giản, chịu đựng nhiều điều. Ta không có niềm vui của cảm xúc,
[15:54]không có niềm vui của những cái cảm giác, của giác quan như người đời. Người đời họ đi tìm cái hạnh phúc trên những cảm xúc, những cái hưởng thụ của giác quan. Chúng ta không đi tìm những cái đó. Ở đây có một điều mà chúng ta phải có cái nhìn theo cái nhìn của sinh lý, của y học. Tận trong cái vô thức của chúng ta, có lẽ hôm nay chúng ta không nói nhiều về chỗ này, nhưng mà phải có một buổi nào chúng ta nói nhiều về các bạn. Tận trong cái vô thức của chúng ta, chúng ta có hai cái bản năng lớn. Hai cái bản năng lớn: một là bản năng sinh tồn. Cái bản năng sinh tồn thúc đẩy chúng ta phải duy trì sự sống của mình.
[16:33]Ai cũng ham sống sợ chết, đó là cái bản năng sinh tồn. Nó giấu mặt trong vô thức, thúc đẩy chúng ta. Cái bản năng thứ hai nó khủng khiếp hơn nữa là bản năng hưởng thụ. Ai cũng muốn sướng và sợ khổ. Hai cái bản năng này nó chi phối trong tâm hồn của chúng ta từng giờ, từng phút. Chúng ta phải làm tất cả, chúng ta phải đấu tranh vất vả tất cả cuộc đời mình để phục vụ cho hai cái bản năng này. Một: duy trì sự sống, hai: là hưởng thụ sung sướng. Tất cả chúng ta không có ai có thể thoát khỏi hai cái bản năng này hết. Tuy nhiên, ở đây những người tu chúng ta đối với bản năng sinh tồn thì chúng ta duy trì sự sống của mình một cách vừa
[17:18]đủ, không nuông chiều, như là cái ăn, cái mặc. Chúng ta phục vụ cho bản năng sinh tồn một cách vừa đủ để sống, mượn cái thân này mà tu tập. Đó đối với bản năng sinh tồn. Đối với bản năng hưởng thụ thì đây là điều quan sát thấy trong cái tâm lý. Trong cái tâm lý học đây là điều quan sát thế này: nếu một người nào mà không có cái hạnh phúc, cái hạnh phúc này chúng ta hiểu trên nhiều khía cạnh, ở người đời đó là những khoái lạc, khoái lạc của giác quan. Nếu một người nào mà trong đời sống của họ không tìm được khoái lạc thì tâm hồn của họ trở nên bức xúc, dằn vặt, căng thẳng, khó tánh, nóng nảy, bực bội. Đây là điều có thật.
[17:59]Nếu các vị để ý đến tội nhân trong các trại giam, chiêm nghiệm cái cuộc đời mình, mình chứng kiến nhiều những người chung quanh mình là những người mà nếu trong đời họ không có được những sự hưởng thụ sung sướng thì họ trở nên một người rất bức xúc, căng thẳng, dằn vặt, bực bội, nóng nảy, ích kỷ, kỳ lạ và rất khó tánh. Người tu của mình cũng thế, không thoát ra khỏi quy luật của tâm lý. Đây là quy luật của tâm lý. Nhưng có cái điều cho nên ai sống cũng cần hạnh phúc hết, đây là một điều khẳng định. Ai sống cũng cần hạnh phúc. Có cái điều là bởi vì thế này, nếu không có hạnh phúc thì tâm chúng ta trở nên như vậy.
[18:45]Trở nên người khó tánh, người bực bội, nóng nảy, ích kỷ như vậy. Nên ai cũng cần hạnh phúc. Nhưng cái hạnh phúc của chúng ta khác với hạnh phúc của người đời. Người đời họ đi tìm hạnh phúc trên cảm xúc của giác quan, còn may mắn chúng ta có Đức Phật cho chúng ta cái hạnh phúc của... của sự tịch tĩnh, của thiền định, của thiền định.
[19:05]Chính nhờ thiền định đem lại cho chúng ta hạnh phúc an lạc mà chúng ta trở nên con người nhẹ nhàng, trầm tĩnh, đĩnh đạc, không có nóng nảy, không khó tánh. Chúng ta phóng khoáng, nhẹ nhàng, dễ chịu hơn đối với người khác. Cho nên một người tu, hoặc là ni cô, hoặc là quý sư, người sư này, người sư kia, nam nữ, tu hành tức là người đã từ bỏ khoái lạc của thế gian, mà nếu không tìm được cái an lạc trong đạo chắc chắn người đó là một người kỳ cục, quái dị, khó tánh, người khó đến gần được. Thì điều đó cũng đúng thôi. Cho nên nhất là quý sư trẻ, nếu từ bây giờ mà quý sư không chuẩn bị cho mình được một cái hạnh phúc an lạc trong thiền định thì
[19:52]chắc chắn lớn tuổi một chút quý sư sẽ trở thành một con người cau có, gắt gỏng, nóng nảy, bực bội, khó chịu, mà không ai dám đến gần. Thì giờ tới gần người ta sợ quá. Đây là một cái điều, nó là quy luật tâm lý. Cho nên ở đây cái thiền định, cái định tâm, nó giúp chúng ta giải tỏa được bức xúc trong đời sống của một người không có những cái khoái cảm khác. Đó là một điều hết sức cần thiết. Nên trong bốn cái điều đó, đức hạnh, trí tuệ, trực giác, hạnh phúc. Thì cái hạnh phúc giúp cho chúng ta sống một đời sống tu hành có ý nghĩa, có niềm vui để chúng ta gì, chúng ta vững tin vào đạo và không bao giờ quay lưng lại để nhìn về thế gian nữa.
[20:32]Đó là điều hết sức cần thiết. Còn nếu một người tu hành mà đối với trong đạo không có niềm vui của thiền định, tâm không nhiếp được, thì một điều chắc chắn là tâm họ lao xao, cái bản năng hưởng thụ ở trong nó cứ bí mật thôi thúc, nó bí mật thôi thúc, chúng ta không biết nhưng mà nó bí mật thôi thúc, và buộc lòng chúng ta cứ quay qua quay lại để đi tìm một chỗ nào đó đáp ứng được cho mình cái... cái hạnh phúc, cái khoái cảm. Lúc đó chúng ta sẽ lại bước về phía thế gian. Để rồi chúng ta... Nhưng cái thế hệ của quý sư trẻ. Chúng ta mà không tìm được niềm vui trong đạo thì cái bản năng chúng ta thúc đẩy chúng
[21:12]ta phải nhìn ra ngoài cái niềm vui của thế gian. Đây là điều nguy hiểm. Đây là điều mà chúng ta thối bước, chúng ta thối lui, chúng ta chối bỏ cái tâm nguyện ban đầu xuất gia của mình, rất là dễ, rất là uổng. Hôm nay chúng ta nói khái niệm về thiền, đến với thiền. Cái phần thứ hai chúng ta nói những căn bản của thiền định. Thiền định nó giống như một cái tháp cao. Thiền định nó giống như một cái tháp cao. Cái tháp đó nó dựa trên bốn cái chân đế. Nếu bốn cái chân đế đó mà lớn chừng nào, vững chừng nào, chắc chừng nào thì cái tháp thiền định nó sẽ vươn cao lên chừng nấy. Còn nếu bốn cái chân đế nó ít ỏi, nhỏ bé, yếu ớt thì mình biết rằng cái đỉnh
[21:55]thiền, cái tháp thiền định của người này sẽ không vươn cao được đâu. Nên chúng ta đánh giá một người tiến sâu vào thiền định hay không trên bốn điều. Cái thứ nhất, cái căn bản thứ nhất là đạo đức. Đây là một cái căn bản để đến với thiền, mặc dầu chúng ta đến với thiền rồi chúng ta được đạo đức, nhưng mà chúng ta phải dùng đạo đức để đến với thiền. Nên cái căn bản đầu tiên của một người đến với thiền là đạo đức cái đã, chứ không có một cái gì khác. Nhớ là, cái cái quan trọng, chúng ta đừng có nghĩ là đến với thiền là chúng ta phải học nhiều, tham cứu nhiều những cái tư tưởng cao siêu kỳ lạ, không phải đâu.
[22:28]Đừng có nghe người ta nói là, ờ: "Tâm của tâm của chúng sanh là bất sanh bất diệt, không đến không đi". Không phải thế, đó chỉ là những lý thuyết suông, không có. Đúng rồi, mặc dù chuyện đó chúng ta không sử dụng được. Cái căn bản chúng ta đến với thiền là chúng ta sử dụng được, chúng ta áp dụng được cho đời sống của mình và lợi ích cho mọi người là đạo đức. Cho nên khi chúng ta muốn chuẩn bị vào thiền mình xét lại tâm hồn mình, mình thanh lọc lại tư tưởng. Những cái tham, sân, hơn, thua, ích kỷ, tự kiêu, ngã mạn bỏ hết. Từ từ từng bước diệt trừ. Dùng cái trí của mình quan sát tâm hồn mình và cái ý chí của mình loại bỏ nó hết.
[23:05]Ví dụ như trong cái đại chúng sống với nhau như vậy, người huynh đệ chúng ta nói một câu tự nhiên tâm chúng ta khởi một cái ý nghĩ chúng ta muốn nói một câu nào đó để hay hơn người huynh đệ của mình, ta thấy được, à, cái tâm hơn thua vừa khởi lên. Chúng ta muốn nói một câu để chứng tỏ mình hơn người khác thì ngay lúc đó mình biết cái tâm hơn thua nó vừa sai sử mình, thì chúng ta dừng lại một nhịp. Chúng ta tiếp tục lắng nghe huynh đệ một cách chân thành và khiêm tốn. Hoặc là chúng ta vừa nói câu gì đó, bỗng nhiên một cái người huynh đệ của mình bác bỏ cái ý kiến của mình, nhiều người nói là cướp của không bằng cướp lời.
[23:43]Cái người mà cướp của người ta chịu đựng được dễ hơn là cái người cướp lời. Mình đang nói chen ngang vô nói, bác cái lời nói của mình làm cho mình tự ái ghê gớm. Bị chạm đụng tới cái bản ngã không à. Cái ý kiến của mình là nó là biểu hiện của bản ngã. Mọi ý kiến mà mình nói ra, mình luôn luôn muốn được người khác lắng nghe, chấp nhận. Nhưng mà nếu có một người mà họ không lắng nghe, họ không chấp nhận thì mình bực bội. Cho nên ở đây, nếu chúng ta nói cái câu nói nào ra mà khi bị cái người huynh đệ của mình bác lúc mình thấy cái tâm tâm gì của mình khởi lên? Một cái gì nó bực bội, nó chưa sân đâu, chưa gọi là sân,
[24:24]nó bực ha, thấy nó khó chịu, mình buông xuống đi, ha. Mình nhẹ nhàng và mình cảm thấy cái ý kiến của mình không quan trọng, bởi vì sao? Bởi vì cái ngã của mình không quan trọng. Chúng ta còn nhớ cái bài kinh mà cái Tiểu Kinh Rừng Sừng Bò trong Nikaya, có một đoạn Đức Phật hỏi ba vị tỳ kheo, ba A La Hán sống với nhau: "Làm thế nào mà các ông đạt được sự hòa hợp như vậy?". Các vị mới trả lời, ngài Anuruddha, Kimbila, ngài Nandiya trả lời thế này: "Kính bạch Đức Thế Tôn, chúng con từ bỏ cái ý của mình để chúng con sống theo tâm của huynh đệ. Do chúng con từ bỏ mọi ý kiến của mình, sống theo tâm của huynh đệ cho nên chúng con sống với nhau hòa
[25:12]hợp như nước hòa với sữa, chúng con nhìn nhau bằng ánh mắt thiện cảm." Kìa cái ý kiến là đại diện của bản ngã, nếu hôm nào chúng ta nêu ý kiến, huynh đệ bác mà vui vẻ đây mình chấp nhận, tùy thuận theo tâm của huynh đệ để đạt được sự vô ngã. Cái quý của mình là cái vô ngã chứ cái quý của mình không phải là mình giành hơn trong cái lời nói, đó là cái đạo đức. Nó còn nhiều cái vấn đề đạo đức, hoặc là thế này nữa, có những khi hôm đó chúng ta thiếu thốn, chúng ta bệnh, chúng ta bòn mót để dành được 50.000 để mà đi hốt thuốc uống. Giờ chúng ta thấy một người huynh đệ khác cũng bệnh mà lại không có tiền,
[25:52]thì lúc đó chúng ta sẽ thấy cái đấu tranh giữa cái bản cái bản năng sinh tồn. Mà nếu chúng ta can đảm san sẻ cái số tiền đó giúp huynh đệ để đi mua thuốc thì lúc đó đạo đức chúng ta tăng trưởng. Cái bản năng sinh tồn nó bị khống chế, cái bản ngã chúng ta bị thu hẹp một chút. Và cái con đường mở ra đến thiền định nó mở ra cái từ những cái hi sinh cụ thể ấy của cái tháp đạo đức. Nên nói cái vấn đề đạo đức làm căn bản để đi đến thiền định, nó mênh mông rất nhiều vấn đề mà tự mỗi người chúng ta phải quan sát, phải tìm xem, lục lọi trong cuộc đời của mình, trong tâm hồn của mình để biểu hiện được rất nhiều
[26:30]rất nhiều những cái nét đạo đức cao quý đó. Đó là một chân đế của cái tháp. Cái thứ hai, cái chân đế thứ hai của cái tháp thiền định là tâm nguyện.
[26:44]Tâm nguyện nghĩa là chúng ta tu thiền, chúng ta tập định để làm cái gì sau này? Để làm cái gì sau này? Cái tâm nguyện đó. Bây giờ ở đây tôi xin hỏi sư, con xin hỏi cái câu hỏi tiếp luôn, nhờ quý sư trả lời, quý thầy nói giùm cho đại chúng cùng nghe. Vậy chúng ta tu thiền, tập định để làm cái gì sau này? Xin mời đại diện trả lời. Dạ thưa thầy, về cái vấn đề tâm ấy, cái thiền định thứ hai, thành thật mà giả sử như là ngoài đời có người nào ý nghĩ gì á, không phải chỉ học đến đó, hay là con thường thấy những người sau khi tu tập thiền định, rồi cái trí tuệ tăng trưởng và cái nhận thức đối với lại...
[27:39]và cái cái mục đích thiền định đến để cái tĩnh lặng đó nó có phải dùng để thấy không? Mình thiền định chỉ đến thôi, chứ còn thấy như thế nào? Thôi được rồi. Để trả lời cái này, chúng ta có thể dùng thiền định để mà chuyển hóa cái tâm tích cực đi vào tĩnh lặng. Đó là cái căn bản, còn dùng cái tĩnh lặng đó để làm cái gì lại tính sau. Còn ý kiến ai nữa? Đi thiền thì nó có
[28:05]hai cái. Thứ nhất là tự mình, cứu vớt lấy mình giải thoát để khỏi sa vào ba nẻo.
[28:21]Cái thứ hai, mình lấy cái thiền định đó mình đã thấy được và tri kiến được thì truyền đạt cho chúng sanh để có lợi cho chúng sanh và bản thân.
[28:35]Thứ nhất là để giải thoát chính mình, thoát khỏi ba đường ác. Và thứ hai, dùng cái thiền định, trí tuệ thiền định đó để mà chuyển hóa cho người khác. Chúng ta trao đổi, giao lưu với nhau một chút. Nói qua nói lại chứ không phải chỉ ngồi lắng nghe, không biết tiếp thu được những cái gì nữa. Thì trao đổi là cái gì mà thấy hay nhất của thiền định? Theo thiển ý con nghĩ, thiền là để mang lại, giải phóng được cái tâm không còn phóng dật. Từ đó, chúng ta được mở tri kiến và vô sư trí. Còn cái vấn đề trao đổi trên tam tạng kinh điển á thì không nên làm cho đời tu tập của chúng ta, mà thiền định là để gom gom tâm.
[29:18]Từ một thời điểm hôm nay của chúng ta để phóng dật thì gom lại. Để gom lại được bao nhiêu thì cái vô sư trí nó mở được bấy nhiêu, để đem lại cái sự an lạc đến cho bản thân ta. Và từ đó, ta đem lan tỏa lại cho mọi người. Dạ. Chủ yếu là chúng ta vượt khỏi hữu sư trí để mở được cái vô sư trí. Chính cái vô... đời chúng ta có giá trị, có ý nghĩa. Còn nếu không chúng ta cũng đem oxy hít vào để thải carbonic ra nuôi
[29:53]cây, mà cái ý nghĩa của cái sự ngồi đấy đều khó đứng cho Phật. Nhưng mà nếu nói về cái chân đế và tâm nguyện á, thì những cái mục đích mà tu thiền để làm gì đó định hướng cho cái việc thiền của mình, thì cái ý kiến sư nói là được. Tuy nhiên, có một ý thế này. Chúng ta nhớ lại Đức Phật. Cái mà thúc đẩy Đức Phật đi tìm đạo là vì cái đau khổ của chúng sinh. Cái tâm, cái khởi ý ban đầu của ngài, ngài không nghĩ cho ngài. Ngài thấy ray rứt, trăn trở bởi cái đau khổ của ngài và của chúng sinh và ngài muốn đi tìm con đường thoát khổ để cứu vớt cho chúng sinh, chứ trước hết ngài không có mong cầu thành Phật.
[30:36]Bởi vì thành Phật nói xin lỗi các bạn, nó chỉ là cái danh từ trống thôi. Mà mình không khéo mình lại coi chừng mình rớt vào cái tự kỷ. Cái tâm nguyện, cái mục đích mà mình thiền định coi chừng nó có tính chất vị kỷ ở trỏng, nó làm cho cái chân đế của mình nó không thiền, cái tháp thiền định của mình, cái chân đế, cái tâm nguyện nó biến mất. Khi mà mình không trọn vẹn vì chúng sinh mà lại còn lẫn những mục đích của mình nhiều quá. Chúng ta cứ nhớ lại Đức Phật, hãy nhớ tới tấm gương của Đức Phật. Cái day dứt, trăn trở vì chúng sinh đã thúc đẩy ngài đi tìm đạo,
[31:15]thì ngày hôm nay cũng vậy, khi mà chúng ta nhìn tới thế giới này, lại có tang thương, trong vô minh, trong thế gian này. Người ta cứ mãi mãi chém giết nhau, người ta không biết nhân quả, không biết luân hồi là gì, thì người ta không bao giờ biết tìm về hạnh phúc, an lạc của chính nội tại. Cứ mãi bị đắm chìm trong thỏa mãn của các giác quan mà thôi, làm cả thế giới hỗn loạn này. Và chúng ta không nghĩ cho mình để được làm ông Phật, ông tiên, Bồ tát gì hết. Chúng ta không mơ ước mình đạt được cái vị trí bất cứ điều lợi ích gì trong cái việc tu tập thiền định này. Nhớ nghe chưa, không bao giờ chúng ta phải mơ ước một cái mục đích lợi ích cho mình.
[31:39]Tất cả những sự day dứt, trăn trở thúc đẩy chúng ta tu hành ngày hôm nay là vì tất cả chúng sinh đang đau khổ, nghe chưa, đang trôi lăn, đang tội ác, đang tội lỗi.
[31:50]Chính điều đó, chính ta hiểu điều đó, biết điều đó, thấy điều đó mà lòng chúng ta bị thúc đẩy một cách lặng lẽ, vô hình để chúng ta phải tu thiền.
[32:02]Và vì chúng ta biết rằng để giúp chúng sinh vượt khỏi cái tội ác, si mê, tai ương của họ, phải là một con người có đạo lực vững, có định lực sâu, tiếng nói có giá trị lớn thì thuyết phục được mọi người đi về với con đường chánh đạo. Chính vì lý tưởng đó nên chúng ta tu thiền định. Và ước mong cho chung quanh chúng ta, tất cả huynh đệ đều ai cũng đạt được cái thiền định sâu thẳm hết đi để mỗi người góp một tay, góp một tay trong cái việc xây dựng lại cuộc đời này, cái thế giới này cho nó đẹp hơn, trong cái việc cùng nhau mà hoá độ chúng sinh cho nó hiệu quả hơn, nhanh hơn, chứ còn một mình mình
[32:41]không kham nổi, không đủ chuyển hoá cả thế gian là bốn, năm tỉ người cứ đang tranh giành, xâu xé, ác độc này. Hoàn toàn mọi tâm mong cầu của chúng ta chỉ vì chúng sinh. Thì như vậy nó sẽ tránh cho chúng ta cái lỗi sau này là cái tội đố kỵ, hơn thua. Vì nếu mà chúng ta không nghĩ tới chúng sinh, ta chỉ nghĩ tới cái mục đích của mình không, sau này chúng ta thấy một người huynh đệ tu hơn mình, một cái đố kỵ thầm kín sẽ khởi lên trong tâm hồn, và cái điều đó phá tan hết công đức.
[33:12]Còn nếu mà mình thật sự vì chúng sinh mà thôi thì chúng ta cứ mong mỏi cho từng người, nếu tôi không tiến được, mong huynh đệ tôi tiến hơn nữa. Vì sao? Cứ càng có nhiều người tu tiến thì chúng sinh càng đỡ khổ, thế giới này càng được tốt đẹp. Thì cái tâm đố kỵ của mình nó không... nó không hiện lên. Cho nên khi mà chúng ta nói về cái tâm nguyện, điều phải ưu tiên là cái mục đích tu để làm gì, chúng ta gom lại, gạt phắt hết những cái mục đích của cá nhân mình ra. Duy nhất chúng ta hướng cái đích trông chờ là cái an lạc, hạnh phúc của chúng sinh mà thôi. Nhớ như vậy. Cái thứ ba, cái chân đế thứ ba của thiền định là phương pháp đúng.
[33:55]Hôm nay thì chúng ta không đủ thì giờ để nói về phương pháp. Cái thứ nhất là đạo đức, cái thứ hai là tâm nguyện, cái thứ ba là phương pháp đúng, cái thứ tư là công đức.
[34:12]Đạo đức thì có nhiều vấn đề ta xem xét, còn cái tâm nguyện thì chúng ta để ý một điều là hoàn toàn vì chúng sinh mà thôi, hễ còn vì mục đích nhỏ của mình trong đó, dù chỉ rất nhỏ mong ngài cho mình, cũng loại ra. Chính vì chúng sinh mà mình tu, tập thiền định thì tự nhiên cái gì mình cũng được toại tất mọi, không mong cho mình mà cũng có, còn hễ mong cho mình một cái bắt đầu nó sẽ sai đi, sai đi. Về phương pháp đúng là cái cấu trúc, nếu mà nói về định á, Nói tới cái yên tịnh mà tu về tâm tức là phải nói tới bộ não nha. Mà nói tới bộ não chúng ta phải biết rõ kết cấu của não. Những tế bào não nó hoạt động như thế nào?
[34:52]Từng cái vùng thần kinh nó chi phối làm sao mà tại sao nó làm cho người ta loạn, người ta định? Cái cơ chế từng ranh giới của não, tại sao người đó có nhiều tham lam, người đó ích kỷ, giận hờn, người đó khang khác mọi ngày, thì bộ não cấu tạo như thế nào? Và những cái gì nó ảnh hưởng tới bộ não? Tức là đời sống của mình nó ảnh hưởng bộ não ra sao. Cái việc ăn uống, ngủ nghỉ, sinh hoạt, giải trí nó ảnh hưởng tới bộ não như thế nào? Và những cái tâm lý nó ảnh hưởng vào não như thế nào? Nhưng mà chúng ta thấy, để có cái phương pháp đúng, chúng ta phải có cái nhìn toàn diện trên khía cạnh gì? Triết lý, tâm lý với sinh lý, chứ nó không phải chỉ riêng thuần
[35:35]cái đạo lý, cái triết lý mà thôi, không như vậy được. Như vậy cái điểm mà phương pháp đúng đó, chúng ta nhớ phải có cái nhìn toàn diện trên ba mặt. Một triết lý, hay chúng ta nói là đạo lý đó, thứ hai là tâm lý. Cái việc tâm lý nó hỗ tương qua lại đối với cái triết lý và cái việc tu tập của mình. Và thứ ba là sinh lý. Sinh lý tức là những cái vấn đề ăn, ngủ, sinh hoạt của cơ thể, máu huyết, tuyến nội tiết, vân vân, toàn diện ảnh hưởng tới chúng ta. Cho nên chúng ta thấy, sau này thì chắc chắn là khoa học họ sẽ bước vào thiền. Tương lai sắp tới, khoa học họ sẽ bước vào để nghiên cứu chuyện này.
[36:11]Thì nếu mà mình đến với thiền mà mình chỉ biết một cái triết lý thôi, tức là hoàn toàn không, như thật không, vốn bất sanh bất diệt hay cái gì đó, là chỉ có một khía cạnh, còn sót mất hai khía cạnh thì họ sẽ đánh giá thấp mình liền. Mà họ đánh giá đây là đạo lý không khoa học, không có cái nhìn toàn diện, nghiên cứu trên tổng thể. Cho nên đây là thời đại mới, một lát nữa chúng ta sẽ nói về cái tư tưởng mới của thời đại để ta hiểu rõ hơn. Hôm nay chúng ta gợi ý về phương pháp tu hành, chúng ta không thể nhìn phiến diện trên một khía cạnh nhỏ nữa, mà nhìn tất cả những cái gì ảnh hưởng trọn vẹn bộ não và tâm hồn của mình ta phải thấy hết.
[36:46]Mà ba điểm chính của nó là triết lý, tâm lý và sinh lý. Cái tâm lý là gì? Tâm lý là cái tư tưởng này nó ảnh hưởng, ám ảnh rồi nó chi phối tác dụng cái khác. Ví dụ như thế này, là nếu mà trong chúng ta xuất hiện một cái tư tưởng tự cao, cái tự cao đó do ví dụ như là ngày hôm nay chúng ta được tọa thiền, mình ngồi được hai tiếng đồng hồ, tâm thanh tịnh quá, thì nó có một cái tự cao bí mật khởi lên liền. Của mình, cái tự hào bí mật nó khởi lên. Và trong cái quy luật tâm lý, khi mà cái tự hào đó nó bí mật khởi lên rồi, bắt đầu nó tác động vào những tế bào não, nó tạo ra một sự ngăn ngại, đóng lại, bít lại, trơ lại, phá cái định của mình, mình vừa đạt được.
[37:32]Chúng ta thấy có một sự gắn kết nhau. Tức là cái yếu tố tâm lý mà ảnh hưởng vào trong cái việc tu hành của mình như thế nào, những cái quy luật đó mình phải biết. Còn vấn đề sinh lý, ví dụ như thế này, ví dụ như một người nói là phải ít ngủ để tu là các người tinh tấn, siêng năng, còn một người nói là ngồi hoài không nằm, quan điểm sai lầm.
[37:54]Muốn nhiếp tâm được thì bộ não phải mạnh, mà muốn bộ não phải mạnh, thì bộ não đó phải đủ chất dinh dưỡng và có được nghỉ ngơi. Giấc ngủ vô cùng cần thiết cho một người tu thiền. Tôi nhắc lại điều đó: Giấc ngủ vô cùng cần thiết cho một người tu thiền. Nếu thiếu ngủ, bộ não sẽ căng thẳng và chúng ta không còn khả năng để nhiếp tâm được nữa. Đây là một sự thật. Ngoài cái việc nó gây cho chúng ta căng thẳng, khó nhiếp tâm, nó sẽ gây cho chúng ta tất cả những bệnh lý khác tiềm tàng trong cơ thể. Như là người nam mà nếu thiếu ngủ, ít ngủ mà cứ căng thẳng, dằn kẹp để ngồi cho lâu, giống như nghe người bề kia nói ngồi bảy ngày không thở một
[38:39]hơi nào, bằng cái tâm hơn thua của mình, thì ta sẽ đổ ra rất nhiều cái bệnh nguy hiểm. Vì vậy người tu thiền nếu buộc họ phải ít ngủ, ngồi căng thẳng, họ sẽ xuất hiện những bệnh nan y, như vậy là không sáng suốt. Cho nên giấc ngủ rất rất cần thiết cho người tu thiền. Rồi vấn đề ăn uống, cái dưỡng chất. Cho nên chúng ta thấy chúng ta đọc cuốn Milarepa, con người siêu việt, thấy ngài Milarepa chỉ ăn cái rau tầm ma mà sống, chúng ta nói: "À, con người đơn giản như vậy." Không phải đâu, không phải. Cái cấu trúc thể tạng mỗi người một khác. Bình thường là thân, bộ não đủ chất mới đủ sức mạnh để chúng ta nhiếp tâm.
[39:21]Người ăn chay là đã thiếu, căn bản người ăn chay là thiếu chất. Đó là một cái sự thật khoa học, một sự thật khoa học. Chỉ có cái điều là chúng ta để dành cái năng lượng của mình cho việc tu hành, chứ không có phung phí vào những việc năng động quá đáng như người đời, cho nên chúng ta nhẹ nhàng hơn, nhưng mà một điều căn bản là người ăn chay là thiếu chất. Cho nên quý vị sư mà có đệ tử, có nuôi chúng, nhớ một điều: để ý sức khỏe của chúng trong vấn đề ăn và ngủ. Nuôi chúng vì họ có sức khỏe họ mới tu được. Như vậy, phương pháp đúng chúng ta đã nói tới ba điểm. Chúng ta nói cái chân đế thứ tư là cái công đức.
[39:58]Là không bao giờ chúng ta có thể thành tựu được thiền định, thành tựu được đạo quả nếu chúng ta thiếu công đức. Mà công đức này nghĩa là gì? Cái thiếu công đức ở đây là ở chỗ là chúng ta chưa từng giúp cho người khác tu hành là cái thiếu công đức. Cho nên người nào mà tôi nghe nói người đó bắt đầu nhập thất thì tôi nhìn từng người, có những người tôi nhìn, nghe nói nhập thất là tôi biết là chẳng được cái gì. Bởi vì cái quá khứ của họ tôi biết chưa từng giúp ai tu. Tôi bảo đảm vào trong thất loay hoay buồn ngủ, cái đầu xôi ren rồi buồn bực này nọ thôi. Còn cái người sống cuộc đời vị tha, giúp đỡ người này tu, giúp đỡ người kia tu,
[40:35]họ bước vào thất tôi tin là người này trong thất nhiếp được vào định, vì công đức có. Cho nên mình có cái phương pháp tu rồi, mình phải có công đức giúp người khác tu. Giúp người khác tu trên nhiều mặt: một là ví dụ người chưa biết tu, giúp cho người ta tu; người chưa biết giáo lý, cho người ta giáo lý; người chưa biết phương pháp dụng công, chỉ cho người ta phương pháp dụng công; người thiếu cái hoàn cảnh để chuyên tu, mình tạo cái hoàn cảnh cho người ta chuyên tu. Nên trong khi mình có phương pháp để tu rồi, mình đang tu, vẫn tìm cách giúp mọi người tu. Đừng bao giờ nghĩ đến chuyện chỉ tu một mình mình là điều sai lầm.
[41:09]Vì thiếu công đức, không ai có thể thành tựu được đạo quả. Ta nhớ kỹ chuyện đó. Như vậy, chúng ta trở lại bốn cái chân đế của thiền định: đạo đức, tâm nguyện, phương pháp đúng và công đức. Nếu bốn chân đế này lớn thì cái tháp thiền định chúng ta vươn đến bầu trời. Nếu bốn chân đế này yếu ớt, nhỏ bé thì cái mức định
[41:32]chúng ta đạt được không bao nhiêu. Cho nên là chúng ta để ý tới bốn cái chân đế chúng ta củng cố cho nó một ngày một lớn một vững. Cái đời sống hợp lý của người tu thiền là chúng ta yêu cầu ngủ đủ giấc. Người tu thiền không bao giờ được thiếu giấc ngủ. Mà làm sao biết mình ngủ đủ giấc? Tức là khi mình thức dậy, mình cảm thấy khỏe khoắn, sảng khoái, đó là ngủ đủ giấc. Cho nên có cái điều, đúng ra đây là cái quy luật của chùa, từ xưa tới giờ không biết nói làm sao. Chứ tới giờ gõ kẻng leng keng thức dậy hết là điều rất là dở. Tại vì mỗi người trong ngày đó cái sinh hoạt họ khác với nhau. Cái người ngày đó đi làm cỏ họ mệt hơn,
[42:07]họ bận nhiều thì họ phải thức buổi trưa nhiều hơn, họ có việc gì đó họ lao động nhiều hơn, nhưng mà đúng giờ buộc họ phải thức dậy chung một lúc với những người khác, bắt đầu một giấc ngủ 2 tiếng đồng hồ. Cái ngày đó tu rất là dở, và cái căng thẳng nó kéo dài qua ngày hôm sau mà nếu không được bù đắp, cơ thể họ nó suy một chút, một chút. Nên ở đây, đúng là hay nhất như là ở chùa tôi áp dụng: buổi khuya thức dậy không có gõ kẻng. Tự mỗi người, thường là mỗi người được cho một giờ thức dậy khác nhau, tùy cái sức khỏe người đó và tùy cái sự tu hành của người đó đã đến đâu. Có người thì cho 3 giờ rưỡi, có người thì cho 4 giờ,
[42:40]có người thì cho 4 giờ rưỡi, có người thậm chí cho 5 giờ mới dậy. Rồi mà cho rồi mà vẫn còn linh động nữa, ví dụ người đó cái trình độ họ 3 giờ rưỡi thức dậy họ thấy khỏe khoắn. Nhưng mà nếu ngày trước đó họ mất đi giấc ngủ trưa, họ có bị mệt, thì qua ngày hôm sau họ được quyền ngủ luôn tới 4 giờ rưỡi. Cho phép, không sao hết, miễn dậy rồi họ sẽ ngồi thiền sau người khác. Nhưng mà chính cái giấc ngủ đủ được bù đắp, tinh thần họ sảng khoái, họ mới đủ sức nhiếp tâm vào định được, cái tinh thần phải vững mạnh. Còn gõ kẻng dậy, thức, có người chưa đủ giấc, có người còn mệt, ngồi đó ngủ gục và tâm nhiếp
[43:16]không được, nó lăn xăn, nó căng thẳng. Cho nên cái vấn đề sinh lý giấc ngủ rất quan trọng. Chúng ta đừng coi thường cái thể xác, biết... Chưa quan trọng? Rất quan trọng. Vấn đề ăn uống cũng vậy, nhớ là đừng có thiếu đạm. Vì đó là những chất đạm. Dầu ăn cũng vậy, dầu ăn, dầu ăn tốt và dầu ăn sống đó, cái dầu phộng thật mà dầu sống đó, nó rất cần thiết cho não bộ và cho sự hoạt động của tim, của gan. Có một điều nữa, khoảng một tuần chúng ta nên ăn cơm rượu một lần. Vì trong cơm rượu nó có những axit amin rất hiếm mà khó tìm ở nơi thức ăn khác. Những cái axit amin đó nó rất tốt cho cơ thể, cho não bộ.
[43:52]Cho nên những cái chất như là: đậu nành, dầu phộng mà dầu sống đừng có dầu chín nha, dầu chín nghĩa là mình chiên cái chảo thiệt nóng rồi mình cứ gõ đồ ăn vô đó rất là dở. Còn nấu đồ ăn xong hết mình nêm cái dầu sống ở trên, rất là tốt cho sức khỏe, cho tim mạch. Thứ ba là trong cơm rượu có nhiều axit amin, hoặc là quý sư nếu ai có tiền nên mua cái, bây giờ có bán cái loại thuốc để nó bù đắp cho những cái axit amin còn thiếu, ví dụ là Aminoplex. Aminoplex là cái viên thuốc một ngày mình phải uống
[44:24]một viên để nó bù đắp cho những cái amin còn thiếu, mà trong cái các động vật thì nó nhiều, người ăn mặn ăn nhiều, người ăn chay thiếu nhiều, nên tại sao người ăn chay mình cứ bệnh là vì thiếu chất. Đó là thực tế khẳng định. Vấn đề bồi dưỡng chất, thật ra đây là cái tôi có cái ý kiến thế này: nếu mà vị nào có khả năng, một tháng nên vô một chai đạm, nước biển mà nước biển đạm á, nếu mình có khả năng. Chúng ta thua kém hơn những người ăn mặn, để bù đắp cho cái chất đạm mà thiếu trong cơ thể mình, thì làm cho người mình khỏe và cái tinh thần minh mẫn. Thật ra quý sư sẽ nghĩ rằng như vậy cái người
[44:56]bệnh mới cần đạm, chứ người khỏe không cần hay gì? Sai. Cái người đang khỏe cũng đang cần. Vì họ ngày hôm nay họ đang còn khỏe thôi, nhưng mà chính cái thiếu đạm nó sẽ suy lần, suy lần, suy lần trong những tuổi về sau. Cho nên ai cũng cần, chính những người đang khỏe cũng nên bổ sung thứ này. Đó là về chất. Chúng ta phải có cái nhìn khoa học trong vấn đề ăn ngủ này, chứ đừng có cực đoan một chiều, đừng có nghĩ tu hành là phải khổ hạnh, ép xác, không phải! Đó là sai lầm. Chính Phật đã phủ nhận điều đó. Chúng ta phải giữ cơ thể cho khỏe, vì cái trăn trở chúng ta là vì chúng sanh, đó là điều hợp lý.
[45:33]Cái thứ ba nữa là sự vận động thích hợp. Sự vận động thích hợp là thể dục, lao động như thế nào cho vừa đủ, đừng có quá ít mà đừng có quá nhiều. Nếu người không có cái gì phải làm việc thì phải tập thể dục. Mà đừng có lao động quá nhiều, nó mất chất trong người nhiều quá, tự nhiên não bộ nó yếu luôn, cho nên vận động là chính. Thứ tư là giữ tương quan tốt đẹp với mọi người. Như vậy cái đời sống hợp lý của người tu thiền, chúng ta nhớ bốn điều: thứ nhất là ngủ đủ giấc, thứ hai là ăn đủ chất, thứ ba là vận động thích hợp, thứ tư là tương quan tốt đẹp với mọi người. Lặp lại ha: thứ nhất là ngủ đủ giấc, thứ hai là ăn đủ chất,
[46:14]thứ ba là vận động thích hợp, thứ tư là giữ tương quan tốt đẹp với mọi người. Chính cái chúng
[46:25]ta giữ tương quan tốt đẹp với mọi người á, là tinh thần của chúng ta thanh thản. Còn chúng ta tạo cái tương quan căng thẳng với mọi người, lòng chúng ta cũng căng thẳng, khó tu. Mà trong cái tương quan tốt đẹp với mọi người, đòi hỏi mình sự nhường nhịn, nhẫn nhục nhiều lắm. Mà trong cái tương quan tốt đẹp với mọi người nó đòi hỏi mình sự nhịn, nhẫn nhục, chịu đựng lắm. Sự thương yêu, sự tôn trọng, sự hòa thuận, hòa động. Thứ hai là ăn đủ chất. Thứ nhất là ngủ đủ giấc. Lặp lại là ngủ đủ giấc nè, ăn đủ chất nè, thứ ba là vận động thích hợp, thứ tư là giữ tương quan tốt đẹp với mọi người. Bây giờ chúng ta bước vào phương pháp không để mất thời gian. Về điều thân.
[46:54]Khi thực hành, đây vấn đề thực hành thiền định. Khi người bước vào tập thiền thì thứ nhất là phải tập điều thân trước. Điều thân cho vững trước.
[47:03]Tức là phải ngồi cho đúng, củng cố cái thân mình cả một thời gian dài, chứ không có được mà bước vào cái là dụng tâm liền. Có nhiều người, nhiều vị thầy khi hơi vội vàng, người đệ tử đến học thiền cái đầu tiên ngồi ào phải quán thế này, phải suy nghĩ cái kia, phải tư duy sai. Bước vào chưa điều thân, giữ căn bản mà dụng tâm liền, sau này cái thân nó không có đúng, nó phá tan cái tâm của mình. Ngồi điều thân là chúng ta nên bắt chân lên ngồi kiết già. Xin thưa ngồi kiết già, đừng ngồi bán già. Nó đau lắm. Nhưng mà nó có lợi lâu dài, nó giữ vững cái định của mình hơn. Còn ngồi bán già, cái chân mình nó lơi lỏng, tâm mình sau này nó kém tiến.
[47:47]Cho nên dù đau cố gắng ngồi kiết già cho bằng được. Quý vị lớn tuổi thì hơi khó, nhưng mà quý vị trẻ hết sức cố gắng giùm. Dù có đau cũng ráng ngồi một hồi kiết già. Mình ngồi kiết già, mắt mình hơi nhìn xuống chút, nhìn chứ đừng có khép, đừng có nhắm mắt. Tại vì giai đoạn đầu nếu mình nhắm mắt á, nó sẽ xuất hiện cái ảo giác, nó lâng lâng trong não mình nó làm người mình lắc lắc mà mình không biết. Người mình lắc lắc mà mình nhắm mắt mình không thấy, người ngoài không thấy, nhưng mà nếu mình mở mắt cái nó lắc lắc cái mình thấy, nhờ cảnh vật mình giữ vững mình lại. Cái hiện tượng mà ngồi lắc là có là do nhắm mắt vội vàng quá,
[48:20]nên giai đoạn đầu điều thân là không được nhắm mắt, mở mắt nhìn xuống, mà cảnh vật hiện trước mắt mình phải rõ. Rõ nhưng không có nghĩa là mình nhìn nó đâu, tại vì mắt quan sát cái thân của mình. Có nhiều người đó, mắt mở ngồi nhìn cảnh vật, nhìn một lát không chú ý cảnh vật, thấy cảnh vật nó mờ mờ mờ mờ.
[48:38]Sau này khi mà vào định sâu cái biết nó bị mất, cái biết nó mà thiếu nó phát điên được. Cho nên là chúng ta mở mắt nhìn. Khi mà nhìn cảnh vật trong đời sống cũng vậy, cảnh vật nó hiện rõ ràng trước mắt mình, nó không bị những ảo giác trong tâm nó che chắn trước mắt mình. Khi ngồi điều thân cũng vậy, ngồi kiết già rồi nhìn xuống thì cảnh vật rõ ràng trước mắt mình, không được cho mờ. Thì giữ cái lưng thẳng, hai cái tay mình xếp như Đức Phật ha, hai cái vai xuôi, giữ xương sống thẳng và cái quan trọng là thế này. Là giữ thân mềm mại mà bất động, mềm mại mà bất động. Nghĩa là không gồng cứng, nhưng mà không nhúc nhích.
[49:19]Đây là hai cái tiêu chuẩn rất quan trọng cho việc điều thân. Mình ngồi đó mình dùng cái tâm, mình quan sát cái thân, quan sát từ đầu tới chân mà nhất là cái lưng. Dùng cái tâm để quan sát cái thân. Và giữ cho cái thân mình từng ngón tay, ngón chân, từng cái thớ thịt nhỏ không nhúc nhích mà không gồng cứng, mềm mại mà bất động, đó là tiêu chuẩn của việc điều thân. Cái căn bản nhất. Nhiều người vào vào thiền mà không có cái giai đoạn tập điều thân này cho thật căn bản, kỹ lưỡng, về sau khi họ vào định, tự nhiên nó hư hư. Thân nó vẹo, nó nghiêng, nó lắc rồi nó phá luôn cái định luôn, được định chút lại nó phá tiêu luôn.
[50:03]Cho nên cái điều thân căn bản rất quan trọng. Có khi người phải tập một tuần điều thân rồi mới bắt đầu điều tâm, có người phải tập một tháng mới bắt đầu vào điều tâm, có người phải tập đến ba tháng mới được vào điều tâm. Mà cái điều thân cái căn bản quan trọng này nó hay thế này: là mình chưa nhiếp tâm đâu, chỉ điều thân, chỉ ngồi mình giữ hết cái thân mình, quan sát cả cái thân mình, giữ cho nó mềm mại, bất động thôi, chưa có tu tâm gì hết, mà cái sức mạnh tinh thần nó tăng lên từ từ từ từ. Tự nhiên mình cảm thấy mình có ý chí hơn, cái trí nhớ mình tự nhiên nó tăng lên hơn, mà mình làm việc gì nó quyết đoán hơn,
[50:38]nó quả quyết hơn, mạnh dạn hơn chứ không còn cái nhu nhược nữa. Chỉ mới điều thân thôi đó, chứ mình chưa nói tới cái chuyện điều tâm. Ngồi bất động vậy mà nó đã củng cố được sức khỏe. Khi ngồi kiết già bất động, lát nữa chúng ta vào thiền chúng ta tập. Và trừ những vị lớn mà đã từng tu thiền, kinh nghiệm thì con không dám. Nhưng những vị mới thì chúng ta sẽ bắt đầu thực hành trong cái việc: ngồi bắt chân kiết già, để hai tay như Đức Phật, giữ lưng thẳng, hai vai xuôi, mắt nhìn xuống rõ ràng. Và dùng cái tâm quan sát cái thân mình, giữ cho toàn bộ cái thân mình, từ ngón tay, ngón chân, từng cái thớ thịt nhỏ
[51:14]mềm mại mà bất động, không có gồng cứng và không nhúc nhích. Đó là tiêu chuẩn. Rồi sau đó, khi mà chúng ta ngồi một lát khoảng 5-10 phút rồi đó, chúng ta mới để ý hơi thở chút xíu. Chứ hơi thở lúc này chưa để ý nhiều đâu, đừng vội để ý hơi thở nhiều. Tại vì vấn đề hơi thở là vấn đề của cái điều tâm chứ không phải điều thân. Hơi thở cũng cao siêu lắm. Cho nên lúc này chưa phải lúc mình tu hơi thở. Nhưng mà đầu tiên khi trong giai đoạn điều thân thì mình giữ hơi thở như thế này. Thở điều hòa, không vội vàng. Hít vào đầy, dừng lại một chút rồi hãy thở ra. Chớ đừng hít vào đầy thở ra liền, là nó làm cho mình trở nên vội vàng.
[51:56]Hít vào đầy, dừng lại thong thả một chút rồi thở ra. Khi thở ra thấy đủ rồi, dừng lại một chút thong thả rồi lại hít vào. Hơi thở rất là thong thả. Mà nó thong thả nó biểu hiện ở hai cái chỗ, hai cái dừng đó. Cái chỗ dừng mà khi hít đầy rồi trước khi thở ra, dừng lại một chút cho nó thong thả. Tâm mình nó có biểu lộ sự trầm tĩnh. Rồi, thở ra thong thả cho đến lúc mà thở ra hết rồi, không có ép cho hết nghe, đừng có ép cho hết, ép hết là chết. Mình cảm thấy nó vừa hết thôi, vừa khỏe thôi, dừng lại một tí xíu rồi thở vào. Khi thở vào gọi là đầy đó nhưng mà không ép cho đầy, nhớ là hơi thở không bao giờ đè ép, đừng có ép quá tai.
[52:37]Mình chỉ hơi nhiều hơn hơi thở bình thường một chút thì thôi. Tức là đầy vào nhẹ nhàng chứ không có ép cho thật đầy, hơi dừng lại một chút thong thả rồi thở ra. Khi thở ra nhẹ nhàng rồi đừng có ép phải là thở cho hết, cho kiệt sức không phải. Mình cảm thấy vừa hết vừa đủ thôi, vừa chừng đó, dừng lại một tí xíu rồi hít vào. Đó là hơi thở trong giai đoạn điều thân. Nhưng trong giai đoạn điều thân này, mình chưa để ý hơi thở nhiều, chỉ quan sát cái thân mình mềm mại mà bất động thôi. Thì tập điều thân này chúng ta phải tập trong vòng nửa tháng, 1 tháng cho nó căn bản vững chắc. Đừng có vội vàng hấp tấp mà bước sang giai đoạn điều tâm.
[53:18]Nó sẽ phá tan cái tâm của mình sau này. Nó là như vậy. Quý sư ghi câu hỏi làm bài: giải thích rõ bốn cái căn bản của thiền định.
[53:30]Câu thứ hai: câu thứ hai này chắc phải cuối tuần mới làm đem... tu một tuần thấy kinh nghiệm. Viết lại kinh nghiệm điều thân. Quý sư cố gắng làm cái này bởi vì đây là cái kinh nghiệm của mình sau này dạy cho người khác, nên buộc mình phải thấy rõ, quan sát rõ, trình bày rõ để sau này mình hướng dẫn người khác. Câu thứ hai là: trình bày lại kinh nghiệm điều thân. Lát nữa chúng ta bắt đầu tập thì suốt một tuần này quý sư cố gắng tập rồi mới viết cái trả lời câu hỏi thứ hai: trình bày lại kinh nghiệm điều thân. Câu thứ nhất ha, nhắc lại là: giải thích rõ bốn căn bản của thiền định. Câu thứ hai là:
[54:09]trình bày lại kinh nghiệm điều thân của từng người. Bây giờ chúng ta còn vài phút cho thêm câu hỏi.
[54:23]Ví dụ như cái cái giấc ngủ á nó được đầy đủ rồi nhưng mà mình thức dậy cái... mình cái... mình không có thể nào... Mình khởi nghiệp... À, đúng rồi. Nó có cái trường hợp có người bị bệnh về tim mạch hoặc là bệnh về thần kinh á, nhiều khi họ ngủ đủ giấc rồi, thức dậy vẫn cảm thấy mệt. Thì đây là trường hợp bệnh, mình phải tự biết nha, thì lo đi chữa, chứ đừng có nằm ngủ lại, nói chắc chưa khỏe thì nằm ngủ chút nữa. Nên nó có trường hợp, ví dụ người không bệnh á, họ ngủ đủ giấc dậy, họ thấy rất là sảng khoái, tỉnh táo, thì đó là đúng. Nhưng trường hợp có những người họ bị bệnh về tim mạch hay thần
[54:56]kinh, thức dậy rồi chứ nó cũng lừ đừ lừ đừ lừ đừ kỳ lắm, thì mình biết cái đó là do bệnh, thôi cứ tiếp tục dậy ngồi thiền nha, rồi đi hốt thuốc uống chứ đừng có mà ngủ lại, nói à chắc mình chưa đủ giấc, mà thầy nói vậy chắc chưa đủ giấc, cứ ngủ nữa. Nên đây là mình phải thông minh, mình phải tự biết của mình. Với nó có cái cảm giác lừa mình nữa là thế này: là có những người tự nhiên thích ngủ kỳ lạ. Thích ngủ mình nói là thích ngủ là nói cho nhẹ, chứ họ ham ngủ. Cho nên ngủ nhiêu cũng không đủ hết, đặt lưng xuống ngủ, ngáy khò liền. Thì người này phải tự chiến đấu với bản thân mình, đừng cho ngủ quá.
[55:30]Tức là ngủ đủ chứ không phải ngủ quá nha. Cho nên ở đây là mình phải thông minh mà tự biết với mình. Do mình có cái lý tưởng tu hành, cho nên mình biết kiềm chế mình, à mình thấy à như vậy là đủ nè, mà nếu thêm chút nữa là quá nè, mà nếu lui lại là thiếu nè, mình tự cân nhắc. Mình còn ngủ được nữa đó, ngủ ngon nữa đó, nhưng mà biết à như vậy là dư rồi, thôi dừng lại, đi ra. Để mà lo tu. Là vì mình còn cái lý tưởng mà mình chưa làm được mà trong tâm hồn mình, đó là gì? Là làm cho chúng sinh hết đau khổ. Lý tưởng chưa thực hiện được, thì làm sao mình yên tâm mà cứ nằm ngủ hoài, phải không? Có ai hỏi gì nữa không?
[56:13]À, cái tâm lý là như thế này. Nó có những cái tâm, đây là những cái quy luật của tâm, một cái tâm lý này á, một cái tâm niệm này á, nó phát sinh ra một cái tác dụng khác. Một cái tâm niệm kia, nó phát sinh ra một cái tác dụng khác. Tức là, ví dụ có những cái tâm niệm á, khi mà nó khởi lên á, thì từ từ nó phá cái định của mình. Mà có những tâm niệm khi khởi lên á, từ từ nó làm tăng trưởng cái định của mình. Đó, những cái tâm niệm đó. Ví dụ như là khi mà chúng ta thấy một người huynh đệ chúng ta ngồi thiền được lâu giờ, tâm được định, trong lòng chúng ta có cái niềm vui. Chúng ta mừng, mừng vì thấy huynh đệ mình tu tiến,
[56:52]thì cái tâm niệm tùy hỷ đó đó, tự nhiên nó làm cho chúng ta cái định chúng ta phát triển lên. Đó là những cái quy luật của tâm lý mà chúng ta phải biết điều đó. Sau này chúng ta còn bàn qua nhiều nữa. Hoặc là thế này nữa, hoặc là chúng ta nghe một người giảng pháp, chúng ta nghe với cái tâm đố kỵ lúc nào cũng canh canh coi ông này ổng dở chừng nào để mình chỉa ổng, mình nói xấu ổng. Tự nhiên cái cái tâm niệm đó rồi mốt á nó chặn mất cái vùng não mà ăn nói của mình, tự nhiên mình đứng lên mình nói lắp bắp luôn. Đó, là cái tâm lý mà nó tạo thành quả báo á, nó như vậy. Nên khi mà trước cái sự thành công của người khác mình
[57:26]có cái tùy hỷ thì tự nhiên cái não mình nó khai mở, mình là dễ thành công, cái khả năng mình nó tăng lên. Một lát mình ngồi thiền xong mình phải hồi hướng nha. Còn về vấn đề thực hành, kỳ này chúng ta sẽ không nói thêm về một cái thực hành nào mới, nghĩa là trong tuần tới chúng ta tiếp tục thực hành cái điều thân lại cho thật là căn bản chứ chúng ta chưa có vội đi sang tới cái vấn đề dụng tâm. Tại vì nếu điều thân mà chưa kỹ thì cái việc dụng tâm sau này sẽ bị hư, uổng đi. Cho nên thà chúng ta đi chậm buổi đầu mà về sau nó cứng, nó chắc, mình cũng không gấp. Hôm nay chúng ta chỉ nói về lý thuyết.
[58:09]Hôm nay chúng ta sẽ nói về tâm. Thiền là đi về tâm, hôm nay chúng ta nói tâm là cái gì. Chúng ta nói về tâm trên hai cái nhìn. Lẽ ra chúng ta phải nhìn về tâm trên ba cái quan điểm như chúng ta đã nói hôm trước là ba quan điểm gì, ai nhớ không? Là gì? Triết lý, tâm lý với sinh lý. Hôm nay mình khoan nói tới triết lý, tại triết lý thì nó tùy thuộc các tông phái, mỗi tông phái sẽ nhìn cái tâm theo cái nhãn quan riêng của mình. Ở đây cho nên chúng ta chưa vội vàng chúng ta đề cập tới cái khía cạnh triết lý mà nó dễ đụng chạm cũng như nó dễ bàn bạc sâu tới các tông phái, mình chưa nói. Hôm nay chúng ta nhìn tâm trên cái nhìn khách quan của tâm lý và sinh lý.
[59:01]Trước khi chúng ta đi về tâm thì chúng ta còn một ít nói chuyện về ngoài đời một chút. Thường thì chúng ta sống trong cuộc đời này, chúng ta sống bằng cái phước quá khứ của mình, từ nhiều kiếp trước mình đã tích lũy. Tuy nhiên, người xuất gia như chúng ta, chúng ta có những cái phước khác với người thế gian. Như chúng ta đã biết, đức và phước là hai cái khác nhau. Đức là cái tốt của tự tâm, ví dụ như tâm mình không có tham lam, thù hận, ích kỷ, ganh ghét, hơn thua, tự kiêu, vân vân. Khi tâm mình không có những cái xấu đó mà chỉ có cái lòng từ ái, nhẫn nhục, khoan dung, vân vân thì mình gọi là người đó có cái đức nhưng chưa chắc có phước.
[59:47]Còn cái phước là do làm lợi ích cho chúng sinh mà có. Chúng ta phân biệt cho rõ hai điều này. Đức là do cái sự tu sửa nội tâm của mình, còn phước là do làm lợi ích cho chúng sinh mà có. Sẽ có những người có đức mà không có phước, cũng như có những người có phước mà không có đức. Người có đức mà không có phước là thế này: là người đó ở một nơi hẻo lánh, vắng vẻ, ít có tiếp xúc với ai, chỉ thuần tu sửa nội tâm, tu tập từ bi quán, vân vân, đó, người như vậy có đức, nhưng không có dịp để làm lợi ích cho người khác, nên người này có đức mà không có phước. Còn cũng có người có phước mà không có đức.
[1:00:31]Ví dụ như ông đó ổng làm một cái cán bộ ở một cái xã, cái huyện gì đó, ổng muốn lấy lòng cái cấp trên, ổng mới ra công ổng làm việc này việc kia cho tốt cho dân chúng. Cái việc ví dụ ổng sửa con đường này, ổng bắc cái cầu kia, ổng mở nhà tình nghĩa, mở lớp học tình thương, vân vân, ổng làm rất siêng năng. Nhưng trong thâm tâm của ổng, ổng không vì thương dân mà vì báo cáo thành tích cấp trên để được thăng chức. Thì xét trên phương diện phước, ổng có phước. Việc làm ổng vô tình làm lợi cho nhiều người nên ổng có phước, nhưng về đức không có. Bởi vì ổng chỉ thủ lợi, tìm cái mục đích danh vọng của cá nhân mình.
[1:01:08]Thì chúng ta phân biệt được hai cái: đức và phước khác nhau. Thì dĩ nhiên một người chân chính, người tu hành chúng ta là phải trọn vẹn trên cả hai lĩnh vực: phước và đức, phải không? Nghĩa là nội tâm chúng ta phải được hoàn thiện, tốt đẹp, không có những phiền não, những cái lặt vặt, ích kỷ, nhưng mà chúng ta phải siêng năng cả một đời này, cả một đời tu hành của mình để làm lợi ích cho người khác. Chúng ta đi tu là chúng ta từ bỏ thân mạng này, coi như cái thân này không có nghĩa lý gì hết. Chúng ta chỉ sống vì lợi ích của mọi người, chứ không bao giờ chúng ta nghĩ tới cái cá nhân của mình để làm
[1:01:47]sao mình được thọ giới nhiều hơn, được trụ trì cái chùa lớn, được trở thành giảng sư hay là được có chức vụ trong giáo hội, vân vân, chúng ta từ bỏ hết những cái mục đích tham vọng cá nhân bí ẩn đó xuống. Chúng ta chỉ thuần một việc: làm lợi ích cho mọi người. Bây giờ thầy xin hỏi quý sư: Cái việc phước chân chính của người xuất gia là làm cái gì? Xin mời quý sư trả lời, chúng ta trao đổi với nhau. Quý sư cứ đưa tay lên nói cho mọi người cùng nghe. Mời mời chú, dạ. Giảng pháp giáo hóa chúng sanh. Dạ, đúng rồi, cảm ơn chú ha. Có ai có ý kiến gì nữa không? Mời sư Luân Châu. Dạ thưa huynh đệ, thanh tịnh. Dạ, cảm ơn sư.
[1:02:35]Mời sư ngồi xuống. Còn có ai có ý kiến gì nữa không? Thôi nói luôn nha, tại vì hồi nãy mình đã phân biệt đức và phước rồi ha thì mình không lặp lại. Cái phước là làm lợi cho chúng sinh, chúng ta đứng trên quan điểm đó để trả lời. Mà đúng như vậy, chúng ta chỉ có mỗi một việc duy nhất mà người xuất gia chúng ta phải lấy đó làm mục đích cho bằng được là giáo hóa chúng sinh, làm cho mọi người có đạo đức tăng lên. Cái xã hội, cuộc đời chúng ta đây nó đang cái độc ác nó đang xâm chiếm quá mạnh cả cái thế giới này thì chúng ta chỉ làm một việc duy nhất là làm sao cho cuộc đời đạo đức nhiều hơn nữa, tức là giáo hóa.
[1:03:13]Tùy mức độ, cái người họ chưa thể phát tâm đi đến sự giải thoát tuyệt đối thì mình nói cái giáo lý về cái đạo đức nhân quả, còn người họ phát tâm vĩ đại hơn, cao thượng hơn thì mình nói tới sự giải thoát, vân vân, nhưng vẫn là giải thoát, giáo hóa. Mà giáo hóa, như chúng ta biết có hai cái phương diện giáo hóa là thân giáo và khẩu giáo. Thân giáo là mình lấy cái tấm gương đời sống của mình để thuyết phục người khác. Nhưng mà cái đó là cái căn bản, đương nhiên mình không thể bàn. Cái quan trọng của việc giáo hóa là dùng lời nói để giáo hóa. Như vậy tất cả mọi người xuất gia chúng ta đều phải có một
[1:03:46]mục đích là trở thành giảng sư để giáo hóa người khác. Nên cho nên cái chữ giảng sư nó hoàn toàn không có một cái gì nó kiêu kỳ, nó kiêu hãnh hay nó cao siêu, không có đâu, không có. Việc mà trở thành một giảng sư là một bổn phận bắt buộc của người xuất gia. Đó là một mục tiêu mà mình không bao giờ được rời khỏi. Cho nên ngày xưa Đức Phật nói là người Tỳ-kheo phải có khả năng thuyết pháp giáo hóa độ người cư sĩ. Đó là một điều bắt buộc thôi. Cho nên hôm nay ngồi đây chúng ta tu để ngày sau này chúng ta có khả năng dùng lời nói thuyết phục người khác trên cái căn bản tấm gương đạo hạnh của mình.
[1:04:20]Thì như vậy bây giờ chúng ta hỏi thêm một câu hỏi khác: Chúng ta lấy cái gì để dạy cho người khác, để giáo hóa chúng sinh? Lấy cái gì? Xin mời quý sư, các bạn. Chúng ta lấy cái gì để giáo hóa chúng sinh? Bằng lời nói nha, chúng ta nói bằng lời nói, bằng khẩu giáo chứ không phải là bằng thân giáo, thân giáo là căn bản, đương nhiên rồi. Mình ta nói bằng lời nói, lấy cái gì để diễn tả? Mời sư, dạ. Bằng giáo pháp. Giáo lý Đức Phật. Dạ, cảm ơn. Giáo lý như sư nói thì tức là mình có học hỏi phải không? Có hiểu biết giáo lý, có ghi nhớ để mình giảng lại, phải không? Dạ. Rồi có ai có ý kiến gì thêm nữa không? Mời chú, chú Văn Lệ.
[1:05:09]Dạ thưa thầy, khi mình chia sẻ là giáo hóa là trước hết là lấy từ những cái kinh nghiệm từ sự tu học của bản thân và truyền đạt lại cho người nghe với tất cả lòng từ bi và mong cho người nghe được giác ngộ. Dạ. Chú trả lời hay lắm. Nhưng trong hai câu trả lời, chú đều trả lời khá chính xác. Nên chú cũng có cái trí tuệ, nhưng chú cũng có cái nhược điểm, chú cố gắng vượt qua là chú có cái ngã.
[1:05:38]Chú giỏi, nhưng mà chú đang có một cái ngã âm thầm, chú cố gắng tu hành vượt qua cái đó thì sau này chú lợi cho chúng sinh nhiều. Thầy vì chân tình thân tình tôi nói nghe, chứ không phải phê bình đâu, nhưng tôi nhìn thấy chú điều đó. Mình khéo léo, khi mình giỏi, luôn luôn mình dễ có cái tự hào lắm. Cho nên khi mình giỏi mình cố gắng mình luôn luôn khống chế để đừng cho nó, luôn luôn khiêm tốn, biết tôn trọng người khác thì mình sẽ lợi ích lớn cho chúng sinh. Chú cứ trả lời nha, không phải chú trả lời đúng là tôi chê, nhưng mà trong cái thân tình tôi tôi nhìn thấy chú nãy giờ như vậy, sợ nó có cái tiềm tàng.
[1:06:10]Mà chú trả lời vậy là rất là hay, nên cố gắng phát huy những cái điều đó. Như chú nói đúng, chính kinh nghiệm. Đúng như sư kia nói là chúng ta hiểu biết, học giáo pháp, hiểu biết ghi nhớ nhưng thực hành phải đi xuyên qua thực hành. Chúng ta lấy cái kinh nghiệm tu hành của mình để nói lại. Chúng ta sẽ nghe hai người giảng khác nhau hẳn: một người học hỏi, hiểu biết, ghi nhớ rồi nói lại và một người có xuyên qua thực hành, chúng ta sẽ thấy cái người có xuyên qua thực hành họ nói là mình cảm động hơn, thuyết phục được mình, làm cho mình lay động và mình có cái ý muốn thực hành được. Còn người mà họ chỉ nghe hiểu nói lại,
[1:06:49]mình nghe chứ ngồi mình nhạt nhòa lắm, mình không có cái sức thuyết phục. Quý sư có đồng ý điều đó không? Cho nên chúng ta cũng vậy, trong thâm tâm chúng ta chúng ta mơ ước làm lợi ích cho chúng sinh thì muốn làm lợi ích lớn chúng sinh, chúng ta phải có thực hành. Chúng ta đi tìm cái đạo đức sâu thẳm, chúng ta cố gắng thực hành thiền định thật chuyên cần để có kinh nghiệm. Mình lấy kinh nghiệm đó rồi lần lượt mình giáo hóa chúng sinh. Chính đi qua cái kinh nghiệm, lời nói mình rất có giá trị. Đây hôm nay vì vậy chúng ta trở lại vấn đề thiền định. Vì lý do đó mà trong mùa hạ này chúng ta cùng với nhau
[1:07:25]trao đổi về thiền định, lý thuyết và thực hành thiền. Bây giờ nói về lý thuyết thiền chúng ta trở lại nói về tâm. Tại vì đi vào thiền tức là đi vào tâm. Mà tâm là gì? Chúng ta sẽ chia ra trên theo hai cách nhìn: Cách thứ nhất là trên cái khách quan sinh lý, cách thứ hai là trên cái chủ quan tâm lý. Vì nói trên sinh lý, hoạt động của tâm tức là hoạt động của bộ não. Đó là căn bản. Hoạt động của tâm tức là hoạt động của bộ não. Cho nên muốn biết về tâm, chúng ta phải có kiến thức y học, sinh học về não bộ, về hoạt động của các tế bào não, của các trung khu thần kinh, của các tuyến nội tiết, các cơ chế mà dẫn truyền tín hiệu tư tưởng ở trong não như thế nào.
[1:08:08]Ví dụ như tay chúng ta khi chúng ta cầm cái vật nóng, tại sao chúng ta biết nó là nóng? Bởi vì nó có một cái luồng thần kinh nó đi từ cái da tay mình nó chạy lên tới não nó báo trên đó. Nó truyền đi. Rồi ví dụ như là cái não mình nó hay lắm, cùng một lúc mình ngồi đây chứ nó cả trăm cái tín hiệu nó báo lên não, nhưng não lựa chọn giữ lại một hai tín hiệu để xử lý, còn bao nhiêu loại bỏ hết. Ví dụ thế này, chúng ta đang ngồi đây chúng ta sẽ có bao nhiêu cái tín hiệu báo lên não nha. Thử nha. Cái chân mình chạm ở dưới đất nè, cái sức nặng mình dồn lên trên cái mông mình trên ghế nè, những cái đó nó đều báo lên não mà mình không để ý.
[1:08:44]Cái lưng mình tựa nè, tay cầm viết nè, cái tiếng gió thổi, cảm giác mát mẻ bầu trời sắp mưa mình nghe được nè. Nhưng mà những cái tín hiệu rất nhiều tín hiệu, cả trăm tín hiệu, bớt loại bớt não, nó chỉ giữ lại một hai tín hiệu. Ví dụ như là mình đang nghe, mình đang xử lý cái thông tin mà mình đang nghe giảng thôi, để mình xem ờ giảng như vậy có hợp lý hay chưa hợp lý, hay mình đang tìm câu trả lời thôi. Cho nên cùng một lúc cái não người ta nhận rất nhiều cái tín hiệu, nhưng loại bỏ hết, nó giữ lại một hai tín hiệu, nó tự động làm việc đó. Rồi cái tủy sống của mình nằm ở trong xương sống đó, nó cũng là một bộ não nhỏ nhỏ nữa.
[1:09:19]Trong khi mà người ta giải phẫu người ta cắt bỏ phần thần kinh từ trên cổ lên, cắt hẳn đứt ra, thì cái phần não bộ phần tủy sống nó tự nó điều khiển cái thân thể giữ thăng bằng có thể đi được. Chỉ khi nào bắt đầu nó nó yếu rồi thì người đó mới sụp đổ xuống. Đây là trên cái cơ chế nên tủy sống cũng là một bộ não nhỏ nhỏ, còn cái bộ não phức tạp nó nằm hết trên này, nó rất nhiều vùng, rất nhiều tuyến. Thì chúng ta không phải học bài học về sinh lý nên mình không phân tích nhiều, chỉ nói tổng quát. Và tín hiệu truyền dẫn tư tưởng từ cái tế bào não này sang tế bào não khác, nó theo cơ chế hai cơ chế là hóa học và điện học.
[1:09:55]Một cái tế bào thần kinh á, nó có một cái nhân, nó có một cái nhân, nó có một cái sợi trục và nó có nhiều cái đuôi gai. Mỗi cái đuôi gai này nó chạm vào một cái thân tế bào thần kinh khác. Tức là hai cái đuôi này nó không chạm nhau nha. Cái đuôi này nó chạm vào cái tế bào, chính ở đây nó dẫn truyền, nó không đụng hẳn mà nó cách một chút xíu, khoảng cách mắt mình không thấy. Thì cái não người ta phân tích thế này: nếu cái nhân này nó bằng cái quả bóng bàn thì cái số sợi dây mà chung quanh đó nó sẽ bằng một tức là cái dây đó mà trải ra nó ngập hết cái phòng này. Một cái nhân tế bào não nhỏ. Và nó kích thích cái nhân tế bào phía sau nó bằng cái hóa học,
[1:10:35]nó tiết ra chất hóa học kích thích, cái làm cho cái nhân sau nó hoạt động để kích thích cái nhân kế tiếp nữa. Nó có một số nó hoạt động bằng tín hiệu điện, nó phóng điện qua, nhưng mà số tế bào phóng điện lại ít hơn tế bào phóng hóa chất, tế bào phóng hóa chất nhiều hơn. Cái đuôi sau này cái đuôi mà đầu mút này người ta gọi là cái synap, cái dùng từ chuyên môn thì mình cũng không cần biết làm gì nhiều. Nó còn có cái này nữa là cái nội tiết tố nó ảnh hưởng tới tư tưởng của mình. Mình biết điều này để mình có cái nhìn khách quan. Trong người mình có nhiều cái tuyến, nó tiết cái chất nội tiết vào trong máu mà có một số chất nó tác động lên trên não.
[1:11:10]Ví dụ như tuyến giáp của mình là hai bên cổ nè, nếu mà sưng lên mình bị bướu cổ đó, thì tuyến giáp này nếu mà nó hoạt động mạnh á, nó tiết nhiều cái chất thyroïde của nó, thyroïde này là cái cái nội tiết tố của tuyến giáp, nó lên não thì nó làm cho người đó nóng nảy, mắt có thể bị lồi, hay nói, tim đập nhanh, tay run, gầy ốm, ăn nhiều mà vẫn ốm vân vân. Còn nếu mà cái tuyến giáp nó hoạt động yếu, cái nội tiết tố đó nó ít thì cái người đó đờ đẫn, mập phì và có thể bị sưng sưng cái bướu cổ ra. Đó, và nó có những cái tuyến yên, tuyến đồi thị, tuyến hypothalamus, nhiều lắm, nó đều tác động tới tư tưởng tình cảm của con người hết.
[1:11:50]Cho nên ví dụ chúng ta nhìn thấy một người đó họ nóng nảy, chúng ta khoan kết tội họ là con người phiền não tu dở, không? Có khi họ bị một cái bệnh lý mà mình phải biết thông cảm, giúp họ chữa, chứ đừng có vội vàng phê phán. Những cái tư tưởng tình cảm mình nó bị những hóa chất nó tác động. Cái hóa chất nằm ở trong não mình nó có ba cái lý do. Một á là do gen di truyền. Khi mà mình có số gen do cha mẹ sinh ra, tự nhiên trong gen nó cứ tạo ra những cái chất nó tác động vào trong não để làm cho mình thành một con người luôn luôn ích kỷ hay là làm con người mình luôn luôn là một người nóng nảy hay khoan dung, đó là do gen.
[1:12:26]Cái thứ hai là do tư tưởng nó tiết ra. Ví dụ khi mà một người họ coi cuốn phim bạo lực, đánh đấm nhau trên truyền hình á, tự nhiên chính cái tư tưởng họ cứ nghĩ nghĩ vấn đề đó, tự nhiên trong não nó tiết ra cái chất làm cho người mình trở thành bạo lực, nóng nảy, cuồng nhiệt, hiếu động, đó là do tư tưởng. Và thứ ba là do thức ăn. Chúng ta ăn tầm bậy tầm bạ có những chất nó tác động làm người mình nóng nảy, bực bội trong cái mấy ngày hôm đó vậy đó. Nó ba cái. Cho nên bộ não mình nó bị ảnh hưởng bởi hóa chất rất nhiều. Còn đây thì còn có những tư tưởng ví dụ như người mình nào giờ mình không có những tư tưởng từ bi,
[1:13:00]khoan dung, nhưng mình cứ suy tư về điều đó, mình tưởng tượng về điều đó. Khi mình ngồi thiền, trước khi xả thiền, mình khởi tâm từ bi quán, khởi cái lòng thương yêu tất cả chúng sinh thì nó sẽ xuất hiện cái hóa chất của sự thương yêu, nó chiếm bộ não mình. Chúng ta nói về trung khu thần kinh. Ví dụ như là mắt chúng ta nhìn á, nhưng sự thật mắt nó không có nhìn đâu, mà nó nhìn bằng cái não ở phía sau này, nó có cái khu thần kinh của thị giác. Khi tín hiệu ánh sáng bên ngoài nó đập vào trong mắt mình, thì nó đập vào ống thần kinh nó chạy vào nó báo trong cái vùng trung khu thần kinh thị giác. Chính nhờ cái vùng đó mà mình thấy được.
[1:13:34]Cho nên có những người họ bị té xe gì đó, mắt vẫn còn sáng mà không thấy được nữa, bởi vì nó chấn động, nó hư cái thần kinh thị giác đó, người đó không thấy được nữa. Chúng ta phải hiểu điều này, vì sau này chắc chắn khi mà chúng ta lớn lên chúng ta nghe kinh Lăng Nghiêm rồi chúng ta lấy kinh Lăng Nghiêm mà chúng ta đi giảng cho mọi người về tánh thấy, tánh nghe coi chừng bị lớp trẻ bắt bẻ. Nếu chúng ta không có kiến thức về cái y học, về sinh lý của não, chúng ta sẽ bị bắt bẻ liền. Quý thầy nhớ. Chúng ta sắp nói tới hai hệ thống quan trọng mà nó liên quan tới tâm lý trong cái việc ngồi thiền là hệ thống thần kinh thực vật và hệ thống thần kinh động vật.
[1:14:11]Chúng ta ghi cái này cho thiệt kỹ nha. Hệ thống thần kinh động vật á là thần kinh có chủ động, có ý thức, có suy nghĩ do mình cố ý suy nghĩ. Những cái mà mình suy vấn đề này, mình xét vấn đề kia nó thuộc hệ thống thần kinh động vật, người ta gọi nó là thần kinh cao cấp trung ương thì chưa chắc. Còn hệ thống thứ hai là thần kinh thực vật á, nó là những cái loại thần kinh mà mình không thể chen vô được, nó tự nó xử lý cơ thể mình. Ví dụ nó điều khiển cho cái nhịp tim đập, mạch máu nhảy, ruột co bóp, những cái tuyến nội tiết nó tiết nó hoạt động thì đó là thần kinh thực vật. Cho nên có những người mà khi bị một cái bệnh gì đó,
[1:14:46]mệt, tim yếu lại bác sĩ, ổng khám xong ổng rờ rờ ngực cái ổng nói là bà bị rối loạn thần kinh thực vật. Nghĩa là gì? Nghĩa là ý bả nói bà phiền não quá, mấy bữa qua bà giận hờn tùm lum, bậy bạ cái nó ảnh hưởng tới thần kinh thực vật, làm cho tim nó đập sai nhịp, gan ruột rồi nó rối loạn, nhưng sự thật không có bệnh lý gì rõ ràng, nó chỉ do cái cảm xúc, do cảm xúc nó tác động vào thần kinh thực vật. Ở đây nếu mà nhìn trên cái nền của tâm lý, chúng ta sẽ thấy thần kinh động vật thuộc về ý thức, thần kinh thực vật thuộc về vô thức. Hai khái niệm này cực kỳ quan trọng cho người đi vào thiền: ý thức và vô thức.
[1:15:23]Thần kinh động vật thuộc về ý thức, thần kinh thực vật thuộc về vô thức. Hai khái niệm ý thức và vô thức hết sức quan trọng, chúng ta ráng mà nhớ cho kỹ nha. Ngoài ra nó có một số tế bào não nó ghi lại các tín hiệu, nó làm thành trí nhớ. Chúng ta nói sơ qua về cái sinh lý của não rồi, bây giờ chúng ta nói về cái tâm lý. Thường người tu mình mình ít có để ý tới cái khía cạnh này, mà mình để ý khía cạnh tâm lý nhiều hơn. Tuy nhiên, nếu mà có điều kiện, quý sư nên kiếm sách đọc thêm về bộ não của mình, những hoạt động phải cho biết thật rõ. Thì trong cái đầu mình nó có những cái tư tưởng phải không?
[1:16:02]Nó thường hay có những cái suy nghĩ. Đây nó có hai loại, nó có hai loại tư tưởng: một cái loại tư tưởng cố ý do mình chủ động mình suy nghĩ chuyện này chuyện kia, ví dụ mình ngồi đây, mình nghĩ một lát nữa sau khi học xong, mình sẽ làm việc gì việc gì, mình sắp xếp, tính toán một cách chủ động, những cái tư tưởng đó là cố ý. Nhưng bên cạnh đó nó có những tư tưởng vô tình, vẩn vơ. Mình không cố ý muốn nghĩ tới nó, tự đâu nó cứ lãng đãng lãng đãng nó nghĩ chuyện này nghĩ chuyện kia, cái đó là cái vô tình, vẩn vơ. Có không? Quý sư ngồi thấy có không? Dạ, có phải không? Thì chúng ta có hai cái tư tưởng đó là cố ý và vô tình, vẩn vơ.
[1:16:41]Thì trong hai loại đó, cái loại nào nó dễ dẹp hơn? Bâng quơ dễ dẹp? Ừ. Chúng ta sẽ thấy hai cái đó nó có biến hóa qua lại như thế này: như ví dụ như mình không có nghĩ tới, chợt nhiên cái tư tưởng nó lãng đãng nó nhớ lại một người bạn năm xưa, mình không có chủ động đâu, đây là tư tưởng vẩn vơ thôi, nó khởi lên trong đầu mình một người bạn năm xưa. Bắt đầu cái mình chú ý vào cái tư tưởng đó, cái mình tiếp tục mình chủ động mình nhớ tiếp, à thì từ cái tư tưởng vẩn vơ nó biến thành cái cái tư tưởng chủ động, cố ý, phải có không? Có. Đó là cái tư tưởng vẩn vơ mà nó trở thành cái tư tưởng cố ý. Rồi có cái cố ý mà nó trở thành vẩn vơ là như thế này:
[1:17:25]ví dụ ngoài đời có người họ thấy một bài hát nào hay họ hát, họ hát xong một lát họ không hát nữa nhưng mà trong đầu sao? Nó tiếp tục nó vang vang cái bài hát đó lên, phải không? Hoặc như là có một số người niệm Phật cũng vậy á, niệm Nam Mô A Di Đà Phật, Nam Mô A Di Đà Phật, niệm lát rồi cái mình không niệm nữa, nhưng mà câu niệm Phật nó vẫn còn vang trong đầu mình tiếp tục, phải không? Có không? Như vậy là tu giỏi hay tu dở? Tu vậy là đã tới trình độ tốt chưa? Nha? Tốt không? Tu vậy là hay không? Là sao? Là khá rồi phải không? Là tự động niệm đó phải không? Phải không?
[1:18:05]Ví dụ mình không niệm Phật nữa mà tư tưởng nó tự động nó niệm, tức là mình không làm chủ được tâm mình. Điều đó không hay đâu, không hay. Cho nên người làm chủ được tâm á, khi mình niệm là nó vang câu niệm Phật lên, mà khi mình không niệm nó phải tắt hoàn toàn, là do mình làm chủ.