Lời giảng: Vài Mẫu Chuyện Của Thiền

  • Thuyết giảng: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Thời lượng: 1:24:18

Toàn văn lời giảng, chép từ phụ đề. Bấm vào mốc thời gian để nghe đúng đoạn đó.

[0:09]Ở đây chắc chúng ta có cái khái niệm về thiền. Hôm nào thầy có nói với chị Thùy, sắp đến hôm này tập cho tụi con ngồi thiền, tụi con chịu không? Chắc phải tập. Vì cái nền văn minh của tương lai, tương lai của nhân loại đi về cái hướng đó mà mình không biết thiền thì người ta thấy mình lạc hậu. Hôm nay thầy tính nói về cái nền văn minh tương lai của nhân loại nữa chứ, nhưng mà thầy thấy cái đề tài nó lớn quá mà bản thân chưa có sẵn sàng nên thầy nói về một vài mẩu chuyện thiền.

[0:44]À, tụi con có phân biệt được cái văn minh với văn hóa không? Văn minh với văn hóa nó khác nhau thế nào? Cái chữ văn minh á nó dịch từ cái tiếng là civilisation,

[0:59]còn cái văn hóa nó dịch từ cái culture. Mà culture nó bắt tai từ cái chữ a culture là nông nghiệp. Còn à là văn minh á nó dịch từ chữ civilisation. Nó có tính chất là vật chất, luật pháp. Còn văn hóa nó có tính chất nông nghiệp, mà nó thiên về tinh thần. Hai cái chữ đó khác, đây có ai học đại học thì có lẽ đã học cái đó.

[1:29]Hiện nay chúng ta sống trong thời đại mà nền văn minh nó lên đến cái đỉnh cũng khá cao. Mà chúng ta đã biết cái nền văn minh nó tiến lên cao tức là cái sức mạnh vật chất nó đang thống phủ. Vật chất ở đây hàm chứa nhiều nghĩa, là của cải vật chất nhưng mà có thêm cái giá trị của cái công nghệ kỹ thuật nữa. Thì cái nào cũng vậy, nó có cái ưu cái khuyết của nó. Cái nền văn minh vật chất nó đem lại cái tiện nghi cho đời sống nhưng đồng thời nếu không có sự quân bình về tinh thần thì nó cũng làm sụp đổ những giá trị của văn hóa tinh thần, nếu mình không cẩn thận. Mà hiện nay chúng ta thấy đó là một nguy cơ có thật, nguy cơ có thật.

[2:17]Chúng ta sẽ thấy là cái lớp trẻ hiện nay đời sống trở nên thực dụng hơn, ít có cái lễ độ hơn, tự cao hơn, không có những cái thâm trầm, tĩnh mặng, một cái niềm nhân ái thiếu đi.

[2:35]Trong cái lúc này mà tụi con ngồi đây dưới bóng cây bồ đề để nghe những lời đạo pháp thâm trầm, sâu lắng, thầy nghĩ rằng tụi con có nhiều cái duyên phước hơn mọi người, mà mình có cái giá trị tinh thần cao hơn. Còn những ngày chủ nhật này, tụi con cứ thử hỏi bạn bè mình biết họ đi chơi cái gì. Càng theo những cái cái niềm vui nó tạm bợ, tầm thường. Còn tụi con đến đây mà hưởng cái không khí trầm lắng, an bình như vậy, ta biết rằng mình có cái cái hay hơn. Hôm nay thầy nói về thiền, tức là một cái nền văn hóa tinh thần mà đóng góp cho cái sự quân bình đối với cái nền văn minh vật chất đang xâm chiếm tràn ngập khắp thế giới hôm nay.

[3:27]Thật ra nền văn hóa nào cũng thúc đẩy cái nền văn minh, và nền văn minh nào cũng thúc đẩy cái văn hóa tiến theo. Tuy nhiên bây giờ thì nó chưa có quân bình. Hiện nay cái văn minh nó đang vượt lên trên. Nhưng mà nếu ngày nào đó, ngày nào đó mà cái sự phát triển nó đến cùng cực rồi, một là nó băng hoại, nó sụp đổ; hai là nó nâng cao, nó sẽ thúc đẩy cái văn hóa tiến lên. Tuy nhiên, cái hay nhất là tự chúng ta biết tìm đến con đường tinh thần để mà quân bình lại với cái văn minh vật chất đó, để chúng ta sống có một cái chiều sâu, nó hài hòa hơn.

[4:07]Trong đạo Phật thì cái sự thực hành quan trọng đó là thiền định. Tuy nhiên, thiền định trong đạo Phật lần lần được chia ra nhiều tông, nhiều phái. Mỗi tông phái có một cái phương pháp thực hành khác nhau. Như thiền nguyên thủy từ bên Ấn Độ, rồi thiền của các yoga Ấn Độ, sang tới Trung Hoa có các pháp thiền của khí công, võ thuật. Rồi trong đạo Phật của Trung Hoa lại có nhiều pháp thiền của Thiên Thai tông, của Thiền tông. Hôm nay thì mình điểm qua một vài câu chuyện để mình xem cái ý nghĩa của thiền là gì. Thiền có những cái nghịch lý dễ thương ha! Tức là ví dụ chúng ta muốn hạnh phúc thì chúng ta cứ nghĩ rằng mình phải gom vào cho mình thật nhiều.

[4:53]Nhưng mà triết lý thiền đặt ngược lại là buông xả, mình phải bỏ hết để tìm hạnh phúc. Nó có cái triết lý lạ lùng vậy. Chúng ta xem qua vài câu chuyện. Đây là câu chuyện thiền thuyết. Có một lần, đệ tử của Tổ Đạt Ma, của Bồ Đề Đạt Ma là ngài Huệ Khả mới đến hỏi đạo. Mới đến rằng: "Thưa thầy, tâm con sao nó bất an?". Thiền tức là đi tìm nội tâm an tĩnh, nhưng mà ngài Huệ Khả thì không thấy tâm an tĩnh. Nói: "Thưa thầy, tâm con bất an". Tổ Đạt Ma mới nói là: "Đâu, đem tâm ra cho ta coi!". Ngài Huệ Khả lục lọi tâm mình: "Dạ, con tìm không thấy". Thì Tổ Đạt Ma nói: "Ừ, như vậy ta đã an tâm cho ngươi rồi".

[5:41]Nghe câu nói đó, ngài Huệ Khả ngộ đạo. Đó là một câu chuyện thiền đầu tiên. Tụi con hiểu thế nào? Bây giờ tụi con cứ đặt mình vào vai trò của ngài Huệ Khả thử. Thứ nhất là thấy tâm mình bất an phải không? Rồi thầy giả bộ làm Tổ Đạt Ma nói: "Đâu đem tâm để an coi, đem tâm ra thầy coi!". Rồi tụi con tìm lại tâm mình tí, nhìn nhìn lại tâm mình coi thấy nó ở đâu. Tìm tâm không thấy. Thầy nói: "Như vậy là thầy đã an tâm cho tụi con rồi". Tụi con ngộ đạo không? Không ngộ luôn. Đó là lối dạy đạo của thiền đó. Đây cũng là một cái nghịch lý. Muốn cho người ta hiểu một điều gì đó thường thì mình phải làm sao?

[6:25]Phải giảng rất nhiều phải không? Phải nói rất nhiều giống như thầy đó, cứ ngồi nói hết ngày này tới ngày kia bảo hoài hiểu á. Còn Tổ Đạt Ma nói một câu, hai câu: "À con phiền, đưa tâm thầy coi. Thầy đã an tâm rồi". Ngộ đạo. Đó cũng là một cái câu chuyện nói lên cái tính chất của thiền là lối giáo dục của thiền cô đọng, sắc bén và đánh mạnh vào tâm thức để làm sao nó buông vỡ được, nó nhận ra được một cái gì đó, một cái cốt lõi gì mà nó không rời, không biến, mà nó có thực, nó có thực trong tâm hồn mình. Chứ không phải thiền là nói chuyện vu vơ, bâng quơ, không phải nói chuyện trời trăng mây nước không có gì hết, không phải,

[7:06]nó có cái gì rất thực, rất thực, rất là lợi ích cho tâm hồn mình. Và lời nói không được diễn tả. Mà người khéo dạy họ dạy như vậy đó. Ví dụ có câu chuyện này nữa trong truyện thiền. Ngài Hương Nghiêm Trí Nhàn ở trong cái pháp hội của thiền sư Quy Sơn. Ngài khá giỏi, kinh luận là ngài thông hết. Lần đó, ngài Quy Sơn mới đến hỏi: "Giờ kinh luận gì ngươi cũng hiểu hết, thì ngươi hãy nói một câu, một câu trước khi cha mẹ chưa sanh ra ngươi". Sau khi cha mẹ sanh rồi thì mình mở miệng mình nói được thì mình nói đủ thứ chuyện trên đời nè, thì nói cái câu mà khi cha mẹ chưa sanh ra đó, nói câu đó. Ngài Hương Nghiêm không hiểu nổi.

[7:57]Đúng là ngày khi cha mẹ sanh ra mình rồi, mình biết nói rồi thì mình nói đủ thứ chuyện trên đời đó, bây giờ hãy nói cái câu gì mà khi cha mẹ chưa ra khỏi bọc thai? Ngài về ngài lật hết kinh luật ra ngài xem, không có bài kinh nào mà nói câu kỳ cục như thế. Ngài đến ngài đảnh lễ ngài Quy Sơn: "Hòa thượng từ bi dạy cho con cái đạo lý này, đạo lý kỳ lạ quá, không có kinh luật nào nói". Ngài Quy Sơn mới nói: "Nếu mà ta nói cho ngươi nghe, sau này ngươi sẽ chửi ta, thôi ta không nói". Không nói cái ngài Hương Nghiêm tức quá bỏ đi, bỏ thiền viện đi. Thề không thèm học thiền học đạo gì nữa hết. Ngài bỏ lên núi, ngài cuốc đất trồng rau, ngài tu lơi khơi vậy đó.

[8:41]Bực quá, chán quá rồi, bất mãn tột độ. Một hôm ngài cuốc đất, cái ngài cuốc ngài bắn nhằm một cái viên sỏi, cái nó văng vô trong cái bụi tre, bụi trúc, nó vang lên một tiếng cốc. Ngay đó chợt như tâm hồn ngài buông vỡ, ngài ngộ đạo. Ngài ngộ đạo xong ngài mới thắp nhang, ngài hướng về núi Quy Sơn ngài lạy. Ngài nói: "Ơn hòa thượng từ bi vi cha mẹ, nếu ngày trước mà hòa thượng dùng lời nói để giải thích cho con, thì ngày nay con không được như thế này". Mà ngài Quy Sơn ở xa vậy mà ngài cũng biết. Ngài Quy Sơn đúng là người đắc đạo. Ông ở núi Quy Sơn cách đó một cái bao nhiêu ngàn cây số, mà ở đằng kia ngài Hương Nghiêm thắp nhang hướng về ổng đảnh lễ là ổng biết liền.

[9:26]Ổng mới nói với đệ tử mình là ngài Ngưỡng Sơn: "Hôm nay Hương Nghiêm Trí Nhàn ngộ đạo rồi". Nhưng ngài Ngưỡng Sơn không tin, mới đến tận núi

[9:35]hỏi thăm thì mới mới công nhận. Đoạn đối thoại dài lắm nhưng mà thôi mình bỏ qua. Thì công nhận là ngài Hương Nghiêm Trí Nhàn đã ngộ đạo. Đây là một cái đạo lý cũng lạ, công nhận thiền cũng lạ. Là ngài Quy Sơn đặt cho một câu hỏi rất là hóc hiểm: "Nói một câu nói mà lúc mình chưa đẻ ra khỏi cái bụng mẹ". Trong kinh luật không nói gì đó, kêu ngài giải thích, ngài không giải thích. Đến khi lên núi trong cái tâm trạng mà u uất, bất mãn cùng tột, nghe tiếng sỏi văng vào bụi trúc thì ngộ đạo. Đố tụi con tiếng ngộ cái gì? Giờ ai thông minh nói ngộ cái gì?

[10:20]Thì có những nghịch lý như vậy. Chúng ta đi tìm hạnh phúc bằng cách vơ vét, nhưng thiền dạy con đường ngược lại là hãy buông xả để tìm hạnh phúc. Ví dụ như là một cái nghịch lý khác, ví dụ như chúng ta muốn hiểu biết nhiều thì mình phải sao? Mình phải tư duy phải không? Phải tư duy, phải suy luận, phải nghiên cứu. Nhưng thiền dạy con đường ngược lại là hãy dừng hết mọi cái tư duy để tìm ra sự hiểu biết chân thật. Dừng hết mọi cái tư duy để tìm ra sự hiểu biết chân thật. Tức là cái biết của trực giác, biết của trực giác. Cũng là một cái nghịch lý của thiền. Cho nên khi mà ngài Hương Nghiêm muốn hiểu biết bằng cái tư duy,

[11:09]bằng lý luận thì ngài Quy Sơn không có không có dạy. Ngài biết nếu mà dạy như vậy đó chỉ là cái suy nghĩ tầm thường. Nên ngài không nói, để cho ngài Hương Nghiêm tự đi tìm, mà ngài tìm được khi nghe tiếng sỏi quăng vào bụi tre. Tìm và được cái gì thì bây giờ thầy cũng không nói. Để tụi con tự tìm. Chừng nào bất mãn tột độ rồi lên bươi cuốc đất với thầy, biết đâu đó tìm ra, cái đó mới là cái cái quý giá. Giờ thầy cũng không nói. Một cái nghịch lý khác của thiền nữa, ví dụ như là mình muốn cho người ta nghe lời mình thì mình phải sao? Phải nói phải không? Phải khoe. Nói tôi giỏi lắm ha, tôi có bằng này bằng kia,

[11:50]tôi hay lắm này nọ, phải thuyết phục đủ thứ chuyện để cho người ta nghe lời mình. Còn trong nhà thiền thì dạy con đường ngược lại: thuyết phục bằng sự im lặng. Chính người biết im lặng là người có sức mạnh để thuyết phục người khác nhiều hơn hết. Cũng là một cái nghịch lý của nhà thiền. Thầy kể câu chuyện khác ha. Hôm nay mình nói chuyện thôi, thầy kể chuyện cho vui thôi để tụi con tự gom góp cái khái niệm về thiền. Thầy sẽ không giải thích rõ đâu, thầy sẽ không giải thích rõ. Có một nhà sư đến xin một bà già nuôi cho ông tu thiền. Bà già này có tâm yêu đạo, nên bà già chấp nhận nuôi. Bà thì thương người tu thì cũng có phước.

[12:35]Thì ổng ở trong cái am, bả cất cho ổng cái am tranh. Ổng ngồi trong đó ngày ngày tháng tháng ổng cứ tọa thiền, đi tìm cái chân lý gì đó, đi tìm một cái tích cực gì đó của ổng. Bà thì cứ mỗi ngày bà mang cơm tới hoặc là bà cho cháu bà mang cơm tới cho ổng ăn. Ba năm như vậy, ba năm ròng rã trôi qua. Một hôm, bà mới sai đứa cháu gái của bà tới để kiểm tra coi ổng tu tới đâu. Thì bả dặn đứa cháu gái bả làm như vậy như vậy đó. Hôm đó cái cô mang cơm tới, bất ngờ lại ôm ổng luôn. Ôm ổng hỏi, hỏi: "Bây giờ nên làm gì?" Ha, ôm ổng mới hỏi: "Bây giờ nên làm gì?" Ổng trả lời câu này, trả lời câu rất là thơ mộng:

[13:17]"Khô mộc ỷ hàn nham, tam xuân vô noãn khí". Nghĩa là: "Như cái cây khô mà nó dựa vào núi lạnh, ba năm rồi không có một chút hơi ấm". Tức là ổng tu ba năm rồi đó, cái tâm của ổng thiệt là tu vậy là khá quá rồi phải không? Một người con gái ôm mình mà mình bình tĩnh trả lời cái câu đầy đạo lý mà thơ mộng. Ổng như là một cái cây khô mà dựa vào núi lạnh, ba năm rồi lòng ổng lạnh lẽo, không còn chút hơi ấm, không còn chút tình trần gì hết á, nên không ai có thể dụ ổng được hết. Đó, tu vậy là khá không? Khá phải không? Cái cô gái buông ổng ra về thuật lại cho bà già nghe là thầy trả lời như vậy. Bà già bực mình, bả lại đốt am, bả trục xuất, đuổi ổng đi, không nuôi nữa.

[14:01]Ổng không hiểu sao, thấy mình tu vậy là khá, bị thử mà không động tâm vậy là khá. Ổng lang thang, ổng xách cái bát ổng đi tha phương. Đi xin ăn một thời gian ổng chợt ổng chợt hiểu được cái ý bà già thích. Ổng về ổng nói: "Thôi, bà già nuôi giúp tui thêm nữa". Cái bà già mới cất cái am khác cho ổng, nuôi ổng tiếp tục. Ba năm sau, bả lại sai đứa con gái làm theo kiểu cũ nữa. Cũng nhào vô đưa cơm rồi ôm ổng lại: "Bây giờ nên làm gì?" Thì ổng trả lời câu này: "À, trời biết, đất biết, tôi biết, cô biết, đừng cho bà già đó biết".

[14:38]Cái cô gái buông ra về thuật lại, thì bả chấp nhận, bả khen ổng, lúc này là ổng ngộ đạo.

[14:47]Đố tụi con biết câu chuyện này muốn nói gì?

[14:53]Hôm nay mình ngồi kể chuyện chơi thôi. Lần thứ nhất thì ổng ổng cũng nói thật chứ ổng không nói dối, là tâm ổng không có động trước cái sự quyến rũ của nữ sắc. Nhưng khi cô dìm vào núi lạnh ba năm rồi không chút hơi ấm, ổng lạnh nhạt đối với tình đời hết trơn, bả chê. Lần thứ hai tuy nhiên ổng cũng không động, nhưng cái câu trả lời của ổng rất là lạ: "À, trời biết, đất biết, tôi biết, cô biết, đừng cho bà già đó biết", thì bà già chấp nhận, khen ổng ngộ đạo. Nghĩa là gì?

[15:32]Ai mà hiểu câu chuyện này thì người đó cũng ngộ đạo đó. Thôi bây giờ thứ ba, ai giơ tay kìa?

[15:49]Mời. Dạ kính thưa thầy, con nghĩ là câu chuyện mà thầy vừa kể đó cũng là một câu thiền. Thành ra mà thầy nói là trong thiền đó thì lấy im lặng để mà tỉnh thức thì thầy hỏi là bây giờ ai biết về cái câu mà thầy cái ông thầy này ổng tự ông thầy đó ổng nói là "trời biết, đất biết, tôi biết, cô biết và đừng có cho bà già đó biết". Như vậy thì con nghĩ rằng là trong này còn có cả thầy, chính thầy biết, con biết, tất cả người, mọi người ở đây cũng biết thì câu đó để lọt ra trong, có nghĩa là kể cả trời biết, đất biết, à tôi biết, cô biết, bây giờ có cả thầy biết, chúng con biết nữa thì cái đó là càng để cho lộ ra và trong sự im lặng thì sẽ thấy được cái điều đó.

[16:32]Con là người

[16:36]có con biết về thiền đó, tức là có học thiền, có khái niệm về thiền kìa. Nhưng mà câu chuyện này thì con chưa hiểu. Mời.

[16:52]Bạch thầy, theo con thì à khi mà lần đầu ông nói là tâm ông không có động, ông biết tâm ông không, ông nghĩ tâm ông không động, tất nhiên ông đã động. Còn lần sau này ông nói là trời biết, đất biết, cô biết, tôi biết nhưng đừng cho bà già đó biết, thì ông biết tâm ông động nhưng ông cố kềm

[17:20]lại, thì lúc đó ông mới tìm về cái thực. Cũng chưa, chưa nghe được. Xin mời.

[17:30]Hay quá ta, nay thì cũng sôi nổi quá ha, quý quá ha. Dạ thưa thưa thầy, con thì con nghĩ như chị vừa rồi nói đó, tức là có lẽ thầy giảng từ đầu tới cuối là nói trong cuộc đời mình có khi mình phải sử dụng cái tư duy, lý trí để giải thích một điều gì đó, và có khi thì không nên như vậy. Cho nên con nghĩ là trong lúc đầu á, khi mà ông thầy ổng trả lời cái câu đầu mà bà già bả không chịu á, là bởi vì ổng trả lời bằng cái lý trí của ổng. Ổng suy nghĩ là khi mà trong cái tình trạng như vậy, mà hơn nữa ổng đã có gọt tóc, đã tu tập ba năm rồi thì tâm ổng không thể nào mà động được. Còn cái lần thứ hai ổng trả lời á, chính là ổng đã thấu đạt được tới

[18:06]cái sự giác ngộ cao, nghĩa là ổng đã ngộ đạo được, cho nên ổng trả lời một cách tự nhiên, không có dùng cái lý trí khi trả lời. Con cũng rớt gần gần được rồi.

[18:28]Ai nữa kìa? Thầy vừa, thầy mời, thầy mời con. Dạ thưa thầy, là không biết. Con còn siêu hơn nữa. Đó là "Thiền triệt tiêu" không ha, ớn ghê đó. Thôi bây giờ thầy trả lời nha. Cái này thầy có thể lý giải ra một chút, cái chỗ mà thâm triều của nó thì thầy cũng không nói. Nhưng mà thầy sẽ lý giải để tụi con không hiểu lầm về thiền. Thật sự đó, ba năm đầu ông Thầy ổng có định, ổng được cái định rất là vững. Không phải là không. Mà khi mình định mình phải biết mình được định. Có nhớ điều đó nghe. Cái biết mình được định cái đó không có lỗi. Bởi vì trong đời sống bình thường cũng vậy, khi mà chúng ta suy nghĩ đó, chúng ta vẫn biết mình đang suy nghĩ phải không?

[19:13]Trong tâm mình có hai cái là một cái suy nghĩ và một cái biết mình đang suy nghĩ, như hôm trước Thầy có nói rồi phải không? Và đến khi mình ngồi thiền mà cái suy nghĩ nó chấm dứt rồi đó, nó vẫn còn lại một cái biết. Một cái biết bất động. Mà cái biết bất động này nó là cái yếu chỉ để vào thiền. Thì ông sư này cũng vậy, trong ba năm đầu tâm ổng đạt được cái bất động thì ổng biết được sự bất động. Cái đó không có gì có lỗi cả. Nên Thầy nói này để cho các con đừng lầm. Và cái định đó thì bà già phủ nhận. Thì bà già phủ nhận là không nó không sai đâu, mà chỉ là vì nó chưa đạt tới cái cái cứu cánh của thiền.

[19:56]Thiền không phải chỉ là cái định đó, không phải chỉ là một cái định mà có vẻ thụ động. Mình nhớ chuyện này, nhớ Thầy dặn lại, thiền không phải là một cái định có vẻ thụ động. Trong giai đoạn đầu á khi mà chúng ta tu thiền á, chúng ta sẽ đi qua cái giai đoạn đó. Khi mà nhiếp tâm được vào định rồi, bất ngờ con người mình nó có cảm giác khá thụ động, khá thụ động của sơ thiền. Cái bước sơ thiền đầu tiên á là cái bước mà người ta có định mà nó hơi thụ động. Cho nên tụi con thấy người nào tu thiền rất tinh tấn, tâm hồn họ rất bình an nhưng mà họ ngơ ngơ hơi thụ động á thì biết đây là người đang ở giai đoạn thứ nhất của thiền, của sơ thiền.

[20:38]Đừng trách họ, đây là giai đoạn ai cũng phải trải qua. Có một người kìa, khi nhiếp tâm vào định rồi cái bắt đầu xuất hiện cái trạng thái lơ ngơ đó, nằm im không thèm ăn, không thèm uống gì hết đến nỗi nhà người nhà phải chở bằng cáng thương để mà vào bệnh viện. Trong khi vào người ta không hề nghẹt hen gì hết, cứ để tỉnh tại vì có cái đẳng cấp vô vi mịt mà nó hơi thụ động. Thì cái chỗ này đó, từng chập không đọc được, tiền bạc không làm lung lay, à là cái ái niệm không làm mình xao động được, lời chửi mắng không làm tâm mình bận rộn. Đây là cái trạng thái nó có dấu hiệu tốt của người tiến bộ nhưng mà nó vẫn là một cái thụ động, à là như vậy.

[21:20]Nó chưa phải là thể cách của thiền. Thì ông sư đó sau khi bị bà già đốt am đuổi đi đó, ổng ôm cái thắc mắc, thầm thầm ở trong lòng là không biết cái lỗi của mình nằm ở chỗ nào. Trong khi tâm mình cái bình an, cái cái định nó vững thì ổng trở lại sơn tu thì bà để cho ổng tu ba năm, đi qua hết suốt cái giai đoạn đó thì ổng mới tiến được lên cái bước thứ hai. Bước thứ hai là tâm rất bình an, cũng rất là định, định còn hơn cái giai đoạn trước nữa, nhưng mà nó chuyển sang giai đoạn khác là nó linh hoạt và tích cực. Lúc này mới đúng cái thể cách của thiền là tâm rất là định nhưng mà rất là linh hoạt và tích cực.

[22:02]Không còn có cái thụ động nữa thì đây mới là đúng cái thể cách của thiền. Tuy nhiên cái câu nói là, "Trời biết, đất biết, tôi biết, cô biết, đừng cho bà già đó biết." Ý nghĩa chỗ nào á thì Thầy sẽ không giải thích. Bởi vì Thầy nói ra là bể mánh, là phản bội các thiền sư. Trong nhà thiền như vậy nó có những điều không được tiết lộ hết mà để cho mỗi người tự ngộ, giống như là ngài Quy Sơn hồi nãy đó không nói cho ngài Hương Nghiêm nghe, mà làm ngài Hương Nghiêm ngộ. Thì riêng cái câu đó ý nghĩa

[22:37]nó chỗ nào Thầy cũng sẽ không nói để cho con tiếp tục suy ngẫm. Tuy nhiên cái em gì hồi nãy mà lên cuối cùng á, cầm micro lên mà đã trả lời rồi đó thì Thầy sẽ nhắc, nhắc cái điểm này. Con có khái niệm về thiền đó, ừ có nghiên cứu thiền, có đọc sách thiền đó, và trong tâm cũng có những cái gì kỳ kỳ của thiền đó. Tuy nhiên phải nhớ cái câu cuối cùng của ông sư nói là, "Đừng cho bà già đó biết. Đừng cho bà già đó biết." Thiền là như vậy đó. Mặc dầu cái ngộ của thiền nó vĩ đại, cái hiểu của thiền nó siêu tức nhưng nó đòi hỏi một cái yếu tố rất quan trọng là sự khiêm hạ tột cùng, sự kín đáo tột cùng.

[23:19]Cái gì mà mình ngộ được, mình hiểu được, mình luôn luôn giấu kín nó. Cái thể hiện ra bên ngoài là gì? Là lòng thương yêu đối với mọi người, là cái lễ độ, là cái cư xử tốt đẹp, đời sống tốt đẹp đối với mọi người chung quanh. Còn cái gốc mà để sinh ra mọi cái đạo đức đó đó, cái gốc đó là cái tâm ngộ đó, thì cái đó phải giấu lại rất là kín. Nhớ điều đó. Cho nên trong cái câu nói á là ổng biểu lộ được cái ngộ rồi, "Trời biết, đất biết, tôi biết, cô biết." Cái biết nó chan hòa hết, nó linh hoạt, nó tích cực, cái tâm nó rộng ra, suốt hết biết. "Đừng cho bà già đó biết." Là ổng vẫn khéo léo giữ lại được cái kín đáo, cái khiêm hạ.

[24:00]Mặc dầu có chừng ký giải á, có chừng cái hiểu của mình đó nhưng mà sao? Vẫn biết chỗ để giữ lại, không có khoe khoang. Mặc dầu mình biểu lộ với bất cứ hình thức nào cũng vậy, nó vẫn hàm một cái ý khoe khoang bí mật bên trong. Mà chính cái khoe khoang bí mật này nó sẽ phá vỡ hết những công đức của mình. Nên cái sự biểu lộ trong thiền vậy càng cao siêu thì càng nguy hiểm. Còn cái người mà thật sự hiểu thiền, cái biểu lộ của họ là gì? Là biểu lộ ra cái đời sống đạo đức bên ngoài, cái cư xử tốt đẹp đối với mọi người chung quanh. Tụi con coi khá lắm. Trả lời như vậy là cũng có đi, biết về thiền. Bây giờ Thầy kể một câu chuyện khác.

[24:46]Câu chuyện này liên quan tới lịch sử thiền Việt Nam là ngài Vô Ngôn Thông. Ngài là một vị tổ khai sáng một cái tông thiền của Việt Nam mà ngài người Trung Hoa. Ngài ở trong hội của ngài Bá Trượng. Thì ngài là người ít nói, kín lặng mà thông minh. Một lần ở trong hội chúng như vậy, ngài Bá Trượng mới giảng cái câu này:

[25:09]"Tâm địa nhược không, tuệ nhật tự chiếu." Tức là cái đất tâm á nếu mà nó trống rỗng thì mặt trời trí huệ tự chiếu soi. Nghe câu đó xong là ngài Vô Ngôn Thông ngộ đạo, hoát phá toàn ngộ liền. Sau khi ngộ đạo, ngài sang Việt Nam. Ngài đến chùa ở Hà Nội, ngài vẫn không làm trụ trì, chùa có trụ trì. Ngài ở đó ngài cứ ngồi quay mặt vào vách im lặng để hàm dưỡng cái chỗ ngộ của mình và ngài dạy người ta bằng cái sự im lặng đó. Thì đó, thầy trụ trì là ngài Cảm Thành á, như có một sự đồng cảm, hiểu được đây là một vị thiền sư đắc đạo mới đến học đạo, cầu pháp. Sau này ngài Cảm Thành cũng được ngộ đạo từ nơi ngài Vô Ngôn Thông.

[25:56]Mở ra một cái phái thiền là phái Vô Ngôn Thông ở Việt Nam. Đây chỉ là một câu chuyện liên quan tới lịch sử thôi. Còn cái câu nói rằng: "Tâm địa nhược không, tuệ nhật tự chiếu" thì dễ hiểu phải không? Khi tâm mình không có một ý niệm nào hết thì đó là cái trí tuệ chân thật nó xuất hiện. Đây là chỗ mà Thầy muốn cái lớp trẻ tụi con đặt lại vấn đề, làm cái hành trang cho tương lai của mình. Đừng có nghĩ rằng chỉ có sự suy nghĩ mới đem lại cái cái kiến thức hay sự hiểu biết mà chính dừng lại sự suy nghĩ nó phát sinh ra một sự hiểu biết mới, nó vô tận hơn, bình an hơn và sâu sắc hơn.

[26:42]Bây giờ một câu chuyện khác. Câu chuyện thiền sư Đan Hà. Ngài Đan Hà Thiên Nhiên là một thiền sư nổi tiếng. Cái lối tu, lối sống ngài độc đáo chẳng ai hiểu, ngài ngộ đạo hồi nào chẳng ai hay, ngài người Trung Hoa. Thì ngài đi tham vấn nhiều nơi nhưng mà không ai làm gì được ngài bởi vì chỗ ngộ của ngài quá vững. Hôm đó ngài đến ngôi chùa nhằm mùa đông trở lạnh, tuyết rơi phủ đầy khắp nơi rất là lạnh, thì trên chánh điện có thờ mấy tượng Phật bằng gỗ. Ngài lạnh quá. Ngài cạy nẻ ngài bắt mấy tượng Phật xuống, ngài lấy búa ngài chẻ ra cái ngài đốt lên để mà ngài hơ cho nó ấm, trời mùa đông. Tức là ngài làm cái chuyện mà mình không thể nào chấp nhận nổi.

[27:29]Trong khi tượng Phật mình đục đẽo mình thờ rất là quý giá phải không, ngài chơi ngài rinh xuống ngài chẻ ra ngài đốt ngài hơ. Ngài hơ cái, ngài hơ cho nó nó ấm thôi cái ông viện chủ tức là ông trụ trì ổng thấy vậy ổng ổng thất hồn la lên, "Nói trời ơi! Sao đi đi ông đốt tượng Phật của tui?" Cái ông nói, "À, để tui đốt tui tìm xá lợi." Tụi con biết xá lợi không? Xá lợi là như thế này: Ngày xưa Đức Phật nhập Niết bàn á thì mới thiêu, thiêu thì xương của Phật kết tinh lại thành từng viên ngọc, thành từng viên ngọc. Trong đạo Phật có cái yếu tố này, người đắc đạo khi mà

[28:10]khi mà tịch, hỏa thiêu á thì xương sẽ kết tinh lại thành từng viên rất là cứng, trong, trắng và mình gọi là ngọc xá lợi.

[28:20]Thì riêng Đức Phật cũng vậy mà những vị A-la-hán, đệ tử Phật cũng vậy. Khi mà thiêu xong đều có những viên xá lợi. Như ngài Thái Hư đại sư gần đây cũng vậy, ngài Thái Hư mà tịch, tịch mới đâu gần đây năm 59, 59 sáu mấy bên bên Hồng Kông. Thiêu ngài cũng có hai trăm viên xá lợi, tức là ngài cũng là người đắc đạo. Thì xá lợi là cái gì? Cái tinh ba còn lại của một người ngộ đạo. Tượng Phật gỗ làm gì có xá lợi. Cái ổng chẻ trong khi người ta hỏi cái ổng ổng ngồi lấy cây khều khều đó, ổng cứ khều khều đống tro, "À, để tôi tìm tôi tìm xá lợi." Cái ổng kia nói, "Trời, Phật gỗ làm gì có xá lợi." Ổng nói, "Không có xá lợi thôi bưng thêm mấy ông nữa

[29:00]thiêu luôn." Câu chuyện ngang đó thì ông viện chủ ngộ đạo. Mấy thiền sư làm việc trời ơi đất hỡi không.

[29:14]Kìa, tụi con có nói cái ý nghĩa câu chuyện này thầy nghe. Có ai giơ tay lên không? Thầy mời. A Di Đà Phật. Bạch thầy, theo con thì cái câu chuyện về thiền mà thầy mới vừa

[29:32]giảng đó, nó cũng mang một hàm ý là cũng có sự im lặng của nó. Ví dụ như vầy: trong những lúc này đây, con đến chùa mang một cái tâm đến để lạy Phật. Thì trước tiên là quy kính để lạy Phật, thì nếu như mà không có ông Phật ngồi đó đó thì con lạy với lại cái tâm có nghĩa là chưa có lắng dịu được rất lắm, có nghĩa là trên con không có không có một cái gì để mà biểu tượng hết, thì bất chợt nơi đây đó chỉ là biểu tượng thôi. Thì khi lắng lòng để mà niệm Phật lạy Phật xuống thì lúc đó là cái tâm mình lắng. Thành ra bây giờ mà để mà tìm tánh Phật ở nơi Phật, mà đây là những tượng Phật bằng gỗ, đó là ông thầy muốn thức tỉnh cái những vị được truyền

[30:15]để mà tìm ra được cái sự th- lắng đọng trong tâm, và đó là sự thức tỉnh. Nói hay lắm đó. Tên gì? Dạ. Thật ra các thiền sư khi ngộ đạo rồi không có sống cho mình nữa, làm bất cứ việc gì là vì người khác mà làm. Cho nên ổng đem tượng Phật xuống ổng chẻ là không phải để ổng sưởi ấm cho ổng đâu. Đời sống của một người ngộ đạo là vậy, không bao giờ sống cho mình nữa. Ổng thấy cái cơ duyên đã tới lúc để có thể khai ngộ cho cái ông trụ trì này rồi. Mà cái ông trụ trì này thì người rất là tốt, tâm hạnh thì đàng hoàng, tu hành nghiêm cẩn, chỉ còn một chút chấp, chấp hình thức, cứ nghĩ Phật tức là cái tượng.

[31:01]Nên đã đến lúc, đã đến lúc đánh một cái đòn để mà khai ngộ cho ông này, ổng mới làm cái chuyện kỳ cục là rinh ông tượng Phật xuống đốt. Để đợi khi hỏi, hỏi là trả lời, trả lời rồi làm cho ông kia ngộ đạo. Mà cái ngộ này nghĩa là vậy: thật ra thiền thì nó có nhiều khía cạnh, cũng như cái chấp trong tâm hồn mình có rất nhiều vấn đề, nhưng ông viện chủ đó đó ổng những cái chấp khác ổng không có. Tâm ổng khá thanh tịnh, người khá đạo đức, nhưng chỉ còn một cái chấp hình thức. Thì đập vỡ cái này xuống là ổng buông luôn, không còn cái chấp gì nữa, tâm hồn thanh thản đạt được cái sự giác ngộ. Nên chuyện sư Đan Hà ổng làm chuyện kỳ lạ để

[31:43]đời, tới bây giờ nhiều người vẫn còn nhắc. Con nói đúng đó, là vì để khai ngộ cho ông thầy trụ trì đó. Thầy sẽ kể câu chuyện khác.

[31:54]Câu chuyện này có ông luật sư, luật sư tức là trong đạo Phật có nhiều cái tông phái đó, trong đó có một cái tông chuyên nghiên cứu về luật. Giới luật của đạo Phật chi ly lắm, nên phải có người chuyên môn. Vị sư huynh đến hỏi thiền sư Huệ Hải. Ổng hỏi rằng: Cái yếu chỉ của thiền là gì? Thì thiền sư Huệ Hải mới đáp rằng: Đói thì ăn, mệt thì nghỉ. Cái ông luật sư kia ổng mới hỏi: Tôi thấy nhiều người đói cũng ăn, mệt cũng nghỉ, nhưng mà đâu phải là người ngộ thiền? Sư Huệ Hải nói: Sai rồi. Những kẻ phàm phu đói không có lo ăn mà ngồi đó tính trăm thứ chuyện, mệt không chịu nghỉ mà nằm đó lo toan bất cơ đủ thứ chuyện.

[32:45]Phục tài ngài thiền sư Huệ Hải. Như vậy, chúng ta thấy cái đời sống của thiền á, một người hiểu thiền á, dù là rất là bình thường như mọi người, nhưng mà cái quan trọng là gì? Cái quan trọng là tâm không biến loạn trong mọi việc, làm cái gì chỉ còn một công việc đó để làm. Ví dụ ăn chỉ là một việc ăn chứ trong đầu không có nghĩ vẩn vơ, nằm xuống nghỉ là giấc ngủ của trẻ thơ, không có bận tâm việc các việc khác. Đây là thể cách của thiền. Cái chỗ này quan trọng lắm. Thường á ví dụ như là như mấy đứa con gái nè, tụi con ngồi may, tụi con ngồi may là lúc đó tụi con à tay thì may, mắt thì nhìn, chân thì đạp bàn máy nhưng mà cái đầu lúc đó làm gì?

[33:35]Cái đầu lo đủ thứ chuyện phải không? Mình không thể nào chỉ còn một cái việc may được bởi vì cái đầu mình suy nghĩ lung tung đủ thứ chuyện. Thì thiền là giúp cho chúng ta làm việc gì chỉ còn một việc đó. Tụi con có nghe cái chữ là tập trung tư tưởng chưa? Nghe rồi phải không? Có một người vừa hỏi thầy:

[33:55]Thiền là phải tập trung tư tưởng không? Thầy nói: Không phải, thiền là loại trừ tư tưởng ra. Không có tư tưởng. Khi mình không có bận tâm suy nghĩ gì về chuyện gì hết thì mình làm chuyện gì chỉ còn một chuyện đó trước mắt mình mà thôi. Cho nên gọi là mình tập trung, mình không bị xao lãng nên việc đó nó rất là cẩn thận, rất là chu đáo, rất là kỹ lưỡng. Mặc dầu mình không muốn, mình không có gom tâm mình vào một việc đó đâu, nhưng mà không còn cái ý nghĩ nào nó xen trong đầu nên việc làm hiện tại rất là chu đáo. Thầy nghe nói bên Nhật á, một người muốn mà có cái bằng lái xe taxi á, phải học thiền ba tháng.

[34:33]Phải học thiền ba tháng để cho tâm không còn bị xao động. Ở đây tụi con đi xe đạp hay là tụi con chạy xe máy, tụi con thấy cái chuyện này. Nhiều khi tụi con mở mắt nhìn cái đường thế mà có thấy con đường không? Có thấy hay không thấy? Thấy cái gì? Thấy thằng bạn vừa mới qua, thấy phim xi nê hồi tuần trước. Tức là những hình ảnh mà nó hiện ra trong đầu mình á, nó che lấp hết. Mình mải mê theo dõi những hình ảnh xuất hiện trong tâm mình mà quên đi cái con đường trước mắt. Thì thiền là làm cho mình sống lại với hiện tại trọn vẹn. Khi mình đi xe trên đường là chỉ có con đường trước mắt hiện ra một cách nhẹ nhàng

[35:14]rõ ràng, chứ không có những cái tư tưởng vẩn vơ vẩn vơ nó làm mình xao lãng. Cho nên người hiểu thiền thì đi xe sao? Nó an toàn hơn, ít có ủi bậy hơn phải không? Thầy nhớ hồi nhỏ một lần á tâm thầy thì hay mơ mộng. Trưa trưa trưa thầy chả biết làm gì, thầy cũng lại làm biếng học bài á, thầy không chịu học bài. Năm đó thi lên lớp 8 nhưng thầy lười biếng. Thầy xách cái xe đạp thầy đạp đi chơi vòng vòng, đi theo trưa nắng. Hồi nhà thầy ở ngoài Nha Trang á. Vừa đi vừa mơ mộng, một lát cái thầy rớt con đường cái thầy đổ vô cái nhà người ta, thầy tông vô ngay cái bà đang ngồi may một cái rầm vậy đó.

[35:50]Làm sập mấy miếng ván phía trước, chiếc xe thầy cũng bị hư. Thường thường là chúng ta như vậy đó. Một cái công việc gì vậy mà mình làm một việc chứ không có một việc đâu, trong đầu mình nghĩ đủ thứ chuyện. Nhưng thiền sư Huệ Hải cảnh giác: Việc gì chỉ có một việc đó. Mặc dầu mình không chú ý vào nó nhưng mà nó hiện ra rất rõ ràng. Đó là cái người biết thiền. Cho nên người thiền làm việc gì cũng chu đáo, cẩn thận và học cũng giỏi nữa. Ở đây tụi con có để ý ví dụ như là khi tụi con học bài mà nếu bữa nào mà mình không có cái tư tưởng vẩn vơ đó, bài đó mình hiểu sâu hơn và dễ thuộc hơn. Còn lúc mình đang đọc cái cái đoạn văn này,

[36:30]đọc một loạt bài mà nó có những cái tư tưởng khác nó chập chùng chập chùng nó xen vào thì mình khó thuộc hơn và khó hiểu hơn. Nên thiền nó giúp mình thông minh hơn là cũng là nhờ lý do này. Ngoài cái trực giác tự nhiên nó làm cho mình tập trung được cái vấn đề mà mình đang theo đuổi. Giờ thầy kể câu chuyện khác.

[36:52]Câu chuyện ba ngón tay.

[36:57]Vào thời xưa ở bên Nhật có cái tục lệ kỳ lạ là những nhà sư mà đi lỡ đường á muốn đến nghỉ chân lại nơi một cái ngôi chùa nào thì phải thắng trong cái cuộc tranh biện với cái vị sư ở chùa đó mới được nghỉ lại, còn nếu thua thì phải ra đi. Thì trong cái ngôi đền á ngôi chùa đó có hai người sư huynh sư đệ ở với nhau. Cái người sư huynh thì thông minh học nhiều, còn người sư đệ thì ngu đần và chột mắt. Hôm đó có một thiền sư lang thang, một nhà sư lang thang đến xin ở lại thì cũng theo cái tục lệ phải tranh biện. Nhưng hôm đó ông sư huynh thì ổng bận cái gì đó, ổng mới giao cho người sư đệ. Mà ổng biết người sư đệ mình dở, ổng nói mà mở miệng nói bậy bạ chắc là thua.

[37:43]Thôi bây giờ tranh biện một cuộc tranh biện không dùng lời, không dùng lời. Thì ổng mắc bận ổng làm gì trong phòng của ổng á, một lát cái ông khách ổng tới, ổng nói: Sư đệ bạn thật là người kỳ tuyệt, thật ra đã đánh bại tôi. Ổng nói: Đâu kể tôi nghe? À khi vào cuộc tranh biện đầu tiên á tôi giơ một ngón tay lên, chả có dùng lời mà, biểu tượng thôi, tôi giơ một ngón tay lên tượng trưng cho Đức Phật. Thì anh ta giơ hai ngón tay lên tượng trưng cho Đức Phật và Phật pháp, giáo lý của Đức Phật. Tôi lại đưa ba ngón tay lên biểu tượng cho Phật, giáo pháp của Phật và đệ tử của Phật, tức là Phật Pháp Tăng hay là Tam bảo.

[38:25]Thì anh ta mới đấm vào mặt tôi một cái để nhắc cho tôi biết rằng ba cái đó chỉ là bóng dáng nó xuất phát từ một sự chứng ngộ của nội tâm thôi. Bỏ hết ba cái đi chỉ có một sự nội tâm, chứng ngộ nội tâm mới là chân thật. Tôi không còn cái lý nào cao hơn cái đó nữa nên tôi thua, tôi phải ra đi. Rồi ổng từ giã ổng đi về. Thế lát ông sư đệ chạy vô: Thằng đó đâu rồi? Tao oánh nó. Nói: Chuyện gì? Kể tui nghe. Nói: Dạ, đầu tiên hắn đưa một ngón tay lên nói rằng em chỉ có một mắt. Em nhịn tức, em mới nói rằng thôi ráng nhịn, dù sao nó cũng là khách, đưa hai ngón tay lên khen nó là anh có phước hơn tôi, anh có đủ hai mắt.

[39:03]Hắn lại khiếm nhã đến độ hắn đưa ba ngón tay lên nói rằng em và hắn cộng lại cũng chỉ có ba mắt. Em tức quá đập cho nó một cái cái nó bỏ chạy mất tiêu rồi không biết đi đâu.

[39:14]Ai hiểu câu chuyện này?

[39:19]Câu chuyện này nhiều người hiểu lầm lắm.

[39:26]Mọi việc trên đời nó đi qua cái màu tim của mình,

[39:31]mang theo cái ấn tượng của mình trong cuộc đời này. Như Nguyễn Du có nói đó, "Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu, Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ."

[39:45]Thì cũng vậy, cái ông nhà sư kia đó, ổng mang thiền, mang đạo một bụng. Ổng nhìn cái gì ổng cũng thấy à nói thiền, nói đạo hết trơn. Cho nên đây nó cũng là một loại thành kiến, một loại mặc cảm. Còn cái ông bị chột mắt suốt đời lúc nào cũng ám ảnh bởi cái chột mắt của ổng. Thấy ai nhúc nhích nói gì ổng cũng nghĩ nói tới chột mắt của mình. Phải không? Ở đây tụi con để ý thấy, nhiều khi trong mình có cái mặc cảm của cái tự ti, cái tự tôn gì đó, ai nói cái gì cũng nghĩ rằng người ta đang nói về cái đó của mình. Giống như những người mắc bệnh tâm thần á, ngồi thấy hai ba người đằng kia nói thì thầm thì thào "Nó nói lén mình cái gì đây?" lại đòi gây sự chúng đánh người ta.

[40:27]Người mắc bệnh tâm thần có. Hoặc là những người nổi danh cũng vậy, đi ngoài đường mặt cứ nghinh nghinh lên, tại nghĩ người ta đang nhìn mình đó, người ta đang khen mình, à mình là ngôi sao, nổi tiếng, đều mang cái ấn tượng. Thì trong cái câu chuyện này, nhắc một điều là: Thiền cũng là một loại thành kiến. Thiền cũng là một loại thành kiến. Khi chúng ta tìm hiểu thiền rất nhiều như vậy, thấy các thiền sư nói chuyện bằng thiền ngữ, đưa tay đưa chân gì cũng ngót cái ý thiền, mình cũng sẽ mang cái thành kiến đó. Nghĩ cái gì cũng là thiền, thì đó sao? Không còn là thiền nữa. Không còn là thiền nữa.

[41:07]Bởi vì thiền phải vượt ra ngoài mọi cái thành kiến đó. Khi người ta muốn nói cái ý gì, mình phải hiểu đúng ý người ta. Người ta nói tới chuyện ăn uống bình thường, mình biết đây là chuyện ăn uống bình thường. Người ta muốn nói về đạo, biết người ta muốn nói về đạo, chứ không có hiểu lầm. Nên ngài ngài Triệu Châu ngài có nói, "Như tấm gương trong, hồ đến thì hiện hồ, Hán đến thì hiện Hán." Nghĩa là như tấm gương đó, người Ấn Độ đến thì hiện ra trong đó là cái người Ấn Độ. Người Trung Hoa đến thì hiện ra trong đó là người Trung Hoa, không có lầm. Thì thiền

[41:43]phải là như vậy đó. Mình không có mang cái thành kiến nào, kể cả thiền, kể cả đạo. Tâm mình nó trống như hư không đó, thì ai đến trước mặt mình với tâm trạng nào, mình biết đúng tâm trạng đó. Đó là thiền. Bây giờ câu chuyện khác: Ngài Đặng Ẩn Phong, đệ tử của Mã Tổ, ngài tu khá đắc lực, ngài đắc đạo rồi ngài có thần thông. Có một lần ngài cùng với đồ chúng đi qua một cái khu vực đất thì thấy hai bên bắn nhau dữ dội. Hai bên binh lính là cầm gươm và cầm giáo đâm dữ dội. Ngài mới nói: "Ta phải cứu cái nạn này." Cái ngài quăng cây gậy lên hư không ngài bay lên luôn. Ngài bay lên trên cái cầm cây gậy ngài chỉ xuống hai đám quân đó.

[42:30]Cái hai bên quân sĩ đang đánh nhau thấy cái hiện tượng lạ quá mới lui quân ra. Nhờ ngài biểu hiện thần thông đó mà dừng được một cuộc chiến. Nên ngài rất nổi tiếng.

[42:42]Mà khi mà ngài trở về chùa ngài mới nói rằng: "Ta đã thị hiện thần thông nên ta có lỗi, thôi bây giờ ta phải tịch, phải ra đi." Ngài trước khi tịch cái ngài mới hỏi là: "Ta thường nghe các vị tôn túc khi tịch á có người thì ngồi kiết già tịch, có người đứng sừng mà tịch.

[43:06]À có người nằm tịch, có người ngồi tịch. Các ngươi có thấy ai đứng tịch chưa?" Thì trong cái đồ chúng của ngài có người nói: "Dạ, con có thấy có một người đứng mà tịch được." Thấy vậy cái ngài mới chống tay xuống đất ngài dựng

[43:27]cái chân ngài lên trời, ngài tịch luôn. Mà chơi cắc cớ ha, không có ngồi tịch đứng tịch mà lộn ngược lại. Mà cái y áo không rớt xuống nha. Cái áo dài như vậy mà nó vẫn dính xếp thẳng thẳng thẳng theo người vậy chứ nó không rớt xuống. Ngài đứng ngài tịch, chết luôn. Rồi ngài có người em gái tu trên núi, nghe tin ông anh mình tịch kỳ cục ngược đời vậy mới đi xuống, xuống trách. Mới nói: "Hồi ổng còn sống thì không có giữ luật Phật, tức là thị hiện thần thông. Chết rồi còn làm cái chuyện ngược đời." Cái gõ đầu ba cái, tùng bạt tồ cái áo ngã xuống. Chứ còn trước đó không ai xô ngã được.

[44:02]Cái câu chuyện này nói như thế này: Mặc dầu thiền phải không có gì hết, nhưng nó biểu lộ được cái sự tự tại, biểu lộ được cái sức mạnh là người ta muốn sống thì sống, người ta muốn chết thì chết. Đây là cái tự tại đối với sanh tử của một người mà đã có kết quả trong việc tu thiền. Đây là cái giá trị của người tu thiền đến giờ cuối đời của họ đó là muốn đi thì đi, muốn ở thì ở. Như ngài Động Sơn Lương Giới, khi ngài tịch, chúng khóc quá cái ngài sống lại. Ngài sống lại ngài quở, ngài quở ngài bảy ngày sau, ngài đãi tiệc ăn uống ngon lành xong ngài vào phòng ngài đóng cửa lại để không cho khóc ngài mới tịch thực sự.

[44:47]Ngài muốn sống là sống, muốn chết là chết. Đó là giá trị của người tu thiền. Nhưng mà trước khi muốn đạt được cái sự tự tại trong cái sinh tử đó thì trong đời sống hàng ngày các ngài rất là tự tại trong cái thái độ của mình. Không có gì làm cho mình bận tâm hết. Không có những cái buồn, vui, sướng, khổ có thể làm mình bận tâm được. Đó là cái tự tại trong đời sống. Cái tự tại trong đời sống nó mới kết thành cái tự tại lúc ra đi. Chúng ta nghe câu chuyện của thiền sư Hakuin là thiền sư Bạch Ẩn Nhật Bản cất cái am tranh. Rồi hôm đó trong làng có cô gái bỗng nhiên cổ có bầu. Có bầu cái cha mẹ mới đánh, tra hỏi dữ lắm.

[45:31]Tra hỏi cuối cùng cái cô nói tác giả là sư, sư cất cái am tranh gần gần tụi con.

[45:39]Thế là thôi, từ đó danh dự ngài mất hết. Cha mẹ cô đó tới quở, chửi mắng ngài quá chừng. Khi đứa bé được sinh ra thì cha mẹ cô gái giao đứa bé: "Con ông giao ông, mang về nuôi." Thì ngài cũng: "Vậy hả? Thế à?" Thì hàng ngày ngài mới đi xin sữa các các bà mẹ làng xóm để nuôi đứa bé. Đâu được vài năm như vậy thì cô gái nó mới thú thiệt là tác giả không phải là ông sư đó mà là cái anh chàng thanh niên bán cá ngoài chợ. Cái cha mẹ lật đật chạy lại xin lỗi ông sư quá chừng, xin đứa bé đem về. Thì ngài cũng nói: "Vậy hả?" Rồi ngài giao đứa bé về chẳng thắc mắc gì hết trơn. Đó là cái thái độ, thái độ đẹp của một người ngộ đạo thiền trong đời sống.

[46:24]Cái vinh cái nhục không làm các ngài bận tâm. Khi người ta nói xấu cũng cười, người ta khen cũng cười, chẳng bận tâm gì chuyện vì điều đó. Còn chúng ta biết sao? Khi chúng ta chưa đạt được chân lý trong tâm hồn mình, thì chúng ta dễ bận tâm bởi những cái hư danh bên ngoài lắm. Như là ví dụ một cái chuyện nho nhỏ thôi, trong lớp tụi con mà mình không có được tiên tiến, không được hạng cao mình thấy sao? Thấy khó chịu ha? Mình có sự ganh đua ở trỏng. Cái ganh đua nó có cái lợi là làm cho mình siêng học, nhưng nó cũng có một cái hại là làm cho mình hiếu danh. Hiếu danh và có cái tâm hơn thua, có cái tâm tranh giành, đố kỵ với bạn bè mình, nó làm cho mất đoàn kết.

[47:11]Nó làm mất đoàn kết. Nên người Việt Nam mình dễ chia rẽ vì ba cái hư danh đó. Nhiều khi Thầy nhìn mấy cái cuộc thi mà tổ chức Thầy cũng rầu lắm. Thi thì cũng hay thiệt, hoặc là trong lớp thi đua học hành cũng hay thiệt, nhưng mà dễ làm cho người ta phát sinh một cái cái cái khuynh hướng là thích hơn người khác, thích được cái hư danh hão huyền. Ba cái điều đó không hay. Nhưng cái cần á là cái mình giỏi thực sự, mà giỏi để làm gì? Giỏi để phục sự, giỏi để giúp ích cho xã hội, chứ không phải giỏi để được tiếng khen, không phải giỏi để được hơn người khác. Chúng ta nhớ điều đó. Nên tụi con vẫn phải hết sức mình,

[47:54]phải cố gắng học hết sức mình để trở thành một người giỏi. Nhưng mà mình nhớ, cái giỏi mình là để để làm lợi ích, làm đẹp cho cuộc đời, chứ không phải giỏi để được tiếng khen và để hơn bạn bè mình. Nhớ điều đó. Đây là cái thái độ của thiền, cái thái độ tự tại. Mình phải làm tất cả bổn phận của mình chỉ vì người khác mà thôi.

[48:19]Thầy kể câu chuyện khác: Ngài Mã Tổ là một thiền sư thuộc loại siêu, siêu việt, kỳ tuyệt của Trung Hoa, rất là giỏi.

[48:32]Một lần có ngài Thủy Lão đến hỏi đạo, mới hỏi: "Bạch Hoà thượng, thế nào là đại ý của Phật pháp?" Ổng thèm tham thiền. Kinh Phật thì quá nhiều, giờ ổng nói ổng hỏi một câu gom lại cái được cái đại ý của Phật pháp trong một câu ngắn gọn. Thầy cũng hay đó chứ không phải không. "Bạch Hoà thượng, thế nào là đại ý của Phật pháp?" Ngài Mã Tổ tai già, tai lãng tai, người nói nhỏ quá nghe không rõ, biểu là: "Lại gần đây hỏi." Cái bước bước bước lại gần ngài, "Bạch Hoà thượng, thế nào là đại ý của Phật pháp?" Mã Tổ lấy chân đạp cho một cái, ngã té ngửa nhào ra, ngộ đạo liền.

[49:14]Cái thủ đoạn của ngài Mã Tổ đặc biệt, không nói gì hết. Đúng lúc, đá cho một cái thì ngộ đạo liền. Ngộ đạo xong rồi vỗ tay reo lên, nói: "Không ngờ là bao nhiêu Phật pháp, bao nhiêu Phật pháp mênh mang thì vừa bằng một cái hạt bụi." Đó là cái câu chuyện mà cái thủ đoạn của ngài Mã Tổ đã được tiên tri trước đó bao nhiêu năm là khi mà ngài Bồ Đề Đạt Ma sang Trung Hoa đó, thì thầy của ngài Bồ Đề Đạt Ma là tổ Bát Nhã Đa La, ổng có sấm ký câu này. Mấy chú: "Sau này dưới chân ngươi sẽ xuất hiện móng một con ngựa tơ, đạp chết người trong thiên hạ." Là khi mà ngài Bồ Đề Đạt Ma mang cái đạo thiền từ Ấn Độ sang Trung Hoa, được thầy của mình sấm ký trước

[50:00]là những đệ tử của ngươi sau này sẽ có một con người rất là lạ lùng. Bảo là: "Dưới chân ngươi sẽ xuất hiện một cái móng con ngựa tơ đạp chết người trong thiên hạ." Là ám chỉ Mã Tổ á. Nhưng mà tới cách tới mấy đời nữa. Tức là từ ngài Bồ Đề Đạt Ma mới truyền dần dần mới tới ngài Huệ Năng, rồi ngài Huệ Năng mới truyền tới ngài Hoài Nhượng, Hoài Nhượng rồi mới tới ngài Mã Tổ. Tới ngài Mã Tổ mới là cái con người mà có đủ cái khả năng đạp một cái mà người ta ngộ đạo. Ngộ cái gì? Ngộ cái gì?

[50:36]Mà đạo lý gì kỳ lạ vậy? Đáng lẽ Phật pháp là mình phải giảng giải ha? Mà không cần chỉ một cái đạp là người ta ngộ đạo liền.

[50:48]Thầy không thể trả lời. Vấn đề này là mỗi người phải tự tìm lấy.

[51:00]Rồi cái văn hoá của thiền á, khi mà đi đến những cái xứ sở nào nó nó phủ trùm, nó tràn lan hết, tràn lan vào tất cả mọi ngõ ngách của đời sống mà người Nhật là người họ ứng dụng được nhiều nhất. Tụi con có nghe nói về trà đạo của Nhật không? Trà đạo, hoa đạo, kiếm đạo, cung đạo của Nhật.

[51:22]Người Nhật á, họ đem cái thiền đạo vào trong mọi lĩnh vực của nghệ thuật mà nó nâng nó lên thành một cái đạo. Ví dụ như là mình cắm hoa, mình chỉ nói là gì, nghệ thuật cắm hoa, phải không? Là hết mức rồi. Cắm làm sao cho đạt được cái đẹp, cái ý nghĩa nào đó là thành một cái nghệ thuật cao rồi. Nhưng mà người Nhật họ không hài lòng điều đó. Họ nâng cái cái nghệ thuật đó thành một cái đạo. Mà tại sao cắm hoa mà trở thành một cái đạo? Bởi vì cái cắm hoa của họ nó đem đến một cái triết lý sống. Nó biểu hiện được một cái ý nghĩa rất là cao trong cái bình hoa của họ. Và họ có thể dạy người khác hiểu được một điều gì đó trong cái bình hoa nhỏ bé.

[52:08]Nên cái tư duy họ gởi gắm vào trong cái đó rất là cao, nó không có bình thường. Mình cắm mình chỉ nhìn những cái phối hợp những cành hoa, sắp xếp làm sao cho nó đẹp. Nhưng mà họ gói ghém vào đó họ gởi gắm trong đó cả cái tâm tình, những cái triết lý. Một cái cành hoa nó nó nằm nghiêng qua bên đây một tí xíu, cái cành lá nó nhích qua bên đây một chút xíu, họ phải nói một cái gì đó, chứ không phải là chỉ là cái nét đẹp không. Nên họ nâng cái nghệ thuật đó thành hoa đạo. Mà cái gởi gắm của họ ở trong đó là gì? Là thiền đạo ở trong đó, là sự bình an, là sự quân bình của cuộc sống. Có một lần thầy được nghe cái bản nhạc hoà tấu, cái nhạc mà dân tộc của Nhật.

[52:50]Nói về thiền, trong đó hoàn toàn không có một lời hát, chỉ có những tiếng đàn thôi, chỉ những tiếng đàn. Có cái tiếng đàn như thế này. Thì thầy nói bằng miệng tụi con hình dung ra nha. Nó có hai tiếng đàn đi kèm với nhau, một cái tiếng đàn nó lất phất lất phất. Nhưng mà khi một tiếng đàn lất phất lất phất vừa vang lên thì có một tiếng đàn trầm, tiếng bass tưng tưng tưng tưng nó nó bám theo. Thế là hai tiếng đều ngưng. Rồi trong cái khoảng không ngưng đọng như đất, một tiếng lất phất lất phất nó vang lên, thì cái tiếng đàn bass tưng tưng tưng tưng tưng nó lại vang lên, rồi hai tiếng lại im lặng. Đố tụi con biết nói cái gì?

[53:27]Người ta viết nhạc thành thành đạo, đạo của nhạc. Còn mà bãi lồng cái diễn tả lịch sử. Một cái tiếng cái cao, tiếng lất phất lất phất, âm chát nó vang lên những cái điệu ngân nga ngân nga thì cái tiếng bass nó hoà theo liền, đi theo liền, rồi hai tiếng lại im bặt lại.

[53:47]Đố tụi con họ nói cái gì? Đố tụi con biết. Nói về cái tâm của mình. Cái tiếng đàn hoà, tiếng chát á, tiếng lất phất lất phất vang lên á là tượng trưng cho cái tâm mình vừa chợt khởi niệm suy nghĩ, thì ngay cái biết mình nó khởi lên theo liền nó chặn lại liền. Cái tiếng đàn bass nó nó nhẹ nhàng nhẹ nhàng khởi lên là cái sự tỉnh giác khởi lên

[54:11]để mà chặn cái tai hoạ đó liền lập tức. Khi mà không có niệm thì tâm mình cũng hạ, rơi vào hư không luôn. Nhưng mà vọng tưởng vừa khởi lên, thì cái đó cái biết cái tỉnh giác lại khởi lên theo liền, để mà dừng cái vọng tưởng kia lại. Sau đó, nó dừng rồi cả hai cái đều buông hết, để tâm trống trải tự tri trở lại. Tụi con thấy họ diễn tả đạo đó mà bằng một khúc âm nhạc như vậy. Đó là cái sâu sắc của người Nhật, mà họ áp dụng được thiền vào trong đời sống. Như cái cái trà đạo của họ, không biết tụi con có xem các phim tư liệu nói về người Nhật? Họ diễn tả cái nền văn hoá của người Nhật, có một đoạn diễn tả về trà đạo.

[54:46]Khi một người đến cái phòng để mà uống trà, họ kéo cái cửa ra, họ cúi đầu chào mọi người trong phòng, bước vào đúng cái tư thế, quỳ ngồi trước bàn, rót trà, uống trà, nâng trà, trong cái cử chỉ hết sức là trân trọng, tập trung và thư thái. Tụi con có xem đó và thấy đó chưa? Đại khái như vậy. Nhưng mà để làm gì? Để làm gì mất thì giờ như vậy? Có mất thì giờ không? Thật ra cái cuộc sống của chúng ta quá lăng xăng, quá nhanh đi, nó làm cho tâm hồn mình nó loạn động, thì họ cần những cái giờ phút cho quân bình lại, cần một cái nền văn hoá nào đó để quân bình lại với cái cuộc sống mà nó cái tốc độ nó đã quá nhanh rồi.

[55:32]Lúc đó thì họ chỉ một cái chén trà thôi, họ uống với tất cả cái tâm hồn của họ trong đó, uống với tất cả tâm hồn của họ trong đó. Từ cái nâng cái chén trà, từng cái nhắp để thưởng thức cái vị trà, nó đều thành một cái đạo lý để sống.

[55:51]Cho nên cái thiền nó áp dụng vào trong đời sống người Nhật nó bàng bạc, bàng bạc, bàng bạc thành tất cả những cái cái hay, cái chất tinh thần, cái văn hoá của họ. Rồi thơ có đạo không?

[56:04]Thơ về đạo thì nhiều lắm, thì cái đó dễ diễn tả, bởi vì nó thành lời nên dễ diễn tả. Ví dụ như có một thiền sư, khi mà ổng tâm ổng bình an ổng có thốt lên bốn câu thơ: "Thôi đã hết rồi chuyện thế gian. Tâm ta thanh thản như mây ngàn. Có còn chi nữa đâu mà nói. Ý bặt lời không bóng sắc nhan." Ổng cảm khái được cái tức là tâm ổng tịch, trong đầu không còn vang lên một cái âm thanh ngôn ngữ nào nữa. Rất là thanh thản, "Tâm ta thanh thản như mây ngàn." Vậy là quá đẹp không? Nhạc đạo, thơ đạo, trà đạo, hoa đạo, rồi kiếm đạo và cung đạo. Cái gì họ cũng nâng lên thành một cái giá trị sâu sắc cho cuộc sống.

[56:49]Bây giờ nói tới võ đạo, tụi con có nghe nói về Hiệp Khí Đạo chưa? Hiệp Khí Đạo đó, cái môn

[56:57]võ thuật. Thì trong tất cả các môn võ thuật á thì Hiệp Khí Đạo dường như là một môn võ nó sát với đạo nhất. Bởi cái tinh thần từ bi, nhu nhuyến và nội tâm của nó. Như mình thấy cái áp dụng khí công của Thiếu Lâm á, cũng ghê sợ lắm phải không? Là người trong Thiếu Lâm họ có thể đánh chưởng phát cách từ xa nha, họ có thể đi được trên mặt nước, đó là chuyện có thật chứ không phải là không đâu. Nhưng mà Hiệp Khí Đạo thì áp dụng được cái tình thương, áp dụng được cái triết lý trong cái võ thuật của họ. Tổ sư Morihei Ueshiba là một người thể chất ông ốm yếu nhưng ông rất là thông minh. Lớn lên thì ổng đi học qua nhiều môn võ và

[57:44]trở thành người vô địch, không ai có thể đánh bại được. Ông chợt suy nghĩ một điều là học võ để hạ gục đối thủ để làm gì? Để làm gì? Kẻ thù của chúng ta có phải là những con người đó hay không? Có phải hay không? Nó không phải. À, sẵn đây thầy hỏi con một câu. Đố tụi con biết kẻ thù của mình là ai? Đố tụi con biết kẻ thù của mình là ai? Thầy mời! Phải hiểu được ông tổ sư của Hiệp Khí Đạo Ueshiba này mới hiểu được kẻ thù của mình là ai. Kính bạch Thầy, kẻ thù của ta chính là tâm ta.

[58:29]Chính là tâm ta. Chắc con hiểu con ý muốn nói là cái tâm tham sân si phải không? Phải không? À, tâm chấp ngã ích kỷ.

[58:42]Bây giờ như ông tổ sư Morihei Ueshiba tâm ông thì không còn tham sân si nữa. Nhưng mà ông vẫn còn phải chiến đấu với những người bên ngoài. Ông nhận thấy một điều thế này: là kẻ thù nó không phải là cái con người đó, con người mà đang hầm hố trước mặt mình, mà chính là cái tâm ác độc của con người đó. Nên cái mà điều mà chúng ta cần phải khống chế, phải khuất phục, phải đánh phá, không phải là chúng ta đập vào cái thân con người đó làm cho họ gục ngã, mà làm sao khuất phục được, khống chế được cái tâm ác độc của họ. Và ông đặt ra được cái kẻ thù mới rất là sâu sắc mà rất là nhân bản, rất là từ bi.

[59:30]Ông là người chuyên tu thiền, ông có cái sức mạnh nội tâm kỳ lạ lắm. Có những khi vào mùa đông trở tuyết, ông lên trên núi cao, ông ngồi thiền lặng lẽ suốt mấy tháng trời mùa đông đất Nhật Bản. Bên ngoài cái hang động tuyết rơi phủ đầy, ông ngồi trong hang ngồi bất động lặng lẽ. Cái thiền định của ông rất cao nên nó biến thành sức mạnh nội tâm, cái sức mạnh nội tâm mà để khuất phục đối thủ. Khi một người đến đánh ông, vừa bước tới tấn công ông thì người đó tự nhiên bị ngã sóng soài dưới đất mà không thấy ông ra tay, không thấy cái chiêu thức nào làm người ta bị khuất phục cả. Họ cũng không hiểu nổi là ông đánh họ bằng cái gì.

[1:00:11]Cái đó gọi là sức mạnh của tinh thần. Ở chỗ này thầy giải thích thêm một chút. Thường á, thì chúng ta thấy cái ý nghĩ của mình, tức là cái tâm của mình á, với cái thế giới vật chất này nó là hai cái khác nhau phải không, hai cái khái niệm khác nhau. Nhưng là mình muốn tác động vào cái thế giới vật chất á, thì mình phải làm sao? Phải xuyên qua cơ bắp. Cái ý nghĩ trên đầu mình nè, nó truyền cái tín hiệu xuống tay chân mình rồi mình phải thò tay vào đó mình tác động vào cái thế giới vật chất này. Tức là từ cái ý nghĩ hay là cái ý nghĩ tâm, xuyên qua cái hệ thống thần kinh và cơ bắp, mình mới tác động vào cái thế giới vật chất này.

[1:00:49]Nhưng mà những người đi tìm cái năng lực tâm linh của thiền định á, thì họ biết một điều là cái ý nghĩ này tác động trực tiếp vào cái thế giới vật chất, không cần phải xuyên qua cơ bắp. Đó là chỗ mà ông Tổ sư Hiệp Khí Đạo Ueshiba áp dụng. Khi một người đến tấn công vào ông, ông không dùng tay chân, ông chỉ dùng ý nghĩ thôi. Ông đánh họ một cái là họ ngã nhào xuống liền, họ bật ngửa ra liền, người ổng không nhúc nhích gì hết. Chỉ khi nào ổng cần biểu diễn những thế võ căn bản á, thì ổng mới quật ngã người ta, đưa tay đưa chân ra ổng quật ngã để mà khống chế đối phương. Còn mà khi ông dùng tới sức mạnh tâm linh rồi thì ông không cần nhúc nhích tay chân.

[1:01:33]Mình bước tới đánh ổng là tự động mình bật ra mình ngã, không nghi ngờ gì hết á. Đó là cái sức mạnh của tâm, nó trực tiếp tác động vào cái thế giới vật chất này.

[1:01:45]Tụi con có xem ảo thuật của David Copperfield? Có, đó cũng là một dạng. Như là nhà ngoại cảm Uri Geller của của Anh vậy, ổng người gốc Do Thái. Ổng nhìn một cái đồng hồ tích tắc đứng lại, hoặc là cái nĩa cái muỗng nó cong lại. Là cái ý nghĩ của mình nó tác động trực tiếp vào cái thế giới vật chất này. Mà đây là cái hướng mà khoa học đang nghiên cứu, đây là hướng mà khoa học đang nghiên cứu. Cho nên, hồi nãy thầy cũng nói tới cái nền văn minh tương lai của nhân loại là vậy đó. Nó sẽ là một sự hài hòa trên ba lĩnh vực. Có thể là kỳ tới chúng ta nói chuyện nhau về đề tài này, tụi con về nghiên cứu trước nha.

[1:02:29]Kỳ tới tụi con tiếp chuyện nhiều với thầy, chứ thầy sẽ không nói nhiều nữa. Là nền văn minh tương lai của nhân loại nó sẽ đi theo cái hướng nào? Kỳ tới á, lần lượt mỗi người lên phát biểu cho các bạn mình nghe, thầy cũng sẽ trao đổi thêm về chuyện này. Hôm nay thầy gợi ý trước thôi, vì sao chúng ta phải nói về điều này. Mà tại sao chúng ta phải nhận định về cái nền văn minh tương lai của nhân loại? Để làm gì? Để chúng ta biết bây giờ mình phải học theo cái hướng nào, phải đi theo cái hướng nào để cho nó thích hợp. Chứ nếu cái văn minh mà đi theo cái hướng này, chứ mình đi theo hướng này, mốt mình sẽ sao?

[1:03:07]Lạc hậu, sai lầm. Bây giờ thầy gợi ý sơ ha. Hiện nay thì cái nền văn minh kỹ thuật, khoa học tiến một vượt bậc, nhưng mà giống như một cái bàn mà chỉ có một chân nó còn khập khiễng. Cái nền văn minh tương lai của nhân loại nó phải đặt trên ba cái chân rất là vững: Thứ nhất là khoa học kỹ thuật. Thứ hai là năng lực tâm linh. Thứ ba là đạo đức. Tụi con suy nghĩ coi thấy. Đó là ba cái chân để làm cho cái văn minh của nhân loại đứng vững và tồn tại, phát triển mãi. Cuộc đời này nó thành cái cõi hạnh phúc hơn, an bình hơn và tốt đẹp hơn. Thứ nhất là khoa học kỹ thuật, thứ hai là năng lực tâm linh, thứ ba là đạo đức.

[1:04:00]Nói gì thì nói, nhưng rồi thì cũng đòi hỏi một sự bình an của nội tâm, tức là tâm hồn không có xao động, không có suy nghĩ. Cái suy nghĩ là do cái gì? Do óc phải không? Do não mới suy nghĩ. Nhưng mà giữa cái bộ não này với cái thân của mình nó có một sự tương quan chặt chẽ. Cho nên cái người tu thiền á mà tu không đúng cách nó sẽ gây xáo trộn trong cái não bộ, mà cái bộ não mình nó giống như tàu hũ non vậy. Chọt tay á, nó rất dễ tổn thương và sinh ra cái mà người ta gọi là tẩu hỏa nhập ma, điên. Chúng ta thấy nhiều người hiện nay cũng vậy, tu thiền do không đúng pháp, đúng căn bản, dễ bị tổn hại cái não bộ rồi phát

[1:04:51]sinh ra cái rối loạn tâm thần, rối loạn thần kinh rồi phát điên. Cho nên, trước khi chúng ta bước vào thiền, chúng ta phải có cái kiến thức cơ bản về sinh lý của não: Não hoạt động như thế nào, cái hỗ tương giữa thân và tâm như thế nào. Đồng thời là phải có người hướng dẫn từng từ cái căn bản chính chắn để không bị sai lầm, không có dụng công quá sự dằn ép. Hôm rồi thầy cũng đã bàn với chị Thuần, thầy nói là sau này sắp xếp làm sao cho tụi con học thiền được để có cái ích lợi thiết thực chứ không thể ngồi nói mãi như vậy. Nhưng mà chưa biết là trong những thời gian sắp tới, cái thời gian mà ngồi thiền sẽ như thế nào

[1:05:34]thì để chị Thuần với tụi con bàn lại với nhau ha, để từ từ sẽ hướng dẫn tụi con. Có một điều cuối cùng muốn nhắc về vấn đề thiền thế này: Sau này là tụi con sẽ được học thiền để mà tạo lại cái trung bình trong tâm hồn của mình, nhưng chỉ nhớ một điều là đừng bao giờ khoe khoang ha. Tại vì thiền cái giá trị nó rất là cao, giá trị rất là cao. Mà chính vì cái càng cao thì cần phải được giấu kín ha. Ví dụ tụi con tu thiền, cái thể hiện ra đời sống bên ngoài là đối xử tốt đẹp và đạo đức với mọi người, nhưng mà đừng bao giờ khoe rằng à tôi có tập thiền, có tu thiền. Khi đó nó sẽ làm cho tổn phước. Một sự khoe khoang luôn luôn đưa đến sự đổ vỡ.

[1:06:22]Hôm nay thì thầy chỉ nói nhiêu đây thôi. Tụi con có ai hỏi gì thì hỏi. Chuẩn bị để mà chuẩn bị hỏi. Bây giờ còn vài phút thầy cho hỏi. Thầy, con không có hỏi về cái đề tài ngày hôm nay, nhưng mà cái đề tài của tháng vừa rồi á là cái đề tài về... ờ... nghiệp và nhân quả thì con có một thắc mắc là: Ờ một người á nếu mà làm nghề đao phủ á thầy, thì người ta là tất nhiên người ta không có thù oán gì cái người mà họ giết hết, nhưng mà họ vẫn phải chặt đầu hay là giết thì... thì như vậy thì họ cái nhân như thế nào và sau này họ được... họ phải bị cái quả nó làm sao? Hỏi cái người mà làm nghề đao phủ chuyên môn chặt đầu người ta hả?

[1:07:07]Câu hỏi cũng hóc hiểm ha? Chuyện là như vậy nè, trong nhân quả chứ không phải cái gì nó cũng vậy đó, mình không thể phân định được cái này là thiện hay ác. Bây giờ, thầy hỏi tụi con ha: Giết người là thiện hay ác? Để thử một cô này trả lời: Giết người là thiện hay ác? Thiện hay ác? Thí dụ chuyện này tụi con sẽ thấy ví dụ: Ví dụ như là tụi con có một người thầy giáo rất là đạo đức, dạy rất là giỏi, thương yêu học sinh. Cái ông bị cướp vô nhà ổng, giết ổng lấy của thì tụi con đau khổ không? Đau khổ, nghe tin ông là đau khổ. Rất là đau khổ, phải không? Tại vì đó là người thầy giáo mình thương yêu mà

[1:08:05]bị cướp nó giết mất nên tụi con rất đau khổ. Bây giờ có chuyện trường hợp thứ hai là có thằng cướp chuyên môn nó cướp của giết người, nó hiếp dâm phụ nữ, nó bắt cóc trẻ em đủ thứ hết trơn mà xưa nay không có lùng ra được. Hôm nọ sao cái FBI phát hiện nó trên đường phố đuổi bắt nhau, rượt trên đường phố bắn nó chết tại chỗ giữa đường, tụi con nghe tin đó tụi con mừng không? Mừng. Mừng phải không? Như vậy là cũng hai trường hợp giết người, nhưng một người chết làm cho tụi con đau khổ, một người chết làm cho tụi con mừng, thì cái việc giết người đó, cái trường hợp trước là thiện hay ác? Cái mà làm cho mọi người đau khổ á? Ác.

[1:08:46]Trường hợp sau, giết cái người đó làm mọi người mừng thì cái đó thiện hay ác? Như vậy giết người là thiện hay ác? Không kết luận một chiều được, phải không? Nó tùy đối tượng, tùy cái ảnh hưởng mà sau cái giết đó nó ảnh hưởng lại về đời sau, nó đem lại cái hạnh phúc hay là cái đau khổ cho những người khác, mình mới kết luận được cái việc làm này là thiện hay ác. Cho nên trên đời này cũng vậy, bất cứ chuyện gì chưa thể kết luận là thiện hay ác liền lúc đó được, mà phải tùy theo cái ảnh hưởng của nó về sau mới có thể kết luận là thiện hay ác được, phải không? Bây giờ ví dụ như là nói là: Ăn cắp là thiện hay ác?

[1:09:25]Cắp là thiện hay ác? Chắc không? Chắc không? Không chắc, trên đời không có gì chắc. Là luôn luôn nó tùy cái ảnh hưởng tùy đối tượng đó. Ví dụ như là có một cái tay đó là nhà nhà giàu chuyên môn bóc lột người ta, ác độc. Bỗng nhiên có thằng trộm vào nhà nó, trộm cắp xong rồi đem ra chia cho người nghèo hết, làm cho ai cũng khoái. Cái chuyện đó

[1:09:57]không phải là ác, chưa chắc hẳn là ác phải không? Không hẳn là ác. Ăn trộm của một tên bóc lột chưa chắc là ác. Nhưng ví dụ có một người họ làm ăn lương thiện, họ chắt bóp từng đồng, họ sắp sửa cái nhà gần hư, họ để dành tiền cất cái nhà, cái rình chôm cái cái ống heo của người ta đi mất, làm cái nhà ổng sập luôn không cất lại được, thì cái đó là ác. Đó nên cái cái hành động nào mình chưa thể kết luận thiện hay ác được, nó tùy đối tượng. Bây giờ trở lại cái người đao phủ. Cái người đao phủ thì cái người này thực hiện cái lệnh của tòa án. Nên cái người giết người đó không phải là cái ông đao phủ đâu, mà cái ông thẩm phán ngồi trên cao á.

[1:10:34]Giết hay không là do cái ông đó chứ không phải là ông đao phủ này. Cái người đao phủ này họ chỉ thực hiện cái lệnh thôi, họ không định đi giết, họ không hề quyết định giết, cho nên cái trách nhiệm quyết định giết không phải của người đao phủ. Đó là cái thứ nhất. Cho nên việc mà quyết định giết người đó đúng hay sai á là trách nhiệm của cái ông tòa án, cái ông chánh án. Nên giết cái người đó là giết lầm nè hay giết đúng nè, giết người đó là thiện hay ác nè, giết người đó có để lại cái vui mừng hay cái đau khổ cho người khác nè, trách nhiệm thuộc về thuộc về ông chánh án, chứ không phải cái người thi hành.

[1:11:12]Cái giết đó, cái trách nhiệm thực sự về người quyết định, chứ chưa hẳn là người thi hành. Nhưng nó sẽ có như thế này. Nó sẽ có thế này nè, chính nham tâm, ví dụ như là hai tên cướp vô bắt một chủ nhà thì cái thằng mà đại ca đó nó nói rằng: "Giết nó cho tao mày!".

[1:11:33]Thì cái người đàn em á phải thi hành, nhưng mà lúc mà thi hành đó, chính cái người đó cũng quyết định phải giết thì như vậy cái đó hai người quyết định, hai người quyết định hai người cùng có tội giống nhau. Nhưng mà đại ca bắt: "Giết đi mày!", cái người đàn em á nó không muốn giết nhưng mà nó phải làm thì này chỉ có một người quyết định một người thi hành một người quyết định. Nó vô cái tâm á. Cái tâm quyết định, cái tâm ăn theo. Thì cái người đao phủ cũng vậy, nếu họ thực hiện như một cái máy, như một cái công cụ thôi, họ nghĩ là phải thực hiện cái lệnh tòa án thôi, nhưng mà trong tâm họ không có cái phán xét,

[1:12:10]trong tâm họ không có cái phán xét, không có phán xét là đúng sai gì hết, thì họ không có trách nhiệm nhiều. Thầy nói không trách nhiệm nhiều thôi nha! Còn cái trách nhiệm nhiều vẫn thuộc về cái ông tòa án. Đó là cái thứ nhất. Còn cái chuyện ác đúng sai thì mình không thể phán xét được, tại vì không biết là ông tòa án đó ổng quyết định sai hay đúng, xử ảnh hưởng hay không ảnh hưởng. Cái đó là cái tùy từng trường hợp, cái vụ án đôi khi nó bị khuất lấp, đôi khi nó bị oan ức thì mình không quyết định được, mình chỉ nói vai trò người đao phủ. Nhưng hết nghề lựa sao cái ông này ổng chọn lựa nghề đao phủ?

[1:12:42]Đố ai biết tại sao? Nhân quả đó, nhưng mà nhân quả gì mà tự nhiên hết nghề chọn, rồi nghề chọn nghề đao phủ? Kỳ trước thầy có nói rồi, kỳ trước thầy có nói về cái nhân quả của hành động rồi.

[1:13:00]Đời này mình làm cái gì là do đời trước mình mình nghĩ tới cái đó trước. Nên một người mà lựa cái nghề, ví dụ như là mình thích làm từ thiện vậy mà đời trước mình thường khắc khoải về vấn đề này, nên kiếp này bỗng nhiên mình trở thành con người thích làm việc từ thiện. Còn cái người đao phủ này cũng vậy, đời trước có cái ý nghĩ về cái chuyện giết người, có cái ý nghĩ về chuyện này, nên bao nhiêu nghề không đưa đẩy, đưa đẩy mà lọt ngay đúng cái nghề đao phủ, nó theo cái nhân quả của ý nghĩ của mình. Cho nên là hôm trước thầy có nói với quý phật tử là khi mình muốn trở thành một con người vĩ đại thì cái tư tưởng mình phải vĩ đại.

[1:13:40]Mình phải suy nghĩ những vấn đề của cả nhân loại, của cả thế giới, không bao giờ mình ràng buộc cái mục đích của mình trong cái chuyện tầm thường của miếng ăn miếng mặc, hay là chỉ là sự nghiệp của riêng mình. Mình phải tự nuôi dưỡng những tư tưởng lớn. Chính cái tư tưởng lớn á làm cho mình trở thành con người vĩ đại. Thì cái người đao phủ này cũng vậy. Cái việc họ giết người nó không thấy không có cái cái nghiệp thiện ác lắm, nếu lúc giết đó họ vô tư. Nhưng nếu lúc giết đó họ có cái phán xét, có cái thương ghét thì nó mới thành nghiệp. Với một cái nữa, sở dĩ họ chọn nghề đao phủ bởi vì kiếp trước đã từng có để ý nghĩ về vấn đề đó.

[1:14:32]Đó là câu trả lời của thầy. Chưa quyết định được thiện ác, tùy đối tượng, tùy trường hợp và tùy ý nghĩ của họ nữa. Còn quyết định thực sự trách nhiệm là nơi cái tòa án, không phải nơi người đao phủ. Ai hỏi gì nữa không? Thầy à, tôi có cái thắc mắc này cũng không phải trong thiền mà trong về vấn đề kinh á thầy. Thì trước cũng có đi gia đình Phật tử thì thấy tụng kinh mà có như là niệm Phật thì rất nhiều, ví dụ như niệm Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, hay là Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát. Thì đó là thì thấy rõ ràng cái hình tượng nó thì nó rõ. Nhưng mà trong kinh thấy có nhiều, ví dụ như vừa rồi trước khi mà thầy giảng á có cái khóa

[1:15:09]nghi lễ á, thấy ví dụ niệm về Địa Tạng Vương Bồ Tát hay là niệm về Phổ Hiền Bồ Tát hay là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát thì theo như tôi biết là ví dụ như khi mình niệm Phật á, mình có cái sự liên tưởng đến đến một pho tượng nào đó thì cái cái cái cái tác động nó rõ hơn. Mà không hiểu là cái ví dụ Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát hay là Phổ Hiền Bồ Tát là có một cái có một cái hình tượng cụ thể không thầy? Thường thường là chỉ thấy là là là là ví dụ Đức Phật ở đây với lại là Quan Thế Âm là cụ thể, chứ còn Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát và Phổ Hiền Bồ Tát là có những cái hình tượng cụ thể không? Mà thấy ít có chùa nào để hoặc là nó chỉ là một cái tượng trưng thôi?

[1:15:52]Thưa thật, trước thầy có giảng ở chùa Từ Tân, hôm nay giảng ở đây, về thực chất của Niết bàn, Niết bàn là gì?

[1:16:06]Thì cái chỗ này là chỗ bản thể tuyệt đối, ở đây mình không có thì giờ nói nhiều, khi nào có dịp thì thầy sẽ giảng kỹ. Tất cả những vị mà đã đắc đạo, trong bản thể Niết bàn các ngài không còn có bản ngã nữa, không còn thấy mình là riêng mình nữa. Cho nên một vị tức là tất cả vị, một vị Phật tức là tất cả các vị Phật. Các ngài chan hòa với nhau trong cái tình thương yêu với tất cả chúng sinh. Những vị Bồ tát như Văn Thù, Phổ Hiền, Quan Âm á đều là tượng trưng cho cái thể tánh tuyệt đối á, đều là tượng trưng cho sự giác ngộ của mười phương chư Phật. Như mình niệm Quan Âm chứ đâu phải là một mình ngài Quan Âm.

[1:16:46]Mình niệm một cái niệm Quan Âm tức là mình đã động đến mười phương chư Phật. Mình niệm một vị Văn Thù tức là mình đã gọi đến cả mười phương chư Phật. Bởi vì chư Phật không có bản ngã nữa. Không phải đợi kêu đúng tên mình là mới mới ứng hiện. Không phải: "Ủa tui tên Thích Ca, ổng niệm Quan Âm ai biết, ổng hổng kêu tui tui hổng biết", hổng có. Các ngài không có cái ngã và không có cái danh hiệu, không có hình tướng nữa. Cho nên cái hình tượng mà mình thờ cũng là gợi ý hoặc sự tượng trưng thôi. Chứ các ngài ở bản thể Niết bàn nó vượt qua mọi âm thanh, mọi danh nghĩa, mọi hình tướng. Chỉ cần mình có cái lòng thôi, chỉ cần mình có lòng

[1:17:23]thành là đều động đến tất cả mười phương chư Phật. Trong đó, mỗi vị Bồ tát là tượng trưng cho một cái tính chất của chư Phật. Ví dụ như nói là ngài Văn Thù là tượng trưng cho tính chất trí chất trí tuệ của Phật. Nói tới ngài Quan Âm là tượng trưng cho tính chất từ bi của chư Phật. Nói tới ngài Phổ Hiền là tượng trưng cho cái tính chất là cái hành động lớn của chư Phật. Mà một vị tức là cả mười phương chư Phật. Chứ không có một cái tính chất riêng rẽ, chúng ta cũng đừng có chấp cái lịch sử, hình tướng nào nó cụ thể. Cho nên là tùy theo cái trình độ của điêu khắc, tùy theo cái tâm tình và cái hình

[1:18:01]dáng của người địa phương đó mà người thợ điêu khắc họ tạc ra những bức tượng. Chứ bây giờ biết làm sao mà hình Phật Thích Ca đúng như thế nào mà tạc cho đúng, phải không? Thế mình gán, mình chấp nhận: "À, như vậy là Đức Phật" để tôn thờ. Chứ làm sao bây giờ mà tìm đâu ra cái hình chụp photo của ngài Văn Thù hay ngài Quan Âm, đúng không? Cho nên đây là sự tượng trưng và ăn thua lòng thành của mình thôi. Khi tâm mình thành thì mười phương chư Phật đều cảm ứng, chỉ cần một vị thôi. Mà đôi khi mình không cần niệm đúng rồi đôi khi kêu bậy bạ đó, chư Phật cũng gia hộ.

[1:18:36]Kỳ thực chư Phật không có bản ngã nữa, nên thấy chúng sinh có lòng thành là chư Phật đều gia hộ. Có khi mình kêu trật lất mà các ngài cũng gia hộ. Thậm chí một người ở đạo khác cũng vậy, kêu Thánh Allah, kêu Mẹ Maria, kêu Chúa Giê-su của họ, chư Phật cũng chẳng bỏ. Các ngài từ bi không có phân biệt. Mình thì phân biệt chứ các ngài không phân biệt.

[1:18:58]Kính thưa thầy, bây giờ cũng sắp sửa hết thời gian, cũng hết rồi. Con chỉ còn một câu hỏi cuối cùng, mong thầy hoan hỷ trả lời cho con và tất cả các bạn ở đây cùng nghe. Câu hỏi của con là như vầy. Có một dịp con và cô Thoàn có lên thiền viện Trúc Lâm á. Thiền viện Trúc Lâm là một thiền viện, một trong những thiền viện lớn của Hòa thượng Thanh Từ mới vừa xây cất ở Đà Lạt á, rất là đẹp. Thì con á, bản thân con đã từng sống trong nhà thiền, mà khi con bước vào á thì khi con lên đó con thấy cảnh vật rất là đẹp, nhưng có một điều con thắc mắc là tại sao ở các chùa ở trong thành phố này nè, đương nhiên là con chưa được đi hết,

[1:19:37]nhưng mà thường có một gác chuông và một gác trống. Đó là hai cái biểu tượng mà không phải là biểu tượng nữa, mà là để thỉnh lên những hồi chuông, trống Bát Nhã, thứ nhất là cung thỉnh, thứ hai là nghinh đón và tiếp rước. Thì con thấy đặc biệt ở nhà thiền con chưa được lên Núi Tiên, nhưng mà biết đâu sẽ có một dịp nào đó con sẽ lên để con xem ở nơi đó có cái gác chuông, gác trống hay không. Mà ở nhà thiền, con có thắc mắc hỏi cô Thoàn là: Cô à, tại sao con cũng thắc mắc là ở nhà thiền chỉ có một gác chuông thôi? Thì thầy tri khách ở đó con cũng hỏi thầy tri khách, thầy chỉ trả lời là thầy trả lời rất là vắn tắt

[1:20:17]là vì ở nhà thiền không có gác chuông. Hòa thượng chỉ chủ trương xây một bên gác trống, độn... ngộ... có xin lỗi con nói lộn là không có gác trống mà chỉ có gác chuông thôi. Thì cái tiếng chuông á, trong một bài kệ của thiền... của Thầy Nhất Hạnh á, thầy có khi mà thỉnh lên tiếng chuông á, có một bài kệ thầy viết như vầy nè: Lắng lòng nghe, lắng lòng nghe, tiếng chuông huyền diệu đưa về nhất tâm. Như vậy tiếng chuông á mang lại cho tâm hồn của con người những sự tỉnh thức nào? Và người thỉnh chuông á phải là người duyên... như thế nào? Xin hết. Ở

[1:20:59]đây tịnh xá của thầy, thầy không có cái chuông luôn chứ đừng có nói tới cái trống.

[1:21:07]Sự thật là con người ta tu hành cần sự nhắc nhở, cần sự nhắc nhở. Và mỗi tôn giáo hay mỗi tông phái có một cách nhắc nhở khác nhau.

[1:21:22]Ví dụ như là trong nhà thiền, như cụ đại thiền sư Toái Chi ở Nhật Bản, quanh năm suốt tháng không bao giờ ai nghe được tiếng động nhỏ phát xuất từ cái ngôi thiền viện của ông. Kể cả việc tụng kinh ông cũng bỏ luôn. Chỉ cho đến cái ngày mà ông mất á, đồ đệ tử vây quanh mà vang lên tiếng tụng kinh á thì cái người hàng xóm mới biết là ổng đã qua đời. Còn suốt trong thời gian đó, không ai nghe một tiếng động nhỏ dù là tiếng mõ, tiếng chuông, tiếng trống hay là tiếng tụng kinh. Nhưng dĩ nhiên là họ vẫn có cách nhắc nhở. Trong nhà thiền á, đôi khi nhắc nhở bằng cái lời nói. Thấy người ta đang lui hui cuốc đất lại hỏi:

[1:22:03]Anh làm gì đó? Là để nhắc người ta quay về nội tâm. Làm... làm gì đó là không phải hỏi công việc làm, mà hỏi trong tâm anh đang làm cái gì đó, có giữ được cái chánh niệm và tỉnh giác hay không? Cũng là một cách nhắc nhở. Thì mỗi nơi có một cách nhắc nhở. Riêng trong các ngôi chùa thì dùng cái tiếng chuông như là một sự nhắc nhở. Đó là một quy ước thôi. Đó là một loại ngôn ngữ thôi. Ví dụ như là mình nói bằng cái lời bình thường á, gặp nhau nói: Ờ, ráng tu nha con, ráng tu nha, về Cực Lạc. Đó là một lời nói, đúng không? Thì bây giờ thì không nói câu đó, thì nói lấy cái chuông gõ beng thì thay cho một cái câu nói vừa rồi, thấy không? Thay vì một cái câu nói là:

[1:22:47]Ráng tu nha, ráng tu. Thì giờ lấy cái chuông gõ cái beng, cũng là cái câu nói giống như vậy. Nhưng mà mỗi tôn giáo, mỗi tông phái họ có một cái nhạc cụ, một cái khí cụ để nói lên cái đạo lý và sự nhắc nhở của mình. Thì trong nhà chùa thì dùng tiếng chuông. Thì bây giờ chúng ta trong Đạo Phật thì chúng ta phải hiểu rằng cái tiếng chuông đó nó cũng là một cái câu nói gì đó. Mà mỗi người sẽ gán cho nó một ý nghĩa khác nhau. Tuy nhiên, nó đều có cái nghĩa chung là thức tỉnh, nhắc nhở mình không quên được cái hoài bão giải thoát, nhắc nhở mình lìa xa bớt cái trần khổ của thế gian, nhắc nhở mình quay về với cái nội tâm thanh tịnh, trong sáng.

[1:23:34]Đại khái ý nghĩa vậy, thì ai muốn đặt sao, dịch cái câu đó, tiếng boong đó ra ý nghĩa gì đó thì tùy cái văn tài của mỗi người. Con dịch ra làm sao? Còn thầy dịch thì nghen: Cứ tu đi, tu đi, ráng tu nghen. Nó là một quy ước thôi. Nên ở các tôn giáo khác họ dùng cái biểu tượng khác, còn mình thì lại dùng cái chuông, có khi dùng cái trống, có khi cái mõ. Đó là chuyện quy ước thôi.

[1:24:02]Dĩ nhiên cái gì thuộc về hình tướng, âm thanh nó đều chỉ có giá trị tương đối. Mình có thể gán ghép ý nghĩa cho nó được, còn cái giá trị thực sự của Đạo nó vẫn nằm ở trong cái nội tâm á. Cái nội tâm mà trời biết, đất biết, tôi biết, cô biết.