Lời giảng: Bồ Tát Sơ Phát Tâm - Bồ Tát Đại Thừa 01

  • Thuyết giảng: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Thời lượng: 1:19:19

Toàn văn lời giảng, chép từ phụ đề. Bấm vào mốc thời gian để nghe đúng đoạn đó.

[0:17]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Hôm nay ta nghe tiếp về loạt bài Bồ Tát Đại thừa.

[0:25]Cái việc mà xuất hiện một cái hệ thống giáo lý quan điểm về Đại thừa Bồ Tát, hôm trước chúng ta cũng bắt đầu dẫn đi vào. Và cái việc mà xuất hiện cái quan điểm cái tư tưởng Đại thừa Bồ Tát á, nó trở nên tạo ra một sự đối kháng lớn trong cái hệ thống Phật giáo.

[0:51]Là vì nó mới quá, lạ quá và độc đáo quá. Nên lúc đó, có một số à

[1:00]một số mà hệ phái giữ cái truyền thống cũ, họ không chấp nhận. Họ nói: "Cái điều mới này không phải của Phật thuyết và là ngoại đạo Bà-la-môn đưa vào." Mà cũng đúng, bởi vì sao? Bởi vì những nhà tư tưởng Đại thừa thời đó, họ đều gốc từ cái Ấn Độ giáo mà rồi quay về với đạo Phật.

[1:24]Trong đó có một nhà Đại thừa nổi tiếng là ngài Long Thọ. Ừ, mà khi bây giờ ta đọc lại những tác phẩm ngài Long Thọ, ta cũng không biết ổng là ai, loại người gì trên cuộc đời này. Mà nếu bây giờ mình nói, chắc ổng là người ngoài hành tinh xuống trái đất này. Tại vì nó giỏi quá, khủng khiếp quá! Cái vì cái cái nghĩa là những cái tác phẩm, những cái tư tưởng, quan điểm của ngài Long Thọ, nó không phải của loài người. Cũng một cái siêu thiên tài nào xuất hiện giữa cái thế gian này. Những cái bộ luận ngài để lại đến bây giờ vẫn là sự thách đố đối với trí tuệ của loài người. Ví dụ, bây giờ ta nói a cái a cái cái cốc này

[2:11]thì ngài nói cái cốc này nó chưa từng có bắt đầu và cũng không có chấm dứt. Mình không hiểu. Tại mình nói là nó phải có bắt đầu, tức là có lúc tạo ra nó và có lúc nào đó ai đập vỡ nó thì nó chấm dứt. Còn ngài nói nó chưa bao giờ bắt đầu, chưa bao giờ chấm dứt. Nếu nó chưa bao giờ bắt đầu có thì làm gì có cái cốc sờ sờ này? Nhưng mà nói không có cái cốc này không được à. Có, cái cốc này có, nhưng mà cái cốc này nó không bắt đầu, không chấm dứt, điên cái đầu luôn. Mình ngồi mình lo nghe mình suy nghĩ, mình nói điên cái đầu luôn. Hoặc là ví dụ như mình đi mình đến, thì tôi đi từ chỗ này tôi đến cái chỗ kia thì có đi có đến.

[2:49]Rõ ràng tôi từ cái nhà tôi tôi đi đến chùa, nhưng mà ngài chứng minh lát, mình chưa bao giờ đi đâu, chẳng bao giờ đến đâu. Nhưng mà ngài không chối bỏ cái việc mình bắt đầu là có mặt ở chùa sau đó. Nhưng mà mình chưa bao giờ đi đâu, chưa bao giờ đến đâu. Những cái điều nói nó ngược ngạo và giống như nguỵ biện, không hiểu nổi. Không hiểu nổi nhưng mà ngài chứng minh nghe là không dám chối à, vì ngài nói chặt chẽ quá, lý luận chặt chẽ. Cho nên những bộ luận của ngài như là là bộ bộ Trung Quán Luận vẫn là một thử thách của trí tuệ loài người cho đến tận bây giờ không mấy người hiểu nổi. Hoặc là bộ Thập Nhị Môn Luận mà nói về cái phần mà nói về Thượng

[3:30]Đế, đến bây giờ là các triết gia, các học giả hiện đại cũng chỉ bắt chước ngài mà nói lại, mà nói không hết ý ngài. Khủng khiếp lắm! Ví dụ như cái sự khác nhau giữa đạo Phật và các tôn giáo khác là nằm ở chỗ cốt tử ở chỗ này. Hầu hết các tôn giáo khác đều phải cho rằng có một Thượng Đế tạo ra tất cả. Chỉ trong đạo Phật không chấp nhận điều đó, mà nói rằng: "Mọi thứ đều do nhân duyên hòa hợp tạo thành." Hai cái điều này là tạo nên cái sự khác biệt giữa đạo Phật và các tôn giáo khác. Những điều khác có đôi khi na ná giống nhau, bây giờ cũng ăn hiền ở lành, cũng giữ giới cấm rồi, nó na ná giống nhau.

[4:14]Nhưng mà cái lõi nhất của sự khác biệt giữa đạo Phật và các tôn giáo khác vẫn là vấn đề Thượng Đế. Thì thời xưa những điều đó cũng tranh cãi nảy lửa. Thì tranh cãi nảy lửa thì ai cãi sao đó cãi, tới khi mà ngài tung ra cuốn Thập Nhị Môn Luận rồi không ai nói được tiếng nào. Mà đến bây giờ những nhà triết học cũng lấy lại, xài lại cái lý luận mà cách đây hơn 2.000 năm ngài đã dùng, ngài đã nghĩ ra, ngài đã nói, đã lý luận. Nói ví dụ, nói rằng là: "Thượng Đế tạo ra trời đất, vũ trụ." Rồi bên kia nói: "Đúng vậy." "Như vậy trước khi Thượng Đế tạo ra trời đất vũ trụ thì không có trời đất vũ trụ, đúng không ạ?"

[4:58]"Đúng." Tức trước khi Thượng Đế tạo ra thì không có trời đất vũ trụ. "Nếu không có trời đất vũ trụ, Thượng Đế đứng chỗ nào để tạo ra? Vì lúc ấy chưa có gì hết, chưa có không gian, chưa có thời gian. Bắt đầu đứng chỗ nào để tạo ra? Cái chỗ đứng để tạo ra không có." Nghe một cái chới với liền cái lý luận đầu tiên. Rồi ngài nói: "Vậy những cái ý nghĩ của con người là do con người tự nghĩ ra hay do Thượng Đế tạo ra? Nếu nói rằng là do con người tự tạo ra thì như vậy mọi thứ trên đời không phải do Thượng Đế tạo. Thì con người mới tự do suy nghĩ chứ. Còn nếu mà nói Thượng Đế tạo ra hết thì những suy nghĩ

[5:34]của con người cũng là do Thượng Đế tạo ra." Nói: "Đúng." "Vậy những cái ý nghĩ sai, ý nghĩ ác của con người ai tạo? Nói do con người tạo hay do Thượng Đế tạo? Nếu mà nói do Thượng Đế tạo, vậy ổng là ai? Ổng có phải là đấng toàn thiện hay không? Còn nếu mà nói rằng cái đó không phải của Thượng Đế, cái đó do tự con người nghĩ xấu thì như vậy Thượng Đế không phải tạo ra tất cả. Tạo ra một phần nào đó thôi, còn nhiêu khác à, con người tự tạo tiếp à." Cho nên, ổng cứ lý luận một hồi bí, bế tắc. Đẩy lên cái hỏi lần, hỏi lần lát bế tắc. Nhưng mà từ 2.000 năm trước ngài đã đưa ra hết những lý luận về đó.

[6:15]Bây giờ ta chỉ dùng lại nhiều lắm, mà bác rồi không còn chỗ thở. Đó là ổng là loại người gì mình không hiểu, một siêu nhân nào đến với cuộc đời. Và trong thời điểm đó xuất hiện cái quan điểm về về Bồ Tát Đại thừa. Nó khác với hình ảnh của một vị A-la-hán. Vào thời nguyên thủy của Đức Phật á, cái lý tưởng mà mọi người tu tập theo Phật á là làm sao chứng A-la-hán? Được giải thoát giác ngộ. Mà chứng A-la-hán không phải dễ, vì cái tầng bực mà quả Thánh thứ tư này nó lớn quá, nó vĩ đại quá! Tức là chứng xong rồi, nơi chính mình mà mình hiểu hết vô lượng kiếp trước, vô lượng kiếp sau, nơi chính mình mình hiểu hết cả cái vũ trụ pháp giới này.

[6:59]Nên cái quả Thánh thứ tư này kinh khủng và không ai có thể là tu trong vài kiếp mà xong. Một vị A-la-hán mà chứng xong, Đức Phật mà kể lại cái quá trình của vị đó đều là đã gieo duyên đâu mấy ngàn kiếp xưa, bao nhiêu vị Phật nào. Rồi bây giờ mới có cái nhân quả ngày nay. Tức là nội cái quả vị A-la-hán không là đã khủng khiếp. Rồi trong suốt bao nhiêu năm, từ thời Đức Phật cho tới bao nhiêu năm sau cũng chỉ nói về quả vị A-la-hán là tối cao. Nên tu làm sao để được giải thoát rồi mục đích là xong. Nhưng đến thời mà tư tưởng Đại thừa xuất hiện thì cái quan điểm về A-la-hán giải thoát á nó bão hòa, nó đầy.

[7:44]Mà sự xuất hiện của hình ảnh Bồ Tát Đại thừa như là một sự tất yếu phải phát triển, đến thời điểm đó phải xuất hiện, không thể nào khác hơn được. Đó là hình ảnh một vị Bồ Tát chuyên cứu độ chúng sinh. Mà cái mục tiêu mà giải thoát cho chính mình chỉ là một mục tiêu phụ. Mà phải làm sao cho độ cho tất cả chúng sinh cùng nhau giải thoát. Quan điểm này nó vượt lên một tầng mới và nó thỏa mãn những cái người mà cực kỳ có trí tuệ, cực kỳ có tâm vị tha. Ví như là trong cái bài kinh Lăng Nghiêm mà ngài A Nan ngài nói: "Vào cái đời ngũ trược ác thế này con xin nguyện vào trước: Ngũ trược ác thế thệ tiên nhập.

[8:35]Như nhất chúng sinh vị thành Phật, chung bất ư thử thủ Nê hoàn." Tức là ngài nói rằng sau khi mà ngài gọi là ngộ đạo với Đức Phật rồi ngài ngài cảm động, ngài thấy ngài được lợi ích này ngài chợt nghĩ tới vô số chúng sinh còn đau khổ. Nên ngài phát lời thề đối với Phật là trong cái đời ác ngũ trược, con xin vào trước. Mà nếu còn chúng sinh nào mà chưa thành Phật thì con không có nhập Niết bàn. Cái hạnh nguyện vĩ đại, tức là lang thang trong luân hồi sinh tử cho tới vô tận, tại vì làm sao mà chúng sinh mà thành Phật hết được? Và như vậy với lời nguyện này, ngài không bao giờ an trú trong sự giải thoát nữa, cứ lang thang đi mãi.

[9:19]Thì ta nghe câu này ta sẽ thấy bình thường: "Ờ, thì thôi vô trong luân hồi độ chúng sinh thì cũng vui, không sao." Nhưng mà nếu chúng ta liên hệ với hình ảnh này ta mới thấy nó khủng khiếp.

[9:35]Nói ví dụ thế này. Như chúng ta là trước đây là là heo. Chư vô nói đừng có bực lòng nha. Thầy thầy giả vờ thì nói thôi, chứ ở đây toàn đẹp trai, đẹp gái không, chứ không phải ai là heo. Nhưng mà thì giả vờ thì nói ví dụ trước đây chúng ta là heo, là một bầy heo. Thì bầy heo nó sống ra làm sao ạ? Nó thơm tho không? Nó ăn uống, nó la lết có thấy không? Có thấy chuồng heo chưa ạ? Rồi, nói: "Dạ, con có vô tình ghé một lần chuồng heo rồi xong không bao giờ con dám tới gần nữa vì nó hôi quá, mà nó bốc mùi mấy cây số." Ví dụ ở đó mà có một trại heo rồi là mấy cây số chung quanh người ta trốn chết hết vì nó hôi.

[10:17]Nó hôi cái mùi da thịt của nó, mà hôi cái mùi phân đồ của nó. Thì bây giờ ví dụ như khi mình được trở lại làm người, được trở lại làm người, được gặp Phật pháp tu hành, giờ nhìn lại cái bầy heo nhớ nhớ lại tiền kiếp hồi xưa mình cũng là heo tội nghiệp nó quá, mà bây giờ mình loài người mình độ nó không được, nói nó không hiểu, mình phải nói cái ngôn ngữ con heo "ét ét" nó mới nghe. Thôi bây giờ mình phát nguyện mình đầu thai vô lại làm heo lại, để mình sống lăn lộn với heo để mà độ heo, ai dám làm chuyện đó giơ tay lên?

[10:51]Giơ tay lên! Giơ tay lên thiệt lòng thầy tặng chiếc xe Wave Trung Quốc liền. Ví dụ bây giờ mình đang sống ở loài người há, thì mình thấy cũng vui thôi chả có gì há, cũng mặc đồ đẹp đi nghe giảng rồi đi xe rồi Future rồi vân vân, cũng đi hát karaoke rồi loài người cũng sạch cũng đẹp có gì, nhưng mà nếu bất ngờ mình chết mình sinh lên cõi trời. Nếu kiếp này mình đi từ tân đều đặn quá, mình dự khóa thiền đều đặn quá, chứ không phải là chỉ đi nghe giảng còn lúc ngồi thiền thì trốn, tức là mình dự cả khóa thiền rồi dự bài nghe giảng đầy đủ, đều đặn tháng này qua tháng kia năm này qua năm kia, cho nên mình chết mình sinh lên cõi trời.

[11:32]Còn cái người mà lúc mà ngồi thiền thì trốn, lúc nghe giảng thì có mặt á thì người đó chết về đâu thầy không bảo đảm à, không biết à. Còn người mà dự khóa thiền đều đặn rồi tới nghe giảng rồi kết thúc đầy đủ ngày này qua ngày kia tháng này qua tháng kia chết lên cõi trời. Khi họ lên cõi trời rồi á thì họ nhìn xuống cõi người này ra sao ạ? Khủng khiếp giống như mình nhìn thấy bầy heo mình vừa thoát ra. Nó khủng khiếp mức độ như vậy. Mình chưa hình dung, còn mình đang làm loài người mình thấy loài người cũng thơm sạch phải không ạ? Mà nếu chưa đủ thơm mình xịt xịt dầu dầu thơm. Dầu thơm bây giờ bán nó đầy đường mà, xịt xịt vô.

[12:11]Mà nếu chưa đủ sạch thì mình có dầu tắm gội đồ đầy đủ, nếu chưa đủ đẹp thì mình bôi trét mặt đồ mặc áo đồ vô phải không? Thấy cũng ngon lành không sao, nhưng mình khi lên cõi trời mình nhìn lại một cái, không khác gì loài người nhìn lại bầy heo. Thầy nói thật điều đó đó. Lúc mà Đức Phật sắp nhập Niết Bàn, trời Đế Thích hiện thân thành người, thu nhỏ người mình lại xuống ở gần Đức Phật để hầu hạ Phật. Hầu hạ về ở đây những giây phút mà ngài nhập Niết Bàn rồi không gặp lại nữa. Đức Phật mới nói câu này, "Này Đế Thích, Sakka, tại sao ông lại xuống đây mần chi?" Cái ngài Đế Thích mới nói là, "Vì con không bao lâu nữa Thế Tôn nhập Niết Bàn,

[12:53]con muốn được gần gũi Thế Tôn một chút, vì giây phút này thì không còn bao giờ trở lại nữa." Đức Phật mới nói là, "Ở cái cõi người này là cõi bất tịnh. Cái mùi hôi của loài người á nó bốc xa mấy do tuần." Mình nghe mình hơi lạ ha, mình nghe mình hơi lạ bởi vì mình ngồi mình ngửi ngửi mình đâu thấy hôi, nhưng mình khi ra khỏi loài người rồi mình mới thấy loài người hôi. Cũng giống như bây giờ heo mình gặp heo mình nói, "Heo mày có hôi không heo?" Heo nó, "Không, không, tui thơm, không có gì hết. Mỗi ngày ông chủ bưng xịt nước tắm cho tui, hoặc là chở tui mà đi về cắt cổ đó trên xe nóng quá cũng

[13:29]xịt xịt nước cho tui cũng thơm không có gì." Nhưng mà mình sao? Cái trại heo ba cây số mình đã nghe mùi rồi, đúng không ạ? Thì loài người mình cũng vậy, mình tưởng mình thơm, chứ chư thiên thoát ra rồi khỏi loài người rồi thấy con người mình hôi khiếp đảm lắm. Mà Đức Phật tế nhị, Đức Phật không nói. Đức Phật ngài sinh vào trong loài người để thành Phật, trong suốt cuộc đời 45 năm ngài, ngài không bao giờ nói thật với loài người rằng các ngươi hôi lắm. Không bao giờ. Chỉ tới giờ phút cuối cùng ngài sắp nhập Niết Bàn ngài mới nói điều sự thật đó với Đế Thích thôi. Thì lúc đó ta mới biết sự thật là, "Chết, ôi trời ơi mình hôi dữ vậy à." Hôi dữ vậy.

[14:08]Ví dụ nếu biết hôi vậy mình ngồi chung vậy mình chịu không nổi, nhưng mình nghe quen mùi rồi, mình cứ tưởng mình thơm. Mà khi một người mà họ đủ cái phước lên cõi trời, một vị Bồ Tát mà họ đủ công đức họ vượt lên trên, mà nhìn lại loài người giống như loài người nhìn lại bầy heo, mà bây giờ trong cái đời ngũ trược á chịu nhập thế trở lại, sống chung chạ với loài người đầy những hơn thua, ác độc, đố kỵ, ganh tị mà, như là ngoài cái hôi ra, ngoài cái dơ ra, rồi con người còn bị cái tâm đó ghen tị, ác độc, ích kỷ, độc độc ác, hẹp hòi, bần tiện, bón sẻn, mệt quá.

[14:54]Vậy mà một vị Bồ Tát á, nơi cái cõi giới thanh cao của họ toàn những bậc thánh, ha, muốn bay thì bay, muốn hiện hình thế nào, muốn đẹp sao cũng được hết, bây giờ phải xuống làm loài người mà sống chen chúc với loài người đó, nội cái thân hôi thôi ráng chịu được, nhưng mà cái tâm hôi của con người khủng khiếp, vậy mà phải chịu sống loài người để gieo duyên hóa độ, thì mình hiểu đó là sao, cái con người đó là sao? Không đơn giản, khủng khiếp lắm, vĩ đại lắm, mình dùng bao nhiêu từ để ca ngợi không hết được một vị Bồ Tát như vậy. Nó cũng giống như bây giờ mình đứng nhìn con heo, bầy heo xong thương quá cái mình phát nguyện đầu thai làm

[15:31]heo để mà độ heo, cái con người đó mình cũng không hiểu, hoặc là họ quá phi thường hoặc là họ hơi khùng khùng theo. Tại bình thường không ai suy nghĩ vậy, không ai dám trở lại cái cõi cũ của mình cả khi mình đã vượt lên cao. Cho nên có những người mới thốt nói chớ, nói: "Chết rồi đi đâu?" Nói: "Tui không tui nghĩ chết là hết không có đi đâu hết trơn." Có một ông vua, ông vua ổng Tề Túc ổng ổng ổng gặp ngài Kassapa Kimura rồi sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn rồi, thì ngài Kassapa Kimura, ông này là ổng đi tu từ còn trong bụng mẹ, tại mẹ ổng đi tu là lúc đã cấn thai ổng mà không biết. Cho nên vô đi tu cái bụng từ từ lớn lớn lên,

[16:10]cái ngài, "Trời trời trời, cái bà Tỳ-kheo-ni mà có bầu." Kỳ đó cũng chấn động một thời gian. Sau khi đó đưa ngài U-ba-li xử, ngài xử ra xử lại nói, "Không không sao, đúng không có bị phạm luật." Ngài nghĩa là coi như ngài đi tu từ khi còn trong bụng mẹ. Lớn lên một là một người một ngài A-la-hán phi thường. Đức Phật nhập Niết Bàn rồi ngài lãnh đạo một số rất là đông tăng chúng đi du hóa nơi này nơi kia, có một lần đến gặp ông vua Payasi. Ông vua ổng nói: "Không có không có kiếp trước kiếp sau không gì, chết là hết không có gì hết trơn." Mà ngài lý luận tới khi cuối cùng ông kia phải quỳ xuống xin quy y.

[16:45]Trong đó có một cái câu ông kia ông vua ổng hỏi thế này, ngài nói là chết có chuyện mà lên cõi trời phải không? Mấy người tốt lên cõi trời không? Tôi không tin, tại vì nếu nãy ngài nói là xuống địa ngục rồi đó thì không có thể trở lại báo người thân được, thì thôi tôi chấp nhận cái đó đi. Nhưng bây giờ nói lên cõi trời thì tự do tự tại chứ, thì xuống báo lại người thân là: "À ta chết ta đã lên cõi trời cho người thân biết là có cõi trời, có kiếp trước kiếp sau." Chứ tại sao mà chết rồi có những người sống rất hiền thiện chết mất luôn không ai trở về báo cả? Thì lúc đó ngài Kassapa Kimura mới nói thế này, nói là, "Ví như có một người

[17:27]là xuất thân từ nơi một cái làng quê nghèo khổ, nhưng mà người đó nơi làng quê nghèo khổ đó sống hiền thiện, sống giúp người, thương người, rồi cái tiếng thơm được tới vua ở kinh thành nghe tiếng mới mời về kinh đô.

[17:48]Khi người đó về tới kinh đô rồi thấy cảnh kinh đô lộng lẫy nha, kinh thành phố xá đẹp đẽ, và lúc đó vua giao việc, à thấy lúc kia ngươi ở cái làng quê nghèo mà ngươi đã sống tốt thế này, ngươi giỏi thế này, thôi về bây giờ phụ trách việc này cho ta. Thì người đó để có thể tiếp nhận được cái công việc của vua phải học hỏi ha, không dám lơ đãng, không dám xao lãng, phải học rất cực khổ, phải thích ứng với đời sống mới cực kỳ sang trọng không có một sơ suất nhỏ. Nghĩa là hồi ở miền quê đó nhiều khi nhà không cần nhà vệ sinh, đúng không ạ? Nhưng mà về tới kinh thành thì sao? Đâu ra đó phải không ạ?

[18:29]Ngăn nắp, nước phải uống thế nào, cơm phải ăn thế nào, đi đâu thế nào thế kia. Mọi cái là thì bây giờ người đó lúc đó có thể lật đật nói: "Vua vua cho con về con báo là con đã lên kinh thành thế này thế kia không?" Có không? Được không? Ông vua nói: "Dạ không." Cũng vậy, cái người mà lên cõi trời, trước một cõi giới mới mà thời gian nó thay đổi. Một ngày ở cõi trời nó khác với ở đây bao nhiêu năm dưới này. Và lên đó họ phải đâu có được đi chơi, nơi một cảnh giới mới nhưng có nghĩa những người đó đều là tinh thần trách nhiệm cao hơn và phải thích ứng với đời sống cõi trời mới, học hỏi nhiều điều mới lạ,

[19:06]nên họ qua vài ngày rồi họ mới trở lại thì dưới này người thân chết sạch. Một ngày trên cõi trời là bao nhiêu chục năm dưới này, ổng ở trên đó hai ba ngày thôi xuống đây là chết sạch hết, tới đời con đời cháu chả ai biết gì nữa. Đó, nên là ngài lý luận đủ hết, cuối cùng ông vua Tề Túc đó mới tin rằng à thôi cũng có lý. Người ta phải hiểu như vậy, những cõi giới như vậy. Cho nên cái việc mà hình ảnh một vị Bồ Tát mà dấn thân đi trong luân hồi sinh tử vào cõi ô uế mà ngài A Nan nói câu là: "Ngũ trược ác thế thề tiên nhập." Ngũ trược là năm điều dơ. Chúng nghe nghe năm điều dơ thì: Kiếp trược, mạng trược, chúng sinh trược,

[19:47]phiền não trược, đại khái mấy cái dơ dơ dơ dơ thì nghe trên sách vở mình mình không hiểu nó dơ thế nào. Bây giờ thầy nói dòm bầy heo hiểu giùm thầy. Vậy mà chịu xuống làm heo để độ heo, thì ta hiểu vị Bồ Tát mà ở trên cõi thánh mà chịu xuống làm người không khác gì con người mình chịu xuống làm heo. Vĩ đại như vậy, một cái cái cái cái cảm động, cái cái khủng khiếp, cái hy sinh nó lớn như vậy. Nhưng mà trong cái kinh Lăng Nghiêm ngài A Nan khi mà ngài được ngộ rồi ngài khởi cái lòng đại bi lớn yêu thương chúng sinh chưa ngộ, và chấp nhận rong ruổi lang thang mãi trong cái cõi dơ cõi khổ để gieo duyên hóa độ chúng sinh.

[20:31]Và đó chính là quan điểm của Bồ Tát Đại thừa. Quan điểm này nó ngược thẳng với cái quan điểm A-la-hán chứng đạo rồi gánh nặng đã đặt xuống, kiếp này là kiếp cuối cùng, không còn tái sinh nữa. Ngược hẳn luôn hình ảnh như vậy, cho nên hay có tranh cãi, bên kia nói, "Cái đó không phải Phật dạy." Bên kia nói, "Cái này không thể không phải Phật dạy." Cái quan điểm cao thượng, vĩ đại như thế này thì nó phải được nói ra từ một bậc giác ngộ cao siêu. Mà anh nói không phải Phật, tui nói không thể không phải là Phật với cái tư tưởng vĩ đại thế này. Còn bên kia nói: "Không, kinh tạng đã kết tập ngày xưa chỉ nhiêu đây

[21:08]thôi, cái đó là dư ra thêm ai đưa vào?" Nói: "Không biết ai đưa ra nhưng mà với quan điểm vĩ đại này thì chỉ phải nói từ một bậc đại giác." Cho nên bộ kinh Bát Nhã vậy, bộ kinh Bát Nhã mà nói về cái việc mà một vị Bồ Tát, cái hành trạng một vị Bồ Tát như thế nào, là vị Bồ Tát phải làm vô số công đức trong vô lượng kiếp mà không bao giờ được chấp công. Cái mà cực khổ, có khi phải hy sinh cả thân mạng mình, có khi phải chịu chết cho chúng sinh, mà đi hết kiếp này kiếp kia mà không được chấp công. Cái tư tưởng nó khủng khiếp quá. Ta nghe trên tai á thì mình thấy ờ ờ cũng được, nhưng mà ta thử làm một cái ta biết liền. Ta thử làm một cái ta biết liền.

[21:52]Ví dụ thử như bây giờ thế này thôi, mình nói chuyện nhỏ ví dụ ta vào Từ Tân ta nghe giảng hôm nay, ta có ghế ngồi ở một góc rất mát, ngồi nghe giảng rõ ràng, gần loa, rồi thoải mái tinh thần, ông thầy này ổng giảng rất dễ ngủ, cho nên rất là ngon lành. Cái góc này ngồi ngủ là không ai thấy. Bỗng nhiên có cái bà bả đi cà nhắc cà nhắc tới, bả đứng gần mình để bả nghe giảng, mà bả đứng không được, bả phải ôm cái cột, cái mình thấy tội quá. Rồi sau năm phút mình đắn đo đấu tranh tư tưởng dữ dội, cái mình đứng lên thôi mời bà ngồi, phải không? Mời bà ngồi thế là mình đứng, đứng thì không ngủ được nữa.

[22:27]Rồi thôi, ông thầy ổng nói phải nghe hết, còn bà kia sau khi bả ngồi được rồi bắt đầu bả ngủ. Thì nguyên cái buổi sáng hôm đó cái lòng mình sao? Mình phơi phới, phải không? Mình thấy mình là con người sao? Cao thượng, phải không? Mình thấy là con người mình sao? Mình hy sinh, mình vì chúng sinh, mình yêu thương mọi loài, phải không? Nghĩa là mình khen mình, nhường có cái ghế mà mình khen từ sáng mà nghe tới ba tháng sau chưa hết tự khen mình. Đúng không ạ? Nhường có cái ghế à, mà mình khen tự khen mình tới ba tháng. Mới có cái ghế. Mới nhường có cái ghế, bỏ ngủ buổi sáng một chút thôi, người nhưng mà khen mình ba tháng.

[23:03]Mình thấy sao mình hay quá, mình cao thượng quá, mình đúng là đệ tử của Phật, ha mình học được hạnh từ bi của Phật, cho nên cái ghế ngồi ngủ ngon khi nghe giảng mà bây giờ mình nhường cho một bà bị bị đi cà nhắc cái chân, mình hay quá, mình khen ba tháng. Đúng không ạ? Mới có cái ghế thôi. Còn nếu mình cúng chùa ha, mình quét rác, mình nấu cơm, mình nấu bếp cái nọ mấy cái chuyện đó thì thôi mình tự khen mình bao lâu ạ? Chết rồi vẫn còn khen. Mà sợ không ai nghe, thều thào kêu: "Con à, lại đây. Nghĩa là hồi đó là mẹ nghĩa là có đi quét sân chùa, cái đó là cúng chùa, mẹ để dành chỉ vàng đáng lẽ cho

[23:38]con ăn học mà đem cúng chùa." Cứ kể hoài. Đúng không ạ? Nên cái tâm phàm phu là cái tâm chấp công, mà hễ chấp công rồi thì cứ làm phàm phu hoài. Mà để có thể giải thoát, có thể chứng được thánh trí vô thượng thì phải đừng chấp công. Đừng chấp công. Nói thôi, nghe Phật dạy thì thôi quên chuyện cái ghế nhường cho bà đó đi, thôi không nhắc tới nữa à, ai nhắc tới nghỉ chơi à, không Nhưng mà sao? Nhưng bắt đầu làm chuyện khác. Bữa hôm đó là mình vô tiệm phở ăn tô phở cho ngon rồi để đi nghe ngồi nghe giảng rồi cho nó thoải mái tinh thần, nghe không? Kêu tô phở ra xong rồi có cái ông ăn xin ổng lại ổng đứng ổng nhìn tô phở hoài.

[24:16]Cái mình nói: "Ủa, bộ ông đói hả?" Nói: "Đói quá, mấy ngày nay không có gì ăn." Cái thôi mình nhường ổng ăn, mình mình đi nhịn đói nghe giảng. Rồi chuyện đó là sao? Chuyện đó mình thấy lòng mình sao? Bắt đầu mình kể tiếp ba năm nữa.

[24:31]Mà mới có tô phở à. Cho nên tất cả chúng sinh đều bị cái tật hễ làm điều tốt một chút nhớ hoài, tự khen mình hoài, không chứng thánh được. Mà trong Kinh Đại Bát Nhã là Bồ-tát phải làm vô số điều vì chúng sinh, thậm chí chết vì người ta cũng phải chết giùm, mà không được chấp công, quên nó liền trong tức khắc. Trong một giây một, trong một sát-na một quên mất liền, chuyện đó không còn dính ở trong đầu mình nữa, mà tiếp tục làm vô số chuyện khác. Như vậy ta thấy giữa ta với một vị Bồ-tát khoảng cách là như cỡ nào? Xa quá, đúng không ạ? Thì Bồ-tát là như vậy. Thì với cái tư tưởng vĩ đại cao siêu như vậy, thì trong kinh mới ghi rõ thế này:

[25:14]"Bạch Thế Tôn, con nương nhờ thần lực của Thế Tôn mà con nói được đạo lý này", ngài Tu-bồ-đề, hoặc là thiên tử vậy, nói: "Con nương thần lực của Thế Tôn nên con nói đạo lý Bát Nhã này." Bởi vì cái cái đạo lý vĩ đại này nó không phải từ con người mà nói được, dù là một con người nói ra, nhưng phải hiểu rằng là nương thần lực của Phật, nương trí tuệ của Phật thì ta mới có cái đạo lý khủng khiếp này, vĩ đại này, vô thượng này. Như vậy. Cho nên vì vậy, trong cái cuộc mà tranh cãi vô tận giữa cái giáo lý Nguyên thủy với giáo lý Đại thừa, thì bên Đại thừa họ nói thế này: "Bây giờ anh nói tui không phải Phật nói,

[25:55]cũng được, nhưng mà tôi phải nương thần lực của Phật, nương trí tuệ của Phật nên tôi mới nói được những đạo lý này. Chấp nhận là không phải Phật nói, nhưng mà nếu không có sự gia hộ của Phật, đừng hòng ai hiểu được, khai ngộ được, tuyên thuyết được cái đạo lý vĩ đại này." Giống như tất cả những buổi giảng của ta, các vị đều nói câu gì? Thỉnh chư tôn, chư tăng và các vị Phật tử đứng lên niệm Phật cầu gia bị, nhớ không ạ? Tất cả buổi giảng ta đều nói câu đó, nghĩa là làm sao? Nếu không có Phật gia bị, đừng hòng ông giảng sư nói hay. Không có Phật gia bị, đừng hòng những người nghe Pháp có thể tiếp thu được.

[26:37]Mà cái câu đó nhỏ nhỏ thôi, ai nghe cũng nhàm tai, lần nào cũng nói, nhưng đó chính là sự thật, đó là chân lý, đó là sự mầu nhiệm bí mật. Đó như vậy. Ví dụ như thầy vậy. Như thầy thầy giảng Pháp nghe thao thao vậy, nói: "Ờ, ổng giảng hay." Nếu không Phật gia hộ thì thầy bước lên pháp toà cái miệng ngậm liền, ngọng liền, tự nhiên đầu óc trống quác, không biết mở miệng nói câu gì. Nhưng mà nhờ Phật gia hộ, thầy đứng trên pháp toà cái thầy nói được. Cho nên từng lời, từng chữ này sự thật là gì? Là ân nghĩa của chư Phật chứ không phải của thầy. Phải hiểu như vậy, giảng sư phải hiểu như vậy. Chứ còn ví dụ như giảng sư giảng cái thấy Phật tử thích quá,

[27:20]hay quá cái trong lòng mình tự khen mình, "À, tui giảng người ta thích lắm, tôi nổi tiếng lắm", chết liền. Đó là rời khỏi gì? Rời khỏi trí tuệ của Bồ-tát, rời khỏi cái tư tưởng của Đại thừa, thì phước hết không bao lâu. Cho nên một vị giảng sư mà muốn giảng bền thì phải nhớ điều này. Mọi từng lời, từng chữ của mình đều có thần lực gia hộ của Phật. Và mình chỉ là gì? Mình chỉ là một công cụ của Phật, đem đạo lý của Phật, đem thần lực của Phật, đem sự gia hộ của Phật mà chia sẻ với mọi người thôi. Mình chỉ là gì? Là cỏ rác, bụi bặm dưới chân Phật mà thôi. Nghĩ như vậy thì còn bền, Phật cho giảng nữa, tháng sau còn cho trở lại giảng nữa.

[28:07]Còn nếu mà nghĩ rằng: "A, tui giảng hay quá", tháng sau đi giữa đường xe tông gãy chân, thôi phen này thầy nghỉ giảng không được á, ngưng, miệng ngậm liền. Miệng còn nói được nhưng mà không đi được nữa, duyên hết rồi. Khủng khiếp như vậy. Cái nhân quả là vậy. Cho nên để người ta có thể vượt lên được cái công đức vô hạn, để có thể tạo được cái công đức tới vô tận, không bao giờ giới hạn thì bộ kinh Đại Bát Nhã dạy rất rõ: làm đừng chấp công. Làm vô số công đức thì cái trí tuệ mà không chấp công đó cũng phải tới vô biên vô tận đi kèm theo. Cứ bên cạnh một cái công đức mình làm thì bên cạnh đó là một cái trí tuệ không

[28:43]chấp công cứ kèm theo kèm theo, suốt luôn cho tới khi thành Phật luôn. Cái quan điểm của Bồ-tát Đại thừa nó bước lên một tầm mới. Cái trí tuệ của thánh mà nói thẳng luôn là cả thế giới này không có.

[29:00]Chỉ trong kinh Thiên Chúa có một câu nhỏ.

[29:05]Lúc đó có một người mới đến khoe với Chúa Giê-su là:

[29:15]"Con là người nghĩa là theo ý Chúa cho nên con bố thí.

[29:24]Để con cũng trình cho cho ngài biết là con cũng có làm cái việc bố thí giúp người." Chúa Giê-su nói câu này: "Nếu tay phải ông cầm tiền cho người ta thì đừng cho tay trái biết." Câu nghe nó rất là thơ mộng, rất là lãng mạn, nhưng cũng trùng với cái ý kinh Bát Nhã Đại thừa nha, đừng chấp công, quên nó đi. Ngay cả tay này cũng là con con người mình, tay này làm điều tốt thì tay kia đừng biết, nó kín đến mức độ như vậy. Thì câu đó chỉ ngang đó thôi, rồi không suy diễn nữa, rồi mấy ngàn năm qua như vậy các linh mục muốn hiểu sao đó thì hiểu. Nhưng mà riêng cái điều đó thì trong kinh Bát Nhã, trong các kinh Đại thừa Phật giáo triển khai tới vô tận,

[30:09]tới sáu trăm quyển kinh chất một chồng đầy vậy luôn, chỉ nói về điều đó. Rất sâu sắc. Mà không phải là chỉ bố thí thôi, tới khi mình chứng được, mình thành tựu được cái phước báo cũng coi như không. Nên là cái này mới là khủng khiếp nè. Vì sao vậy? Vì nhân quả nó bắt buộc nó phải có, nó là sự công bằng tuyệt đối. Giờ khi một vị Bồ-tát làm công đức cứu độ chúng sinh, cứu giúp ví dụ như là nói bây giờ trong cái làng quê đó họ sẽ phải trải qua một cuộc chiến tranh tan nát hết. Vị Bồ-tát mới đến đó, chuẩn nghĩa là sắp xếp cho mọi người, bởi vì cái nghiệp chiến tranh không tránh khỏi, nó sẽ giặc sẽ tràn qua, cháy rụi thiêu hết,

[30:49]vì vị đó biết nên vị đó đã đến đó trước, dạy dỗ mọi người, sắp đặt mọi người hết, chuẩn bị đâu đó hết. Đến khi giặc nó tràn qua, lửa cháy người chết thì vị Bồ-tát lại xuất hiện như với những cái mình đã chuẩn bị, thuốc đem ra, cáng đem ra, chăm sóc, nuôi cơm, nuôi thuốc người ta, dựng lại làng quê, gieo duyên hoá độ xong, bắt đầu mọi người mới yêu quý cái người này, không biết người này từ đâu tới mà đã chuẩn bị hết, đến khi mà giặc tan thì có có thuốc, có thang, có lương thực đâu đó hết, giấu đâu đó đem ra cứu làng, rồi sau đó mới giảng đạo cho làng nghe. Thì ta thấy một việc làm như vậy rồi sau khi ổn định người có người giữ gìn

[31:27]đạo lý cho làng rồi, vị đó lại đi khỏi, đi mất, đi qua nơi khác nữa. Như một vị Bồ-tát đi lang thang trong luân hồi cứu chúng sinh. Thì khi mỗi lần mà làm được như vậy thì vị Bồ-tát có phước không ạ? Có chứ. Khi có phước rồi vị đó buộc phải đứng lên địa vị cao. Ví dụ như khi tái sinh trở lại, vì đó không có nhập Niết-bàn mà tái sinh trở lại làm người thì với cái phước cứu làng cứu dân nơi này nơi kia tự nhiên lên chức tể tướng. Ví dụ nói không phải làm vua đi, cũng lên làm tể tướng đứng cận vua để mà giúp vua điều hành việc nước, đem đạo đức, đem đạo lý đến cho dân, vân vân. Đó, thì tự nó phải lên.

[32:05]Nhưng mà ở đây trong kinh Bát Nhã Đại thừa nói rõ: không chấp luôn cái địa vị của mình. Dù đứng ở ngôi vị nào, bởi vì khi nhân quả nó đẩy mình tới ngôi vị nào, dù đứng ở ngôi vị nào cũng phải xem nó như không. Nghĩa là mọi, nghĩa là trong việc đối xử thì mình vẫn bình thường, không thấy gì lạ. Nhưng trong thẳm sâu tâm hồn mình vẫn coi những điều này như không, địa vị này như không, chức vụ này như không, cả cái ta còn không có mà. Phải không? Thân không phải là ta, tâm không phải là ta, chẳng có gì là là ta. Nhưng một vị Bồ Tát sống như vậy, cho nên là khi mà quả báo tới, phước lành tới cũng tiếp tục xem như như không.

[32:45]Cho nên khi gây nhân tốt đã phải xem như không, khi quả báo tới, quả báo lành tới thì cũng xem như không. Đó là Bồ Tát Đại thừa. Và nhờ như vậy, nhờ cái xem như không vậy, cho nên một vị này là bất thoái chuyển trên con đường Phật đạo. Còn khi nào mà ta thấy có một cái, ta chấp một cái thì bắt đầu có một cái limit, có một cái giới hạn hiện ra. Nó đóng lại liền. Ví dụ bây giờ ta làm phước bao lâu ta không chấp gì hết á, thì nó không có cái ranh giới cái con đường phía trước ta đang đi không có ranh giới. Nhưng bỗng vì một lý do gì đó, vì ai nói bậy, vì ta khởi nghĩ bậy, bắt đầu ta tự khen mình.

[33:27]Ta tự khen mình thì cái giới hạn nó hiện ra, 10 kiếp sau bắt đầu tới đó dừng lại, mà ta vẫn còn đi tiếp được thêm 10 kiếp nữa. Tới 10 kiếp sau bắt đầu dừng lại, tự nhiên tuột lại từ từ, trí tuệ ta lúc đó mờ mịt một chút, công đức ta sút giảm một chút, uy tính này kia, uy đức giảm một chút, nghen, nó đứng lại, từ từ lui lại, vì cái chấp công của 10 kiếp trước. Như vậy đó, nghĩa là nói chuyện không phải là nói chuyện hai ba năm, 10 kiếp, 20 kiếp không. Phải? Mà từ bây giờ khởi một niệm chấp công, 10 kiếp sau bắt đầu ta mới đứng lại, chứ còn từ đây tới 10 kiếp vẫn còn đi tới được. Đó là lý do mà ta thấy có những người tại sao họ vẫn

[34:06]còn tâm xấu, tâm ác mà sao họ vẫn thành công? Vì thực sự cái ác, cái xấu họ nó khởi lên, nó đóng con đường thiện của họ lại, nhưng mà cái quả báo còn đi thêm 10 lần nữa, 10 kiếp nữa. Mấy cái đó điều đó rất khó hiểu. Những điều đó ta phải có đạo nhãn, thần thông, ta mới thấy được suốt hết cái con đường cái nhân quả, luân hồi, ta mới thấy được con đường của Bồ Tát đạo, vân vân, chứ không phải dễ. Có một lần thì có người sư huynh mới mới nói với thầy thế này: "Nói đúng là cái Nguyên thủy và Đại thừa Phật giáo khác nhau." Thầy mới hỏi: "Khác nhau chỗ nào, sư huynh?" "Khác nhau là Nguyên thủy chỉ nói về giải thoát, còn Đại thừa là nói độ chúng sinh.

[34:58]Hai cái khác nhau." Cái thầy mới nói hỏi: "Em hỏi sư huynh, Bồ Tát độ chúng sinh là dạy chúng sinh cái gì?" Ổng nói: "Thì dạy giải thoát." Nói: "Ủa! Thì như vậy đâu có khác gì Nguyên thủy đâu." Ổng mới gật đầu, ổng nói: "À ha!" Thì như vậy, ở nơi cái mốc này, Đại thừa và Nguyên thủy có khác nhau không? Không. Phật dạy là phải tu cho giải thoát, chăm vào mục đích đó. Thì ta mới thấy là để làm chi vậy? Nói mọi người mới thắc mắc, nói là: "Cái tư tưởng Đại thừa nó vĩ đại như vậy, mà tại sao không được triển khai từ thời Đức Phật còn tại thế, mà phải đợi 200 năm sau Đức Phật nhập Niết bàn, 600 năm sau Đức Phật nhập Niết bàn,

[35:45]bắt đầu mới xuất hiện cái tư tưởng Đại thừa vĩ đại này? Mà tại sao Đức Phật lại không có nói ra từ thời của mình?" Nói nếu Đức Phật nói ra từ thời của mình, thì sau này có sẽ có những người tự nhận mình là Bồ Tát đi độ chúng sinh, nhưng là nhưng mà hướng dẫn chúng sinh đi lạc luôn, vì không quay về được cái mục tiêu giải thoát. Cho nên thời tại thế Đức Phật chỉ nói giải thoát, thì sau này anh có làm cái hạnh gì đó anh tự lợi, lợi tha gì đó, cuối cùng phải quy đồng về về giải thoát thì mới không lạc đạo. Chứ còn nói: "Ồ, anh tu cho giải thoát kệ anh, còn tôi Đại thừa tôi tu đường khác", lạc đạo liền.

[36:24]Nhưng mà nói đường nào đi đường nào không biết, làm gì đó không biết, nhưng rồi cuối cùng phải quy về về giải thoát. Đó là chỗ mà đồng nhau giữa Nguyên thủy và Đại thừa. Và hiểu như vậy ta mới thấy cái sự sâu xa, cẩn thận của Đức Phật. Trong kinh Nguyên thủy Đức Phật dạy, nhiều điều ta nghe đơn giản, đơn giản nhưng mà cực kỳ chuẩn mực.

[36:48]Mà bây giờ sau này ai nói thiền sư, ai nói tổ sư, ai nói Bồ Tát sư, ai nói thánh sư gì không biết, dạy không thể nào bằng cái điều đơn giản Đức Phật dạy từ ngày xưa được. Thiệt á! Hồi xưa ví dụ như thầy vậy, khi thầy đến với Phật pháp thầy đến bằng con đường Đại thừa. Thầy không có được học kinh A-hàm, không được học Nikaya, vào thẳng các bộ kinh Đại thừa, vào thẳng gặp Thiền tông luôn. Bước vào đạo là cái cảm xúc của mình là như vậy. Cho nên là thầy cứ nghĩ rằng kinh Đại kinh Nguyên thủy nó đơn giản, thầy đọc qua thấy đơn giản quá, đọc kinh Đại thừa mới đã, đọc kinh Đại thừa mới thỏa mãn cái trí tuệ của mình,

[37:30]mà mình cũng tự nhận mình là người thông minh. "Ồ, kinh này mới đã, mới mới mới mới bay bổng cái trí tưởng tượng của mình." Nhưng mà đến khi đi tu, tu dần dần, tu dần dần, kiểm tra mọi điều trong thân tâm mình, trong cuộc sống mình, đi cuối cùng đi tìm những cái gì nó đúng dần, đúng dần, đúng dần, cuối cùng cái đúng nhất lại là của Nguyên thủy Phật dạy. Lúc đó bây giờ nếu mà ví dụ như thầy nói thầy là một người Bồ Tát đi, ví dụ thầy nói thầy là người hóa độ chúng sinh đi, thầy đi dạy đi, thì cái dạy chuẩn nhất cho chúng sinh là cái gì? Nguyên thủy. Nên vì vậy, chỗ này để hiểu ra rồi mới thấy Đại thừa

[38:10]cũng phải quy về Nguyên thủy, không được rời xa. Ví dụ như thầy nói cái dạy cái kỹ thuật về thiền, cái pháp môn về thiền mà ta nghiên cứu ở bên Thiên Thai giáo quán thì ngài Trí Khải dạy cũng rất nhiều. Nghiên cứu ở thiền sư, những cái lối dạy cực kỳ bí hiểm, phong phú, mà qua bên Nguyên thủy thì có những điều rất đơn giản thế này. Ví dụ nói là: "Cảm giác toàn thân, ta thở vào. Cảm giác toàn thân, ta thở ra." Cái câu này mình thấy như: "Ủa, làm gì cũng không rời khỏi thân hết trơn vậy?" Mà Đại thừa là cái gì nó cao siêu trùm pháp giới, phải không? Những tư tưởng như là đây chân tánh ba cao siêu trùm

[38:51]pháp giới, rồi thân này là cát bụi, là vô thường, là vô nghĩa, tại sao cứ bám bám theo cái thân? Mà lời Nguyên thủy là cảm giác toàn thân, tức là an trú dính với cái thân này. "An trú toàn thân, ta thở vào. An trú toàn thân, ta thở ra." Mà kinh Đại thừa thì pháp giới bao la vô tận, thân này là vô nghĩa. Nhưng mà đến khi tu cho đúng rồi thì mới thấy: tâm này đừng rời khỏi thân thì ta mới tiến đạo được, mà nó mới phù hợp với kiến thức của y học hiện đại. Là sao? Toàn bộ cái thân mình nó phản ảnh lên trên vỏ não hết. Đây là một y học thôi đó. Thí dụ một cái ngón tay mình nó nằm ở đâu, cái chân, cái đùi mình nó nằm ở vị trí nào trên vỏ não nó phản ảnh lên đó.

[39:31]Cho nên khi ta an trú được toàn thân thì cả cái vỏ não ta được an trú. Nhưng vỏ não an trú thì chưa phải nhập định, tại não ta còn nhiều lớp sâu nữa, những cái phần những trung khu thần kinh, những đại não, những cuống não, những tiểu não, và khốn khổ nhất là cái tuyến yên nữa. Nhiều vấn đề lắm, cho nên ta cứ từng lớp chồng lên từ từ mà tu, mà bám chặt cái thân mà tu. Ví dụ như hơi thở vào, hơi thở ra cũng vậy, thì cũng đừng rời thân. Nói: "Thấy rõ là thân ta đang thở vào, thân ta đang thở ra, đừng rời khỏi cái thân." Như vậy. Cho nên cái cái điều mà từ ngày xưa Đức Phật nói trong kinh Nguyên thủy nó đơn giản, gần gũi, nhưng lại là chuẩn mực số một.

[40:16]Cho nên cái Đại thừa đi đâu xa, bay bổng đâu nhưng rồi phải quy đồng về Nguyên thủy. Đó là cái điều mà ta phải hiểu rằng một vị Bồ Tát dù cao siêu nhưng không bao giờ rời khỏi cái quan điểm tư tưởng của Nguyên thủy như vậy. Ở đây nói: "Vậy Bồ Tát đứng chỗ nào trong tứ quả thánh mà Phật đã kê ra?"

[40:40]Tứ quả thánh thì gồm mấy vị? Tu-đà-hoàn, phải không ạ? Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán. A-la-hán thì coi như siêu rồi, giống như gần như bằng Phật á. Vậy Bồ Tát nằm ở chỗ nào?

[40:54]Bồ Tát nằm chỗ nào?

[40:59]Chính vì lúng túng chỗ này mà kinh Đại Thừa, các luận bản Đại Thừa dựng ra tiếp một cái thang quả chứng cho Bồ Tát riêng, không dính gì với cái tứ quả Thánh của gọi là của Thanh Văn đó, không dính gì hết, không có Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán gì hết mà bắt đầu là sơ địa Bồ Tát, nhị địa Bồ Tát cho tới tới Bát địa Bồ Tát rồi mới Thập địa Bồ Tát rồi Đẳng Giác Bồ Tát đủ thứ hết trơn, nghĩa là lập ra cái hệ thống tu chứng mới cho Bồ Tát. Nhưng mà lập ra thì lập nhưng cũng sợ A-la-hán vì A-la-hán khủng khiếp quá, đủ tam minh lục thông mà có nhiều Bồ Tát chưa có tam minh lục thông nên cuối cùng sau khi so đi tính

[41:43]lại thì các vị bên Đại Thừa đồng ý, chấp nhận cho rằng là quả vị A-la-hán tương đương với Bát địa Bồ Tát. Còn trên mà Cửu địa, Thập địa rồi là những vị Bồ Tát, Đại Bồ Tát đó gần như Phật. Nhưng mà nhưng mà A-la-hán thì ngang chỗ Bát địa Bồ Tát. Vậy nếu A-la-hán ngang Bát địa Bồ Tát thì cái Bồ Tát mà từ mà Thất địa, bảy địa trở xuống tới Sơ địa thì rõ ràng là dưới A-la-hán, đúng không ạ? Mà nếu dưới A-la-hán thì ngang ngang đâu chừng A-na-hàm xuống tới sơ quả Tu-đà-hoàn. Và như vậy nếu ai chứng Tu-đà-hoàn cũng được gọi là Bồ Tát. Do đó Bồ Tát có nhiều tầng bậc tu chứng. Nói: "Ủa, chứng Tu-đà-hoàn cũng được gọi là Bồ Tát là thế nào?"

[42:27]Ta không hiểu thì như thế này, dễ lắm không có gì. Ví dụ như như trong chùa mình vậy. Trong chùa mình cùng vô chùa tu với nhau cái cái một người khách lạ họ tới họ tìm hiểu đạo nói chuyện cái mình cũng nói chuyện đạo lý. Cái họ nhìn thấy có một cái người cứ lui cui ở dưới bếp á cứ nấu cơm, rồi bưng dọn, rồi hỏi qua nhà vệ sinh họ dọn dẹp, họ đi nhặt rác. Cái người khách mới chỉ cái người đó hỏi: "Cái bà đó bả là làm mướn ở đây chùa hả?" Thì mình mới nói: "Không, bà đó Bồ Tát á." "Là sao vậy?" "Tức là việc gì nặng nhọc, dơ bẩn không ai làm bả làm hết." Cái tinh thần bả chịu hy sinh như vậy mình gọi là Bồ Tát, có không ạ?

[43:09]Có, nói Bồ Tát ông kia hỏi: "Là sao vậy?" Nói: "Con người hy sinh chịu cực chịu khó, lo hết mọi việc như vậy." Vậy bả chứng quả gì? Bả chứng quả gì? Không biết, nhiều khi cũng chưa quả gì hết trơn á. Nhiều khi cũng chưa quả gì nhưng mà mình thấy một người sống tốt, phải không ạ? Tử tế, vị tha, không lo cho mình, mình cũng phong luôn là Bồ Tát luôn, cái này là mình phong thôi. Mà mình cũng hay phong kiểu đó lắm, đúng không ạ? Thấy ai tốt tốt mình cũng phong là Bồ Tát. Nên như vậy cái khái niệm Bồ Tát nó rất là rộng. Từ con người sống tốt cho tới A-la-hán rồi tới trên A-la-hán luôn rồi đều là Bồ Tát có nhiều tầng bậc như vậy.

[43:53]Và có một cái điều đặc biệt là thế này: Khi ta bắt đầu ta phát tâm tu hành để chứng ngộ thì nhiều khi ta đa được gọi là gì? Bồ Tát sơ phát tâm. Tôi thấy nó nghĩa là cái sự cởi mở, rộng rãi của cái danh hiệu Bồ Tát nó dễ dãi như vậy. Nhưng mà khi càng đi lên thì càng khắt khe, không bao giờ ta dám nhận mình là Bồ Tát. Nhưng mà khi mà ta phát tâm tu tập đi tìm sự giác ngộ vô thượng, nghĩ đến cái sự yêu thương chúng sinh chìm trong cảnh khổ và muốn làm cái gì đó thì ngay lúc đó ta được gọi là Bồ Tát sơ phát tâm. Mới phát tâm ban đầu, mới sơ sơ phát tâm thôi rồi sau đó thì sao? Quên mất cái phát tâm hồi nãy của mình bắt đầu chìm vào dòng đời quậy tiếp.

[44:44]Cho nên, từ cái Bồ Tát sơ phát tâm mà cho tới những vị mà Bồ Tát bất thoái chuyển trong khoảng thời gian đó vị Bồ Tát vẫn phạm nhiều lỗi lầm, vẫn tạo một số nghiệp xấu chứ không phải là không. Vì sao? Vì chưa đủ trí tuệ. Mà thậm chí nếu chứng được Tu-đà-hoàn rồi vẫn còn phạm sai lầm. Nói: "Ủa, chứng rồi sao còn phạm sai lầm?"

[45:13]Cái tội nghiệp nhất của một vị Bồ Tát mà chứng Tu-đà-hoàn là chỗ này: là chưa đủ thần thông. Tư-đà-hàm thì bắt đầu có nháng nhã thần thông rồi. A-na-hàm rồi thì không thể sai nữa. Nhìn chuyện gì cũng biết, nhìn người nào cũng biết. Nhưng mà Tu-đà-hoàn thì vẫn còn phạm sai lầm ở chỗ là không biết hết về cuộc đời, không biết hết về quá khứ, vị lai của sự việc nó diễn biến ra sao, cũng không biết hết về cái con người. Như vậy cái vị Tu-đà-hoàn á nhiều khi mà trước khi chứng Tu-đà-hoàn tâm họ đã tốt rồi, rồi ta cũng phong họ là Bồ Tát rồi, họ ráng họ tu tập lo cho huynh đệ, nhưng mà do mơ chưa chứng Tu-đà-hoàn nên rất nhiều kiết sử bên trong còn, nha.

[45:58]Rõ nghĩa là muốn tốt với chúng sinh lắm, muốn hy sinh, muốn dấn thân, muốn làm phước lắm nhưng mà sự phát tâm cũng chưa thể vô biên được mà lòng tôn kính đối với Đức Phật nhiều khi cũng không hiểu hết về Đức Phật. Mà không hiểu hết về Đức Phật thì làm sao mà tôn kính Phật tuyệt đối được. Đó là lý do mà thầy cố gắng thầy viết cái bộ truyện tranh Đỉnh Núi Tuyết là vậy đó. Nên mọi người cố gắng mà đọc cái cuốn bộ truyện tranh Đỉnh Núi Tuyết, đọc từ từ từng tập, từng tập, ta cứ tích lũy lên dần dần cái ta hiểu lên về Đức Phật dần dần dần dần rồi ta tới ngày nào đó ta khởi lên lòng tôn kính Phật tuyệt đối,

[46:32]coi chừng đang đọc cuốn Đỉnh Núi Tuyết chứng luôn Tu-đà-hoàn luôn ngay đó luôn. Không nói thật, thầy nói thật vì cái cái lòng tôn kính Phật là cái thước đo thánh quả của ta. Mà hễ tới được tuyệt đối rồi là ngay đó ta chứng Tu-đà-hoàn. Thì một vị Tu-đà-hoàn á còn phải lăn đi lộn lại trong cái cõi người này nhiều lắm và cũng phạm không ít sai lầm. Cái người đó rất là tốt, khẳng định đối với điều thiện, khẳng định giữa đúng và sai rạch ròi. Nhưng sao? Không biết hết mọi điều. Ví dụ lại một người họ lại họ ngon ngọt họ nói chuyện mình một lát mình xiêu lòng mình nghe lời người ta liền trong khi đó là cái tay lừa đảo,

[47:10]dụ dỗ dắt mình vào con đường bậy bạ cũng bị dụ liền chứ không phải là không. Giống như ngài Thái Hư đại sư ở bên Trung Hoa, ngài là người mà phát động cái cuộc mà chấn hưng Phật giáo á. Đó là những cuộc cách mạng về giáo lý, cách mạng giáo sản, cách mạng giáo chế từ cái cảm hứng của ngài Thái Hư đại sư mà lan qua Việt Nam, không biết có lan qua hay không mà lúc đó cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc cụ nói là hễ muốn đánh Pháp phải phục hồi lại đạo Phật cái đã rồi mới đánh Pháp gì mà đánh. Rồi ngài đi thuyết phục, ông mấy cụ mới đi thuyết phục các chùa thì gặp ngài Hòa thượng Khánh Hòa ở chùa Tuyên Linh, Bến Tre rồi trở thành đồng chí.

[47:46]Cái vị đó mới bắt đầu khởi động cuộc chấn hưng đạo Phật, mở trường dạy học kêu gọi người ta thức tỉnh đạo Phật dậy. Nhưng mà lúc đó nó hơi trễ hơn cái cuộc chấn hưng đạo Phật của ngài Thái Hư bên Trung Hoa một chút. Ngài Thái Hư á bên Trung Hoa á khi mà tịch ngài thiêu ra 132 viên ngọc xá lợi, viên kim cương lấp lánh lấp lánh. Ngài có những lúc ngài ngồi thiền nhập định cả đêm, ngài đọc cái kinh Bát Nhã ngài hốt nhiên ngộ đạo. Nhưng ở khoảng đầu cuộc đời của ngài, ngài cũng lăn xăn tùm lum chuyện. Thậm chí nhảy vô chính trị, gia nhập chính trị làm việc thử. Sau này ngài mới viết lại trong cái cuốn hồi ký của ngài, ngài có nói một cái câu:

[48:26]"Ta cũng nghĩ như là an ủi nhưng phải biết rằng Bồ Tát có nhiều khi cũng vấp sai lầm." Trong cái đoạn ngài ghi thế này, nghĩa là: "Ta cũng đã có những lúc can đảm đi vào ma đạo." Tức là có những lúc mà ngài nghĩ rằng ngài vào đó để làm được việc cho cuộc đời, cho con người, cho đạo pháp. Tới chừng vô đó làm không được ngài rút trở ra, vô đó khủng khiếp quá. Ngài chịu không nổi, ngài với cái tâm thiện của một nhà sư á vô đó chịu không nổi. Nó lừa qua nó nói bậy lại mình thì dễ tin, mình thì cả đời mình không dám nói dối một câu nên ai nói gì mình cũng tưởng thiệt, nhưng không ngờ nó nói vậy chứ không phải vậy.

[49:05]Câu chuyện nó dựng lên cho đẹp vậy chứ không phải vậy, toàn bịa không. Như vậy thầy có kể chuyện mà đây là một câu chuyện thật. Nói chuyện trong một cái bang hội của của thế giới đó, ừ chuyện cái bang hội. Một cái bà gọi là bà trùm bả kế thừa cái bang hội từ ông chồng bả, chồng bả chết rồi để lại bả nắm quyền. Thì bả nắm quyền á thì bả có đứa con gái, con gái nuôi thì cũng nhiều đứa lắm, mà đứa con gái nuôi này nó đặc biệt hơn những đứa khác bởi vì bả trong một trận đánh thì bả cứu được cái cái giữ bảo vệ được cái người mẹ, bả đang mang bầu bả không muốn bà mẹ chết thì vì sợ chết đứa con trong bụng vì bà này bả cũng nhân đức lắm.

[49:45]Nên bả bả đem bả giấu được cái người mẹ cho sanh ra luôn. Cho sanh ra luôn rồi bà kia mới mới mới chết. Bả bảo vệ rồi có đứa con đỏ hỏn là bả nghĩ là đứa này nó vô tội, nó chả dính líu gì phe đảng đánh nhau gì cả mà thấy bìa nó bơ vơ mồ côi tội nghiệp bả bưng về bả nuôi, làm con nuôi rồi lớn lên cho đi học cái đồ. Lớn lên bả đào tạo giỏi rồi trở thành cái người trợ lý đắc lực cho bả. Vậy đó, thì mọi việc cũng tốt đẹp bình thường, nó học cũng giỏi rồi cũng phụ với mẹ nuôi mình mọi điều tốt đẹp chả có gì cả. Cho đến khi mà cái phe giặc nó nghiên cứu nó tìm cách nó tấn công bà này, nó tìm ra những kẽ hở của bà thì phát hiện ra cô con gái nuôi này.

[50:25]Và nó dàn dựng một câu chuyện nó chuẩn bị hết. Bí mật tiếp cận, nó cho một người tiếp cận và người đó phẫu thuật thẩm mỹ lại. Cái gương mặt giống hao hao với cô con gái nuôi đó. Nhìn vô cô này ngạc nhiên liền, nói: "Sao có người giống mình?" Người kia mới nói: "Ta là cậu ruột của con. Ta đi tìm con bao nhiêu năm nay mà không tiếp cận được, bây giờ biết con đây ta mới gặp con bí mật. Ta là cậu." Nói cậu, "Ừ, ta là em của mẹ con." "Ủa, vậy là mẹ con thế nào?" Nói: "Mẹ con như thế." Ổng dựng lên cả một câu chuyện một lý lịch: "Mẹ con là một người cao thượng như thế, là người tốt." Thật sự mẹ là ngày xưa đi buôn ma túy chứ không có gì hết trơn á.

[51:00]Nhưng mà dựng lên mẹ con cao quý như thế vậy, cho nên dòng máu con là dòng máu cao quý nhưng mà cái người mẹ nuôi của con hiện nay là giết mẹ con, giết ba mẹ con cướp con đem đi nuôi. Đó mới là kẻ thù của con. Bây giờ ta đã gặp được con rồi ta phải trả mối thù này. Từ đây ta liên lạc bí mật con đừng cho bà đó biết." Thấy, "Ủa, sao nào giờ không ai nói chuyện này con nghe?" Nói: "Ai dám nói, nói bà đó bả giết liền." À, thế cô này tin như bắp, từ đó móc dính bên kia, truyền tài liệu đồ qua hết, truyền những bí mật qua hết, hợp tác bên kia, cho tới cái ngày chín muồi, nói cái bình trà này con cho con rót nước trà vô

[51:37]tư, nó tiết ra chất độc cho bà mẹ nuôi bà uống. Thế là cái cô đó giết cái người mà đã cứu mình, đã yêu thương mình, chỉ vì một câu chuyện nó dựng lên mà nó dựng như thật. Ta nhớ như vậy. Cho nên khi ngài Thái Hư cũng vậy, ngài bước đi vào cái thế giới đó ngài chịu không nổi, ngài thấy nó không có gì là sự thật, không biết bám lấy chỗ nào để gọi là chính nghĩa là sự thật để ngài có thể mà phát huy cái đạo của ngài cho cuộc đời, lật đật ngài rút ra trở lại rồi đi thuần tu thôi, đi giảng đạo, thuần tu hành, rồi tu hành chứng ngộ, rồi tịch, tịch để lại 132 viên ngọc xá lợi lấp lánh lấp lánh. Như vậy.

[52:14]Thì nhớ là Bồ-tát là vậy. Trong cái cuộc đời mà giáo hóa và tu hành, vừa giáo hóa vừa tu hành thì các vị cũng phạm nhiều sai lầm. Mà phạm sai lầm thì sao? Quả báo phải có hết, đều phải trả. Đó là lý do mà ta thấy có những vị thiền sư lỗi lạc mà mà chết thảm. Giống như ngài Nham Đầu Toàn Hoát, ngài là một bậc thiền sư chứng ngộ mà chứng cao hơn cả ông thầy của mình. Cái sức ngộ đạo, sức chứng của ngài cao hơn cả thầy mình. Mà mà sau này ngài nghĩa là ngài chính ngài gợi ý cho thầy mình được chứng ngộ cao lên hơn là ngài Toàn Hoát Nham Đầu. Những điều ngài dạy thì nó nghiêm khắc và cao siêu. Ờ sau này cái ngài ít nói, mỗi lần ai hỏi câu đạo lý ngài chỉ hứ một tiếng à.

[53:10]Người ta không hiểu. Sau đó có nhiều người than, nói: "Thưa thầy, thầy không chịu giảng, tụi con không phải là một bậc thượng căn mà thầy có thể hứ một tiếng, quát một tiếng mà tụi con lĩnh hội được, xin thầy hãy nói rõ ràng." Ngài chỉ nói một câu: "Khi ta đi, ta sẽ thét một tiếng." Cũng chỉ nói câu đó. Mà đúng vậy, lúc đó là giặc giã, loạn lạc, nước này oánh nước kia, phe kia oánh phe nọ. Có một lần đó giặc tràn tới, tăng chúng sợ quá trốn đi sạch, ngài ngồi đó ngài lặng lẽ chờ, chờ nó tới. Giặc tới cái nói: "Bọn ta đi đánh cực khổ, chiến tranh cực khổ, tới cái chùa này không có gì ăn hết." Tại vì tăng chúng đi xách gạo,

[53:56]mỗi người đùm nắm chạy mất luôn, tới đây không có gì. "Ngươi là trụ trì hả? Không có cái gì đãi bọn ta hả?". Rút gươm ra đâm ngài một cái tim, đâm ngay tim phun ra một làn sữa trắng, máu ngài là sữa trắng. Lúc đó ngài mới hét lên một tiếng, gọi là vang xa 10 dặm, lúc đó mới biết là ngài có thần thông, thần lực của ngài rất là khủng khiếp, hét một tiếng vang xa 10 dặm đường. Mà sữa trắng phun ra chứ không phải máu đỏ, kỳ lạ như vậy. Sự chứng ngộ của ngài cái gì đó, cảnh giới mình không hiểu. Nhưng mà ngài cũng trả quả báo là gì? Chết thảm. Chết thảm. Đó là những cái sai lầm ở kiếp trước. Đời đó mà ngài chứng cao tới mức độ đó thì không

[54:40]phải là ngài mới tu một kiếp, phải không ạ? Phải tu rất nhiều kiếp. Đó. Mà trong những nhiều kiếp tu hành đó, đôi khi ta phạm sai lầm. Mà đôi khi ta phạm sai lầm vì sao? Vì ta không biết hết về cuộc đời, về con người. Cho nên đã có lúc bị người ta dụ, bị người ta lừa. Thì tất cả mọi người ngồi ở đây cũng vậy, cũng toàn là Bồ-tát không á chứ không phải không. Nhưng mà sao? Bồ-tát thêm ba chữ nữa mới đúng: "Dạ, tụi con là Bồ-tát còn bị lừa." Nha. Mà tới Bồ-tát mà hết bị lừa là tới A-na-hàm. Còn cỡ mình là cũng là Bồ-tát chịu đi chùa, từ tâm, nghe Pháp, chịu tu hành, chịu khởi tâm thương người, tụng bài kinh thì cũng

[55:28]gọi là Bồ-tát sơ phát tâm, nhưng Bồ-tát này ai nói bậy tin theo. Nên gọi là Bồ-tát còn bị lừa. Kinh Phật thì gọi là Bồ-tát sơ phát tâm, nhưng mà thầy chế ra một cái từ mới để tặng cho quý Phật tử yêu thương của mình: các Phật tử là những Bồ-tát còn bị lừa.

[55:51]Và thế gian này đầy những kẻ lừa đảo.

[55:57]Mà cái sự lừa đảo nó từ cái sơ sài lộng lẫy nói dối nhỏ nhỏ cho tới những cái mức độ mà gài bẫy tinh vi. Nha. Như cái chuyện mà cô con gái nuôi á, bị nó gài một cái tin cái là cái người mẹ mà yêu thương mình hết lòng, cứu mình từ trong bụng cho tới ngày lớn mà mình đành tâm đánh thuốc độc giết bà luôn. Chỉ bởi vì một cái câu lừa mà mình trở thành tay sai của giặc, tay sai của kẻ thù. Những cái bang hội đánh nhau dữ dội lắm mà nó đòn rất là độc. Nó chuẩn bị để nó xưng là cậu, nó đi giải phẫu thẩm mỹ làm cho gương mặt hao hao giống, nhìn là thấy giống liền, tin liền. Rồi thuyết phục, dựng cả một câu chuyện về gia

[56:35]thế toàn là chuyện bịa, chuyện xạo không. Sự thực cái người mẹ này trước chỉ là một tay buôn ma túy, bị giết, nghĩa là bị xử tử nhưng mà bà kia ráng giấu lại để cho sinh được đứa con để bảo vệ đứa con sợ nó vô tội, nhưng mà rồi cái oan trái vẫn là như vậy. Nhưng mà rồi cái bà kia bả không chết, bả nhân đức quá đó, cho nên là cái nhân quả bảo vệ bả. Rót cho bả ly nước trà, bả vừa cầm lên bả định uống thì lại có chuyện xảy ra bả để xuống. Bả lại xử lý xong bả cầm ly nước lên định uống lại có chuyện. Qua hơn một tiếng đồng hồ cái ly bắt đầu nó đổi màu. Lần này bả uống thiệt, bả cầm cái ly bả thấy nó đổi

[57:12]màu, và bả nhớ là đứa con gái nuôi bả mới là người duy nhất được quyền rót nước cho bả uống. Thì bây giờ nước đổi màu, bà mới báo là: "Thôi con đừng vào phòng mẹ, mẹ muốn nghỉ." Bả chốt cửa lại, bả múc ra một ít giọt nước, bả gọi một chuyên viên kỹ thuật giám định tới đi luồn cửa sau bả đưa ra, coi là cái gì. Nửa tiếng sau báo lại, đó là loại thuốc kịch độc, bả hớp một hớp một, 5 tiếng đồng hồ sau bả lên cơn nhồi máu cơ tim chết, không tìm ra nguyên nhân. Nhưng bả thoát được. Thoát được nhưng mà bả không hiểu tại sao con gái nó giết mình, tại vì từ nhỏ tới lớn không có một cái gì sai, bả không bao giờ làm điều gì xấu với nó,

[57:50]thương yêu nó khu khu, dạy dỗ nó đàng hoàng, tại nghĩ nó mồ côi. Vậy thôi. Mà không hiểu lý do tại sao bỗng nhiên nó lại giết mình. Cho đến khi mãi rất lâu sau mới tìm ra một sự thật là nó bị lừa, bị giặc dựng lên một câu chuyện móc nối nó, biến bà thành kẻ thù trong khi bà là người mẹ nuôi đáng lẽ nó phải thờ, nó phải đội trên đầu vì bà cứu nó, chứ không là nó chết chung với mẹ nó trong cái bào thai. Nhưng bây giờ giặc nó bịa câu chuyện cái lập tức biến thành kẻ thù liền. Và ta bây giờ cũng vậy, ta cũng là những Bồ-tát còn bị lừa. Như hôm nay quý Phật tử yêu thương thầy không ạ? Yêu thương thầy mới tới đây nghe thầy giảng phải không ạ?

[58:32]Nhưng có một kẻ tới nói với ta rằng: "Cái người mà đứng nói hay hay trên đó thực sự cuộc đời ổng là không phải vậy, đó là một tay lừa đảo. Trước đây là cướp của, giết người, hiếp dâm, trốn trại truy nã, bây giờ ổng hóa trang lại ổng lấy ổng cướp ổng giết cái ông tên thật đó, ổng lấy giấy tờ đó, rồi bây giờ ổng làm thầy tu đứng lên đó giảng pháp tòa. Chứ sự thực đây là con người nguy hiểm nhất thế giới này." Nói một lát bắt đầu mình tin á. Tin không? Bây giờ nói miệng ngon vậy chứ tới chừng nó nói hay quá tin á. Nói nói: "Tại sao mà anh dám nói thầy tôi là một kẻ là là lốt người khác?" "Tại vì cái ông thầy thật sự là tôi là người hàng xóm

[59:16]ở bên cạnh, ông đó cái ông mà ông mà Chân Quang thật sự đó, hồi nhỏ ổng có một cái bớt nhỏ bên cổ bên đây. Tôi nhỏ tới lớn tôi làm bạn với ổng, tôi biết mà. Còn ông này không có, không có vết xóa, nó tự nhiên. Đây là một con người đã được tráo. Bây giờ giả bảo cái ông kia chắc bị giết mất xác rồi, ông này là tráo đứng lên trên pháp tòa để giảng pháp." Nói: "Sao giảng hay vậy?". "Thì nó lanh nó giỏi nó giảng hay." Rồi nói một lát dám tin lắm à nha. Tin không ta?

[59:53]Bây giờ thì nói nghe ngon, nhưng đây thầy nói thật, rất nhiều người đã tin những lời nói xấu thầy kiểu đó rồi. Nó đã dựng lên bịa chuyện và nó đánh tan chùa năm 2009 một lần rồi, cũng cái kiểu bịa chuyện kiểu đó. Mà bây giờ vẫn còn những người trong cái thế lực đó đi rải rác khắp nơi vào các đạo tràng cũng nói xấu thầy kiểu đó. Nói xấu bịa kiểu này bịa kiểu kia ghê lắm chứ phải không. Nhưng mà nói mà nếu mà thầy nghe được nhiều khi thầy cũng không tin thầy còn là Chân Quang thiệt hay không nữa luôn. Nói hay tới mức độ như vậy đó, chứ không phải dễ đâu. Nào giờ thầy biết thầy là Chân Quang, thế mà nghe nó kể chuyện về thầy một lát

[1:00:25]thầy không biết không biết phải mình là Chân Quang hay mình đội lốt ông Chân Quang nào thiệt hay không, tức là nó dàn dựng câu chuyện chặt chẽ đến như vậy. Nhưng có bên Mỹ có cái phim là Focus, là tập trung. Ở Việt Nam dịch là Chớ Mắc Bẫy. Phải không ạ? Tức là trong đó là cái nhóm này là nhóm băng đảng chuyên đi móc túi và gài bẫy lừa đảo người ta. Thì cái cô này là cổ cũng thất cơ lỡ vận rồi cổ cũng thích ba cái cổ tham gia. Tham gia này được cái người người yêu mới dạy những nghề móc túi, biểu diễn cho coi, nghĩa là cổ đeo cái nhẫn này, cổ đeo cái đồng hồ, cổ xách tay theo mà ông kia chỉ làm động

[1:01:01]tác là ổng lấy của cổ hồi nào cổ không hay nè, đưa cái giỏ xách, ú, thoát khỏi vai cổ hồi nào không hay. Cái vừa cổ vừa mới hốt hoảng cái ổng nói: "Nè cái nhẫn này nè, tuột ra khỏi ngón tay hồi nào không hay." Cổ vừa mới hốt hoảng cái là ổng lấy luôn cái đồng hồ cổ đưa ra. Cổ sững sờ luôn. Ờ thì ổng mới nói là gây cho người ta một cái tập trung chỗ khác thì cái phần còn lại mình lấy cái ví, móc ví là chuyện cực kỳ đơn giản. Cái mà lấy ví á, móc bóp người ta là chuyện dễ nhất trên đời. Thì đó, và trong một đám đông, cổ cứ đi qua một một dọc vậy đó là tất cả mất mất bóp mất đồng hồ hết mà tay cổ không có cầm gì hết, cổ đi tay không.

[1:01:32]Đồ thì mặc váy, không có túi để giữ, nhưng mà đồ người ta lấy sạch hết, vì sao? Vì có nguyên một đồng bọn. Cổ vừa lấy xong là có người là chụp tay đưa đi, cổ ném qua cái người kia chụp chụp chụp, tất cả đồng bọn hứng hết đem về mở ra một thùng đầy đồ hết trơn. Đó, tức là cổ nghĩ cổ cũng siêu đẳng rồi, nhưng mà còn thua cái ông người yêu. Là hôm đó ngồi trên cái cái cái cái trò đua ngựa, cổ với ông người yêu ngồi đó thì ông này cứ hai người cá nhau: "Em với anh ăn nhau một đô mười đô, cái cái con ngựa nào sẽ làm gì làm gì." Thì có cái ông bên cạnh thấy vậy cũng tham gia, tham gia cá. Thì cá một lát nóng mặt lên cá tới một ngàn đô.

[1:02:09]Cái ông này cái ông mà ông mà chuyên môn móc túi đó, cái ông người yêu ổng cứ thua. Lần lần lên tới 100 ngàn đô, kéo nhau vô trong cái phòng chuyên nghiệp đánh nhau tới một triệu đô, ông kia thua bức luôn. Mà tiền đó là tiền của nguyên cái băng nhóm. Cái cô này cổ tuyệt vọng cổ thua hết rồi chính tiền của cổ nằm trong đó bị ông đem đi ổng bỏ lên trên ván bài đó luôn, thua luôn. Thế sau cái nói thôi ổng tính bỏ dắt cô này đi ra rồi, quay trở lại nói với cái ông kia. Nói bây giờ thôi cá lại một chuyện cuối cùng: "Anh chọn một người nào ở trong đầu anh á, một cộ một cái tay nài ngựa đó, cái số nài ngựa thì cái cô người yêu tôi cổ sẽ nói lên cái số đó.

[1:02:45]Mà nếu trúng thì hai triệu đô." Tức là ổng gỡ lại hết. Ai dám cá kiểu đó không? Cái ông kia nói: "Anh điên rồi anh mới cá kiểu kỳ cục như vậy, vì phần thắng là thuộc về tôi chắc rồi. Tại vì tôi chọn một người trong đầu tôi biết, mà cô này không thể nói chính xác về cái người trong đầu tôi được." Ổng nói: "Thôi, giờ tôi liều mạng như vậy, 2 triệu." Cậu kia mới cầm cái ống dòm lên ổng quan sát bao nhiêu người nài ngựa, rồi ổng chọn một người, nói: "Bây giờ anh có cần tôi ghi giấy nắm trong tay để một lát tôi không cãi?" Ông kia nói: "Không, tôi tin anh, không cần phải như vậy. Dân chơi với nhau, trong đầu anh nghĩ con số nào

[1:03:16]anh giữ đó thôi, không cần anh phải ghi lại. Tôi tin là anh không nuốt lời." Rồi bắt đầu mới đưa đồng hồ đưa cái ống dòm cho cô này cổ nhìn. Cổ nhìn, cổ chọn cái số 55, tại cổ thấy một cái người đồng bọn trong phe cổ cũng mặc đồ nài ngựa đứng ở dưới đó, mang số 55. Cổ nói: "Số 55." Tay kia sững sờ. Phải chung 2 triệu. Mà không biết tại sao là cô kia lại chọn đúng cái người mà trong đầu mình chọn hồi nãy. Tới chừng cô này cổ về, cổ mới điều tra ông người yêu, ông kia nói: "Thực ra anh theo cái tay này lâu rồi. Tay này là chuyên môn cá độ. Và anh sẽ gài cho nó thắng anh, thắng anh cho tới cái cái kịch tính

[1:03:51]cuối cùng là anh mất hết sạch tiền, anh quay lại 2 triệu đô. Và anh đưa ra cái cái ván cược cuối cùng, tức là cho nó tự nó chọn một con số, và em sẽ là người nói. Mà chắc chắn em sẽ nói cái số này, số 55 này vì đó là em nhìn thấy đồng bọn em mặc cái đồ nài ngựa ở dưới, em sẽ chọn số đó. Còn tay kia cũng sẽ chọn, bởi vì suốt 1 tháng nay, tụi anh đã gài vào tiềm thức nó con số 55 này. Nó bước vô khách sạn chỉ thấy con số 55, nghe nhạc phát ra chỉ thấy con số 55, đi đâu anh rải cái số 55 suốt đường suốt phố, và nó nhập vào tiềm thức nó, anh thuyết phục trong tiềm thức của nó rồi. Cho nên nó không, nó cứ tưởng là trực giác cho nó biết con số 55,

[1:04:26]nhưng không ngờ anh đã thôi miên ám ảnh nó cả một tháng nay. Cho nên, cái ván thắng hai chục 2 triệu đô la này tưởng như anh là cầu may, nhưng anh đã dàn dựng chuẩn bị rất kỹ." Chúng ta gặp đó ta cũng thua liền, tại chúng ta đang là Bồ-tát còn bị lừa.

[1:04:46]Và nhớ, vì ta là Bồ-tát còn bị lừa nên ta còn tạo nhiều nghiệp xấu và còn phải quả trả quả báo. Mà trong cái mà làm nhiều nghiệp xấu á, có một cái là tiếp ta tiếp tay cho nó phá đạo. Ta tiếp tay cho nó hạ nhục Bổn Sư của mình. Ta tiếp tay cho nó làm mất niềm tin với Phật, với Pháp, với Tăng. Tội đó khủng khiếp, ta trả khủng khiếp lắm. Nên vì vậy, hôm nay ta nghe cái bài Bồ-tát Đại thừa này, ta biết rằng mình cũng đang đi trên con đường Bồ-tát này chứ không phải là không, dù cái từ khiêm tốn là Bồ-tát sơ phát tâm hay là thầy nói một cách khôi hài là Bồ-tát còn bị lừa, thì nhớ tỉnh táo, đừng để rơi vào cái âm mưu hiểm độc là phá đạo.

[1:05:36]Nhớ nha, cái đó quả báo khủng khiếp lắm. Nhớ, bị lừa gì có thể mất tiền thôi cũng được, bị lừa chút mất danh dự thôi cũng được, nhưng đừng để bị người ta lừa, người ta tác động, người ta dựng chuyện dắt mình đi vào cái việc phá đạo nha. Cái đó là tội khủng khiếp lắm, nhiều khi mất luôn cái Bồ-tát sơ phát tâm luôn, trở lại thành một kẻ ác độc, trở lại thành một kẻ ác độc. Như có một lần vậy, có một cái đạo tràng ngoài Bắc, bắt đầu là giặc nó luồn vào trong đạo tràng cùng tu tập, bắt đầu nó tác động nó nói bậy, thì may mắn là thầy phát hiện ra. Thầy mới bẻ gãy cái âm mưu đó, đuổi hết mấy cái người xấu ra khỏi đạo tràng.

[1:06:12]Thì lúc có một cô Phật tử, cổ mới nói câu này: "Cũng may là Sư phụ phát hiện ra giặc rồi đuổi đi, chứ còn không con cũng chuẩn bị trở thành giặc rồi." Tức là nghe nó thuyết phục quá, bắt đầu chuẩn bị tiếp tay đánh phá đạo luôn, làm vỡ đạo tràng luôn. Cổ mới tiết lộ câu đó: "Nếu không con cũng chuẩn bị thành giặc rồi." Mà từ là một người tốt ban đầu đến với đạo lòng rất chân thành, rất trong sạch, chỉ mong mỏi được tu hành. Nhưng mà đến khi nghe lời giặc nó bơm, ừ nghe lời nó tác động riết, mình cũng trở thành nói này kia, đi rủ người này kia nói bậy nói bạ để phá tan hết lòng tin của mọi người.

[1:06:48]Rồi như vậy còn là Bồ-tát sơ phát tâm không? Mất luôn, trở thành ác quỷ luôn. Cho nên, trong cái giai đoạn này, trong giai đoạn mà ta còn là Bồ-tát sơ phát tâm, còn là Bồ-tát còn bị lừa nè, nhớ đừng để bị lừa trở thành người phá đạo, vì đó là tội nặng nhất. Có thể ta mất hết tài sản cũng không sao, đừng để mất cái đạo tâm mình và đừng làm mất đạo tâm của người khác. Cái đó là khủng khiếp lắm, nhớ như vậy.

[1:07:21]Trong các kinh Bổn Sanh của hệ thống kinh tạng Nikàya thì kể hết chuyện tiền kiếp này tới chuyện tiền kiếp kia của Phật. Thì khi ta đọc, ta đọc cái chuyện Bổn Sanh đó, ta sẽ thấy thế này: mới đầu ta cứ tưởng hễ Bồ-tát là thần thông quảng đại. Nhưng mà ở trong cái bộ Bổn Sanh đó thì Bồ-tát, tức là Đức Phật á, tiền thân của Đức Phật á, có những khi là những người rất bình thường, nhưng mà chỉ cư xử khôn ngoan thôi. Cư xử khôn ngoan để bảo vệ những người chung quanh mình, cư xử khôn ngoan đừng bị lừa, cư xử khôn ngoan để mà nói được cái điều đạo lý chút chút vậy thôi chứ không nhiều lắm. Tức là cái Bồ-tát á không phải luôn luôn hễ chữ Bồ-tát là cao siêu.

[1:08:09]Mà ta đọc trong Bổn Sanh ta mới mới mới mới thấy, hồi xưa á lúc nào thầy cũng nghĩ Bồ-tát là phải có phép. Cho nên đọc cái Bổn Sanh trong kinh Nikàya sực thấy nó thường thường á, sao kỳ sao? Bồ-tát là Bồ Phật là Bồ-tát mà sao những chuyện nói về Bồ tiền thân của Phật này nó nó thường quá như người thường. Nhưng mà sau này tu lâu rồi mới thấy rằng nó chính xác. Trong vô lượng kiếp mà Đức Phật tu hành, Ngài cũng phải đi qua những giai đoạn như vậy, những giai đoạn làm Bồ-tát mà lúc ấy chưa có thần thông. Chỉ có một điều là cái tâm của Ngài là thiện ác rạch ròi, đúng sai dứt khoát, chỉ vậy thôi. Mà khi ta tu đến một mức độ nào đó thì ta cũng

[1:08:51]đạt được điều đó, ví dụ như là Tu-đà-hoàn. Tu-đà-hoàn là bắt đầu được điều này: là thiện ác rạch ròi, đúng sai dứt khoát. Thiện ác rạch ròi, đúng sai dứt khoát nghĩa là sao? Nghĩa là như thầy nói nhiều lần rồi. Như Phật dạy, dù là một điều ác nhỏ như hạt bụi cũng dứt khoát không không làm, dù điều thiện nhỏ như hạt bụi cũng ráng mà làm, không bỏ sót gì hết. Thì đó, Phật đã dạy trong cái Tứ Chánh Cần thì Bồ-tát cũng vậy. Nhưng mà ở đây ta bị thử thách điều này, ví dụ như bây giờ là

[1:09:35]có một người mới nói thế này: "À, tôi muốn tặng cho cái cô đó một cái đồng hồ nhưng mà sợ cô không nhận. À, vậy tôi muốn có một cái điều bất ngờ, làm sao lén bỏ cái đồng hồ này vô trong cái giỏ của cổ để cho rồi cổ bất ngờ rồi cổ đành phải nhận, chứ còn tôi đưa ra công khai nhiều khi cổ không nhận, cổ ngại. Bây giờ nếu anh có cách nào, anh lén lén lại anh bỏ cái đồng hồ vô túi của giùm, tôi cảm ơn anh." Thì mình làm không? Mình làm không?

[1:10:09]Không làm. Mắc gì làm? Tự nhiên chuyện hơi phức tạp quá, phải không? Nhưng nếu người ta nói thêm câu này bắt đầu mình nghĩ lại nè, ha: "Tôi muốn tặng cô đó cái đồng hồ, tôi không có đưa được trực tiếp mà thôi nhờ lén bỏ vô cái giỏ của giùm, tại vì tại cô cũng là người nữ ngồi gần dễ, lén bỏ vô giùm tôi, tôi cho cô 10.000 đô."

[1:10:39]Rồi sao? Giờ làm sao? Kỳ quá à! Thôi, cái chuyện có chút xíu mà chi 10.000, thôi 9.900 cũng được rồi, phải không? 9.900 được rồi. Mà trước đó nếu không đưa ra cái giá 10.000 á thì mình thấy chuyện rắc rối không? Phức tạp, không biết có cái gì âm mưu hay sao không, biết là ổng phải ổng tặng thiệt hay ổng gài bẫy cô kia? Lỡ mà ổng bỏ vô xong, cô kia rồi một lát ổng kêu công an lại: "Tôi bị mất mà tôi nghi cô đó lấy." Công an lại xét ra, cô kia nói, cô kia thì cô không lấy nên cô công khai cô đưa cái giỏ, đưa giỏ mở ra cái đồng hồ. Ông này có hóa đơn rõ ràng: "Đây hóa đơn tôi mua, tên tôi đây, cửa hàng đây, tại sao giờ nằm trong giỏ cô này?" Phải không?

[1:11:18]Ta lo sợ một cái âm mưu. Ta là người đúng sai rạch ròi, đúng sai thiện ác rạch ròi, đúng sai dứt khoát, mình không làm chuyện mờ ám đó được. Mà cái việc ngồi bên cạnh mà cầm đồng hồ thò thò tay qua này nè, bỏ vô cái túi cổ vậy rồi lấy 10.000 đô nó dễ quá. Nhưng mà nhớ, chỗ đó mới gọi là Bồ-tát hay không Bồ-tát là chỗ này nè. Khi mình có cái nghi, nghi là người ta bỏ đồng hồ vô để gài bẫy, tức là nó có cái gì nó không phải đúng rõ ràng thì mình sao? Từ chối. Trả cái giá 10.000 đô cũng dứt khoát không làm là không làm. Bồ-tát như vậy, mặc dù một lát nữa không biết có cái gì ăn cơm, có thể một lát nữa mình không có tiền để ăn cơm,

[1:11:58]vô chùa ăn đỡ thôi, nhưng mà 10.000 đô thì 10, dứt khoát không làm khi mình nghi ngờ cái lời nói của ông này. Nói ông này phải tặng thiệt người ta, ổng ngại hay là ổng ổng chơi ổng gài bẫy? Mà ổng gài bẫy lúc mà mình cầm cái đồng hồ của ổng mình lén mình bỏ vô thì có một người khác đằng kia cũng đang dùng cái máy điện thoại quay hình mình. Thì như vậy nó chụp mình luôn là người móc túi của ổng và cô này là đồng lõa, hai người chết chung. Phải không ạ? Mình sẽ nghi ngờ. Nhưng mà nhưng mà nếu mình là người mà thiện ác rạch ròi, đúng sai dứt khoát thì không làm, thuê nhiêu thuê không làm. Nhưng nếu mình chưa đạt được tới trình độ đó, cái số tiền lớn quá bắt đầu mình nghi.

[1:12:38]Hoặc là ví dụ thế này. Một con người đã Phật tử với chùa rất là thuần thành,

[1:12:46]rất là tốt, rồi cho cái đứa mấy đứa con đi nước ngoài du học.

[1:12:53]Thì sau đó có người mới đến nói: "Bây giờ tôi nhờ ông, là ông nào giờ là đệ tử của chùa Từ Tân, ha, chùa Từ Tân mỗi tháng đều có cái khóa thiền, và cái nhiệm vụ của ông là ông vô đó ông thuyết phục ông Thầy Trụ trì, ông vô đó ông gieo rắc tư tưởng trong cái khóa các thiền sinh để làm sao cho khóa thiền nó vỡ, bể." Mình chịu làm không? Chịu làm không? Không. Tự nhiên làm chi chuyện phá đạo?

[1:13:26]Người ta đang tu tốt như vậy tự nhiên phá đạo. Thấy không? Có khi bữa thấy ngày ngồi thiền thì ít người hơn, nhưng mà tới ngày giảng rất là đông người, bao nhiêu người nghe một bài giảng mà ngủ ngon thì nó quá có lợi chứ có gì mắc gì tại sao phải phá người ta? Phải không ạ? Mới nói: "Không." Thì người kia mới nói tiếp: "Nếu ông từ chối thì hai đứa con ông ở bên nước kia không bảo đảm sinh mạng của nó, nó học sẽ không tốt nghiệp, ra trường không có việc làm, mà nếu đang có việc làm thì thất nghiệp, và tôi không bảo đảm nó đi đường trên xe không tai nạn, tôi không bảo đảm điều đó." Thì bắt đầu ta làm sao rồi?

[1:14:04]Bắt đầu làm sao rồi? Nghĩ lại rồi phải không ạ? Bởi vì cái sự thiên vị của cha mẹ với con cái là khủng khiếp lắm. Ta thiên vị cho con mình, cho gia đình mình, cái sự thiên vị nó lớn hơn cả quốc gia và đạo pháp. Nhớ giùm Thầy như vậy. Chỉ có gì? Chỉ có bậc Tu-đà-hoàn trở lên thì mới không bị thiên vị đó. Mới nói: "Nếu con tôi bị như vậy là nghiệp của nó, còn tôi, bổn phận của tôi là bảo vệ đạo pháp. Thà tôi, chẳng những nó mà ngay chính tôi chết luôn tôi cũng chấp nhận hi sinh để bảo vệ đạo pháp, đừng đem ra hù tôi." Thì chỉ Tu-đà-hoàn trở lên mới nói được câu này. Còn dưới Tu-đà-hoàn là bắt đầu nghĩ lại rồi.

[1:14:41]Vì con mình, mới nói cho nó có việc làm, nó vẻ vang với người ta, lâu lâu là Việt kiều về thăm mình, nó mua đồ về. Thôi, chiều nó, thôi chấp nhận ký hợp đồng làm phá cái khóa thiền của Từ Tân. Ở đây có ai ký rồi cho Sư phụ biết tên?

[1:14:58]Thấy sợ chưa ạ? Đó, người là kẻ giặc nó như vậy. Mà nếu ta là người mà chưa đạt được tới cái trình độ của một Bồ Tát mà thiện ác trạch rồi, đúng sai dứt khoát thì ta vẫn còn phạm sai lầm. Mà phạm sai lầm rồi thì trả quả báo. Mà cái mức độ phạm sai lầm á nhẹ đó thì ta vẫn còn được đạo tâm để tu tiếp, trả quả báo nhưng mà vẫn tu tiếp. Mà nếu cái phạm sai lầm của ta mà nó nghiêm trọng thì ta mất luôn đạo tâm luôn, không còn cái nhân để làm người luôn, thành ác quỷ luôn. Là ba đường mà địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh là nó chờ ta đó. Ghê như vậy chứ không phải dễ đâu. Cho nên là

[1:15:39]cái mức độ của Bồ Tát từ lúc sơ phát tâm cho tới thành Phật địa, Đẳng giác, Diệu giác là đúng là dùng cái chữ vô lượng kiếp là đúng á. Sao ta nói lâu quá? Ta nói lâu quá, tu chi lâu quá. Nhưng mà không, khi Bồ Tát họ chứng đến mức độ nào rồi thì thời gian là là vô nghĩa. Ví dụ mình nói bây giờ tu không biết chừng nào thành Phật ha, mấy kiếp ha? Người nói: "Cái số kiếp bằng cái số cát của sông Hằng." Mình nghe nói: "Chết cha! Tu vậy rồi làm sao? Rồi chừng nào mới được làm Phật cho người ta lạy đây?" Nhưng mà một vị Bồ Tát thật sự thì sao? Thời gian là là vô nghĩa. Chỉ sao? Trong từng giây phút hiện tại, ta yêu thương được vạn loại;

[1:16:24]trong từng giây phút hiện tại, ta đem được đạo lý vào tâm con người thì đó chính là là lẽ sống, đó là lý tưởng, là ước mơ, là hạnh phúc. Trong từng giây phút hiện tại không còn thấy có cái ta, trong từng giây phút hiện tại yêu thương cứu độ muôn loài mà không thấy có người cứu và người được cứu, vậy là hạnh phúc rồi.

[1:16:54]Mà trong cái quá trình đó từ sơ phát tâm cho tới Phật địa đó, Bồ Tát đi qua rất nhiều kiếp và có một giai đoạn đầu khá lâu còn bị phạm sai lầm và còn bị bị trả quả báo, chỉ vậy thôi. Nhưng mà khi cao lên, bắt đầu chứng có thần thông rồi thì hết, biết người này sao, người kia sao, biết sự việc diễn tiến ra sao sao thì hết phạm sai lầm rồi. Tới đó, tới đó cũng còn hơi lâu.

[1:17:24]Tuy nhiên là ta biết nhân quả thì công bằng, cho nên khi một vị sơ phát tâm Bồ Tát mà chấp nhận đi trên con đường Bồ Tát đạo, vừa tu hành mà vừa giáo hóa chúng sinh thì nó có cái lợi, nó có cái lợi là mỗi một công đức mà mình làm đến cho đời thì nó quay ngược vô trong nội tâm mình hết, nó không chạy thoát ra đường nào hết. Chạy vô nội tâm mình làm cái gì? Thành gì? Thành cái tâm linh, quả thánh. Nên chính những người mà cực khổ mà lo cho đạo, lo cho đời thì lại là những người sao? Mau chứng hơn quý huynh. À, đây là một cái sự thật. Còn những người mà nói thôi mình ráng tu cho mau chứng, cách cách ly với mọi người, nhập thất,

[1:18:18]tránh duyên hết, chính ra những người đó coi vậy có khi lâu chứng. Vì cái phước không đủ, ở trong thất ăn hết cơm, hết gạo rồi đi ra tâm chưa có gì thay đổi. Còn những người mà cực khổ, lăn lộn lo cho đời, lo cho đạo mà đừng chấp công, vậy chớ mà chứng mau. Quả thánh lại dễ đến. Nên vì thế, cái Bồ Tát đạo của Đại thừa là một sự bổ sung hết sức lớn cho cho nguyên thủy Phật giáo trên con đường mà tu chứng.

[1:18:55]Thôi thì chúc, hẹn

[1:19:03]gặp lại tháng sau nha.

[1:19:12]Mọi người vui vẻ.