Lời giảng: Hãy Tự Phòng Hộ Chính Mình - Pháp Cú 81

  • Thuyết giảng: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Thời lượng: 1:28:24

Toàn văn lời giảng, chép từ phụ đề. Bấm vào mốc thời gian để nghe đúng đoạn đó.

[0:09]Chúng con xin cung thỉnh Hòa thượng Pháp sư cũng như đại chúng niệm Phật cầu gia bị. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:30]Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:44]Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:56]Chúng con xin cung thỉnh Hòa thượng Pháp sư an tọa, xin mời toàn thể đại chúng an tọa. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Hôm nay ta cũng nghe tiếp Pháp Cú. "Đừng đánh Bà-la-môn, Bà-la-môn cũng vậy, Đánh vào bậc cao quý, Quả báo khổ nghìn lần. Với một vị thánh nhân, Không còn tâm chấp trước, Chẳng còn ý hại ai, Nên chẳng còn đau khổ." Phật nói cái bài kệ này trong cái câu chuyện thế này. Phật nói này trong cái chuyện là lúc đó có một ông ông Bà-la-môn ở cái vùng Xá-vệ, thì ổng ổng hay tiếp xúc người bạn, rồi hàng xóm, láng giềng, những người quen biết thì nhiều người chung quanh ổng từ từ đi theo đạo Phật hết.

[1:45]Thì khi mà Đức Phật về đó giáo hóa rồi thì người ta theo đạo Phật. Mà thường á thì Đức Phật đi vắng á, thì ngài Xá-lợi-phất là giữ cái cái tịnh xá Kỳ Viên, thì ngài giống như là trụ trì. Rồi ngài dạy dỗ, hướng dẫn mọi người và sống một đời cực kỳ mẫu mực. Ta tôn xưng ngài là trí tuệ đệ nhất, bởi vì cái ứng xử của ngài đối với chúng sinh

[2:15]á, cái sự tinh tế của ngài soi sáng trong từng cái hành vi nhỏ đối với chúng sinh. Cho nên gọi ngài trí tuệ bởi vì cái cái sự ứng xử của ngài cực kỳ đạo đức và hợp lý, chứ không phải là nói trí tuệ nghĩa là ngài khôn, không phải, mà trong mọi việc, trong từng lời nói, trong từng cử chỉ, oai nghi tế hạnh của ngài không một điểm sơ hở, cái đạo đức của ngài như là tuyệt đối. Cho nên vì vậy, những cư sĩ họ tới lui với Kỳ Viên, họ được tiếp xúc ngài Xá-lợi-phất, cái lòng kính phục ngài nó tăng lên tột độ. Và khi họ về, khi mà kể chuyện về tịnh xá, về Đức Phật, về chư Tăng, về Phật pháp thì thế nào nói qua lại một lát cũng ca ngợi ngài Xá-lợi-phất,

[3:00]đó là con người đạo đức tuyệt vời, tâm bất động, không còn cái sơ hở gì về về đạo đức nữa. Thì cái ông Bà-la-môn này ổng nghe người ta khen riết thì ổng nóng mặt. Nghĩa là tâm lý thường tình của ổng là ổng cũng cảm thấy tự ái. Tại khen một con người quá đi thì tự nhiên mình nghe khen ai quá, bỗng nhiên mình cũng khó chịu là giống như mình không lẽ mình còn thấp quá so với cái người kia hay sao? Nên cái tâm lý này là tâm lý thường tình của con người, chúng ta cũng vậy. Chúng ta mà nghe khen ai quá, tự nhiên lát mình đâm bực, hoặc là có khi mình cũng miệng mình nói mình khen theo nhưng trong lòng

[3:35]vẫn ấm ức, vẫn ganh tỵ, kể cả đối với sư phụ của mình, cái tâm lý kỳ lạ như vậy. Huống hồ ông này ổng không phải là đệ tử của ngài Xá-lợi-phất, cho nên nghe người ta khen riết ổng chịu không nổi cái ổng bắt đầu mới cãi. Ổng nói: "Bữa nào tôi thử tôi mới biết, tôi mới tin." Thì mấy người kia nói: "Ông cứ thử." Thì hôm đó cái ổng ổng thấy ngài Xá-lợi-phất đi khất thực, ổng đi theo sau lưng. Tới lúc lại ổng lại ổng lấy tay ổng đánh vào lưng ngài một cái thiệt đau, thiệt mạnh. Thì ổng nghĩ rằng khi mà bị chạm vào cái cơ thể thì nó chạm vào bản năng ai cũng nổi giận, ai cũng giận. Ví dụ như chửi thì nó chạm vào cái cái tâm lý,

[4:22]nhưng mà đụng thân người thì nó xúc phạm vào cả danh dự, cả thân xác nữa, cả hai. Nên ai cũng phải tự ái. Ổng nghĩ như vậy thì ổng đánh ngài một cái thiệt đau. Thì ngài ngài vẫn bước đi, ngài chỉ hỏi: "Có chuyện gì vậy?" rồi ngài đi tiếp. Thì ổng ngay lúc đó ổng hối hận liền. Ổng thấy đúng là người này bất động thật sự. Tại bình thường nghĩa là ai đụng ổng một cái là đi đường mà đạp nhằm chân ổng thôi là ổng đã gắt rồi, cái đó là vô tình thôi, chứ đừng nói người cố ý. Chen chen nhau giữa chợ mà ép ổng hơi nghiêng nghiêng lảo đảo cái là ổng nổi sung rồi. Ổng nghĩ tâm lý ai cũng vậy, còn đây ổng cố ý ổng đánh một cái mà ngài

[5:05]vẫn bình thản, tâm bất động, vẫn bước đi không hề quay lại, không cần nhìn người đó nữa, không cần, chỉ hỏi một cách lịch sự: "Có chuyện gì vậy?", vậy thôi, tiếp tục bước đi. Ổng hối hận, ổng quỳ xuống và ổng thỉnh ngài về nhà để ổng cúng dường, được cúng dường như là bày tỏ cái sự hối hận. Thì cái tin mà ổng đánh ngài một cái á có người thấy, nó lan ra cả một cái cái cái cư sĩ họ kéo rần rần đứng trước cửa nhà ổng, đợi ổng ra thanh toán ổng liền. Cái tâm lý đó cũng rất là bình thường, lát chúng ta cũng phân tích. Sau đó thì ngài Xá-lợi-phất mới ra ngài giải thích, ngài nói: "Ông này ổng đánh ổng đánh tui hay là đánh mấy người?" Nói:

[5:47]"Dạ đánh ngài, tụi con phải bảo vệ." "Đánh tui, tui tha thứ rồi, ta đã tha thứ rồi, thì đừng giận ha. Ông đã biết hối hận và ta đã tha thứ, nha, thôi đừng giận." Mọi người thấy ngài khuyên thì thôi họ bỏ qua, họ kéo về. Thì ngài Xá-lợi-phất mới đi về tịnh xá rồi ông từ đó mới sống sót, sau ổng cũng về quy y Phật. Thì chuyện tới tai Đức Phật, Đức Phật mới nói bài kệ, trong đó Đức Phật có nói cái này: "Đánh vào bậc cao quý, quả báo khổ nghìn lần." Nếu mà ổng không kịp sám hối bữa đó thì có lẽ là ổng cũng phải khoảng 50 kiếp hay 100 kiếp dưới địa ngục, đánh nhầm bậc A-la-hán mà. Nó phải ít nhất 50 kiếp tới 100 kiếp nằm dưới địa ngục, không chạy đường nào.

[6:31]Mà khi lên khỏi địa ngục rồi phải làm súc sinh bị người ta đánh đập. Mà nếu lên làm người lại thì cũng là con người hạ tiện, tầm thường, không ra gì. Một cái đánh thôi, vào bậc A-la-hán thôi quả báo khổ gấp bội, gấp bội lần như vậy. Thì ngược lại cũng vậy, cái tâm mình mà biết cung kính một bậc thánh một cái thì cũng vậy, quả báo cũng vượt lên cả ngàn, cả ngàn lần như vậy. Đó là lý do mà tại sao các vị Bồ-tát ít xuất hiện giữa đời là vậy. Ngài xuất hiện giữa đời, ngài đi qua cuộc đời một cái thì vô số người lên thiên đường và cũng vô số người rớt xuống địa ngục. Đó là lý do mà các bậc Bồ-tát ít xuất hiện là vậy.

[7:11]Nên ta thấy, ta đọc kinh Đại thừa ta nói các vị Bồ-tát thường hay thị hiện độ chúng sinh, sao mình không thấy? Vì các ngài đã Bồ-tát thì không có xưng mình là Bồ-tát, ngài sống rất bình thường, lặng lẽ và giáo hóa chúng sinh nhẹ nhàng tùy căn, tùy cơ, tùy duyên, tùy phước. Nhưng mà chúng sinh thì nhìn ai cũng như ai, không biết rằng đó là một bậc Bồ-tát. Cho nên có người hiểu, có thiện căn họ hiểu á thì họ cung kính ngài, lên cõi trời. Có người không hiểu, ý nghĩ sai, rớt xuống địa ngục. Mà mình nói ví dụ bình thường thôi, bây giờ trên đoạn đường thôi, trên đoạn đường, ngoài chợ vậy thôi, có một bậc hiền nhân họ đi ngang qua đoạn đường

[7:59]một cái thì cũng một số người rớt xuống địa ngục, một số người lên cõi trời. Ví dụ thấy một vị thầy đáng kính đi ngang một cái, có người họ đứng cúi đầu họ chắp tay cái, người đó sẽ lên cõi trời. Còn người tiếp tục phật ngực ngồi, phe phẩy đi ngang coi như ông thầy đi ngang không có gì, người đó xuống địa ngục. Thì ông thầy ổng chẳng làm gì và mấy người ở đó chẳng làm gì, nhưng mà cái sự xuất hiện của một vị thầy cao quý hay của một bậc thánh nó kích động cái nghiệp chúng sinh lên liền, phước ra phước, tội ra tội liền. Còn trước giây phút đó nó không rõ phước, không rõ tội, ai cũng như ai. Nhưng khi một vị thánh xuất hiện một cái, phước tội hiện ra từng người liền.

[8:40]Cái người biết cung kính bậc thánh, phước hiện ra ầm ầm liền; còn người mà coi thường bậc thánh, tội hiện ra liền, mà trước đó không có. Nên đó là lý do mà các vị Bồ-tát ít có muốn xuất hiện giữa đời. Và các ngài cứ âm thầm gia hộ để cho chúng sinh giáo hóa lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau mà thôi. Giữa chúng sinh với nhau thì có kính, có thương, có khinh, có ghét gì cái tội nó vừa vừa, nó không nhiều lắm. Còn một bậc thánh mà thị hiện giữa đời rồi nó rừng rực, nó rừng rực như ánh mặt trời mà ai xúc phạm cái rớt liền. Và các ngài không nỡ thấy vì sự xuất hiện của mình mà chúng sinh xuống địa ngục, cho nên các ngài cứ tránh mặt, rồi âm thầm gia hộ thôi.

[9:27]Vậy đó là lý do mà mà mà trên cuộc đời này ta đọc kinh là thấy chư thánh, chư Bồ-tát nhiều quá mà sao bây giờ nhìn lại trần gian không thấy ai. Đó là lý do vậy, sự thực cũng có nhưng các ngài cũng kín đáo, vì vì sự xuất hiện của một bậc thánh cái nó tách chúng sinh ra làm hai liền: một số người sẽ lên cõi trời và một số người sẽ xuống địa ngục liền. Như vậy, sợ. Nên trường hợp ngài câu chuyện này cũng vậy, nói về ngài Xá-lợi-phất thì chúng ta nghe nói ngài là trí tuệ đệ nhất, ngài là thống lĩnh tăng đoàn mặc dù tuổi còn rất trẻ. Rồi thỉnh thoảng ta gặp những bài kinh nghe ngài giảng, hoặc là một vài câu chuyện phảng phất

[10:10]kể về cái hành xử, về cuộc đời của ngài, nhưng đó chỉ là một phần triệu, một phần tỷ cái sự vĩ đại của ngài. Chứ còn nếu mà ta sống trong cái thời đại của ngài, mà ta được gần gũi tiếp xúc với ngài thì ta học được vô số điều hay, cái lòng tôn kính của ta với ngài là vô hạn và nhờ vậy phước của chúng ta sẽ rất là lớn. Nhưng mà tiếc rằng cái thời đại đã xa, chúng ta chỉ còn chiêm ngưỡng ngài qua sách vở chút chút thôi. Nhưng mà qua sách vở chút chút như vậy mà ai có thể hình dung được cái sự vĩ đại của ngài, ai có thể tôn kính được ngài thì người đó phước rất là lớn, phải nói phước rất lớn. Cho nên vì vậy, hôm nay cũng vậy, ta nghe qua cái bài kệ này,

[10:57]cái chuyện tích này, chúng ta vì phải lắng lòng khởi cái tâm tôn kính đến ngài Xá-lợi-phất vô hạn, và đó cũng là cái duyên phước rất lớn cho cho chúng ta. Như vậy. Ở đây cái chuyện mà cái ông Bà-la-môn không tin rằng có con người mà đạo đức đến chỗ không còn không còn sơ hở, sơ suất nên ông muốn thử. Vì ông nghĩ rằng cái sân, cái tự ái là không ai tránh khỏi. Đó là chưa luận tới những cái tham hay này cái kia, ông nghĩ như vậy nên ông thử ngài để gợi cái sân của ngài lên. Nhưng mà không ngờ là ngài không sân. Cái nổi nóng á nó là bản năng của tất cả chúng sinh. Khi chúng ta bị chạm vào, gợi lên cái nỗi đau từ nơi cái bản ngã của ta,

[11:49]từ nơi thân xác, từ nơi cảm thọ thì cái sân nổi lên liền và đó là bản năng hết sức tự nhiên, có sẵn nơi mọi người, không cần dạy dỗ. Hôm trước ở trên núi cái ngày 14 Phật Đản thầy có giảng cái bài này, thầy nói: Bản năng xấu của chúng sinh có sẵn, không cần dạy. Cái bản năng xấu của tất cả chúng sinh không cần dạy, có sẵn. Và phải tu khi chứng thánh thì những bản năng đó mới bị diệt mất. Còn chưa chứng thánh, bản năng đó tự nhiên tồn tại, cái tham, cái sân tự nhiên là tồn tại. Và ông này ông hiểu điều đó cho nơi chính ổng và nơi mọi người nên ổng thử ngài. Nhưng mà ổng không biết rằng trong giáo lý của đạo Phật nó có cái

[12:40]con đường, những tầng bậc, cái lộ trình diệt được bản năng. Và nhớ chỉ trong đạo Phật mới có cái lộ trình này rõ ràng. Chỉ trong đạo Phật mới có cái phân tích những cái tầng lớp tâm lý rõ ràng. Và cũng chỉ trong đạo Phật mới có con đường tu, cái tiến trình, cái lộ trình, cái cấp bậc đi qua từng bước diệt được bản năng này. Không có một tôn giáo thứ hai vạch rõ như vậy. Ta biết vậy. Ví dụ như một người tu thiền chưa có kết quả thì ta gọi là cái gì? Giai đoạn đó gọi là gì? Giai đoạn đó gọi là gì? Chánh tinh tấn. Chánh tinh tấn vì tu rất cực, không có kết quả nên tu rất khổ mà vẫn quyết tu, gọi là chánh tinh tấn.

[13:33]Đến khi có kết quả ban đầu rồi thì gọi là gì? Chánh niệm, bắt đầu tâm rỗng sáng, có chút yên và có niềm tin vào con đường của mình. Thì nơi cái chánh niệm này mà sâu chút xíu, diệt được cái triền cái tham sân, tham và sân. Triền cái không phải kiết sử, tức là thói quen. Thói quen. Mà nếu người nào diệt được cái kiết sử tham sân, tức là diệt luôn bản năng tham sân thì đã bắt đầu chứng thánh. Còn chánh niệm bình thường chưa chứng thánh đã mình không còn thấy dấu vết tham sân nơi con người này nữa. Diệt được cái triền cái là thói quen nổi nóng, diệt được liền. Không nổi nóng nữa. Nhưng mà cái gốc bản năng nóng giận vẫn còn vì kiết sử còn.

[14:20]Triền cái thì nó cạn hơn, kiết sử thì nó sâu hơn. Kiết sử là bản năng, triền cái là thói quen. Cái người nào mà tánh hay nóng tức là triền cái sân còn nhiều quá. Ngoài ra, dù người hiền hay người dữ, kiết sử sân bằng nhau vì nó là bản năng nằm sâu bên trong. Tới khi chứng thánh thì mới bứng được cái gốc sân đó lên luôn. Mà tới khi ta đi tới sâu trong chánh niệm và bước vào chánh định mà chứng thánh được thì những cái bản năng tham, sân bị nhổ bứng lên sạch luôn. Thật sự là một bậc thánh giữa đời, không còn tham lam, sân hận gì nữa. Còn lại tất cả chúng ta đều bị vướng tham, vướng sân. Ngay cả những người xuất gia và có khi xuất gia rất lâu

[15:05]năm mà nếu không khéo tu, không quyết tu, tu không đúng đường, những cái tham, sân đó vẫn tiếp tục tồn tại. Vẫn tham gì? Vẫn tham tiền, tham quyền, tham chức, tham danh, tham dục, vẫn đầy đủ hết. Chỉ khi nào tu cho đúng, đúng đường, tu có kết quả, kiên trì mà nó nhổ được cái triền cái tham sân hoặc là bứng được kiết sử tham sân thì người này thực sự mới là một người đến mức độ gọi là chân tu, không còn tham, không còn sân. Chứ còn ai cũng bị vướng cái điều này. Mà để bứng được nó rất là vất vả, không phải dễ. Quyết tâm là một điều rồi, phải đúng đường. Và mà cái đúng đường thì phải lệ thuộc mình

[15:55]có gặp được đúng ông thầy dạy hay không. Mò mò dạy trên sách, trên vở cả triệu cuốn sách cũng nói về đạo Phật, mỗi cuốn nói một đường, đọc hết cuốn đó xong rồi điên luôn. Mà thậm chí đi qua nhiều thầy cũng sai luôn. Có nhiều người đến khoe, thầy nói: "Dạ, hôm nay con học Đạt Lai Lạt Ma, mai kia con gặp vị này, gặp Rinpoche, bữa nọ con gặp Pháp Vương..." Đủ thứ hết trơn. Nhưng mà càng nói nhiều chừng nào thì nhìn người đó mình thấy càng tệ, tâm càng loạn và mất phương hướng, không có phương hướng. Nên vì vậy đừng đi nhiều mà chỉ xin Phật cho con gặp đúng một ông thầy đúng nhất để đỡ đi lung tung.

[16:34]Rồi theo duyên của mình nhiều kiếp rồi theo cái lời cầu xin của mình Phật gia hộ mà ta gặp đúng một ông thầy đúng nhất rồi đỡ lung tung. Tâm ổn định, cứ một con đường đó mà mà đi. Mà con ông thầy đó ở đâu? Không. Ông thầy đó ở chùa Từ Tân nha, mập mập, đẹp đẹp nha. Đó, vậy đó, ông thầy đó. Thì khi mà ông nghĩ rằng ai cũng tham sân bình thường như vậy, ông đánh một cái thì trước mắt ông, ngài không biểu hiện thần thông phép tắc gì hết trơn, chỉ bằng cái bất động của mình thôi. Và tâm không quay lại, dường như là ngài đã biết trước và ngài đã đón nhận cái đánh đó để độ ông, chứ không có tránh.

[17:22]Mà rồi ngài thanh thản hỏi: "Có chuyện gì vậy?" với cái giọng rất là điềm tĩnh, ngọt ngào. Thì lúc ông hiểu rằng ông đang đứng trước một con người đúng là không hề còn một sơ hở nhỏ về đạo đức. Thay đổi quan điểm của ông lại: trên đời này ai cũng phải tự ái. Và nói trước mắt ông rõ ràng là một bậc thánh, không có nhúc nhích, bất động, không quay lại nhìn, không cần nhìn nữa mà hỏi một câu với cái giọng rất là điềm đạm và đầy cái từ bi: "Có chuyện gì vậy?" Chỉ vậy thôi, thay đổi hết một con người. Thường thường ví dụ mình mà biết có ai mà sắp đánh mình thì mình sao? Mình tránh đi, thôi tránh đi con đường đó phải không, để cho nó đừng đánh?

[18:03]Hoặc là khi họ tới gần với mình, đánh thì mình né một cái, ví dụ vậy. Hoặc nếu không né được mình mình lót sau lưng mình cái cục gì cứng cứng cho nó quánh vô nó đau tay chơi, ví dụ vậy. Nghĩa là thường mình hay có một cái sự chuẩn bị để đối phó hay tránh né một cái mưu hại nào. Còn nhưng mà ta thấy bậc thánh họ có cái hay: họ chờ cái tai họa nó tới, thản nhiên đi xuyên qua cái tai họa đó luôn, đi tới luôn. Không khựng, không ngừng, không thay đổi, chẳng cần đối phó luôn, đi qua cái tai họa đó với tâm hết sức bình thản. Có những lúc như vậy. Có những lúc đi qua cái tai họa với tâm hết sức là bình thản.

[18:45]Giống như ngài Mục Kiền Liên cũng vậy. Những lúc mà chưa tới, ngoại đạo có tìm đánh giết ngài không bao giờ tìm ra. Nhưng tới lúc thôi ngài phải trả một cái nghiệp cuối cùng, ngài cho nó bu lại đánh ngài, đánh dập nát người hết luôn. Lòng bình thản. Tới khi nó thấy ngài máu me, thịt bấy hết rồi nó bỏ đi nghĩ rằng ngài chết thì ngài mới dùng thần thông nghĩa là gom thân người mình lại để về lễ Phật lần cuối rồi mới chết. Những vị thánh như vậy có những lúc người ta tránh một cái họa vì không cần thiết, nhưng có lúc người ta bình thản đi qua một cái tai họa với tâm bình thản. Hay như vậy. Thì ngài Xá Lợi Phất cũng vậy, ngài biết trước có người đứng theo lẻo

[19:25]đẻo sau lưng muốn đánh ngài chứ làm sao mà không biết, và cho đánh. Cho đánh rồi, cho thỏa mãn rồi thì mới cảm hóa được. Nên ông bà mình hay có câu nè: "Chưa đánh thì mặt đỏ như vang, đánh rồi mặt vàng như nghệ." Nghĩa là chưa đánh thì hung hăng lắm, mà thỏa mãn cái cơn tức giận mình rồi thì thay vào đó là gì? Cái sợ hãi, cái hậu quả. Cho nên có những người giận nhau rút dao đâm nhau thấy không? Đâm nhau lúc mà chưa đâm được đang còn cãi lộn thì hăng hái lắm, đâm người ta chết trên bàn nhậu rồi thì sao? Mặt vàng như nghệ, chạy trốn, chui trốn nhủi, trốn lệnh truy nã, cho tới khi trốn không còn đường nữa thì phải ra đầu thú, nó vậy.

[20:05]Thì ông kia cũng vậy, trước khi mà chưa đánh được ngài, chưa thử được ngài cái tâm lý hung hăng, hăng hái, hào hứng. Đánh ngài được một cái rồi, nó qua đó rồi thì cái tâm bắt đầu sợ. Cái sợ nó có một chút khiêm hạ và chứng kiến cái sự độ lượng vĩ đại của ngài. Mà ông cũng là người có trí tuệ, có đạo đức nên nhanh chóng gì? Hối hận liền. Cái nhanh chóng hối hận của ông chứng tỏ rằng ông có có thiện căn. Và quỳ xuống thỉnh ngài về nhà để cúng dường, đền bù lại. Nên sau này thì ông cũng được hai cái quả báo tương ưng: một là bị người ta đập cho một trận tơi bời, sau đó người ta sẽ bưng về nhà người ta mời ăn cơm, nó bù lại như vậy.

[20:46]Chắc cũng nhiều kiếp như vậy. Nếu mà tu không chứng kịp là cái quả báo nó cũng đi đôi đi đôi như vậy á. Đáng sợ. Còn cái tâm lý quần chúng mà nổi điên lên khi xúc phạm qua cái người mà họ kính trọng là điều hết sức bình thường, điều hết sức bình thường và cần thiết.

[21:08]Cần thiết. Nghe chữ cần thiết lạ không? Lát nữa mình nói chuyện Biển Đông, yêu nước mình nó cũng liên quan giống giống đây một chút.

[21:21]Hiện giờ mình cũng đang nổi điên lên chứ không phải không, nhưng mình phải nổi điên một cách khôn ngoan. Ờ cách khôn ngoan của trí tuệ, đừng có nổi điên mà điên thiệt á vô bệnh viện à. Hoặc là vô tù mất công. Thì cái quần chúng như vậy đó, thấy nghe tin đồn về ngài Xá Lợi Phất bị cái thằng cha Bà-la-môn đánh là nổi điên lên kéo tới nhà liền, rồi xử liền, giết liền. Và cái tâm lý đó hết sức là bình thường. Nhưng mà ngài Xá Lợi Phất của ta, ngài giải thích cho mọi người yên lòng để mà không có thù oán, mọi người đừng sân nữa đi về. Thì chúng ta cũng vậy, thời đại này cũng vậy. Bây giờ mình cái điều mình yêu quý,

[21:56]mình tôn kính mà ai xúc phạm thì mình cũng đều đều đều giận. À và điều đó như là một sự chính đáng. Ví dụ Đức Phật mình mà ai xúc phạm thì thì nói mình chết thì chết nhưng vẫn phải phải xử đẹp cái tay đó.

[22:12]Vô tù, chấp nhận vô tù cũng phải xử đẹp cái tay nào mà dám xúc phạm Đức Phật hoặc đạo Phật của ta. Phải không ạ? Huống hồ là bây giờ nói tới qu- nói tới Tổ quốc mà mình yêu thương, Tổ quốc mình yêu thương, nha. Đồng bào mình yêu thương mà bây giờ có ai xâm phạm thì đúng là có chết cũng phải lên đường tòng quân đánh giặc. Ví dụ vậy. Hoặc là ví dụ nói bây giờ có một cái tình yêu gì đó nồng nàn gì đó không biết, nha. Hứa hẹn rồi là đã bắt đầu đặt lễ cưới rồi hết, nhưng mà khi mà cần phải mà tổng động viên nhà nước kêu thì thì thôi để nào nếu anh sống trở về làm đám cưới tiếp, còn không thì em cứ thờ anh và lấy chồng khác, nha. Đi liền, không sợ.

[22:54]Ví dụ như vậy. Bởi vì sao? Bởi vì cái điều mà ta ta ta yêu thương, ta tôn kính nó cao siêu quá, nó hơn cả cuộc đời của mình. Nhưng mà đây cái khó cái này: Ai trong tim mình có được một cái điều cao quý đó để mình tôn kính và yêu thương? Không phải dễ ai cũng có đâu. Không phải ai cũng có một điều đó trong trái tim mình. Chỉ những trái tim vĩ đại mới có những điều vĩ đại trong tim mình. Phải là người có trái tim vĩ đại, ta mới có một Tổ quốc để ta yêu thương, ta mới có một Đức Phật để ta tôn kính. Còn nếu trái tim ta tầm thường, hẹp hòi, ta không có gì ở trỏng hết. Ta chỉ có men rượu, ái tình, cờ bạc,

[23:34]hưởng thụ, game, Flappy Bird gì tầm bậy tầm bạ thôi, không có gì hết. Chỉ có một trái tim vĩ đại mới có một Đức Phật để ta tôn kính và một Tổ quốc để ta yêu thương. Cho nên nói bây giờ nếu là à có người xâm phạm Tổ quốc tôi, tôi lên đường, không phải dễ đâu nha. Vì trong trái tim người đó có cái gì rồi bắt đầu mới có thể lên đường, không phải dễ. Cho nên ta đo cái mức độ vĩ đại của một dân tộc là trong những lúc như thế này ta thấy. Ta thấy bao nhiêu người dân Việt sẽ nổi điên lên khi mà Tổ quốc mình bị xâm phạm. Còn mình tỉnh queo, không có gì hết, ai lấy gì lấy, ai chiếm chiếm thì biết trái tim mình nó bằng hột đậu đen. Ừ.

[24:15]Cho nên cái phản ứng mà khi mà ngài Xá Lợi Phất mà bị đánh như vậy, dân nổi điên lên là bình thường. Tuy nhiên, với cái trí tuệ và đạo đức của ngài, ngài đã hướng dẫn, dẫn dắt quần chúng bình tĩnh, khôn ngoan lại. Ờ không có làm cái điều mà trở thành nó nó đổ vỡ hơn, đổ vỡ hơn. Vì dù sao ngài cũng đã cảm hóa được cái ông Bà-la-môn này rồi, chứ không phải là ông kia vẫn còn ngang bướng hay thế này thế kia, nha, vậy nha. Thôi ta qua câu khác. Với người thân, miệng, ý không làm các ác hạnh, tự phòng hộ chính mình, ta gọi Bà-la-môn. Thầy coi sở dĩ Đức Phật nói cái bài kệ này là vì có cái chuyện thế này:

[24:57]Lúc đó là bên Ni đoàn được thành lập thì bà Kiều Đàm là lãnh đạo Ni chúng thì có nhiều người mới xầm xì: "Ai cạo tóc cho bà kìa? Tại vì Đức Phật ngài sẽ không chạm tay vào người nữ. Mà nếu không có ai cạo mà bà tự cạo thì bà không phải là người được truyền thừa. Bà không phải là người được truyền thừa thì tại sao phải đi tu theo bà?" Nó đã có cái xầm xì xầm xì như vậy. Thì khi mà nhiều người nói quá, Đức Phật mới mới công khai ngài xác nhận là chính ngài là thân giáo sư, tế độ sư cho bà và ca ngợi đức hạnh của bà là vĩ đại. Thì lúc đó mới cái tiếng nó mới yên đi. Đó, nên ngài mới nói bài kệ là:

[25:43]"Với người thân, miệng, ý không làm các ác hạnh, tự phòng hộ chính mình, ta gọi Bà-la-môn." Cái chữ Bà-la-môn là nó không phải là giai cấp Bà-la-môn hay đạo Bà-la-môn, mà cái chữ Bà-la-môn á từ ngàn xưa truyền lại giống như chữ là thánh nhân vậy đó, cái chữ thánh nhân. Giống như sau này vậy, sẽ có những người dùng cái chữ Phật Phật Phật, Bồ-tát Bồ-tát, nhưng mà lần lần họ thành ra cái gì nó sai. Nên khi bậc thánh thật sự xuất hiện họ lại sẽ không dùng chữ Bồ-tát nữa, họ sẽ dùng từ khác. Vì cái chữ Bồ-tát đã bị lạm nhận quá rồi, các ngài bỏ luôn, dùng qua chữ khác. Cũng vậy, vào cái thời Đức Phật xưa đó,

[26:19]cái chữ Bà-la-môn nó giống như chữ thánh nhân. Nhưng mà sau này cái chữ Bà-la-môn, thánh nhân nó bị người ta lạm dụng quá nên Đức Phật khi xuất hiện ngài bỏ chữ Bà-la-môn, ngài không dùng nữa, ngài dùng chữ Tỳ-kheo hay là các bậc Tu-đà-hoàn, A-la-hán, ví dụ vậy. Nhưng mà lâu lâu ngài vẫn cứ dùng chữ Bà-la-môn để định nghĩa lại: "Ta gọi Bà-la-môn" nghĩa là vậy đó. Ở đây là nó liên quan đến cái cái Ni chúng một chút xíu. Đây chúng ta xem cái tập Đỉnh Lễ Tri Ân 17 chưa kìa?

[26:54]Ta xem cái cái truyền thừa mà cái lịch sử của thành lập Ni giới, Ni đoàn nha. Ráng mà mua xem thỉnh xem đi nha, giá rẻ. Có một tờ mỏng mỏng mua được một tập dày bi lớn nè. Mà viết cực lắm, vẽ cực lắm, nha. Chỉnh sửa, dịch cực lắm, ráng mà coi cho biết tập 17 in ra rồi đó, Bước Chân Ni Giới á. Để ta thấy cái sự vĩ đại của hai bà: một là đức bà Kiều Đàm, hai là đức bà Da Du Đà La.

[27:27]Nếu mà nói trên cái hình thức á thì đức bà Kiều Đàm là lãnh đạo Ni giới, nhưng mà thực sự cái người mà điều hành chính, sắp đặt mọi chuyện chính là ai? Đức bà Da Du Đà La. Bà mới vĩ đại, bà mới là người cực giỏi. Khi mà Đức Phật bỏ nhà đi xuất gia thì quyền hành thực sự lọt trong tay của đức bà Da Du Đà La hết. Bà nắm quyền hết, điều hành hết mọi thứ. Nó có một cái chi tiết về lịch sử cuộc đời Đức Phật mà khi mà thầy viết lại cuộc đời Đức Phật trong cái giai đoạn tu khổ hạnh thì bị thiếu một điều. Nhưng mà không biết làm sao để bổ sung được. Một đây là một bí mật mà khi thầy kết hợp lại thì mới thấy này:

[28:18]Là thực sự lúc mà Đức Phật

[28:22]ngồi dưới cội cây bồ-đề, bà Da Du Đà La có đến thăm.

[28:28]Bà có đến thăm. Đây là một bí mật á. Ngoài cái việc mà ma vương hiện ra đủ thứ thì đức bà Da Du Đà La có đến thăm một lần. Bởi vì sao? Bởi vì từng mỗi chân của Đức Phật đi tu ở đâu bà cho người bám theo hết để bảo vệ, để hỗ trợ, coi coi có ai cúng dường, có đói hay không. Chứ làm sao mà bỏ chồng mình đi tu mà lang thang thất tha thất thểu được. Lúc nào Đức Phật đi tu ở đâu những người cúng dường đó, giả vờ là nông dân chứ sự thật là người của bà hết. Bà nuôi chồng mình trong suốt sáu năm tu hành như vậy, chứ không bao giờ bỏ. Sắp xếp người bảo vệ hết và nuôi chồng mình đầy đủ suốt sáu năm trừ những lúc không ăn.

[29:08]Mà những lúc không ăn là tin báo về bà rất là hồi hộp. Trên cái giai đoạn cuối cùng, khi mà Đức Phật tuyệt thực luôn để mà đến cái chỗ mà gầy còn xương hết thì bà khóc. Bà tin báo về bà khóc và bà sợ là ngài chết mà không gặp được. Bà đã bí mật rời từ Ca Tỳ La Vệ, hóa trang mà vượt bao nhiêu dặm đường để đi về tới cái chỗ tu khổ hạnh. Bà biết rất rõ, thám tử mà, báo tới báo lui. Nhưng mà khi bà đi được nửa đường thì bắt đầu Đức Phật đã ngừng, không có tu khổ hạnh, mà ăn lại và tắm sông xong lên ngồi dưới cây bồ-đề. Và năm anh em Kiều Trần Như đã bỏ đi. Thì sau khi dò tìm với những cái người thám tử của bà, bà có tới đó.

[29:52]Và đây là một câu chuyện câu chuyện mà lúc đó thầy thầy chính tai thầy nghe Hòa thượng bổn sư của thầy là Hòa thượng Thích Thanh Từ kể cho thầy nghe. Vì lúc đó là lúc Hòa thượng còn trên núi ở Chân Không á thì lúc đó thầy mới về trên núi thầy thăm Hòa thượng, lúc đó chỉ có một thầy một trò, thầy mới quỳ đảnh lễ Hòa thượng, thầy cũng trình bày công phu tu hành của mình thế này thế kia cho Hòa thượng nghe để Hòa thượng dạy. Thì Hòa thượng có nói câu này: "Trong lúc mà Đức Phật ngồi thiền dưới cội cây bồ-đề, có thấy bà Da Du Đà La đến."

[30:27]Nhưng lúc đó Phật bất động, không trả lời, không đoái hoài, rồi bà khóc và để tôn trọng cái sự tu hành. Nhưng mà lúc đó bà cũng nhìn thấy là Ngài đã khỏe mạnh, không còn như tin thám tử báo lại là Ngài chỉ còn bộ xương. Lúc đó Ngài đã đầy đặn lại hết rồi, nên bà khóc rồi lại lui ra để tôn trọng sự tu hành của chồng mình, rồi trở lại về hoàng cung lại. Có một câu chuyện như vậy, đó là một bí mật á mà khi mà viết cái đoạn đó thầy cũng bỏ quên. Sau này thầy ngồi thầy hồi tưởng lại thì mới kết nối hết mọi sự kiện mới thấy có một sự kiện đó. Bà vĩ đại lắm. Rồi sau này cái việc mà hỗ trợ cho Tăng đoàn,

[31:07]móc nối vua chúa, quan tướng để bảo vệ Tăng đoàn khắp nơi là bà làm hết, một người phụ nữ cực kỳ vĩ đại. Nên mỗi khi mà thầy nghĩ tới Đức bà Da Du Đà La, nghĩ tới Đức bà Kiều Đàm, thực sự trong lòng thầy xem Đức bà như là Bồ Tát Quan Âm. Nghĩa là ta thờ Bồ Tát Quan Âm á chứ ta đâu biết rằng đó chính là Đức bà Da Du Đà La luôn luôn lắng tai nghe cái sự than khóc của chúng sinh để mà cứu độ. Chính bà chứ không phải ai hết. Như vậy. Rồi cứ xem cái tập 17 đi nha, rồi sẽ biết như vậy. Trong cái kiếp cuối cùng mà khi Đức Phật à ra đời để thành Phật thì những người chung quanh Ngài, gần gũi Ngài đều là những người có duyên phước đặc biệt.

[31:57]Thì phước của họ cũng đã tới sát cái địa vị của Thánh hết rồi. Nên sau này khi Đức Phật thành Phật rồi, hóa độ là các vị đó họ nhanh chóng đắc đạo. Là vậy. Thì hai bà cũng vậy, Đức bà Kiều Đàm, Đức bà Da Du Đà La là những người cực kỳ có duyên phước. Một người là mẹ mẹ mẹ kế đó, mẹ nuôi đó, dưỡng mẫu, một người là vợ. Những người có duyên phước sát với Đức Phật như vậy thì ta phải biết rằng phước họ cực lớn, cũng đã chín muồi, vì vậy mà họ dễ dàng chứng đạo sau khi khi xuất gia. Nhưng mà cái đoạn mà các vị đó mà xin xuất gia cũng khổ sở lắm chứ không phải không. Nha, ta xem cái cái tập 17 ta sẽ thấy.

[32:38]Và ở đây cái công lao của ngài A Nan rất là lớn. Ngài là người lẹo lự, nghe bên đường nói một nẻo, nghe bên đường nói nẻo, dàn qua xếp lại, xếp qua dàn lại cái mọi việc nó êm thắm. Như vậy, Đức Phật thì rất là nghiêm, nhưng qua cái miệng của ngài A Nan mọi việc nó trở nên nó hiền lành, nó dễ chịu hơn. Nha, ta ta để ý như vậy. Nên ngài A Nan có cái công lớn lắm trong việc mà dựng lập Ni đoàn là vậy. Ở đây à Đức Phật khen bà thế này: "Với người thân miệng ý không làm các ác hạnh, tự phòng hộ chính mình, ta gọi Bà-la-môn." Dùng những từ này để ca ngợi cái đạo đức của Đức bà Kiều Đàm. Thì ở đây hôm trước thầy có giảng bữa ở bên rằm

[33:23]Phật Đản hôm nay nói lại một chút xíu thế này. Trong đạo Phật á, khi một người tu lâu mà bắt đầu có kết quả trong cái sự tu hành, tâm bắt đầu chứng được thiền định, được thanh tịnh thì nó xuất hiện hai cái thái độ hơi ngược nhau. Một cái thái độ á làm ra vẻ tự tại, ừ thoải mái; một cái thái độ cẩn thận, kỹ lưỡng. À, nó xuất hiện. Ta mà đọc trong các Sử Thiền á, ta hay bắt gặp những hình ảnh của những thiền sư sống thoải mái mà mình gọi là tự tại. Ví dụ như ngài Đơn Hà này. Khi mà ngài ngộ đạo được ở nơi ngài Thạch Đầu, ngài mới đi về lại Mã Tổ. Ngài leo leo tuốt lên cái vai của tượng Phật ngài ngồi vắt vẻo ở trên.

[34:19]Thì Tăng chúng báo động lên: "Ơ có ông thầy nào tới ổng leo lên tượng Phật, ổng ngồi trên cổ Phật." Thì ngài Mã Tổ mới tới coi coi ai vậy. Bước vô, ngài Mã Tổ bằng thần thông của mình biết đây là người đã ngộ đạo, đắc đạo. Biết liền. Và cái cách ngài đó là ngài biểu lộ một cái kiến giải gì đó. Nên nghĩa là chưa cần trình kiến giải, chưa nói tới nói lui, vừa bước vô chánh điện, thấy cái ông Tăng ngồi vắt vẻo trên vai của tượng Phật thì ngài Mã Tổ nói một câu: "Ừ thằng này con của ta. Thiên Nhiên." Đặt tên pháp hiệu liền. Rồi ngài Đơn Hà ngài ngồi trên vai Phật, nghe Mã Tổ bước vô nhìn mình khen là con của ta,

[35:00]tên là Thiên Nhiên, đặt pháp hiệu, ngài tuột xuống quỳ xuống đảnh lễ liền. Tại biết ông thầy này ổng hiểu mình, thấy mình liền, khỏi cần trình kiến giải. Nên Mã Tổ đắc đạo, vĩ đại. Mà ngài Đơn Hà là ngài thể hiện cái sự tu chứng của mình bằng cái phong cách thoải mái. Như vậy á, đó là một trường hợp. Hoặc là ta thấy như ngài Nam Tuyền vậy đó. Thấy hai bên nhà Đông nhà Tây mà cứ giành nhau con mèo, chụp con mèo giơ dao lên nói: "Nói được thì cứu mèo, không nói được ta chém." Hai bên ngớ người, ổng chém cái phụp đứt đầu con mèo liền. Thì những cái phong cách ta thấy thoải mái, à ta thấy thoải mái, hoặc là cái câu chuyện trong Góp nhặt

[35:37]cát đá, đi qua đoạn đường lầy, hai người đó, sư huynh sư đệ, cái đường lầy, thấy cô gái mặc đồ kimono đẹp cô không dám bước qua. Cái ông sư huynh ổng lại ổng bồng lên đi qua luôn. Cái ông sư đệ ổng giận không thèm nói chuyện nữa. Thì đêm đó chịu không nổi nữa nói: "Tại sao anh lại bồng cái cô gái?" Ổng nói: "Ủa, ta thả cổ ở đằng đó rồi, ngươi bưng tới đây hả?" Nghe phong cách mình nghe rất đã tai ha. Ồ tự tại, giải thoát, không vướng, không chấp, nghe rất đã tai. Đó là phong cách thoải mái của cái nhà Thiền. Hoặc là, lâu quá thầy không đọc lại nhiều khi thầy cũng quên tên các ngài. Có một hôm ngài Lâm Tế nói chuyện với một huynh

[36:14]đệ, đang ngồi trong bàn ăn nói chuyện không kịp đứng lên ổng đạp đổ bàn cơm ổng đi luôn. Như vậy. Có những cái chuyện mà ta thấy các ngài bày tỏ một phong cách thoải mái, tự tại mà được gọi là có một cái kết quả gì trong sự tu hành. Đó là một cái phong cách. Nhưng có một phong cách khác ngược lại: cẩn thận, kỹ lưỡng từng chút. Có những vị thiền sư chứng đạo rồi, cực kỳ nghiêm túc kỹ lưỡng, cẩn thận từng chút một. Như như có một thiền sư à ngài ngài đang ngồi ngồi thiền vậy, thấy một vị thần hiện ra. "Hỏi: Ngươi là ai? Nói: Bạch Hòa thượng, con là thần hộ giới." À, nói rằng: "Ta lo còn những lỗi chưa hết, ngươi xem ta còn lỗi gì?" Nói:

[37:00]"Hòa thượng không có lỗi gì, chỉ có một lỗi nhỏ là cái bát ăn cơm á,

[37:07]dù ăn hết rồi, những cái dính ít, nó vẫn là của đàn na tín thí, ngài đừng bỏ đi." Thế là từ đó ngài ăn xong ngài rót, chế nước vô trong rồi khoắng khoắng rửa sạch chén uống luôn. Từ đây cho tới cái cái phong tục nó kéo dài tới bây giờ, chùa nào cũng uống bằng cái, uống nước bằng cái chén mình đã ăn cơm để rửa cho sạch hết, tiết kiệm đến từng chút của đàn na tín thí như vậy. Ngài mới tròn sạch cái giới và ngài rất là cẩn thận ở từng chút nhỏ như vậy. Và có những vị vậy, cẩn thận cả một đời lời ăn tiếng nói của mình để mà giữ gìn giới hạnh. Như ngài Dương Kỳ, ngài Dương Kỳ với ngài Hoàng Long là

[37:42]huynh đệ, cùng đệ tử ngài Từ Minh, mở ra hai cái nhánh Thiền lớn như nhau, thành hai ông tổ của tông Lâm Tế. Từ một Lâm Tế truyền xuống tới ngài Từ Minh, tách ra hai đệ tử vĩ đại, một là Hoàng Long, hai là Dương Kỳ. Thì ngài ngài Hoàng Long thì sống hơi sang, nhưng ngài Dương Kỳ thì cực kỳ sống giản dị. Là một thiền sư lừng lẫy á, mà cái cốc của ngài cái tuyết nó rơi vô, mùa đông tuyết nó rơi vô một chất đống ở trên cái cái giường ngài á. Ai tới xin sửa cốc ngài cũng hỏi: "Ngộ đạo chưa?" Nói: "Dạ chưa." "Chưa về tu đi." À nghiêm túc như vậy. Mình thì khắc khổ nhưng mà dùng cái gương khắc khổ của mình để hối thúc người khác mà tu hành.

[38:26]Rồi sống hết sức là cẩn thận, tỉ mỉ. Nên trong đạo Phật như vậy, nó khi mà tu có kết quả ta bỗng nhiên thấy nó có hai phong thái. Một phong thái có vẻ như là thoải mái, dễ dãi, tự tại; một phong thái là cẩn thận, kỹ lưỡng. Hai option, bây giờ ai thích cái option thứ nhất là tu ngon rồi thì thoải mái, dễ dãi, giơ tay lên cho thầy. Được ba bốn người. Rồi, có người giơ tay rất cao, tốt, cảm ơn. Ai thích cái phong thái là cẩn thận, kỹ lưỡng, giơ tay lên cho thầy. Ồ, cái bộ bữa nay chiếm đa số ha. Rồi. Những người mà thích cái phong thái cẩn thận, kỹ lưỡng, người đó là đệ tử của Phật Quang.

[39:18]Nên có một vị thiền sư ngài mới nói thế này, khi mà tu bắt đầu ngộ đạo một cái rồi thì cẩn thận giữ gìn như đi trên dao bén, như đi trên băng mỏng.

[39:29]Đi trên cái, thí dụ mùa đông đó, cái ở trên mặt hồ, trên mặt sông nó đóng thành một lớp băng, có chỗ dày chỗ mỏng, mà mình chạy lên bờ sông mình chơi, mà dẫm dẫm bịch bịch nhằm cái chỗ mà nó mỏng vỡ một cái chui tuột xuống dưới, không tìm đường lên lại được chết luôn ở dưới đóng băng. Cho nên ngài nói là giống như đi trên băng mỏng, đi khéo khéo, cẩn thận. Hoặc là như một người mà biểu diễn cái môn khinh công vậy đó, đạp lên trên dao bén để đi cho mọi người nhìn thì cũng phải vậy đó, vận công hết sức cẩn thận đạp trên dao bén, không mà không cẩn thận là đứt chân liền. Thì khi mà tu càng có kết quả rồi thì càng cẩn thận, kỹ lưỡng.

[40:06]Là cái người mà tu bắt đầu có trí tuệ, bắt đầu có kết quả rồi thì từ từ thấy tội phước từng chút, từng chút. Hồi trước mình không thấy. Hồi hồi trước thấy bởi mình sống thoải mái. Cho đến khi mà tu có trí tuệ rồi thấy nhúc nhích cái là tội, nhúc nhích cái là phước. Nên cẩn thận từng điều tội phước nhỏ như hạt bụi. Là thánh là vậy. Nhưng mà lại không căng thẳng. Nhìn vô thì vẫn thấy sao? Thấy bình an, thấy thoải mái, nhưng mà rất là cẩn thận, kỹ lưỡng. Khi mình đến gần cái người đó đó, mình gần cái người đó như vậy, mình có cảm giác dễ chịu vì các vị không căng thẳng. Các vị vẫn từ ái, vẫn điềm đạm, vẫn vui vẻ nên mình thích đến gần, nhưng mình vẫn sợ.

[40:54]Tại sao? Vì cẩn thận quá. Nhúc nhích chút xíu là các vị nhắc mình. Nên vừa muốn gần mà vừa không muốn gần. Đó, mình gặp một ông nào mà mình thấy mình muốn gần mà không muốn gần, coi chừng ông đó chứng thánh á.

[41:13]Cái từ bi, cái điềm đạm, cái trí tuệ của vị đó toát ra làm mình yêu quý, cứ muốn gặp mãi, cứ muốn gần mãi. Nhưng mà mình ở với vị đó chừng nửa tiếng đồng hồ thế nào cũng bị rầy. Tại mình hời hợt á, mình không thấy được điều tội phước từng chút. Còn cái vị đó với cái đôi mắt vị đó soi rọi hết mọi điều tội phước nhỏ như một hạt bụi. Nên bằng lòng từ bi các vị thế nào cũng nhắc mình chuyện này chuyện kia một chút. Còn nếu mà không nhắc mình thì mình thuộc loại gì? Vứt đi rồi, nói không nghe. Nên cái đó là cái hai phong cách như vậy, ta để ý. Thôi thì Đức bà Kiều Đàm cũng vậy, những vị Tỳ-kheo-ni mà chứng A-la-hán đều là cái người ở cái phong cách thứ hai này:

[41:56]Cẩn thận, kỹ lưỡng từng chút một, mà tâm thì điềm đạm, nhu hòa, nhưng mà soi từng điều tội phước nhỏ như một hạt bụi, không sót điều nào. Vừa rồi thì cái lễ Vesak á, thì thầy được giao làm cái công tác a hậu cần, lo ăn uống cho đại lễ. Thầy thầy cứ nằm trong nhà ăn, nhà bếp chứ thầy cũng không biết chuyện gì bên ngoài. Lễ nghi rồi diễn biến thế, lâu lâu đọc báo thấy à có cái lễ vậy thôi chứ thầy không biết, thầy mắc ở trong nhà ăn, nhà bếp, lo nhà vệ sinh, đi đủ không, rồi nước nôi rồi làm sao vậy thôi chứ không có biết chuyện gì hết. Thì thường ở trong nhà ăn để coi mọi người sao rồi tiếp đãi nhất là khách quốc tế rồi đó.

[42:37]Nhiều người đến đây rồi các Phật tử tình nguyện viên của mình coi coi chăm sóc chu đáo hay không, rồi người được phép vào nhà ăn đặc biệt, người không được phép vào nhà ăn đặc biệt, ôi mệt, phức tạp vô cùng, cũng khó. Cái liếc thấy có ông thầy ngồi cái lúc đó khách cũng vắng rồi, ổng vô ổng ngồi ăn thì trúng cái hộp khăn giấy ổng lau miệng, ổng rút khăn giấy ra ổng vò vò lại còn có bề lớn vầy, chùi qua cái hết quăng. Thầy tiếc quá! Tại cái khăn giấy thầy lau đi lau lại cũng được mười lần thầy mới bỏ. Tại vì thầy xếp lại, hễ rút khăn giấy xong thầy xếp vuông vắn lại nhẹ nhàng, cẩn thận. Thì mỗi lần lau thì lau một góc nhỏ,

[43:17]lần thứ hai nhích xuống chút xíu, lần thứ ba nhích xuống. Tới khi mà đâu chừng mười lần gì đó nó mới hết cái khăn rồi thầy trở mặt xếp lại, mặt sau còn sạch đó, lau được nữa. Cho nên mà thị giả của thầy mà vô phòng thầy mà dẹp khăn giấy là thầy rất là phiền, bởi vì sự thật thầy mới xài có phân nửa khăn giấy, còn để lại một góc còn lau được nữa. Đó, nên thấy ổng rút khăn giấy rồi vò vò còn có bề lớn cục bề lớn, chùi miệng cái quăng liền thầy tiếc quá. Thầy mới nói thầy mới kêu đệ tử nói: "Con lại con nói nhỏ nhỏ, nói thầy xài khăn giấy chịu khó xếp vuông vắn xài." Mà chỉnh như vậy thì người ta sẽ hơi khó chịu,

[43:49]mà không chỉnh thì thầy sợ ổng cứ làm lây lan cái mà vò vò khăn giấy ra vậy nó phí biết bao nhiêu, trong khi trong cuộc đời này không có cái gì là là đáng vứt đi cả. Nên thầy nói đệ tử, nói: "Tụi con tu sao mà không còn nhìn thấy cái gì là rác nữa là tu giỏi." Đó là cái nhân quả mình đã hiểu. Một cánh hoa rơi xuống sự thật đó là cũng là cái ơn nghĩa của cuộc đời, chứ đừng nghĩ à hồi nó rơi xuống héo thành rác, quét quét bỏ đi nó là rác, không có. Trên đời này không có gì là rác hết trơn. Chỉ tại mình không nhìn thấy được giá trị của nó thôi, trên đời không có gì là rác hết. Nhưng mà vì ta không thấy hết nên ta ta bị phí phạm rất là nhiều.

[44:31]Đây là cũng là một cái dạng mà như vậy là thoải mái hay là kỹ lưỡng? Kỹ quá, cho nên ai gần thầy người ta cũng không ưa, không ưa vậy khổ. Thầy cũng thuộc loại vậy, không ưa. có bài kệ này: "Nhớ ơn người đầu tiên giúp ta biết Phật đạo, hãy kính lễ vị ấy như Phạm chí thờ lửa." Sở dĩ mà Đức Phật nói bài kệ này là vì có câu chuyện này của ngài Xá-lợi-phất. Ngài Xá-lợi-phất ở buổi đầu khi mà đi tìm đạo thì gặp tôn giả gì nhớ không? A-thuyết-thị (Assaji). Assaji là một trong năm anh em Kiều-trần-như. Lúc đó là ngài lại đi đâu lẩn quẩn ở Vương Xá, thì ngài Xá-lợi-phất mới đi về Vương Xá đi tìm vì cái

[45:20]khu đó là khu của triết gia mà, các nhà đạo học, các nhà triết gia tập trung về cái kinh đô Vương Xá của nước Ma-kiệt-đà để mà thi thố mà giảng dạy. Thì ngài Assaji không biết ngài có đi đâu lang thang vùng đó thì ngài Xá-lợi-phất lúc đang đi tìm đạo cũng đi về cái vùng đó, tại đó nhiều vị đạo sư nổi tiếng. Cái nhìn thấy phong cách của ngài Assaji điềm đạm, sáng rỡ, cái đến mới hỏi, mới hỏi là: "Ngài tu như thế nào, thầy của ngài là ai, mà sao các căn của ngài, khuôn mặt của ngài, dung nhan của ngài điềm đạm và rực rỡ như vậy?" Thì ngài Assaji nói câu gì nhớ không? Mấy cái này là phải thuộc rồi nha:

[45:59]"Các pháp do duyên sinh rồi cũng do duyên diệt. Thầy ta, Đại Cồ-đàm, đã tuyên dạy như thế." Nghe xong ngài Xá-lợi-phất làm sao? Chứng Tu-đà-hoàn liền ngay cái câu đầu tiên. Và ngài mang ơn ngài Assaji suốt cuộc đời của mình. Sau này cũng vậy, thí dụ ngài ở đây nhưng mà nghe tin là ngài Assaji đang đi về cái hướng đó thì ngài quỳ xuống, ngài hướng về đó ngài lạy một cái, rồi thôi, ngài làm việc lại bình thường. Rồi sau sau này cứ lâu lâu nghe ai nói là dạ tôn giả Assaji đang đi du hành ở cái khu vực đó, hướng đông cái tỉnh đó ở hướng đông, ngài lại quay về hướng đông ngài lạy một cái. Thì đâu ai biết, cái cái bắt đầu mấy Tỳ-kheo nói:

[46:44]"Ủa ngài Xá-lợi-phất ổng tu đạo gì kìa, ổng lạy tùm lum đủ hướng hết trơn vậy nè." Tại vì ngoại đạo nó có cái lạy tứ phương, tám phương, lục phương. Có người lạy thập phương, có ngài lạy bát phương, lại lục phương rồi lại tứ phương. Ông này không biết ông lạy mấy phương mà ông lâu lâu ổng lạy đầu này cái, lâu lâu ổng lạy đầu kia cái. Cái nói: "Chắc ổng ổng tu lâu rồi ổng thành ngoại đạo hay sao?" Mới mét Phật, nói: "Bạch Thế Tôn, ngài Xá-lợi-phất ổng là thượng thủ Tăng đoàn, nghe nói ổng chứng A-la-hán mà sao ổng tu cái đạo gì lạ quá, thấy ổng lạy tùm lum hết, không biết, ổng ổng có lai ngoại đạo không?" Đức Phật mới kêu ngài Xá-lợi-phất lại hỏi, nói:

[47:21]"Ta nghe các ngài các vị Tỳ-kheo nói là là ông hay lạy đủ hướng hết có không? Lạy lạy ai vậy?" Ngài Xá-lợi-phất nói: "Dạ Thế Tôn biết con mà." Ngài cũng không nói nhiều, nói: "Dạ Thế Tôn biết con mà." Bởi vì Phật với A-la-hán biết nhau cả, mà biết là Đức Phật hỏi cho vui mà. Đức Phật hỏi cho vui, nhiều khi Đức Phật rầy cho vui. Thế là: "Thế Tôn biết con mà, con đâu có lạy ai đâu." Thế cái Đức Phật mới nói bài kệ đó: "Nhớ ơn người đầu tiên giúp ta biết Phật đạo, hãy kính lễ vị ấy như như Phạm chí thờ lửa." Nói như vậy xong thì à sau đó các vị Tỳ-kheo mới hiểu ra rằng là là cái ngài Xá-lợi-phất nghe tin ngài Assaji ở đâu

[48:03]thì lạy một cái để bày tỏ lòng biết ơn của mình. Thì cái cái cái cái cái đạo đức của ngài Xá-lợi-phất làm cho ta yêu mến ngài là vậy. Nó đằm thắm, vậy mà nó sâu xa, tinh tế và cái lòng biết ơn của ngài là như vậy, nó đằm thắm và vô hạn. Mà đúng là một bậc A-la-hán thấy, chớ ta đừng tưởng là một vị thánh rồi cái cái sống sề xòa, dễ dãi. Rõ ràng thấy không, một bậc A-la-hán rồi, cái đạo đức của các vị nó tinh tế, sâu sắc như vậy đó, đằm thắm như vậy, bền bỉ như vậy, vô hạn như vậy. Còn như mình: "Á tôi đắc A-la-hán rồi thì thôi ai cũng như ai", không có. Vị kia cũng A-la-hán, mình cũng A-la-hán,

[48:43]nhưng mà cái ơn là vô hạn, nghe tới đâu lạy tới đó. cái ngài, bởi vì ta phải sao ta gọi ngài Xá-lợi-phất là trí tuệ đệ nhất? Không phải là ngài khôn, mà chính vì cái đạo đức của ngài quá vậy đó, quá tinh tế. Gọi là "ba ngàn oai nghi mà tám muôn tế hạnh" là cái chỗ này. Mà ta mà ta thấy từng chút ta mới thấy cái vĩ đại của ngài. Về nói về cái ơn nghĩa này như thế. Thật sự, chúng sinh sống trên đời này đó đều có ơn nghĩa qua lại với nhau cả. Mà ta thấy thế này, ngài Xá Lợi Phất chịu ơn một lần, và đối với ngài cái ơn đó là là sao? Vô hạn, phải không? Không bao giờ hết nữa. Một lần giúp ngài rồi, cái ơn đó là vô hạn.

[49:33]Đạo đức của một vị A La Hán là như vậy. Mình thì sao? Thì cái lòng biết ơn mình nó hữu hạn, là do mình chưa phải là A La Hán. Bây giờ có một lúc là khổ, có người đến giúp mình một số tiền, mình biết ơn không? Biết, nhưng biết bao lâu? Chừng 3 năm, 5 năm. Nên ở đây vậy, ta hãy nhìn cái thời gian mà ta biết ơn một ai để biết cái đạo đức mình nhiều hay ít. Nếu cái thời gian của mình biết ơn ai đó mà nó ngắn quá thì biết rằng cái trí tuệ, cái đạo đức mình nó ít. Còn nếu mỗi khi mình nghĩ đến cái ơn nghĩa của ai trên đời mà mình cảm động, mình ghi nhớ, dù có khi mình chưa đền ơn được, nhưng mà cái tình cảm, cái sự trân trọng,

[50:29]cái lòng biết ơn nó vẫn tồn tại mãi thì biết rằng cái đạo đức, cái trí tuệ mình nó nhiều. Nhớ như vậy. Chỉ đo trên cái lòng biết ơn để biết mình, mình là như thế nào. Ví dụ bây giờ với cha mẹ mình cũng vậy. Cha mẹ mình sinh mình ra, nuôi mình lớn. Rồi đến khi lớn lên chút xíu á, cha mẹ mình đâu phải là thánh, có khi cũng xử oan mình, có khi cũng nói những lời thô tục, ừm, rồi lớn lên chút xíu hơi yếu yếu mình cũng phải nuôi gần chết, phải không ạ? Nhưng mà sao? Nhưng mà khi mình nghĩ về cái tuổi thơ mà cha mẹ mình đã sinh ra mình, đã nuôi nấng, đã bồng ẵm mình thì cái lòng biết ơn đó vẫn gì? Vẫn vượt qua hết tất cả tới vô hạn.

[51:14]Thì cái người như vậy cái đạo đức, cái trí tuệ họ nhiều, nhiều, vì cái lòng biết ơn nó kéo dài. Còn cái lớn lên chút xíu rồi cái có chút gia đình rồi cái không nghĩ tới công ơn cha mẹ, quên mất cái ngày xưa mà được ẵm, được bồng, được nâng, được niu, quên. Rồi nhiều khi cha mẹ mình la mình cái mình giận luôn, giận luôn. Nhất là coi mấy phim Tây phương á, nói chuyện với cha mẹ mà nói còn thua với bạn nó nữa, la nó một cái nó vô phòng đóng cái cửa cái rầm nó không thèm nghe, có khi nó nạt lại. Thì biết rằng ở bên cái xứ đó nó dạy người ta cái lòng biết ơn ngắn quá, cho nên cái đạo đức không có. Và cái xứ đó là cái xứ mà có thể họ dạy chúng ta về kỹ thuật,

[51:57]nhưng ta phải dạy họ lại về cái đạo đức văn hóa. Vì đạo đức văn hóa ta hay hơn họ nhiều, hay hơn họ nhiều nên đừng vọng ngoại. Nhiều cái khác cũng vậy, ví dụ như có những người thật ra đó là cái người mà họ ban ơn cho ta đó, họ không phải là một bậc thánh tuyệt đối như ngài A Xa Di. Ví dụ ngài A Xa Di một lời nói khai ngộ cho ngài Xá Lợi Phất, nhưng mà ngài là A La Hán nên vĩnh viễn ngài không có lỗi lầm, vĩnh viễn ngài không bao giờ xúc phạm lại ngài Xá Lợi Phất, vĩnh viễn ngài không kể công, không nhắc lại chuyện đó. Cho nên, ngài xứng đáng để được biết ơn vô hạn. Nhưng mà còn chúng ta, trong cuộc đời này, ân nhân của ta họ không phải A La Hán.

[52:44]Họ tốt với ta trong giai đoạn đó, nhưng có những giai đoạn khác họ cũng hơi hơi cà chớn một chút. Họ cũng hơi lộn xộn một chút. Đôi khi họ cái nhân cách họ cũng không đầy đủ. Đôi khi họ cũng ba trợn. Có những lúc tự nhiên họ cũng ấy. Nhưng mà thôi, cứ nghĩ cái ơn một lần họ đã giúp mình, ta cứ ghi, ghi nhớ suốt đời. Còn cái nhược điểm của họ cứ xếp qua một bên, để đó, không có xóa, không vì cái này mà không vì cái dở của họ mà ta cấn qua trừ lại cái xóa luôn cái ơn của họ. Không phải vì như vậy, vẫn nhớ ơn. Đó vậy, thì nếu mà mình suy nghĩ được như vậy thì là cái đạo đức của mình nhiều, vì cái cái thời gian mà cái lòng biết ơn của ta nó tồn tại nó nó dài.

[53:31]Nên trong cuộc đời này cũng vậy, ta hãy nghiệm vào cái điều này, hãy suy nghiệm về điều này. Giống như với thầy cô giáo cũng vậy. Thầy cô giáo nhiều khi mình ghé trường đó mình học có mấy tháng à, hoặc là mình ghé trường đó học có một năm qua năm đi chỗ khác. Thì thầy cô giáo dạy mình có một năm đó mà trong một năm đó bao nhiêu môn, mỗi môn một ông thầy mà. Thành thử cái cái công lao mà người đó truyền cái kiến thức vào trong tâm hồn mình nếu mà chia ra không nhiều. Nhưng mà nếu nghĩ như vậy rồi mình quên ơn, mình là người thuộc loại đạo đức ít. Còn nếu đã một chữ cũng thầy theo cái văn hóa Á Đông,

[54:08]nửa chữ cũng thầy, một chữ cũng thầy, nghĩa là ông thầy đó ổng xuất hiện ổng dạy mình đâu có mấy tháng rồi ổng đi đâu mất tiêu, mãi mãi vẫn là thầy mình. Bao nhiêu năm gặp lại, vẫn là thầy mình, lòng vẫn kính trọng, đủ cái lễ của người học trò đối với thầy và mãi mãi suốt đời. Nếu mình có cái lòng biết ơn dài như vậy thì tức là mình có cái đạo đức, có cái trí tuệ rất là rất là nhiều. Thì cái này không ai ép mình được, cái này nó là thuộc về trí tuệ, thuộc về đạo đức. Mà đây là chỗ chúng ta là đệ tử Phật, tu sao phải nhìn cái chỗ này để biết mình tiến hay hay không tiến. Chứ không phải là tu rồi cái trở nên dễ dãi, thoải mái rồi sao cũng được, không.

[54:49]Tu càng lâu rồi nhìn lại cái lòng biết ơn của mình đối với mọi người trong cuộc đời này, đối với cha, đối với mẹ, đối với các thầy cô giáo của mình, đối với bạn bè, đối với những ân nhân, đủ thứ hết trơn rồi nè, mà lòng biết ơn mình nó kéo dài, dài tới vô hạn luôn thì mình coi chừng sắp chứng A La Hán bằng ngài Xá Lợi Phất.

[55:13]Hôm thầy nhớ nhạc sĩ Bảo Chấn, ừ ảnh có viết một bài nhạc, thật ra nghe mình chả hiểu ảnh viết cái gì. À nhưng mà nghe ảnh giải thích thì mới thấy hay. Cái bài mà ừ: "Thế nhé, xa nhau suốt đời", nhớ không ạ? Bài thấy nghẹn. Ủa, ủa xưa ít người nhớ hả? Thôi bữa thầy mới, có bài này cũng vậy, à cái gì nữa: "Nếu có chia ly suốt đời", nhớ không à, biết không? Ủa, nhiều người không biết hả ta? Ủa xưa dữ vậy à? Bữa thầy mới mở thầy nghe lại. À nghe thì giống như một bài nhạc tình cảm này thôi, thầy thấy Lam Trường cũng hát nè, Thanh Lam cũng hát. Hát đại khái vậy trên mạng mở ra coi. Một bài nghe thì khó hiểu lắm,

[55:57]biết là yêu yêu gì đó thôi chứ không biết yêu cái kiểu gì. Ừ, nhưng mà nghe ảnh giải thích thì mới mới mới mới mới hiểu là ảnh nói thế này: Ảnh nói trong cuộc đời làm nhạc sĩ của ảnh thì ảnh tiếp xúc với nhiều hạng người, rồi thấy người ta yêu nhau rồi người ta bỏ nhau nhiều lắm trong giới nghệ sĩ mà, lung tung xèng ở trúng. Mà ảnh thấy có cái nhược điểm: Lúc mà yêu nhau đi cặp kè với nhau nó vui, tới chừng nó chia tay nhau nó xúm nhau nó nói xấu nhau không còn cái non nước gì trên đời. Ờ ảnh thấy ảnh bực quá ảnh mới viết cái bài đó. Ừ, nếu có chia tay suốt đời thì cũng đừng quên phút giây tuyệt vời đã từng có với nhau.

[56:31]Đã có những lúc mình đã nói những lời ngọt ngào yêu đương say đắm nhau, bây giờ không yêu nhau nữa thì cũng hãy tôn trọng cái giây phút đã từng có, đừng nói xấu nhau. Thì nó cái ý nghĩa bài này hay quá mà. Mà nghe bài nhạc thì không hiểu. Chứ nếu mà để cho thầy mà viết lời lại nó sẽ ra hết cái ý đó à. À, tại thầy viết lời nó sẽ rõ hết. Mà giờ hổng lẽ thầy sửa lưng ảnh thầy lại viết lời lại nó kỳ, thôi thầy cho nó quên luôn, xếp vào quên lãng, chứ thầy cũng tiếc cái ý nó hay. Nhưng mà nó cũng liên quan tới cái bài này, cái bài Pháp Cú này nên thầy nhắc lại là như vậy, đó. Có những lần mà trong đời ta đã sống tốt đẹp với nhau thì

[57:07]thôi hãy nhớ cái giây phút đó, dù sau này không còn bên nhau nữa, không còn hợp nhau nữa, vân vân như vậy. Nếu có chia ly suốt đời đấy, xin đừng quên phút giây tuyệt vời. Ta nghe bài thứ tư: Được gọi Bà La Môn, chẳng vì tóc bện khéo, chẳng vì dòng dõi riêng, mà chỉ vì đức hạnh với trí tuệ sáng ngời. Đó là Bà La Môn. Thì cái này nó giống như lần trước ta nghe vậy, cũng cái chuyện tranh cãi về cái danh hiệu Bà La Môn. Đức Phật dùng chữ Bà La Môn với ý nghĩa là thánh nhân. Còn những người Bà La Môn thì dùng cái chữ Bà La Môn với ý nghĩa về dòng dõi, về giai cấp, khác nhau. Cho nên họ hay nghe Đức Phật nhiều khi khen

[57:53]ai cũng kêu là Bà La Môn cái họ ấm ức. Họ nói: "Nhớ thằng này hồi đó nó làm cái nghề gì á, tự nhiên bây giờ tự nhiên vô đó cạo đầu đi tu tự nhiên được kêu Bà La Môn", cái ấm ức. À, cái mới tới cãi với Phật. Ổng mới nói thế này: Ổng là dòng dõi giai cấp Bà La Môn, tóc ổng bện, uốn, bới đúng quy cách của Bà La Môn thì ổng mới là Bà La Môn. Nhớ người Ấn Độ họ tóc họ nhiều lắm chứ không giống như người Việt Nam mình. Người Việt Nam mình cái gen của mình về cái nội tiết tố nó làm sao á, cho nên cái tóc của mình nó không không nhiều lắm. Lâu lâu mình thấy có người tóc nhiều thôi, chứ bình thường tóc mình vừa chừng.

[58:28]Còn người Ấn Độ không biết sao cái gen của họ tốt mà tóc họ một đống. Cái họ phải bới lại chứ không có để lùm xùm, và mỗi giai cấp có một cách bới khác nhau, không được bới lộn xộn, bới lộn xộn bị phạt. Cái người mà Thủ Đà La đó thì cắt lổm chổm theo cái đầu của cái ai mà model bây giờ thầy hay thấy nè: Hớt sát hai bên đây rồi để một cục trên đây nè. Lúc này thầy hay thấy người đó. Đâu mất rồi? Đây, bữa nay sao không thấy kìa? À, nên cái người mà bên hai bên đây nè hớt sát rồi ở đây để một cái dải dài dài đó thì đó là giai cấp Thủ Đà La, giai cấp đi gánh phân. Cái thời Ấn Độ. Hồi nãy thấy thấy đâu bữa nay không thấy nữa kìa,

[59:10]bữa nay không thấy để thầy đứng lên tiêu biểu.

[59:16]Hên ha, bữa nay không thấy ai hết, chứ mọi lần hễ đi ra đường hễ gặp hoài cái nói: "Mấy bữa nay tự nhiên giai cấp Thủ-đà-la nhiều quá." Cái thời đó vậy nên không được để tóc dài. Tới cái người mà thương gia giai cấp mà mà Phệ-xá đó thì họ cũng để tóc dài mà họ quấn theo cái cách của họ, quấn vậy đó. Rồi cái người mà Bà-la-môn thì họ quấn phức tạp lắm, họ để dành rất nhiều thời gian để uốn tóc. Mỗi cái lọn bên đây là kéo thế nào, chải thế nào, uốn bao nhiêu vòng, lọn đây uốn bao nhiêu vòng, đằng trước bao nhiêu vòng, xếp lên gói bò rắn ngồi gắn lại cho thành một đống như thế nào. Còn mà giai cấp mà Sát-đế-lợi làm quan làm tướng thì lại cách khác

[59:50]nữa, cũng vậy mỗi lọn là bao nhiêu chồng bao nhiêu đống rồi đó. Lên nhìn cái mái tóc thôi là biết thuộc giai cấp nào. Bởi vô tới đi tu, Đức Phật cạo sạch. Khỏi giai cấp gì nữa hết trơn. Nhìn vô không biết ai ở giai cấp nào hết trơn. Ha, mình cứ tưởng là là mình cứ tưởng là đi vô cạo đầu cho mát, không có đâu. Cái cạo tóc trong đạo Phật là để phủ nhận cái nguồn gốc giai cấp của người đó. Ta phải hiểu tinh tế như vậy, hiểu tinh tế như vậy. Cạo bỏ râu tóc là để phủi đi cái cái cái giai cấp của mình, vậy đó. Thì cái ông này ổng mới đến cãi với Phật. Ổng nói là: "Thưa Sa-môn Gotama, tôi nghe Ngài cứ khen người này,

[1:00:27]khen người kia là Bà-la-môn, nhưng mà tôi biết rõ những người đó, người đó xuất thân từ đâu, làm cái gì, rồi sau đó là xuất gia vô Ngài, ha, rồi cái ít lâu cái nghe Ngài khen người đó là Bà-la-môn, thì tôi không có bằng lòng. Bởi vì để là Bà-la-môn thì phải có cái dòng dõi như tôi, cha mẹ tôi là bảy đời là Bà-la-môn. Cái tóc tôi được bện như thế này, với đúng quy cách này mới là Bà-la-môn." Thì Đức Phật mới nói là: "Được gọi Bà-la-môn chẳng vì tóc bện khéo, chẳng vì dòng dõi riêng, mà chỉ vì đức hạnh và trí tuệ sáng ngời." Đức Phật ngài ngài khẳng định như vậy. Thì cái bài kệ này có là như vậy.

[1:01:07]Đại khái chiều này có hoài, hôm nay ta cũng nghe chút xíu cho vui. Thường á thì ta cho ai một cái danh hiệu hay một cái lời khen

[1:01:18]thì theo một cái nguyên tắc, theo một cái quy tắc, theo một cái công thức. À ví dụ như để gọi ông này là giáo sư thì ông phải là sao? Ông phải là dạy một đại học, phải không ạ? Mà trước đó ông phải có bằng gì? Tiến sĩ. À ông có một vài bài bài viết được đăng trên báo, tờ báo nào đó có uy tín về cái lĩnh vực của ông. Và tính ra bao nhiêu năm ông dạy với bằng cấp tiến sĩ đã có, bao nhiêu công trình, xét phong hàm giáo sư hay phó giáo sư gì đó. Đó là ta theo đúng cái công thức đó để có cái danh nghĩa là giáo sư. Hoặc là để gọi là một thầy tu thì cái người đó phải xuất gia bao nhiêu năm, đã thọ bao nhiêu giới, đến giới tỳ-kheo.

[1:02:04]Vậy hoặc là để được là một thượng tọa thì cái cái tuổi mà tuổi mà xuất gia không tính, mà tính từ cái tuổi thọ giới tỳ-kheo phải được 25 năm, vân vân. Còn để mà một hòa thượng thì thêm 15 năm nữa là 40 năm. Đó là ta theo có công thức để ta ta tôn danh xưng của ai, như vậy. Nên chính vì vậy mà nhiều khi cái chữ ca sĩ, nhạc sĩ sau này người ta phiền lắm. Có người đứng lên cầm sân khấu hát hát cái nói: "Ca sĩ". Hễ mà có chữ "sĩ" thì thường phải có bằng cấp, phải đi học qua một cái lớp nào đó và tốt nghiệp. Rồi khi đứng lên hát không có lỗi được người ta chấp nhận thì mới chữ "ca sĩ". Còn đứng lên hát đại một bài cái cũng xưng mình là ca sĩ, nó oan cho cái từ "ca sĩ".

[1:02:52]Cũng giống như nhạc sĩ cũng vậy, chữ "sĩ" rồi là phải có cái bằng cấp là phải sáng tác được. Đó, thì mới gọi là nhạc sĩ. Thế còn leo lên cầm cây đàn guitar đánh cà xẹt cà xẹt cà xẹt rồi cũng xưng mình là nhạc sĩ thì oan. Cho nên thường để có một cái danh hiệu, ta phải có một cái cái công thức, cái nguyên tắc, tiêu chuẩn để được một cái danh hiệu nào đó, vậy. Thì nhờ những cái tiêu chuẩn, những cái công thức, những nguyên tắc đó mà cái xã hội nó tương đối nó ổn định. Anh lên cầm cái micro hát thì không được nói là ca sĩ, đợi đó. Thôi hát thì ừ hát tốt á, chứ đừng xưng ca sĩ, đi học lại cho đàng hoàng.

[1:03:30]Nên có nhiều người sau khi đạt giải rồi, Sao Mai Điểm Hẹn, đạt giải Tiếng hát Truyền hình rồi, đạt giải rồi lại bắt đầu vô trường học lại, vì biết mình là chưa hề có bằng cấp. Ừ bài đó hát nghe hay được chấm điểm á, nhưng mà rất nhiều điều khác trong âm nhạc chưa hề biết, phải đi học lại. Giống như thầy, thầy viết nhạc được, hát thì cũng người ta cũng ráng ngồi nghe lắm, ráng gồng mình ngồi nghe chứ không phải không, viết nhạc được nhưng mà không thể gọi thầy là là nhạc sĩ được vì thầy không có bằng, không có đi qua nhạc viện. Cho nên ừ nói gì đó kêu cho vui vậy thôi chứ nói: "Ờ, ông thầy này ổng có nghệ sĩ ghê ha, biết nhạc", thì được, chứ gọi là:

[1:04:09]"Nhạc sĩ Chân Quang" là không được rồi nha, không có bằng, không có tiêu chuẩn đó, trên đời như vậy. Tuy nhiên, tuy nhiên nói đi rồi phải nói lại, cái nguyên tắc, cái tiêu chuẩn, cái công thức nó làm cho xã hội ổn định, nhưng nó cũng cản trở cái chân lý. Tại vì chân lý nó không phải công thức, không phải tiêu chuẩn đâu, không phải nguyên tắc đâu, mà chân lý nó là hiệu quả cuối cùng, hiệu quả cuối cùng. Ví dụ như nói: "Ông này ổng có tiến sĩ, ổng dạy đại học", chưa chắc là ổng là người có thực tài. Vì cái bằng tiến sĩ của ổng, trong lúc suốt bao nhiêu năm học đại học, thường quay cóp. Cái luận án của ổng, thuê người ta làm.

[1:04:53]Và ổng ngoại giao khéo với cái ban mà giáo sư chấm điểm, có bằng tiến sĩ, nhiều lắm. Có không ạ? Có. Rồi ổng đi dạy đại học, ổng dạy đại học thì sinh viên rất khổ sở vì ổng dạy khó hiểu quá mà không tiến bộ. Nhưng ổng ngoại giao tốt với ban giám hiệu, cứ để ổng đứng lớp hoài. Lâu lâu ổng thấy ai có ý tưởng gì hay ổng thuê viết, đăng bài báo rồi lấy được danh hiệu giáo sư, nhưng mà thực tài không có. Cho nên cái công thức, cái nguyên tắc, cái tiêu chuẩn để mà ta định giá một con người á cũng không nói hết được cái giá trị thật của một của một con người. Mà quan trọng là cái thật, mà cái thật nó nằm đâu

[1:05:30]trong tâm họ đó, ta rất khó rất khó đánh giá. Giống như hồi xưa vậy, cái ngai vàng mà truyền thì truyền cho ai? Truyền theo theo huyết thống, ha, ông nội truyền cha, cha nhường con, con truyền cháu. Nhưng mà có bảo đảm là người mang dòng máu đó nó sẽ vĩ đại như cái người đầu tiên mà lập nên triều đại không? Có không? Không, không hề. Cho nên có những vị vua họ truyền hiền không truyền tử, giống như vua Nghiêu, vua Thuấn á. Vua Nghiêu sau khi mà ổng già rồi ổng kêu vua Thuấn không phải con mình lại ổng truyền ngôi. Truyền hiền không truyền tử, vì con mình bất tài. Thì vì huyết thống không bảo đảm rằng người đó sẽ là một vị vua anh minh,

[1:06:12]nhưng mà ta vì tình cảm riêng, ta hay ưu ái riêng cho cái cái huyết thống của mình. Đó cũng là theo cái tiêu chuẩn, theo cái nguyên tắc, theo cái công thức một cách cứng ngắt và cố chấp, cố chấp, vậy. Cho nên vì vậy có ví dụ bây giờ trở lại cũng vậy, vấn đề ca sĩ cũng vậy. Nói: "Vì theo nguyên tắc là anh phải đi học cho đàng hoàng, biết âm nhạc mới được hát." Nhưng có người họ không đi học, không có bằng cấp, nhưng họ nghiên cứu có chiều sâu, hát hay, nhưng mà ta từ chối: "Không, anh không học, không có ca sĩ", cũng oan cho họ. Giống như thầy không có bằng cấp nên không gọi thầy là nhạc sĩ, cũng oan cho thầy lắm.

[1:06:55]Thật sự á, khi viết một bài nhạc mà đưa cho nhạc sĩ phối rồi trao đổi với ca sĩ để hát, mình phải biết rất nhiều về chiều sâu của âm nhạc chứ không phải là không, những kiến thức rất nhiều. Cho nên hồi đó anh Bảo Chấn mà ảnh phối nhạc cho thầy, nhiều bài nhạc xong ảnh nói một câu, ảnh nói: "Biết vậy không thèm đi học nhạc nữa." Tại ảnh biết rằng thầy không có học, nhưng mà bài nhạc thầy viết có chiều sâu, ảnh rất là thích. Cái câu nó ảnh nói như vậy, nó là một cái lời khen đối với thầy, rất là an ủi thầy, nhưng mà thầy vẫn không bao giờ được công nhận là nhạc sĩ vì không có bằng cấp. Oan cho thầy, tội nghiệp cho thầy lắm nha.

[1:07:32]Không biết Cười hả? Thì ở đây cũng vậy, trên đời qua cái câu chuyện này, khi ta đánh giá một con người, ta hãy đánh giá vào trong tâm hồn của người đó, thực chất của, hiệu quả công việc của người đó đã làm nên. Sau này nhiều cái công ty của nước ngoài mà nhất là của Mỹ á, họ tuyển dụng người không có bằng cấp không cần. Họ đưa một cái test, họ đưa một cái task, bài tập kêu làm thử. Mà hễ làm được điều đó, tức là đủ tiêu chuẩn để vào công ty của họ làm việc. Nhất là những công ty phần mềm á, viết lập trình á, họ ra một cái yêu cầu làm, họ không bao giờ hỏi bằng cấp, học ở đâu. Hễ làm được cái task đó là người này đủ tiêu chuẩn,

[1:08:17]đủ trình độ, đủ trí tuệ để bước vô, vào cái công ty phần mềm này. Nên bây giờ họ cũng bớt, bởi vì sao? Vì như Bill Gates á, Bill Gates bỏ ngang không thèm học nữa. Steve Jobs bỏ ngang, nhưng mà họ đã làm nên những sự nghiệp lớn cho nước Mỹ và cho thế giới, như vậy. Giống như cái thời mình mà kháng chiến chống Pháp á, bị lục lại mấy cái mấy cái những cái vị mà hàng mà mà mà mà mà lãnh đạo lớn của thời đó, hỏi ra ông nào cũng học lớp 4, lớp 5 à. Mà trí tuệ cực kỳ.

[1:08:49]Dựng lên cả được cái cái sự độc lập, cái nền độc lập cho quốc gia của mình, vậy. Nên cái cái câu chuyện này cũng vậy, ta hãy nhìn một người nào mặc dù ta cũng dựa một phần vào cái tiêu chuẩn, vào công thức, nhưng mà nhớ cái đó vẫn chỉ là vẫn chỉ là phụ, hãy nhìn thẳng vào tâm hồn của người đó. Ví dụ ta nhìn một thầy tu thì đầu tiên ta cũng nhìn vào cái hình dáng chút xíu: "À, ông này đúng ổng cạo đầu, mặc áo cà sa, hỏi ra đắp y tỳ-kheo, hỏi ra nữa thì thọ giới tỳ-kheo bao nhiêu năm." Thì như vậy à với đó là những tiêu chuẩn căn bản ta cần biết về một con người thầy tu đó. Nhưng mà đó chưa hết, chưa đủ để ta đặt lòng kính trọng.

[1:09:30]Hỏi thêm, để ý thêm nữa: "Ông sống như thế nào, ngôn hạnh ổng ra sao, nói năng ổng xử lý công việc thế nào, trước những cám dỗ ổng có động tâm hay không, trước những thử thách, xúc phạm ổng có động tâm hay không", vân vân. Những cái đó mới là mới là bảo đảm một người thầy tu tốt, nhớ như vậy. Thôi hôm nay mình nghe bốn cái bài Pháp Cú này thôi nha. Rồi à kỳ này không có nhạc nhiếc gì hết trơn. Mọi người đem câu hỏi lên trả lời. Có ai hỏi gì thì hỏi, đưa đưa câu hỏi lên. Gia đình con là đạo Hòa Hảo,

[1:10:11]ba con ăn chay hơn 40 năm, nay con muốn quy y theo Phật. Hòa Hảo cũng là đạo Phật mà, có gì đâu mà lo, nha. Hòa Hảo cũng là đạo Phật, có gì đâu. Bạch thầy, người tu sĩ có được phép tập tạ không? Con có đi tập tạ chung với một số thầy, nhưng thấy môi trường ở phòng tập có nói tục, chửi thề, đôi khi thấy một số thanh niên giỡn hơi lố, con cứ băn khoăn hoài. Thật ra, cái giới luật của thầy tu nghĩa là thế này: nghĩa là đừng để cái cuộc sống của mình nó nó trùng lặp với đời sống thế tục quá. Đó, giới luật nghĩa là như vậy đó. Cho nên thấy cái môi trường mà thế tục tầm thường quá, mình nên tránh. Chứ còn luyện tập cơ thể thì cần thiết.

[1:10:52]Thì ở chùa mình cứ lập cái phòng tập ra, mua tạ về tập, không sao. Con nghe nói ba ngàn thế giới, ba ngàn thế giới là tượng trưng cho rất đông cái thế giới trong vũ trụ này có sự sống trong một thiên hà thôi, và còn nhiều thiên hà khác nữa. Cho nên ta thấy cái vũ trụ quan của đạo Phật rất là hay. Từ mấy ngàn năm trước chưa có cái nền thiên văn tiến bộ như bây giờ, mà các ngài chỉ bằng thiên nhãn của mình các ngài đã thấy được cái vũ trụ mà rất là giống như bây giờ. Mà bây giờ cũng chưa thấy hết như là các vị A La Hán thấy nữa. Nó như vậy. Thưa sư phụ, có phải khi đi xuất gia là né tránh bụi trần không?

[1:11:32]Không, đi xuất gia tức là ta đi vào cái môi trường để cái sự tu tập được chuyên sâu hơn. Chứ ở đời sống cư sĩ ta vẫn tu tập nhưng mà nó không chuyên sâu, còn đi vào xuất gia thì ta vào môi trường chuyên sâu hơn mà thôi. Sư phụ dạy hiện tượng đồng tính là một căn bệnh nhưng Tổ chức Y tế Thế giới WHO nói đồng tính là bình thường, con không hiểu sao. Người ta nói bình thường nhưng người ta đều nói là trong não có một lệch lạc. Vậy thôi, tức là bệnh, ừm, tức là bệnh. Lúc nào đó người ta sẽ tìm cách chữa cái bệnh đó. Con thấy có một số thầy có chấm ở đầu, có một số không. Đó là khi thọ giới Bồ-tát á thì quý thầy thường hay đốt

[1:12:15]mấy liều nhang là tượng trưng cho đốt thân cúng dường Phật. Nó ý nghĩa là tượng trưng thôi. Rồi sau này người ta xem cái đó là tưởng như là chức vụ đại úy, thiếu úy gì nên không phải. Tượng trưng cho đốt thân. Rồi có nơi cho đốt, có nơi giáo hội không cho đốt, vậy thôi. Hôm trước con ngủ ở chùa mơ thấy con rắn to đến làm mọi người hoảng sợ, nó cắn người bị thương. Nó có đến gần con nhưng con sợ nhưng đứng yên nó không cắn con, chỉ làm con bị trầy xước nhẹ. Đó là gì? Sắp sửa vướng vào nghiệp ái dục nha, nhưng mà cũng nhẹ.

[1:12:47]Con là tu sĩ, con thường tự ý cắt xén thời gian tụng kinh để trốn đi ngồi thiền, như vậy có tổn phước không? Không, tốt thôi sao, cũng là tu mà. Cũng là tu.

[1:13:01]À, con nghe trong bài giảng sư phụ nói nếu ai mà hưởng thụ tiêu xài hoang phí, xài xe tiền tỷ, quần áo hiệu sẽ bị đọa rất nặng, nhưng nếu như họ cũng hay làm từ thiện thì cái phước có bù lại, không có bị đọa không? Thì nếu bù qua sớt lại thì phải cân đo đong đếm nha. Mình phải coi coi, ví dụ cái họ hưởng thụ bao nhiêu rồi họ làm phước bao nhiêu, cân coi bên nào nặng. Tiền xài bên nào nhiều, nếu mà cái tiền mà để làm phước nhiều hơn cái tiền mà họ xài hàng hiệu á thì chắc là phước còn dư. Nhưng mà nếu họ xài hàng hiệu đồ mắc tiền rất nhiều mà tiền bỏ ra làm phước rất ít thì nó vẫn không bù lại được nha.

[1:13:34]Cứ đó nó là một bài toán.

[1:13:39]Lòng bị giằng xé giữa cái cái cái đạo cao siêu và những bản chất thấp hèn của ái dục, mà con có một mình. Bởi vậy phải tham gia đạo tràng mà tu. Khi mình tu với huynh đệ đó thì mình có sức mạnh hơn là mình tu một mình, dễ sa ngã lắm, dễ bị dãi đãi.

[1:13:58]Thì đúng rồi, bị tai nạn xe rồi bây giờ chấn thương sọ não giờ hay nói lắp và ít muốn nói chuyện, vì cái vết thương nó vẫn còn nằm ở trong não á. Thầy hằng ngày cũng lạy Phật sám hối là đúng nha, rồi làm phước thêm rồi có khi vậy đó cái vết thương nó hết luôn cái trở thành người bình thường hoàn toàn lại. Bị tự kỷ cái này thầy có nói rồi, bệnh tự kỷ là lúc còn nhỏ đó mình không có đủ người bảo vệ cho bé, cái vong nó tới nó nói chuyện, cái hình thành trong đầu bé cho tới ba tuổi là cái ngôn ngữ của vong. Thế từ đó bé nó không biết ngôn ngữ loài người nữa. Nói như vậy. Cho nên phải mình phải nói chuyện với bé nhiều lắm.

[1:14:34]Đem đạo lý cứ ngồi nói với bé, nói riết nói riết, phải tốn một hai người mà cứ thay phiên nhau nói chuyện, lần lần nó mới dựng lại cái ngôn ngữ của loài người trong não nó. Chứ còn không đầu nó chỉ có ngôn ngữ của ma. Mà ma mách nó cái gì nó nói đúng dễ sợ lắm, biết rất là hay, mà do ma mách thôi.

[1:14:52]Cái nghề mà mình nó không làm cho mình thích, mình khó chịu. Cái đó là mình cũng thiếu phước á. Tại cái người mà mình đủ phước á, mình được cái chánh mạng, mình chọn được cái nghề mình ưa thích. Còn ở đây mình muốn cái nghề khác mà không được, tức là phước mình vẫn đang ít, chánh nghiệp không đủ cho nên nó không có chánh mạng. Còn khi mình phước đủ rồi, mình được quyền lựa chọn cái nghề mà mình thích. Nên bây giờ là khoan vội vàng chọn cái nghề khác như Dược hay Hộ sinh gì đó, mà nên lo làm phước trước. Khi phước đủ rồi tự nhiên mình chọn được cái nghề mình thích, ừm.

[1:15:29]À, con có giấc mơ thường lặp đi lặp lại là con có phép bay được và đi trong nước như trên không, hay đánh ma quỷ cứu người. Khi thua hay xuống nước trốn. Con lại thường nằm mơ rồi mọi chuyện xảy ra gần giống, có khi giống y đến nỗi con nghĩ nó xảy ra rồi. Cái này đời trước con có tu nha, cũng có cái tu tập về thiền định, tu về phép thuật, tu tiên đó, tu nhưng mà có tu. Cũng có kết quả một phần nào, giờ nó cứ tái hiện lại. Giờ mình hết rồi nhưng mà nó cứ tái hiện lại. Cái điều này nhắc để cho mình cố gắng mình tu tiếp trở lại nha, nó vậy. Nói rằng có một số trường hợp là do ông bà buồn nên con cháu trong nhà

[1:16:06]có chuyện này chuyện kia, nó cũng đúng chứ không phải không đâu. Cũng đừng coi thường cái đó, cái đó người ta giải thích vậy cũng là đúng một phần đó. Nhưng nhiều khi trong nhà có chuyện quá thì không phải do ông bà buồn buồn đâu, mà có những cái người âm khuất mặt trong nhà, họ lẫn ở trong nhà. Họ cũng hay gây rối, mình không cúng cho họ ăn á, mình không nghĩ đến họ, họ cũng phiền, họ cũng gây rối trong nhà hay chuyện này chuyện kia. Nên nói như vậy lâu lâu cũng phải cúng trong nhà trong cửa những người âm và tụng kinh cho họ nghe. Nhất là mở những băng giảng cho họ nghe riết nghe riết như vậy, họ siêu đi rồi nhà mình cũng yên, như vậy.

[1:16:38]Chồng con luôn tự cao, việc gì cũng cho mình là đúng, không nghe lời khuyên của vợ, xem thường vợ, hay cờ bạc. Đó! Cái tự cao và cái cờ bạc nó nó là nhân quả của nhau. Ngoài cờ bạc rồi còn nhiều thứ nữa thầy chưa điều tra ra hết nha. Mới mách với thầy cờ bạc, nếu điều tra ổng thì ổng thêm ba bốn chục cái tội khác nữa nha, chỉ vì tự cao. Cái tự cao rồi sinh ra đủ thứ lỗi vậy đó, ừ.

[1:17:04]À, con có đứa em gái mất cách đây gần 6 năm. Em con đang ngủ thì bị trợn mắt, đỏ lên rồi chết. Con cầu siêu rất nhiều và 49 ngày có làm chay tăng. Nhưng cách đây mấy ngày em con nhập về bảo kêu con đến chỗ phòng trọ chỗ em con ở lúc trước, xin người ở đó cho em con về nhà. Em con nói là bị bắt ở đó không đi được. Cái mà đang ngủ mà tự nhiên trợn mắt lên ặc ặc ra rồi chết, thì bên y học giải thích là cái gì? Nhồi máu cơ tim. Nhưng mà nó có sự thật có khi là bị bị bắt đi, bị một cái vong nào bắt chết đi, giết đi đó. Chứ không phải là không. Mà nhồi máu cơ tim chỉ là một cách giải thích khoa học thôi.

[1:17:41]Có khi là bị giết mà giết bởi người âm, chứ không phải không. Mà thường chết ở đâu mình hay bị kẹt ở đó. Chết đâu hay bị kẹt ở chỗ mình chết. Nên đến đó mình thỉnh vong về, rước vong về. Bởi mấy thầy có hay có nghi thức rước vong là vậy đó. Ví dụ như chết bị xe tông chết đó, phải làm cái lễ rước vong đưa về chùa, thì mới không bị lẩn quẩn ngoài đường được, mới về chùa ở tu được. Hoặc là bị chết dưới nước cũng vậy, làm lễ cầu siêu xong rước vong bờ sông đem về chùa thì mới về chùa được. Chứ thường chết đâu hay bị vướng ở đó, bị vậy. Cho nên nhiều người chết ở chiến trường rồi nằm luôn ở đó đâu về quê được,

[1:18:11]đợi tới khi về làm lễ đem cốt về rồi mới về quê được là vậy đó. Nên nó là cái nghiệp của chúng sinh, nó là quy luật của cõi âm. Ừ, còn mình mà có phước lớn á thì mình mới không bị kẹt, thì mình chết chỗ này mình bay đi qua chỗ khác được, khi nào có phước lớn mới được. Còn phước không nhiều thì chết ở đâu kẹt ở đó. Rất là đúng chứ không phải sai đâu, ừ. Con có thằng em nó cứ nói không tin vào Phật, cũng không tin vào đạo nào trên đời, nó chỉ tin chính nó thôi, nó cũng không có phỉ báng. Thì dĩ nhiên cái người này sau này sẽ được học nhiều bài học thất bại rồi sẽ hiểu ra từ từ. Kiếp này không được thì kiếp khác cũng sẽ hiểu điều đó, ừ.

[1:18:48]Lúc con cúng thí thực thì con hay bị tê cứng hai chân, rùng mình và ngáp. Tức là người ta đến người ta nựng mình đó. Cái người âm họ chạm vào mình cái làm mình xuất hiện những hiện tượng đó. Mình bị mất cái điện của dương, do cái điện âm á cái nó nó nó nó nó phá cái điện dương của mình. Cái điện sinh học á, mình sống như vậy mình có cái điện gọi là điện dương, còn cái người âm họ có cái điện âm và điện âm nó như là một lỗ trũng. Điện dương mình là hiện ra, âm là lỗ trũng mà trũng thì nó hút. Nó làm mình rớt vào trong đó, mất đi. Nên cái người vong mà họ đến gần mình làm mình bị cái số hiện tượng khó chịu.

[1:19:27]Nên mới nói âm dương cách biệt là vậy. Ví dụ như hai vợ chồng thương nhau tha thiết, ông chồng chết. Chết ông nhớ vợ ông cứ về, ông về là bà vợ sợ liền dù rất thương chồng. Vì cái ông chồng tới gần ổng nựng nựng là bả chịu không nổi, điện mất hết, lực mất hết, hao tổn sinh lực hết. Cho nên bả mới cầu ông đi luôn, chết rồi thôi đi luôn đi đừng về. Không, đó là sự thật như vậy. Thì thương gì thương chứ cũng chịu không nổi người âm. Âm dương đã cách trở rồi đành phải chấp nhận, đành phải chấp nhận là biệt ly thôi.

[1:19:58]Con đeo sợi dây chuyền tượng Phật nhưng lời sư Phật giảng mỗi khi đi vệ sinh sẽ bị tổn phước nên con gỡ dây ra, nhưng khi gỡ ra con ngủ không ngon giấc và hay nằm mơ thấy ma quỷ. Thì những khi ngủ á thì nhớ trên đầu mình mình để hình Phật nào gần gần đó nha, như vậy. Xong rồi xếp lại, ngủ dậy mình xếp cất. Con hay nằm mơ thấy mình bị thổi bay lên trời mà nhiều lúc con thấy mọc lên một đôi cánh sau lưng, như vậy là có nghĩa gì vậy? Có nghĩa là con coi phim hoạt hình hơi nhiều.

[1:20:31]Con muốn xuất gia nhưng tâm con chưa vững vàng lắm. Nhớ phải lạy Phật, sống như người xuất gia, cung kính người xuất gia, cho đến lúc tự nhiên mình có cái quyết định rất là mạnh là đúng rồi đó nha. Cái nhân quả mình gồm, thứ nhất là lễ Phật cầu xin nà, thứ hai tập sống như người xuất gia dù mình ở thế gian, thứ ba là thấy người xuất gia là phải tôn trọng. Thì khi đủ rồi bỗng nhiên mình có sức mạnh trỗi dậy quyết tâm là chết cũng đi tu, lúc đó là đi được á. Ừm.

[1:21:04]Người xưa của chúng hỏi, mình không cúng có những cái thức ăn mà không có người bảo quản kỹ ma họ ăn lén được, có còn thức ăn mà mình bảo quản kỹ thì ma không ăn lén được, đúng như vậy. Còn các camera mà ở trên khắp thế giới camera an ninh á, họ quay nhà này nhà kia, nhà hàng, cơ quan quay cứ để yên vậy nè cứ quay hoài thu ở trong đĩa, lâu lâu người ta đem ra kiểm tra họ coi lại thì thấy rất nhiều bóng ma đi qua đi lại, đó là chuyện bình thường khắp thế giới này, chuyện bình thường lắm. Mắt con người không thấy chứ camera an ninh khắp nơi quay thấy ma hoài. Con có tâm sợ ma, vậy thì làm thế nào để cái tâm sợ ma này của con nó tiêu tan đi?

[1:21:43]Mình sợ ma là bởi vì cái tâm mình yếu. Mà tại sao tâm mình yếu? Tâm mình yếu bởi vì nó thiếu những điều này: một là thiếu lòng tôn kính Phật, hai là thiếu cái lòng yêu thương chúng sinh, ba là thiếu cái làm phước thực tế, phước mình ít mình cũng sợ ma, tâm từ bi mình ít mình cũng sợ ma, ít lễ kính Phật mình cũng sợ ma, ít thanh tịnh cũng sợ ma, bốn cái. Còn những cái đó mà có đủ rồi bỗng nhiên hết sợ ma liền. À bỗng nhiên lạ vậy. Ví dụ như người ta đồn là cái bên cửa sổ này hay có bóng ma đi qua đi lại, rồi hôm nào có chuyện mình phải ngồi bên cửa sổ đó, rồi mình cũng chờ chờ bóng ma hiện lên nhìn chơi, vui, không sợ nữa, không sợ.

[1:22:27]Vì cuộc sống mưu sinh mà con phải sát sinh bán ốc, con khổ tâm lắm. Đúng rồi. Cái này gọi là mình chưa có chánh mạng, tức là không có được cái nghề để mà tăng phước mà cái nghề mình càng làm càng có tội thì do là chưa đủ phước tức là cái chánh nghiệp chưa đủ đó. Vì vậy trong thời gian này phải tạo phước dữ lắm, khi phước đủ rồi tự nhiên mình chọn được cái nghề mình muốn nha, nó như vậy. Vợ ngoại tình nên đã ly dị nhưng cô ta giữ đứa con. Cô ta thì không biết Phật pháp, tham lam, ích kỷ, dâm dục, còn đứa con thì từ nhỏ đã thuộc bài lời khấn nguyện. Thì có người kêu con kiện để đưa lấy đứa trẻ về nhưng con biết thì cô ta cũng sẽ lo lót.

[1:23:12]Thôi thì cứ xin Phật nha, cầu nguyện một thời gian rồi bỗng nhiên nhân duyên sẽ khiến cái đứa trẻ về với mình để tu. Mẹ bị bệnh rối loạn thần kinh, chữa trị nhiều nơi không hết. À mẹ hay sợ ma, con thường xin Phật gia hộ cho mẹ nhưng do mẹ con đạo Chúa chỉ tin Chúa, con không biết làm thế nào. Hông ơ, kệ, mẹ đạo gì đạo, mình cứ cầu Phật gia hộ cho mẹ cũng là đúng nha. Và nói với mẹ là đạo nào vậy, Tổ quốc trên hết, đạo nào cũng ở trong Tổ quốc. Và nói mẹ sẵn sàng cầm súng ra chiến đấu thì tự nhiên cái tình yêu nước nó lên, mẹ hết bệnh thần kinh liền.

[1:23:59]Con có rất nhiều người âm theo con đến nỗi họ cho con thấy họ và thỉnh thoảng nói chuyện với con, con cũng sợ. Làm sao để con muốn làm người bình thường, không thấy cảnh đó? Không, đây là cái duyên của mình, đừng có tránh né. Mình cứ ráng tu để độ họ, khuyên họ đạo lý nha, đừng có sợ, đừng tránh. Mình có duyên tiếp xúc với họ mới giúp họ được. Họ cần người người dương giúp dữ lắm nhưng mà không ai nghe họ. Lâu lâu mới có một người có thể tiếp xúc với họ nên họ hay thường đến để cho người đó lắng nghe và giúp đỡ họ. Mình bởi vì mình thường tụng kinh cho những cái vong ở đây nghe, rải lòng từ bi khuyên bảo họ, cúng thí thực họ.

[1:24:37]Và đây là cái phước của mình. Không phải ai cũng có cái duyên này, không phải ai cũng có cơ hội này. Đừng sợ và không cần tránh né nha. Làm thế nào để vượt qua những cạm bẫy cám dỗ đời thường để tinh tấn tu tập? Sau những lần dính vào cám dỗ, tâm con quá mệt mỏi hối hận mà cứ dính hoài, hu hu hu.

[1:25:02]Con phải theo đạo tràng tu tập, cái quá trình mà để thoát hết những cái cám dỗ đó có khi con mất 30 năm chứ không phải ít đâu. Dằng xé dằng xé như vậy có khi mất 10 năm, 20 năm, 30 năm mà nếu con không theo đạo tràng tu là đi đứt luôn 300 kiếp nữa chưa qua khỏi, chưa ra khỏi nha, cẩn thận.

[1:25:22]Con thường hay bị ngáp lúc ngồi thiền, tức là có cái vong nào họ theo đó. Khi thấy mình tu cái họ đến họ gần họ cũng muốn tu, cái điện âm của họ nó tác động người làm mình bị mất cái số điện dương, cái lúc mình phát sinh cái hiệu ứng là ngáp. Nhớ khi ta ngáp là ta bị mất một cái số điện nào. Ở trong cái môi trường ta bị ngáp là có khi ta bị người âm đến gần hoặc lúc đó môi trường đang thiếu oxy thì đó ta bị hao tổn một cái sinh lực gì đó cái ta mới ngáp. Ngáp là dấu hiệu ta đang bị thiếu sinh lực bởi cái môi trường nó không tốt, thiếu oxy hoặc người âm đến gần, như vậy nha.

[1:25:56]Bàn thờ thổ công? Bàn thờ thổ công đừng đặt dưới đất. Tại vì cái ông thổ công là cũng là một ông quan ở trong cái cõi âm, ổng cai trị cả một cái vùng đất lớn. Mình thờ ổng rồi mình để dưới đất, sau này mình mắc quả báo bị lùn, bị thấp. Cho nên đi vô nhà mà thầy thấy ai thờ bàn thờ thổ công dưới đất thì nói nhà này thế nào kiếp sau này kiếp này cũng bị lùn hay sinh ra con cháu bị lùn hoài. Cứ để chỗ nào cao ráo nha, cao ráo. À: cũng khá lâu rồi, sư phụ nói mua trả góp miếng đất ở Nam Sài Gòn mà đã xong chưa? Nếu xong rồi chừng nào cất, còn chưa thì còn thiếu bao nhiêu nữa? Chà, cái này coi bộ đại gia ta.

[1:26:36]Hồi xưa đó, lúc anh làm thầy bên Bùi Đình Túy cái nhà nó nhỏ xíu à để làm cái công ty đó, mà công việc thì nhiều mà nhà nhỏ quá nên ai cũng khổ, thì sư phụ mới xoay xở để tìm cách có miếng đất lớn hơn thì có người giới thiệu mua trả góp miếng đất ở Nam Sài Gòn để diện tích nó sẽ được rộng hơn. Nhưng mà đang trả góp thì bất ngờ nó xuất hiện cái nhân duyên của cái nhà ở Hoàng Diệu cái sư phụ mới dồn hết đổi qua cái nhà Hoàng Diệu, rồi cũng đổi người ta luôn miếng đất đó luôn để mà lấy tiền đó bán, người ta bán vội, lấy dồn qua nhà Hoàng Diệu thì cũng coi như là việc đó đã xong. Miếng đất Nam Sài Gòn cũng đã bán cho người ta rồi,

[1:27:08]đổi qua cái nhà Hoàng Diệu để làm công ty. Nhưng mà rồi cái công ty cũng rất là chật, có nhiều công việc sư phụ không làm được vì nhà cũng không đủ làm. Mà thôi phước mình có nhiêu đó rồi cũng không đòi hỏi được nha. Còn nếu ai có đại gia cho cái nhà lớn lớn nữa thì sư phụ mở thêm văn phòng. Ví dụ như nội cái trang web thôi, cần có rất nhiều người làm mà mình không có chỗ để làm. Nội cái truyện tranh cũng cần cả một cái văn phòng để làm mà cũng không có phòng làm. Nhiều cái phần kỹ thuật khác cứ vậy cũng chật chội như vậy, không biết sao. Thôi nghỉ nha, mọi người về. Rồi, đứng lên hồi hướng. Đứng lên rồi ta hồi hướng.

[1:27:44]Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả,

[1:27:58]đệ tử và chúng sinh đều trọn thành Phật đạo.