[0:13]A Di Đà Phật.
[0:19]Nam
[0:30]Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Chúng tôi thành thật xin lỗi à Ni sư trụ trì cùng quý phật tử. Sáng nay là có nên không có về đây làm lễ Phật Đản được. Vì hôm qua làm lễ trên chùa, mệt. Qua mấy cơn bệnh tôi cũng chưa có lại sức được. Hôm nay chúng ta à trao đổi với nhau cái điều khác biệt thứ năm là đốn và tiệm.
[1:08]Chúng ta thường hay nghe trong Phật pháp có những cái từ như là đốn giáo và tiệm giáo. Hôm nay thì chúng ta tham khảo những điều này. Thì thật ra thì những cái từ cổ có nhiều cái từ mà chúng ta cũng không có quen.
[1:31]À tuy nhiên cái từ nó gọn và dễ dùng, nếu chúng ta hiểu được thì cũng có lợi. Thường thì đa số người thời nay chúng ta ít có học kinh điển trực tiếp từ chữ Nho, cho nên nhiều bản kinh mà chữ Nho, những từ chuyên môn nhiều quá thì chúng ta khó hiểu, phải không? Chữ từ đốn và tiệm này cũng là cái từ chữ Nho. Nhưng mà từ từ thì chúng ta làm quen. Bây giờ trên cái định nghĩa thì đốn là tức khắc, nhanh chóng hay bất ngờ. Cái gì mà bất chợt trong khoảnh khắc, à trong thoáng chốc thì gọi là là đốn. Còn tiệm là chầm chậm, dần dần, từ từ, lâu dài. Đó, thành thử ra tuy chúng ta nói là đốn và tiệm theo chữ Nho,
[2:36]nhưng chúng ta cũng có thể nói là nhanh chóng và lâu dài. Đó, đó là những hiện tượng về tu tập cũng như cái tính chất về giáo pháp ở trong đạo Phật chúng ta cũng thường hay bắt gặp.
[2:56]Nên chúng ta cũng xét qua với nhau cái đề tài này. Mà đốn và tiệm thường được hay nói nhiều nhất là trong Thiền tông bởi hai cái trường hợp là đốn ngộ và tiệm tu. Là trong nhà Thiền chúng ta thường hay nghe nói những thiền sư hay những thiền giả là do một cái nhân duyên đặc biệt nào đó bất ngờ cái tâm chuyển sang một trạng thái khác mà chúng ta gọi là là giác ngộ, là đốn ngộ, là khai ngộ, hoặc là đặc biệt nhiều người được gọi là đại ngộ hoặc là có những vị mà quá độc đáo người ta gọi là triệt ngộ. Thì cái hiện tượng mà giác ngộ đó nó đến trong một cái chớp nhoáng, một cái chớp mắt thôi thì hiện tượng đó xảy ra là rất là kỳ diệu.
[4:01]Thì thường cứ một sát na trước đó thì chúng ta hãy còn là một người mê muội. Nói mê chứ sự thực cũng là đang công phu rất là tinh tấn. Vì nếu không có ở trong công phu thì không thể ngộ đạo được đâu, được. Cho nên tuy nói là mê, chứ nó đã chín muồi rồi. Thì chỉ cái khoảnh khắc trước thì tâm chúng ta hãy còn chật hẹp là tối tăm, tuy có định tĩnh, có tỉnh giác, có chú tâm, có dụng công, nhưng mà trong một bất ngờ, bất ngờ tự nhiên búng chuyển ra sang một trạng thái mới thì hoàn toàn khác hẳn. Lúc đó hành giả thấy tâm mình bừng sáng lên, phủ trùm rỗng rang, rỗng suốt, không còn thấy có bờ bến. Cái hiện tượng đó người ta gọi là ngộ.
[4:59]Thì do cái nhân duyên gì mà đang trong tình trạng bình thường bỗng chuyển thoắt một cái thành một cái tâm ngộ? Thì có rất nhiều nhân duyên. Tùy mỗi người không có giống nhau. Nên chúng ta có thể mình nghe lại một vài trường hợp cho mình thấy nó không có cái gì cố định, không có cái cố định. À ví dụ mình chúng ta hay nghe những trường hợp rất là lạ. Vào thời Đức Phật thì thường là các vị Tỳ-kheo mà chứng đạo, ngộ đạo trong khoảnh khắc như thế là do lời Phật dạy. Thường là như vậy. À ví dụ là hôm đó Đức Phật thuyết pháp, Ngài giảng một bài pháp về ngũ thủ uẩn, Ngài giảng về sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng, hành thức uẩn, vân vân;
[5:55]rồi hoặc là Ngài nói về lục căn, lục trần. Khi Ngài phân tích chia chẻ ra những mặt đó thì những vị Tỳ-kheo mà có cái công phu sâu dày thì họ khi nghe Phật giảng như vậy, họ nhìn thấy sâu hơn, nhìn thấy sâu hơn, tâm tập trung định hơn, định hơn. Ở trong suốt bài pháp như vậy cho đến một lúc nào đó, trong một giữa câu nào đó hoặc là cuối bài kinh gì đó, bất chợt họ chứng đạo. Thì cái chứng đạo này không hẳn là vị đó chứng luôn được cái quả vị A-la-hán, có thể là chỉ chứng Tu-đà-hoàn hoặc là Tư-đà-hàm hoặc là A-na-hàm. Thời xưa cũng như vậy, nhưng thường khi mà chúng ta đọc các bài kinh, nghe kể lại thì hầu hết là do một lời dạy.
[6:51]Đến các thiền sư ở bên Trung Hoa thì cũng rất nhiều trường hợp như vậy. Là có vị mà nghe một lời dạy rồi chợt khế hợp gì đó bỗng bừng ngộ như là ngài Vô Ngôn Thông. Thì ngài tính ngài trầm lặng, ít nói nên gọi là Vô Ngôn, nhưng mà rất là thông minh, trí tuệ nên gọi là chữ Thông. Thì ngài ở trong hội của tổ Bá Trượng. Một hôm ngồi dưới nghe tổ Bá Trượng giảng thì đến cái câu là: "Tâm địa nhược không, huệ nhật tự chiếu." Là nói đất tâm mà nếu rỗng không thì ánh sáng mặt trời tự nhiên chiếu sáng, chiếu hiện. Thì cái câu đó bây giờ lặp lại chúng ta nghe thì mình cũng cũng tiếp tục ngồi nghe. Nhưng mà ngài nghe xong bừng ngộ liền, đại ngộ liền, thành một thiền sư sáng giá.
[7:51]Rồi sau đó ngài đi dần về phương nam, ngài đi dần cuối cùng ngài sang luôn nước Việt Nam. Ngài đến trụ chùa như chùa... Tôi cũng quên mất lâu cái gì mà Hóa Sứ hay Kiến Quốc gì đó. Rồi sau này truyền pháp lại cho một thiền sư Việt Nam là ngài Cảm Thành. Đó, ngài Cảm Thành có cái duyên thầy trò đến hầu hạ rất là ân cần nên ngài đặt pháp danh là Cảm Thành, là cảm ứng mà thành. Đó là cũng do một lời nói khế hợp cái ý nghĩa rồi bừng ngộ. Rồi có những trường hợp khác như là tổ Bá Trượng, tổ Bá Trượng cũng lạ lùng lắm, ngài Mã Tổ Đạo Nhất, ngài Mã Tổ Đạo Nhất. Một hôm thì có một Hòa thượng Thính Lạo đến thăm hỏi ngài:
[8:43]"Thế nào là ý tổ sư từ Ấn Độ sang?" Ổng nói: "Ta già lãng tai, ngươi ở xa hỏi không nghe, xích xích lại đây." Ổng dụ ông kia, ông kia cứ xích lại sát gần ổng hỏi. Nói lớn lớn. Nói: "Dạ, bạch Hòa thượng, à thế nào là ý của tổ sư từ Ấn Độ sang, là ý của ngài Bồ Đề Đạt Ma? Ngài đem cái đại ý gì quan trọng từ Ấn Độ sang?" Ổng hỏi lại lần nữa cái ngài Mã Tổ đá một cái lăn cù mèo, bừng ngộ liền. Nên cái thủ thuật mà khai ngộ của ngài Mã Tổ độc đáo. Mà câu này nó ứng được nơi ứng nghĩa là được tổ Bát Nhã Đa La là thầy của ngài Bồ Đề Đạt Ma đã nói trước là dưới chân ngươi sẽ xuất hiện móng của một con ngựa tơ đạp chết người trong thiên hạ.
[9:35]Ở đây chỗ này nó không đơn giản, mình nghe thì mình cười, chứ mình không hiểu nổi cái trí tuệ của bậc thánh là tại sao lúc đó ngài không trả lời một cái gì khác mà ngài dùng một cái đạp mà làm người kia ngộ đạo. Đây là cái trí tuệ mà mình không bao giờ hiểu nổi nếu mà mình không đắc đạo. Chỉ có ngài Mã Tổ, ngài Mã Tổ Đạo Nhất với cái trí tuệ siêu việt của bậc thánh, ngài biết với người này dùng thủ thuật này sẽ là ngộ đạo mà không cần phải nói một câu gì dài dòng. Điều này chúng ta không hiểu nổi, không hiểu nổi. Còn thường nếu mà ai gặp mình hỏi câu đó mình trả lời sao? Ví dụ như gặp như sư trụ trì đây thuyết cho bài pháp
[10:24]nửa tiếng đồng hồ liền, nhưng mà có khi không ngộ. Nhưng mà ngài không nói, chỉ đạp một cái. Hoặc là ngài Triệu Châu lạ lùng, những câu hỏi đáp ngài ít có dùng đánh, dùng hét. Ngài Triệu Châu đặc biệt mà ngài chỉ dùng câu nói kỳ cục cũng làm người khác ngộ đạo. Có người đến hỏi: "Thế nào là gia phong của hòa thượng?" Gia phong: gia là nhà, phong là phong tục tập quán á, có nghĩa là cái thói, cái đường lối trong nhà của hòa thượng. Thì ổng hỏi cái tông chỉ tu hành và đường lối dạy dỗ của hòa thượng là gì, hỏi ngài Triệu Châu á. Nhưng mà dùng cái từ ngày xưa mình nghe hơi là lạ là "gia phong", nghĩa là đường lối dạy dỗ, tông chỉ tu hành.
[11:15]Thì ngài cũng nói kiểu như y ngài Mã Tổ: "Lão tăng lãng tai", già lãng tai vì ngài sống tới 120 tuổi, "ông hỏi lớn lớn lên giùm". Ông kia tưởng thiệt, mới hỏi lớn lên, nói: "Thế nào là gia phong của hòa thượng?" Thì ngài cười ngài nói: "Ông hỏi gia phong ta mà ta đã biết được gia phong ông." Vậy mà ông kia ngộ đạo. Mình nghe mình hiểu không? Ai mà hiểu là cũng làm thiền sư được rồi đó. Ở
[11:48]đây cái lối khai ngộ kỳ lạ, nghĩa là khi mà hỏi cái gia phong á thì tức là hỏi vào cái yếu chỉ quan trọng nhất, cái tâm yếu quan trọng nhất là chỗ chứng ngộ của hòa thượng là gì? Thì ngài lại không có trình bày diễn tả, mà ngài lại lợi dụng cái sự cố gắng nói to của ông kia, chỉ đó là gia phong của ông, mà làm ông kia nhận ra được cái tâm thể của mình liền. Đây là điểm rất là lạ của các thiền sư, là trong khoảnh khắc đó làm cho người khác được khai ngộ.
[12:23]Hoặc là chúng ta nghe một cái nhân duyên cũng nổi tiếng về ngài Hương Nghiêm Trí Nhàn á, là hôm đó ngài vo gạo, chuyện này như cũng kể đi kể lại mấy lần vì chuyện này cũng độc đáo phải không? Rồi sau này mà ngài Quy Sơn không có thèm giải thích cho ngài, rồi ngài đi cuốc đất, khi cuốc một viên sỏi văng trúng cây trúc mà nó kêu tiếng ngài ngộ đạo, quý Phật tử nghe kể rồi phải không? Thì đó, nghe một cái tiếng lạ rồi ngộ đạo. Hoặc là có một ông quan ổng đang ngồi thảnh thơi ổng dụng công, chợt nghe tiếng sấm nổ to, ổng ngộ đạo. Cái trường hợp rất là lạ. Thật ra cái hiện tượng mà sấm nổ đó, có khi nó sấm nổ thiệt, có khi sấm nổ giả cũng có.
[13:08]Sấm do cái sấm tâm linh, người tu hay gặp cái trường hợp là đang dụng công bình thường, tâm đang yên lặng, chợt trong tâm linh nghe tiếng sấm nổ vang to lên, sau cái tiếng sấm đó, tâm khai ngộ luôn. Nhưng mà cái khai ngộ này chứ cũng chưa phải là thật sự là sâu, chưa phải là sâu. Tuy nhiên cũng là cái chuyển biến nơi tâm rất là tốt. Thì đó đó, những cái nhân duyên rất là lạ mà mình không có biết, biết trước được tại sao ngộ. Thì có người là như một vị tỳ kheo vậy, đi xuống dưới dòng nước rửa chân, khi đưa cái chân lên cái từng giọt nước còn đọng lại nhiễu xuống, nhiễu xuống, nhìn dòng nước đó chợt ngài bừng ngộ liền.
[13:54]Thì lúc đó mà hỏi tại sao, không ai giải thích được. Chúng ta nhớ cái điều này nha. Nếu mà chúng ta cố gắng giải thích là tại sao nghe cái tiếng động rồi ngộ đạo hoặc là tại sao bị đánh một cái ngộ đạo, không bao giờ có câu trả lời, vì không bao giờ trả lời được hết, không bao giờ. Hãy nhớ điều đó, đừng thắc mắc vô ích. Vì sao? Đây là một cái nhân duyên, một cái kích ứng thần kinh, một cái kích ứng thần kinh, chứ không phải là cái đạo lý gì lạ lùng ở trong đó.
[14:33]Quý Phật tử nhớ điều đó. Nghĩa là nên mình không có bận tâm mà muốn ngộ đạo rồi cứ nhờ cái người huynh đệ mình: "Đâu huynh lấy chân đạp tui một cái coi, ráng ngộ lên." Cái người này đạp một cái, mốt cái gặp người khác: "Đâu, cú đầu tui một cái coi, ráng ngộ đạo lắm." Thì thật ra không có ngộ. Rồi vì sao? Là vì nó là do cái sức định mình chín muồi, cho nên không có bận tâm với cái trạng thái bừng ngộ, mà chỉ bận tâm từng giờ, từng phút mình nhiếp tâm vào trong cái định cho kỹ, thì khi nhân duyên đến, nó là một sự kích ứng thần kinh. Kích ứng thần kinh này không giải thích được. Ví dụ như có khi à quý Phật tử ngồi kiết già đang nhiếp ở trong định,
[15:21]mà nhân duyên mình tới á, cái này do cái nhân quả của mình, không giải thích được. Nhân duyên mình tới, tự nhiên con thằn lằn ở trên nó rớt xuống, rớt xuống mình nghe cái tiếng bẹt một cái dưới đất á, cái bụng nó đụng đất nghe tiếng bẹt một cái, đang ngồi nhắm mắt bừng ngộ liền. Tự nhiên lúc đó cảm giác là bao nhiêu cái kiết sử, những cái lớp triền cái che tâm tịnh nó tuột rớt rột, mất tiêu luôn. Thì ngay đó tâm mở mắt ra cái, mình trở thành con người khác liền. Mà có nhiều khi thích quá buông chân kiết già chạy ra ngoài đường la làng cũng có. Nhưng mà thôi nhớ lỡ có ngộ đừng có nhảy ra la làng nha.
[16:01]Cái nhân duyên lạ, hoặc là có người khởi lên một cái thắc mắc bừng ngộ liền. Ví dụ như người đó đang dụng công an ổn, đang ở trong định á, không có khởi niệm gì hết, chợt cái nhân duyên nó tới. Cái này chúng ta phải nói là người xưa gọi là "nhân duyên thời tiết" là vậy. Khi nó tới, tự mình khởi lên cái ý nghĩ một thắc mắc. Ví dụ như mình thắc mắc thế này, thắc mắc là: Ủa, khi mình không suy nghĩ, vậy cái gì đang thấy, đang nghe, đang đi đây? Chợt hỏi một câu rồi là tâm bừng ngộ liền, bừng cả trời đất luôn. Nghĩa là khi bừng ngộ, tâm mình phủ trùm cả mây trắng mây xanh trong đó. Thì tôi nãy giờ quý Phật tử nghe tôi nói diễn tả đừng
[16:46]có tưởng là tôi ngộ nha, cái này gọi là tôi học lóm. Thì cái hiện tượng là vậy, cái nhân duyên là vậy, thì trong một khoảnh khắc, từ con người thế này bỗng nhiên biến thành con người thế khác, nó gọi là đốn ngộ, cái khoảnh khắc bất ngờ. Đó là đốn ngộ, còn tiệm tu, tiệm tu là một sự thực hành lâu dài, tỉ mỉ từng chút theo đúng phương pháp. À ví dụ như là quý Phật tử có người thì tự nhiên thích hợp với pháp môn niệm Phật, có duyên với Phật A Di Đà hay có vị có duyên với Bồ Tát Quan Âm, cứ niệm luôn 10 năm không thấy gì hết. Cái đó gọi là tiệm tu á, mà coi vậy không mất, coi vậy chứ công đức còn nằm nguyên đó hết.
[17:38]Không biết giờ nào ngộ á, mà có khi kiếp này không ngộ thì kiếp sau cũng đại ngộ. Tại vì thường á cái người mà niệm Phật cái phước hơi lớn. Phước hơi lớn, người niệm Phật á. Tại vì khi mình niệm Phật thì mình có cái lòng tôn kính ở trỏng, nên nói á thì nhiều khi nói là pháp môn niệm Phật là pháp môn dành cho mấy bà già, cứ nhiều người nói vậy. Nói còn cái người mà đại căn, tự lực hoặc là trí thức thì thường người ta không thích niệm Phật, mà chỉ thích là đi trong thiền chuyên sâu. Thực ra nói như vậy là nói quá đáng, tại vì sao? Tại vì pháp môn niệm Phật không có bà già nào hết trơn á, mà phải hiểu rằng đó là công đức lớn, mà cái người khôn ngoan,
[18:32]người trí tuệ thì lựa cái gì nó khiêm tốn, có công đức lớn thì mình dùng, phải không? Chứ mình đâu có cần phải tự cao mà lựa pháp môn gì để chứng tỏ rằng tôi là người trí thức hay tôi là người đại căn. Trong ở đây khi mình niệm Phật, mình có cái lòng khiêm tốn, mình có cái cảm ứng với Phật, có cái như là nương tựa vào chư Phật, nên thành ra cái tâm mình và tâm Phật lúc nào cũng được cảm ứng. Những người như vậy dù tu 10 năm không có gì chớ cái công đức còn nằm nguyên, kiếp này không đại ngộ kiếp sau cũng đại ngộ, không sợ mất. Đó là cái tiệm tu. Hoặc là có người do cái nhân duyên lại thích pháp môn hơi thở.
[19:19]Kì thực cái pháp môn hơi thở, có thể là người này thở ra thở vào mười năm cũng không thấy gì hết. Thì thấy là chưa tắt thở thôi, cứ tiếp tục thở thôi, không thấy gì hết. Coi vậy chứ cái công phu đó cũng không mất. Nhưng mà có thể không ngộ đạo và có thể suốt đời cũng không ngộ đạo luôn. Tại vì sao? Là tại vì chúng ta nhớ ngộ đạo là từ phàm mà trở thành thành thánh. Mà từ người phàm trở thành thánh đòi hỏi cái phước hơi lớn. Mà trong các nhiều cái phước để tạo thành cái tư cách của bậc thánh, phải có cái phước là tôn kính một bậc thánh nào trước đó. Chứ còn trước đó mình không có tôn kính bậc thánh nào hết
[20:05]thì vĩnh viễn không bao giờ mình có thể làm thánh được. Như như mà ông bà mình nói câu đơn giản vậy chứ sâu sắc rất là đúng. Kính thầy mới được làm thầy là vậy á. Nên cái người nào mà khi đi học mà không tôn trọng thầy cô thì phải hiểu là sẽ không nên sự nghiệp. Có thể là không làm được thầy giáo đã đành rồi, cũng sẽ không làm được gì nữa. Cho nên khi mình còn nhỏ đi học mà biết tôn trọng thầy cô thì sau này mình dễ nên danh nên phận. Đó là bình thường. Rồi đối với trong đạo cũng vậy, chúng ta có bậc thánh vĩ đại nhất, tuyệt đối nhất là Đức Phật. Do đó người mà tu những pháp môn không phải niệm Phật
[20:50]thì phải bổ sung bằng công hạnh lạy Phật cho nhiều. Phải tha thiết lạy Phật, không được coi thường, không được ỷ y rằng à tất cả tâm tôi tâm Phật bình đẳng thì tôi ráng nhiếp tâm là được. Nghĩ như vậy là sai lầm mà dễ đi vào cái kiêu mạn. Cho nên do đó phải lấy cái lạy Phật làm căn bản. Thì cái công trình đó đó, tích luỹ đó mình gọi là tiệm tu. Nhưng trong cái quá trình tiệm tu này, nó không đơn giản chỉ là một cái công phu tu tập thiền định mà cần có rất nhiều cái công hạnh khác, những cái đạo đức hỗ trợ khác và phải tránh những cái sai lầm khác. Nhiều khi công phu mình đang tiến bộ tốt, chợt một bữa vui miệng
[21:38]mình khoe ra một chút, cái giảm đi hết một năm công phu, phải tu lại từ đầu. Mà có khi một lời nói chủ quan mất luôn mười năm công phu, phải tu lại từ đầu. Khó như vậy. Vì thế, cái việc tu là một việc rất là tốt. Nhưng mà trong đó quá nhiều vấn đề tế nhị mà nếu chúng ta không được học hỏi kĩ lưỡng có thể chúng ta phạm sai lầm. Mà phạm sai lầm ví dụ sai lầm nhỏ nhỏ thì mình chỉ bị nhức đầu, bệnh hoạn hay gì đó, hơi tâm không còn định nữa thôi. Nhưng mà nếu lỡ xui phạm sai lầm hơi nặng nề, chúng ta có thể bị điên luôn. Nên nhiều người mà tu thiền rồi bị điên rất là đáng thương là vậy đó, là không phải lỗi họ nhiều đâu, mà lỗi là người thầy của họ dạy họ không kĩ lưỡng.
[22:31]Nên để họ có những cái sai lầm gì nặng quá, rất là đáng thương vậy. Vì vậy quý Phật tử khi tu tập, nhất là phát tâm mà tu tập thiền định thì hết sức kĩ lưỡng, phải hiểu cặn kẽ những cái hạnh để mình tránh làm những điều sai lầm. Đó cũng gọi là tiệm tu, nên tiệm tu cực khổ lắm. Đốn ngộ thì trong khoảnh khắc là xuất hiện, nhưng tiệm tu thì rất là cực khổ. Ở đây chúng ta có hai cái trường hợp
[23:07]là cái tiệm tu trước khi ngộ đạo và tiệm tu sau khi ngộ đạo. Tiệm tu trước khi ngộ đạo là gì? Là để chúng ta đủ cái công đức mà một phút giây nào đó tâm bừng ngộ phủ trùm cả trời đất thì trước đó chúng ta phải có công phu rất là sâu dày. Nếu kiếp này chưa tu nhiều thì kiếp trước cũng phải tu đã rất nhiều. Nhưng mà thời bây giờ chúng ta hiếm tìm được những người nào mà đời trước tu quá nhiều để cho đời này không cần tu nhiều mà vẫn ngộ đạo. Đời này hiếm gặp những trường hợp đó. Cho nên do đó, cứ theo bình thường mà nói thì chúng ta ngay trong kiếp này cứ hết sức cố gắng nỗ lực tiệm tu là tu từng chút, lâu dài, kĩ lưỡng,
[24:02]tỉ mỉ, cẩn thận từng li từng tí một như vậy để chuẩn bị cho cái giây phút ngộ đạo. Dĩ nhiên là mình không đòi hỏi, không đòi hỏi là ngày nào phải ngộ đạo, người tu phải biết quên thời gian. Không bao giờ quan tâm tới cái kết quả lúc nào sẽ đến, mà chỉ quan tâm là mình có thực hiện đúng ngay trong hiện tại hay không thôi, hay là từng giờ từng phút trong hiện tại mình có dụng công đúng hay không, không có để ý tới thời gian. Thì cái thời gian mà chúng ta tiệm tu này đó, mỗi người không có giống nhau, người không có giống nhau. Có người tu mười năm ròng rã, tâm chưa chuyển biến, không thấy gì hết.
[24:49]Ở đây có ai bị vậy không? Ở đây có ai bị vậy không? Mười năm mà chưa chuyển biến không? Không có, ở đây toàn mười một năm không.
[25:02]Nhưng mà có người gặp Phật pháp một năm sau là ngộ đạo liền. Có người gặp Phật pháp sáu tháng sau ngộ đạo liền. Nên đây là cái căn lành từ nhiều đời không ai giống ai, và chúng ta cũng không cần phải thắc mắc, phải ganh đua về điều này. Bởi vì cái nhân duyên của mình như vậy, cứ yên ổn mà như vậy. Và cái sự tích luỹ phía trước cái đốn ngộ là cả một thời gian rất là dài. Rồi sau khi đốn ngộ, cái tiệm tu cũng đòi hỏi rất là dài để có thể đạt đến cái sự viên mãn. Là vì sao? Vì dù chúng ta có đốn ngộ nhưng nó chỉ là mới một phần đường thôi. Nhưng ở đây khác nhau chỗ này: là có người khi đốn ngộ rồi thì do cái thiện căn gì lớn
[25:54]lao ở đời trước, cái người này không tự mãn mặc dù cái sức ngộ rất là lớn, tâm rất là tự tại mà không tự mãn. Rồi cái nỗ lực tiếp tục dụng công tiếp thì người này mình biết là đời trước cái công đức lớn lắm. Nhưng có những người ngược lại, thiện căn đời trước không nhiều, nên kiếp này bừng ngộ một cái thấy mình bằng Phật, bằng Phật. Đây là trường hợp người cái căn cơ thấp, người này rất đáng thương mà không có minh sư chỉ dạy. Không có minh sư chỉ dạy, cho nên được rồi cái là tưởng là đủ. Có ngài Bát Sơn, ngài được một vị thầy rất là độc đáo, ngài Thọ Xương, phải, lâu quá tôi không nhớ kĩ cái tên.
[26:46]Ngài ngộ đạo năm bảy lần. Khi mà ngài ngộ đạo, ngài đến trình với thầy, ông thầy chỉ nói một câu một: "Không phải, sai." Bực quá. Trong khi ngài thấy mình tự tại hẳn lên, tâm bừng chuyển qua một trạng thái khác rất tự tại. Mà cứ đến trình với thầy là ông thầy cứ lắc đầu, nói: "Không phải." Không giải thích một lời nào. Không chỉ à con phải tu thêm vậy vậy, không nói. Mà không phải, lắc đầu, đi chỗ khác. Mà ngài nhờ có chữ đó thôi, ngài tiếp tục dụng công. Lần khác bừng ngộ, chạy mừng quá chạy đến trình, thầy cũng: "Không phải." Rồi thôi, không nói gì nữa. Cứ ngài ròng rã mấy năm trời như vậy, qua năm bảy lần ngộ đạo như vậy, một hôm ngài đi không biết nên nói chữ này không?
[27:37]Đi cầu. Sự thực là ngài đi cầu. Thì cái ở trong chùa ngày xưa nhà quê thì chắc hồi bộ cũng không khá gì lắm. Giống như chùa Hồi trước đi cầu người ta diễn tả thì ngồi chắc cũng trống lơ trống lốc chứ cũng không có gì kín đáo. Nên ngồi ở trong mà vẫn nhìn nghĩa là nhìn mây trời hiu quạnh được, đại khái vậy đó. Ngồi trong nhà cầu mà nhìn mây trời hiu quạnh nên ngài mới nhìn thấy một cái người leo lên cái cây. Ngài nhìn thấy người leo cây không biết ổng đắc cái ý gì ổng triệt ngộ luôn, triệt ngộ. Rồi sau đó trong truyện kể lại, ổng lật đật chạy vào trình với thầy. Thì mình không hiểu là ổng đã xong thủ tục chưa, không biết.
[28:18]Phải chạy vào và tới giờ phút đó, qua bảy lần đại ngộ tới lần cuối cùng đó, ông thầy mới chấp nhận, mới ấn chứng, mới công nhận là đã triệt ngộ viên mãn. Thì đó là cái người mà có căn lành mà gặp được minh sư.
[28:36]Thì đây chúng ta thấy là nhân duyên của ngài là sau khi đốn ngộ, ngài tiếp tục dụng công à rất là kĩ lưỡng, tinh tế, tinh tấn, cẩn thận. Nhờ ông thầy khuyến tấn như vậy và ngài cũng có trí tiến thủ, không có tự mãn nên đã đạt được cái sự viên mãn luôn. Ở đây tôi không có nhớ mà dường như là ngài Động Sơn, ngài nói thế này: Trần Tôn Túc, ngài Trần Tôn Túc ngài nói thế này: "Việc lớn chưa sáng như đưa ma mẹ, việc lớn đã sáng như đưa ma mẹ". Cái câu ngày xưa nói mình khó hiểu, giờ thế này: nghĩa là khi mà chưa ngộ đạo á thì phải khẩn thiết giống như đang làm đám tang của mẹ mình, khóc lóc bi ai lo lắng đủ điều, mà khi ngộ đạo rồi thì cũng
[29:30]phải giống như đưa đám tang mẹ, là cũng khẩn thiết, bi ai, khóc lóc, căng thẳng, tập trung như vậy chứ không được coi thường. Mà đúng là cái người phải là bậc thánh mới nói được điều đó, chứ còn người phàm phu không nói được điều đó. Người phàm phu khi chưa ngộ đạo thì không biết chừng nào mình mới ngộ, nói mình chắc cũng còn sống lâu, hôm nay mình mới có ba bốn chục, cũng còn ba bốn chục năm nữa mới chết, từ từ tu. Nên mình không có cái khẩn thiết như ngài, nên mình mới là phàm phu. Rồi lỡ mình ngộ đạo được, tâm bừng ra ngộ đạo được, cái mình thấy mình tự tại, đủ rồi, thôi cũng không cần phải cố gắng nữa.
[30:12]Đó, cái đó là thiện căn của mình thấp quá. Còn ngài Trần Tôn Túc là ngài đã thực hiện được điều đó. Cái tiệm tu trước khi ngộ đạo và cái tiệm tu sau khi ngộ đạo đều rất là khẩn trương, chứ không có coi thường. Nên ở đây thì chúng ta thấy thế này, chúng ta thấy là cái người mà có trí tuệ, biết tu, có thiện căn á, lúc nào cũng dè dặt, cẩn thận, chứ không có dám coi thường. Bây giờ thì mình không dùng cái từ của người xưa mà mình chỉ nói là hết sức là cảnh giác khi mình chưa ngộ đạo, rồi khi mình đạt được kết quả gì rồi cũng hết sức là cảnh giác, không được coi thường. Hôm nay chúng ta học cái bài này
[31:01]là để học làm thánh, nên nghe những chuyện rất là cao siêu thì quý Phật tử phải hết sức là lắng nghe, trân trọng. Chúng ta không được nghe cái bài này với cái tâm coi thường, vì đây là cảnh giới của thánh, không phải của người phàm phu. Tuy mình là phàm phu, nhưng mình đang học cái điều của thánh nhân, nên quý Phật tử phải ráng mà khẩn trương. Là phải nhớ như vậy, khi mình chưa có ngộ đạo thì hết sức là cảnh giác, dè dặt, rồi khi được ngộ đạo rồi, tâm mình chuyển sang trạng thái bừng sáng rồi, cũng phải hết sức là cảnh giác, dè dặt. Nên có vị đã nói vậy: "Khi mà chưa ngộ đạo thì như đi trên kiếm bén,
[31:46]khi ngộ đạo rồi thì như đi trên băng mỏng". Nghĩa là cái người mà họ đi trên cái kiếm bén á, cái người mà xiếc á, họ biểu diễn, họ đi trên kiếm bén thì tâm họ lúc đó làm sao? Nghĩa là ngày xưa bên Trung Hoa họ hay biểu diễn võ thuật là cái công phu gọi là khinh công á, họ đi trên bàn chông hoặc họ đi trên cái dao bén, đi mà không có đứt chân. Thì người mà đi như vậy tâm họ làm sao? Tập trung ghê gớm phải không? Ngoài cái công phu bí mật gì ở bên trong của võ thuật mình không biết, nhưng mình hiểu một điều là họ rất là tập trung, rất tập trung. Thì đó là cái hết sức tập trung trước khi ngộ đạo.
[32:30]Còn ngộ đạo rồi thì như đi trên băng mỏng. Nghĩa là bên Trung Hoa vào cái mùa lạnh đó hồ, ao đóng băng hết, thì giống như ở xứ Âu, Mỹ vậy, Bắc Âu, Bắc Mỹ này. Nghĩa là khi mùa đông tới thì hồ, ao đóng băng, mà nếu là cái lớp băng dày á, người ta có thể chạy chơi ở trên thoải mái, nhưng mà gặp cái chỗ nó không lạnh lắm thì cái lớp băng nó mỏng. Nếu mình có cái việc mình phải đi băng qua một cái đầm á, cái đầm nước bây giờ mùa đông đã đóng băng rồi mà mình biết là cái băng đó là băng mỏng thì mình đi làm sao? Đi làm sao? Có dám mà dậm thình thịch thình thịch không? Không. Nên mình rón rén rón rén cẩn thận mà đi phải không?
[33:13]Đó, chính cái rón rén cẩn thận là ngài diễn tả cái tâm của một người đã ngộ đạo rồi, tu tập cũng phải như vậy. Nên người tu tập mà có được cái kết quả rồi, tâm nhiếp vào định rồi thì phải nhớ cái lời dạy của người xưa là rón rén cẩn thận mà đi tiếp. Cái chữ "rón rén cẩn thận" á nó cho chúng ta thêm một cái ý nghĩa nữa là kín đáo, phải không? Không dè dặt, không được tự mãn, cẩn thận hết sức. Đó là cái gì mà người xưa đã dạy và ngày hôm nay cái điều đó hết sức là quý giá đối với chúng ta. Nếu mà chúng ta coi thường thì chúng ta sẽ phạm sai lầm, tưởng rằng mình đã viên mãn rồi đứng lại, mà đứng lại là chưa hết chuyện.
[34:04]Vì sao chưa hết chuyện? Là vì có thể thối lui. Quý Phật tử có lẽ không ngờ người ngộ đạo rồi thối lui hả? Vậy mà chuyện đó có đó. Người ngộ đạo rồi, công phu vẫn có thể bị lui sụt. Chúng tôi có giảng về cái bài này trong một bài kinh Nikaya lâu rồi, nhưng hôm nay nhắc lại một chút, là ngộ đạo có nhiều trình độ do cái công đức của mình. Người công đức lớn thì cái sức ngộ lớn, người công đức nhỏ thì sức ngộ nhỏ. Thì ở cái mức độ ngộ nào đó, hành giả sẽ đạt được cái trình độ bất thối, nghĩa là không còn thối chuyển nữa. Dù người đó có phạm sai lầm trong kiếp này thì trong kiếp này vẫn không thối chuyển.
[35:00]Nhưng có những người khi ngộ đạo rồi thì cái trình độ ngộ đạo nó chưa đạt được cái mức độ bất thối chuyển, vẫn có thể thối chuyển, thì người này nếu trong hiện đời có phạm sai lầm thì ngay trong hiện đời cái tâm ngộ đó sẽ biến mất, trở lại làm phàm phu lại. Đây là điều rất là đáng sợ, rất là đáng sợ. Cho nên chúng ta phải cẩn thận, không có coi thường là vậy, vì khi mình ngộ rồi mình không biết rằng mình đã bất thối hay chưa. Mà thường là vì do không có thầy là ấn khả, quan sát, hướng dẫn, nên đa số mọi người khi ngộ đạo rồi đều tưởng mình đã bất thối hết. Đây là bệnh chung của nhiều người. Do đó, bây giờ hôm nay chúng ta cùng học với nhau đề tài này
[35:54]thì quý Phật tử cảnh giác, là quý Phật tử hết sức là cố gắng tinh tấn tu tập, nhưng mà luôn luôn không bao giờ dám cho mình đã bất thối chuyển, phải nghĩ rằng mình có thể thối chuyển và phải rón rén cẩn thận. Đó đó, nên đó là đốn ngộ rồi tiệm tu trước đốn ngộ và tiệm tu sau đốn ngộ. Bây giờ chúng ta nói qua về bản chất và hiện tượng của con người.
[36:24]Thường á chúng ta định nghĩa là thế này: Cái bản chất xấu hay tốt của con người nó là sự tích lũy lâu dài hoặc là được tạo thành bởi nhân quả. Ở đây chúng ta giải thích từng cái trước: Là được tích lũy lâu dài, là cái khuynh hướng xấu hay tốt, cái tính chất á nó nằm trong sâu thẳm trong tâm mình á thì gọi là bản chất. Ví dụ như một người à hồi nhỏ à do không được dạy dỗ kỹ, cho nên khi mà nghĩa là có miếng bánh ăn thì thấy đứa trẻ khác lại gần cái lật đật chạy đi chỗ khác không cho nó ăn, là cái tâm ích kỷ. Rồi người lớn, cha mẹ thấy nói: "Thằng này khôn", để yên, thì cái nó nghĩ rằng việc nó làm là
[37:16]đúng, thế nó cứ phát triển dần cái khuynh hướng ích kỷ đó. Lớn lên mãi, lớn lên, ví dụ cây viết bạn bè mượn cũng sợ nó viết một trang giấy mau hết mực của mình một trang, không cho mượn. Rồi nghĩa là người nghèo khổ đến xin là xua đuổi vì sợ họ lấy bớt đi cái của sở hữu của mình. Là cái xấu nó tích lũy qua nhiều năm tháng như vậy, nó biến thành bản chất. Đó gọi là bản chất được tích lũy qua nhiều năm nhiều tháng. Hoặc là một người có cái tính hay nổi nóng cũng vậy. Mới ban đầu nghĩa là hồi còn nhỏ vậy, cái người vú em bồng mình, có cái gì trái ý cái đánh vô mặt người vú em. Rồi cái ba mẹ thương con không la,
[38:04]cái nó nghĩ cái việc rằng nó làm dữ vậy với người khác là đúng. Lớn lên ai làm cái gì trái ý là nó phản ứng mạnh, đánh chửi người ta, thành cái thói quen hung dữ, nóng nảy, gọi là trở thành bản chất do cái sự huân tập lâu dài. Hoặc là một người có cái tính tốt như là hào hiệp, rộng rãi, vị tha cũng là do tích lũy lâu dài. Tôi nhớ ngày xưa tôi có anh bạn, anh thì là người ở miền Bắc, thì tôi tôi mến anh ở cái điểm là thấy cái tính anh hào hiệp. Dĩ nhiên là bên cạnh cái tính hào hiệp anh cũng có nhiều cái ẩu tả, nhưng mà thôi thì mình cứ để ý cái tốt để mình quý trọng. Thì anh có cái tính hào hiệp, rộng rãi.
[38:54]Thì tôi cũng không biết là vì sao, thì mình chỉ quý thôi. Một lần hai anh em nằm ngủ bên cạnh nhau thì anh mới kể cái chuyện về mẹ anh thì tôi mới hiểu là vì sao anh có được cái điều đó. À anh nói thế này, anh nói hồi anh còn nhỏ đó cái mẹ anh dặn anh thế này: "Khi con có cái bánh con ăn mà bạn con lại xin thì con bẻ ra con chia thì con hãy chia cho bạn con cái phần lớn, chia cho bạn con cái phần lớn. Rồi hoặc trường hợp mà khi con thấy bạn con có cái bánh, con lại con xin, thì lúc mà nó bẻ đó thì con nên quay chỗ khác, đừng nhìn, để đừng để ý coi nó đưa mình cái phần lớn hay phần nhỏ, để cho nó đừng có khó xử.
[39:40]Ví dụ khi mà nó muốn giữ lại phần lớn thì nó cũng không có ngại". Thì mẹ anh dạy anh một điều nhỏ đó, thì không ngờ là chỉ một điều nhỏ đó mà có lẽ là anh thực hành qua nhiều năm tháng trong cuộc sống hay sao, lớn lên thành cái tính rất là hào hiệp, rộng rãi. Là có cái gì đối với bạn bè đều dễ dàng, chia sẻ, không có bón sẻn, cũng là cái hay. Nên cái khuynh hướng tốt đó cũng là cái quá trình tích lũy lâu dài. Tích lũy quá lâu dài nên đã trở thành bản chất, bản chất. Mà bản chất chúng ta như nãy nói là hoặc là do nhân quả tạo thành. Do nhân quả tạo thành là như thế nào?
[40:29]Là ví dụ như đời trước chúng ta là một người rộng rãi, nhưng mà tính mình thì có cái tật là khen chê phân minh rõ ràng, đúng sai là phân biệt không để lầm lẫn, có cái ranh giới giữa thiện và ác rõ ràng. Nhưng mà chúng ta đâu có ngờ là thiện và ác thật sự không có ranh giới. Nhưng mình do cái cố chấp, nên mình cho rằng thiện và ác có cái ranh giới rất là rõ. Nên đúng sai phân biệt, giờ tánh mình vì là tốt, thấy người khác không giống với mình thì công kích, chê bai. Nhưng tuy đời trước là người rộng rãi, nhưng thấy ai ích kỷ thì chịu không được, bực mình chịu không được. Thì nói, nói nói nói nặng nữa, thậm chí nói là nói nặng lắm.
[41:27]Mà chẳng những nói nặng mà còn trêu chọc bằng những cái lời hiểm ác, hiểm ác lắm. Ví dụ như bây giờ muốn nói người ta ích kỷ thôi được rồi, à nói ích kỷ thì có thể pha trò, pha trò, pha trò người ta nói trời ơi có chuyện nói vậy, nó cái gì nó cũng gom góp là giống như mấy con kiến hay là mấy con chó. Như là thôi mình nói ích kỷ là đã thành cái tội rồi, mà thêm một vài cái ví dụ minh họa và hình ảnh minh họa cho nó rõ nét, nặng quá, quá nặng nề, cái thành cái nghiệp. Rồi qua đời sau, cái ích kỷ trở thành bản chất của mình. Dù điều đó mình không có tích luỹ. Cho nên cái bản chất tốt hay xấu ở trong chúng ta,
[42:20]nếu mà trong hiện đời tạo thành thì là do tích luỹ, mà nếu do đời trước tạo thành là do nhân quả. Đó là cái bản chất đó. Hoặc là như có người mà xem bóng đá mãi cái thành quen.
[42:43]Ở đây có ai hay thức coi bóng đá không? Quý cô thì chắc ít chứ mấy ông thì chắc có. Coi riết cái từ từ qua năm năm, cái nó không phải là quen nữa mà thành gì? Ghiền, nghiện. Nghĩa là bữa nào có bóng đá thì mình cũng thức suốt đêm tới sáng với người ta. Thì từ ban đầu hồi mấy chục năm trước làm gì có bóng đá trên truyền hình mà để mình ghiền như vậy phải không? Đâu có truyền hình trực tiếp, lâu lâu ngoài sân vận động đá một trận. Mà hồi nhỏ thì tiền đâu đi coi nữa, đâu có lấy đâu mà ngồi phê bình cầu thủ này cầu thủ kia, đội này đội kia, không có. Bây giờ truyền hình trực tiếp nên mới mấy năm gần đây thôi,
[43:27]nên mình biết cái mê bóng đá nó không phải là do nhân quả tạo thành. Nghĩa là đời trước mình đâu có phê bình ai là đồ mê bóng đá hết, mà cái mê bóng đá chắc chắn là do cái sự tích luỹ của của kiếp này. Đó bây giờ thì thôi hễ mà có bóng đá thì thà ly dị vợ chứ không thể bỏ bóng đá là vậy. Nói vậy không biết có đụng chạm tới ai không nha, thôi xin lỗi. Hoặc là có cái người mà thích tìm lỗi xấu người khác, cái riết thành cái thói quen. Thói quen nghĩa là khi mình tìm lỗi người khác cái mình thấy giống như mình hay, hay hơn thiên hạ, rồi riết cái thành cái tật. Cái tật là nhìn ai cũng thấy lỗi xấu hết,
[44:08]cũng là cái hoặc là cái người hay thương người cứ nhường nhịn mình, đó cũng là cái thành cái bản chất vậy đó. Còn cái hiện tượng là cái biểu lộ tạm thời do một cái nhân duyên gì đó mà thành, nên cái này không phải là bản chất mà nó đến một cách bất chợt. Đó ví dụ, ví dụ là có người này nào giờ chưa biết Phật pháp, à nghe chữ Phật hỏi:
[44:38]"Ông đó ở đâu? Ở Thủ Đức hay Sài Gòn?" Nghĩa là người này chưa biết Phật pháp là gì hết. Rồi chợt một bữa, chợt một bữa nào đó, là nghe nói nghe người bạn rủ vô Tịnh xá Ngọc Thành tại vì nghe nói là Ni sư trụ trì Ngọc Thành này hay cho ăn bún riêu, ví dụ vậy. Nghe ăn rồi cũng mê vô ăn. Vô ăn bữa nọ cái gặp một cái buổi giảng pháp, một cái buổi giảng pháp của ai đó, cái nghe ngồi hóng yến, thích. Nghĩa là nghe nói rằng à thì ra trong cuộc sống này người ta phải sống mà để thương yêu nhau chứ đừng có ích kỷ. Thì dĩ nhiên người này cũng có cái khế hợp gì, thì dĩ nhiên người này cũng có cái khế hợp gì với đạo lý chứ không phải là không.
[45:25]Vì nếu hoàn toàn không có khế hợp với đạo lý nghe sẽ không thích. Như bây giờ như cái người mà tâm không tốt đi, nghe nói sống phải thương người khác cái nghe kỳ kỳ. Ủa sao sống phải thương ai? Mình lo thương mình thương vợ con mình thôi chứ thương ai làm chi. Nhưng mà cái người trong cái chất tâm họ có cái đạo lý gì đó có thể là không từ Phật pháp nhưng nó giống giống, bây giờ đến Phật pháp nghe nói là có một cái đạo lý gọi là từ bi, là khi mình sống trên đời này phải tập thương yêu muôn vạn loài, nghe tự nhiên xúc động liền. Tự nhiên xúc động. Xúc động rồi cái thích quá, nói: "Đạo Phật hay thiệt.
[46:03]Cái ông Phật này ổng ở đâu mà hay thiệt?" Rồi từ mới hỏi lý lịch mới biết ra là ổng đã sinh cách đây hai ngàn sáu trăm năm thì mới giật mình, chứ hồi trước không biết. Thì cái xúc động đó, cái hâm mộ Phật pháp cái thích quá, trời nói: "Lần sau mày có đi ăn bún riêu rủ tao vô ăn nữa, để nghe nữa." Em nói: "Lần sau không có bún riêu, lần sau Ni sư dụ bằng bún bò, hến gì không biết." Đây là thấy chùa này cũng hơi hay dụ ăn, ví dụ vậy. Thì thích thì lúc mà bất ngờ hâm mộ thích quá thì chúng ta phải hiểu đó là gì? Đó là bản chất hay hiện tượng? Đó là hiện tượng, phải không? Chứ không phải bản chất.
[46:41]Cho nên là chúng ta coi chừng bị gạt.
[46:47]Coi chừng bị gạt nghĩa là làm sao?
[46:51]Để coi, nấc một cái là xin lỗi. Khi người đại căn, người thiện căn từ kiếp trước, bữa nay vô nghe pháp một thời là ngộ đạo liền, hâm mộ thích thú liền. Coi nó bị gạt. Qua bữa sau mình về mình thấy coi chừng ai rủ đi ăn thịt cầy ổng đi ăn tiếp. Tại vì nào giờ cái chất Phật pháp không nhiều, nghe xúc động bữa rồi quên. Tại vì cái bản chất không có. Nên đây là cái chỗ mà chúng ta cẩn thận giữa cái bản chất và hiện tượng.
[47:27]Cho nên cái lúc mà cái người mà họ gọi là hiện tượng á, nghĩa là gặp Phật pháp bất chợt, hâm mộ thích quá, lúc đó làm được vài điều tốt. Nhưng rồi đâu vô đó. Ngay lúc mà họ đang là thích quá chừng á, mình kêu họ: "Thôi bây giờ là anh, anh vô chùa mai anh công quả một tuần nha." Nói: "Rồi rồi. Trời ơi đạo Phật hay quá, mai tôi vô công quả một tuần." Nhưng mà ra khỏi chùa đi chừng năm chục thước bay mất à. Rồi lần sau gặp: "Đi công quả hả anh?" Ủa, công quả hả? À thôi, là bắt đầu kiếm cớ thoái thác. Nên đó mình hiểu người như vậy là hiện tượng, không phải bản chất. Nên chúng ta cẩn thận. Bây giờ quý Phật tử ngồi đây thì thôi chắc là bản chất hết rồi.
[48:14]Hi vọng ở đây là ai cũng là người thấm nhuần Phật pháp, mà đã thấm nhuần Phật pháp thì luôn luôn mình muốn san sẻ, muốn dẫn dắt những người bạn của mình cũng đến với Phật pháp. Thì chỗ này là cái chỗ trách nhiệm lâu dài và chỗ này là chỗ mình chín chắn không có cả tin. Khi thấy người bạn mình có biểu lộ hâm mộ cái Phật pháp thì mình không có nghĩa là quá tin, không có quá tin vào cái điều tốt của họ, và phải hiểu đó chỉ là cái hiện tượng tạm thời mà mình cần phải giúp đỡ, khuyến khích lâu dài để cho nó càng ngày càng thuần thục hơn. Hoặc như một người trường hợp ngược lại đây. Là có người vì lý do gì đó họ làm một việc lầm lỗi, lầm lỗi.
[49:07]Ví dụ như là người này bản chất là tốt, không bao giờ đi ăn trộm ăn cắp của ai. Nhưng đã có một lần là ví dụ như là nào giờ họ thích cái đồng hồ gì quá đi. Hôm đó đi tự nhiên thấy đồng hồ ai để quên, ai để quên. Rồi cứ cầm lên tay rồi đi tới đi lui coi coi có ai lại nhận để trả. Mà đi tới đi lui hoài không thấy ai nhận trả, thôi cũng đành đau khổ mà đeo luôn, ví dụ vậy. Đeo luôn à. Thì như vậy cái người này nếu mà nói theo giới của đạo Phật là phạm tội ăn cắp. Thì mình nhìn cái hiện tượng đó mình thấy là người này xấu. Nhưng mà coi chừng không biết đây là hiện tượng hay bản chất. Nếu mà đây là bản chất á thì đúng là người này cần phải
[49:56]sửa đổi rất là lâu dài mới hết, vì cái tâm tham còn. Nhưng mà có trường hợp nhiều khi chỉ là hiện tượng, ổng thích ổng đeo vài ba bữa cái ổng hối hận đem cho người khác, thấy kỳ. Thì lúc mà ổng ăn cắp thì đó chỉ là hiện tượng, không phải không phải là bản chất tham lâu dài. Vì ổng nào giờ ổng nghe nói đồng hồ Rado mà dẹp mỏng gì, nghĩa là xa-phia gì không trầy đó ổng cũng thích, nên lỡ đeo nhưng vài ba bữa hối hận, cái thôi tìm cách trả, trả không được thì kiếm người cho, không dám đeo nữa. Nên lúc mà ổng lấy ổng đeo luôn thì đó chỉ là hiện tượng, không phải bản chất. Mà nếu mình lỡ mình bắt gặp, mình nghĩa là mình ngồi trong
[50:41]cái nhà nào mình hí hí cái cửa phòng mình rình thiên hạ, chợt mình thấy có người đó rồi ổng đeo luôn mình biết: "Ông này ăn cắp." Mình đem cái ấn tượng trong lòng mình đây là con người ăn cắp, nhặt đồ rơi không trả lại, thì có thể là mình đã đánh giá một cách nông nổi và sai lầm. Đây là giữa hiện tượng và chủ quan, mình không có được vội vàng. Khi mình hiểu cái điều này đó giữa cái hiện tượng và bản chất á thì chúng ta cẩn thận điều này khi đánh giá con người. Là thấy điều tốt mình cũng không vội nghĩa là đặt hết niềm tin, mà khi thấy cái người đó có biểu lộ xấu cũng không quá thất vọng, tại vì chưa biết đó là bản chất hay là hiện tượng.
[51:31]Bây giờ quay lại nơi bản thân của mình, Bây giờ quý Phật tử nha, tự nhìn lại mình, là bây giờ mình đi nghe pháp nè, hiểu đạo nè, quy y rồi, nghe pháp chắc cũng nhiều lần phải không? Ngoài nhiều lần còn mua sách đọc, mượn băng nghe vân vân, thì tương đối là cũng thấm, cũng thấm Phật pháp rồi. Như vậy cái thấm Phật pháp đó là hiện tượng hay bản chất?
[52:03]Hiện tượng hay bản chất? Ai nói bản chất giơ tay lên? Hai người, ba người. Ai nói hiện tượng giơ tay lên? Không người nào. Như vậy cái người không giơ tay gì hết là? Hiện tượng hay bản chất?
[52:27]Là người mà không giơ tay gì lên hết á là sao? Là: không biết cái nào đúng đợi ông thầy nói chắc ăn. Thế này nè, nếu mà mình xem rằng cái việc mà mình đi chùa bấy lâu nay, mình nghe kinh học pháp nhiều rồi gọi là bản chất, thì đó là mình mắc cái bệnh chủ quan. Tưởng là nhiều lắm, tưởng mình mới nghe vài năm nay là mình nhiều Phật pháp con đầy bụng rồi đó, nằm trong xương trong tủy. Cho nên đó, cho nên phải hiểu thế này, vẫn chỉ là hiện tượng. Mình phải tự đánh giá mình, chỉ mới là hiện tượng thôi, chưa phải là bản chất. Mình phải tự đánh giá như vậy, mặc dù có thể đó là bản chất. Mặc dù có thể là ngày hôm nay mình ngồi nghe pháp,
[53:19]kỳ thực là những kiếp trước đã từng tu tập có khi đã từng là người xuất gia rồi. Không ai biết được điều này, biết đâu rằng trong số những quý Phật tử ngồi đây, có rất nhiều người đời trước đã từng là tăng hay ni rồi. Nhưng mà ngày hôm nay ngồi đây, thì mình cứ tự hạ mình xuống cho rằng là việc mà mình tìm đến Phật pháp, hiểu Phật pháp chỉ mới là hiện tượng. Như vậy, đối với cái hiện tượng thì mình phải xử lý nó bằng cách nào?
[53:57]Là phải? Phải tiệm tu. Đó, nghĩa là chúng ta nói về bản chất hay hiện tượng để mà ứng dụng cái mà đốn hay tiệm vừa rồi mình mới nói, phải không? Để huân tập cái hiện tượng là ham thích Phật pháp, hâm mộ Phật pháp trở thành cái bản chất thì mình phải, phải tiệm tu lâu dài. Chứ không có được coi thường, đó. Chứ không phải là mình mới hiểu rồi thích thú rồi tưởng mình đã nắm được chân lý. Rồi sinh ra khoe khoang hay kiêu căng. Cho nên nhiều người lạ lắm, cái chữ ngộ đạo có nhiều người lạm dụng. Lạm dụng là sao? Là có cái người nào giờ chưa hiểu gì Phật pháp hết, cái hôm đến chùa cái nghe giảng một bài về Bát Nhã,
[54:51]thì trong đó nói là tất cả pháp đều là không. Thì người này cũng có căn lành từ kiếp trước nghe chấp nhận liền, hiểu liền. Dĩ nhiên là tâm chưa có chuyển biến gì hết, chỉ mới hiểu thôi. Đó hiểu, về nói: "Thiệt, bữa tôi nghe ông thầy ổng giảng Bát Nhã tôi ngộ liền." Thì cái chữ ngộ này là gọi là lạm dụng. Chứ thực sự lúc đó chỉ là hiểu và thích. Nhưng mà cái người nghe cái chữ không mà hiểu và thích thì phải nói là cái căn cơ hơi lớn. Đời trước cũng là người đã đến với Phật pháp rất nhiều chứ không phải là dễ. Chứ còn bình thường một người mà chưa từng biết Phật pháp hoặc đời trước ít ít, bây giờ mà quen chấp thế gian cái gì cũng thật hết,
[55:40]nay đến với Phật pháp nghe nói vạn pháp đều là hư ảo, nghe chới với liền. Chịu không nổi, không chấp nhận được. Nên người đó là mình biết căn cơ không nhiều. Còn cái người chưa bao giờ nghe mà nghe lý không chấp nhận liền là người này coi vậy chứ có căn lành. Ở đây tôi hỏi thật quý Phật tử mà ngày xưa đến chùa nghe quý thầy nói các pháp đều là hư ảo, quý Phật tử nghe có thấy chấp nhận, có hiểu không, có tin không? Có không? Sao làm lơ hết trơn vậy? Có không? Có đó. Có nhiều người cũng đã có đó. Người nào mà lần đầu nghe chữ không mà thấy ngỡ ngàng, giơ tay lên thử?
[56:30]Như vậy là còn, có một người, hai người. Được. Còn người nào ngay buổi đầu mà nghe nói tới chữ không mà cảm thấy không ngỡ ngàng, giơ tay lên? Cũng không luôn là làm sao kìa? Ngộ không?
[56:53]Nhưng mà thật ra đó, thì theo cái niềm tin của tôi khi tôi nhìn quý Phật tử thì tôi có cái niềm tin rằng đa số ở trong đây lần đầu tiên mà nghe nói đến chữ không của đạo Phật đã không ngỡ ngàng. Đúng không? Rồi giờ mới chịu gật đầu. Thật ra là quý Phật tử ngồi đây nên đời trước cũng có căn lành, nên khi mình nghe đó mình có cái thấm. Tuy nhiên ở đây, dù chúng ta nghe chữ không đó mình cảm thấy rất thích thú, nghĩa là đời trước căn lành có đó thì điều này vẫn chưa gọi là ngộ đạo, mà chỉ biểu lộ cái thiện căn với Phật pháp thôi, chưa phải ngộ đạo. Thì nhiều người đã hiểu lầm cho rằng đây là ngộ đạo.
[57:38]Còn chữ ngộ đạo thật sự á, là, là sao? Là như nãy chúng ta nói á cái hiện tượng đốn ngộ là tâm thay đổi qua một trạng thái khác hẳn, người mình trở nên tự tại, khá giải thoát. Do đó, là trong những trường hợp mà chúng ta hiểu biết được điều gì đó thì chúng ta phải, phải kín đáo, dè dặt, không được cho mình đã ngộ đạo. Như lần trước vậy có một cô Phật tử ở nước ngoài về gặp tôi, cô nói thì tôi cũng không dám cãi. Cổ nói: "Thầy, con nghe băng thầy con ngộ đạo." - "Thì cô ngộ đi."
[58:21]Thì tôi thôi thôi thôi vậy nghe vậy thôi cũng quý, không dám cãi nhưng mà biết rằng chữ ngộ đó không phải, không phải. Nhưng mà đã rất là thích thú, rất là tâm đắc và hiểu được điều gì đó để thực hành, thì phải. Rồi chúng ta khảo sát qua một trường hợp là
[58:41]khi hiện tượng là dấu hiệu của bản chất. Ví dụ như thế này, chúng ta nhìn thấy một người tử tế, lịch sự là khi tiếp xúc với mọi người là lịch sự, đối xử đàng hoàng, là ai cần cái gì cũng sẵn lòng giúp đỡ, đáp ứng. Mà nhiều lần như vậy, thì như vậy người này là bản chất tốt hay xấu? Tốt hay xấu? Tốt phải không? Tại nhiều lần mà.
[59:16]Nhưng có một lần, có một lần cái bước vô nhà ai đó, cái con chó chạy ra nó gầm gừ cạp cái ống quần. Thì ổng cong chân ổng lấy cái giày ổng đá cho một cái. Chó la lên chạy. Mà đá rất là đau. Thì một thoáng đó, thì cái đó mà lúc mà giận lên đá con chó đó là hiện tượng hay bản chất? Hiện tượng phải không? Đó, tại vì nào giờ mình thấy người này tử tế, lịch sự, nhã nhặn ha, nhưng mà chỉ có bắt gặp có một lần đá con chó gọi là hiện tượng, nhưng coi chừng, coi chừng cái ác độc đó là bản chất đã được che đậy rất lâu dài.
[1:00:01]Đây là điều chúng ta cẩn thận. Vì cái này không phải hiện tượng bất chừng, bất ngờ mà là một cái biểu lộ của một bản chất thầm kín khéo che đậy từ bấy lâu nay.
[1:00:15]Trong trường hợp này chúng ta gọi là ngụy quân tử á, nói theo như là Kim Dung tiên sinh trong truyện là truyện gì mà của Lệnh Hồ Xung? Tiếu ngạo giang hồ. Tại vì hồi nhỏ tôi luyện chưởng cũng hơi kỹ, mặc dù là chưa có điều cái thành công lực nào, nhưng mà nói chung là cũng luyện kỹ. Đó gọi là ngụy quân tử, nên cái người này thì dù khéo che đậy cái bản chất của mình nhưng vẫn có những lúc bộc lộ, vẫn có những lúc bộc lộ. Có khi cái bộc lộ này nó không phải bằng hành động rất là thô tháo như là co chân đá con chó, hoặc là cái người ăn xin đến đưa cái nón vô là gạt cái tay mạnh người ta qua. Có khi nó không biểu lộ bằng hành động thô tháo như
[1:01:02]vậy, có khi nó chỉ biểu lộ qua một ánh mắt. Một ánh mắt. Nghĩa là bình thường mình thấy người này tử tế, à nhã nhặn, lịch sự, đàng hoàng, nhưng trong lúc nào đó mình bắt gặp vì người này không có đối diện với ai hết, bắt gặp mình thấy ánh mắt liếc qua một cái, một cái tia ác độc lóe ra, thì mình phải giật mình liền, coi lại, coi lại người này nào giờ mình gọi là người tốt, phải xét lại. Chỉ một cái tia mắt nhỏ thôi. Vì sao? Vì cái người đó đó lúc mà ngồi trước mặt mọi người á thì họ hiện cái vẻ mặt hiền lành, tử tế ra, ân cần ra. Nhưng mà khi không có nhìn ai á, khi không còn ai để đối diện với mình á
[1:01:50]thì người đó bộc lộ cái bản chất thật sự ra ánh mắt liền, không che đậy được. Vì người xưa đã nói: "Ánh mắt là cửa cửa sổ của tâm hồn." Cho nên thật sự ánh mắt sẽ biểu lộ ra hết.
[1:02:08]Nếu mà chúng ta có trực giác, chúng ta tinh tế, chúng ta nhìn vào đôi mắt của một người chúng ta đọc được nhiều điều, nhiều điều. Nhưng mà khó là sao? Vì chỉ có cái đôi mắt nhỏ với cái ánh mắt chứa trong không đầy một xăng-ti-mét vuông, mà nó chứa hết toàn bộ con người cũng như chứa toàn bộ cái nghiệp duyên của con người trong đó nên chúng ta hơi khó đọc. Hơi khó đọc. Phải là cái người có trực giác mạnh á mới đọc được. Nhưng mà đọc được cũng người đọc nhiều, người đọc ít à. Ví dụ như người có trực giác một ít thì đọc được một ít, người trực giác rất mạnh thì đọc được rất nhiều cũng từ nơi cái ánh mắt mà ra.
[1:02:50]Cũng có đôi mắt đó thôi, vậy chứ mà cả cuộc đời con người, tính tình mình nằm gọn trong đó hết. Nằm gọn, không giấu ai được. Nên cái người mà gọi là bản chất ác độc, ích kỷ, tuy có làm ra vẻ là ân cần, lịch sự, tử tế với người khác là chỉ gạt được cái người không có trực giác thôi, chứ không gạt được cái người có trực giác. Dù đang ân cần đó, nhưng mà người có trực giác họ nhìn vô họ biết liền. Thấy chưa? Đó, còn mà mình không có trực giác thì mình đợi cái lúc mà người đó không có nhìn ai, không có ai mình bắt gặp ánh mắt biết liền. Nhưng mà thôi nói vậy chứ hổng lẽ bây giờ nghe xong cái này rồi mai mốt
[1:03:35]đi rình rình thiên hạ, coi người ta liếc làm sao thì nó kỳ lắm. Thôi mình cứ hy vọng, cứ mong cho mọi người tốt ha, chứ đừng có mà bây giờ nghe bài này xong rồi ông thầy Chân Quang ổng nói rồi bây giờ cứ đi rình rình ánh mắt người ta, mất lịch sự. Hoặc, hoặc ví dụ có cái tên du đãng, cái tên du đãng này là cái tên mà dĩ nhiên là du đãng thì chửi thề, nói bậy, rồi trộm cắp, rồi lường gạt. Nhưng có một lần nhìn thấy cái tên này, anh đang lơng tơng đi bộ trên đường cái anh thấy bà già muốn băng qua đường, đi hổng được, xe cộ quá. Anh mới dừng lại, anh mới dắt bà già đi qua, rồi anh đạp xe anh đi tiếp.
[1:04:21]Thì coi chừng à, đúng thì nếu mình nhìn đó là một hiện tượng phải không? Một hiện tượng. Thì bản chất của tên du đãng này là xấu mà, nhưng mà xuất hiện một cái hiện tượng tốt thì coi chừng. Trong cái bề sâu tâm hồn của tên này, cái thiện tâm còn nhiều ở trỏng, chưa hết, mới chịu khó dừng xe đi dắt bà già qua. Chứ đa số như chúng ta, mình đang chạy xe ngon trớn phải không, thấy bà già đi qua đường hổng được, tội nghiệp quá thôi kệ đi luôn. Thì nếu mình tốt chút nữa thì vái Trời vái Phật lát có ai dắt bả giùm, còn mình cứ đi cho nó ngon trớn vì xe đang đi ngon mà thắng lại nó khó chịu. Đó, thì đó là mình cũng tốt lắm.
[1:05:02]Nhưng mà nếu một tên du đãng đang chạy ngon trớn mà thắng két xe lại, quay lại dắt bà già đi qua rồi trở qua lái xe đi tiếp thì coi chừng cái tên du đãng đó cái bề sâu cái tâm thiện nó hơn mình á. Cái bản chất tốt còn ngủ ngầm bị cái tâm xấu nào đó nó che lại. Cho nên đây là những cái biểu lộ của hiện tượng nhưng mà không phải hiện tượng. Đó là dấu hiệu của những cái bản chất lớn tiềm tàng nằm ở bên trong, vậy đó. Hoặc là như thế này: khi một người chưa biết gì về Phật pháp, rồi một lần đó đến chùa nghe pháp, trong một lần nghe pháp xong rồi về nhà bỏ cha bỏ mẹ đi tu luôn. Thì như vậy cái người này chúng ta gọi là hiện tượng hay bản chất?
[1:05:47]Hiện tượng hay bản chất? Này bản chất chứ không phải hiện tượng. Tại cái người mà hiện tượng á là cái người bốc đồng và có cơn, làm ào ào cái rồi mất à. Còn cái người gặp một lần rồi quyết định bỏ gia đình đi luôn, suốt đời đi tu luôn thì người này là bản chất. Nghĩa là cái thiện duyên với Phật pháp rất dày, mà tới nhưng mà có cái lạ là là trước đó không gặp, đến khi gặp rồi là đem cả thân mạng mình theo Phật pháp luôn. Nên đây là cái bản chất Phật pháp bị che đậy trong bao nhiêu năm của tuổi trẻ và đến khi gặp Phật pháp khơi dậy rồi là cái bản chất mạnh nó sống dậy ào ào mình theo không kịp. Đó là cái thiện căn mà được tích lũy lâu dài.
[1:06:36]Cho nên ở đây chúng ta đánh giá cái người mà gọi là hiện tượng hay bản chất thì mình không có nông nổi, mà như ông bà mình có nói là sao? Thức đêm mới biết đêm dài, sao nữa? Ở lâu mới biết lòng người trước sau, phải không? Đó, cho nên mình không có vội vàng đánh giá ai trong một giây phút nào hết. Cứ bình tĩnh chờ đợi thời gian, nhưng trong cái bình tĩnh chờ đợi thời gian đó thì trong thâm sâu tâm hồn mình, mình vẫn mong rằng là người ta là người tốt. Mình vẫn mong, mặc dầu không tin nhưng vẫn mong. Không tin là sao mà vẫn mong là sao? Có phải mâu thuẫn không?
[1:07:25]Ví dụ thấy một người tốt thì mình không tin liền, thì cái đó là trí tuệ, vì cái trí tuệ cho chúng ta biết là cái bản chất và cái hiện tượng là cái khó phân biệt, phải không? Cho nên thấy tốt đó chứ không tin, đó là trí tuệ. Nhưng trong thâm sâu mình vẫn mong người ta là tốt thì cái vẫn mong đó là từ bi, là lòng mình thương yêu mọi người và mong mọi người đều là người tốt hết. Mặc dầu hỏi cho đúng ra thì mình chưa tin ai hết, nhưng lòng mình mong mọi người là người tốt hết thì đó là lòng từ bi. Nó khác với cái người thế gian không tin ai và cũng chẳng cần ai tốt hết, ai xấu tốt kệ người ta thì cái đó là đúng là có trí, trí thế gian đó mà không có lòng từ bi.
[1:08:16]Hoặc là người biết đạo là mong người ta tốt và tin người ta tốt dễ dàng quá thì người này có từ bi mà không có trí tuệ. Nên ở đây chúng ta đánh giá trên bản chất hiện tượng, chúng ta biết cái đốn tiệm là cái tích lũy lâu dài và cái nhất thời như thế nào, nên chúng ta nhìn con người như vậy với cái tâm như vậy là không vội vàng tin nhưng rất mong mọi người trở thành tốt. Mà chính cái điều mà mong mọi người trở thành tốt á, tự nhiên mình tốt trước thiên hạ. Tự nhiên mình tốt trước thiên hạ. Cho nên nhờ mà tôi bệnh như vậy nên rất nhiều người sau này vĩnh viễn không bao giờ bị bệnh tật. Sao vậy? Tại vì nhiều Phật tử tội nghiệp tôi cứ cầu Trời khấn Phật
[1:09:08]cho cái ông Chân Quang ổng đừng có bệnh, tội nghiệp ổng, cho ổng khỏe lên chút. Này cầu một câu vậy chớ mà đời đời được cái phước không mất, nên về sau dễ được sức khỏe tốt. Nên nhờ tôi bệnh vậy mà nhiều người tạo được phước. Rồi còn có nhiều người có những lời cầu nguyện sâu hơn nữa, rồi nhiều khi gặp tôi tâm sự, tâm sự thì tôi nói cầu thì chưa, thầy không được gì đâu mà chính là các Phật tử hưởng hết những điều của mình cầu. Thì có nhiều người cầu cho tôi tội lắm, cầu cho thầy đắc đạo, thì tôi không đắc rồi nhưng mà người đó sẽ đắc đạo, tại lòng mình muốn cho người khác tốt mà. Rồi nói dạ cầu cho thầy, thầy giảng hay hoài,
[1:09:53]thì cái người này kiếp sau là giảng hay hoài. Còn tôi ít bữa nữa là bắt đầu giảng dở rồi, qua tháng sau là giảng hết được rồi, nhưng mà cái người mà cứ cầu cho thầy giảng hay hoài người đó đến kiếp nào đó bắt đầu làm giảng sư là sẽ giảng hay hoài. Nghe cái về bắt chước rồi nha. Nghe chưa, biết mánh rồi về bắt chước. Nó là sự thật như vậy, cho nên ở đây gọi là cái lòng của mình đối với con người là vậy, mình thương yêu và mong ai cũng tốt hết. Những quả báo lớn mà bền bỉ thì đều đòi hỏi cái sự tôi luyện lâu dài chứ không có một ngày một bữa được. Như chúng ta đến với Phật pháp, hễ cái trí tuệ mình hiểu ít á thì mình mong điều ít ít thôi.
[1:10:42]À mong à thôi bây giờ kiếp này ráng tu kiếp sau mình được giàu, bây giờ ráng bố thí, nghe ông Phật nói nữa bố thí giàu nha, cái mình ráng bố thí, đó là cái trí ít cái mình cầu mong cái quả báo ít. Hoặc là có người có cái trí tuệ sâu hơn, tự nhiên cảm nhận được cái hạnh phúc an vui của cõi Trời vô cùng vi diệu cho nên tu tập, làm rất nhiều hạnh lành để sinh lên cõi Trời, đó là cái trí cao hơn chút. Hoặc là có người nghe nói có cõi Phật A Di Đà hạnh phúc còn nhiều hơn nữa cho nên phát tâm tu tập hết sức để được sinh về cõi Tây phương Cực Lạc thì đó là cái trí tuệ còn cao hơn nữa. Đó là tùy cái trí tuệ của mình cỡ nào
[1:11:27]mà mình phát tâm tìm đến cái quả báo chừng đó. Thì ở đây chúng ta muốn tìm một cái quả báo hữu hạn hay là quả báo vô hạn? Chúng ta muốn tìm một quả báo tương đối hay một quả báo tuyệt đối? Hử? Hỏi: tương đối hay tuyệt đối? Tuyệt đối phải không? Mặc dù trong thâm tâm khi quý Phật tử trả lời câu này, trong lòng vẫn còn run sợ. Miệng nói chứ trong tâm cũng chưa có dám khẳng định. Nhưng ngày hôm nay khi nghe tôi hỏi là quý Phật tử muốn đi tìm một cái quả báo, một cái đạo quả tuyệt đối hay tương đối thì mình đành phải trả lời tuyệt đối chứ bây giờ trước mặt mọi người mà trả lời tương đối, kỳ. Nhưng mà miệng nói chứ tâm vẫn chưa khẳng định là vì sao?
[1:12:19]Vì cái chí nguyện của mình, cái trí tuệ của mình, cái thiện căn mình còn ít, cho nên không hình dung nổi cái tuyệt đối là gì để mà mình có thể khát khao tìm cầu. Là do cái thiện căn ít, trí tuệ mình còn thấp. Tôi nói như vậy không phải tôi chê quý Phật tử đâu, nhưng mà đây là sự thật tôi nhìn, tôi cảm nhận điều đó. Ở đây cũng có một số người khi nghe hỏi là đi tìm cái đạo quả tuyệt đối hay tương đối thì người này trả lời tuyệt đối mà khẳng định được trong tâm mình, trong đây cũng được vài người điều đó. Nhưng đa phần mà nghe nói tới đi tìm cái đạo quả tuyệt đối lòng ai cũng run sợ, không dám khẳng định là do thiện căn còn ít.
[1:13:03]Bây giờ tôi đặt vấn đề là chúng ta đủ trí tuệ và đủ thiện căn để hướng đến một cái đạo quả tuyệt đối. Đặt vấn đề là chúng ta đủ như vậy thì với một cái đạo quả vô tận tuyệt đối như vậy thì cái phát tâm cái sự tu tập của mình là ngắn hay dài? Ngắn hay dài? Ngắn hay dài? Dài chưa đủ, dùng chữ dài chưa đủ. Ngắn thì sai rồi, dùng chữ dài chưa đủ. Phải dùng chữ gì mới trúng?
[1:13:42]Dài dài? Hai chữ dài? Phải có người nào dài hơn không? Thêm chữ nữa là được ba chữ đi. Mình phải hiểu rằng muốn đi tìm cầu cái đạo quả tuyệt đối vô tận, thì cái sự tu tập, cái sự tích lũy công hạnh của mình cũng phải là vô tận, không có tính thời gian.
[1:14:05]Hễ nếu mà chúng ta còn cái quan tâm đến thời gian trong cái sự tu hành, thì chúng ta tâm mình còn hẹp đó, mình chưa thể nào có thể đạt đến cái đạo quả tuyệt đối được. Nên có đôi khi, có nhiều lần, chúng ta xem một vài cuốn sách, chúng ta cũng bị... bị dụ, bị hấp dẫn là cho rằng tu nhất kiếp ngộ nhất thời, hay là phải khẳng định là hiện đời thành Phật, là ngay một kiếp này phải thành Phật, hay ngay một kiếp này phải giải thoát, thì đây là sự hiểu lầm lớn. Phải chấm dứt cái tâm đó đi, phải chấm dứt cái tâm mà hạn cuộc trong thời gian đó, không có. Không bao giờ đặt vấn đề thời gian nữa. Mình chấp nhận vô lượng vô lượng kiếp nữa không thành Phật,
[1:14:53]nhưng chỉ biết một điều là trong vô lượng vô lượng kiếp nữa không bao giờ bỏ tu. Nhớ như vậy. Quý Phật tử đồng ý với tôi điều này không? Nghe đồng ý mạnh là là được đó! Nghĩa là chấp nhận vậy, không biết chừng nào mình đạt được đạo quả, bất cần, chỉ cần một điều là vĩnh viễn vô lượng kiếp không bao giờ dừng lại sự tu tập. Đó, không có cái li- quan tâm đến thời gian. Chúng ta không có chấp nhận cái việc mà ăn xổi ở thì, hoặc gọi là thiếu chín chắn.
[1:15:31]Ở đây chúng ta để ý thế này, có những điều thực hiện lâu dài nhưng mà không có kết quả vì không đủ nhân duyên. Ví dụ như thế nào? Ví dụ như là chúng ta trồng cây ở trên cái vùng đất mà không có màu mỡ, cây đó trồng hoài không lớn.
[1:15:54]Như ở trên núi tôi vậy, có những vùng đất ở trên có một lớp đất mỏng, xuống dưới là những lớp đá tảng dày, cây không bao giờ phát triển được. Nên mình thấy tuy là có gieo nhân đó, có tưới đó, mà cái nhân duyên gì đó chưa đủ, trồng lộn miếng đất. Là chúng ta đã phát tâm sai đường, đặt cái quả báo vào trật cái phước điền gì đó, đặt gieo cái nhân vào trật cái ruộng phước nào đó mà không thành quả báo. Cây trồng không bao giờ có trái. À, ví dụ như những điều gì? Như có những người nhập thất mãi mà không đắc đạo.
[1:16:33]Đây là trường hợp có, có thật mà có rất nhiều nữa. Cho nên mà nghe ai phát tâm nhập thất tôi rầu lắm, vì tôi không biết là người này đã đủ nhân duyên chưa. Vì cái người mà đủ nhân duyên á thì họ nhập thất họ sẽ có kết quả, họ có ngộ đạo đó, có chứng một phần gì đó. Còn người chưa đủ nhân duyên mà nhập thất thì 20 năm không có kết quả gì hết. Vì sao? Là vì cái phước để làm thánh chưa có. Muốn chứng đạo chúng ta phải có cái phước để làm thánh, mà người này mình nhìn vào tâm hổng thấy cái phước để làm thánh. Rồi nhập thất mấy chục năm ăn hết của đàn na tín thí, người ta phải nuôi mình hai chục năm,
[1:17:18]mà trong hai chục năm đó mình không làm được điều gì có lợi cho Phật pháp, cho chúng sinh. Cho nên nhập thất hai chục năm ra hết phước luôn, mà vẫn không đắc đạo. Đó là có những trường hợp là thực hiện lâu dài mà không có kết quả là như vậy. Nên chúng ta mới thấy tuy là có những điều phải tích lũy lâu dài, nhưng mà phải xem cái nhân duyên đủ hay không, đường lối mình tu có đúng hay chưa. Đó. Tuy nhiên, cái sự tinh tấn đó đó nó vẫn không phải là vô nghĩa. Ví dụ một cái người mình nói như nãy đó là nhập thất 20 năm không đắc đạo, rồi ra thất, ra thất bắt đầu phải đi làm phước lại từ đầu, coi vậy chứ cái sự tinh tấn nó không có mất.
[1:18:05]Cái nhân duyên nó để dành qua mấy kiếp sau á, để dành cho kiếp sau. Thì qua kiếp sau, có thể là qua tới 20 kiếp sau, ông này mới bắt đầu có cái phước để làm thánh. Nghĩa là trong cái kiếp này ông chết, đầu thai tới lui 20 kiếp, trong trên cái quãng đường 20 kiếp đó ổng vô tình ổng gặp được một bậc thánh, ổng cung kính cúng dường, hoặc là trong 20 kiếp đó ổng đủ lòng để hiểu và tôn kính Phật.
[1:18:35]Trong 20 kiếp đó mới hiểu và tôn kính Phật. Còn trước đó tuy nhập thất 20 năm mà lòng tôn kính Phật chưa đủ, cho nên dù nhập thất 20 năm không nhúc nhích. Rồi 20 kiếp sau có một thời gian nào đó ông đủ lòng tôn kính Phật nên cái phước làm thánh có. Qua 20 kiếp sau, một lần nào đó không cần phải dụng công nhiều, chợt nghe một câu nói bừng ngộ liền. Đó là cộng hai cái nhân duyên lại: một là cái sự tinh tấn 20 năm còn để đó chưa mất; hai là cái phước tôn kính Phật của những kiếp sau hợp lại, đến lúc nào đó mình tu nhẹ nhàng chứng đạo luôn. Nên bây giờ quý Phật tử nghe cái băng mà Hiểu và tôn kính Phật chưa?
[1:19:22]Chưa? Nghe chưa? Người nào chưa nghe là một điều... bây giờ dùng chữ gì? Ta dùng chữ nặng quá thì mích lòng, mà dùng chữ nhẹ quá thì về nhà hổng kiếm nghe. Thiếu sót? Thiếu sót nhẹ quá về hổng nghe. Người nào mà chưa nghe đó là...
[1:19:46]thiếu may mắn nhẹ quá à. Nói gì cho mạnh mạnh? Thôi, lựa chữ nói nhau nghe thôi. Chớ tôi nói sợ Phật tử buồn tôi, giận tôi, cái mặt tôi hay bị giận nên không dám nói bậy.
[1:20:02]Đó chúng ta thấy là vậy. Cho nên có những điều mà thực hiện lâu dài không có kết quả là vì cái nhân duyên không đủ, do đó chúng ta muốn có quả báo, chúng ta thực hiện ngoài cái lâu dài còn phải đủ mọi cái yếu tố nữa, chứ không phải là không. Và trong các điều kiện mà để đạt được kết quả trong đạo, ngoài cái kính Phật là tuyệt đối rồi, còn phải có một điều nữa, ai nhớ?
[1:20:30]Ai nhớ? Đời sống vị tha. Đời sống vị tha quan trọng lắm. Mình không còn sống cho mình nữa, mà chỉ sống cho người khác. Đó, hai yếu tố đó là nền tảng để chứng đạo, còn những cái khác tiếp theo như khiêm hạ gì gì đó là những cái trợ thôi, tuy quan trọng chưa phải là chính yếu, chính yếu nhất vẫn là lòng tôn kính Phật và đời sống vị tha. Đó, người nào đủ điều đó rồi, rồi sau đó thêm cái tinh tấn thiền định thì sẽ đạt được kết quả. Bây giờ chúng ta nói về đốn, về tiệm, về bản chất và hiện tượng, nghĩa là chúng ta nói đến những điều lâu dài và những điều trong khoảnh khắc, thì có một điều chúng ta cũng cần phải nói tới, đó là những ước mơ cho thế giới này.
[1:21:23]Chúng ta đang sống trong một thế giới... một thế giới còn quá nhiều đau khổ, phải không? Có ai nghĩ rằng thế giới này hạnh phúc, yên vui không? Có không? Thì hằng ngày chúng ta theo dõi tin tức, phải không? TV, radio gì đó thì chúng ta biết thế giới này là một thế giới bất an. Đúng như Phật nói là quốc độ nguy thúy, nghĩa là cái cõi nước này nó mong manh, giòn bở, rất nhiều tai nạn, rất nhiều cái tai họa. Khi thì chúng ta nghe dịch bò điên, khi thì dịch viêm màng não, khi thì chiến tranh, khi thì động đất, khi thì bão táp, đủ thứ hết. Nghĩa là thế giới chúng ta là thế giới bất an. Trong thế giới bất an đó nó còn thêm một điều đau
[1:22:08]khổ nữa là con người không biết thương nhau. Không biết thương nhau, mình sống vậy chớ nhìn nhau hờ hững. Chỉ có những lúc nào đó chúng ta đến chùa, trong một mái chùa như thế này, là nhờ đạo lý mà chúng ta vui với nhau được, vui với nhau được. Như bây giờ quý Phật tử ngồi đây là tạm vui với nhau. Vậy chớ lát mà ra ngoài chợ mà gặp nhau, cũng hai con người này, có khi giành nhau một cái gì dám gây lộn lắm. Gây lộn mà nãy quên mất hồi nãy ở trong chùa. Nhưng mà khi vô chùa thì tạm mà vui với nhau. Nên cái lòng thương yêu nhau chưa phải là bền vững thật sự, và chính vì chưa phải thương yêu nhau mà thế giới
[1:22:51]này cứ tiếp tục tiếp tục chìm trong đau khổ. Do đó, chúng ta sống trong cái thế giới này, chúng ta có cái ước mơ. Người nào mà có lòng đối với con người đều phải có cái ước mơ, trăn trở. Chỉ có những người mà ích kỷ, sống chỉ nghĩ tới mình á, thì mới nhìn thế giới này đang tàn hoại, chiến tranh, bệnh tật, đau khổ mà nhìn với đôi mắt dửng dưng được. Chứ còn người nào có chút tâm hồn, có chút lương tâm, thì không ai mà nhìn thế giới này mà ở yên được hết, đều phải có những khắc khoải, những trăn trở, ưu tư và có những mơ ước. Như vậy ở trong đây quý Phật tử ai là người nhìn thế giới này dửng dưng?
[1:23:37]Và ai là người nhìn thế giới này trăn trở? Đâu ai trăn trở giơ tay lên? Được năm người. Năm người... Tới năm người lận. Còn ai nhìn thế giới này dửng dưng? Không dám giơ tay. Kỳ. Thôi thì cũng được năm người. Dù sao thì chúng ta đã lỡ sống trong thế giới này, rồi chúng ta cũng đã lỡ biết Phật pháp, nên mình không thể sống cho mình và chỉ nghĩ cho mình được. Do đó chúng ta có nghĩ đến thế giới, nghĩ đến con người, và do đó, trước cái nỗi đau khổ bất toàn của thế giới, chúng ta mong ước cho thế giới này trở nên gì? Trở nên một cõi đời thanh bình, phải không? Tốt đẹp, hạnh phúc, an vui, mọi người đều có đạo đức, đều được thánh thiện.
[1:24:33]Từ dù cho đó là cái xứ sở như là Campuchia, hay qua tới Phi châu, hay tới Âu châu, Mỹ châu, vân vân, thì chúng ta mong cho tất cả mọi người trên thế giới này đều đều an vui, đều hạnh phúc hết. Trái đất này dường như là một cõi thiên đường vậy. Dù trước đây chúng ta chưa ước mơ thì bắt đầu ngày hôm nay quý Phật tử hãy ước mơ điều đó. Vì sao? Vì một người ước mơ thì thế giới này không có thay đổi được. Phải hai phần ba cái loài người trên trái đất này cùng mơ ước điều này thì thế giới này mới thay đổi được. Cho nên bây giờ ví dụ như một mình tôi ước mơ thì thế giới không nhúc nhích, mà phải đòi hỏi toàn bộ các Phật tử ngồi đây cùng mơ ước điều giống như vậy.
[1:25:21]Đủ không? Cũng chưa đủ. Phải làm sao cái lòng mà thương yêu con người, cái lòng ước mơ tốt đẹp cho thế giới này nó lan tràn hết người này đến người kia, hết khắp cả đất nước Việt Nam mình lan tràn hết cả thế giới, thì trái đất này mới thay đổi được. Như vậy, từ ước mơ, từ cái tâm nguyện để làm cái nhân, cho đến khi nó thành hiện thực là bao lâu? Bao lâu? Rất là lâu dài, rất là lâu dài. Vì khởi ước mơ lên, trong một thoáng chốc bây giờ chúng ta khởi được liền, phải không? Nhưng bây giờ vừa nghe xong quý Phật tử đã bắt đầu khởi rồi đó. Đó gọi là đốn. Nhưng mà sau đốn là phải cái tiệm, tiệm tu, là chúng ta nuôi dưỡng ước mơ đó, chúng ta làm lan truyền cái ước
[1:26:14]mơ đó, thì không biết bao nhiêu trăm năm nữa thì thế giới này mới trở nên tốt đẹp. Nhưng quý Phật tử cũng đừng có thất vọng hay chán nản là vì sao? Vì nếu cái tâm có, tâm có khởi đầu thì một ngày nào đó điều này sẽ xuất hiện. Nhưng quan trọng là trong tâm phải có trước. Ví dụ như thế này, à như một ngày nào đó quý Phật tử viết một cuốn sách gì đó nói lên đạo lý gì cho thế giới, nhưng mà trong tâm mình khi mình ngồi viết cuốn sách đó, mình nghĩ đến toàn thể nhân loại, thì chắc chắn một ngày nào đó toàn thế giới sẽ đọc cuốn sách này. Cái tâm nó làm nhân, nó có cái sức mạnh lan truyền của nó. Còn nếu ví dụ mình viết cuốn sách mà mình chỉ nghĩ đến những người
[1:27:04]à nào hiểu đạo ở Sài Gòn này sẽ đọc được, thì cuốn sách đó sẽ được chuyền tay đọc cho một số người ở Sài Gòn thôi. Cái tâm nó làm nhân. Như có một lần tôi đọc được một cuốn sách viết tay, vì lúc đó phương tiện in ấn còn ít, của một à học giả. Ông này học giả trong Phật pháp cũng khá nổi tiếng, uyên bác, giỏi lắm, giỏi mà đẹp. Thì ông ông ông viết cuốn sách ra mà ông tự ông viết thành tập luôn, mà chữ viết cũng rất là đẹp. Ông chuyền chuyền chuyền tới tay tôi, tôi đọc. Tôi đọc thì tôi cũng phải công nhận rằng ông viết hay, ông là người có trí tuệ. Nhưng mà ngộ ghê, không biết sao tôi cảm nhận luôn là khi ông viết cuốn này
[1:27:48]ông cũng chỉ nghĩ tới rất ít người, một ít người nào đó sẽ đọc cuốn này. Và đúng là cuốn nó không bao giờ tìm được truyền bá, dừng luôn, chỉ một vài người nào đó đọc rồi cái tắt luôn, không truyền bá nữa, lạ ghê. Còn à bây giờ tới qua tôi thì tôi lại khoe, tôi được khoe một chút, là khi tôi viết cuốn Nhân Quả là vì tôi bị trăn trở, thao thức dữ lắm. Tôi nghĩ con người ta sống không tốt vì chưa tin nhân quả, nên tôi mong làm sao cho mọi người biết được nhân quả, nên tôi viết. Và đúng là theo cái tâm của mình mà cuốn nó tự nó lan truyền đi. Nên tôi thấy vậy nên tôi nói là quý Phật tử cũng vậy, sau này khi mình làm điều gì mà mình nghĩ tới nhiều người
[1:28:32]trên thế giới thì từ từ nó sẽ trở thành kết quả. Nên hôm nay vậy, cái tâm nguyện mà chúng ta mong cho thế giới này được yên vui, được hạnh phúc, được thanh bình, chúng ta phải nuôi dưỡng. Sẽ có ngày thế giới được điều đó. Sẽ có ngày. Nhưng mà lâu hay mau là do cái ước mơ đó nó lan truyền được qua nhiều người hay không này. Những vĩ nhân mà ảnh hưởng đến thế giới là đều là những người có cái tâm đó hết. Ví dụ bây giờ là quý Phật tử như quý cô đây cũng vậy, trong lòng cứ nuôi nấng cái tâm là mong thế giới này trở thành tốt đẹp, hạnh phúc, cứ nuôi dưỡng suốt một đời, thì một kiếp nào đó quý Phật tử
[1:29:14]sẽ trở thành những danh nhân của thế giới, nói một lời là ảnh hưởng cả thế giới. Là chính cái tâm của ngày hôm nay, nghĩa là cái tâm nguyện là cái nhân ban đầu, rồi cái sự thực hiện thành công đó là cái quả báo về sau, không biết bao lâu, không biết mấy chục năm hay là vài ba kiếp, nhưng hễ đã có cái tâm thì một ngày nào đó chúng ta sẽ trở thành những danh nhân. Chúng ta đừng thắc mắc tại sao trên thế giới thường hay có những vĩ nhân, những danh nhân xuất hiện, vì những người đó từ kiếp xưa cũng đã trăn trở, ưu tư, suy nghĩ thương yêu con người, đã nghĩ đến cả thế giới, và bây giờ họ phải trở thành những vĩ nhân.
[1:29:55]Đó là cái nhân duyên như vậy. Hôm nay chúng ta nói với nhau về cái điều khác biệt giữa đốn và tiệm, là cái phải lâu dài và cái xuất hiện bất ngờ. Hai cái đó nó là hai mặt của một vấn đề, phải không? Chớ không phải là hai điều tách biệt. Mà khi hiểu được điều này thì chúng ta càng phải hiểu rằng là chúng ta không còn tính đến thời gian nữa. À cái tu tập là không bao giờ chấm dứt, cũng như cái niềm ước mơ cho thế giới là một điều mà phải nuôi dưỡng và lan truyền mãi như vậy. Thôi tôi hết giờ. Tôi cầu chúc quý Phật tử khỏe, thôi bây giờ tôi phải bắt chước cầu mong cho mọi người khỏe và được an vui.
[1:30:40]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[1:30:46]Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất
[1:31:00]cả, đệ tử và chúng sanh đều...