[0:09]Như vậy tôi nghe, một thời Tôn giả Đại Ca Chiên Diên trú ở Madhurā, tại rừng Gundā. Vua Madhurā Avantiputta được nghe như sau: Sa-môn Mahā Kaccāna trú ở Madhurā, tại rừng Gundā, tiếng đồn tốt đẹp sau đây được khởi lên về Tôn giả: Là bậc hiền giả, bậc trí giả, thông minh, đa văn, nói năng lưu loát, nhà biện tài lão luyện, bậc Trưởng Thượng và bậc A-la-hán. Thật tốt lành thay được yết kiến một vị A-la-hán như vậy! Rồi vua Madhurā Avantiputta cho thắng nhiều cỗ xe thù thắng đi đến yết kiến Tôn giả. Văn đoạn nghi lễ thì mình bỏ qua, mình không đọc, mình vào thẳng câu hỏi. Vua Madhurā: "Thưa Tôn giả Mahā Kaccāna, thưa Tôn giả, các vị Bà-la-môn đã nói như sau:
[1:04]Chỉ có Bà-la-môn là chủng tánh tối thượng, các chủng tánh khác là hạ liệt. Chỉ có Bà-la-môn là bạch chủng (bạch chủng, bạch trắng ở đây có nghĩa là trong sạch), các chủng tánh khác là hắc chủng. Chỉ có Bà-la-môn là thanh tịnh, các chủng tánh phi là Bà-la-môn không như vậy. Các Bà-la-môn là con Phạm thiên, các Bà-la-môn là chánh tông của Phạm thiên, sanh ra từ miệng, sanh ra từ Phạm thiên, tạo tác Phạm thiên, thừa tự Phạm thiên." Ở đây Tôn giả Kaccāna đã nói gì? Trả lời: "Thưa Đại vương, đây chỉ là một âm thanh ở đời." Tiếng Ấn Độ xưa nói là một âm thanh ở đời thì ở đây mình hiểu là, đây chỉ là câu nói suông. "Đại vương nghĩ thế nào?
[1:52]Nếu có người Sát-đế-lị (Khattiya) sống sung túc với tài sản, ngũ cốc, vàng hay bạc, người ấy có thể nhận một người Sát-đế-lị khác để làm kẻ hầu hạ trung thành, dậy sớm thức khuya, thi hành mọi mệnh lệnh của chủ, làm đẹp lòng mọi người, lời nói kính ái? Hay người đó có thể nhận một vị Bà-la-môn, hay nhận một vị Vessa (tức là Tỳ-xá, giai cấp Tỳ-xá) hay có thể nhận một Suda (một Thủ-đà, giai cấp Thủ-đà) là người hầu hạ trung thành, dậy sớm thức khuya, thi hành mọi mệnh lệnh của chủ, làm đẹp lòng mọi người, lời nói kính ái?" "Thưa Tôn giả, nếu có người Khattiya mà giàu có như vậy thì người ấy có thể nhận một người ở giai cấp
[2:37]Sát-đế-lị, có thể nhận một người giai cấp Bà-la-môn, giai cấp Vessa hay giai cấp Suda để làm người hầu hạ cho mình được." Rồi cái Ngài cũng hỏi lần lượt như vậy, bây giờ nếu một vị Bà-la-môn giàu có thì vị đó cũng có thể nhận một người ở các giai cấp khác để làm người hầu hạ cho mình được không? Ông vua ổng nói: "Được." Bây giờ nói người ở giai cấp Vessa hay giai cấp Suda cũng có thể nhận người khác, kể cả nhận một người Bà-la-môn để làm người hầu hạ cho mình được hay không? Ông vua cũng xác nhận là được. "Thưa Đại vương, Đại vương nghĩ thế nào? Nếu sự tình là như vậy thì bốn chủng tánh này là đồng đẳng hay không đồng
[3:21]đẳng?" "Thật vậy, thưa Tôn giả, nếu sự tình là như vậy thì bốn chủng tánh này là đồng đẳng, ở đây tôi không thấy có sự sai biệt gì." Do pháp môn này (cái chữ pháp môn này là mình hiểu là do ý nghĩa này), vấn đề này cần phải hiểu như sau, nếu nói Bà-la-môn là chủng tánh tối thượng. "Bây giờ Đại vương nghĩ thế nào? Ở đây có một người Sát-đế-lị sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong dâm dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, tham dục, sân hận, tà kiến, sau khi thân hoại mạng chung người ấy có sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục hay không? Hay không phải thoát sinh?" Nói:
[4:03]"Thưa, là người ở giai cấp Khattiya mà phạm những lỗi lầm đó thì đọa vào cõi dữ, ác thú v.v." "Lành thay! Bây giờ Đại vương nghĩ thế nào? Nếu có người ở đây có một người giai cấp Bà-la-môn hay giai cấp Vessa, giai cấp Suda sát sanh, lấy của không cho v.v. người có chết có đọa hay không?" Nói: "Thưa, ở các giai cấp đó thì nếu mà phạm những lỗi đó thì chết vẫn đọa vào cõi dữ." "Ở đây đối với tôi là như vậy và như vậy là điều tôi đã nghe từ các vị A-la-hán." "Lành thay, lành thay, thưa Đại vương! Nếu sự tình là như vậy thì bốn chủng tánh là đồng đẳng hay không đồng đẳng?" Nói: "Thưa, bốn chủng tánh này là đồng đẳng, ở đây tôi không thấy có sự sai biệt gì."
[4:51]Chúng ta để ý ổng Ngài Ca Chiên Diên ổng khéo, ổng phân tích từng ý nha. Như đoạn đầu thì ổng chứng tỏ cái bình đẳng thứ nhất là do tài sản. Cái đoạn kế tiếp ổng hỏi để buộc vua Madhurā phải xác nhận cái đồng đẳng trên nghiệp quả, đó hai cái rồi đó. Mình nghe mình phải rút ra được cái ý, đại ý liền. Nói lời kinh thì nó dài nhưng mình nghe mình phải nhận ra được đại ý từng đoạn từng đoạn để không có bị rối. Bây giờ Ngài lại hỏi tiếp: "Nếu có một người giai cấp Khattiya từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho v.v. nghĩa là từ bỏ những điều ác thì người ấy khi thân hoại mạng chung có thể sinh lên thiên giới hay không?" Nói:
[5:35]"Thưa, có thể sinh lên thiên giới." "Bây giờ những người có các giai cấp khác có vậy hay không?" Nói: "Dạ, các giai cấp khác cũng có như vậy." "Như vậy là đồng đẳng?" "Vâng, là đồng đẳng." Rồi đó về trên nhân quả, giờ nói trên luật pháp. "Ở đây nếu có kẻ Khattiya đột nhập nhà cửa, cướp giật đồ đạc, hành động như kẻ cướp, phục kích các đường lớn hay tư thông vợ người, và nếu có người bắt nó và dẫn nó đến trước mặt Đại vương và thưa: "Tâu Đại vương, đây là kẻ ăn trộm đã làm hại đến Đại vương. Nếu Đại vương muốn hãy hình phạt nó." Hay Đại vương đối xử nó như thế nào?" "Thưa Tôn giả Kaccāna, chúng tôi sẽ chém giết nó hay chúng tôi sẽ tra tấn nó,
[6:16]chúng tôi sẽ tống xuất nó hay chúng tôi sẽ áp dụng hình phạt tùy theo tội trạng. Vì sao vậy, thưa Tôn giả Kaccāna? Danh xưng Khattiya mà xưa kia nó được gọi đã biến mất, nay nó chỉ được gọi là tên ăn trộm." "Như vậy Đại vương nghĩ thế nào về những người giai cấp Bà-la-môn, giai cấp Vessa, giai cấp Suda làm như vậy thì sao?" Nói: "Chúng tôi cũng sẽ tùy theo tội trạng mà xử lý nó. Danh xưng lúc trước đã biến mất, nay nó chỉ còn được gọi là tên ăn trộm." "Như vậy bốn chủng tánh là đồng đẳng hay không đồng đẳng?" Thưa: "Là đồng đẳng." Đó là trên luật pháp, bình đẳng trên luật pháp, mình nhớ cái đoạn thứ ba.
[6:55]Kế tiếp. "Ở đây, thưa Đại vương, nếu có một vị Khattiya sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, từ bỏ sát sanh, lấy của không cho, từ bỏ nói láo, chỉ ăn một bữa ăn, sống phạm hạnh, trì giới luật, trì thiện pháp, Đại vương đối xử với vị ấy như thế nào?" "Thưa Tôn giả Kaccāna, tôi sẽ đảnh lễ hay đứng dậy hay mời chỗ ngồi, hay cúng dường vị ấy bốn loại đồ dùng như: y phục, ẩm thực, sàng tọa, y dược trị bệnh, hay chúng tôi sắp đặt sự bảo vệ, hộ trì, che chở đúng pháp. Vì sao vậy, thưa Tôn giả Kaccāna? Danh xưng Khattiya mà xưa kia vị ấy được gọi đã biến
[7:34]mất, nay vị ấy chỉ được gọi là một vị Sa-môn." Hồi xưa mấy ông vua ổng cưng mấy thầy tu ghê. "Bây giờ với các giai cấp khác Bà-la-môn, Vessa, Suda thì cũng như vậy, nếu vị nào mà xuất gia thì ông vua ổng cũng nói ổng cũng đối xử như vậy, vì giai cấp ngày xưa đã biến mất nay chỉ còn gọi là một vị Sa-môn. Và như vậy bốn chủng tánh là đồng đẳng." Rồi sau khi mà Ngài Kaccāna giải thích một loạt như vậy thì ổng xin quy y. À, xin quy y. Cái đoạn xin quy y thì nó giống nhau, thôi mình cứ nghe lại cho vui. "Thật vi diệu thay, Tôn giả Kaccāna! Thật vi diệu thay, Tôn giả Kaccāna! Như người dựng đứng lại những gì đã bị quăng ngã xuống,
[8:22]phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những người đi lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Kaccāna dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Con xin quy y Tôn giả Kaccāna, quy y Pháp, quy y Tăng." À, ổng không quy y Phật ha, quy y Tôn giả, quy y Pháp, quy y Tăng. "Mong Tôn giả Kaccāna nhận con làm cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng." "Thưa Đại vương, Đại vương chớ có quy y tôi, Đại vương hãy quy y Thế Tôn, chính tôi cũng đã quy y Thế Tôn." "Thưa Tôn giả Kaccāna, nay bậc Thế Tôn ấy trú ở đâu,
[9:00]bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác?" "Bậc Thế Tôn ấy, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác nay đã nhập Niết-bàn rồi, thưa Đại vương." Nên ngày xưa Phật cũng được gọi là vị A-la-hán, nó không có khác. "Thưa Tôn giả Kaccāna, nếu chúng tôi được nghe Thế Tôn ở xa mười do tuần, chúng tôi sẽ đi mười do tuần để yết kiến Thế Tôn, A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác. Nếu chúng tôi được nghe Thế Tôn ở hai mươi, bốn mươi, năm mươi, chúng tôi cũng sẽ đi để yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Thưa Tôn giả Kaccāna, vì rằng Thế Tôn đã nhập Niết-bàn rồi, chúng tôi xin quy y Thế Tôn đã nhập Niết-bàn ấy," cái này hay "quy y Pháp, quy y Tỳ-kheo-tăng.
[9:42]Mong Tôn giả Kaccāna nhận con làm cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng." Bài kinh mình đọc vắn tắt như vậy. Bây giờ mình phân tích ý nghĩa. Kinh này thì ngắn. Mình học ở trong bộ kinh mình thấy hay, nó nói lên nhiều khía cạnh của người tu để mình có một cái nhìn đầy đủ về mọi phương diện, không riêng về cái nghĩa lý của sự tu hành mà còn cho mình một cái quan điểm, một nhân sinh quan để nhìn mọi chuyện một cách chính xác hơn. Cái đoạn thứ nhất, ở đây ngài Ca Chiên Diên, ngài buộc ông kia phải trả lời để chứng tỏ rằng phước quyết định sự hơn thua của con người chứ không phải là giai cấp.
[10:32]Ngày xưa, Ấn Độ họ chia ra làm bốn giai cấp: Giai cấp Bà La Môn thì tự cho họ là giai cấp tối thượng vì họ là những người lãnh đạo tinh thần của dân tộc, họ giữ những cuộc tế lễ của tôn giáo, họ dạy học cho dân trong làng, vân vân, cho nên họ là những người hướng đạo tinh thần và họ tự nhận họ là giai cấp tối thượng. Nhưng mà giai cấp Sát Đế Lợi thì cũng nhận mình là giai cấp hơn hết. Bởi vì sao? Bởi vì họ có quyền lực để lãnh đạo đất nước, cho nên họ nhận mình là giai cấp tối thượng. Trong lịch sử Ấn Độ đó, hay giữa hai giai cấp đó cũng thường xuyên xảy ra những cái xung đột, sự tranh giành ảnh hưởng, đôi khi cũng có sự thỏa hiệp.
[11:22]Đôi khi họ nương vào nhau: một bên thì lãnh đạo quyền lực, một bên thì lãnh đạo tinh thần, một bên thì chính trị, bên thì tôn giáo. Thỉnh thoảng họ tranh hơn thua một chút rồi cũng có những lúc họ thỏa hiệp. Còn hai giai cấp là giai cấp bình dân, giai cấp thương nhân và giai cấp bình dân. Có một giai cấp là giai cấp hạ tiện, giai cấp Ba-ri-gia, giai cấp đó được không kể vào trong xã hội. Giai cấp đó họ bị coi thua con thú, những người mà thuộc giai cấp hạ tiện còn thua con thú. Còn chỉ được bốn giai cấp đó mới được kể là con người. Chúng ta nhớ trong lịch sử thánh Gandhi khi ông đấu tranh giành độc lập cho dân tộc Ấn Độ,
[12:11]ông đấu tranh bất bạo động đối với những người cai trị Anh thì cùng một lúc ông đưa ra nhiều cái sự đấu tranh: Một là ông đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, hai là ông đấu tranh cho cái sự bình đẳng giữa các giai cấp, nhất là cho giai cấp hạ tiện.
[12:32]Có nhiều người đã phản đối ông, những người ở các giai cấp khác khi mà cái quan niệm giai cấp của Ấn Độ ăn sâu vào lòng họ, phản đối thánh Gandhi. Nhưng mà ngài cương quyết, ngài binh vực cái giai cấp hạ tiện mà từ ngàn xưa bị xem như là thú vật, ngài can đảm ngài đấu tranh cho việc đó. Nhờ sự đấu tranh quyết liệt của ngài nên ngày hôm nay tương đối, chỉ tương đối thôi, là giai cấp, những người trong giai cấp Ba-ri-gia đó, giai cấp hạ liệt, có một chỗ đứng bình đẳng trước pháp luật của Ấn Độ, nhưng việc đó rất là căng thẳng. Có một thời gian những người mặc dầu là trên pháp luật quy định quyền công dân bình đẳng giữa mọi người,
[13:17]nhưng mà những người của các giai cấp khác vẫn khinh thường cái người thuộc giai cấp Ba-ri-gia. Nhưng rồi có một vị bác sĩ Ấn Độ, sao tôi dở quá, đọc lâu quá rồi, đọc nay gần 10 năm cái tài liệu đó nên quên cái tên của ông bác sĩ này, ổng đi tìm tôn giáo, cuối cùng ổng quy y đạo Phật. Ổng quy y đạo Phật xong ổng về ổng mới truyền bá đạo Phật trở lại quê hương Ấn Độ, bởi vì Ấn Độ không còn Phật giáo nữa. Ngày xưa người Hồi giáo đã tiêu diệt Phật giáo vào thế kỷ thứ 13, nên bao nhiêu thế kỷ trôi qua, Ấn Độ không có Phật giáo. Ổng đi nghiên cứu Phật giáo, học hỏi, trở về ổng truyền bá Phật giáo và ổng tổ chức một buổi lễ quy
[13:58]y cho, hôm đó tôi nhớ mang máng là, dường như gần 5 triệu người giai cấp hạ tiện được trở thành cư sĩ của đạo Phật, để nói lên tiếng nói rằng: Đạo Phật là đạo của tất cả chúng sinh, đạo của những người mà đau khổ nhất. Đó là việc làm khá có ý nghĩa. Bây giờ mình trở lại vấn đề. Thường theo quan niệm truyền thống thì họ cho giai cấp Bà La Môn hay Kha-thi-da là giai cấp tối ưu. Nhưng ở đây, ngài Ca Chiên Diên, ổng nhìn thẳng vào sự thật là chính phước quyết định sự hơn thua, chớ cái sự hơn thua đó không lệ thuộc vào dòng tộc, bằng cấp hay dung mạo nữa. Nghĩa là ngài dẫn ra cái ví dụ buộc nhà vua phải công nhận:
[14:48]Một người giàu có bất kỳ ở giai cấp nào đều có thể thuê một người ở bốn giai cấp kia để làm người hầu cho mình, trừ cái người mà thuộc giai cấp hạ tiện thì coi như không kể, không kể tới. Và trong xã hội Ấn Độ thực tế thời đó, đúng là có những người Bà La Môn vẫn đi làm thuê. Ông vua ổng đã xác nhận điều đó. Những người giai cấp Bà La Môn hay giai cấp Sát Đế Lợi mặc dầu là dòng dõi của vua quan, giai cấp Sát Đế Lợi đó, mà cũng có những người đi làm thuê khi cái phước họ kém. Đó. Cho nên cái dòng tộc nói cho vui thôi, nhưng cái giàu sang vẫn quyết định tất cả. Và chúng ta thấy, như vậy, cái hình ảnh của xã hội Ấn Độ ngày xưa
[15:35]với hình ảnh của xã hội con người ngày nay không khác nhau. Cái chân lý vẫn là, vẫn là không thay đổi: Cái người mà có phước, họ có tiền bạc nhiều, họ vẫn có thế lực hơn, vẫn buộc người khác phải tuân phục theo mình, nghe theo ý kiến mình. Đó, đó là cái mà một sự thật từ xưa đến giờ đều như vậy. Cho nên cái sự hơn thua đó nó không kể dòng tộc, không kể bằng cấp, không kể dung mạo. Bây giờ mình nói tương đối thôi, là cái người mà dù anh có đậu bác sĩ, kỹ sư nhưng mà anh quá nghèo, buộc anh phải đi làm thuê cho một người kia. Ổng nhiều khi ổng học chừng lớp 6, lớp 7 mà ổng giàu quá, ổng mở luôn một cái xưởng máy, cái ổng mướn một kỹ sư vô làm thuê cho ổng.
[16:21]Đúng là như vậy là ổng là chủ, ông kia là người làm thuê, phải thua ổng, phải nghe lời ổng, mặc dầu bằng cấp cao hơn, phải không? Đó, rõ ràng sự tình là như vậy. Đó, rồi ngay cả một người thí như họ xấu xí đi, nhưng mà họ có tiền, họ có quyền thuê một người ở đợ có nhan sắc để tiếp khách giùm cho họ, khách ra vào họ bưng rót nước này nọ, một người hầu gái xinh đẹp để làm thuê cho họ. Cho nên chúng ta thấy cái sự hơn thua nó không có lệ thuộc vào dòng tộc, bằng cấp, dung mạo gì gì đó, mà nó lệ thuộc vào cái phước. Cái phước này nó thể hiện ra hai mặt: Một là tiền bạc, hai là quyền thế, thể hiện trên hai mặt đó, phước thể hiện.
[17:04]Cho nên người đó không biết là họ có những cái ưu điểm khác hay không, nhưng mà nếu họ có tiền bạc, có quyền thế thì họ hơn mình, phải không? Bây giờ chúng ta thấy trên thế giới này không bao giờ ngưng cái cuộc chiến giữa hai thế lực: Thiện và ác. Có những người ác tìm cách chiếm đoạt quyền lực, tiền bạc, nghĩa là làm gây cái bất công cuộc đời này. Có những người thiện cũng mãi mãi đấu tranh để đi tìm cái đẹp, cái công bình, cái tốt, cái giá trị cao đẹp cho cái xã hội. Đó, nên hai cái người đó là thiện và ác, người ác cũng giành cái làm cho xã hội bất công, người thiện thì cố gắng làm cho xã hội công bình.
[17:57]Bây giờ ai là người sẽ thắng?
[18:03]Trong cuộc mà đấu tranh giữa thế lực thiện và ác thì ai sẽ là người thắng?
[18:10]Ai trả lời câu này?
[18:16]Đừng có ảnh hưởng phim video nhiều quá là cuối cùng cái người anh hùng bao giờ cũng chiến thắng nha. Bây giờ trả lời thử coi, theo cái nhìn của mình, giữa hai cái thế lực thiện và ác giữa cuộc đời này, trên thế giới này, thì thế lực nào sẽ chiến thắng?
[18:35]Mời Sư, thưa Sư.
[18:46]À, sau cùng cuối cùng cái thiện cũng thắng, Sư nói giống hệt trong phim quá. Như phim mới đầu anh hùng cũng gay go, gian nan rồi cái cuối cùng chiến thắng. Cảm ơn Sư. Còn ai có ý kiến gì nữa không? Có ai có ý kiến gì khác không? Sư Hải có ý kiến gì không?
[19:16]Thiện, ác đều như vậy, tức là tùy theo cái hưng thịnh hay không phải không? Sư nói gần chính xác á. Có ai có ý kiến gì nữa không? Sư Huynh.
[19:30]Thôi, để để nói luôn nha. Không biết thiện hay ác mà bên nào có phước là bên đó thắng à. Bên nào có phước bên đó thắng. Cho nên chúng ta nhìn lại những giai đoạn lịch sử, có những giai đoạn mà bạo chúa nắm quyền gây ra nhiều điều tàn ác, bất công nhưng mà ổng ở ngôi vua tới sáu, bảy chục năm luôn, không lay chuyển gì được hết. Rõ ràng là ổng thắng. Tới chừng nào ổng chết là thôi à. Nên nó như vậy, nên lúc họ có phước nên như Sư Hải nói hưng thịnh là cái chữ có phước đó. Ở đây chúng ta sẽ thắc mắc điều này. Nói: "Tại sao người ác mà có phước?", phải không? Chúng ta sẽ thắc mắc tại sao người ác, cái thế lực ác họ lại có phước?
[20:12]Nhưng mình nhìn cái lịch sử, mình nhìn cái giai đoạn hiện nay cũng vậy. Như có những cái thế lực của mafia bên Tây phương á, họ là những người phải nói là ác độc, tại là buôn bán ma túy nè, buôn lậu vũ khí nè, kinh doanh bất hợp pháp nè, khủng bố, giết chóc nè, rồi tham nhũng, cấu kết với những viên chức thối nát của chính quyền nè, nhưng mà họ phát triển rất mạnh. Làm các chính phủ ở nước này nước kia cấu kết lại mà chống nhiều khi chống rung rinh, chống không nổi họ nữa. Nó như vậy. Tại vì họ đang còn có phước. Nhưng mà tại sao cái thế lực ác lại có phước? Nếu mình cứ nghĩ là ác là có tội, là không phước cái gì, tại sao họ lại có phước?
[20:56]Cái phước này là phước ở quá khứ. Phước quá khứ. Chúng ta thấy đó nhiều người lạ lắm. Họ đứng ở trong cái hoàn cảnh mà họ tự nhiên họ phải làm phước, mặc dầu tâm họ không tốt. Có rất nhiều trường hợp như vậy. Nếu chúng ta bình tâm mà chúng ta nhìn trên cuộc đời này cũng giống như vậy đó. Có những người ví dụ như do phước đời trước, xưa nữa họ làm chút phước gì đó, vô tình, nhiều khi vô tình thôi. Họ, đời này cái họ làm một cái ông nghĩa là quận trưởng, ví dụ vậy. Thì lúc họ làm cái ông quận trưởng đó cái họ muốn lấy lòng cấp trên, họ muốn làm nghĩa là chứng tỏ với cấp trên là họ là một người có năng lực, cái họ lo cho dân.
[21:40]Họ cất trường học, cất bệnh viện, đắp, tu sửa đường xá, sửa lại hệ thống cấp nước, đê điều, nghĩa là tranh đấu để cho dân được cái hệ thống điện thắp sáng khắp nơi. Cái tỉnh thấy ông hay quá, ông này có năng lực. Nhưng mà ổng làm điều đó không phải vì thương dân mà vì ganh đua với những người khác, ganh đua với quận khác, để lấy lòng cấp trên, để mong được thăng quan, tiến chức. Cái ý đồ hoàn toàn ý đồ cá nhân. Nhưng mà việc làm thì hoàn toàn là việc phước. Có không? Chúng ta thấy có không? Chuyện đó rất thường xảy ra. Thì những người đó qua những đời sau vậy, tự nhiên họ có phước ghê gớm lắm mà tâm thì ác, ích kỷ.
[22:24]Rồi do nhiều cái nhân duyên khác cái họ trở thành một cái thủ lĩnh của một tổ chức tội ác. Do họ có phước mà nhiều người phải nghe lời họ, tiền bạc, thế lực họ mạnh rồi cấu kết bên này, cấu kết bên kia làm những việc ác. Mà phước họ rất nhiều, mà khi phước họ đang còn thì họ vẫn là người chiến thắng. Nghĩa là chính quyền nhiều khi không làm gì được. Rồi giữa hai quốc gia cũng vậy, một bên á thì mình thấy ác rõ ràng vậy á, nhưng mà đánh đâu thắng đó, đánh đâu thắng đó. Như hiện nay mình nhìn cái quốc gia Rwanda ở Phi Châu vậy á, có hai bộ tộc đánh nhau. Một là bộ tộc nghĩa là Hutu nổi lên tàn sát, tiêu diệt cái bộ tộc Tutsi.
[23:08]Gặp người Tutsi đâu là giết đó, giết sạch sẽ hết. Thì mình thấy hành động đó là ác nhưng mà họ đang thắng ở bển á. Họ vẫn đang thắng thế. Bây giờ cũng vậy, mình nhìn vào các nhất là cái khung cảnh Phi Châu đang rối rắm đủ thứ chuyện mà những bạo chúa thế giới nhìn vô thì thấy họ ác mà ở dân chúng địa phương thì nghe lời họ, nghe lời họ chỉ huy, tiếp tục tàn sát. Đó là những trường hợp mà họ có cái phước quá khứ mà tâm họ không tốt. Bây giờ họ trở thành thế lực ác. Thế lực ác này có phước và vì có phước nên họ thắng thế. Chừng nào mà cái phước họ hết rồi kìa, lúc đó có một cái thế lực thiện nào mà mạnh
[23:50]hơn, có phước hơn thì mới nổi lên thắng. Cho nên giữa hai cái thế lực thiện, ác này mình hỏi cái nào thắng thì mình, câu trả lời chỉ là trả lời trong giai đoạn thôi. Trong giai đoạn đó thế lực nào có phước thì thế lực đó thắng chứ không hẳn tại họ là thiện, tại họ là ác. Trong giai đoạn... qua giai đoạn khác có một sự thay đổi thì bên nào có phước hơn bên đó lại trở thành kẻ chiến thắng. Nó như vậy. Mình phân tích thêm một chi tiết nhỏ này một chút vì nó liên quan. Có những giai đoạn mà chúng ta thấy người bạo chúa họ nắm quyền làm cho cả một dân tộc khổ sở là tại sao? Là tại vì nó ứng, nó ứng với cái nghiệp của dân tộc đang cái lúc phải chịu khổ.
[24:43]Cho nên khiến một cái ông đó ổng có phước mà ổng ác nên ổng lên làm vua. Nó phối hợp, cái nhân quả nó phối hợp nhịp nhàng với nhau, nó không có một điểm sơ hở. Còn cái phước mà của dân tộc đó tới lúc được hưởng sung sướng á khiến một người lãnh đạo họ có phước và họ tốt. Đó, nên cái phước, cái duyên, cái thời của một người lãnh đạo nó ứng với cái phước của một dân tộc. Ví dụ như là cái người đó họ có phước để làm vua mà người đó ác. Nhưng mà cái dân tộc lúc đó đó đang ứng cái lúc mà cả cái dân tộc đang hưởng phước sung sướng thì cái duyên làm vua của ông này không có tới, không xảy ra, bị che lại, bị chặn lại để yên đó. Để yên đó.
[25:33]Nó không ăn khớp nhau mà. Nó phải đợi qua một thời gian khác hay qua một kiếp khác, gặp cái lúc mà cái nghiệp của dân tộc đó phải tới lúc chịu khổ thì ông này mới đủ cái phước, đủ cái duyên để lên làm vua. Lúc đó ổng mới quậy, nó ứng với cái lúc mà dân tộc chịu khổ. Cho nên chúng ta thấy cái nghiệp cái nhân luật nhân quả đó, nó có một sự bố trí, sắp xếp nhịp nhàng, ăn khớp khắp nơi hết chứ không có cái gì vô lý hết. Thì cũng vậy, ví dụ có một người họ có cái phước làm vua, họ rất là tốt nhưng mà lúc đó cái dân tộc đang ứng cái lúc là chịu khổ thì cái phước làm vua của ông này bị chặn lại, không có làm vua được, nằm yên mới chịu.
[26:12]Có khi phải qua một kiếp khác rồi ổng ổng chết qua một kiếp khác. Lúc đó tới lúc mà dân tộc được sung sướng á, ổng mới được lên làm vua để ứng trở lại. Nó phối hợp với nhau. Đó, đó là như vậy, mình nói qua một chút. Chúng ta để ý á, như hồi nãy Sư nói cái người thiện nhiều khi gian nan rồi cuối cùng mới chiến thắng. Chúng ta thấy nhiều khi đó cái thế lực thiện bị lấn át, mình thấy có không? Rất nhiều khi thế lực thiện bị lấn át, tại sao vậy?
[26:46]Tại sao? Thì dễ thôi chứ có gì đâu. Tại cái phước của ổng ít hơn ông kia. Là cái thế lực thiện lúc đó cái phước ổng kém hơn là cái thế lực ác nên ổng bị lấn, vậy thôi. Mà tại sao ổng ít phước?
[27:05]Ổng bị lấn là tại vì ổng ổng ít phước. Nhưng bây giờ tại sao ổng ít phước?
[27:15]Tại ổng không chịu làm phước. Trời ơi, dễ gì đâu! Phải không? Tại ổng không chịu làm phước. Nhưng mà hỏi lại thêm một câu nữa, tại sao ổng không chịu làm phước? Hỏi cho tới nữa.
[27:29]Tại sao ổng không chịu làm phước? Thì nguyên nhân là tại ổng làm biếng. Nhưng mà để chúng ta để ý, không phải nói làm biếng hơi tội nghiệp mà tại vì thế này: cái người mà thiện á, cái người hiền á, nó hay đi gần với cái thụ động. Để ý điều đó. Ví dụ như là, như là mình nói trong một cái, cái địa phương, một cái ấp, một cái xã thôi. Cái người mà họ tham lam á, cái họ làm cái này, họ làm cái kia, họ giành đầu này, họ giành đầu kia, họ lấy lòng người này, lấy lòng người kia, họ rất siêng năng để mà làm việc này việc kia, có khi lấy lòng làm thiện. Còn cái người mà hiền lành, lo tu đó, cái ai nói sao cũng cười cười, cái thấy mình bước ra mình tính
[28:09]làm, thấy người khác giành làm, cái thôi bước vô nhà ở, gõ mõ tụng kinh. Gõ mõ tụng kinh đâu có phước. Được cái đức gì của mình chút đỉnh, còn cái phước cái người ác họ đang tham lam họ giành hết. Cho nên, một cái nhược điểm của những người thiện là thụ động, không cố gắng làm phước. Nên cái hậu quả nó là sao? Qua những kiếp sau, cái thế lực thiện thiếu phước nên bị lấn át bởi cái thế lực ác. Đó là một cái mà rất thường xảy ra trong cuộc đời này. Mà người tu nhất là người tu đạo Phật mình thì thì thường hay bị điều đó. Mình thụ động ít có đấu tranh. Mình ví dụ như là nói là có bao gạo người ta tới
[28:52]người ta cúng dường đi kêu chia các cốc. Mình tính ra mình thấy mình cũng thiếu ha, ra tính tính lấy, thấy mấy cốc kia lại đông quá, cái thôi mình nhường mình bước vô. Cái đó thì tốt. Cái đó thì tốt nhưng mà có những việc khác. Ví dụ như là nói công quả trong chùa thôi, hôm đó như là trên thầy trụ trì sai phải đi đâu để chở gạch chở đá về cất chùa thì mình cũng tính đi, cái ông kia ổng lấy lòng thầy trụ trì ổng giành con đi, leo lên xe ổng đi mất. Mình tính đi thấy ổng giành thôi nhường, đó. Cái người thiện là vậy, nhưng mà mình nhường rồi mình đâu có phước. Cái người mà tính lấy lòng thầy trụ trì đó thì đâu phải thiện phải không?
[29:32]Ông đó có phước, ổng chịu khó, ổng cực. Phải không? Rồi chúng ta nhìn qua các chùa lần lần chúng ta sẽ thấy. Chùa mình có ai là người nữ nấu bếp không ha? Có không? Trước khi nói câu này là phải xin lỗi trước, không có ám chỉ cái người ở đây nha, nói mấy chùa khác thôi. Nếu có đụng chạm thì xin thứ lỗi. Là công việc nấu bếp rất là cực mà rất là có phước. Ha? Thường thường mấy cái người nữ đó, mấy người nhất là những bà lớn tuổi đó vào chùa là bị công việc đó hợp với mình á, cái lăn xả vào bếp để nấu nấu ăn, nấu cho quý thầy ăn. Mà chuyện nó cực nên có phước. Mà cứ năm này qua năm kia bả cứ đứng đó bả nấu bếp riết cái phước
[30:15]bả từ từ lớn lên, từ từ lớn lên, mà bả đâu có tu gì đâu. Ai đi tụng kinh, gõ mõ, ai đi nghe giảng bả không cần biết, chỉ lo nấu bếp thôi nên tâm không thay đổi, không hề tu, không có chuyển biến, mà cái phước thì cứ lớn lên từ từ, lớn lên từ từ. Cả chùa cứ đang thọ ơn bả dần dần, dần dần, dần dần. Thì như vậy cái người mà thi ân, công quả giúp cho chùa với cái người cứ thọ ơn bả thì sau này ai là người cái thế lực nằm ở trên? Rõ ràng là bà nhà bếp. Ông thầy tu tới tỳ kheo, đại đức gì không cần biết, nhưng mà trong nhân quả là người thọ ơn của bà này. Bả muốn nạt giờ nào bả nạt, bả muốn sai cái gì bả sai.
[30:55]Chuyện này có thật mà tôi chứng kiến rồi. Có một lần tôi đến cái chùa nọ, gặp cái bà thường trụ thì bả ra mời nước, bả xưng con với tôi đàng hoàng lắm. Thì tôi ngồi xuống bàn, bả quay vô bả kêu: "Rót nước cho thầy đi con." Cái tôi quay vô tôi nhìn thì tôi chỉ thấy có một ông thầy thôi, ông đại đức, ổng là đại đức, ổng hình như tuổi hạ ổng hơn tôi nữa. Tôi nhìn qua nhìn lại, xưng con là ai kìa? Nhìn thấy có ông thầy đó rồi, ông thầy đi le te xách nước cho rót nước tôi. Mà khi ra họp giáo hội á thì ông thầy đó ổng ngồi trên tôi. Tôi với ổng cùng là giảng sư, ổng tuổi hạ lớn hơn thì ổng ngồi trên thôi.
[31:32]Nhưng mà khi về cái chùa ổng á, bà bà thường trụ bả xưng con với tôi, nhưng bả quay ra bả kêu: "Con con, rót nước cho thầy uống con." Cái quay nhìn nhìn thấy có mình ổng. Nhưng mà hỏi ra lịch sử mới biết là bà này bả vô chùa bả nấu bếp từ hồi ông thầy còn nhỏ.
[31:48]Rồi bao nhiêu kinh tế trong chùa bả lo hết. Mà bả hổng có tu. Ai đọc kinh, ai tụng kinh, làm gì làm, bả hổng cạo cái đầu, mặc cái áo vạt nghẽ rồi xong, vô làm sếp trong chùa luôn. Đó là cái thực tế. Cho nên ở đây sở dĩ tôi phân tích điều đó để dặn trước quý thầy và quý cô một cái điều này: sau này quý thầy, quý cô là người lãnh đạo cái chùa, chia nhau đi lãnh đạo các tịnh xá hay các chùa, để ý một điều: nếu người đó mà tâm chưa tốt, đừng cho họ lập công nhiều, nhớ điều đó. Đây là điều mà những người lãnh đạo chùa phải ghi xương khắc cốt. Nếu người đó thấy tâm họ chưa tốt, đừng cho họ lập công nhiều mà buộc họ phải tu thôi.
[32:30]Còn cái người mà tốt đó, cứ cho họ lập công nhiều. Vì sao? Nhiều khi mấy thầy mình không để ý cái nhân quả ở chỗ là tự nhiên thấy: "A, chú này tốt quá, ông thầy này tốt, ông sư này tốt quá, thôi cho ổng tu." Xếp vô ở cho ổng nhập thất ha, cho ổng đi học ha. Còn cái người mà xấu đó: "Mày tu chưa ra gì hết, bắt đi nấu cơm mày, gánh đá cất chùa mày." Chính cái đó là điều nguy hiểm. Cái người mà họ lập công nhiều sau này cái phước họ lớn, thế lực họ có, họ lấn cái người mà chuyên tu kia mất tiêu. Đây là một sự thật. Cho nên cái chùa tôi cũng vậy, tôi nhìn cái người mà không tốt, tôi không cho đụng tới nhà bếp.
[33:12]Tôi cấm không cho vô làm nhà bếp. Mà cái người mà cứ lăn xả vô nhà bếp làm siêng năng hết mà tâm không tốt, tôi không cho ở chùa nữa, cho ra đi liền, giới thiệu chùa khác cho ở liền, không cho. Không bao giờ cho họ đứng ở vị trí để họ lập được cái công nhiều, lâu dài. Vì nếu để lâu dài họ lập được cái công nhiều, cái phước họ lấn hết mọi người trong chùa thì họ sẽ thao túng tiêu cái chùa luôn vì tâm họ không tốt. Nên đây quý thầy lãnh đạo phải để ý cái điểm này, đừng có coi thường. Mình là người tu phải hiểu nhân quả và áp dụng được cái nhân quả trong việc điều hành một cái ngôi chùa để làm cho Phật pháp nó tốt đẹp lâu dài.
[33:51]Còn mình thấy chùa này chùa kia mà hư là vì đó đó. Vì quý thầy lãnh đạo không nhìn xa cái nhân quả, không áp dụng. Chính ra mình làm cho cái người xấu cho họ cực khổ là không ngờ cho họ có phước. Họ có phước rồi họ thao túng tiêu cái chùa luôn. Với một điểm nữa là khi mình biết được điều này rồi thì quý thầy làm sao? Nhớ giành làm phước nha, đừng có nhường nữa. Từ đây siêng làm phước một chút. Thấy thầy sai là lật đật giành đi làm chứ đừng để cho mấy cái người mà họ được có cơ hội làm phước nhiều thì sau này không tốt cho cái chùa. Đó, việc trong chùa cũng vậy mà việc ngoài đời, xã hội cũng vậy.
[34:31]Đúng ra quý Phật tử mình mà cái người tốt biết đạo nên siêng năng làm phước để qua những kiếp sau cái thế lực của người thiện nó mạnh lên. Nó không cho cái thế lực ác nó phát triển. Cái ý thứ hai cái đoạn kinh mà chúng ta thấy là: mọi người bình đẳng trước nghiệp báo, ý thứ hai. Bất cứ dòng dõi hay là tiền bạc hay địa vị nào, nếu làm sai đều bị quả báo và bị phê phán.
[35:07]Và nếu người thuộc dòng dõi địa vị nào mà nếu làm thiện đều được quả báo lành. Quả báo lành. Chúng ta sẽ nói thêm vấn đề: có một người họ được kế thừa tài, ví dụ như là họ làm con làm cháu trong một cái gia đình giàu, họ được hưởng cái tài sản thì như vậy nếu mình nhìn theo nhân quả là phước đời trước của họ phải không? Phước đời trước họ làm nhiều, cho nên bây giờ họ sinh vào trong gia đình giàu có để họ hưởng cái phước đó. Đó là cái phước và cái dòng tộc đi theo nhau. Hồi nãy thì mình phân tích là cái phước và cái dòng tộc là hai vấn đề riêng rẽ, tuy nhiên nó có cái tương quan. Tương quan thế này:
[35:56]là một người có phước dễ lọt vào một cái dòng tộc đang vinh hiển để hưởng phước, nên nó có tương quan giữa cái phước và dòng tộc. Rồi giữa cái phước và địa vị là người có phước dễ đạt được cái địa vị cao. Giữa cái phước và cái dung mạo, người có phước dễ đạt được cái dung mạo đẹp đẽ, thù thắng để cho ai gặp mình cũng thương mến, ha? Rồi giữa cái phước và cái bằng cấp cũng vậy, người có phước mình cũng dễ được có cái bằng cấp. Đó, đó cũng là một cái giá trị trong cuộc đời. Tuy mình nói rằng phước, cái nghiệp nó độc lập với những cái yếu tố đó, nhưng mà trên nhân quả thật ra nó cũng có cái tương quan.
[36:46]Cái người có phước cũng dễ đạt được những cái điều đó. Và trong quá khứ, phước quá khứ mình đạt được những điều đó rồi nhưng mà trong hiện tại, trong vị lai thì mình vẫn bình đẳng trước những cái nghiệp mới: là người làm xấu thì vẫn bị quả báo xấu và bị phê phán, người làm việc lành thì được quả báo lành và được khen ngợi. Con người đều bình đẳng trước pháp luật là đều bị phạt khi làm cái điều gì đó phạm pháp. Con người đều bình đẳng trước pháp luật mà trong bài kinh ông vua Madhura đó ổng khẳng định, mà luật pháp bây giờ cũng xác nhận điều đó, là không biết cái người đó làm gì, nhưng hễ người đó giết người,
[37:31]trộm cắp đều phải bị phạt bỏ tù theo đúng cái luật định. Ừ. Mà có một cái là luật pháp thì không quy định cái việc thưởng nha. Ví dụ như là cái người đó làm rất nhiều việc phước, làm việc từ thiện xã hội đủ thứ hết thì luật pháp không để ý điều đó. Nhưng mà lỡ bữa nào ổng buồn tình ổng ăn trộm cái là bắt ổng bỏ tù liền. Cứ nói. Cho nên trong luật pháp thì như vậy đó, không có công bình lắm. Khi xét một cái tội của một người thì không xét cái công của họ, không xét cái công của họ đối với cuộc đời mà chỉ thuần xét cái tội thôi, nên luật pháp nó chưa thật sự là một sự công bằng. Còn đa số phần thưởng lập nên đều là do những cái tổ chức tự nguyện.
[38:15]Ví dụ như mình thấy những cái tổ chức à giải Nobel, à những cái học bổng của tư nhân, những giải thưởng Pulitzer, vân vân, là do những tổ chức tư nhân họ tự nguyện họ lập ra thưởng cho những người có tài, có khả năng, có công đó đối với cuộc đời. Còn luật pháp thì bỏ qua khía cạnh có công mà chỉ để ý khía cạnh có tội, nên luật pháp sự thật là chưa phải là công bằng. Nếu có ngày nào mà chúng ta phân tích nhân quả, chúng ta sẽ thấy thêm thế này: như một người gây cái nhân xấu, gây một cái tội, ví dụ như là giết người à thì bắt đầu cái đem ra tòa xử căn cứ nơi giết người vì cái mục tiêu gì, giết người có đạt được
[39:03]kết quả không, vân vân mà xét họ là 20 năm, 25 năm hay là chung thân hay là tử hình, đó tùy trường hợp. Nhưng mà dù họ đã bị phạt theo luật pháp rồi, cái tội của họ chưa chắc đã hết nếu nhìn theo nhân quả, nếu nhìn theo nhân quả. Giờ mình phân tích thử: là ví dụ như một tên cướp giết người, giết cái ông chồng trong gia đình đó, ông cha trong gia đình đó, thì cái tội thứ nhất là giết một người chết chứ gì? Thì theo luật pháp là xét xử cái tội giết cái ông cha, người chồng đó mà thôi, rồi phải phạt cái ông này là 25 năm, 20 năm, 30 năm gì gì đó, thậm chí là chung thân, thậm chí có khi tử hình. Nhưng mà cái hậu quả đó chưa có hết đâu.
[39:55]Cái hậu quả xấu mà do cái việc giết người đó gây nên chưa hết. Chưa hết ở điểm nào? Ở điểm là: ông chồng ổng đang nuôi vợ nuôi con nè, ổng chết là cái thọ mạng ổng bị chấm dứt đột ngột một cách đau đớn, một cách oan uổng. Đó, thì tên cướp sẽ bị tử hình hay bị chung thân đó, trả cái đó thôi. Nhưng mà bây giờ vợ con bắt đầu đói nghèo. Đang lúng túng mà, đang được nuôi, chưa có nghề ngỗng ổn định. Ông chồng chết cái làm bà vợ nuôi bầy con nuôi sất bất sang bang không lo nổi. Đó là cái thứ nhất, nghèo đói. Thứ hai, trong gia đình bởi vì nghèo đói quá, con cái không thể cho học được nhiều nữa, thất học.
[40:36]Cái hậu quả thứ hai, đấy đói nghèo, thất học. Rồi không có người cha để dạy dỗ, người mẹ đầu tắt mặt tối đi làm để kiếm tiền nuôi con, không ai dạy dỗ đạo đức, con cái hư hỏng. Hậu quả thứ ba là con cái hư hỏng. Rồi từ cái nghèo đói, thất học, hư hỏng này, nó phát sinh ra nhiều cái xấu tiếp tục cho xã hội, nó lan lan lan lan ra nhiều nữa. Mình thấy từ cái việc giết người thôi mà nó ảnh hưởng ra ba cái hậu quả chính, rồi bốn, năm, bảy, tám, chín, mười cái hậu quả phụ nó lan vào trong xã hội này luôn. Nên chúng ta thấy cái người mà giết người đó, cái kẻ cướp giết người đó, dù có bị tử hình vẫn chưa trả hết cái hậu quả mà họ gây nên, phải không?
[41:20]Do đó luật nhân quả sẽ trả lại. Trả lại thế này: qua kiếp sau, người đó sẽ sinh vào gia đình mồ côi, thiếu cha hay thiếu mẹ. Nhất- thứ hai, nghèo đói. Thứ ba, thất học. Thứ tư, hư hỏng. Rồi bắt đầu do hư hỏng nên mới làm bậy, làm bậy luật pháp bắt đầu trừng trị, bỏ tù, đánh đập tiếp tục, cứ như vậy mà hưởng cái quả báo nhiều đời, nhiều kiếp không ngóc lên được nữa. Vì cái hậu quả mà lúc họ giết một người chồng, người cha đó, làm cho đứa con hư hỏng á, đứa con hư hỏng nó gây ra quá nhiều cái tội lỗi trong xã hội. Mà chỉ từ một việc giết người đơn giản thôi. Cho nên chúng ta thấy là một cái nhân nó sinh ra rất
[42:02]nhiều quả báo, chứ nó không phải là một quả báo. Không phải nó giết người kiếp này hay kiếp sau đền mạng là hết. Không! Không hết, không hết. Nhớ. Cho nên trong bài kinh thì nói là mọi người bình đẳng trước pháp luật, pháp luật xét xử cái người có tội, nhưng sự thật pháp luật không bao giờ công bình hết vì chưa có bao giờ trừng phạt người đó xứng đáng với cái hậu quả mà người đó đã gây ra. Chưa bao giờ. Cũng vậy, một cái việc thiện thì không bao giờ nó chỉ đem lại một quả báo, nó đem lại rất nhiều quả báo. Ví dụ như là có một người nào đó họ trong cơn túng quẫn nghèo đói, hôm đó gặp mình xót thương, mình cho họ một số tiền họ sống qua được một tháng.
[42:48]Thì cái nhân quả là họ sống được một tháng là mình thấy cũng là mình cũng quá tốt với họ rồi, chứ thường mình chỉ cho năm ba ngàn sống được ngày hai ngày, nhưng hôm đó mình có phát cái tâm lớn mình giúp cho họ sống được một tháng. Thì nó bao nhiêu quả báo xảy ra? Bao nhiêu? Thôi bây giờ để cho quý sư, quý cô ngồi mà suy luận ha. Tập suy luận để nữa làm giảng sư với người ta. Tức là làm giảng sư là mình phải nói được những điều mà chưa ai nói, mình có những cái nhìn mới, những cái phát minh mới, chớ làm giảng sư không có nghĩa là luôn luôn mình nói lại những điều mà người ta đã nói rồi. Cho nên nhờ vậy đó, Phật giáo mới phát triển mãi, phát triển mãi.
[43:35]Như là đời Đức Phật nói được một số điều, rồi các chư Tổ phát triển thêm lên, cho tới đời mình phải có những cái phát minh cao hơn nữa, tiến hơn chư Tổ. Nhớ như vậy. Đừng có lệ thuộc người xưa. Như ông thầy mình ổng dạy mình nhiêu đó, đến đời mình mình phải nói sâu hơn nhiều hơn những điều ông thầy mình đã dạy. Và sau này đệ tử mình cũng vậy, mình phải làm sao cho đệ tử mình nói được nhiều điều hơn, sáng tạo nhiều cái mới hơn hơn là mình đã nói. Nhờ vậy Phật giáo mới phát triển kịp với thời đại. Cho nên nói là cái suy luận cái nhân quả là ví dụ mình giúp một người trong một tháng, nói bao nhiêu cái hậu quả tốt đem đến và đem lại cái quả báo thì
[44:16]để quý sư, quý cô thử suy luận, hôm nào mình nói lại cho nhau nghe thử. Có cái đoạn là có một người mà không biết ở giai cấp nào, cạo bỏ râu tóc, xuất gia thì trở thành Sa-môn thì cái thái độ vua thế nào? Thì ổng tuyên bố rằng với một người như vậy thì ổng cung kính, ổng giúp đỡ, bảo vệ, che chở. Nên người xưa thiệt là hay ha. Giai cấp tu sĩ được tôn trọng mà người tu thời đó cũng xứng đáng lắm, tu cái giới hạnh rất là tốt. Lát mình nói một chút xíu về vấn đề người tu. Như vậy từ bỏ cái quá khứ để hòa chung vào một cái gia đình mới được gọi là Sa-môn, được gọi là thầy tu, được gọi là lâu lâu người ta chọc người ta kêu là thầy chùa, gì gì đó,
[45:09]là từ bỏ quá khứ. Và lúc đó người đó được đánh giá từ cái gì? Người đó được đánh giá không còn được đánh giá từ cái gia đình, dòng tộc, hay địa vị, hay tiền bạc cũ nữa mà được đánh giá bằng cái gì?
[45:27]Được đánh giá bằng cái gì?
[45:31]Đẹp trai như mấy sư hay là không đẹp trai không? Được đánh giá bằng gì? Sư Minh Vinh. Minh Vinh hả?
[45:44]Minh Chính.
[45:48]Minh Hiếu. Sư này hả? Được đánh giá bằng cái gì, thưa sư? Hình tướng hả? Đã thế. Ồ tại sư đẹp trai nên sư cứ nghĩ như vậy. Giờ có ai có ý kiến nào khác không? Sư Minh Chiếu đúng không? Minh Chiếu hả? Minh Hiển. Sư Minh Hiển. Sư Minh Đạo phải không? Được đánh giá bằng gì sư? Sư cũng đẹp trai lắm á, để coi có phải hình tướng không.
[46:32]Thôi. Trời ơi. Đâu cô Trí nói coi.
[46:39]Kết quả công đức người xuất gia. À. Cô cái em mang kiếng nè, đâu cô nói coi, cô bổ sung thêm, cám ơn. Sư nhờ mời sư.
[46:55]Sư mang Minh gì? Minh Trung hả? Dạ sư Minh Trung. Ờ, đúng rồi. Đó. Được đánh giá bằng giới luật ha, à đạo đức nè và thiền định, tức là đạo hạnh đó. Đó. Tuy người đó là không biết dòng tộc nào, có khi ở ngoài đời ổng bác sĩ, ổng giàu lắm mà vô đạo ổng quậy tùm lum hết thì ai cũng chê, thấy không? Còn cái người đó họ nghèo khổ, là con của một người đi hốt rác, nhưng mà vô đó giới luật nghiêm chỉnh, có lòng từ bi với mọi loài, tu thiền đắc được cái định sâu, thì trước một người như vậy, mình sao? Mình phải nghiêng mình đảnh lễ, phải không? Đó. Như vậy, trong cái bài kinh này có nói một điểm, là con người đồng đẳng trước nghiệp báo, pháp luật, vân vân vân vân gì đó.
[47:46]Nhưng mà riêng khi mình bước vào tu sĩ, thì mọi cái không được đánh giá theo những cái đó nữa, mà chỉ đánh giá trên cái giới luật, đạo đức và thiền định. Đó. Cho nên, chúng ta không cần phải lo tới cái quá khứ dòng dõi của mình, mà chỉ lo giữ gìn ba điều đó: giữ giới luật, tăng cường cái đạo đức và làm sao phát triển được thiền định. Đó, đó là giá trị của người xuất gia. Có một điều, hồi sáng nay có vài người lên thăm a thăm tôi, những người lạ đó mới tới, không biết. Có một cái ông đạo hữu trong cái nhóm đó, thấy ổng có vẻ thờ ơ, thụ động lắm. Tôi mới nói ông cố gắng siêng làm phước lên. Chứ đừng có đợi ai rủ rồi mới làm.
[48:30]Hãy tích cực làm phước. Thì ổng nói là ổng hồi đó ổng cũng hay đi công quả lắm, nhưng mà có cái ổng vô chùa ổng thấy chuyện kỳ cục tùm lum hết thôi ổng chán, ổng ghét. Hay đúng, lúc đó thì tôi mới nói thế này, nói đỡ thế này. Nói là khi mình thấy người ta làm sai, thì mình phải nguyện mình làm lại cho đúng, chứ không phải mình thấy người ta làm sai rồi mình thối lui, mình bỏ đạo, mình tự đánh mất cái đạo đức của mình giống như người ta, là mình càng lỗ, càng thiệt đó. Đó, trong cuộc đời này, chúng ta sẽ thấy rất nhiều người làm sai. Nhưng mà khi thấy như vậy, mình phải nguyện lòng cố gắng làm lại cho đúng để làm cái tấm gương cho người khác.
[49:17]Rồi tôi cũng than một cái thực trạng của Phật giáo hiện nay là có hai điểm: một là các chùa nhận người xuất gia quá dễ dãi, quá bừa bãi. Và thứ hai là nhận rồi thì dạy đạo đức không kỹ, dạy không kỹ, không dạy một cách sâu sắc trong tâm hồn của họ. Cho nên ví dụ như là người ta bước vào chùa, nghe nói qua một vài câu người ta vẫn thấy được có cái sự ganh tị giữa người này và người kia, thấy trong các người tu có sự giận hờn giữa người này và người kia. Nó như đôi khi tranh nhau một chút, giành nhau cái cảm tình của một người cư sĩ để được cái sự cúng dường, rồi giành nhau lấy lòng ông thầy trụ trì, lấy lòng cái ông thầy tri sự.
[50:03]Đó, những cái chút chút như vậy người ngoài họ bước vô họ chứng kiến, họ nhận xét ra hết. Và tại sao mình còn những cái điều đó? Tại sao trong tâm mình những cái hơn thua, ích kỷ, tham lam, cầu lợi nó nằm ở trong lòng mình mà tại sao mình còn? Tại vì mình không được dạy đạo đức kỹ. Cái ông thầy dạy chúng đó, không có nhìn sâu từng người. Một lời nói ra, một cái sự thoái thất về oai nghi không đánh giá được từ cái tâm nào nó phát ra, không đánh giá được từ cái tâm nào phát ra, nên không nhắc từ cái tâm của họ. Ví dụ thấy hai người cự nhau, la: "Không có được gây lộn nha!" Câu đó hết chưa, đủ chưa?
[50:47]Thấy người ta không gây lộn nữa tưởng là mình đã dạy xong rồi, chưa có gì hết. Như vậy là không dạy đạo đức kỹ. Phải biết họ gây lộn từ cái tâm nào, vấn đề gì mà gây, mà từ cái tâm ích kỷ, nhỏ nhoi, nóng nảy, hơn thua nào mà gây. Phân tích cho ra, kêu họ để họ, nói cho họ nghe để họ nhìn được trong tâm của họ mà họ hóa giải cái tâm đó luôn. Mới hết được cái tận gốc của họ, nói tận gốc tạm thời thôi. Thấy được cái lỗi từ trong tâm, chứ không phải rầy la một người mà rầy la ở cái hành vi bên ngoài. Thấy họ gây la: "Đừng gây nữa!" Họ không gây nữa, tưởng là xong. Không, không có xong đâu. Đó, cái đạo đức bên trong nó bị tổn thương mà mình không moi ra,
[51:28]không phân tích ra để dạy cho họ, thì vẫn là, vẫn là chưa chu đáo. Tức là "giáo bất nghiêm, sư chi quá", dạy mà không nghiêm là lỗi của ông thầy, là ở chỗ này. Cho nên chùa mình bị cái nhược điểm mà bây giờ các cư sĩ đi đâu họ cũng rên, cũng than. Họ nói vô chùa cứ gặp chuyện chướng tai gai mắt là vì vậy. Nhận người quá bừa bãi, mà thứ hai là nhận rồi, dạy không kỹ. Nhận người bừa bãi nó có điểm này nữa nè. Ví dụ một cái người đó họ đến, ông thầy nhiều khi từ bi, cứ cho bước vào hàng ngũ người xuất gia, được mang cái hình tướng cao cả để mọi người khác cung kính, nhưng mà trong khi người đó chưa xứng đáng.
[52:13]Đồng ý là theo tinh thần đạo Phật, chúng ta vẫn tạo điều kiện cho mọi người tu, vẫn tạo điều kiện giúp đỡ họ, khuyến khích họ tu, nhưng mỗi người nào tu ở cái địa vị nào, ở vị trí nào thôi. Cái người đó họ chưa thuần, đức hạnh chưa tốt, phải để họ tu ở vị trí cư sĩ, chứ đừng có rủ rê, lôi kéo họ vào vị trí xuất gia vội vàng, mà đa số các chùa mình đều bị nhược điểm đó hết. Cứ rủ: "Thôi, tu đi con, thôi đi tu, xuất gia ngoan, chớ ở đời chi khổ lắm con ơi." Đó, cứ lôi vô tu riết mà không có nhìn kỹ cái người này đang còn bao nhiêu cái xấu trong tâm, những cái tật đố, giận hờn, hơn thua, đủ thứ chuyện ở trển trong đó.
[52:56]Cho nên, khi một người đến xin mình tu thì phải có một trong hai trường hợp: nếu mình là người sáng mắt, ông thầy là người sáng mắt có đạo nhãn một phần, nhìn một cái biết người này đang ở cái đạo đức cỡ nào liền, nhận hay không nhận ngay câu đó trả lời đầu tiên. Nói: "Thầy chỉ đồng ý cho con xuất gia khi nào con đạt được những cái đức hạnh này, về nhà tu nữa đi!" Nói thẳng liền ngay từ đầu nếu ông thầy có đạo nhãn, nhìn biết liền. Nếu ông thầy chưa có đạo nhãn, thì: "Chỉ nhận cho con công quả một tháng trước. Qua một tháng nếu được, công quả thêm tháng nữa." Phải qua nhiều năm nhiều tháng theo dõi cái hành vi
[53:33]của họ, theo dõi cái ngôn hạnh của họ, rồi mới chấp nhận từ từ cho họ bước vào vị trí người xuất gia. Đó. Để họ xứng đáng gì? Xứng đáng như ông vua nói: "Là từ nay con sẽ nghiêng mình cung kính, cúng dường sàng tọa, thuốc men, thực phẩm, con sẽ che chở, bảo vệ người đó đúng pháp luật." Đó, để cho người xuất gia xứng đáng được sự cung kính của mọi người. Cho nên tôi nói điều này, nữa ví dụ các sư lớn lên mà có chùa, nhận đệ tử thì có khi quý sư nhớ lại điều tôi nói hôm nay, như mình góp ý với nhau mà làm được cái điều ích lợi cho Phật pháp, để không để cho Phật pháp mình cứ bị người cư sĩ bên ngoài than
[54:14]phiền, vô chùa thấy toàn những chuyện chuyện xấu, chuyện xấu mà họ nghĩ là người đời họ nhiều khi họ không phạm nữa. Ừ. Thôi, nói qua vấn đề khác. Nói xấu người tu hoài, sợ mắc tội nữa.
[54:31]Đây là một bài kinh kết tập sau Phật, phải không? Hồi nãy mình nghe nói đó, kia xin quy y thì ông nói là hãy quy y Thế Tôn. Nói Thế Tôn đâu rồi, con sẽ tìm đến? Nói Thế Tôn đã nhập Niết-bàn. Như vậy, đây là bài kinh không có Phật ấn chứng, nhưng mọi người công nhận và được xem là kinh, được chư Tăng kết tập vì cái giá trị của nó.
[54:55]Đó là cái ý thứ nhất. Cho nên sau này có một số bài kinh không phải do Phật thuyết, nhưng mà vẫn mạo danh Phật. Còn tôn giả Kaccāyana thì rất là hay. Ngài giảng điều đó, chư Tăng kết tập nói một cách thật là không phải Phật thuyết, ngài Kaccāyana, ngài Ca-chiên-diên thuyết cho một ông vua, chư Tăng công nhận bài kinh đó hay, đưa vào kinh tạng. Đó, đó là một sự thật rất hay. Ở những thế kỷ sau, cách Phật khoảng 200 năm, cách Phật Niết-bàn khoảng 200 năm, 300 năm, 600 năm, 1.000 năm, có những bài kinh mới viết sau này, nhưng mà mượn danh là Phật thuyết, rất nhiều. Kinh nào? Quý sư, quý cô biết không? Kinh nào?
[55:44]Ai nói đúng, khen hay.
[55:50]Sư Hải có biết về điều này không? Hải có nghe nói về điều này chưa? Không cái đó thì đúng rồi sư. Cái đó là được xếp vào kinh, nhưng mà ngài vẫn nói là ngài Na Tiên Tỳ kheo giảng cho ông vua nghe phải không? À Chứ vua Milinda đó. À. Chứ đâu có nói là Phật thuyết. Nhưng mà có những bài kinh nói là Phật thuyết. Mà viết sau này mà sự thật không phải Phật thuyết. Điều này chúng ta phải biết. Đây là một điều bị che giấu từ rất lâu trong lịch sử. Những vị biết mà bỏ qua, biết mà cố tình che đậy. Nhưng mà trong thời đại mới này lần lần mọi điều phải được phơi bày hết. Sự thật phải là sự thật. Có những điều mà trên thế giới những nhà sử học họ biết rõ hết.
[56:44]Các sinh viên học về Phật giáo ở trên thế giới họ biết rõ hết. Mà Việt Nam mình không biết. Việt Nam mình có biết nhưng bị chư tôn che đậy, ém lại hết. Bởi nó đụng tới tín ngưỡng. Đụng tới một sự thật. Là những kinh nào? Là tất cả những kinh Đại thừa không do Phật thuyết. Bát Nhã nè, Viên Giác nè, Kim Cang nè, Niết Bàn nè, Lăng Nghiêm nè, Lăng Già nè, vân vân. Đó đều không phải Phật thuyết. Đều là người sau viết hết mà mượn danh Phật thuyết. Mà những bài kinh sớm nhất là những bài kinh Bát Nhã khoảng 200 năm sau Phật Niết Bàn thì những bài kinh Bát Nhã bắt đầu được viết. Viết qua nhiều trăm năm mới thành được 600 quyển Bát Nhã.
[57:36]Nên bộ kinh Bát Nhã là dày nhất mà tới 600 quyển là được viết nối tiếp nối tiếp qua nhiều thế kỷ. Kinh Pháp Hoa thì khoảng 600 năm sau Phật Niết Bàn được viết. Kinh Hoa Nghiêm thì được viết khoảng cũng 200 năm viết dài dài bổ sung thêm cả thế kỷ mới thành một cái kinh Hoa Nghiêm 200 quyển. Kinh Lăng Già còn kinh Mật tông thì cả ngàn năm sau Phật Niết Bàn mới bắt đầu được viết. Bởi các nhà sư mà tu tu theo thần chú đó các vị đó theo đạo Phật tu. Nhưng mà mang cái thần chú của mình vào đạo Phật rồi viết kinh luôn nói là Phật thuyết luôn. Cho nên có nhiều bài kinh vô lý như bài kinh Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni trong đó có câu á:
[58:17]"Dù tu chứng A-la-hán, giáo hóa cho muôn ngàn người thành A-la-hán không có công đức bằng tụng một cái câu chú Phật Đảnh này." Đây là điều giết Phật pháp, tiêu diệt Phật pháp. Người ta sẽ không tu hành nữa, cứ lo tụng chú. Trong khi giáo pháp của Phật là chính mình phải chịu trách nhiệm, chính mình phải sửa đổi, chính mình phải tu hành. Chứ không có nhờ cái oai lực của một câu chú. Đó đây là một điều mà các nhà sử học trên thế giới đều biết rõ hết. Nếu mà chúng ta đi sang nước ngoài, chúng ta gặp một sinh viên học về sử Phật giáo, một sinh viên học về Phật giáo người nước ngoài người Mỹ người Anh á thì họ sẽ nói điều này cho chúng ta nghe.
[58:54]Họ học quá rõ. Rồi những như là Viện Đại học Cao cấp Viện Phật học Cao cấp tức là Đại học Vạn Hạnh thì Hòa thượng Minh Châu cũng biết rất rõ điều này. Và những vị giáo sư ở trong đó cũng biết rất rõ điều này. Và các vị học tăng mà ở trường Phật học Cao cấp cũng biết điều này, nhưng không dám nói. Vì sao không dám nói? Bởi vì từ xưa đến giờ Phật giáo Việt Nam mình theo Đại thừa. Tất cả các hòa thượng lớn bây giờ hòa thượng Trưởng ban Trị sự, Chủ tịch Trị sự gì gì gì đó ông nào cũng theo Đại thừa và tin chắc rằng những kinh Đại thừa đó là do Phật thuyết. Cho nên bây giờ mà nói ra kinh đó không phải Phật
[59:35]thuyết thì đụng chạm quá nặng trong giáo hội. Đụng chạm quá nặng. Cho nên không dám nói, biết rồi im luôn, bỏ qua luôn. Nhưng mà trong những thời đại sắp tới chắc chắn điều này sẽ được phanh phui nói ra. Vì cả thế giới họ biết hết rồi. Chúng ta nói điều này không có nghĩa là chúng ta chống báng kinh Đại thừa. Chúng ta muốn nói về cái lịch sử thật sự của nó. Còn cái giá trị của kinh Đại thừa là như thế này: Có nhiều kinh rất hay, rất hay. Cái lý luận đó là do ngài Trí Khải Đại sư lập ra. Ừ Trước ngài Trí Khải Đại sư chưa hề có cái câu đó là ngài chín năm là thuyết A-hàm ha, 12 năm Phương Đẳng, là 25 năm là Bát-nhã, rồi sáu năm là Pháp Hoa, Niết Bàn đó.
[1:00:24]Phải không? Đó, nhưng mà cái câu mà xếp loại đó là do ngài Trí Khải Đại sư của Thiên Thai tông á ngài sáng tổ của Thiên Thai tông ngài phân tích ra, chứ trước ngài không ai nói câu đó hết. Lịch sử bây giờ họ phân tích rõ hết. Với chúng ta sẽ thấy rõ nếu chúng ta nghiên cứu trong kinh A-hàm nói rằng chín năm đầu Phật nói A-hàm phải không? Nhưng mà nếu chúng ta đọc hết bộ kinh A-hàm chúng ta sẽ thấy trong kinh A-hàm có kinh Niết Bàn ở trong, có kinh giai đoạn mà Phật sắp nhập Niết Bàn, Phật giảng bài kinh đó. Thì như vậy là rõ ràng A-hàm là Phật giảng suốt cuộc đời mà. Từ khi Phật mới thành đạo cũng giảng A-hàm,
[1:01:01]mà tới khi Phật sắp Niết Bàn cũng giảng A-hàm. Mà ngài xếp loại chín năm có lẽ là ngài chưa đọc hết cái tạng A-hàm nên ngài mới xếp loại như vậy. Chứ nếu mà ai đọc hết tạng A-hàm sẽ biết rõ là trong đó có những đoạn mà Phật đã già rồi. Trong đó có những bài kinh mà Phật sắp nhập Niết Bàn Phật mới thuyết trong A-hàm. Nếu người mà đọc mà kinh A-hàm đọc hết á sẽ không dám nói là Phật thuyết A-hàm trong chín năm đầu không có đâu. Đó, nên sau này những nhà sử học họ phân tích kỹ lắm, họ thấy toạc ra hết. Rồi bây giờ chúng ta trở lại vấn đề. Chúng ta nói như vậy không có nghĩa là công kích kinh Đại thừa.
[1:01:38]Vì rất nhiều ý trong kinh Đại thừa rất hay. Nó là sự phát triển của Phật giáo. Mà vì sao phải có kinh Đại thừa xuất hiện? Bởi vì thế này: Thời Đức Phật do cái uy đức của ngài, do cái lý luận của ngài, do cái trí tuệ của ngài nên Phật giáo phát triển quá mạnh, quá nhanh. Rồi ngoại đạo bị lép vế, thất kém thế. Đạo Phật lúc đó đang thắng thế. Thì sau khi Phật nhập Niết Bàn, cái người mà ngoại đạo á những đạo này đạo kia trong nhiều cái giáo phái thời Ấn Độ lắm, họ mới củng cố cái lý luận của họ lại. Là họ cũng vay mượn một số trong cái tư tưởng của Phật giáo, họ phát triển lý luận để họ bành trướng thế lực trở lại,
[1:02:20]họ gây ảnh hưởng trong quần chúng để tranh giành tín đồ trở lại với đạo Phật. Thì lúc đó họ phân tích nhiều điểm cũng khá sâu sắc và hấp dẫn. Nếu đạo Phật cứ dùng các kinh cũ của Phật thuyết, Phật chỉ thuyết bộ kinh Nikaya thôi. Nếu tiếp tục dùng những cái kinh Nikaya mà lý luận á thì sẽ không còn hấp dẫn nữa. Nó có một cái gì nó lạc hậu, nó đứng lại. Nên lúc đó có nhiều nhà Đại thừa táo bạo viết kinh lý luận sắc bén để mà gây ảnh hưởng trở lại. Nhưng mà các ngài sợ hễ nói là các ngài soạn thì không ai nghe. Các ngài ổng ổng chơi ổng nói Phật thuyết luôn cho rồi. Cứ: "Ta nghe như vậy, thuở nọ Thế Tôn an trụ tại núi Linh
[1:03:02]Thứu" nghĩa là đưa cành hoa sen trước Phạm Thiên rồi giảng Pháp Hoa, Niết Bàn um sùm hết trơn. Để cho lấy cái uy tín cho cái cuốn kinh đó để những lý luận trong đó được chấp nhận. Mà đúng có hiệu quả thật sự. Từ khi những cái kinh Đại thừa xuất hiện thế là ảnh hưởng đạo Phật lan mạnh mạnh trở lại để cạnh tranh được với thế lực ngoại đạo trở lại một lần nữa. Nên giá trị kinh Đại thừa có nhiều lý luận cũng khá sâu sắc. Nhưng mà vì thế này: Đôi khi có vài điểm cũng cũng sai sót là do người sau khi mà các ngài viết kinh Đại thừa đó các ngài cũng có cái tâm chứng chứ không phải không. Nhưng mà không bằng Phật.
[1:03:36]Nên nó để lại một vài điểm sơ hở mà bây giờ mình đọc kinh Đại thừa có nhiều khi mình nhận ra được là à trong kinh này có điểm này bộ vô lý. Vô lý, có nhiều điểm có những chỗ như vậy. Nên mình thông cảm, mình biết là không phải Phật thuyết. Nên người sau viết để để phát triển cái lý luận đạo Phật thôi. Mà những điểm hay mình vẫn chấp nhận giống như chư tăng đã chấp nhận cái bài kinh Madhura của tôn giả Kaccana thuyết lên. Đó, nhưng chúng ta phải biết rõ sự thật là sự thật. Kinh đó không phải Phật thuyết, nhưng cái giá trị kinh đó hay mình phải công nhận. Đó. Đó là cái nhìn về kinh. Bây giờ chúng ta nói chân lý.
[1:04:16]Cái chân lý là cái điều gì không phải do Phật lập ra. Mà Đức Phật phát hiện rồi dạy lại. Cho nên trước Phật chân lý vẫn là như vậy, vẫn có luật nhân quả nghiệp báo chi phối con người, vẫn là con người quay cuồng trong vô minh, vẫn là có những giáo lý giúp cho con người tu tiến trước Phật. Rồi Phật giác ngộ nói lên điều đó. Và sau Phật thì những cái luật như nhân quả, luân hồi vẫn là những định luật tiếp tục chi phối con người. Cho nên chân lý không lệ thuộc vào Đức Phật. Mà chúng ta chỉ khám phá thôi. Chúng ta giác ngộ tức là chúng ta khám phá được chân lý. Cho nên chúng ta hiểu được điều này chúng ta có quyền nói lên những cái điều đúng
[1:05:05]trong cái thời đại, giúp cho đạo Phật được phát triển hơn. Chúng ta không có sợ. Chỉ sợ chúng ta nói sai rồi đọa làm thân chồn 500 đời như là cái ông già đó thôi. Đây quý sư nghe câu chuyện chết chưa? Ông già bị đọa làm chồn 500 đời do trả lời sai một câu đó. Nó không khác mình nói điều đó. Với chân lý nó là một cái điều này nữa: Hồi nãy chúng ta đã nói là trong cái thời sau Phật vì phải phát triển cho hợp với thời đại nên nhiều vị đã viết kinh. Bây giờ chúng ta đứng ở thời đại này. Thời đại mà khoa học tiến bộ như vũ bão. Thế là mỗi ngày mỗi ngày có những phát minh mới, những phát hiện mới, những cái quy luật của vũ trụ đang được
[1:05:51]khám phá dần dần dần dần, từ những cái hạt nhỏ nhất như nguyên tử cho đến những cái lớn nhất tức là những cái dãy thiên hà mênh mông trong vũ trụ xa xôi từ mấy triệu năm ánh sáng thì bây giờ khoa học cũng đang tìm ra được những quy luật của nó hết. Trước những cái thành tựu rực rỡ của khoa học, nó che lấp hết tất cả mọi giá trị của các cái khái niệm khác, kể cả tôn giáo, kể cả Phật giáo, chúng ta phải nhận định điều đó. Cho nên thời nay cái lớp trẻ mà siêng đi học á, những đứa trẻ tốt đó, siêng đi học rồi chịu khó học hỏi nghiên cứu khoa học, nó bị choáng ngợp bởi cái thành tựu khoa học. Thành tựu rất là logic, đem lại cái hiệu quả rõ ràng
[1:06:35]trong đời sống là chế tạo được cái máy thu băng cassette nè, chế tạo được cái karaoke nè, cái ti vi nè, cái điện thoại, cái xe Honda, xe hơi nè, máy bay nè, những cái tiện ích rõ ràng cho cuộc đời. Còn nhà tôn giáo đem lại lợi ích về tiện nghi không có, mà nhà tôn giáo chỉ đem lại đạo đức mà thôi, đôi khi đem lại mê tín. Cho nên là người ta đến với tôn giáo bây giờ họ đến một cách dè dặt, họ chỉ thích cái khái niệm đạo đức của tôn giáo thôi, còn những cái lý luận về vũ trụ quan, về thần thánh nhiều khi họ không tin. Đây là thời đại hiện nay đang ở trong cái tâm trạng đó. Như là chúng ta thấy vật chất này là cứng phải không? Rờ vậy là cứng ngắc chứ gì?
[1:07:18]Đất, đá, không khí thì mềm, nước thì mềm, nhưng mà những cây, gạch, đá là cứng. Nhưng mà chúng ta có tin rằng tất cả vật chất đều là rỗng tuếch không? Rỗng tuếch. Cái đơn vị nhỏ nhất của vật chất là gì? Là gì? Là nguyên tử phải không? Quý sư có học rồi chứ gì? Học ở trường phổ thông thì đơn vị nhỏ nhất của vật chất là nguyên tử. Mà nguyên tử á nó được cấu thành bởi cái gì? Bởi một cái nhân và bên ngoài có những cái hạt điện tử nó quay xung quanh. Đó là cấu tạo của vật chất mà khoa học khám phá được chứ không có một nhà tôn giáo nào khám phá được hết. Nhưng mà chưa hết, họ đo được như thế này, nếu là bây giờ mình rọi cái nguyên tử đó lớn lên bằng cái
[1:08:02]nhà này đi, bằng cái nhà này thì cái nhân của nguyên tử nó lớn cỡ nào?
[1:08:11]Cái nhân của nguyên tử nó lớn bằng thế nào?
[1:08:16]Nó lớn vừa bằng cái cây viết của sư nè, cái nhân. Còn ở những ngoài là những hạt điện tử nhỏ xíu rồi nó quay chung quanh, quay cuồng loạn chung quanh hết, nên vật chất chỉ là rỗng tuếch không có gì hết. Mà điều đó được khoa học khám phá chứ chưa có một nhà tôn giáo nào nói được điều đó hết. Cho nên bây giờ người ta khâm phục khoa học hơn. Khoa học đem lại cái lẽ thật, chữ lẽ thật mình cũng hiểu là chân lý, đem lại cái chân lý nhiều hơn là tôn giáo. Tôn giáo cũng tự nói mình đem lại chân lý cho cuộc đời nhưng mà khi kiểm chứng qua khoa học nhiều khi nó có cái sự không ăn khớp. Như một số tôn giáo mà tin vào Thượng đế,
[1:08:56]cái gì cũng do Thượng đế tạo ra, bây giờ khoa học tìm ra tan nát hết trơn, họ biết hết, nguyên nhân từ đâu từ đâu lần lần họ tìm ra từ từ hết trơn, nên các nhà mà giáo sư, các nhà khoa học họ không tin tôn giáo lắm. Chỉ có đạo Phật tương đối là còn được thiện cảm bởi những nhà khoa học là vì sao? Bởi vì Đức Phật không nói Thượng đế tạo ra mọi vật mà mọi vật đều do nhân duyên. Chính vì cái câu nói đó nên ngày hôm nay đạo Phật vẫn còn giá trị. Và nhiều điều của đạo Phật vẫn còn giá trị như thiền định của đạo Phật nè, cái đạo đức của đạo Phật nè, cái giáo lý về nhân quả nè. Thì đến ngày hôm nay dù khoa học tiến bộ đến đâu,
[1:09:35]những giáo lý đó vẫn tiếp tục còn giá trị, còn giá trị mãi mãi. Cho nên chúng ta may mắn, chúng ta có phước, chúng ta đi theo một tôn giáo mà một tôn giáo đó không bị khoa học bác bỏ. Còn những tôn giáo khác hiện nay đang bị rung rinh hết trơn trước sự tiến bộ như vũ bão của khoa học. Nói như vậy chúng ta đừng tự mãn. Nghĩa là sao? Nghĩa là thật ra đạo Phật không khéo cũng đang bị lạc hậu từ từ, đang bị đào thải từ từ khỏi đời sống xã hội. Tôi nói như vậy có vẻ hơi bi quan. Có một lần tôi về chùa Sài Gòn, tôi nói với mấy ông thầy, tôi nói: "Quý thầy cứ nhìn tối xuống ai đi tụng kinh? Mấy bà già, mấy người không có học nhiều".
[1:10:22]Nhìn cái thì mấy thầy ngồi ngẫm ngẫm lại gật đầu đúng. Nghĩa là gì? Nghĩa là đạo Phật đang bị đào thải dần dần khỏi đời sống xã hội đó, quý thầy nên nhìn điều đó mà cảnh giác. Rõ ràng là chân lý đạo Phật là đúng, những cái điều như Niết bàn tuyệt đối là đúng nè, luật nhân quả là đúng nè, sự luân hồi là có thật nè, đó, Bát Chánh Đạo là một cái giá trị không thể phủ nhận nè. Nhưng mà tại sao trong thời đại hôm nay chúng ta dường như không còn thích ứng nữa? Dường như chúng ta đã đi tuột phía sau sau xã hội. Cho nên ông viện trưởng Viện Đại học Phật học của Thái Lan, ông này ổng là viện trưởng Viện Phật học của Thái Lan ổng nói thế này:
[1:10:59]"Xã hội tiến quá nhanh mà Tăng đoàn thì đang đứng lại, điều không thích hợp. Phật giáo phải có sự chuyển mình". Sự chuyển mình trong tương lai là cái gì? Là một cái gì đó không biết nhưng mà luôn luôn phù hợp với khoa học, tiếp nhận được cái ích lợi khoa học bổ sung cho sự tu hành của mình. Và đồng thời cái giá trị tu hành của mình đóng góp lại được cho xã hội một cách thực tế. Ví dụ như cái thiền định của mình là điều đóng góp rất tốt cho xã hội. Còn những sự tiến bộ của khoa học, những kiến thức về y học, về sinh lý não, về thân vân vân, những cái đó mình phải biết và áp dụng trong đời sống tu hành để không bị sai lầm, không bị cực đoan.
[1:11:43]Nên có những người ví dụ nói hưởng thụ là một cực đoan, nhưng mà khổ hạnh làm cho cơ thể suy sụp thần kinh, bệnh hoạn là một cực đoan khác mà lý do là mình không đủ kiến thức khoa học. Có những chùa vậy, không cho chúng ngủ nhiều, một ngày tính ra ngủ được ba bốn tiếng đồng hồ. Rồi một thời gian sau ai cũng bệnh hết trơn, chùa đó bệnh, người bệnh u chỗ này, bướu chỗ kia, rồi căng thẳng, đủ thứ chuyện hết. Lý do là vì tổ chức đời sống không hợp lý, vì cái người tức là lãnh đạo ở đó không có kiến thức khoa học, dẫn Tăng chúng đi vào con đường sai lầm. Cho nên chúng ta ngày hôm nay tu hành nhớ không bao giờ
[1:12:23]được quên, không bao giờ được bỏ sót những kiến thức khoa học cần thiết cho đời sống tu hành của mình. Chúng ta nhớ một vị đạo sư cỡ lớn của thời đại là ông Krishnamurti. Quý sư có nghe tiếng ông đó chưa? Krishnamurti. Sư Hải có nghe chưa? Cô Trí có nghe chưa? Cô Hạnh có nghe chưa? Người ta gọi ngài là một vị đạo sư của thời đại mà giá trị như Đức Phật hay là Chúa Giê-su, dễ sợ như vậy. Ngài là người Ấn Độ, được bà Annie Besant nhận làm con nuôi và lập ra nguyên một cái Hội Sao Vàng để chờ ngài lớn lên làm giáo chủ cái hội đó. Vì người ta có đạo nhãn, người ta biết đứa trẻ này sau này trở thành
[1:13:04]một bậc đạo sư, một đấng giác ngộ, nên nuôi ngài từ nhỏ tới lớn. Lớn lên ngài tuyên bố giải thể cái cái tổ chức đó luôn. Ngài sống không tổ chức, không có một cái quy luật nào hết. Và ngài mấy chục năm trong cuộc đời, ngài cứ đem cái ánh sáng giác ngộ ngài giảng, giảng xắp khắp cả thế giới. Người ta rất là cung kính ngài. Mà có một điều trong tính chất của ngài thế này: luôn luôn ngài quan sát sự tiến bộ của khoa học, luôn luôn. Như là những cái phát minh mới ngài luôn luôn tham khảo, xem qua, đọc đến cho biết. Không bao giờ chủ quan là cái sự giác ngộ tâm linh đã là hơn hết, không có cái tự cao đó, không có cái tự mãn đó.
[1:13:45]Cho nên những nhà khoa học đến với ngài rất là thích. Bởi vì sao? Bởi vì ngài tôn trọng khoa học. Và họ cũng tôn trọng lại cái giá trị tâm linh mà ngài chứng đắc được, và ngài cũng tôn trọng họ vì cái giá trị khoa học của họ. Đó, cho nên giữa cái đạo học với cái khoa học không trái nhau, giữa cái tâm linh và cái sự tiến bộ của vật lý không trái nhau. Đó, cái xu hướng thời đại mới sau này sẽ là như vậy. Sau này chúng ta bước vào thế kỷ 21 rồi, cái sự thống lĩnh của khoa học nó càng lúc càng mạnh hơn nữa. Cho nên chúng ta là nhà đạo học, nhà tôn giáo không bao giờ được quên sự tiến bộ của khoa học, bởi vì đó là một sự thật, đó là chân lý.
[1:14:28]Đạo Phật đi tìm chân lý, khoa học cũng đi tìm chân lý. Nếu là chân lý thì phải gặp nhau, chỉ có một chứ không có khác. Còn nếu mà nói khoa học họ cũng tìm được chân lý, đạo Phật mình cũng là chân lý mà mình khác với họ thì một trong hai phải có cái sai, phải không? Mà coi chừng mình sai, tại khoa học nó chắc ăn lắm, chắc cú lắm, đâu đó chứng minh, tính toán không trật đường nào hết. Có những điều khoa học chưa chứng minh tới thôi nhưng họ không có phủ nhận. Ví dụ mình nói tới cái Niết bàn tuyệt đối, họ không phủ nhận, tại họ đâu có biết, chưa chứng minh tới họ làm thinh à. Rồi mình nói sức mạnh tâm linh,
[1:15:03]họ cũng không dám phủ nhận nữa, họ đang nghiên cứu thôi. Đó, nên cái giá trị của đạo Phật là gợi ý được cho họ. Tuy nhiên, những cái giá trị mà họ đã khám phá được, nó là một chân lý mà mình phải biết, không được bỏ qua, nếu mình tự nhận mình là con người cũng đi tìm chân lý như họ. Đó. Với một điều nữa, hồi nãy chúng ta đã nói là kinh dù không có Phật ấn chứng nhưng mà đúng, được mọi người công nhận vẫn gọi là kinh, xếp vào Tạng kinh. Cái chân lý có trước Phật và sau Phật, cái chân lý giữa tôn giáo, tương quan giữa tôn giáo và khoa học trong cái khái niệm chân lý. Bây giờ mình nói thêm cái chân lý giữa các tôn giáo nữa.
[1:15:47]Chúng ta vẫn tự mãn tự cho mình là theo được cái đạo hơn hết những đạo khác thì điều này cũng có thể là đúng. Chứ nếu mà mình nghi ngờ điều đó chắc mình bỏ đạo rồi phải không? Nên mình tin được đúng, đúng con đường của mình đi là chính xác, đem đến điều tối thượng vân vân. Tuy nhiên, chúng ta phải biết nhìn nhận những cái hay của các tôn giáo bạn. Có thể những điểm nào đó họ sai nhưng có những điểm họ đúng mình phải biết tôn trọng để không có cái sự kích bác lẫn nhau. Ví dụ như là một tôn giáo nào đó nói rằng Thượng đế tạo ra tất cả, mình nghe xong mình biết câu này sai. Nhưng không vì lý do đó mà mình công kích,
[1:16:30]chê bai họ toàn bộ, mà những cái giá trị khác mình phải công nhận. Như cái họ dạy về đạo đức, là ví dụ như Chúa Giê-su nói: "Khi con cho người ta bằng tay trái thì đừng cho tay phải nó biết". Nghĩa là gì? Nghĩa là ngài thấy trong cái thời đại đó đó, ai mà đem cúng được 1 đồng hay là cho 1 đồng phải la làng lên cho ai cũng biết: "À, tôi mới làm việc thiện được 1 đồng 2 đồng đó, tôi vừa mới cúng cái đền thờ đó là mấy đồng vàng á". La lên ai cũng biết. Chúa mới dặn là: "Nếu tay trái con cho tiền thì đừng cho tay phải biết". Nghĩa là phải tập kín. Kín không phải là đừng cho người khác biết mà ngay nơi chính mình,
[1:17:10]cái tay này với cái tay kia cũng đừng cho nó biết nữa. Nghĩa là tập kín lại, làm phước thì giấu lại. Thì những lời dạy đó có sai không? Có sai không? Quá hay chứ gì nữa, phải không? Thì như vậy những giá trị đó mình cũng phải chấp nhận, phải tôn trọng, đó. Nên đây chúng ta nói về khái niệm chân lý giữa tôn giáo, khoa học trước Phật, sau Phật và giữa các tôn giáo. Chúng ta có cái nhìn hài hòa khắp hết, tránh cái tâm trạng độc tôn, tự mãn chỉ biết có đạo Phật, đạo Phật. Là một điều sai lầm, mình sẽ trở thành cái độc tôn, tự mãn và lạc hậu, không hay. Bây giờ nãy mình nói về vấn đề dòng tộc, gia đình.
[1:17:48]Nó có một cái vấn đề gọi là kế thừa tài sản. Bây giờ tài sản là do đâu mà có? Tài sản do đâu mà có? Ví dụ như mình có cái đất, cái nhà thì do đâu mà có?
[1:18:07]Tức là do lao động, phải không? Tức do mình đã làm việc, mình đã làm việc, mình chắt mót, mình để dành tiền thì mình mới cất cái nhà, mình mua được miếng đất. Mua cái ti vi, mua chiếc xe hơi, ví dụ vậy, phải không? Tức là do cái lao động quá khứ mà nó thành được cái tài sản hiện tại. Đó, đó là điều không ai phủ nhận được. Không ai phủ nhận được. Cho nên, cái quyền tư hữu cái quyền sở hữu tài sản là cái quyền thiêng liêng của con người, vì sao? Vì chính họ đã bỏ lao động để họ tạo nên tài sản của họ. Đó là một điều hợp pháp, hợp lý, không ai phủ nhận, ừ. Nhưng rồi sao? Khi họ sắm được cái nhà, cái đất, họ chết thì cái nhà, cái đất đó của ai?
[1:18:53]Của ai?
[1:18:58]Không phải của chùa đâu nha. Mà được kế thừa bởi cái người vợ hay chồng họ hay là con cái họ, phải không? Tức là được cái người kế thừa, ai kế thừa thì luật pháp quy định rõ. Nhưng chúng ta sẽ thấy gì? Như vậy cái người kế thừa có phải là cái người mà bỏ công lao động tạo nên tài sản đó không? Không. Nên đây bắt đầu cái bất công nó xảy ra. Cái người đầu tiên đó lập nên tài sản, rõ ràng là do lao động của họ. Họ làm nên nên họ xứng đáng, họ làm chủ cái khu vườn đó, làm chủ căn nhà đó. Nhưng con họ đẻ ra không có biết gì hết. Không hề bỏ một chút sức lao động nhưng vẫn tiếp tục làm chủ cái ngôi vườn đó.
[1:19:38]Ngôi nhà đó. Đó. Nhưng mà điều này người ta phải công nhận thôi, là cha cho con chứ giờ đem cho ai giờ. Nên điều đó phải công nhận nhưng mà mình thấy mầm mống của sự bất công xảy ra. Là rõ ràng cái người mà được kế thừa không có lao động mà vẫn tiếp tục được hưởng. Ở đây mình nhìn theo cái nhân quả. Thì là tại vì cái người con đó đời trước đã tạo phước nhiều nên đời này sinh ra không làm mà vẫn được hưởng cái tài sản, đó là mình nhìn theo nhân quả. Tuy nhiên, cái sự truyền thừa cứ lâu dài lâu dài dần dần á nó bắt đầu gây nên bất công và bất mãn. Gây nên bất công và bất mãn là cái người sau này họ không có công
[1:20:20]cán nhiều mà họ làm chủ một gia tài lớn, họ lấy gia tài đó họ tiếp tục kinh doanh, họ phát triển thêm thành gia tài nữa. Rồi họ kiêu hãnh trong cái sự giàu sang đó tạo thành một cái dòng tộc, một cái dòng họ. Nó đâu có sự chênh lệch. Đó, bắt đầu gây thành cái bất công và bất mãn. Đây là cái điểm mâu thuẫn về cái việc sở hữu tài sản. Mà từ xưa đến bây giờ chưa ai giải quyết được. Phải công nhận cái tài sản của người đó vì công của họ. Nhưng mà kế thừa riết riết riết rồi, những đời sau không hề có công mà vẫn làm chủ tài sản nên dễ gây sự bất công. Đây là cái mâu thuẫn nha, về quyền tư hữu từ xưa đến giờ không giải quyết được.
[1:20:59]Chỉ có đạo Phật mình thì nhìn trên nhân quả thì phải chấp nhận nói rằng ờ tại người này nhiều đời trước đã làm phước nên đời này thôi họ tự nhiên được làm chủ một tài sản lớn. Tuy nhiên, cái bất công vẫn xảy ra ở chỗ này, ở cái chỗ là vì họ tự nhiên họ giàu cho nên họ không thông cảm được với người nghèo. Họ dễ có cái kiêu hãnh, cái đó làm cái tổn phước. Họ dễ có cái ăn hiếp người khác, gây nên cái bất mãn. Đó, đó là cái nguy hiểm về cái việc kế thừa tài sản. Mà hồi nãy chúng ta nói rằng mọi người đều bình đẳng trước nghiệp báo chứ không do dòng tộc. Nhưng mà trong vấn đề dòng tộc nó có cái gọi là kế thừa
[1:21:40]tài sản là một cái thực tế mà chúng ta phải nhận định. Nên sau này ví dụ như quý sư, quý cô đi giảng, người ta moi vấn đề này ra người ta hỏi mình. Mình phải có cái nhìn thật sâu sắc để trả lời. Còn mấy phút nữa, nói luôn về ý nghĩa bình đẳng trong đạo đức. Hồi nãy chúng ta nói là mọi người đều đồng đẳng trước gì? Trước nghiệp báo, trước luật pháp. Hả? Vân vân. Bây giờ cái ý nghĩa bình đẳng trong đạo đức là thế này: chúng ta hay lầm cái bình đẳng với cái san bằng quyền lợi nha. Nói rằng một xã hội bình đẳng mình nghe vậy mình hiểu là sao? Tức là san bằng hết. Lấy của người giàu cho người nghèo để ai cũng giàu
[1:22:21]giàu hay nghèo nghèo ngang ngang nhau hết. Không có cái người giàu, người nghèo sai biệt quá đáng. Chúng ta nào giờ hiểu như vậy. Cái đó là sai, chữ bình đẳng không phải như vậy. Đó là một cơ chế san bằng quyền lợi bất kể cái công nhiều hay ít của người ta. Cái người công ít mình cũng đem tiền mình cho bằng nhiều, còn cái người công nhiều cũng lấy bớt của người ta, cho bớt qua cái người bên kia. Nên cái cơ chế san bằng quyền lợi nó không hợp với nhân quả. Thôi mình bỏ qua vấn đề đó, mình chỉ định nghĩa cái bình đẳng là thế này: bình đẳng là một thái độ đạo đức. Nhớ, bình đẳng là một thái độ đạo đức, nghĩa là thế này:
[1:22:58]dù chúng ta là một vị tu sĩ ở chùa, cái người giàu họ đến với mình, họ mặc đồ sang trọng, xách cái túi nặng, đằng sau xách mấy bao gạo đi bằng xe hơi. Mình thấy mấy cái tờ giấy tiền ló ló ló ra rồi thì mình sao, đối với người đó mình sao? Mình ân cần, phải không? Họ cúng chùa mà. Đang ngồi nói chuyện với họ, một cái ông già rách rưới hay một cái bà rách rưới: "Thầy ơi có chuyện làm nhớ mướn con làm với". Đi ra chỗ khác, làm sao vậy? Chuyện. Chỗ thầy đang nói chuyện. Mình bị cái đó không? Rất dễ bị. Đó, là cái tâm mình á mình bị cái phước của người kia họ chiêu cảm. Nên cái sự chú ý của mình nó bị cuốn hút hết qua cái người có phước.
[1:23:42]Còn cái người mà thiếu phước quá cái mình lơ là với họ, họ không đủ cái phước để cuốn hút cái sự chú ý của mình. Thực ra mình cũng không cố ý đâu, mình cũng không cố ý là ân cần với người này và thờ ơ với người kia, mình không cố ý lắm. Nhưng mà tại vì cái phước của hai người nó khác nhau, nó hút mình. Cái người phước nhiều nó hút mình mất tiêu cái mình cứ chăm chăm vô đó ân cần, còn người phước quá ít cái họ hút mình không nổi cái mình lơ. Như vậy, cái tâm của mình là sao? Bị hút. Cái đạo lực mình chưa vững, bị cái phước của người ta cuốn hút. Đó. Cái bất bình đẳng trong thái độ đạo đức là cũng là do tâm mình đạo lực chưa đủ.
[1:24:23]Cho nên, trước cái sự sai biệt của hai cái loại phước đó, bên phước nhiều bên phước ít, tâm mình nó bị hút qua một bên liền. Mà tại sao tâm mình bị hút qua một bên? Bởi vì nó không vững. Nó không đứng được một chỗ. Mà tại sao nó không đứng được một chỗ để bị hút qua một bên? Bởi vì đạo lực nó chưa cứng. Đạo lực chưa cứng nghĩa là gì? Thiền định mình chưa sâu. Đó. Cho nên, cái người mà thiền định sâu, cái tâm cứng rồi đó, trước một người giàu đến, một người nghèo đến, mình không bị cái phước của người giàu hút mình. Giữ được tại chỗ mình, cái người nghèo đến mình vẫn đối đãi đàng hoàng. Người giàu đến mình vẫn đối xử tử tế,
[1:25:05]không có ai khác ai, là do cái tâm mình nó cứng. Do mình có đạo lực, không bị hút qua một bên. Như vậy người đó gọi là có bình đẳng. Người đó là có cái tâm bình đẳng. Và bình đẳng là một thái độ đạo đức trong giao tiếp. Dạ, chúng ta nói tiếp. Thôi bây giờ sắp hết giờ, thôi mình ghi câu hỏi làm bài: Giảng lại bài kinh này. Nói câu ngắn ngắn thôi, nói câu dài quá sợ làm không nổi. Madhura trong Trung bộ kinh, quyển hai, trang 390.
[1:26:08]Lời Phật như bóng mát che con nắng mùa hè. Lời Phật như chiếc nón che con khi trời mưa. Lời Phật như đóa hoa, cuộc đời vang tiếng ca.
[1:26:38]Lời Phật như áo ấm trong mùa đông giá lạnh. Lời Phật như ánh sáng trong đêm dài mênh mông. Lời Phật như bóng trăng dịu dàng soi thế gian.
[1:27:07]Xin cho con từ đây thâm tâm không đổi thay, luôn sống như Phật dạy, tinh tấn qua từng ngày.
[1:27:49]Lời Phật thêm sức sống cho con bớt yếu mềm. Lời Phật như tia nắng, tâm con là mùa xuân. Lời Phật như tiếng chuông quyện vào trong khói hương.
[1:28:18]Lời Phật như mái ấm cho con qua bão bùng. Lời Phật như suối mát cho con gội sạch trong. Lời Phật con khát khao, trầm hùng như núi cao.
[1:28:48]Lang thang đã từ lâu, vô minh con chìm sâu, nay hướng theo lời Phật giải thoát con tìm cầu.
[1:29:09]Như đi trong chiều sương xa xa nghe hồi chuông, ơn đức của Phật dày, con tắm trong tình thương.