Lời giảng: Nói Về 32 Tướng Đại Nhân Của Đức Phật

  • Thuyết giảng: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Thời lượng: 1:21:33

Toàn văn lời giảng, chép từ phụ đề. Bấm vào mốc thời gian để nghe đúng đoạn đó.

[0:09]Mời quý thầy, quý cô, quý Phật tử ngồi xuống nghe thầy nói về ý nghĩa Phật đản một chút. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:20]Hôm nay chúng ta tề tựu về đây để cùng đón mừng Phật đản năm 2000. Nhân lễ Phật đản này cũng có ý nghĩa đặc biệt,

[0:34]tuy chùa chật chội, điều kiện khó khăn nhưng mà chúng ta đã tưởng nhớ đến Phật mà chấp nhận mọi điều để cùng nhau về đây để tưởng nhớ và tôn kính lại Đức Phật với cái ngày mà Đức Phật đã đến với thế gian. Trong ngày Phật đản này thì thầy ừ cũng như mọi năm trước nói về ý nghĩa Phật đản, nhưng hôm nay thì thầy nói qua một chút về 32 tướng đại nhân của Phật. Thầy sẽ không nói hết mà chỉ điểm qua một ít điểm đặc biệt. Chúng ta còn nhớ là khi Đức Phật đản sinh thì nghe tin như vậy, nhiều vị Bà-la-môn ừ đã đến để xem tướng của vị thái tử.

[1:33]Thì trong đó có một vị tiên, vị tiên nhân tu tập ở trên núi cũng tìm đến để xem tướng cho thái tử, là vị tiên nhân tên là Asita tức là A-tư-đà. Thì những vị Bà-la-môn tế tự ở trong cung điện cũng như là tiên nhân A-tư-đà đều phát hiện ra rằng thái tử có 32 tướng đại nhân, nghĩa là tướng quý, và 80 vẻ đẹp. Tuy nhiên ở đây là một lời nói tổng quát vì có những tướng mà phải đến lớn thì mới phát triển trọn vẹn. Giống như là trong 80 vẻ đẹp thì có những vẻ đẹp mà đến lớn rồi chúng ta mới nhận ra, chứ còn lúc mới sinh thì khó có thể nhận biết hoàn toàn. Tuy nhiên nơi Đức Phật những cái tướng mạo đó cũng rất

[2:28]là là rõ rệt, nên khiến cho các vị Bà-la-môn tế tự đã nhanh chóng nhận thấy và đoán chắc rằng đây là một con người kiệt xuất, vĩ đại, siêu việt xuất hiện giữa thế gian này và các vị đó đã nói không sai. Thì ở đây chúng ta cũng được nghe rằng trong đạo Phật thường hay không có thích cái chuyện mà bói toán, à xem tướng, chấm số. Chúng ta cũng nghe như vậy. Nhưng mà rõ ràng là trong kinh Đức Phật cũng đã nói nhiều tới 32 tướng đại nhân của Phật. Như vậy, tuy rằng đạo Phật không có chú trọng việc bói toán, nhưng mà cái tướng mạo hoặc là mình nói những ngày sinh của tử vi nó cũng nằm trong cái chuỗi biểu hiện của nhân quả,

[3:21]nên tướng mạo thực sự là một biểu hiện của nhân quả. Chúng ta gieo nhân thì chúng ta sẽ gặt quả, nhưng mà trên con đường từ nhân đến quả đó thì nhân quả nó đã biểu lộ qua nhiều cái ngõ, nhiều cái cánh cửa. Trong các cái dấu hiệu mà để biểu lộ nhân quả đó có một cái dấu hiệu là tướng mạo. Tướng mạo báo cho chúng ta cái nhân mà cũng báo cho chúng ta cái quả. Đây là cái kinh nghiệm tích lũy nhiều đời của những người có trực giác hoặc là họ do cái tích lũy nhiều cái việc mà quan sát con người. Mà cũng có một trường hợp là do trực giác, là ví dụ như khi tâm chúng ta chưa có trực giác, chưa có thanh tịnh thì chúng ta nhìn người này người kia

[4:12]thấy ai cũng như ai, là chỉ biết người đẹp, kẻ xấu tổng quát. Nhưng một khi mà tâm chúng ta thanh tịnh, trực giác nó phát triển thì tự nhiên chúng ta nhìn nơi con người, từng cái lông mày, từng cái mũi, chợt chúng ta đọc ra được những điều đó nói lên chuyện gì, chứ không phải là chỉ là cái gương mặt suông. Nên ở đây, những cái nét trên con người chúng ta, mà cụ thể là trên gương mặt, nó giống như một cái cuốn sách nói về cuộc đời của chúng ta mà nào giờ chúng ta giống như mù chữ, không biết đọc. Còn đến khi mình mở được con mắt tuệ thì nhìn vào tự nhiên hiểu được. Ví dụ như nhìn vào cái tướng tai mà dày thì cái người mà có kinh nghiệm họ biết:

[4:59]à, người này trong đời trước đã từng bố thí và đời này chắc chắn phải giàu sang. Hoặc là nhìn thấy người có làn da mịn sáng thì họ biết chắc chắn cuộc đời người này phải ở trong cái hoàn cảnh sang quý. Là vì cái tâm rất là tốt đẹp ở những đời trước là thường cởi mở, biết tôn trọng con người, tôn trọng hiền thánh, cho nên đời đời phải được ở trong cái hoàn cảnh sang quý. Hoặc là nhìn một người cái trán hẹp, tự nhiên họ biết rằng cái thuở nhỏ là bị khổ sở. Đó, nên cái mỗi cái dấu hiệu nơi con người chúng ta nó đều biểu lộ của những cái việc làm, những cái tâm niệm trong quá khứ và nó cũng báo luôn cái quả của vị lai là như vậy.

[5:50]Cũng giống như nhiều cái khoa thuật khác, tử vi cũng vậy. Khi một người họ chấm được cái ngày giờ sinh, họ nói ra được rất nhiều điều trong cái kiếp của con người thì điều này coi vậy chứ không phải là mê tín hoàn toàn, mà nó nằm trong cái mắt xích của nhân quả. Chỉ có điều là cái nhân quả mới là gốc, còn những cái việc đó chỉ là biểu hiện và có thể bị tác động để thay đổi nếu chúng ta biết gieo nhân. Ở đây, tướng mạo cũng biểu lộ cái tâm lý, cái nhân cách. Là vì sao? Vì nói nhân tới quả thì nó phải đi suốt từ tâm niệm ra tới hành động rồi mới tới cái quả báo. Cho nên trước khi mà chúng ta đọc được cái quả báo của người đó

[6:38]thì nó đã biểu lộ cái tâm niệm, cái nhân cách, cái tâm lý của người đó rồi. Ví dụ như một người mà mắt quá nhỏ so với gương mặt thì thì điều này nó cũng biểu lộ rằng thì người này có thể có cái khôn ngoan, tinh tế, nhưng dễ là một người hẹp hòi mà cũng dễ là một người hiểm độc nếu mà không có chịu tu tập để chuyển hóa. Đây là một cái cái răn nhắc, nó biểu lộ. Hoặc là một người mà bị mắt lộ thì cái tướng mạo cũng nói lên rằng là do tâm mong cầu ở đời trước mạnh quá. Cho nên nếu đời này mà không biết Phật pháp, không tu tập thì nó sẽ dễ trở thành cái tham vọng, tham lam. Đó cũng là những cái những cái mà biểu lộ của tâm lý, của nhân cách.

[7:32]Hoặc một người miệng rộng. Người miệng rộng thì nhìn vào chúng ta cũng thấy được là thường cái tâm người này cũng là rộng rãi, tâm rộng rãi. Nếu mà thêm cái miệng vừa rộng vừa đẹp thì rất là sang là giàu, thường nói những lời tốt và tâm hồn rộng rãi. Dĩ nhiên, cái quả báo cũng sẽ là sự giàu sang. Rồi cái dấu hiệu quan trọng của tướng mạo nữa là ánh mắt. Cái ánh mắt á rất là khó đọc, nhưng mà trong ánh mắt nói hết đầy đủ về nhân cách và số phận của con người đó, nhưng mà hơi khó đọc. Chúng ta phải rất là tinh tế thì chúng ta nhìn nơi ánh mắt con người, chúng ta mới thấy được hết cái tâm niệm của người

[8:15]đó, cũng như sẽ thấy được cuộc đời của người đó. Nhưng mà cái ánh mắt thì không diễn tả được bằng lời nói, mà chỉ bằng cảm nhận của tâm mà thôi. Nên có cảm nhận được rồi chúng ta cũng khó bày tỏ cho người khác. Đó là cái cái tướng mạo. Thì chúng ta sẽ nói qua vài cái tướng tốt của Phật. Trong 32 tướng thì nhiều, ở đây chúng ta điểm qua một ít. Ví dụ như là Đức Phật có một cái tướng quý là lòng bàn chân rất là đầy. Lòng bàn chân rất là đầy thì ở đây nếu mà nói theo tướng số là người giàu có, sung mãn, còn nói theo tâm lý, đạo đức là người không còn ham muốn những điều trên thế gian nữa. Thì nhìn vào Đức Phật thì chúng ta thấy điều này cũng đúng. Đó.

[9:04]Và bây giờ chúng ta có thể nhìn lại bàn chân mình mà để đánh giá, nói một lát nhìn.

[9:12]Là thường bàn chân chúng ta khó đầy cho nên chúng ta không có hoàn toàn được mọi điều như ý, mà nhiều khi chúng ta vẫn còn có những cái ham muốn thầm kín nào đó chưa thể buông xả được là như vậy. Đặc biệt, nơi lòng bàn chân của Đức Phật có cái hình bánh xe tròn đều mà có ngàn cái căm xe nằm nơi lòng như cái bánh xe. Thì ở đây cái dấu hiệu này được nói là đó là dấu hiệu của một vị mà chuyển được pháp luân để lại một giáo pháp bất diệt cho nhân loại, thì ở điều này chúng ta thấy cũng đúng. Nên thường làm trong truyện về Đức Phật có những lần Đức Phật ngài đi, đi trên đất mềm ngài để lại dấu chân

[9:58]thì những vị Bà-la-môn mà biết được tướng số đến nhìn thấy dấu chân Đức Phật thì ngạc nhiên rồi kính phục vì thấy là dấu chân in trên đất mềm nó đầy nó không có lõm và để lại cái dấu bánh xe trên đó, bánh xe có ngàn cái căm xe như vậy. Nên họ biết đây là một bậc thánh nhân siêu phàm của nhân loại, ha. Đức Phật có một cái tướng quý nữa là khi đứng thẳng thì hai bàn tay dài tới đầu gối. Tướng này thì không phải một mình Đức Phật có, mà trong nhân loại lác đác cũng có, như Tổng thống Lincoln của Mỹ cũng có cái tướng này. Vua như vua vua Hán Cao Tổ hình như cũng có tướng này. Nghĩa là tướng của những người lãnh tụ.

[10:46]Vì cái tướng này mà nhiều vị đã nói rằng Đức Phật nếu ở thế gian sẽ là một vị Chuyển Luân Thánh Vương là cai trị gần như cả trái đất này. Nhưng mà sự thật là chúng ta thấy là ngày hôm nay Đức Phật đã cai trị trong tâm hồn của chúng ta, cai trị trong tâm hồn của rất nhiều người trên thế giới, ha. Là vì hai cánh tay dài tới đầu gối này. Đức Phật có một cái tướng quý nữa là màu da nó như đồng mà như vàng, nó sáng óng ánh óng ánh. Đây là điều cũng khá lạ. Là thường thường trên thế giới thì chúng ta thấy có nhiều cái sắc dân có màu da. Ví dụ như người Á Châu mình gọi là da vàng, người Âu Châu thì da trắng, Châu Phi thì da đen.

[11:32]Một số bộ tộc ở Châu Mỹ thì da đỏ thì chúng ta không có da xanh. Nên một số vị tu theo ngũ hành của Trung Hoa họ tin rằng vào thời xưa tồn tại một giống giống người da xanh thì đó là chỉ là niềm tin, chúng ta không biết. Nhưng riêng Đức Phật thì ngài sinh ở Ấn Độ nhưng mà ngài thuộc về dòng dòng dõi da trắng, tức là những người Aryan ở Châu Âu thiên di, di cư về đó sống nên ngài có làn da trắng. Tuy nhiên, cái làn da trắng của ngài nó ửng thành cái sắc như màu màu của vàng, vàng y. Nên nhìn thì không phải giống như tượng đồng, vẫn biết đó là con người sống nhưng vẫn thấy cái làn da nó óng ánh óng ánh nó sáng.

[12:17]Thì thì khi mà ánh mặt trời mà nhiều khi chiếu vào thân của ngài, cái nó phản chiếu ánh sáng lại ra cái người chung quanh nhìn giống như là hào quang hay giống như tấm gương. Mà đó là mình nhìn bằng con mắt phàm. Nếu mà mình nhìn bằng con mắt tâm linh thì thấy từ nơi Đức Phật tỏa ra hào quang. Mà những vị chư thiên ở tầng trời cao hơn thì lại luôn luôn nhìn thấy Đức Phật có hào quang sáng hơn mình. Bình thường á thì chư thiên tử hào quang rất là sáng. Nếu mà chúng ta nhìn bằng con mắt của mình á, mình thấy con người của mình không thể nào có ánh sáng bằng chư thiên được. Mà các tầng trời cao hơn thì ánh sáng hào quang lại càng cao hơn.

[13:00]Nhưng mà lạ một điều là ở bất cứ cõi nào, họ nhìn Đức Phật đều thấy Đức Phật phát ra hào quang sáng hơn họ. Mình là loài người thì mình chỉ nhìn thấy Đức Phật có màu da hoàng kim óng ánh óng ánh cũng là hơn mình. Nhưng mà chư thiên tử hào quang chiếu xa thì cũng thấy hào quang nơi thân Đức Phật chiếu xa còn hơn họ, đó là cái nghiệp cảm của chúng sinh mà là công đức của Đức Phật á là phủ trùm cả chúng sinh cả cả cả ba cõi như vậy. Một quý tướng của Phật nữa là da của Phật láng, bụi không có dính. Đây là cái tướng rất đặc biệt, dường như trên thế giới có một không hai. Nếu mà chúng ta có xem cái bộ phim Hoàn Châu Công Chúa

[13:45]ở trên truyền hình á, thầy không có xem đâu nha, đừng có dòm. Có đọc báo thôi. Thì trong đó có một cái người là Hương Phi mà vua Càng Long rước về từ Tây Tạng thì cái người cung phi này có cái đặc biệt là người luôn luôn bốc ra mùi hương thơm. Bốc ra mùi hương thơm là một quý tướng đặc biệt. Cho nên ở đâu cũng chỉ làm phi làm hậu thôi, ở trong triều đình. Đó là quý tướng cực kỳ đặc biệt. Thì người thế gian chúng ta đây cũng vậy. Thì cái người nào mà thân thể mình tự nó thơm thơm thơm thơm thì người đó cuộc sống rất là sung sướng. Còn nếu ngược lại thì thôi mình ráng làm phước đi. Cũng có đó, cũng có ngược lại, có ngược lại.

[14:30]Thì ở đây Đức Phật có cái tướng đặc biệt là da ngài thế nào đó mà bụi không dính, nghĩa là không cần tắm cũng vẫn sạch sẽ. Vì lý do đó, thời Đức Phật ngài rất ít tắm. Nói đừng cười mà là sự thật á. Vào cái thời đó ngài nhiều khi cả nửa tháng ngài mới tắm một lần, vì ngài không hôi, không dơ, thân thể luôn luôn sạch sẽ, bụi không bám vào. Đây là cái công đức phi thường của một cái vị mà xuất hiện để làm làm Phật, làm Thế Tôn. Còn chúng ta không được như vậy nên chúng ta đừng có bắt chước điều này nha. Đó cũng là cái dấu hiệu, cái tướng của một cái tâm vô nhiễm từ nhiều kiếp, một con người sinh ra

[15:12]vượt khỏi thế gian, bụi trần không dính được thì biểu lộ ra nơi cái tướng da là bụi đời không dính được. Đây là điều rất đặc biệt. Một cái tướng quý của Phật nữa là ngài có 40 cái răng đều và đẹp. Răng của ngài nó như ngọc vậy đó, nó cứng, chắc, sáng như ngọc. Trong cuộc sống này, thỉnh thoảng chúng ta cũng gặp được có những người có răng tốt, rất là sáng mà chắc bóng cũng giống như ngọc thì những người đó chúng ta thấy cuộc đời họ chắc chắn có cái gì đó sung sướng, may mắn. Nghĩa là bình thường răng trắng đã là tốt rồi, mà những người mà tướng quý, cái trắng của họ hơi trong trong như ngọc. Đó, những người đó thì cuộc đời cũng có cái đặc biệt, quý.

[15:53]Ở đây, 40 cái răng của Đức Phật đều và đẹp mà trong đó ghi rõ những cái răng cửa thì nó như ngọc, trong, sáng óng ánh. Ở đây là tượng trưng rằng trong nhiều kiếp Đức Phật luôn luôn nói những lời chân thật, không có gian dối, chắc chắn là vậy. Ngài cũng có cái tướng quý nữa, đây là điều trong thế giới mình không ghi nhận được, cái tướng lưỡi của ngài. Khi ngài lè lưỡi ra ngài có thể liếm qua bên tai bên đây, bên tai bên phải, liếm qua bên tai bên trái, liếm lên che hết trán của ngài. Tướng lưỡi rất là lạ. Ở đây trong kinh nói rằng người mà có tướng lưỡi như vậy là người nói lên được cái đạo lý cao cả phủ trùm mười phương ba đời,

[16:39]tức là nói được cái đạo lý của ba đời chư Phật đều nói, đó là Tứ Diệu Đế. Chúng ta ngày hôm nay mình nghe lại Tứ Diệu Đế mình thấy thường, Khổ Tập Diệt Đạo nghe nói hoài nói riết, sách nào cũng nói, kinh nào cũng nói. Nhưng mà từ cái thuở ban đầu chưa ai nói mà một người đắc đạo để nhìn thấy được điều đó thật là một cái phi thường. Ngày hôm nay chúng ta nghe nói rất nhiều nhưng mà thầy xin thưa là chúng ta chưa bao giờ hiểu hết hoàn toàn Tứ Diệu Đế, chúng ta chỉ nghe trên danh từ, hiểu cạn cợt chứ không bao giờ hiểu hết thật sự, đó vậy. Ngài có cái tướng rất đặc biệt là tướng lông trắng xoáy mịn giữa hai chân

[17:20]mày mà bây giờ chúng ta hay hay đính một viên ngọc để làm biểu tượng. Đó là cái lông, cái lông tơ, một chùm lông mà nó mềm như bông vậy, nó xoắn lại để giữa lông mày. Thì cái đó là tượng trưng cho trí tuệ siêu việt. Mà quả thật như vậy, là cái trí tuệ của một vị Phật thật là thật là muôn đời chúng ta không thể so sánh được. Cứ mỗi ngày một tu, một học cho sâu sắc thì chúng ta càng thấy cái sâu xa trong từng lời dạy đơn sơ của Phật, những lời dạy đơn sơ từ 2500 năm trước mà chúng ta hiểu hoài hiểu không hết nổi, đó. Những cái tướng của Phật như vậy là sự thành tựu của vô số kiếp tích lũy công đức, chứ nó không phải là một cái vội vã trong một hai kiếp mà có được.

[18:12]Chúng ta nhớ cái gì thì gian dối được, chứ cái tướng mạo không gian dối được, nó là quá trình tích lũy. Bây giờ đi, ờ chúng ta cũng vậy, ví dụ như người mà muốn đẹp mình tìm cách mình sửa tướng cho đẹp thì sửa chỗ này nó xấu qua chỗ khác. Nó phá chỗ khác, tại luôn luôn để nhìn vào nó luôn đúng nhân đúng quả của mình. Ví dụ bây giờ mình muốn mình muốn cho mình mình giàu, mình nghe nói tai dày thì giàu, cái mình cắt thịt ở dưới bắp đùi mình mình xin lọng mình đắp vào trong cái tai cho nó dày để được giàu. Thì đúng là cái tai nó đeo một cục nó dày dày đó nhưng mà nhưng mà không ngờ là mình khoét ở một cái chỗ khác

[18:56]nơi cái đùi của mình nhằm cái chỗ đó là cái điểm quan trọng của tướng số mà khoét chỗ đó thì nghèo suốt đời, cho nên nghèo lại. Nghĩa là sửa chỗ này nó mất chỗ kia, luôn luôn nó đúng lại với nhân quả của mình chứ không thể làm khác được. Cái tướng chúng ta vậy. Ở đây chúng ta chỉ có tạo công đức thì thì tướng thay đổi. Đây nó rõ lắm, rất là rõ. Có những người vậy đến chùa chúng tôi, ừ lúc mà mới đến chùa đó thì thì thầy nhìn người đó thấy cũng thảm sầu lắm, nhưng mà trong bụng không có nói, nói ra sợ người ta sẽ giận, cho nên biết để trong bụng. Nhưng mà không ngờ là cái người này lại có thiện căn tu tập.

[19:39]Đến chùa rồi siêng năng hiểu giáo lý rồi tu tập rồi làm phước, ba bốn tháng sau gặp lại cái đổi. Thầy ngạc nhiên liền, thấy nói quả thực đúng là cái nhân quả thật là là cao siêu, chuyển được con người. Cho nên mà chúng ta muốn đẹp vậy rồi chúng ta cứ tu tập tạo công đức, gương mặt mình dần dần khả ái, dần dần đẹp lên. Đó là điều rất là xác thực, không khác được. Như hôm trước vậy, có hai vợ chồng cũng người Phật tử cũng rất là trí thức ở bên Canada về thì người vợ mới kể rằng là ngày xưa bà bị bị bệnh một cái dây thần kinh số 7 gì đó, thế là gương mặt bà bị méo một bên. Méo hẳn, miệng méo một bên, mặt dồn qua một bên.

[20:24]Thì người nữ thường là quan trọng với cái sắc đẹp, nói điều này không biết có đúng không ta? Có đúng tim đen ai không? Thường thường người nữ mình hay quan tâm tới sắc đẹp, có đúng không, nói thiệt á? Cho nên người phụ nữ mà tự nhiên bị mặt méo dồn một bên thì thật là đau khổ. Thì bà mới đi khám bác sĩ, mà ở bên Canada thì cái kỹ thuật họ cũng tiên tiến, bác sĩ trả lời rằng không thể chữa, bệnh này không thể chữa. Thì bà chỉ về bà lặng lẽ lạy Phật thôi. Cứ lạy Phật sám hối riết, lạy riết, lạy riết và làm phước. Đợt này hai ông bà về cũng vậy, đem tiền về bố thí cho người nghèo nhiều lắm. Nhưng mà thời gian bà lạy Phật tự nhiên mặt trả lại bình thường luôn.

[21:09]Không còn dấu vết gì của gương mặt méo nữa. Đến gặp bác sĩ ổng không biết tại sao. Mà tất cả những bạn đạo của của ông bà bên đó cũng ngạc nhiên luôn và mới tin rằng cái sự vi diệu của Phật pháp, của nhân quả như vậy, lạy Phật công đức thật là vô lượng. Thì hôm hai ông bà về vậy, thầy nhìn thấy không thể nhận ra được là người đã đã mắc bệnh, hoàn toàn bình phục mà coi chừng đẹp hơn hồi xưa nữa. Cho nên ở đây mà nếu ai có quan tâm sắc đẹp của mình mà có dự định đi thẩm mỹ viện thì hãy để số tiền đó làm phước, rồi ở nhà siêng lạy Phật thì sẽ đẹp hơn là mình đi thẩm mỹ viện. Còn ai mà mở thẩm mỹ viện thì cũng xin đừng có buồn thầy.

[21:55]Có một điều nữa là khi mà chúng ta tu tâm từ bi á thì gương mặt của mình khả ái dần dần. Đây là điều rõ lắm, nên ở đây thầy không có cần biết, không có cần có thần thông, mà chỉ nhìn gương mặt một người mình thấy khả ái hay không là biết người này có thương người hay không. Rõ lắm, nên không cần, không cần có thần thông, không cần có tha tâm thông. Nên cứ nhìn một người mà thấy gương mặt họ khó ưa, xấu nặng nề là biết trong tâm còn ghét người này ghét người kia. Biết chắc chắc chắn không trật đường nào hết, và quả nhiên qua một thời gian là lộ ra liền, trong cư xử của họ nó lộ chuyện này lộ chuyện kia làm phiền mọi người.

[22:40]Còn khi mình nhìn một người, mình nhìn thấy gương mặt khả ái, mình biết người này hay thương người, thương chúng sinh, có. Thì để ý sống thời gian cũng đúng như vậy, thường họ đối xử với mọi người tử tế. Cho nên hồi Đức Phật cũng vậy, ngài khi bà hoàng hậu Mallikā hỏi Đức Phật cái nhân quả của việc đẹp xấu, thì Đức Phật nói về đạo đức. Cái người mà tu tập từ bi thì gương mặt sẽ đẹp. Cho nên ở đây vậy, là chúng ta không cần muốn mình đẹp, mà chỉ cần mỗi ngày lạy Phật, rải lòng thương yêu chúng sinh, rồi trong đời sống chúng ta chạm mắt nhìn mọi người đều khởi lòng thương yêu tôn trọng mọi người, thì một thời gian mình sẽ thấy,

[23:21]thì mình sẽ thấy là mắt một mí thành hai mí, mũi xẹp thành mũi cao lần lần vậy, nó đẹp từ từ, đẹp từ từ ra, tự nhiên vậy. Còn cái mà sửa tướng cho đẹp á thì nếu bây giờ nó không xấu thì về sau sẽ xấu. Thầy có nghe chuyện một người một người đẹp cũng có tiếng thì bà bà thích sửa sắc đẹp, mà sửa mũi sửa má cho đẹp, thì vào cái thời bà còn trẻ thì bà khá nổi tiếng. Cái đẹp bẩm sinh đã có rồi mà còn đẹp thêm bằng cái sửa nữa, nhưng về già bắt đầu nó bù ngược lại, bù ngược lại. Tức là những chỗ bà đã sửa, bây giờ nó thành sưng, thành ung, thành lở, thành loét. Thì nhìn gương mặt là khủng khiếp, không dám đi ra ngoài nữa.

[24:10]Là cái cái cái tiếng tăm người đẹp thời xưa là đành chôn vùi luôn vào quá khứ luôn, không không dám đi ra ngoài nữa. Nên ở đây nó bù, ví dụ như cái phước đời trước quy định cho kiếp này mình đẹp năm, nhưng mình muốn đẹp bảy thì tới già cái còn lại ba, để nó bù lại cho vừa chia cộng chia lại cũng vừa bằng năm. Cho nên cái mà chúng ta muốn đẹp á bằng cái cách sửa là một sai lầm, mà chỉ bằng cách tu thôi. Đó. Bằng cách tu. Còn ví dụ có những người thường hay nghe nói là cúng hoa cho Phật, cho Thánh thì được đẹp, thì đây là đúng lắm. Chúng ta ví dụ đem hoa cúng Phật hay dâng lên những tượng đài của các vĩ nhân,

[24:51]thánh nhân thì chúng ta cũng được cái quả báo là đẹp, cũng là cái phước. Nhưng mà nếu cái đó không phải vì lòng tôn kính mà chỉ vì cái tâm cầu cho đẹp thì đời sau chúng ta sẽ đẹp mà tâm mình không có tốt. Do đó, điều mà chân chính nhất là chúng ta đem hoa, chưng hoa cúng Phật chỉ hoàn toàn bởi lòng tôn kính Phật mà thôi, thì đời sau chúng ta vừa đẹp mà tâm thì tốt. Nhưng mà khổ nỗi là ai cũng hiểu cúng hoa cho Phật được đẹp, cho nên lúc mà ngồi cắm hoa vậy thì dám cá, dám cá người nào cũng nghĩ trong tâm cắm hoa Phật để mai mốt đẹp. Không biết có không ta? Có đúng tim đen ai không? Ở đây chúng ta thấy là cái tâm, cái phước là gốc, cái hình tướng chỉ là biểu hiện.

[25:46]Chúng ta giữ cái gốc tâm, chúng ta ráng tạo cái công đức thì thì tự nhiên là cái hình thức chúng ta sẽ đi theo như vậy, phải không? Rồi bây giờ khi mà chúng ta hiểu qua được cái cái liên quan giữa tướng mạo và nhân quả như vậy, thì khi chúng ta nhìn một người, chúng ta biết ưu điểm và nhược điểm của người đó. Nghĩa là nhìn một người chúng ta biết người này nghèo khổ hay là trong tâm còn hẹp hòi ích kỷ, biết, nhưng mà phải biết trong độ lượng, trong thương yêu. Có nhiều người hỏi nói: "Thưa thầy, tại sao ông trời không cho mình biết được những kiếp quá khứ để mình biết trong kiếp xưa mình làm điều

[26:28]tội lỗi gì nhờ vậy mình giữ được cái đạo đức của kiếp này?" Nhiều người vì không biết được cái luân hồi, nhân quả nên đã không có tu dưỡng được đạo đức. Thì thầy mới trả lời rằng: "Cái người mà được quyền biết mọi điều trong vũ trụ thì phải là người có cái tâm từ bi lớn. Nghĩa là mình có tâm từ bi đó thì cái nhân quả, trời phật tự nhiên cho mình biết được nhiều điều trong cuộc đời này. Còn tâm từ bi mình chưa đủ mà mình biết nhiều chuyện quá, mình sẽ đọa vì cái biết của mình. Mình sẽ đọa." Đó, đó là cái như vậy. Ví dụ như khi chúng ta nhìn một người, chúng ta thấy người này xấu, tâm không tốt, gian xảo, bậy bạ, nhân cách sa đọa, biết.

[27:22]Biết mà tâm mình không từ bi thì mình sẽ ghét người ta, khinh bỉ người ta. Rồi sao? Cái nhân quả chuyện gì xảy ra? Mình mắc quả báo giống y như vậy. Còn khi mà lòng mình đã đủ từ bi rồi á, mình nhìn một người, nhìn tướng họ hay nhìn tâm họ, mình biết họ xấu, không tốt, sa đọa, gian dối, nhưng mà biết trong lòng thương yêu thì mình không có lỗi. Cho nên, ở đây mình nói câu này, từ bi là nhân mà trí tuệ là quả là như vậy. Mà mình nếu mà nói cho dễ hiểu, là chỉ khi nào mình có lòng thương yêu chúng sinh, thì trời Phật mới cho mình biết nhiều chuyện trong cuộc đời này. Trời Phật mới cho mình biết mọi điều của chúng sinh, của luân hồi.

[28:12]Ha, cho nên ở đây chúng ta phải thấy như vậy là mình cứ giữ tâm từ bi thương yêu mọi người. Thứ nhất, tướng mình sẽ tốt lên. Thứ hai, tự nhiên trí tuệ sẽ tăng trưởng để mình biết được điều này, điều nọ. Rồi, bây giờ chúng ta nhìn lại, chúng ta thấy cái giá trị của Đức Phật là cả một quá trình tích lũy trong vô lượng kiếp. Nghĩa là Ngài là một người tốt, có thiện căn sâu dày. Trong nhiều kiếp xưa kiếp xưa nào đó, Ngài đã từng gặp những vị Phật, những vị Thánh mà Ngài hết lòng tôn kính. Cho nên nó thành một cái nhân rớt trong tâm Ngài, rồi thế là Ngài cứ đi trong luân hồi sinh tử, vừa tu tập vừa làm lợi ích chúng sinh,

[28:58]cứ đi mãi, công đức tăng dần, tăng dần cho đến vô lượng vô lượng. Nên để thành một vị Phật, một vị thầy của trời người, cái công đức đó tích lũy không phải dễ, không phải ngắn. Hiểu được điều này thì chúng ta mới thấy là chúng ta đừng bao giờ mong đợi một kết quả vội vã. Có nhiều người đến với đạo Phật, nói ráng tu trong một đời này để được đắc đạo, trong một đời này để được giải thoát, thì thứ nhất cái tâm của người này là vội vã, nông nổi và, và sao, ăn gian. Ăn gian ở chỗ là vô lượng kiếp mình tạo tội, mà bây giờ chỉ đòi một kiếp trả hết tất cả những tội lỗi đó để thành Phật. Nên vậy, và cũng nói lên nữa là người này tâm bị hẹp hòi, chưa mở ra vô tận.

[29:47]Vì tâm mở ra vô tận là một người không còn bị ngăn ngại bởi thời gian nữa, không còn quy định thời gian nào mình sẽ đắc đạo nữa, mà chấp nhận đi mãi trong vô lượng kiếp, miễn mình đúng. Nên có nhiều người vậy, khi hiểu đạo, thực hành sơ sơ thấy có kết quả, phát nguyện nhập thất, quyết định thề nhập thất ba năm cho đắc đạo, thì đó cũng là một cái ăn gian. Biết mình cái nghiệp bao nhiêu mà đòi ba năm đắc đạo? Hoặc là người một đời đắc đạo là không phải. Chúng ta phải nhìn vào Đức Phật để chúng ta thấy đó là cái giá trị của Ngài là sự tích lũy của vô lượng kiếp. Cho nên vô lượng kiếp về sau, chúng ta mãi mãi ca ngợi,

[30:29]tán thán, tôn kính Ngài vẫn không bao giờ mà đủ được, xứng đáng được. Còn nếu chúng ta tích lũy một giá trị ít ỏi, ngắn ngủi trong vài năm, vài tháng, vài đời, thì cũng vậy, sau này người khác học theo hay tôn kính, ca ngợi chúng ta nó cũng chỉ có giới hạn trong vài năm, vài tháng, vài đời gì đó rồi cũng sẽ hết. Nên cái gì vô tận thì cái quả của nó là vô tận. Hiểu như vậy thì chúng ta tinh tấn nhưng mà không nôn nóng. Rất tinh tấn, nhưng rất trầm tĩnh. Và hiểu như vậy thì chúng ta thấy rằng là chúng ta luôn luôn hoàn thiện cái nhân cách của mình để chuẩn bị cho cái việc giáo hóa mọi người. Muốn giáo hóa mọi người phải hoàn thiện cái nhân cách của mình.

[31:18]Đó là cái vừa tâm, chúng ta sẽ được cái tâm, chúng ta được cái tướng. Khi chúng ta hoàn thiện cái nhân cách của mình thì vừa được tâm, vừa được tướng. Thì khi vừa có tâm, vừa có tướng thì chúng ta sẽ làm được lợi ích cho chúng sinh. Hôm nay ngày Phật Đản thì chúng ta nhắc sơ về một vài cái quý tướng của Phật để chúng ta hiểu được cái quá trình nhân quả sâu xa, mà hiểu được cái bổn phận của mình, cái thái độ của mình trong việc tu tập là giữ cái gốc tâm, biết tạo phước, giữ cái lòng thương yêu con người, chứ không có chạy theo cái hình thức nhiều là như vậy. Thì bây giờ đến lúc làm cái lễ dâng hoa,

[31:56]thì thầy mời mọi người đứng lên, chia ra để chừa cái lối nhỏ ở giữa. Chúng ta sẽ lên từng bốn người, cư sĩ thì lên năm người, sẽ nhận hoa, đặt lên trên tượng Phật, lạy một lạy rồi lui ra, lui bằng cửa hai bên. Để trống hai cửa không? Dạ có. Chúng ta sẽ đi lên bằng cửa chính và đi ra bằng hai cửa bên, vậy

[32:31]ha.

[32:37]Mở máy.

[32:44]Bác Tư

[33:00]mở máy. Mấy thầy trước đi.

[33:39]Mấy thầy của

[33:56]chùa

[34:01]trước.

[34:24]Lạy một lạy.

[34:47]Hồi nãy mới tụng kinh rồi nên thôi bây giờ thầy nói chuyện khỏi niệm Phật, ha. Thật ra, thầy cũng không ngờ là quý Phật tử quá nhiệt tình mà lên đông như vậy. Chứ thường thì lễ Phật Đản chùa nào cũng có tổ chức á, nên với lại ngày mai mới là lễ chánh, hôm nay chưa phải là lễ chính mà không ngờ là quý Phật tử lên đông.

[35:18]Nên chùa cũng hơi lúng túng về về về lo liệu đời sống, nên đêm nay sẽ là một đêm khó khăn. Thì thầy mong mọi người thôi đã vì đạo mà lặn lội mưa gió, đường xa, núi cao lên đây thì ráng chịu cực thêm một đêm. Đêm nay thì thấy đêm khó ngủ chứ không phải đêm không ngủ, mà coi bộ cũng cúng dường muỗi hơi hơi bộn đêm nay. Mình sẽ biết mùi muỗi rừng. Mà đêm hôm thì nhớ đừng đi lang thang ra ngoài xa xa trong lùm cây nha. Nếu đi xa phải có đèn pin, vì rắn rết này nọ không có lường được. Nhớ niệm Phật. Hôm nay là đêm trước Phật Đản thì thầy có một đề tài nói chuyện một chút, còn lễ Phật Đản chính thì ngày mai thầy sẽ giảng sau.

[36:09]Hôm nay thầy nói là giá trị của sự cưỡng bách trong giáo dục. Đề tài này thầy có nói lác đác lác đác trong cái đề tài mà dạy con, hoặc là trong đề tài giáo dục có nói rồi. Hôm nay thầy nói thêm vài điểm. Cái giá trị của sự cưỡng bách trong giáo dục như thế nào? Tại vì thời xưa đó, thường thường là chúng ta thấy cái sự giáo dục hay khởi đầu bằng cái sự bắt buộc, cưỡng bách, nhưng mà theo cái thời đại tiến bộ, người ta đặt ra cái quyền trẻ em và

[36:47]và phía sau đừng có lao xao nhiều quá. Mấy ai ở nhà ăn, nhà bếp á, đừng có nói chuyện ồn quá.

[36:57]Và vì vậy cái người ta càng lúc càng chủ trương rằng không nên cưỡng bách, bắt buộc trẻ em,

[37:05]và cũng như là trừng phạt lên cơ thể của chúng, vì như vậy là là ác độc. Có cái quan niệm thời nay như vậy. Rồi có một số trường học cũng không cho phép thầy giáo đánh đòn học sinh, cũng như ở bên Tây phương Âu Mỹ vậy, không cho phép cha mẹ đánh đòn roi con cái. Cha mẹ mà đánh đòn roi thì nếu mà có người khác thưa kiện thì cha mẹ có thể bị bị phạt tù. Như vậy nên cái thời đại mới họ đã thay đổi quan điểm như vậy. Ở đây thì chúng ta xét lại cái quan trọng là làm sao cho đứa trẻ được tốt. Quan trọng là cái đó, mà chúng ta sẽ thấy rằng cái phương pháp nào là thích hợp. Cũng giống như ở trong đạo, khi người lớn chúng ta vào đạo thì chúng ta nên tự giác

[38:00]hay là chúng ta cần phải có một cái sự bắt buộc, đó chúng ta sẽ xét lại như vậy. Rồi chúng ta sẽ thấy không phải luôn luôn cái sự tự giác là đúng đâu, kể cả đến lúc này chúng ta đã lớn rồi. Ví dụ như bây giờ một người nào đó năm nay cũng 50 tuổi, 60 tuổi đã tự ý thức cái cuộc sống của mình rồi mến đạo rồi xuất gia. Chúng ta cũng đừng nghĩ rằng à mình lớn tuổi rồi xuất gia là mình có thể không cần cái sự bắt buộc nữa mà chỉ có sự tự giác thôi, coi vậy chứ không đúng đâu, coi vậy vẫn không đúng. Cái sự cưỡng bách, sự bắt buộc vẫn cần thiết cho chúng ta cho đến khi chúng ta nhắm mắt, mặc dù nó có bớt thôi.

[38:44]Nó chỉ thật sự mà không cần nữa ngày nào chúng ta chứng A-la-hán. Chúng ta phải hiểu như vậy, cho nên cái sự cưỡng bách có cái giá trị cần thiết lắm. Còn đối với trẻ em thì ví dụ như khi chúng mà mới sinh ra lớn lên được một, hai tuổi, cái tư tưởng của chúng chưa có đủ sức nhận thức điều đúng điều sai. Muốn cho chúng biết điều đúng điều sai, chúng ta chỉ có cách mà gây cái nỗi sợ hãi, đừng có gây quá, gây quá thì mình thành ông kẹ. Gây vừa vừa bằng cái đau trên da thịt, nghe thì nó tàn nhẫn nhưng mà lại là cần thiết. Ví dụ như có một đứa trẻ nó làm điều sai, nó bò tới nó lấy một cái gì đó, mình chỉ cầm lấy cái roi

[39:29]mình đánh lên da nó, cái chỗ không nguy hiểm nhưng nó tạo cảm giác đau chút xíu mà nó hiểu rằng điều đó không được làm. Cái ngôn ngữ của nó trong tuổi thơ chỉ là như thế, chứ nó chưa biết nói mà chưa nhận, nhưng mình đừng có giận mà đánh nguy hiểm là mình ác, đúng là ác. Không được giận, nhưng mình phải biết cái hiệu quả của cái đòn roi trong buổi đầu của tuổi thơ coi vậy chứ cần thiết lắm, phải biết khéo chỗ đó. Nhờ cái sợ đó mà nó thành cái thói quen, từ đó nó biết là nó không được leo nghịch lên phá chỗ cái đồ dễ vỡ. Vì vì nếu mà leo lên cái cái cái bàn đựng nhiều cái chai lọ vỡ xuống rồi có thể nó bị cắt đứt da thịt, cho nên

[40:10]phải cần cho nó một sự sợ hãi thì nó hiểu là điều này là nó không được phép, đó. Rồi nhưng mà cái cưỡng bách á, mình phải cưỡng bách trong cái lẽ phải, là bắt buộc nó trong cái điều đúng thì lớn lên từ từ cái nó quen dần, quen dần và là hiểu rằng đó là hợp lý, rồi từ từ nó tự giữ lấy mình. Chúng ta để ý trong những gia đình có nền nếp là ở buổi ban đầu tuổi thơ cha mẹ dạy gắt, đòn roi nghiêm khắc mà khi lớn lên những người con đó thường là sống quen trong nền nếp ổn định luôn, nên cái đó rất là hay. Cũng có một vài trường hợp mà đứa trẻ nó quá bướng thì cha mẹ không dạy được, nhiều khi nghiêm khắc không tới nơi không làm được thì đó là đành chịu.

[40:54]Nhưng thường thường nhưng thường thường là gia đình mà có cái nền nếp kỷ luật thì lớn lên con cái nó cũng tốt, nó cũng là cái hay. Mà người lớn cũng vậy, chúng ta thấy đó là bây giờ mình nói qua người lớn, cái người nào mà hiểu được lẽ phải thì cần được giải thích cái lẽ phải đó để họ tự làm chủ lấy cuộc đời của họ. Ví dụ như những Phật tử chúng ta hôm nay ngồi đây thì không có cái khờ dại gì mà mình phải leo lên núi đồi hoang vắng cực khổ như vậy để đi tìm cái lẽ phải. Sẽ không có bao giờ có chuyện đó nếu trong tâm mình không có lẽ phải, nếu mình chưa phải là người tốt, đó là điều chắc chắn. Cho nên thường là những người mà có mặt ngay hôm

[41:43]nay ở đây là đa phần là người đã ý thức cao.

[41:49]Thì khi mà người lớn có ý thức như vậy á thì cái việc mà để giáo dục thì chỉ cần giải thích với nhau thôi. Nghĩa là như vậy chúng ta chỉ nói rằng là trong vũ trụ này có nhân có quả, chúng ta cố gắng ăn hiền ở lành, gây những nhân lành rồi cuộc đời mình sẽ đi về hướng tốt, chỉ nói với nhau như vậy là tự nhiên mình hiểu được. Thì dĩ nhiên nó không có đơn giản đâu. Có những người chỉ cần nói một câu như vậy họ chấp nhận, nhưng có những người nói một câu như vậy chưa ép-phê, đòi giải thích thêm. Là có nhiều người vậy, nhiều người gọi là chưa từng tin đạo mà quen theo văn hóa ngoài đời có học, quen suy luận hợp lý, logic thì không thể dễ tin đạo

[42:35]trong một vài câu nói đơn giản, cần phải giải thích rất là kỹ lưỡng, rất là sâu sắc thì mới chấp nhận được. Mà ngoài cái việc đó cũng vậy, bây giờ ví dụ như nói là mình tu thiền, mình ngồi kiết già như Phật, chịu đau chân, chịu tê chân để nhiếp tâm mình trong thanh tịnh, hỏi để làm cái gì vậy? Mà nói để đắc đạo, nghe thấy xa lạ quá, xa lạ mơ hồ quá. Đắc đạo là đắc cái gì? Trong khi cuộc sống trước mắt chỉ là miếng cơm manh áo, vinh quang, danh dự và tiền bạc, chứ còn đắc đạo cái gì? Không thực tế. Mà nếu nói rằng à ngồi thiền như vậy là một vệ sinh tâm thần, làm cho tinh thần mình thư giãn, thư giãn thì nó an ổn,

[43:17]nó minh mẫn để có thể mà mình đối phó với được cái khó khăn trong cuộc sống này, nói vậy nghe dễ chịu, nghĩa là mình giải thích thiền ở mức độ thấp thì nghe dễ chịu. Nhưng mà tuy nhiên chúng ta thấy thiền đâu phải là chỉ ở mức độ thấp, còn ở mức độ rất cao nữa. Cho nên là trong cái việc mà giải thích đạo lý cho cái người đã có ý thức rồi coi vậy chứ vẫn không phải dễ. Thì chúng ta thấy là ở đây nó cần hai mặt: nó cần cả cái người phải khéo giải thích và nó cũng cần là cái người nghe có cái mức độ ý thức cao. Vì người nghe mà có mức độ ý thức cao rồi đó thì người giảng đỡ cực, còn người nghe cái mức độ ý thức chưa cao hoặc là

[44:06]chưa dễ chấp nhận thì người giảng phải hết sức là chịu khó, chịu cực. Như quý Phật tử vậy, tuy ngồi nghe nói vậy chứ không phải là luôn luôn thầy nào nói hay cô nào nói mình cũng đã chấp nhận liền. Nhưng mà cũng có những người cũng dễ tin lắm, nghe ai nói gì cũng tin, ai nói tu bên A đúng là theo tu A, thời gian cái nói tu B mới đúng lại qua tu B, cũng có những người như vậy. Nghĩa là cái trí tuệ của mình chưa đủ để xác định ở đâu là lẽ phải để mình có thể an trú vững vàng, không bị lung lay, nên cũng chưa phải là dễ điều đó nữa. Rồi chúng ta nhìn thấy ngoài đời vậy, có những người mà không có ý thức,

[44:44]nghĩa là trong cái cuộc sống của họ họ sống ích kỷ, độc ác và gây tổn hại người khác. Thì người này như vậy thì không phải là chỉ dùng lời lẽ để giải thích mà đủ được, mà phải làm sao? Phải cưỡng bách, phải bắt buộc, phải chế tài, phải trừng phạt để khống chế họ: một là không cho họ làm hại người khác, hai là làm cho họ sợ. Nghĩa là cái trường hợp này là giống y như giáo dục con nít trở lại. Cái đau trên da làm cho nó sợ và nó hiểu rằng điều đó không được phép. Thì trường hợp mà người lớn không ý thức thì nói một điều hơi đau lòng là cái lối đối xử lại giống như đối xử với con nít trở lại. Vì người này đã sống mà làm hại tới người khác, chỉ sống theo ý mình.

[45:32]Ví dụ thấy thích đồ của người khác thì tìm cách chiếm đoạt, ví dụ vậy. Trong một cơn nổi giận là có thể sẵn sàng đánh đập hoặc là giết hại người khác thì như vậy trường hợp này là phải phải dùng tới sự cưỡng bách để giáo dục. Cho nên giáo dục có hai mặt như vậy: vừa là thuyết phục, giải thích mà cũng vừa là cưỡng bách nữa. Thì dĩ nhiên là chúng ta không có thích cái trường hợp mà mình bị cưỡng bách, mà muốn như vậy chúng ta phải có ý thức cao, phải tôn trọng người khác, tôn trọng cuộc sống người khác. Nên trong cái sự mà tôn trọng cuộc sống người khác thì mình phải biết kềm chế lấy những cái ham thích,

[46:15]những cái cơn nóng giận của mình để sống một đời an ổn, không tổn hại ai là vậy. Đó là mình nói người đời, bây giờ trở lại người tu ở trong đạo cũng vậy nữa, không phải là cái sự cưỡng bách đã hết giá trị. Ở đây đó, trên căn bản thì thường là người tu là người ừ vừa có lý tưởng và vì có lý tưởng nên họ biết tự khép mình trong quy luật. Ở đây chúng ta thấy nó coi cái giá trị của sự cưỡng bách, ví dụ vào chùa có nhiều điều cấm ở trong chùa đó, có nhiều điều cấm ví dụ như: cấm ra khỏi khuôn viên chùa mà không xin phép, đó cũng là một điều cấm của người người xuất gia. Ví dụ như mình ở ngoài đời, con cái nhiều khi muốn đi đâu quay

[46:59]qua quay lại không thấy cha mẹ mình giọt đi mất, về nãy nói: "Ủa con đi đâu vậy?", nói: "Dạ con qua nhà hàng xóm chút." Chuyện bình thường, nhưng mà vô tới trong đạo chuyện đó không được phép. Hễ bước ra khỏi khuôn viên chùa phải xin phép. Đó là một điều cấm, nhưng ở đây chúng ta sẽ thấy thế này: nếu cái người có lý tưởng tu hành cao họ tự khép mình, tự mình giữ cái điều cấm đó, không có đợi phải trừng phạt mà vẫn tự nhớ lấy. Hoặc là có cái điều cấm nữa là là không được ví dụ như như không được uống rượu đi, nói không được hút thuốc hơi đụng chạm. Ví dụ nói là người tu không được uống rượu, thì cái người mà có lý tưởng tu hành thì tự

[47:44]giữ mình không đụng tới, không nghĩ tới. Đó là nó có cái quy luật bắt buộc, nhưng mà người có lý tưởng tu tự xếp mình vô đó, tự buộc lấy chính mình giữ những quy luật đó. Hoặc là nói người tu không được đánh bài, Nói đánh bài giờ nói hơi nhiều, sao lúc này tôi đi đâu tôi cũng thấy đánh bài. Chiếc xe tải ló ra cái thềm chút cũng ba bốn người ngồi đánh bài, đi qua cái lề đường cũng thấy ba bốn người ngồi đánh bài. Giờ không biết người ta không có gì để giải trí, cứ lấy bài ra đánh. Đây cũng là một cái sự suy giảm về cái cái đời sống tinh thần của của người dân, của mọi người, của quần chúng. Đây là điều đáng buồn.

[48:23]Đi đâu mình nhìn thấy cảnh bài rải rác đầy nơi này đầy nơi kia là mình biết cái đạo đức xã hội đang xuống dốc, con người ta không có niềm vui gì khác bằng cái cảm giác tham lam và hồi hộp của cái đánh bài. Nên vừa rồi tôi mới thấy mình có một cái lỗi trong việc truyền giới quy y là quên cấm đánh bài. Thì xin báo tin buồn, ai ngày mai quy y sẽ bị nhắc là cấm điều đó. Trong các điều mà làm ghiền á, sẽ có một cái bị là cấm đánh bài đó. Thì trong cái cảm giác hồi hộp của cái tham lam muốn thắng người khác á, hình như nó cũng làm người ta ghiền. Và bắt đầu từ ngày mai là Phật tử bị cấm điều đó luôn, chứ không nói thầy tu nữa.

[49:02]Mà nếu mình có lý tưởng thì điều này mình phải tự giữ lấy, không được không được đánh bài nữa. Nhưng mà cái sự cưỡng bách bắt buộc trong chùa thì mức độ cưỡng bách nó tới mức độ nào? Thì nó không có nhiều như ngoài đời. Ngoài đời cái sự cưỡng bách tột độ là tới ở tù luôn, là bắt buộc người đó không được phạm tội. Vì nếu họ cứ làm sai luật pháp xã hội thì phải giam họ vào nhà tù, không cho họ làm sai. Còn ở trong chùa thì lại ngược lại, không cho người đó phạm tội mà người đó cứ phạm tội, cứ phạm tội thì chuyện gì xảy ra? Chuyện gì xảy ra? Thì lại không bắt ở tù được mà cho ra khỏi chùa cho tự do luôn.

[49:46]Cho nên ở đây là cái sự cưỡng bách ở trong chùa đó, nó chỉ tới cái mức độ nào mà người đó còn chịu ở chùa. Nghĩa là người đó còn chịu ở chùa thì mình còn trừng phạt được, còn la rầy được, còn làm mặt ngầu được. Như vậy, mà ví dụ như ví dụ người đó làm phạm tội mà làm mặt ngầu mà người đó không xi nhê thì thôi, đành cho người đó ra khỏi chùa luôn. Cho nên ông thầy chỉ làm dữ được với người đệ tử mình khi người đệ tử còn chịu tu, nghĩa là lý tưởng người đó còn cao hơn cái sự mọi điều khác, để họ còn phải sợ hãi cái quy luật. Mà nếu cái lý tưởng người đó nó bị giảm hơn mọi cái ham muốn khác thì người này không thể ở chùa được nữa, là ông thầy hết dạy, đó.

[50:33]Nên ở đây một hai cái sự cưỡng bách nó khác nhau. Là cưỡng bách ngoài đời tới tột cùng của nó giam riết tới chung thân luôn, khi cần tử hình luôn, nếu người đó cứ phạm tội. Còn ở trong chùa thì cưỡng bách đến cái độ mà người đó không chịu ở chùa nữa thì thôi buông luôn, lại được tự do luôn, hơi lạ. Cho nên người nào mà tính tính đi tu thì phải phân biệt cái điều này một chút. Và chúng ta thấy điều này: thí như mỗi chùa mà yếu yếu một chút á thì cả cái giáo hội sẽ yếu và cả cái Đạo Phật cũng yếu. Làm người tu không có giữ quy luật kỹ á thì chùa yếu rồi Đạo Phật cũng yếu. Mà có nhiều khi đây là cái tình trạng cái điều này đáng lẽ là

[51:15]chúng tôi không có nói với Phật tử, chỉ nói với người xuất gia, nhưng mà ở đây nói ra để quý Phật tử thông cảm một chút. Thì mỗi khi nhìn trong chùa mà thấy có chuyện này chuyện kia mình không vừa lòng thì phải hiểu, phải hiểu cái lý do của nó. Ví dụ như là khi mình đến ngôi chùa, mình thấy có vẻ lỏng lẻo là ông thầy trụ trì ổng thì ổng sống một mình ổng, rồi thấy người đệ tử cũng muốn làm gì làm, có vẻ tự do đi tới đi lui đi ra đi vào, thích coi phim thì coi, vân vân, cái chùa có vẻ hơi lỏng lỏng thì mình mình hơi có ý phê bình. Ý phê bình thì chỗ này mình phải cẩn thận để ý một chút là tại sao ông thầy trụ trì ổng vậy, ổng không có chặt chẽ?

[51:59]Nhiều khi nguyên nhân là chính vì ông thầy trụ trì này ngày xưa ổng cũng được dạy lỏng lẻo. Hồi lúc ổng còn làm điệu, làm chúng, ổng không ai dạy ổng chặt chẽ, nên bây giờ ổng quen, ổng cũng không có chặt chẽ với đệ tử. Mà cái truyền thống mà ở trong chùa lỏng lẻo như vậy là nhiều khi nó tràn lan. Lý do tại sao vậy? Lý do là mình chưa có một hệ thống tổ chức giáo hội kỹ cho cho Tăng Ni. Ở các đạo khác, nhất là mình nhìn qua tôn giáo bạn như là Thiên Chúa giáo, chúng ta sẽ thấy là cái việc mà đào tạo một linh mục kỹ lưỡng, nên về hành chánh cái tổ chức của họ rất là kỹ lưỡng. Ví dụ một người mà đi từ giáo xứ tỉnh này qua giáo xứ tỉnh kia,

[52:42]họ phải mang giấy giới thiệu và có những cái công điện trực tiếp từ cái nhà thờ này đến nhà thờ kia để báo trước cái việc mà một người đi tới. Còn bây giờ ở trong chùa, ví dụ một người tới hỏi: "Thầy ở đâu tới?", nói: "Dạ con ở chùa đó, thầy đó. Giờ con thấy ở không thích, thôi qua đây xin thầy cho tu." Mình nghe thấy mình cũng không kiểm soát, cũng không biết là có thật người đó từ chùa đó đi tới hay không. Đó là Đạo Phật mình có nhiều cái lỏng là do trong cái đường lối tổ chức giáo dục, truyền thống nó lỏng lắm, nên nó quen rồi. Nên quý Phật tử hiểu điều này rồi sẽ thấy cái lý do tại sao mà mình thông cảm lại.

[53:18]Nên cái việc mà tạo lại cái chùa chặt chẽ nó đòi hỏi phải một thời gian, là quý thầy, quý cô cái lớp này bắt đầu phải chặt lại thì những cái lớp sau mới chặt chẽ lại từ từ, chứ còn không là chùa cứ lỏng lỏng lỏng lỏng kỳ khôi lắm, nhìn vô thấy kỳ. Nhưng mà muốn chùa mà mạnh á, muốn chùa mà mạnh thì cái quan trọng là người trụ trì. Thường như vậy, ví dụ ngay cả đối với con cái vậy, hay đối với học trò, cái người cha mẹ là người thầy là phải có cái uy lực thì mới buộc cái người dưới mình sống vào trong quy luật, trong khuôn phép được. Đây là một cái tới cái chỗ này là chúng ta thấy nó có cái mong

[54:00]manh của cái nhân duyên, là không phải ông thầy nào cũng nói đệ tử nghe hết đâu, hoặc là cũng không phải là cha mẹ nào mà cũng nói một tiếng là con cái mình nghe hết đâu. Đây là cái khó. Nên nhiều khi chúng tôi hay quan sát, thấy quan sát rồi mới thấy ví dụ như có những người sao mà con cái không nghe lời cha mẹ. Có một lần vậy, tôi gặp một đứa Phật tử hồi xưa còn nhỏ, nó lớn lên rồi có vợ có con, bồng đứa con lên chơi, bồng đứa con lên chùa thăm thầy. Thì cái người cha của nó, tức là người Phật tử ngày xưa đó, thì cũng cũng ngầu lắm chứ không phải không, thấy cũng là nghiêm khắc khó tánh á, nhưng mà khổ cái nhìn thằng con nó còn dữ hơn ba nó nữa,

[54:44]mà nó mới có mấy tháng tuổi, chừng năm năm mấy tuổi thôi. Cái tôi nhìn một lát tôi mới nói: "Nó lớn lớn chút xíu nữa thì ba nó phải chịu khó nghe lời nó đó nha." Nói trước rồi đó. Là bởi vì sẽ không dữ bằng nó, cái uy không bằng nó, nói nó không nghe. Đây là cái khó. Thì trong chùa cũng vậy, ví dụ như ông thầy mà không có uy lực, nói đệ tử không nghe. Nhất là phải nói nhiều câu đệ tử mới nghe, tức là ông thầy đã dở từ từ rồi đó. Ông thầy mà giỏi chỉ nhìn một cái, người đệ tử biết sợ và biết nghe lời, hoặc là nói một lần hay hai lần. Mà cứ để nói tới nói lui hoài, đệ tử không nghe rồi cứ đứng đó cứ cằn nhằn lẩm nhẩm thì ông thầy thua thua đứt rồi đó.

[55:25]Ở nhà cha mẹ cũng vậy, nếu mình không đủ cái thần, cái uy để nói con cái, nói một tiếng một mà nói nó không nghe là thua rồi đó. Lớn lên là là nó nên hay hư là tùy nó, chứ mình không có không có đủ sức can thiệp vào. Đây là cái khó. Nhưng bây giờ chúng ta muốn cho con cái mình có nề nếp trong khuôn phép, hay là một vị tu hành muốn cho đệ tử mình phải xếp vào trong khuôn phép thì mình phải có uy lực. Mà uy lực từ đâu mà có?

[55:54]Cái uy lực từ đâu mà có? Để khi mình nói, người dưới phải nghe, nhiều khi nói nhẹ thôi, người dưới phải nghe lời. Từ cái phước, cũng là một cái câu trả lời nhưng mà hơi tổng quát quá. Cái phước gì? Tức là gieo cái nhân gì?

[56:11]Nhất là cái nhân lạy Phật trước, mình lạy Phật với lòng tôn kính, một thời gian tự nhiên cái uy mình tăng lên. Quý Phật tử về thử đi. Ví dụ tự nhiên mình thấy thường là người khác ít nghe lời mình, hoặc mình chơi với bạn với bè người ta cũng ít có nể mình, ít có quan tâm thì cứ về nhà lạy Phật, mỗi ngày đều lạy Phật với lòng tôn kính. Một thời gian mình gặp lại bạn bè, tự nhiên mình cảm thấy tiếng nói mình có giá trị, có trọng lượng, người ta bắt đầu lắng nghe, đó. Và trong đời sống cũng vậy, mình cũng tập tôn trọng mọi người, là cố gắng nhìn ai mình cũng khởi tự nhắc ở trong tâm mình là: "Xin nguyện cho con thương yêu tôn trọng những người này,

[56:53]những người trước mắt." Gặp ai mình cũng khởi vậy, nên trong cái đối xử mình biết lễ độ, trong ý mình có tôn trọng, tự nhiên thời gian cái uy lực mình nó tăng lên. Mà cái uy lực tăng lên á, nó có hai mặt biểu hiện của cái uy lực, đúng ra là ba nhưng mà nói là hai thôi. Thứ nhất là đôi mắt, đó là cái hữu hình dễ thấy, và thứ hai là cái cái thần vô hình, nó không hiện trong đôi mắt. Cái mà đôi mắt nó hiện ra đó thì đôi mắt nó có cái lực mạnh lắm. Ví dụ như mình đứng trước người có uy lực vậy, họ đưa mắt họ nhìn mình nhẹ nhàng, mình cảm thấy mình tự nhiên mình nể, đó là cái uy trong đôi mắt. Hoặc là có nhiều khi họ không nhìn mình,

[57:35]họ mải nhìn người khác đây, họ chỉ họ chỉ nói gì khi nói gì với mình thôi, là lúc đó họ không có cần dùng cái đôi mắt mà dùng cái uy vô hình của cái tâm, vẫn làm mình phải nghe lời. Thì đó là hai trường hợp của uy lực nó hiện ra mà người này là do công đức. Công đức trong quá khứ có thể là kính lạy Phật, tôn trọng mọi người, hay bố thí cũng tạo ra được cái uy lực như vậy. Và mình có uy lực như vậy là không phải để mình ham tranh hơn thiên hạ, mà chỉ để mình dạy người dưới mình cho có hiệu quả. Nếu mình làm thầy cô giáo thì mình cũng làm học trò nể. Nếu là cha mẹ, mình dạy con có khuôn phép. Mà nếu là người ở trong chùa thì mình dạy đệ tử một cách vững vàng.

[58:23]Vì tôi nhớ hồi học lớp bảy á, không biết chuyện này tôi có kể chưa, tôi học với ông thầy giáo dạy Anh văn. Thì trong buổi đầu ổng dễ thương lắm, buổi mà khi bắt đầu mới khai trường vô ổng nói chuyện giao lưu tâm tình với học trò. Thì ổng nói chuyện nghe hay, văn chương, dễ thương lắm. Mà trong cái lớp, lớp năm đó học hai lớp dồn lại tới một trăm mấy chục người, đông quá. Mà mấy đứa hình như nó cũng nghịch, được một buổi đầu, qua bữa sau thì ổng dạy dạy, nó nói chuyện nói, thế là từ đó ổng cứ cáu gắt lên ổng la ổng hét ổng nạt, mà ổng la ổng gắt gì nó cũng nói chuyện không sợ. Không hiểu sao? Thì tôi cũng hay quan sát, cái tính của tôi là tôi hay quan

[59:06]sát, rồi tôi thấy một ông thầy khác, năm học lớp chín á thấy ông thầy khác, ông này thì ổng không có nói nhiều. Ổng cứ đeo mắt kiếng lên mình không thấy đôi mắt ổng nhìn ai cũng không biết sao, mà trong cái thần vô hình ổng, ổng cứ đưa mắt ổng dòm dòm xuống học trò là đứa nào nấy rét run hết trơn, không có dám nhúc nhích, không có nói một tiếng nào, phăng phắc luôn. Thế là tôi mới nói là lạ thiệt, đúng là thầy thầy cô giáo cũng nhiều hạng, có người có cái uy lực, mà có người cái kém uy lực. Thì ở đây vậy, mà nếu mình là người mà tốt mà mình có uy lực thì có lợi cho cuộc đời, mình sẽ dạy dỗ người khác dễ dàng.

[59:41]Nên vì vậy, người Phật tử mình mình hiểu điều này, mình cố gắng là tạo công đức, biết làm phước, biết lạy Phật, thương người, tôn trọng người. Rồi thời gian cái mình có cái uy, mình nói người ta nghe. Mà tới chừng đó cái ngã mình cũng tăng dữ lắm. Nếu mà không khéo với tu khiêm hạ, vô ngã, một thời gian cái mình bị tổn do kiêu mạn trở lại. Nhưng mình nhớ là cuộc đời nó như vậy, cứ lẩn quẩn nên là phải biết thoát ra. Mà chúng ta thấy những người lãnh tụ quân sự hay lãnh tụ chính trị là họ có cái uy lực phi thường á, uy lực phi thường, họ xuất hiện là mình tự nhiên răm rắp hết. Ở đây vì vì ở đây trong chúng ta, chúng ta không có ai là lãnh tụ,

[1:00:22]mình nhìn mình không phân biệt được, với mình trong cuộc sống mình mình cũng ít khi gặp một lãnh tụ thật sự, một lãnh tụ phi thường, nên mình không có phân biệt mình không hiểu điều này nhiều. Chớ ví dụ có người nào mà gặp những cái lãnh tụ như thời xưa mà gặp đức Trần Hưng Đạo, hoặc là gần gần hơn mà gặp lãnh tụ Quang Trung, vân vân, thì thì chúng ta sẽ hiểu được cái uy lực của một lãnh tụ như thế nào, mà tại sao họ kéo cả một đất nước đi theo họ luôn. Vì cái thần, cái uy như vậy. Nhiều khi họ không có mặt ở họ nói đâu xa xa, mình nghe thuật lại mà tự nhiên cái uy nó lan truyền, buộc mọi người cũng phải vâng lời theo nữa.

[1:01:02]Đó là cái lạ như vậy. Bây giờ chúng ta nói về cái cái những cái bước hướng dẫn ở trong đạo Phật trong cái việc dạy dỗ con người. Thì cái chủ yếu chính á là cái đạo lý, đạo lý phải đi trước. Đạo lý tức là mình thuyết phục, là giáo dục, là giảng giải. Rồi cái thứ hai á mới là cái tổ chức. Tổ chức thì gồm có quy luật và hình thức. Ví dụ bây giờ à mình nói người Phật tử mình đi, nghe pháp thích, à nói nghe pháp của thầy thích quá, cái đó là đạo lý, nên sống vui với nhau. Rồi xin thầy lập cho chúng con cái đạo tràng, vì chúng con thấy ví dụ như bây giờ khu vực ở Bình Thạnh đi, có một số đông Phật tử anh em là cùng đi theo đường

[1:01:48]lối của thầy, xin thầy cho chúng con lập một cái đạo tràng. Thì đó là bắt đầu từ đạo lý mà bước qua tổ chức rồi đó. Thì hễ lập đạo tràng cái lại có cái quy luật, là có cái tên gọi, có cái hình thức. Đó là bắt đầu có cái quy luật, có cái hình thức. Đó là thường thường như vậy, nghĩa là cái chính là đạo lý. Rồi từ cái đạo lý làm gốc này mới bước qua một cái hình thức của tổ chức. Nếu mà người nào đó mà muốn lôi kéo quần chúng mà mình không có đạo lý, không có đạo lý, hình thức cho nên cũng sẽ không có một cái hình thức ổn định thì phải dùng cái gì? Thì phải dùng tới thủ đoạn, sự gian dối. Chúng ta thấy có nó ba bước như vậy:

[1:02:37]bước thứ nhất á là đạo lý, bước thứ hai để lôi kéo con người là tổ chức, và bước thứ ba là dùng tới thủ đoạn là bắt đầu dở rồi đó.

[1:02:48]Ở đây đó, nếu đạo lý mà đủ mạnh á thì khỏi cần tổ chức, người ta vẫn sống thương yêu nhau. Cho nên ở đây chúng tôi vậy, chúng tôi có thử nghiệm hai điều hết. Là có một nơi á, chúng tôi cho tổ chức một cái đạo tràng Phật tử, vừa sống theo đạo lý tu hành, vừa có một cái đạo tràng để sinh hoạt với nhau, gặp gỡ nhau, trao đổi, nhắc nhở nhau, có cái quy luật tương đối nào đó. Có một nơi khác, Phật tử cũng đông, chúng tôi không có tổ chức đạo tràng. Chỉ để mọi người theo đạo lý mà sống, rồi tôi quan sát trong mấy năm nó như thế nào. Thì tôi thấy thế này: tôi thấy là cái nơi mà không tổ chức đạo tràng á,

[1:03:34]Phật tử cũng thương nhau, cũng quý nhau như thường, cũng hợp tác, cũng gặp gỡ và cũng giúp nhau làm Phật sự rất là tốt. Là cái đó là nhờ đạo lý, chớ nếu thiếu đạo lý không có thành. Rồi cái nơi mà có tổ chức một cái đạo tràng thì thấy cũng tốt luôn, có lẽ nhờ đạo lý, có lẽ như vậy vì có cái đạo lý gốc. Còn nếu mà không có đạo lý gốc thì chỉ dùng hình thức, chỉ dùng tổ chức để buộc người ta, lôi kéo người ta vào, rủ rê người ta vào đạo tràng cho đông, vân vân, thì tôi nghĩ bắt đầu sẽ sinh chuyện là ở trong đạo tràng đó sẽ gây gổ, chia rẽ, hơn thua, nói xấu nhau rồi tan vỡ, ha. Mà nếu mà mình tệ hơn nữa là mình không có đạo lý,

[1:04:18]không có tổ chức, rồi bắt đầu dùng thủ đoạn, gian dối để mà lôi kéo quần chúng thì đây là một cái tệ. Nhưng mà ở đây chúng ta thấy thế này: là đạo lý chỉ đến được với những người có thiện căn, có ý thức. Nên ở đây nhiều khi chúng ta nghe lời giảng dạy trong đạo Phật rồi mình về nhà mình sống tốt được với mọi người, mình thương yêu được mọi người, rồi mình hay gắn bó gặp gỡ nhau cùng bàn bạc làm Phật sự, là mình truyền bá đạo lý hoặc là cùng nhau làm phước, đắp đường, vân vân, thì đó là cũng là do đạo lý hay mà cũng là do chính mình có thiện căn, có ý thức. Còn nếu cái người không có thiện căn, ý thức, đạo lý không rớt vô trong tim được.

[1:04:59]Đó, đây cũng là nhờ chính cái con người như vậy. Còn đạo lý mà không đủ mạnh thì mình cần có tổ chức, có kỷ luật cưỡng bách. Ví dụ bây giờ nói lập một đạo tràng đi, là mỗi tháng là phải gặp nhau hai lần ở tại địa điểm nào đó, ai mà không có đến thì bị phạt quỳ nhang hay là cho người tới trách móc, rầy la, đó cũng là một hình thức phạt. Thì như vậy nó cũng bắt đầu có cái cưỡng bách ở trong đó. Nghĩa là nếu đạo lý không đủ mạnh, như ý thức con người không đủ mạnh, thì mình cần một cái hình thức tổ chức rồi có kỷ luật. Ở đây bây giờ hỏi thật quý Phật tử là quý Phật tử thích mình có cái đạo lý rồi tự mình sống tốt với nhau hay mình cần

[1:05:41]tổ chức cái đạo tràng để có sự kiểm soát với nhau? Quý Phật tử nói thật coi.

[1:05:51]Thấy cái nào thích hơn?

[1:05:55]Thích đạo lý hơn phải không? Thích đạo lý rồi tự giác đến với nhau, nghĩa là ai hợp với ai thì cứ bắt tay nhau mà làm việc, vẫn thích hơn. Nhưng mà nếu có một cái đạo tràng tốt mà có một đạo lý tốt cũng tốt chớ chứ không phải không. Nhắc nhở nhau, kiểm soát nhau cũng tốt. Nhưng mà cái đó là để đề phòng trường hợp mà ý thức mình bị giảm, đạo lý bị kém. Ví dụ ngày nào đó là là ví dụ như tôi tôi không giảng giải nữa, hoặc là tôi giảng bắt đầu dở từ từ đi, thì lúc đó phải giữ hình thức tổ chức, rồi người này kèm người kia, người kia nhắc người nọ, nói sao hôm nay không đi sinh hoạt, hôm nay không đi tụng kinh?

[1:06:33]Cái nói: "Chán quá, ông thầy hôm nay giảng dở chán quá!" Thì cái đó nói: "Không đi là phải rầy, bắt phạt này kia nọ." Cái đó là phải nhờ cái kỷ luật cưỡng bách để kéo người ta khi mà đạo lý không đủ mạnh. Nên khi tâm mình hết ham thích, nên đây cái khó là vậy. Cái khó trong cái sự giáo dục của đạo là vậy, là đạo lý, đạo lý phải cao siêu và đủ sức thuyết phục. Đạo lý mà không thuyết phục được rồi thì từ từ người ta xa đạo, còn dùng hình thức tổ chức chỉ là tạm bợ. Mà nếu đạo lý mất rồi thì tổ chức sẽ tan vỡ. Rồi mà nếu mà mình còn gượng kéo lại thì chỉ dùng thủ đoạn, mà hễ tới dùng tới thủ đoạn rồi thì sau này sẽ

[1:07:13]là loạn luôn, là một cái đại loạn về sau này. Nên ở đây đạo Phật vậy, chúng ta thấy là phải cần cái đạo lý để hướng dẫn, còn tổ chức chỉ là phụ thôi. Ở đây vậy, vấn đề mà đạo lý đó chúng ta thấy thế này. Là đầu tiên là do quý thầy trước, quý thầy nhận được đạo lý của Phật, rồi quý thầy tuyên giảng. Quý thầy tuyên giảng được đạo lý rồi, quý Phật tử nắm được. Bắt đầu quý Phật tử sống theo đó, làm theo đó, và giảng lại cho người khác. Nên ở đây không phải là quý thầy giảng không đâu, mà quý Phật tử phải biết nói chuyện với với người chung quanh mình nữa. Nói chuyện đây cũng là giảng đó. Nhưng mà mình tùy cái cách mình khéo nói,

[1:07:57]nói làm sao đừng có đừng có vẻ khoe khoang là mình hiểu đạo, nói nhẹ nhàng, thực tế, dẫn chứng thực tế trong cuộc sống mà làm người ta thấm từ từ, thấm từ từ. Đó là mình cũng giáo dục, đem đạo lý làm cho đẹp cuộc đời. Ví dụ nói trong gia đình mình, rồi có những lúc á có những đứa nhỏ thì mình bắt buộc không nói gì, nhưng mà với những người hiểu biết rồi thì mình cũng phải cố gắng mà thuyết pháp á, cố gắng thuyết pháp. Mà có nhiều Phật tử thuyết pháp cũng hay lắm chứ không phải không. Có nhiều Phật tử ví dụ như ngồi nghe quý thầy thì im vậy đó, mà tới chừng mà đi ra ngoài hàng xóm hay ngồi uống cà phê là

[1:08:33]nói pháp rân trời rân đất hết trơn, nói cũng hấp dẫn lắm. Hoặc là về gia đình mình gặp gia đình mình nói pháp cũng dữ dội lắm chứ không phải không. Lên đây thì giả bộ hiền lành vậy chứ về nhà cũng làm giảng sư hết. Có không? Có không? Có. Mà nói đừng để người ta ghét nha không? Cái mình nói cho người ta thương khó lắm á, vì mình phải có uy đức á. Còn mà mình hiểu đạo rồi mình cố gắng nói, vì trong tâm mình lúc nói bị lẫn chút khoe ở trong, rớt liền, người ta đọc ra liền, người ta ghét liền. Kỳ lạ như vậy. Mình nói trong cái khiêm tốn, trong thực tế, trong thương yêu, nhiêu người ta nghe hết á.

[1:09:10]Còn mình ngồi mình giảng ha: "Tôi cho anh biết nha, đây là Tứ Diệu Đế nha, đây là Phật tính, đây là Bát Nhã nha. Tôi nói cho anh nghe nha." Tự nhiên người ta nhận được trong tâm mình có cái khoe ở trỏng, thế là mình nói lần thứ hai, nói lần thứ ba coi chừng có chuyện oánh lộn. Nó cẩn thận. Nên ở đây chúng ta thấy á là có một cái trường hợp nó cũng hơi đau lòng là ví dụ như người tu mà dùng thủ đoạn để cầu danh cầu lợi, rồi sẽ đưa đến việc mưu hại lẫn nhau, thì Phật pháp suy đồi nhanh chóng đó. Cái chỗ này nói với quý Phật tử mà để cảnh giác thôi, để cảnh giác. Cảnh giác ở chỗ này, quý Phật tử nghe rồi bỏ, đừng nói đi chỗ khác.

[1:09:56]Là quý thầy đang tu, quý thầy chưa có đắc đạo. Cho nên quý thầy còn lỗi lầm, quý Phật tử đồng ý không? Vì chưa chứng đạo. Ví dụ như hôm qua thấy ổng còn để tóc, nay quay lại thấy ổng cạo tóc thì tóc ổng chỉ cạo thôi chứ ổng chưa phải là thành thánh, phải không? Nhưng mà trong tâm mình hay buộc ổng hễ cạo đầu rồi phải làm như ông thánh á, mà là không được, ổng làm không được. Cho nên có nhiều chuyện xảy ra, nhiều chuyện xảy ra trong đời sống tu hành của một một thầy hay một cô, nhiều chuyện xảy ra lắm, là cũng có những lỗi lầm. Mặc dù quý thầy, quý cô đang cố gắng đi trên con đường tốt, đi về hướng của những bậc thánh, nhưng trên đường đi

[1:10:39]nhiều khi ghé qua bên đông một chút, bên tây một chút, lạc uống cà phê một chút, hay vô quán chè chút, ví dụ vậy. Nên đôi khi mình thấy sao đi quẹo quẹo làm sao nó không ngay thẳng, có những lỗi lầm, sự thật. Thì chuyện đó mình thông cảm vì biết quý thầy, quý cô đang tu. Nhưng dù sao cũng là những người hướng thượng có lý tưởng, mình thông cảm, đừng có nói lỗi ra ngoài. Nhưng mà có trường hợp này mới đau lòng nữa, là trường hợp mà nhiều khi thầy cô vì danh lợi, vì ích kỷ, vì đố kỵ gì đó, rồi công kích lẫn nhau, mạt sát lẫn nhau. Đây là cái tệ, cái này là tệ. Lỗi cá nhân mình coi chứ có thể vượt qua,

[1:11:23]mà chống phá lẫn nhau là làm đạo Phật tan rã liền không bao lâu, nên đây là tội nặng. Thì nói quý Phật tử nghe qua hai trường hợp để quý Phật tử ý thức chỗ này: hễ mà ví dụ thấy quý thầy quý cô còn lỗi lầm, mình thông cảm. Thông cảm vì đang tu. Nhưng mà hễ thấy quý thầy quý cô mạt sát nhau, công kích nhau, thì điều này quý Phật tử không được chấp nhận. Không được chấp nhận. Cái này là phải Nếu mình không có duyên thì mình im lặng tránh xa liền, nhưng không chấp nhận cái việc mà thầy cô mạt sát công kích nhau. Mà nếu mình có duyên mình ngăn cản liền, nói: "Thưa thầy, con không thích nghe cái điều mà thầy này nói xấu thầy kia." Nói thẳng ngay mặt luôn.

[1:12:07]Có thể là người ta nói mình hỗn, dạy đời, không sợ. Vì cái lỗi khác thì mình chấp nhận, mình thông cảm vì quý thầy đang tu, nhưng hễ phá thầy khác, mạt sát thầy khác là làm đạo Phật yếu đi, điều này mình không chấp nhận. Thì ở đây á, để mà vượt qua được điều này chính là nhờ Phật tử á. Nghĩa là Phật tử kiên cường vững vàng thì quý thầy không dám chia rẽ nhau nữa, đây là nhờ Phật tử. Nên trong thời Đức Phật cũng vậy, mà muôn đời cũng như vậy. Quý thầy mạt sát nhau, chỉ tiếp tục công kích nhau được vì do có Phật tử chịu nghe thôi, chịu nghe lời. Nhưng mà đến một ngày nào đó quý Phật tử tỉnh ngộ,

[1:12:48]giác ngộ cao, ý thức cao, không chấp nhận nữa, nghe mà nói xấu nhau không chịu nữa thì quý thầy không không dám chia rẽ nhau nữa. Phải sống đoàn kết, phải nói tốt cho nhau, phải nâng đỡ, hỗ trợ nhau. Một người làm được việc thì nhiều người khác xúm lại nâng đỡ thì đạo Phật tự nhiên mạnh lên. Còn đạo Phật mình thì ngộ một cái là hễ một người làm được việc thì ba bốn người xúm nhau kéo xuống. Cho nên đạo Phật mình cứ nhiều ngàn năm coi vậy chứ chậm tiến là vậy, chậm tiến là vậy. Cái đạo lý thì rất là cao, nói tới chuyện làm Bồ tát, làm Phật không. Nhưng mà hành động thì làm không nổi, hành động thì nhiều khi phàm phu quá, đó là cái đáng lo đó.

[1:13:31]Có nhiều khi một cái đạo khác người ta nêu cái mục tiêu rất là cạn, rất là gần, vậy mà người ta làm được, người ta thành con người tốt được. Ví dụ như Đạo Nho, họ chỉ yêu cầu con người quân tử, con người quân tử là chưa bằng được người thánh, phải không? Chưa phải là Bồ tát gì hết trong đạo Phật, họ chỉ ráng phấn đấu vậy thôi, vậy mà không ngờ họ làm được người tốt. Có vài đạo họ chỉ yêu cầu, họ mong họ lên cõi trời gần gần thôi, ráng ráng lên cõi trời. Mục tiêu họ gần, vậy mà cuối cùng họ làm được con người tốt. Còn mình có đặt cái yêu cầu cao quá, về tới cõi Cực Lạc bất thối, thành Phật, thành Tổ, thành Bồ tát, thành thánh,

[1:14:10]mục tiêu cao quá, nhưng mà không ngờ cuối cùng trong cái cư xử của mình, mình không làm được một người tốt, làm con người chưa tốt. Đây là điều đáng đau lòng. Nên vì vậy mà trong rất nhiều băng giảng, chúng tôi luôn xây dựng cái căn bản của một con người tốt trước á. Tu gì tu, thì tôi thường hay nói là nếu đạo Phật là hay, nếu bậc thánh là cao cả, thì cái vị trí đó nó phải cao hơn người quân tử. Và quý thầy cũng như quý Phật tử trên con đường đi đến việc làm thánh là phải làm được cái người quân tử cái đã. Làm cái người trung tín, ngay thẳng, thật thà, chân chất, độ lượng, nhân nghĩa cái đã trước khi mình nói tới cái chuyện tự tại ngoài sinh tử.

[1:15:01]Còn ở đây mình cứ nói tới chuyện làm Phật, làm Tổ, nói thiền ngữ cao siêu mà để làm con người có tình nghĩa với nhau chưa làm được thì là một điều đáng buồn. Mình nêu mục tiêu cao quá, cuối cùng cái gần gũi nhất mình bị hổng chân, không làm được. Do đó là người đệ tử Phật chúng ta, dù là người tại gia hay xuất gia vậy, trong cái cuộc sống gần gũi đời thường mình phải sống cho thật tốt cái đã, sống cho thật tình nghĩa trước khi mình muốn làm vị thánh. Ở đây, cái giá trị của người tu là chúng ta luôn luôn sống cho đúng đạo lý, luôn luôn kiểm soát được cái lầm lỗi của mình. Cái khó là cái cái thấy được lầm lỗi của mình.

[1:15:46]Như hồi nãy có một đạo hữu lên hỏi tôi, nói: "Thưa thầy, con ngồi thiền, có một lần con nằm con nghe tiếng nổ vang rền trời đất, giật mình thức dậy thì thấy trời đất cũng yên tĩnh, không ai nghe tiếng, có mình con nghe. Vậy chuyện đó là gì?" Thì tôi có giải thích, và tôi nói: "Cũng như nhiều hiện tượng khác trong thiền định hay xảy ra." Có người tu thấy được hào quang, có người tu thấy được ừm Phật hiện, hay thấy được xuất hồn lên cõi trời, vân vân. Rồi nãy cũng có người hỏi nữa: "Thưa thầy, sao con hay nhìn thấy con người lại là thú vật?" Nói như có một lần nhìn thấy cái ông xích lô ổng chở cái con gấu đen, nói:

[1:16:28]"Trời ơi, sao ông xích lô nào chở con gấu?" Thế tới chừng lại gần thấy một cái bà mặc áo đen. Mới lần thấy cái ông đó ổng chở hai con heo con ở phía sau xe đạp, tính lại nhắc ổng nói sao ông chở heo mà không cột dây nó rớt đất nó chạy mất. Lại gần thì thấy hai đứa con nít, hai đứa con ổng. Thì hỏi tôi là chuyện gì. Thì tôi nói: "Là ở đây có khi nó là một cái ảo giác, nhưng có khi nó là do giống như là người này cũng có cái duyên tu mà thấy được cái bản chất xưa của chúng sinh á. Mà không biết là có phải như vậy không. Không biết là vì người này tiền căn là con heo nên cô này cô dòm cô thấy cái tướng tinh con heo,

[1:17:11]hoặc cái bà đó ngày xưa là con gấu giờ cô dòm thấy cái tinh là con gấu. Hoặc là ảo giác, hoặc là thấy được cái cái căn của người ta, cái gốc người ta từ ở những kiếp trước hay không." Đó. Thì cái nhân duyên này nó cũng là do đời trước có thể là đã có tu thiền rồi đó, chứ không phải là không. Tuy nhiên, cái việc tu thiền nó không nằm nơi cái mục tiêu là mình thấy được những điều lạ, mà cái mục tiêu của sự thiền định là mình thấy được lỗi lầm của mình. Tôi mới nhắc hai Phật tử này: "Tu làm sao mà càng lúc mình càng thấy được những cái lỗi chìm sâu trong nhiều kiếp quá khứ. Mình nhìn mình không thấy đâu,

[1:17:48]mà phải tu, tu để rồi càng lúc càng nhìn thấy thấy những cái cái tính xấu mình mà nhiều kiếp mình chưa thấy. Ví dụ như người có cái tính tự cao, nhiều năm không thấy, mà nhiều khi người ngoài cũng dòm không thấy luôn á. Thấy cũng bình thường, cũng dễ thương thôi, cũng đâu thấy tự cao cái gì. Bản thân mình mình không thấy, người chung quanh cũng không thấy mình tự cao. Vậy mà mình tu thiền 5 năm rồi, mình nhìn vào tâm mình mới phát hiện mình có tự cao. Cái tự cao nó chìm khuất ở trong sâu không đó, khó thấy như vậy." Nên đây là cái mà mà cái giá trị của thiền định là vậy, không phải để thấy những điều lạ mà chính là thấy được lỗi của mình.

[1:18:30]Và khi mình thấy được lỗi mình như vậy thì mình không rơi vào những cái thủ đoạn, hay sân hận, hay tham lam, hay gian dối. Đó là cái ý thức, đó là cái thành tựu của đạo lý. Rồi một điều nữa chúng ta để ý này khi mà nói về sự cưỡng bách là chúng ta đừng có dùng sự cưỡng bách như là một thủ đoạn. Ví dụ như người có quyền có thể bắt buộc người khác, nhưng đừng có bắt người khác làm chuyện tầm bậy, đừng bắt người khác làm cái chuyện có lợi cho mình. Vì nếu mà mình bắt buộc người khác làm cái chuyện sai quấy thì ở kiếp khác là mình trở thành nô lệ bị đày đọa. Nếu mình buộc người ta phải làm lợi cho mình vì mình có quyền,

[1:19:12]ví dụ như một cái ông viên chức ổng bắt cái nhân viên làm cho nhà nước về nhà phục vụ ổng, ví dụ vậy, buộc cưỡng bách người ta làm điều không đúng, sau này mình trở thành nô lệ. Còn nếu mình bắt người ta làm cái điều tội lỗi thì sau này mình lãnh quả báo rất là tàn khốc. Ví dụ có người họ nghe lời mình, họ nghe lời mình tuyệt đối vì cái ơn gì mình không biết á, cái mình nói: "Bây giờ kẹt quá đêm nay anh ráng leo vô nhà đó anh bưng cái tivi cho tui." Người ta nghe lời người ta bưng, thì sau này người ta tội người ta ít. Nếu mà công an bắt á, thì cái người đi ăn trộm là tội nặng, cái người xúi coi như không bao nhiêu tội,

[1:19:54]nhưng mà trong nhân quả cái người mà sai bảo người khác á tội chín phần, cái người làm tội có một phần. Quý Phật tử nghe cái băng Hàng Ma chưa? Chà, coi bộ cũng...

[1:20:09]Nghe cái băng Hàng Ma tôi có phân biệt giữa sai và xúi khác nhau. Ví dụ mình xúi người khác làm thì người kia hưởng chín phần nghiệp mình có một phần à, tại làm hay không là do người đó. Mình xúi mà họ có quyền quyết định là không làm. Còn sai á là mình có quyền mình buộc người khác làm, người kia bắt buộc phải làm thì cái nghiệp người kia chịu một phần mình chịu chín phần. Ví dụ, ví dụ như giờ mình thấy có cuốn sách đạo lý hay cái mình mới xúi người bạn mình: "Bây giờ anh, anh đem cuốn sách này anh anh dụ cái ông ông mà ổng hay say rượu trong xóm ổng đọc đi, cho ổng tu đi." Mình xúi, xúi thôi.

[1:20:48]Cái người kia nghe lời lấy cuốn sách lại gặp ông kia năn nỉ, ỉ ôi, dụ ngon dụ ngọt cho ổng đọc. Cái ông kia ổng đọc xong cái ổng tỉnh ngộ, cái ổng hết say xỉn, ổng đàng hoàng. Thì cái người mà cầm cuốn sách đi dụ người ta đọc người đó được chín phần phước, còn mình xúi mình có một phần à. Đó là xúi. Còn cái sai thì ngược lại, cái người sai lãnh tới chín phần