Lời giảng: Bản Chất Của Tâm Thức - Kinh Kim Cang 16

  • Thuyết giảng: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Thời lượng: 1:28:09

Toàn văn lời giảng, chép từ phụ đề. Bấm vào mốc thời gian để nghe đúng đoạn đó.

[0:09]Chúng ta niệm Phật. Nam Mô Bổn Sư Thích

[0:19]Ca Mâu Ni Phật. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:51]Mời quý thầy, cô, quý Phật tử ngồi xuống. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Hôm trước chúng ta nói chuyện với nhau về cái đoạn mà Phật nói về tâm một cách tổng quát. Đoạn kinh là: "Như Lai thuyết chư tâm, giai vi phi tâm, thị danh vi tâm", là Như Lai nói rằng dù có bao nhiêu thứ tâm cũng là không phải tâm, nên gọi là tâm. Thế là chúng ta triển khai từ bài trước, hôm nay chúng ta cũng nói lại, nói thêm là tại sao tâm mà không phải là tâm. Nên là đoạn này đi vào cái vấn đề rất là trừu tượng, vì trước giờ từ đầu kinh đến bây giờ có nhiều đoạn cũng gọi là khó, nhưng mà chưa đi vào cái chỗ là tâm là gì.

[1:39]Thì hôm trước chúng ta có nói với nhau, tâm là gì?

[1:45]Tâm thì nhiều vấn đề lắm, nhưng mà chúng ta đi tìm cái bản chất của tâm thì chúng ta thấy nó hiện lên ba điểm, phải không? Hiện ba điểm gốc: thứ nhất là cái ý muốn, thứ hai là cái biết, thứ ba là nghiệp, đúng rồi. Nên nghiệm sâu ba điều đó, chúng ta hiểu được tâm là gì. Và chúng ta cũng quan sát trong suốt cái cuộc sống của mình hằng ngày, mỗi giờ mỗi phút là chúng ta luôn luôn đều muốn một cái gì đó. Từ lần trước đến lần này chúng ta có nghiệm thử không? Từ bài trước á, mình thấy trong suốt cuộc sống của mình lúc nào mình cũng đang muốn một cái gì đó chứ không phải không. Mà sở dĩ cái robot không giống con người chỉ bởi vì

[2:26]robot không hề biết muốn, chỉ có nhiêu đó thôi. Người ta chế robot là phản ứng được điều này, phản ứng được điều kia, nhưng mà robot không bao giờ có cái muốn, chỉ có con người mới có cái ước muốn. Và cái biết cũng vậy, cái biết là một cái gì rất là vi diệu, lạ lùng, chúng ta cũng không giải thích được. Còn cái biết mà chúng ta học, hiểu á là cái biết nó qua trung gian mấy lần rồi, chứ còn cái biết mà tự nhiên thuở ban đầu của tâm là một cái không định nghĩa được, ngay cả cây cỏ cũng có cái biết. Ngày nay thì người ta đã khẳng định được rằng là cây cỏ có cái biết, có cái tâm linh. Là ví dụ như chúng ta đến gần cái cây, chúng ta lấy chân muốn giẫm nó,

[3:11]mình mới khởi trong đầu mình thôi, muốn giẫm thôi, là cây có phản ứng liền, và người ta đo được, với máy móc hiện nay người ta đo được cái phản ứng của cây, và như vậy cây có biết. Và cái biết đó cái cơ chế nó như thế nào thì mình không tìm ra, tại vì chỉ thấy cây cũng là những tế bào thực vật thôi, nhưng mà lọt trong những tế bào thực vật đó nó có một cái biết nó lẩn trong đó, nó gài trong đó. Nên cái biết mà tự nhiên, vì mình mới nhúc nhích trong tâm mình mà cây nó đã nhận ra, và như vậy cái biết của tâm nó xuyên thấu hết, cái biết thuở ban đầu, cái biết tự nhiên nhất của tâm thì nó thẩm thấu

[3:46]hết, vượt không gian, chứ nó không cần dữ liệu, không cần giác quan. Ví dụ như là khi chúng ta muốn biết nhờ con mắt á thì mình phải nhìn, mình thấy người đó như thế nào rồi mình mới suy luận, nhận xét. Đó là cái biết mà đã qua rất nhiều trung gian, là qua trung gian con mắt, qua trung gian suy tưởng, suy nghiệm rồi chúng ta mới kết luận. Còn cái biết của cây cỏ, chúng ta nhìn ở cây cỏ mà biết được cái biết đơn sơ nhất của tâm, tức là biết trực tiếp luôn, biết không cần trung gian. Mình mới khởi nghĩ trong đầu là cái cây nó biết liền. Đó là cái biết ban đầu của tâm thì tâm ai cũng có cái biết đó hết, chúng ta cũng vậy chứ không phải cây cỏ đâu.

[4:26]Nhưng mà chỉ bởi vì là cái hệ thống thần kinh não chúng ta phức tạp hơn rất nhiều lần, nên ngày hôm nay là chúng ta không, chúng ta bị che mất cái biết mà đơn sơ căn bản nhất, chúng ta muốn biết chúng ta phải nghe, phải nhìn, phải tìm hiểu, phải học hỏi rất là nhiều. Đó là cái khác nhau giữa cái biết ban đầu và cái biết mà phải qua trung gian.

[4:51]Thế giới cũng muốn đi tìm cái tâm linh để tìm cái lý thuyết về tâm linh, nhưng mà chỉ một cái chỗ mà họ không bước vô được á là cái biết á. Tâm tức là cái biết, hễ muốn định nghĩa về tâm mình phải định nghĩa ngay tâm là cái biết mà thêm cái tâm là ý muốn. Và nếu không định nghĩa được chỗ này thì chúng ta chưa bước vào cái tâm linh học được. Mà biết là cái gì thì lại không có câu trả lời. Nó là một cái gì giống như cái cây vậy, mình vừa mới khởi ý muốn giẫm nó là nó biết liền, thì cái biết đó không ai định nghĩa được, không ngôn ngữ định nghĩa được, mà phải nhận cho ra cái đó rồi mới bắt đầu đi tiếp vào

[5:26]con đường nghiên cứu về tâm, mà thế giới họ chưa bước qua cái chỗ cửa ban đầu này. Nghĩa là ngày nay các nhà nghiên cứu về tâm trên thế giới chưa bước được cái bước chân ban đầu để nghiên cứu tâm linh học, bởi vì không hiểu được cái biết đơn sơ nhất ban đầu của tâm là gì, nên họ không xây dựng được một cái hệ thống tâm linh học. Thì chúng ta hy vọng là nếu mà sau này các nhà họ muốn nghiên cứu tâm linh, họ bước qua được cái cửa này rồi, nghĩa là tâm tức là biết, cái biết đơn sơ, trực tiếp thẳng tắp không cần qua trung gian. Nếu họ bước qua được cái cửa đó rồi thì họ sẽ đi vào một cái môn tâm linh học cho thế giới luôn.

[6:03]Chúng ta cũng thường hay nghe kể là ở các hành tinh khác á, cái loài người ở hành tinh khác họ đạt được cái nền văn minh cao hơn và họ đi vào tâm linh học rất là tự nhiên. Chúng ta nghe kể thôi, mà vì sao vậy? Vì đây đó lác đác nhiều cái câu chuyện đồn đãi mà các nước họ đều giấu, nhưng mà ông đạo diễn Steven Spielberg ổng gom nhặt hết những cái tư liệu đó ổng dựng lên thành những bộ phim về những cái nền văn minh ngoài vũ trụ. Và trong những cuốn phim của ổng thì những cái người ngoài hành tinh luôn luôn là người có cái tâm linh rất là mạnh, họ không có như mình là biết là phải học hỏi, phải đọc,

[6:42]phải nghe, cái người ngoài hành tinh họ đi từ tâm đến tâm, họ biết tâm của nhau. Ổng cho rằng là ở các thế giới khác con người ta văn minh hơn bởi vì người ta đã đi được vào cái thế giới của tâm, nghĩa là tâm có được thành một môn học, có nguyên lý, được khai triển thành lý thuyết rất là rõ, hơn chúng ta là như vậy. Còn một cái nữa là nghiệp nữa, nghiệp nó nằm luôn trong tâm chúng ta, chúng ta không làm điều gì mà ra khỏi nghiệp được hết. Và nghiệp á, nó chỉnh nó nắn nó điều khiển cái muốn của chúng ta, cũng như nghiệp á, nó sẽ điều chỉnh luôn cả cái biết của chúng ta, nó không còn là trọn vẹn và chính xác nữa.

[7:23]Đây là một yếu tố rất là quan trọng. Và nếu chúng ta không thấy được nghiệp chi phối trong tâm, chúng ta cũng không hiểu được tại sao tâm chúng ta nó hoạt động lung tung hết, không ai giống ai. Chúng ta nói lại ba yếu tố đó: muốn, biết và nghiệp. Ví dụ thường á là trước khi chúng ta muốn á là chúng ta phải biết, nhớ như vậy. Cái muốn thường hay đi sau cái biết một chút. Ví dụ là chúng ta nghe nóng, tức là cái biết của chúng ta biết nóng, lập tức chúng ta muốn cái gì? Muốn mát, tức là chúng ta muốn bật quạt lên, hay muốn mở máy lạnh, hay muốn bước ra ngoài để hóng gió. Như vậy, cứ vậy là hễ có cái biết rồi thì cái muốn luôn luôn đi theo.

[8:05]Hễ biết rồi muốn, biết rồi muốn, biết rồi muốn, tâm chúng ta suốt ngày như vậy. Hoặc là bây giờ vậy, là chúng ta đang ngồi nghe pháp, chúng ta bước vào đây á là mình đã sao? Mình đã muốn rồi phải không? Muốn nghe pháp mới vào đây ngồi. Rồi khi đang ngồi nghe, bỗng nhiên chúng ta không giữ được tâm, cái vọng tưởng khởi lên, cái mình muốn quay sang người đối diện, mình nói chuyện một chút, mình tính mở miệng nói vài câu, nhưng mà nhờ cái biết của quá khứ, cái biết nó báo cho ta biết rằng khi nghe pháp thì đừng, đừng nói chuyện, kiềm chế. Lúc đó chúng ta mới giữ mình lại, ngồi yên không quay ra nói nữa, thì đó là một cái muốn.

[8:40]Nên cái biết đi trước và cái muốn đi sau. Còn nghiệp á, sẽ chi phối cái biết của chúng ta. Có khi nghiệp giúp cho chúng ta biết chính xác, rõ ràng và sâu sắc; có khi nghiệp lái cái biết chúng ta đi làm cho chúng ta biết lệch lạc. Mà khi đã biết sai rồi thì cái muốn làm sao? Chúng ta cũng sẽ muốn bậy bạ, phải không? Ví dụ thế này, là khi chúng ta gặp một vị thầy À, vì ông thầy đó là một ông thầy tà. Thầy tà. Nhưng mà do cái nghiệp của chúng ta từ đời xưa là chúng ta có gây cái nhân tà. Chúng ta có hay nói tầm bậy tầm bạ dụ người khác làm sao, rồi cũng mắc nợ cái ông thầy tà này nữa, nên chúng ta bị cái nhân là đi theo đường tà.

[9:25]Cho nên khi gặp cái ông đó, cái ông đó đó tối ngày ổng hớp rượu đế rồi ổng phun phèo phèo để ổng chữa bệnh thì ai dòm vô cũng chán. Cái là người bình thường dòm vô chán, nhưng mà cái nghiệp của mình riêng mình cái nó bị nắn cái tâm của mình đi, thế mình không nhận ra. Mình lại thấy ông này hay, thấy ông này như Bồ Tát. Cứ mới nói: "Ủa, sao mấy người kia nói thầy là tà?" Cái nói: "Trời ơi, cái chúng sinh ngu si làm sao biết được ta con. Chỉ có con là có thiện căn, con là Bồ Tát con mới biết ta là ai." Tức là ổng dụ vài câu cái mình đi theo luôn. Thì như vậy cái biết mình bị bẻ lệch là do cái nghiệp. Thế là mình đi theo ổng luôn.

[10:01]Phải không? Nghĩa là cái biết sai nên muốn sai. Mà do đâu biết sai? Bởi vì nghiệp nó điều chỉnh cái biết mình ở trong. Cho nên trong cái tâm nó là như vậy, nên chúng ta không có độc lập, không có một cái biết độc lập đâu. Không ai có vỗ ngực khen mình là: "À, tôi là người thông minh, nhìn đâu biết đó", đâu không có đâu. Chúng ta bị nghiệp quá khứ chi phối. Ví dụ có may mắn mà chúng ta làm được điều gì hay, cũng đừng nghĩ mình hay là do đâu. Cũng do nghiệp quá khứ, cái nghiệp đã hỗ trợ chúng ta khiến chúng ta biết được điều chính xác, à là như vậy. Còn ví dụ như là chúng ta có cái nghiệp lành, cho nên chúng ta gặp được một vị thầy chân chính,

[10:45]rồi mình nhận ra được, mình cảm nhận được, mình biết được chính xác. À, mình nói ông thầy này coi mòi ổng chân chính, ổng hiền lành. Đó, quý vị thấy thầy trụ trì ở đây nè, thấy mập mạp, đẹp trai chứ thầy này chân chính, này đi theo không sao, bảo đảm. Thì đó, khiến cuộc đời mình đi theo một vị chân sư là cũng là một cái đại diễm phúc như vậy. Thì nguyên tắc á là khi chúng ta biết điều đúng thì chúng ta sẽ muốn một cái điều đúng. Nhưng mà cũng không đơn giản là như vậy, bởi vì nghiệp cũng chi phối cái muốn chúng ta luôn. Là có khi chúng ta biết đúng nhưng mà khởi lên một cái muốn trật, là nghiệp cũng điều khiển cái muốn chúng ta luôn.

[11:27]Là ví dụ như là khi mình thì gặp một người mà mình biết người này là người tốt bụng, rộng rãi, hay thương người thì biết là biết chính xác, nhưng do nghiệp quá khứ mình lại khởi lên cái muốn là muốn muốn lợi dụng người ta. Là nói người này tốt, thôi mình lợi dụng mình kiếm tiền được á, mình nhờ vả, xin xỏ được. Đó, là như vậy, biết đúng rồi đó, nhưng mà lại muốn muốn trật, cũng là do nghiệp của mình, thiệt đó. Và khi mình khởi cái nghiệp mình muốn trật để mình lợi dụng người ta vậy cái mình lại tạo thành một cái nghiệp khác. Đó. Nghĩa là cái nghiệp quá khứ chi phối cái biết của chúng ta, làm cho chúng ta biết đúng hay sai.

[12:11]Và cái nghiệp nó cũng chi phối cái muốn chúng ta, để cho chúng ta muốn điều chân chính hay muốn điều sai lầm. Và khi mà có muốn rồi đó, chúng ta sẽ hành động, phải không? Và cái hành động thì nó tạo gì mới? Hành động thì lại tạo tạo nghiệp tiếp tục. Rồi cái nghiệp nó sẽ quay lại nó chi phối cái biết và cái muốn của mình như thế lại. Nên chúng ta thấy nó có cái vòng tuần hoàn. Vòng tuần hoàn là từ nơi nghiệp chi phối cái biết, rồi chi phối cái muốn, rồi cái muốn nó tạo thành hành động, hành động lại tạo ra nghiệp, và nghiệp quay lại nó chi phối cái biết, chi phối cái muốn, là cứ cái tuần hoàn như vậy.

[12:51]Và nếu chúng ta không có thoát ra được điều này, chúng ta không có sáng suốt để chúng ta điều khiển cái nghiệp của mình trong tâm, không có điều khiển được cái biết, không có hướng dẫn được cái muốn, là chúng ta cứ đi từ cái sai này tới cái sai kia, và nghiệp nó sẽ ràng buộc chúng ta rất là nặng nề. Còn mà để được sự giải thoát thì chúng ta phải có cái nghiệp tốt ở trong tâm, nên luôn luôn biết cái điều gì là biết chính xác và muốn cái điều gì là muốn những điều chân chính. Và do đó, chúng ta sẽ làm những cái điều tốt, tạo nên nghiệp tốt, nghiệp tốt quay trở lại hỗ trợ cái tâm sáng lên lần nữa.

[13:29]Cứ như vậy, cứ cứ nhiều lần, nhiều lần như vậy, cứ tuần hoàn nhiều lần như vậy thì tâm của chúng ta càng lúc càng sáng, rồi rất sáng, cực kỳ sáng cho tới khi chúng ta trở thành vị thánh thật sự luôn. Một vị thánh mà tâm, cái chữ tâm như một vị A-la-hán đã nói là: "Tâm ta nay sáng chói hơn ngàn ánh mặt trời", là như vậy. Bởi vì cái vòng tuần hoàn đó nó đã quay vòng không biết mấy tỷ vòng những điều tốt như vậy. Còn ngược lại, cái người phàm phu, sở dĩ chúng ta bị trôi lăn bởi vì cái vòng tuần hoàn là một vòng tuần hoàn ác tính. Tức là nghiệp xấu làm cho cái biết nó sai, làm cho cái muốn sai, tạo ra cái nghiệp sai,

[14:09]cái nghiệp xấu, nghiệp xấu quay trở lại trong tâm, bôi đen cái tâm một lần nữa, làm cho biết biết sai, làm cho cái muốn bậy, rồi lại tạo nghiệp tiếp. Nghĩa là vòng tuần hoàn ác tính như thế, nó dìm cái tâm chúng ta tối dần, tối dần. Và cái tâm chúng ta tối thì chúng ta sẽ đi về cái nơi cái nơi tăm tối, thấp hèn. Cho nên ba cái điều đó chúng ta phải biết kiểm soát, kiểm soát tâm mình, kiểm soát cái nghiệp của mình, kiểm soát cuộc đời tu của mình là ba cái điều đó: nghiệp, cái biết và cái muốn.

[14:43]Ví dụ như là giờ chúng ta muốn sống một cái đời sống thanh thản thì phải làm sao?

[14:54]Chúng ta muốn sống đời sống thanh thản á, cái người mà không biết á thì lại bỏ cái bổn phận, trách nhiệm của mình để sống cho nhàn, gọi là sống thanh thản. Thì cái người đó từ từ tổn phước, rồi sau này lại cực khổ. Còn cái người biết á thì chấp nhận vất vả tạo phước trong cái quãng đời ban đầu. Rồi sau này về sau lớn tuổi lên thì cái phước đầy đủ rồi thì lại được sống một đời sống rất là thanh thản, nên chúng ta nhớ như vậy. Còn ai không biết cứ nghe nói tu là buông hết, là bỏ hết, không làm gì hết, là người đó hiểu lầm rất là lớn, rồi sau cuộc đời rất là cực, về già sống không được nữa, thức không yên, chết không xong, như vậy.

[15:44]Vì sao mà nghiệp lại được xem là một cái thành tố của tâm? Chúng ta nói là tâm gồm có cái biết, cái muốn và nghiệp, mà tại sao có yếu tố nghiệp ở trong? Là thật ra đó, nghiệp không phải là chỉ nằm trong tâm, mà nghiệp nằm ở đâu? Nghiệp hiện hữu trong tất cả mọi vấn đề của cuộc sống chứ không riêng gì trong tâm. Ví dụ như là hôm đó chúng ta đi chơi,

[16:15]chúng ta đi một chuyến du lịch đâu đi xa, ở trên cái chuyến đi chúng ta bất ngờ quen một người quen rồi gắn bó với nhau thì cũng là nghiệp. Hoặc là một cái cành cây rớt xuống trên đường cũng là nghiệp, không có tự nhiên. Tại không canh giờ nào rớt, canh giờ đúng lúc mình đi ngang rớt thì cũng là cái nghiệp. Nên là nghiệp hiện hữu trong mọi lúc của cuộc sống. Chúng ta ngồi ở đây vậy là cái nghiệp nó giữ cho mình bình yên. Chứ nếu mà nó có nghiệp xảy ra thì chuyện gì xảy ra? Cái quạt nó rớt xuống. Thấy hù sợ rồi. Nhưng mà không sao, bởi vì mình không bị cái nghiệp đó nên nó cứ ở yên trên đó nó quay cho mát mình.

[16:57]Cho nên là nghiệp hiện diện trong mọi lúc của cuộc sống, từ những cái rất là tinh tế như là trong nội tâm của chúng ta, hoặc là ra những cái rất cụ thể là mọi cái hoàn cảnh, mọi cái vật chất chung quanh của ta, tất cả đều là bóng dáng của nghiệp, tất cả đều do nghiệp chi phối. Và như vậy là chúng ta thấy cái nghiệp mà đi thông xuyên suốt hết đối với chúng ta như vậy á, người nào mà khéo nhận ra được cái quy luật của nghiệp báo mà biết sống điều chỉnh cuộc đời mình cho chân chính, biết gieo nhân cho tốt thì mình lái cuộc đời mình đi được. Giống như là chúng ta muốn cái cây tốt thì không phải là mình

[17:41]lấy sơn mình sơn lên lá cho nó xanh, mà làm cái gì? Mình tưới từ cái gốc, mình điều chỉnh từ phía dưới thì phía trên nó lại tốt. Như vậy, vì nghiệp hiện diện trong mọi lúc của cuộc sống, chúng ta đang đi trên đường vậy bất chợt cơn mưa đổ xuống cũng là cũng là nghiệp, chứ không phải khơi khơi đâu. Tại vì sao mà cơn mưa đổ xuống là nghiệp? Tại vì cơn mưa đổ xuống bất ngờ một lúc mình không mang áo mưa thì mình phải phải vào trú mưa. Khi vào trú mưa, cái lại mình gặp một cái người người quen ở kiếp nào đó họ cũng vào trú mưa. Thành thử một cơn mưa đổ xuống á coi chừng cũng lại là nghiệp chứ không phải là khơi khơi.

[18:22]Hoặc là một cơn mưa đổ xuống làm mình tắt máy xe, tới về nhà mình trễ mất 15 phút, mà trong 15 phút đó không ngờ gia đình mình có một cái biến động lớn, à cũng là nghiệp, chúng ta thấy như vậy. Và nghiệp đồng hành với mọi hoạt động của tâm như một thành viên không thể tách rời, nên làm cho chúng ta xếp nghiệp coi như là một thành tố của tâm là vậy. Bởi vì trong từng giờ từng phút của những suy nghĩ chúng ta đều có nghiệp của quá khứ hết. Chúng ta mến đạo cũng là cái phước của quá khứ. Là tại sao mà ngày nay mình không đi chơi mà mình thích đi nghe giảng? Là cái thiện căn của một đời xưa nào đó,

[19:07]là đời xưa trừ những người mà tu siêng năng rồi mình không có nói, nó đương nhiên, nhưng ví dụ mình là một người mới biết đạo, mới nghe phong phanh về Phật pháp, vậy mà ví dụ ngày Chủ nhật không đi chơi, phải tìm đến chùa nghe pháp, thì đó cũng là một sự thúc đẩy của một cái kiếp xưa nào đó là mình đã làm được điều thiện. Lúc đó có người nào đó họ đi họ cất chùa, họ đến họ quyên. Họ xin rồi cái mình lúc đó mình cũng móc túi mình bỏ vào trong đó mấy đồng, mấy đồng ngày xưa. Thì bỏ mấy đồng như vậy thì nó chẳng đáng gì đâu, chỉ được vài viên gạch. Nhưng mà vài viên gạch đó không ngờ là năm kiếp sau nó có một cái sự thúc đẩy

[19:49]bí mật khiến mình ghé vào ngôi chùa để mình nghe pháp thay vì mình đi chơi. Một lần mà nghe pháp đó rồi, cái cuộc đời mình thay đổi luôn. Mình không có chịu là sống theo cái lối sống tầm thường như trước nữa và bắt đầu mình chịu khó, chịu cực là kiểm soát tâm mình, là sám hối những cái tội lỗi xưa, tích lũy làm thêm những điều phước. Đó là chỉ một lần do năm kiếp xưa mình bỏ mấy đồng tiền vào cái thùng mà người ta đi quyên để người ta cất chùa. Thì ngày hôm nay khởi thành cái ý muốn thúc đẩy mình là đi nghe pháp chứ không có đi chơi nữa. Vì vậy chúng ta ngồi đây là một cái sự thúc đẩy nào đó của kiếp xưa mình

[20:28]làm điều lành gì đó, làm điều thiện gì chứ không phải là không. Còn cái người mà ví dụ những đời trước thường hay làm điều thiện, cúng dường Tam Bảo, truyền bá Phật pháp thì họ bị thúc đẩy theo Phật đâu từ hồi nhỏ mất tiêu. Là cái ý muốn của họ đã bị thúc đẩy, do nghiệp thúc đẩy rồi. Cho nên là nghiệp đồng hành với mọi hoạt động của tâm chúng ta như một thành viên không thể tách rời. Mà chúng ta nói là đồng hành thôi, chứ sự thực cái nguồn gốc của nghiệp xa hơn tâm chúng ta rất nhiều. Xa hơn tâm chúng ta, coi vậy mình nói là tinh vi chứ vẫn còn chỉ là một cái bề mặt rất là cạn. Nghiệp có cái gốc sâu hơn nữa.

[21:09]Là trong vũ trụ này chúng ta tạm chia thành hai chất liệu chính. Một là vật chất. Nhưng trong cái vật chất thì chúng ta phân ra không biết bao nhiêu loài, nhưng mà mình tạm xếp hết vào một loại là vật chất. Và một cái chất liệu thứ hai nữa là tâm linh. Thì cái tâm là cái sâu hơn vật chất. Vì vật chất là bề mặt cạn của vũ trụ, nhưng mà sâu phía trong vẫn là có cái tâm linh chi phối. Nhưng mà sâu hơn tâm nữa còn một cái chất liệu sâu hơn nữa, là cái gốc của tâm và của vật chất luôn, đó chính là cái gốc của vũ trụ đó, cái gốc cái thể tánh của vũ trụ, cái bản thể của vũ trụ. Cái gốc đó rất là sâu và nghiệp nằm ở trong đó.

[21:52]Cái xuất phát của nghiệp là ở trong đó. Cho nên vì nghiệp là xuất phát từ trong tận trong cái bản thể sâu thẳm của vũ trụ, cho nên nghiệp chi phối hết tất cả mọi điều của vũ trụ này, từ cái tâm thức của một chúng sinh cho đến cái vật chất của chúng sinh đó, cái hoàn cảnh của chúng sinh đó, cái thế giới của chúng sinh đó, cái thiên hà của chúng sinh đó, là chi phối hết sạch luôn. Thì nghiệp tinh vi như vậy. Và cái điều mà được gọi là trí tuệ của một vị giác ngộ chính là cái khả năng thấy được nghiệp, thấy được nhân quả. Chúng ta hiểu điều này. Giống như ngài Thiền sư Bá Trượng nói cái câu rất là chí lý:

[22:29]"Một bậc thánh giác ngộ không phải là người thoát ra khỏi nhân quả, mà chính là người thấy suốt được bản chất của nhân quả". Vì thấy suốt được bản chất của nhân quả, cho nên vị này luôn luôn là biết gieo cái nhân để đạt được cái mục tiêu của mình, biết gieo cái nhân để tu cho tốt, biết gieo cái nhân để hóa độ được chúng sinh. Chúng ta biết rằng khi một vị Bồ Tát xuất hiện để giáo hóa chúng sinh không có ngẫu nhiên. Không có ngẫu nhiên mà bước ra nói gì người ta cũng nghe, không có đâu. Có những vị thánh rất là cao siêu nhưng mà cả đời chỉ một, hai đệ tử rồi tịch bỏ thân đi, chứ không có đông. Nó có cái duyên của nó, có cái nhân.

[23:09]Và những vị Bồ Tát phải biết gieo đúng nhân thì mới có đông đệ tử chứ không phải là dễ. Nên vì vậy là các vị Bồ Tát mà đúng nghĩa, ngoài cái biết cái nhân để gieo cho mình đắc đạo, còn biết cái nhân để gieo làm sao để độ được cho đông chúng sinh nữa. Đó là Bồ Tát hạng sơ cơ. Còn Bồ Tát mà hạng cao hơn là làm sao?

[23:35]Bồ Tát mà hạng cao hơn là Bồ Tát mà không có trực tiếp giáo hóa chúng sinh, mà Bồ Tát đó luôn luôn tác động để cho người này giúp đỡ người kia, người này giáo hóa người kia. Đó là Bồ Tát cao hơn một cấp nữa. Cái thế giới của Bồ Tát thì chúng ta không lường được hết. Bởi vì trí tuệ rất là cao siêu, cảnh giới các ngài rất là thù thắng, chúng ta chỉ hiểu một phần, một phần thôi. Chúng ta chỉ biết một điều là các ngài cực kỳ trí tuệ và cực kỳ từ bi, chúng ta hiểu nhiêu đó thôi. Rồi từ từ dần dần chúng ta sẽ hiểu thêm. Vì chính vì các ngài cực kỳ trí tuệ và từ bi nên các ngài thường không muốn trực tiếp giáo hóa. Vì sao?

[24:17]Bởi vì nếu các ngài trực tiếp giáo hóa thì các ngài sẽ sẽ lấy hết phước. Mà các ngài vì quá từ bi nên các ngài muốn cho chúng sinh có phước, luôn luôn muốn cho người này giúp đỡ người kia, người này san sẻ giáo lý với người kia để cho chúng sinh có phước với nhau, và các ngài bí mật ở trên phù hộ thôi. Nên vì vậy quý Phật tử để ý như là chúng ta, ví dụ mình có một cái cuốn sách về đạo hay, cái mình muốn đem đến cho một người bạn để đọc. Và khi mình đem đến như vậy thì nếu mà cái nghiệp mình còn, ở trên đường đi mình sẽ gặp những cái cản trở, tự nhiên tới nơi cái người kia đi vắng, hoặc là người kia họ thờ ơ, họ không muốn nghe, vân vân.

[24:58]Nhưng mà nếu lúc đó mình thành tâm một chút xíu, mình cầu nguyện một chút xíu thì vô số các vị Bồ Tát họ hỗ trợ liền. Bởi vì đó là hạnh các ngài. Các ngài khiến cho mình đến gặp người kia bỗng nhiên nó vui vẻ hơn, suôn sẻ hơn, rồi người kia họ chịu đọc cái cuốn sách đó để họ phát được cái tâm đạo. Và nhờ như vậy cái mình lại có phước. Và chính cái mà mình chia sẻ giáo lý để cho mình có phước á, là một cái mục tiêu của các vị Bồ Tát ở trên. Nên là những vị Bồ Tát mà mới ban đầu á thì thường là gieo duyên độ chúng sinh rất là đông, trực tiếp giáo hóa. Nhưng mà khi các vị lên một nấc cao rồi thì các

[25:35]vị luôn luôn xúi người này độ người kia. Mà ngay cả chúng ta cũng vậy, nhiều khi mình cầm một cuốn băng giảng hay mình đem mình truyền cho người khác, đôi khi không phải ý của mình, mà chính là có một sự thúc đẩy bí mật từ ở trên để cho mình có phước. Phải làm điều đó mới có phước, chứ còn mà cứ tu một mình, nghe một mình, không có phước được. Và các ngài sẽ sắp xếp cho mình để mình làm những công việc đó được suôn sẻ. Đó là những vị Bồ Tát cấp cao hơn. Còn những vị mà những Bồ Tát cao hơn nữa, cao hơn nữa, thì cảnh giới của các ngài, sự sắp xếp của các ngài càng siêu việt hơn, chúng ta không lường hết nổi.

[26:09]Đó là như vậy. Nên chư thánh là những vị thương yêu chúng sinh và các ngài thấy rõ đường đi của nghiệp, cho nên vận dụng nghiệp rất là khéo, làm cái gì cũng theo đúng nhân quả, chứ không phải là người thoát ra nhân quả rồi muốn làm gì thì làm. Khác nhau điều này. Chúng ta coi cái người mà hiểu đúng đạo Phật hay không để ý chỗ đó đó. Một cái người nào cho mình đã tự tại rồi muốn làm gì thì làm, thì người đó không phải thánh trong đạo Phật, mà chỉ là một người hiểu lầm. Còn một vị thánh trong đạo Phật là một người biết rất rõ nghiệp và luôn luôn khéo léo dựa vào nghiệp để tu và để độ chúng sinh.

[26:49]Đó là một vị thánh trong đạo Phật như vậy. Thì khi mà chúng ta nhìn thấy tâm chỉ là cái biết nè, cái muốn và cái nghiệp. Và như vậy chúng ta điều chỉnh cái tâm mình cho cho thích hợp để cho làm sao được cái nghiệp tốt của tâm, được cái biết sáng suốt và luôn luôn có những cái ước muốn chân chính, là chúng ta điều khiển cái tâm chúng ta như vậy là chúng ta biết tu đó. Chúng ta điều khiển như vậy là biết tu. Nhưng mà ở đây lại tới cái chỗ mà Phật nói thế này: "Là tâm mà không phải tâm". Tới chỗ này là chỗ Phật nói: "Tâm mà không phải tâm mới gọi là tâm", nghĩa là sao? Ai nhớ lại những lần trước chúng ta nghe giảng,

[27:34]nói như vậy mà không phải vậy mà lại là vậy, kinh Kim Cang? Ví dụ như mình mời đi ăn kem, tới chừng người ta nói: "Sao bạn mời tôi lâu quá không thấy ăn kem nữa?", "Tôi nói vậy mà không phải vậy, mà thôi hãy chờ như vậy". Nói sao nói kỳ vậy, tôi học kinh Kim Cang.

[27:56]Còn bây giờ nè, nói tâm mà không phải tâm mà lại gọi là tâm, nghĩa là làm sao?

[28:06]Đây tới chỗ rút vấn đề lại đó. Tới chỗ này là cái chỗ cánh cửa đi vào tâm để tu, chúng ta phải hiểu rõ chỗ này rồi mới vào được Kim Cang nè, mới bắt đầu nhiếp tâm để tu thiền được. Tâm mà không phải tâm mà gọi là tâm.

[28:22]Chúng ta biết tâm là ba yếu tố rồi phải không? Biết rồi muốn và nghiệp. Và chúng ta đã điều chỉnh cái tâm mình như vậy là tạo cái nghiệp tốt cho tâm, luôn luôn có cái biết chính xác, sáng suốt, luôn luôn có những ước muốn chân chính, là tu được tâm. Khi muốn chân chính rồi, chắc chắn chúng ta sẽ làm điều đúng và tạo thành cái nghiệp tốt để quay trở lại hỗ trợ cho tâm tiếp, là chúng ta biết như vậy. Vậy tại sao tâm lại không phải là tâm? Tại sao?

[28:58]Hôm trước á, trong cái yếu chỉ kinh Kim Cang á, chúng ta hay nói cái tiêu chuẩn thế này: trong kinh Kim Cang là Phật dạy chúng ta làm vô số điều thiện mà xem như xem như không. Để chi vậy? Để... để không chấp, phải không? Và không chấp công tức là là đạo đức. Cho nên trong kinh Kim Cang á dạy chúng ta một cái đạo đức thật là sâu, thật là lớn, đó là cái không chấp công, không chấp những cái thành tựu cao cả của mình, mặc dù là suốt cuộc đời phải cố gắng làm cho bằng được những điều thiện, những điều cao cả. Đây là cái đặc biệt nhất của kinh Kim Cang mà từ đầu tới cuối luôn luôn như vậy, chúng ta nhớ.

[29:44]Muốn hiểu kinh Kim Cang là hiểu chỗ đó. Cái xương sống của kinh Kim Cang là cái chỗ này: là làm vô số điều thiện, độ vô số chúng sinh mà không bao giờ chấp công, luôn luôn xem như không. Nhớ như vậy, cái xương sống của kinh Kim Cang. Sau này ai hỏi mình: "Nghe nói bạn nghe giảng kinh Kim Cang, thì vậy cái quan trọng nhất, yếu chỉ kinh Kim Cang là gì?", mình trả lời liền: "Yếu chỉ kinh Kim Cang là làm vô số điều thiện, độ vô số chúng sinh, dụng vô số cái công phu tốt, nhưng mà vẫn xem tất cả như không". Đó, yếu chỉ kinh Kim Cang nhiêu đó là không trật đường nào hết. Và như vậy chúng ta vừa được phước mà vừa được cái đạo đức.

[30:25]Còn tại sao chúng ta có khi được phước mà mất đạo đức? Được phước mà mất đạo đức ở chỗ là chúng ta làm điều thiện mà mà chấp. Chấp công, thấy nó thật, thành ra tuy điều phước có mà đạo đức thì mất tiêu. À vì vậy, qua những đời sau, chúng ta sẽ trở thành một người giàu sang, quyền quý nhưng mà kênh không ai chịu nổi. Là có phước mà không có đạo đức là vì lúc làm mình chấp công. Còn mà bây giờ, khi mình làm một điều thiện mình xem như không, làm điều thiện xem như không, thì kiếp sau á, chúng ta là một người giàu sang, quyền quý nhưng mà cái phong cách thì hiền lành, điềm đạm, khiêm tốn. Ai cũng thương hết. Thậm chí làm tới một ông vua,

[31:08]ông thủ tướng, nhưng mà hiền như đất, khiêm tốn như đất. Nghĩa là người đời phải tôn xưng làm thánh luôn. Tại vì làm thánh là gì? Chính là một người mà có phước rất lớn mà lại cực kỳ khiêm tốn là thánh. Còn cái người mà không làm thánh là gì? Bởi vì có phước quá lớn mà mà không khiêm tốn được. Mình kiêu một chút xíu, không khiêm tốn được, nên không ai coi mình là thánh, chỉ nhiêu đó thôi. Và yếu chỉ kinh Kim Cang là dạy chúng ta con đường đó: làm vô số điều thiện, độ vô số chúng sinh, tu hành vô số công hạnh mà phải xem tất cả như không. Yếu chỉ kinh Kim Cang, thì bây giờ đi vào tâm chỗ này cũng vậy.

[31:47]Là khi chúng ta biết được tâm là cái biết, cái muốn, cái nghiệp, thế là chúng ta phải tu làm sao? Luôn luôn là là cố gắng biết những điều đúng, biết giáo lý đúng, biết vấn đề chính xác để sau đó chúng ta có những cái ước muốn, ước muốn chân chính, ước muốn lớn lao, phải không? Như lần trước chúng ta nói đó, cuộc đời chúng ta muốn luôn luôn muốn, muốn những cái nhỏ nhặt nhất là khi nực thì muốn cầm cái quạt quạt. Hoặc là chúng ta muốn những cái lớn lao hơn là nhìn thấy người khác nhà cao cửa rộng khởi muốn mình cũng như vậy, hoặc là gặp Phật pháp thì muốn tu hành. Chúng ta luôn luôn muốn. Và ở đây chúng ta biết điều chỉnh cái muốn của mình

[32:30]luôn luôn là những cái muốn cao cả, tốt đẹp. Rồi chúng ta nhờ cái muốn cao cả, tốt đẹp đó rồi chúng ta làm được vô số những điều lành và tạo thành vô số cái nghiệp, nghiệp tốt. Rồi nghiệp đó quay trở lại hỗ trợ cái tâm chúng ta sáng rồi những cái muốn chân chính. Cứ như vậy mà nó quay vòng như vậy chừng vài tỉ lần thì mình sao? Tâm mình sao? Tâm mình trở thành tâm của của thánh, của Bồ Tát, của Phật. Tức là chúng ta điều chỉnh được ba cái đó: nghiệp nè, cái biết và cái muốn. Chúng ta điều chỉnh vô số lần như vậy thì cái tâm đó thành tâm của của thánh rồi. Sáng như cả ngàn ánh mặt trời. Nhưng mà tới chỗ này, mà nếu chấp thì sao?

[33:16]Thì rớt trở lại. Bây giờ ví dụ như ai hỏi: "Tâm anh lúc này sao?", nói là: "Tâm của tôi là rất là sáng. Tôi luôn luôn biết việc gì đúng cái đó. Con ruồi bay qua tôi biết con ruồi đực hay cái. Một người đi ngang qua tôi biết là người nam hay người người nữ, không có trật. Tôi rất là sáng suốt. Và tôi luôn luôn mơ ước những cái điều chân chính là tôi luôn luôn muốn làm cha thiên hạ ví dụ..." Nghĩa là khi mà mình nghĩ rằng mình tốt, khi mình nghĩ rằng mình hay, tâm mình hay, tâm mình giỏi thì ngay đó chúng ta vuột cái đoạn này của kinh Kim Cang. Dù mình tu rất là nhiều và thấy tâm mình sáng thật sự,

[33:57]tinh tế thật, thông minh thật, thấy cái gì là biết cái đó, nói ra điều gì chính xác điều đó và luôn luôn chỉ nuôi trong tâm những cái ước muốn cao thượng. Là ngày nào cũng quỳ trước Phật cầu nguyện là xin cho con đem cả cuộc đời này đi theo Phật pháp, độ vô số chúng sinh, cực khổ gì con cũng không từ nan là để làm lợi ích cho mọi người. Đó là những cái ước muốn rất đẹp, ngày nào cũng cầu nguyện như vậy với Phật. Và cái biết thì rất là sáng, học kinh điển đâu hiểu tới đó, đối xử trong cuộc đời ở đâu chính xác đó, nói điều gì người ta cũng phục lăn. Và mình thấy mình rất hay. Và mình tự cho mình hay thì sao?

[34:30]Ngay đó đạo đức mất. Và đây là chỗ mà chúng ta phải hiểu. Đây chỗ này, yếu chỉ là phải xem như không! Đó, chỗ này là cái chỗ mà xem tâm như không. Nghĩa là dù chúng ta đã điều chỉnh được ba cái yếu tố đó: nghiệp, cái biết và cái muốn rất là hoàn hảo, rất là đẹp đẽ và đã tạo thành một cái tuần hoàn đẹp vô số lần, cả triệu lần. Từ cái biết sáng rồi tới làm cái muốn tốt, cái nghiệp lành quay trở lại hỗ trợ cho cái tâm sáng thêm, cái ước muốn đẹp hơn, làm được điều lành nhiều hơn, quay trở lại. Cái vòng tuần hoàn đó cứ quay cả mấy triệu lần, tâm chúng ta cực kỳ sáng rồi mà vẫn xem như không. Đó là nắm được yếu chỉ Kim Cang.

[35:11]Tới chỗ này chúng ta tu được vào trong tâm của mình. Khác nhau chỗ mà một người có thể giải thoát hay không thể giải thoát là chỗ này. Ví dụ chúng ta hiểu được tâm là ba điều: cái biết, cái muốn, cái nghiệp, mình tu được sáng ba cái đó lên hết. Ba cái yếu tố của tâm đó là được thắp sáng lên rất là đẹp mà chỉ có một cái chấp, tự công nhận à tâm mình tốt rồi thì ngay đó rớt trở lại liền. Ngay đó rớt lại. Từ từ, cái vòng tuần hoàn nó sẽ chậm lại, mình khó biết được điều đúng nữa, cái ước muốn bắt đầu tầm thường trở lại. Lạ lùng như vậy. Chỉ có cái người nào mà thấy tâm như không, tạo được cái tâm thật tốt rồi mà

[35:55]vẫn xem tâm đó như không thì người đó mới có thể giải thoát về sau được. Đây là chỗ khác nhau giữa một người phàm phu và một bậc thánh giải thoát. Là ví dụ chúng ta gặp những người bạn đạo với nhau, chúng ta nói chuyện đạo rồi cái người đó họ hay nói về đạo lý, họ nói về đạo lý rất là nhiều. Và chúng ta thấy rằng họ có cái ý khoe, mặc dầu nói không điều gì trật hết, tất cả đạo lý của người đó nói không điều gì trật, rất là chính xác và cũng hay làm việc lành. Nghĩa là không điều gì chê, mà chỉ có một cái là thấy nó là thật thì mình biết ngay người này sẽ hưởng phước tương lai và không giải thoát.

[36:37]Chút xíu đó thôi. Là họ tu gì tu rồi cũng sẽ sau này lên cõi trời, xuống cõi người làm ông này bà kia, vinh quang nhưng không bao giờ giải thoát. Còn cái người nào mà trong cuộc sống họ điềm đạm như mây như gió, tại cái người mà thấy tâm mình không rồi cái người đó như mây như gió. Họ sống hiền lành như mây như gió, nói điều gì chính xác điều đó, làm bất cứ điều gì cũng là điều tốt mà lúc nào cũng thấy như không, không cho rằng cái tâm mình là đã cao thượng, cái người đó sẽ giải thoát. Khác nhau chút xíu đó thôi. Và bây giờ chúng ta tùy chọn, chúng ta sẽ chọn con đường nào đó để đi thì tùy chúng ta.

[37:20]Nếu chúng ta tu rất nhiều để được cái tâm rất tốt rồi thấy cái tâm đó là thật, lúc nào cũng khoe: "Tôi là người có trí tuệ, tâm tôi là tâm lành, lúc nào tôi cũng mong muốn điều tốt", thì chúng ta đang chọn con đường phàm phu đó. Tuy sẽ hưởng phước nhưng không giải thoát. Còn nếu bây giờ từ giờ phút này mình hiểu được cái đoạn này của lời Phật dạy, thì điều ác là dứt khoát không đụng tới, chỉ làm vô số điều lành và xem như không luôn thì chúng ta đang chọn con đường giải thoát, tùy chúng ta. Tùy. Được chưa? Đó, nghe kinh Kim Cang tới chỗ này là quan trọng đó. Ngày xưa ví dụ chúng ta làm vô số điều lành

[38:00]bên ngoài rồi xem như không, dễ không? Dễ, vì đó cái bên ngoài. Hoặc là độ vô số chúng sinh, chúng ta làm cho vô số người biết đạo rồi xem công mình như không, dễ không? Vẫn dễ. Nghĩa là hồi lúc trước mình nghe nói là khó phải không, nhưng mà coi vậy chứ vẫn dễ. Cho tới ngày hôm nay mà học tới cái đoạn này rồi mới thấy sợ nè. Tức là mình tu dưỡng cái tâm mình từng giờ từng phút, làm cho tâm mình trở thành thật là cao thượng, vậy mà phải xem như không. Chỗ này mới khó, vì vì tâm là vô hình vô tướng. Ví dụ bây giờ mình độ được một triệu người, hen, có con số, có con người, mắt mình thấy, mình biết và mình xem điều đó như không, dễ.

[38:41]Còn cái tâm mơ mơ hồ hồ không thấy đâu hết trơn á, tâm như không, không thấy. Nó đang tốt lên, chỉ biết nó đang tốt lên, nó sáng lên, vậy mà phải luôn luôn thấy tâm đó là không từng giờ từng phút, thì đó là con đường giải thoát. Chỗ này mới thật là khó. Làm được không? Ráng nghe không? Không ai dám nói mình làm được liền đâu, chỗ này rất là khó. Nếu quên một cái là chúng ta chấp trở lại liền. Nên vì vậy là kể từ ngày hôm nay chúng ta đi vào một cái chỗ cảnh giới rất là sâu trong sự tu hành là lúc nào cũng tu dưỡng tâm mình thật là tốt, vậy mà phải phải xem như không, xem cái tâm đó như không. Nhưng mà vẫn nói là là tâm.

[39:23]Ví dụ mình xem cái tâm mình như không, nhưng mà ai hỏi tới: "Tâm anh lúc này sao?", thì mình cũng phải nói là: "Tâm tui thì cũng hơi lộn xộn chút đỉnh, không có gì", phải không? Mình cũng nói là tâm. Đó là Phật nói đó. Như Lai nói là tâm mà không phải tâm, mà cứ gọi là là tâm. Mình cứ nói là tâm bình thường để nói chuyện với mọi người. Chứ ví dụ như người ta hỏi mình câu bình thường: "À, sao lúc này tâm anh làm sao?", cái mình trả lời: "Tâm tôi như không", cái người ta giương mắt người ta dòm mình, ta không hiểu gì hết. Cho nên là cái điều mà mình xem tâm như không á là tự mình biết thôi, phải không?

[39:57]Chứ không phải gặp ai cũng ai hỏi mình cái mình nghiêm mặt lên đạo mạo như ông thánh: "Tâm tôi như không". người ta hỏi xong nói: "À dạ, tâm tôi lúc này cũng bình thường." Nói: "Nói vậy được." Cái đoạn kế tiếp là: "Hà dĩ cố? Sở dĩ giả hà? Tại sao như vậy, này Tu Bồ Đề? Quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc." Chỗ này thật là là ý vị.

[40:28]Về cái chuyện mà nói rằng là tâm bất khả đắc này á, chúng ta có một cái câu chuyện, câu chuyện vui trong nhà Thiền. Là lúc đó ngài Tuyên Giám là một vị ừm giống như là một vị giảng sư nổi tiếng về Kinh Kim Cang. Ngài hay giảng Kinh Kim Cang. Chúng ta không biết thời đó ngài giảng có giống mình hay không? Và ngài cũng có tu hành, cũng ngồi thiền, nhiếp tâm thanh tịnh và chuyên giảng Kinh Kim Cang. Lúc đó ngài mới nghe là có cái Thiền tông ở phương Nam là đốn ngộ, có cái phương pháp đốn ngộ. Thì ngài không tin, tại vì ngài thấy nơi cái công phu của mình là tâm ngài khi ngồi tu á, nhiếp thì nó vào định dần

[41:13]dần, từ từ nó sáng rồi từ nó định, chứ không có cái bất ngờ cái mà đốn ngộ, bừng vỡ tâm chứng thánh. Ngài không tin. Mà ở phương Nam của Trung Hoa á thì ai cũng xỉu xiu điều đó nên ngài nổi máu anh hùng lên, ngài mới đi về phương Nam để ngài cãi lý. Tại vì ngài là một giảng sư có lý luận giỏi. Mà ngày xưa thì không có cái xe Toyota Camry như bây giờ, cho nên ngài phải gánh kinh trên vai mà ngài đi bộ từ miền Bắc đi về miền Nam. Thì một hôm trên đường ngài đi, lúc vào buổi sáng sớm, khi mà ngài từ giã cái nhà trọ, ngài quẩy cái gánh lên ngài đi sớm, lúc đó chưa có ai bán đồ ăn. Đến khi đến cái đoạn đường mà trời đã hửng sáng và ngài cũng đã đói

[42:00]bụng, thì gặp một bà già bả ngồi bên đường bả bán cái giỏ bánh. Thì ngài mới dừng lại, lấy cái tay lau mồ hôi, lấy cái cái quạt ra quạt phẩy phẩy, rồi mới: "Bà bà bán cho tôi ít cái bánh điểm tâm." Bà già mới dòm ngài từ đầu tới chân, dòm từ chân lên đầu, đầu xuống chân mấy lần. Cái ngài cũng hơi kỳ kỳ, hơi nhột nhột. Cái bà mới hỏi, bà già mới hỏi: "Ông thầy là ai? Đi đâu đây?" Thì ngài mới trả lời: "À thưa bà, thì tôi là một tăng tu hành ở phương Bắc. Chúng tôi có chuyện đi về phương Nam. Tại vì nghe phương Nam có một cái đạo lý chúng tôi nghe không có thích hợp nên muốn tìm hiểu và cũng muốn tranh

[42:46]biện để biết phải, trái, đúng, sai." Bà già mới dòm trên đầu xuống chân, chân lên đầu một lần nữa rồi hỏi: "Vậy ở cái phương Bắc ngài làm cái sự việc gì?" Nói: "Thưa bà, tôi chuyên giảng Kinh Kim Cang." Bà già nói: "À, hay ha." Rồi bà già mới nói là: "Bây giờ, tôi hỏi ngài một câu trong Kinh Kim Cang. Nếu ngài trả lời được thì tôi cúng dường bánh ngài ăn. Còn nếu ngài không trả lời được thì mua tôi không bán mà xin tôi không cho." Bà già này thứ dữ. Cũng may là mình không gặp cái bà già đó ở đâu đây. Khi mà bà già bả lên bả đứng bả hỏi giảng sư, dám bí lắm. Thì cái ngài thấy trúng tủ rồi. Ôi, mình giảng Kinh Kim Cang bao nhiêu năm liên tiếp,

[43:31]thì bà già quê mùa ở đâu giữa đường làm gì mà sợ. Và ngài tằng hắng lấy giọng xong rồi nói: "Rồi, thỉnh bà hỏi." Bà già mới nói: "Trong Kinh Kim Cang có cái câu là: Quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc. Vậy ngài mua bánh để điểm tâm nào?" Bí. Cái ngài đứng ngài toát mồ hôi luôn.

[43:58]Ngài xuất mồ hôi. Thấy ngài đứng lớ ngớ, mà ở trong nhà Thiền á, chỉ cần một giây không trả lời, tức là xếp vào người đó chưa có trí tuệ, chứ không có lớ ngớ đâu. Nên ngài vừa mới sững sờ một cái là bà đứng lên lập tức gánh cái gánh đi liền, trong một giây một á. Còn cái người nào mà trả lời được á là người ta chưa hỏi hết câu là câu trả lời đã có, đợi người ta vừa ngậm miệng trả lời liền. Thì đó mới gọi là người sáng đạo, ở trong đạo Phật là như vậy. Cho nên khi bà già vừa thấy ngài mới sững một cái là bà đứng lên bà gánh cái gánh đi liền, thoắt đi mất liền, để không biết bà già ở đâu tới và đi về đâu.

[44:40]Nhưng mà làm cho ngài cực kỳ hồ nghi, ngài hoang mang liền. Ngài nói ngài giảng kinh bao nhiêu năm mà bỗng nhiên một bà già lấy cái lý thuyết trong kinh với cái hiện tại lúc đó là mua bánh điểm tâm, ghép hai cái lại hỏi một cái bí liền. Và như vậy cái lý thuyết trong kinh của ngài bao nhiêu lâu nay đưa vào thực tế chưa ứng dụng được. Mà đạo là gì? Đạo là phải làm sao gắn được cái lý thuyết trong kinh của mấy ngàn năm trước với từng giây phút của đời sống hiện tại. Đạo phải là như vậy. Mà ngài mới biết mình hổng chân là từng giây phút của cuộc sống hiện tại, ngài rời đạo chứ không có dính với đạo. Rồi.

[45:21]Thật ra cái câu chuyện đó cho tất cả những giảng sư một bài học lớn và cho tất cả những người học Phật một bài học lớn. Và có nhiều người học lý thuyết của đạo Phật, học kinh này qua kinh kia rất nhiều, nhưng mà không bao giờ áp dụng được trong cuộc sống từng giây phút nhỏ. Nhiều khi chúng ta ngồi như thế này, ngồi theo đạo lý nào chúng ta không có. Bây giờ ví dụ như có một người hỏi: "À, anh đang ngồi nghe pháp, anh đang ngồi theo đạo lý nào?" Mình ngớ liền, phải không? Có không? Giờ ai trả lời được coi, ngồi theo đạo lý nào? Không ai trả lời được. Tức là sao? Tức là mấy năm nay chúng ta nghe giảng,

[45:57]chúng ta chưa áp dụng được cái đạo lý vào trong từng phút giây của cuộc sống. Chừng nào mà có người bất ngờ hỏi mình: "Anh đang ngồi trên ghế theo đạo lý nào?" Mình trả lời cái phẹt liền thì mới là người sáng đạo, là không giây phút nào rời đạo. Ví dụ bây giờ, nghe pháp xong mình đứng lên, mình vừa mới nhổm ghế đứng lên, người ta nói: "Khoan, anh đứng lên theo đạo lý nào?" Trả lời liền. Thì đó mới là áp dụng đạo được trong từng phút giây của cuộc sống. Thì nếu mà như vậy á, tức là không một lúc nào chúng ta rời đạo lý, thì khi chúng ta nói chuyện với con người, tiếp xúc với con người, không một lời nói nào chúng ta rời đạo.

[46:36]Có khi chúng ta rất nghiêm khắc, có khi chúng ta rất là khoan hòa, đều có đạo lý trong đó, đều có lợi người ở trăng. Luôn luôn như vậy, hoặc khi chúng ta im lặng không thèm nói, có cái đạo lý gì đó, chứ không phải là muốn làm gì thì làm. Thì ngài Đức Sơn ngài bị hoang mang. Ngài mới thấy, nghĩa là bà đem cái lý thuyết trong kinh ra hỏi một cái bánh điểm tâm, bí liền. Rồi bà biến mất liền, đi liền. Không biết là vào thời xưa có những cái bà già nào kỳ lạ như vậy. Và sau đó là ngài mới hỏi đường một người khác thì ngài nói: "Gần đây có một vị Thiền sư là ngài Sùng Tín ở cái chùa tên là Long Đàm.

[47:12]Long Đàm là cái đầm rồng." Thì ngài mới tới đó để xin tá túc. Thì ngài Long Đàm là ngài lớn tuổi, già rồi, sáu mươi mấy bảy mươi, một Hòa thượng chân tu đắc đạo. Và còn ngài thì lúc đó ngài mới bốn mươi mấy tuổi, ngài đến xin ở trọ lại và đến thăm vấn. Thì đầu tiên ngài cũng đến ngài hỏi chuyện với ngài Sùng Tín á là cứ theo lý thuyết trong kinh mà hỏi. Thì ngài Sùng Tín cứ theo kinh mà trả lời, và trả lời rất là sâu. Cho nên ngài rất là nể. Một lần đó cái ngài mê quá, ngài thấy là cái trí tuệ của ngài Sùng Tín quá sáng đi, cho nên ngài rất là kính phục. Một lần đó ngài theo ngài hầu, ngài hỏi đạo lý cho tới tối.

[47:52]Tới tối rồi khi tối quá rồi cái ngài Sùng Tín mới kêu ngài: "Thôi, tối rồi đi về, đi về liêu nghỉ đi." Thì ngài mới chắp tay ngài đảnh lễ ngài đi về. Ừm nhưng mà khi tính bước ra ngoài cửa thì ngài lại thấy trời bên ngoài tối đen. À tối đen, ngài mới hơi khựng chân chút xíu. Thì ngài Sùng Tín mới hiểu ý là bẻ cái đèn cầy mà đang cháy ở trên á đưa cho ngài, cầm. Thì ngài mới đón lấy, vừa mới chực tính cầm lấy cái đèn cầy thì ngài Sùng Tín thổi tắt cái đèn cầy. Ngay trong khoảnh khắc đó, ngài Tuyên Giám bừng ngộ liền. Bừng ngộ. Ngài sụp xuống ngài lạy, ngài mới nói là: "Mới biết là các vị hiền thánh không nói sai,

[48:33]thực sự là trong sự tu hành có những lúc người ta bừng ngộ thật sự." Mà sau đó ngài hơi cực đoan, sáng hôm sau ngài đem những cái bản mà Kim Cang mà ngài đã sớ giải đem ra trước sân ngài đốt sạch. Tức là ngài mới nói rằng: "Cái hành động đó để biểu thị một điều là mấy mươi năm qua ngài đã hiểu lầm."

[48:54]Có lần vậy, chúng tôi cũng gặp một vị tu hành. Thì vị này kiến giải cũng rất là lanh lợi, à rất là sáng, rất là thông. Chuyên hay thuyết pháp hay làm thơ hay viết sách rồi. Thì khi huynh đệ gặp nhau như vậy thì cái vị đó cứ thuyết pháp cho tôi nghe như là mây trôi nước chảy. Mà lúc đó tôi cứ ngồi lặng lẽ nghe, không nói gì hết. Và ngài cứ thuyết pháp. Thì khi mà ngài thuyết xong rồi, chúng tôi mới kể lại, mới nói ngài: "Thầy còn nhớ câu chuyện của ngài Đức Sơn mà đem đốt cái sớ giải hay không?" Thầy nói: "Nhớ." Rồi tôi mới hỏi tiếp là: "Thầy hiểu cái ý câu chuyện đó như thế nào không?" Thì thầy mới im lặng một giây, cần một giây thôi, không cần hai giây.

[49:39]Tôi mới nói tiếp: "Khi mà ngài ngộ thì ngài đem đốt cái sớ giải để chứng tỏ rằng là mấy mươi năm qua ngài đã hiểu lầm. Chúng ta bây giờ cũng vậy. Chúng ta tu đến một ngày nào đó mà nhìn lại mới bất ngờ phát hiện ra là mấy mươi năm qua chúng ta đã sai, thì lúc đó mình mới gọi là người ngộ đạo. Còn mà nhìn lại mấy mươi năm qua cứ nghĩ mình đúng hoài thì chưa ngộ đâu." Thì nhắc sơ sơ rồi thôi, không nói nữa. Bỗng nhiên sao ổng nín luôn, không thuyết pháp, từ đó tới chiều không nghe ổng thuyết pháp, không biết sao. Thì cái chuyện mà ngài Đức Sơn Tuyên Giám á, cái câu chuyện về bà già liên quan tới cái đoạn kinh mà chúng ta sắp sửa khai thác đây, rất là độc đáo là:

[50:21]"Tâm quá khứ bất khả đắc." Cái chữ bất khả đắc nghĩa là sao? Dịch theo chữ Nho là: Bất khả đắc là không thể được. Chữ không thể được, không thể được nghĩa là gì? Không thể được nó có hai cái ý. Một cái ý mà chúng ta dịch thoát á có nghĩa là không có thật. Chúng ta dịch thoát là không có thật. Giờ nói: "Tâm quá khứ là không có thật, tâm hiện tại không có thật và tâm vị lai không có thật." Đó là dịch thoát. Còn nếu chúng ta muốn dịch cho nó sát nghĩa cụ thể luôn á là không ai nắm bắt được cái tâm ở quá khứ, không ai nắm bắt được cái tâm ở hiện tại và cũng không ai nắm bắt được cái tâm ở vị lai. Cái câu nó nguyên nghĩa là như vậy.

[51:08]Thì rất là rõ phải không? Rất rõ rồi phải không? Có ai nắm được tâm quá khứ không? Ai nắm được giơ tay lên? Thì người đó có bàn tay, bàn tay vàng trong năm.

[51:25]Tâm niệm mà đã xảy ra trong quá khứ, những điều chúng ta đã suy nghĩ trong quá khứ thì không thể nắm bắt lại, không thể kéo giữ lại, không thể thay đổi được nữa. Đó là cái điều đã xác định. Có ai cãi câu này không? Có ai cãi giơ tay lên. Đúng phải không? Hoàn toàn đúng. Tâm quá khứ trôi qua rồi, không nắm được. Và tâm đó đã trở thành cái gì trong hiện tại? Hử? Cái tâm quá khứ đã trở thành cái nghiệp trong hiện tại và vị lai. Tâm đó không còn nữa nhưng đã trở thành cái nghiệp cho ngày hôm nay. Chúng ta không thể nào mà quay lại quá khứ để sửa cái nghiệp của ngày hôm nay được nữa. Có một số phim khoa học giả tưởng họ cho rằng nghĩa là người

[52:16]ta có thể thay đổi cái số phận ngày hôm nay bằng cách là đi ngược về quá khứ để thay đổi cái tâm niệm của quá khứ. À có rất nhiều cái phim khoa học giả tưởng như vậy, nhưng mà kiến giải đó hoàn toàn sai lầm. Không ai nắm bắt được cái tâm quá khứ nữa, bởi vì kinh đã nói rất rõ: Quá khứ tâm bất khả đắc. Tức cười lắm, nhiều cái bộ phim mà nói rằng trái đất này sắp hủy diệt à bởi vì cách đây 30 năm, cách đây 30 năm trong quá khứ là người ta đã để cho một cái con chip chế ra được cái robot quá tinh vi và nó tạo thành một cái robot mà thông minh, nó khống chế hết loài người, nên ngày hôm nay thế giới bị nguy hiểm.

[52:58]Bây giờ phải đi ngược lại 30 năm, đi tìm tới cái chỗ mà chế con chip đó, phá hủy con chip đó đi, nó đảo ngược lại cái vận mệnh ngày hôm nay, thế giới không bị nguy hiểm nữa. Thì cái hiểu biết như vậy là một sai lầm lớn, bởi vì quá khứ tâm bất khả đắc. Những điều gì đã xảy ra quá khứ rồi chúng ta không kéo lại được nữa, không nắm bắt được nữa. Rồi tâm vị lai cũng bất khả đắc. Bất cái tâm niệm nào mà sẽ xuất hiện trong vị lai cũng là một ẩn số. Không ai có thể nắm lấy được một cái tâm mà chưa xuất hiện bao giờ. Ví dụ bây giờ chúng ta ngồi đây nghe pháp, nhưng có ai đoán được sau khi nghe pháp này xong chúng ta sẽ nghĩ điều gì không?

[53:42]Có đoán ra trước không? Hoặc là ngày mai chúng ta sẽ suy nghĩ điều gì, mình nắm lấy được chưa? Chắc không? Không, phải không? Ví dụ bây giờ mình nói là: tương lai à tôi sẽ nhập được định, tôi sẽ thương yêu chúng sinh, tôi sẽ hạ mình như đất, thì những lời nói như vậy chỉ là ước mơ của hiện tại chứ không phải là một điều chắc có ở tương lai. Phải không? Không phải chắc có. Ví dụ mình nói là: tôi sẽ thương yêu chúng sinh, là đó là ước mơ, thì hi vọng nhờ cái ước mơ này nó có một phần trở thành sự thật, nhưng mà không hoàn toàn được. Vì có thể một tháng sau là khi mà mình dự định là sẽ thật lòng thương

[54:22]yêu chúng sinh thì không ngờ là lòng thương nó chưa đủ. Là qua tháng sau mình gặp chúng sinh mình cũng cãi cự om sòm. Vậy, chứ không có chắc được, nên cái tâm vị lai là một điều không chắc. Hoặc là ví dụ như có người nói rằng là: ba năm nữa tôi sẽ trở thành một thiên tài, tôi sẽ phát minh ra một loại thuốc chống nghèo đói. Có người thấy ủa, thuốc mà chống nghèo đói? Nghe nói làm kinh tế mới chống nghèo đói chứ làm sao mà thuốc chống nghèo đói? Nói: bởi vậy, tôi là thiên tài, anh đâu phải thiên tài mà anh hiểu được. Nói: ủa, đâu anh nói tôi nghe cái thuốc mà chống nghèo đói là chống làm sao? Là tôi sẽ chế ra một loại thuốc uống vào không còn ai đói nữa.

[55:01]Mà nếu không đói thì lấy đâu nghèo đói ra mà chống? Hay chưa? Hay, hay. Đó, rồi không đói thì không ăn thì làm sao? Đó, thì chừng nào chết lăn ra chết thôi, mới tính sau, còn lúc còn sống không bao giờ đói. Nhờ vậy mà chống được nghèo đói. Đó là một thiên tài. Có ai nghĩ ra thuốc đó không? Cũng là một thiên tài đó chứ không chơi. Thì ví dụ một cái cho một cái ước mơ tương lai như vậy nó có chắc thành không? Không, không có chắc đâu, chỉ là ước mơ thôi, chứ không có thành được sự thật. Hoặc là có người tuyên bố hoặc là ngồi suy nghĩ là sau này tôi sẽ trở thành bá chủ thế giới. Hừ! Thì cái câu nói đó làm sao?

[55:37]Đó, chỉ là một cái ước mơ thôi. À có những cái ước mơ đôi khi nó rất là thực tế, à nó rất là chính đáng, nhưng cũng có những cái ước mơ nó không thực tế, đôi khi nó ngông cuồng và ngờ nghệch, phải không? Nên những cái tâm niệm ở vị lai chúng ta không biết chắc nó là cái gì đâu, nó cũng chỉ là một cái ước đoán thôi. Ừ, mà cái may mắn á nếu mình biết nhân quả thì chúng ta có những cái tâm nguyện, chúng ta điều chỉnh, chúng ta nắn cái tâm vị lai của mình bằng cái điều chỉnh cái tâm của hiện tại thì được. Cũng giống như là trong quá khứ vậy, những cái tâm niệm của quá khứ nó đã mất, không nắm lại được vì nó đã trở thành cái nghiệp của hiện tại.

[56:19]Thì hiểu như vậy, bây giờ chúng ta trong hiện tại, chúng ta tạo ra những cái tâm niệm để chúng ta điều chỉnh được cái tâm ở vị lai. À rồi chúng ta biết, ví dụ biết mình còn kiêu căng, còn hay khoe khoang, biết đó là cái xấu và mình muốn là trong tương lai, là một tháng sau, hai tháng sau cái tâm đó phải biến mất. À bây giờ trong hiện tại chúng ta gieo cái nhân, quỳ trước Phật mình phát nguyện, nói: con sám hối là cả một đời của con qua con bị một cái nghiệp, một cái nhược điểm lớn là hay khoe khoang, hay kiêu căng. Con xin sám hối suốt cái thời gian qua và xin Phật chứng minh cho con chừa bỏ trong tương lai.

[57:00]Và trong tương lai con sẽ luôn luôn là một người khiêm hạ, à kín đáo, biết tôn trọng con người. Thì nhờ những cái lời nguyện trong hiện tại, qua tháng sau bỗng nhiên mình bớt, bớt nổ nè, bớt khoe, bớt ẩu. Phải không? Nhờ như vậy, nên chưa nói rằng tâm vị lai thế nào, chắc như thế nào thì không ai chắc được, nhưng mình khéo điều chỉnh bằng những cái tâm nguyện trong hiện tại thì được, phải không?

[57:29]Tâm hiện tại bất khả đắc. Chỗ này mới lạ à. Tâm vị lai đã trôi qua, mình không nắm được, đúng rồi. Tâm vị lai chưa tới, mình không nắm được, đúng rồi. Vậy mà tâm hiện tại cũng không nắm được luôn. À tại sao vậy? Ví dụ bây giờ mình đang nghĩ ha: à tôi đang nghe giảng pháp, ừ tôi ước ao tôi sẽ tu được, thì tâm niệm đó là tâm của hiện tại mình thấy rõ phải không? Mình thấy như nắm được, mà tại sao trong kinh nói là không nắm được, bất khả đắc? Tại sao vậy? Bởi vì thế này: ví dụ có ai hỏi mình là:

[58:11]anh ơi, coi anh coi giùm mấy giờ rồi? Cái mình lật đồng hồ, đồng hồ mà loại xịn á có giây, mình thấy đồng hồ ghi là 3 giờ 7 phút 8 giây, cái mình mới trả lời: à thưa bạn, bây giờ là 3 giờ 7 phút 8 giây. Nhưng khi mình vừa trả lời xong thì làm sao? Qua mất mấy giây rồi, phải không? Nên hiện tại chỉ là một hiện tại tương đối. Không bao giờ chúng ta có một hiện tại tuyệt đối. Không bao giờ thời gian dừng lại ở một điểm tuyệt đối để cho chúng ta xác nhận đó là hiện tại hết. Chúng ta chỉ có một hiện tại tương đối. Ví dụ chúng ta nói: ngày hôm nay thì là bao nhiêu tiếng đồng hồ? 24 tiếng. Thì chúng ta tạm lấy cả một khoảng 24 tiếng đó để làm hiện tại.

[58:53]Hoặc là nói năm nay, à năm nay tôi đẹp hơn năm ngoái, ví dụ vậy, thì cái đó chỉ là một hiện tại tương đối. Thế còn cái hiện tại thật sự thì không có, bởi vì sao? Vì nó đang trôi qua, trôi qua vùn vụt, trôi qua vùn vụt. Và chính vì cái mà nó trôi qua vùn vụt như vậy, cái người mà có trí tuệ nhìn thấy cái chỗ đó là từng sát na, từng sát na, không có sát na nào dừng trụ hết. Và như vậy những cái tâm niệm mà trôi trên sát na đó vừa mới thấy nó nó đã trở thành quá khứ, vừa mới ước mơ nó đã tương lai, vừa chợt nắm nó thì đã biến mất thành quá khứ liền, không có được. Cho nên là tâm hiện tại cũng cũng bất khả đắc luôn, không nắm được luôn.

[59:34]Đồng ý không? Chỗ này chúng ta có đồng ý không cả? Chúng ta đồng ý chỗ này là đồng ý hiểu được kinh Kim Cang. Mà mới đồng ý thôi chưa đủ, chúng ta nhìn sâu, chúng ta mới thấy hay ở chỗ này. Đây là cánh cửa để tu, cánh cửa để tu. Bây giờ nha, chúng ta lặng lẽ quan sát tâm mình trong hiện tại. Bây giờ mọi người nhìn trong tâm mình đi, và chúng ta thấy điều gì? Chúng ta nhìn trên cái dòng thời gian chúng ta thấy là từng cái sát na của hiện tại thì ba cái điều nó luôn luôn nó trôi chảy là cái cái biết ha, cái biết luôn luôn liên tục, thứ hai là cái muốn, thứ ba là nghiệp. Nhưng mà không ai đủ sức nhìn tới ba cái đó đâu,

[1:00:22]thường chúng ta không thấy được ba cái đó, mà chúng ta chỉ thấy điều gì? Chúng ta chỉ thấy những cái tư tưởng thôi, những cái suy nghĩ, những cái vọng tưởng thôi. Tức là chúng ta chỉ nhìn được cái vỏ của tâm, vỏ của tâm chính là những cái vọng tưởng, những cái suy nghĩ đó. Chứ chúng ta không đủ sức nhìn cho tới cái gốc của tâm, chính là ba cái: gồm có cái biết, cái muốn và cái nghiệp. Ta không đủ sức nhìn tới, chứ thường là chỉ nhìn cái vỏ là nhìn cái vọng tưởng thôi. Mà ai chịu khó nhìn vọng tưởng cũng là giỏi lắm rồi đó, giỏi lắm. Tức là lúc nào cũng thấy tâm mình những tâm niệm nó trôi chảy trôi chảy.

[1:00:59]Quan sát như vậy và thoát khỏi tâm niệm đó, không đi theo tâm niệm đó và tâm đó nó sẽ tự tắt dần. Thì cái người mà biết nhìn như vậy cũng là cái bước đầu biết tu tập, biết đi vào tâm để tu thiền á, nhìn thấy những cái tâm niệm của mình nó trôi chảy trong từng sát na mà mình không bám theo, không đi theo nó, không trôi theo, không chìm theo những ý niệm đó, đó là mình biết tu thiền. Nhưng mà chỉ có những người rất có trí tuệ thì mới vạch hết cái lớp vọng tưởng đó mình nhìn thấu tới cái gốc là thấy mình đang muốn cái gì, mình đang biết cái gì. À, chỉ cần quan sát, rồi cái nghiệp thì nó mơ hồ hơn thì không thấy,

[1:01:34]nhưng mà chỉ nhận định là bây giờ mình đang ngồi đây nè, từng giây từng giây trôi qua, ta đang biết cái gì, ta đang muốn cái gì. Nếu người nào mà nhìn tới cái đó đó là người đó cái công phu đã đi vào giai đoạn rất là sâu, cái trí tuệ rất là sâu. Có ai nhìn thấy không? Không. Mà khi mà một thời gian dài, ví dụ khi chúng ta bắt chân lên ngồi thiền, cái vọng tưởng nó yên lắng rồi, tâm mình rất là thanh tịnh. Chứ còn mà vọng tưởng nó đang nhiều thì mình nhìn không tới được cái biết, cái muốn đâu, mắc lo nhìn vọng tưởng thôi để buông cái vọng tưởng bỏ đi. Nhưng mà người tu đến giai đoạn cao hơn một chút thì vọng tưởng

[1:02:12]mất hết rồi, chỉ ngồi tâm lặng lẽ, bình yên, trống vắng. Thì trong cái lặng lẽ, bình yên, trống vắng đó không được quyền kết luận là ta đang đắc đạo, không có, mà lại nhìn cái gì tiếp? Nhìn thấy là ta đang biết cái gì, ta đang muốn cái gì. Vì bí mật bên trong của cái định đó đó, yên lặng đó, nó vẫn tiếp tục những cái muốn vi tế nó đang trôi chảy, trôi chảy, chứ không có dừng lại. Và người nào mà nhìn được tới cái đó đó, nhìn được tới cái chỗ mà cái sự tiếp nối liên tục của cái muốn, của cái biết thì người này cái sức ngộ rất là sâu, cái trí rất là sâu. Chứ còn mà khi chúng ta nói chuyện tu hành,

[1:02:53]thường chúng ta chỉ nói cái vỏ thôi, nói cái vỏ là cái vọng tưởng thôi, những tư tưởng nó trôi trôi đi, cái đó rất là dễ thấy. Nhưng mà đó là giai đoạn cạn, còn cái người tu sâu, tâm họ thanh thản, định rồi, không có vọng tưởng nữa, tâm bình an, lặng lẽ, nhưng họ quan sát tiếp tới cái biết bí mật bên trong, đó là người...

[1:03:16]Trong bài kinh mà Nhất Dạ Hiền Giả, hồi sáng thầy trụ trì có giảng, à có cái câu thế này: là Đức Phật dạy là: Đừng truy tìm quá khứ, đừng ước vọng tương lai, mà quá khứ đã qua rồi, tương lai lại chưa đến. Bốn câu kế tiếp là: Chỉ có pháp hiện tại, tuệ quán chính là đây, bất động chẳng lung lay, hãy thực hành như thế. Là cái câu Phật dạy như vậy. Tức là Phật dạy một cái phương pháp là quan sát tâm trong từng giây phút hiện tại, dù cái hiện tại đó chỉ là tương đối.

[1:03:56]Cái người biết tu là theo cái bài kinh của lời Phật dạy là tỉnh lại trong từng giây phút trong hiện tại và chúng ta thấy được tâm mình đang trôi chảy thì tuy rằng cái hiện tại đó là tương đối, nhưng mà khi chúng ta đứng lại được ở hiện tại là chúng ta đang biết tu. Bởi vì sao vậy? Bởi vì thế này: Khi tâm chúng ta động là luôn luôn chúng ta rớt vào cái ý niệm thời gian liền, luôn luôn lôi về quá khứ hay là hướng về tương lai, để ý như vậy. Khi chúng ta động luôn luôn chúng ta bung ra khỏi một khoảng liền, hoặc là tràn về quá khứ, hoặc là tràn về tương lai. Còn khi chúng ta định, chúng ta thu cái hiện tại lại từng giây một.

[1:04:41]Chúng ta nghĩ ngẫm việc tùy cái động của tâm, chúng ta sẽ thấy cái người mà động nhiều á thì cái thời gian của họ bung ra xa, cái người động ít á thì cái thời gian của họ bung ra gần. Ví dụ bây giờ, chúng ta ngồi mà chúng ta nghĩ tới cái chuyện năm ngoái, tức là người này tâm rất động. Hoặc là người nào mà ngồi mà nghĩ lại cái chuyện mà tháng vừa rồi thì tâm ít động hơn một chút. Hoặc là người nào mà mơ ước là 30 năm sau tôi sẽ trở thành bá chủ toàn cầu trong cái nhà thương điên, ví dụ vậy, thì đó là rất là động. Còn mà cái người mà nghĩ là ngày mai tôi sẽ làm gì, thì cái đó là động ít hơn, bởi vì cái thời gian nó ngắn lại, nó gần với hiện tại.

[1:05:21]Tức là cái thời gian mà càng gần hiện tại thì tâm càng yên tĩnh, cái ý niệm của mình mà nó càng xa hiện tại, tức là tâm mình rất là rất là động. Và như vậy, khi mà chúng ta thu được cái ý niệm của mình lại sát sát sát trong hiện tại cho tới chỉ còn một cái tích tắc trong hiện tại thì tâm mình đang ở trong trong định. Cái bí quyết của tu là như vậy, cho nên nói rằng là: Chỉ có pháp hiện tại, tuệ quán chính là đây là cái chỗ này. Chúng ta phải quan sát cái ý niệm của mình. Là cái ý niệm khởi lên chúng ta đo thời gian liền để coi cái mức độ động của nó là cỡ nào. Bây giờ đánh giá một cái người động nhiều,

[1:05:59]động ít chúng ta không cần phải rắc rối nữa, không cần cái máy đo sóng não mà cần cái máy đo cái thời gian thôi. Mỗi lần ý niệm vừa nghĩ lên một cái chúng ta đo coi cái ý niệm nó cách đây bao xa là biết tâm mình động hay là không động. Ví dụ bây giờ, mình có một cái món tiền mà mình bị mất cách đây 2 năm, giờ mình nghĩ tới cái món tiền đó là như vậy thời gian 2 năm là là hơi động, hơi động. Còn ví dụ một ý niệm vừa khởi lên thì cái chuyện vừa hồi nãy, vừa hồi nãy mình đi dọn cơm trong chùa mình có lỡ đụng ai một cái đổ cái tô canh, thì cái chuyện cái khoảng thời gian mới mấy tiếng đồng hồ thì có thể là ít động hơn

[1:06:39]một chút, tức là coi cái mức thời gian, đo mức thời gian. Và nếu cái ý niệm của mình nó sát dần sát dần tới hiện tại, ví dụ đang ngồi đây chỉ nghĩ chuyện ở đây thôi. Là nói ví dụ ngồi nghe pháp, ngồi nhìn cái ông thầy giảng rồi trong đầu mình không có nghĩ xa xôi nữa, không nghĩ là hồi nãy giảng cái gì, lát nữa giảng cái gì, mà chỉ ngồi nghĩ không biết ông thầy ổng nói gì mà lải nhải ổng nói hoài, là người đó đã thu lại cái tâm mình được sát trong hiện tại là người đó sắp sửa vào định. Có ai nghĩ điều vậy chưa? Thầy không nói lải nhải nói hoài chứ nói cái gì.

[1:07:13]Đó là sát trong hiện tại. Mà nếu mà thu sát, thu sát lại nữa chỉ còn trong một cái tích tắc thoáng qua thì lúc đó là còn ý niệm gì không? Hết ý niệm luôn rồi phải không? Đó, lúc vừa mới tính nói là hai chữ lải nhải cái nó ngừng lại mất tiêu vì nó tích tắc, một sát na không trôi qua được nữa là mất luôn. Đó là làm chủ được tâm đó. Chúng ta làm chủ được tâm tức là chúng ta đo cái ý niệm của thời gian rút nó lại, an trú trong hiện tại, mặc dù là cái hiện tại đó chỉ là tương đối, đang trôi qua dần, trôi qua dần, không có tồn tại, không dừng lại.

[1:07:52]Rồi khi mà chúng ta quan sát được cái tâm của mình, quan sát được cái ý niệm mà không bám theo mà luôn luôn buông xả, đó là đó là tu thiền đó. Khi thấy được tâm mình suy nghĩ cái gì rồi không tiếp tục nữa mà buông bỏ, dừng lại, an trú trở lại trong hiện tại, bởi vì tất cả ý niệm đều dính vào thời gian hết. Tất cả ý niệm đều có yếu tố thời gian, luôn luôn như vậy. Giống như một cái điểm nằm ở trên một cái tọa độ của trục trục X và trục Y vậy. Cái trục X là trục thời gian, chúng ta chấm một điểm thì luôn luôn nằm ở một cái trục thời gian nào đó. Một ý niệm, trong cái ý niệm đó đều có yếu tố thời gian.

[1:08:31]Chúng ta nhớ lại một người thì luôn luôn có cái thời gian của người đó hiện diện, luôn luôn. Luôn luôn có yếu tố thời gian trong mỗi ý niệm. Và nếu chúng ta vượt qua được cái thời gian, bỏ hết thời gian thì không còn niệm nào có thể tồn tại được, chỉ còn lại trong hiện tại. Và cái hiện tại đó là cái gì? Tận cùng của hiện tại là gì? Hồi xưa có một lần chúng tôi có hỏi câu này, phải không? Và chúng tôi không trả lời và ngày hôm nay cũng không trả lời. Vậy tận cùng của hiện tại là gì? Hôm nay cũng không trả lời. Mỗi người tự tìm câu trả lời nha.

[1:09:11]Nãy giờ chúng ta nói là chúng ta an trú tâm trong hiện tại để quan sát cái tâm. Nhưng mà chúng ta còn một chữ quan sát. Mới ban đầu chúng ta tu là luôn luôn phải quan sát tâm mình như vậy. Cho đến cái ngày mà tâm rất thanh tịnh rồi, chúng ta mới phát hiện ra cái quan sát nó làm sao? Cũng là, cũng là thừa. Lúc đó bỏ. Nó giống như trong mười bức tranh chăn trâu vậy đó. Đầu tiên phải có thằng bé nó chăn trâu, giữ trâu không cho trâu nó chạy tầm bậy tầm bạ thì cái thằng bé mà chăn á chính là cái sự quan sát, nhiếp tâm. Cho đến cái ngày mà trâu không còn nữa thì thằng bé nó làm sao? Thôi cũng nghỉ luôn, không cần tới nó nữa.

[1:09:48]Thì cũng vậy, ban đầu vì vọng tưởng chúng ta còn, chúng ta phải luôn luôn quan sát nội tâm của mình. Đến khi mà tâm nó cực kỳ thanh tịnh, những cái niệm tế cũng mất hết luôn thì cái quan sát đó cũng tự nhiên phải buông bỏ luôn để đi vào được cái định rất là sâu. Các vị Thánh họ làm như vậy. Thì đó là cái con đường mà đi đến cái nội tâm thanh tịnh. Nhưng mà nghe cái đoạn này chúng ta coi chừng. Coi chừng cái gì? Coi chừng là nếu sống trên đời mà chúng ta chỉ đi tìm cái vô niệm thì lập tức chúng ta rơi vào tội lỗi liền. À, kỳ lạ như vậy. Mặc dù đạo Phật thường khuyến khích là vô niệm, tâm không có những niệm gì hết, thanh tịnh.

[1:10:34]Nhưng mà nếu chúng ta hăm hở lập tức đi tìm cái vô niệm thì chúng ta bị rơi vào tội lỗi. Tại sao? Là bởi vì do cái duyên quá khứ, chúng ta bị đặt vào vô số bổn phận. Mà hễ nói là bổn phận thì có tính bắt buộc. Ví dụ như là nhà nước nói đóng thuế là bổn phận của dân, mà đã dùng cái chữ bổn phận rồi là bắt buộc, phải không? Ai mà trốn thuế thì sao? Thì bị, bị chế tài liền, bị phạt liền. Hễ chữ bổn phận là phải bắt buộc. Ví dụ như con phải có bổn phận nuôi cha mẹ, có hiếu với cha mẹ. Hễ chữ bổn phận là bắt buộc. Mà nếu làm con mà không có hiếu với cha mẹ thì sao? Thì, thì người đời nguyền rủa. Ví dụ một cái người ở bên đường á,

[1:11:22]mình không biết, mình không có phải lo cho người ta, nó không thuộc về bổn phận, mình không giúp người ta, không ai nguyền rủa. Nhưng mà cha mẹ mình mà mình không lo, mình không có hiếu thì người đời nguyền rủa vì nó thuộc về bổn phận. Hễ chữ bổn phận là bắt buộc. Hoặc là cha mẹ phải thương yêu lo cho con cái, dạy con cái nên người, mà nếu cha mẹ sinh con ra mà bỏ bê, cứ lo mãi hưởng thụ những cuộc vui của riêng mình, không ngó ngàng gì tới con cái thì người đời nguyền rủa, tội lỗi chất chồng, sau này bị đọa chết luôn. Nên cái gì là bổn phận thì là bắt buộc. Hoặc là một người xuất gia cũng vậy, người đó có bổn phận đối với Phật pháp.

[1:11:59]Phải làm sao cho Phật pháp được trường tồn, phát triển, phải làm sao cho nhiều người hiểu đạo. Nếu người đó đi tu trong đạo Phật mà không làm được điều đó thì người đó trốn cái bổn phận thì cũng là mang tội. Chứ đừng tưởng không làm gì là không tội nha. Không làm mà là có tội. Hoặc là chúng ta cũng vậy, cách đây mấy năm mình dại khờ mình quy y Tam Bảo thì sao? Chúng ta cũng bị dính cái bổn phận, là phải có bổn phận gì? Góp phận xây dựng Phật pháp. Cho nên mình đã lỡ dại quy y Tam Bảo rồi mà không làm gì hết để xây dựng Phật pháp, giúp người khác hiểu đạo thì mình sao? Mang tội. Mà có ngày Diêm Vương tính sổ. Chết xuống, ổng nói:

[1:12:41]"Bây giờ ngươi có cái gì hay đâu?" Nói: "Dạ thưa ngài Diêm Vương, lúc sống trên đời con có quy y Tam Bảo." À, vua Diêm Vương khen: "Hay, tốt. Rồi sau khi quy Tam Bảo rồi ngươi làm cái gì cho Tam Bảo?" Nói: "Dạ hổng làm gì hết trơn." Đó, vậy là ngươi thêm một tội, tức là không làm tròn bổn phận của một người đệ tử Phật. Cho nên là nếu ai mà đã lỡ quy y Tam Bảo mà không làm điều gì được cho Phật pháp, chết xuống Diêm Vương hỏi thì giấu giùm cái lá phái nha. Để không ổng truy tội đó rồi ổng phạt nặng thêm là kẹt lắm á. Nhớ như vậy. Và sống trên đời là như vậy, chúng ta bị ràng buộc vào vô số bổn phận.

[1:13:16]Người nào đó mà làm đủ cái bổn phận của mình á thì sau này ở tuổi già được thanh thản, ở kiếp sau được thanh thản. Nhớ như vậy. Cái phần thưởng, cái sự thanh thản, an vui chỉ đến với cái người nào đã làm tròn bổn phận. Chúng ta chưa nói là để được định tâm nha, định tâm thì còn phải khủng khiếp nữa. Còn người nào mà làm quá cái bổn phận của mình á thì chuyện gì xảy ra?

[1:13:42]Chuyện gì xảy ra? Thì có phước để dành, nhớ như vậy. Tức là bổn phận chỉ quy định chúng ta một số điều thôi. Mà ai khôn á, làm quá cái bổn phận đó luôn thì người đó mới bắt đầu có phước. Chứ còn làm đúng bổn phận của mình thì chưa có phước nha. Ví dụ con thì hiếu kính với cha mẹ, cha mẹ thì nuôi dạy con cái, thầy cô thì dạy học trò tận tụy, học trò thì kính trọng thầy cô, công dân thì có bổn phận đối với đất nước, phải yêu nước vân vân thì những cái bổn phận nó bình thường, mình làm đủ như vậy chưa có phước. Chỉ làm dư khỏi cái bổn phận đó mới có phước. Là ví dụ như thế nào? Ví dụ chúng ta tự nguyện làm những chuyện giúp đỡ người khác.

[1:14:23]Mình ở trong nhà buồn chưa đã, mình đi lân la qua hàng xóm, thấy ai nghèo mình tìm cách mình giúp đỡ người ta, thấy nhà người ta dột mà người ta chưa có tiền mua tôn, mình mua được cái tấm tôn mình tặng, còn không thì mình lên mình che đỡ cho người ta, là giúp người ta. Rồi người ta thí như là cái ống nước bể, người ta cứ cột dây mà không có biết nhờ người ở làm, mình ở trong làng xóm mình là thanh niên mình giỏi, mình qua mình cột cái dây, mình thay ống giùm người ta, vân vân. Đó những cái mà tự nguyện giúp người khác thì là ngoài cái bổn phận, quá bổn phận và có phước. Hoặc là cái người là yêu nước, lúc nào cũng nặng lòng

[1:14:59]đối với quê hương, thay vì mình chỉ đi làm ăn lương rồi đóng thuế rồi về sống bình thường, nhưng mà người này luôn luôn ưu tư, khắc khoải làm sao cho quê hương ta giàu hơn, đẹp hơn, làm sao cho ngẩng mặt bằng người, lúc nào cũng ưu tư trăn trở như vậy và luôn luôn cố gắng làm và làm được từ từ thì người đó có phước vì đã làm quá cái bổn phận của mình. Hoặc là người đắp xây nhân loại là thấy thế giới bây giờ người ta khủng bố rồi giết nhau dữ quá thì thế giới không yên ổn. Bởi vì sao? Bởi vì có những cái tôn giáo cứ tin rằng là giết người lại được phước thì mình phải đem cái nhân quả mình nói. Mình nói giết người không bao giờ được phước hết.

[1:15:41]Anh làm người khác đau khổ, anh sẽ đau khổ lại. Là rồi nói: "Sao cái ông giáo chủ tôi ổng nói như vậy? Giáo chủ tôi ổng nói là hễ giết người là được phước." Phải nói: "Ông giáo chủ anh làm sao bằng cái ông Trời? Ông Trời đâu có nói." Nói: "Không, ông giáo chủ tôi nói theo ông Trời." "Không có, anh dễ tin quá. Anh có nghe ông Trời nói không? Cái đó ông giáo chủ nói chứ không phải ông Trời nói. Chừng nào chính tai anh nghe ông Trời nói điều đó anh hãy tin. Ông Trời không hề nói giết người. Chỉ có cái ông giáo sĩ của anh á, cái ông xúi anh đặt bom á, cái ông đó mới là nói bậy anh tin, thế là gây thế giới chiến tranh, vân vân." Đấy.

[1:16:17]Hoặc là chúng ta bảo vệ rừng cây. Là cái người nào sống gần rừng á là thấy ai mà cầm cây, cầm rựa vô rừng thì mình tìm cách mình cản trở, mình thuyết phục giáo dục hoặc là mình báo kiểm lâm để bảo vệ rừng cây. Đã làm những cái việc mà quá bổn phận của mình thì cũng là có phước. Thấy ai bán ma túy mình tố cáo liền. Thấy ai hối lộ, tham nhũng, quan liêu, tố cáo liền, vân vân. Thì cái đó là những cái quá bổn phận của mình, nhưng mà tố cáo xong trốn nghe, đừng ở đó nghe. Chứ không nó giết á.

[1:16:49]Khi mà chúng ta thực hiện cái bổn phận á thì chúng ta buộc phải bận tâm. Nhưng mà đừng lo, cái bận tâm mà để làm đúng bổn phận của mình, cái bận tâm mà để làm dư bổn phận của mình thì được gọi là chánh tư duy và chánh nghiệp trong Bát Chánh Đạo. Đó là con đường đi đến giải thoát. À, đây rất là lạ. Nên có những người hổng hiểu cái này, có những người cứ muốn giải thoát là bỏ hết, tu liền, giải thoát liền, người đó vĩnh viễn không bao giờ giải thoát. Còn cái người mà chịu cực bận tâm để làm tròn bổn phận của mình, bận tâm để lo cho Phật pháp, lo cho con người rồi người đó sau này tâm vào định rất là dễ.

[1:17:30]Bởi vì định là cái phần thưởng của một người làm được nhiều điều phước, lo được cho nhiều người khác. Nhớ như vậy. Cho nên ai không biết mà cứ đi tìm cái vô niệm, vô tâm liền khi mà gặp đạo Phật, đó là một cái hiểu lầm rất là lớn. Khi gặp đạo Phật, điều trước hết là phải tạo phước, phải thương yêu con người, mặc dù là điều đó làm chúng ta bận tâm. Nhưng bận tâm ban đầu, sau này sẽ an tâm về sau. Ngồi thiền sẽ dễ nhiếp tâm, đó là nguyên tắc.

[1:18:01]Suốt một cái đoạn kinh dài mà Phật nói về năm con mắt của Phật, là Phật nói là Phật có con mắt nhục nhãn ha, thiên nhãn, tuệ nhãn, pháp nhãn và Phật nhãn, rồi cuối cùng bởi năm con mắt đó Phật biết tâm tất cả chúng sinh. Và cuối cùng để kết luận là tâm chúng sinh là làm sao? Tâm chúng sinh là là không, là hư ảo. Đó, nghĩa là cái nói đoạn thiệt dài chỉ để nhấn mạnh cái đoạn này thôi là tâm là hư ảo. Thì cái là Phật muốn cho chúng ta lúc nào cũng thấy tâm mình là hư ảo mà Phật nói vòng vo tam quốc một đoạn rất dài làm chúng ta giảng cũng khờ luôn phải không? Chúng ta giảng mấy lần cái đoạn này, cuối cùng để vút lên cái điểm quan trọng này là thấy tâm là hư ảo.

[1:18:44]Đây là cánh cửa để bước vào đạo. Phật bắt chúng ta phải độ chúng sinh nè, Phật bắt chúng ta phải làm vô số công đức nè, ở những đoạn đầu kinh Kim Cang phải không? Bắt chúng ta làm đủ thứ chuyện và không được chấp công nè, bắt đủ thứ chuyện, cuối cùng rồi bây giờ tới vút lại ngay điểm gần hết kinh này thì Phật mới nói là bằng con mắt của Phật, Phật nhìn thấy tâm chúng sinh là không. Phật nói vậy để làm chi á? Nói để chơi hay làm chi?

[1:19:14]Để cho chúng ta phải theo cái lời Phật dạy mà thấy tâm mình là không. Đó, rút lại chỉ nắm ngay chỗ này thôi. Và bây giờ chúng ta cũng theo lời Phật dạy, chúng ta sống trong một cuộc đời này sống hết sức là vị tha, thương yêu con người, nhưng mà lúc nào cũng thấy tâm là không. Đó, yếu chỉ tu hành nằm ở chỗ này. Kinh Kim Cang rút lại gần tới giờ cuối lại là chỗ này. Nhưng mà nếu mà không làm công đức là không được quyền thấy tâm là không nha. Đây là cái điểm này rất là lạ. Cái người nào ví dụ như mà chúng ta nói chứ ờ cái thân tôi là không, cái tâm tôi là không, thì mình mới hỏi người đó mà anh có đem cái thân

[1:19:58]của anh ra làm phước chưa, nói chưa. Anh có xây cái tâm anh vào những điều thiện chưa, chưa, thì anh chưa được quyền thấy thân và tâm này là không. Bởi vì trong kinh Kim Cang Phật dạy rất rõ chỉ có người nào đem cái thân này ra làm vô số việc phước, xây dựng cái tâm này thành cực kỳ cao thượng thì người đó mới được quyền thấy thân này là không, thấy tâm này là không. Như vậy, yếu chỉ kinh Kim Cang là như vậy. Và nhờ điểm này chúng ta chỉnh cái sự tu hành của mình và cũng giúp đỡ vô số người biết tu hành. Và sau này chúng ta gặp rất nhiều bạn đạo học thì có những người họ chưa nghe được cái đoạn kinh này, có những người chưa nghe được đoạn

[1:20:37]kinh này, chúng ta hãy giúp họ nhắc tới chỗ này là trong kinh Kim Cang Phật đã dạy là thấy thân là không, thấy tâm là không. Nhưng mà chỉ có người nào đem cái thân nghiệp này làm vô số điều lành, cái tâm này vô cùng sáng suốt thì người đó mới được quyền thấy thân và tâm là không. Nhớ như vậy.

[1:21:02]Và cái chỗ này đó, khi mà chúng ta đã có cái nền vô số điều thiện rồi thì chúng ta bắt đầu thấy tâm là không để thoát ra khỏi tâm và để nhiếp tâm. Khi mà thấy tâm là không thì tâm bắt đầu vào trong định, nhớ như vậy, thấy tâm bắt đầu vào trong định. Đây là điều lạ. Ví dụ chúng ta ngồi thiền chúng ta thấy thân là không thì thân nó sẽ tự nhiên nó rỗng liền, chúng ta thấy tâm là không tự nhiên tâm nó an liền. Đó là nguyên tắc của cái quán. Tuy nhiên, cái người nào mà không có cái phước dày á mà ngồi đó thấy thân là không á, thân nó rỗng mai mốt bệnh, thấy tâm là không á, mai mốt tâm nó ngu, bởi vì không có cái phước.

[1:21:41]Đây là điều rất là lạ nha. Chỗ này mà người nào không hiểu là tu sai là chỗ này nè. Ví dụ nói à nói là thưa thầy, tôi ngồi thiền tôi thấy thân này không cái tự nhiên nó rỗng cái thân lên. Nói mai mốt thân này sẽ bệnh. Còn nói không, tôi ngồi thiền tôi thấy cái tâm này nó rỗng nên tâm tôi nó an, nói mai mốt tâm này sẽ ngu. Nhân quả, nhân quả như vậy. Chỉ khi nào mà cái người nào đó đem cái thân ra làm vô số việc thiện rồi ngồi đó thấy thân này không, thân nó rỗng thì không bị bệnh. Hoặc là cái tâm cực kỳ sáng suốt làm vô số điều thiện của tâm phát khởi rồi thấy tâm này là không thì mới không bị ngu mà sẽ được vào trong định.

[1:22:22]Đây là điều khác nhau. Sau cái bài kinh Kim Cang này đó, vì chưa hết đâu, chắc vài lần nữa chúng ta mới hết kinh Kim Cang, sau cái bài kinh Kim Cang này chúng ta sẽ học qua cái bài Bát Nhã Tâm Kinh, tức là bài mà mỗi ngày mỗi trưa tụng. Cái bài đó là bài cực kỳ nguy hiểm. Nếu hiểu là chúng ta hiểu cảnh giới của Phật, mà hiểu sai chúng ta là người phá hoại đạo Phật. Bài Bát Nhã Tâm Kinh cực kỳ nguy hiểm. Nhưng mà thôi hôm nay không có thời gian, chúng ta không có nói qua. Thì chỗ này khi một người mà ngồi thiền thấy thân là không, tâm là không thì bắt đầu nhiếp được tâm, tâm bắt đầu yên. Vì đó là bí quyết để tu thiền, bí quyết nằm ở chỗ này.

[1:23:03]Nhưng mà cái bí quyết này tuy cao siêu nhưng vẫn có điều kiện, có một điều kiện là phải có cái phước làm nền. Còn nếu không thì chúng ta mà vội vàng thấy tâm là không thì sau này chúng ta sẽ hư, chúng ta sẽ hư.

[1:23:22]Có một điều nữa là thế này, là ví dụ như nói rằng à tôi thấy tâm tôi là không cho nên tâm tôi yên và như vậy cái việc tu không cần phải rắc rối, cứ bình thản thấy tâm này không là tu được rồi, cần gì rắc rối? Nói không. Nếu không có phước, mình không bao giờ thấy được tâm này là không. Đồng ý không? Nếu không có phước, mình chỉ nghĩ toàn chuyện bậy tầm bạ thôi, không bao giờ thấy được tâm này là không, thân này là không. Cái người có thiện căn đời trước á, còn cái phước á thì mới thấy thân này là không, tâm này là không. Như nãy chúng ta nói, nghiệp chi phối trong tâm, chúng ta khởi được cái ý nghĩ đúng cũng là do do nghiệp, do phước đời trước.

[1:24:12]Cũng gần hết giờ rồi. Lần sau thôi chúng ta hãy nói tới đoạn này. Thôi bây giờ nói nó nó dây dưa qua cái nó mất thời gian, lỡ cỡ. Cái đoạn sau á thì Phật mới hỏi ngài Tu Bồ Đề là nếu có người mà đem châu báu đầy khắp cả trời đất ra mà bố thí thì phước nhiều chăng? Thì ngài Tu Bồ Đề mới nói là được phước rất nhiều. Thì Đức Phật lại nói là nếu phước đức là có thật thì Như Lai đã không nói là nhiều phước đức, chỉ bởi vì quả thật là không có phước nên Như Lai mới nói được nhiều phước. Kỳ tới chúng ta sẽ học bài này, bài này. Nên thôi bây giờ còn có hai ba phút nên chúng ta thôi tạm dừng ở đây. Và cũng mong rằng mọi người là tích lũy phước thiệt nhiều,

[1:24:52]thấy được tâm mình chỉ là cái biết, cái muốn và cái nghiệp, và điều chỉnh cho tâm thật sáng, thật tốt, nhưng mà rồi cuối cùng thấy tâm như thế nào? Không, đó. Đây là tới giai đoạn rất là sâu. Kinh Kim Cang mà chúng ta học tới ngày hôm nay thì rất là rất là phức tạp, rất là sâu, nên mọi người phải cố gắng. Nên những người nào mà mới nghe kinh Kim Cang tới đoạn này sẽ hơi bỡ ngỡ, tại vì những đoạn trước cụ thể dễ hiểu hơn. Tiện đây chúng tôi cũng xin giới thiệu chút xíu, là trong suốt gần một năm qua, chúng tôi có hợp tác với nhạc sĩ Bảo Phúc để làm cái bài nhạc và phim Rừng ơi rừng ơi để kêu gọi con người thương yêu rừng, bảo vệ rừng.

[1:25:34]Thì hôm nay thì cái bản nhạc, cái bộ phim đó đã hoàn thành, giấy phép cũng đã xong, sản phẩm đã thành thì chùa Từ Tân chúng ta bắt đầu phát hành những cái đĩa đầu tiên. Thì hôm nay chúng tôi cũng mời anh Bảo Phúc vào, nhờ anh hát cho chúng ta nghe cái bài rừng, nghe hát sống rồi sau cái buổi giảng mời quý Phật tử qua phòng phát hành của chùa Từ Tân, chúng ta thỉnh mỗi người một đĩa về nhà mở ra cho cả nhà mình xem để mọi người biết thương yêu rừng nha.

[1:26:15]Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính thưa quý đạo hữu, trong tương lai, luật pháp Việt Nam phải theo kịp các nước trong vấn đề bảo vệ bản quyền để gia nhập Tổ chức Mậu dịch Thế giới (WTO), nghĩa là những băng đĩa, xuất phẩm văn hóa phải có giấy phép và được in bao bì cẩn thận đúng quy định. Chùa Phật Quang chúng tôi đang thực hiện vấn đề xin phép nhà xuất bản đối với các xuất phẩm băng đĩa tiếng hình bài giảng để phù hợp với tình hình chung. Do vậy, chi phí thực hiện phải tăng lên vì phải đóng thuế, làm bìa nhãn. Chúng tôi kính mong quý Phật tử hãy vui lòng chia sẻ với chúng tôi về chi phí đó khi thỉnh mua các băng đĩa của chùa.

[1:27:00]Giáo pháp là vô giá, không có tiền bạc nào so sánh được. Vì vậy, quý Phật tử hãy chọn thỉnh băng đĩa có bìa nhãn đẹp, in logo nhà xuất bản, có số giấy phép hẳn hoi, giá cao hơn một chút. Làm như vậy là giúp cho chúng tôi có điều kiện để duy trì sự sản xuất lâu dài, đừng vì rẻ hơn một chút mà thỉnh những băng đĩa không có bìa nhãn, giấy phép. Tâm lý chung, ai cũng chú trọng nội dung bên trong, không cần thiết phải tốn thêm vài ngàn cho bìa nhãn bên ngoài. Nhưng xin quý Phật tử hãy nghĩ đến công lao khó nhọc của những người làm nên xuất phẩm gốc, có đăng ký giấy phép ở nhà xuất bản, có đóng thuế trên mỗi đơn vị sản phẩm

[1:27:43]mà ủng hộ bằng cách chấp nhận trả thêm tiền để thỉnh băng đĩa có giấy phép. Đó cũng là công đức trong việc ủng hộ chùa Phật Quang làm được Phật sự lâu dài và cũng là theo kịp với đời sống văn minh thế giới khi luật bản quyền đang áp dụng khắp nơi. Xin kính chúc quý đạo hữu nhiều an lạc và phước lành. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.