Lời giảng: Kinh Nikaya 01 - Khái Niệm Tổng Quát

  • Thuyết giảng: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Thời lượng: 1:34:22

Toàn văn lời giảng, chép từ phụ đề. Bấm vào mốc thời gian để nghe đúng đoạn đó.

[0:09]Hôm nay chúng ta bắt đầu học qua một số bài Nikaya. Nhưng hôm nay là bài khái niệm tổng quát. Chúng ta sẽ giới thiệu qua về kinh điển Nikaya một cách tổng quát một chút. Lần sau thì chúng ta sẽ đi vào từng bài cụ thể. Trước khi học thì tôi hỏi lại một chút mấy bài làm cũ đã làm xong chưa? Dạ thưa thầy đang làm ạ. Đang làm tức là chưa xong, bởi tôi cũng nghi ngờ lắm. Cho nên bài học hôm nay tôi không có cho bài tập để thêm cho quý thầy được hai tuần nữa ha. Coi như lần sau tôi sẽ nộp bài. Nhớ đánh máy vi tính cẩn thận ha. Cố gắng làm việc tập thể với nhau. Hồi sáng tôi nói chuyện với quý cô vậy, tôi nói ví dụ cái người giỏi

[0:52]thì họ có ý kiến, họ ghi chép, còn ví dụ mình trường hợp yếu quá thì mình vẫn có cái tâm tùy hỷ, thì mấy huynh mình giặt đồ giùm cho mấy huynh đệ giỏi, mình bưng nước họ uống, mình đứng mình quạt muỗi cho họ, họ làm bài thì mình cũng có phước, cũng có cái tâm tốt. Nên làm việc tập thể là để rèn luyện vậy đó. Rèn luyện cái tâm tùy hỷ ủng hộ lẫn nhau. Dù người có khả năng nhiều, người có khả năng ít đều được hết. Còn cái người mình khá thì mình siêng mình làm cho đồng đội mà trong đó không có tâm kiêu mạn. Nghĩa là vẫn thương, vẫn quý những huynh đệ yếu kém của mình. Khi làm việc tập thể là như vậy đó.

[1:26]Đấy người yếu, người kém mình nâng đỡ lẫn nhau để cùng làm được cái việc chung, không có cái sự chia rẽ, ganh tị hay kiêu mạn. Nên từ đây quý thầy phải tập làm như vậy. Những bài tập lớn đều cũng sẽ làm chung hết. Còn những bài tập nhỏ thì vẫn làm riêng, nhưng những bài tập lớn vẫn sẽ làm chung như vậy đó. Để quen cái cách làm Phật sự lớn lên sau này. Bây giờ chúng ta nói về Nikaya một chút. Thật ra mà giao cho tôi dạy Nikaya thì đúng là hơi lộn địa chỉ. Tại vì tôi không có giỏi. Nhưng mà vì cái thầy giỏi như là Thượng tọa Viên Giác thì ổng ổng bận dạy những môn khác. Quý thầy trong ban giám hiệu đề nghị quá thì thôi tôi cũng

[2:06]ráng nhu thuận vâng lời vì tôi lỡ dạy cái bài nhu thuận. Nên tôi cũng phải nhu thuận vâng lời. Mà hẹn là sau này nếu mà quý thầy khác như thầy Viên Giác mà ổng rảnh rồi thì ổng điều chỉnh lại. Những chỗ nào tôi nói bậy thì ổng sửa lại. Cho nên quý thầy học với tôi về môn này thì xin vui lòng học với một nỗi nghi ngờ. Lúc nào cũng không biết ổng nói trúng không à, lúc nào cũng biết. Cứ lúc nào cũng nhắc trong lòng, không biết ổng nói trúng không? Thì kinh điển Nikaya được viết bằng ngôn ngữ Pāḷi là kinh điển của Phật giáo Nam tông. Cái nguồn gốc nó xuất phát từ Tích Lan và được xem là kinh điển gốc của đạo Phật.

[2:48]Nghĩa là chính những bài kinh này đích thực là do Phật thuyết. Điều này không nghi ngờ. Những nhà sử học trên thế giới khi mà nghiên cứu về Phật giáo đều phải xác nhận một điều đây đích thực là những lời dạy của Đức Phật. Còn trong suốt thời gian mà mấy ngàn năm trôi qua như vậy thì quả đã có nhiều bài kinh lạ bước vào đạo Phật, không phải do Phật thuyết. Nhưng cái cách nói thì là như Phật thuyết. Thật sự là không phải Phật thuyết. Kinh Nam truyền này chắc chắn là của Phật thuyết tuy rằng có qua một vài lần biến đổi. Thì thế nào nói đi nói lại nó không bao giờ trúng được hoàn toàn. Làm thời đó khi mà Phật thuyết pháp á cái giọng nói của Phật

[3:35]hùng mạnh, êm ái, xác quyết, từ bi, những cái tính chất đặc biệt trong cái ngôn ngữ của Phật đi vào lòng làm người nghe dễ nhớ. Đây là điều đặc biệt lắm. Ví dụ như tôi vừa nói một vài câu, quý thầy nghe thoáng qua có thể nhớ lõm bõm đại ý. Nhưng nếu mà Đức Phật vừa nói vài câu lúc nãy thì hầu hết chúng ta nhớ hết. Không phải do mình hay mà do cái ngôn ngữ của Phật đặc biệt, cái giọng nói của Phật lạ, rớt vào lòng mình qua tai mình rồi nó ghi chặt chẽ, ghi chặt từng lời, từng lời ở đó hết. Nên đây là cái đặc biệt. Và như vậy kinh Nikaya suốt thời gian chỉ được ghi nhớ, chỉ được truyền khẩu chứ không có được viết trong giai đoạn mấy trăm năm đầu.

[4:20]Thì lần thứ nhất kết tập là sau khi Phật Niết Bàn, 100 năm sau Trưởng lão Yasa kết tập lần nữa, rồi 100 năm sau nữa vua A Dục tổ chức kết tập lần nữa. Tới đời vua A Dục mới có ghi kinh điển Nikaya lại bằng ngôn ngữ Pāḷi. Thì cái việc mà truyền khẩu có thể là lâu ngày nó có xuất hiện một cái sự biến thái nào đó. Đó là điều đương nhiên thôi. Tuy nhiên cái sự biến thái cũng không lớn lắm. Một nhà xã hội học đã đưa ra một cái thí nghiệm thế này. Nghĩa là ông kể một câu chuyện ngắn cho một cái người đầu tiên nghe. Ông nói có một cô gái đi ngang qua một cái con đường vắng, gặp một người đàn ông. Thì người đàn ông đó đã nói một cái gì đó.

[5:07]Sau đó ông yêu cầu cái người đầu tiên nghe câu chuyện nó truyền miệng lại vào tai, nói nhỏ vào tai người thứ hai. Rồi người thứ hai nói lặp lại người thứ ba, nói qua tai thôi. Tới người thứ 50 mà kể lại thì khác hẳn hoàn toàn với câu chuyện của ông kể ban đầu. Cái người thứ 50 mà kể lại là một cô gia, cô gái đi vào rừng gặp một toán cướp tấn công ai, cô đã cứu người ta thế nào thế kia. Tức là thành một câu chuyện rất là ly kỳ rùng rợn, có thể đem đi đóng phim được. Không biết lý do cái thêu thắt gì của người đời sau đó. Nên từ thời Đức Phật, Ngài nói chuyện, Ngài giảng truyền khẩu ghi nhớ, rồi người này truyền tới người kia, thế hệ này truyền tới thế hệ sau

[5:42]thì có thể có một số biến đổi nào đó, tuy nhiên không quá đáng. Nên chúng ta vẫn xem cái hệ kinh điển Nikaya này là đúng với cái kinh điển, đúng là thật sự là lời của Phật dạy. Còn một số kinh Đại thừa, các nhà sử học đối chiếu đã thấy rằng không phải Phật thuyết. Ví dụ như kinh Duy-ma-cật. Kinh Duy-ma-cật là hệ kinh viết bằng tiếng Sanskrit khác với ngôn ngữ Pāḷi. Nghĩa là kinh mà hệ thống Bắc truyền được viết bằng ngôn ngữ Sanskrit, từ Sanskrit này mới dịch qua chữ Nho này. Còn cái Pāḷi này là kinh mà Tích Lan gìn giữ tới bây giờ. Chúng ta ví dụ như cái bài kinh Vimalakīrti này, bây giờ mình gọi là Duy-ma-cật á.

[6:26]Trong đó cái nhân vật chính của bài kinh này là một Trưởng giả Duy-ma-cật cực kỳ nổi tiếng ở thành Yasa, thành Da-gia nổi tiếng và giỏi, giỏi hơn tất cả những đệ tử của Phật mà chỉ là một người cư sĩ. Hồi đó tôi đọc kinh này tôi ngạc nhiên, tôi nói ủa có một ông trưởng giả nổi tiếng như vậy tại sao tất cả những bài kinh khác không bao giờ nhắc tới ổng? Tôi ngạc nhiên. Thì sau này khi mà tôi đọc được những tài liệu nghiên cứu của những nhà sử học thế giới thì tôi mới biết rằng họ đã nói kinh này xuất hiện sau Phật tới bảy, tám trăm năm mới có bài kinh này xuất hiện. Cho nên lý đó là lý do mà tại sao ông trưởng giả

[7:03]này không hề có mặt trong các kinh điển khác. Chứ còn nếu mà đúng là cái người có mặt thời Đức Phật á thì kinh này có khi nói tới một chút, kinh kia cũng có khi nói tới một chút, là những nhân vật có thật. Ví dụ như nữ cư sĩ Visākhā là nhân vật có thật thời Đức Phật. Cho nên nhiều cái kinh này có nói tới bà một chút, qua bài kinh khác gặp bà nói lại chút xíu nữa thì mình thấy những người mà có thật thời Đức Phật thì lác đác xuất hiện nơi này, lác đác xuất hiện nơi kia. Còn người không có thật thì nói một bài kinh này, những bài kinh khác không nói tới. Người ta biết ngay là kinh về sau ai soạn.

[7:35]Nên đây là một sự thật nhiều khi hơi đau đớn trong đạo Phật nhưng chúng ta phải chấp nhận. Đạo Phật là đạo như thật, thấy biết như thật. Cái gì sự thật phải công nhận. Và ngày hôm nay dưới ánh sáng của sử học và khoa học, chúng ta buộc lòng phải nhận là cái gì đúng là phải nói đúng, cái gì không đúng nói không đúng. Mặc dù có điều đó làm chúng ta đau đớn tận tâm can. Những điều mà chúng ta quá tin tưởng, quá tôn thờ, ngày hôm nay lật ngược sự thật lại nó không phải như chúng ta nghĩ, mình cũng phải chấp nhận dù điều đó đau đớn. Hồi mà tôi nghe các nhà sử học phân tích là những kinh như vậy không phải Phật thuyết, tôi tê tái người hết trơn.

[8:12]Nhưng rồi vì tinh thần người học Phật là học cái sự thật, nên buộc rồi phải chấp nhận, cứ chấp chấp nhận và phải nghiên cứu. Bây giờ chúng ta nghiên cứu qua cái ngôn ngữ của Pāḷi một chút. Đầu tiên kinh điển được truyền khẩu chứ không có viết. Chữ viết thời đó là một loại xa xỉ, chỉ có những người ăn không ngồi rồi và rất giàu có mới học chữ viết. Mà chỉ thuộc về giai cấp Bà-la-môn học để tụng được những bài trong cái kinh Vệ-đà của họ. Mà chữ viết thời đó như là một cái thuật gì phức tạp lắm, cho nên nhiều khi Phật cũng chê cái người mà cứ mải mê lo chữ viết. Thời đó giấy cũng chưa có nên viết trên thẻ tre,

[8:51]trên đất sét này kia nọ, chữ viết khó học lắm. Mà nếu mà đi giảng viết bằng chữ vậy thì nhiều người không biết gì hết. Nếu mà ôm đống thẻ tre lại đây là lời Phật thuyết, phát cho người ta một bó thẻ tre về đọc đi, không ai đọc được. Nên cái cách hay nhất là cứ ghi nhớ thôi. Người trước nhớ nói lại cho người sau, người sau ráng ghi nhớ nói lại cho người sau nữa. Nên cái cách học thời đó là cứ chiều đến, bắt đầu buổi chiều xuống, Mấy vị thắp một ngọn đèn dầu, thời đó cũng không có dầu hôi đâu, dầu ăn dầu gì đó. Thì ông thầy ngồi ở trên cái cỡ này, ngồi kiết già ở đây. Cái người đệ tử lại ngồi chồm hổm ở dưới đất.

[9:25]Thầy mới tụng một đoạn rồi người đệ tử tụng lại: "Tôi đã nghe như vầy, thời đó Đức Thế Tôn ở tại thành Vương Xá, trong khu ví dụ như à khu vườn của ông Cấp Cô Độc gì đó, cùng với bao nhiêu chúng đại tỳ kheo, đã nói đã gọi các tỳ kheo đến, nói như thế này..." Và bắt đầu bắt người đệ tử tụng tụng lại. Cái người kia tụng lại không được, ông thầy sửa lại. Tụng hai ba lần thuộc rồi thì bắt đầu ổng qua đoạn khác. Là: "Đức Phật bảo vị tỳ kheo đó rằng: Này các vị tỳ kheo, ở trên đời có bốn pháp gọi là bốn pháp thượng nhân. Thứ nhất là gì? Thứ hai là gì? Ba là gì?" Tụng lại. Cái người đệ tử tụng lại, ông thầy nghe được rồi rồi cho tiếp đoạn khác.

[10:06]Tức là cứ ghi nhớ rồi sau khi mà ông thầy ổng dạy được nửa bài kinh như vậy, hay nguyên một bài kinh như vậy, thế là người đệ tử sa di lật đật chạy về chánh điện rồi ngồi tụng riết, cứ đứng tụng riết tụng riết. Nên đạo Phật mình có cái truyền thống tụng kinh là để nhớ đó. Vì nếu không nhớ là mất kinh điển liền, ông thầy mình chết rồi là kinh điển mất. Nên cái tụng kinh ngày xưa là để giữ gìn pháp bảo, công đức rất lớn. Nhưng ngày nay thì hết rồi. Ngày nay thì kinh sách in lại hết rồi, nên dù mình có quên, pháp bảo vẫn được giữ gìn. Nên công đức giữ gìn pháp bảo ngày nay thuộc về mấy người in kinh ấn tống, chứ còn không ai ghi nhớ nữa.

[10:40]Nhưng người xưa đó là phải tụng kinh để ghi nhớ. Nên đạo Phật mình cái nghi thức mà tụng kinh nó khác các tôn giáo khác. Tôn giáo khác không có những cái hệ thống pháp bảo quá to lớn như trong đạo Phật, họ chỉ có những bài kinh ngắn ngắn ngắn và cái nghi lễ của họ là cầu nguyện thôi. Lúc đó họ chỉ quỳ xuống cầu nguyện, làm lễ rồi ban nước thánh nè, uống nước thánh gì đó, làm gì đó chút chút vậy thôi chứ không có tụng nhiều. Chỉ có trong đạo Phật mới có cái truyền thống tụng kinh dài ngoằng dằng dặc, tụng lần bộ này bộ kia là do ngày xưa, thời xưa đã phải tụng để ghi nhớ và giữ gìn pháp bảo nên công đức rất lớn.

[11:16]Nhưng mà thời này mà mình tụng dài nữa thì cũng đúng là hơi lạc hậu. Hồi xưa họ tụng dài là như vậy đó, để nhớ từng bài kinh đừng để mất. Ngày nay mình tụng dài thì hơi hơi trật ý nghĩa một chút. Nên là chỉ truyền khẩu như vậy thôi chứ không có dùng chữ viết. Tuy nhiên có một cái điều thế này, có một nghi vấn là Đức Phật đã dùng ngôn ngữ nào ngày xưa khi ngài thuyết pháp? Vì thời đó đó, cái đại lục Ấn Độ nó lớn mênh mông mà chia ra nhiều tiểu quốc. Thì Đức Phật của chúng ta sinh ở cái vùng này, vùng đông bắc này, bây giờ là cái xứ Nepal. Ở cái góc này ở thuộc tiểu quốc nếu mà viết theo tiếng Sanskrit là Śākya, còn viết theo tiếng Pali là Sakka. Ở góc này là một tiểu quốc.

[11:59]Tiểu quốc này nó lệ thuộc một cái đế quốc lớn hơn, một vương quốc lớn hơn là Kosala. Nên giữa Kosala và cái tiểu quốc Sakka này, Thích Ca này đó, có cái liên quan huyết thống qua lại, cứ gả con qua qua lại cho nhau để mà giữ gìn lẫn nhau. Ở đây nó có vài cái tiểu quốc nhỏ nhỏ cũng lệ thuộc cái tiểu quốc Kosala này. Ở dưới Kosala này có một cái vương quốc cũng lớn nữa là Magadha, là mình gọi là Ma Kiệt Đà đó. Dưới này lại có những tiểu quốc lệ thuộc nữa. Thì lúc đó vị vua trị vì ở Kosala này là Mahākosala, "mahā" là đại. Sau đó Ma-, vua Mahākosala tịch, chết thì truyền ngôi lại cho vua Pasenadi, là vua Ba Tư Nặc á.

[12:42]Thì vua Pasenadi là vua Ba Tư Nặc chết, truyền ngôi cho con. Chúng ta nhớ cái hệ này chút. Cái hệ này nó có một cái sự sự tình đau đớn. Vua Lưu Ly. Và nhớ chính vua Lưu Ly này đã đem quân qua giết sạch dòng họ Thích Ca khi ông này ổng lên ngôi vua được. Còn cái thời đại mà vua Pasenadi mà làm vua ở Kosala là một thời hoàng kim của Đức Phật. Là ổng với Đức Phật như là người bạn thân vậy, vừa là đệ tử vừa vừa là bạn thân vì cũng trang lứa với nhau. Cũng trang lứa với nhau và ổng ủng hộ đạo rất là mạnh khi ổng lên ngôi vua. Nhưng mà không biết tại sao cái nghiệp oái oăm gì cuối cùng ổng bị con ổng soán ngôi.

[13:21]Lúc ổng vào ổng nói chuyện với Đức Phật trong tịnh xá, vì ổng lễ phép nên ổng cởi giày, bỏ gươm, bỏ ấn tín ra đằng sau cho một người tướng giữ. Ông tướng này mang lòng phản phúc, ôm hết cái thứ cái ấn, kiếm của ổng giao lại cho người con, rồi chạy bỏ ổng, chạy về giao cho người con. Khi ổng nói chuyện Đức Phật xong ra, mất hết, không còn tùy tùng, không còn kiếm, không còn ấn hết. Ổng chạy về thì cửa thành đóng lại không cho ổng vô vì quyền vua đã thuộc về Vidudabha rồi. Lúc đó ổng mới chạy qua bên Magadha này, tại bên đây hai bên đây cũng có dòng họ qua lại với nhau, ổng sang người cháu bên đây ổng ở.

[13:53]Người cháu bên đây là A Xà Thế. Lúc đó A Xà Thế cũng đã lên ngôi vua và A Xà Thế nuôi ổng tới khi ổng bệnh, ổng buồn và mất, chết. Thì sau khi mọi việc ổn định, Vidudabha ổn định được quyền hành rồi mới đem quân qua giết sạch dòng họ Thích Ca. Đất Ấn Độ thời đó đó rất là nhiều tiểu quốc nho nhỏ nhỏ nhỏ. Hiện nay mà người ta đã ghi nhận là tại Ấn Độ hơn 200 thổ ngữ, 200 cái ngôn ngữ tại đất nước Ấn Độ. Một thời gian dài khi mà lệ thuộc Anh á thì người Ấn Độ nói tiếng Anh nhưng vẫn còn những cái ngôn ngữ phụ tại địa phương của họ. Sau khi Ấn Độ tuyên bố độc lập, họ mới chọn cái tiếng Hindu làm cái tiếng chung cho toàn cái đại lục Ấn Độ của họ.

[14:31]Thì đây là vấn đề nè, khi Đức Phật đi qua bộ tộc này, qua bộ tộc kia, qua xóm làng nọ để thuyết pháp, Ngài đã nói ngôn ngữ nào? Thì ngày hôm nay người ta không tìm ra. Hoặc chúng ta đưa ra giả thiết là Ngài đã được học nhiều ngôn ngữ lúc Ngài còn nhỏ. Nhưng mà điều này không có lý lắm, tại không ai hơi đâu rảnh mà học nhiều ngôn ngữ vậy. Lúc Ngài ở trong hoàng cung tuy giỏi nhưng mà khó là Ngài dành thời giờ đó để học ngôn ngữ. Rồi một giả thiết khác là Ngài có thần thông, đi đến xứ nào Ngài có thể hiểu được ngôn ngữ của họ nhanh chóng để mà thuyết pháp bằng ngôn ngữ của họ. Thì đây là một niềm tin về thần thông thì chúng ta cũng

[15:09]nghe rồi tin thôi, chứ còn không có cách giải giải thích thứ ba nữa là Ngài đã thuyết pháp bằng ngôn ngữ nào. Chứ không bao giờ mà Ngài có thể thuyết pháp bằng ngôn ngữ của quê hương, cái xứ Ca Tỳ La Vệ của Ngài được, vì người ta không hiểu. Buộc lòng Ngài phải nói ngôn ngữ của người ta. Nhưng mà làm thế nào Ngài đi tùm lum mà biết được ngôn ngữ hết thì là một thắc mắc, một nghi vấn, đó là một cái đến bây giờ vẫn còn là... Cho đến kỳ kết tập thứ ba do vua A Dục tổ chức, tức là 200 năm sau Đức Phật Niết bàn, kinh điển mới bắt đầu được ghi bằng tiếng Pali. Vì thời đó vua A Dục thấy là: "Trời, sao mà con của đạo Phật mà đủ thứ tông này?

[15:46]Ông này nói qua, ông kia nói lại, không ông nào giống ông nào." Rồi nhiều khi chống nhau nữa. Mà tâm hộ đạo ổng thì rất là mạnh nên ổng thôi, bây giờ kết tập lại một lần nữa. Ổng là người có công lớn. Vua A Dục thì chúng ta biết rồi phải không? Nên ổng tổ chức kết tập và lúc đó cái chữ viết đã bắt đầu trở nên thông dụng dần dần. Con số người mà biết chữ có thể đạt được là 1/5 dân số rồi, nên ổng quyết định cho viết bằng tiếng Pali. Mình thời đó tôi nghĩ chắc cũng chưa có giấy, viết trên lá bối hay cái gì đó. Cái ngôn ngữ Pali có lẽ cái cách viết của nó nó cùng cái hệ với ngôn ngữ ngôn ngữ Sanskrit, nghĩa là đại khái cái hình dáng là

[16:26]mình gọi là chữ giun như kiểu tiếng Miên á, vậy đó. Đây là tôi viết vậy chứ tôi cũng không biết chữ gì, quý thầy cũng đừng thắc mắc chữ gì, tại vì học phải học trên tiến sĩ mới biết hai chữ này. Nhưng mà cái hình dáng nó đại khái nó như vậy đó. Cái tiếng Pali đó sau này cái cái lối viết nó thì thì cùng hệ với Sanskrit nè, như tiếng Thái Lan nè, tiếng Miến Điện nè, tiếng Miên, tiếng Lào. Đó là cái cách viết nó nó cùng một hệ giống nhau như vậy. Còn phía bắc của nó một chút, phía tây bắc của nó là một cái hệ Ả Rập, lại là một lối viết khác một chút xíu nữa. Còn cái từ Sanskrit, Pali mà đổ qua tới Miên thì cái cách

[17:01]viết nó giống giống ngoằn ngoèo giống giống như như vậy. Nên cái giấy xe mà mình kêu giấy giun á, đây là giấy viết ba chữ ngoằn ngoèo không ai biết gì. Đến bây giờ tiếng Pali này cái cách viết đã được viết bằng tiếng La-tinh. A B C của chúng ta bây giờ đã trở nên như vậy là do cái Hội Pali Text Society lập ra. Họ đã đem những cái bản văn mà viết theo chữ giun thế này, họ viết lại bằng tiếng Pali cho cả thế giới có thể đọc được tiếng Pali. Thì cái cách đọc nó hơi khác. Thầy chúng ta đọc theo kiểu Việt Nam mình cho nó dễ, chứ sự thật thì cách đọc nó cũng rắc rối lắm. Ví dụ như chữ Nikāya này đi, cái chữ "a" mà có gạch á thì

[17:40]đọc là "a" đàng hoàng một chút, còn chữ "a" mà không có gạch này thường đọc là "dắc", "Nikayắc", đó đọc vậy. Ví dụ như tiếng Pali này đi, cái chữ "ba" này có gạch thì mình gọi là "pā", mà cái chữ "i" này không có gạch ở trên gọi là "pālit". Thành thử thôi mình cứ Việt Nam mình là "Pali" luôn cho nó gọn, chứ đừng có tới bốn ly. Rồi khi cái lần kết tập lần thứ ba này được ghi kinh điển rồi, thì một trong những hoàng tử, con vua A Dục đã xuất gia, đó là hoàng tử Mahinda. Công lao của ông này thiệt là vĩ đại. Ông xuất gia, thọ tỳ kheo, tu hành tinh tấn và được lệnh vua cha đem một đoàn truyền giáo sang truyền giáo ở đảo Tích Lan luôn, Sri Lanka.

[18:20]Lúc đó ở phía nam của Ấn Độ, ngoài biển khơi có cái vùng đảo là đảo Tích Lan. Và vua A Dục thì đã làm chủ cả một đế quốc rất là lớn. Thì cái đoàn truyền giáo là con của cái ông vua một đế quốc lớn đem một cái đoàn tăng lữ qua đây truyền giáo thì cái đất nước này thái độ làm sao? Quỳ xuống mà lạy mà đón, phải không? Không có dám nhúc nhích. Hoàng hoàng tử một vua đế quốc mà, mà lại vừa đem đạo đức qua nữa thì nghĩa là họ trải hoa mà quỳ xuống mà lạy, đón nguyên cái đoàn truyền giáo đó và lập tức mang đạo Phật trở thành quốc giáo của mình liền. Nên toàn bộ kinh điển được đem đi qua Tích Lan hết luôn, truyền qua hết, không sót bản kinh nào hết.

[19:02]Thì cái điều mà khi hoàng tử Mahinda xuất gia mang toàn bộ kinh Nikāya qua đó để truyền bá, sự kiện này đem đến cho đạo Phật hai điều công đức lớn, hai lợi ích lớn. Cái thứ nhất là để phân biệt được với kinh điển Đại thừa về sau. Khi mà kinh điển đã được mang qua đây rồi thì họ cứ tinh tấn theo cái tạng kinh Nikāya họ tu. Trăm năm sau, rồi có một số sư tăng trở lại Ấn Độ để thăm Ấn Độ thì thấy Ấn Độ xuất hiện thêm mấy bài kinh khác nữa, cái kinh mình có. Nói: "Ủa, có bài kinh mà tạng kinh ở Tích Lan không có?" Thì họ kết luận sao? Thông minh bằng mấy nhà sử học coi, kết luận liền, trong hai giây là phải kết luận liền chuyện đó là gì? Ai ngộ?

[19:47]"Bạch bạch thầy, nghe đó có thể kết luận là kinh đó xuất hiện sau Phật và có nghĩa là không phải

[19:58]là chính miệng Phật thuyết." Đó như vậy mới đi làm nhà sử học được. Kết luận liền à. Bởi vì họ từ thời mà vua A Dục kết tập là đã mang kinh qua đây không sót một cuốn, không sót một dấu chấm dấu phết nào hết, mà tại sao 100 năm sau trở lại Ấn Độ tự nhiên xuất hiện mấy bài kinh? Thì chắc chắn mấy bài kinh đó xuất hiện sau thời kết tập thứ ba, đúng không? Đúng quá! Đó là lý do mà các sư ở Tích Lan á... Họ giữ chặt cái tạng kinh Nikaya mà có bên đất nước của họ, không cho thêm cho bớt một dấu phết dấu chấm nào hết, để bảo vệ đặc biệt cái giáo lý của Đức Phật, không cho thêm thắt, không cho bóp méo,

[20:35]không cho sai chạy nữa kể từ thời Đức Phật A Dục, kể từ thời đức vua A Dục. Giữ chặt luôn. Còn bên Ấn Độ thì kinh cứ thêm từ từ, thêm từ từ. Cứ lâu lâu lại có thêm cuốn kinh, lâu lâu có thêm cuốn kinh, không biết của ai viết, cho tới ngày có luôn cả cái kinh Mật tông trong đó luôn, tụng chú tùm lum trong đó luôn. Thì nên các vị sư mà ở Tích Lan thản nhiên nói toàn bộ kinh điển Đại thừa là ngoại đạo Bà-la-môn. Vì được viết bằng tiếng Phạn của giới tu sĩ Bà-la-môn. Toàn bộ kinh điển của Bắc tông Phật giáo đều được viết bằng tiếng Phạn mà đây cũng là ngôn ngữ của giới Bà-la-môn chuyên trì tụng kinh Vệ-đà, tu tập theo kinh Vệ-đà.

[21:15]Thời bây giờ cũng vậy. Nên có một cái ông sửa xe, ông hỏi tôi chứ: "Ủa, thầy tu theo đạo gì vậy?" Nói: "Theo đạo Phật." Nói: "Ủa, sao tôi hỏi mấy ông sư đó, ông sư mà quấn quấn cái y nè, ổng nói mấy thầy là Bà-la-môn?" Từ thời đó tới bây giờ cũng vậy đó, cũng nghĩa là nghĩa là mấy thầy bảo vệ chặt và xem Phật giáo Bắc tông này là là ngoại đạo Bà-la-môn. Nên nếu như quý thầy đó gặp một vị sư Nguyên thủy mình chắp tay mình cúi đầu mình chào trong tình đạo, thì ổng gật đầu ổng cười cười ổng đi luôn, tại ổng nghĩ là ổng mới là Tăng, còn kia là cư sĩ ngoại đạo chào ổng, chào ổng tốt không chào thôi không cần, ổng không cần đáp lễ lại.

[21:52]Tại vì ổng mới thật sự là tăng lữ của đạo Phật, là Tam bảo, là trong Tăng bảo, còn quý thầy thuộc loại Bà-la-môn ngoại đạo tuy cái đầu có cạo. Đó là chúng ta phân biệt giữa cái cái cái Nguyên thủy và Đại thừa. Bây giờ thì người ta dùng cái Nguyên thủy và phát triển, nghĩa là những kinh điển mà sau thời vua A Dục mới có từ từ á, những kinh điển phát triển thêm trong đạo Phật. Còn kinh Nikaya này kinh Nguyên thủy trong đạo Phật. Mà lúc đó có những khi người ta gọi một cách gọi là Tiểu thừa, còn bên đây là Đại thừa. Cách gọi này nó hơi mít lòng hàng xóm, cho nên bây giờ các nhà sử học gọi trở lại, bên đây là giáo lý Nguyên thủy, này là giáo lý phát triển.

[22:30]Còn nếu nói theo bộ á thì bên đây gọi là Thượng tọa bộ Theravada, bên đây là cũng không chắc Đại chúng bộ, cũng không chắc. Tại vì tư tưởng Đại thừa nhiều khi nó lại gần giống với Nhất thiết hữu bộ trong 20 bộ phái á. Đó là cái điều thứ nhất là để giữ Nikaya phân biệt được với kinh điển của phát triển Đại thừa. Thứ hai là bắt đầu từ thế kỷ thứ 18 là Hồi giáo bắt đầu tấn công Ấn Độ. Quân đội Hồi giáo bắt đầu tấn công và đến thứ thế kỷ thứ 13 thì họ dứt điểm, họ dứt điểm chiếm hết toàn bộ lục địa Ấn Độ luôn, Hồi giáo mạnh như vậy. Và lại một cái điều đen tối xảy đến nữa là họ giết sạch các sư tăng đạo Phật hết, không còn sót người nào. Hồi giáo.

[23:14]Các chùa bị đập phá, đốt cháy, các kinh điển bị đốt hết, còn các sư tăng thì bị chém đầu hết. Đó là lý do tại sao mà ở Ấn Độ giờ không còn đạo Phật. Còn người Ấn Độ giáo thì họ vẫn mang hình thức giống như Hồi giáo, họ lẫn lẫn trong đó họ sống, như ai bị cự quá thì bị giết thôi chứ không có quá đáng. Riêng cái người đạo Phật mình sống là đầu trọc, ôm bát đi khất thực, sống không gia đình, nó hình ảnh nó tách biệt hẳn với Hồi giáo nên họ dễ nhận ra. Rồi mình cứ nói là không có Thượng đế, Allah gì hết lại nghe giận làm liền. Nhờ như vậy nhờ đem qua bên Tích Lan ở một khoảng cách biển như vậy, nên cái tạng kinh Nikaya không bị đốt phá, giữ được, giữ gìn được nguyên bản.

[23:58]Đó là cái công lao thứ hai của hoàng tử Mahinda khi mà đã đem được tạng kinh Nikaya sang Tích Lan là vậy, hai công lao rất là lớn. Còn bây giờ, khoảng năm 1966 thì ông Oldenberg và Poussin mới thành lập cái Pali Text Society để viết lại cái mẫu tự Latinh, mà hiện nay cái Viện Phật học Việt Nam mình với các nước trên thế giới khi nghiên cứu kinh Pali thì học cái tiếng Pali này bằng cái tiếng A B C này. Mấy nước khác biết sao cho riêng các sư Khmer ở Trà Vinh đó, đến bây giờ vẫn học cái tiếng Pali mà viết bằng cái lối viết của chữ Khmer nha. Ngày hôm nay vẫn như vậy, họ không học tiếng Pali mà viết bằng mẫu tự Latinh như chúng ta nè.

[24:37]Như chúng ta viết như kiểu kiểu này không có, mà họ cũng viết bằng chữ này, ngoằn ngoèo ngoằn ngoèo thế này. Cứ mỗi buổi sáng chúng ta đến một cái ngôi chùa Khmer, bây giờ họ tổ chức lớp học ở dưới á, chúng ta sẽ nghe họ tụng du dương á, du dương bằng cái tiếng Pali mà được viết bằng cái mẫu tự của người Miên, người Khmer đó. Đó là cái chúng ta nhìn sơ qua về ngôn ngữ một chút. Giờ chúng ta phân loại. Thì thứ nhất là Kinh Trường Bộ. Kinh Trường Bộ thì gồm 34 bài kinh dài, Dīgha Nikāya. Dīgha này có nghĩa là dài đó, là những bài kinh này nó dài lắm. Không biết ngày xưa Phật thuyết như thế nào. Rồi Kinh Trung Bộ gồm 152 bài, những bài vừa vừa, Majjhima Nikāya.

[25:24]Rồi Kinh Tương Ưng, tương ưng là là liên quan, thích hợp với nhau, nghĩa là mỗi phẩm như vậy nó nói những vấn đề liên quan liên quan với nhau nên cái bộ kinh nó được gọi là Kinh Tương Ưng. Còn bên A-hàm gọi là Tạp A-hàm, tạp tức là nói tùm lum. Nhưng bên Pali thì là tương ưng. Rồi nghĩa là Kinh Tăng Chi. Kinh Tăng Chi là là chia theo từng phẩm á, phẩm một pháp riêng, phẩm hai pháp riêng. Ví dụ như cái đề tài giáo lý nào mà Đức Phật chỉ nói một vấn đề thì được xếp vào phẩm thứ nhất. Bài giáo pháp nào Đức Phật nói trong đó có bốn vấn đề về Phật pháp thì bài kinh nó được xếp vào phẩm thứ tư. Đó là cái lối sắp xếp của Kinh Tăng Chi.

[26:03]Thì nó tới 174 phẩm, tổng cộng tới 2.308 bài nho nhỏ. Rồi một bộ kinh là Kinh Tiểu Bộ, Khuddaka Nikāya. Tiểu bộ kinh này thì gồm nhiều cái bài kinh nổi tiếng. Thứ nhất là Pháp Cú nè, Dhammapada. Ở đây thì như chúng ta trong chương trình có học Pháp Cú phải không? Bài Kinh Tập, à Kinh Bổn Sanh. Bổn sanh là những câu chuyện kể về tiền thân của Đức Phật. Thì có nhiều người nghi ngờ rằng những câu chuyện này không do Đức Phật thuyết mà do người sau viết ra. Họ cũng nghi rằng ngay trong Nikaya đã có những bài kinh mà do người sau viết chứ không phải do Đức Phật, mà Bổn sanh là một cái điều nghi ngờ.

[26:46]Nhưng mà khi tôi đọc tới Bổn sanh thì tôi thấy là không hoàn toàn là người sau viết đâu. Trong thời Đức Phật đã có những lần Đức Phật nói về những tiền kiếp của mình. Rồi cái số bài kinh đó nhiều khi nó không nhiều lắm rồi người sau họ viết thêm vào cho nó đầy, nó đầy được tới 547 cái mẩu chuyện, kể ra cũng khá đồ sộ. Rồi Kinh Phật Tự Thuyết, là không ai thỉnh Phật thuyết. Rồi Trưởng Lão Ni Kệ, Trưởng Lão Tăng Kệ. Trưởng Lão Ni Kệ, Trưởng Lão Tăng Kệ là những bài thơ, những bài kệ mà khi các vị trưởng lão đắc đạo, trong lúc cảm hứng nói lên một bài thơ để trình bày cái kiến giải của mình. Thường là như vậy.

[27:25]Tuy nhiên, trước cái bài thơ bài kệ đó thường là có nói một phần đoạn đời của một vị A-la-hán đó, ngài đã sinh như thế nào, đã làm việc gì. Rồi có những trường hợp mà có những vị trưởng lão sinh ra trong hoàn cảnh khốn cùng và có những vị đã đi qua những tội lỗi nặng nề rồi tu cũng chứng đạo được. Nhưng cũng có những vị trưởng lão sinh ra trong cái vinh quang cùng tột rồi khi bỏ ngôi vua, xuất gia trong mấy ngày chứng A-la-hán luôn, như ngài Mahakappina. Mahakappina, trong kinh điển gọi là Mahakappina, ông là vua, nhưng đến khi gặp Phật pháp, ông tự nhiên có ông xúc động mạnh và ông dẫn tùy tùng đi đi tìm Phật liền.

[28:07]Cái niềm tin ông mạnh đến nỗi trong kinh ghi thế này, ông cưỡi ngựa đến dòng sông. Ông nói: "Với cái lòng tin của ông như thế này và nếu Đức Phật là đấng Chánh Đẳng Giác siêu việt thế này, thì ông nguyện là ngựa của ông sẽ đi qua luôn dòng sông." Ông phóng ngựa qua luôn không sợ chìm mà đúng vậy, cái niềm tin mãnh liệt đó nguyên đoàn ngựa đi qua hết dòng sông luôn, chân không ướt. Trong kinh ghi như vậy. Rồi ổng đến, cái niềm tin mãnh liệt á con người ổng căn cơ thượng thừa kỳ lạ lắm. Rồi khi ông đến ổng gặp Phật, rồi ổng thế phát xuất gia, 8 ngày sau chứng A-la-hán hết, cả ông và đoàn tùy tùng luôn.

[28:41]Đây là một câu chuyện rất là đẹp và rất là lạ. Còn mình bây giờ mình nghe nói bên kia bên sông có Phật, mình chờ tàu lại ghé kêu đi qua chứ chứ đi xuống nước coi chừng sặc, ăn chìm. Bơi qua thì mệt, thôi kệ từ từ ngồi nhìn trời thơ thẩn, hiu quạnh một chút đợi đò thì tàu đi qua, còn ngày xưa ông mãnh liệt như vậy. Đó là cái cái căn cơ. Rồi có một cái kinh nữa là Itivuttaka là Kinh Phật Thuyết Như Vầy do một nữ cư sĩ kết tập. Đây cũng là lạ, chứ thường là đa số bài kinh đều do ngài A-nan ngài trùng tụng lại trong cái lần kết tập thứ nhất. Lúc đó sau khi Phật Niết-bàn, các vị tỳ-kheo A-la-hán đã tập hợp tại hang Thất Diệp.

[29:24]Và ngài A-nan đã đọc lại hết những điều gì ngài đã nghe, đã nhớ để cho các A-la-hán kiểm chứng lại có đúng hay không. Rồi kiểm chứng lại là xem các ngài công nhận, trên cái trí nhớ các ngài công nhận: "À, những lời này đúng Phật thuyết." Và thứ hai, trên nội dung giáo lý, các ngài thấy nó phù hợp với đạo lý mà các ngài chứng được trong đạo quả. 500 vị công nhận hết thì từ đó cứ ghi nhớ mà truyền khẩu lại với nhau. Nên đó cái tinh thần nó cũng rất là là đặc biệt, ư? Bây giờ chúng ta nói qua về ý nghĩa kinh một chút. Đa phần á thì kinh nêu lên những hệ thống giáo lý tiêu chuẩn của đạo Phật, như là Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo,

[30:03]Thất Giác Chi, Tứ Vô Lượng Tâm, Giới - Định - Tuệ, căn trần thức, ngũ uẩn, hơi thở, quán vô thường, Tứ Niệm Xứ, Duyên khởi, có những giáo lý căn bản thì đa phần là kinh nêu ra như vậy. Ví dụ như có bài kinh Đoạn Tận Ái, rồi Phật dạy nè: "Thức lấy hành làm nhân duyên, làm tập khởi, làm sanh chủng, làm nguyên nhân. Hành lấy vô minh làm nhân duyên, làm tập khởi, làm sanh chủng, làm nguyên nhân." Nghe quý thầy hiểu không? Cũng hiểu chứ phải không? Nhưng mà cái lối nhấn mạnh và lặp đi lặp lại nhiều lần mình đọc lát mình ngán. Kinh Nikaya có cái đó, có cái khổ đó. Khổ là đọc lát ngán, vì cứ lặp đi lặp lại, lặp đi lặp lại hoài.

[30:47]Phải lặp đi lặp lại để nhớ, nên cái người đọc chút nhớ. Chúng ta sẽ thấy thế này nè, bây giờ từ ban đầu từ tiếng Pali nè, rồi bây giờ chúng ta được học từ cái bản Việt dịch của Hòa thượng Minh Châu nè. Nhưng mà đọc ngang chữ này đọc không nổi. Đem cái chữ này ra mình giảng đi giảng lại, tụng đi tụng lại đọc không nổi, ngán. Vì cứ lặp đi lặp lại và có những cái hình ảnh, những ví dụ nó xa lạ với mình lắm. Cho nên mình phải mình phải hiểu và giảng theo cái tiếng Việt hôm nay một lần nữa, của thời đại ngày hôm nay nữa. Cho nên cái khó này, quý thầy nhớ quý thầy học Nikaya hôm nay chúng ta học á, là học tiếng Việt á, của Hòa thượng Minh Châu dịch.

[31:29]Chừng nào quý thầy lên cao cấp quý thầy sẽ được học trực tiếp bản Pāli. Còn bây giờ mình nghiên cứu ý nghĩa nơi chỗ này. Nhưng mà ngừng ngang đây là mình không hiểu nhiều và mình không giảng cho người khác được. Đọc bản kinh đó mình hiểu rồi, mình phải hiểu theo cái ngôn ngữ bây giờ, nó mới nhẹ nhàng đi. Chứ còn đọc cái câu văn hồi nãy nó nặng nề lắm. Mà ngày xưa cứ lặp đi lặp lại như vậy, mà có những hình ảnh lạ lắm. Lạ mà mình không hiểu là ngày xưa làm sao nữa. Thí dụ như có một lần đó có cái thường tác một bài kinh rồi lát kể lại. Cái lối hành văn á nó hơi là lạ so với bây giờ. Có nhiều cái bài kinh như vậy là Phật dạy trực tiếp về Tứ Diệu Đế,

[32:07]về Bát Chánh Đạo, về Thất Giác Chi, chính Phật thuyết lên. Bây giờ thì người ta kết tập lại thành những cái giáo lý như là trong Đức Phật và Phật Pháp của ngài Đại Đức Narada, hay là trong Phật Học Phổ Thông của Hòa thượng Thiện Hoa. Thì những giáo lý tiêu chuẩn căn bản đó, kết tập cô đọng lại, giải thích lại gọn với ngôn ngữ của ngày hôm nay. Còn ngày xưa thì chúng ta đọc nguyên bản thì thấy Phật cũng giảng nhưng mà ngôn ngữ hồi đó hơi khó hiểu một chút. Rồi cũng có những bài kinh do hoàn cảnh đặc thù đối đáp với ai á, Phật thuyết pháp, trả lời, giải thích mà hay quá, nên được trân trọng ghi nhận giữ gìn trở thành một bài kinh nổi tiếng.

[32:46]Có những bài kinh như vậy. À ví dụ như có một người Bà-la-môn Ba-sa-ri-gia dạy đệ tử rằng muốn giữ tâm á là mắt đừng có nhìn thấy sắc, tai đừng nghe thấy tiếng. Thì lúc đó Đức Phật nếu nói như vậy thì cái người mù là người giữ tâm tốt, phải không? Vì mắt không nhìn thấy gì hết. Và người điếc là người giữ tâm tốt vì tai không nghe thấy gì hết. Nghe nói vậy xong là người ta thấy được cái cái lý luận sai của cái người ngoại đạo, đó là như vậy. Hoặc là có một bài kinh mà do hoàn cảnh đặc thù nè đến và Phật trả lời chứ không phải là Phật nêu cái hệ thống tiêu chuẩn, như lần đó Phật gặp cái ông Tỳ-kheo Sonadanda,

[33:27]ổng là một Bà-la-môn nổi tiếng, ổng đi đến yết kiến Phật mà ổng hồi hộp lắm. Ổng sợ Phật hỏi một câu ổng bí, ổng quê. Tại vì đi nguyên một đoàn người Bà-la-môn theo ổng đông lắm, mà ổng là một người nổi tiếng, rất là giỏi. Mà ổng nghe đồn về Phật là một vị Chánh Giác nên ổng cũng mến, cũng có duyên kiếp nào á, ổng mến ổng đi. Mà đi giữa đường đi bụng ổng cứ đánh lô tô, hồi hộp. Coi chừng Sa-môn Gotama hỏi ta một câu ta bí kỳ lắm. Hoặc là ta hỏi một câu mà Sa-môn Gotama chê hỏi câu hỏi dở thì cũng kỳ lắm, ổng hồi hộp miết. Tới gặp Phật chào hỏi, ngồi xuống bên xong, Đức Phật đọc được tâm của ổng, nên Đức Phật hỏi một câu mà đúng tủ:

[34:05]"Có bao nhiêu điều để được gọi là một vị Bà-la-môn? Bao nhiêu tiêu chuẩn?" Ổng ngồi ổng mừng liền, nói: "Thôi đúng tủ rồi." Ổng ngồi ổng vươn vai, hắng tằng hắng rồi ha, sửa áo sửa đồ lại, coi ổng nói là: "Thưa Tôn giả Gotama, có bảy tiêu chuẩn để được gọi là một vị Bà-la-môn." Đó, thì ổng mới kể ra là phải bảy đời cha mẹ là, ê năm, năm tiêu chuẩn gì đó. À năm tiêu chuẩn nha. Tới bảy đời huyết thống là cha mẹ toàn là Bà-la-môn thì người này được gọi là Bà-la-môn. Rồi thứ hai nữa là người này phải có dung mạo đẹp. Đẹp phải là xấp xỉ hoặc hơn chút hoặc kém một chút quý thầy ở Thiên Khánh chứ không thể xấu hơn được, thì người này có mới có thể được gọi là Bà-la-môn.

[34:52]Thứ ba là người này phải tụng học thuộc các kệ chú của kinh Vệ-đà rất giỏi mới được gọi là Bà-la-môn. Thứ tư là người này phải có giới hạnh. Thứ năm là người này phải có trí tuệ. Ổng nêu ra năm tiêu chuẩn. Đức Phật mới nói: "Thôi bây giờ ông thử nghĩ có thể bỏ bớt một tiêu chuẩn nào mà có thể vẫn gọi là Bà-la-môn chăng?" Ổng nói: "Được, Tôn giả, có thể bỏ đi cái bảy đời huyết thống thọ sinh đi, phải không? Bây giờ không biết cha mẹ sanh trưởng là ai, nhưng mà nếu người này đẹp trai, học giỏi, có giới hạnh, có trí tuệ thì vẫn được gọi là Bà-la-môn." Đức Phật nói: "Thôi bây giờ ông thử bỏ thêm một cái nữa đi." Ổng nói:

[35:30]"Được." Ổng bỏ luôn cái đẹp trai luôn, nghĩa là xấu như cỡ tui cũng được luôn, cũng được, miễn là tụng kệ kinh chú giỏi nè, có giới hạnh, có trí tuệ được. Cái Đức Phật nói: "Thôi ông thử bỏ một cái nữa." Ổng nói: "Dạ được." Bắt đầu mấy Bà-la-môn kia nhao nhao nhao phản đối, nói: "Coi chừng ngài đã trúng kế của Sa-môn Gotama. Ngài bỏ từ từ cái ngài thành cái đạo của ổng à." Cái ông Bà-la-môn nói: "Nếu các ngươi nói các ngươi giỏi hơn ta thì các ngươi hãy trả lời. Còn nếu các ngươi không giỏi hơn ta từ nào giờ thì hãy ngồi im mà nghe ta trả lời." Tại ổng là một vị thầy của những Bà-la-môn khác. Thì ổng bỏ lát cái ổng còn được hai điều thôi,

[36:06]miễn có giới hạnh, có trí tuệ được gọi là Bà-la-môn. Đức Phật ngang đó Đức Phật chấp nhận, nói đúng. Mà ổng nói câu này mà được kết tập luôn Phật xác nhận lại, ổng nói: "Như lấy bàn tay để rửa bàn tay, lấy bàn chân để rửa bàn chân, cũng vậy, giới hạnh làm cho trí tuệ được thanh tịnh, trí tuệ làm cho giới hạnh được thanh tịnh. Ở đâu có giới hạnh ở đó có trí tuệ, ở đâu có trí tuệ ở đó có giới hạnh." Ổng nói câu hay. Đức Phật lặp lại nguyên câu của ổng để mà Đức Phật tán thán luôn. Tuy nhiên, Ngài hỏi: "Trí tuệ là gì?" thì ổng bí. Lúc đó Đức Phật mới giảng trí tuệ là gì thành nguyên một bài kinh tuyệt vời luôn, nói lên quan điểm con đường tu chứng

[36:41]của các vị Tỳ-kheo trong đạo Phật, tuyệt vời luôn. Rồi ổng xin quy y Phật luôn, theo luôn. Thì có những bài kinh như vậy, nghĩa là Ngài không nêu lên cái hệ thống tiêu chuẩn giáo lý mà Ngài do hoàn cảnh đó Ngài lý luận hay quá rồi cái thành một bài kinh, có trường hợp như vậy. Hoặc tương tự có một bài kinh Upāli cũng là trong cái hoàn cảnh đặc thù được Phật thuyết. Có một cái đệ tử của phái Nigantha, Nigantha này mình gọi Nigantha này mình gọi là là Ni-kiền-tử á, tức là lõa thể ngoại đạo đó. Cái những người này đó được gọi là ngoại đạo lõa thể thì hay ở trần ở truồng, mà tôi không hiểu là khi họ đi vào làng họ khất thực họ có trần truồng hay không?

[37:21]Nhưng mà thường cái nghi lễ của họ đó là họ nói chung là họ rất là mát mẻ.

[37:30]Thì mà giáo lý cũng hay lắm, tại vì cái ông giáo tổ của cái phái này ông này rất là giỏi, có trình độ tâm linh rất cao, có chứng một cái phần tâm linh nào đó. Tuy nhiên, trong cái chứng đó vẫn ông vẫn còn tà kiến. Mà thời đó ông sống cùng thời Đức Phật. Tuy nhiên, dường như là ông và Đức Phật chưa bao giờ gặp nhau, chỉ có những đệ tử gần qua lại, mặc dù hai người sống gần nhau á mà không gặp nhau. Thì có một người đệ tử xuất gia của phái Nigantha này đến gặp Đức Phật thì nói chuyện qua lại, thì ông đó mới nói rằng: "Trong ba nghiệp: thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp thì thân nghiệp là quan trọng.

[38:05]Chứ mình mới khởi ý nghĩ chưa có gì hết. Chừng khi nào mình cầm tay mình đánh người ta thì mới nghiệp nó mới thành nghiệp." Đức Phật thì nói ý nghiệp mới quan trọng. Thì khi ông trở về, đến cái nhà ông cư sĩ Upāli. Upāli này không phải là ngài ngài Upāli mà làm đệ nhất giới luật đâu nha, không phải. Cái này là một cư sĩ trùng tên thôi, mà ông này rất là giàu có, là đệ tử của Nigantha và thường xuyên nuôi dưỡng, cúng dường ông giáo tổ này và tất cả những những tu sĩ của Nigantha này. Lúc đó ông giáo chủ Nigantha đang ở tại nhà ông Upāli thì cái ông mà ông mà hồi nãy nói chuyện với Đức Phật trở về

[38:40]gặp lại hội chúng kể lại, kể lại thích thú lắm. Nhưng mà câu chuyện chưa ngã ngũ, thì lúc đó ông Upāli này ổng tình nguyện ổng sẽ đến chất vấn với Đức Phật. Cái hình ảnh này chúng ta thấy nó kỳ lạ, cái văn hóa văn chương hồi xưa kỳ: "Hôm nay, à thưa Tôn giả Nigantha, tôi sẽ đến gặp Sa-môn Gotama và như một người lực sĩ khéo chiến đấu, như một người lực sĩ nắm tay đối thủ, chụp áo đối thủ, quặc qua bên này, quặc qua bên kia, kéo tới kéo lui một cách tự tại thì tôi sẽ dùng lý luận của tôi sẽ làm cho Sa-môn Gotama ngã bên này, ngã bên kia, không còn lời nào để đáp lại." Ổng đưa ra ví dụ ngộ lắm, hồi xưa thấy cái ngôn ngữ nó hơi lạ.

[39:18]Thì lúc đó đó cái ông mà ông tu sĩ ổng mới đi về ổng mới: "Đừng đừng, xin ngài đừng có cho, xin thầy đừng cho ông Upāli này đến gặp Sa-môn Gotama. Vì Sa-môn Gotama có bùa, gặp ổng là bỏ theo ổng đi. Rất nhiều cái người đệ tử của những đạo khác gặp Sa-môn Gotama rồi là quy y với ông ta hết, nên đừng cho." Thì ông giáo tổ Nigantha này ổng cười, ổng nói: "Không có sao, không bao giờ có cái chuyện mà Upāli này sẽ trở thành đệ tử của Gotama, chỉ có cái chuyện là Sa-môn Gotama trở thành đệ tử của Upāli mà thôi." Tại Upāli này quá giỏi. Thế được thầy khuyến khích, ông Upāli đến gặp Phật. Đến gặp Phật cũng nói về vấn đề ba nghiệp nghiệp nào quan trọng. Đức Phật hỏi ông:

[39:57]"Ví dụ một người đi trên đường vô tình giẫm đạp phải côn trùng thì người đó tội nặng hay nhẹ?" Ổng này nói: "Nhẹ." Nói: "Vì sao?" - "Dạ vì không cố ý." Đức Phật nói: "Đúng, chính ý nghiệp là quan trọng." Phật hỏi một câu cái ổng trúng liền. Phật nói theo cái lương tâm của mình thôi. Rồi Phật hỏi một loạt thì chứng minh rõ ràng rằng chính tâm là quan trọng. Cho nên sau đó cái ổng mới nói: "Thưa thưa Tôn giả Gotama, ngay câu hỏi đầu tiên là con đã bị khuất phục, tuy nhiên con cứ cố ý nêu thêm vài vấn đề để cho Ngài càng làm thêm sáng tỏ. Cho nên ngày hôm nay, Ngài đã đem ánh sáng lại cho con và con xin quy y với Ngài." Đức Phật mới nói:

[40:35]"Ông hãy suy nghĩ chín chắn lại, không nên vội vã." Ổng mới nói: "Không hề có một vị thầy nào mà có người khác xin làm đệ tử mình mà nói rằng người đó hãy suy nghĩ chín chắn lại. Chính điều của Tôn giả nói càng làm con kính trọng Ngài thêm." Và Đức Phật mới nói: "Nhưng mà ông vẫn đang là đệ tử của Nigantha." Cái nói: "Thật là kỳ lạ, không có một ông thầy nào mà khi một người khác đến xin quy y đã lại nhắc cái người kia đang còn là đệ tử của người thầy cũ. Mà Tôn giả đã dè dặt như vậy, nhắc như vậy, con lại càng kính phục Tôn giả thêm." Đức Phật mới nói: "Ông vẫn thường hay cúng dường cho bên Nigantha và nhiều người,

[41:11]thì từ đây ông cũng hãy mở rộng lòng với họ." Ông kia lại tán thán là: "Không có một bậc thầy nào mà khi được người ta quy y rồi lại vẫn khuyến khích người ta cúng dường cho những người của đạo khác. Cho nên điều mà Thế Tôn nói càng làm cho con kính phục Thế Tôn thêm. Như người dựng đứng lại những gì đã bị quăng ngã, như người đem ánh sáng vào trong phòng tối cho người ta thấy, cũng vậy, chân lý đã được Thế Tôn khai thị diễn thuyết và từ đây con xin quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, từ đây cho đến mạng chung con trọn đời quy ngưỡng." Và ổng cáo từ ổng về. Ổng về ổng đến với người giữ cửa, ổng nói:

[41:46]"Từ đây cấm cửa Nigantha, ai mà tới nói là ta không còn đệ tử Nigantha nữa mà ta đã trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama." Lúc đó cái người Nigantha tới khất thực, cái người giữ cửa không cho vô. Ông kia về báo lại cho ông giáo chủ này. Ông giáo chủ này tới thì ông này mời vào nhà, ổng tiếp, ổng đãi ăn, nhưng ổng xác nhận lại: từ đây ổng đã theo Phật. ... đặc thù nói lên, nó cũng lý thú lắm. Còn những bài kinh mà theo hệ thống tiêu chuẩn đọc nghe khó nghe, vì nó lý thuyết trừu tượng quá, nên phải có người giải thích, diễn giảng rồi nhiều, kỹ rồi mình mới thấm, như cái Tứ Diệu Đế. Như cái Tứ Diệu Đế chớ không phải dễ hiểu.

[42:25]Như nhận định được cuộc đời là khổ, coi vậy chứ không dễ hiểu. Có một lần, tôi gặp cái anh đó, lúc đó tôi còn là chú chúng nhỏ trong chùa, thì ảnh là hàng xóm của gia đình tôi, ảnh cũng lên chùa nghe pháp, chỗ thầy tôi giảng. Thì ngồi nói chuyện với ảnh, ảnh cũng phân vân, ảnh nói cuộc đời nói đạo Phật là khổ nghe tiêu cực quá, ảnh nhìn ảnh không hiểu hết. Tôi nói: "Đây là một cái đạo lý quan trọng của đạo Phật, đây không phải là bi quan đâu mà đây là trí tuệ. Đến chừng nào mà anh cầm xấp tiền trong tay mà anh vẫn thấy đây là khổ thì anh hiểu được đạo Phật, hiểu được Khổ đế." Thì tôi không biết là tới giờ này ảnh đã hiểu chưa, chớ còn tôi thì cũng chưa hiểu.

[43:02]Rồi một tính chất khác nữa của Nikaya, chúng ta thấy thế này, là vì không có phương tiện ghi lại như băng cassette hoặc là sách vở, nên Phật phải đích thân lặp đi lặp lại nhiều lần một giáo lý ở những lần thuyết pháp khác nhau. Ví dụ một cái giáo lý đó, nhiều khi trong nguyên trong một bài kinh đó cũng đã được lặp đi lặp lại mấy lần, rồi cái ý nghĩa của bài kinh đó được Phật giảng đi giảng lại ở nhiều lần, ở những nơi khác. Vì thời đó đâu có gì ghi lại. Như hôm nay, Phật thuyết cho 500 Tỳ kheo bài kinh này, đi qua một cái làng khác, gặp một số người cư sĩ mà đã thuần thục chứng sơ quả Tu đà hoàn, cái Phật thuyết lại nguyên bài kinh đó cho các vị đó nghe,

[43:42]thì vẫn không thấy trùng hợp, tại những bài kinh này cái người mới này chưa nghe. Còn thời bây giờ như tôi mới khổ nè. Cái bài kinh đó giảng rồi, thâu băng rồi, mai mốt giảng lại, cái nó nói: "Bài này bữa nghe băng rồi thầy ơi, thôi thầy đừng có giảng bài này nữa." Mà đây là một nỗi khổ của giảng sư. Sau này khi mà học cái môn phương pháp diễn giảng á, thì thì tôi sẽ nói, tôi sẽ tâm sự cái điều đau khổ này với quý thầy một chút. Ví dụ như bây giờ cái giáo lý là chúng ta tu thì đừng có vị kỷ, phải không? Mà phải hướng cuộc sống về vị vị tha. Thì quý thầy nghĩ mình thực hành điều này bao lâu thì xong? 10 năm?

[44:17]Người này căn cơ thượng thừa Bồ tát. Mấy năm? Không có giới hạn, phải không? Hết kiếp này cũng chưa xong nữa, nên cái mà từ bỏ vị kỷ để sống vị tha. Thì như vậy ví dụ như hôm nay tôi nói quý Phật tử về ráng sống vị tha, lần sau khỏi cần nói nữa là quý thầy, là quý Phật tử đủ để tu hết kiếp này và những kiếp sau rồi, phải không? Nhưng mà có ai chịu vậy không? Không. Nếu mà không nghe giảng nữa là bỏ luôn cái này á. Rồi vị kỷ, vị tha là gì quên mất rồi. Hồi trước có nghe thầy nói, nhưng 10 năm rồi quên rồi, không tu nữa. Nhưng mà nếu còn đi nghe giảng nữa thì còn nhớ tu tiếp, còn nhớ cái bỏ vị kỷ để tu vị tha.

[44:52]Cho nên, lúc nào quý giảng sư phải có những bài kinh mới để giảng làm cho quý Phật tử hấp dẫn, lôi cuốn, thích thú, nuôi dưỡng đạo tâm của họ mãi. Nuôi dưỡng đạo tâm mãi bằng những bài kinh mới thật hay, để làm chi? Để họ tu những cái bài kinh thiệt cũ này, để giữ cái này thiệt cũ nè. Đó là một cái điều rất đau khổ. Phải kiếm mấy bài mới mà hay giảng hoài, giảng hoài, để chi vậy? Để họ tu mấy cái cũ xì này nè. Nếu không có bài kinh mới thì mấy cái đạo lý cũ họ bỏ luôn, họ không thèm tu nữa. Đó, thực tế là vậy, quý Phật tử đồng ý không? Giảng kinh mới không phải là có cái đạo lý gì mới hay người ta

[45:28]đã tu xong cái cũ rồi mà bước qua cái mới tu tiếp cho cao lên, không phải, mà để nghe cho nó thích, thú vị trong lòng mới nuôi dưỡng được đạo tâm mà mới thực hành được cái đạo lý cũ. Khổ như vậy. Nhất là trong thời đại mà có máy thâu băng nữa. Còn thời xưa Đức Phật khỏe lắm, vì đâu có thâu băng thâu biếc gì, nên ngài giảng bài này xong, qua chỗ khác ngài giảng lại, 10 năm sau ngài giảng lại đúng bài đó cũng không sao hết trơn. Vì đâu, mấy người này cũng chưa nghe, rất ít có người nghe được. Còn bây giờ băng cassette tùm lum, giảng được một bữa là qua mấy bữa sau tới Mỹ luôn rồi, có hết trơn. Mà không có cái điều mới thì người ta chán, mà giảng lại điều cũ:

[46:04]"Ủa, điều này cũ rồi", cái rồi từ từ họ lãng. Đó, một cái tâm lý. Điều này tôi sẽ nói trong trong cái phương pháp diễn giảng á, quý thầy nhớ. Một tính chất khác của Nikaya là khi mà chúng ta đọc các bài kinh Nikaya, chúng ta sẽ thấy cái bối cảnh lịch sử xuất hiện dần dần, dần dần đó. Rồi chúng ta hiểu được thời đại của Đức Phật, con người đã sống như thế nào, sinh hoạt ra sao, những cuộc chiến tranh nào đã xảy ra, ai làm vua thời đại đó, sao sao, từ từ thấy hết. Ví dụ như trong bài kinh Đại Bát Niết Bàn, bài kinh mà Đức Phật gần nhập Niết Bàn á, lúc vua A Xà Thế, ông này ổng hiếu chiến, ổng tính đem quân đánh cái tiểu quốc Bạt Kỳ,

[46:43]buộc phải lệ thuộc ổng luôn, chiếm luôn. Ổng mới cho một sứ thần đến hỏi Phật là có nên đánh hay không, thắng hay không? Là ổng nghĩ Đức Phật là có trí tuệ, thần thông biết hết. Thì Đức Phật không trả lời, Đức Phật chỉ hỏi một vị Tỳ kheo ngồi gần đó là cái xứ Bạt Kỳ này sinh hoạt như thế nào? Thì vị Tỳ kheo trả lời cái xứ Bạt Kỳ, Vaji này, người ta sống với nhau như những vị thánh, hòa hợp, kiên chuẩn, đoàn kết. Đức Phật nói: "Chỉ cần một điều thôi là đánh không nổi, huống hồ người này có đủ bảy cái điều tốt đẹp, đánh không bao giờ thắng." Đức Phật nói câu đó nên vua A Xà Thế không đánh nữa. Là nhờ đọc cái bài kinh, chúng ta thấy những cái cái lịch

[47:23]sử nó xuất hiện từ từ như vậy, như vậy dần dần. Nên những cái chuyện mà nãy tôi nói về cái những dòng họ này cũng là do mình đọc trong kinh Nikaya mà mình thấy được như vậy, sự kiện này, sự kiện kia đã xảy ra. Rồi chúng ta thấy cũng những nhân vật đặc biệt như là những vua, quan, các đại đệ tử, các cư sĩ, các du sĩ ngoại đạo, người tốt kẻ xấu cũng xuất hiện trong kinh nhiều lắm. Trong cuộc đời của Đức Phật có liên quan tới những người nào thì những người đó cũng từ từ hiện ra trong kinh hết trơn. Ví dụ như bà tín nữ Visakha là một người nữ đệ tử rất tuyệt vời, một người nữ cư sĩ thôi mà hầu hạ,

[48:01]lo lắng cho chư Tăng, tu tập thì chứng tới quả, sơ quả Tu đà hoàn luôn. Phải nói là một người nữ cư sĩ tín thành mà Đức Phật cũng rất là quý trọng. Có nhiều lần ngài đi khất thực mà thấy thời gian còn sớm, ngài ghé nhà để thăm cái gia đình của cư sĩ, nữ cư sĩ Visakha này. Bà bà hay như vậy. Còn thời bây giờ cũng vậy, quý thầy mà thấy người nữ cư sĩ nào mà có cái tâm hạnh tốt, vừa tu tốt mà vừa ủng hộ được chư Tăng, người ta cũng hay nói đây là Visakha thời nay vậy đó. Không biết dưới kia có ai là Visakha thời nay, giơ tay lên? Thì những vua như là vua A Xà Thế rồi đó, vua Ba Tư Nặc, vua Bimbisara, vân vân,

[48:41]là đọc kinh tới lui chúng ta bắt gặp những vị đó xuất hiện lác đác, lác đác hoài. Những đại đệ tử như là ngài Xá Lợi Phất, ngài Mục Kiền Liên, những hành trạng của các vị đó xuất hiện lác đác trong các kinh hoài. Cũng là từng một tính chất của Nikaya nói lên được, phản ánh lên được cái lịch sử thật của thời thời Đức Phật như vậy. Có một điều nữa là các thiên tử á, các vị ở cõi trời thường hay xuất hiện đến với Đức Phật để thưa hỏi giáo lý. Hình ảnh đó thường gặp. Như có cái bài kinh này rất là lạ, là bài kinh Đế Thích Sở Vấn. Bài kinh này là một lần Đức Phật ở trong cái hang Indasala, phía đông thành Vương Xá.

[49:22]Thì vua của cõi trời Đế Thích, là cõi trời Tam Thập Tam á, ổng muốn đến đảnh lễ Phật. Nhưng mà bằng cái thiên nhãn, cái ngài nhìn xuống thấy Phật đang nhập định, nên không có tiếp xúc được. Vì cái định của Phật nó sâu hơn tất cả các cõi trời. Khi Phật vào định, nhập sâu hơn tất cả cõi trời nên không tiếp xúc được. Còn có những cái định mà nó còn cạn á thì nó bằng ngang ở cõi trời, thì lúc đó các vị chư thiên họ đến họ gặp mình được. Mình đang nhập định chớ chư thiên họ tới trước mặt mình nói chuyện. Nhưng mà cái định của Phật nó sâu vượt ngoài tam giới luôn, nên chư thiên không có chỗ để đến. Thì lúc đó ông vua trời Đế Thích ổng mới sai một thanh niên

[50:03]là ông thần Càn Thát Bà, một thanh niên Càn Thát Bà, Gandharva. Tôi nhớ tôi nhớ không không chính xác cái chữ này lắm, nhưng mà là thần Càn Thát Bà. Thần Càn Thát Bà là gì? Ai nhớ? Thần âm nhạc, đúng rồi. Nghĩa là khi mà chư thiên trên trời á cũng hay có những cuộc vui, hát hò này kia nọ đó, cũng y như quý thầy đây nè, thì hay mời các vị thần Càn Thát Bà này lại tấu nhạc, hát hò cho vui. Đây có ai xem phim Tề Thiên chưa? Đã thấy Tề Thiên lên trời đó, trên đó cũng ca hát múa đồ tùm lum, phải không? Thì vậy, thì một thanh niên thì vua trời Đế Thích mới bảo thanh niên này: "Ngươi hãy đến đấy, đến ngươi dùng cái nghệ thuật âm

[50:45]nhạc của ngươi đó để gây cái sự chú ý cho Thế Tôn. Thế Tôn xuất định rồi ta mới đến đảnh lễ Thế Tôn được." Cái anh này ảnh mới đến trước hang của Phật, ảnh mới lấy cây đàn ra ảnh gảy đàn, mà ảnh hát một bài nhạc tình mới chết chớ. Ổng đến ổng ổng chào mừng Đức Phật, gây sự chú ý của Đức Phật, mà ổng hát một bài nhạc tình nguyên một bài dài thật dài, ghi hết trong cái Trường Bộ Kinh luôn, mà những lời lẽ vô cùng táo bạo. Nghe lạ lùng vậy á, ghi tức là những cái cảm xúc như là về tình yêu tình dục là rất là tàn bạo, nói trong đó luôn. Nhưng có những câu này tôi nói thì quý thầy cũng đừng có bắt chước, mà đừng nói đi nói lại. Những đoạn như là:

[51:24]"Anh muốn chìm vào trong ngực của em", những cái câu táo bạo, hoặc là nói câu: "Anh yêu em như là một vị A La Hán yêu thiền định." Nghĩa là ổng nói một bài nhạc tình của ổng, mà trong đó có liên quan đến Phật, đến Pháp, đến Tăng. Lạ lùng, ổng ngồi ổng hát say sưa đến nỗi Đức Phật cũng phì cười luôn. Đức Phật mới quay ra hỏi: "Anh hát cái bài nhạc này ở đâu ra vậy?" - "Bạch Thế Tôn, con yêu một cái nàng cũng là Càn Thát Bà đó, tên gì đó, mà nàng không yêu con mà nàng lại yêu cái tay cái tay khác, nên con đã đặt cái bài nhạc này để con nghĩa là con nói về tình yêu con với nàng, mà trong đó con nói đến Phật, đến Pháp, đến Tăng ở trỏng.

[52:03]Mà nhờ con có ca ngợi Phật, Pháp, Tăng ở trỏng nên ngài xiêu lòng với con, ngài đã chấp nhận một cuộc đi chơi hẹn hò với con." Cười thấy mồ luôn, rồi bắt đầu trời Đế Thích mới hiện ra đảnh lễ Đức Thế Tôn. Thì trong cái hang đó không lớn lắm, mà vô số chư thiên đứng chật cứng trong đó hết mà cái hang vẫn đủ chỗ, là do thần thông của Phật và chư thiên. Hang sáng rực lên liền. Mấy người dân làng họ nhìn lên triền núi, nói: "Thôi rồi rồi, vùng núi này đã cháy", bởi vì ánh sáng rực rỡ, nhưng mà không phải, do chư thiên họ đến vậy. Thì trong cái bài kinh đó cái đoạn sau rất là hay, đoạn sau là nói vua trời Đế Thích kể về những công việc

[52:38]mình trên cõi trời, cách làm việc của họ, nên bài đó nếu mà mình học á thì mình sẽ hiểu thêm về cõi trời. Nhưng mà kẹt cái đoạn đầu nó khó học, thì chừng nào quý thầy mà thích quá thì tôi sẽ giảng cái bài đó cho học. Một cái tính chất nữa là chúng ta thấy lác đác trong Nikaya là thế này, là thường khi mà mới giảng cho ai á thì Đức Phật hay nói về nghiệp báo, nhân quả, về đạo đức trước, chứ không bao giờ ngài nói giáo lý cao. Cho đến khi nào mà người đó thuần thục... mà ngài mới giảng về Tứ diệu đế, về Bát chánh đạo để cho người đó tu tập và chứng đạo. Đó là cái tiến trình bắt buộc mà Đức Phật rất khéo léo.

[53:19]Tuy nhiên như thế này, có những giai đoạn á là có những trường hợp, trong một thời pháp thôi mà ngài làm ngài đi qua hai giai đoạn và làm cho người nghe chứng đạo luôn tại chỗ. Có những trường hợp nghĩa là cái người đó khi đến gặp Phật, nói chuyện qua lại, Đức Phật giảng về nghiệp. Giảng một lát cái người kia tự nhiên tâm thuần thục, ngài chuyển qua Tứ diệu đế ngài giảng xong là người kia chứng sơ quả Tu-đà-hoàn luôn trong một thời pháp. Đó là căn cơ lớn. Rồi có những trường hợp khác thì Đức Phật chỉ giảng về nghiệp thôi, cho cái người đó đi về mà tu hành ở tại gia. Tu một thời gian 3 năm, 5 năm gì đó thuần thục trở lại,

[53:56]Đức Phật giảng bài pháp khác về Tứ diệu đế, thì người đó về nhà tu tập thời gian thì mới chứng được sơ quả Tu-đà-hoàn. Đó là cái công thức, là cái con đường, là mẫu mực tiêu chuẩn mà ngày hôm nay chúng ta vẫn phải áp dụng. Ngày hôm nay điều này chúng ta phải làm hai ba chục năm. Nhiều khi chưa xong nữa. Ví dụ khi một người người cư sĩ mới đến với Phật pháp thì chúng ta phải dạy về nhân quả, nghiệp báo, đạo đức, không được đi vội vã. Ngay cả như quý thầy mình cũng vậy, xuất gia rồi vẫn phải học về đạo đức cho thật kỹ, không được đi vội. Cho nên những cái bài về tâm lý đạo đức coi vậy chứ là nền tảng quan trọng và đúng với ý Phật đó.

[54:39]Chúng ta đừng tưởng cái môn tâm lý đạo đức là cái môn mới mẻ, không có đâu. Trong các kinh Nikaya, Đức Phật nói riết. Tuy nhiên là ngài nói phớt qua vì người xưa họ căn cơ linh mẫn đó, Phật nói họ hiểu, Phật nói họ hiểu liền. Còn mình bây giờ thì mình phải giảng một đề tài đó thành một bài giảng. Ví dụ như cái chữ tinh tấn mình giảng một bài. Cái bài mà tâm đố kỵ mình phải giảng nguyên một tiếng rưỡi. Ngày xưa Đức Phật kể những điều đó ra hết nhưng mà ngài kể phớt phớt qua và ngài lặp đi lặp lại trong không biết bao nhiêu bài giảng về những vấn đề đạo đức. Mà ngày xưa không có chữ đạo đức, gọi là những cấu uế của tâm,

[55:14]những bất thiện pháp của tâm, những hắc pháp còn ở trong tâm. Chứ thời đó không có nói về những cái tính xấu. Chỉ dùng những cái từ như vậy. Đây là những cấu uế của tâm cần phải biết, là cái san tham, tật đố, khi cuống, ngã mạn, lười biếng, vân vân. Đó là những cái đó cấu uế của tâm, phải vượt qua, phải trừ diệt. Những bài kinh nói về đạo đức như vậy Phật nói đi nói lại hoài. Nên những vấn đề đạo đức chúng ta nói ngày hôm nay chứ không phải là mới lạ. Chúng ta chỉ triển khai, đào sâu, nói cho kỹ thêm thôi.

[55:51]Khi mà một người mà mình thấy họ hiểu nhân quả sâu, làm được nhiều công đức, lúc đó mới là lúc họ có thể có công đức để tu tập thiền định, giải thoát. Chứ còn đi sớm quá không thành công lắm. Ví dụ bây giờ chúng ta biết được Phật pháp, mình cũng lễ Phật nè, cũng tin nhân quả, cũng làm phước rồi song song mình ngồi thiền luôn. Nhưng phải nhớ giai đoạn đó ngồi thiền là phụ mà tu tập đạo đức làm công đức là chính. Nhớ như vậy. Rồi đến lúc nào đó mà công đức mình làm mấy chục năm trời nó thuần thục luôn, 20 năm, 30 năm thuần thục, thì lúc đó cái thiền định tự nhiên nó tăng tiến từ từ theo công đức,

[56:33]thì lúc đó ngồi thiền là chính, làm công đức là phụ để rốt ráo đi vào giải thoát. Khi mà tâm mình được an lạc giải thoát, thời gian còn lại là sống hoàn toàn vì chúng sinh. Đó là giai đoạn thứ ba sau. Nhưng trong giai đoạn đầu của sự tu hành, mình cân đối giữa cái công đức và cái thiền định. Nó tạo công đức, nó tạo phước á. Hai cái này mình điều chỉnh chứ đừng bao giờ là là chấp một cái nào nhiều hết á. Thì tùy giai đoạn, như con người tu cả một đời cứ lo tạo phước mà không hướng về thiền định cũng là sai, chết rồi chỉ về cõi trời hay là sinh lại người quyền quý giàu có thôi. Còn người mới vào tu không lo tạo phước mà cứ lo thiền định để

[57:15]thành Phật cho lẹ cũng trật luôn, vì không bao giờ thành. Cái công thức mà Phật đưa ra từ thời xưa là phải tạo phước rồi mới thiền định. Nhưng mà có những người chỉ một thời là đã đi rút luôn qua hai cái này. Có một người phải 5, 10 năm mới đi qua hai cái này. Mình bây giờ thì mình cứ bình thản đi song song hai cái này suốt một đời. Mà cái giai đoạn đầu mình nhấn mạnh cái này nhiều, cái này ít hơn một chút. Đến khi nào mà trong tâm mình thấy thiền định tự nhiên nó xuất hiện là lúc đó mình biết. Lúc đó mình tăng cái này thêm một chút, bớt này một chút xíu. Rồi mai mốt từ từ tăng này thêm chút nữa, bớt này chút nữa.

[57:52]Rồi mai mốt thiền định nó nhiều quá thì tăng thêm nhiều hơn, bớt thời gian này lại chút. Cứ là mình nhìn trong tâm mình mà mình đánh giá như vậy để mình cân đối lại lúc nào là tu cái gì. Một tính chất khác của Nikaya là có nhiều bài kinh do các đệ tử của Phật thuyết và được Phật công nhận rồi được ghi lại vào trong tạng kinh. Nhiều bài kinh của ngài Xá-lợi-phất giảng như có một lần ngài giảng bài Chánh tri kiến là biết rõ thế nào là sát sinh, thế nào là giới luật, biết rõ thế nào là công đức, biết rõ thế nào là 12 nhân duyên, biết rõ thế nào là Tứ diệu đế. Ngài giảng bài kinh rất là là sâu sắc mà Đức Phật

[58:33]ca ngợi và được ghi vào trong tạng kinh. Ngài Xá-lợi-phất thì Phật nói là như Phật. Phật khen ngài như vậy, cực kỳ trí tuệ thông minh, giỏi giắn. Và có một lần lúc đó về già, nhân cái dịp mà khánh thành cái ngôi giảng đường ở Ca-tỳ-la-vệ của dòng Thích Ca, thì mọi người thỉnh Phật thuyết pháp, ngài nói ngài cũng đau lưng, hơi mệt, ngài bảo ngài A-nan thay ngài thuyết pháp. Lúc đó ngài A-nan đã thuyết một bài pháp cũng rất là độc đáo. Tuy là ngài chưa có chứng A-la-hán nhưng mà ngài rất là giỏi. Và bài pháp của ngài được Phật công nhận rồi cũng được ghi lại vào tạng kinh. Và có nhiều bài kinh như vậy.

[59:15]Rồi một tính chất khác nữa chúng ta thấy là có những bài kinh mà được ghi nhận sau khi Phật nhập Niết-bàn. Như có một bài kinh là Madhura, một vị đại thần hỏi ngài A-nan, "Đức Phật đã Đức Thế Tôn đã Niết-bàn rồi bây giờ ai là người lãnh đạo Tăng đoàn?" Thì ngài A-nan khẳng định, "Không hề có người lãnh đạo Tăng đoàn. Không hề có." Còn theo truyền thuyết thì chúng ta nghe nói ai? Ngài Ma-ha-ca-diếp phải không? Theo truyền thuyết mà lần kiết tập thứ nhất thì chính ngài cũng đứng ra chỉ đạo, chủ trì cái cuộc kiết tập đó. Ngài uy tín rất lớn trong Tăng đoàn, người ta xem ngài như lãnh đạo, nhưng trong thực tế Đức Phật không giao cho ai hết.

[59:57]Thì lúc đó vị đại thần mới hỏi, "Không có người lãnh đạo tại sao mà con thấy là chư Tăng sống với nhau ổn định, nghiêm trang, thanh tịnh, hòa hợp như vậy?" Thì ngài A-nan mới nói là, "Chư Tăng dựa vào Pháp, nương vào Pháp, nương vào Giới luật." Rồi nói, "Như vậy chư Tăng có phải tôn thờ ai không?" "Đúng, chư Tăng chỉ tôn thờ người nào thành tựu được 10 khả hỷ pháp." 10 khả hỷ pháp là người đã đắc đạo mà có khả năng lãnh đạo, diễn giảng được, thuyết pháp được ở trong 10 khả hỷ pháp. Thì đó là những người được chư Tăng tôn kính, chứ còn thật sự chỉ định một người thay mình để lãnh đạo Tăng đoàn thì Phật không làm điều đó.

[1:00:36]Do cái bài kinh nó xác định rõ điều đó, cho nên ở bên Tích Lan các sư Nam tông không bao giờ tin cái chuyện mà Đức Phật đã truyền y bát cho ngài Ca-diếp. Mà sau này ngài Ca-diếp truyền lại cho ngài A-nan, không có chuyện đó. Nên lịch sử mà 33 vị thiền tông bên Nam tông họ không công nhận. Tại ngay từ đầu là bài kinh Madhura đã khẳng định không có người lãnh đạo. Ở đây chúng ta để ý điều này nữa: Cái sức mạnh của đạo Phật nằm ở đâu? Nằm ở đâu? Nằm ở đạo lý, không phải nằm ở tổ chức. Và thời đó Đức Phật cũng đã làm như vậy, ngài không có lập tổ chức mà ngài đã để lại đạo lý. Thì như vậy nếu không có tổ chức thì đạo Phật yếu hay mạnh? Yếu.

[1:01:22]Phải xác nhận là yếu. Đây là điều mình nói không do dự, không có sợ mít lòng. Rõ ràng đạo Phật yếu. Đạo Phật chỉ mạnh khi nào? Khi nào trong thời đại đó có một vị đạo sư nào đó xuất hiện, đem đạo lý mạnh mẽ tràn vào cuộc đời thì trong thời đại đó đạo Phật mạnh lên lại một chút. Còn nếu sau đó không ai nối tiếp, đạo Phật suy tàn trở lại. Cái mạnh của đạo Phật là mạnh nơi đạo lý, không có mạnh nơi tổ chức. Còn ở các đạo khác họ không có đạo lý để tạo thành sức mạnh nhiều nên họ một là họ kêu niềm tin, hai là họ phải tổ chức rất chặt chẽ. Nên có khi bên trong nó thối nát hết, nhưng bên ngoài mình nhìn vô mình vẫn thấy cái tổ chức họ rất là mạnh.

[1:02:06]Có trường hợp như vậy. Còn đạo Phật thì không có tổ chức, hễ yếu là hiện ra yếu liền, hễ mạnh là mạnh lên trở lại. Tất cả đều nhờ đạo lý. Bây giờ ví dụ, cái điều này thì tôi sau này giảng trong quan điểm về Phật sự, nhưng hôm nay tôi nói thêm một chút. Ví dụ sau này quý thầy làm chánh đại diện các huyện, thì lúc đó chư Tăng đi trong huyện bất hòa, người này nói qua, người kia nói lại, tranh cãi nhau không có đồng tâm nhất trí gì hết. Thì quý thầy xử làm sao? Ở đây đó, Nếu mà mình hiểu sai về Đạo Phật á, mình bắt đầu tổ chức à. Mình dùng cái cách tổ chức để mình mình giải quyết cái vấn đề bất hòa.

[1:02:44]Mình kêu mọi người lại, mình nói bây giờ họp nha, bây giờ phải bầu ra cái ông này chức này chức này để xử cái vụ này, ông này chức kia chức kia xử vụ này vụ này. Thì mình nghĩ nhờ cái buổi họp tổ chức như vậy thì cái sự bất hòa trong cộng đồng Tăng chúng của huyện nó sẽ hết, nhưng mình giải quyết như vậy là không đúng với tinh thần Đạo Phật. Giải quyết cách nào mới đúng? Phải làm sao mà mình biết giáo hóa, kêu gọi chư Tăng lại, thuyết Pháp. Nếu mình không tự thuyết Pháp thì nhờ một vị đạo cao đức trọng nào thuyết Pháp. Chỉ bằng đạo lý thôi, để cho mọi người nhìn lại trong tâm mình, thấy được cái sai của mình, chuyển hóa nội tâm,

[1:03:23]thì tự nhiên chư Tăng Ni vùng đó sẽ hòa hợp, đoàn kết trở lại. Đó là con đường của Đạo Phật. Cho nên tuy mình cũng phải có tổ chức, nhưng phải biết tổ chức là cái ngọn, mà đạo lý mới là cái gốc. Đó là tinh thần của Đạo Phật đó. Tôi ví dụ, như hồi sáng tôi đến gặp Ni sư giáo thọ ngoài Thiên Phước than là việc mà chia nhóm để làm việc, thì cái sự chênh lệch trình độ giữa cái người khá và người yếu đã gây nên những mâu thuẫn, bất đồng. Những cái người giỏi thì họ vững vàng, tự tin họ làm, còn những người yếu họ khóc, tại vì họ nêu ra một ý kiến, ý kiến đó bị gạt qua một bên không được ghi vào trong trong cái cái bài luận văn và họ tủi thân, họ khóc, thế này thế kia.

[1:04:12]Thì Ni sư cảm thấy cũng lúng túng, cũng khuyên bảo nhưng mà nghĩ rằng lần sau không nên làm theo lối này nữa. Thì tôi nói: "Chị đừng có lo, cứ làm tới luôn, vì phải tập, phải đối diện với những vấn đề như vậy sau này mới làm chuyện Phật pháp được. Còn nếu mà cứ dễ dễ, hễ vừa thấy khó rút lui, sau này Phật pháp không làm việc, không hợp tác với nhau làm được". Trong những trường hợp đó, chúng ta đừng dùng thay đổi cách tổ chức để giải quyết vấn đề. Nếu mình bỏ không làm nữa theo cái theo cái cách mà làm luận văn tập thể, nghĩa là mình thay đổi tổ chức để hy vọng giải quyết vấn đề, đó là một cách giải quyết sai.

[1:04:47]Vẫn để làm việc tập thể, nhưng mà giải quyết cái nội tâm lại: "Vì sao buồn, vì sao khóc? Nói nghe". Mình giải quyết, giải thích lại. Thì vì không đóng góp được, mình đóng góp thiếu gì cách, mình đi giặt đồ giùm cho mấy người họ đang làm bài, đứng rồi mình quạt muỗi cho họ viết, rót nước cho họ uống. Nghĩa là mình vẫn biểu lộ được cái nội tâm ủng hộ huynh đệ mình, dù mình không có ý kiến gì, vẫn là công đức. Mà cái quan trọng của bài làm này không phải là bài làm, mà chính là thái độ hợp tác cùng làm việc. Mà trong cái thái độ hợp tác cùng làm việc này, làm sự hy sinh thầm lặng, không ai nói tên tuổi mình ra.

[1:05:24]Ví dụ cái người đó là người giỏi trong nhóm đi, đóng góp được nhiều, nhưng khi tôi chấm bài tôi không biết. Và tôi không cần biết, tôi không muốn biết điều đó luôn. Tôi chỉ muốn biết cái bài luận văn này hay hay không, để tôi đánh giá cả tập thể cái nhóm đó giỏi hay không thôi. Và tôi không muốn biết một cá nhân nào giỏi hết. Thì cái người dù yếu, nhưng mình cái tinh thần mình ủng hộ đồng đội mình tốt, vẫn là người được đánh giá cao. Nên ở đây, mình vì cái sự nghiệp chung của tập thể mà vượt qua những cái tư kiến của mình, những ý kiến riêng tư của mình để làm việc cho nó tốt hơn. Còn ở trong nhóm, một người giỏi thì vượt qua được cái kiêu mạn của mình,

[1:06:02]không biểu lộ cái thái độ coi thường người yếu, vẫn tôn trọng họ. Nên ở đây, khi mà có chuyện rắc rối xảy ra thì chúng ta dùng đạo lý để giải quyết, chứ không dùng tổ chức để giải quyết. Tổ chức chỉ là cái ngọn thôi, là cái cách mà chúng ta xử lý công việc. Trong Phật pháp là như vậy, nên quý thầy sau này nhớ điều này. Khi chúng ta gặp một việc gì rắc rối trong Phật pháp thì phải lấy đạo đức ra, đạo lý ra để mà xử lý vấn đề trước. Chớ đừng có lật đật bầu bán, tổ chức chia nhóm rồi. Một tính chất nữa của Nikaya chúng ta thấy là thế này, là Tam minh Lục thông hoặc là những vấn đề thần thông đã được xác nhận nhiều lần, xác nhận nhiều lần.

[1:06:48]Có nhiều vị nói Nikaya ít có thần thông, nói sai. Trong kinh điển Nikaya thần thông của Phật được nêu ra rất nhiều lần, mà không có huyền hoặc thôi. Ví dụ như có một ngoại đạo là Vacchagotta bạch với Phật á, cái chữ mà ch này đó, nó đọc thành chữ s cong lưỡi của mình, sờ cong lưỡi. Còn chữ c không á, nó đọc thành cái âm chờ của mình. Đó, nên đây nếu ngắt ra là Vatch, còn đây là sa-gotta. Mà nó rụng chữ ta này mà không có cái dấu gạch thì đọc làm sao? Thì ông mới nói thế này, là: "Thưa tôn giả Gotama, có người nói rằng Sa-môn Gotama là bậc Nhất Thiết Trí, là bậc Nhất Thiết Kiến. Ngài tự cho là có tri kiến hoàn toàn khi đi,

[1:07:29]khi đứng, khi ngủ, khi thức, tri kiến luôn tồn tại liên tục." Ở đây nghĩa là dù Đức Phật đi tới đi lui đều tỉnh giác, ngay cả khi Ngài ngủ cũng tỉnh giác. Đây là một cảnh giới khá cao của tâm linh. Thì ông mới nói: "Khi người ta nói như vậy có xuyên tạc, có vu khống Đức Phật hay không?" Đức Phật nói: "Nói như vậy là vu khống, là xuyên tạc Như Lai." Bởi vì cái cảnh giới mà đạt đến trình độ thiền định, dù mình ngủ vẫn tỉnh giác, ngoại đạo đạt đến rất nhiều. Các thiền sư Trung Hoa sau này cũng đạt đến rất nhiều. Thức cũng thấy tánh, ngủ cũng thấy tánh, thức tỉnh giác, ngủ cũng tỉnh giác. Thường thì mình ngủ là mình mê luôn, phải không?

[1:08:12]Ngủ say sưa không biết gì nữa. Nhưng một người họ đạt được thiền định sâu, họ ngủ họ biết rõ. Thì chỗ này mình không có dùng lời giải thích được, ai tu chứng tới thì sẽ biết. Nhưng mà khi hỏi Phật điều đó có phải là vu khống thật, Phật nói vu khống. Sao vậy? Phật nói: "Phải nói như thế này mới không vu khống, là Như Lai muốn nhớ lại vô lượng kiếp quá khứ của mình là nhớ liền, muốn quan sát tất cả sự lưu chuyển luân hồi của tất cả chúng sinh đều biết rất rõ, có trí tuệ vượt khỏi luân hồi, sanh tử, đau khổ, có trí tuệ chứng ngộ luôn an trú trong vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Nói như vậy mới không vu khống Như Lai." Chỗ đó Ngài mới nói rằng cái

[1:08:55]đó là cái đức của Đạo Phật, còn đạt được cái trình độ tâm linh mà đi đứng tới lui đều luôn luôn tỉnh giác kể cả lúc ngủ vẫn còn rất thấp. Mà thời đó Nigantha là thời đó là ông giáo chủ Nigantha là ổng đạt được cái trình độ là lúc thức lúc ngủ đều tỉnh giác đó, nên Phật chê. Cho đó chưa là gì, chưa cao, chừng nào đủ Tam minh mới được. Đó là cái thần thông mà Phật xác nhận. Ngài Mục Kiền Liên mà Ngài biến mất ở cõi này, Ngài hiện lên trên cõi trời trong chớp mắt, hoặc là từ cõi trời biến mất xuất hiện ở cõi này trong chớp mắt được nói tới nói lui nhiều lần, thần thông của Ngài như vậy. Hoặc là có một vị tu hành đó gặp vướng mắc nội tâm,

[1:09:38]chợt nhiên Phật hiện ra ở trước mặt, Phật giải thích, gỡ cái vướng mắc đó cho người đó chứng đạo luôn, trường hợp đó cũng nhiều lần lắm. Nên vấn đề thần thông được nhắc đi nhắc lại khá nhiều lần. Một cái tính chất khác của kinh Nikaya là những thế giới siêu hình như địa ngục, ngạ quỷ, dạ-xoa, cõi trời là những hình ảnh quen thuộc. Những vị thiên tử đến thăm Phật, Phật nói về những cái cõi ngạ quỷ, cõi địa ngục nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Nên thế giới siêu hình là một điều tồn tại rất là thực mà Đức Phật đã xác chứng, nói đi nói lại. Còn dạ-xoa là gì, ai biết? Nghe chữ dạ-xoa thì bình thường nói là sao?

[1:10:17]Là yêu tinh, quỷ quái, phải không? Gương mặt ghê rợn, có nanh có vuốt, phải không? Không phải. Trong kinh điển mà ghi dạ-xoa, nếu nếu tôi nhớ không lầm là như chữ này, là không phải quỷ, mà những người này họ cũng giống như chư thiên mà ở gần với cõi trời một chút, là những vị thần á, và họ đẹp. Nhất là những nữ dạ-xoa rất là đẹp. Nam dạ-xoa thì đẹp bằng quý thầy Siêu Khánh không thì không biết, nhưng mà nữ dạ-xoa là đẹp gần bằng mấy người ngồi dưới kia. Cũng thường đến gặp Đức Phật và hộ Pháp, nên từ đây về sau quý thầy có quyền mà có ai hỏi thì quý thầy có quyền nói là: "Tôi đẹp như dạ-xoa."

[1:10:58]Thì những cái thế giới như vậy có nhiều lắm, hoặc là như một cái một vị dạ-xoa tên là Sanisa hiện ra đến nói chuyện với Đức Phật, ông kể rằng có một lần ở cõi trời Đao Lợi thì ông thấy chư thiên tập hợp lại để ngồi nói chuyện với nhau về đạo pháp. Nên chúng ta nhớ về cõi trời cũng giống như cõi Tịnh độ, trên đó Phật pháp nhiều lắm. Thì có một vị Phạm thiên ở tầng trời cao hơn đã hiện xuống với cái chư thiên ở tầng trời Đế Thích đó để mà giảng một bài về giáo pháp và ca ngợi về Đức Phật. Thì chuyện đó là vị dạ-xoa hiện xuống kể lại cho Đức Phật nghe, nên dạ-xoa không phải là yêu tinh quỷ mị, có nanh có vuốt đâu.

[1:11:39]Có nhiều khi cũng mái tóc dài hay tóc uốn uốn màu đen gì đó, ngồi đâu đó coi chừng. Một tính chất khác của Nikàya chúng ta thấy nữa là thế này. Có những bài kinh á là nói đến một vị tỳ kheo được đắc đạo sau một thời gian dài tinh cần tu tập. Cũng có những trường hợp những bài kinh kể là một vị tỳ kheo sau một thời thuyết pháp của Phật là đắc đạo liền. Hai trường hợp rất là lạ. Mà nghe kể rất là nhiều. Giống như là trường hợp Magandiya. Một lần đó Đức Phật không biết ngài ở một mình hay hay hay mấy người đi theo, mà ngài cũng hay ở lang thang nơi nhà này nhà kia lắm, chứ ngài cũng không có ở một chỗ cố định.

[1:12:24]Lần đó ngài đến ngài Bà la một ông Bà la môn thờ lửa ngài xin ở lại, thì ông cũng quý Phật, chắc cũng có duyên Phật mới đến ở. Ông mới làm một cái tấm nệm rơm cho ngài ở cho ấm. Bây giờ mình mà mà được Phật tới ghé chắc mình mời ngài nằm đệm Kymdan đàng hoàng ha, chứ thời đó là nệm rơm thôi, là quý lắm rồi đó. Thì ngài nằm nghiêng bên phải cái nó rơm nó không có không có lên lại như là nệm mút á, nên nó lún luôn nằm ở đó luôn. Sáng Đức Phật cầm y bát vào trong làng khất thực, cái dấu ngài nằm trên rơm còn. Một người du sĩ ngoại đạo đến nhìn thấy, nói: "Ở đây hình như có vị nào tu hành tinh tấn nằm ở đây?" Có một có Sa môn Gotama

[1:13:04]là người mà được mọi người ca ngợi là một bậc chứng ngộ, một Đức Phật. Cái ông kia ổng sùng nổi lên, ổng nổi xung thiên lên ổng nói: "Gotama là một kẻ tôi không bao giờ muốn gặp mặt, không bao giờ muốn nghe nói đến. Dù chỉ nghe tới cái tên, đó là một kẻ phá hoại sự sống." Ổng cự nự. Cái ông gia chủ nói: "Anh cẩn thận lời anh nói à. Ngài là một người mà được nhiều người ca ngợi lắm à." Thì ông kia vẫn vẫn bảo vệ ý mình. Lúc đó Đức Phật ngài ngồi thiền dưới gốc cây ngài nghe hết. Rồi ngài cũng từ từ ngài về. Nơi cái nhà đó, ngài gặp lại ông du sĩ, ngài mới hỏi: "Có phải rằng anh nói là ta phá hoại sự sống chăng?" Nói:

[1:13:39]"Dạ thưa, phải." "Có phải vì ta nói rằng là con người không nên đắm theo những cuộc vui của thế gian để dành tâm hồn mà tu tập giải thoát? Vì ta nói rằng đừng nên đắm theo cuộc vui thế gian mà anh cho rằng ta phá hoại sự sống chăng?" Nói: "Dạ thưa, phải." Thế là ngài biết luôn trong tâm trong tủy ổng liền. Ở đằng xa ngài nghe mà ngài biết lý do tại sao ổng công kích ngài liền. Sau đó ngài mới thuyết pháp. Thuyết bài pháp xong, ổng theo Phật đi tu luôn. Đức Phật đúng là có bùa thiệt á. Rồi ổng đi tu, ổng tinh cần một thời gian ổng chứng A La Hán luôn. Đó là có những bài kinh như vậy. Nhưng có những bài kinh mà xong thời thuyết pháp

[1:14:18]các tỳ kheo A La Hán đắc đạo hết luôn, đặc biệt như vậy. Có những người thì nghe một thời thuyết pháp là chứng Tu đà hoàn, có người chứng Nhị quả, có người chứng Tam quả. Cũng có một số bài nói chứng tới Tứ quả A La Hán thì cũng hơi lạ, mình không biết sao. Như trong trường hợp mà ngài Xá Lợi Phất á, ngài đi trên đường mà nghe Trưởng lão Assaji phải không? Assaji, cái tên hơi không quen, hơi là lạ, đọc bài kệ, ngài ngay đó chứng quả Tu đà hoàn liền, nhớ không? Ngài mới đi tìm ngài Mục Kiền Liên nói lại, ngài Mục Kiền Liên cũng chứng Tu đà hoàn ngay đó luôn. Rồi mới tìm đến đến gặp Đức Phật để mà xin xuất gia.

[1:14:55]Bảy ngày sau các vị đó tu tập và chứng A La Hán trong thiền định. Đó là trường hợp của hai vị Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên. Nhưng mà hai vị vừa đến gặp Đức Phật, Đức Phật nói: "Đây là một đôi bạn đầy đủ phước duyên tuyệt vời, hãy đến đây, này" lúc đó không kêu ngài là Sāriputta, mà kêu ngài cái tên gì tôi quên rồi, ừ đại khái: "Hãy đến đây." Sau này hai vị đắc đạo rồi, ngài giao làm thượng thủ tăng chúng liền. Hai vị này là tu sau nhiều vị khác, nhưng mà do nhân duyên, ngài vẫn đưa lên làm thượng thủ, không có chấp cái hạ lạp tu trước, tu sau. Chỗ này quý thầy để ý. Đừng có nghĩ rằng cái người đệ tử mà tu trước mình

[1:15:39]mình cho làm trưởng nha, đừng nghĩ như vậy. Phải học bài học của Đức Phật. Dù người đến sau nhưng mà họ có khả năng, có đạo đức thì vẫn có thể đưa lên được, không có chấp điều đó. Trong kinh Nikàya chúng ta thấy cái văn hóa, cái ngôn ngữ, cái văn học của thời xưa á là hay dùng những cái ví dụ để mà những ví dụ cụ thể để minh họa cho một cái lý luận trừu tượng. Ví dụ như có lần Phật ví dụ cái lưới chính là giới luật. Một hình ảnh cụ thể nêu lên vậy. Hoặc là nói như là: "Như một loài mãng xà khi sinh, sống ở hồ thì nhỏ, lúc ra đến sông lớn, ra đến biển lớn thì thân thể ngày càng to lớn hơn. Thì cũng vậy, tỳ kheo y vào giới, y vào Bát Chánh Đạo thì thiện pháp ngày sẽ càng

[1:16:24]lớn mạnh hơn." Một cái hình ảnh cụ thể trước làm cho mình dễ chấp nhận, rồi đưa một cái đạo lý trừu tượng vào để mình chấp nhận luôn, là cái hay như vậy. Hoặc là có nhiều hình ảnh một cái ví von trong cái thời đó thì mình không hiểu được. Như Đức Phật diễn tả về Sơ thiền là như một người tắm ngồi trong cái bồn tắm mà có một người hầu tắm lão luyện. Hầu tắm là cái gì? Tức là người kỳ cọ cho người ta. Không biết cái đó hồi thời đó mình không hiểu sao mà có một cái người tắm rồi có cái người hầu cho người kia tắm là xoa xà bông rồi kỳ cọ. Nhưng mà cái thời đó không có nước xà bông mà người Ấn Độ họ chế được một cái nước

[1:17:02]gì để tắm á, nó nhớt mà như nước tro nó làm sạch cơ thể, họ cũng tự chế ra được. Dù chưa có bằng cái xà bông với lại Dove rồi Fa rồi như bây giờ, không có, nhưng mà cũng nước gì đó. Thì Đức Phật diễn tả như một người tắm mà ngồi trong cái bồn đó rồi có người hầu tắm lấy nước đó xoa cho mình cái nọ, khắp cả mình khoan khoái, mát mẻ thì chứng Sơ thiền cũng giống như vậy. Mình cũng không hiểu được, nên thời xưa vậy. Hoặc là như ví dụ như con sông Hằng mà nước dâng lên đầy thì mình nói sao? Mình nói như miền Nam mình là nước tháng bảy nước nhảy lên bờ, phải không? Nhưng mà 200 năm sau mà họ nghe nước nhảy lên bờ họ không hiểu á.

[1:17:42]Họ không hiểu, nhưng mà ví von vậy thôi. Còn thời Đức Phật, nước dâng lên đầy đến nỗi một con quạ có thể đậu trên bờ mà uống được nước. Cái hình ảnh lại khác như vậy. Giống như hồi nãy mà câu chuyện ông Upàli mà ổng nói ổng sẽ là dùng lý luận chất vấn Đức Phật như người lực sĩ mà chụp đầu, chụp cổ người ta, vật qua vật lại, đẩy tới đẩy lui một cách tự tại. Dùng cái hình ảnh như vậy cũng rất là ngộ. Đó là trong văn hóa của Nikàya văn học Nikàya, chúng ta gặp rất nhiều cái ví dụ là lạ như vậy mà thời nay thì mình không có nói nữa, mình không có sử dụng. Nhưng mà khi đọc Nikàya thì mình sẽ gặp những cái ví dụ là lạ như vậy.

[1:18:16]Rồi kệ thi là những hình thức mà thường hay gặp lắm. Nhiều bài bài kinh là nói bằng thơ bằng kệ không. Nghĩa là một người đến hỏi Phật bằng thơ, Phật đáp lại bằng thơ liền. Ngài rất tự tại và trí tuệ. Mình bây giờ lại không đủ sức mà xuất khẩu thành thơ. Thì ai đến gặp tôi mà hỏi hỏi bằng thơ thì tôi hẹn 3 ngày sau trả lời, ta phải đặt 3 ngày mới ra được bài thơ trả lời chứ. Nhưng thời đó vừa hỏi thơ Đức Phật đáp bằng thơ liền, cũng hay, tuyệt vời. Rồi lời lẽ trong Nikàya thường là cô đọng để dễ nhớ, vì không có ghi chép được á nên mình nói dài dòng như chúng ta nói nãy giờ thì không ai nhớ được, nên nói câu nào chắc câu đó, gọn câu đó thôi.

[1:18:56]Đầy đủ, súc tích, gọn lại để người kia còn nhớ được, chứ nói tràng giang đại hải như chúng ta bây giờ là chịu thua, không có được. Bây giờ thì chúng ta nói về thái độ nghiên cứu Nikàya một chút. Trước hết, chúng ta phải hết lòng kính trọng Nikàya, vì đó là những lời nói đích thực từ kim khẩu của Đức Phật. Một vị Phật, một vị Thế Tôn mà chúng ta đã đem cả cuộc đời của mình đã đi theo ngài để đi theo ngài, nên những lời dạy đích thật của ngài chúng ta phải hết sức là trân trọng, tôn quý, nó lại không được coi thường, dù rằng có một sự sai biệt về ngôn ngữ, có những cái tối nghĩa, khó hiểu do thời gian quá xa, nhưng chúng ta phải hết lòng,

[1:19:35]phải cúi đầu, phải kính trọng cái pháp bảo này, pháp bảo Nikàya này. Một điều nữa là chúng ta không thể đọc Nikàya như đọc truyện, mà phải đọc chậm rãi từng câu, từng chữ để cân nhắc và tìm ra nghĩa lý thật sự. Có khi mình đọc một đoạn ngắn thôi rồi để ngừng lại, mình chiêm nghiệm mới hiểu được, chứ không thể mà dễ. Ví dụ nói câu này: "Kẻ phàm phu vô văn ít học tưởng tri địa đại là địa đại, nghĩ đến tự ngã là địa đại, dục hỷ địa đại, ta nói người ấy không liễu tri địa đại. Bậc A La Hán diệt trừ kiết sử thắng tri địa đại là địa đại, không nghĩ đến địa đại, không dục hỷ địa đại, ta nói người ấy liễu tri địa đại." Đọc ngang qua đó ngừng thôi.

[1:20:17]Từ từ tìm hiểu, chứ không có đọc mà không hiểu rồi cứ đọc tới thì một là mình căng thẳng đầu óc, hai là mình ngủ, nên học Nikàya học chậm rãi như vậy. Thứ ba nữa là phải có công phu tu tập mình mới hiểu nhiều hơn về Nikàya. Ví dụ như những đoạn mà Phật nói là khi một vị tỳ kheo đi tới đi lui đều tỉnh giác, Khi ăn, khi uống đều tỉnh giác, khi đi tiểu tiện, đại tiện đều tỉnh giác, khi nói hay khi nín không nói đều tỉnh giác. Đừng có học câu đó trên lý thuyết suông, phải thực hành. Thì khi quý thầy thực hành rồi đó, sau này quý thầy giảng lại cái đoạn đó cho người khác, nó có cái sức sống mạnh ở trong đó làm người ta thực hành được.

[1:20:57]Còn nếu mình học, mình nghe: "Ờ, vậy cũng dễ hiểu à, ráng đi đứng cũng tỉnh giác", mai mốt mình ai hỏi mình Nikaya thì mình cũng lặp lại y chang như vậy theo mình đã học, nó chỉ là gởi gắm một cái xác và không có ai tu tập hết. Người ta nghe mình giảng người ta không có tu, vì chính mình không có cái sức mạnh tu tập ở trỏng. Cho nên học Nikaya tuy khó hiểu nhưng phải ráng thực hành, rồi sẽ thấy vô cùng ích lợi. Những câu nói tưởng như khó hiểu, tối nghĩa, xa xăm, nhưng nếu thực hành quý thầy thấy giá trị rất lớn và rất căn bản. Đây là cũng bản thân tôi tôi kinh nghiệm á. Những giáo lý mà tưởng là thấp,

[1:21:32]không ngờ là vô cùng giá trị, vô cùng lợi ích, nhưng phải có thực hành. Một điều nữa là chúng ta từng nghe nhắc Đức Phật hay nói là nắm lá trong tay Ngài, có nhớ không? Lá trong rừng rất nhiều mà lá trong tay của Phật rất ít, nghĩa là những điều Ngài nói chưa hết được chân lý trong vũ trụ. Đây là Ngài mở đầu cho sự phát triển về sau. Sau này chúng ta có quyền nói rất nhiều điều mới, rất nhiều điều mới dựa trên căn bản Phật đã nói để tiếp tục tìm ra được những chân lý còn tồn tại, còn bàng bạc khắp trong vũ trụ này, và nhờ như vậy đạo Phật sẽ phát triển. Cũng giống như hồi nãy tôi nói vậy, nói được những bài kinh mới hấp

[1:22:09]dẫn là để nuôi dưỡng cái tâm đạo đối với những bài kinh cũ. Còn nếu chúng ta không phát triển được những điều mới thì cái đạo Phật cũ cũng biến mất luôn. Do đó, chúng ta cứ phải tìm những điều mới hoài, mà điều mới đó chưa chắc hay hơn điều cũ đâu, nhưng nó nuôi dưỡng được cái điều cũ. Cứ phải thuyết pháp, cứ phải tìm tòi để cho toàn bộ đạo Phật tiếp tục được tồn tại là như vậy. Nơi Nikaya thì chúng ta thấy một đạo Phật vừa thực tế, vừa bình dị, vừa siêu việt. Phải đủ ba tính chất này, chúng ta đừng bao giờ thiên lệch một bên. Có nhiều người đọc Nikaya nói là Nikaya nói lên một đạo Phật thực tế, tôi nói người này chưa hiểu đạo Phật.

[1:22:48]Đọc Nikaya phải thấy một đạo Phật thực tế đi trong lịch sử, những hình ảnh gần gũi, cụ thể: một Đức Phật đắp cái y đà đi giữa cuộc đời bằng đôi chân trần, rất là gần gũi, rất là bình dị nhưng rất là siêu việt, thời nay không ai làm được. Những việc mà Ngài tiếp xúc với chư thiên, Ngài có thể biết vô lượng kiếp, những thần thông, những cái đó vô cùng siêu việt. Một đạo Phật thực tế, bình dị nhưng siêu việt chứ không phải là chỉ có cái huyền hoặc siêu việt, hoặc là một đạo Phật chỉ có cái thực tế bình dị là sai. Phải cả ba điều đó mới đúng là một đạo Phật mà chúng ta hiểu được chính xác từ nơi kinh Nikaya.

[1:23:26]Một điều cuối cùng nữa chúng ta có thể nói: từ xưa đến nay trong lịch sử nhân loại không một vị giáo tổ nào để lại những lời dạy vừa hay vừa nhiều như Đức Phật, không một vị nào, không một tôn giáo nào. Nếu sau này có những người nào đó nói hay thì chắc chắn cũng phải đã dựa lên một phần lớn nào đó những lời dạy của Đức Phật. Trong lịch sử không bao giờ có như vậy, nên chúng ta có thể cho rằng mình đã may mắn khi chúng ta được là đệ tử của Đức Phật, chúng ta đi theo con đường của đạo Phật. Vì nơi con đường của Đức Phật, con đường của đạo Phật này chúng ta đã đến được sát với chân lý. Cái việc còn lại để thể nhập hẳn vào chân lý là do sự thực hành của chính mình.

[1:24:14]Và khi chúng ta đã được may mắn là Đức Phật như vậy, đã tinh cần tu tập như vậy thì chúng ta phải biết làm gì? Sau đó là suốt cuộc đời của mình nguyện đem cái chân lý này, đem cái đạo lý này đến cho con người để xây dựng lại cái trái đất này, cái thế giới này vốn đang chìm trong cái tối tăm, ích kỷ, độc ác, làm sao cho trái đất này, cho thế giới này, cho con người ngày hôm nay trở thành hiền lương, đạo đức, văn minh.

[1:25:13]Lời Phật như bóng mát che con nắng mùa hè. Lời Phật như chiếc nón che con khi trời mưa. Lời Phật như đóa hoa, cuộc đời vang tiếng ca.

[1:25:43]Lời Phật như áo ấm trong mùa đông giá lạnh. Lời Phật như ánh sáng trong đêm dài mênh mông. Lời Phật như bóng trăng dịu dàng soi thế gian.

[1:26:12]Xin cho con từ đây thâm tâm không đổi thay, luôn sống như Phật dạy, tinh tấn qua từng ngày.

[1:26:33]Đem thương yêu dựng xây, chung con tim bàn tay, cho thế gian no đầy, thôi khóc than từ nay.

[1:26:54]Lời Phật thêm sức sống cho con bớt yếu mềm. Lời Phật như tia nắng, tâm con là mùa xuân. Lời Phật như tiếng chuông quyện vào trong khói hương.

[1:27:24]Lời Phật như mái ấm cho con qua bão bùng. Lời Phật như suối mát cho con gội sạch trong. Lời Phật con khát khao trầm hùng như núi cao.

[1:27:53]Lang thang đã từ lâu, vô minh con chìm sâu, nay hướng theo lời Phật giải thoát con tìm cầu.

[1:28:14]Như đi trong chiều sương, xa xa nghe hồi chuông, ân đức của Phật dạy con tắm trong tình thương.

[1:28:30]Nam

[1:29:08]mô Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. Nam mô Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. Chắp tay quỳ kính lạy Người, thiết tha con khấn nguyện cầu: Quê hương là dòng sông, mát trong trăng vàng soi sáng.

[1:29:43]Nam mô Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. Nam mô Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. Đóa hoa tươi sắc vô thường, sớm trưa rơi rớt buồn vương. Nương thuyền từ vượt qua bến mê đến nơi bờ giác.

[1:30:17]Mẹ hiền Quán Thế Âm, giọt nước cành dương xoa dịu lầm than.

[1:30:30]Mẹ hiền Quán Thế Âm, đem đến an vui...

[1:31:16]Nam mô Đại từ Đại bi Quan Thế Âm Bồ Tát. Chiến tranh đau đớn cuộc đời, bão giông mây nước ngập trời, con xin Mẹ từ bi xót thương cứu độ trần gian.

[1:33:16]Nam mô Đại từ Đại bi Quan Thế Âm Bồ Tát. Chiến tranh đau đớn cuộc đời, bão giông mây nước ngập trời, con xin Mẹ từ bi xót thương cứu độ trần gian.