Lời giảng: Hiểu Về Bồ Tát Quán Thế Âm

  • Thuyết giảng: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Thời lượng: 1:13:03

Toàn văn lời giảng, chép từ phụ đề. Bấm vào mốc thời gian để nghe đúng đoạn đó.

[0:54]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Trước mặt chúng ta là Hòa thượng Thích Minh Thiện, Trưởng Ban Trị sự tỉnh Long An, khả kính. Hồi xưa mấy chục năm trước, lúc đó thầy có đi về đây đi chơi, thực ra cũng đi chữa bệnh, lang thang cái đến mấy Phật tử đi vô trong cái văn phòng Ban Trị sự thì lúc đó thầy cũng đang còn là chánh thư ký, trẻ măng, đẹp trai, ngồi trong phòng có mình à, đâu có ngờ về sau này cái thành anh em với nhau rồi Phật sự đồ rất là gắn bó, rồi thương yêu nhau mãi mãi mà không ngờ, không ngờ vậy. Thì cứ thấy ông anh mình càng ngày càng phát triển, cái đức độ càng lúc càng lớn, cái công hạnh càng lúc càng nhiều thì rất là vui mừng.

[1:38]Thì hôm nay Hòa thượng về đây để chứng minh. Cũng là lo, tức là cũng là cái sự chứng minh, ủng hộ, khuyến khích của Hòa thượng Thích Minh Thiện mà thầy Lệ Trí, Thượng tọa Lệ Trí, trụ trì Long Phước đây mới mạnh dạn mà tiến hành, phát tâm để làm tôn tượng Quán Thế Âm rất là lớn. Cái tham vọng của thầy, cái ước nguyện của thầy làm cái tượng cao tới 70 m. Hồi nãy thầy có nói rằng là cái tài chánh thì thầy không lo vì cứ từ từ góp cúng dường rồi cũng sẽ được. Nhưng mà sợ nhất là kỹ thuật, tại vì nếu ta làm bằng tượng bê tông cốt thép, tuổi thọ của bê tông chỉ 100 năm à, mà trong khi làm cái tượng 70 m thì cực kỳ khó

[2:24]khăn, gian nan, vất vả và tốn kém, rồi 100 năm sau phải đập, không đập nhà nước cũng bắt đập. Lúc này vì cái an toàn của mọi người chung quanh, chính quyền họ lại yêu cầu tháo dỡ liền vì bê tông đã hết tuổi thọ. Nên cái vấn đề này mới là vấn đề lớn. Vấn đề không biết tính làm sao. Thì thôi bây giờ cái cái từ từ rồi ta nghiên cứu tiếp đi nhưng mà ngày mai là động thổ, động thổ rồi từ từ tính lại, làm sao để có thể cái tượng phải tồn tại rất là lâu và có cái lợi cho chúng sinh lâu dài. Hồi nãy mấy anh em cũng ngồi nói chuyện với nhau vậy, ví dụ như tại sao thầy làm cái tượng này à thì thầy mới nói là ở đây có cái thế

[3:12]phong thủy đắc địa sao đó nói chung thầy chắc ổng cũng giỏi địa lý. Mình nói vì thầy cũng dốt nên thầy cũng nghe nói cũng không hiểu lắm, đại khái vậy. Long bao gì đó, long bao long bào long gì đó, biết long đong hay không hiểu sao đại khái vậy. Rồng ôm, à rồi, rồng ôm, rồng ấp gì đó chả hiểu nữa. Nên nên là nói cái nơi cái đất tốt nhất thì để dành cho Phật à. Rồi nói là dành cho Phật nhưng Phật thì là dành cho chúng sinh. Cái quan trọng là khi mà thầy tạo được cái tượng này rồi chúng sinh được lợi gì, đó mới là mục tiêu cuối cùng của chúng ta. Làm sao từ nơi cái tôn tượng này tất cả chúng sinh sẽ được

[3:53]giác ngộ, đó mới là mục tiêu cuối cùng của chúng ta. Đừng bao giờ chúng ta đi lạc ra ngoài cái mục mục tiêu này. Thì có Hòa thượng để chứng minh, thầy cũng là một cái bậc học Tăng lỗi lạc ngày xưa thì thầy rất là thấm điều này. Nhưng mà quan trọng là thế này, cái biểu tượng của Bồ tát Quan Âm đối với Phật giáo, đối với sự tu hành là như thế nào, thiêng liêng ra sao, ý nghĩa lớn lao và ảnh hưởng vào sự tu hành nội tâm của chúng ta như thế nào, đó mới là vấn đề. Chứ chúng ta không làm tượng để câu khách, để lấy khách tham quan, mà ta làm tượng để rồi sau đó cái ánh sáng của sự giác ngộ, của từ bi, của Chánh pháp nó phải lan tràn ngập

[4:40]hết cả cái vùng này, thì cái đó mới là cái sự phát tâm chính đáng của chúng ta. Mà muốn để cho từ cái tượng này mà biến thành cái tâm cầu đạo vô thượng của chúng sinh thì chúng ta phải hiểu về Bồ tát Quán Âm cho kỹ cái đã. Ta phải hiểu thật kỹ về Ngài. Hiểu về Ngài rồi thì ta nhìn thấy tượng Ngài, lòng ta tràn ngập xúc động. Cái xúc động của ta từ nơi cái sự hiểu sâu sắc về Bồ tát Quán Thế Âm, cái sự tôn kính, sự yêu kính Ngài nó dâng lên tột cùng và nó sẽ biến thành cái nhân quả của sự giác ngộ mai sau. Chứ không phải làm cái tượng để rồi mọi người khen đẹp rồi thôi. Làm sao nhìn cái tượng là cái lý tưởng giác ngộ của mọi người phải được

[5:30]khơi dậy thì đó mới là sự thành công khi ta tạo tôn tượng, thấy không? Và tại sao thầy lại chọn tôn tượng Bồ tát Quán Thế Âm? Thì thôi cái điều đó sâu xa, nhưng hôm nay chúng ta ngồi đây ta chia sẻ về ý nghĩa của Bồ tát Quán Thế Âm và mong rằng khi ta hiểu được về Bồ tát Quán Thế Âm rồi, lòng ta dâng lên niềm tôn kính với Ngài rồi thì sau này ta hỗ trợ thầy để thực hiện cho hoàn thành được cái tôn tượng này cho cái đất Tân An và cho đất Long An này, cũng như thành có một cái đất Phật như vậy, ta mong là như vậy. Thì bây giờ ta hiểu về Bồ tát Quan Âm, hiểu trên nhiều phương diện càng nhiều càng tốt.

[6:17]Nói thật chẳng ai hiểu nổi Bồ tát Quan Âm đâu. Chưa bao giờ chúng ta hiểu nổi về Ngài hết á. Nếu chúng ta hiểu, ta chỉ hiểu một góc nhỏ bằng cái tâm phàm phu của mình mà thôi. Nhưng ta cố gắng tìm hiểu, hiểu được càng nhiều càng tốt vì ta càng hiểu nhiều về Bồ tát Quan Âm chừng nào thì cái sự phát tâm của ta càng lớn lên chừng nấy. Ta càng hiểu về Ngài chừng nào thì cái lòng tôn kính của ta đối với Ngài càng dâng cao chừng nấy. Và khi cái lòng tôn kính của ta đối với Ngài dâng cao lên, cái sự phát tâm ta dâng cao lên, lý tưởng tu hành của ta cũng sẽ dâng cao lên, cái phước của ta cũng sẽ lớn lên.

[6:56]Nên ta cố gắng tìm hiểu về Ngài trên rất nhiều phương diện, nhưng biết rằng không bao giờ với cái tâm phàm phu của chúng ta mà chúng ta có thể hiểu hết về Bồ tát Quán Âm. Nên hiểu được chút nào cũng quý chút đó, hiểu được chút nào cũng có phước chút đó.

[7:15]Nói về Bồ tát Quán Thế Âm thì ta có rõ cái bộ kinh Phổ Môn, kinh trong kinh Pháp Hoa giới thiệu về Ngài khá nhiều nguyên một phẩm. Nên những người mà có cái lòng tín ngưỡng đối với Bồ tát Quán Thế Âm thường thích tụng cái phẩm Phổ Môn trong cái kinh Pháp Hoa, tụng tách riêng ra không có tụng nguyên bộ kinh Pháp Hoa, tách riêng phẩm Phổ Môn để tụng. Rồi có bản nguyên bản bằng chữ Nho, có bản dịch vân vân. Và có một bộ kinh khác nữa là bộ kinh Lăng Nghiêm nói về cái công hạnh tu hành giác ngộ của Bồ tát Quán Thế Âm. Nó sâu xa tới mức độ nào thì cái việc mà cái cái việc tu tập thiền định chứng ngộ của Bồ tát Quán Âm

[7:54]từ cái Nhĩ Căn Viên Thông đến bây giờ cũng không mấy người hiểu được. Thì đó là hai bộ kinh lớn mà nói về Bồ tát Quán Thế Âm, còn sau đó rất nhiều vị học giả, rất nhiều hành giả có cái cảm xúc về Bồ tát Quán Thế Âm cũng đã viết nhiều luận bản, nhiều sách về Bồ tát Quán Thế Âm, nhiều. Rồi mỗi người có kinh nghiệm bản thân của mình trong cái sự linh ứng của Bồ tát Quán Thế Âm cũng hiểu về Ngài một cách nào đó theo cái rất riêng tư của mình. Vậy ha. Tuy nhiên, hầu hết chúng ta ngồi đây chúng ta thuộc Đại thừa Bắc tông, cho nên cái việc mà chúng ta tín ngưỡng Bồ tát Quán Thế Âm là điều rất bình thường vì tượng của Ngài được thờ khắp tất cả các chùa.

[8:42]Nơi nào của chùa Bắc tông đều có Ngài, vì Ngài đến từ hai cái bộ kinh lớn mà, và nhiều cái sự linh ứng. Nhưng đầu tiên ta phải hiểu thế này: bên Nam tông Theravada không có Bồ tát Quán Âm. Chúng ta ở trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam, nơi Giáo hội Phật giáo Việt Nam này chúng ta thống nhất tất cả mọi hệ phái. Và trong nhiều cái hệ phái đó, có cả hệ phái Nam tông Theravada. Mà Nam tông Theravada thì dựa trên kinh Nikaya nguyên thủy, và trong kinh Nikaya nguyên thủy không bao giờ nói tới Bồ Tát Quan Âm. Chúng ta phải hiểu điều này. Để sau này khi mà chúng ta thờ ngài, rồi gặp một vị Theravada, chúng ta có cách nói

[9:26]chuyện, nói chuyện làm sao nó không có cái mâu thuẫn giữa các tông phái mà vẫn đem đến sự hòa hợp. Mà nói thật lòng chứ không phải nói đãi bôi. À mà nói cách nào mà để cho Bắc tông, Nam tông đều có thể thông cảm hòa hợp trong cái tín ngưỡng Quan Âm là một điều hết sức khéo léo. Thì lát phần cuối chúng ta sẽ nói thêm. Nhưng ta phải hiểu một điều đầu tiên là trong kinh tạng Nikaya nguyên thủy không có nói về Bồ Tát Quan Âm, và như thế tất cả các Phật giáo ở các nước mà thuộc về Nam truyền không bao giờ có thờ Bồ Tát Quan Âm. À vậy. Đây ta phải hiểu điều này. Nhưng mà bên Bắc tông ta thì vô cùng kính ngưỡng ngài.

[10:10]Vô cùng kính ngưỡng ngài là vì có hai cái bộ kinh lớn nói về ngài, nhưng đặc biệt nhất là bộ Kinh Phổ Môn nói về sự ứng hóa hiện thân cứu độ của ngài tới mức độ phi thường. Nhưng mà nếu chỉ là bộ kinh không thì chắc ngài cũng không được cái sự kính ngưỡng đến mức độ như vậy. Chỉ bởi vì những điều linh ứng của Bồ Tát Quan Âm là có thật, nên cái sự kính ngưỡng đối với Bồ Tát Quan Âm là lan truyền, lan truyền qua hết thời đại này tới thời đại kia, hết khu vực này tới khu vực kia. Do đó là kinh nói là một chuyện, nghi lễ ở chùa tụng là một chuyện, nhưng mà con người ta truyền miệng với nhau về sự linh ứng của ngài, và làm tăng thêm cái lòng kính ngưỡng đối

[10:57]với Bồ Tát Quan Âm là vô biên vô lượng là vì vậy. Nên ở đây, nói về Bồ Tát Quan Âm thì ta có nói cái hàn lâm là từ kinh điển, mà trong kinh điển tới hai bộ kinh, hai bộ kinh nhìn trên hai góc cạnh về Bồ Tát Quan Âm khác nhau. Ở kinh Lăng Nghiêm thì Bồ Tát Quan Âm như là một vị Bồ Tát hiện thân nam tử, hiện thân nam, nói về công phu tu hành thiền định. Ở nơi cái phẩm Phổ Môn thì ngài mang dáng dấp vừa là cha vừa là mẹ. Nhưng mà ở trong cái tín ngưỡng của dân gian thì ngài trở thành người mẹ hẳn luôn, và trong cái sự linh ứng của mọi người Bồ Tát Quan Âm là một người mẹ hẳn hoi luôn. À. Như bản thân cá nhân thầy cũng vậy.

[11:46]Cái đêm mà cái ngày mà thầy bỏ nhà để đi vào chùa tu, thì đêm đó thầy nằm mộng thấy ngài hiện thân một bà già xuống nắm tay kéo lên trên cái chỗ vị trí của người xuất gia, đứng nói. Nói: "Cậu ăn chay thì cậu lên đây đứng". Đang là cư sĩ đứng trong cái buổi lễ rất là đông, tự nhiên có một bà già trên trời bước xuống nắm tay kéo lên trên cái cái lễ đài mà chung quanh là toàn là người xuất gia, cứ nói: "Cậu ăn chay, cậu lên đây đứng". Giật mình thức dậy một cái, nói: "Rồi". Thế là sáng hôm đó thầy bỏ hết việc vô chùa lạy, lạy nguyên một thời lạy, xong rồi là xách gói đi vô chùa luôn. Đi luôn.

[12:25]Nhưng mà trước đó hai tháng, trước đó hai tháng, lúc đó thầy đi ngang cái tượng Bồ Tát Quan Âm ở một cái tịnh xá khất sĩ á, thì dừng xe đạp lại, thời đó có xe đạp là quý lắm á, dừng xe đạp lại chắp tay nói: "Xin Bồ Tát gia hộ cho con được xuất gia". Vừa dứt lời một cái trên đầu rớt xuống hai giọt sương, hai giọt sương mát lạnh vậy đó. Mà nhìn quanh ở đâu có cây cối, lá gì đâu. Đúng hai tháng sau là vô chùa luôn. Nên cái niềm nên là trong lòng thầy cái niềm tôn kính Bồ Tát Quan Âm là cực kỳ sâu đậm là như vậy. Đó là cá nhân, không có thuộc kinh điển nào hết. Và không phải mình thầy, rất nhiều rất nhiều người có những

[13:02]cái cảm ứng riêng tư mình như vậy và truyền với nhau. Nên cái niềm tin đối với Bồ Tát Quan Âm là ngoài cái hệ thống kinh điển, còn có cái linh ứng của mỗi cá nhân, tất cả cộng hưởng thành một cái sự tín ngưỡng Bồ Tát Quan Âm cực kỳ lớn lao trong trong Phật giáo của chúng ta. Nhưng mà chúng nhưng mà để hiểu về ngài, hiểu sâu sắc về ngài thì chúng ta còn phải phải bàn nhiều lắm, nghe. Bây giờ như ta phân tích vài điều để thấy những cái điều đặc biệt của Bồ Tát Quan Thế Âm thế này. Trên thế gian này chúng ta kính trọng ai? Thôi đừng nói thần thánh gì, nói con người với nhau đi.

[13:47]Trên thế gian này ai là người chúng ta kính trọng? Nói thật lòng á. Mình kính trọng một cách sâu sắc thật lòng á, chân thành á. Một là người gì? Có đạo đức phải không ạ? Gặp cái người đạo đức tột cùng, ta quỳ xuống liền. Hai, gặp người mình phải nể sợ liền là người có quyền lực.

[14:10]Có quyền lực họ điều khiển được cuộc đời của mình, họ quyết định được cái thân phận của mình, mình phải sợ liền. Tại họ có quyền lực. Còn cái người có đạo đức thì họ không quyết định cuộc đời của mình, nhưng họ làm tan vỡ trái tim của mình vì mình quá kính trọng con người đó. Nên họ không cần điều khiển nhưng một lời khuyên, một lời dạy của họ, mình chết cũng phải làm. Đúng không ạ? Ví dụ bây giờ, mình có một người thầy nào đó mà mình quá kính trọng, cái lúc đó là hai thầy trò đi ngang một cái cây cầu, tự nhiên thấy có thấy một cái đứa bé nó rớt xuống sông. Cái người đó kêu: "Con nhảy xuống cứu cái cái đứa bé đi con!" Mình không biết

[14:51]bơi nhưng mà ổng kêu nhảy là nhảy liền, rồi mình chết luôn, không biết có chết luôn không biết nhưng hay là không. Nhưng đại khái là nếu có một người nào đó mình quá kính trọng vì đạo đức, thì người đó họ không có quyền lực, nhưng một lời nói của họ như sấm như sét đối với cuộc đời của mình. Đúng không ạ? Còn một người mà có quyền lực thì khác. Ví dụ trong mặt trận có ông chỉ huy ổng kêu xông lên, đằng kia địch nó bắn ầm ầm mà ổng kêu xông lên là vẫn phải xông lên vì ổng có quyền lực, ổng điều khiển được cuộc đời của mình. Thì ở đây con người này có hai cái: vừa đạo đức, vừa quyền lực. Vừa Trưởng ban Trị sự là quyền lực,

[15:24]mà tu hành bao nhiêu năm nên có đạo đức, người này ghê lắm à.

[15:33]Thì vậy Bồ Tát Quan Âm là là đạo đức hay quyền lực?

[15:41]Ta kính ngưỡng Bồ Tát Quan Âm vì đạo đức của ngài hay quyền lực của ngài?

[15:49]Nếu nói về đạo đức, phải không à? Có ai gặp ngài đâu biết ngài đạo đức cỡ nào. Ta chỉ tin thôi, tin ngài là một bậc Bồ Tát thì chắc là đạo đức ghê lắm, phải không à? Nên ta kính trọng ngài. Nhưng ngài có khả năng cứu độ, linh ứng, thần thông, quảng đại, nên ngài có quyền lực. Nên Bồ Tát Quan Âm là sự kết hợp của cả hai: vừa là đạo đức vừa là quyền lực. Cái đạo đức của ngài là đạo đức của một đức Phật. Quyền lực của ngài là trùm cả tam giới. Tại sao vậy? Tại vì trong Kinh Pháp Hoa phẩm Phổ Môn có nói: ngài muốn hiện thân nào thì ngài hiện thân đó. Cái chỗ cái câu này không đơn giản chút nào. Chúng ta đọc kinh phớt qua một cái vèo,

[16:34]ngài muốn hiện thân Đế Thích thì hiện Đế Thích, hiện thân Phạm Thiên thì hiện thân Phạm Thiên, hiện thân đồng nam thì đồng nam, hiện thân đồng nữ, hiện thân trưởng giả, hiện thân Tỳ kheo, Tỳ kheo ni. Ta nghe đọc phớt ào ào ào qua cái đoạn đó, nhưng ta không hiểu cái phía sau của cái đoạn đó là một cái điều khủng khiếp. Khủng khiếp là sao?

[16:56]Vì bình thường ví dụ như một cái người đó, có cái ông đó ổng không phải Tỳ kheo, không phải thầy tu, ổng không có tu hành, ổng không có thọ giới, ổng không có giữ giới, nhưng vì lý do mưu sinh nên ổng phải hiện tướng Tỳ kheo để đi xin. Hiện tướng Tỳ kheo là sao? Đi ngang qua cái chùa thấy có cái y áo Tỳ kheo cái ổng chôm mất, cái làm ông thầy ổng mất cái áo hậu với cái y cái ổng phải đi may lại. Thì ông đó ổng lấy được cái về cái ổng quấn qua quấn lại, cuối cùng cũng quấn được cái ổng đi ra đường ổng đi xin, đi bán nhang. Thì đó gọi là gì? Ổng cũng có người hiện tướng Tỳ kheo. Nhưng mà thực chất có phải Tỳ kheo không? Không.

[17:35]Cái này mới ghê nè. Nếu mình không phải là một cái người ở vị trí cao đó mà mình hiện tướng vị đó, ta gọi là gì? Giả mạo, là lừa gạt, chết đọa địa ngục liền. Tất cả những người ăn xin mà giả mạo thầy tu, giả mạo tăng tướng, chỉ có một chỗ để đến đó là địa ngục. Bởi vì cái y Tỳ kheo này, cái y cà sa này chỉ dành cho những người giữ giới thanh tịnh, tu hành đàng hoàng. Cái người không tu hành đàng hoàng, không giữ giới thanh tịnh mà dám mặc cái áo này thì chỉ có một nơi để đến đó là địa ngục. Do đó, đừng có chuyện đùa mà nói rằng muốn hiện tướng gì thì hiện tướng đó. Có một lần ngoài Huế vậy, có cái ngày lễ Phật đản,

[18:27]không biết cái chùa nào tổ chức á, thấy đứa nhỏ đẹp đẹp quá bưng lên để đóng vai Đức Phật đản sanh, đứng để trên xe để kéo đi. Thay vì người ta để cái tượng tượng Phật đản sanh thôi, bây giờ bưng đứa nhỏ lên mặc áo đắp trang trí đồ vô. Đi qua, xong cái lễ Phật đản bảy ngày sau nhỏ chết liền. Không còn phước để sống, mà không biết chết rồi đi đâu không biết. Rồi cái màn mà đóng giả Phật cái này kia nọ làm chúng ta hết sạch phước. Trừ trường hợp chúng ta hiện tướng thấp hơn cái phước của mình thì không sao. Còn hiện cái tướng cao hơn cái phước của mình là ta đọa liền, hết phước liền. Đó. Ví dụ bây giờ, mấy Phật tử ở đây, ở đây có ai đi ăn xin không à?

[19:13]Có ai ăn xin ngồi đây không? Không hả? Mình hiện tướng ăn xin, mình mặc đồ rách rưới, mình ra ngoài đường mình đi thảm não, thì okay, no problem, very good, không sao hết. Không sao hết nha, cứ thoải mái mà đi ăn xin. Nhưng đừng ăn xin thiệt, ăn xin thiệt mắc nợ người ta. Nhưng mình hiện tướng thấp hơn cái phước của mình thì không sao, nhưng mà hiện tướng cao hơn mình ví dụ như mình bình thường thế này, tự nhiên mình hiện tướng làm ông Chủ tịch xã hay Chủ tịch tỉnh ví dụ vậy, đi đâu cũng nói: "Tôi là Chủ tịch tỉnh Long An", thì chuyện gì xảy ra? Chuyện gì xảy ra?

[19:52]Chuyện gì xảy ra?

[19:56]Địa ngục thì chưa chờ mình, nhưng cái nhà tù chờ mình liền. Công an tới chộp bắt đem vô tù liền, đúng không ạ? Tại vì mình đã hiện tướng cái vị trí cao hơn cái phước của mình. Không tin giả bộ nói là tôi làm chủ tịch mặt trận, chủ tịch công an, ấy chủ tịch tỉnh gì đi, thử đi biết liền à. Thử biết liền, chưa kịp xuống địa ngục là vô tù ở trước liền, vì ta tổn hết phước khi ta hiện cái tướng lớn hơn phước của mình. Và vì vậy, khi mà trong kinh nói rằng Bồ Tát Quan Âm muốn hiện tướng nào thì hiện, thì ta phải hiểu một điều: phước của Ngài trùm cả tam giới, trùm hết cả cõi trời và cõi người, nên Ngài muốn tự tại, muốn hiện tướng nào thì hiện.

[20:37]Phải hiểu điều này, phước Ngài cực kỳ lớn. Muốn hiện tướng Phạm Thiên, Phạm Thiên Vương, hiện tướng Đế Thích. Đế Thích là vua cõi trời mà, vua cõi trời mà ở tôn giáo khác gọi là Thượng Đế đó, nhưng mà Bồ Tát Quan Âm muốn hiện là hiện được liền. Với chúng sinh cần cái tướng nào, Ngài hiện cái tướng đó để độ. Nên trong kinh nói với câu đơn giản: Ngài muốn hiện tướng nào hiện tướng đó. Thì ta nghe chữ này ta phải hiểu phía sau đó là cái nghĩa, ý nghĩa của chỗ này là vô lượng vô biên về nhân quả. Không phải là ta muốn đóng vai gì thì được đóng vai đó trong cuộc đời này đâu, không phải. Bởi vì sao?

[21:23]Bởi vì mới nhắc thầy, chiều giờ mong nhớ quá chừng, nay tự nhiên thầy hiện tướng ra. Dạ, Thượng tọa phó ban trị sự. Chiều giờ mong nhớ thương thầy hỏi hoài. Để để thỉnh thầy ngồi lên đây. Kính

[21:47]thỉnh kính thỉnh kính thỉnh thầy. Dạ, mô Phật. Người ta nói như: "Thưa thầy, như vậy mấy người diễn viên sao?

[22:00]Họ đóng vai vua là sao?" Có. Thì thầy xin trả lời rằng: Họ kiếp xưa họ có phước làm vua trong một khoảnh khắc đó, chứ không phải không đâu. Cũng có phước làm một thoáng giống như vua, không phải vua thật, nhưng cũng phải có phước người ta mới sắp ổng vô cái vai ông vua trong cái phim đó, vì cũng có một thoáng, một phước, một chút nào đó. Không phải cái gì ngẫu nhiên nói, nọ đi đóng cải lương đóng vai vua không à, vì đời trước có cái phước một chút phước làm vua mới được người ta sắp vai vua, không phải tự nhiên đâu. Chứ còn bây giờ mình lên cơn mình vô cái hãng phim hay là vô đoàn cải lương nói, "Tôi mới đóng vai vua", thì người ta kêu bảo vệ rượt đánh chết liền,

[22:39]tại mình không đủ cái phước để hiện tướng đó, không phải dễ đâu. Nên khi mà nói Bồ Tát Quan Âm muốn hiện tướng nào thì hiện, bởi vì phước của Ngài trùm cả tam giới. Ngài đến chỗ nào là tất cả mọi chư thiên đều phải cúi lạy. Đó là lý do mà Ngài có thể cứu độ chúng sinh gọi là vô úy thí đó. Cái chữ vô úy thí ta nghe thì bình thường là: thí là bố thí, vô úy là điều không sợ, bố thí cho chúng sinh cái điều không sợ. Nghe hiểu không ạ? Không hiểu. Cái ngôn ngữ người xưa như vậy, nhưng cái ý nghĩa nó như thế này:

[23:23]Khi nào thì chúng ta sợ?

[23:28]Khi nào thì chúng ta lo sợ, kinh sợ, sợ hãi?

[23:34]Ta rơi vào sự sợ hãi, sự kinh sợ khi ta bước vào một hoàn cảnh nguy hiểm mà ta không còn cách để tránh hay xử lý, ngăn chặn được nữa thì ta phải sợ. Còn nếu ta bước vào hoàn cảnh nguy hiểm nhưng ta có cách xử lý, ta không có sợ. Hoặc là ta không phải vào hoàn cảnh nguy hiểm, nó chỉ là cái điều buồn buồn sơ sơ vậy thôi, là bồ bỏ, người yêu chê rồi chút đỉnh thì không có gì phải kinh sợ. Chuyện nó không gấp, chuyện không gấp, không có emergency, không có gấp. Còn khi mà trong lúc gấp rút, không còn thời gian mà cái nguy hiểm, tai họa nó ập tới ngoài khả năng xử lý của ta thì ta mới xuất hiện cái sự kinh sợ, ta mới có cái úy, bố úy, sợ hãi.

[24:27]Chứ còn bởi vì cái chữ vô úy, cái chữ úy thôi đã quá nhiều vấn đề. Chỉ một chữ sợ hãi thôi, ta phải hiểu quá nhiều vấn đề phía sau. Là khi nào ta rơi vào một loại nghiệp, cũng là nghiệp đời xưa, mà cái nghiệp đó vây bức ta không còn lối thoát, ta không tự mình xoay xở được nữa, mà cái điều đó nó sẽ rất nguy hiểm, nguy thậm chí nguy hiểm tới tánh mạng của ta, hay nguy hiểm tới cả gia đình của ta, hoặc là nguy hiểm tới cả một cái đoàn của chúng ta cùng đi, nguy hiểm tới sự thương tật hay hay là tánh mạng, không còn cách nào xoay xở được nữa thì ta mới có chữ úy đó, là chữ bố úy là kinh sợ. Chứ còn không phải rơi vào tình cảnh khẩn cấp, nguy hiểm ta không sợ.

[25:12]Thì trong cái lúc mà ta kinh sợ có nghĩa là ta đã rơi vào hoàn cảnh hết lối thoát rồi, không còn cách gì xử lý nữa mà một người nào có thể làm cho ta hết sợ, nghĩa là gì? Là không phải là người đó kêu ta, "Thôi mà đừng sợ nữa, không sao đâu, chết thì chết đi, không sao đâu." Được không? Được không ạ? Được không? Ví dụ bây giờ lửa nó cháy phừng phừng ha, mình đang ngồi trong nhà, lửa cháy hết từ trên dưới sàn, chung quanh cửa, không còn lối thoát, thì cái mình sợ quá mình la làng thì có một người họ cầm cái loa họ nói vọng vô trong, chứ họ cũng không vô cứu mình được, nói, "Thôi anh, anh đừng sợ nha, anh cứ bình tĩnh không sao,

[25:52]lát nó cháy thì chết thì không có gì đâu." Mình có hết sợ không ạ? Lúc đó mình còn giận mình còn, lúc đó mình mình chửi mắng lên mình mình vừa căm tức mà vừa sợ hãi nữa chứ đừng có nói. Cho nên cái việc mà vô úy thí không phải là nói một vài lời để làm mình hết sợ, mà phải là cái gì? Vô trong đám lửa kéo mình ra hay làm tắt cái đám lửa đó đi, đúng không ạ? Chặn đứng cái nguy hiểm đang ập tới mình mới làm cho mình hết sợ. Cái tâm lý của ta là như vậy. Ví dụ như vậy, có một lần thầy nhớ có một cái cô đó, cô có đứa con tật nguyền cứ phải chữa trị và tập luyện, mà thực ra thầy cũng không có để ý tới cổ.

[26:38]Nhưng mà bỗng nhiên thực thầy đang ngồi làm việc động tâm nhớ về cổ, thì nhớ liền cái đứa bé con cổ. Thầy nói, "Chắc là hết tiền rồi." Thầy mới gởi tiền liền, gởi tiền cho đi chữa bệnh đứa bé. Vừa gởi tiền chuyển khoản vào tài khoản cổ xong, cổ nhắn tin liền. Cổ nói, "Mấy đêm nay con không ngủ được vì không biết tìm đâu ra tiền để chữa trị cho cháu, bỗng nhiên nhận được tiền của thầy, con ngủ được." Ta nhớ không? Tâm của ta yên là bởi vì vì ta kêu nó yên là nó yên? Mà phải làm sao? Ta phải được có một cái hoàn cảnh sống tốt đẹp tâm ta mới yên, chứ không phải muốn yên là nó yên. Cũng không phải là lửa cháy phừng phừng nói,

[27:20]"Yên, thôi không sợ nữa, thôi kệ, nó nó cháy chết", không có. Lửa phải tắt hay có người nào đi xuyên qua đám lửa bồng mình chạy ra thì mới yên. Cũng vậy, ví dụ như một cái người nghèo đói buổi sáng nhịn đói, vẫn chưa tìm được tiền để trưa ăn được cái gì, thì từ buổi sáng tới buổi trưa đó đầu căng thẳng. Cho tới khi ai cho được miếng bánh mì, vừa cầm được miếng bánh mì một cái, bao nhiêu cái căng thẳng tan biến liền. Ngồi nhai miếng bánh mì, trong thời gian nhai miếng bánh mì đó, tâm rất bình yên. Ăn xong miếng bánh mì rồi sao? Căng thẳng tiếp, nghĩ tới chiều ăn cái gì. Cái nghèo đói là như vậy.

[28:04]Nên cái nghèo đói không chỉ đơn giản là không có tiền, mà ta phải hiểu nghèo đói là gì? Là nội tâm luôn luôn bấn loạn, bất an. Nhớ là như vậy. Nên chúng ta đang kinh sợ thì không phải là nói là để giúp cho chúng ta hết kinh sợ bằng vài lời nói đơn giản, mà đó là cái gì? Đó là quyền lực, là thần lực chặn đứng được cái tai họa của ta. Mà tai họa của ta là gì? Nghiệp của ta. Mà đã nghiệp thì sao? Đừng hòng chạy trốn.

[28:42]Đã nghiệp tới rồi là không chạy trốn được nữa. Nhưng mà tại sao

[28:48]đạo Phật là một tôn giáo thường nói về luật nhân quả: gieo nhân gì gặt quả nấy, tới lúc ta gặp tai họa là nghiệp ta phải trả, thế lại tại sao lại có một cái công hạnh của một vị Bồ Tát có thể chặn đứng cái quả báo của ta được, giống như cưỡng lại cái luật nhân quả được? Có phải là như vậy cái tín ngưỡng về Bồ Tát Quán Thế Âm đã phủ nhận luật nhân quả của đạo Phật hay không? Chỗ này nếu mình không lý giải ra mình không đi giảng đạo được á, và mình sẽ rơi vào tà kiến đọa làm thân chồn.

[29:26]Ở chỗ này muốn hiểu điều này, ta phải hiểu luật nhân quả thêm rất là sâu sắc. Hiện nay hầu hết tất cả chúng ta hiểu về luật nhân quả ở trình độ lớp một, lớp hai, trong khi luật nhân quả có cái bề dày kiến thức: tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, đại học, cao học tới tiến sĩ. Luật nhân quả sâu xa.

[29:54]Ở chỗ này, chỗ này ta phải hiểu về nhân quả rất là sâu xa, chứ không đơn giản như ta hiểu là trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu hay là gieo nhân gì gặt quả nấy, không có cứng như vậy, luật nhân quả không cứng như vậy. Luật nhân quả rất là tinh vi, sâu sắc, uyển chuyển, cực kỳ phức tạp, vừa ngẫu nhiên vừa tất nhiên.

[30:20]Bây giờ ví dụ thế này:

[30:24]Tự nhiên có cái người nghèo,

[30:28]họ rơi vào cảnh khốn cùng, rồi lại họ gặp mình họ mượn tiền, thì mình trả lời như thế này rất là đúng với luật nhân quả: "Anh nghèo khổ là tại đời trước anh bỏn xẻn phải không à? Anh không bố thí, gặp người khốn đốn anh không giúp, à. Cho nên bây giờ anh nghèo thì đáng cái đời của anh đi. Anh trả quả báo của anh đi. Tôi không có cho anh tiền. Tôi cho anh tiền là tôi cưỡng lại cái luật nhân quả của tui." Được không à? Được không? Được không thì không biết. Được hay không thì không biết, nhưng mà cái cách ta xử lý vấn đề đó, nó cũng là một cái nhân cho đời sau của ta.

[31:18]Khi ta gặp người nghèo, họ đến nhờ ta giúp đỡ qua cái cơn nguy khốn, à qua cơn khó khăn, rồi ta trả lời họ bằng cách lấy luật nhân quả ra, đổ thừa cái tội của họ, đổ thừa cái lỗi của họ ở kiếp trước thì chắc là cũng có chứ cũng không phải không, cũng không phải sai lắm. Nhưng mà cái đời xưa thì không biết, nhưng mà đời nay khi ta trả lời như vậy, ta đang gieo một cái nhân cho chính ta. Chính ta là gì? Năm kiếp sau ta cũng rơi vào khó khăn, khốn đốn. Ta cũng đến gặp thầy Lệ Trí xin tiền, thầy cũng trả lời đúng câu đó: "Tại ngươi đời trước bỏn xẻn, thấy người nghèo không giúp cho nên bây giờ đáng đời, không cho ngươi cái gì hết." Không nói:

[32:06]"Sorry không phải thầy đâu, thầy từ bi, chắc ai đâu đây nè." Là là là thì là nhân quả nó tiếp tục vận hành theo đúng cái cách đó. Ta trả lời người khổ làm sao thì sau này khi ta khổ sẽ có cái người trả lời với ta đúng như vậy.

[32:23]Nên như vậy lại thấy nhân quả như thế nào? Nhân quả là: Cố hãy thương họ và giúp họ. Đó là nhân quả đúng, ta gieo cho ta. Còn nhân quả của họ đời trước kệ họ. Kiếp trước chắc là họ cũng có cái lỗi lầm gì nên bây giờ rơi vào tình cảnh khốn đốn thì chuyện của họ. Nhưng bây giờ họ tới gặp ta là chuyện của ta.

[32:50]Nếu họ gặp Hòa thượng Minh Thiện là chuyện của thầy Minh Thiện. Họ gặp thầy Quảng Tâm là chuyện của thầy Quảng Tâm. Gặp thầy Lệ Trí chuyện thầy Quảng Tiến... ý lộn là thầy Lệ Trí. Nhưng đừng gặp thầy, thầy nghèo lắm. Nếu thầy trả lời câu đó thì kiếp sau sẽ có người trả lời: "Thôi thầy nghèo lắm, đừng tới gặp thầy." Nhớ nha, ta trả lời câu nào nhân quả sẽ ra với ta câu đó. Nên thầy trân trọng giới thiệu: Ai nghèo khổ đến gặp Thượng tọa Minh Thiện. Đó là chuyện của thầy. Còn ta nghèo khổ là chuyện của ta ở kiếp trước. Bây giờ ta tới gặp ai, nó trở thành chuyện của người đó, nhân quả của người đó.

[33:31]Nhân quả là như vậy. Mà bây giờ ta xử lý cái người nghèo sao là nhân quả ta đời sau y như vậy. Nên cái luật nhân quả cực kỳ phức tạp, không phải dễ, không phải dễ trả lời bừa bãi hay suy nghĩ đơn giản mà đúng được. Thì bây giờ vậy, khi một người họ gặp cái tai họa nguy khốn thì Bồ Tát Quan Âm cứu họ, như vậy có phải là cưỡng lại luật nhân quả không? Chưa dám trả lời nữa thấy không? Bây giờ trở lại cái ví dụ này ta sẽ hiểu lần lần. Hồi nãy ta vừa ví dụ có hai thầy trò đi ngang qua cái cầu, nhìn xuống thấy có một người rớt xuống sông. Rồi thầy ta kêu ta nhảy xuống sông mà cứu. Ta dám nhảy không khi ta không biết bơi hay biết bơi sơ sơ?

[34:17]Lúc đó mình làm cái gì? Mình quỳ xuống mình lạy thầy: "Thầy nhảy đi, con không biết bơi." Phải không à? Tại vì con nhảy xuống là thêm người nữa chết. Thầy nhảy xuống thì có gì thầy chết con chôn cho chứ có... Nghĩa là dù ta rất kính trọng thầy ta, nhưng mà điều mà thầy ta kêu ta cứu một cái người đang lúc nguy cơ khốn đó, ta không đủ sức làm. Phải không à? Không biết bơi hoặc bơi còn dở, ta nhảy xuống chưa cứu ta chết luôn. Thì cái chuyện mà chúng sinh đau khổ trên cuộc đời này, cái nghiệp của chúng sinh nó ập tới mà mức mà vây quanh khốn cùng thì cái khổ đó cũng không khác gì một người mà rớt xuống nước chết đuối.

[35:06]Mà việc ta cứu được cái người đó cũng không khác gì một cái người bơi cực kỳ giỏi mới dám nhảy xuống gồng gánh, một tay bơi, một tay kéo người đó, không cho người đó dìm mình mà bơi ào ào ào đi vô bờ cứu được. Mình không sao hết mà cứu được một mạng người thì đòi hỏi cái khả năng của mình phải làm sao? Phải làm sao? Phải giỏi, bơi giỏi gấp mười lần cái người té xuống nước, đúng không à? Chứ bơi giỏi gấp đôi họ cũng có thể bị họ lôi xuống chìm, đúng không Thành? Thành đây là chuyên gia bơi lặn biển, rất rành mấy cái chuyện đó. Là chúng trưởng đạo tràng ở Nha Trang của ta. Đứng lên chào huynh đệ đi.

[35:45]Người chuyên môn bơi lặn ở biển, bơi nát tan hết biển hết trơn.

[35:52]Nên ta phải bơi giỏi gấp mười lần ta mới dám xuống vớt một người, đúng không à? Thì bây giờ đây vậy, có một người họ rơi vào tình cảnh họ bị ung thư.

[36:05]Đi khám bệnh ra là rồi xong, ung thư phổi. Ung thư phổi thì bó tay rồi, rất hiếm người hết bệnh. Nhưng mà người này chỉ về lễ lạy Bồ Tát Quan Âm thôi. Lễ lạy khẩn thiết, sám hối, nói: "Kiếp xưa chắc con cũng có cái gì sai lầm thì bây giờ con xin sám hối và xin Bồ Tát cứu độ gia hộ cho con được hết bệnh và con hứa con tu hành, có bao nhiêu tiền con đem dồn hết cho thầy Lệ Trí làm cái tượng Quan Âm." Hứa như vậy.

[36:40]Lần sau đi khám, bác sĩ trợn mắt không tìm thấy tế bào ung thư nữa.

[36:47]Như vậy, cái khả năng của Bồ Tát Quan Âm để chữa được lành cho một cái người bị bệnh, nghĩa là cái năng lực của Bồ Tát, cái phước của Bồ Tát á phải gấp mười lần, gấp trăm lần cái nghiệp bệnh của người kia, đúng không à? Cái nghiệp bệnh ung thư là nằm chắc chết rồi, mà xin Ngài, Ngài gia hộ tự nhiên hết bệnh. Như vậy cái phước của Ngài phải gấp một trăm lần cái nghiệp của người kia mới chữa cho gia hộ cho người kia hết bệnh được, đúng không? Giống như mình phải biết bơi gấp mười lần mình giỏi mới nhảy xuống sông mà cứu một người được, không phải dễ. Và ở đây không phải chỉ có một người bị mắc bệnh ung thư

[37:25]niệm danh hiệu Bồ Tát Quan Âm nhờ Ngài cứu giúp. Đang trong một lúc ta đang ngồi đây, khắp nơi từ Mỹ qua tới Pháp, nơi nào có tín đồ đạo Phật Bắc Tông, từ Mỹ tới Pháp, New Zealand gì, Úc iếc gì, Trung Quốc, Hàn Quốc, Triều Tiên, Việt Nam gì, nhất là Việt Nam, đang kêu cứu Ngài. Trong một lúc ta đang ngồi đây, ta đang bình yên ngồi đây, ta đang hạnh phúc ngồi đây, ta đang bình yên như thế này thì đang có rất nhiều người trong cái cơn nguy khốn, khó khăn, bệnh tật, tai ương, họa ách đang niệm danh hiệu xin Ngài. Và ta nắm chắc một điều, 99,99999% được linh ứng, được thành tựu; còn sót 0,0000001 người không thành công.

[38:17]Cái chuyện mà tại sao không thành công lát nói. Mà cứ một người như vậy thì cái phước của Ngài phải gấp trăm lần cái người đó mới cứu được cái họa của người đó. Mà vô số người cùng lúc cầu nguyện, mà cũng không phải là cõi người mình, có khi ở những cõi khác nữa cũng đang lễ lạy cầu nguyện Ngài. Thì như vậy phước Ngài bao nhiêu? Là vô biên vô tận. Cái phước của Ngài như vậy Ngài mới cứu độ được hết. Nói như vậy cứu riết rồi Ngài hết không à? Giống như một người giàu. Một ông đó ổng làm địa chủ, ổng giàu cả cái vùng lớn mênh mông đó ai cũng phải nhờ ổng. Và tới cái mùa mà người ta đói rồi đó, tới mùa giáp hạt á, gặt lúa chưa được thì người ta đã hết lúa sạch trong nhà.

[39:08]Thì không còn một con đường nào khác ngoài việc tới cái ông địa chủ đó mà mượn hay xin. Và ông rất là hào phóng. Ừ, thì ổng nhìn cái kho lúa của ổng nó mênh mông mà cũng đang đi xuất khẩu gạo, ổng cũng là người xuất khẩu gạo đi khắp nơi. À, và ổng nhìn thấy cái số mình xuất khẩu gạo theo đúng hợp đồng thì nó cũng ổn. Mà bây giờ tất cả những người nông dân chung quanh khu vực của mình nào giờ họ làm lúa họ bán cho mình để mình đi xuất khẩu, bây giờ họ đói hết mà lúa mình để dư, gạo mình để dư, mà cái hợp đồng xuất khẩu cũng tạm ổn thì mắc gì mình giữ đó làm chi? Ổng đem ổng cho hoặc cho mượn tùy người, ổng phát hết hết ra.

[39:46]Mà cái phước ổng lớn đến nỗi cả một cái vùng mênh mông đó là ai cũng phải nhờ ổng, xin ổng, nhờ ổng giúp. Thì cái phước của ông này phải làm sao?

[39:56]Phước ổng lớn hơn tất cả những người dân đó cộng lại, đúng không ạ? Thì mới giúp được tất cả mọi người. Thì Bồ Tát Quan Âm cũng vậy. Cái phước của Ngài trùm hết cả tam giới, cả cõi trời cõi người, nên Ngài mới cứu độ được chúng sinh. Nên ta nghe cái chữ vô úy thí ba chữ đơn giản, nhưng ta phải hiểu đằng sau đó là vấn đề rất lớn. Lớn là gì? Lớn là vì nghiệp chúng sinh, chúng sinh mới rơi vào hoàn cảnh phải kinh sợ. Lớn là vì cái gì? Lớn là vì cái người mà để chặn được cái sự nguy hoàn cảnh nguy hiểm của chúng ta là cái người phước cực lớn, lớn hơn chúng ta. Và lớn là cái gì? Lớn vì vì quá nhiều người trong cái cơn tai ách đó

[40:39]cầu cứu, chứ không phải một người, hai người. Khắp nơi đều xin Ngài, mà thậm chí không trong cơn tai ách cũng xin Ngài.

[40:51]Không phải là trong cái nguy hiểm người ta cũng xin Ngài nhiều điều lắm. Ví dụ như bây giờ ta không có con, cầu con cũng xin Ngài. Rồi sợ thi rớt cũng xin Ngài. Rồi đi đâu đó nói sợ bị lây COVID cũng xin Ngài. Hôm nay con đi nghe giảng ở chùa Long Phước của thầy Lệ Trí, xin Bồ Tát gia hộ cho con đừng bị lây COVID cũng xin Ngài.

[41:22]Nói chung là không phải chuyện gặp nguy hiểm ta mới xin Bồ Tát mà xin đủ thứ chuyện trên đời. Và Ngài có cho không? Hầu như Ngài cho hết á. Cái sức mạnh của Bồ Tát Quan Âm ở chỗ khủng khiếp ở chỗ là dường như Ngài đáp ứng gần hết luôn, trừ rất ít trường hợp Ngài không đáp ứng nữa vì lý do đặc biệt.

[41:45]Thì ngay cái chỗ cái chỗ vô úy thí này là vấn đề rất là lớn ở phía sau. Ta phải hiểu cái thần lực của Ngài, công đức của Ngài phủ trùm. Nhưng thần lực của Ngài, công đức của Ngài phủ trùm chưa đáng sợ bằng cái trí tuệ của Ngài và sự giác ngộ của Ngài.

[42:05]Có đứa con gái lớn, bình thường không có gì, bữa nay sao cứ thấy nó cứ cầm điện thoại nó bấm bấm bấm bấm hoài, lát nó cười cười mỉm mỉm rồi cầm điện thoại bấm bấm bấm bấm, bà mẹ nghĩ sao?

[42:23]Ở đây ai là mẹ mà có con gái cứ cầm điện thoại bấm bấm rồi cười mỉm mỉm thì nghĩ làm sao? Không biết bữa nào nó lại thú nhận: Thôi mẹ cho con cưới, phải không ạ? Chỉ cầm cái điện thoại bấm bấm thôi là đủ thứ chuyện rắc rối phía sau đó rồi. Thầy mình không bấm bấm thì không sao hết á. Thì con gái mới lớn mà cầm điện thoại bấm bấm hoài là rất đáng lo, không biết nó bấm cái gì. Không biết nó bấm cái gì vì cái điện thoại nó cầm như riêng tư, mình lại gần nó cái nó bôi xóa, nó xóa tin à. Ngồi đó mà tưởng tượng và lo sợ thôi. Thì chúng sinh như vậy, ngồi yên lặng như vậy, nhưng trong bí mật âm thầm riêng tư của mỗi tâm hồn,

[43:01]mỗi con người ta có những lời cầu nguyện rất khác nhau, đúng không ạ? Ta có những lời cầu nguyện thầm kín của riêng tư mình, có những điều rất riêng mà không chia sẻ với ai được, không nói với ai, không tâm sự với ai được hết, chỉ tâm sự với Bồ Tát Quan Âm, với Phật thôi. Vì những điều đó nói ra không được.

[43:23]Chuyện gì mà nói ra không được? Nếu mà thầy nói ra được thì đã là nói ra được rồi, vì những chuyện không nói ra được. Ví dụ như chuyện gì? Ha ha, mỗi người tự biết. Có những chuyện éo le, ngang trái trong cuộc đời của mình cực kỳ không chia sẻ được với ai. Và Ngài ở đâu đó, Bồ Tát Quan Âm ở đâu đó ta không biết, nhưng mà mỗi một lời cầu nguyện thầm kín của chúng sinh trong cái riêng tư cõi lòng của mình, Ngài nghe được hết, biết được hết, cảm nhận được hết. Đây mới là gì? Là thần thông quảng đại, là trí tuệ, là sự giác ngộ của Bồ Tát Quan Âm.

[44:09]Cái cái những điều rất riêng tư mà cùng một lúc Ngài xử lý cả triệu triệu cái lời cầu nguyện đó, mà mỗi một người cầu nguyện là đều có một cách xử lý rất riêng, không ai giống ai cả. Cái đó mới thấy cái trí tuệ của một bậc Bồ Tát phi thường. Ví dụ như Hòa thượng Minh Thiện của ta đây, lúc đó là Ngài về cái chùa Thiên Châu, cái khúc đường đó rất nhiều tai nạn và có nhiều cái vong ngày xưa đã chết. Ngài có cái ước nguyện là dựng một tượng Bồ Tát Quan Âm để cứu khổ, giải oan cho cái vong ở đó. Để trong đầu thôi, trong đầu cứ tâm tâm nguyện nguyện như vậy, bất chợt một ngày có một người đem một cái tượng

[44:53]Bồ Tát Quan Âm bằng đá rất đẹp tới xin cúng. Hòa thượng mới hỏi: Tại sao đem cúng tui? Nói: Dạ đem cúng nhiều nơi không ai nhận hết. Ế quá đem tới Ngài, nhưng sự thật là Bồ Tát Quan Âm khiến cả. Ngài đọc ra được cái tâm, tâm lành, tâm cao thượng của Hòa thượng đây và Ngài lên phương án sắp xếp, sắp xếp là có một người thỉnh được một pho tượng rất là đẹp lại cho. Và làm giống như ngẫu nhiên, chứ mà từ cái ông kia ổng mua được pho tượng ổng đem thẳng lại đây ổng cúng thì nó trắng trợn quá. Bồ Tát lúc nào cũng kín đáo, không bao giờ lộ liễu cái thần thông của mình, nên Ngài giả vờ đẩy cho ổng đi qua chùa này

[45:33]ổng cúng, chùa kia ổng cúng, ai cũng từ chối hết trơn á. Trúng trúng trúng rồi đi qua mấy thầy này cúng chê hết, ai cũng chê hết, tới đây cuối cùng nhận. Thì thầy rất là mừng: Ồ! Nhưng mà hỏi tại sao? Nói: Vì đi mấy chùa kia không ai nhận. Thì nghe cái câu mà các chùa kia không ai nhận cái thì thầy dịu lòng xuống, thầy cũng tin là có sự linh ứng nhưng mà cũng không không quá không quá ngất xỉu. Tại vì nếu ổng nói: Dạ con có mua được bồ pho tượng Bồ Tát Quan Âm, đêm hôm nằm mơ thấy kêu tới đem cho chỗ thầy Minh Thiện cúng, thì thầy nghe câu đó thầy xỉu, tội nghiệp thầy, thầy còn phải lo chuyện Giáo hội.

[46:09]Nên là Bồ Tát mới khiến cho qua nhiều chùa từ chối tới gặp thầy cúng. Thì cái chuyện mà để sắp xếp có một người mua được pho tượng, sắp xếp cho người đó đem cúng hết chùa này chùa kia cuối cùng đưa tới thầy, cái đó là cái gì? Trí tuệ của một bậc Bồ Tát khi hóa độ chúng sinh một cách tinh tế, khéo léo, cẩn thận từng chút một mà cái tâm loài người phàm phu của chúng ta vì không bao giờ nghĩ ra được. Ta cho ai cái gì ta muốn: Tui đây, tiền của tui đây cho anh nè, nhớ nha, nhớ nói mọi người tui cho anh tiền nha. Mình là cái tâm phàm phu, còn Bồ Tát không có chuyện đó. Ngài cho mình mà mình cứ nhận được cái ân sủng của Ngài

[46:50]rồi mà cứ hoang mang không biết phải Ngài không? Vì cái cách Ngài cho nó nhẹ nhàng, êm ái, tế nhị, sâu xa, cẩn thận như vậy. Đó là cái trí tuệ của Bồ Tát Quan Âm mà chúng ta học hoài không bao giờ hết. Mình làm cái gì cứ coi chứ vụng về, thô tháo và hời hợt, còn Bồ Tát làm điều gì hết sức cẩn thận. Rồi sau đó có tượng rồi không có chỗ để thì lòng của Hòa thượng mới mơ ước có một cái Quan Âm các đặt cái tượng lên. Trong cái lòng nghĩ, thì đúng ra như vậy á, đáp ứng Ngài, có người đem tiền hỏi: Thầy cần nhiêu? Cần 250 triệu. Rồi rồi tui móc 250 triệu liền, thì thầy sẽ ngất xỉu, không lo việc Giáo hội được.

[47:37]Nên Bồ Tát mới khiến có một người tới hỏi: Sao cái tượng chưa có chỗ để? Thôi con cúng thầy 1 triệu... gì mấy bao nhiêu sư? Dạ, 1.864.000. Thầy em nhớ tới chữ 4.000 nè. Cái trí này là gọi là trí cái trí tuệ tuyệt đỉnh của Việt Nam gì đó, ghê gì đó.

[48:01]Tới chữ 4.000 mà còn nhớ thì bó tay ổng thiệt á. Bởi nhớ đừng ai mượn nợ thầy nha, thầy nhớ tới con con số lẻ đó.

[48:10]Thì cúng nhiêu đó đâu đủ làm. Rồi sau đó mới có một người khác tới cúng đủ con số đó luôn. Mà nói câu chuyện nó dài dòng hơn nhưng đại khái là thầy thành tựu được cái ước nguyện ở trong lòng mình về Bồ Tát Quan Âm, mà Ngài hóa độ cái chuyện này không phải là chuyện nguy cấp, cũng không phải là vô úy thí, mà chỉ là những ước nguyện nhiều mặt, nhiều phương diện trong cuộc sống này mà đều được Bồ Tát đáp ứng, mà Ngài đáp ứng một cách kín đáo và khéo léo. Đó là cái trí tuệ của Ngài, chứ còn mình gặp một trường hợp giống như vậy mình xử lý sẽ không bao giờ tế nhị, khéo léo, cẩn thận được như vậy. Mà đó mới là một chuyện á, còn vô số điều lắt léo trong cuộc sống này.

[48:54]Ví dụ như tình duyên ngang trái, lỡ bước sang ngang,

[49:00]thất tình, tuyệt vọng, rồi đi tu, ví dụ vậy. Nhiều chuyện kinh khủng nữa, và nếu ta cầu đến cái sự hóa độ của Ngài, Ngài cũng sẽ sắp xếp một cách hết sức là tinh tế, khéo léo. Đó là cái trí tuệ của Ngài trong cái hóa độ chúng sinh. Để ta hiểu về cái sự giác ngộ của Ngài là phi thường, quảng đại. Ngài ở đâu trong cõi giới này ta không biết, nhưng mà cõi nào cần, Ngài xuất hiện. Khắp nơi trong pháp giới có những lời ước nguyện bí mật trong tâm ta của mỗi người, Ngài biết hết. Và mỗi khi Ngài xử lý để cứu độ chúng sinh như vậy, đều xử lý một cách làm sao? Cực kỳ khéo léo, tinh tế, cẩn thận, kín đáo.

[49:43]Ta không thể nào mà hiểu hết được, đó. Và như vậy với cái thần lực của Ngài, cái công đức của Ngài, trí tuệ của Ngài như vậy, Ngài cứu độ chúng sinh có ý đồ chứ Ngài không có cứu độ không. Ngài có ý đồ cũng sâu xa lắm. Vì ba điều: Khi ta cầu nguyện Ngài mà được linh ứng, vì điều thứ nhất, Ngài cho ta mượn cái phước của Ngài qua cơn nguy khốn, chứ lúc đó ta đã hết phước rồi. Ta mới bị rơi vào hoàn cảnh bức ngặt, khốn cùng, nguy hiểm, hết phước rồi. Nhưng mà vì ta có tưởng tới Ngài, Ngài lấy cái phước của Ngài cho ta mượn giống như ta vay ngân hàng. Nhưng mà bởi vì tại sao lại Ngài lại cho ta mượn?

[50:33]Giống như ta cầm cái sổ ta đem cho vay ngân hàng, nhưng mà ngân hàng chưa chắc cho ta vay. Chỉ khi nào họ hỏi ta rất cặn kẽ: Ta làm cái gì? Mỗi tháng thu nhập bao nhiêu? Có khả năng trả lãi mỗi tháng không? Thì ngân hàng họ mới duyệt cho vay ạ. Chứ còn khơi khơi ta lại ta vay ngân hàng, đâu có ngân hàng nào cho ta vay? Thì ta cũng vậy, khi ta cầu Bồ Tát và Bồ Tát cho ta mượn phước để qua cơn nguy khốn chỉ bởi vì ngài thấy ta có sổ đỏ. Ấy xin lỗi, không phải ngài... Chỉ thấy vì, chỉ bởi vì ngài thấy ta trước đây có, từng có thiện tâm, có thiện tâm tu hành. Nhưng mà trước kia nữa, xa xưa trong quá khứ ta gây một

[51:13]cái nghiệp gì nó hơi nặng, bây giờ phải trả quả. Nhưng trong khoảng giữa này ta có phát tâm tu hành, ta có đến chùa của thầy Lệ Trí, có lễ Phật, có ăn cơm, có xuống nấu cơm công quả, quét chùa, có đi dọn cầu tiêu. Được, thôi duyệt, duyệt cho vay. Nên khi ta gặp cái nguy khốn, ta niệm danh hiệu ngài, ngài cứu giúp ta liền. Vì ngài cho ta mượn phước là cái thứ nhất. Cái thứ hai, trước đây ngài thấy ta rõ ràng có, có thiện tâm, có đi vô chùa quét cầu tiêu. Thầy vừa nói đi qu- vô chùa quét cầu tiêu đừng đùa nha, chuyện nó lớn lắm á. Đạo đức đó lớn lắm á. Và thứ ba, ngài cho ta mượn phước, ngài cứu giúp ta để gieo duyên lành tu tập cho ta về sau.

[52:01]Cái thứ ba này mới là cái quan trọng, chứ không phải ngài cứu cho ta qua cơn nguy khốn rồi ta đi chơi. Sau khi ta mắc nợ ngài rồi thì đừng hòng thoát khỏi chùa thầy Lệ Trí nữa. Đi đâu làm gì cũng phải về chùa trả nợ. Nhớ như vậy. Biết bao nhiêu người đang ngồi ở đây, kiếp xưa đã từng là tăng ni, thầy tu. Thầy nói thẳng một câu như vậy. Nhưng vì ta có một cái gì đó, một nghiệp gì đó, bây giờ phải ra ngoài làm cư sĩ. Nhưng ra ngoài làm cư sĩ thì cư, không bao giờ trốn khỏi chùa được. Chùa vẫn là cái gì nằm thẳm sâu trong cõi lòng của mình, làm cho ta vẫn yêu mến, vẫn nhớ thương, ta hướng về. Đúng không ạ?

[52:49]Đi đâu muôn phương trời, góc biển nào vậy, trong lòng nó ray rứt thẳm sâu. Trái tim này vẫn thuộc về sư, chứ không phải thuộc về anh đâu nha, trái tim này vẫn thuộc về sư. Đó thì mấy thầy đây cũng vậy, mấy thầy, các cô đây cũng vậy, nếu tu tiến thì cứ đời sau cái công đức lớn dần, lớn dần, có khi lên ra cõi trời, có khi chứng thánh, mà hễ sai một cái xuống kia ngồi. Tu sai cái mấy thầy xuống đó ngồi kiếp sau. Ráng tu cho tinh tấn là vậy, để kiếp sau cứ lên đây ngồi, lên trên này ngồi, lên ngồi nha. Còn những người này có cái gì sơ suất á, ráng quay trở lại giùm thầy nha. Ráng quay, ráng mai mốt từ từ không có ngồi

[53:32]đây nữa, ngồi lên trên hết nha, ráng tu. Nhưng mà dù không phải là người xuất gia, nhưng hãy nhìn vào cái trái tim mình, nhìn vào trong đáy tim của mình, thấy trong đó cái gì? Là tiếng chuông chùa, tiếng kinh tụng buổi chiều tối nha, bóng ca sa bay phất phơ lúc hoàng hôn, ánh Phật đài rực rỡ trong đêm rằm, lời kinh tụng văng vẳng theo mây trôi. Rõ ràng là như vậy. Rõ ràng trong đáy tâm hồn ta, chùa vẫn là cái thiêng liêng, dù bây giờ mình đang làm thân cư sĩ. Đó là lý do ta đã mắc nợ chùa, mắc nợ Tam Bảo, không bao giờ trốn đi đâu được. Thời ta nhớ, có hai người mà ta đừng hòng trốn khi ta đã mắc nợ:

[54:30]Một là xã hội đen. Ta mắc nợ một cái rồi ta trốn đi đâu nó cũng tới nó tìm ta hết. Nếu nó nhẹ nhất thì nó quăng mắm tôm trước cửa mình, mà nặng hơn nữa thì nó xin một cái vành tai nếu ta không trả nợ. Và người thứ hai mà ta mắc nợ rồi ta đừng hòng trốn: Bồ Tát Quán Thế Âm kính yêu của ta.

[54:55]Ta niệm danh hiệu ngài để cầu ngài cứu khổ một lần rồi thì I am sorry, mắc nợ ngài mãi mãi, đừng hòng trốn. Chỉ còn một con đường duy nhất là gì? Tu mà thôi. Và ngài độ cho ta tu cho tới khi giác ngộ luôn để ta trả cái món nợ cho ngài. Ngài đòi nợ bằng cách đó. Xã hội đen thì đòi nợ ta bằng cánh tai, cái vành tai, nhưng mà Bồ Tát Quán Âm thì đòi nợ ta bằng quả vị A La Hán. Ta phải tu cho tới khi nào ta chứng đạo hoàn toàn để trả nợ ngài. Đó là ba điều mà khi ngài cứu độ ta: Một là ngài cho ta mượn phước vì phước ngài là vô tận; hai, chỉ bởi vì ta thật sự có thiện tâm trước đó, dù kiếp xưa ta có gây cái cái nghiệp gì hơi nặng nhưng ta có thiện tâm;

[55:49]ba, ngài gieo duyên cho ta để ta tu hành giác ngộ về sau.

[55:57]Vậy bây giờ vậy, ở đây có ai xài bùa không ạ? Coi chừng có lén lén đi thầy bùa, thầy bùa đó nha. Có đó, nghe bùa buôn may bán đắt rồi tình yêu, duyên nợ gì đó cũng đi thỉnh á. Không có bùa nào bằng bùa Bồ Tát Quán Thế Âm cả. Bùa nào cũng thua bùa Bồ Tát Quán Thế Âm. Ta niệm cái danh hiệu: "Nam Mô Đại Từ Đại Bi Linh Cảm Cứu Khổ Quán Thế Âm Bồ Tát", đó là câu đại thần chú, đó là đại linh chú. Ta niệm cái câu đó rồi thì giống như ta được một cái sự bảo hộ vậy đó. Leo lên xe, trước khi nổ máy xe, vui lòng niệm Bồ Tát Quán Âm. Hoặc ta đi chung một cái đoàn xe, vui lòng niệm Bồ Tát Quán Âm. Vì cái bùa đó sẽ che chở không phải riêng ta,

[56:58]mà che chở cả cái đoàn người trên cùng chuyến đi với ta. Hoặc là ta đi qua một cung đường nào, ta cũng cầu nguyện danh hiệu ngài, cầu cho cung đường này đừng có tai nạn, tức là ta không cầu cho riêng ta. Nhưng ta dùng cái bùa, ta dùng câu thần chú "Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát" để ta che chở cho mọi người chung quanh ta. Nên cái câu mà "Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát" là một đại thần chú, một đại minh chú. Nếu ta biết thường xuyên trì tụng là ta không sợ. Bây giờ ví dụ có gặp ông thầy bùa nào vậy, không, kệ ổng. Mình chỉ lấy cái đạo đức, cái thiện tâm và cần danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm thì ta có thể tiếp xúc với các thầy bùa,

[57:48]thầy pháp, thầy chú gì không còn lo sợ vì có sự thần lực của ngài che chở cho ta.

[57:58]Người ta hỏi: Tuy nhiên, để có thể cái lời niệm danh hiệu ngài, cái lời cầu nguyện tới ngài được linh ứng bởi vì ta có cái cảm xúc đối với ngài, ta có cái lòng tôn kính đối với ngài thì cái câu niệm Bồ Tát Quán Thế Âm sẽ cực kỳ linh ứng. Còn cái người mà niệm danh hiệu: "Nam mô Bồ Tát Quán Thế Âm, Nam mô Bồ Tát Quán Thế Âm", niệm mà giống như chà giặc mà trong lòng không có cảm xúc thì rất ít được linh ứng. Ta không có cái cảm xúc, không có sự kính yêu ngài thì cái cảm ứng rất là thấp.

[58:36]Còn nếu ta niệm danh hiệu ngài mà có cái lòng, có cái cảm xúc, có lòng yêu kính ngài thì sự cảm ứng, sự linh ứng rất là mạnh. Nhưng làm sao để ta có thể kính yêu ngài trong khi ngài là nhân vật không có thật trong lịch sử?

[58:55]Đây là điều rất là khó. Nên ta phải mổ xẻ chỗ này ra. Như vậy như có một cái bà cụ, bả cũng hay cúng dường nơi này nơi kia và bả thường hay cúng dường các pháp hội A Di Đà. Một lần đó bả lên bả dự cái lễ thành đạo ở trên chùa mình. Dự xong về bà mới nói thế này, bà nói: "Đúng là dự một cái lễ đối với một Đức Phật có thật, cảm xúc của bà rất là mạnh. Còn nào giờ bà không biết, bà cứ được nghe truyền dạy niệm Phật Di Đà vãng sanh thì bà cũng nghe rồi bà cũng ủng hộ, rồi bà cũng giàu rồi bà phát tâm. Nhưng là bà nói chỉ đến khi lên dự cái lễ thành đạo Đức Phật Thích Ca, Đức Phật có thật trong lịch sử, cảm xúc bà dâng trào".

[59:37]Ta nhớ như vậy. Nên vậy giống như vậy chúng ta vậy bây giờ ta ngồi nghe lại ta nghe tới Tổ Bách Trượng, Tổ Mã Tổ Đạo Nhất, à ngài Quy Sơn, ngài Lâm Tế, Tôn giả Mục Kiền Liên, Tôn giả Xá Lợi Phất, Tôn giả A Nan, Tôn giả La Hầu La, ta có cảm xúc liền. Vì các vị đó là những người có thật trong lịch sử, những vị thánh có thật trong lịch sử loài người, ta cảm xúc. Nhưng mà đối với Bồ Tát Quán Âm thường ta ít có cảm xúc sâu sắc chỉ bởi vì ngài không có thật trong lịch sử. Mà nếu không có cảm xúc thì cái lời cầu nguyện của ta đối với ngài không có linh ứng mấy.

[1:00:19]Nên để có thể mà hiểu được Ngài, để tôn kính Ngài mới có cảm xúc, đây là một vấn đề rất là lớn. Chỉ khi nào ta có tu tập, ta mới hiểu được Ngài. Mà ta hiểu được Ngài qua cái gì? Qua, thứ nhất là Phẩm Phổ Môn, ở cái chỗ mà nói: "Muốn hiện thân gì thì Ngài tự tại hiện thân đó." Vì ta hiểu nhân quả, bởi vì phước Ngài trùm ba cõi, kể cả vua cõi Trời cũng phải thua Ngài, nên Ngài muốn hiện thân vua cõi Trời thì hiện thân vua cõi Trời, không ai dám đụng tới cả. Vì phước Ngài lớn hơn vua cõi Trời. Muốn muốn hiện thân quốc vương, hiện thân quốc vương, không ai dám bắt, vì phước Ngài lớn hơn cả quốc vương.

[1:00:58]Muốn hiện thân Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, đồng nam, đồng nữ, cư sĩ nam, cư sĩ nữ, hiện được hết, bởi vì phước Ngài lớn hơn tất cả chúng sinh trong ba cõi. Đó là ta hiểu về nhân quả, là một cái. Thứ hai, ta hiểu về sự tâm linh giác ngộ tu hành của Ngài. Mà muốn để hiểu được cái sự tâm linh giác ngộ của Ngài, ta phải tu thiền, ta mới hiểu Ngài, dựa vào cuốn kinh Lăng Nghiêm, chỗ pháp môn nhĩ căn viên thông. Nhĩ căn viên thông là gì? Ở đây ai biết? Không đơn giản. Vì thường á, tất cả chúng ta có cái suy nghĩ, chúng ta có cái giác quan và chúng ta tiếp xúc với ngoại cảnh, sau đó cái não ta nó xào nấu tất cả mọi

[1:01:44]dữ liệu trong cuộc sống này thành vô số vọng tưởng. Ta nhìn ông thầy này, ta nhìn người cư sĩ kia, ta nhìn mây trôi, nước chảy, xe chạy, đủ thứ chuyện trên đời và nó vô trong đầu ta nó xào nấu lại trong đó, nó xào qua xào lại cả ngày cả đêm, gọi là vọng tưởng. Thì bây giờ vậy, âm thanh hay sắc tướng cũng là một cái ta nhìn ở bên ngoài. Giờ ta tu làm sao để không đóng, không diệt hết cái căn, các giác quan, mà không tiếp nhận ngoại cảnh nữa.

[1:02:17]Mà không tiếp nhận tức là đầu sao? Trống không. Tu đến mức đó dễ không? Tu đến khi mà lòng trống không, không vọng tưởng, dễ không à? Không dễ, không? Vậy mà tới nước đó rồi, vẫn còn cách xa một trùng dương. Chứ tới cảnh giới mà tâm trống không rồi, vẫn chưa phải là sự giác ngộ. Vì cái cảnh giới thanh tịnh trống không đó, đối với những bậc đắc đạo nó vẫn là ngoại cảnh. Điều này thầy sẽ nói trong cái Tứ niệm xứ ba trong đêm giao thừa sắp tới một lần nữa, nên hôm nay thì chưa phân tích. Mà ta có tu hành vất vả mới hiểu được cái ý nghĩa nhĩ căn viên thông, là vị Bồ Tát nơi cái sự tỉnh giác của mình hoàn toàn thanh tịnh tự tại, tuyệt đối.

[1:03:10]Chỗ này vĩ đại lắm, mà ta phải vất vả tu hành ta mới hiểu. Và khi hiểu đó rồi, ta mới thấy cái sự vĩ đại trong cái sự giác ngộ của Bồ Tát Quan Âm.

[1:03:21]Ta hiểu được rồi, giống như là Mã Tổ Đạo Nhất nói: "Khi nào ông hớp một ngụm mà hết cạn nước Tây Giang, ta sẽ nói cho ông nghe thế nào là đại ý của Phật pháp." Những cái, những cái điều nó khủng khiếp mà mình phải hiểu cho được thì mới thấy cái sự vĩ đại của sự giác ngộ, hay là một cái cái hạt cải chứa đựng cả tam thiên đại thiên thế giới. Những cái điều đó khủng khiếp, vĩ đại, phải thấy được mới thấy được sự vĩ đại của Bồ Tát Quan Âm, uy đức tự tại, thanh tịnh trùm ba cõi.

[1:03:59]Rồi thấy được rồi, kính yêu Ngài rồi nhưng mà cũng chưa hết. Khi nào ta sống được một phần của hạnh Bồ Tát Quan Âm, là không sống cho mình nữa, chỉ sống vì mọi người thôi. Lúc nào cũng yêu thương tất cả mọi người, lúc nào cũng tìm cách hỗ trợ, giúp đỡ mọi người và dám dấn thân vào nơi nguy hiểm để cứu giúp người khác, thì lúc đó ta càng yêu kính hạnh Bồ Tát Quan Âm. Chứ còn mình cứ nhút nhát ai khổ đâu mình quay lưng, người đó không bao giờ hiểu được Bồ Tát Quan Âm, không bao giờ thấy được cái sự vất vả, sự vĩ đại trong cái việc cứu độ chúng sinh. Cho nên để yêu kính Ngài, ta phải tu theo cái hạnh của Ngài, tu trong thiền định,

[1:04:38]làm bao nhiêu điều công đức, cứu giúp chúng sinh và dám lăn xả vào nơi nguy hiểm để cứu độ người trong cơn nguy hiểm. Ta phải đi theo bước chân của Ngài, đi theo được bước chân của Ngài từng chút, từng chút, ta mới hiểu được sự vĩ đại của Ngài.

[1:04:55]Và bây giờ, hết giờ rồi, thôi thầy xin phép kết luận một chút. Khi ta gặp một người Nam tông Theravada, tại vì mấy ổng nói: "Bên Theravada trong kinh Nikaya không có Bồ Tát Quan Âm." Thì có lần nọ thầy gặp một vị sư Nam tông, ông cũng là một học giả uyên bác. Thầy mới nói: "Đối với tôi, Đức bà Da Du Đà La chính là Bồ Tát Quan Âm." Ông ngỡ ngàng.

[1:05:27]Tại vì mới nói một cái người Đức Phật xuất hiện giữa đời là một đại sự nhân duyên phải không ạ? Thì cái người mà được gọi là làm vợ của thái tử, hỗ trợ cho Ngài trong bước đường Ngài tu hành, hỗ trợ cho Ngài âm thầm phía sau trên con đường giáo hóa của Ngài, là Đức bà Da Du Đà La với ngài La Hầu La. Được cái nhân duyên mà gọi là làm vợ thái tử và làm con thái tử, nhân duyên đó có nhỏ không? Không bao giờ, nhân duyên đó cực kỳ lớn! Thì con người mà nhân duyên cực kỳ lớn đó không bao giờ là một người tầm thường, chỉ lớn lên làm một công nương rồi sau này theo Phật tu hành rồi cái đắc đạo không nghe gì hết, không có chuyện đó đâu.

[1:06:07]Công hạnh của Đức bà Da Du Đà La vô cùng vĩ đại, nhưng Ngài phải kín đáo, khéo léo, cẩn thận, tinh tế, không ai biết gì về mình, không để cho ai biết gì về mình, để hỗ trợ thôi. Bởi vì sao? Vì nó sẽ sinh ra một cái cái hiệu ứng kỳ: À, đây là Phật ông, đây là Phật bà, hai người này trước đây vợ chồng nhau. Cái câu đó nghe phản cảm liền. Cho nên là Đức bà dù là có vô số công hạnh để giáo hóa chúng sinh, nhưng lúc nào cũng kín đáo giấu mặt. Điều này kinh kệ, sử sách, luận bản gì không bao giờ ghi ra được, mà ta chỉ cảm nhận điều đó bằng trí tuệ của mình mà thôi. Do đó tôi nói với sư vậy: "Đối với tôi, Bồ Tát Quan Âm chính là Đức bà Da Du Đà La."

[1:06:57]Và khi mình nói như vậy, mình hiểu như vậy, ta kết nối lại giữa Nam tông và Bắc tông thành một mối liền, hai bên vui với nhau liền. Sư huynh đồng ý em không? Mô Phật! Sư huynh cho kết luận giùm em buổi buổi buổi pháp thoại hôm nay luôn đi. Sư huynh kết luận luôn.

[1:07:20]Ngày mai thầy cũng sẽ nói chuyện tiếp với Phật tử, nhưng tối hôm nay được ngồi đây lắng nghe, cảm nhận với những lời pháp thoại của Hòa thượng Thích Chân Quang. Có lẽ thầy cùng với Tăng Ni, Phật tử trong thính chúng chúng ta cảm nhận được những điều

[1:07:46]nó rất là mới trong cái suy nghĩ của chúng ta. Nhưng thầy mong rằng những cái mới đó cũng là những cái bổ sung để chúng ta nâng tầm hiểu biết mình nhiều hơn theo cái

[1:08:06]thói quen mà chúng ta đã được quý chư tôn đức, quý huynh đệ chia sẻ từ lâu.

[1:08:15]Khi bắt đầu buổi nói chuyện thầy có nhắc đến hai cái yếu tố từ bi và trí tuệ,

[1:08:23]thì Hòa thượng Thích Chân Quang cũng triển khai những cái tinh thần này và cho chúng ta thấy những sự cơ cảm, sự linh ứng đối với Bồ Tát Quán Thế Âm. Vì sao có những người nguyện cầu thì được, có những người nguyện cầu không được?

[1:08:44]Chiều thầy cũng kể chuyện một chút xíu lòng mình cảm kích hạnh Quán Âm và ước mơ có một tượng Quán Âm để giải oan kết nơi cái cua tử thần ở góc chùa của thầy á. Vì không ngờ thầy đem lên đây thầy lại nói nữa, Hòa thượng lại nói ở đây nữa. Đó là cái điều có thật thưa quý Phật tử. Và thầy cũng biết rất nhiều chư tôn đức

[1:09:12]và các Phật tử trong cái khổ nạn tột cùng thì lại trỗi lên một cái lòng chí thành, chí thiết cầu sự cứu giúp của chư Bồ Tát và đặc biệt trong đó là đấng Bồ Tát Quán Thế Âm

[1:09:30]thì lại được cứu giúp. Và thầy rất thích Hòa thượng Chân Quang nói: "Ngài cứu giúp chúng ta bằng cách cho chúng ta mượn cái phước của Ngài." Quý Phật tử lưu ý điều này. Và khi mượn cái phước đó thì mình cũng phải làm thế nào để mình trả cái phước. Và cuối cùng á, chúng ta sẽ trả cái phước khi nào chúng ta có thể tu tập chứng đắc đến sự an lạc và chúng ta cũng có thể đem cái công hạnh

[1:10:07]từ bi để cứu giúp cho mình và cho chúng sinh vạn loài, đó mới thật sự là điều mà...

[1:10:14]Khi chúng ta thờ tôn tượng Bồ Tát Quan Thế Âm và đảnh lễ Bồ Tát Quan Thế Âm.

[1:10:24]Thế thì tối hôm nay, ngồi đây lắng nghe những cái ý tưởng có thể Hòa thượng cũng muốn chia sẻ chúng ta một pháp môn tu tập thật sự tích cực

[1:10:40]để trọn cái ý nghĩa là có tự và có tha. Như thế, chúng ta thờ Bồ Tát Quan Âm hay Bồ Tát Địa Tạng hay là chư Bồ Tát nào, cho dù trong truyền thống kinh điển Nam truyền không có, nhưng có ở kinh điển Bắc truyền. Từ nguyên thủy chưa có, nhưng mà nó đã phát triển trong Phật giáo phát triển với một cái pháp phương tiện quy hóa mọi người phát triển đức tính từ bi, trí tuệ của mình. Thì thầy rất mong rằng Phật tử sau buổi thính pháp này hãy đắn đo, suy nghĩ để tiếp nhận những ý chỉ cao quý mà Hòa thượng, Pháp sư đã truyền trao cho chúng ta. Rất mong Tăng Ni, Phật tử hướng về ngài có một lời nguyện cầu, chúc cho Hòa thượng,

[1:11:35]Pháp sư được thân tâm thường an lạc, Phật sự viên thành, chúng sanh dị độ. Nam Mô A Di Đà Phật. Ờ, nhớ cái công trình của này, công trình mà làm tôn tượng Quán Thế Âm này rất là lâu dài và cũng rất là tốn kém. Do đó là chúng ta ghi nhận và nhớ xin số điện thoại và xin số tài khoản của của thầy Lệ Trí nha. Xin sau này khi nào mình có tiền mình cứ phát tâm mình gửi về cho thầy để thầy làm. Và tất cả chúng ta đều đồng lòng, nói như Hòa thượng, ai cũng thành tâm mong cho cái công trình Phật sự lớn lao này được thành tựu viên mãn nha.

[1:12:45]Này em bé ơi, bên kia sông là ánh mặt trời. Bên đây sông ai chờ mong ai? Trên hư không mây ngàn trôi mãi.