[0:00]Giờ chúng con xin kính thỉnh trên Sư phụ cùng toàn thể hội chúng khởi thân niệm Phật cầu gia hộ. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:23]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:38]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:52]Chúng con xin thành kính cung thỉnh trên Sư phụ an tọa, cùng quý thầy cô và tất cả huynh đệ Phật tử đồng an tọa.
[1:07]Dạ, Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch trên Sư phụ, quý thầy cô và tất cả huynh đệ. Dạ, con xin đại diện được phép được đọc lần lượt các câu hỏi xin kính thỉnh trên Sư phụ giải đáp giùm chúng con. Dạ, câu hỏi đầu tiên là: "Dạ, con ngồi thiền mà lưng của con cứ dần dần chùng xuống, con dựng thẳng lưng lên một lát sau con bị vọng tưởng dẫn đi là lưng con lại bị chùng xuống á. Con kính mong trên Sư phụ chỉ dạy cho chúng con."
[1:40]Cái lưng nó tượng trưng cho cái cái lực của con người. Thì cái người mình mà khỏe thì cái lưng nó dễ thẳng, lực mình yếu cái lưng nó cong. Mà lực thì nó có hai loại lực, một loại là ngoại lực và một loại là nội lực. Thì cái ví dụ cái người họ khỏe mạnh á, cái người mà khỏe mạnh...
[2:04]Được chưa con? Thì cái người mà họ khỏe mạnh á, họ ngồi thiền họ cũng dễ thẳng lưng. Còn chúng ta mới ngồi, mình chưa có ví dụ như mình là người yếu, mình không có ngoại lực, không có cơ bắp, mình cũng chưa có nội lực thì ngồi mà vọng tưởng là lát nó chùng cái lưng liền. Không có cái lực gì chống đỡ thì cái lưng mình sẽ cong. Lúc đó mình, cái người mà có ý chí á, thực ra ý chí cũng là người có căn tu mới có ý chí. Người có ý chí cứ ráng giữ, ráng ráng giữ cái lưng cho thẳng thì rất là mau mệt, vì nó là hao năng lượng. Cho nên ráng gượng giữ cái lưng cho thẳng, ngồi ráng giữ lưng thì cũng là có ý chí nhưng lát mệt.
[2:46]Còn nếu mà ta tu lâu rồi, cái tâm mình để dưới bụng, cái nội lực nó xuất hiện. Mà tâm để nhẹ nhàng dưới bụng, không có cố gắng, không giằng, không ép, từ từ nhiều khi chừng ba ngày tới bảy ngày. Còn nếu mình để ở phía sau xương cùng này thì một, hai, ba lưng thẳng lên liền. Cái xương cùng nó lạ vậy, nó có làm nội lực nó dựng cái lưng lên liền, mình không cần cố gắng. Nhưng mà để cái cái tâm mình ở xương cùng thì nó không phải là thiền. Nó chỉ là nội nội lực, nội công thôi. Còn thiền thì nó thường ở phía trước hay lơ lửng ở trong hoặc là dưới đáy bụng. Dưới đáy bụng cũng là khí công. Thì ở phía trước, cho nên là mình mà để được ở cái khoảng lơ lửng
[3:29]ở trong bụng dưới hoặc là ở phía trước da cũng một phần. Phía trước da thì nó yếu hơn nhưng mà lơ lửng thì nó bụng mạnh hơn. Tự động nó xuất hiện một cái nội lực, nó dựng cái lưng mình lên, mình không hề cố gắng. Mình cứ ngồi bình thường, không cố gắng gì cả nhưng mà lưng nó cứ đứng sừng sững sừng sững á. Đó là giai đoạn mình có nội lực. Một câu mà nói hoài mất thời gian, thấy có bộ còn nhiều câu, hỏi đi con. Dạ, câu hỏi tiếp theo là: "Dạ, khi ngồi thiền con hay bị vọng tưởng, suy nghĩ kéo đi, mỗi lần con sực nhớ được thì con quay lại để ý nơi bụng, ngực. Con thấy khi bị chạy theo suy nghĩ, vượn vọng tưởng, bụng bị gồng lên,
[4:05]con mới buông lỏng, vừa thở ra vừa buông lỏng, nhưng lại bị cố ý điều khiển. Xin trên Sư phụ chỉ dạy."
[4:14]Khoảng thế giới này có mấy tỷ người hiện nay ta? Tám tỷ hả? Thì hết chín tỷ người ngồi thiền bị vọng tưởng rồi con.
[4:25]Cái số người mà ngồi thiền mà ít vọng tưởng á, người đó có phước và hiếm. Thì nó có hai loại để mà nhiếp được tâm. Một loại là Thanh văn và một loại Duyên giác. Loại Thanh văn á, tức là người học rất là căn bản. Từ căn bản cái phương pháp thiền, biết tạo phước, tạo công đức, hiểu rõ tâm thức, hiểu rõ phép dụng công Chỉ - Quán, mình dụng công đúng, từ từ tâm nó nhiếp dần, nhiếp dần, mình làm chủ được đường đi của mình và sau này mình dạy cho người khác rất là kỹ. Còn cái người Duyên giác á là cái người họ có duyên tu đời trước á. Giờ tu sơ sơ nó lọt chứng mất tiêu rồi, vào lọt kết quả tâm yên luôn.
[5:11]Rất là khổ, Phật pháp khổ vì mấy người này. Họ không biết dạy ai. Nói chuyện lát toàn khoe kết quả và cũng không làm cho người khác tu được. Mà bản thân họ thì có kết quả, bản thân họ rất là đáng nể, đáng kính nhưng không dạy ai được, là một cái xui á. Nên hai hạng. Thì cái mà mình ngồi thiền mà không có cứ cứ bị vọng tưởng nhiều, thì giống như ta nói là ta coi lại coi mình đang đứng ở đâu. Bước thứ nhất của việc tu tập là gì?
[5:51]Đạo đức, công đức, khí công. Rồi gì nữa? Bắt đầu Chỉ. Phương pháp Chỉ mình nắm kỹ chưa? Những cái kỹ thuật để kềm giữ tâm á. Kềm nhưng nói kềm chứ không có dằn ép đâu. Mình nói hễ mình dụng công cái đó thì tự nhiên tâm nó yên, vậy đó, gọi là phép Chỉ. Mình không cần lý luận. Phép Chỉ là cái phép mà không cần lý luận. Ví dụ mình thở theo dõi hơi thở, hoặc là thở chậm, ít, êm, hoặc là để ý dưới bụng, hoặc để ý toàn thân. Đó đều là những kỹ thuật. Mà d- mà mình không biết mình thuộc căn cơ nào, lạ vậy đó. Có người á chỉ cần biết toàn thân tâm yên, có người phải để tâm dưới bụng tâm mới yên, có người chỉ cần theo hơi- biết hơi thở
[6:32]không điều khiển là tâm yên, có người phải hơi thở chậm, ít, êm tâm mới yên, mà có người phải hơi thở dính với tâm thì tâm mới yên. Cho nên những kỹ thuật đó cũng không ai giống ai. Không ai giống ai hết. Thì mình không biết được thuộc loại nào, nhưng mình cứ phải tập hết, biết hết tất cả những kỹ thuật Chỉ. Đó, để mình sau này mình còn dạy người khác. Rồi Quán nữa. Quán bởi vì thiền nó liên quan tới cái nhận thức. Nếu mà chúng ta còn mê đời, còn chớp thân, còn tham, sân, si thì thiền gì thiền cũng không nhiếp được. Nên buộc lòng mình phải nhận thức lại cho đúng mọi điều trong cuộc sống này thì mình mới buông hết những cái tham, sân, si đó, tâm nó mới yên.
[7:12]Thì những cái nhận thức là gì? Thứ nhất là nhận thức là thân này là là vô thường, à thân này là bất tịnh, thế giới này là nguy hiểm, thế giới này là tạm bợ. Cái bản ngã mình á nó nhiều tầng lớp, nhưng mà cuối cùng thật ra nó vẫn còn cái vô minh, chấp ngã, tội lỗi. Đó là những sự thật mình cần phải nhận thức, đó là phép Quán. Thì có người á quán thân vô thường thôi tâm nó yên liền, có người quán thân bất tịnh thì tâm nó yên, có người quan sát thế giới muôn vẻ như một giấc mộng hư ảo, tạm bợ thì tâm nó yên liền. Mà có người phải nhắc mình là tâm này đang vọng tưởng, tâm này đang loạn động thì tâm nó bớt quậy.
[7:51]Tức là n- biết rõ tình trạng của tâm không cần diệt vọng tưởng mà chỉ nhận thức rằng tâm đang loạn thì nó cũng nhiếp được tâm, ngộ vậy. Nên mỗi người nó có một cái phép quán thích hợp gì đó, lạ lắm, thì người đó nhiếp được tâm. Nên đây là phép Quán. Thì mình cũng phải tập hết mọi cái phép quán đó. Chứ không phải là tôi được cái này rồi tôi không cần cái kia, không không, phép nào mình cũng phải tập để còn dạy người khác nữa mà. Nên phép Chỉ nào mình cũng phải thực hành, phép Quán nào mình cũng phải thực hành. Rồi tới cuối cùng mà khi Chỉ và Quán thực hành thuần rồi mà vẫn không có duyên giác, tức là không bất ngờ ngộ đạo, thì ta bắt đầu đi vào cái giai đoạn
[8:29]mở cái cái cổng thành bằng cái lực của mình là cái chính cái biết vọng tưởng á. Tâm để dưới bụng mà vọng tưởng khởi biết liền. Thì nó nối một cái vọng tưởng với cái hơi thở mình, nối vọng tưởng với cái tâm mình. Hễ vọng tưởng mà dừng thì nó luôn luôn nó tạo thành cái biết xuống dưới chứ nó không phải là hư vô. Làm cho mình biết rõ thân mà càng biết rõ thân ở phía dưới bụng chừng nào thì tâm ở trên càng thanh tịnh chừng nấy. Đó là cứ đi từ giai đoạn giai đoạn vậy. Còn mà nó yên rồi, đừng nghĩ nó yên. Mà cái yên chỉ là gì? Nó nhiều lớp, nhiều lớp vọng tưởng. Cái vọng tưởng thô mà ta thấy nhất là nó chín loại,
[9:06]thì có nó là những cái suy nghĩ có ngôn ngữ, có lời nói trong đầu mình, nó nói lải nhải lải nhải chuyện này chuyện kia trong đầu mình, kể cả nói chuyện đạo, chuyện tu hành cũng là nói lải nhải lải nhải. Còn khi cái đó hết rồi, thật ra phía dưới nó còn cái gì? Còn những lớp ý niệm không ngôn ngữ. Vì nó không ngôn ngữ nên nó vô hình, mình không thấy nó, nhưng nó đang có đó. Mình phải hiểu chỗ này. Thấy tâm mình bỗng nhiên yên hết rồi, cái mình tưởng đó mình thanh tịnh là mình phải hiểu lầm rất là lớn. Nó chỉ là hết cái vọng tưởng có ngôn ngữ thôi, còn những cái suy nghĩ không ngôn ngữ vẫn chạy ngầm ở dưới rất là mạnh.
[9:43]Nên nói là khi ngồi thiền mà bạn bị vọng tưởng, nói là chín tỷ người đang bị. Và ta cần biết rõ bao nhiêu cái bước thiền định từ ban đầu cho tới cái tận cùng lúc khi mà tâm mình đã yên thì mình đang ở chỗ nào, mình đang ở giai đoạn nào, mình đi từ cái đoạn đó cho chắc lại, chắc từ từ từ từ thì mới sẽ nhiếp tâm. Và cái con đường đi cũng vậy, có người đi một năm là bắt đầu nhiếp được, có người sáu tháng nhiếp được, có người sáu năm nhiếp được, có người sáu chục năm mới nhiếp được. Mà có người kiếp này chỉ gieo duyên qua kiếp sau mới nhiếp được. Tại vì sao vậy? Nghiệp nặng quá. Cả này cả một đời này chỉ làm phước thôi,
[10:20]sám hối, lễ Phật, làm phước giúp người khác tu, còn bản thân mình ngồi thiền không bao giờ nhiếp được. Nhưng cái nhân lành nó cứ để đó, vậy chứ qua kiếp sau khi còn trẻ là đã nhiếp được rồi. Nên cái không biết được, nhưng cái nói là ngồi thiền cứ làm sao mà hết vọng tưởng, đây là câu hỏi của tất cả mọi người tu hành. Và cái câu trả lời cũng vậy, là nó là một cái con đường đi, cái lộ trình nó nhiều bước rất là dài, mỗi bước nó chi ly nhiều cái chi tiết rất là nhỏ, mà khi chúng ta thực hành thiền định ta cố gắng biết rất kỹ để còn cái dạy cho người khác. Bản thân mình được kết quả thì đừng chấp ngang chỗ
[10:58]đó, bởi vì nó nó mới là phù hợp với mình thôi. Ví dụ có người chỉ cần nhiếp hơi thở là vào định liền, nhưng người khác cũng nhiếp vào hơi thở, nó không vào định. Nên vì vậy, rồi cái nhiều người họ tu theo đường nào họ thành công là họ cứ đem cái đường đó ra họ dạy khắp cả thế giới, không thành công, vì rất nhiều người nhiếp hơi thở không đủ để thành công mà cần phải gì? Phải phối hợp thêm nhiều cái kỹ thuật khác, nhiều cái phép quán khác nữa. Do đó, khi mà sư phụ nói về cái kỹ thuật thiền từ căn bản, đạo đức, công đức, khí công cho tới phép chỉ bao nhiêu cái, quán bao nhiêu cái, rồi cái kỹ thuật của cái biết hơn,
[11:36]biết vọng tưởng, rồi khi vào trong mà biết luôn cả cái cái cái cái ý niệm không ngôn ngữ vân vân, mấy cái đó mình phải biết hết, biết hết, biết hết vậy đó để sau này mình còn dạy người khác. Nhớ, khi tu đừng bao giờ tu cho mình. Tu là tu vì chúng sinh mà tu
[11:55]thì chúng ta gieo cái nhân của Bồ Tát đạo. Còn mình chỉ tu sao cho mình yên tâm, tu làm sao cho mình vào định, cái đó cũng là cái ngấm ngầm của sự ích kỷ, sau này mình đắc thiền chứ không đắc thánh được. Còn cái người đắc thánh là cái người gì? Đời sống vị tha, nên ngay từ bước đầu mình tu đã nghĩ tới cả cái thế giới này đều sẽ được đắc đạo, hướng như vậy. Hỏi tiếp đi con. Dạ, kính thưa sư phụ, nhiều lúc ngồi thiền con có cảm giác bị trôi trôi tuột, không phải bị hôn trầm mà vẫn đang mở mắt tỉnh táo, lúc đó con phải bỏ tay ra nhúc nhích người mới trở lại bình thường ạ. Có mấy chữ sư phụ không nghe, con đọc lại cho rõ.
[12:35]Con có cảm giác bị trôi trôi tuột, không phải bị hôn trầm, đang mở mắt tỉnh táo. Lúc đó con phải bỏ tay ra nhúc nhích người rồi nó mới trở lại bình thường. Nó cũng là một loại loại mê á, nhưng mà mê nó có nhiều loại. Mê nó có nhiều loại.
[12:59]Cái mê là ví dụ mình mê theo vọng tưởng, ngồi đó mà vọng tưởng nó dắt mình đi hết cái chuyện này tới chuyện kia, mình cứ theo theo theo theo theo nó thôi. Tới chừng nghe gõ chuông: "Ủa, hết giờ rồi hả?". Thật ra cả một thời ngồi thiền toàn suy nghĩ bậy bạ không, vọng tưởng nó dắt đâu đi đó thì người đó cực kỳ là phàm phu, không có gì tu cả. Cái thân ngồi đó chứ nhúc qua nhích lại, ngồi đổi, lâu lâu thấy ngồi một mình cười khà khà khà, thì trong đầu mình nó nói chuyện á, người ngoài hôm nay nhìn thấy mình tưởng mình điên á, toàn suy nghĩ không à. Cái loại thứ hai, mê thứ hai là hôn trầm, buồn ngủ. Buồn ngủ thì có hai nguyên nhân,
[13:31]một là do thiếu ngủ nên khi thực hành tâm nó yên, não nó đòi giấc ngủ lại, nó đòi nợ, phải ngủ, ngủ trả dứt trả nợ cho não. Thường thường không phải là người này tu dở, người này tu đúng á, vì tu đúng nên não nó đòi cái giấc ngủ, buồn ngủ liền, lúc rất khó kềm lại. Cái buồn ngủ thứ hai là do nghiệp. Bình thường rất tỉnh táo, bắt chân lên ngồi buồn ngủ liền. Người rất khôn, ha, bình thường không buồn ngủ, bắt chân lên ngồi thiền mới buồn ngủ, rất là khôn. Thì cái này là do nghiệp, cái này là phải chiến đấu, vận động, phải lễ Phật, phải sám hối, đủ cách hết trơn á vậy. Đó là cái hôn trầm là cái mê thứ hai.
[14:05]Cái mê thứ ba á là hôn tịch. Hôn tịch là người tâm đã được định, nhưng mà hôm đó vì việc gì làm việc mệt, không ngủ, bắt chân lên ngồi ngủ luôn, ngủ nhưng tâm vẫn yên, thân không nhúc nhích. Mà hỏi họ suốt giờ họ không biết gì hết tại ngủ mất tiêu, mà ngồi người ngoài nhìn vô thấy họ đang ngồi thiền ngon lành, ngắm ngủ, không ngáy, rất là yên, tâm không động, tưởng họ vào định khủng khiếp lắm nhưng thật ra họ ngủ mất tiêu. Thì cái này là một trạng thái của một người đã có trình độ thiền định, tâm đã nhiếp. Còn trường hợp mà nãy con hỏi trôi tuột á là nó lơ lửng giữa cái mơ màng giống như hơi có hôn trầm và vọng tưởng.
[14:47]Cái này người này thuộc loại siêu đẳng, kết hợp vọng tưởng và hôn trầm, đi đâu luôn.
[14:55]Nghe là phải sám hối dữ lắm á con, không phải. Xin hỏi thêm sư phụ nha. Cái cái hôn trầm, hôn thùy, kiếp trước đó là mần cái việc gì mà nó...? À, không biết nghiệp gì đâu con. Cái nghiệp mà chướng mà mình bị hôn trầm á, nó rất nhiều cái nguyên nhân thường ta không có ta không xác định được. Nhưng mà thường nhất là mình kiếp xưa mình thấy người khác ngồi thiền mình mình hay nói ra hay cà khịa á. Cái từ cà khịa phải không ta? Giờ thấy hay dùng cà khịa không biết. Mình mình Nó là cái chữ gì nha? Cà khịa nghĩa là gì ta? Mỉa, nắn móc cái gì nha? Hả, nó là cái gì nha? Cà khịa nghĩa là gì cà? Xỉa xói hả?
[15:39]Nó không phải nặng đến nỗi như xỉa xói, nhưng mà nó khôi hài châm biếm vậy đó, ai đại khái vậy đó, à đại khái đó. Thì thấy người khác ngồi thiền mình không hoan hỷ mà hay nói cái lời gì đó, rồi rồi đó là chỉ lời nói hoặc ý nghĩ, nhưng đôi khi mình có hành động cản người khác ngồi thiền: "Thôi ngồi chi, đi đi công chuyện. Ôi, hơi đâu mà tu thiền đời này!". Ví dụ ta có những lời nói hoặc ta có hành động thực sự ngăn cấm người khác tu thiền, đời này cực kỳ khó ngồi thiền.
[16:09]Thiền Huynh Đệ có đi không cà? Không đi hả? Có không? Có vợ thôi hả? Chơi kỳ vậy cà! Đó, đại khái là như vậy. Rồi hỏi tiếp đi, hỏi đi. Dạ, con ngồi thiền vừa đau lưng vừa đau hông bên phải, lưng con chùng xuống và hay phải chống tay để cho lưng thẳng và đỡ đau. Sư phụ cho con hỏi là con bị gì? Bị suy thận. Thường cái lưng á là nó chủ về thận, cho nên người đó yếu thận, yếu chân âm thì ngồi thiền hoặc khi ta làm việc nặng nhọc, quá sức cũng làm cho cái cái hai cái thăn thịt, hai cái gân hai bên mà nó chống xương sống á nó bị mỏi, nó quá sức, nên mà nơi mỏi á, tức là nó chịu cả một cái trọng lượng từ đầu ta tới thắt lưng nó dồn xuống cái chỗ đó,
[17:05]nó dồn xuống khúc xương sống á, nó ép các cái đĩa đệm lại mà các hai cái gân hai bên, hai dây chằng hai bên không đủ sức nâng nó lên, đĩa đệm cũng không đủ căng để đẩy cái xương sống lên, nó chèn cái trọng lượng xuống, cái làm cho ta đau hay mỏi, mà đúng là lúc đó chống hai tay cho nó treo người chút xíu thì nó lại đỡ đau. Nhưng như thế cũng có nghĩa là người bị thiếu về khí lực, thiếu về khí lực thì cũng thiếu cái collagen. Nên ở đây phải vậy phải nhiều khi nhiều khi phải treo người hoặc nằm giãn lưng để cho nó đỡ chịu lực lên xương sống, dùng những loại thuốc à mà nó hỗ trợ cái collagen.
[17:48]Sư phụ không có muốn nói cái chữ sữa tại nhiều người sẽ hiểu lầm. À, sư phụ nói rồi, ai nói thì nói chớ sư phụ không nói. Sư phụ không nói rằng sữa hỗ trợ trị đau lưng, bổ sung lại rất là hay, sư phụ không có nói câu đó. Ai nói thì nói, sư phụ không có nói nha, rồi.
[18:07]Rồi cái phải tập khí công. Những cái loại khí công mà của chùa ta hướng dẫn á, rất nhiều loại khí công nó nó nó bổ sung vậy. Và trong cuộc sống mình phải sống một đời sống thanh tịnh để khí lực nó phục hồi, cái lưng nó khỏe lên lại. Khỏe rồi bắt đầu tập cái thanh xuân công. Tập thanh xuân công là nhảy, từ từ tới giai đoạn mà xách hai tay hai quả tạ nhảy thì lúc đó cái xương sống mình rất chắc, không bị đau lưng nữa, là vậy. Dạ, con mắc lỗi điều khiển hơi thở nên hơi thở con bị nghẹn, tức. Dù đã tác ý xin Phật gia hộ nhưng con vẫn chưa biết mà không điều khiển hơi thở được. Xin sư phụ chỉ dạy cho con.
[18:48]Ví dụ cái câu nói đơn giản thế này, là biết hơi thở thôi nhưng đừng điều khiển.
[18:56]Câu nói đơn giản nhưng mà không dễ làm, phải có phước mới làm được. Có phước lúc đó ta mới buông toàn thân ra chỉ thấy hơi thở ra hơi thở vào. Nhưng mà hơi thở đó nó vẫn không đúng chuẩn, nó phải không đạt được cái là chậm, ít, êm. Nhiều khi nó mạnh, nhiều khi nó vẫn bị mạnh, nhiều khi nó vẫn bị nhiều, là do cái gì? Do vọng tưởng. Lúc đó nó phản nó phản ánh, cái hơi thở nó phản ánh trọn vẹn cái tâm thức của mình. Hễ tâm mà loạn, hơi thở tự nhiên ta thấy mạnh ra, nhiều ra. Còn hơi thở mà nó yên thì hơi thở nó êm lại, vọng tưởng mà nó nó nó thanh tịnh thì cái hơi thở nó êm lại. Cho nên là ban đầu là ta nói là biết hơi thở nhưng không điều khiển
[19:41]để cho dễ, cho dễ cái biết hiểu ý nghĩa của cái không điều khiển là không can thiệp thô bạo vào hơi thở, tại vì ta cố ý thở ngay lập tức căng não lên liền. Mà chính cái căng não này làm cái vọng tưởng không hết.
[19:58]Mấy cái dằn, mấy cái ép đều kích động vọng tưởng lên trở lại hết. Ta thấy mình không đụng tới nó, nhưng mà bất cứ một cái dụng công gì có dằn, có ép đều là nó căng não và nó kích động vọng tưởng, nó nuôi vọng tưởng trở lại hết. Nên ta buông không có can thiệp vào hơi thở là để tập cái không dằn ép, không căng thẳng đó. Tuy nhiên, vì ta buông nó ra không điều khiển nên nó phản ánh cái nội tâm của ta, mà nội tâm của ta thì còn rất là rất là loạn động. Mỗi khi nó loạn quá thì hơi thở ta thấy nhiều, thấy mạnh. Mỗi khi vọng tưởng nó bớt thì hơi thở ta nó nó êm, nó nhẹ. Cho nên khi mà sau một thời gian mà ta thở biết mà không điều
[20:38]khiển, sư phụ nói bắt đầu phải khéo, dùng chữ khéo nghĩa là không dằn ép, giữ cho hơi thở chậm, ít, êm, khéo. Nhưng mà thì thôi thì thôi nghe nghe sư phụ nói chậm, ít, êm thì ta giữ hơi thở lại thì cái hơi thở chậm, ít, êm nó kềm ngược lại cái vọng tưởng của ta không cho khởi. Nên nó cái hơi thở chậm, ít, êm rất là hay. Nhưng chậm, ít, êm cỡ nào mới là đúng? À, đây là vấn đề. Tại chậm quá bỗng nhiên ta bị dằn ép, ít quá ta bị thiếu oxy, còn ráng cho êm quá cũng lại là một loại dằn ép.
[21:16]Nghĩa là ta hơi thở mà nhanh, vọng tưởng lên liền. Hơi thở ta nhiều, vọng tưởng lên liền. Hơi thở ta mạnh, vọng tưởng lên liền. Cho nên ta cần phải chậm, ít, êm. Nhưng mà chậm quá, bắt đầu là ta đang dằn ép, đang can thiệp hơi thở thô bạo; ít quá, thiếu oxy; êm quá, cũng là một loại dằn ép, điều khiển ghê như vậy. Cho nên, ta nói là chậm, ít, êm là cơ bản, nhưng mà nó phải ở mức độ nào? Thì cái chính cái mức độ của nó là gì? Là chậm, ít, êm sao cho hơi thở gặp được tâm, dính được tâm. Thì ta thấy ở cái mức độ cường độ đó cái bỗng nhiên tâm nó với hơi thở dính nhau, ta chỉ điều khiển hơi thở thì tâm nó
[22:02]yên, nó nó dính trong đó luôn, nó yên trong đó luôn. Thì đây là chỗ mà tự mỗi người phải thấy, chứ nó không có con số rõ ràng, nó không có con số. Giống như có những cái điều mà nó nó không có một con số cụ thể mà chỉ là cái cảm nhận trực quan. Cũng giống như có người nhắn tin hỏi sư phụ, "Con ngồi thiền, con thấy cái hơi thở của con và tâm con á nó vào trong một điểm lơ lửng ở trong bụng mà con không biết cái điểm nằm ở đâu." Sư phụ nói, "Không biết ở đâu mới đúng, chứ con biết là con nhảy nóc nhà ngồi rồi." Tại vì cái điểm đó nó không có cụ thể, nó áng chừng lơ lửng giữa bụng, chỉ biết nó nằm lơ lửng giữa bụng thôi, không biết chỗ nào.
[22:43]Đòi biết chỗ nào là điên liền. Nên có những cái là như vậy. Như cái chậm, ít, êm cỡ nào không nói được mà tự mình cảm nhận, mỗi người cảm nhận. Cảm nhận cái mức độ chậm như thế, ít như thế, êm như thế là tự nhiên tâm nó dính vào đó, nó cột tự nhiên vào đó. Cho nên ta chỉ cần đi tìm cái hơi thở đúng thôi, chậm, ít, êm đúng thôi thì tự nhiên tâm nó cột vô đó chứ ta không có cột tâm, mà chỉ khéo điều khiển hơi thở chậm, ít, êm thì tâm nó vào trong đó nó núp ở trong đó, nó dính vào trong đó, nó yên ở trong đó, là vậy. Dạ, thưa sư phụ, tại sao con chú ý huyệt Hội Âm, Đan Điền lại bị đau đầu? Vậy cách nào để con chú ý mà không bị đau đầu ạ?
[23:29]Cái Hội Âm là một huyệt đặc biệt. Nó là nằm ở đáy bụng, nhiều khi sư phụ hay nói đáy bụng. Nó là một huyệt có khả năng chữa được rất nhiều bệnh của não. Mọi người chúng ta nhìn mặt nhau thấy tươi tắn vậy chứ ở bên trong ai cũng có một chút hư cái não mình, não mình đều có một chút bệnh gì đó chứ không phải lành lặn đâu. Cũng giống như con người mình nhìn vậy chứ thấy đẹp đẹp hỏi ra, "Dạ, em bị bao tử, con bị mỡ dính máu, gan này kia." Hỏi ra thì bên ngoài dòm thấy vậy, bên trong cơ thể ai cũng không hoàn hảo. Bộ não ta cũng vậy. Thấy bộ não mình vậy chứ sự thật bên trong mình không hoàn hảo, có một cái bệnh gì đó.
[24:06]Thì cái huyệt Hội Âm là một cái huyệt kỳ diệu. Ta ngồi thiền ta để tâm ở đó, nó từ từ nó chữa những cái bệnh ngầm ngầm ở trong não ta. Mà chữa nhiều cái bệnh khác của cả thân ta nữa, nhưng nó không phải là thiền. Nó không phải là thiền mà nó là một dạng gần giống như thiền. Nó giống với khí công hơn và nó là một liệu pháp tự chữa bệnh rất đặc biệt, ai cũng phải biết, ai cũng phải nên trải qua. Có khi mình không cần tới nó nữa. Ví dụ người khỏe rồi, mọi cái ổn không cần tới nó, nhưng mà trong những giai đoạn đầu nên biết về huyệt Hội Âm, nên an trú đáy bụng để gột rửa lại, sửa soạn lại hết bộ não của ta và một số bệnh trong cơ thể.
[24:53]Mà thậm chí nó có nhiều cái hay, ví dụ khi ta để tâm dưới huyệt Hội Âm cái cảm giác đau biến mất giống như là uống thuốc giảm đau vậy đó, lạ vậy. Tự nhiên ngồi không đau lưng cứ thích ngồi hoài. Đến thấy ai gõ chuông xả thiền giận người ta nữa, đang ngồi ngon lành tự nhiên gõ chuông xả thiền cái mình giận. Tại cái huyệt Hội Âm nó có cái khả năng là trị luôn cái đau nữa, làm giảm đau rất là hay. Còn bây giờ mà ai mà không chịu gõ chuông xả thiền mình giận người ta, nó ngồi hoài không chịu gõ chuông xả thiền. Nhưng mà khi mình để tâm qua huyệt Hội Âm rồi ai gõ chuông xả thiền mình giận, nó nó ngược vậy đó.
[25:25]Huyệt Hội Âm rất là hay, nhưng chỉ bởi vì nó không phải là thiền, mà khi mình để tâm huyệt Hội Âm mình để hơi mạnh quá, hơi chú ý quá, hơi dồn quá nên nó căng trên não liền, vì nó vẫn không phải là thiền. Mà trong đó mình hơi có ý dồn, hơi ép, nó căng trên não thành ra bị nhức đầu. Cái Đan Điền cũng vậy, cái người hỏi câu này là do dồn sức quá, chứ thực sự trong thiền cái gì cũng phải êm, cái gì cũng không dùng lực. Nó giống như Thái Hư Thần Công mà mình tập vậy đó, tất cả êm nhẹ, buông lỏng toàn thân, không có dùng lực gì hết. Thiền cũng vậy, hễ cái gì có một chút cố gắng, một chút dùng lực là bắt đầu sai với thiền, đều não căng lên từ từ, vậy đó.
[26:07]Dạ, có huynh đệ khi ngồi thiền có cảm giác bay bổng lên, sinh ra tâm bất an, như vậy là sai chỗ nào ạ?
[26:20]Ngồi thiền mà thấy tâm thấy mình bay lên nó có hai loại: một loại là vọng tưởng nhiều rồi loạn tâm, ảo tưởng, ảo giác, cái người này dễ điên, mau điên, rất nguy hiểm. Tức là ngồi tâm để trên đầu, vọng tưởng nhiều rồi cái thấy mình bay, người này cứ tiếp tục như vậy chừng tháng sau điên liền. Cái này sai hoàn toàn. Một loại thứ hai mà thấy như bay lên là do tâm có yên, tâm an trú bình thường, nhưng không an trú kỹ ở dưới dưới bụng. Thấy toàn thân nó yên, mà yên lơ lửng toàn thân, tự nhiên thấy ngồi giống như ngồi trên khoảng không, không có ngồi dưới cái sàn, mình không có ngồi giống như thân mình không dính sàn mà giống như thấy mình như đang ngồi lơ lửng thế này.
[27:07]Thì cái đó nó không phải là lỗi, có kết quả đó, tâm có yên đó, nhưng không lắng kỹ ở dưới bụng, không để tâm kỹ ở trong sâu ở trong bụng. Cho nên mà để lơ lửng lơ lửng đâu khoảng này, tâm yên một cái cái thấy ngồi lơ lửng liền, mà nó không bay lắm. Thành thử không đến nỗi điên, nhưng chưa tốt.
[27:31]Dạ khi đạt được tâm yên có cảm giác đi vào khoảng không gian rộng lớn, có rừng cây yên tĩnh nhưng không chìm đắm trong đó, quay về hơi thở thì cảnh tượng đó mất và vọng tưởng chen vào, làm sao để giữ tâm an định được lâu ạ?
[27:51]Khi mà tâm nó thanh tịnh đó nó nhiều cái cảnh giới hiện ra dẫn mình rụ... dụ mình rời khỏi bản ngã. Và đây là ngã rẽ quan trọng. Khi tâm yên rồi, cảm giác mình thanh tịnh, mênh mông, bao la, trống trải và hỷ lạc. Nhiều người tới ngang đó thích cái đó là cứ bám vào cái đó, nhìn vào cái đó, an trú trong cái đó, tận hưởng cái đó rời khỏi bản ngã là hưởng cái phước, thời gian hết. Hết rồi vọng tưởng khởi lên lại. Vọng tưởng khởi lên lại là bởi vì hồi nãy hưởng cái bao la đó. Chứ không phải là cái lỗi của phương pháp sai mà vì hưởng cái bao la đó, vọng tưởng nó trở lại liền. Còn nếu mình biết thì khi mà tâm nó thanh tịnh,
[28:40]cảm giác cái trạng thái rỗng rang hiện ra mênh mông thì không khờ dại nhìn nó, chiêm ngưỡng nó, an trú nó, thụ hưởng nó mà ngay lập tức nhớ lại thế này. Đầu tiên câu thần chú phải sử dụng là gì? Mình vẫn là vô minh tội lỗi. Nhờ cái câu thần chú này bỗng nhiên mình có cái lực rút trở lại vào trong, an trú lại nơi bản ngã của mình. An trú lại nơi bản ngã của mình gồm có những điểm sau đây: một, hơi thở chậm ít êm; hai, ở bụng dưới; và ba, là một cảm giác thu lại nơi chính mình rất là nhỏ. Thu lại, cứ thu lại dần, thu lại dần nơi chính mình rất là nhỏ. Cái chính mình đó là gì đó thì nó lại thuộc ba ba trạng thái là:
[29:25]một là quán thân trên thân, hai là quán thọ trên thọ, ba là quán tâm trên tâm. Cái này là Tứ niệm xứ Sư phụ nói rồi. Dạ, khi con thực hành chỉ quán thì biết vọng tưởng thô có ngôn ngữ thì vọng tưởng tan, nhưng mà đến vọng tưởng không ngôn ngữ thì con dường như không bị phát hiện nên vọng tưởng vẩn vơ lại khởi lên kéo con đi. Có phải vọng tưởng không ngôn ngữ như là tà kiến làm mình mất công phu, tổn phước không ạ? Vọng tưởng không ngôn ngữ là cũng đủ thứ chuyện trên đời, tại mình có thấy nó đâu mà biết nó là cái gì? Nên con không có đoán mò. Nhưng chắc chắn vọng tưởng không ngôn ngữ cũng đủ thứ chuyện trên đời.
[30:07]Tuy nhiên, cái thiện nó sẽ nhiều hơn cái bất thiện. Tại vì nếu mà cái bất thiện nó nhiều thì nó đã đẩy lên thành vọng tưởng có ngôn ngữ. Nó lải nhải rất dễ biết. Còn mà mình đủ phước để mà dừng được cái vọng tưởng không ngôn ngữ mà lọt vào cái chỗ vọng tưởng á đủ phước à để để bỏ được cái vọng tưởng có ngôn ngữ mà vào một cái trạng thái tâm giống như yên, nhưng đó là còn ngấm ngầm nhiều cái ý niệm ngầm là loại vọng tưởng không ngôn ngữ thì là đã có phước. Điều đó có nghĩa là bản chất tâm hồn mình nó thiện nhiều hơn là bất thiện, nhưng chỉ sợ còn tà kiến. Tà kiến là gì thì không biết được, tại nó có ngôn ngữ đâu mà mình thấy?
[30:52]Nó không ngôn ngữ. Chỉ có khi nào mà mình giảng dạy cho người ta mà nói bậy nói bạ, một bậc người sáng mắt hơn họ nghe mình nói, họ mới biết mình là tà kiến, chứ còn lúc đó chính mình không biết mình tà kiến gì nữa. Dạ. Dạ khi ngồi thiền thì con biết toàn thân hay là quán thân vô thường thì vọng tưởng cũng không hết, nhưng mà lúc con biết xuống vùng hội âm thì bớt vọng tưởng nhưng sau đó thì con bị khó ngủ và động dục. Con biết là con đã cố ý dằn ép nhưng nếu không cố ý thì vọng tưởng khởi hoài. Con có nên tiếp tục cố gắng biết xuống hội âm như vậy không ạ? Như nãy Sư phụ nói đó. Cũng là những cái chỉ, cũng là những cái phép quán,
[31:34]nhưng có cái người chập một phép nào đó tâm nó yên, nhưng có người chập phép đó tâm không yên phải đổi thêm những phép khác. Thì đây là trường hợp người này cũng vậy. Quán biết toàn thân, biết thân vô thường không đủ để vọng tưởng yên. Phải dùng tới cái phép chỉ. Cái biết thân, toàn thân là chỉ, biết thân vô thường là là cái gì? Quán. Biết hội âm là gì? Chỉ, kỹ thuật. Nhưng khi biết hội âm, nó có giai đoạn đầu nó là động dục. Và có nhiều người cũng hỏi Sư phụ câu này. Sư phụ nói là càng phải để dưới hội âm và càng nhìn cái dục đó cho nó tiêu luôn. Đừng có trốn nó. Vì cái dục mà mình trốn nó, nó không hết.
[32:20]Nhìn nó luôn thì nó hết luôn, hết luôn, thanh tịnh luôn. Giống như bản ngã, giống như là đống lửa, muốn cho nó hết lửa đừng có chạy, chạy nó cháy sạch nhà, cháy sạch rừng à. Mà phải quay lại nhìn cái đống lửa đó mà dập tắt nó. Lấy cây, lấy nước đồ dập nó, đối diện với nó thì nó mới hết. Bản ngã mình cũng vậy và cái dục cũng như vậy. Khi mà lắng tâm xuống dưới mà dục nó khởi lên, tức có nghĩa là trong quá khứ mình có bị dục chi phối, nên bây giờ đụng vào huyệt hội âm nó khởi lên lại liền và phải ngay đó nhìn nó cho nó hết. Nhìn nó, trừng trừng nhìn nó cho nó hết, chứ không có sợ, không trốn. Trốn nó, nó còn nằm đó hoài.
[33:00]Còn mình ngay cái dục đó mà mình nhìn nó rồi nó tiêu, nó tiêu luôn. Như vậy. Dạ khi ngồi thiền con hay hay xả thiền thì cổ con kêu rắc nhẹ. Lúc ngồi thiền vọng tưởng mạnh quá, con thấy mình nghiệp nặng nên tác ý sám hối hết cả thời thiền có được không ạ? Trong những trường hợp mà thấy mình cảm giác như mình nghiệp nặng và cứ ngồi đó cứ tác ý sám hối mà thấy mình tâm mình yên, thấy mình yên tâm chứ không phải là tâm yên, yên tâm khác và tâm yên khác hà nghen. Nhớ không ạ? Thấy mình yên tâm. Yên tâm nó là một một khái niệm triết học, còn tâm yên là một trạng thái thiền định.
[33:45]Yên tâm ví dụ như nói: "Trời ơi, tôi dòm thấy mây mù quá, không biết đi về có được không?". "Anh yên tâm, anh đi ra đường là hết mưa". Nhưng mà người đó đi ra rồi chết luôn mưa trôi mất. Nhưng mà hay hay dùng cái chữ yên tâm đó là một sự vỗ về về tâm lý, một trạng thái về tâm lý, tình cảm, cảm xúc; còn tâm yên là một trạng thái của thiền định. Nên ở đây là khi mà cảm ngồi thiền thời thiền mình ngồi mà cảm thấy động mà mình cứ ngồi sám hối và cảm thấy yên tâm, yên tâm chứ không phải tâm yên, thì cứ sám hối. Sám hối tới khi nào mà bỗng nhiên cảm thấy không cần nữa, quay trở lại chỉ quán thì lúc đó không
[34:26]phải yên tâm mà bắt đầu tâm yên, nó vậy đó.
[34:33]Dạ con nhớ lời Sư phụ dạy: bắt đầu vào chánh niệm là được phước cõi trời và rất mau hết phước. Nếu không gắng công làm phước thì sẽ thoái lui rất nhanh. Chắc đời này con may mắn được gặp Sư phụ chỉ dạy nên mấy năm qua con được thò đầu lên trên lớp băng mỏng, cố bò lên chút thì lại rớt lại ạ. Con xin Sư phụ chỉ dạy cho con thêm để tìm được chỗ băng dày.
[34:59]Nói lãng mạn quá thiệt đó trời! Băng mỏng, băng dày đồ nữa, ghê quá!
[35:05]Thật ra khi mà chúng ta đạt được cái trạng thái chánh niệm rồi sau đó mất, tất cả đều do là quên cái câu thần chú gì? "Mình vẫn là vô minh tội lỗi", quên câu đó, hết phước liền à. Thế còn nếu mà mình đạt những trạng thái có kết quả trong thiền định rồi cứ nhắc cái câu đó: "Mình vẫn là vô minh tội lỗi" thì không bị tổn phước và cái trạng thái nó cứ kéo dài mãi. Mà không phải chỉ trong lúc ngồi thiền, trong đời sống bình thường cũng vậy. Đi, đứng, nói, năng rồi lúc nào cũng nhớ mình là vô minh tội lỗi. Thì cái câu mà nhắc mình là vô minh tội lỗi cũng chính là một câu sám hối, đúng không ạ? Chính là một câu sám hối cho nên mình không bị tổn phước.
[35:49]Còn mà quên câu đó rồi, thụ hưởng cái trạng thái chánh niệm rỗng rang thanh tịnh rồi, ít bữa hết phước rớt lại liền. Như vậy. Dạ khi vào thiền một lúc sau con bị đau vùng dưới thắt lưng, con đau quá nên tâm cứ để ý quanh vùng đó. Sư phụ cho con hỏi để tâm như vậy có bị sao không ạ? Lúc đó con nên quán chiếu như thế nào? Không, lúc đó thì con bị nghiệp. Mình đang ngồi thiền bỗng nhiên cái đau lưng lên là ngày xưa mình có đâm ai ở sau lưng đâm tới. Cái này là nghiệp sát sinh, chứ nó không phải thuộc về cái sai trong kỹ thuật thiền, mà đây là nghiệp quá khứ phải trả. Là lúc đó cái đau lưng khủng khiếp nó làm cho mình chướng
[36:28]ngại đường tu của mình, cái này là do nghiệp sát sinh. Ngày xưa là mình đâm con thú nào ở nơi lưng hoặc là ngày xưa mình đâm ai ở sau lưng trong cái chiến tranh những kiếp xưa vậy, bây giờ nghiệp nó trổ ra nó đánh vào trong cái lúc mình ngồi thiền. Nên người trong trường hợp như vậy, để tâm nhìn cái đau đó là giống như đối diện với cái đau, chấp nhận cái đau để trả nghiệp, cũng là một cách sẽ làm cho cái đau đó bớt, nhưng nó không hay bằng thêm cái ý sám hối. Lúc đó niệm Phật sám hối, nói: "Ngày xưa con đã làm tổn hại chúng sinh nên bây giờ quả báo về con xin sám hối vượt qua để được tiến tu".
[37:06]Có những cái sám hối như vậy thì thì cơn đau từ từ nó sẽ hết, nghiệp nó sẽ hết. Dạ, khi ngồi thiền con quán tội trên tội, thân tâm này vô minh tội lỗi xấu xa, vô lượng kiếp qua con đã tạo nghiệp sâu dày rồi con liệt kê ra những tội lỗi của mình. Sư phụ cho con hỏi quán như vậy có được không ạ? Phải quán như thế nào mới đúng ạ? Thì cũng được. Ban đầu cứ ngồi đó mà nói lải nhải, cứ kể tội mình ra, cũng là một cách tâm nó không chạy loạn. Mặc dầu nó còn là vọng tưởng có ngôn ngữ ờ nhưng nó cũng là một cách để mình vừa sám hối mà vừa cột tâm không cho nó chạy lung tung. Đến một lúc nào đó mà giống như cái sám hối mình nó thấm
[37:46]nhuần rồi, tội nó bớt rồi tự nhiên nó không cần phải nói dài dòng nữa mà tâm nó vẫn yên, mà mình vẫn nhớ cái tội mình, mình vẫn có cái ý niệm ngầm ở trong là sám hối. Không cần phải nói nhiều mà tâm nó yên. Ừ. Dạ, hồi con ở ngoài chúng thanh niên có một huynh đệ kể rằng và thắc mắc rằng à nếu mà đau chân quá không vắt chân thì bạn này hay cài hai kim ở huyệt Túc Tam Lý thì buổi thiền hôm đó gần như là không đau chân. Rồi bạn mệt thì bạn hay thường cài kim châm cứu ở huyệt Quan Nguyên hoặc hơ nóng thì người khỏe, rồi à làm việc đầu óc nhiều bạn hay dùng lục vị hay bát vị thì hôm đó người dễ để ý phía dưới và đỡ mệt hơn.
[38:30]Dạ, bạn hỏi có nên lạm dụng cái phương pháp này không ạ? Cái mà dùng mà cái tác động từ bên ngoài, giống như là thuốc hoặc là châm cứu á mà cái thuốc bắc nó đúng á, ví dụ như lục vị hay bát vị, thật ra lục vị nó tốt hơn. Thì để nó giữ chân âm, chính là cái mà ngay từ đầu ta đã nói là khí công. Tại khí công của ta á là để củng cố chân âm. Thì ở đây mình khí công chưa đủ thì mình dùng thuốc thì thôi cũng tạm được nhưng đừng có dùng lạm dụng lâu thôi, chứ lâu lâu miếng, lâu lâu miếng cũng được. Còn cái bấm huyệt tự thân thì cũng hỗ trợ được một phần nào nhưng đừng lệ thuộc vào nó nhiều quá. Nhưng mình không có hoàn toàn bác,
[39:12]không hoàn toàn cấm, nhưng đừng lệ thuộc nhiều, dùng sơ sơ chút thôi. Dạ, con bị vọng tưởng, lúc con nhớ ra quay lại biết rõ toàn thân thì ngay tức khắc vọng tưởng khác lại tiếp tục hoặc có khi con bị chạy theo vọng tưởng. Con có sử dụng câu thần chú: "Đang nghĩ gì vậy?" nhưng con vẫn không thể biết rõ toàn thân thường xuyên được ạ. Không biết là làm sao để nhớ thân thường xuyên lúc ngồi thiền cũng như trong đời sống hằng ngày ạ? Nó có mấy trường hợp. Thứ nhất là trường hợp này là phước vẫn vẫn chưa đủ. Thì trong những trường hợp mà mình cũng không thể bỏ ngồi thiền được, vẫn phải ngồi thiền mà dùng cái này dùng cái kia cớ nó vẫn không,
[39:51]vọng tưởng nó không bớt thì vậy thôi chỉ dùng cách này, tự nhắc: "Mình đang loạn động, mình đang vọng tưởng vì thôi mình đang còn nghiệp chướng tội lỗi", chỉ vậy thôi, cứ nhắc tới nhắc lui. Nó khởi gì kệ nó, hễ mình sực nhớ thì cứ nói: "À, tâm mình đang loạn động. À, tâm mình đang loạn động, tâm này đang vọng tưởng", cứ nhắc vậy thôi. Tức là mình đối diện với nó và nhìn nhận điều đó, chấp nhận cái đó thôi chứ đừng có đi chia chẻ phân tích, nghĩ cái gì nghĩ cái gì, hỏi: "Con nghĩ cái gì?", nó chỉ nó trả lời cho con nghe. Nó trả lời: "Ờ, bữa nay ăn món bún này, mai kia bún xào kia, bún nọ, trái cây nọ, mua chiếc xe này đời mới,
[40:28]khách mà hôm qua dễ thương, cô nọ cổ dễ thương, ông kia ổng dễ mến". Là nó trả lời cho con nghe. Con nghĩ cái gì hỏi nó nghĩ cái gì thì nó trả lời cho nghe, nó trả lời một triệu chuyện, cho nên đừng hỏi câu ngu đó. À, mà chỉ nhận định thế này: "Tâm mình đang loạn động, tâm mình đang vọng tưởng", vậy thôi ha. Tự nhiên chế đâu ra câu hỏi vô duyên. Dạ, trong lúc ngồi thiền thì có rất nhiều cách dụng công nhưng mà con chỉ nhớ ba điều là để tâm ở đáy bụng, nhớ thân vô thường và nhắc tâm này là xấu xa tội lỗi. Như vậy có được không ạ, có sai không ạ? Hồi nãy sư phụ nói chỉ là bao nhiêu phép và quán bao nhiêu phép mình phải biết hết.
[41:09]Biết hết để mình xoay xở, uyển chuyển ứng dụng linh hoạt qua lại, cái gì mình cũng biết để sau này còn dạy người khác nha, chứ không phải chỉ ba cái đó không. Ừ. Dạ, tại sao khi con ngồi thiền để tâm dưới đáy bụng thì cảm giác toàn thân và quán thân vô thường của con bị mất đi, chỉ còn biết dưới đáy bụng rồi con vừa biết dưới đáy bụng, vừa quán tội trên tội, con quên thân như vậy có đúng không? Nó yên. Thật ra cái để để tâm dưới đáy bụng, sư phụ nói rồi, nó là một liệu pháp chứ nó không phải là thiền. Nhưng nó là một liệu pháp chữa được một số bệnh ở trên não mà con người của chúng ta coi trong não mình dở lục ra trong đó cũng trục trặc cái này trục trặc cái
[41:52]kia mà không ai chưa từng có một cái sự chữa trị nào của y học cả. Y học chữa từ đây trở xuống thôi, răng mắt rồi dòm rồi thớ xuống thân chứ còn sâu trong não từng cái vùng, từng trung khu, từng cái niệm chưa có mà ai cũng có bệnh. Vì cái để tâm ở dưới hội âm nó chữa, nó tự nó nó hoàn thiện từ từ, nó chỉ là một giai đoạn thôi, một giai đoạn. Rồi sau này vậy, sau này khi mà các phép trụ, chỉ, phép quán mình đủ rồi đó, tới giai đoạn mà tỉnh giác, biết vọng tưởng thì như sư phụ nhắc đi nhắc lại khi biết vọng tưởng, vọng tưởng tan. Mà vọng tưởng tan không có nghĩa là mất mà nó biến thành cái gì? Thành cái biết toàn thân xuống dưới.
[42:40]Nên do đó, cái biết toàn thân là một điều tự nhiên khi mà ta khi vọng tưởng nó tan. Nhớ như vậy. Lúc đó sẽ gặp lại cái toàn thân lại. Đừng có sợ, đừng có sợ, cứ thực hiện các phép chỉ, phép quán đầy đủ rồi khi mà vọng tưởng nhóm mình biết liền, nó tan liền thì nó xuất hiện cái biết toàn thân. Lúc đó, ta sẽ thấy biết toàn thân rất là tự nhiên, rất là nhẹ nhàng, rất là dễ chịu. Dạ, trong lúc không ngồi thiền, con áp dụng chỉ và quán để thường xuyên nhớ được công phu thì có hại gì không ạ? Có những cái phép chỉ chỉ dụng công trong lúc ngồi thiền thích hợp chứ không có thích hợp trong cái đời sống hằng ngày.
[43:27]Ví dụ như khi tụi con còn phải áp dụng hơi thở chậm, ít, êm mà tụi con đi tới đi lui vậy không có giữ hơi thở được. Nên lúc đó là thường là biết toàn thân, biết thân vô thường, biết mình là vô minh tội lỗi, những cái phép quán lại thích hợp hơn. Một phép chỉ đơn giản thôi là biết toàn thân thôi, mà cái biết toàn thân này thường là do vọng tưởng nó tan mà làm cho ta biết toàn thân, còn lại là phép quán hoặc là nhắc mình là tội lỗi. Còn khi mà mình nhắc mình tội lỗi nó thuần rồi thì không cần nhắc mà sự thật chỉ còn một cái phép chỉ không có lời là một cái cảm giác biết toàn thân, không có lý luận,
[44:05]không nói gì hết, biết toàn thân, đi tới đi lui nhẹ nhàng, biết toàn thân thôi.
[44:13]Dạ, những vọng tưởng liên quan đến đạo lý tu tập thì ý niệm này nối tiếp ý niệm khác, con cố gắng buông bỏ để quay lại nhớ thân nhưng cái cố gắng đó dùng đến ý chí thì sau này có tác hại gì không ạ? Thì nó hại. Hại nó vẫn căng thẳng. Thật ra nó như thế này.
[44:35]Ví dụ như chúng ta, cái đích của chúng ta là cái đạo quả. Đạo quả của chúng ta là giác ngộ, là vô ngã đại khái như vậy. Ở đây, cái khởi á còn cái khởi điểm của chúng ta đây là cái vọng tưởng này.
[44:54]Thì đi từ cái vọng tưởng này tới đạo quả ta phải đi qua rất nhiều giai đoạn. Nhưng mà ví dụ cái người họ không có cái duyên để đạt đạo quả thì từ cái vọng tưởng này họ chạy đi tứ tung, đi khắp thế giới đi mất luôn. Còn khi mà ta có cái duyên để đắc đạo quả thì cái vọng tưởng nó cứ kéo ta về phía đạo quả, nó tự động kéo ta về phía đạo quả. Nha, cái người có căn duyên đắc đạo. Sư phụ nhắc lại câu này, người có căn duyên đắc đạo thì cái vọng tưởng này tự nó có một cái gì nó cứ thúc ta đi về phía đạo quả là lúc đó nó đi qua cái gì? Đi qua là cái chánh tư duy. Chánh tư duy nghĩa là cái gì?
[45:39]Những suy nghĩ về đạo lý, về chánh kiến, về điều thiện. Rồi nó tới cái gì? Nó tới ừ
[45:54]Là nó còn động, tất cả này đều là lý luận có ngôn ngữ. Nhưng mà cái ngôn ngữ này nó nằm ở trong giới bức của Chánh tư duy, Chánh tinh tấn để từ từ dắt ta đi vào Chánh niệm, Chánh định rồi tới đạo quả là người có căn đắc đạo. Còn người không có căn duyên đắc đạo thì vọng tưởng này nó đi ngõ khác, nó đi chạy lung tung ra đời, xuống địa ngục, ra súc sinh rồi tùm lum tào lao. Còn mình có căn duyên thì đi về phía này. Vậy làm sao biết mình có căn duyên hay không có căn duyên? Nên chúng ta tạo ra cái căn duyên bằng cái gì? Lễ kính Phật mỗi ngày. Đó là lý do cái người mà tu theo Phật Quang ta vậy, Sư phụ chú trọng cái công đức lễ kính Phật mỗi ngày đều
[46:42]đặn là chính ta định hướng ta đi về phía đạo quả. Nó còn động đó, tâm còn suy nghĩ, lý luận á, nhưng lý luận trong cái giới bức của gì? Của Chánh tinh... của Chánh tư duy, của Chánh tinh tấn rồi từ từ từ tới đạo quả. Cho nên cái người mà nói vậy cứ hiện lý luận này lý luận kia trong tu hành, nhiều khi đang đi trong giai đoạn này. Mà có vẻ như người này đang hướng về đạo quả. Tâm chưa vào Chánh niệm, chưa vào Chánh định được nên chưa có thấy thiền định hiện ra, nhưng có vẻ hướng đi là đúng. Chỉ sợ là vọng tưởng mà nó không phải Chánh tư duy, không phải Chánh tinh tấn mà nó nó tào lao, tào lao, vậy thôi.
[47:21]Nhé, nhiều khi đang trong giai đoạn đó. Phước chưa đủ nhưng đang trong giai đoạn khởi động. Dạ, trạng thái tỉnh giấc trong lúc ngồi thiền là sáng suốt không có vọng tưởng đúng không ạ? Tỉnh giác chứ không phải tỉnh giấc. Trạng thái tỉnh giác ạ. Cái tỉnh giác nó có nhiều mức độ.
[47:50]Tỉnh giác của một người mới có tỉnh giác sau khi thành tựu được Chỉ Quán và cái tỉnh giác của một bậc A La Hán cũng là tỉnh giác, nhưng cái mức độ sâu cạn khác nhau. Nên ta chỉ dùng cho một chữ tỉnh giác mà gom chung nó không chính xác. Cái định nghĩa chính xác nhất của tỉnh giác là biết. Tại cái chữ tỉnh là để biết, cái chữ giác là để biết. Cho nên tỉnh giác dĩ nhiên nó kèm theo nhiều trạng thái khác nơi đó, nhưng những trạng thái đó là phụ mà bản chất chính của tỉnh giác là biết. Biết cái gì? Đầu tiên, biết vọng tưởng, nhớ giùm, biết vọng tưởng. Vọng tưởng có ngôn ngữ. Rồi biết sâu hơn nữa là cái gì?
[48:40]Vọng tưởng không ngôn ngữ. Rồi từ từ biết tới gì? Biết tới những triền cái, những tập khí, những kiết sử, biết cho tới luôn cái chấp ngã, biết luôn tới vô minh. Biết tới độ nó tan tới đó. Thành thử là một bậc A La Hán cái tỉnh giác của vị đó là biết tới vô minh luôn nên không có vô minh nữa. Và cái tỉnh giác của một vị A La Hán là biết hết chân lý của vũ trụ. Còn cái tỉnh giác của ta khi mà ta vượt qua được cái khi ta thuần thục Chỉ Quán thì cái tỉnh giác của ta nó cạn, nó chỉ biết cái gì? Vọng tưởng. Nhớ, hễ ta còn biết vọng tưởng thì tức là ta đang có tỉnh giác. Nhưng có một bài Sư phụ có gửi nhắn mọi người, đừng có nói tới tỉnh giác.
[49:30]Vì khi ta nói tới tỉnh giác tức là ta đang vọng tưởng.
[49:37]Mà khi ta nói tới vọng tưởng thì ta đang tỉnh giác.
[49:44]Khi ta nói tới lầm lỗi tức là ta đang tỉnh giác, mà ta nói tới tỉnh giác tức là ta đang lầm lỗi. Những điều đó không đụng tới được. Cũng giống như ta thấy á, một người nói: "Tôi hạnh phúc quá, tôi hạnh phúc quá" thì không bao lâu người đó sẽ đau khổ. Vì cái hạnh phúc là cái đừng nói tới, đừng dòm tới, đừng chạm nó và bất cần nó đi, vậy chứ mà nó theo mình hoài. Còn bắt đầu mình ôm hạnh phúc vào lòng thì sẽ là ôm một mớ lửa đau khổ tới liền. Đó những cái nghịch lý trong cuộc sống rất kỳ lạ. Có những người lên mạng bung tiền, bung tiền ra chảy rơi rơi rơi đầy cả nhà, ít bữa bị bắt mất tiêu à. Không có đồng nào trong người.
[50:27]Nên có những cái như vậy, đừng nói tới, đừng chạm tới. Tỉnh giác cũng là một loại như vậy. Nay khi hỏi tỉnh giác là gì thì Sư phụ trả lời: Bản chất của tỉnh giác là cái biết. Khi ta biết vọng tưởng, vọng tưởng khởi lên ta biết liền tức là ta có tỉnh giác. Còn khi ta nói ta có tỉnh giác, nó đang là vọng tưởng. Nhớ đừng đụng tới vọng tưởng, chỗ này rất tế nhị. Và cái chữ tỉnh giác mà biết mà biết sâu sâu như vậy có nơi gọi đó là gì? Kiến tánh, là Chân tâm, là Phật tánh, là Chủ nhân ông, đủ thứ tên mỹ miều. Còn ta không gọi gì hết, ta tạm gọi là tỉnh giác mà đừng nhắc tới nó thôi. Chỉ khi nào ta biết ta có lầm lỗi
[51:07]thì tạm hiểu, hiểu ngầm là có tỉnh giác, chứ đừng nhắc tên nhé. Biết vọng tưởng tức là ta có tỉnh giác. Ta biết ta vô minh, ta biết ta tội lỗi, ta đang tìm, đang gieo cái nhân của sự tỉnh giác á. Đừng nói tới tỉnh giác, nhớ như vậy. Dạ, Sư phụ giải thích giúp con khi ngồi thiền có lúc con yên nhưng nhiều lúc tâm con khởi rất nhiều vọng tưởng và thi thoảng con ngồi thiền cảm giác thân con phình to.
[51:36]Con nói cái gì phình to rồi cái gì phía trước tùm lum nhiều chuyện hai ba ý trong đó dồn lại vậy? Dạ, ý thứ nhất là con ngồi thiền nhiều lúc tâm con yên nhưng nhiều lúc tâm con khởi rất nhiều vọng tưởng. Ý thứ hai là xin Sư phụ giải thích giúp con là thi thoảng con ngồi thiền con cảm giác thân con phình to. Hai câu muốn trả lời câu nào? Trả lời một cái thôi con, làm chi hỏi một lúc hỏi một cái luôn hai câu, hai ý vậy trời? Hả?
[52:14]Dạ con thưa Sư phụ là câu xin Sư phụ chỉ dạy giúp câu một trước ạ. Tâm con lúc... Câu một nãy giờ thì con nghe cái gì rồi? Hả, từ đầu buổi tới bây giờ Sư phụ nói cái gì mà bây giờ còn hỏi câu số một? Có lúc này lúc kia, chín tỷ thế giới người chín tỷ người trên thế giới là vậy đó. Câu số một nãy giờ Sư phụ trả lời toàn là câu số một không còn hỏi đi hỏi lại. Dạ là câu số hai là thi thoảng con ngồi thiền con cảm giác thân con phình to. Đó là ảo giác do dằn ép trên não.
[52:50]Dạ, con thưa Sư phụ là trước đây con cảm con cảm thấy từ lúc con qua nước ngoài học tập và làm việc, con không còn thân thiện với mọi người như trước và bản thân con thường hay suy nghĩ tiêu cực rất nhiều mà con không biết cách nào thoát ra. Con cũng cố gắng quan tâm mọi người nhưng nhiều lúc con không nói chuyện và cười nhiều. Điều đó khiến mọi người phiền lòng ạ. Dạ, con kính xin Sư phụ cho con lời khuyên. Cái này nó không phải về thiền, cái này nó thuộc về đạo đức, quan điểm sống. Tại vì chúng ta khi lọt vào môi trường nước ngoài, ta lọt vào cái văn hóa của họ. Mà cái văn hóa của một xã hội nó gồm hai mặt.
[53:25]Cái mặt nổi nó được nói ra thành ngôn ngữ và một mặt vô thức âm thầm nó tác động lẫn nhau, nó không có ngôn ngữ. Mình sống trong một cái xã hội mà ai cũng chỉ biết lo cho mình, ngại đụng chạm, ngại phi làm phiền người khác, cứ khẳng định chính mình, thích thể hiện cá tính. Mặc dù họ không nói ra nhưng ta sống trong môi trường đó, tất cả những ý niệm nó lọt vô trong tâm ta hết. Và ta trở thành con người đó mà ta không hay, không thoát ra được. Tại vì trong lúc sống với cái môi trường đó ta không có tụng kinh Phật, ta không tác ý từ bi nên những cái tiềm thức, văn hóa tiềm thức của xã hội nó lọt hết vô ta, ta bị nung nấu trong khung cảnh đó.
[54:10]Cũng giống như mấy đứa con nít á, ở bên nước ngoài về nó vô trong môi trường đó đứa nào cũng hỗn láo. Nó về nhà cái hỗn láo không dạy nổi mà thành bản chất tự nhiên. À nó nói xẳng giọng với bố mẹ, hỗn láo, xấc xược, ngang bướng không cần nghe lời ai. Nó nhiễm lẫn nhau mà không cần phải nói nhiều vì đứa nào cũng như vậy. Thì như vậy nên phải nếu biết đó là lỗi thì phải sám hối dữ lắm, phải lạy Phật, phải tụng những bài kinh của chùa mình lại. Tụng những bài kinh từ bi, sám hối đủ thứ hết một thời gian rất là dài rồi mới tẩy hết những cái ý niệm xấu trong tiềm thức ra chứ không phải dễ.
[54:50]Dạ, con muốn hỏi lúc ngồi thiền con hay có cảm giác có khối khí ở trên đỉnh đầu đặc biệt là vùng não sau khiến con khó để tâm ở vùng bụng dưới. Có cái gì? Dạ có cái khối khí trên đỉnh đầu. À khối khí, à à khối khí. Cái cảm giác mạnh, cái đó là lực bị bốc lên á. Cái đó là lực nó bốc lên, nó nằm ở trên đầu. Mà nếu cứ để lâu ngày vậy nó hư bộ não, bắt đầu phát điên, bắt đầu trục trặc về não bộ, suy nghĩ sai. Rất là nguy hiểm á. Mà tại sao nó xuất hiện cái khối khí trên đó? Cái khối khí nó xuất hiện thường là do mấy cái lý do thế này: một là kiêu mạn. Hễ mình kiêu mạn, tự khen mình, lực nó chạy lên, có khối khí nằm trên đầu.
[55:32]Thứ hai, mình có dằn ép. Mình dụng công phía dưới nhưng mà có ép, có dằn, có gồng cái gì đó, lực nó xuất hiện trên đầu. Và cái thứ ba, cố ý để tâm trên đầu. Ba trường hợp, coi lại ba cái đó gỡ ra. Dạ, con hay ngồi thiền được một lúc thì cảm giác người mình, tay hoặc chân không cân đối, không đều hai bên khiến con phải nhúc nhích sửa lại. Con bị cong cột sống nhẹ, con không biết có phải là nguyên nhân là vậy không ạ?
[56:04]Thực ra á, không bao giờ ta ngồi mà hai bên nó đều nhau tăm tắp như là tượng Phật. Chỉ có tượng Phật mới tăm tắp thôi, chứ còn ai ngồi cũng hai bên không đồng nhau. Tại vì sao? Hai bên chân gác lên trước gác lên sau mà, phải không? Là đã không đều rồi. Nên thường hai cái tay, tay ở trên tay ở dưới là đã không đều, nên bản chất thật sự của chúng ta là không đều hoàn toàn. Nên ta đòi hỏi đều là không đúng. Nhưng trong tương đối ta thấy dễ chịu, không thấy nghiêng lệch, không thấy nặng một bên nhẹ một bên là được rồi, là ngồi thiền được rồi chứ không đòi hỏi đâu. Còn mà ta thấy nghiêng lệch rõ tức là nó sai về về cái cái cái nội tâm của mình.
[56:51]Trong nội tâm nó có cái sai gì, nó khiến lực chảy qua một bên. Nhiều khi người ta quẹo qua một bên hoặc nghiêng một bên nhiều quá thì đó là cái sai rõ, chứ còn bình thường ta cũng có ngồi bình thường nó vẫn hơi nghiêng, hơi chênh lệch hai bên chút xíu không quan trọng, miễn là ta cảm giác nó nó nó ổn định, nó thẳng thớm. Mà cái cảm giác cái nó ổn định, nó thẳng thớm cái thân mình á là do cái tỉnh giác của ngồi thiền. Khi tâm ta mà được yên, nó xuất hiện một loại tỉnh giác nó kiểm soát lấy thân mình và nó biết mình sai ở đâu, nó sửa lại chỗ đó. Ví dụ ta ngồi cái ta phát hiện vậy, ta chỉnh lại. Cái tự thân mình không cần người ngoài nhìn.
[57:33]Mới ban đầu á thì ta phải có người giám thiền, nhưng khi ta ngồi lâu rồi ta tự biết à, nó nghiêng là ta biết liền, tự nhiên cái tỉnh giác chính nơi mình mình biết liền. Và cái cái thân mình sai chút xíu mình biết liền, thân sai xíu biết liền. Cái sức tỉnh giác nội tâm nó đi vào trong đời sống của ta. Nó đi vào trong đời sống, ví dụ như ta ta đi ta đứng thế này, ta đi đứng, cái sức tỉnh giác nó kiểm soát ta đi đứng có đàng hoàng hay không. Cho nên cái người mà mình thấy họ đi mà họ không kiểm soát là biết cái người này không có tỉnh giác, tức là họ không biết họ đúng hay sai, họ không biết họ đàng hoàng hay không đàng hoàng.
[58:08]Hoặc là khi họ nói họ cười ha hả hay mắt trợn ngược, liếc qua liếc lại, mình nhìn thấy người này họ không tự kiểm soát thân họ được, không kiểm soát cử chỉ của họ được, biết người này không có sức tỉnh giác của cái đạo đức và của thiền định, biết ngay liền. Còn cái người mà họ có thiền định, có cái sức kiểm soát thì cái buông tay để chân họ, nhiều khi họ có cái có những lúc họ cũng cần cái động tác nhưng mà mình thấy vẫn đẹp, chứ không bao giờ họ ừm xấu, lạ một điều vậy đó là không có xấu. Nên họ tự nhận được cái tự thân họ không cần người ngoài nhìn vào và họ tự biết được cái cơ thể họ đàng hoàng hay không, cử chỉ có đẹp hay không.
[58:48]Và bắt đầu cũng vậy, bắt đầu họ nhìn ra người ngoài họ biết cái người đó đi đứng có đàng hoàng không, nói năng, mắt nhìn, nụ cười đồ sao, ngôn ngữ từng chữ từng lời nhả ra có đúng có đàng hoàng hay không, họ biết luôn. Và đi vào trong nghệ thuật, cái đẹp hay không là đẹp họ nhìn họ biết được nên đẹp. Đi vào trong âm nhạc, cái dòng nhạc đó, cái âm điệu đó đẹp hay không đẹp, hay hay không hay họ biết luôn. Mà cái đó không định nghĩa được, nó là cái từ trí tuệ của tự tự tâm nó toát ra. Nên khi mà ngồi thiền, mình trở lại cái ngồi thiền, mà khi tâm nó yên, tự sức tỉnh giác nó có rồi, tự cái sức tỉnh giác đó nó chỉnh cái thân mình.
[59:26]Nhưng đừng nói sức tỉnh giác, nói nhiều quá thành ra vọng tưởng à. Ha. Dạ, con xin hỏi làm sao để duy trì trạng thái hơi thở nhỏ nhiệm trước khi phát hiện rằng ta đã buột mất đáy bụng hội âm ạ?
[59:44]Cái đáy bụng là một liệu pháp chứ nó không phải là thiền. Và cái hơi thở chậm, ít, êm là một phép chỉ, một kỹ thuật để dừng tâm, gần đúng chứ chưa đúng. Còn cái đúng là ta tìm được cái cường độ chậm, ít, êm mà nó dính được với tâm. Chứ còn nó chưa dính với tâm, có khi ta chậm quá, có khi ta ít quá cũng bị sai. Nên nhưng mà cái chậm, ít, êm là cái gợi ý, gợi ý á gần đâu đó hơi thở sẽ dính với tâm. Hai cái đó nó khác nhau. Nên mất cái hội âm không quan trọng vì nó chỉ là kỹ thuật ban đầu để chữa não thôi. Còn cái quan trọng là đỉnh cao của phép chỉ là hơi thở chậm, ít, êm dính được vô tâm, mà khi hơi thở chậm, ít, êm dính với tâm rồi,
[1:00:37]chỗ dính đó nằm lơ lửng trong bụng dưới, không phải hội âm, không phải đáy bụng, nằm lơ lửng trong bụng dưới, lơ lửng. Mà ở điểm nào? Đừng nói, nói điên liền. Biết là lơ lửng trong đó thôi, đừng xác định, không cần xác định.
[1:00:55]Nghỉ 5 phút hả con? Thôi, nghỉ 15 phút cũng được đi, sư phụ mệt quá nãy nói hoài.
[1:01:02]Rồi nghỉ uống nước đi, nghỉ uống nước đi. Mở nhạc hả? Rồi, Toàn Như lên hát con.
[1:01:22]Dạ, con xin phép được tiếp tục. Dạ. Dạ, con thưa sư phụ, khi ngồi thiền hơi thở dính với tâm rồi có phải cứ yên mãi đến khi xả thiền không ạ? Hừm.
[1:01:37]Khi hỏi câu đó tức là con chưa dính. Con chưa dính con mới hỏi, còn con dính rồi con tự biết. Cứ vậy mà tu vì nó yên tâm. Khi tâm nó yên về cái đó thì tâm thì mình yên tâm. Và cứ thực hành. Còn còn hỏi tức là chưa dính, dính thì không hỏi, hỏi thì chưa dính, vậy đó.
[1:02:05]Dạ, con ngồi thiền, con thấy toàn thân con là một khối tội lỗi nén rất chặt, đến lỗi đến nỗi cảm giác như không khí cũng không lọt vào. Một thời gian sau, con thấy trên đỉnh đầu xoáy như có khí xoáy vào đầu. Khi đi đến đâu, đầu con kêu rắc đến đó. Dần dần đi xuống thân thì rất dễ chịu. Con vẫn chú ý ở huyệt hội âm thì hơi thở ít, êm, nhẹ đến khi con không thấy hơi thở đâu, cảm giác thanh tịnh. Con bảo rằng: "Ồ, mình không thở thế này thì chết mất", con vội xả thiền ạ.
[1:02:45]Ban đầu á là do cái quán tội trên tội cho nên có phước.
[1:02:52]Cái bắt đầu nó kết thành một cái khối như một khối tội lỗi là để xác định là cái con đường mình đi đúng. Tại vì khi mà thân á nó giống như thành một khối nén chặt là vọng tưởng nó bị nén ở trong đó đó. Vọng tưởng nó cũng ép trong đó, nó bị cột trong đó, không khởi được, tâm không loạn. Rồi cái xuất hiện một cái khối khí ở trên đầu, nó là một hiện tượng của xuất hiện của khí lực, đừng quan tâm. Do mình không quan tâm cho nên bắt đầu cái nó vỡ ra từ từ để tâm mà được thanh tịnh. Nó là đi qua giai đoạn khí lực, nó là một giai đoạn những diễn biến của khí công như của kiếm truyện của Kim Dung á. Nó là vậy, nhưng mà căn bản của nó là cái khi mà thấy cái khối tội
[1:03:34]nó cứng chặt cái thân mình là nó đã cột vọng tưởng được rồi. Nên sau này khi cái khối nó tan ra thì tâm rất là thanh tịnh. Thanh tịnh nhưng mà chỉ bởi vì con để tâm ở dưới đáy bụng, lúc đó là chưa có tìm được cái hơi thở dính với tâm ở lơ lửng ở trong bụng, cho nên nó làm nó mất hơi thở, hơi uổng. Mà khi mất hơi thở như vậy, ta sẽ bị một cái này là rất dễ rời khỏi bản ngã. Rồi hưởng một thời gian là hết. Còn nếu mà mình còn hơi thở, giữ được cái hơi thở chậm, ít, êm là ta còn chỗ của bản ngã để ôm bản ngã, mà không không rời ra ngoài để hưởng thụ cảm giác thanh tịnh. Nhưng cái may là con xả thiền.
[1:04:18]Hôm nay hỏi lại, nhớ như vậy: cái hơi thở chậm, ít, êm rất là quan trọng để ta dựa vào đó và thêm cái câu thần chú. Cái hơi thở chậm, ít, êm mà dính với tâm là kỹ thuật, thêm cái câu thần chú là mình là vô minh tội lỗi là quán. Hai cái đỉnh cao đó hợp lại để giúp cho mình lúc nào cũng giữ được với chính mình là cái bản ngã. Chính mình đó là một cái gì nó rất nhỏ mà nó bên trong, không xác định vị trí, nhưng mình biết nó là chính mình là cái đó. Cứ nắm trên đó mà đi để không bị chạy ra bên ngoài. Nhớ cái chạy ra bên ngoài là hai loại chạy ra bên ngoài: Một loại chạy ra bên ngoài là khi ta đang còn vọng tưởng là ta nhìn ngoại
[1:05:01]cảnh nè, thấy trời, thấy đất, thấy người, thấy ngợm, thấy vàng, thấy bạc, thấy cây, thấy cỏ là chạy ra bên ngoài khi còn vọng tưởng. Một loại chạy ra bên ngoài khi tâm đã thanh tịnh là lúc đó cái trạng thái rỗng rang, sáng suốt, hỷ lạc hiện ra và ta hướng về nó là một loại chạy ra bên ngoài thứ hai. Thì cả hai loại chạy ra bên ngoài đều làm cho ta rời khỏi bản ngã. Nên mà rời khỏi bản ngã thì ta không đi tới vô ngã được. Nhớ như vậy. Muốn tới vô ngã là phải nắm chặt bản ngã, ôm lấy bản ngã thì sau này mới vô ngã. Mà cái bản ngã mà ta ôm á, nó càng lúc nó càng thanh tịnh, nó càng mầu nhiệm. Cái đó các thiền sư gọi là chủ nhân ông,
[1:05:46]là Phật tánh, là chân tâm, nhưng nó là một loại bản ngã ở mức độ sâu, rất là thanh tịnh, rất là mầu nhiệm và vẫn là bản ngã. Chỗ đó rất nhiều ngoại đạo cũng chứng được. Chỗ đó mà cái hai vị thầy mà Phật đến học đạo lúc mà mới xuất gia đó, là Alara Kalama và Uddaka Ramaputta, hai ông đó cũng được cái bản ngã đó và mầu nhiệm quá hai ông đứng đó luôn. Và ổng truyền dạy, chỉ có Đức Phật chứng tới đó liền rồi...
[1:06:18]Bằng cái trí tuệ thiên tài, Ngài biết chỗ này còn bản ngã mà, vẫn còn bản ngã. Nhưng mà những vị khác không thấy nữa, những vị tới đó là thấy thỏa mãn rồi, rồi đứng đó luôn, thành ngoại đạo, không có thành đạo giải thoát. Chỉ có Đức Phật, với trí tuệ thiên tài, ta nhớ cái câu đó, Ngài cảm nhận liền còn bản ngã, nên Ngài xin phép rời đi để tìm cho ra. Tới chỗ này tới tột cùng này rồi mà sao vẫn chưa hết bản ngã. Và Ngài loay hoay suốt sáu năm khổ hạnh, cho đến khi là thực sự khổ hạnh không làm được, không giải quyết được, mà chỉ bằng con đường thiền định: Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền.
[1:06:56]Vậy Tứ thiền là cái gì mà giúp người hết bản ngã? Chính là cái giữ chặt bản ngã, không hưởng thụ. Còn hai vị thầy kia, ông Alara Kalama với Rama Ta... Uddaka Ramaputta thì ổng có ra ngoài khỏi bản ngã để ổng hưởng thụ cái trạng thái rỗng rang, thanh tịnh mầu nhiệm, sáng suốt, ổng đứng đó luôn. Còn Đức Phật đi con đường Tứ thiền nên ta nhớ hôm nay định nghĩa Tứ thiền là gì: giữ bản ngã, giữ bản ngã ở mức độ ban đầu, nhập định ban đầu là Sơ thiền, giữ được bản ngã sâu hơn là Nhị thiền, sâu hơn là Tam thiền, sâu hơn nữa là Tứ thiền. Tứ thiền tức là mất bản ngã rồi. Bắt đầu tới mất bản ngã. Nhớ cái chỗ đó.
[1:07:38]Dạ,
[1:07:42]con có thể an trú được toàn thân, cảm giác từng thớ thịt và buông lỏng, sau đó hơi thở hiện ra và tâm yên. Nhưng khi con tập trung an trú vào một điểm bất kỳ trên cơ thể thì lại không an trú được, con bị loạn trở lại ạ. Tự nhiên đòi an trú một điểm làm chi vậy con? Tự nhiên con xí xọn, sảnh sẻ làm chi vậy? Tự nhiên nhiều chuyện, te rẹt làm chi vậy? Toàn thân cứ để nó toàn thân. Mắc mớ gì một điểm, từ toàn thân đâu chế ra bởi rầu nhất là cái đó đó. Rầu nhất là nghĩa là con đường của Phật dạy hoặc là của Sư phụ dạy nó đã ổn định rồi, bỗng nhiên mình thích rẽ vô cái hẻm nhỏ mình đi chơi trỏng á, rồi nói sao kỳ quá, vô trong đó nó kỳ quá, trong đó gai góc không.
[1:08:24]Ai kêu xí xọn, sảnh sẻ, te rẹt, nhiều chuyện làm chi vậy? Cứ ổn định con đường lớn đó mà đi, biết toàn thân thì cứ biết toàn thân, mắc mớ gì tự nhiên thích trụ một điểm? Vô duyên quá đi! Vô duyên!
[1:08:40]Dạ, khi ngồi thiền trong phòng máy lạnh ở nhà thì con ngồi yên hơn, ít đau chân hơn là ra ngồi ở chánh điện. Có phải con bị phụ thuộc vào máy lạnh quá không ạ? Không! Cái đây là có thật đấy nha, đó là có thật. Đó là lý do mà ở các thiền đường mà Sư phụ xây đều phải có máy lạnh. Đều phải có máy lạnh, nên là ta dùng điện mặt trời chứa trong pin để chạy máy điều hòa hết cho mọi người khi ngồi thiền. Vì cái nóng bức làm cho ta khó nhiếp tâm, là một sự thật. Mà điều này cũng được ghi trong kinh điển thời Đức Phật. Nên có một vị A-la-hán vậy, Ngài cũng tu cũng vất vả, rồi câu chuyện có lúc Ngài đi du hành trên đường,
[1:09:20]hôm đó cái trời chuyển mưa, chắc là vô mùa mưa Ấn Độ, cái Ngài lại thấy cái hang hang đá, cái Ngài vô hang đá nghỉ lại, và đêm đó là mưa, trời mát mẻ và nhờ cái cơn mát mẻ đó Ngài nhập định đắc luôn A-la-hán. Câu chuyện đó vẫn còn ghi trong Tiểu Bộ Kinh. À rất nhiều người cũng vậy, những người cư sĩ mà họ không ở trong chùa, thời xưa không có máy lạnh đâu. Thời xưa ở miền Nam phải cái nhà nào khá giả mới có cái máy lạnh, chứ còn đa phần người ta chạy quạt máy xẹt xẹt xẹt là mừng lắm rồi. Thì Sư phụ cũng gặp một cái ông đó vậy, ổng là cư sĩ nhưng mà nhà ổng khá giả ổng có cái máy lạnh và ổng đắc thiền nhờ nói:
[1:09:54]"Tôi toàn ngồi thiền trong phòng máy lạnh", và cái mức độ ổng khá khá sâu. Nên điều đó nó nó không chống trái, nên vì vậy là ta ngồi thiền cố gắng ngồi nơi mát mẻ là vậy. Sướng ha, nghe thấy sướng.
[1:10:14]Dạ, mấy năm nay con ngồi thiền hơi thở ít dần, có lúc con cảm giác giữ hơi thở và thân như là một, độ khoảng nửa giờ con lại thở bình thường, không thấy êm trở lại nữa. Xin Sư phụ chỉ dạy giúp con. Tức là cái mà hơi thở nó chậm, ít, êm là đang đi đúng cái lộ trình. Nhưng mà trong cái chậm, ít, êm đó, ta xuất hiện một cái lỗi nào đó, cái nó không nó không giữ được cái chậm, ít, êm đó nữa. Rồi nó có hai cái loại lỗi có thể xảy ra trong cái lúc đó: một là cái chậm, ít, êm đó có cái chút dằn ép nào; hai, ta có cái tự hào; và có thể có cái thứ ba: quên tác ý mình vẫn là vô minh tội lỗi. Có thể có cái lỗi đó nên lát sau nó mất cái trạng thái đó.
[1:11:03]Dạ, khi áp dụng Chỉ và Quán, Sư phụ dạy lúc đầu Chỉ và Quán giống như là hai cái khác nhau, nhưng dần dần hai cái đó chỉ là một, tức là hai cái dính với nhau. Như vậy không biết có đúng không ạ? Nếu đúng thì đến lúc cần bỏ Quán thì sẽ làm thế nào ạ?
[1:11:26]Ở mức độ rất sâu thì Chỉ Quán nó là một, nhưng giai đoạn đầu ta cứ chia làm hai giống như đôi cánh của một con chim. Ví dụ như bây giờ cái Chỉ Quán, ví dụ khi ta biết toàn thân nó là Chỉ hay Quán? Chỉ. Rồi ta biết thân vô thường là Chỉ hay Quán? Quán. Hai cái đó đi chung với nhau. Rồi ví dụ như ta biết chính mình, đó là Chỉ, nhưng biết chính mình là tội lỗi, vô minh, đó là Quán. Hai cái đó đi kè kè kè với nhau trong suốt như vậy đó. Rồi cái hơi thở vậy, cái hơi thở nó là một kỹ thuật rất là hay, nó chỉ là Chỉ thôi. Nhưng mà ở trong cái hơi thở mà khi sâu rồi, ta thấy được cái mong manh của kiếp người, nó lại là cái Quán nó hiện ra.
[1:12:09]Nên hai cái Chỉ Quán cứ đi theo đi theo đi theo nhau thế này. Chỉ nó gợi ý cho Quán, Quán nó gợi ý cho Chỉ, nó đi kè kè kè. Nhưng mà khi mà ta, nhưng mà cái Quán á thường là nó có cái lý luận của nó, của cái chánh tư tinh tấn, thường nó có lý luận nên cái vọng tưởng nó bị nuôi. Do đó là khi ta đi vào thực hành rồi, dường như cái Quán bị bỏ, chỉ còn Chỉ. Ví dụ ta chỉ còn hơi thở, ví dụ ta chỉ còn biết toàn thân, ta không có lý luận nữa, giống như bỏ Quán. Nhưng sự thực cái Quán này nó trở thành bản chất của ta, thành trí tuệ của ta, thành cái huân tập thấm sâu trong tâm thức của ta. Không quán nhưng nó đã thấm quá rồi.
[1:12:50]Cũng giống như bây giờ một người vậy đó, họ không thấy họ hiền lành gì hết trơn, không nói họ tử tế, không nói họ thiện á, nhưng mà thấy người khổ là tự động móc tiền ra đưa. Tại vì nó thành bản chất rồi. Cái điều mà họ đã huân tập về cái đạo đức, lý luận, tụng kinh lâu ngày quá cái nó thành thiệt không nói nữa, miệng chẳng thèm nói nhưng mà thấy người khổ giúp tiền, giúp. Thì cũng vậy, không cần nói tới Quán nữa, à chỉ cần biết toàn thân hoặc là chỉ biết hơi thở chậm, ít, êm nhưng tâm nó nhiếp, vì cái cái Quán trong chánh tinh tấn nó nằm sâu trong thành bản chất của tâm hồn tự nhiên rồi, là vậy.
[1:13:28]Dạ, khi tìm điểm lơ lửng rồi thì làm sao để không bị động lại, làm sao để không bị mất điểm ấy ạ? Chỉ khi nào ta tự kiêu, ta kiêu mạn mới bị mất. Vì tìm được nó rồi, mà nói tìm được nó thì cũng hơi nghi rồi đó, tại nó không có điểm, mình chỉ áng chừng thôi. Nó là một cái gì đó trừu tượng, và chỉ áng chừng là đúng. Còn nói: "Con xác định được điểm này rồi" - đó là người nói dối, tại nó không có điểm nào hết trơn á. Đây là một cái chỗ khác nữa. Nên áng chừng nó ở chỗ đó thì đúng, mà chỗ đó là chỗ mà hơi thở và tâm dính nhau thì đúng, chứ còn xác định được đúng điểm đó rồi, người đó nói dốc. Không có điểm. Nói chính mình nằm đâu đó, đâu đó thì đúng, chứ còn:
[1:14:16]"Con chính xác được cái điểm này rồi" - người đó nói dốc. Nhớ như vậy. Thiền là như vậy, thiền là một logic tập mờ, fuzzy logic, chứ nó không phải là toán học của 2 + 2 = 4. Nó như vậy.
[1:14:31]Dạ, khi ngồi thiền, nếu mở mắt thì con biết rõ toàn thân hơn nhưng có khi cũng bị phân tâm bởi xung quanh. Khi nhắm mắt, có khi con cảm thấy tâm yên lắng hơn nhưng cũng có khi bị hôn trầm hay vọng tưởng. Vậy con không biết phải làm thế nào mới đỡ bị sai ạ? Thầy cũng không biết luôn. Khi mà tâm ta chưa thuần á thì cái mở mắt hay nhắm mắt nó có cái ưu, cái khuyết của mỗi bên. Còn khi ta thuần rồi mở mắt cũng vậy mà nhắm mắt cũng vậy, đều yên, đều tĩnh. Và nhất là lúc đó ta rất thích nhắm mắt. Ta nhắm mắt là yên luôn, nó không bị động, không hôn trầm, không vọng tưởng, yên luôn. Tức là cái người đó là thuần rồi.
[1:15:14]Còn khi nó chưa tới mức độ thuần thì mỗi cái nhắm mắt, mở mắt đều có ưu có khuyết nên nó nhảy qua nhảy lại kiểu đó là vậy. Thì ráng thôi ráng tu thêm thời gian nữa nha, ráng lạy Phật đồ thêm, từ từ nó được rồi cái không có hỏi câu đó nữa.
[1:15:31]Dạ, khi vào thời thiền khoảng 10 phút, con bị đổ mồ hôi rất nhiều. Nếu con không lau mồ hôi, một lúc sau con bị lạnh người rồi ho liên tục. Hoặc khi con lễ Phật, mồ hôi tay và trán con chạm xuống mặt đất là ướt chỗ sàn nhà. Mồ hôi con ra nhiều quá nên ngồi thiền con thấy khó chịu. Con hay ngồi chỗ có quạt phả vào thì con dễ chịu hơn nhưng lại hay bị ớn lạnh vào cuối thời thiền.
[1:15:58]Con bị mất chân âm nhiều quá. Bị nhứt mất chân âm cho nên những cái nang mồ hôi nó bị hở, nó bị hở nên mồ hôi nó dễ tiết ra. Nên ráng tập khí công thêm, ráng tập khí công thêm nhiều cũng phải mất khoảng ba năm trở lên thì nó mới giữ các nang mồ hôi lại ít bị lại cái trạng thái đó. Dạ con thưa, con thưa Sư phụ là vừa rồi Sư có chỉ dạy mà con nghe được đó là khi mà trong giới của Tỳ-kheo á, khi mà mà các tụng giới mà một vị mà nhập định là người ấy phạm giới. Vậy thì à trong đời sống hàng ngày thì à bọn con cứ phải nhắc nhau là à phải nhớ giữ tâm thanh tịnh hoặc là phải nhớ thân này vô thường thì à với bao nhiêu cái vấn đề mà mình trong cuộc sống như vậy thì
[1:16:46]thì cái việc mà giữ tâm thế nào mà nhiều khi cứ sợ bị rơi vào cái cái trạng thái mà mình sử dụng tâm không hợp lý. Ví dụ như lúc mà hoàn cảnh đó mà mình cần phải sinh một cái tâm gì đó để xử lý thì mình lại giữ cái tâm như vậy thì có bị sai như thế nào không?
[1:17:12]Phật có dạy cái như lý tác ý. Trong một hoàn cảnh nào đó ta cần phải có một cái tác ý cho nó đúng với đạo lý. Và cái tác ý đó nó lại củng cố cho chánh tư duy và chánh tinh tấn, cái như lý tác ý này. Và cái như lý tác ý này nó thuộc về trí tuệ. Lúc đó mình biết mình phải khởi lên điều đó, khởi lên điều đó. Ví dụ như là,
[1:17:40]ví dụ như bây giờ có một cái người họ hiếm muộn con cái, họ tới họ nói: "Nhờ thầy chú nguyện giùm cho con, con bị hiếm muộn." Thì việc mà chú nguyện cho người ta có một đứa con là điều không có trong đạo Phật. Tại vì nó thuộc về ái dục, về mai mối. Trong cái giới luật mai mối là không có. Cho nên dù là nói không mai mối, nhưng mà chú nguyện cho người ta có đứa con nó gần gần giống như mai mối, là một cái điều phạm giới của Tỳ kheo. Nhưng mà mình thấy người ta, mà người ta là người đời, người ta cũng không biết chuyện đó và người ta cần có một đứa con, mà không có đứa con gia đình người ta rất là bất
[1:18:20]hòa, rất là đau khổ, rất là bất an đủ thứ. Mà mình mà chú nguyện cho người ta có đứa con để cho người ta vui, coi chừng mình đầu thai vô đó á. Chính mình đầu thai vô nhà đó á. Do đó, nó cần một cái như lý tác ý để hóa giải tình trạng đó. Là lúc đó mình chú nguyện thôi: nếu mà gia đình này đủ duyên cho vị nào đầu thai xuống gia... gia đình này, sau này là một người xây dựng đạo đức cho thế giới này. Tức là vì đó mình nói theo nước đôi như là một lời cầu nguyện, lời xin. Thì vị nào đầu thai vô đó trở thành một người xây dựng đạo đức cho thế giới này thì người đó sinh ra một cuộc đời không phải để vui chơi, không phải để làm đẹp lòng gia đình,
[1:18:59]làm đẹp lòng bố mẹ mà ra đi với một cái hạnh nguyện cao cả. Đó cũng là một loại như lý tác ý khi ta chú nguyện cho họ. Hoặc là, nó nó nó vô số trường hợp cái như lý tác ý này trong mỗi đó là nó nói vô số trường hợp mà Phật bắt buộc ta phải khởi lên để cho
[1:19:21]nhân quả ta được tròn.
[1:19:25]Ví dụ như thế này, ví dụ như có một cái người người nghèo họ tới chùa,
[1:19:32]ta nghĩ là sao? Nói ta mắc ngồi thiền không nghĩ gì hết. Cái mà không nghĩ gì hết, coi chừng là sai. Mà lúc đó ta có khi đó ta phải như lý tác ý. Là nó thứ nhất là đạo Phật đạo từ bi nên ai tới đây cũng phải được yêu thương. Họ thế nào kệ họ, nhưng mà mình cứ yêu thương họ trước cái đã, chứ không đòi hỏi họ tốt hay xấu hay giàu nghèo. Cứ là yêu thương. Đó là cái như lý tác ý à. Đó, ta cứ yêu thương mọi người một cách bình đẳng, không đòi hỏi. Đó là cái như lý tác ý. Rồi ví dụ, nhưng mà cái người đó cái họ họ nói: "Cho con vô ngồi ăn cơm chung với Tăng Ni được không?" Không. Tại họ chưa phải là một Phật tử thuần thành, chưa có giới, chưa có luật.
[1:20:20]Họ không thể ngồi ngồi chung ăn với Tăng Ni làm rối loạn cái đội hình, ảnh hưởng tới người khác. Cho nên ta lại một cái tác ý thứ hai. Tác ý là cái phước của người này không phù hợp để ngồi ngồi chung với Tăng Ni, nên ta mời họ, ta giải thích cho họ và hãy mời ngồi đúng vị trí của họ. Thì lúc đó ta lý luận của ta là cái gì? Là cái phước. Cái phước họ trong cái đó phù hợp và họ ngồi như vậy họ không bị tổn phước thêm, chứ họ đòi họ phải ngồi ngang với Tăng Ni phước họ sẽ bị tổn. Đó cũng là một loại như lý tác ý. Và trong cuộc sống này là nó vô số trường hợp để giữ cho ta cái đạo đức, để giữ cho ta thực hiện mọi việc cho nó đúng
[1:21:01]với nhân quả, đúng với đạo lý và làm cho cuộc sống nó đẹp hơn, nó sâu sắc hơn, nó có ý nghĩa nhiều hơn. Cái như lý tác ý con vừa hỏi là đụng cái như lý tác ý á. Dạ vâng. Trong cái lúc mà mình như lý tác ý như vậy thì mình dụng công công phu như thế nào là mình có cảm giác toàn thân hay là mình cứ đi theo cái ý đó để mình xử lý thế ạ? Cái thiền là cái thường xuyên con. Còn cái như lý tác ý là một đối phó trong mỗi trường hợp thôi. Chứ cái chạy theo nó làm chi. Lúc nào tâm mình biết toàn thân, biết thân mình là vô minh tội lỗi vậy thôi. Vậy thôi, còn cái như lý tác ý là khi gặp chuyện thì nó khởi lên
[1:21:36]mà nó khởi lên tùy trí tuệ của mình và nó vô số trường hợp. Nó tạo thành 3 ngàn oai nghi, 8 muôn tế hạnh là vậy đó. Con thưa Sư phụ là đa số chúng con mỗi cái thời thiền nó sẽ có giới hạn. Giới hạn thứ nhất là bởi cái thời khóa. Giới hạn thứ hai là bởi cái cái cái nghiệp của thân, mình ngồi rồi mình sẽ có trạng thái mình đau, mình không ngồi lâu được. Thì một cái tiêu chuẩn của một cái thời khóa như vậy thì là đi theo như công phu là mình ngồi thiền đúng tư thế, buông lỏng toàn thân, rồi thực hiện chỉ quán và vọng tưởng lắng dịu. Và khi vọng tưởng lắng dịu như vậy thì hơi thở xuất hiện chầm chậm, êm êm và đôi khi mình tìm được cái hơi thở
[1:22:18]nó dính với tâm và mình an ổn trong cái thời thiền đó. Nhưng mà mình chỉ làm công phu và đấy là tiêu chuẩn của một thời thiền và nó tức chính là một cái giới hạn của cái thời thiền đó. Thì mình cứ như vậy là một cái tiêu chuẩn chung cho cái việc mà mình ngồi thiền theo thời khóa. Và mình cứ an ổn trong điều đó thưa Sư phụ? Vậy thì con thưa Sư phụ là như vậy cái kết quả của cái việc ngồi thiền như vậy nó chỉ dừng lại ở cái điều đó hoặc là nó sẽ còn có những cái chặng Cái này có một thiền sư họ kể một câu chuyện thế này. Nói: "Hãy nhìn cái người thợ đập đá. Họ một cái tảng đá to thế này họ cầm cái búa tạ họ quay, đập cái bốp, nó bể không?
[1:22:56]Không. Đập nữa, cái bốp, nó không bể. Mà nói đập tới 100 cái cũng không bể, nhưng cái 101 nó nứt. Thì cái 101 nó nứt không phải tại vì cái 101 nó đặc biệt hơn cái 100 cái kia, mà chỉ bởi vì 100 cái kia đã chấn động cục đá từ từ rồi. Thì cái 101, cái cú đập 101 là cái kết quả nó hiện ra, nhưng nó là tích lũy của 100 cái cú đá trước cú đập trước. Thì cũng vậy, ta cứ ngồi thiền thời nào nó cũng giống như vậy, nhưng cái quan trọng là biết mình vô minh tội lỗi, thì chúng ta đang đi vào sâu trong bản ngã từ từ. Đó là một câu thần chú để ta đi vào sâu trong bản ngã từ từ, tội ta hết dần dần, phước ta tăng từ từ.
[1:23:42]Nhưng mà nói tới phước nó mất phước á, nên kỳ cứ nói là tội ta mất dần dần, bởi vì mình thấy được tội lỗi của mình. Thì cứ như vậy cứ ngồi thiền một thời này không kết quả, cũng như vậy một 100 thời cũng không kết quả, 1.000 thời như vậy cũng không kết quả, 10.000 thời cũng không kết quả, nhưng 10.001 coi chừng ngộ đạo á, coi chừng đắc đạo á. Ta không biết được, nhớ như vậy.
[1:24:11]Dạ, trong lúc ngồi thiền mà huyệt hội âm, vọng tưởng hay hơi thở, cảm giác thân, nhưng mà huyệt hội âm nó hiện rõ hơn các cái còn lại. Lúc này có cái biết là con đang chú ý vào huyệt hội âm nhiều hơn các cái còn lại. Những lúc như thế con nên tác ý gì để hiệu quả hơn trong thời thiền ạ?
[1:24:33]Con đang yên ổn với điều đó thì cứ như vậy, đừng đổi cái gì khác. Còn khi nào muốn đổi cái gì khác sẽ do chư thiên hộ pháp điều khiển, nhớ cái đó. Nó sẽ đi trong cái những cái chỉ quán mà sư phụ đã dạy thôi, nhưng khi thì thực hiện cái này, khi thì thực hiện cái kia, đổi qua đổi lại là do sự điều khiển bí mật ở trên của chư thiên, chư Bồ Tát, chư Phật. Nhớ như vậy. Khi ta quy y Phật, khi ta đã đảnh lễ Phật, ta đã kết nối với cái hệ thống Phật, internet Phật ở trên đó, chứ ta không còn là chính ta nữa đâu. Mà cuộc đời ta, suy nghĩ ta, việc tu tập của ta được các ngài âm thầm điều khiển, miễn là ta ngoan.
[1:25:17]Còn khi ta tự cao thì cái cái connection, cái nối mạng đó nó cắt đứt, cái wifi đó bị cắt đứt. Còn ta còn khiêm hạ, còn tôn kính Phật thì wifi nó còn hoạt động tốt. Lúc nào cũng có sự kết nối âm thầm giữa cá nhân ta với trên chư thiên, chư Phật, chư hộ pháp, họ theo dõi ta. Và lúc đó ta chưa cần đổi cái gì thì ta cứ yên đó mà làm, vì các ngài đang cho phép. Và con nhớ mình không ai tu một mình được đâu nha, đang có các vị theo dõi hết á. Và có khi con tới lúc đó bỗng nhiên con đổi qua cái này chút xíu, tới lúc kia con đổi qua chút xíu xíu. Cái điều chỉnh chút chút chút chút đó ở trên họ nhắc mình, khiến bỗng nhiên mình thấy:
[1:25:54]"Ờ, hôm nay mình tu này mới đúng hơn chứ." Mình sẽ dễ bị hiểu lầm là: "Ồ, trước kia tu vậy không đúng đâu, cái này mới đúng hơn." Không phải đúng hơn, bởi vì tới lúc phải đổi qua cái này một chút, tới lúc đổi qua kia một chút, nó phù hợp với cái căn cơ, thể trạng, nội tâm của mình mà được điều khiển bởi bởi ơn trên, bởi chư Phật. Đó là một cái bí mật, nên đừng có ai nghĩ rằng là mình giỏi, mình tự tu được, không có đâu. Mình đều là kết nối mạng với chư Phật hết. Khi mình đã quy y Phật, mình đảnh lễ Phật, lễ kính Phật với tâm tôn kính tuyệt đối và cái mạng nó rất tốt.
[1:26:32]Dạ, nhiều hôm suốt thời thiền vọng tưởng ít khởi lên mà khi về nhà thì tâm ái dục khởi lên rất mạnh. Mặc dù trong lúc ngồi thiền con thường tác ý khiêm hạ, thấy mình cỏ rác cát bụi. Có phải là vọng tưởng này là do tâm tự hào kiêu mạn nên tâm con dễ khởi ái dục không ạ? Đó chắc chắn rồi. Nó là loại vọng tưởng không ngôn ngữ nên ta không thấy, nhưng nó có ở trỏng á. Chính vì cái nó không ngôn ngữ, ta không thấy, nhưng ta vẫn đang tự hào, ta đang hưởng thụ cái cảm giác an lạc, hỷ lạc đó, ta đánh động cái dục lên liền. Bởi vậy, cứ đầu ngồi giờ ngồi thiền là ta phải tác ý ba tâm hạnh là vậy đó. Ba cái đó cực kỳ quan trọng:
[1:27:12]tôn kính Phật tuyệt đối, yêu thương chúng sinh vô hạn và khiêm hạ tột cùng như đất bụi, cứ phải nhắc hoài nhắc hoài vậy.
[1:27:23]Bây giờ hết giờ ha, nghỉ phải không? Nghỉ được phải không? Rồi, vậy là xong hết phải không con? Câu hỏi hết rồi phải không? Hoan hô, hết rồi. Cảm ơn quý vị đã lắng nghe.
[1:27:38]Kính thỉnh trên Sư phụ và quý thầy cô với lại toàn thể hội chúng hồi hướng ạ. Nguyện pháp giới chúng sinh cùng
[1:27:56]tinh tấn tu hành, thoát chấp ngã vô minh, đồng viên thành Phật đạo.