[0:19]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch trên chư vị tôn đức tăng ni. Kính thưa quý Phật tử, thì cái duyên chúng tôi trở lại thăm chùa Bửu Trì, thăm Ni sư viện chủ.
[0:38]Nhưng Ni sư lẹ chân quá, Ni sư thấy thoáng thoáng biến mất như có phép vậy, không thấy đâu hết.
[0:46]Xin trao đổi một đề tài đạo lý là: "Bốn mức độ tu hành của tâm". Cái đề tài này hơi khó, "Bốn mức độ tu hành của tâm". Nhớ nha, hôm nay nghe dễ ngủ lắm á. Nếu hiểu thì ta được có lợi ích về đạo lý, mà nếu không hiểu thì ta cũng được lợi ích là ngủ ngon. Bài này khó ạ. Cho nên chỉ những người
[1:16]chỉ những người quyết chí tu hành thì mới tập trung nghe bài này được nha. Còn nếu nghe cho vui, nghe bài này không nổi đâu. Phải rất là quyết lòng tu hành, ta mới tập trung nghe bài này. Đừng ai nói chuyện nha. Phân tâm mất một chữ nghe không hiểu bài này à. Đừng... Bên cạnh mình ai nói nói gì nhắc người ta để tập trung nghe bài này. Ở đây hôm nay ta nói về bốn mức độ tu hành của tâm,
[1:47]là gồm bốn mức như thế này. Mức thứ nhất là cái sự tu hành giữa ý nghĩ đúng và ý nghĩ sai, là mức độ thứ nhất.
[2:00]Mức độ thứ hai là cuộc đấu tranh giằng co giữa cái tỉnh giác và bất giác.
[2:08]Nghe khó rồi đó nha. Cái mức độ thứ ba là đấu tranh giằng co giữa cái tịnh và cái động. Cái mức độ thứ tư, là cái tột cao á, là cái đấu tranh giữa cái vô ngã và chấp ngã.
[2:30]Nhắc lại, nhắc lại nhớ bốn mức độ nha, nằm lòng nha. Nghe bài này mà hiểu rồi về đi giảng được rồi đó. Thứ nhất nè, là giữa đúng và sai của cái tâm mình. Đấu tranh giằng co giữa ý nghĩ đúng và ý nghĩ sai. Hay nói tắt là mức độ đầu tiên cái sự tu hành của tâm là đúng và sai. Cái thứ hai là tỉnh giác và bất giác. Thứ ba là giữa tĩnh và động. Thứ năm là giữa vô ngã và chấp ngã. Thuộc chưa ạ? Thuộc chưa ạ?
[3:13]Thôi thuộc rồi thôi thì không giảng nữa. Xong. Làm lại nha, nhắc lại. Khó rồi nha, nhắc lại. Bốn mức độ nha, nhớ nằm lòng luôn nha. Nghe xong về là làm giảng sư được luôn nha, thuộc luôn á. Tu thì khoảng ngàn kiếp mới xong bốn mức này. Nhưng mà thuộc thì qua một thời này có thể thuộc được. Thứ nhất là gì? Đúng và sai. Thứ hai? Đúng rồi, tỉnh giác và bất giác. Thứ ba? Tĩnh và động. Thứ tư? Vô ngã và chấp ngã. Rồi đó, nhớ như vậy giùm. Bây giờ bắt đầu ta phân tích từng cái. Bốn mức độ. Khi một người bắt đầu tu hành thì cái sự đấu tranh đầu tiên là
[4:07]ý nghĩ đúng và ý nghĩ sai.
[4:11]Từ vô lượng kiếp chúng ta ở trong mê mờ, vô minh, ngu si, khờ dại, cho nên ta suy nghĩ sai rất nhiều.
[4:26]Và có những người suy nghĩ sai đến mức độ là
[4:33]nói bậy, làm bậy rồi đọa luôn xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Còn như chúng ta ngồi đây thì không đến mức độ mà nó trầm trọng quá, nhưng chúng ta khi thì đúng khi thì sai, nó cứ bị trộn lẫn như vậy nên chúng ta tái sinh làm người. Mà tái sinh làm người để tu tiếp, tu lại, làm lại cho tới khi nào mà tâm ta chỉ còn điều đúng thì ta mới vượt khỏi thân phận của con người. Thì ở cái thân phận con người này, mà nhất là những người mà biết tìm về với đạo này, thì chúng ta lại càng ý thức rõ giữa cái tội, phước, đúng, sai.
[5:27]Còn ở ngoài kia, những người mà không biết đến với Phật pháp tu hành thì họ sao? Họ không quan tâm đến điều đúng, điều sai lắm. Suy nghĩ đúng cũng được, suy nghĩ sai cũng được. Miễn sao cái ý mình được được được thành là được, tức là chấp ý mình hay là bảo vệ ý mình. Cho nên ở ngoài kia biết bao nhiêu người rơi rụng, đọa lạc. Còn chúng ta biết đặt chân đến chùa, biết lạy Phật, tu hành cho nên mình lo sợ giữa điều tội và và phước, đúng và sai.
[6:11]Nhưng mà cái người biết lo sợ mới gọi là người biết tu. Vậy mà nhiều khi còn sẩy chân, sẩy lòng, sẩy miệng mà nghĩ bậy.
[6:27]Cái ta nói bậy á còn có người nghe để gặp ta mà góp ý. Cái ta làm bậy còn có người thấy để mà tới gặp ta mà mà nhắc nhở. Nhưng cái ta nghĩ bậy có ai biết không ạ? Không. Cái này mới nguy hiểm. Cái ta nghĩ bậy trong tâm không ai biết, không ai thấy. Cho nên ta mặc tình mà nghĩ bậy. Mà nghĩ bậy nhiều rồi thì sao? Tâm hồn ta hoen ố rồi thì sao? Bắt đầu ta nói bậy, làm bậy thành con người xấu. Thành con người xấu rồi ta mất cái phước làm người. Lúc đó tuy còn làm người mà thực sự cái giá trị bắt đầu chỉ bằng con thú mà thôi. Tuy cái phước còn làm người còn, cái trớn để làm người còn, nhưng mà chỉ chực chờ bỏ thân này là rớt xuống làm thú liền.
[7:30]Cái đáng sợ là vậy. Còn ở đây nếu trong cái cô độc đó, trong cái cô độc của nội tâm không ai thấy, không ai biết mà ta cố gắng giành giật từng cái điều thiện cho tâm mình, thì cái tâm ta nó tốt dần, nó đúng dần, nó sáng dần lên.
[7:56]Tuy bên ngoài không ai thấy nhưng chư thiên trên trời thấy. Thì lúc đó tuy ta vẫn còn mang hình hài của con người, vẫn còn cái trớn của con người nhưng mà phước đã ở ở cõi trời rồi. Ở trong cái cô độc thầm lặng của nội tâm không ai biết á, tự ta phải kiểm soát chính mình. Tự ta phải làm thầy chính mình.
[8:28]Nên người nào mà ở trong nội tâm mình mà tác ý đúng, suy nghĩ đúng thì cái người đó làm thầy thiên hạ được. Vì làm thầy được chính mình, làm chủ được chính mình trong cái cô độc thầm lặng thì có thể bước ra ngoài làm thầy thiên hạ, dạy người ta được.
[8:57]Trong đầu ta thường nghĩ bậy điều gì?
[9:05]Nhìn lại coi.
[9:10]Trong đầu ta, trong cái bí mật âm thầm nội tâm ta, thường nghĩ bậy về điều gì?
[9:20]Tùy người phải không ạ? Mỗi người theo cái tập khí của mình mà có cái điều nghĩ bậy khác nhau. Nhưng mà đa phần ta hay nghĩ bậy điều này: chê người khác, khen mình. Đúng không? Thầy nói có đúng tim đen không ạ?
[9:43]Mình hay âm thầm tự khen mình. Hễ đi chùa lạy Phật được thời, tụng được kinh được thời là về tự khen mình nức nở, đúng không ạ? Rồi lỡ mà giúp ai được cái điều gì, ví dụ như thấy một cái người nào đó nghèo, mình cho người ta 5 lít gạo, thì 5 lít gạo người ta ăn rồi được 2 ngày hết, nhưng mình tự khen mình tới 3 tháng chưa hết. Cứ nhắc ra khen hoài: Bữa đó mà không có tui cho 5 lít gạo, nhà đó chết đói à. Cứ tự khen mình hoài. Cho nên cái tâm mà xấu là ta hay tự khen mình. Mà khi tự khen mình thì ta cũng hay có cái tật là hay chê người khác, cũng bí mật trong đầu không nói ra. À ví dụ gặp người nào đó:
[10:32]Ồ, chị nay khỏe không? Ờ nay chị xinh quá ha. Miệng thì nói chị xinh nhưng trong đầu: Xấu như ma, thua mình xa, nói vậy. Cái chê cái bí mật âm thầm ở trong đầu. Có không ạ? Có không? À nhiều cái ta hay chê người ta. Cái đó ta tổn phước từ từ mà ta không biết.
[10:54]Rồi cái điều gì nữa?
[11:00]Ta sân hận. Sân hận là hay giận hờn,
[11:06]nuôi nấng những cái tâm giận, kích bác, chống đối, hăm dọa người khác. Ví dụ như nói là ai chọc mình giận, trong đầu mình nghĩ: Thiệt á, không kềm được quánh nó chết bây giờ. Cái câu đó mình không làm, cũng không nói ra, nhưng mà tự nghĩ trong đầu, tự nghĩ trong đầu. Những cái đó cũng là những ý nghĩ xấu.
[11:37]Hoặc là đến chùa tu tập, thấy mọi người tinh tấn, cái mình tự khởi cái niệm:
[11:48]Thấy tu vậy chứ không bằng tui. Tui tu nhất kiếp ngộ nhất thời chứ không có rề rề như vậy. Tự khen mình, tự hơn thua thì đó gọi là những ý nghĩ xấu nó lén lút trong nội tâm mình. Nhưng mà lúc đó mình có biết mình sai không? Có biết mình sai không? Không biết mình sai. Chính vì không biết mình sai cho nên cứ tiếp tục mà mà suy nghĩ bậy. Và cái cuộc đấu tranh này ta thất bại. Còn bây giờ ta bắt đầu đi nghe giảng, biết được điều đúng điều sai và bắt đầu biết những ý nghĩ lén lút của mình là sai, ta bắt đầu chiến đấu trở lại với nó. Nói: Thôi đừng nghĩ bậy nha. Ví dụ bây giờ ta thấy ai giàu, cái ta nói:
[12:45]Ước gì mình cũng giàu như vậy, cái tự mình biết à ý nghĩ vừa rồi là là sai, đừng động tâm tham. Cái người khác giàu là vì họ có phước, mình không giàu bằng vì kiếp xưa mình không làm phước bằng. Cho nên thôi cứ ngưỡng mộ người ta, phần mình cứ khiêm tốn, bắt đầu làm phước lại từng chút. Cứ nghĩ như vậy thì đó là ý nghĩ đúng, ta vừa khởi được một ý nghĩ đúng. Rồi thấy cái người nào đó họ có quyền chức lớn,
[13:22]trong lòng mình cái có một sự ganh tị, à nói: Làm làm quan nhất thời, làm dân vạn đại. Coi vậy chứ làm quan rồi nó tham nhũng rồi nó cũng đọa chết bây giờ. Tức là mình cứ tự nói xấu người ta. Đó là cái ganh tị hơn thua. Cái chợt mình thấy ý nghĩ đó là sai, mình nói lại: Thôi, ông kia chắc cũng có phước ổng mới làm quan, thì cầu nguyện cho ổng làm một người quan tốt, thanh liêm, ha. Còn mình thì thôi, trong cái bổn phận mình ráng khiêm tốn, mình ủng hộ cái người có phước. Thì đó là, đừng đừng vỗ tay, đó là mình vừa suy nghĩ sai, mình lật ngược lại, kéo lại, sửa lại. Đó bắt đầu gọi là ta biết tu,
[14:13]là quá trình giành lại cái điều thiện, điều đúng cho tâm hồn mình. Rồi bây giờ vậy. Ví dụ như một cái người xuất gia ở trong chúng, ở chung với huynh đệ, rồi cái người huynh đệ mình cái được Thầy khen, cái người huynh đệ mình được Phật tử mến, mà mình thì không được, lúc đó tâm mình khởi cái gì lên? Khởi cái đố kỵ. Khởi cái đố kỵ mới nói: Thầy mình thiên vị, chứ cái người huynh đệ đó đâu có bằng mình, mấy người Phật tử không có trí tuệ, thấy không, mình đây vậy mà không biết. Thì khi đố kỵ khởi cái niệm như vậy, ta chê luôn cả Thầy mình, đúng không ạ? Đó là nghiệp chồng lên nghiệp. Cái ganh tị với huynh đệ đã là cái xấu, rồi chê luôn Thầy mình không sáng
[15:09]suốt thì đó là cái xấu chồng chất cả ngàn lần, đó, để tự khen mình. Bắt đầu nhưng biết đó là sai, mình nghĩ lại. Nghĩ lại: Không, ý nghĩ này là ý nghĩ bậy. Huynh đệ mình là người có giới, có hạnh, có đức, cho nên Thầy mình khen và Phật tử mến, còn mình chưa bằng được, cho nên thôi cố gắng tinh tấn. Đó là mình sửa lại. Thì sửa lại được như vậy là ta đang giành được một chút điều thiện trong nội tâm mình. Thì chừng bao lâu ta tâm mình sẽ trở nên tốt? Cứ sửa từng chút từng chút như vậy bao lâu tâm mình sẽ trở nên tốt? Bao lâu? Mấy năm? Mấy năm thì ta sẽ trở nên tốt? Một năm không? Hai năm? Ba năm?
[16:06]Bốn năm?
[16:12]Nếu ta không có một cái phước đặc biệt thì Thầy xin báo cáo các đồng chí: bốn ngàn kiếp rồi tâm chưa tốt.
[16:22]Cứ giằng co giữa cái tốt và cái xấu, cứ sửa từng chút điều tốt điều xấu, ta bốn ngàn kiếp chưa tốt nếu ta không có một cái phước đặc biệt, nha. Khi nào ta có một cái phước đặc biệt thì tự nhiên tâm mạnh mẽ hơn, nhạy bén hơn, nhanh chóng hơn sửa tâm ta. Và phải đợi đến khi ta sang mức độ thứ hai là chánh niệm thì ta mới hoàn thiện được con người mình trong nội tâm, qua tới mức độ thứ hai, đấu tranh giữa tỉnh giác và bất giác. Cái phước đặc biệt đây là cái gì mà nó làm ta tăng tốc lên trong việc sửa lỗi nội tâm mình? Mà nếu thiếu cái phước đặc biệt đó thì ta cứ giằng co giữa đúng và sai ở cái giai đoạn thứ nhất này bốn ngàn kiếp chưa xong.
[17:15]Cái phước đặc biệt này là gì, ai biết? Là có một cơ hội nào đó bất ngờ ta gặp một bậc thánh, ta quỳ xuống ta đảnh lễ, ta cung kính cúng dường, thừa sự, thì bỗng nhiên cái phước ta tăng vọt lên, rồi cái trí toa cái ta sáng lên, thì ta giành giật, giằng co giữa cái đúng sai nội tâm mình nhanh hơn, chỉ trong vòng năm sáu năm bắt đầu nó thuần. Thuần rồi ta tu tập thiền định, ta bước sang cái giai đoạn thứ hai luôn là đấu tranh giữa cái tỉnh giác và bất giác. Nơi cái tỉnh giác và bất giác này ta mới đủ sức hoàn thiện nội tâm mình cho tới tinh vi trong từng sợi tóc nhỏ nhặt, tại vì những niệm sai của ta nó nhỏ li ti như hạt bụi.
[18:10]Thầy nhắc lại, ví dụ như Thầy nói là mình vừa khởi tham
[18:17]hay là khởi sân, những niệm đó nó lớn lắm, phải không ạ? Nó giận lên: Tao quánh nó bây giờ, cái niệm cái niệm sân nó thô. Nhưng mà sự thật những cái sai của ta nó nhỏ như một sợi tóc ta không có thấy. Phải đến khi mà ta bước sang giai đoạn thứ hai, đấu tranh giữa tỉnh giác và bất giác, ta mới thấy được những cái lỗi rất nhỏ rất nhỏ như hột bụi. Tới chừng đó ta mới hoàn thiện được nội tâm. Còn ở giai đoạn thứ nhất mà đấu tranh giữa đúng và sai chỉ là những cái đúng sai thô, dễ thấy thôi, vậy mà mất bốn ngàn năm, bốn ngàn kiếp nếu ta không có cái phước đặc biệt. Còn nếu ta có cái phước đặc biệt,
[18:56]ta cung kính được bậc thánh thì ta nuốt thời gian liền. Nên vì vậy, ta rất cần có những bậc thánh trên đời này để ta nương tựa, ta cung kính, ta cúng ta cúng dường. Bây giờ trên đời này ai là thánh? Có gặp chưa? Quý Phật tử gặp chưa? Gặp chưa? Gặp gặp chỉ Thầy, Thầy cũng tới luôn.
[19:28]Thật ra trên đời này không thiếu thánh đâu, mà ta không nhìn thấy. Có rất nhiều vị chứng Tu Đà Hoàn ở kiếp trước, họ trở lại cõi này thì ta nhìn không ra. Tại cái vị Tu Đà Hoàn họ không đặc biệt, nhưng họ Tu Đà Hoàn. Còn những vị từ Tư Đà Hàm trở lên thì họ đặc biệt rồi, ta dễ nhìn thấy. Chứ còn vị Tu Đà Hoàn trở lại với cõi đời này họ giông giống như mình, thấy họ tốt tốt hơn mình chút vậy thôi, nhưng họ là Tu Đà Hoàn, nhiều khi ta bỏ qua. Nhưng bây giờ đặt vấn đề ta không gặp được thánh thì ta bù lại bằng cái gì?
[20:10]Ta bù lại bằng cái gì? Lễ, lễ Phật với lòng thiết tha tôn kính. Cái khó của ta là thế này, là nhìn tượng Phật khô khan, ta khó khởi được lòng thiết tha tôn kính. Tại vì mình lạy ổng á, lạy cái tượng á, rồi một lát mình cũng đi qua đi lại trước mặt, nhiều khi ngồi đó ăn cơm. Nhưng mà nếu là một vị thánh thật sự ngồi đó mình có dám đi qua đi lại không? Mình có dám ngồi ăn nói chuyện đùa vui không? Không. Cái sự nghiêm túc, nghiêm cẩn của mình nó tăng hơn, nhờ vậy cái phước mình cao. Còn cái bức tượng Phật, mình lúc nào lạy thì lạy, còn lúc khác không lạy mình vẫn đi qua đi lại, thậm chí quay lưng về phía tượng Phật, rồi nói đùa nói giỡn coi như không có gì.
[20:54]Do đó phước ta bị giảm lại. Đó là lý do vào cái thời không có các bậc thánh thì ta lễ Phật cung kính tạm đỡ, nhưng mà cũng không bằng, do tâm ta không đủ thiết tha, không đủ nghiêm cẩn bằng một vị thánh sống. Đó là vậy. Nên giữa thế gian này, nếu mà xuất hiện một vị thánh sống, đó thiệt là là muôn vàn châu ngọc cho cuộc đời này, là phước điền cho cuộc đời này. Nhưng mà hiếm có. Nên vì vậy, ta bù lại bằng cái là thường lễ Phật cung kính. Đó là cái phước thứ nhất để mà ta tăng tốc mà thanh lọc nội tâm mình cho cho thật là đúng. Cái phước thứ hai để giúp ta cũng tăng tốc nội tâm mình lên, cho nó hoàn thiện cái giai đoạn thứ nhất cho nhanh,
[21:50]rồi đấu tranh giành cái điều thiện cho lẹ là là
[21:57]từ bi yêu thương chúng sinh. Khi mà ta thường khởi tâm từ, thường tự nhắc lòng mình yêu thương chúng sinh vạn loại, thì tự nhiên phước nội tâm ta cũng sáng lên rất là nhanh. Nhớ như vậy. Cho nên người tu trong cái thầm lặng nội tâm không ai biết, phải tự dặn lòng mình yêu thương mọi người, nhắc hoài nhắc hoài. Chút một tiếng đồng hồ nhắc một lần, 15 phút nhắc một lần, cả ngày tự nhắc hoài. Vậy đó. Những lúc mà lạy Phật tụng kinh thì nhắc là đúng rồi, nhưng mà những lúc không phải lạy Phật tụng kinh, làm công việc gì bình thường, lâu lâu vẫn tự nhắc trong lòng mình là yêu thương mọi người. Nhớ như vậy nha, thì cái phước của ta bắt đầu tăng vọt tăng
[22:45]vọt lên, bởi vì cái tâm từ bi cho ta cái phước lớn lắm. Ví dụ như khi ta gặp ma,
[22:55]đây có ai gặp ma chưa kìa? Có ai gặp ma chưa? Ma có nhiều loại, có ma hiền, có ma dễ thương, mà có ma rắn mắt, hung dữ.
[23:10]Ma hiền dễ thương thì không nói, nhưng có những loại ma họ rắn mắt, hung dữ họ phá phách, thì
[23:18]lúc đó nhiều khi ta niệm Phật nó không sợ, mà lúc đó ta khởi tâm từ bi ma tạt ra liền, lánh liền. Vì khi ta khởi tâm từ bi, cái phước trong tâm ta khởi lên, ánh sáng trong tâm ta chiếu sáng ra, ma nó sợ nó tạt đi liền. Nên cái tâm mà từ bi khởi niệm yêu thương chúng sinh làm cho ta có phước rất là lớn. Nên vì vậy, để tăng được cái phước trong nội tâm mình, ta thường nhắc mình, dặn mình là phải yêu thương chúng sinh. Đó là cái thứ hai. Cái thứ ba nữa là ráng giúp mọi người cùng biết tu hành. Ta đem những bài giảng cho mọi người cùng nghe, ta rủ mọi người đi giảng, ta rủ mọi người đi tụng kinh lễ Phật,
[24:12]ta rủ mọi người đi tu tập, thì tự nhiên phước nội tâm ta tăng lên. Và cái cuộc chiến đấu trong nội tâm ta mau có kết quả. Nhớ vậy. Nghĩa là trước đây cái ý niệm sai nó kéo dài, nó cứ lặp đi lặp lại, mình chiến đấu rất vất vả. Nhưng mà khi mình có ba điều: phước một là cung kính bậc thánh, hai là khởi tâm từ bi, ba là rủ bạn bè đi tu, thì nhờ cái phước đó mà ta đấu tranh với cái ý niệm xấu trong tâm ta nhanh chóng chiến thắng. Thì thay vì mất 4.000 kiếp để hoàn thiện nội tâm, thì bây giờ có khi trong 3 năm, 5 năm, 10 năm, tâm ta đã bắt đầu thuần thiện, không còn nghĩ bậy, chỉ còn ý nghĩ tốt mà thôi.
[25:15]Mà chỉ còn ý nghĩ tốt mà thôi thì phước của ta không phải là phước của con người nữa.
[25:23]Mà không phải phước con người nữa là phước của gì? Của cõi cõi trời.
[25:30]Cái phước của con người là gì? Là lẫn lộn giữa thiện ác, đúng sai, thì người đó làm người. Phước của con thú là gì? Cái điều ác chiếm đa số thì đọa làm thú. Còn trong nội tâm mà điều thiện chiếm gần hết, tràn đầy nội tâm thì đó là phước của ai? Phước của chư thiên trên trời. Cho nên nếu mà ta được cái phước đặc biệt: cung kính bậc thánh, nhắc mình yêu thương chúng sinh, rủ huynh đệ, mọi người đi tu tập. Trong 10 năm ta hoàn thiện được nội tâm mình, không có ý nghĩ bậy nữa, thì người này nếu lúc đó bất ngờ chết thì lên cõi trời. Mà nếu tiếp tục giữ cái nội tâm hoàn thiện đó, sống lâu tới 7, 80 tuổi thì chắc chắn chết lên
[26:32]cõi trời, đó là điều không nghi ngờ gì nữa. Vì giai đoạn thứ nhất ta đã tu tập xong. Nên hồi nãy ta nói bốn giai đoạn tu hành của nội tâm, bốn mức độ tu hành của nội tâm, thì mức độ thứ nhất là đúng và đúng và sai. Thì mức độ này, thầy nhắc lại, nếu không có phước, ta đấu tranh 4.000 năm chưa xong. Nha, điều đúng điều sai nó cứ trộn tới lẫn lui hoài. Nhưng nếu ta có phước thì có khi chỉ trong 5 năm, 10 năm ta xong được giai đoạn thứ nhất này. Sướng không? Là lên cõi trời đó, chỉ giai đoạn thứ nhất đi, 5 năm, 10 năm lên cõi trời.
[27:17]Nếu mà sau khi ta hoàn thiện nội tâm, tâm không còn nghĩ bậy, hễ nghĩ chỉ là nghĩ những điều tốt,
[27:28]chiến đấu xong giai đoạn thứ nhất, tâm trở nên hoàn thiện. Như vậy ta tu lên cõi trời khó không? Khó không? Không. 10 năm. 10 năm không gặp tưởng chừng đã cũ.
[27:46]Nếu trong 10 năm mà ta có phước: cung kính bậc thánh nè, thường khởi tâm từ bi yêu thương chúng sinh nè, thường rủ huynh đệ về chùa tu tập nè, thì trong 10 năm đó ta hoàn thiện luôn nội tâm của mình luôn, không còn nghĩ bậy, thì yên tâm, chết ta sinh về cõi trời. Sướng không ạ? Vậy tu lên cõi trời dễ không? Dễ vô cùng. Không, thầy nói thật á, không khó đâu. Nhưng chỉ có cái điều là phước ta chưa dày, lên cõi trời rồi nhiều khi ở đó một hai trăm năm cái phải xuống lại, tại vì phước chưa dày. Còn cái người mà sau 10 năm hoàn thiện đó, họ tu tiếp, tiến lên những bậc cao hơn, thì khi họ về cõi trời lên mấy nghìn năm chưa xuống,
[28:31]mà có khi từ nơi cõi trời chứng đi luôn, cũng có. Nhưng bây giờ đó, vì ta ta cũng không cầu xin cõi trời, mà cầu sao? Cầu chiến đấu tiếp tới giai đoạn mức độ thứ thứ hai là tỉnh giác và bất giác. Nha, giai đoạn thứ hai là tỉnh giác và bất giác.
[28:55]Tỉnh giác và bất giác, cái trạng thái này thì không nói bằng ngôn ngữ được. Chỉ có những người nào chứng thì tự biết. Nhưng mà nếu không nói thì không lẽ giờ thầy đi xuống pháp tòa thì nó kỳ, phải ráng nói. Quý Phật tử cố gắng hình dung nhưng đừng tưởng tượng quá, đừng tưởng tượng quá. Tại vì ở cái trạng thái này người ta hiểu ngầm với nhau thôi, hiểu ngầm với nhau thôi. Ví dụ có một ông Bàng Long Uẩn, ổng diễn tả cái sự tu hành của ổng ở cái trạng thái ổng là thế này. Ổng nói: "Như thạch nữ đứng múa", người con gái mà bằng cái tượng đá mà đứng múa, "như mộc nhân mà xem bức hình chim vẽ". Hiểu không?
[29:48]Ai hiểu không ạ? Như người con gái bằng đá, cái tượng đá người nữ bằng đá nhưng mà khi nghe tiếng nhạc thì múa theo. Giống như cái người gỗ mà nhìn cái bức tranh vẽ mà trầm trồ, thưởng thức.
[30:08]Ở đây có ai hiểu không ạ? Ai hiểu thì thầy đưa lên bàn thờ làm cho làm thiền sư liền. Thì mình cũng ngộ bằng ổng mới hiểu được ổng muốn nói cái gì. Cho nên các thiền sư ở trong cái cảnh giới mà họ đạt được cái chánh niệm tỉnh giác rồi họ thấy cái gì đó thì nhiều khi ta chưa thấy thì ta khó hiểu. Nhưng đây là bắt đầu giai đoạn thứ hai. Mà để có được cái giai đoạn thứ hai này ta phải tập ngồi thiền, ngồi như Đức Phật vậy, bắt chân kiết già, ngồi đúng tư thế thiền định, hai tay đặt lên giữa bụng. Biết rõ toàn toàn thân, cảm giác toàn toàn thân, an trú toàn toàn thân. Mà toàn thân này là ở đâu? Từ trong ruột trong gan cho tới cả ngoài ngoài da, an trú hết, cảm giác hết.
[31:06]Rồi suy nghiệm quán chiếu thân này là vô thường, tạm bợ. Thân này sẽ già, sẽ bệnh, sẽ chết. Chết rồi sao? Thân này sao? Mục rữa, tan hoại, cả cái xương cứng cuối cùng cũng thành bột bay bay luôn. Đó, bắt đầu là suy nghiệm. Rồi sau đó cái bắt đầu tâm nó có cái yên yên thì lúc đó ta thấy hơi thở nó hiện ra mà lúc đó thấy rõ ràng thân này đang thở vào, thân này đang thở ra. Vậy là ta có ba cái bước để tu tập thiền định, thầy nhắc lại. Mà tu tập thiền định rồi mới giành được cái tỉnh giác, mới đạt được cái tỉnh giác đó nha. Thầy nhắc lại ba bước tu thiền: Thứ nhất là an trú toàn toàn thân, cảm giác toàn
[32:04]thân, biết rõ toàn thân, ngồi cho đúng tư thế mà biết rõ từ trong nội tạng ra tới ngoài ngoài da. Thuộc chưa? Bước thứ hai là suy nghiệm quán chiếu thân này là vô thường, già, bệnh, chết, tan hoại. Bước thứ ba là thấy thân này đang thở vào, thân này đang thở ra. Đó, ba bước để tập ngồi thiền. Mà cứ tập như vậy một thời gian thì tâm bắt đầu xuất hiện một trạng thái gọi là tỉnh giác chánh niệm, nha. Tu một thời gian, thầy không biết bao lâu. Có người cái thời ngồi đầu tiên là chứng liền chánh niệm tỉnh giác, có cái người tu sáu tháng sau mới bắt đầu chứng chánh niệm tỉnh giác, có người ba năm sau mới chứng, có người mười năm mới chứng,
[32:58]có người tới ba chục năm mới chứng được cái trạng thái này. Tùy phước mỗi người, mình không biết được. Nhưng mà phải ngồi thiền, bắt đầu mới bước sang giai đoạn hai là xuất hiện cái trạng thái rỗng rang, chánh niệm tỉnh giác, giống như trong tâm mình có một ngọn đèn sáng ở trong vậy, nha. Thầy nói tượng trưng là hiểu ngầm thôi chứ cái lời nói không diễn tả được trạng thái này. Khi mà tu thiền như vậy, đúng ba bước như vậy, cho đến khi thuần thục có kết quả, tâm ta bừng tỉnh, xuất hiện cái trạng thái gọi là chánh niệm tỉnh tỉnh giác. Cái trạng thái mà bừng tỉnh bất ngờ đó, trong nhà thiền gọi là ngộ đạo nha, có khi gọi là kiến tánh thì kệ người ta.
[33:47]Nhưng mà nếu theo cái kinh Nguyên thủy thì gọi là xuất hiện trạng thái chánh niệm tỉnh giác. Đó, tâm rỗng rang, sáng tỏ giống như có ngọn đèn thắp bên trong. Nhưng mà ý niệm thì vẫn tiếp tục còn khởi chứ chưa có tắt, nha. Ở giai đoạn thứ hai này nó được cái giác nhưng chứ chưa có được cái định, đó. Nhưng mà nhờ cái tỉnh giác này ta kiểm soát được nội tâm mình bắt đầu sâu hơn, sâu hơn một bực rất là xa, xa hơn cái giai đoạn thứ nhất. Ở cái giai đoạn thứ nhất là giai đoạn giữa gì, nhớ không? Đúng và đúng và sai. Cái giai đoạn thứ hai khi ta tu thiền thì nó xuất hiện cái trạng thái gọi là tỉnh giác.
[34:36]Và ta nhờ cái tỉnh giác này mà ta kiểm soát cái nội tâm mình đến mức độ tinh vi, tìm những cái sai nhỏ như những hạt bụi nhỏ. Cho nên cái người mà bước sang giai đoạn thứ hai này thì thực sự họ vẫn sửa lỗi nội tâm nhưng mà cái lỗi nội tâm của họ tinh tế khủng khiếp. Nên họ xuất hiện giữa cuộc đời này họ là một bậc đạo sư, một bậc thầy chân chính. Tại vì họ sâu sắc quá, họ trí tuệ quá, họ đức hạnh quá, đạo đức họ sâu thẳm. Là khi họ ở cái giai đoạn thứ hai này là giai đoạn chánh niệm tỉnh giác. Mà dùng cái sức tỉnh giác đó tiếp tục kiểm soát nội tâm, tiếp tục hoàn thiện nội tâm. Thì khi mà họ tiếp tục hoàn thiện nội tâm,
[35:30]cái nhân cách họ toát ra bên ngoài thì họ là thầy mình. Mình nếu gặp những người đó, mình nhìn đời sống của họ, mình nghe họ nói một vài câu đơn sơ thì phải hiểu rằng họ họ đứng ở trên một vị trí vượt khỏi mình, là thầy của mình thôi, nếu ta gặp được một vị như vậy, nha. Ở đây có gặp chưa? Có gặp chưa? Chưa luôn. Thầy nhắc lại bốn giai đoạn nha. Bữa nay là vừa nghe giảng mà vừa học giống như là tăng ni mà học trong Phật học viện nha. Học phải thuộc mà ra mà giảng lại cho được à, nha. Bốn mức độ tu hành của tâm, mức độ thứ nhất là gì? Đúng và sai. Mức độ thứ hai: tỉnh giác và bất giác. Mức độ thứ ba: tịnh và động.
[36:19]Mức độ thứ tư: vô ngã và chấp ngã. Đó, lát lâu lâu tôi hỏi lại. Thì mức độ thứ nhất là gì? Giằng co giữa ý niệm sai và ý niệm đúng, ý niệm tốt và ý niệm xấu, ý niệm thiện và ý niệm ác. Đó, và đấu tranh đó trong bao lâu thì xong? Vài ngàn kiếp, phải không ạ? Nhưng mà nếu ta có được ba cái phước đặc biệt: Phước thứ nhất là cung kính, cúng dường một bậc thánh, thường khởi tâm từ bi, ba là rủ huynh đệ cùng tu tập. Nếu ta được ba cái phước này thì thời gian nó rút lại còn chừng bao lâu? Khoảng mười năm, nha, khoảng mười năm bắt đầu tâm ta thuần thiện. Và lúc đó ta cũng song song đó ta bắt đầu tập ngồi
[37:14]ngồi thiền để bước sang giai đoạn thứ hai, nha. Ngồi thiền nó có mấy bước dụng công? Ba bước. Bước thứ nhất là
[37:25]an trú toàn thân, biết rõ toàn thân, cảm giác toàn thân. Bước thứ hai là quán chiếu thân này là vô thường. Bước thứ ba là thấy thân này đang thở vào, thân này đang thở ra. Hỏi tới đây là bắt đầu nhiều người quên rồi đó nha, không thuộc bài nha. Vậy là là là là cho trừ bớt mấy điểm nha. Nhớ cái cách dụng công phải nhớ. Mà khi thực hành đúng như vậy rồi thì một thời gian, tùy mỗi người, ta sẽ xuất hiện một trạng thái gọi là gọi là tỉnh giác chánh niệm. Cái trạng thái đó như thế nào? Trạng thái đó là một trạng thái mà nội tâm ta trở nên rỗng rang, sáng tỏ giống như có một ngọn đèn gì đó thắp ở trong, nó cứ sáng sáng, sáng sáng.
[38:18]Nhưng mà ý niệm thì vẫn còn khởi, nha, chứ chưa có hết. Và có những ý niệm nó khởi, nhiều khi nó cứ chực chờ, nó che tâm làm cho mình trở nên bất giác, mất cái tỉnh giác đó luôn, ghê như vậy. Nên đây là lúc mà ta phải đấu tranh để giành lại cái cái tỉnh giác.
[38:40]Ráng thường giữ, ráng thường nuôi, đó. Mà các thiền sư gọi là bảo nhậm, giữ gìn cái trạng thái tỉnh giác đó cho nó đừng mất, giữ gìn như ngọn đèn đó cho nó nó sáng. Nghĩa là ráng giữ cho tâm mình nó tỉnh, nó sáng. Đó là cuộc đấu tranh giữa tỉnh giác và bất giác. Hiểu chưa? Nha, thầy nói lại: cái mức độ tu hành thứ hai của tâm là tỉnh giác và bất giác. Cho nên ở đây khi mà ta tu thiền nó xuất hiện được cái trạng thái tỉnh giác rồi thì cái trạng thái đó không phải lúc nào cũng cũng có. Vì khi ta, lúc ngồi thiền thì nó có thường hơn, nhưng mà khi bước ra ngoài cuộc sống, khi ta nói, khi ta nghe, khi ta làm việc
[39:33]thì do ta phải động tâm, chạy theo trần cảnh nên có khi cái tỉnh giác đó mất. Và ta phải đấu tranh để lúc nào cũng giữ cái tỉnh giác đó trong công việc của mình. Khi gặp người nói chuyện, nói qua nói lại ào ào, mình miệng thì mình nói, tai thì mình nghe, mình cứ cười, tiếp xúc, nhưng mà bí mật âm thầm giữ cái tỉnh giác nội tâm, đừng để mất. Đó là người biết tu đó. Đây là cuộc đấu tranh giữa tỉnh giác và bất giác. Cái này dễ không? Khó. Tới đây giai đoạn này cao siêu rồi phải không ạ? Giờ khó rồi, nghĩa là
[40:23]Thường thường ví dụ khi ta hay mất tỉnh giác là lúc nào? Ai nói cái gì mình nghe đã tai cái mình lo nghe đó, mình quên tâm, mất tỉnh giác. Lúc nào? Lúc ta nói, say sưa nói cũng mất luôn. Rồi hoặc là ta làm công việc, ví dụ như bây giờ bước vô bếp mà nấu ăn thì thường không ai giữ được hết. Tại việc nó lắc nhắt lắc nhắt ha, xắt miếng hành, miếng ớt, miếng tiêu rồi bỏ vô cái này, châm cái kia, nấu cơm coi lửa củi làm sao rồi, chín chưa, ngon chưa, nêm miếng rồi đó. Tâm mình động đủ thứ như là một cái gì, như là một cái hội chợ loạn xà ngầu ở trỏng thì thường lúc nấu bếp ít ai giữ được tỉnh giác.
[41:00]Cũng như vậy, rồi lúc nào nữa? Lúc ăn cơm, ăn cơm thì nhất là càng nhiều món thì tâm càng loạn. Mình gắp món này xong để ý coi con ăn món kia gắp món này, ờ ngon quá gắp món kia, tâm toàn động không. Cho nên ta sẽ để ý một thiền sư họ ăn cơm họ không thích ăn nhiều món. Ví dụ bày tràn ngập mười mấy món, họ một hai món gần gần họ ăn cho nó yên, cho nó thanh thản cõi lòng. Không có động tâm gắp tùm lum. Nên ta thấy ví dụ như bày dọn tùm lum mà cái ông thầy nào đó ông ngồi mới lặng lẽ một hai món gần ông gắp ăn chả là nhiều khi ông chan nước tương ông ăn thôi coi chừng ông đó là đang là thiền sư.
[41:35]Ông đó đang tu trong cái giai đoạn thứ hai, giữa tỉnh giác và và bất giác và họ bất cần, họ thanh thản. Thì ta coi chừng nghen. Thì trạng thái này là tinh vi rồi, với đạo đức thì bắt đầu đi càng lúc càng sâu thẳm mà đang giằng co, đấu tranh giành để giữ gìn cái tỉnh giác nội tâm mình, không cho bất giác. Tới đây mấy người những người như vậy họ là thầy mình cả rồi. Mà nếu ngang đó mà chứng quả vị thường là tương đương với quả vị Tu-đà-hoàn.
[42:08]Mình nhìn làm sao biết người đó là tỉnh giác? Không biết được trừ khi mình cũng chứng được cái đó ngang họ. Mình cảm nhận và trong cuộc sống nói nghe qua vài câu là biết. Dân ở trong nhà với nhau như vậy. Lúc đó bắt đầu mới lật lại những thiền ngữ của các thiền sư đọc ta sẽ bắt đầu thấy hiểu.
[42:35]Ví dụ như là một cái thiền ngữ là ngài à tôi quên cái tên thiền sư lâu quá đọc á, ông ngài có nói câu này: "Rắn chết giữa đường thôi chớ đập. Giỏ tre không đáy bỏ mang về." Giỏ tre không đáy làm sao bỏ con rắn vô đó mà đem về được? Mà rắn tự nhiên rắn chết rồi mang về làm chi? Mà rắn chết nghĩa là gì? Đó: "Rắn chết giữa đường thôi chớ đập. Giỏ tre không đáy bỏ mang về." Ở đây có ai hiểu không ạ? Có ai hiểu để thầy bái làm thiền sư. Đó những cái câu bí hiểm đó, khi nào mình chứng được chánh niệm tỉnh giác rồi mình mới hiểu, còn không không hiểu. Hoặc là cái có một người đệ tử hỏi ông sư phụ nói:
[43:18]"Thưa, thế nào là Bồ Tát ngàn tay ngàn mắt?" Nói nghe nói Bồ Tát Quán Thế Âm thiên thủ thiên nhãn á ngàn tai ngàn mắt ngàn tay ngàn cánh tay ngàn mắt. Thì tưởng ông thầy ông trả lời cao siêu sao, ông trả lời thế này: "Giống như người đang đêm đưa tay ra sau mò chiếc gối." Tức là khi đèn tắt hết mình lên giường bắt đầu mình nằm ngủ mà không thấy gối đâu mới mò mò lấy gối để đặt lên đúng chỗ mà nằm. Trả lời một câu rất là lạ, nghe rất là đời thường. Nghe giống như thổi cái đèn dầu tắt rồi mà mò mò lên giường ngủ rồi thò mò mò tay ra sau lưng quơ quơ lấy chiếc gối để nằm. Để trả lời cho cái câu là thiên thủ thiên nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát.
[44:02]Chứ thiên thủ thiên nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát là một hình tượng cực kỳ cao siêu. Vậy mà ông thiền sư ổng trả lời bằng một cái câu: "Giống như người đang đêm quơ tay ra sau mò chiếc gối." Đây ta hiểu không ạ? Ai hiểu thầy bái làm thiền sư. Nha. Nhưng mà người nào chứng được chánh niệm tỉnh giác bắt đầu hiểu những câu này. Như vậy. Nên đây là mức độ mà cao siêu, nghe tới chỗ đoạn này có quyền ngủ thoải mái nha. Cứ ngủ thoải mái tại chỗ này là chỗ bắt đầu nó vượt khỏi cái bình thường của con người ta rồi. Nên mà ai nghe thấy những cái câu này mà vẫn thích thú nghe thì người này rất là có căn tu. Không, thầy nói thiệt á.
[44:39]Chứ nghe qua tới mức độ thứ hai của nội tâm này rồi thường đa số là bắt đầu ngáy rồi đó. Vậy mà nãy giờ mà ai vẫn nghe mà chăm chú nghe được người này rất có thiện căn tu hành. Phải nói là thầy khen đó chứ không phải chơi đâu. Chứ thường là tới ngang đây bắt đầu ngủ rồi.
[45:02]Thì ở đây
[45:05]nó có cái này, khi cái người mà xuất hiện cái trạng thái chánh niệm tỉnh giác của nội tâm á thì họ có hai cái điều: Một là họ khước từ vọng tưởng, không thích nữa, mặc dầu niệm vẫn cứ khởi, niệm cứ chập chập lại khởi, chập chập lại khởi, nhưng mà cái sức tỉnh giác giống như ngọn đèn á, nó từ chối. Đây cái mà Hòa thượng Thanh Từ gọi là tri vọng á. Biết vọng liền buông. Là ở chỗ này. Đó. Lúc đó họ, cái tâm họ tỉnh sáng họ không chấp nhận cái niệm nào khởi lên hết, kể cả niệm thiện, niệm ác, nhiều khi cũng làm biếng, bỏ luôn. Chỉ thích cái nội tâm rỗng rang, vô niệm mà thôi. Nhưng thích thì thích, chứ tâm vẫn chưa vô niệm được.
[45:53]Vì nó tự nó khởi, bị vì ở cái giai đoạn này nó bắt buộc phải như thế. Ở cái giai đoạn này tâm thì tỉnh sáng, rỗng rang, nhưng niệm vẫn còn tiếp tục khởi. Đó là ở giai đoạn này, tự nó như vậy. Nó khởi và người hành giả cứ khước từ. Vậy bao lâu thì hết? Bao lâu thì hết? Khước từ riết như vậy thì bao lâu bắt đầu nó hết niệm? Bao lâu? Khoảng 30 kiếp.
[46:28]Mà 30 kiếp này không có miễn trừ, 30 kiếp này không nhờ cái công đức nào mà ta rút ngắn lại được hết. Trong cái giai đoạn mà hồi nãy thầy nói á, ta đấu tranh giữa đúng và sai đó, thầy nói tới 4.000 kiếp nhưng nếu ta có phước đặc biệt ta rút lại còn 10 năm, phải không? Thì trong cái giai đoạn tỉnh giác này, ta tỉnh sáng niệm cứ khởi và ta cứ khước từ, ta cứ phủi bỏ đi. Để giữ cái tỉnh giác lại, đừng để cái niệm khởi mà làm ta bất giác, ta đấu tranh để giữ cái tỉnh giác thì giằng co cái này 30 kiếp. Không có miễn trừ, không nhờ phước nào mà chứng nhanh được hết. Vất vả đi qua 30 kiếp. 30 kiếp này ở đâu?
[47:11]Có khi sinh lên trời, có khi xuống người, có khi sinh lên trời, có khi xuống người, lẩn quẩn khoảng 30 kiếp. Nên người cái tu ở mức độ này thì nói về kiến giải họ rất là sắc, nói tư cách đạo đức rất tốt, vậy mà vẫn chưa nhập định được, vẫn có khi chết cứ sinh lên cõi trời làm một vị thiên tử vậy đó rồi vẫn tu hành, rồi cái ấm ức rớt xuống cõi người lại, tu tập tiếp, rồi cái lại lên cõi trời rồi rớt xuống lại, cứ nhảy lên nhảy xuống 30 lần như vậy. 30 lần rồi bắt đầu mới công hạnh mới đầy đủ, mới chuẩn bị mới nhập được định để vào sơ thiền, tức là giai đoạn thứ ba đó, là đấu tranh giữa tĩnh và tĩnh và động.
[47:56]Đó như vậy. Đó là giai đoạn sơ thiền. Cái việc tu vậy, đó là cái thứ nhất là cái trạng thái tỉnh giác làm cho người ta cứ khước từ ý niệm, phủi bỏ ý niệm, mà nó cứ khởi, nó khởi rồi bỏ, khởi rồi bỏ. Lúc nào mình cũng giác khởi bỏ, nên có thiền sư nói nè: "Không sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm." Tức là niệm nó khởi lên kệ nó, tại vì cái sức tỉnh giác lúc nào mình cũng nhìn thấy nên mình phủi bỏ đi. Là: "Không sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm" là ở giai đoạn này. Mà nếu cái giác nó mạnh quá, cái niệm mà nó khởi lên tự nó rớt xuống tắt liền. Nó vẫn khởi, khởi lên xong tắt liền. Mà đây nó khởi lên rồi tự nó tắt liền mình không cần trừ diệt.
[48:40]Đây đúng là chỗ mà các thiền sư gọi là: "Rắn chết giữa đường thôi chớ đập. Giỏ tre không đáy bỏ mang về." Giỏ tre không đáy là cái gì? Lúc đó tâm mình giống như một cái thùng không có đáy, tự nhiên cảm thấy nó rỗng rang không đáy. Cái trạng thái là như vậy. Thầy học lỏm thầy cũng kể ra nghe thôi nha, chứ thầy cũng không biết. Đó là mình khước từ niệm, mà nó được cái thứ hai nữa là nó hiểu về bản chất của ý niệm
[49:13]cực kỳ tinh vi. Những cái điều xấu, những cái điều bất thiện, những cái điều từ cái ngã khởi ra cực kỳ nhỏ, cực kỳ nhỏ phát hiện hết luôn.
[49:26]Rồi trừ diệt luôn, tác ý trừ diệt luôn.
[49:31]Mà giai đoạn này cái hành giả thường bị là tự khen mình. Tại cái trạng thái tỉnh giác nó đặc biệt quá. Bao nhiêu kiếp bao nhiêu đời mình mê mờ, ngày hôm nay bắt đầu xuất hiện cái trạng thái tỉnh giác đặc biệt, tỉnh sáng, cho nên hành giả hay tự khen mình. Mà lên xuống 30 kiếp cũng chỉ bởi vì cái khen mình này. Cho nên nếu mà cái người đó có thầy dạy để đừng khen mình, để biết vẫn còn đang ở giai đoạn thấp mà tinh tấn tu tập thì mới không bị kẹt.
[50:12]Lúc có thường trong cái rỗng rang đó vẫn nhắc rằng không có cái ta, vẫn hướng về vô ngã thì đỡ kẹt. Còn cái người mà chứng được chánh niệm tỉnh giác này mà chưa có chứng Thánh nha, chứng được thiền mà chưa chứng được Thánh, cứ tự khen mình có ngày phát điên. Lạ như vậy. Nói: Ủa sao ông đó tu thiền ổng điên? Chỉ vì lý do ổng tự khen mình hoài. Ổng tu có chứng đó, có kết quả đó, nhưng mà âm thầm tự khen mình hoài, thời gian sau phát điên mất tiêu. Rất là uổng, rất là phí, chứng rồi mà lại phát điên vì cái tự khen mình. Nên vì vậy, ngang chỗ này ta rất cần có một ông thầy để kèm mình, để mình biết là đường mình đi còn còn dở mà cố gắng đi tới.
[51:03]Giống như là ngài Đại Huệ, Thiền sư Đại Huệ ổng ngộ đạo rồi, ổng đến với ngài Văn Chuẩn. Ngài Văn Chuẩn là một Thiền sư ngộ đạo rất là cao, ngài Đại Huệ chỉ là học trò, mặc dù đạt được cái chánh niệm tỉnh giác rồi, nhưng mà chưa phải chứng sâu, đến nương với ngài Văn Chuẩn. Hôm đó cái ngài Đại Huệ đọc cái kinh Kim Cang, đang ngồi đọc vậy, cái ngài Văn Chuẩn bước vô nói: Con đọc cái gì vậy? Nói: Dạ con đọc kinh Kim Cang. Cái ngài Văn Chuẩn mới hỏi: À trong kinh Kim Cang có câu là các pháp bình đẳng, các pháp bằng nhau. Nhưng mà tại sao này cái núi này cao mà núi bên kia thấp vậy con? Cái ông cái ông thầy ổng hỏi ông đệ tử, thì ngài Đại Huệ mới trả lời:
[51:50]Các pháp bình đẳng không cao thấp. Không cần chạy theo ông thầy, không cần chạy theo cái câu gài bẫy của ông thầy, giữ vững ý trong kinh: Các pháp bình đẳng không cao thấp. Thì lúc đó ngài Văn Chuẩn mới hiểu liền cái chỗ chứng của ngài Đại Huệ ở đâu, mới nói câu này: Con hãy buông lỗ mũi ra để thở. Con hãy buông lỗ mũi ra để thở. Câu này ở đây ta không hiểu đâu, sau này chứng thì ta mới hiểu. Mà ngài Đại Huệ hiểu cái lỗi của mình nhưng vẫn không vượt qua được. Mãi đến sau này ngài Đại Huệ về với ngài Viên Ngộ rồi mới ngộ ra được chỗ đó, mới vượt ra khỏi chỗ đó. Nên ở đây cái người được chánh niệm tỉnh giác rồi còn phải lận đận cả 30 kiếp.
[52:39]Mà đừng tự khen mình à, hễ tự khen mình rồi là điên một cái rồi lui lại 2, 3 trăm kiếp sau mới lấy lại được. Nên đời tu hành vất vả là như vậy. Làm Thánh không dễ đâu. Nhưng mà ta cũng phải tu cho cho giải thoát, vì ta không thể trầm luân sinh tử mãi. Ở đây cái người mà đạt được chánh niệm tỉnh giác đó, họ hiểu sâu về nhân quả tội phước, hiểu sâu về cái điều đúng điều sai. Cho nên vừa tu mà vừa rất siêng làm phước, không một việc phước nào lọt vào tay mình mà bỏ ra cả, dù một điều rất nhỏ. Thậm chí ví dụ như thấy cái bàn dơ, nếu không có người lau, mình đứng lên lấy khăn lau liền, mặc dù không phải việc của mình, cũng làm liền.
[53:36]Tức là việc gì làm được làm, không câu nệ, bòn mót từng chút phước nhỏ. Mà người đó nội tâm là đã vượt lên ở mức độ thứ hai rồi, tâm đã tỉnh sáng rồi, đáng làm thầy thiên hạ rồi, nhưng mà không một việc phước nhỏ nào từ chối hết. Ở cái giai đoạn này thứ nhất thì lặp lại là đấu tranh giữa đúng và và sai, thiện và ác, xấu và tốt trong nội tâm của mình.
[54:06]Rồi khi ta ngồi thiền, ta chứng được cái trạng thái là chánh niệm tỉnh tỉnh giác, thì bắt đầu ta bước vào cái giai đoạn đấu tranh giữa tỉnh giác và bất giác. Bởi vì tuy chứng được chánh niệm tỉnh giác nhưng mà nó không phải giác hoài, nó sẽ có những lúc ta bất giác như khi ngủ mê, khi lao vào công việc đời mê, rồi có khi đang bình thường không có chuyện gì, niệm khởi mạnh quá cũng mê, bất giác trở lại. Cho nên giữ cái tỉnh giác này lại là một cuộc chiến mới hết sức là vất vả. Nhưng mà khi cái người mà chứng được chánh niệm tỉnh giác rồi thì họ đã thấy con đường đi rồi, thấy con đường đi, thấy con đường tâm linh đã mở ra, cho nên niềm tin rất là vững chắc.
[55:04]Nên mình đã đi đúng đường rồi, tâm linh đã mở ra rồi, nhớ như vậy. Còn ta nếu ở trong giai đoạn thứ nhất giữa đúng và sai, giữa thiện và ác á coi vậy chớ ta chỉ tin vào điều thiện mà tu thôi, chứ còn chưa thấy con đường tâm linh giác ngộ. Còn người ở giai đoạn thứ hai, tâm bừng khởi lên cái sự tỉnh giác thì họ đã thấy được tâm linh giác ngộ rồi, nên từ đây niềm tin vững chắc, cái sức tự tin vững chắc để mà tinh tấn đi tới. Nên khi một người mà ngộ đạo đến trình với ông thầy, đến trình cái trạng thái của mình nói: Bạch thầy, con tu hành hôm đó bỗng nhiên con bừng sáng, từ đây con thấy tâm mình lúc nào cũng rỗng rang.
[55:50]Thì ông thầy ổng chỉ khen câu thế này: Con vậy được gọi là đủ niềm tin. Chỉ gọi là đủ niềm tin thôi, chứ ông thầy không nói à con chứng thánh chứng gì nha. Đó, nó như vậy. Mà cái người đệ tử thì thấy mình rất đặc biệt, thấy tâm mình rỗng sáng lên, vậy mà đến thầy, thầy chỉ nói một câu rất thấp, rất nhỏ, rất nhẹ: Con như vậy được gọi là đủ niềm tin. Đủ niềm tin bởi vì tâm mình bước qua một trạng thái mới, tỉnh sáng lên, con đường tâm linh mở ra. À từ nay biết mình đã đi đúng đường, cứ như vậy mà mà đi. Nhưng mà không phải dễ đi. Thấy rồi đó, không ngờ đường đầy gai góc. Bao nhiêu cái niệm bí mật bên trong,
[56:33]những cái nghiệp bên trong vẫn cứ khởi lên để mà che tâm mình, làm cho mình bất giác trở lại như cũ. Và đây ta bước vào một cuộc chiến đấu mới là giữa giữa giữa tỉnh giác và bất giác, mới giai đoạn thứ hai thôi, tỉnh giác và bất giác thôi, đừng cho nó mất thôi, đừng cho mất cái giác thôi. Đó, chứ không phải là là dễ đâu, đó là giai đoạn thứ hai. Mà giai đoạn thứ hai này thầy nói là mất bao lâu? 30 kiếp lên xuống giữa cõi trời và cõi người, cứ lên cõi trời xuống cõi người, lên cõi trời xuống cõi người hoài, 30 kiếp như vậy, không phải là dễ, mà phải tinh tấn như vậy. Mà nãy thầy nói là lên cõi trời xuống cõi người chứ không có xuống địa ngục rồi nha.
[57:22]Không bao giờ đọa địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ, tuyệt đối không chuyện đó. Khi người mà đã xuất hiện được cái trạng thái chánh niệm tỉnh giác rồi thì họ bắt đầu đăng ký hộ khẩu lên cõi trời. Nhưng mà họ cứ sinh lên sinh xuống giữa cõi người và cõi trời, chứ tuyệt đối không thể nào đọa súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục được nữa, đó là bắt buộc.
[57:45]Khi đi qua 30 kiếp như vậy, thì đến một ngày nào đó họ đạt được cái mức độ gọi là bất thoái chuyển. Bất thoái chuyển nghĩa là tâm không bao giờ bất giác được nữa, nhớ như vậy, tâm không bao giờ bất giác được nữa. Tâm lúc nào cũng sáng tỏ vằng vặc kể cả trong giấc ngủ nha. Trong giấc ngủ vẫn tỉnh sáng vằng vặc. Nói thao thao bất tuyệt vẫn tỉnh sáng vằng vặc. Làm lụng vất vả, tâm vẫn tỉnh sáng vằng vặc, không một sát-na gián đoạn. Đó là bước vào giai đoạn bất thoái chuyển. Giống như ngài Lâm Tế vậy đó. Khi mà ngài đến hỏi đạo với ngài Hoàng Bá, bị Hoàng Bá đập cho một cây. Hỏi ba lần đập cho ba cây, buồn quá đi qua, rời đi. Ngài Hoàng Bá nói:
[58:39]"Ngươi qua ngài Đại Ngu á." Qua, ngài Đại Ngu khai ngộ liền. Khai ngộ xong, trở về lại thăm Hoàng Bá mới biết thiền là gì. Sau này ngài mới diễn tả những cảnh giới mà ngài ngộ, ngài nói câu này: "Đêm qua trâu vàng ngập đất tro, thẳng đến hôm nay chẳng thấy dấu." Mất luôn.
[59:03]Trong các thiền sư từ xưa cho tới sau này, ngài Lâm Tế là người có sức ngộ phi thường. Là ngài không biết đi qua bao nhiêu chục kiếp tu trước đó, nhưng cái lúc mà ngài cái cái khoảnh khắc mà ngài ngộ đạo nơi ngài Đại Ngu một cái rồi, vĩnh viễn không bao giờ khởi niệm nữa, vĩnh viễn không bao giờ bất giác nữa, đạt được cái trạng thái tỉnh giác bất thoái chuyển luôn. Cho nên ngài Lâm Tế cái đức ngài rất lớn, bởi sau này đệ tử ngài tràn ngập từ Trung Hoa kéo về Việt Nam. Bây giờ vô cái chùa nào mà nhìn bài vị cũng là Lâm Tế Chánh Tông, Lâm Tế gia phổ tùm lum, toàn là Lâm Tế không. Ngài ngộ một cái rồi là tỉnh, vĩnh viễn không bao giờ
[59:46]khởi niệm, vĩnh viễn không bao giờ bất giác nữa. Vì ngài sao? Ngài đã đi qua mấy chục kiếp, 30 kiếp tới giai đoạn chín muồi. Còn những người khác mà ở cái kiếp đầu tiên đạt được cái sự tỉnh giác chánh niệm, thì cứ bị khi thì tỉnh giác, khi thì bất giác, khi thì tỉnh giác, khi thì bất giác. Phải đấu tranh với nó, giữ gìn khéo léo bảo vệ. Ba chục kiếp, vất vả. Thấy tu hành cực không?
[1:00:17]Dám tu không? Không tu đọa làm súc sinh liền nha, phải tu. Mà hễ tu thì phải vất vả như thế đó. Cho nên một người mà tu tập mà thành tựu được cái thánh quả, thì đúng là đáng cho ta mà mình quỳ lạy cả mấy triệu lạy cũng xứng đáng là vậy đó. Vì công hạnh họ quá vĩ đại, cái thiện nghiệp họ quá sâu dày. Lý do là như vậy, vất vả lắm không phải dễ. Ở cái giai đoạn mà chánh chánh niệm tỉnh giác, đấu tranh giữa cái tỉnh giác và cái bất giác, 30 kiếp.
[1:00:56]Thì cái người đó họ họ vất vả lắm. Nhưng ta nhìn một vị mà họ ở cái giai đoạn đó, ta nhìn vào ta sẽ thấy cái phong cách của họ. Cái phong cách của họ là sao? Vừa có cái gì ung dung, mà vừa có cái gì
[1:01:12]cẩn thận, lo lắng, dè dặt. Họ vẫn có cái ung dung thanh thản của một người bắt đầu đi vào cái tỉnh giác chánh niệm, nhưng mà vẫn còn rất lo lắng vì còn phải đấu tranh giữa tỉnh giác và và bất giác. Ở cái giai đoạn này các thiền sư gọi là thế này: giống như đi trên băng mỏng, đi trên dao bén, sẩy một cái là chết liền. Cái băng mỏng ví dụ mùa đông ở những cái nước mà nước ôn đới, hàn đới đó, mùa đông xuống một cái cái bờ sông cái bờ hồ nó đóng thành một lớp băng. Thấy thì nó cứng ngắc vậy đó, nhưng mà mình chạy ra chơi nhằm cái chỗ mà băng mỏng á, nó vỡ một cái mình rớt xuống cái cái sông chìm. Chui lên lại không gặp lại cái chỗ vỡ hồi nãy,
[1:01:59]cứ lên mò mò mò gặp cái chỗ mà băng không thì một hai phút ta chìm chết luôn. Cho nên đi trên băng mỏng nguy hiểm, cho nên đi rón rén, đừng để cho nó vỡ cái băng mà mình chìm xuống dưới lòng hồ rồi lên lại không đúng cái chỗ vỡ hồi nãy, hoặc là lên lại không được tại lên lại cái cái chỗ vỡ nó đóng băng lại luôn. Gõ không bể, không chui lên được, chết liền. Đó là cẩn thận như đi trên băng mỏng, hoặc là đi trên dao bén. Giống như cái người làm xiếc mà họ để bao nhiêu con dao, họ giẫm lên từng cái dao họ đi. Thì họ phải làm sao? Hít hơi, nín thở, vận công, đi khéo léo khéo léo để đừng trầy. Lúc đó tâm động, khí loạn một cái là dao cắt đứt chân liền.
[1:02:40]Thì cũng vậy, ở cái giai đoạn mà tỉnh giác này phải cẩn thận từng chút để giữ gìn cái thiện tâm, cái đạo đức và giữ gìn cái tỉnh giác của mình từng chút. Mà trong cái giữ gìn cái thiện đó, thì giữ gìn tới mức độ là siêu thiện luôn. Siêu thiện, tức là cái sự cái hoàn hảo của cái đạo đức trong nội tâm của một bậc mà ở cái mức độ thứ hai này là tới sạch không còn một hạt bụi, tới mức độ như vậy. Tại vì sao? Bởi vì những cái sai nhỏ nhỏ đều phá cái tỉnh giác họ hết. Họ khởi một niệm bậy rất nhỏ nó đều đánh vỡ cái tỉnh giác họ hết, cho nên họ cẩn thận dữ lắm. Ví dụ như bây giờ thầy nói có những cái điều nhỏ thôi nha.
[1:03:24]Bây giờ ví dụ như nói giống như một giảng sư bước vào một cái hội chúng đông đúc
[1:03:34]thì lúc đó mọi người sao ạ?
[1:03:38]Lúc ví dụ mình đứng đứng mình chắp tay phải không? Mình thấy một vị giảng sư bước vô, lúc đó tâm mình nghĩ cái gì? Hử? Tâm mình nghĩ cái gì? Không nghĩ gì hết trơn hả trời?
[1:03:54]Trời ơi không lẽ lạnh lẽo mà mà trơ trơ mà mà khô khan vậy hả trời? Hả? Tâm khởi cái gì? Thường là mình khởi lòng cung kính phải không ạ? Cung kính, yêu mến, chờ đợi, khát khao để được nghe pháp phải không? Đó là còn người nào mà không khởi cái đó là cái người mà mà thiệt nói là lạnh lùng băng giá quá, giống sát thủ quá à. Nha. Lòng mình phải có một cái cảm xúc phải không mình mới đi nghe giảng. Không có cảm xúc đi nghe làm chi? Cho nên khi mình đón một ông giảng sư đi vô, lòng mình khởi cái tâm cung kính nè, chờ đợi, lắng nghe, khao khát. Còn cái ông giảng sư đó nghĩ gì?
[1:04:37]Ông giảng sư đó nghĩ gì?
[1:04:41]Đó, nếu một ông giảng sư đó à ổng cũng nó có nhiều loại. Nếu ông giảng sư đó mà ổng khởi lên cái niệm bất thiện thì ổng nghĩ thế này: "Mình là thầy, ha. Mình là giảng sư, mình ngon, còn nhiêu đây toàn là đệ tử không, toàn người học trò." Khởi câu đó là niệm gì? Niệm bất thiện, niệm kiêu mạn thì cuộc đời tu ông này không lâu, cái sự nghiệp giảng không lâu, không kéo dài nữa, vì lúc đó khởi niệm bất thiện kiêu mạn. Bây giờ có một ông khác, khi đi vào giữa cái hội chúng như vậy trong tâm nghĩ thế này: nghĩ gì hả? Là nghĩ cái khiêm tốn ha, nghĩ tội nghiệp thấy mọi người chắp tay quá, cái cái lòng mình cũng rón rén, cũng khúm núm cũng chắp tay đáp lễ,
[1:05:31]rón rén đi vào cũng với cái ý là là là là thôi cũng đáp lễ lại. Trước cái sự cung kính của mọi người cũng đáp lễ lại, thì ông này là tốt không? Tốt rồi đó, bắt đầu có cái biết sợ, bắt đầu biết giữ tâm hồn. Vậy đó, nhưng mà chưa phải ngon, chưa phải ngon. Vì cái tâm mà rón rén, khúm núm đáp lại nó vẫn chưa đủ để đáp lại cái ân tình của bao nhiêu con người họ đứng đó chắp tay cung kính mình, vẫn chưa đủ. Cái tâm nó vẫn chưa đủ nên gọi là chưa siêu. Còn một cái người mà họ cao hơn, ví dụ cái bậc mà họ chứng được chánh niệm tỉnh giác, khi họ bước vào một cái hội chúng nhìn thấy lòng mọi người cung kính,
[1:06:13]lắng lòng như vậy thì trong lòng họ khởi lên một cái tác ý là yêu thương và tôn trọng tất cả mọi người trong hội chúng này hết, không sót một người nào. Nguyện lòng là cái lòng tôn trọng, yêu thương của mình đến với tất cả hội chúng ở đây không sót một người nào, dù là một em bé. Thì họ tác ý được như vậy, cái cái đạo đức của họ hoàn thiện. Họ và mà những cái đó có ai biết không? Không ai biết hết, nó thầm thầm lặng lặng trong tâm mà cái người mà họ chứng được chánh niệm tỉnh giác rồi, họ đọc ra được những cái đó, họ biết những cái đó, họ tác ý được những cái đó, cho nên làm cho cái đạo đức của họ nó hoàn thiện, cực kỳ đẹp đẽ.
[1:06:54]Nhưng mà mình nhìn bên ngoài mình không biết đâu. Nhưng mà một bậc mà chứng tới mức độ thứ hai rồi, họ hoàn thiện đạo đức họ lạ lùng lắm. Ăn một miếng cơm cũng có những cái tác ý đẹp, uống một miếng nước cũng cẩn thận, đi trên một con đường cũng cẩn thận. Tức là trong cuộc sống này, họ dè dặt cẩn thận từng chút một, không để cho một cái điều sai như một hạt bụi xuất hiện trong cuộc đời của mình. Đó, họ cẩn thận cẩn thận từng chút như vậy. Nhưng mà làm sao? Chưa diệt được ái dục nha, chưa diệt được ái dục. Vì sao vậy? Tại vì tới nhập chánh định Sơ thiền hoặc là chứng tam quả A-na-hàm lúc đó mới thật sự diệt được ái dục. Đó, như vậy.
[1:07:43]Nên cái bản năng về ái dục nó mạnh hơn tất cả những cái loại khác. Tham diệt được rồi, sân diệt được rồi mà dục chưa diệt được. Bởi vì cái dục nó là bản năng tự nhiên của chúng sinh trong ba cõi. Nó là cái gì? Nói nói thực ra chúng sinh ở cõi Dục, chúng sinh khắp cả vũ trụ này mà hễ còn là cõi Dục thì cái bản năng ái dục nó vẫn còn. Mà không dễ vượt qua, chứng tới mức độ thứ hai là được chánh niệm tỉnh giác, chưa đụng gì tới được bản năng ái dục, nó vẫn còn nằm đó không phải là dễ, như vậy. Đó là giai đoạn thứ hai. Thì khi mà cái người này mà chứng tới cái mức độ là bất thoái chuyển, cái sức tỉnh giác nó không bao giờ tắt nữa nha.
[1:08:32]Trong giấc ngủ không tắt, lúc làm việc vất vả không tắt, lúc nói năng, lúc nghe, làm gì cũng không tắt, lúc nào tâm cũng tỉnh giác là bắt đầu bước tới bất thoái chuyển. Và thầy báo luôn, chết cũng không tắt. Trong cái giây phút mà người đó lìa đời tâm vẫn tỉnh giác mà ra đi, rời khỏi cái xác này được rồi. Bước ra sáng chói rồi nếu thích thì đầu thai lại, không thích thì lên cõi trời. Lúc đó tâm sáng chói. Rời khỏi xác cũng không mê. Còn đa số chúng ta chưa được cái trạng thái này, khi chết ta mê liền, phải không ạ? Muốn chết là phải mê mờ, cũng giống như là muốn chết là phải ai phải đập cái đầu mình cái bốp, mình mê man bất tỉnh rồi mình chết luôn.
[1:09:16]Lúc chết ra khỏi xác mình mê mê mê mê, chưa biết mình chết nữa. Vất va vất vưởng một lát, đau đầu một lát, từ từ tỉnh lại mới thấy à: "Ồ xác mình nằm đây, mình chết, cái thằng kia nãy nó đập mình". Rồi, lúc đó bắt đầu từ từ mới biết, chứ lúc mới chết chưa biết mình chết. Còn trừ trường hợp mấy người mà chết bệnh đau đớn oằn oại rồi mới mê đi một cái thoát ra khỏi xác thì lúc đó không mê nhưng mà vẫn là gì? Vẫn là một phàm phu. Như đó, còn cái người mà đạt được cái bất thoái chuyển của tỉnh giác cả giấc ngủ không mê. Ngủ cũng tỉnh giác, cũng sáng chói nên đến cái giờ phút mà chết thì lặng lẽ rời bỏ xác này bước ra, vẫn tỉnh giác, vẫn sáng chói là như vậy.
[1:10:00]Nghe tu tới chỗ này thích không ạ? Thích ha, sướng ha, muốn chết chết, muốn sống sống là ngay chỗ này. Nên như ngài Đổng Sơn vậy. Ngài Đổng Sơn cái ngài hôm đó ngài chết, ngài nói là bữa đó ta tịch, đệ tử kéo về quá chừng. Ngài ngồi trước mặt mấy ngàn đệ tử ngài bắt chân kiết già, ngài nhắm mắt ngài đi. Thấy ông thầy mình nhập định cái đi rồi, ôi dưới này khóc. Khóc, ngài mở mắt ra sống lại. Ngài la: "Sinh tử là chuyện thường, có gì! Các ngươi không được làm phiền ta". Nhắm mắt lại, ngài tịch lại lần nữa, đi luôn, ngài Đổng Sơn. Nên là những vị thiền sư mà họ đạt đến mức độ mà từ cái bất thoái chuyển trở lên là đều được như vậy.
[1:10:40]Nhưng sự thật các ngài đó là cao hơn. Nhưng mà ít ra là từ cái bất thoái chuyển, không bao giờ mất cái tỉnh giác hết. Đó, nên ở đây gọi là giai đoạn thứ thứ hai, đấu tranh giữa tỉnh giác và bất giác. Cứ giằng co giằng co, mà đến khi đạt được cái giai đoạn là bất thoái chuyển, cái sự giác là thường hằng thì ta bước sang giai đoạn thứ ba là tĩnh và và động. Ừ, lúc đó tĩnh và động, ngang trạng thái này thường là bắt đầu vào sơ thiền, sơ thiền. Tâm tĩnh thường xuyên rồi bắt đầu chỉ còn những kiến giải về đạo lý, nó thầm thầm bí mật, vi tế. Thì lúc này cố gắng đấu tranh vượt qua luôn để nhập định hoàn toàn.
[1:11:27]Đây là giai đoạn của sơ thiền. Giai đoạn sơ thiền này khoảng bao lâu? Khoảng bao lâu? Có người nói 10 năm thì đây là siêu nhân xuất hiện giữa đời người, Bồ Tát vừa mới tái lai mới nói là sơ thiền 10 năm. Sơ thiền này có khi khoảng 30.000 năm ở trên cõi trời á. Bỏ thân này mang cái sơ thiền lên cõi trời ở trên 30.000 năm. Cái sơ thiền nó lâu như vậy mà mà nó bất thoái chuyển, lúc nào cũng tỉnh cũng sáng nhưng mà niệm bí mật về kiến giải đạo lý vẫn còn ngầm ngầm ngầm ngầm, nó tinh vi như vậy, và cứ phải buông, cứ phải buông. Vừa củng cố đạo lý vừa học đạo lý với các vị Bồ Tát để tác ý sâu xa, nhưng mà vẫn phải buông hết cái niệm
[1:12:17]bí mật để có thể nhập định hoàn toàn vào nhị thiền, tại vì nhị thiền là tuyệt đối sạch niệm. Thì cái trạng thái mà đấu tranh giữa tĩnh và động, tâm thường xuyên tỉnh giác, chết cũng tỉnh giác, sống cũng tỉnh giác, ở cõi người cũng tỉnh giác, ở cõi trời cũng tỉnh giác, ngủ tỉnh giác, thức cũng tỉnh giác, làm bất cứ việc gì cũng tỉnh giác, khi chết lìa thân cũng tỉnh giác, thì đó là bắt đầu ta bước qua giai đoạn thứ ba là chú- đấu tranh giữa tĩnh và và động. Đó, những cái niệm nhỏ nhỏ nhỏ nhỏ, bí mật bí mật, cố gắng là đừng để nó dắt, dừng nó lại, dừng nó lại, dừng nó lại để mà nhập định được hoàn toàn.
[1:13:03]Thực ra đó thì không còn phải dụng công nhiều ở giai đoạn này, nhưng mà vẫn phải canh chừng, vẫn phải để ý thì nó mới tắt hết hoàn toàn để nhập được định tuyệt đối.
[1:13:18]Mà cái giai đoạn này có khi bình thường ta đi mấy chục ngàn năm ở trên cõi trời. Đó. Trừ trường hợp mà ta đã thuần thục thì ở nơi cõi người này ta lướt qua cái sơ thiền trong vài năm rồi ta nhập định vào nhị thiền luôn. Đó là những bậc mà A La Hán tái lai, những vị mà sinh ra để chứng A La Hán thì họ lướt qua cái sơ thiền trong không bao lâu. Có khi vài tháng họ đi qua luôn, có khi vài năm họ đi qua luôn, rồi nhập vào nhị thiền luôn. Còn nếu mà chúng ta không phải là cái người mà căn cơ sinh ra để chứng A La Hán á, tự mình chứng được sơ thiền, bất thoái chuyển của tỉnh giác rồi, thì ta ở cái sơ thiền này mấy chục ngàn năm ở trên cõi trời. Nó như vậy.
[1:14:01]Thấy lâu không? Chán không? Nghe nói mấy chục ngàn năm có ngán không? Thực ra cái người mà chứng được sơ thiền rồi, mấy chục ngàn năm nó bằng một cái búng tay. Mấy chục ngàn năm bằng một cái búng tay thế này. Cho nên mấy vị mà lên cõi trời rồi họ không có xuống thăm mình là vậy đó, tại thời gian họ đi qua rất là nhanh. Mình ở đây mòn mỏi 50 năm chờ đợi, đối với họ là mới chớp mắt một cái thế là bằng 50 năm của mình, nên là sống thanh thản. Nên các vị mà ở trên những cõi trời cao họ đi qua vài triệu năm bình thường. Còn mình ở đây vài triệu năm là Trái Đất mình thấy điều tan tành hết, oánh nhau không còn người nào sống trên đời này,
[1:14:41]cắn nhau xé nhau, chiến tranh, hãm hại, vu khống, úi đủ thứ chuyện, thấy không? Mấy triệu năm. Còn đối với họ trong cái an định đi qua vài triệu năm nhẹ nhàng như trong một cái giấc ngủ trưa, là vậy. Cho nên khi ta nghe nói cái người mà đã thuần thục chánh niệm tỉnh giác, bất thoái chuyển trong tỉnh giác, bước vào sơ thiền để mà đấu tranh để mà nhập được cái định hoàn toàn mất mấy chục ngàn năm ở trên trời, ta nghe thì lâu nhưng mà đối với mấy vị đó cũng chỉ như là vài ba ngày. Vài ba ngày, nên các vị lên đó sống thanh thản là vậy đó. Nói ví dụ như thế này, ta nói cái ví dụ như nhà mình đang nghèo, trưa nay mình không có gạo
[1:15:23]ăn, cái mình tới mình mượn cái ông nhà giàu, nói: "Dạ ông cho tôi mượn ít gạo ăn với mấy đứa nhỏ, trưa nay không có gì nấu ăn". Ổng nói: "À vậy hả? Ờ thôi được rồi để tôi cho, để sai lát sai cái người làm đem gạo lại cho", rồi ổng đi về. Thì bắt đầu cái tâm của ổng với tâm mình nó làm sao? Tâm mình thì làm sao? Mình chờ đợi từng từng giây phải không ạ? Mình chờ đợi từng giây cứ ngồi thấp thỏm hoài, chờ đợi từng giây, còn ổng có chờ từng giây không? Tại sao? Tại ổng có đói đâu mà ổng chờ từng giây, thấy không? Ổng về từ từ ổng nói: "Lấy nước tao uống bây, tháo giày tao ra. Ủa, đứa nào mà treo bức tranh lệch vậy kìa?
[1:16:06]Nay có đứa nào đi học không nè?", ổng ngồi ổng hỏi tào lao ổng quên mất cái chuyện mà nãy mình mình, trong khi ở nhà mình thì mình sao? Mình chờ từng giây, còn ổng thì: "Xì, chút xíu có gì đâu mà hối hoài, thì lát đem có gạo có gì đâu", thấy không? Ổng thấy không có gì gấp rút hết á, tại vì sao? Ổng giàu có, ổng sung sướng, ổng thanh thản không? Còn mình thì đếm từng giây. Thì giữa mình với cõi trời cũng vậy á, phải không? Mình dưới này thắp tha thấp thỏm: "Trời ơi, nay lâu lãnh lương quá, không biết kỳ này có hên không, không biết chiều nay số đề ra số mấy, rồi năm nay không biết có trúng mùa không, không biết kinh tế tới đâu rồi", ha?
[1:16:39]Mình đếm từng giây, đếm từng chuyện trên cuộc đời, còn ở trên cõi trời mấy ổng làm cái gì ở trển á? Tụi bay làm gì gấp vậy, từ từ, thanh thản á, đời nhẹ nhàng cái mới trôi, muốn gì cũng có cái nấy, không có gì phải lo. Cho nên ổng đi qua mấy ngàn năm giống như chơi, còn mình ở đây trời ơi đếm từng ngày. Đếm từng ngày phải không ạ? Không biết là tới hạn ngân hàng đòi chưa, thấy không? Đó rồi nay có tới kỳ mà chích thuốc, nay tiền học của con tới lúc đóng rồi, tức là mình cái sự việc mình nó dồn dập làm mình căng thẳng, lo toan nên thấy thời gian đi rất là chậm. Còn ở trên cõi trời mấy ổng sướng quá,
[1:17:13]mấy ổng thanh thản, mấy ổng cứ vèo vèo thời gian trôi qua ổng không để ý, giống như cái ông nhà giàu với ông nhà nghèo vậy đó, nhớ y như vậy đó. Chứ thời gian thì nó giống nhau à. Thì cũng từ trưa, từ sáng cho tới trưa, mình phải chờ gạo mình mượn gạo mình nấu cơm, còn ổng cũng từ sáng tới trưa ổng không có chuyện gì hết trơn, ổng thanh thản nên ổng thấy chút xíu hết. Còn mình chờ đằng đẵng, đếm từng giây, trời ơi không biết ổng có cho mình mượn không mà sao nãy giờ không thấy, ý là như vậy. Nên vì vậy khi một người mà họ đã thuần thục trong chánh niệm tỉnh giác, lòng họ thanh thản, thơi thới, không có gì phải lo, giống như cái ông nhà giàu á.
[1:17:48]Nó khổ là giống như cái ông nhà giàu á, mình quỳ mình lạy xuống dưới bàn thờ của ổng, ổng thì lên bàn thờ rồi, ổng lên cõi trời, mình quỳ lạy: "Thầy ơi sao thầy bỏ con đi?", phải không? "Hồi trước con là đệ tử của thầy đây, thầy bây giờ về cõi này thầy cứu con", phải không? "Cứu con giờ con khổ quá, con bây giờ mắc nợ tứ tung hết trơn thầy cứu con", ngồi chờ hoài. Ổng thì cũng nghe đó, ổng trên cõi trời ổng nghe: "Làm gì dữ vậy mậy? Ai biểu mày chi mày xài chi cho cố rồi mắc nợ, thôi từ từ tao cứu". Ổng thì ngồi ổng nói một câu từ từ ổng cứu, dưới này mình muốn đổ mồ hôi hột, người ta tới người ta đòi nợ, thì ổng nói:
[1:18:22]"Thầy biết rồi, từ từ có gì đâu mà gấp vậy con", ổng cứ thanh thản tại lòng ổng không có gì ổng lo, mình dưới này muốn chết luôn. Đó mặc dầu hai thời gian nó bằng nhau, nhưng mà cái cảm giác khác nhau giữa một người mà họ đắc đạo thanh tịnh và một cái người mà loạn động phiền não như mình nó khác nhau như vậy. Đó, cũng giống như bây giờ mình đừng nói trên cõi trời, cõi người, bây giờ ngay nơi cõi người này thôi, một cái vị mà ổng đắc đạo vậy, ổng từ sáng tới chiều ổng không có gì ổng lo, ổng thanh thản nhìn cuộc đời trôi qua rồi cứ theo bổn phận mình họ làm, vậy đó. Còn mình từ sáng tới chiều Mình căng thẳng lo toan, ngày hôm nay đã lo ngày mai,
[1:19:00]năm nay đã lo cho năm tới, mà năm nay lại nhớ về năm xưa. Tức là trong cùng một thời gian của mình, mình lo chồng chồng chồng lên năm mười chuyện, năm bảy chục chuyện, đúng không ạ? Nên thời gian của mình nó như dài tới năm bảy chục lần vì mình lo năm bảy chục chuyện. Còn cái ông thiền sư ổng có chuyện gì hết trơn á. Ổng có chuyện bình thường trước mắt hiện tại an trú mà ổng làm, cho nên ổng thấy thời gian chỉ có một, một phân nửa, còn thời gian mình thành ra năm bảy chục lần, ý là như vậy. Nên cái giai đoạn mà Sơ thiền đó, cái giai đoạn mà tỉnh giác thường trực để đấu tranh để đi vào cái định á thì nói
[1:19:37]là đấu tranh chứ ổng chẳng đấu tranh gì vì ổng cũng quá sung sướng rồi. Ổng quá an nhàn, ổng quá an lạc, quá hỷ lạc, quá sung sướng. Thì ổng cứ giữ cái đó để ổng đợi cho tới khi ổng nhập được định luôn thôi, ổng nhập vào Nhị thiền luôn. Thì trong cái thời gian mà ổng thanh thản ổng đợi đó thì ổng cứ thanh thản mà đi gặp các vị Phật ổng cúng dường, gặp các vị Bồ Tát ổng đảnh lễ, ổng cứ đi thanh thản mà ổng đi tu học đạo để tăng thêm trí tuệ. Mà rất thanh thản không gì phải lo, bao nhiêu năm kệ nó, mấy chục ngàn năm kệ nó. Đó, còn mình đây thì đã qua bao nhiêu đời, thế giới này đã biến đổi không biết bao nhiêu chuyện,
[1:20:15]nhưng mà trên kia vị đó vẫn đang còn thanh thản tu học nhẹ nhàng, đợi nhập định vào Nhị thiền sau. Đó là cái như vậy. Đó là cái giai đoạn thứ ba giữa tịnh và và động, là chuyện của cõi thánh không chứ không còn chuyện của cõi người. Tới cái giai đoạn thứ tư là cuối cùng là đấu tranh giữa cái gì? Giữa cái gì? Nhớ chưa? Vô ngã và và chấp ngã. Khi mà tâm đã hoàn toàn định rồi, không tuyệt đối không còn niệm khởi nữa, nhưng mà vẫn còn cái gì? Vẫn còn cái gì? Chấp ngã bí mật, vô minh chấp ngã. Đó, đây chính là chỗ mà Sa môn Gotama hỏi hai bậc thầy của mình. Đó, là Sa môn Gotama, tức là Hoàng tử Siddhartha đó,
[1:21:05]khi từ bỏ hoàng cung đi về Vương Xá rồi cái sau đó tìm học với vị đạo sư thứ nhất là Alara Kalama. Thế là ông thầy đó ổng chứng được tới cái mức độ mà Vô sở hữu định, ổng đi được trên mặt nước, thì Sa môn Gotama cũng chứng được tới đó luôn, cũng đi được trên mặt nước luôn. Nhưng mà bởi cái trí tuệ của mình, ngài mới thấy không phải, vẫn còn cái gì nó kẹt, mà không biết kẹt cái gì, mới hỏi thầy mình: "Thưa thầy, cái chỗ này còn cái chấp ngã hay không?" Đó, nhớ nha, chỗ này còn chấp ngã hay không. Đây là giai đoạn thứ thứ tư. Giai đoạn thứ tư là đấu tranh giữa chấp ngã và và vô ngã. Đó, rồi còn chấp ngã hay không, ông kia ổng cũng ú ớ luôn.
[1:21:53]Thế là ngài mới xin phép rồi đi qua cái ông thầy thứ hai là ông
[1:21:59]Uddaka Ramaputta, mình hay gọi là Uất Đầu Lam Phất á, Uddaka Ramaputta. Ông này ổng chứng cao hơn, ổng chứng tới Phi phi tưởng, ổng bay được luôn. Thì Sa môn Gotama cũng bay được luôn, chứng cũng bay được luôn, hai thầy trò bay vèo vèo trên hư không với nhau á. Rồi cũng hỏi thầy mình: "Thưa thầy, chỗ này còn chấp ngã hay không?" Ông thầy cũng ú ớ luôn. Đó, nên bởi vậy là chỉ có Phật mới tới cái giai đoạn thứ tư này là đấu tranh giữa vô ngã và chấp ngã. Còn đa phần những bậc đạo sư dù cao siêu, bay giữa hư trời được rồi mà vẫn không biết chỗ này để mà đấu tranh. Nên hôm nay ta là đệ tử của Phật, ta mới nói ra được điều này.
[1:22:48]Chứ nếu ta không phải là đệ tử Phật, ta cũng không biết cái điều thứ tư này để mà nói ra. Nên hôm nay vậy ta nhờ ơn Đức Phật đã tu chứng mà ta nói được cái giai đoạn thứ tư này. Mà khi đã nói ra được cái thứ tư này, ta cũng đã gieo nhân giác ngộ hoàn toàn. Nên hôm nay ai nghe được cái bài Pháp này mà lắng lòng thanh tịnh, hiểu rõ, khát khao thì người này cũng đã gieo nhân giác ngộ ở tương lai về sau. Chứ không phải là tầm thường đâu. Bởi vì cái giai đoạn thứ tư này, giằng co giữa chấp ngã và vô ngã này, chỉ có Phật mới biết. Chứ còn hai ông đạo sĩ mà một ông đi trên mặt nước, một ông bay trên hư không được vẫn không biết ra điều này.
[1:23:33]Mà nếu ta không có Phật, ta cũng không biết điều này. Nếu không có Phật, ai dạy mình mà bay được là làm sao? Mình sao? Quá ngon phải không? Quá mừng rồi, quá vĩ đại rồi, thôi nhiêu đó đủ rồi. Nhiêu đó là bay vòng vòng suốt ngày chơi rồi, được rồi. Không đặt vấn đề còn chấp ngã hay vô ngã. Khiếp như vậy! Chỉ Phật mới nhìn ra điều này. Cho nên ta không thể nào nói được hết cái tấm lòng của mình biết ơn đối với Đức Phật. Nếu không có Đức Phật, nếu không có sự chứng ngộ vĩ đại của Người, đúng là ta chỉ là gì? Một đám chúng sinh ngu si, khờ dại, mê mờ, dốt nát. Nhờ có Phật mà hôm nay chúng ta nổ, ta mới nói ra được cái thứ tư này.
[1:24:20]Nhờ có Phật mình mới nổ với nhau nghe như vậy. Đó là dù chứng tới tột cùng như vậy rồi, chứng tới không còn gì để tu nữa rồi nha, cái thanh tịnh tuyệt đối rồi, vậy mà chấp ngã vẫn bí mật tồn tại, vậy mà chỉ có Đức Phật mới nhìn ra. Rồi thế là Đức Phật từ giã ông thầy đó luôn, Uất Đầu Lam Phất, đi về cái khu rừng khổ hạnh để tu. Thì lúc đó là có năm anh em Kiều Trần Như đã tìm tới rồi, thì được lệnh của vua Tịnh Phạn bắt năm anh em là nói: "Các ngươi về đó tu với Thái tử, vừa tu chung với Thái tử mà vừa săn sóc, hầu hạ, bảo vệ Thái tử cho ta. Nha, các ngươi làm được thì ta, gia đình các ngươi ở đây
[1:25:00]ta bảo bọc hết, ta nuôi nấng hết, giàu sang hết. Còn các ngươi mà để Thái tử có chuyện gì thì các ngươi chạy tới đằng trời ta cũng tìm tới nơi ta giết, các gia đình các ngươi ở đây ta giết sạch không còn một người nào." Vua Tịnh Phạn mà, ổng thương con quá, ổng ra lệnh ấy. Nên năm đạo sĩ mới từ giã lên đường đi tìm tới với với Sa môn Gotama mà xin được tu cùng với ngài. Nhưng mà cái sức định của Sa môn Gotama khủng khiếp quá, ngài chứng tới Phi phi tưởng mà. Cho nên sau đó sáu năm ngài học yoga, ngài tu yoga. Cái mà bây giờ yoga dạy tràn lan là cái gọi là khổ hạnh mà Đức Phật tập trong sáu năm á.
[1:25:42]Ngài đứng một chân, ngài vặn, ngài bẻ, ngài cong, úi làm đủ trò trong sáu năm. Mà một tư thế như vậy, ngài làm bảy ngày. Không ăn không uống, đứng yên trong bảy ngày. Mấy ông yoga ổng vặn vặn xíu bỏ hết thế này qua thế kia phải không ha? Bẻ chân bẻ đầu được mấy giây cái bỏ qua, vặn qua vặn lại là coi như mình ngon lắm. Đức Phật một cái tư thế mà vặn như vậy, đứng bảy ngày. Cho nên sau sáu năm rồi ngài mới nói rằng: "Trên đời này trong suốt quá khứ này, chưa có một người nào mà có thể thực hành cái yoga bằng ta được." Cái yoga mà bẻ tay bẻ chân mà uốn cong người cái nọ đó như mà ta đang thấy, chưa từng có, bởi vì họ bẻ chân chút xíu,
[1:26:20]người nào giỏi lắm được một ngày, còn ngài bảy ngày mỗi một tư thế, suốt sáu năm hết tư thế này tới tư thế kia, mà vẫn không giải thoát. Nên sau đó ngài mới ăn uống lại khỏe, bắt đầu đi vào con đường thiền, chứ không đi con đường yoga. Hiện nay trên thế giới rất là mê yoga. Họ đâu biết rằng nếu họ khôn ngoan tu thiền của đạo Phật hay hơn yoga gấp mấy lần, đạt được cái chân lý hay hơn gấp mấy lần. Bây giờ các câu lạc bộ yoga mở ra tùm lum. Chứ nếu mà cũng các câu lạc bộ đó mà mở ra dạy thiền của đạo Phật thì lợi ích cho chúng sinh nhiều lắm, lợi ích cho xã hội nhiều lắm.
[1:27:06]Nên bây giờ các Phật tử của ta nha, ráng tu thiền cho giỏi rồi ta mở các câu lạc bộ dạy dạy thiền, nhớ như vậy nha. Như vậy thì sẽ lợi ích cho xã hội nhiều hơn. Thì ở đây, khi Đức Phật ngài lên ngài nhập định ngài ngồi thiền thì ngài nhanh chóng chứng lại từ từ hết, bắt đầu nhập vào Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền. Ngang Tam thiền bắt đầu bị ma phá. Phá nhưng ngài vượt qua. Nhưng mà còn có một cái bí mật này nữa không ai biết là thế này. Là trước khi mà ngài ngồi dưới cội cây bồ đề thì ngài tuyệt thực không ăn uống gì, nhớ không ạ? Nhớ không? Ngài không ăn gì hết. Không ăn uống gì thì năm anh em Kiều Trần Như đó làm sao? Ca ngợi:
[1:27:53]"Hay, cứ để ngài nhịn, nhịn thì chắc mau đắc đạo." Còn cái cái mà tín nữ Sujata mà nuôi mấy người đó thì làm sao? Lo sốt vó, phải không ạ? Lo hết hồn mới báo cáo về hoàng cung. Thì vua Tịnh Phạn lúc đó đã giao quyền vua cho Nanda mới ra cái lệnh mà nếu Thái tử mà nhịn ăn cho tới chết thì năm anh em Kiều Trần Như đó giết cho ta. Gia đình ở đây giết sạch. Tại vì ta đã ra lệnh là bảo vệ Thái tử, mà dám để cho Thái tử nhịn ăn kiểu đó. Khi nhận được lệnh đó thì Sujata mới thuyết phục là phải thuyết phục Thái tử ăn lại. Thì năm anh em Kiều Trần Như lại chấp cái tu khổ hạnh, nói: "Không, Thái tử làm vậy mới hay đó,
[1:28:36]mới vĩ đại á." Ông kia nói Thái tử mà chết là mấy ông chết sạch. Nha, gia đình mấy ông ở đó cũng chết sạch. Ông kia cứ: "Không, không." Tới chừng mà nghe giằng co quá thì lúc đó Phật mới thấy là vì ngài nhịn ăn mà rắc rối quá, ngài mới nói: "Thôi, ăn lại. Thôi, đưa sữa cho ta uống." Thành ra bây giờ sử còn ghi là uống bát sữa đó. Chứ sự thật sau đó ngài ăn lại cũng cả một thời gian, phục hồi lại rồi ngài mới nhập định.
[1:29:04]Thì khi mà Đức Phật nhập được tới Tứ Thiền, rồi Ngài quan sát lại, nhớ lại những tiền kiếp của mình, cho tới chứng, gọi là chứng Túc Mạng Minh. Rồi quan sát chúng sinh trong tam giới, nghĩa là muốn biết nhân quả của ai, tiền kiếp của ai Ngài biết hết, thì gọi là chứng Thiên Nhãn Minh. Và Ngài ngộ ra được một điều vĩ đại của chân lý của vũ trụ này là Tứ Diệu Đế. Đời này thật sự là khổ. Tới chỗ đó ta mới được quyền nói đời thật sự là khổ. Mà tới chỗ chứng của Đức Phật mới thấy đời là khổ, còn ta vẫn thấy đời là vui. Đúng không ạ? Ví dụ như khi ta bị người yêu bỏ, thì ta mới nói đời là khổ. Nhưng bỗng nhiên có người khác nói:
[1:29:57]"Đừng, thằng đó bỏ em rồi còn có anh", thì ta lại thấy đời là vui. Đó, như vậy. Còn mà chỉ khi nào cái người mà chứng á, cái người này bỏ mình rồi mình thấy đời khổ, cái người khác nói: "Không, anh vẫn yêu em đây, còn có anh đây", mình vẫn thấy là khổ, thì lúc đó mình mới là người hiểu được Tứ Diệu Đế, như vậy.
[1:30:21]Ví dụ như là khi mình làm ăn thất bại, nghèo nàn, mang nợ, thì mình thấy đời là khổ. Bỗng nhiên trúng mánh, giàu lên, tiền quá chừng tiền, thì mình thấy đời là vui, thì mình chưa hiểu Tứ Diệu Đế. Nếu mà mình tu đến mức độ nào á, lúc mà nghèo khổ, thấy đời là khổ, nhưng bỗng nhiên trúng mánh, tiền vô quá chừng, vẫn thấy đời là khổ, thì mình mới là người hiểu Tứ Diệu Đế. Nhưng mấy ai hiểu được điều này, phải không ạ? Lúc được yêu thương, lúc hạnh phúc, lúc đầy đủ ấm no giàu sang, ai thấy được đời là khổ? Không mấy người đâu. Chỉ những bậc mà có chân tu, giống như ngài ngài là ngài Trần Nhân Tông vậy,
[1:31:08]thân là một hoàng tử, lên làm vua rồi vẫn thấy đời là khổ mà xuất gia tu hành. Đó mới là người mà hiểu được Tứ Diệu Đế. Đó. Chứ còn bình thường chúng ta, trí tuệ thấp, căn cơ tầm thường, hễ được một chút gì lợi trong cuộc đời này là không còn thấy đời là khổ nữa. Đúng không ạ? Không còn thấy nữa. Đó. Chỉ một bậc thánh thì trong mọi hoàn cảnh nào vẫn thấy đời là là khổ, vì ta tin rằng chỉ có Niết Bàn giải thoát mới là nơi thật sự an an vui. Đó, thì cái chỗ này, cái chỗ mà đấu tranh giữa chấp ngã và vô ngã này mới là chỗ thấy cuộc chiến cuối cùng. Đó mới là cuộc chiến đấu cuối cùng của tất cả chúng ta.
[1:31:55]Mà giành được cái vô ngã rồi mới là chiến thắng cuối cuối cùng của của chúng ta, của một người đi trên đạo lộ giải thoát, như vậy. Nên hôm nay chúng ta nói với nhau bốn mức độ tu hành là nói từ người bắt đầu mới phát tâm cho tới tận cùng của một bậc thánh. Thì bài này bài pháp này rất là khó, rất là cao. Mà hôm nay ta xem lại tâm mình, nếu ta nghe bài pháp này từ đầu tới cuối mà lắng lòng thanh tịnh, chăm chú, ưa thích và hiểu, thì mình vừa mới gieo được một cái nhân giác ngộ, cái nhân tu hành rất là lớn. Mà những người nào mà hôm nay nghe bài này mà chăm chú, yêu thích được, thì cũng vừa được chư thiên trên trời yêu mến theo luôn.
[1:32:44]Các ngài cũng quan sát tâm mình, mọi người ở đây. Ai nghe bài này mà chăm chú, yêu thích, hiểu được, các vị trên cõi trời cũng đang đưa ta vào sổ đỏ luôn. Tức là những đứa con cưng của Phật, là đứa con cưng của Phật nha. Còn mà nếu nãy giờ ai nghe mà ngủ một giấc ngon lành, thì đó gọi là được các ngài đưa vào sổ sổ đen, rồi gửi qua cho công an Cần Thơ để cất đó, vì đó là con ghẻ của của Phật nha. Qua cái cái cái mức độ thứ tư này, thì ta hiểu một điều thế này: Ví dụ như ta có tu chứng đạt được cái gì, thì làm ơn nhớ rằng ta vẫn còn bị bị chấp ngã nha, để mà đừng có mà nổ, đừng có mà tự kiêu nha, còn phải đấu tranh rất là vất vả.
[1:33:40]Hoặc là ở mức độ thứ nhất, khi ta thấy tâm mình thuần thiện rồi, không còn ý nghĩ xấu rồi, thì xin thưa ta cũng chỉ mới ở mức độ thứ thứ nhất mà thôi, chưa chứng được chánh niệm tỉnh giác. Hoặc là khi ta ở mức độ thứ hai, chứng được chánh niệm tỉnh giác rồi, thực sự ta vẫn chưa vào được được định, nhớ như vậy. Nên khi ta hiểu được bốn mức độ này rồi, thì ta cẩn thận phát tâm chính chắn tu hành, biết rằng con đường còn là lâu. Mà trên con đường lâu xa dài dằng dặc đó, vừa tu, vừa cố gắng mà làm vô số công công đức lành, nhớ như vậy. Vì cái công đức lành đó rút ngắn cái thời gian tu của ta lại. Lúc làm công đức, lúc tạo phước,
[1:34:26]thấy rất như là bận tâm, mất công, mất thời gian, nhưng mà không ngờ nó rút ngắn cái thời gian tu của ta lại. Còn người nào cứ tu thôi thì tu hoài không bao giờ chứng, nhớ như vậy. Không làm công đức, chỉ tu thôi, không bao giờ chứng. Vì sao vậy? Vì để chứng ngộ nó phải gồm hai điều: vừa tu, vừa làm phước. Hai yếu tố đó như vậy mới chứng được. Nên hôm nay vậy, thôi thì
[1:35:00]thầy xin chú nguyện hết cho chư tôn đức tăng ni sớm đắc đạo, là một vị thánh giữa đời cho chúng sinh nương tựa, cho chúng sinh lạy để chúng sinh được lợi ích. Thầy cũng chúc cho các Phật tử vậy nha, một lòng theo Phật kiên cường, bất khuất, không lung lay, không dao động. Dù ai rỉ tai nói bậy nói bạ, lòng vẫn không dao động. Một lòng với thầy mình, một lòng với đạo của mình, một lòng với Phật của mình. Dù chết, dù tan xương nát thịt, vẫn không bao giờ lui bước trên con đường tu hành. Siêng năng tạo phước nha, siêng năng tu tập qua bốn cái mức độ tu hành này, rồi tất cả chúng ta cùng với pháp giới chúng sinh đồng thành Phật đạo.
[1:35:48]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.