Lời giảng: Những Tầng Bậc Tu Chứng - Levels Of Sainthood

  • Thuyết giảng: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Thời lượng: 58:45

Toàn văn lời giảng, chép từ phụ đề. Bấm vào mốc thời gian để nghe đúng đoạn đó.

[0:03]Nam

[0:07]Mô Bổn

[0:32]Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[1:04]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[1:18]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[1:32]Chúng con xin cung thỉnh Sư Phụ và chư tôn thiền đức Tăng Ni an tọa. Xin cung thỉnh tất cả Phật tử chúng ta an tọa. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Cái đề tài mà chúng đạo lý chúng ta trao đổi với nhau hôm nay rất là khó nghe, rất là khó hiểu, là Những Tầng Bậc Tu Chứng. Những Tầng Bậc Tu Chứng. Cái đề tài này cực kỳ khó hiểu và cực kỳ khó nghe. Thế nên ai mà lắng lòng chăm chú nghe được cái bài này thì phúc lành rất là lớn. Mà nếu ai nghe bài này mà hiểu được hết thì người này cái nhân, cái thiện căn của sự đắc đạo đã nằm sẵn sâu trong trái tim. Thì chúng ta không biết ta thuộc căn cơ nào,

[2:25]nhưng mà chỉ lắng nghe được bài này là phước đã rất là lớn, bởi vì bài này rất khó nghe, rất khó hiểu. Nên xin kính xin chư tôn chứng minh gia hộ để chúng con nói được đề tài này cho được thông suốt. Và cũng rất mong quý Phật tử hãy hết sức lắng lòng, vì đây là bài pháp rất là quan trọng, rất là quan trọng, kể cả trong cuộc đời giảng sư của thầy và trong cuộc đời tu học của tất cả mọi người chúng ta. Cái đề tài này: Những Tầng Bậc Tu Chứng, nha. Chúng ta biết rằng từ phàm phu mà bước lên Thánh vị là quãng đường rất xa, khoảng cách rất là xa. Còn cái chuyện mà ta nghe nói đồ tể buông đao thành Phật là một biểu tượng thôi.

[3:15]Đó chỉ là một sự khuyến khích. Nhiều khi một vị Bồ Tát họ thị hiện trong một vai trò nghịch hạnh để rồi họ quay lại tu tập mà nhanh chóng thành tựu kết quả, để khuyến khích chúng sinh dù có là người xấu ác cũng đừng mất cái niềm hy vọng của mình đối với Phật đạo. Nên những người mà có xấu có ác, khi mà nghe thấy đồ tể buông đao thành Phật thì mình cảm thấy rằng mình vẫn còn cơ hội để quay về, vẫn còn cơ hội để từ bỏ sự tối tăm mà bước về với ánh sáng. Chính vì vậy mà họ mạnh dạn từ bỏ điều xấu ác, chứ còn nói thật sự là từ phàm phu mà bước lên một bậc Thánh là chuyện không hề dễ dàng. Chứ nếu mà làm Thánh dễ thì thế gian này đã đầy Thánh hết rồi.

[4:06]Chính vì làm Thánh rất khó mà chúng ta sống trên cuộc đời này cứ mỏi mắt đi tìm một bậc Thánh để mình nương tựa mà thật sự là hết sức vất vả, thấy không? Còn nếu ai có cái tà kiến rằng mình sẽ tu mau chứng thì cái tà kiến này sẽ làm cho mình tổn phước rất là nhanh, và cái tổn phước này có khi làm mình điên loạn. Nên do vậy là khi một người mà bước vào Phật pháp để tu hành thì hãy nhớ một điều là đường đi còn rất xa, đường đi rất xa. Chúng ta bắt đầu bước vào một hành trình xa xôi vời vợi mà chưa biết được cái bờ nằm ở đâu, con đường cái nơi đến ở chỗ nào. Giống như một người cầm có thuyền rồi, có bản đồ,

[4:56]có la bàn rồi bước lên tàu đi mà thật sự chưa bao giờ nhìn thấy cái bờ ở bên kia. Ha, vì sao? Vì đường rất xa. Nhưng mà không thể không đi, vì nếu không đi thì mãi mãi ta sẽ là phàm phu chìm trong luân hồi tăm tối, đau khổ. Nên phải cất bước mà đi, phải bước vào Phật đạo, phải thật sự tu hành, tu rất tinh tấn, rất siêng cần, rất tận tụy nhưng vẫn biết rằng đường đi rất là xa. Thì đó, cái suy nghĩ đó là suy nghĩ chân chính của một người đệ tử Phật. Nên vì vậy, cái người nào nghĩ rằng mình tu mau chứng thì sai; người nào nghĩ rằng tu lâu nên thôi tu từ từ thì sẽ chẳng bao giờ tiến bộ được. Ta chỉ có một con đường duy nhất, một chọn lựa duy nhất

[5:48]là phải rất tinh tấn tu hành và biết rằng con đường đi rất xa xôi. Và hôm nay chúng ta trao đổi với nhau cái bài đạo lý này để đừng tưởng rằng mình tu được chút kết quả nào mà đã chứng đạo. Vì tại sao vô số người đến với Phật pháp, tinh tấn tu hành rồi bị thoái lui, thậm chí có người thoái lui đến mức độ điên loạn luôn? Vì sao vậy? Chỉ bởi vì tưởng mình đã chứng đắc. Khi mà trong tâm linh có mở ra một điều gì đó mới lạ, không có thầy chỉ bảo dẫn dắt, nói rằng: à, cái chỗ con đến còn rất là cạn, tuy rằng tâm linh con có khai mở, nhưng mà nếu nói đúng trong Phật pháp, con chưa hề bước được vào cửa đạo, vẫn còn đứng ngoài rào.

[6:40]Cái câu nói như là tạt một gáo nước lạnh vào mặt, nhưng nó là một sự thật. Và nếu mà cái người mà đệ tử khi mà tu đến mức độ tiến bộ trong tâm linh, rồi được một vị thầy chỉ dẫn cho mình thì đó là cái phúc lớn mình có được ông thầy đó. Còn nếu mình không có phúc, hoặc là mình tự tu, thấy tâm linh khai mở, mới lạ cái tự mình cho mình đã chứng đắc, người này chắc chắn sẽ điên. Hoặc cũng một cái không may khác là mình gặp một vị thầy không sáng mắt, thế vị thầy lật đật công nhận mình: à, con tu vậy là con cũng ngộ rồi nha, là mình chết. Chính cái lời nói mà mình đã ngộ rồi là giết chết mình liền, vì thật sự đường đi còn rất là xa.

[7:30]Chúng ta nghe rất nhiều giáo lý, nghe và cũng hiểu được những giáo lý đó thì mới chỉ là một phần triệu của sự tu hành. Nhớ như vậy. Vì vậy, cái người nào đó mà đến gặp thầy khoe rằng: dạ thưa thầy, con đã nghe rất nhiều bài giảng của thầy, thầy cười. Thầy cười vì thông cảm cho cái người đó tưởng mình đã được nhiều, chứ chưa có gì hết. Vì sao? Vì dù nghe rất nhiều và dù có hiểu được, vẫn chỉ là một phần triệu con đường mà ta đang đi, chưa hề là gì cả. Thế nên từ đây về sau nhớ, ai cảm thấy rằng mình ồ đã nghe được rất nhiều bài giảng của quý thầy và có cái sự thông hiểu thì hãy nhớ mới một phần triệu, để đừng bao giờ khoe khoang nữa.

[8:20]Rồi cái sự tiến thêm một bước nữa là người này học giáo lý, hiểu giáo lý rồi, bắt đầu có cái sự chuyển tâm tu hành là chuyển được ba nghiệp. Là thứ nhất là tâm hết nghĩ những điều xấu mà thường nghĩ những điều tốt. Cái này có ai kiểm tra mình được không? Không ai kiểm tra mình được, không ai kiểm tra mình được. Cái việc mà tâm mình nghĩ xấu hay tốt chẳng ai biết đâu, chỉ tự mình mình biết mà thôi. Nên đây là một sự cô đơn khủng khiếp của người bước vào cuộc đời tu hành. Vì khi mà chiến đấu với nội tâm mình, không ai ở đó với mình cả. Chúng ta nói còn có người nghe, chúng ta làm còn có người thấy,

[9:09]nhưng khi chúng ta suy nghĩ, chỉ mỗi một mình chúng ta mà thôi. Còn nếu có biết chăng chính là chư Bồ Tát, chư Phật mới biết tâm ta, nhưng các Ngài không thể thị hiện để nói chuyện với ta trong tâm tưởng, nên ta chỉ một mình một bóng cô đơn trong cái ý nghĩ của chính mình. Và vì vậy, cái việc mà chuyển được ý nghiệp à từ xấu thành tốt là một hành trình cực kỳ cô độc, vì không có ai đi cùng với ta cả. Vì không có ai đi cùng với ta cả, cho nên ta dễ nản lòng và ta dễ buông lơi.

[9:51]Ờ vì tự mình nghĩ tốt xấu có mình mình biết, không ai biết, không ai phê phán, nên đã có những lúc mình nản lòng: sao ý nghĩ xấu cứ khởi lên hoài; và có những lúc mình buông lơi, dãi đãi vì buông theo những ý nghĩ bậy mà không kiềm chế lại được. Nên đây, cái hành trình cô độc này là cái hành trình đầu tiên của sự tu hành mà nếu không chuyển được cái ý nghiệp trong cô đơn này thì đời ta không đi không có chuyển biến gì tốt lên cả, vẫn tiếp tục chìm trong bóng tối. Nên cái bước đầu khi mà ta đã nghe được giáo lý, hiểu được giáo lý rồi mới là một phần triệu, kế đó phải chuyển được tâm hồn mình, làm cho ý nghĩ mình tốt lên, bỏ hết những ý nghĩ xấu.

[10:33]Nhưng cái ngay cái đầu tiên của sự tu hành này đã bắt đầu ta bước vào một hành trình cực kỳ cô độc. Do đó Là ta phải hết sức tinh tấn, hết sức cố gắng, thường lạy Phật phát nguyện, cầu Phật gia hộ. Vì cái hành trình cô độc này thường là nhiều người đã bỏ cuộc. Nghĩa là chiến đấu với ý nghĩ mình một thời gian, buông xuôi bắt đầu nghĩ bậy trở lại và lui lại trở về với tối tăm, tội lỗi. Do đó phải mỗi ngày ta lễ Phật, cầu Phật gia hộ cho mình. Nhờ thần lực mà Phật gia hộ cho ta đó nên khiến là đôi khi có những lúc ta nghĩ sai, ta nghĩ quấy, ta nghĩ bậy, nhưng rồi sự gia hộ của Phật thầm thầm thầm thầm, một cách bí mật ta không ngờ được.

[11:26]Thế mà ta vượt qua được những ý nghĩ xấu để ta giữ lại được những ý nghĩ tốt lành, thế là ta chuyển được ý nghiệp dần dần. Rồi chuyển đến khẩu nghiệp là cái lời nói. Trước đây có khi ta nói bỗ bã, thậm chí có người chửi thề, tục tĩu, rồi thậm chí có người nói những lời gay gắt, hung dữ. Thì bây giờ là khi tâm ta chuyển rồi, cái miệng ta chuyển theo. Là lúc đó cái lời ta nói ra đã có người lắng nghe, có người đánh giá thì cái hành trình này không còn cô độc nữa. Khi ta tu ý nghiệp thì ta rất cô đơn, nhưng khi ta tu khẩu nghiệp thì không còn cô đơn nữa, trừ trường hợp nào mà cô đơn? Trừ trường hợp ta ở trong phòng lải nhải nói một mình.

[12:16]Có ai vậy không? Còn bình thường ta nói phải có người nghe, và cái người nghe họ đã đánh giá ta. Do đó vì có cái sự đánh giá của mọi người chung quanh cho nên ta bắt đầu giữ gìn cái miệng mình chỉ nói những lời tốt đẹp, tao nhã, thuận lòng người và đúng với đạo lý. Còn có những người là biết có người lắng nghe đánh giá mình mà vẫn nói bỗ bã, vẫn nói bậy bạ thì ta biết rằng những người mà người đó giao tiếp cũng là người xấu, hoặc là cái người đó bất cần sự đánh giá của người khác. Là cái người đó chai lì, ngang bướng đến mức độ miệng nói bậy mà chẳng cần quan tâm đến ai đánh giá mình, người này thuộc loại cũng hết xài luôn.

[13:04]Không còn tàm quý, không còn hổ thẹn thì người này không còn dùng trên đời được nữa. Một cái điều đáng quý của ta là sự tàm quý, sự hổ thẹn, ha. Rồi ta chuyển tới cái thân nghiệp, là thân ta chỉ làm những điều lành, những điều tốt đẹp, những điều thiện cho đời và không làm những điều xấu, thậm chí là ta ngăn người khác làm những điều, những điều xấu, đó. Nghĩa là khi ta chuyển được ý à khẩu và thân thì bắt đầu cuộc đời ta ta thay đổi.

[13:39]Nhưng mà cái việc làm thì thường là đã có người nhìn thấy, nà miệng nói thì có người nghe, việc ta làm có người nhìn thấy cho nên ta không cô độc, ta không cô đơn trong việc tu khẩu nghiệp và thân nghiệp, tức là tu lời nói và việc làm, ha, thì bắt đầu nó dễ hơn. Chính vì có cái sự quan sát của mọi người mà ta đã dè dặt lại mọi cái hành động của mình, nha. Còn cái người nào mà biết việc làm của mình có bao nhiêu người thấy mà vẫn làm bậy thì đúng là người rất là rất là xấu, rất là ác. Còn khi mà ta đã chuyển được ba nghiệp dần dần như vậy thì phước đức ta tăng trưởng sâu dày dần dần lên, tích lũy hết kiếp này tới kiếp kia,

[14:24]thì đó là ta đang là một người phàm phu, nhưng là một người phàm phu tốt đẹp, lương thiện, ráng để hướng về thánh vị, chứ chưa phải là thánh. Mà muốn bước vào thánh vị buộc lòng ta phải thực hành thiền định, không còn con đường nào khác, không còn con đường nào khác. Dù chúng ta có tu gì tu, thậm chí ta có thể có thần thông bay lơ lửng giữa hư không vẫn chỉ là phàm phu. Nếu chúng ta không tu thiền định đúng cách. Một người có khi nhập được định, có khi có thần thông vẫn chỉ là phàm phu. Mà ta phải tu thiền định đúng cách, khai mở được tâm linh, trí tuệ đi theo đúng như Phật dạy ta mới thành thánh được,

[15:06]mà thành thánh không phải là dễ, mà qua tới bốn cái bậc thánh. Nên là ta phải thực hành thiền, không còn con đường nào khác. Thì khi thực hành thiền định ta phải tìm cho được một cái phương pháp mà căn bản nhất mà đúng nhất. Trên thế giới bây giờ khắp nơi dạy thiền, nhiều nơi mở ra những câu lạc bộ dạy thiền, nhiều bậc tự xưng mình là đạo sư, thiền sư để dạy thiền. Nên vì vậy ta khó biết là ai dạy đúng, ai dạy sai. Vì sao? Vì vị nào cũng nói con đường của mình là đúng cả. Nên do đó ta lựa chọn một cái pháp môn mà cho chuẩn nhất, căn bản nhất không phải dễ nếu ta không có duyên. Nên vì vậy mà phải thiền định và để đi tìm được cái

[16:01]pháp môn đúng, ta phải cầu xin Phật gia hộ. Ta quỳ xuống trước Phật xin Phật gia hộ cho con tìm được một vị minh sư dạy thiền chuẩn xác nhất, đúng với ý Phật nhất để con nương tựa. Thì ta cứ cầu nguyện như vậy mãi. Có người thì chỉ cầu nguyện vài tháng là đã gặp, có người phải cầu nguyện suốt 10 năm rồi mới gặp được cái vị thầy đó. Do đó mà thầy vẫn khuyên tất cả các Phật tử là gì? Là cầu Phật gia hộ cho mình tìm được vị minh sư chân chính, đó. Mà trong khi ta chờ đợi để tìm được một vị minh sư chân chính thì thôi ngồi đây tu đỡ với thầy chút, ha, nha, xin được sự hướng dẫn thêm chút. Trong khi chờ đợi thì biết đâu sau này ta sẽ

[16:49]gặp được một vị minh sư nào nào đó, nha. Thôi thì cái duyên đưa ta về với Phật Quang thì thôi ta cứ tu theo Phật Quang trước. Hôm trước thầy có gặp cái ông ổng ổng ổng gì bên UNESCO nghiên cứu về đạo Phật không biết, cái thầy mới nói và giới thiệu về cái thiền của đạo Phật. Tại vì ổng nghiên cứu thì sợ ổng nghiên cứu tùm lum hết á, thầy nói thế này. Nói cái tư thế kiết già mà ngồi như là tượng Phật ngồi là tư thế duy nhất đúng nhất. Vì sao? Vì chỉ với cái tư thế đó thì hai lòng bàn tay, hai lòng bàn chân và cái bụng mới tụ lại một chỗ. Đúng không ạ? Ta để hai đây thấy không? Hai lòng bàn tay, hai lòng bàn chân và cái bụng tụ lại một chỗ.

[17:33]Còn tất cả cách ngồi khác buông chân hay giơ tay ra đều làm tán bốn cái lòng đó, bốn cái lòng là hai lòng bàn tay, hai lòng bàn chân ra xa nhau so với cái bụng. Thế thì hai lòng bàn tay, hai lòng bàn chân với cái bụng nó tụ lại một chỗ thì có lợi gì? Thưa có cái lợi cho cái não. Vì sao? Vì toàn bộ cơ thể của ta đều phản ảnh lên trên vỏ não hết. Cái ngón cái, bàn tay này nó đều có một vị trí nằm ở trên vỏ não hết. Mà khi ta đưa cái tay xa ra, đưa cái tay này xa ra, đưa chân xa ra thì ở trên cái não của ta bốn cái vùng đó nó động lên liền. Chỉ khi nào mà hai lòng bàn tay, hai lòng bàn chân và cái bụng tụ lại một chỗ thì cái trên vỏ não của ta

[18:22]tương ứng với phù vùng đó nó yên lắng lại, nó nó giúp ta nhiếp lại. Nên cái việc mà Đức Phật của ta ngồi thiền với cái tư thế kiết già, hai bàn chân bắt lên ngửa, hai bàn tay bắt và đặt lên ngửa lên nhau với nơi tại cái bụng, đó là cái cách ngồi mà của mười phương ba đời chư Phật đã ngồi, mà đó là cái cách ngồi mà sau này khoa học mới sẽ tìm thấy. Bây giờ khoa học vẫn chưa chứng minh được. Có thể là vài trăm năm sau nữa khoa học mới tìm thấy cái hay, cái hợp lý nhất của cách ngồi mà Đức Phật đang ngồi trong chánh điện. Lúc đó thế giới sẽ một lần nữa vô cùng nể phục Đức Phật của chúng ta. Còn ta là đệ tử của Người, ta biết rồi.

[19:08]Khi mà ngồi thiền như vậy thì ngồi đúng tư thế rồi thì phải biết rõ toàn thân, buông lỏng toàn thân mà giữ cho thân không nhúc nhích. Vì nếu thân nhúc nhích là cái vỏ não nhúc nhích. Vì sao? Vì toàn bộ vị trí của thân nó đều phản ảnh lên vỏ não hết, nên thân mà nhúc nhích là vỏ não nhúc nhích nó động liền, nên phải ngồi bất động. Bất động nhưng phải buông lỏng, vì nếu bất động mà kềm thì não bị dằn ép liền. Cho nên bất động mà buông lỏng thì trên não ta nó cũng thư giãn luôn. Đó là những cái tiền đề. Rồi ta cứ biết toàn thân. Cái biết toàn thân này nó rất là vi diệu, là trong đời sống cũng vậy, khi ta nói chuyện với ai,

[19:49]khi ta làm việc, à khi ta viết lách, à vân vân, lúc nào cũng nhớ lại thân mình. Tâm cũng dính vào thân mình, lúc nào cũng biết thân cũng nhớ thân, làm cho não ta được an trú. Cái phương pháp này gọi là giữ được chánh niệm, rất là hay, làm cho ta không tán tâm. Vì cái biết toàn thân của ta đó, tâm ta an trú nơi thân chính là vỏ não của ta được an trú lại. Tất cả những điều mà Đức Phật dạy ta đó: Cảm giác toàn thân tôi thở vào, cảm giác toàn thân tôi thở ra, những điều mà Phật dạy trong kinh, nó đều là những điều mà cực kỳ khoa học, rồi khoa học sẽ chứng minh. Và sẽ thấy rằng hơn 2.500 năm trước Đức Phật đã

[20:34]dạy một con đường không ai có thể dạy hợp lý hơn nữa. Nè, nên bây giờ vì ta lúc nào cũng biết toàn thân để an trú được não, nhớ muốn an trú tâm thì lại phải an trú thân, chứ không phải là muốn an trú tâm mà cứ lo truy tìm tâm, không phải. Đó, muốn an trú tâm kỳ thật là phải an trú thân, đó. Và buông lỏng thân, biết toàn thân, vậy đó, là tiên đề của việc mà làm cho tâm lắng xuống. Rồi sau đó là bắt đầu khi mà ta cứ biết thân như vậy, tâm nó lắng xuống như vậy, nhưng ta sẽ chấp thân, thấy thân mình là quan trọng. Và khi chấp thân như vậy thì chấp ngã nó tăng lên. Thấy ta xem thân mình là quan trọng thì cái chấp ngã

[21:22]nó sẽ tăng lên, ta thấy cái tôi mình là quan trọng. Mà cái người thấy cái tôi quan trọng là người hết xài. Cái người đó ngang tàng, hơn thua, kiêu ngạo, đố kỵ, tham lam, đủ thứ chuyện. Nên vì vậy, tu phải vô ngã. Vì thế là phải quán thân vô thường. Biết rõ toàn thân để an trú tâm, nhưng cũng đồng thời suy nghiệm thân này là là vô thường, ngày nào sẽ tan vào cát bụi. Đó. Rồi khi mà tâm ta yên lắng, sâu sắc rồi, lúc đó hơi thở hiện ra. Nói thêm điều nữa, chính cái suy nghiệm mà thân vô thường nó là cái nhân để ta chứng thánh nha. Dù một người có định mà không có cái suy nghiệm được cái thân này vô thường, cái tâm này vô ngã, người đó không chứng thánh được. Nhớ như vậy.

[22:18]Cái ý niệm, cái sự suy nghiệm cái thân này vô thường, cái tâm này vô ngã mới là cái nhân để đắc đạo. Còn dù ta có nhập được vào định mà không có cái sự suy nghiệm sâu xa về thân vô thường, về sự vô ngã thì có định, có thần thông mà vẫn không phải là thánh. Nhớ như vậy. Nên bây giờ ta đi đây đi kia, ta gặp vị nào đó họ nhìn ta họ biết quá khứ, vị lai của ta, vân vân, đừng vội cho họ là thánh nha, vì có thần thông vẫn chưa chắc là thánh. Thì cái người mà tu thiền như vậy, tâm từ từ đi vào an tĩnh, xuất hiện trạng thái rỗng rang, sáng tỏ thì đó gọi là chánh niệm tỉnh giác. Đó, ta đi vào được cái chánh niệm tỉnh giác,

[23:05]lúc nào cũng thấy tâm mình nó sáng, sáng, sáng. Nó thanh tịnh, nó lắng lặng lẽ, nó thanh thoát, thanh thản, nhẹ nhàng và nó cứ sáng sáng ra. Đó là người xuất hiện được chánh niệm tỉnh giác. Có được cái chánh niệm tỉnh giác đó rồi, ta rất dễ kiểm soát được tâm hồn mình, rất dễ kiểm soát được đạo đức của mình. Lúc đó mọi phong thái, mọi lời nói gì đều nằm trong trí tuệ kiểm soát. Cái người đó không bao giờ nói bậy hay làm bừa vì cái sự tỉnh sáng của cái sự chánh niệm tỉnh giác đó luôn soi sáng họ, luôn giữ gìn họ. Nên ví dụ khi ta không cần phải nghe một người khoe về công phu, ta chỉ nhìn người đó bước bước ngang một cái

[23:50]hoặc người đó mở miệng nói một cái hoặc chỉ nhìn người đó đưa mắt nhìn một cái thôi, biết người đó tâm có thanh tịnh hay không. Vì cái người mà tâm thanh tịnh cái nhìn họ khác, cái người tâm thanh tịnh, tỉnh giác cái lời nói họ khác, cái người mà tâm thanh tịnh, tỉnh giác bước đi, đưa tay đưa chân của họ khác với người thường, nhìn khác. Ta chỉ cần nhìn là biết liền. Nhưng mà đó chỉ mới là bước đầu của của chánh niệm tỉnh giác. Và nếu ta đủ túc duyên, thầy dùng cái chữ là "đủ túc duyên", vì có khi không đủ túc duyên thì không có kết quả dù đạt được chánh niệm. Nếu ta đủ túc duyên thì trong cái giai đoạn chánh niệm tỉnh giác này ta

[24:33]sẽ chứng được hai quả thánh là Sơ quả Tu-đà-hoàn và Nhị quả Tư-đà-hàm. Nhớ hai quả chứng thánh đó nằm trong giai đoạn chánh niệm tỉnh giác, chưa nhập được vào Sơ thiền. Trong đạo Phật, Đức Phật nói có bốn quả thánh và bốn mức thiền. Bốn quả thánh là Sơ quả, Nhị quả, Tam quả, Tứ quả. Sơ quả Tu-đà-hoàn, Nhị quả Tư-đà-hàm, Tam quả A-na-hàm

[25:06]và Tứ quả là A-la-hán.

[25:11]Thiền cũng vậy, có bốn mức thiền: Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền. Và rất nhiều người lầm là Sơ thiền ngang với Sơ quả, Nhị thiền ngang với Nhị quả. Thưa không phải. Trước khi mà ta nhập được Sơ thiền, ta phải đi qua một giai đoạn gọi là chánh niệm tỉnh giác rất là dài, có khi là 30 năm, có khi 30 kiếp, có khi 30 kiếp cũng chỉ nằm trong chánh niệm tỉnh giác, chưa hề nhập được Sơ thiền. Như vậy. Nhưng cũng trong giai đoạn chánh niệm tỉnh giác này ta có thể chứng được tới hai thánh quả: Sơ quả và Nhị quả. À đây rất là lạ. Còn nếu mà người nào chứng thánh quả mà nhập được Sơ thiền thì là chứng đã Tam quả A-na-hàm. Nhớ nha.

[25:57]Nhập Sơ thiền nhưng mà lại tính theo cái quả vị thánh là tới quả thứ ba lận, mà thiền thì mới mức thứ nhất. Thiền mới mức thứ nhất, nhưng mà quả thánh là đã quả thứ ba. Đây là điều rất là lạ. Và đây là cái nấc thang mà Phật vạch ra chứ không phải là do ai mà đặt ra được. Hồi xưa, khi Đức Phật còn tại thế, ai tu chứng tới đâu là Phật ấn chứng cho biết là đang ở chỗ nào, nên vì vậy vị đó rất là tinh cần, rất là an ổn mà tu, không sợ lầm, không sợ sai. Sau Đức Phật nhập Niết-bàn rồi, khi một vị tu chứng thật sự không biết mình ở chỗ nào. Nhiều khi tưởng lầm là mình đã chứng cao mà làm cho phước bị tổn rất là nặng.

[26:43]Rồi từ đó về sau chúng sinh mất phước dần, thế giới này mất phước dần, nên số người tu chứng không còn nhiều và vắng hẳn luôn, rất là đáng tiếc. Cho nên vì vậy, hôm nay ta nói lại những từng bực tu chứng này để mọi người nhớ lại thời Đức Phật, mà khi ta tu ta không bị lầm, không tưởng mình đã chứng cao. Nhờ vậy ta còn phước để ta tu chứng, mà nếu nhiều người hiểu được điều này thì ta hi vọng thế gian này sẽ từ từ xuất hiện trở lại những bậc thánh là ta chứng được vì ta không bị lầm, đó. Nên nói lại là thiền có bốn mức là Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, nhưng mà trước khi nhập được Sơ thiền ta phải đi qua một giai đoạn chánh niệm tỉnh giác rất là lâu.

[27:30]Mà giai đoạn đó có khi hết một kiếp này, có khi tới 30 kiếp sau. Nhưng mà ngay trong giai đoạn của chánh niệm tỉnh giác này, ta đã có thể chứng được hai quả vị là Sơ quả Tu-đà-hoàn và Nhị quả Tư-đà-hàm. Vậy tính chất của hai quả vị đó ra sao? Bài này dễ hiểu không ạ? Nghe nãy giờ có hiểu không? Ai nghe bài này mà hiểu là thầy cho rằng người này rất là có căn lành. Ai nghe bài này mà ngủ, thầy rất thông cảm. Bài này nghe rất khó hiểu, rất khó hiểu, nên không sao hết. Nghe bài này mà ngáp lên ngáp xuống, ngủ qua ngủ lại là thôi thầy không sao, no problem, vì nó khó quá. Nhưng mà người nào mà nghe mà chăm chú được thì thầy hơi nể người này đó nha,

[28:15]có căn lành gì ở trong tâm mình đấy chứ không phải dễ đâu, bài này rất khó. Giờ bắt đầu bước vào cái khó nè. Như thầy nói là trong giai đoạn chánh niệm tỉnh giác ta có thể chứng được hai quả vị là Sơ quả Tu-đà-hoàn và Nhị quả Tư-đà-hàm. Vậy Sơ quả Tu-đà-hoàn thì cái trạng thái nó như thế nào? Là cái trạng thái xuất hiện trạng thái rỗng rang, sáng tỏ mà tâm ta giống như là không dựa vào đâu nữa. Còn ví dụ trước cái giai đoạn đó có thể ta có chánh niệm tỉnh giác, nhưng mà ta vẫn còn một chỗ để ta dụng công, vẫn có một chỗ để nắm, vẫn có một chỗ để biết. Còn đến khi mà cái người mà họ chứng được cái Tu-đà-hoàn rồi

[28:55]giống như buông tay, lơ lửng không có dựa ở đâu nữa. Vậy chứ mới Tu-đà-hoàn chứ chưa gì cao siêu cả. Mà người này như vậy là phá được ba cái triền cái là nghi, thân kiến và giới cấm thủ.

[29:13]Khi mà một vị ngày xưa một vị tỳ kheo mà họ chứng Tu-đà-hoàn họ hay buột miệng họ nói câu này: "Ồ, cái gì sinh thì cái đó sẽ diệt." Bây giờ mình nghe câu này mình hiểu không ạ? Cái gì mà có sinh thì phải có diệt. Ta nghe câu này hiểu không nà? Quá hiểu đi chứ. Có gì đâu vỗ tay, ai cũng hiểu cả, nhưng mà có ai chứng không? Không ai chứng hết. Cái câu nói đó, một bậc thánh ngộ đạo họ buột miệng họ nói ra vì họ thấy như vậy. Bây giờ lặp lại câu đó nghe ai cũng biết cả. Ủa thì cái gì sinh cái đó diệt, đương nhiên, nhưng chẳng có ai chứng cả, phải không? Cái khác nhau là ở chỗ đó. Cái khác nhau là ở chỗ là ta hiểu mà ta không chứng.

[29:51]Còn cái vị kia họ chứng, họ hiểu cái họ nói ra ta hiểu liền: "Cái gì sinh, cái đó sẽ diệt." Mà tại sao lúc đó họ buột miệng nói ra như vậy? Vì vì tâm họ tách ra khỏi thế gian, họ nhìn thế gian một cách khách quan, thấy mọi điều sinh diệt tự nhiên, cái trí tuệ bắt đầu xuất hiện. Và trong cái trạng thái mà thấy được sự sinh diệt, trong cái trạng thái mà tâm họ buông lỏng lơ lửng ra luôn, không dựa vào đâu nữa, tâm rỗng rang, tỉnh sáng mà không dựa ở đâu nữa, thì thứ nhất, họ diệt được cái thân kiến. Thân kiến tức là ích kỷ á, người này sống không ích kỷ, sống rất vị tha. Ta ở gần một người mà chứng Tu-đà-hoàn ta dễ chịu lắm.

[30:30]Ta dễ chịu vì lỡ mình có nói nặng, cái vị họ cười họ buông buông xả, họ phiền không phiền lâu. Mà ví dụ ta có lỡ xài nhầm đồ của họ, họ không giận vì họ rất dễ bố thí. Mà nếu ta xin cái gì mà họ có họ rất dễ cho. Cho nên vì vậy ta nên kiếm một người Tu-đà-hoàn để ta sống gần nha. Ta phải đăng quảng cáo: "Ai chứng Tu-đà-hoàn cho xin địa chỉ", là ta đến nhà ta ở gần nhà người đó luôn. Hễ mình thiếu đồ cứ qua gõ cửa: Cốp cốp cốp, thiếu 5 lít gạo. Ông đó ổng có 5 lít rưỡi gạo ổng dám cho mình 5 lít ổng còn giữ nửa lít thôi. Ông Tu-đà-hoàn là ổng vậy đó. Có ai liều mạng như ổng không? Chưa thấy phải không?

[31:09]Nhưng mà người tu ta sống gần người Tu-đà-hoàn ta hạnh phúc lắm vì họ vị tha lắm, lòng họ nhẹ nhàng, của cải thế gian bắt đầu buông ra, không có bàn tay nắm lại, tức là người phá được cái thân kiến. Cái thứ hai nữa là giới cấm thủ, tức là cố chấp nguyên tắc á. Cố chấp nguyên tắc là sao? Thường thường á, con người ta hay lập ra những nguyên tắc để dựa vào nguyên tắc đó mà xã hội có tôn ti có trật tự, nhưng mà cũng chính những nguyên tắc đó làm khổ nhau. Ví dụ sao? Ví dụ như mình đi đường, chiếc xe mình đi trước nó cà tịch cà tang quá cái mình phải lách vô trong mình đi, thấy an toàn đi vô, nhưng mình vượt phải một cái thì gặp ông công an sao?

[31:46]Thổi lại, giam bằng lái liền. Thì ông tại vì sao vậy? Vì ổng công an ổng phải theo nguyên tắc, đó là luật. Nhưng mà sự thật, nếu mà ông công an đó mà ổng chứng quả Tu-đà-hoàn, phải không? Ổng thổi, ổng quét lại ổng hỏi, nói: "Tại sao anh vượt phải?" Thì mình trình bày lý do: "Chiếc xe tải đi trước nó đi chậm và bóp còi gì nó không nhường, mà bên trong đường rất là trống, nhìn xa không trước sau không có ai, nên tôi phải vượt phải để đi mà vẫn bảo đảm là an toàn, vẫn bảo đảm giao thông thuận lợi." Thì ông công an mà ổng chứng Tu-đà-hoàn nghe vậy ổng gật đầu: "Ờ, rồi thôi cho anh đi", ổng không có phạt.

[32:20]Nhưng mà nhằm cái ông công an mà ổng không chứng Tu-đà-hoàn, không cần biết, không cần giải thích, anh vượt phải giam bằng anh một tháng liền. Cho nên vì vậy ta rất cầu mong các ông công an giao thông ông nào cũng phải chứng Tu-đà-hoàn cho dân mình đỡ khổ. Mà không phải là ông công an không, mấy thầy, cô mình cũng vậy nữa, mấy thầy, cô mình. Thì quý thầy, cô mình cũng vậy, thì trong chùa có những cái thanh quy, thì mình phải tuân thủ. Tuy nhiên, nếu mà vị thầy, vị cô nào mà chưa chứng Tu-đà-hoàn á lấy cái thanh quy đó ra đem mà mà mà mà căng ra mà xử nhiều khi cũng rất là rất là nặng nề. Nhưng mà sao?

[33:00]Nhưng mà nếu vị thầy, vị cô nào mà chứng Tu-đà-hoàn thì khi gặp sự tình gì hỏi tới nơi coi tình như thế nào, lý như thế nào thì mới mới tính. Nên ta thấy bởi vậy là là mới có là "tình ngay lý gian, lý ngay tình gian" là như vậy đó. Là trên cuộc đời đó là vậy, đừng có chấp theo nguyên tắc. Nhiều khi lý người đó sai, nhưng mà thực sự người đó không có sai, đó là người đó tình ngay mà lý gian. Hôm trước, vừa rồi thầy ra Hà Nội, trời đang rét căm căm thì gặp một cái ông ổng làm trong Viện kiểm sát. Thì ổng ngồi ổng tâm sự, ổng nói: "Hồi mà con mới ra trường có ăn hối lộ được gói mì con mừng lắm." Thế là có ăn hối lộ được đâu năm gói mì tôm

[33:40]là đêm nằm ngủ không được, lo quá phải đem chia cho thằng này một gói, thằng kia một gói, mà lúc đó làm Viện kiểm sát. Rồi sau này ổng lần lần ổng lớn chức, ổng lên từ từ ổng hiểu đạo và ổng ổng làm việc nó rất là chuẩn. Thì hôm đó cái có một người bạn đạo cũng ngồi gần đó thì ông kia mới trình bày cái vụ án mà ông đang vướng phải thì cái ông Viện kiểm sát nói liền: "Anh bị tình ngay lý gian. Cho nên nếu anh gặp một người Viện kiểm sát mà tốt á, họ truy tới nơi thì anh sẽ thoát tội, còn nếu cái người mà họ không tốt, họ cứ theo cái lý họ buộc anh là anh mang tội." Chúng ta thấy không? Đó, luật pháp coi vậy chứ vẫn có tình có lý,

[34:16]rồi vẫn có những người không chấp, tức là những người mà có cái tính cách Tu-đà-hoàn á họ không bị cái giới cấm thủ, họ không bị nguyên tắc. Nhờ vậy mà tuy có nguyên tắc để cho cuộc đời tôn ti trật tự, nhưng những người mà chứng Tu-đà-hoàn họ biết lúc nào nên giữ nguyên tắc và lúc nào nên lách nguyên tắc, họ rất sáng suốt vì họ giữ cái cứu cánh rất là kỹ. Cái thứ ba của người Tu-đà-hoàn nữa là là họ được cái phá được cái nghi, tức là từ đây đối với con đường giải thoát không còn nghi ngờ, từ đây lý tưởng mà thành tựu vô thượng Bồ-đề không gì có thể lung lay được, từ đây niềm tin đối với Tam bảo là tuyệt đối.

[34:56]Đó là ba cái dấu hiệu của người chứng Tu-đà-hoàn: không còn ích kỷ, không còn cố chấp và tuyệt đối niềm tin với Phật Pháp. Đó là dấu hiệu như vậy. Tuy nhiên là người này tâm vẫn chưa vào định. Tâm thì rỗng sáng vô cùng, nhưng mà ý niệm kiến giải vẫn nhấp nhô nhấp nhô nhấp nhô như ngọn sóng vậy á. Nó không thành bão tố nhưng mà vẫn còn sóng. Ý niệm vẫn len lỏi và họ thấy rất rõ là họ chưa hề nhập định. Nhưng mà sao? Kiến giải rất lưu loát, hỏi đâu nói đó, hỏi đâu nói đó, nhìn thiền ngữ, đối đáp thiền ngữ rất là trôi chảy, phải không? Và nhiều hành giả đã gọi trạng thái này là Chân tâm, là Phật tánh.

[35:37]Cái đạo đức người này tốt dần lên, nhưng vẫn có thể bị hiểu nhầm và vẫn tạo nghiệp và vẫn còn phải tái sinh nhiều lần rất là vất vả. Nên cái người mà chứng Tu-đà-hoàn tội nghiệp, đáng thương. Người chứng Tu-đà-hoàn đáng thương ở chỗ gì? Ở chỗ là cái người này đã là thánh rồi, tốt lên dần dần từng ngày từng tháng, nhưng vẫn hiểu nhầm, vẫn tạo nghiệp, vẫn tái sinh, vẫn trả quả báo. Có khi cái quả báo người này sinh làm vua, có những lúc phải trả quả báo đày đọa một kiếp làm ăn mày, nhưng mà thật sự họ là thánh á, rất là lạ. Nên cái người mà chứng Tu-đà-hoàn tội nghiệp, thấy thương. Nếu mình biết ai mà chứng Tu-đà-hoàn mình thương vì còn vất

[36:22]vả trong sự tu hành và còn nhiều lần phải tái sinh. Còn cái người mà chứng Tư-đà-hàm là sao? Tức là bậc thánh thứ hai, cũng nằm trong trạng thái chánh niệm tỉnh giác, chưa nhập được vào Sơ thiền, nhưng mà tham và sân đã mỏng nhạt chứ chưa hết. Cái tham sâu thẳm vẫn chưa hết, cái sân sâu thẳm vẫn chưa hết, nhưng mà đã đạt được một trạng thái chánh niệm tỉnh giác cực độ mà thiền tông gọi là triệt ngộ. Đây là giai đoạn cuối của chánh niệm tỉnh giác, chuẩn bị bước vào Sơ thiền. Chuẩn bị bước vào thôi chứ chưa vào được, vì nếu vào Sơ thiền họ đã thành tam quả A-na-hàm, bậc thánh cao rồi. Nhưng mà vì chưa vào được Sơ thiền mà đã cuối con đường

[37:08]của chánh niệm tỉnh giác nên gọi là nhị quả Tư-đà-hàm. Thì cái người này đó, họ đạt được cái mức độ này là kiến giải vượt bực, đừng có ai mà tranh hơn lại, đừng có ai mà lại mà lý luận đối đáp với người này mất công, không bao giờ nói lại, kiến giải cực kỳ siêu việt. Nhưng mà còn phải một kiếp tái sinh, gọi là nhất lai, một kiếp tái sinh. Hồi xưa, Ngũ Tổ Sư Giới là một thiền sư đắc đạo mà ổng đắc đúng cái quả Tư-đà-hàm này. Kiến giải của ổng vượt bực, nhiều vị thiền sư khác tới nơi mà nghiệm ổng á bằng cái đối đáp, không ai nói lại hết trơn. Nên ổng rất là nổi tiếng. Đến khi ổng tịch, ổng đầu thai làm Tô Đông Pha,

[37:55]là một cư sĩ, có bảy vợ, làm quan lận đận lên lận đận xuống, bị cách chức lên cách chức xuống, nhưng mà rồi cuối cùng ông Tô Đông Pha tu theo hơi thở chứng được tam quả A-na-hàm và vĩnh viễn không trở lại thế gian nữa, không tái sinh nữa. Ông Tô Đông Pha ổng lớn lên thì ổng cũng ổng là coi như là một trong những bảy thi nhân mà giỏi nhất cái đời đời Tống. Thì ổng lại rất là đào hoa và có tới bảy người vợ, lần lần có tới bảy người vợ như vậy. Thì ổng có người bạn thân là một thiền sư Phật Ấn. Thì giai thoại giữa Tô Đông Pha và thiền sư Phật Ấn là những giai thoại rất là đẹp, mà sau này ta không biết thêu thắt

[38:37]như thế nào, nhưng mà thiền sư Phật Ấn là một người chứng đạo cao siêu trong sạch hoàn toàn, mà Tô Đông Pha là một ông quan, một văn nhân, một thi nhân, đào hoa tài tử, nhưng hai người đối xử với nhau là bạn, bởi vì kiếp trước họ cùng là những thiền sư đắc đạo, nhưng mà ông Tô Đông Pha thì lại tái sinh làm cư sĩ, còn ngài Phật Ấn thì ngài tái sinh vẫn tiếp tục làm tăng, hai người khác nhau. Thì ổng ông Tô Đông Pha khi mà ổng đến thăm một cái vùng đó thì ba cái người ở đó đều đêm đó nằm mơ là thấy thiền sư Ngũ Tổ Sư Giới tới thăm. Sáng hôm sau ra đón thì lại gặp ông Tô Đông Pha. Cái ba người mới kể ổng là sao kỳ quá, tui nằm mơ

[39:18]ba người chúng tôi nằm mơ là thấy thiền sư Ngũ Tổ Sư Giới đã tịch cách đây mấy chục năm á tới nên chúng tôi ra đón, mà không gặp ai, gặp anh. Cái ông Tô Đông Pha ổng ngồi ổng ngồi ổng suy nghĩ, ổng nói: "Hồi nhỏ tui thường hay nằm mơ, tui thấy tui là một vị tăng ở trong cái chùa ở Thiểm Tây." Thì lật lại lịch sử thì đúng là ngày xưa ông ông thiền sư Ngũ Tổ Sư Giới là vị tăng ở chùa Thiểm Tây. Là trong cái giấc mơ mà ông Tô Đông Pha thấy được tiền kiếp của mình. Nhưng mà tiền kiếp ông là một thiền sư đắc đạo lỗi lạc, vậy mà bây giờ là một chỉ là một ông quan, một cư sĩ. Tuy nhiên, lần lần lớn lên ông lần lần ông hiểu

[39:56]rất sâu Phật Pháp và tinh tấn tu hành, ông cũng tu vào hơi thở. Sau này những cái bài viết của ông mà ông viết về cái trạng thái đắc đạo của ông ta thấy rõ ràng là ông đã vượt khỏi cái phàm phu tầm thường mà chứng được tới tam quả A-na-hàm vì cái cảnh giới mà ông diễn tả. Và thế là ông không trở lại cõi đời này nữa. Vì A-na-hàm là bất lai, không trở lại nữa. Còn cái người mà Tư-đà-hàm á là người có thần thông một phần, biết được tâm người khác, biết được quá khứ vị lai một phần, nhưng mà niệm vẫn còn nha, chứ chưa có nhập định được hoàn toàn. Tại vì Sơ thiền là chứng A-na-hàm mà vẫn còn niệm giống như sóng

[40:37]biển lăn tăn lăn tăn, chưa nhập định phẳng lặng được hoàn toàn. Chưa tâm chưa có phẳng như là một cái mặt gương, mà tâm vẫn còn như sóng biển, đó là Sơ thiền á. Huống hồ là chỉ mới giai đoạn chánh niệm tỉnh giác, dù chứng cái giai điệm cái cái chánh niệm tỉnh giác cực cao, được gọi là triệt ngộ, nhưng thật sự niệm vẫn còn. Nên cái người mà chứng nhị quả Tư-đà-hàm, niệm vẫn còn lăn tăn lăn tăn rất khẽ, vẫn còn chưa hết, và phải một lần trở lại trần gian này làm người, làm người. Rồi trong cái kiếp làm người đó họ sẽ tu, họ chứng quả A-na-hàm. Và chứng Á- A-na-hàm là bất lai, không trở lại nữa, họ ở trên cõi trời rất là cao họ tu luôn để chứng A-la-hán, đó là như vậy.

[41:25]Nghe cái này hiểu không ạ? Người ta nói qua đặc tính A-na-hàm là cái người này cái thiền của họ ít nhất là từ Sơ thiền, mà nếu sâu là chứng luôn tới Tam thiền. Đó. Nhị thiền là tâm định phẳng lặng như mặt gương. Còn Tam thiền rồi thì tâm là và vật nhất như, người này thần thông tràn đầy. Cái người mà chứng a Tam quả A-na-hàm á, nếu mới chứng chỉ nhập được Sơ thiền thì là ly dục, ly bất thiện pháp, người này chắc chắn chấm dứt được tình dục, chấm dứt được dâm dục. Thì nếu chết ngang đây, sinh lên cõi trời Sắc giới. Nha, không ở thế trần gian này nữa. Và nếu mà họ nhập định sâu tới Nhị thiền, tâm phẳng lặng như mặt gương, không có động,

[42:11]không có một gợn lăn tăn nào hết, mà nếu họ nhập được tới Tam thiền thì tâm và vật nhất như, thần thông phi thường. Như ngày xưa có Thiền sư Đặng Ẩn Phong á, ông đi giữa đường vậy đó, trên đường đi cái ông thấy hai bên quân đội đánh nhau, cái ông nói thôi ông phải dẹp cái loạn này, ổng bay lên giữa hư không, ổng cầm cái gậy ổng chỉ qua hai bên. Tới hai bên binh lính thấy một ông sư nghĩa là áo áo tràng phất phới phất phới bay trên hư không, ai nấy sợ, dạt quân hết trơn, tránh ra liền, nghĩa là đỡ được, cứu được một cái trận đánh nhau sát sinh. Nhưng mà khi về rồi thì ông ông bỏ ông bỏ thân, ông tịch luôn.

[42:48]Nhưng mà cái việc đó, khi một vị chứng mà có thần thông đến mức độ đó thì đó là họ đã chứng ít nhất là tới là Tam thiền, nên tâm và vật nhất như. Cái người đó họ đi xuyên qua vách được, họ biến hóa được rồi. À và dĩ nhiên là mình không bao giờ giấu được người này cái gì, cái vị vị thánh rất là cao nếu chứng được tới tới Tam thiền. Nhưng mà cái người quả thánh A-na-hàm á, có khi họ mới chứng được Sơ thiền thôi thì vẫn chưa có thần thông nhiều, mặc dầu biết rất nhiều điều, linh tính, trực giác rất mạnh, nhưng mà vẫn chưa có thần thông. Chừng nào mà chứng được Nhị thiền, chứng được Tam thiền thì thần thông rất nhiều.

[43:27]Nhưng dù là chứng được từ Sơ thiền tới Nhị thiền tới Tam thiền thì vẫn chỉ nằm trong quả A-na-hàm mà thôi. Tức là một cái quả A-na-hàm này mà nó bao luôn cả ba tầng thiền là Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền. Đây là chỗ quan trọng, mọi người nhớ giùm nha. Chớ ta đừng tưởng Sơ thiền là Sơ quả, Nhị thiền Nhị quả, Tam thiền Tam quả, không phải. Sơ thiền là đã bước vào của Tam quả, mà Tam quả là nhiếp lấy luôn ba mức thiền là Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền. Còn trước khi vào được Sơ thiền là ta đạt được Chánh niệm tỉnh giác là nơi Chánh niệm tỉnh giác này ta có thể chứng được hai quả thánh đầu là Sơ quả Tu-đà-hoàn và Nhị quả Tư-đà-hàm.

[44:15]Nhớ nha, đây là những từng bậc tu chứng mà ta tu theo Phật ta phải thuộc nằm lòng để không bị lầm trên bước đường tu cho mình. Thái tử Sĩ-đạt-ta năm lên 12 tuổi, lúc đó là đang cái lễ hạ điền, lễ cày ruộng á, thì vua cha xuống dưới ruộng dắt con bò cày những cái thớ đầu tiên, rồi các quan xuống ruộng cũng cày theo vua và làm cái lễ cúng tế trời đất vì cơn mưa đầu tiên đã đổ xuống thấm đất, mọi người cúng, ăn uống, reo mừng, thì Thái tử Sĩ-đạt-ta lúc đó một mình lặng lẽ đến dưới bóng cây bắt tréo ngồi thiền và ngài chứng được Sơ thiền từ năm mới 12 tuổi. Và chứng Sơ thiền rồi là ly dục, ly bất thiện pháp.

[45:05]Chữ "ly bất thiện pháp" nghĩa là con người này thuần thiện, không bao giờ là một người xấu ác dù một mảy may. Và "ly dục", người này lìa xa dâm dục. Thế tại sao năm 16 tuổi có vợ? Rồi năm 29 tuổi có La-hầu-la? Ai biết tại sao? Ta hỏi lại ha. Thái tử Sĩ-đạt-ta năm 12 tuổi ngồi dưới gốc cây chứng được Sơ thiền, ngồi đến nỗi mà quên trời quên đất. Đến khi mà vua cha làm lễ xong hết tìm không thấy người con của mình, chạy đi tìm thì mọi người chỉ Thái tử ngồi dưới gốc cây kia. Mà lạ, lúc đó trời bắt đầu xế bóng, nghĩa là khi mà ngài ngồi á thì ngài ngồi ở bên hướng tây của cái cây, thì mặt trời đang mới lên ở hướng đông, như vậy nó đổ bóng mát xuống cho ngài.

[45:49]Nhưng mà đến khi ngài ngồi lâu quá, ngài ngồi luôn qua buổi xế trưa, mọi người ăn uống linh đình hết rồi, thì khi lại đó, cái cây nó tự động nó những cái cái cành thế này bỗng nhiên nó nghiêng hết, nó xô qua bên tây luôn, để nó che nắng cho Thái tử. Nghĩa là cái cây đó nó như con người, nó biết rằng ngồi dưới gốc của mình là một vị thánh nhân siêu phàm. Và cây đó đến nỗi mà tự nhiên cái cành lá nó đang mọc đều hai bên vậy, bỗng nhiên nó trút qua hết một bên, trút qua hết bên phía tây để che cho Thái tử, cảnh tượng chưa từng thấy trên đời này. Nghĩa là cái cây lên thẳng, bỗng nhiên mọc nghiêng hết, choàng hết cái bóng râm của mình,

[46:23]hết tàn cây mình qua bên phía tây để che mát cho Thái tử. Trước cái cảnh tượng đó, vua Tịnh Phạn sững người, quỳ lạy con mình một lạy. Đó là lần thứ hai mà vua lạy con mình. Thì một người như vậy là phải ly dục, ly bất thiện pháp, dứt hẳn dâm dục, không có lấy vợ và không có con. Nhưng tại sao năm 16 tuổi lấy Da-du-đà-la, năm 29 tuổi có La-hầu-la? Muốn biết điều này, ta hãy xem tập truyện tranh Đỉnh Núi Tuyết do soạn giả Thích Chân Quang biên soạn, đang xuất bản từ từ ngoài kia, hôm nay mới có tập thứ năm mà thôi, tới tập thứ sáu, thứ bảy, thứ tám, câu trả lời mới hiện ra, nhưng hãy đón xem nha.

[47:07]Nhưng mà A-na-hàm lại phát sinh năm điều năm điều không hay, phát sinh năm điều không hay. Nghĩa là khi ta chưa tu thì ta không có, mà tới chừng ta tu ta lại có. Ví dụ sao vậy? Ví dụ như một người chưa đi vào chùa cúng dường thì không sao hết, nhưng vào chùa cúng dường số tiền lớn, cái tâm mình cứ tự hào á, cứ muốn thầy phải cưng mình hơn người khác. Thì cái tâm mà mình cứ muốn là ông thầy trụ trì cưng mình hơn, ưu tiên mình hơn vì mình cúng nhiều, tâm đó xấu hay tốt ạ? Xấu hay tốt? Xấu. Mà nếu chưa đi vào chùa tu, chưa cúng thì không có tâm đó, phải không? Cho nên vì vậy, cũng vậy, A-na-hàm khi mà chứng

[47:43]tới đọ mức độ rồi lại có năm điều không hay. Điều thứ nhất là sắc ái. Sắc ái tức là khi sinh lên cõi trời Sắc giới, cõi trời đó quá vi diệu nên các ngài có cái chấp vào cõi đó, thích cái cõi đó. Chính cái mà thích cái cõi trời Sắc giới đó, Phật chê. Còn mình, mình có mình có thích cõi trời Sắc giới không? Có thích không ạ? Không thích tại có biết đâu mà thích. Biết đâu thích. Và đó là cái dở thứ nhất. Cái dở thứ hai là vô sắc ái, tức là thích cõi trời Vô sắc. Có những vị họ không lên cõi trời Sắc giới mà họ nhập vào cõi trời Vô sắc luôn, không còn hình hài, chỉ còn cái tâm vô hình thôi. Cõi đó cực kỳ vi diệu, cực kỳ hay, làm các vị yêu thích á.

[48:27]Chính cái yêu thích cõi trời Vô sắc đó bị Phật chê là dở. Còn mình có thích cõi trời Vô sắc giới không ạ? Thích không? Không, biết đâu mà thích, phải không? Thứ ba là kiêu mạn. Lạ chưa? Chứng tới A-na-hàm rồi mà kiêu mạn. Tại sao vậy? Tại vì lúc đó tự nó phát sinh lên thấy mình quá hay. Mặc dầu là rất hiền lành, ly dục ly bất thiện pháp mà, không bao giờ có điều xấu ác á, vậy mà vẫn bị kiêu mạn. Giống như có một thiền sư vậy, Đơn Hà, ổng đi vào chùa, trời lạnh, ổng lên ổng bưng tượng Phật gỗ xuống ổng chẻ ra ổng đốt ổng thiêu ổng sưởi ấm. Cái ông viện chủ nói: "Trời ơi! Tượng Phật mà sao thầy đem thầy chẻ thầy đốt?" Thì ổng mới nói trớ là:

[49:14]"Tôi thiêu lấy tìm xá lợi." Nói: "Phật gỗ làm gì có xá lợi?" "Ờ, nếu không có xá lợi thì thôi bưng thêm hai ba vị nữa đốt luôn." Tức là không có xá lợi đâu có giá trị gì. Nhưng mà câu nói đó nó không có chuẩn, không có chuẩn. Tuy là có vẻ như là ta tự tại, ta phá chấp, nhưng mà sự thật nó vẫn là một sự kiêu mạn, vẫn coi thường cái tượng Phật. Tượng Phật là biểu tượng của Phật, dù nó chỉ là gỗ nhưng vẫn là biểu tượng của Phật, ta không được xúc phạm. Nhưng mà cái người A-na-hàm có những khi họ ngang tàng và kiêu mạn, họ đã làm ra vẻ như tự tại, thực sự vẫn là dấu vết của kiêu mạn. Chính vì vậy mà Phật chê.

[49:52]Hoặc là như ngài Lâm Tế á, lúc mà ngài đi về Lâm Tế ngài trụ trì thì có một thiền sư ở sẵn đó là Phổ Hóa, mà Phổ Hóa là một thiền sư ổng chứng khoảng A-na-hàm, ổng có thần thông dữ lắm. Trong lúc mà ngồi dọn cơm ra hết trơn nè, ngồi đối đáp qua lại, ổng lật luôn cái bàn cơm, lật đổ mâm cơm hết, bỏ đi. Thì nhìn cái cách trả lời ổng là lật đổ mâm cơm, thấy ổng tự tại nhưng đó là dấu vết của kiêu mạn đã hiện ra, chứ không phải là hết. Mà ông Phổ Hóa ngài Phổ Hóa dễ sợ lắm, bưng cái hòm ổng đi ra chợ ổng rao, ổng nói ổng sắp tịch. Cái người ta kéo theo, tới chừng kéo theo rồi ổng không tịch, ổng nói:

[50:27]"Thôi, mai tôi tịch." Cái qua ngày mai ổng ôm ổng bưng cái hòm, mà cái hòm nhẹ hay nặng á? Cái hòm nhẹ hay nặng? Nặng khiếp lắm mà ổng bưng tỉnh queo à, ổng vác tỉnh queo, ổng đi chơi chơi vậy á, tại ổng có thần thông. Ổng nói: "Hôm nay tôi tịch." Mọi người kéo theo nữa, ổng nói: "Thôi tôi không tịch, mai tịch." Đến khi mà người ta nản người ta nói ổng nói dối rồi, ổng tịch thiệt. Ổng mở nắp hòm ổng chui vô, ổng ngoắc cái người đi đường lại ổng nói đóng lại giùm ổng. Vô cái ông kia đậy nắp hòm lại đóng cốp cốp cốp, xong chính cái ông mà đi đóng đó ra la làng lên: "Ô, ông kia ổng tịch thiệt. Nay tôi đóng cái hòm tôi niêm phong cái đinh trỏng

[50:58]rồi, ổng không thoát được." Thế là mọi người cứ đổ xô lại xem cái hòm mà người nằm ở trỏng. Thì khi mọi người đến lại rất đông như vậy, thì bắt đầu nghe tiếng mõ cóc cóc cóc cóc xa dần xa dần trong hư không mất luôn. Đến khi cạy cái hòm ra, không có ổng trỏng. Hơn cả David Copperfield luôn á. Hơn nhà ảo thuật David Copperfield. Thì cái đó là cái kiêu mạn. Cái tệ thứ tư của người A-na-hàm mà Phật chê là sự giải đãi. Chứng tới mức độ đó cao quá rồi, bỗng nhiên nó mất cái động lực, nó mất cái động cơ để tinh tấn bước thêm nữa. Vì lúc đó không có Phật, không có Phật khuyến khích, nên thường thường cái vị A-na-hàm đứng đó, nhiều khi ổng đứng đó mấy ngàn năm luôn.

[51:39]Sinh lên cõi trời ở đó luôn ba, bốn ngàn năm luôn cũng có. Chỉ khi nào gặp một vị nào quở trách, cái vị đó mới có động lực để ráng thêm để mà chứng A-la-hán. Và cái cuối cùng dở của A-na-hàm là vẫn còn vô minh. Thôi thì vô minh thì ai cũng có, cái này người ta không nói. Đó, năm cái kiết sử còn dở của A-na-hàm là sắc ái, vô sắc ái, mạn, giải đãi và vô minh. Và cái quả chứng thứ tư là A-la-hán, là quả vị A-la-hán là đệ tứ quả, cũng cái mức thiền là tương ứng là Tứ thiền. Và cái Tứ thiền sâu xa vượt khỏi tâm, vượt khỏi vật. Và dùng cái Tứ thiền này, cái vị đó mới đi sâu vào tam minh lục thông, là nhớ lại vô lượng kiếp của mình, thấy được vô lượng cõi

[52:29]tái sinh của chúng sinh, và thấy được Tứ đế, chứng được lậu tận minh. Thì cái người này trở thành A-la-hán, là có Tứ thiền và chứng A-la-hán. Cái diệu dụng thì siêu phàm thục thế ta không thể nào tưởng tượng được nữa. Đó là một vị mà thôi bao nhiêu kinh đã ca ngợi nên ta không nói lại, nhưng thật sự là A-la-hán là vị thánh phi thường. Một thân biến thành ngàn thân, ngàn thân gom lại một thân. Là một bay lên trời hoặc chui dưới đất, biến hóa tất cả tự tại, đó là vị A-la-hán thì thôi không gì để nói nữa. Đó là phần tự lợi, tự giác của mình đã xong. Nhưng mà để còn lợi tha thì phải gieo duyên với chúng sinh rất là nhiều.

[53:11]Vì A-la-hán khác với Phật ở chỗ nào? Là thua Phật về công đức, thua Phật về trí tuệ, thua Phật về thần thông, thua Phật về dung sắc. Tức là vị A-la-hán không thể đẹp như Phật, không thể có thần thông như Phật, không thể có trí tuệ như Phật và không có công đức bằng Phật, mặc dầu trên sự giải thoát bằng nhau. Đó, khi mà thầy giảng bài này mà thầy nghe có người ngáp thì no problem, không sao hết. Vì cái bài này đặc tính của bài này là như vậy, nghe không hiểu. Ai nghe bài này nãy giờ nghe tới đâu thâm nhập tới đó, nghe tới đâu hiểu tới đó, là người nên xuất gia, không nên ở tại gia, vì trong lòng mình có căn lành.

[53:48]Còn người nghe mà vui, thích, đỡ ngủ, vỗ tay, ngáp thì không sao hết nha. Nhưng mà chăm chú nghe là đã rất có công đức. Thầy nói lại, cái bài này rất khó nghe, rất khó hiểu, mà ai nãy giờ vẫn chăm chú nghe, không bỏ sót là ta đã gieo một cái nhân rất lớn trong Phật pháp. Thầy cũng rất là chúc mừng người này và yêu quý người này nãy giờ chăm chú nghe nha.

[54:16]Bây giờ ta hỏi câu này, còn chút xíu nữa. Giờ có người hỏi là bây giờ tu những pháp môn khác nhau có đắc đạo không? Thì câu trả lời là thế này: có hai hạng người tu. Một hạng người là có túc duyên đời trước quy định kiếp này phải đắc đạo, một trong bốn quả thì không biết quả nào, nhưng mà đã có túc duyên rồi, thì cái người này loay hoay làm sao cũng đắc à. Tu bậy cũng đắc, tu sai cũng đắc. Còn cái người mà đời trước không có túc duyên đắc đạo, thì đời này phải tu cho chuẩn à, tu cho đúng à, sai một ly đi mất một dặm luôn. Hai hạng người, nhắc lại. Cái người mà đời trước đã có túc duyên là kiếp này phải

[55:02]đắc đạo, thì họ tu bậy tu bạ gì cũng đắc hết trơn. Nhưng mà cái chết thế gian, chết chúng sinh là cái hạng người này. Cái hạng người mà có túc duyên à, ổng có túc duyên đời trước quy định ổng kiếp này sinh ra ổng đắc đạo, nên kiếp này ổng tu tầm phào, tu bậy tu bạ gì ổng cũng chứng, rồi ổng đem cái tu tầm phào đó ra ổng dạy người ta, chết thiên hạ hết. Ai tu theo chết hết, sai hết luôn, không chứng, thậm chí điên luôn. Đó là nguy hiểm. Còn cái người mà đời trước họ không có túc duyên đắc đạo, đời này họ tu một, sai một ly đi một dặm, buộc họ phải tu cực kỳ chuẩn xác. Thì cái người này mà nếu đi dạy người khác,

[55:40]dạy cực kỳ chuẩn xác, vì họ không thể sai, họ sai là họ hư liền. Nên nó có hai hạng người như vậy. Do đó bây giờ ai hỏi là bây giờ tu sao cũng đắc đạo tám vạn bốn ngàn pháp môn, thì không phải đâu. Bởi vì nó lệ thuộc cái túc duyên của mình. Nếu mình là người có túc duyên đắc đạo thì thôi tu sao thầy không nói, loay hoay rồi thế nào cũng đắc. Còn nếu mình không phải là hạng người có túc duyên đó thì làm ơn tu cực kỳ chuẩn xác, không sai một ly một mảy nào. Vậy ở đây ai là người có túc duyên sẽ đắc đạo trong kiếp này xin giơ tay lên? À, vậy là ta không ai dám nhận mình có túc duyên. Vậy ai là người mà không dám chắc mình có túc duyên đắc đạo kiếp

[56:24]này, cho nên buộc mình phải tu hết sức chuẩn xác, giơ tay lên? Không ai dám nói mình là có túc duyên sẽ đắc đạo ở ở kiếp này. Và vì vậy làm ơn, làm ơn tìm cho được minh sư, tu cực kỳ chuẩn xác, vì sai một ly là sẽ đi, đi một dặm. Có một điều nữa là có khi chứng thiền cũng chưa chắc là chứng quả. Nhớ giùm như vậy. Chúng ta đừng tưởng là hễ chứng thiền là chứng quả nha, có khi chứng được thiền rồi vẫn chưa chứng quả. Rất là lạ, quả là một cái nhân duyên khác. Đó, có người chứng quả rồi chứng thiền, có người chứng thiền rồi chứng quả, có người chứng thiền không hề chứng quả. Còn chứng quả thì phải chứng thiền, nhớ đó là như thế.

[57:07]Thầy nói lại giữa quả và thiền: có người chứng thiền nhưng mà chưa chứng quả.

[57:19]Có người chứng quả phải chứng thiền.

[57:25]Có người vừa chứng thiền cũng là vừa chứng quả. Nói như vậy nha. Hôm nay chúng ta vừa trao đổi với nhau một bài đạo lý rất là khó hiểu, rất là khó nghe để cúng dường lên Đức Phật nhân ngày thành đạo của Người. Một bài này rất khó hiểu, rất khó nghe, mà nếu chúng ta nghe được, chăm chú, thích đã là có được phước rất là lớn cho cái sự tu hành của mình trong nhiều kiếp tới. Còn người nào nghe bài này mà thâm nhập, nghe tới đâu hiểu tới đó nghe tới đâu hiểu đó thì cái căn lành bên trong rất là lớn, nên phát nguyện xuất gia tu hành. Thầy nói thật đó, thầy không nói đùa đâu, nên phát nguyện xuất gia tu hành.

[58:12]Kính chúc quý chư tôn đức và tất cả quý Phật tử một đêm Thành đạo thật là

[58:32]tuyệt vời, bình an, hạnh phúc. Nam Mô Bổn

[58:42]Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.