[0:09]Xin mời toàn thể đạo tràng niệm Phật. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:28]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:43]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:56]Chúng con xin cung thỉnh Thượng tọa Pháp sư an tọa. Xin mời toàn thể đạo tràng an tọa. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Hôm nay là những ngày cuối năm, cũng là cái khóa thiền, cái thời Pháp cuối năm. Vì qua tháng Chạp thì thầy cũng muốn giảng cho mọi người nghe, nhưng lúc đó mọi người lo mê Tết á, nên thôi không đi nghe nữa. Thôi không giảng nên bữa này là bữa cuối trong năm này, rồi mãi qua tới tháng 2, tháng 2 ta mới gặp lại. Vì tháng Giêng thầy cũng muốn giảng mà nhiều người nói đang còn vui Tết á, nên thôi. Ta nghe tiếp bài Pháp Cú nha, bài này rất là dài, không biết sao bài này rất là dài.
[1:45]Tỳ kheo hãy an trú, tâm từ bi vô lượng, nơi Phật đạo chí thành, chứng đạt Niết bàn vui. Tỳ kheo hãy tát cạn, để cho thuyền đi mau, tát cạn tham sân si, thuyền mau đến Niết bàn. Diệt năm kiết sử dưới, trừ năm kiết sử trên, Tỳ kheo bỏ năm trược, với ngũ căn ngũ lực, vị ấy vượt bộc lưu. Nó nhiều từ chuyên môn. Tỳ kheo hãy tinh tấn, thường tọa thiền tập định, không buông lung ái dục, để địa ngục lìa xa. Thiếu trí tuệ khó thiền, thiếu thiền khó trí tuệ, ai có được cả hai, nhất định gần Niết bàn. Tránh chướng duyên ồn náo, Tỳ kheo an tịnh tâm, với an lạc phi phàm, quán niệm theo Chánh pháp. Người nào có chánh niệm, biết ngũ uẩn sinh diệt,
[3:01]niềm hạnh phúc sâu xa, đường đi người bất tử. Tỳ kheo có trí tuệ, tu tập đúng căn bản, kiểm soát các giác quan, giữ giới, sống biết đủ, thân cận với bạn lành, thiện pháp ngày càng lớn. Sống hiền lành, thân thiện, nhưng mẫu mực, trang nghiêm, một Tỳ kheo như thế, đau khổ sẽ xa lìa. Là mọi lần thường Đức Phật chỉ nói bốn câu, mà cái bài này Đức Phật nói rất là dài, bởi vì cái trường hợp này cũng hơi đặc biệt. Là cái cái câu chuyện tích như thế này: Cái thời đó Ấn Độ có hai cái quốc gia lớn, một cái nước ở phía Bắc là nước Kosala, và một nước ở phía Nam, nói Nam chứ nó lại xếch qua phía Đông của phía Nam, là nước Magadha, tức là Ma Kiệt Đà.
[3:58]Thì ở phía Tây của nước Ma Kiệt Đà nó có một cái nước nhỏ là nước Avanti. Nếu tính ra mà trực chỉ thẳng ở phía Nam á, thì là cái nước Avanti này nó mới đúng là phía Nam của cái nước lớn Kosala. Như vậy cái địa hình nó là như vậy. À cái cái xứ Kosala này nó có một cái nhà giàu sang, có một công tử tên là Sona Kutikanna. Thì lớn lên rồi nối tiếp cái dòng dõi cha mình mà quản lý tài sản. Thì lúc đó có cái nhân duyên là Tôn giả Đại Ca Chiên Diên về giáo hóa ở gần đấy. Thì ta biết là ngài Ca Chiên Diên là một trong mười đại đệ tử Đức Phật mà nổi tiếng về nghị luận đệ nhất. Cái việc mà ta xếp Đức Phật có mười đại đệ tử,
[4:51]mỗi vị một cái phẩm chất đặc biệt, thì thực ra nó cũng chỉ tương đối thôi. Vì có nhiều vị A-la-hán khác cũng đều được tôn xưng đệ nhất như vậy, thầy cũng chẳng hiểu sao nữa. Khi mà đọc hết các kinh tạng á, đọc hết kinh này kinh kia thì thấy là Phật cũng khen nhiều vị khác là đệ nhất cái này đệ nhất cái kia, chứ không phải chỉ riêng là mười vị đại đệ tử như vậy đâu. Ví dụ như là ngài Đại Ca Chiên Diên thì được là nghị luận đệ nhất, nhưng mà có nhiều vị cũng nghị luận đệ nhất, cũng thuyết pháp đệ nhất, có nhiều vị cũng thần thông đệ nhất, cũng như ngài Mục Kiền Liên vậy, lạ vậy. Nhưng mà rồi không biết là tiêu chuẩn nào mà sau này các vị tổ chắt
[5:31]lọc lại hết giữ lại có mười vị, chứ vào thời đó nhiều vị hay lắm. Giống như có một một vị Tỳ kheo là Ca Diếp, mà không phải là ngài Đại Ca Diếp khổ hạnh đâu, ngài Kumara Kassapa. Thì lúc mà mẹ ngài đi xuất gia á là bà lại có mang bầu ở bụng. Không biết sao có mang bầu ở bụng mà lại xuất gia. Nên vô trong Ni đoàn xong rồi cái bụng từ từ từ lớn ra. Lớn ra cái mới đem ra hạch tội. Hạch tội thì bà nói là bà không có phạm giới, bởi vì từ lúc xuất gia là bà không có không có bao giờ mà bị vướng cái chuyện gì quan hệ gì hết. Thì lúc đó là Trưởng lão là ngài Upali mới đem ra xét, thì nói thôi căn cứ theo luật này luật kia đó,
[6:16]biết sao cũng nhiều luật, nói bà vô tội, thôi bà vẫn được tu. Tu nhưng mà rồi tới ngày đẻ thì cứ đẻ, chuyện rất là lạ, Tỳ-kheo-ni mà đẻ. Thì đẻ ra ngài đặt tên là Kumara Kassapa, thì coi giống như ngài xuất gia từ trong bụng mẹ ha, rất là đặc biệt. Rồi sau đó là giao qua bên Tăng nuôi, giao bên Tăng nuôi là giống như ngài xuất gia từ nhỏ luôn vậy đó, người đặc biệt. Và lớn lên ngài cũng đắc A-la-hán rất là sớm. Và ngài cũng đi thuyết pháp. Nhưng mà trong đó có đặc biệt có một bài kinh, mà ngài đến ngài thuyết pháp cho một cái ông vua ở phía Tây của nước Kosala, lúc đó là vua Ba Tư Nặc mới ông này có công quá
[6:56]mới cấp cho ổng luôn cả một lãnh thổ để làm vua một cái xứ phía Tây. Thì ông này tuyệt đối không tin gì hết, không tin nhân quả luân hồi, không tin hồn ma, không tin tâm linh, không tin thiên đường địa ngục gì hết, con người cực kỳ ngang bướng. Thì lúc đó là Tôn giả Kumara Kassapa mới đi đến xứ của ông đó để độ qua một buổi nói chuyện. Thật là mà những lời nói chuyện của ngài cực kỳ khoa học, cực kỳ hợp lý, bẻ gẫy hết tất cả mọi cái tà kiến, sự ngang bướng của ông, bắt ông phải tin nhân quả luân hồi, tin tâm linh, tin có thiên đường, tin có địa ngục. Cái bài kinh đó là nổi tiếng luôn, được ghi lại luôn, mà lúc cái bài kinh đó không phải Phật
[7:36]thuyết, mà nhiều khi thầy nghi là lúc đó Phật nhập Niết bàn rồi nữa, tại đọc đó không ghi rõ thời gian, nhưng mà cái giọng văn trong đó giống như là Đức Phật đã nhập Niết bàn rồi, thì ngài mới đi vân du giáo hóa khắp nơi, đến gặp ông vua đó bẻ gãy cái cái cái tà kiến của ổng. Và nổi danh bài kinh đó được kết tập vào trong kinh tạng mà trong Trường Bộ kinh luôn. Tức là kết tập vào trong Trường Bộ kinh là bài kinh phải vĩ đại lắm mới được vào trong đó, mà cái cuộc nói chuyện của ngài với ông vua Payasi đó là được kết tập vào kinh điển, thì ta gọi là kinh Tệ Túc á. Nếu mà ai mà mở Trường Bộ kinh ra đọc bài kinh Tệ Túc sẽ thấy
[8:11]cái bài kinh cực kỳ xuất sắc, mà không phải của Phật. Rồi ngài cũng được tôn xưng là thuyết pháp đệ nhất, như vậy. Cho nên trong cái thời Đức Phật nhiều đệ tử A-la-hán xuất sắc lắm, chứ không phải một hai vị, không phải là mười vị như ta hiểu, những vị nào cũng có những cái vĩ đại. Thì riêng là Tôn giả Đại Ca Chiên Diên được nổi tiếng là nghị luận đệ nhất. Nghị luận đệ nhất khác với ngài Phú Lâu Na Mãn Từ Tử là thuyết pháp đệ nhất. Chúng ta nghe cái chữ ngài Phú Lâu Na Mãn Từ Tử thuyết pháp đệ nhất ta tưởng ngài lúc nào cũng quanh quẩn bên Đức Phật, không có. Ngài Phú Lâu Na Mãn Từ Tử sau khi chứng A-la-hán rồi,
[8:48]ngài thuyết pháp độ cho ngài A Nan chứng Tu đà hoàn, rồi ngài đi luôn. Ngài từ giã Đức Phật, ngài đi về cái vùng Thích Ca, tức là vùng quê hương của Đức Phật, để ngài giáo hóa, vì ngài là cháu của ngài của Tôn giả Kiều Trần Như. Ngài về đó ngài giáo hóa, độ hết. Và nếu mà ta đọc cuốn truyện Đỉnh Núi Tuyết, truyện trên Đỉnh Núi Tuyết, thì ta sẽ thấy rằng chính ngài là người về cái vườn Lâm Tỳ Ni mà chỗ Phật đản sinh á, ngài xây cái đền thờ để thờ cái cái thánh tích á. Tại vì ngài giáo hóa hết cái vùng đó, từ vùng Ca Tỳ La Vệ dài dài dài hết chung quanh cái xứ Thích Ca đó, thì cái vườn Lâm Tỳ Ni gần đó,
[9:25]ngài về đó chính ngài là người đã xây lên cái đền thờ đó. Và ngài là bằng cái thần thông của một vị A-la-hán, ngài biết rõ cái cây vô ưu là cây nào ngay chỗ đó. Bằng thần thông ngài biết là chính xác là Thánh mẫu Ma Gia đứng ngay chỗ này đản sinh Đức Phật, và ngài cho xây cái vòng thành lớn thật lớn bao quanh hết. Nên là cái như vậy đây là cái đền thờ sớm nhất trong đạo Phật, vì Đức Phật còn sống không ai xây đền thờ cả. Đức Phật còn sống chẳng ai xây đền thờ, chỉ xây tinh xá cúng dường Phật, nhưng mà chỉ riêng ngài Phú Lâu Na, ngài nhận định rằng: "Đây là nơi Thế Tôn đản sinh, và đây là thánh tích muôn đời
[10:01]của chúng sinh, phải bảo vệ và nhất là cái cây vô ưu này. Cái cây vô ưu này là cái cây cái cái thánh, phải bảo vệ, không người dân không biết lại họ vác rựa họ chặt họ làm củi chết á." Thế là ngài xây những bức tường bao quanh, để cho người dân không cao lắm, mọi người đứng vẫn nhìn thấy cây, vẫn đảnh lễ được, nhưng mà không được bước tới gần, để mọi người hiểu là đây là cây thánh, không ai được xâm phạm. Và bây giờ qua hơn 2.600 năm, cái thánh tích đó mới vừa được khai quật lên. Nào giờ á, những truyền sử để lại về đạo Phật rất là nhiều. Mà Đức Phật vĩ đại quá, phi thường quá, hoàn hảo quá, nên có nhiều người mà họ đầu óc họ thực dụng, họ không tin.
[10:44]Cách đây khoảng 300 năm, rất nhiều học giả ở Tây phương không tin rằng trên cuộc đời có một Đức Phật như thế. Không tin rằng trên đời có con người đẹp đến như vậy, hoàn hảo đến như vậy. Mặc dầu sử liệu, kinh điển để lại đầy, nhưng mà họ không tin. Nói trên đời làm gì có ai mà hoàn hảo đến mức độ như thế này. Cho nên họ cứ nghĩ là con người đời sau thêu dệt. Cho đến khi mà những cái người khảo cổ người Anh, những người cầm quyền người Anh bên Ấn Độ đó, họ mới khai quật lại được những di tích về đạo Phật mà có lại cách đây mấy ngàn năm, họ mới tin rằng à, những di tích này để tôn thờ một Đức Phật mà nếu tính theo niên đại chỉ sau Đức Phật
[11:23]nhập Niết bàn có 100 năm, 200 năm, và như vậy Đức Phật là có thật. Lúc đó, cái tuyên bố lên thì thế giới bắt đầu mới tò mò về một cái tôn giáo như vậy, mà có một vị giáo chủ phi thường đến như vậy, hoàn hảo đến như vậy, đặc biệt. Nhưng mà thì cũng khai quật đền này đền kia thôi. Cách đây khoảng hơn tháng thì mới khai quật được một cái đền ngay đúng Lâm Tỳ Ni luôn. Nó có bốn bức tường bao quanh, bức tường dày bao quanh và có một cái cây to ở giữa. Nhưng mà do nhiều thời gian nó đã chìm sâu dưới đất, bây giờ đào lên lại được hết còn nguyên vẹn và người ta đo cái độ phóng xạ carbon và biết rằng nó đúng vào cái
[12:04]thời kỳ Đức Phật xuất hiện luôn, cách đây 2600 năm. Và họ cho rằng đây là cái đền thờ mà sớm nhất trong đạo Phật mà đúng ngay bây giờ không còn mơ hồ chỗ này Đức Phật sinh, chỗ kia Đức Phật sinh nữa. Thì bây giờ ngay đúng cái chỗ người ta khai quật tức là nơi Đức Phật sinh ra. Mà đây là cái công đức của ngài Phú-lâu-na Mãn-từ-tử mà được phát hiện trong truyền đỉnh nuôi tiếc là vậy.
[12:28]Thì ngài Phú-lâu-na ngài thuyết pháp đệ nhất, vì sao? Bởi vì ngài giáo hóa hết cho cái dân vùng Thích Ca, mà ngài cứ nói người ta nghe. Nhưng mà riêng ngài Ca-chiên-diên thì lại giống như Socrates vậy á, là không có nói cho người ta nghe, mà cho người ta hỏi đáp. Ừm, nghĩa là cứ người ta hỏi, ngài đáp hoặc ngài hỏi lại cho người ta phải trả trả lời, gọi là nghị luận, mà lần lần đưa người ta đi vào đạo được. Nên cái khéo của ngài trong cái câu hỏi, trong câu đáp, nó sâu sắc, nó logic, mà nó dẫn dắt người ta một cách nhẹ nhàng làm cho người ta khai ngộ mà đi khắp nơi là như vậy. Mà thời đó ta biết là những cái những cái buổi
[13:11]nói chuyện như vậy không được ghi lại. Chép còn không có giấy mà chép nữa mà. Không có viết mà ghi nữa mà, thì làm gì có chuyện có máy móc. Nên mọi người chỉ ghi bằng trí nhớ. Mỗi khi gặp ngài Ca-chiên-diên ngồi nói chuyện là hỏi đáp thì thán phục cái trí tuệ của ngài mà đồn nhau. Rồi về mới nói là đâu, ngài nói gì nói lại, thì nói bập ba bập bõm lại được chừng hai, ba mươi phần trăm câu chuyện. Chúng ta nhớ như vậy. Ký ức con người chỉ như vậy thôi. Đi qua một buổi nói chuyện lý thú rồi bây giờ ta xong ta về ta kể lại, cái người mà siêu đẳng thì kể lại được 80% câu chuyện, còn cái người bình thường chúng ta chỉ kể lại khoảng chừng 20% câu
[13:51]chuyện, còn nhiêu quên hết, không thể nói chính xác, đúng không ạ? Thường thường chỉ là như vậy, năng lực con người chỉ là như vậy, trừ những người có tập luyện. Trừ những người có tập luyện, luyện nghe rồi lặp lại, nghe lặp lại, nghe lặp lại rồi á thì người đó lần lần mới tăng cái khả năng mình lên, có thể là ghi nhớ được tới 80% cái câu chuyện mình đã trải qua. Hoặc là ví dụ như người mà có học ngoại ngữ á, học về phiên dịch á, thì mới luyện nghe kiểu đó. Tức là nghe một câu tiếng Anh đi, nghe một câu tiếng Anh rồi ngồi viết lại, hoặc nghe câu tiếng Anh xong miệng mình phải lặp lại đúng. Lúc mới phát hiện là nào giờ mình không bao giờ biết ghi nhớ.
[14:27]Còn khi mà nghe một câu tiếng Anh rồi lặp lại không sót một chữ nào, nghe được rồi mà phải nhớ, luyện như vậy nó mới luyện được cái ký ức mà cái người giỏi tiếng Anh là phải như vậy đó. Nghe nhận ra hết chữ rồi mà vẫn phải nhớ không sót chữ nào, cái đó khó lắm. Thì cái thời Đức Phật thuyết pháp, các vị A-la-hán thuyết pháp, rồi các vị tôn giả là nghị luận nói chuyện với nhau, giờ hầu như là thất truyền. Chỉ riêng có Đức Phật là được ngài A-nan với cái hạnh nguyện vĩ đại từ ngày xưa, ngài bám theo Phật để ghi nhớ, và ngài có cái có cái đầu của một cái máy mà recording, tức là ghi nhớ siêu đẳng, nên ngài mới nhớ lại cho Đức Phật.
[15:09]Còn hầu hết, hầu hết tất cả những cái cuộc trò chuyện, những buổi thuyết pháp trao đổi của các tôn giả A-la-hán thời đó là cực kỳ vô giá thì biến mất hết tất cả luôn. Đây là một thiệt thòi lớn cho cho nhân loại. Nếu mà cái thời đó mà có máy móc như bây giờ hoặc là như thời bây giờ mà có Đức Phật xuất hiện thì vô số những lời dạy quý giá của các ngài là thành kho tàng vĩ đại cho nhân loại. Vì nhiều khi ta chỉ tụng một bài, ta chỉ nghe một bài, có khi ta có khi ta chứng đạo chứ không phải là không đâu. Nên cái cái kinh điển hay lắm, và đừng có chê cái tụng kinh. Khi ta tụng kinh, ta được sống trong cái không khí của
[15:52]đạo, của Phật ngôn, của thánh ngữ, và tâm hồn của ta được tưới tắm, được sưởi ấm bằng những lời của Phật. Cho nên thay đổi dần dần cái tâm hồn của mình mà mình không hay. Ví dụ như có những lúc mà ta ngoài những lúc ta công việc phải làm đối với đời, rồi có những lúc ta phải lễ Phật, lúc ta phải ngồi thiền, mà nếu rảnh rảnh ta cứ lấy kinh ra ta đọc nhẹ nhàng, đọc mà cũng đừng cần phải hiểu sâu. Tại vì hiểu hay không não tự nó hiểu, nên ta cứ đọc một cách thanh thản mà đọc, rồi đó hết cuốn này tới cuốn kia, hoặc là mình khỏe mình tụng, khỏe nữa mình ngồi trước Phật mình đọc thành tiếng nho nhỏ nho nhỏ mình mình nghe
[16:32]thì vẫn ý vị vô cùng, vẫn cao thượng vô cùng hơn là ta đắm vào những cái trò chơi mà sa đọa. Nhất bây giờ mạng á, mạng Internet có bao nhiêu là cái thú vui trong đó và nó nó kéo tâm hồn ta xuống bùn luôn. Nên bây giờ đây là tới lúc mà ta phải chống lại những cái trò vui mà trong các phương tiện thông tin đó bằng cái gì? Bằng cuốn kinh Phật, bằng cuốn kinh Phật. Lấy những cái cuốn kinh Phật ra ngồi ta cứ đọc, tìm cái niềm vui trong đó, vậy đó mà tâm hồn ta được thăng hoa, chết về cõi lành. Còn cứ mở vi tính ra coi chừng ạ. Mở vi tính ra bấm bấm xoẹt xoẹt xoẹt xoẹt thì sao? Thì mình cũng xoẹt luôn xuống địa ngục á, coi chừng.
[17:15]Cho nên vì vậy mà những cái lời dạy của các vị thánh thật ra nó là cái những cái chất liệu cao quý để nuôi tâm hồn ta. Như vậy. Mà thời đó nhiều vị A-la-hán quá nên các vị đi khắp nơi này nơi kia nói chuyện với chúng sinh. Và một lời của những bậc thánh giả nói thì nó lay động con tim người ta. Còn chúng ta bây giờ thì hiếm khi, phải không ạ, hiếm khi ta nghe được một lời của một bậc thánh để có thể lay động tâm hồn mình. Cho nên vì vậy mà đời này ta tìm đạo vất vả hơn là vậy, mà lòng mình phải rất là thành tâm. Thì ngài Ca-chiên-diên cũng vậy. Ngài về cái xứ Avanti đó, nơi cái làng của Sona, ngài giáo hóa.
[18:04]Giáo hóa thì Sona là một đại gia công tử. Khi bố mẹ mất thì quản lý tiếp cái gia tài, có vợ, có con, sống đời giàu sang, hạnh phúc. Đến khi đến nghe, gặp tôn giả Ca-chiên-diên thì nghe ngài thuyết pháp cũng trao đổi hỏi han và do cái thiện căn ở đời xưa, tức là ngài Sona xuất gia luôn, bỏ hết tài sản đi xuất gia luôn. Mẹ còn sống, giao tài sản lại cho mẹ và đi xuất gia. Khi xuất gia với ngài Ca-chiên-diên một thời gian rồi thì cái lòng mới khát khao được gặp Đức Phật. Vì cái thời đó đó, không phải là ai cũng được gặp Đức Phật xuất gia. Vì cái xứ Ấn Độ nó lớn mà không có phương tiện, chỉ đi bộ.
[18:53]Đây đi qua bên kia vất vả lắm, không giống như là là thời nay mình đây mình qua Mỹ qua đồ vèo vèo, thời xưa không có. Thời xưa mà nói chuyện giống như mình đây mình đi về Biên Hòa thôi là đã cực rồi. Hoặc nói cái người ở Mỹ Tho mà muốn lên Sài Gòn chơi là không có chuyện chơi, không có gì, cực lắm. Cho nên là là cách nhau mấy trăm dặm đường vậy chứ mà không có đường đi, xa. Rồi nghe nói là thầy của ngài Ca-chiên-diên, thầy của thầy mình là một Đức Phật, một Đấng Thế Tôn, một đấng giác ngộ siêu tuyệt giữa cuộc đời với bao nhiêu là cái phẩm chất phi thường. Từ nhỏ mà được sinh ra là đã với 32 tướng tốt,
[19:30]80 vẻ đẹp, lớn lên trong hoàng cung rồi bỏ hết cung vàng điện ngọc đi xuất gia thành một đấng giác ngộ cao siêu, hóa độ cho thầy mình và thầy mình là một bậc A-la-hán vĩ đại như vậy, nên lòng cứ bị thôi thúc thôi thúc là muốn được về tận mặt để chiêm bái Đức Phật. Thì đến khi lúc mà thuận tiện thì ngài Ca-chiên-diên mới cho phép đi thì ngài Sona này mới cùng với 10 người bạn mình đi đi bộ về Kỳ Viên. Khi đến đó thì cái Kỳ Viên đông, lúc đó cũng đông quá, nhằm cái ngày gì đó mà các Tỳ-kheo khắp nơi cũng kéo về để thăm Phật đông quá, nên không còn chỗ ở là các nơi hết thì Đức Phật mới ưu ái nói thôi cái chái của Đức Phật
[20:12]á, cái mái hiên của Đức Phật làm cái hương thất của ngài, cái tịnh thất của ngài, cái mái rất là to, che ra ngoài che ra ngoài cái hiên, hành lang rất là rộng. Đức Phật nói: "Thôi thôi kêu Sona đó với cái 10 người cùng đi đó ngủ bên cái cái hiên của Đức Phật, chớ bây giờ hết chỗ." Ngài cũng thương. Là đêm đó cái ngài Sona được ở bên cạnh chái Đức Phật thì vui không ngủ được, cứ ngồi tụng kinh. Tụng kinh không phải là cầm cái bổn kinh như mình đâu, mà tụng bằng cái gì? Lúc đó không có ghi chép. Tất cả cái gì bằng trí nhớ mà thôi. Tức là những cái kinh mà Sona học á là do thầy mình là tôn giả Đại Ca Chiên Diên truyền lại, truyền khẩu rồi nhớ.
[20:57]Nghĩa là ngài cứ mỗi buổi chiều ngài Ca Chiên Diên cái kêu à con ra đây thầy đọc cho nghe. Ngài đọc một câu bắt đọc lại, đọc một câu bắt đọc lại. Tức là thầy trò truyền khẩu vậy để giữ gìn kinh tạng. Thì Sona thuộc thì đêm tối vậy, đêm tối cái ngồi đó bên cạnh chái Đức Phật ờ mà tụng kinh, tụng tới cái câu mà thấy sự nguy hiểm của đời sống thế tục thì chứng A-la-hán luôn. Nhớ nha, đang tụng kinh mà chứng đạo chứ không phải đang ngồi thiền. Giống như ngài Thái Hư Đại sư ở gần đây trong thời cận đại vậy. Ngài đang đọc cái bộ kinh Bát Nhã, đọc rồi hốt nhiên giác ngộ luôn. Nó vậy. Thì ờ khi a sau đó được a yết kiến Đức Phật,
[21:41]lễ bái, trao đổi, hỏi thăm Đức Phật rồi, ngài trở về lại với thầy mình là ngài Ca Chiên Diên để cùng với thầy mình mà giáo hóa chúng sinh cái vùng đó. Và ngài cũng hay thuyết pháp. Thì mẹ ngài mới a nghe mẹ ngài Sona mới đi nghe, bà mới đi nghe. Hôm đó ngài thuyết pháp mà mà nếu mà theo cái câu chuyện này kể á thì thầy nghĩ là ngài Sona thuyết pháp cũng hay lắm chứ không phải không. Lúc mà bà mẹ đi nghe mà dẫn hết tất cả gia nhân đi nghe, chỉ để lại một người để giữ nhà. Mà không biết ngài giảng cái gì không biết ngài giảng gì mà giảng rất là lâu, mà ai cũng nghe say sưa, không ngủ. Thế như bây giờ mà thầy mà giảng lâu chút bắt đầu dưới kia thầy thấy ẹo
[22:22]qua ẹo lại ngáp rồi, còn không biết ngài giảng cái gì mà giảng khá lâu cả buổi như vậy đó mà người ta vẫn nghe say sưa, mà nhất là mẹ ngài. Thì lúc ở nhà ngài còn có một người duy nhất để giữ nhà. Thì chuyện gì xảy ra? Chuyện gì? Coi phim hoài mà không biết, trộm vô chứ gì đâu. Nhưng mà trộm này có tổ chức. Tức là nó đã theo dõi, biết hết tất cả mọi chuyện trong nhà. Biết luôn là hôm đó ngày đó đi đến tịnh xá nghe thuyết pháp, à và trong nhà còn một người, và nó phân công nhau. Nó phân công nhau rất là hay, rất khoa học. Nói bây giờ ừ tụi bây đột nhập vô nhà, còn một người làm thì tụi bây giết, ờ tụi bây lấy hết tài sản.
[23:05]Còn phần tao, vài người nữa thì tới tịnh xá để theo dõi coi người mẹ và những gia nhân kia xem họ động tĩnh thế nào. Nếu mà họ về sớm thì tao phất tay ra lệnh đón giữa đường tụi bây giết luôn. À. Còn nếu mà bả nếu mà bả làm động mà nhiều người ủng hộ thì tao báo hiệu tụi bây rút ra khỏi nhà cho êm, được bao nhiêu thì được. Tức là tay này rất là hay. Và cái tên đầu đảng nó trà trộn vô những người nghe thuyết pháp. Trà trộn và nó đứng bên cạnh người mẹ của Sona luôn. À bà đó bà ngồi đó nghe thuyết pháp thì cũng ngồi bên cạnh bà luôn. Bà nghe thuyết pháp đâu biết cái thằng ăn cướp nhà mình nó ngồi bên cạnh luôn.
[23:43]Thì cái người làm á chắc là người làm này cũng được loại là người rất là giỏi, rất là tin cẩn cho nên đi hết mà lại giao cho một người đó. Cho nên cái người này giỏi nên người này sau khi đóng cửa nẻo cẩn thận rồi phát hiện ra những dấu hiệu có người lạ lảng vảng, rồi người này biết mình một mình không chống đỡ nổi cái núp núp quan sát thì thấy đúng là nó đột nhập vô thiệt, cầm dao cầm rựa cầm dao mác vô, biết mình rồi cái lẻng đường khác đi trốn ra khỏi nhà liền, chứ một mình cũng không làm gì được. Ba chân bốn cẳng chạy tới tịnh xá, chạy tới nói nhỏ bên tai: "Thưa bà! Trộm cướp đã đột nhập nhà mình." Thì cái tên ăn cướp nó ngồi bên nó bắt
[24:20]đầu nó để ý rồi, coi coi thái độ ông này sao để nó chuẩn bị ra hiệu. Thì cái người mẹ của Sona gạt tay: "Bỏ! Chị nghe Pháp." Nó trộm kệ, nó cướp kệ.
[24:34]Còn mình thì sao? Mình mà báo trường hợp vậy sao? Gạt cái Pháp qua chạy về phải không? Còn còn bà thì còn bà thì bà nói: "Gạt, để nghe Pháp cái đã." Cái tên cướp nãy giờ đó cái đầu nó có nghe Pháp không? Không, nó ngồi nó cứ dòm bả lom lom coi có gì không, nó không để ý ngài giảng gì nó không để ý. Nhưng tới khi mà thấy bà gạt cái cô người hầu ra chỉ tay lên Pháp bắt đầu nó để ý dòm lên coi ông thầy nói cái gì. Ha cái vấn đề là cái chỗ đó đó. Và nó nghe một lát thì sao? Tỉnh ngộ. Tỉnh ngộ. Nên cái gạt tay của bà cứu được cả một đảng cướp luôn. Vĩ đại như vậy. Mà ở đâu thò tay ra cái gạt tay gạt đó?
[25:16]Cả một cái tâm hồn, phải không? Đầy thiện căn mới có cái tay gạt đó. Chứ mình thấy bà này hay bả gạt tay cái bả cứu được đám cướp, không phải đâu, cả một cái tâm hồn tràn đầy đạo lý. Bả gạt tay một cái, cái tên cướp bắt đầu nó mới ngạc nhiên dòm lên coi ông này nói cái gì mà đến nỗi mà nghe tới cái chuyện cả nhà bị ăn trộm vậy mà bả bỏ hết không màng nữa. Chứ nãy giờ đầu óc để đâu á, bắt đầu ngồi lắng nghe từng chữ. Mà không biết không phải là ngài Sona có biết hay không, hay là ngài tìm cách nói đúng tim đen hay không. Nó tỉnh ngộ, giác ngộ. Thế là nó báo hiệu, nó ra cái lệnh là đám cướp nó lại đây hết, lại tịnh xá hết.
[25:54]Mà cái lệnh của thủ lĩnh mà như sấm như sét mà, tại trong băng cướp ta biết là nếu mà không nghe lời thủ lĩnh thì sao? Nên cái kỷ luật á, kỷ luật khủng khiếp lắm. Ứ làm nên nghe thủ lĩnh á rút, kéo tới tịnh xá! Thế lật đật bỏ hết chạy chạy tới coi có chuyện gì để cứu thủ lĩnh mình. Kéo tới thì lúc đó có lẽ là cái thời Pháp đã xong thì tên thủ lĩnh đã quỳ xuống trước ngài Sona để mà thú nhận tội lỗi và xin xuất gia. Và mới nói đàn em là bây giờ
[26:27]bây giờ đàn anh đã xuất gia rồi, còn tụi bây tính sao? Cái tụi kia mới nghĩa là mới giây phút trước còn đang tính chuyện giết người cướp của mà giây phút sau thì ông thủ lĩnh mình ổng đòi đi tu, lớ ngớ lớ ngớ lớ ngớ. Mà ta biết á ở trong giang hồ nó có một cái gọi là nghĩa khí giang hồ. Cái tình của nó tình nó cảm tính mà nó mạnh khủng khiếp lắm. Cảm tính mà nó mạnh và nó giống như nó trung thành với nhau á, tại vì ngoài đời nó không có gì nương tựa hết. Ở ngoài đời là nó ghét người ta người ta ghét nó, phải không, mà nó ghét luật pháp mà luật pháp ghét nó. Còn nó chỉ thương nhau một cách cảm tính,
[27:00]bênh vực nhau một cách là thiên vị không có phân biệt công bằng hay không, đúng sai không cần. Cho nên thấy ông thủ lĩnh xuất gia rồi cái nói: "Dạ thôi, tụi em cũng theo đại ca xuất gia luôn." Là nguyên một đám cướp đi xuất gia luôn kỳ đó. Rồi, đắc đạo như vậy. Thì đám cướp này sau khi mà được ngài Đại Ca Chiên Diên, ngài Sona giáo hóa đó rất là tinh tấn tu hành và thấy rằng cả cuộc đời mình đầy lỗi lầm. Cho nên tu rất là khổ hạnh. Lần đó nguyên đám cướp mấy chục tên đó kéo lên núi để mà độc cư đó, sống khổ hạnh mà nhiếp tâm tinh tấn thì Đức Phật mới thương. Ngài từ ở Kỳ Viên ngài phóng hào quang,
[27:38]ngài hiện ra tại cái trước cướp đó thì ngài đọc nguyên một bài Pháp Cú mà dài nãy giờ đó. Nãy giờ mà thầy đọc vô đó, dài quá chừng dài, ngài đọc đọc xong thì gần hơn phân nửa số cướp đó cũng chứng được đạo quả luôn. Đặc biệt như vậy. Cái câu chuyện nó là là như vậy. Thì ở đây ta phân tích cái này, này dài quá. Thì ở đây thế này ta sẽ hỏi thế này: Đã là cướp nhưng mà tại sao mà thay đổi rất nhanh? Chỉ chú ý nghe chút xíu là thay đổi hết tất cả con người mình rồi xuất gia rồi sau này chứng đạo. Cái gì, cái nhân quả gì? Vì thường là nói giang sang dễ đổi mà bản tính khó dời. Tức là ai mà đã ích kỷ rồi, muốn sửa cái ích kỷ cực trần thân
[28:19]luôn, ai có cái tâm hơn thua rồi rầy la sửa cực trần thân. Thầy, thầy đệ tử thầy nhiều mà thầy biết mà. Trời ơi có những người có lỗi, thầy muốn thiếu điều muốn khóc luôn vậy đó. Nói hoài không nghe, mà cứ cái lỗi đó nói đi nói lại hoài không nghe. Ơ mà không biết cái tay cướp này sao chớp mắt một cái quay đổi liền, không hiểu nổi. Thì nhân quả là gì đố ai biết?
[28:42]Ai biết nhân quả là gì? Tại sao làm cướp mà tại sao lại đi tu mà chứng ngộ? Để có thể đi tu chứng ngộ thì người này đời trước làm sao? Phải có thiện căn rất sâu dày. Không phải dễ phải không ạ? Ý là mình là chưa phải cướp đây mà mình tu còn chưa chứng nổi đây phải không ạ? Chớ đừng có nói, chưa cướp đây nè. Còn đây đã là cướp mà còn đi tu chứng ngộ phải là thiện căn rất sâu dày, không nói gì hết trơn á. Nhưng mà thiện căn rất sâu dày, tại sao đi làm cướp? À phải không ạ? Vì cái người thiện căn là đã biết tránh điều ác, làm điều lành, tại sao lại kiếp này lại rớt vào cái nghiệp là phải đi làm ăn cướp?
[29:21]Ai biết? Chỉ vì đời trước trong một lúc bực bội đã mắng người khác: "Quân bây là quân ăn cướp!" À cứ chửi người ta hoài vậy, kiếp này đi ăn cướp cho biết. Chỉ vậy thôi. Cho nên đừng chửi ai nha, bậy, cẩn thận.
[29:46]Thì cái trường hợp cái tên cướp này cũng vậy, đó là đời trước phải thiện căn rất là dày, nhưng chỉ có cái miệng dại, hay chửi bậy. Có một lần á thầy đọc một cái bài phiếm luận của ai á, hình như ở trên báo hay trên mạng, người ta nói: "Cái khác nhau giữa đàn ông và đàn bà là cái gì?". Thì nói cái người phụ nữ á cầm điện thoại gọi cho cô bạn mình thì nói thế này: "Ồ chị ơi! Công chúa của em ơi! Người hoa hậu của em ơi hôm nay có đi, có đi sắm đồ với em không?". Thì ở dưới người ta bình luận: "Cô đó nói vậy chứ không phải vậy". Tức là khen người bạn mình như đẹp như hoa hậu nhưng trong bụng có khen thiệt không?
[30:26]Không, người phụ nữ hay chê nhau về sắc đẹp. Miệng khen chứ trong bụng không khen. Nên đó là cái nói vậy mà không phải vậy. Còn đàn ông gặp gọi điện bạn: "Ê cái thằng bại não! Hôm nay đi nhậu không mày?". Thì ở dưới người ta cũng phê bình: "Nói vậy chứ không phải vậy". Tức là không hề có ý chê cái thằng bạn mình là thằng bại não mà nó chửi nhau cho vui thôi chứ trong bụng không có. Còn phụ nữ khen nhau mà không phải khen. Đó là cái khác nhau giữa phụ nữ và đàn ông. Thực ra thì thầy không rành vụ này lắm, thầy đọc thầy thấy vậy thôi chứ thầy không biết có thiệt hay không. Có không? Có, trên này toàn là nói có hết trơn.
[31:03]Vậy là đúng.
[31:08]À tuy không có nhưng mà thầy sợ nhất là cái ông đàn ông á: "Ê cái thằng bại não, đi nhậu không?". Kêu người ta riết kiếp sau coi chừng mình bại não thiệt á. Còn cái người phụ nữ á cứ khen nhau mà khen giả vờ đó: "Trời ơi hoa hậu của em ơi!", thì tuy khen không thật lòng chứ kiếp sau cũng làm sao? Cũng đẹp được một chút. Đẹp nhưng mà hơi vô duyên tại vì không khen thật lòng nha, nếu khen thật lòng thì sẽ vừa đẹp vừa có duyên, như vậy.
[31:39]Cái khẩu nghiệp nó lạ lắm, không có tốn tiền nhiều nhưng mà nhân quả cũng khủng khiếp lắm. Vừa rồi ở chùa Minh Đạo thầy có giảng bài ý nghiệp á, có nghe chưa kìa? Có người nghe người không nha, ở quận 3 á. Chỉ cái suy nghĩ mình thôi nhân quả cũng không thể ngờ được, cái miệng mình cũng vậy, nhiều khi cũng chưa nói gì tới ai, chưa làm gì nhiều, miệng nói lô bô lô bô thôi mà nhân quả cũng rất là dễ sợ. Ở đây thế này, ta lùng lại chỗ cái cái gạt tay của bà mẹ, ta phải gọi đây là cái gạt tay vĩ đại ha. Ta cũng gạt hoài mà không có thấy ai thay đổi gì hết trơn á, cứ gạt hoài không ai thay đổi. À. Ví dụ như là một người đưa chìa vé số cho ta cái ta cũng gạt ra phải không ?
[32:22]Chuyện nó không có gì thay đổi, là người ta vẫn không bán được miếng nào, mình cũng đi luôn mà cuộc đời của không ai xuất gia rồi không có ai có đắc đạo, hoặc là mình tới cái người nào cọt cơm mấy cái quán á họ đứng họ xỉ xỉ vô chỉ vô quán mình cũng gạt rồi mình mình đi qua. Trên đời ta cũng gạt nhiều lắm và ta cũng gạt tay nhiều lắm. Và có những người thương ta, thầm thương trộm nhớ ta cũng tới rồi ta cũng gạt qua một bên rồi đi luôn phải không? Đi đâu? Ta gạt qua rồi ta đi đâu? Vô chùa. Gạt qua rồi đi vô chùa. Thôi hơi hay à nha, chứ gạt qua rồi đi lấy một chồng lấy vợ khác thì không hay. Thì đúng vậy, trên đời ta ta cũng gạt tay nhiều lắm rồi phải không ạ?
[33:02]Nhưng mà ngẫm lại cái gạt tay ta có làm nên một điều kỳ diệu gì không? Thường là không phải không ạ? Thường là không, vì cái gạt tay của ta nó vô tình, cái gạt tay của ta nó lạnh lùng và cái gạt tay của ta nó không có không có từ một cái tâm hồn tràn trề đạo lý, cho nên cái gạt tay đó chỉ thêm cái nỗi buồn thôi. Một em bán vé số đưa tới vé số mình gạt ra một cái, không có chuyện gì xảy ra, chỉ thêm chút buồn cái bé nó không bán được. Như vậy nói: "Thưa thầy nếu vậy đừng từ đây về sau đừng gạt, cứ mua hết vé số hả?". Có không? Thầy thì thầy không có mua vé số, nhưng mà thường ví dụ như khi thấy mấy em bé nghèo mà tới bán vé số thì thầy
[33:46]lấy tiền thì cho, thôi thầy cho thôi chứ thầy không lấy vé số. Nhưng mà mấy em mà nó không bán được nó cũng buồn, mặc dầu cho nó miếng thì nó cũng mừng á, nhưng mà sự thực cái vé số còn á vẫn là cái nỗi lo. Nhưng mà thầy thì không thể mua được phải không? Thầy tu làm sao đi mua vé số mà mua rồi sợ nó hồi hộp, hồi hộp rồi biết nó có trúng hay không, mà lo nó không biết có trúng hay không rồi không soạn bài giảng được cái tới chừng ngày giảng từ thân giảng không được nữa thì lại nhiều người khác buồn. Cho nên thôi tốt hơn đừng mua, vậy để khỏi lo hồi hộp sợ trúng mệt lắm, cho nên như vậy khỏi. Thì ở đây bà này gạt tay một cái độ luôn nguyên một xâu
[34:21]cướp và một trong hơn phân nửa sau này chứng đạo. Nên cái gạt tay vĩ đại. Ở đây cho ta hiểu cái điều gì? Từ cái gạt tay vĩ đại của bà mẹ Sona cho ta hiểu một điều gì, cho ta rút ra được một đạo lý gì ở đời? Cho ta hiểu một điều là cái điều thiện nó lây lan, phải không ạ? Điều thiện nó cũng lây lan, điều ác cũng lây lan và điều thiện cũng cũng lây lan. Và cái bà mẹ Sona bả làm cho điều thiện lây lan bằng cái gạt tay. Còn chúng ta cũng vậy, ta cũng làm cho điều thiện lây lan bằng cái gì? Bằng vô số cái công hạnh khác trong trong đời của mình phải không? Có khi mình bằng một lời nói, phải không ạ?
[35:04]Có khi mình bằng một sự giúp đỡ, có khi nhiều nhiều cái gì đó thầy không biết, nhưng mà chính mình cũng đã từng làm cho điều thiện lây lan. Chỉ có cái là không có như bà mẹ mà gạt tay một cái mà độ được mấy chục người, mình thì không đến giỏi đến như vậy, mình cũng làm cho điều thiện lây lan mà mình cực hơn, phải không ạ? Đưa cuốn kinh thuyết phục cho người ta đọc đi, đưa một cái đĩa thuyết phục người ta ráng nghe đi, phải không ạ? Thấy người ta nghèo, mình cũng phải chia sẻ tiền bạc rồi sau đó mới nói đạo lý, tức là mình cũng làm cho điều thiện lây lan dữ lắm chứ không phải không. Có đúng không ạ?
[35:38]Thầy thì thấy thường hầu hết mọi người ngồi đây ai cũng có tâm đạo và trong đời mình đã từng làm cho điều thiện lây lan rồi. Phải không? Chứ thầy không tin là mọi người ở đây ích kỷ đâu, người ích kỷ ngày Chủ nhật không ngồi đây đâu. Thấy không? Cho nên chúng ta cũng làm cho điều thiện lây lan và ngược lại điều ác cũng lây lan, cái điều ác cũng lây lan. Điều ác lây lan là sao? Nó có hai trường hợp của điều ác lây lan: một, ví dụ như ta thấy một cái tên hung dữ, bạo tàn cái nó được người ta sợ cái nó lên nó làm thủ lĩnh cái cái xóm đó, cái mình tự nhiên mình học được một điều gì? Dữ thì sẽ gì? Sẽ thành công, phải không ạ?
[36:19]Cứ hung bạo là được người ta sợ, nói người ta nghe, thế là mình học được bài học là phải hung bạo, đó là điều ác lây lan. Hoặc là cái người nào họ đối xử ác với mình, cái mình sao? Mình thù, mình tìm cách mình hại lại, đó cũng là điều ác làm cho điều ác nó nó lây lan, như vậy. Còn cái điều thiện cũng làm cho cái tâm thiện lây lan, lây lan, là bằng nhiều cách như vậy nha. Thì chúng ta nguyện qua cái câu chuyện này, cái gì nó cũng đẹp hết, cái đẹp của cái những tên cướp mà tỉnh ngộ, quay đầu thấy bờ, à cái đẹp của ngài Ca Chiên Diên đi khắp nơi giáo hóa, cái đẹp của một công tử Sona từ bỏ hết tài
[37:03]sản để xuất gia rồi gặp Phật, cái đẹp mà Đức Phật thấy chật quá thương về cho ở bên cái trái của mình, và cái đẹp mà Đức Phật phóng hào quang lên núi đọc nguyên bài kệ dài. Cái câu chuyện này cái gì cũng đẹp hết, nhưng mà cái dễ thương nhất là cái gì? Cái gạt tay, cái gạt tay vĩ đại ha. Thì ở đây chúng ta cũng vậy, nguyện là sao? Mình không có được cái gạt tay vĩ đại như bà mẹ của Sona, nhưng mà nguyện cả cuộc đời của mình làm gì? Mình sẽ là nơi mà làm cho điều thiện được lây lan nha, dứt khoát không để cho mình là điều ác lây lan, mình sẽ là điều thiện lây lan, nhớ tới cái gạt tay của bà mẹ Sona và nguyện
[37:46]mình như vậy, nguyện với Phật, nguyện: "Cuộc đời con, tâm hồn con nha, cái trái tim này, đôi tay này, lời nói này chỉ là cái nơi mà để cho điều thiện lây lan vào cuộc đời này", như vậy, nhớ cái lời hứa. Còn cái bài kệ dài và rất là nhiều từ chuyên môn thì thầy không thể giảng hết được, vì giảng cái này là thành giống như là cho mọi người đi học Phật học phổ thông, học trung cấp Phật học tốt nghiệp luôn ạ, ha. Có nghĩa là diệt năm kiết sử dưới, trừ năm kiết sử trên thì khéo bỏ năm trược với ngũ căn ngũ lực, nội giảng nhiêu đây xong là tới ba tháng sau. Chịu nghe thì thầy ngồi đây giảng luôn ba tháng.
[38:31]Những cái này quá chuyên môn cho nên thôi nghe cho vui thôi nha. Nhưng đây trong bài kệ của Phật có vài cái hình ảnh hơi thi vị, ví dụ như là: "Tỳ-kheo hãy tát cạn để cho thuyền đi mau, tát cạn tham sân si, thuyền mau đến Niết-bàn". Tức là cái hình ảnh nó tượng hình đó, làm cho ta dễ hiểu, dễ nhớ, này cái dễ thương, có một cái đoạn như vậy dễ thương. Hoặc là có cái cái đoạn này: "Thiếu trí tuệ khó thiền, và thiếu thiền khó trí tuệ. Giữa thiền và trí tuệ là hỗ tương. Vì vậy mà không phải ai cũng dễ tu thiền đâu, không phải ai cũng dễ tu thiền". Hồi đó như Thượng tọa Tâm Đức ở Học viện vậy, ông kể chuyện ngày xưa ông đi học ở Đại học Vạn
[39:12]Hạnh á, thì Hòa thượng Minh Châu cũng mở cái khóa thiền trên lầu á, có một cái thiền phòng. Thì nghe Hòa thượng mở cái lớp thiền dạy vậy, rất nhiều người hăm hở đăng ký, đăng ký được 150 người và cuối khóa thiền còn lại đúng 10 người. Khó như vậy đấy, ngồi vừa tâm không nhiếp được mà ngồi nó tê nó đau á, như vậy. Bởi vậy ở đây thầy cũng mở khóa thiền này 13 năm, 13 năm. Đi nghe pháp á thì mấy nghìn người, nhưng mà để tham dự mà ngồi thiền thì chỉ có 400 người thôi. Khó như vậy đó. Ừ.
[39:52]Mà thầy cứ hăm hoài. Há? Thầy thấy đi nghe pháp mà không chịu đi ngồi thiền là thầy hăm dọa đủ cách. Thầy hăm địa ngục rồi thầy hăm đủ thứ mà cũng không ai sợ, kệ thầy. Ngồi thiền khó quá, thôi kệ hẹn kiếp sau, khó lắm. Nên là "thiếu trí tuệ khó thiền" thì nào giờ thầy hăm chứ thầy hổng có mắng, hổng chê. Nhưng bữa nay Phật chê chứ không phải thầy chê nha. "Thiếu trí tuệ khó thiền" có nghĩa là sao? Nghĩa là người mà không chịu tu thiền là người người... Thôi thôi thầy hổng nói nữa, mích lòng. Mích lòng. Thầy tính dịch cái chữ mà thiếu trí tuệ có nghĩa là chữ ngu á, nhưng mà dịch ra nó kỳ quá cho nên thầy hổng dịch nha.
[40:35]Hổng dịch á, thiếu trí tuệ thì khó thiền có nghĩa là người mà quyết không chịu đi ngồi thiền là người... Thôi thầy hổng nói nữa.
[40:47]Và ngược lại, "thiếu thiền khó trí tuệ", không thiền định không có trí tuệ, hổng thông minh lên được. Nên chúng ta muốn có trí tuệ trên nhiều lĩnh vực, chịu khó mà mà tu thiền như vậy. Đó. Hôm giờ hăm quá chừng rồi lấy lời Phật chê luôn mà cũng không chịu. Lần sau ráng mà đi ngồi thiền nghe không, chứ không có mà cứ lúc giảng thì đi nghe, còn lúc thiền trốn sạch hết trơn à. Ừ. Có đoạn cuối cái bài kệ này rất là dễ thương thế này: "Sống hiền lành, thân thiện nhưng mẫu mực trang nghiêm. Một tỳ kheo như thế, đau khổ sẽ xa lìa." "Sống hiền lành, thân thiện nhưng mẫu mực trang nghiêm", đó là cái tư cách của một người tu sĩ á.
[41:31]Nghĩa là người tu sĩ nhìn không có cái lạnh lùng, xa cách. Thân thiện mà, friendly mà, nên không có cái lạnh lùng, xa cách. Nghĩa là mình nhìn một vị thầy tu, tự nhiên mình thấy gần gũi, thương yêu, không có khoảng cách, chứ không có đăm đăm nhìn nhìn hổng có. Mình mình hổng dám tới nói chuyện là hổng phải, tự nhiên mình nhìn mình thích tới nói chuyện. Chỉ có cái là vị đó mà thấy mình tới nói chuyện thì nhiều khi sợ quá rồi né né né né ra thôi, chứ mình nhìn một vị tỳ kheo mình tự nhiên mình thấy thích gần gũi, bởi vì cái tâm từ nó tỏa ra nó không có biên giới, cái tự nhiên mình thấy có cái sự gần gũi, thân thiện như vậy.
[42:08]Nhưng mẫu mực trang nghiêm, chính cái mẫu mực trang nghiêm này làm cho mình không dám xâm phạm, mà không dám nghĩ bậy. Hổng dám nghĩ bậy. Đó. Bây giờ ta qua bài kệ thứ hai: "Như hoa Vassika buông rơi những cánh héo, tỳ kheo cũng như vậy buông rơi hết tham sân." Cái bài kệ này thi vị, lãng mạn, dễ thương. Là Phật nói cái bài bài kệ này trong trường hợp này: lúc đó có một số tỳ kheo ngồi thiền ở trong rừng cạnh các lùm hoa Vassika tỏa hương thơm, mà hoa nó không phải là một đóa hoa hễ héo là héo hết, mà cái hoa Vassika nó là một dãy hoa. Lạ lắm, khi nó trổ hoa á thì nó có những cái cánh rồi xong nó cứ hoa lại tiếp
[43:02]tục mọc lên, cái lại cánh nở ra nhiều giống như cái bắp chuối vậy đó. Nhưng mà nó nở lên thì cứ tới chiều á, những cái cánh mà héo là nó rớt xuống thì những cái cánh mới lại vươn lên. Nó cái hoa nó kéo dài được khoảng gần một thước vậy bắt đầu cả cái hoa nó mới tàn. Nghĩa là từ lúc mà bắt đầu cái hoa trổ ra cái mầm đầu tiên, cái nụ đầu tiên cho tới khi mà nó lên cả thước rồi nó tàn bỏ luôn cánh hoa đó cũng cả tháng trời. Cái hoa rất là lạ mà sao giờ tìm không thấy hoa Vassika á? Giờ mình mà tìm được mình gô mình nhổ về mình trồng làm kiểng mình liền á, ở nhà tiệm ra. Giờ chắc tuyệt chủng đâu mất rồi.
[43:37]Thì các vị ngồi đó cái cứ tới chiều đây cái hoa nó sương xuống tỏa hương thơm và những cái cánh héo nó lại rơi xuống, chỉ còn là những cánh cánh tươi. Cánh tươi rồi rồi nó nó cứ vươn lên từ từ. Qua ngày mai, một ít cánh héo lại rơi xuống, rơi xuống như vậy. Và các vị tỳ kheo khi mà nhìn, nghe cái hương thơm đó thấy cũng dễ chịu, an lạc, nhưng mà nhìn thấy cánh hoa rơi, cứ mỗi buổi chiều nó rơi thì các vị ý thức được cái lẽ gì? Lẽ gì? Lẽ vô thường, đúng vậy. Thấy cái đẹp đó nhưng rồi cũng cũng héo úa, đó. Và cái thế gian này cũng vậy, mọi sự trên đời có rồi cũng sẽ sẽ không, rồi cái gì có lại có rồi cũng sẽ sẽ không, thân người mình cũng vậy.
[44:25]Là nghiệm được cái lý vô thường. Và các vị khi nghiệm cái lý vô thường thì tâm mới đi sâu vào vào định dần dần. Lúc đó Phật mới thương thì từ ở xa Đức Phật mới hiện hào quang, hiện hình ra và Đức Phật đọc cái bài kệ này: "Như hoa Vassika buông rơi những cánh héo, tỳ kheo cũng như vậy buông rơi hết tham sân." Phật dứt bài kệ nhiều vị chứng quả liền. Chúng ta trong suốt cuộc đời giáo hóa của Đức Phật ta nghe cái câu chuyện tương tự như vậy rất là nhiều. Nghĩa là một số người đang tinh tấn tu tập rồi có lẽ tới cái lúc chín muồi Đức Phật thì Ngài không thể mà đi mọi nơi đánh thức người ta một lần cuối nơi
[45:09]cái lúc mà nhân duyên đã chín muồi để người ta chứng ngộ, hầu hết Đức Phật đều dùng thần thông. Nghĩa là Ngài ở một nơi nhưng mà ở khắp mọi nơi các vị tỳ kheo ngồi thiền mà vị nào đã tới lúc chín muồi cần một sự đánh thức cuối cùng thì Đức Phật đều phóng hào quang tới. Đều phóng hào quang tới và đánh thức bằng một cái gì đó, bằng một thủ thuật gì đó, mà phần lớn là bằng một bài kệ thì làm cho các vị chín muồi, chứng ngộ như vậy. Mà các vị thiền sư sau này cũng vậy, khi mà tới cái duyên chín muồi hoặc là các vị tự mình chứng ở trong thiền hoặc là các vị tự mình chứng trong đời sống, mà có nhiều vị thì cũng nhờ thầy khai ngộ.
[45:49]Có khi nhờ thầy đánh một cái ngộ, có khi thầy hét cái ngộ, có khi thầy nói một câu gì đó lại ngộ. Thì cũng như vậy, mà cái vai trò của ông thầy là đánh thức một cái cuối cùng để cho người đệ tử chứng luôn. Chứ nhiều khi không có ông thầy đánh thức, cái thời gian nó lại kéo thêm mất mấy năm, có khi mất luôn một kiếp, ví dụ vậy, rồi cũng chứng, nhưng mà mất thời gian. Còn nếu có ông thầy đánh thức một cái, nhiều khi ta lại đi nhanh, đi nhanh hơn. Vậy. Ừ. Thì cái công là vậy. Ở đây qua cái bài kệ và cái truyền tích này, chúng ta thấy cái điều này. Ừ. Thí dụ như hoa Vassika cái cánh héo buổi chiều nó rơi bớt xuống,
[46:30]rồi Đức Phật nói là cũng giống vị tỳ kheo hãy buông rơi hết các tham sân. Rồi bây giờ, ví dụ bây giờ thầy nói các Phật tử: "Quý Phật tử bỏ tham đi, bỏ sân đi." Quý Phật tử có muốn bỏ tham bỏ sân không? Muốn không? Muốn. Bỏ được không? Không. Ai mà nói được thì người đó cho lên nóc chùa ở được rồi đó. Hổng được, phải không à? Muốn bỏ tham, muốn bỏ sân, bỏ không được. Hoặc là bây giờ đừng nói tham sân nó sâu xa quá, thầy nói: "Vọng tưởng thôi. Vọng tưởng đang suy nghĩ trong đầu, thầy nói: "Dừng vọng tưởng giùm thầy đi." Được không? Không. Như vậy, như vậy tâm ta có những cái trạng thái mà ý muốn ta không làm được.
[47:20]Ta muốn kệ ta, tâm ta nó vẫn đi theo con đường của nó. Cho nên ai tưởng tâm này là mình thì đó là một cái tưởng sai lầm. Cứ nói tâm này là của tôi, sai. Như vậy nếu tâm của anh, anh định nó một cái thôi liền đừng suy nghĩ được không? Không. Anh dứt trừ ích kỷ được không? Không. Như vậy tâm đâu phải của anh, nghĩa là anh muốn mà mà nó đâu theo ý anh, vậy thì tâm đâu phải là anh. Như vậy chỗ này ta vỡ ra được một điều rất là logic, rất là hiển nhiên mà Đức Phật đã nói đi nói lại rất nhiều lần: tâm này không phải ta, không phải của của ta. Rõ ràng, ta muốn mà nó đâu theo ý ta đâu. Ví dụ bây giờ cái tay này phải của ta không?
[48:04]Ví dụ nói bây giờ nói tay này của thầy, nói bây giờ thầy gãi đầu coi cái nó vô nó gãi. Phải không à? Thì mình thấy giống như là à đúng là của tui nè, thấy tui muốn cái nó vô nè, thấy đâu. À. Nhưng mà bây giờ nói đừng già, được không? Không. Tay đẹp như là tay hoa hậu được không? Không, nó cứ vầy hoài. Chỉ có nước mà muốn nó đẹp như hoa hậu thì phải làm sao? Phải đi thẩm mỹ viện Cát Tường nha. Nên thấy vậy chớ nhiều khi cũng hổng phải của ta. Hổng phải của ta rồi đó. Như là bị đồi mồi nói đừng đồi mồi, thầy già cứ phải đồi mồi thôi, ráng chịu, vậy. Thì cái tâm này không phải là ta, không phải của ta nên ta ra lệnh nó không được, ta muốn nó không được.
[48:46]Mà hiểu một điều rồi đúng là vô ngã, không có cái gì là ta. Muốn dừng suy nghĩ đâu dừng được. Như vậy, cái ta muốn, cái muốn nó phải ta không? Coi chừng cũng không phải ta luôn á, phải không à? Cái suy nghĩ phải ta không? Rõ ràng mình điều khiển nó không được. Rồi cái tham sân phải của ta không? Mình điều khiển nó không được. Như vậy ta là cái gì? Vậy ta là gì? Ta không là gì hết. Không có gì là ta hết, phải không à? Ngang đây mình ngộ chưa, chứng A-la-hán chưa? Cũng chưa luôn, cũng chưa, đó khổ vậy. Cũng muốn chứng lắm nhưng mà hổng chứng được phải không à, vì nó đâu phải của ta đâu mà chứng.
[49:25]Ha, nhưng mà khổ không? Khổ, đúng. Đó, nói câu trả lời đó là đúng nha. Còn ai nói: "Cái thân này hổng phải ta, tâm này hổng phải ta nên có gì đau khổ." Người đó nói dóc và người đó nói tà kiến, không đúng đạo Phật. Đúng đạo Phật là thế này: thân này hổng phải ta, tâm này hổng phải ta, nhưng có đau khổ. Và chính vì có đau khổ nên ta mới phải phải tu. Đó, người hiểu như vậy mới là chánh kiến trong đạo Phật nha. Ừ. Nhiều người cứ nói kiểu mà cái gì cũng không á, nói ồ tự tại cái gì cũng không hết, mấy người đó nói dóc á. Hoặc là thầy thấy có cái câu nói rất thi vị là: "Sống là động nhưng lòng luôn bất động".
[50:07]Có nghe câu đó như thầy thấy thư pháp hay ghi á. Mà không biết ai được cái đó không thầy cũng không biết, siêu gì không biết nữa. Mà để bắt đầu mà ta làm chủ cái tâm này, tâm yên, dứt được tham sân thì phải làm sao? Cả một quá trình tu tập rất là dày, bởi vì nó không phải ta, nhưng nó tạo nên một cái đau khổ. Và cái đau khổ đó thật là khổ. Mà ai khổ? Có ta đâu mà khổ. Không có ta, nhưng mà có nỗi khổ. Đây là điều sao? Rất là tinh vi, tế nhị trong lý luận của đạo Phật. Ai hiểu được chỗ này mới là hiểu được chánh kiến của đạo Phật nha. Thì hỏi nói không có ta, không có ta thì không có người đau khổ, phải không ạ?
[50:59]Không có người đau khổ nên không cần phải có người tu để hết khổ, câu đó là câu tà kiến. Ai lý luận đưa tới cái đó là người đó tà kiến và người đó phá hủy đạo Phật. Người đó mặc dù nhận mình là đạo Phật, nhận mình là tối thượng thừa, nhưng người đó là người phỉ báng đạo Phật. Mà nói câu này mới đúng nè: không có ta, nhưng có đau khổ. Mình nói ai đau khổ? Hổng cần biết, nhưng có đau khổ và chính vì có đau khổ nên phải có cái tu để chấm dứt sự đau khổ này, mà không nói ta khổ hay ai khổ. Đây mới là trung đạo, đây mới là lý luận trung đạo, nhớ như vậy nha. Chứ còn mai mốt mình gặp nghe ai mà nói gì cũng không,
[51:37]bác hết không khổ rồi khỏi tu luôn, người đó tà kiến ngoại đạo liền. Nhớ như vậy giùm thầy, chỗ này rất là tinh tế. Và cũng vậy, khi Đức Phật nói là như cánh hoa vassika như hoa vassika buông rơi những cánh héo, Tỳ-kheo hãy buông rơi các tham sân. Nhưng mà các Tỳ-kheo buông được liền, ngay đó các ngài buông được liền. Còn mình nghe thì mình chưa buông được. Cái khác nhau giữa mình với các vị Tỳ-kheo đó là gì? Nghe Đức Phật nói xong các vị buông liền, chứng liền, mình vẫn chưa buông được, lý do là gì? Công đức tu hành. Cái công đức tu hành của các vị Tỳ-kheo đó dày quá, cái nhân quả đã đã đủ. Cho nên muốn, vừa nghe Phật đánh thức một cái thì lập tức buông
[52:23]bỏ sập một cái, trong ý thức buông một cái là mất luôn. Như vậy, cũng như vậy, ví dụ trên đời này là ví dụ như bây giờ à ta nói cái cái cây mít, trái mít á, chín đi! Nó có chín không? Không, ta muốn mà buông... vì nó đâu phải của ta đâu mà nó chín, nó đâu có nghe lời ta đâu. Giống như tâm này muốn ngộ đi, hổng ngộ. Kêu mít chín đi, nó hổng chín. Nhưng mà làm sao thì nó chín? Làm sao thì nó chín? Đúng ngày, đúng giờ phải không? Nước đầy đủ, ánh nắng đầy đủ, mọi điều kiện đầy đủ thì đúng ngày, đúng giờ nó chín. Thì cũng vậy, cái nỗi đau khổ của ta vậy, cái khối si ám trong lòng ta cũng vậy, nó sẽ tan vỡ đúng ngày, đúng giờ.
[53:09]Ta đã gieo nhân đầy đủ, ta đã tưới tắm đầy đủ, ta đã tinh tấn đầy đủ, hành trì đầy đủ, thời gian đã tới lúc thì nó phải giác ngộ. Cũng giống như trái mít vậy đó, kêu chín đi chín đi nó không chín, nó không nghe lời mình, nhưng mà mình trồng trọt đàng hoàng, tưới tắm đàng hoàng, bắt sâu bắt cỏ đàng hoàng, mọi cái đầy ánh nắng, gió mát, không khí này đủ hết thì tới lúc nó chín. Chúng ta cũng vậy, chúng ta đã gieo xuống cái nhân của sự tu hành là cái nhân gì? Cái hạt giống ta gieo xuống là giống gì? Đố ai biết cái hạt giống của sự giác ngộ là cái gì? Trời ơi! Đệ tử Phật Quang bao nhiêu năm rồi mà chưa biết cái này, chết à.
[53:54]Lòng tôn kính Phật, nhớ giùm thầy cái đó. Chính lòng tôn kính Phật là hạt nhân để đưa đến sự chứng ngộ, nhớ như vậy. Đó là cái đầu tiên. Đó, sau này ta còn bổ sung lên biết bao nhiêu điều, lòng từ bi phải không ạ, đạo đức của sự khiêm hạ, sự tinh tấn hành trì thiền định, làm biết bao nhiêu phước giúp đời giúp người, đủ thứ hết thì đó mới là thành một cả cái cây, cái giác ngộ sum sê, đó mới hiện ra trái mít giác ngộ nha. Chứ còn ban đầu hạt giống ban đầu là sự kính trọng, tôn kính Đức Phật. Nghĩa là không biết có nhân duyên gì đó, hoặc là đời xưa chúng ta đã từng gặp Phật, hoặc là đời xưa ta từng gặp một vị A-la-hán,
[54:37]hoặc là căn cơ thấp hơn hoặc là đời sau này ta được nghe về kinh Phật, ta nghe về Đức Phật, nghe về các vị A-la-hán mà mình có tin, có hiểu, có tụng niệm, có lễ bái và sự kính trọng dâng lên trong lòng mình từng ngày, từng ngày thì đó là chính là hạt giống của sự giác ngộ nha. Nếu có thì ở đây thầy không biết là quý Phật tử thuộc căn cơ nào. Đó, thầy nói lại có ba cái trường hợp căn cơ của một người mà gieo cái nhân giác ngộ đó: Một là đã từng trực tiếp gặp được Đức Phật. Ở đây có ai chưa?
[55:15]Hổng biết, có khi có à chứ đừng cũng đừng khinh mình. Biết đâu đời xưa mình đã có gặp Phật rồi, không lường được đâu, có khi có rồi. Đó, nhưng mà thay vì người ta tới người ta xới bát cúng Phật mình đứng mình chống tay mình dòm, nên giờ này ngồi đây nha. Chứ còn mình lại mình xới bát cúng Phật thì giờ này mình ngồi đâu trên trời rồi nha. Thì đó, đó là căn cơ thứ nhất là đã từng gặp trực tiếp Đức Phật nha, và nhờ cái nhân duyên đó khởi lên lòng tôn kính. Trường hợp thứ hai là gặp một vị Thánh cỡ như A-la-hán hay A-na-hàm cao cao và lòng mình cũng dâng lên một sự tôn kính, có cái cúng dường, đó là cái nhân duyên thứ hai.
[55:50]Mà phải có cái tôn kính mới gọi là có cái nhân để giác ngộ. Và thứ ba là thấp hơn. Thấp hơn thì ta cứ thấy như mình quên hết rồi, mình nhớ giống như tất cả chúng ta đều là cái trường hợp thứ ba này, là sinh vào thời không có các vị Thánh mà ta được xem kinh Phật, nghe kinh Phật, nghe kể về Phật, về các vị A-la-hán, lòng ta có tin, có hiểu và có kính trọng. Mỗi ngày ta tụng niệm, ta lễ bái và cái sự tôn kính đó dâng lên trong lòng dần dần, dần dần và đó chính là hạt giống giác ngộ đang nảy nở trong tâm hồn ta, trong cái nghiệp của ta trên con đường luân hồi của ta để mà ta hướng về sự tu tập giác ngộ.
[56:35]Đó như vậy, có ba cái trường hợp như vậy. Thì không biết là trường hợp nào, nhưng mà trường hợp nào thì cái hạt giống đã gieo xuống rồi thì cây phải vươn lên, ta phải tưới, phải tắm, phải bảo vệ. Thì vì sẽ có ai tới chặt, có ai tới đi dẫm đạp, có sâu nó ăn, cỏ nó lấp, rồi thiếu phân, thiếu nước, thiếu ánh nắng. Cái cây bồ đề ta gieo trồng bỗng nhiên có người lại đạp nghĩa là gì? Nghĩa là gì? Nghĩa là có người nào đó bằng bạo lực thô bạo mà bắt ta bỏ đạo và ta bị cái sự đàn áp đó mà ta bỏ đạo, đó là trường hợp bị đạp, bị chặt. Rồi có sâu đục nghĩa là gì? Rồi cây hư nghĩa là gì? Sâu đục nghĩa là những họ không dùng bằng bạo lực mà họ rỉ tai, họ nói bậy thôi.
[57:27]Họ giải thích đạo lý kiểu khác cái làm cho ta mất niềm tin đối với với Phật pháp, đó là bị sâu đục mất. Rồi bị cỏ mọc lấp lên, cây không lên được nữa nghĩa là gì? Nghĩa là những cám dỗ của cuộc đời làm cho ta say mê rồi ta bỏ tu, quên mất cái lòng tôn kính Phật ban đầu. Những cám dỗ, những lạc thú của trần gian che lấp hết cái cuộc đời tu hành của ta. Rồi thiếu phân là gì?
[57:57]Thiếu phước nha. Thiếu nước là thiếu gì? Thiếu đạo đức. Thiếu ánh nắng là gì? Thiếu tiếp tục được những bậc minh sư dẫn dắt hết kiếp này tới kiếp khác. Đó vậy. Còn nếu ta có ánh nắng, được những bậc minh sư dẫn dắt hết kiếp này tới kiếp khác, ta có nước, tức là ta luôn luôn bồi dưỡng đạo đức mãi trong tâm hồn mình, ta bón phân, nghĩa là ta luôn luôn làm nhiều việc phước, ha, không để bị cỏ lấp, tức là không để bị những lạc thú trần gian vùi dập mình, không để bị sâu đục, là không cho ai rỉ tai nói bậy mà làm mình mất đạo tâm, và sao? Lập hàng rào bảo vệ không có ai giẫm đạp vào cây bồ đề của mình. Thì như vậy sao?
[58:37]Cây bồ đề của ta sẽ càng ngày càng càng lớn và mấy năm thì cho ra quả chín? Cây mít thì 3 năm, mình mấy năm? Mình mấy năm? Mình cũng ba... 3.000 năm nha. Như vậy.
[58:58]Ở đây thầy nói chỗ này chút xíu nè: Tỳ-kheo cũng như vậy buông rơi hết tham sân. Chữ "buông rơi" này là một động từ nha. Buông rơi là một động từ, nó giống như có một hành động. Và nếu ta đọc trong kinh Nikaya ta sẽ thấy rất nhiều cái động từ chỉ cho cái sự tu hành như thế này. Ví dụ như là diệt trừ như là hãy diệt trừ cái tâm tham lam, ích kỷ, diệt trừ; hãy đoạn trừ, vậy; hãy buông bỏ, hãy xa lìa, hãy dứt sạch. Tức là những cái từ đó trong kinh như vậy để xóa bỏ, diệt trừ đi những cái xấu á. Ta nghe những động từ nè: diệt trừ, đoạn trừ, buông xả, xa lìa, dứt sạch, bỏ đi. Ta tưởng giống như có cái hành động thật sự ha.
[59:41]Ta tưởng cái hành động và ta tu mà ta hành động thì ít bữa điên á. Nhớ như vậy. Trong kinh thì dùng những cái từ như là động từ, nhưng sự thật cái sự tu hành nó nhẹ nhàng, rất nhẹ nhàng. Không có gì căng thẳng, không dằn ép, không nặng nề trong cái bộ não của mình, trong tâm hồn của mình nha. Nên có nhiều người nói diệt trừ, cái ngồi găm găm dòm tâm mình nó khởi lên: "Diệt, diệt!". Thì được ba bữa là đi nhà thương liền. Bởi vì nó vô hình vô tướng, tâm vô hình vô tướng mà diệt làm sao mà diệt? Rồi ngồi đó dằn ép là chết liền. Mà thường mà người như vậy cũng là do thiếu phước mới dụng công sai. Còn mình dụng công đúng nhẹ nhàng nhẹ nhàng thôi, vậy mà tiến từ từ nha.
[1:00:24]Ví dụ như bây giờ mình thấy vừa có cái tham khởi lên. Mình thấy có cái tham khởi lên. Ví dụ như mình huynh đệ vô chùa ngồi ăn, cái mỗi người bưng một cái tô cơm, một cái tô cơm múc thức ăn hết ngon đi về chỗ mình ngồi. Ai cũng đặt cái tô cơm xuống, cái người kia cũng múc tô cơm. Nhưng mình phát hiện cái người kia họ múc sao được mấy món ngon hơn của mình. Hồi nãy sư phụ Từ Tân có hứa hẹn là Lễ Thành đạo tới 30 món buffet đó là mình đã thấy rộn ràng trong tim hết rồi nha. Rộn ràng á, tới ngày đó mình múc đâu hết được 30 món, thì mình múc vài món. Mình lựa mấy món này thấy ngon mình đặt xuống rồi người kia cũng
[1:00:59]đặt xuống, phát hiện ra người kia họ lựa được cái món ngon hơn. Cái họ đứng đây: "Chị coi giùm tui, tui mắc đi vô trong kia". Cái mình đổi, mình đổi mâm nữa hả? Đổi mâm này ăn ngon hơn. Thì cái đó là gì? Đó là tham ăn, phải không ạ? Tham ăn, tham lam và hơi hơi gian dối. Sau khi mình đổi cái mâm qua rồi mình mới nói: "Đây là tâm tham, mình phải làm sao? Diệt nó đi! Diệt đi!". Mình ngồi mình nói: "Diệt đi, diệt đi!", rồi mình cứ ăn cho hết cái khay đó luôn thì sao, có diệt không?
[1:01:34]Cái diệt thật sự ở trong tâm á chỉ một ý niệm nhẹ là nó bứt à. Mà nó chưa bứt là tại vì nó chưa chịu bứt thôi, chưa tới lúc chứ không có được dằn ép nha. Không có vừa được vừa nhai cái mâm cơm của người ta mà vừa nói: "Diệt cái tham ăn đi, diệt tham ăn đi", không phải. Không có dằn ép nha, mọi việc rất là nhẹ nhàng. Ta nghe bài Pháp Cú: "Thân tướng rất an tịnh, lời nói cũng an tịnh, nội tâm cũng an tịnh, xứng danh bậc tịch tịnh." Phật nói câu này để khen một cái vị tỳ-kheo. Tức là tỳ-kheo Santakaya, ngài có cái oai nghi, cử chỉ, lời nói chuẩn mực, điềm đạm. Mà ngài điềm đạm đến cái kỳ lạ nó trở thành một sức hút.
[1:02:17]Ví dụ như nè có hai cái dạng người có cái điềm đạm, trầm tĩnh. Một dạng người mình trầm trầm, ít nói ha, không đụng tới ai và mọi người cũng thấy mình là vô hại. Mình cũng ít nói, cứ cứ cười cười, trầm trầm. Đó là cái dạng người trầm trầm thứ nhất. Nhưng còn một dạng người trầm trầm thứ hai, họ trầm một cái họ như hút cái nam châm hút mình vô, họ như cái hố đen hút hết mọi vật vô trong á. Chúng ta đã gặp người như vậy chưa? Đàn ông mà trầm đến cái mức độ hút người ta rồi giết phụ nữ hết. Gọi là tay sát gái á. Hổng, thầy nói thật, nó cũng có loại người như vậy. Hút người ta làm cho người ta cứ lạ lùng về mình. Tại sao, vì sao?
[1:03:00]Vì như Khổng Tử nói: "Tại sao nước trăm sông đổ về biển? Bởi vì biển thấp hơn trăm sông." Thì tại sao mà cái hố đen nó hút hết tất cả mọi vào trong nó? Bởi vì nó tại nó hút hết, không biết nó hư vô cái gì đó. Nó hư vô không có cái gì thoát ra được hết. Cũng vậy, trong cuộc sống này, ví dụ cái người mà họ trầm đến mức độ thứ nhất thì người ta chỉ biết họ là người hiền lành, trầm lặng thôi. Nhưng họ trầm lặng đến cái mức độ nào đó họ bỗng nhiên trở thành cái sức hút lạ lùng. Mình gặp người đó cái mình cứ bị hút vào. Có ai bị cái đó chưa? Có ai bị nó đi lên chùa Từ Tân sám hối liền nha không, đừng để thì chết à.
[1:03:41]Thì ngài tỳ-kheo này cũng vậy, ngài ngài trầm đến cái mức độ ngài trở thành cái sức hút luôn. Lời nói, ánh nhìn, cử chỉ ngài trầm lặng bỗng nhiên thành cái sức hút. Rồi các tỳ-kheo khác cứ tán thán, cứ ngưỡng mộ cái sự trầm lặng kỳ lạ đó. Trầm lặng mà đến trở thành sức hút. Cái mới nói là mới thêu dệt cái ông này chắc là do sư tử đẻ ra, chứ người không có đẻ ra được một loại người kỳ lạ như vậy. Tức là cái trầm lặng này nó từ một cái sức mạnh nội tâm nào đó, từ sức mạnh nội tâm kỳ lạ làm cái trầm lặng kỳ lạ hút mọi người hướng về. Mặc dù ngài không có tác ý nhưng mà sự trầm lặng, chuẩn mực của mình thì hút hết mọi người.
[1:04:21]Thì khi các vị tỳ-kheo mới trình lên Đức Phật là tại sao mà tỳ-kheo Santakaya ổng trầm lặng, oai nghi, điềm đạm đến như vậy? Có phải ổng từ sư tử đẻ ra không? Hồi xưa họ cứ thần tượng con sư tử như vậy. Thì Đức Phật khen, mà khen bằng bài kệ như vậy: "Thân tướng rất an tịnh, lời nói cũng an tịnh, nội tâm cũng an tịnh, xứng danh bậc tịch tịnh." Đức Phật khen ngợi như vậy và khuyến khích đại chúng là cũng phải noi theo như vậy, phải sống như là là một bậc thánh như vậy. Hồi nhỏ thầy nhớ thầy có xem cái phim Godfather, tức là Bố Già mafia. Ở đây có coi chưa ạ? Luciana đó, ông trùm á. Mà ông trùm khi mà ổng chết đi thì người mà
[1:05:07]lên tiếp quản cái quyền lực của ổng là ai? Đứa con trai út phải không à? Đứa con trai út. Người con trai út lên lên tiếp quản cái quyền lực mà cái diễn viên đóng cái phim đó trầm lặng, lạnh lùng, đóng rất là hay. Nhưng mà không hiểu tại sao cũng diễn viên đó tới chừng về già rồi cái ổng lại đóng mấy phim lóc chóc không à, những cái vai lóc chóc. Thầy cũng ngạc nhiên và thầy nghĩ có lẽ là tại vì họ không phải là người trong Phật pháp. Tại vì người trong đạo Phật á, cái sự trầm lặng của người ta nó là bản chất, cho nên nó ổn định, nó kéo dài. Còn cái trầm lặng của một diễn viên nó chỉ là cái gì?
[1:05:42]Diễn xuất và tập luyện, diễn xuất và tập luyện. Cho nên nó không kéo dài. Rồi hoặc là ví dụ như thầy nói qua bên Hồng Kông có một diễn viên mà nhiều người thích mà thầy cũng thích là Lương Triều Vỹ. Có một cái nội tâm diễn tả được cái nội tâm qua ánh mắt, nhiều khi rất là trầm lặng nha, dằn xé và trầm lắng. Nhất là trong bộ phim Vô Gian Đạo. Nghe nói thấy thầy coi phim nhiều quá hả? Nhưng bộ phim á là ổng dằn xé cái nội tâm giữa cái lẫn lộn giữa thiện và ác, nó phải giữ mình trong cái thế giới ác. Mà giữ mình đó dằn xé làm theo như kẻ ác mà phải giữ mình luôn luôn là một điều thiện. Bởi vì được cảnh sát gài vào trong cái cái thế lực
[1:06:27]xã hội đen mà, cho nên phải làm giống như xã hội đen, nhưng lúc nào phải giữ mình là cái người thiện. Thì cái sự dằn xé giằng xé của nội tâm nó thâm trầm, diễn viên đó hay. Và cái đôi mắt đó, cái phong cách đó nhiều diễn viên khác thấy rồi bắt chước, bắt chước không được. Bắt chước làm cũng gượng gượng không bằng. Do đó người ta vẫn thích Lương Triều Vỹ là vậy. Mà tại sao như vậy? Bởi vì Lương Triều Vỹ thầy không biết, chắc là đời xưa có tu nhưng mà nó có cái sự trầm lắng đó. Nó có sự trầm lắng đủ chín để có thể thể hiện được những cái vai đó. Còn những người khác không đủ cái sự trầm lắng đó cho nên ráng đóng cái cảnh nào đó chút xíu vậy rồi qua khỏi đó thì mất, như vậy.
[1:07:07]Còn cái tỳ-kheo Santakaya này nó là một cái bản chất. Còn chúng ta thì học theo các bậc thánh, ta cũng bắt chước. Bắt chước vì ta gieo nhân làm thánh. Nên khi một người xuất gia vào trong đạo được nhắc nhở, dạy dỗ các oai nghi của một bậc thánh mặc dù mình chưa phải thánh. Để làm chi? Để tập cái đời sống của thánh, phong cách của thánh và để làm gương cho cho chúng sinh. Vì chúng sinh, ví dụ Phật tử họ vào chùa mà thấy ông thầy ổng tự nhiên ổng leo cây, ổng lấy hai cái chân ổng khoèo cành cây, ổng chúc đầu xuống dưới ổng ngồi giỡn rồi ổng cầm cái trái, trái bôm ổng nhai nhai như vậy mình thấy được không?
[1:07:49]Thấy kỳ ha, giống như con nít giỡn chơi. Thế rồi ông thầy tỳ-kheo phải điềm đạm đến nỗi mà Phật cấm leo cây luôn á. Trong cái giới của của thầy tu là không được leo cây, bởi vì cái hình ảnh leo cây coi nó hơi giỡn chơi quá. Chỉ có một lần có vị tỳ-kheo trong rừng bị cọp rượt thì lúc đó Phật mới cho leo cây né cọp. Phật chế ra, chứ còn bình thường Phật không cho leo cây. Nhưng mà bây giờ nhiều khi đời sống của nông thiền thì trong chùa có khi phải leo cây, cắt cành, cắt củi rồi thì thôi vậy đành phải chịu. Chớ Đức Phật bắt giữ oai nghi dữ lắm. Phải điềm đạm, đi đứng, nói năng phải đàng hoàng, không có giỡn hớt để tập, tập từ cái tướng mà đi vào tâm.
[1:08:32]Còn cái người chứng á họ đi từ tâm ra ra tướng. Nhớ vậy, nên ta không có được coi thường cái hình thức. Mà nếu ta làm cái hình tướng đúng nó cũng sẽ giúp kiểm soát được nội tâm. Ví dụ bây giờ ông thầy ổng bắt chúng ta đi đàng hoàng, đi thong thả thì để đi được đàng hoàng, thong thả buộc ta cũng phải kiềm chế chính mình, rồi cũng kiềm chế được tâm mình. Đó là dùng tướng để đi vào tâm. Còn trường hợp ngài Santakaya là ổng từ tâm ra tướng, nội tâm ổng trầm lặng cực độ và mọi cử chỉ, oai nghi đều điềm đạm, chuẩn mực. Đó là tấm gương. Còn ta thì không bằng ngài cho nên ta đi từ tướng vào tâm. Lúc nào cũng giữ gìn cử chỉ, thân tướng đàng hoàng,
[1:09:17]nhờ vậy mà kiểm soát nội tâm của mình, như vậy. Có bài kệ: "Tự mình chỉ trích mình, tự mình dò xét mình, tỳ-kheo tự phòng hộ, an lạc trong chánh niệm. Tự mình y chỉ mình, tự mình đi đến mình." Câu này hay ghê: "Tự mình đi đến mình. Tỳ-kheo tự điều phục như nhận con ngựa mới."
[1:09:44]À cái bài kệ mà Đức Phật nói thế này, khen một tỳ kheo thế này vì có câu chuyện thế này cũng rất là hay. Có một cái anh nông dân tên là Nangalangula, tên Ấn Độ xưa dài quá, làm thuê và nghèo. Coi như là tài sản của anh chỉ có chiếc khố rách và một chiếc cày vác trên vai để đi cày mướn. Lần đó gặp một vị tỳ kheo, có lẽ vị tỳ kheo này cũng chứng đạo, biết anh a biết anh là người có thiện căn mới kêu lại nói: "Nè, con đi làm cực khổ vậy thôi đời sống bên ngoài có gì vui đâu mà con cứ lăn lộn mãi để làm gì? Nỗi cưới vợ còn không có tiền cưới, không ai thèm lấy mà. Thôi thôi đi tu cho rồi." Anh này nghe bùi bùi tai cái đi tu.
[1:10:31]Thì vác cái cày với cái khố về tới tinh xá thì ông thầy ổng kêu con gác cái cày với cái khố rách của con để đó, mặc cái áo này, mặc quấn y cà sa vô. Dạ. Thì từ đó anh đắp y cà sa, đời sống không cực khổ nữa thì cũng đi khất thực, ai cho gì ăn nấy thì nó cũng không có quá đói như lúc mà đi làm thuê. Dạ. Nhưng mà lâu lâu vậy đó, bắt đầu ảnh phiền não à. Tại cái thật ra người tu chứ không phải là đi vô chùa rồi là yên. Vô chùa rồi cũng giận, cũng hờn, cũng tự ái, cũng nhớ thế gian, phải không? Rồi nhớ cái cô đó mình đang để dành tiền cưới cổ, không biết giờ cổ ra sao, đại khái vậy, cũng nhiều cái phiền muộn, vọng tưởng trong tâm lắm.
[1:11:07]Rồi phải đấu tranh với mình cực lắm chứ không phải là dễ, người xuất gia. Mỗi lần vậy cái ảnh ảnh đi lại cái cây đó, ảnh đứng ảnh nhìn cái cái cây cày với cái khố. Để làm chi à? Để mà tự hù mình, phải không? Anh nói: "Bây giờ mày muốn là trở lại với cái cày và cái khố rách này hay là muốn sống một đời thanh thản, tu hành, an tịnh nội tâm? Muốn gì?" Xong cái ảnh quay về trở lại tu tiếp. Tu được năm bảy bữa cái đầu phiền não, cái lại ra đứng trước nhìn cái cày đó với cái khố rách đứng hăm nữa: "Mày muốn gì? Mày muốn vác cái này trở lại phải không? Hay là mày muốn ôm cái bát đi thong dong tự tại, tu hành giữa đời?
[1:11:45]Hay muốn vác cái cày đi làm thuê người ta?" Nói xong lát cái quay trở lại tu tiếp, đại khái vậy. Cái a cái nhiều người mới thấy anh này: "Ủa sao ổng cứ lâu lâu ổng đi ra bờ dậu đứng cái cây ổng làm hoài?" Hỏi: "Anh đi đâu vậy?" Anh nói là: "Dạ, tôi đi đến gặp vị giáo thọ sư của tôi." Câu trả lời cũng rất là... Khiến cho người kia thôi không thắc mắc nữa, tưởng đi gặp ai chứ gặp giáo thọ sư tốt rồi. Cái ảnh tu riết thời gian ảnh chứng đạo luôn. Cái như ảnh không tới cây đó làm chi nữa, cái mới nói: "Ủa, sao lúc này anh không gặp giáo thọ sư nữa?" Cái anh kia mới nói là: "Không, bây giờ tôi tự đi đến với chính mình,
[1:12:15]không đi đến giáo thọ sư nữa." Cái câu trả lời nó bí hiểm quá! Câu trả lời mà giáo thọ sư cũng không biết là ông nào, mà giờ không đi nữa mà lại trả lời: "Thôi, tôi đã tự đi đến với chính mình được rồi, không không đến giáo thọ sư nữa." Cái mới lên mách Phật. Thì Đức Phật biết, Đức Phật biết hết mọi chuyện, Ngài mới khen bằng một bài kệ, một bài kệ nó rất là lãng mạn, thi vị ha: "Tự mình chỉ trích mình" - đó, mày muốn sao? Mày muốn... - "Tự mình dò xét mình, tỳ kheo tự phòng hộ, an lạc trong chánh niệm. Tự mình y chỉ mình" - tức là giai đoạn đắc đạo - "Tự mình đi đến mình, tỳ kheo tự điều phục, như nhận con ngựa mới."
[1:12:52]Bài Pháp Cú dễ thương ha, bài kệ dễ thương vô cùng, đó. Ở đây qua cái bài này ta biết điều này: là thật ra cái người xuất gia rồi là chưa phải yên liền, do những cái nghiệp cũ còn nên dằng xé, dằn vặt, đấu tranh dữ lắm chứ không phải là hết đâu. Nhưng mà nhờ cái môi trường mình sống trong đại chúng, được huynh đệ thấy, huynh đệ nhắc nhở, thầy bạn thấy nhắc nhở, dạy dỗ rồi lễ sám hối thường xuyên, cứ mỗi nửa tháng là đem ra sám hối nói lỗi mình. Cứ nhờ vậy mình chiến đấu với những sai lầm phiền não, rồi từ từ cái đời tu mình đi vào trong cái yên ổn, đạo lực mình càng lúc càng lớn dần, lớn dần, rồi lần lần cái mình mới trở thành cái chỗ nương
[1:13:28]tựa cho người khác, chứ ban đầu là mình toàn tựa người khác thôi. Mà riêng cái vị cái vị tỳ kheo này rất là hay, ha? Mỗi lần ổng phiền não cái ổng lại tới con giáo thọ sư ổng là cái cày với cái khố mà rách te tua hết trơn. Mà mình cũng không được, trong kinh không nói rõ là rách tới mức độ nào, bao nhiêu phần trăm, cũng không biết được. Bị khố đã khố rồi mà rách nữa thì rất nguy hiểm, rất nguy hiểm nha. Thì ở đây cái này à Ngài có một cái lối tự điều phục mình bằng cái lời đối diện với cái cày và cái khố rách để đối diện với cảnh khổ thế gian mà tự quở trách mình, tự điều phục mình, tự dặn dò mình, tự kiềm chế mình.
[1:14:10]Còn chúng ta bây giờ thì làm sao? Chúng ta bây giờ làm sao? Ví dụ cái người đi tu, ví dụ tưởng tượng mình là người xuất gia đi. Bây giờ tất cả mấy ngàn người đây cứ tưởng tượng mình đang là người xuất gia đi, nha. Mỗi khi mình có phiền não mà mình muốn tự quở trách mình thì làm sao? Lúc này mình đâu có cái cày với cái khố rách đâu. Thì mình làm sao? Phải không? Mà ví dụ như cái vị đó có cái cày và cái khố rách, tức là nó là biểu tượng của cái gì? Của sự khốn khổ giữa cuộc đời phải không ạ? Người ta thấy rất là rõ. Còn mình đồ toàn đồ modern không à. Ví dụ ví dụ bây giờ nếu mình vô xuất gia rồi cái mình treo ra ngoài cái cành cây,
[1:14:50]cũng bắt chước người ta treo lên cây, treo lên cái quần jean gì đó mấy triệu, treo lên cái áo đầm gì đẹp quá, ra đứng ngắm đó lát còn mê nữa phải không? Đâu có khố rách. Như vậy bây giờ nếu mình muốn răn nhắc mình, tự mình điều phục mình, tự mình răn nhắc mình, tự mình hăm dọa mình thì mình nhìn vào cái gì? Nhìn gương dòm mặt thấy mình đẹp quá không sao. Thấy gì? Giờ nhìn cái gì nè? Nhìn cái gì? Thôi, hôm nay a Thầy không trả lời câu này nha. Mọi người về tự suy nghĩ. Hôm nay Thầy xin phép được nghỉ sớm một chút, vì à thế này: vì vừa rồi Thầy có phổ một bài nhạc từ một bài thơ của một Thượng tọa, Tiến sĩ là Thích Minh Thành.
[1:15:33]Là Ngài Ngài đi nước ngoài, đi vân du nơi này nơi kia, nhất là qua Mỹ, thì Ngài nói rằng: "Thật ra trên đời này không có đâu là miền đất hứa hết." Nha, cái lời hứa, cái sự hứa hẹn chính nơi nơi mọi điều bình dị trong cuộc sống này, nơi quê hương của mình mà nơi tâm hồn của mình. Nên Ngài mới viết cái bài thơ là Hứa, Hứa. Hôm mà cùng đi với nhau ở chỗ lễ hội Trần Nhân Tông ở ngoài ngoài Yên Tử á thì Thượng tọa có đưa cho cho Thầy cái bài thơ và hỏi Thầy là lúc này còn viết nhạc không? Thầy nói vẫn còn đều đều. Thì Thượng tọa mới kêu Thầy phổ bài này. Thầy đã phổ xong, hòa âm xong, hát xong. Và chúng ta sẽ nghe ca sĩ hát bài này nha.
[1:16:25]Đâu là miền đất hứa?
[1:16:55]Thấy không đứa qua cầu? Có quay về bến cũ,
[1:17:07]hái hoa vàng biển sâu? Gió ghé thăm thầm tự hứa, sẽ tươi xanh mênh mông cánh đồng.
[1:17:24]Rừng cây lớn đâm chồi chồi nhú, rót tặng người niềm ngọt ngào.
[1:17:36]Nước âm thầm tự hứa,
[1:17:43]sẽ cho loài cây mơ.
[1:17:48]Suối đưa người đi lễ,
[1:17:53]nắng bên chùa ban sơ.
[1:17:59]Gió âm thầm tự hứa,
[1:18:05]sẽ đưa nắng xuân về.
[1:18:11]Bay lên niềm hạnh phúc, cho nụ hồng xum xuê.
[1:18:23]Lửa âm thầm tự hứa,
[1:18:29]giữ ấm bếp quê nghèo.
[1:18:34]Làn khói lam quê mẹ,
[1:18:40]ôi quê mẹ thân yêu.
[1:18:46]Ta chắp tay từng giọt lệ, trong phút giây yên bình nơi đây.
[1:18:58]Sóng vỗ về con thuyền ra khơi, nghìn lời thơ dâng hiến cho đời.
[1:19:10]Đâu là miền
[1:19:21]đất hứa? Thấy không đứa qua cầu? Có quay về bến cũ, hái hoa vàng biển sâu? Mùi mới xông lên từ lòng
[1:19:45]đất, những yêu
[1:19:50]thương vươn lên giữa đời.
[1:20:08]Thành hoa lá muôn màu đẹp ngời, cây dịu dàng xòe tay đón mời.
[1:20:20]Nước âm thầm
[1:20:26]tự hứa, sẽ cho loài cây mơ.
[1:20:31]Suối đưa người đi lễ,
[1:20:37]nắng bên chùa ban sơ.
[1:20:43]Gió âm thầm tự hứa,
[1:20:49]sẽ đưa nắng xuân về.
[1:20:55]Bay lên niềm hạnh phúc, cho nụ hồng xum xuê.
[1:21:07]Lửa vui đùa nồng ấm, tiếng hát lúc xuân về.
[1:21:18]Làn khói bay đêm hè,
[1:21:24]hay thu vàng hương quê.
[1:21:30]Ta chắp tay xin dâng lời hứa,
[1:21:36]dâng trái tim yêu người mênh mông. Như ánh trăng trên trời thinh không, niềm bình an soi sáng vô cùng.