[0:09]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:22]Mời quý thầy, quý cô, quý Phật tử ngồi xuống. Hôm nay chúng ta cũng trao đổi tiếp với nhau loạt bài Sự khác biệt, lần này đề tài là Chủ quan và khách quan. Cái chủ quan và khách quan thì có nhiều cái định nghĩa khác. Tùy theo mỗi cái ngữ cảnh, mỗi hoàn cảnh mà người ta hiểu cái nghĩa chủ quan và khách quan khác nhau. Ví dụ như khi nói về những điều kiện để mà thành công hay thất bại thì người ta có nói đến điều kiện chủ quan và điều kiện khách quan. Thì trong đó, điều kiện chủ quan là đặt cái trách nhiệm nơi cái khả năng của cái con người trong cái tổ chức, trong đoàn thể hay trong công ty. Còn nói cái điều kiện khách quan tức là nói những cái hoàn cảnh,
[1:19]những cái điều kiện ở bên ngoài do xã hội, do môi trường, do tình hình, do hoàn cảnh bên ngoài tác động để tạo thành cái thành công hay thất bại của một cái con người, hay một cái đất nước, một cái tổ chức, vân vân như vậy, một ngôi chùa ví dụ như vậy. Đó là mình nói về cái điều kiện. Còn khi mà nói về cái nhận thức của con người, nói à: "Cái nhận định đó là chủ quan, cái nhận định đó là khách quan." thì qua tới cái vấn đề nhận định thì cái chữ chủ quan và khách quan nó lại mang cái nghĩa khác. Nó không còn là nghĩa bên trong của cái nỗ lực bản thân hay là cái nghĩa khách quan là cái nghĩa bên ngoài nữa, nó không còn nữa,
[2:07]mà lúc đó cái chủ quan hay khách quan nó đều có nghĩa là ở bên trong hết. Ở bên trong hết. Nhưng mà cái nhận định mà có tính cách chủ quan á thì họ nhận định theo cái cảm nhận riêng, có thành kiến, có áp đặt. Ví dụ khi mình nhìn một người nào đó mà mình không ưa thì mình nói rằng người ta dở, người ta xấu. Thì đó là cái nhận định mà nhận định đó có khi là chủ quan, nó từ cái thành kiến, từ cái ác cảm của mình. Còn có khi mình nhìn người đó mình nói người đó dở, người đó xấu mà lại khách quan là vì mình không có cái khuynh hướng, không có thành kiến sẵn, không có ác cảm sẵn. Thì cũng là cái nhận định của mình thôi, ở bên trong mình thôi.
[3:00]Nhưng một cái nhận định thì gọi là chủ quan, một cái nhận định gọi là khách quan, tùy thuộc coi là mình có thoát khỏi được cái thành kiến hay cái ác cảm, thiện cảm có sẵn hay không. Như vậy hai cái nghĩa chủ quan và khách quan nó khác nhau. Bây giờ chúng ta đi qua vấn đề mà nhận định trước. Hôm nay hầu hết cái bài này là chúng ta học để nói về cái nhận định của con người. Chúng ta nói về cái nhận định là vì nhận định nó thuộc về tâm lý, về trí tuệ mà làm cho chúng ta có tạo phước hay tạo nghiệp cũng như vậy. Vì cái vấn đề tốt mà mình nhận định chủ quan mình thấy nó ngược lại thành xấu thì mình sẽ mang tội.
[3:45]Hoặc là cái vấn đề đó là xấu mà theo cái chủ quan mình nhận định nó là tốt để mình đi theo rồi mình cũng đi vào con đường sai lầm. Cho nên hôm nay chúng ta phân tích với nhau về cái vấn đề nhận định chủ quan hay khách quan để từ đây về sau mỗi khi chúng ta nhận xét một vấn đề nào, chúng ta cố gắng thoát khỏi cái thành kiến chủ quan của mình để cho cái việc mà nhận định của mình nó chính xác hơn, mình đến gần với lẽ phải, với chân lý hơn. Vì thậm chí có một người học Phật pháp cả đời, mở miệng nói ra câu nào cũng là gắn với một câu kinh điển nào đó, nói ra cái gắn với một cái câu luận của tổ nào đó, coi chừng cũng là thành kiến chủ quan luôn.
[4:33]Vì mình không đủ trí tuệ mà để thoát ra khỏi cái bối cảnh mà cái kinh điển mình đã học. Vì kinh điển Phật dạy hoặc là thậm chí một cái lời của tổ nói trong một hoàn cảnh nhất định nào đó chứ không phải luôn luôn trong mọi hoàn cảnh. Nên ở đây gọi là cái trí tuệ khách quan để thoát ra tất cả mà tìm ra được sự thật rất là khó, mà rất cần thiết để cho chúng ta hiểu được lẽ phải. Còn không thì chúng ta dễ bị chủ quan. Ở đây trên tổng quát thì chúng ta nói thế này là nếu chúng ta có cái trí tuệ sáng suốt, à khi chúng ta nhìn một vấn đề đối chiếu nhiều mặt, chúng ta hiểu sâu xa thì gần với khách quan.
[5:19]Câu này nói nghe giống thần chú không? Giờ nói lại. Nếu chúng ta có trí tuệ sáng suốt, trí tuệ sáng suốt tức làm cho mình hiểu vấn đề nó cặn kẽ, rõ ràng ra. Nghĩa là khi mình nhìn vấn đề mình không có mơ hồ. Ví dụ bây giờ mình nghe người ta kể về một người phụ nữ và người ta nói rằng người đó là một người tham lam, lăng loàn. Thì đó là điều mà người ta nói vậy, nhưng mà mình không tin liền. Thế là mình mới bằng cái nhìn của mình, mình nhìn người đó một cách khách quan, không có thiên kiến, không có thù ghét phụ nữ hay là không có căm hờn người đẹp người xấu gì hết. Mình nhìn bằng cái mình mình mới đánh giá là từ trước đến giờ mình
[6:03]đã gặp người đó, mình nghe người đó nói chuyện, nghe người đó làm việc, rồi đã từng chứng kiến những cái việc làm của người kia và mình cảm thấy trong suốt quá trình đó những cái việc người kia làm không có biểu lộ của sự mất đạo đức hay tham lam. Không có. Mà mình cân nhắc rất kỹ, người kia nói một câu mở cái ánh mắt nhìn mình đều không thấy có cái vụ lợi ở trong. Bây giờ có người nói tham lam, mình không tin. Vì lúc mà tiếp xúc với người đó mình nhận xét con người đó kỹ lưỡng. Nên cái trí tuệ này nó đã là một cái lâu dài chứ không phải là mình chỉ nghe một sớm một chiều mình tin liền. Ở đây đó, ví dụ cái người trẻ tuổi thì có thể là
[6:46]cái nhận định về một con người không có sắc. Nhưng mà khi người ta lớn tuổi dần dần, cái nhìn của người ta sắc bén. Khi mà chúng ta nói chuyện với một người đối diện hay làm công việc chung với nhau, người kia có cái ý mà muốn vụ lợi, muốn tham tiền coi chứ không qua mắt mình được. Mình nhìn vào trong đôi mắt, mình thấy được cái sự vô tư, sự trong sáng hay sự cầu lợi của người ta. Càng lớn thì người ta càng tinh ý về những điều đó. Nhất là những người mà phải đụng chạm làm ăn trong thương trường thì họ càng tinh tế lắm, khó ai qua mắt được, không phải dễ tin. Còn người nhỏ chỉ chưa kinh nghiệm thì còn có thể
[7:25]bị lời nói dụ, chứ người lớn thì không bị. Nên cái gọi là cái nhận định đó qua nhiều năm tháng mình gặp con người, tiếp xúc với một con người nó rõ. Bây giờ có người khác nói một điều gì đó, mình không tin liền, mình nhận định lại. Hoặc là có một người khen người kia là người quang minh chính đại hay tối ngày lo việc đạo lo việc Phật pháp. Nhưng mà khi mình nhớ lại những cái giây phút mình đã gặp cái người kia thì mình thấy rằng là trong những lúc mà nói chuyện, đôi mắt và những câu nói mình cảm thấy có cái vụ lợi, con người này còn tư lợi chứ chưa phải là người hoàn toàn làm việc thiện. Thì bây giờ mình nghe người ta khen cái người này
[8:04]lo làm việc Phật pháp không, mình hồ nghi liền. Hồ nghi bởi cái trí tuệ mình nhận định cũng lâu dài, mà lúc đó lòng mình mình không có thương ghét ai nhiều, và mình thấy coi chừng cái Phật pháp này có phải chăng là một cái chiêu bài mới để họ cầu cái lợi gì chăng? Dè dặt để lại, cũng không vội đánh giá, nhưng mà dè dặt xét lại. Đó gọi là có trí tuệ đó. Mình đã đánh giá từ nhiều ngày nhiều tháng, à bây giờ trong một lúc mình không có dễ mà thay đổi. Gọi là có cái trí tuệ mình nhận định từ lâu. Và khi nhìn vấn đề phải đối chiếu nhiều mặt. Ví dụ có một người ở trong nhà mình thấy có một lần mình thấy
[8:43]chứng kiến người này đánh một đứa con hơi dữ, rồi khi đi ra ngoài mình thấy là đối xử với người ăn xin thì lại rất là dễ thương, à lúc mà tiếp chuyện với bạn bè thì lại lịch sự. Mình phải đối chiếu nhiều mặt rồi mới kết luận con người này thuộc loại người nào chứ không phải là chỉ nhìn một chiều mà đánh giá liền. Đó là đối chiếu nhiều mặt. Hoặc là bây giờ có người nói đạo Phật là một đạo thụ động, ích kỷ, chỉ lo giải thoát cho riêng mình. Ví dụ mình nghe một câu nói như vậy thì mình bắt đầu ngồi suy nghĩ lại, không tin liền, đối chiếu nhiều mặt. Ví dụ mình không biết nhiều về giáo lý, à bắt đầu mình quan sát.
[9:23]Ở cái chùa bên cạnh mình thì có mấy thầy đó sống coi bộ thầm lặng, tối ngày chỉ nghe tiếng chuông tiếng mõ, ít thấy tiếp xúc. Đúng cái chùa đó có vẻ thụ động. Nhưng mình dòm qua cái chùa bên kia thì thấy lâu lâu lại đi tổ chức đi cứu trợ nơi này nơi kia, thăm cái người trại mồ côi, đi cứu trợ nạn lụt, thì thấy bên này đạo Phật lại có vẻ năng nổ. Rồi hôm khác mình lại thấy là tổ chức một cuộc thuyết pháp đông đảo cho nhiều người nghe thì thấy như vậy đạo Phật ở mặt này ở chùa này thì đạo Phật có vẻ là năng nổ, năng động để làm việc để giáo hóa, thuyết pháp. Đó, nghĩa là khi xét một vấn đề mình không có nhận định
[10:03]một chiều, đi qua nhiều góc cạnh để nhìn ra cho hết. Đó gọi là mình biết đối chiếu nhiều mặt để thoát cái thành kiến. Vì khi nghe một người nói hay khi mình nghĩ một điều gì, có thể là mình bị thành kiến. Ví dụ bây giờ, ừ đầu tiên mình nhìn thấy một người đeo cặp kính trắng, mặc áo sơ mi trắng bỏ trong quần, à thắt cà vạt, cầm cặp táp, thì cái ấn tượng đầu tiên mình nghĩ nó là cái gì? Nghĩ người này là gì? Người này là gì? Một người trí thức phải không? Là có thể làm một công ty nào đó, ngồi ở bàn giấy, hoặc là giám đốc, hoặc là trợ lý giám đốc, hoặc là nhân viên điều hành gì đó. Đó là ấn tượng đầu tiên đập vào mắt mình nghĩ như vậy.
[10:47]Nhưng mà rồi mình phải xét lại liền, mình nói: Cái mà mình nghĩ rằng đánh giá người này có thể là một người trí thức làm việc văn phòng á, là tại sao mình nghĩ như vậy? Là bởi vì nào giờ hễ ai làm việc văn phòng thì đều mang hình ảnh đó. Bây giờ mình thấy hình ảnh đó mình suy luận ngược lại là người trí thức mang cái dáng dấp như vậy. Nhưng mà mình cũng nhớ phải đối chiếu một mặt khác là cách đây không bao lâu mình đọc một tờ báo Công an thấy có một người cũng đeo kiếng trắng, thắt cà vạt, bỏ áo vô thùng, xách vali đi vô nhà người ta, dụ dụ sao lừa gạt lấy chiếc Dream đi mất. Cho nên sau khi đối chiếu hai ba mặt vậy thì sao?
[11:25]Mình cũng khoan đánh giá người này là là trí thức ở buổi đầu. Vì có khi là gặp mấy người đó thì cái trí mình phải thức, chứ cái trí mình ngủ là bị người ta lấy mất chiếc Dream cũng có nữa. Cho nên vì vậy là khi đánh giá một vấn đề hay nhận định con người mình đối chiếu nhiều mặt, không bao giờ dựa vào một tiêu chuẩn, một dữ kiện mà kết luận liền, kết luận liền là sai. Nên chúng ta để ý vậy, là trong cái cuộc sống, như trong cái việc thuyết giảng, trong việc làm việc, trong việc tính toán, cái việc mà kết luận vội thì luôn luôn là sai lầm và chủ quan. Nó giống như thế này, ví như bây giờ mình đang ngồi trong
[12:03]nhà, ở ngoài đường cái mình thấy một người chạy ào qua cửa mình đi về phía kia, mình kết luận người đó là gì? Kết luận: À, thằng này nó giật đồ bị người ta rượt chạy. Như vậy là kết luận vậy là đúng chưa? Không, phải không? Tại vì mới có thấy người ta chạy mà đã kết luận liền thì dữ kiện quá ít mà đưa ra kết luận thì sự kết luận nó vội vàng, mình không thấy được lẽ phải, thấy được chân lý. Biết đâu người ta biết đâu người ta chạy thể dục, hoặc là biết đâu người ta thấy bên kia có ai cần cứu gì đó người ta đâm đầu người ta chạy người ta cứu, phải không? Chứ đâu phải là hễ thấy chạy là cái người đó là ăn
[12:37]cướp rồi bị người ta đuổi sau lưng đâm đầu chạy. Cho nên phải thêm nhiều dữ kiện. Thấy người đó chạy cái ào qua, mình phải ló đầu qua dòm coi có ai đuổi đằng sau không, thấy chạy thong thả thể dục hay là chạy gấp rút, rồi đằng kia có nghe tiếng kêu cứu hay không, vân vân vậy đó. Hoặc là có khói bốc ở đâu lên, thấy nhà cháy người ta lại cứu hay không, vân vân. Nghĩa là chúng ta phải thêm vài dữ kiện trước khi mình kết luận một điều gì. Mà đa phần chúng ta dễ dựa vào một dữ kiện để kết luận liền theo cảm tính của mình. Tại vì có một lần mình đi trên chợ mình thấy một người đâm đầu chạy thì sau đó nghe tin là cái thằng đó giật đồ nó đâm đầu nó chạy mất.
[13:12]Từ đó trong đầu mình hễ ai chạy thằng đó là mới giật đồ người ta, tức là mình bị bị ấn tượng, thành kiến chủ quan nó in vào lòng mình. Đó gọi là nhận định chủ quan, nhận định chủ quan. Do cái thành kiến nó nằm sẵn, mình có cái khuôn rồi, hễ ai lọt cái khuôn đó mình kết luận cái rụp, mà nhiều khi không phải, nên gọi là nhận định chủ quan. Rồi trong cái yếu tố mà để chúng ta có được cái nhận định khách quan gọi là mình hiểu sâu, hiểu sâu. Cái chữ hiểu sâu này khó lắm á. Hiểu sâu này khó. Ví dụ mình thấy là người ta làm ăn thất bại thì cái kết luận đầu tiên là cái người này kinh doanh dở, không nắm được thời cơ.
[13:54]Đó là mình nhận định đầu tiên. Nhưng mà cái người mà gọi là hiểu sâu á, mình không ngừng ngang đó, không ngừng ngang đó. Tự nhiên có cái trí tuệ gì đó lạ lắm, nó nhìn qua hai ba lớp luôn bên trong luôn. Mà cái này phải người hơi có trực giác mới thấy, nhìn luôn hai ba lớp bên trong luôn. Dĩ nhiên nói theo Đạo Phật mình hiểu là một cái nghiệp cái đã, nghiệp. Nhưng mà bây giờ bỏ qua cái nghiệp của quá khứ đi, mình nhận định hiện tại thì mình thấy rằng nói cái người này kinh doanh dở không đúng lắm. Bởi vì có những cái nỗi khổ tâm, bị tin người, bị phá. Nên nhìn vô cái người này là thấy là họ giỏi nhiều mặt mà chỉ có nhược điểm một
[14:27]mặt là nhiều khi cả nể, tin người, không dám cãi khi biết người ta sai. Bàn bạc công việc biết người ta sai, mình nể. Chỉ có nể thôi người này thất bại tất cả, tức là không dám cãi khi thấy người đồng nghiệp của mình bàn sai không dám cãi có chút xíu. Nghĩa là mình nhìn qua hai ba lớp bên ngoài nhìn sâu qua tới bên trong, hoặc thậm chí đó là cái nhìn tâm con người đó. Là khi chúng ta nhìn một con người trước mặt mình, nhìn sâu luôn hai ba lớp bên trong thì người này dễ thấy được sự thật hơn mà cái này phải có trí tuệ khách quan. Lát nữa làm sao mình có trí tuệ khách quan thì từ từ mình nói tới.
[15:04]Nên chúng ta thấy cái nhận định khách quan, còn cái nhận định chủ quan là mình có thành kiến, có ác cảm hay có thiện cảm sẵn, mình có lăng kính, có điểm tựa theo cái khuynh hướng có sẵn nào đó gọi là chủ quan. Theo thành kiến là sao? Ví dụ có một lần thế này, hồi xưa chúng tôi đến với chùa thì thấy trên chùa có đề Mười Điều Tâm Niệm. Không biết đây có không? À, có đây nè. Thì cái bảng của chùa bị hư hết á, cái sư cô trụ trì mới nhờ, lúc đó tôi còn cư sĩ, mới nhờ tôi vẽ lại, viết lại chữ để dán lên chùa. Thì những cái điều này rất là thích, trong đó câu cuối cùng là: Oan ức không cần bày tỏ, vì bày tỏ là hèn nhát mà trả thù thì oán đối kéo dài.
[15:50]Nghe câu đó thích lắm, nên cứ giữ đúng tiêu chuẩn đó mà thực hiện. Có những lần vậy, trong cuộc sống mình bị oan, im lặng không nói gì hết, không thèm trả lời. Rồi cũng theo nghĩ rằng cái câu này là đúng, là chân lý á, rồi thôi cứ vậy mà sống. Nhưng có một lần đó, có một lần cái có một người đó nói xấu tôi, rồi tôi nghe tôi cũng không thèm trả lời. Nhưng mà có một người thanh niên trí thức lớn tuổi, không phải lớn tuổi lắm nhưng mà lúc đang trưởng thành, người này học bằng cấp cao, giỏi. Sau khi biết câu chuyện đó là không phải sự thật mới trách tôi, nói: Tại sao thầy không nói? Tại sao thầy không nói sự thật? Nói:
[16:26]À, tại vì trong Đạo Phật: Oan ức không bày tỏ. Cái người thanh niên này nói: Con nghi ngờ cái điều đó, con nghi ngờ đạo lý đó. Tại vì sao? Chính vì sự im lặng của thầy đổ vỡ hết tất cả sự tu hành của những người trong gia đình con. Nếu lúc đó thầy mạnh dạn thầy nói một tiếng thì gia đình con đã vững niềm tin với Đạo, vì họ nghe người nói xấu sau lưng. Cho nên con nghi ngờ cái đạo lý đó. Thì từ lúc đó tôi cũng giật mình tỉnh ngộ luôn, tôi giật mình tỉnh ngộ thì tôi mới cảm thấy rằng có những đạo lý mà mình xem như một chân lý bất biến suốt đời, coi chừng nó sai, không phải luôn luôn đúng, không phải luôn luôn đúng.
[17:05]Nên từ đó vậy, tôi sực nhớ lại lời Phật dạy là trong cái bài kinh Kalama: Chớ có tin bất cứ điều gì, dù điều đó được một vị thầy khả kính của mình dạy, phải xét lại hết tất cả. Từ cái sự trách của người thanh niên đó tôi cảm thấy là đúng, đúng là chúng ta bị một thành kiến khi chúng ta nhận một cái điều gì đó bị một thành kiến. Ví dụ câu thứ chín nè: Thấy lợi đừng nhúng tay vào, vì nhúng tay vào thì tâm trí hắc ám. Nghe đúng không? Quá chân lý gì nữa, phải không? Một người tu mà mình thấy lợi nhúng tay vào thì tâm hồn mình đen đúa gì nữa, phải không? Nhưng mà câu này nếu đem ra cho cái người đời phải sống,
[17:44]phải làm ăn, phải nuôi gia đình, còn đúng không? Hết đúng liền! Thì người ta phải cần có lợi để nuôi gia đình. Làm việc kinh doanh phải có hiệu quả, phải sinh lãi, không nói gì hết trơn á, và phải tính toán rất kỹ. Cho nên câu đó chỉ áp dụng được cho cái người tu mà tu một mình thôi nha, chứ mà có nuôi thêm hai ba đệ tử là cũng không được nữa. Ví dụ như là ngay bản thân chúng tôi vậy, giờ tôi thuộc loại là liều mạng nhất đó, là ít có bao giờ để ý tới tiền bạc á, nhưng mà rồi có những lúc phải tính, phải tính: À, với số đệ tử này trong chùa mình một tháng phải hết bao nhiêu gạo, tiêu dùng hết bao nhiêu.
[18:21]Rồi cuối cùng vẫn do Tam Bảo mà gia hộ thôi chứ mình không có sức tính toán, tại vì tôi không có đủ phước để mà tự mình tạo ra tiền, nhờ Tam Bảo gia hộ, nhờ Phật tử ủng hộ. Nhưng có những chùa người ta chủ động người ta làm ra được. Người ta tính toán người ta vì nuôi đệ tử người ta phải tạo ra một công việc kinh doanh nho nhỏ nào đó thì thấy lợi rõ ràng người ta nhúng tay mà không phải nhúng tay vì người ta. Người ta có phước tạo ra được cái đồng lời và dùng đồng lời đó vào việc nuôi đệ tử và làm việc Phật pháp, không sai chút nào hết trơn. Nếu theo câu đó y chang người ta trở nên thụ động liền.
[18:53]Vì vậy chúng ta qua nhiều giai đoạn của cuộc sống rồi chúng ta mới thấy nó không có nguyên tắc cố định cho mọi trường hợp. Làm sao cái quan trọng cuối cùng là đúng với đạo lý, cái đạo lý thật sự ở chỗ nào đó nó ở phía sau của những nguyên tắc này hết mà những nguyên tắc này chỉ là ứng dụng tạm trong một giai đoạn nào đó thôi, trong một hoàn cảnh nào đó thôi. Kỳ tới á, mùng một tới thì chúng tôi sẽ giảng ở Từ Tân cái đề tài là Lẽ Phải và Sức Mạnh. Mà chúng tôi sẽ nhấn mạnh lại cái khía cạnh chút xíu này nữa. Ví dụ như chúng ta sẽ nói về chuyện Đường Tam Tạng. Đường Tam Tạng là tượng trưng cho gì?
[19:30]Là lẽ phải, là chân lý, là đạo đức. Mà nếu chỉ có một mình Đường Tam Tạng có tới được Tây Phương không? Không. Phải có Tề Thiên cầm thiết bảng oánh loạn xạ hết, phải có Sa Tăng, Trư Bát Giới là mỗi người một tay một chân bảo vệ, phụ trợ, xông xáo, năng nổ và chiến đấu, cuối cùng mới tới Tây Phương. Chứ còn thí bốn ông đó ông nào cũng đòi làm Tam Tạng ngồi một chỗ hết thì có ai tới Tây Phương không? Chúng ta thấy chân lý đa dạng như vậy. Mà có nhiều người hiểu đạo là cứ làm Tam Tạng thì sẽ tới Tây Phương, nhưng may mắn cuộc đời còn có những người chịu làm Tề Thiên. Giờ ở đây ai thích làm Tam Tạng giơ tay lên?
[20:10]Ai thích làm Tề Thiên giơ tay lên?
[20:16]Nên chúng ta thấy đó là có một cái khuynh hướng có sẵn rồi cái mình chết trong khuynh hướng đó luôn, mình nhận định điều khác gì cũng trên cái lăng kính của mình, trên cái thành kiến, khuynh hướng của mình có sẵn chứ mình không có cái bao dung, phóng khoáng để nhận định đúng sai của vấn đề. Cho nên có nhiều khi vấn đề đó mình thấy người đó làm đúng, coi chừng người ta trật á. Người ta đúng là đúng với cái khuynh hướng giống như mình, hoặc mình thấy người ta trật, coi chừng người ta trúng rồi, tại vì người ta khác với cái khuynh hướng của mình mà đâu ngờ tại vì mình chấp với cái khuynh hướng chặt cứng ngắc luôn.
[20:45]Giống như mình nhìn cuộc đời qua một cái cặp kiếng màu, à đeo cái kiếng màu đỏ rồi thì nhìn đời luôn luôn thấy màu hồng. Á. Đeo kiếng đen rồi thì nhìn đời nó xám xịt. Không ngờ vì mình có cặp kiếng mình không chịu gỡ ra. Mình có những khuynh hướng, có những đạo lý gì đó mình tin là chân lý chắc á, đâu có ngờ vẫn chỉ là tương đối, kiểu như vậy. Nghĩa là có điểm tựa đó, những cái đó gọi là gần với chủ quan. Còn ví dụ như có ác cảm, có thiện cảm cũng làm cho mình nhận định sai vấn đề, gọi là chủ quan á. Như chúng ta có câu là khi thương thì trái ấu cũng cũng tròn, khi ghét thì trái bồ hòn cũng vuông.
[21:23]À vuông nó mới đúng luật bằng trắc. Nghĩa là cái người đó họ đúng gì đúng, nhưng mà mình có ác cảm rồi người ta nói một câu mình cũng thấy sai nữa. Họ nói một câu trúng gì trúng rồi mình cũng diễn, suy diễn một lát cũng trật lất hết trơn, vì có cái ác cảm nằm sẵn. Cái ác cảm do người khác bơm vô, ví dụ nào giờ mình chưa gặp anh Chánh Thái đi, mà mình có nghe ai nói, nói: "Cái anh đó ổng xấu xa, bỉ ổi, rồi ích kỷ, lừa gạt, rồi giả bộ đi chùa chứ chuyên môn tham lam." Ví dụ vậy, mình nói mình đâu có đâu rớt vô mình đâu, ai nói bá vơ rớt vô lòng mình cái mình có ác cảm rồi. Cái lần đó mình vô Tịnh xá Ngọc Thạnh á à:
[22:03]"Xin giới thiệu anh đây là anh Chánh Thái", mình dòm trợn mắt liền, giống như dòm quái vật vậy á. Tại vì mình nghe bơm rồi, nghe bơm rồi bắt đầu mình thấy ổng đi qua ổng lại, ổng rót cái tách trà ổng mời mình, cái nói: "Anh này đúng là khéo ngoại giao thiệt nha, hay thiệt á. Đúng cái con người này ghê thiệt." Ờ kìa, thì người ta chân thành thôi. Rồi bắt đầu cái ổng ổng thấy mình đứng lớ ngớ cứ dòm dòm hoài, ổng nói: "Anh nghe nghe pháp hả? Anh vô đây có chỗ trống nè." Nói: "Chà! Này hay thiệt dụ mình gì đây? Sắp dụ mình." Nghĩa là nghĩa là người ta chân thành thôi, mà bị bơm rồi á làm nhúc nhích gì mình cũng suy diễn theo cái điều
[22:33]xấu, nghĩa là khi ghét thì trái bồ hòn cũng vuông luôn là vậy. Mà đâu có ngờ rằng nghĩa là nếu mình tiếp xúc với ảnh thì mình mới biết là con người vô cùng dễ thương, phải không? Đó, thầy nói thì phải vuốt lại không ảnh giận thầy, ảnh dễ thương lắm. Đó gọi là cái ác cảm, thiện cảm mà có sẵn á làm cho mình nhận định vấn đề cũng hết khách quan á. Thì qua hai cái điều chúng ta so sánh như vậy thì cái gọi là nhận định khách quan và chủ quan, cái nào gần với chân lý hơn? Khách quan phải không? Khách quan gần với chân lý hơn. Còn chủ quan thì dễ đưa đến hiểu lầm và tạo nghiệp, rõ ràng như vậy. Tạo nghiệp là làm sao? Nghĩa là người ta tốt, người ta dễ thương,
[23:15]người ta có thiện ý mà mình suy diễn toàn xấu thì cái tâm đó là thành nghiệp á. Về sau này cũng vậy, về sau này mình làm điều gì tốt người ta cũng nghĩ thành xấu hết trơn á, cái nhân quả nó vậy. Hoặc là ví dụ người ta xấu mà mình không biết, mình tưởng người ta tốt, mình tin theo người ta thì sao? Thì cuộc đời mình sẽ sẽ vấp ngã. Đó như vậy. Nên mình ráng có cái nhìn khách quan, thì làm sao mình có được cái nhìn khách quan? Thì phải tu tập. Chúng ta có những phương pháp tu tập để chúng ta nhìn vấn đề cho nó được khách quan, chứ không phải là tự nhiên mà có cái nhìn khách quan đâu. Nào giờ mỗi người chúng ta chúng ta đều bị cái chủ quan
[23:55]hết, mà có người bẩm sinh ít, có người bẩm sinh nhiều. Giờ thường thường vậy thì người nữ dễ bị chủ quan nhiều hơn người nam. Người nam thường là khách quan nhiều hơn người nữ, đó là thường thường thôi, chứ không phải tất cả. Nhưng mà riêng những người nữ mà đi nghe giảng ở Tịnh xá Ngọc Thạnh thì không bị chủ quan. Nói để ấm lòng. Người nữ vì hay có cái cảm tính, cảm tình á, cho nên hay dễ bị cái chủ quan chi phối. Còn người nam thì họ khô khan tình cảm, nên họ dễ được cái khách quan hơn. Đó là tổng quát, chứ còn sự thực thì vẫn có thể ngược lại. Có những người nữ trực giác họ mạnh lắm, mình thoáng qua trước mặt họ là họ biết mình sao hết trơn á.
[24:36]Người nữ cũng được cái đó. Mà còn nhiều người nam cũng vậy, nhiều người nam nhiều khi hời hợt quá, rồi cái nhìn vấn đề cũng thấy không hết, do nhìn không ra vấn đề cũng bị chủ quan. Bây giờ chúng ta có cái phương pháp tu tập để làm sao mà chúng ta khi nhận định vấn đề thì luôn luôn chúng ta đến gần với khách quan, khó đến khách quan hoàn toàn, không bao giờ, không bao giờ đến được khách quan hoàn toàn, chỉ trừ bậc Thánh thôi. Bậc Thánh vượt qua hết mọi tâm thức của mình thì mới có cái nhìn khách quan, biết cái gì đúng như thật cái đó, còn bình thường là đều bị chủ quan hết. Bây giờ có những cái phương pháp tu tập để cho chúng ta được
[25:17]khách quan như thế này, đầu tiên là cái sự khiêm tốn. Khiêm tốn nghĩa là làm sao? Nghĩa là chúng ta bớt tin vào cái nhận xét của mình vì không biết mình đã đúng chưa. Cái vụ mà tự mình mà bớt tin chính mình cái này dễ làm không? Cái này coi bộ khó ăn ạ, phải không? Nghĩa là mình nghĩ như vậy mà bây giờ là để đạt được cái khách quan cái mình đâm ra mình nghi ngờ cái nhận xét của mình trước, cái này dễ làm không? Khó làm lắm. Nên nói là đạo lý gọi là sự khiêm tốn á, bớt chủ quan tin vào cái ý nghĩ của mình. Mà ở trên đời á à chúng tôi để ý nhiều nha, cái người mà càng dữ, càng kiêu ngạo thì càng chấp cái ý mình dữ lắm.
[26:00]Hễ cái ý nghĩ mình khởi ở chỗ nào là dính chắc, hết nhúc nhích luôn, không ai gỡ được. Nghĩ ra cái gì là mình nghĩ điều đó đúng. Cái đó gọi là chủ quan và kiêu mạn. Còn có những người mà họ tự tin vững chắc, họ nói ra rồi không ai lung lay được, mà lại không đánh giá họ là chủ quan mà họ là tự tin. À hai cái khác nhau nha. Nghĩa là cũng hai cái trạng thái giống nhau là ai nói gì không lung lay. Nhưng một người thuộc lại bướng bỉnh, chủ quan, tự cao, chấp cái ý mình; còn một người là thuộc lại tự tin, vững chắc và khách quan. Lạ lùng như vậy, mặc dù nhìn trạng thái bên ngoài giống hệt nhau là đều ai nói gì không nhúc nhích, không lay suyển. Tại sao? Lát mình nói.
[26:43]Vì cái người mà tu tập đến cái trình độ mà họ vượt qua được hết tâm thức rồi, họ nhìn vấn đề nào rõ vấn đề đó rồi thì họ có cái sự tự tin trong cái khiêm tốn và trong cái trí tuệ, không ai nói họ lung lay. Còn cái người mà dựa vào tiêu chuẩn này, dựa vào tiêu chuẩn kia để mà nhận xét mà giữ chặt cái ý mình, tin chắc cái ý mình thì thường là bị kiêu ngạo và chủ quan hết. Ở đây chúng ta trước hết là tập khiêm tốn lại, bớt tin vào cái nhận xét của mình. Mà chúng ta nhớ điều này là cái khiêm tốn ban đầu là sự cần thiết, là dấu hiệu của trí tuệ. Cái người mà dám nghi ngờ chính cái ý nghĩ của mình là người đó là người có trí tuệ, dám nghi ngờ chính ý nghĩ của mình.
[27:30]Ví dụ như bây giờ là mình mình nghĩ rằng trong vấn đề chữa bệnh thì thuốc tây hay hơn thuốc thuốc bắc, hoặc là mình nghĩ thuốc bắc hay hơn thuốc tây, đầu tiên mình khởi cái ý nghĩ đó lên trước. Nhưng mà cái người mà chủ quan á, khởi lên rồi là dính luôn. Gặp ai nói chuyện nói: "Không, tôi chữa bệnh là thuốc tây, không có thuốc bắc. Tại vì thuốc tây là thuốc hiện đại, thuốc bắc là thuốc xưa rồi, không hay. Ba nắm cây, nắm cỏ chữa cái gì?" Nắm chắc luôn. Thì cái người khởi lên ý nghĩ rồi chấp luôn á gọi là người chủ quan. Còn cái người mà biết khiêm tốn á, ví dụ họ khởi lên ý nghĩ: "À trong vấn đề chữa bệnh Tây y hay hơn Đông y",
[28:10]họ nghĩ lên rồi xong rồi bắt đầu họ tự nghi ngờ lại, nói: "Không biết mình nghĩ có đúng không nha, để coi lại, từ từ coi lại." Cái người đó là người khôn hay người ngu? Quá khôn, dám nghi ngờ ý nghĩ của mình rồi xét lại, từ từ để đó, vì không có thời gian để nghiên cứu đâu, nhưng bây giờ đi qua nhiều năm tháng nữa, rồi khi gặp thầy thuốc bắc, khi gặp bác sĩ tây y, rồi khi nghe người chữa bệnh theo tây y, khi nghe người chữa bệnh theo đông y một thời gian dài, từ từ mới bắt đầu kết luận lại: "À thì ra là Đông y cũng rất hay. Có những căn bệnh mà Đông y chữa rất là êm, đơn giản, không để lại phản ứng phụ, mà Tây y thì lại để lại phản
[28:48]ứng phụ dù chữa có vẻ cấp tốc." Nhờ cái ban đầu mình không chấp, mình nghi ngờ chính cái ý nghĩ của mình, nên cuối cùng mình đã tìm ra được sự thật. Còn cái người mà nghĩ tới đâu chấp tới đó, nghĩ tới đâu dính tới đó thì vĩnh viễn không tìm ra được sự thật, nghĩa là ai nói ngược ý mình cãi thôi, không có lắng nghe, không lắng nghe. Như tối qua vậy, chúng tôi có chuyện vui trên chùa, thì tôi vừa mới viết một cái bài viết về Phật pháp, dựa theo cái tình hình Phật pháp hiện nay. Sau khi mà trên chùa xong cái khóa tu thì chúng tôi mới cho đọc cái bài đó trước đại chúng và yêu cầu mỗi người góp ý kiến.
[29:26]Thì sau khi mọi người góp ý kiến là cuối cùng cái ý kiến mà mọi người thống nhất là: "Dạ thưa Thầy, Thầy đừng cho bài này đi ra, đừng cho ai đọc hết." Tại lúc tôi viết là tôi đã nghi ngờ, tôi nghi ngờ và tôi nói là bài này mặc dầu mình thiết tha với Phật pháp á, nhưng có thể nó có tác dụng ngược, lại nguy hiểm cho Phật pháp lại. Nên cố gắng viết hết, nhưng mà rồi đem hết cho đại chúng như cho cư sĩ, ai có mặt bữa đó được đọc hết, nói: "Bây giờ thầy viết bài này, mọi người đọc thử có ý kiến giùm." Thì người bàn qua bàn lại, nói: "Giờ giơ tay lên ai đồng ý đưa ra?" Không ai đưa tay hết. Thôi nín, giấu luôn.
[30:04]Thì nói vậy, nghĩa là ngay cả ngay như là chúng tôi vậy là chúng tôi cũng làm thầy cũng đi giảng, nhưng mà vẫn phải tiếp tục tập nghi ngờ chính cái ý nghĩ của mình. Chứ không dám rằng nghĩa là cái gì mình đưa ra là chân lý hết, phải nghi ngờ chính ý nghĩ mình. Vì có khi mình nghĩ nó đúng á, rồi coi chừng nó vẫn trật như thường. Dĩ nhiên là mình cũng đừng vội tin là ý kiến của đa số là đúng, có khi ý kiến đa số cũng trật luôn nữa. Nhưng mà trước hết cái khiêm tốn là mình phải bớt tin rằng mình đã đúng cái đã. Thì đó là cái khởi điểm để mình đến gần được cái lẽ phải, chân lý là như vậy. Rồi thứ hai nữa là trong cái phương pháp tu tập để mình có được cái
[30:43]nhìn khách quan là mình tập thương yêu bằng lòng từ bi để mình không có cái ác cảm cũng như không có cái thiên vị tình cảm riêng tư. Vì cả hai cái gọi là ác cảm, thiện cảm á, nó đều là không đúng với từ bi. Chúng ta ghét người nào thì chúng ta luôn luôn nghĩ xấu người đó, cái đó không có từ bi là dễ hiểu rồi. Vậy mà mình thiện cảm coi chừng cũng không phải từ bi nữa, vì nó là một sự thiên vị riêng tư. Ví dụ trong bao nhiêu đây con người, dĩ nhiên người đó tốt cỡ đó, xấu cỡ đó, nhưng mình vì lý do cá nhân nào đó, vì người đó đối xử mình dễ thương, vì người đó có nợ duyên gì với mình kiếp trước, mình thương người đó nhiều hơn,
[31:22]ai nói gì người đó mình cũng cãi hết, mình luôn luôn nghĩ tốt người đó thì như vậy cái đó mình cũng không nhìn ra được vấn đề. Thì cái thiện cảm đó cũng lại là một thành kiến, không phải lòng từ bi. Nên ở đây chúng ta tu tập từ bi để đối với con người chúng ta vượt qua cái ác cảm và cái tình cảm riêng tư, cái thiện cảm riêng tư thì chúng ta đánh giá con người mới chính xác. Còn mình gặp người mình ghét cái rồi là thấy thua rồi. Nên ở đây mình tập theo đạo Phật không ác cảm gì, ví dụ người đó xấu mà mình không ghét, mình biết họ xấu á, biết họ tham lam nè, sân si, thù hận nè, ích kỷ nè mà không ghét.
[32:02]Ở đây tập được điều đó không? Quý Phật tử tập được không? Khó, phải không? Nhưng ráng, đúng, có chữ ráng là đúng đó. Đó, được liền thì chưa đâu nhưng mà mình dùng chữ ráng là rất là đúng, mình tập từ từ như vậy ráng như vậy. Ráng là biết người đó xấu mà không ghét, thậm chí cái người đó họ chơi khăm mình, mình cũng không thèm ghét luôn. Nếu mình đỡ được đỡ, không đỡ được thì thôi cái nghiệp nghĩ cái nghiệp quá khứ. Mà đỡ được thì cũng tốt không sao, chặn họ lại đừng cho họ gây nghiệp thì cũng tốt. Ví dụ cho họ đừng chơi khăm mình thì cũng không sao, hoặc là nếu mà họ chơi khăm được, họ gạt mình được cái gì đó, họ xúc phạm mình được cái gì
[32:39]đó mà mình chặn không được thì thôi chịu luôn mà lòng đừng ghét, đừng thù. Cái đó khó, nhưng phải tập, vì mình lỡ xui là đệ tử Phật rồi thì thôi đành phải chịu điều đó, không biết. Nhưng mà nếu có dịp rầy phải rầy nha, có dịp nhắc phải nhắc chứ không phải là buông xuôi, buông xuôi mang tội chết á. Biết một người có lỗi mình có thể sửa được mà không chịu sửa, mang tội rất nặng đối với Phật pháp. Chứ đừng tưởng mọi việc im lặng là chân lý nha. Đừng tưởng lúc nào cũng im lặng, chịu đựng, nhẫn nhục là chân lý, coi chừng cái đó mình lại hiểu một thành kiến nữa. Là chúng ta cứ hiểu đạo Phật phải im lặng, phải nhẫn nhục mới là đạo Phật,
[33:15]mình hiểu đó đạo Phật của mình chứ không phải đạo Phật của Phật. Tại vì sao vậy? Vì đạo Phật của Phật linh động tùy trường hợp lắm. Vì có lần á, có lần ngài Xá Lợi Phất bị một số tỳ kheo đố kỵ nói xấu. Vì ngài Xá Lợi Phất là bậc trí tuệ đệ nhất, được Phật tin yêu, Phật giao cho nhiều trọng trách lãnh đạo đại chúng thì lúc đó có nhiều tỳ kheo không tốt mới tung tin xấu về ngài Xá Lợi Phất, nói rằng ngài bị ái dục chi phối. Ái dục chi phối nghĩa là sao? Nghĩa là nặng lắm á nha, nặng lắm giống như bây giờ mình nói ông thầy nào có con rơi vậy đó, y như vậy hồi xưa. Thì nói ngài nhiều điều lắm, cái việc đó tới tai Đức Phật.
[33:52]Thì Đức Phật đâu có kêu ngài Xá Lợi Phất im lặng đâu, Đức Phật một bữa đó tập hợp toàn bộ đại chúng lại, gọi ngài Xá Lợi Phất lên, Đức Phật hỏi từng câu để buộc ngài Xá Lợi Phất phải tự biện minh cho mình. Đức Phật hỏi: "Người ta nói ông ái dục có hay không?" Thế là ngài Xá Lợi Phất phải tự biện minh cho mình, nói là: "Ông kiêu mạn có hay không?", nói rằng: "Ông sân si có hay không?", ngài Xá Lợi Phất trả lời những câu đó thành một bài kinh luôn, gọi là bài kinh Sư Tử Hống, tiếng rống của con sư tử, tự tuyên bố về cái đạo đức của chính mình. Ngài nói hay lắm, bài kinh đó ngài nói: "Bạch Thế Tôn, con không bao giờ có nổi nóng với bất cứ một chúng
[34:28]sinh nào vì con luôn luôn tự thấy mình là đất, luôn luôn con tự thấy mình là đất để ai cũng có thể giẫm lên được. Nên bạch Thế Tôn, con không bao giờ nổi nóng đối với một chúng sinh nào." Rồi Đức Phật nói: "Người ta nói ông có ái dục có hay không?" Ngài trả lời: "Bạch Thế Tôn, từ lúc mà con đến với Thế Tôn, con đạt được thắng trí, tâm con trong suốt như là hư không không có một bóng mây đi qua, không bao giờ còn có một ái dục có thể khởi lên được trong con." Cái bài kinh ngài trả lời thật là đẹp, thật là hay và ghi lại trong kinh tạng Nikaya gọi là bài kinh Sư Tử Hống. Và chúng ta thấy trong trường hợp đó Đức Phật lại không im lặng
[35:04]và buộc ngài Xá Lợi Phất phải lên tiếng biện minh cho chính mình. Cho nên chúng ta hiểu đạo Phật lúc nào cũng im lặng coi chừng cũng trật luôn, là cái đạo Phật của mình chứ không phải của Phật. Của Phật có trường hợp ngài bắt im lặng, có trường hợp ngài bắt phải nói. Nên nó nhiều trường hợp như vậy. Thì ở đây là chúng ta bằng cái lòng từ, chúng ta không ghét ai để đừng nhìn sai về người đó. Người đó tốt mình nhìn rõ người đó tốt, người đó còn nhược điểm mình nhìn rõ người đó còn nhược điểm nhưng không ghét và vẫn luôn luôn thương yêu bằng lòng từ bi. Và tránh cái thiên vị tình cảm. Nhưng mà cái thiên vị tình cảm khó,
[35:38]ví dụ quý Phật tử có thể tu tập đến lúc nào đó mình không còn ghét ai nữa, tu đến mức độ đó nhưng mà vẫn bị thiên vị tình cảm, bởi vì cái thiên vị tình cảm nó khó hơn cái không ghét, khó hơn. Và chính bản thân chúng tôi phải thú nhận điều đó, phải thú nhận. Tất cả chúng sinh mình đều cố gắng thương yêu hết, không ghét ai hết, nhưng mà cái người có duyên với mình, mình vẫn cảm thấy ưu ái hơn một chút. Vì sao? Vì mình cảm thấy điều này không có tội, phải không? Không có tội, mình thương nhiều hơn nó không có tội, ghét thì mới thấy có tội mà thương nhiều hơn không có tội. Nhưng mà không ngờ nó vẫn là một chút ái kiến chứ không phải thuần là lòng từ bi.
[36:20]Cho nên vẫn phàm đó, vẫn chưa đạt được. Nghĩa là không ghét ai thì mình có thể được, nhưng mà hoàn toàn không còn tư vị ai nữa, chỉ thương bình đẳng hết không phải dễ đạt được. Cái thứ hai này khó hơn. Cho nên khi như vậy thì mình vẫn khó nhận định khách quan được, nhưng mà rồi phải ráng, ráng bằng cái trí tuệ để mình nhận định con người cho chính xác, cho khách quan như vậy. Cái thứ ba để mà mình tập có cái nhìn khách quan nữa là thế này, cái này mới là dữ dội nè, cái này là một cuộc cách mạng tư tưởng, là mình tập xét lại tất cả mọi khuynh hướng, mọi truyền thống, mọi triết thuyết, mọi quan niệm từ trước hết, kể cả mọi đạo lý mình đã học xét lại hết sạch luôn.
[37:00]Kể cả mọi tôn giáo, mọi tín ngưỡng, mọi giáo điều, mọi giáo lý từ trước đến giờ trên thế gian này từ suốt bao nhiêu chục ngàn năm qua hôm nay không tin gì hết, xét lại hết toàn bộ luôn, đem lại một cuộc tổng kiểm tra hết luôn toàn bộ luôn. Chỗ này là một cuộc cách mạng trong tâm hồn của mình mà là một cuộc cách mạng của tư tưởng thế giới và việc này phải làm rất lâu dài. Điều này dễ làm không? Rất khó. Nhưng mà thứ nhất là có một người gọi là Đức Phật đã làm được chuyện này. Trong bài kinh mà Đức Phật nói đó: "Đừng tin bất cứ điều gì dù điều đó do truyền thống để lại, do một người khả kính nói với mình, do chính thầy mình nói với mình,
[37:40]do cái tư tưởng mình nghĩ ra như vậy, đừng tin nó luôn, từ từ xét lại hết luôn." Nghĩa là sau khi những nhà trí thức trên thế giới đọc cái đoạn kinh đó rồi mới nói trên thế giới không có người thứ hai nói câu đó, một người thứ hai mà dám kêu gọi người khác nghi ngờ cái đạo lý mà mình nói ra, mà trong khi mình là một giáo chủ. Trên thế giới chưa có một giáo chủ nào, tất cả giáo chủ trên thế giới đều buộc tín đồ phải tin lời dạy của mình, chỉ có một mình Đức Phật dám kêu đệ tử phải nghi ngờ chính lời của mình, phải xét lại bằng cái thực hành và kiểm nghiệm tất cả, một không hai. Và người thứ hai nữa, ở dưới Hòa Hảo, Bác Hai Như Sanh.
[38:17]Thì ông già gân này cũng thật là ngầu, cũng dám làm cuộc cách mạng luôn. Cái chuyện này thì chúng tôi kể đi kể lại hoài, nhắc đi lại hoài, nhưng mà tôi nhắc lại một chút nữa. Có một lần đó là có một người đưa ra một cái câu dẫn trong kinh thì Bác Hai không đồng ý, thì cái người này nói: "Hổng lẽ kinh Phật sai à? Hổng lẽ lời trong kinh sai à?" Bác nói: "Phải xét lại à?" Cái người đó mới hỏi Bác Hai là: "Không lẽ là mọi lời trong kinh là phải xét lại?" Thì Bác Hai trả lời là: "Không phải xét lại hết bài kinh đó mà xét lại toàn bộ kinh điển đạo Phật, mà không phải xét lại toàn bộ kinh điển đạo Phật mà xét
[38:54]lại toàn bộ tất cả sách vở, tri thức, kinh điển trên thế giới này hết, từ ngàn xưa tới giờ phải xét lại hết." Cái câu nói của ông già đúng là đại trí mới dám nói câu đó, mà nói quyết liệt. Thì khi mình xét lại như vậy với cái sự tiến bộ của khoa học thời đại thì chuyện gì xảy ra? Là chúng ta gạn lọc lại từng điểm từng điểm ngày xưa, không còn tin bất cứ giáo điều nào nữa. Rồi từ đó cái gì đúng giữ lại, cái gì sai gạt qua. Vì sao vậy? Vì trên thế giới hiện nay tồn tại rất nhiều giáo điều sai, kể cả trong đạo Phật lẫn ở các tôn giáo khác, kể cả trong đạo Phật. Dĩ nhiên là không phải từ Đức Phật đâu,
[39:32]vì sau mấy ngàn năm người ta đã thêm vào đạo Phật nhiều điều và người ta đã nói là Phật thuyết nhưng mà không phải Phật thuyết và có những điểm sai. Và ở các tôn giáo khác cũng vậy luôn. Cho nên đã tồn tại rất nhiều giáo điều mà nhiều người trên thế giới hết sức là tin tưởng, chấp hành, tuân thủ, nhưng không ngờ nó sai tuốt hết. Nếu mà ngày hôm nay chúng ta không có cái gan dạ xét lại toàn bộ tất cả, như nãy giờ chúng ta dẫn ra một vài cái đạo lý của Tổ để lại trong luận, chúng ta thấy không? Đụng vào thực tế đúng ở trường hợp này nhưng nó trật ở trường hợp khác. Vì vậy là chúng ta phải gan dạ xét lại hết và chuyện này
[40:12]là chuyện làm suốt đời, chuyện làm suốt cuộc đời. Chỉ có một vài điều không bao giờ sai, chúng ta phải dựa chắc vào những điều đó, ví dụ nói: luật nhân quả, nghiệp báo, luân hồi tái sinh thì cái đó là cái vĩnh viễn không sai. Nhưng mà để hiểu về nó thì cực kỳ khó khăn nữa. Coi như luật nhân quả là một chân lý thì dù người ta có giết mình chết mình vẫn không bao giờ từ bỏ cái niềm tin đó. Nhưng tuy nhiên, có nói câu này coi chừng trật. Ví dụ nói câu này rằng: "Giúp đỡ người khác thì mình sẽ được cái hạnh phúc, an lạc." Cái câu đó phải nói theo luật nhân quả không? Rồi nói câu đó đúng, coi chừng sai đó.
[40:54]Chuyện này mới vui á! Nào giờ mình nghe ở hiền gặp lành phải không? Gieo gió gặt bão, làm ác gặp ác, ở hiền... vậy đó. Vậy mà bây giờ cái câu nói rằng: "Hễ giúp đỡ người thì mình sẽ được lợi ích trở lại, quả báo tốt trở lại", coi chừng câu đó sai. Phải xét lại luôn, tại vì nãy giờ mình nói đó xét lại hết mọi điều. Xét lại rồi bắt đầu mình nói xét lại sao? Đúng đây. Ngồi mình suy nghĩ: "Ủa sao nào giờ nói là ở hiền gặp lành, giúp người được phước, bây giờ cái câu này phải bị xét lại là giúp người coi chừng lại không được lợi ích là vì sao?" Cuối cùng mình nghĩ ra: "À đúng, có thằng ăn trộm nói:
[41:33]"Tôi muốn ăn trộm nhà đó, anh cho tôi mượn cái thang leo lên, không có thang nhà nó cao tường cao quá, giúp đỡ giùm chút." Nói: "Được được được được, tôi sẵn đem thang cho mượn rồi giúp." Thì việc giúp đỡ đó là cái gì? Cho nên cái câu nói mà hãy giúp đỡ người thì chúng ta sẽ được hạnh phúc trở lại là rõ ràng là hoàn toàn chưa phải đúng trong mọi trường hợp. Giúp điều lành, giúp người tốt thì hạnh phúc, giúp thằng ăn trộm ăn cướp thì rõ ràng là... Cho nên chúng ta thấy không? Luật nhân quả thì đúng, nhưng mà có những điều trong luật nhân quả đó, mình chấp một cái coi chừng trật lất luôn. Ví dụ có người nghe cái câu bố thí ba-la-mật là
[42:08]cho, cho hết, cho mãi mãi, cho mãi, cho không tiếc, cho sạch thì gặp ai cũng cho hết coi chừng trật á, cái đó không phải bố thí ba-la-mật. Vì sao vậy? Ví dụ bây giờ chúng ta đến chùa chúng ta gặp những người ăn xin. Những ngày mà rằm tháng giêng á, ngày đi chùa ngày rằm tháng bảy rồi họ nằm e áp hết trước cổng chùa dài dài dài theo. Nghĩa là đi qua hai bên là cái người gãy tay, ngồi bẻ chân rồi bó băng rồi có thuốc đỏ chấm rồi đủ màn hết trơn á. Hãy đưa cái nón để đầu, thì mình theo cái lời Phật dạy là bố thí ba-la-mật là bố thí sạch, thì cứ ai gọi bỏ vô, rồi cứ đi rải rải tiền từ đây vô tới chùa cúng xong đi ra rồi người ta nắm áo móc ra cho nữa,
[42:45]về tới nhà thì mặt bơ phờ, còn lại có cái cái quần đùi với áo thun. Vợ hỏi sao? Nói dạ anh bố thí ba-la-mật, bố thí ba-la-mật. Vì cái điều gọi là làm phước, không ngờ mình nuôi dưỡng một điều tội lỗi là sẽ có những người lợi dụng cái điều tốt đó họ làm thành một cái nghề là nghề ăn xin. Là khiến người đó thu nhập lớn lắm, có khi về nhà họ tối họ đánh bài, họ nhậu, họ cho vay nữa. Vì thu nhập của một người ăn xin trong một ngày họ cao hơn cả cái người lao động chân chính nữa. Mà cái người mới đầu họ sinh ra cái chân què, phải nói rất đáng thương, nhưng rồi lâu ngày họ nói: "À hay thiệt, sinh ra có cái chân này đỡ thiệt."
[43:22]Nhờ vậy mà sống khỏe, nó thành cái nghề. Cho nên ví dụ như phóng sinh vậy á, phóng sinh chim mình nghe nói có phước không? Bây giờ thì tất cả chúng ta biết là có tội hết rồi, tại vì có cái ông đi lại gõ nhà bà Phật tử: "À rằm này bà có phóng sanh không?" - "Nhiêu?" - "Năm chục con." - "Rồi rồi, để tôi đi bắt." Thì như vậy cái gọi là việc làm phước không ngờ là việc làm tội, phải không? Cho nên cái nhân quả mình không hiểu đơn giản được, phải hiểu rất kỹ. Đó là lý do tại sao Đức Phật nói, cũng như Bác Hai nói: "Xét lại tất cả mọi điều." Chứ không có dễ tin. Đó, phải như vậy mới là được. Đó cũng là một phương pháp để chúng ta vượt ra ngoài mọi cái khuynh
[44:03]hướng, mọi cái thành kiến có sẵn, mọi cái đạo lý nữa luôn á. Giáo lý, giáo điều xét lại hết sạch luôn. Rồi một phương pháp nữa để chúng ta tập có cái nhìn khách quan nữa là mỗi khi chúng ta đưa ra một cái nhận xét thì tự mình phản biện cái nhận xét của mình. Tự mình chống lại mình thử ở trong đầu mình coi sao. Ví dụ bây giờ mình thấy có một người đứng tự nhiên nhìn ngó sừng sững như người kia. Bắt đầu mình nghĩ, à ví dụ như đây là một người đàn ông đi, tự nhiên thấy người đàn ông cứ nhìn ngó sững cái người cô gái đằng kia thì đầu tiên mình nghĩ trong đầu là cha này 35. Thấy con gái người ta mà đứng dòm chong chóng, kỳ quá!
[44:44]Nhưng bây giờ mình tự phản biện lại, vì mình học cái bài chủ quan và khách quan rồi, mình tự phản biện, khoan chưa chắc là 35 à, để coi coi, có khi chuyện gì đây? À có khi là ổng nhìn đó ổng chợt thấy người đó giống một cái người quen, nên ổng nhìn kỹ coi có phải người quen hay không, chứ không phải ổng 35. Nên đó lý do cũng là thấy ổng nhìn chăm chăm mà không phải 35. Đó, mình tự phản biện lại cái của mình nhìn, thấy không? Hoặc là dòm lại kỹ thì không phải, ổng không phải nhìn cô đó mặc dầu nhìn về hướng cô đó, mà ổng nhìn ở phía sau cô đó có một cái bà già khác nữa, phải không? Cho nên tự mình phản biện lại.
[45:17]Như có một cái đoạn điện ảnh của Thành Long á, cái là ổng đi trên đường cái ổng nhìn thấy một cái cô gái nhìn ổng cười tươi, bước tới hoan hỉ, ổng mừng quá! Ổng mừng quá ổng lại thì không phải, cô đó chào cái người sau lưng ổng. Thì nó cũng vậy đó. Nghĩa là chúng ta nhìn một cái chúng ta kết luận liền nhưng tỉnh lại, quay lại mình chống lại, phản biện lại cái mình đã nghĩ coi còn lý do nào nữa hay không? Thì nhờ như vậy mình cũng bớt chủ quan. Hoặc là mình thấy một người đi vào chùa, mình thấy cái vị thầy đó gặp người Phật tử mặc đồ cũng sạch sẽ, nói theo miền Tây là sạch sẽ mà nói theo Sài Gòn là mặc đồ sang trọng.
[45:58]Thấy ông thầy nói chuyện với một người Phật tử mặc đồ sang trọng mà nói rất là ân cần, ôn tồn, tử tế. Cái ngồi mình nghĩ sao? Cái ông này đúng là trọng giàu khinh nghèo. Thấy cái người giàu mới là nói chuyện tử tế, chứ như mình là ổng không thèm nói, mình kết luận. Nhưng bây giờ hôm nay mình học cái bài chủ quan khách quan mình xét lại, mình coi còn lý do nào nữa hay không? Lý do có cái trí tuệ hay là có cái đạo lý gì đó làm ông trụ trì này ổng nể, ông thầy này ổng nể, nên ổng nói có vẻ ân cần, là không phải là tại ông này giàu, mà có khi tại vì ông này tu giỏi. Mình tự phản biện lại một lý do, hoặc một lý do khác,
[46:33]có khi đây là một bà con lâu ngày nghe tin là người bà con mình tu chùa này tới thăm, thì ổng gặp ổng ôn tồn, ân cần, phải không? Nghĩa là tự mình phản biện, mình cãi lại cái mình đã suy nghĩ ban đầu để tìm thêm nhiều cái lý luận khác. Nhờ như vậy mình cũng có được cái nhìn khách quan. Hoặc ví dụ mình vô chùa cái mình thấy một sư cô làm mặt ngầu, lúc đó là có có một cái người đệ tử của sư cô đó, cái gì đó cái mình thấy sư cô gằn giọng, nghiêm mặt một cái, làm mặt ngầu một cái, cái người đệ tử kia len lén bỏ đi. Cái nói bà này tu sao dữ quá! Rác thiệt, không không dám vô chùa này. Nhưng mà ngồi mình nghĩ lại, bắt đầu mình phải xét lại.
[47:14]Cái ý nghĩ đầu tiên khởi ra mình tự phản biện chống lại, mình nghĩ là có khi không phải, có khi là dạy học trò phải nghiêm, vì cô này có vừa mới sai một cái gì đó. Nhưng mà cái người sư cô này dằn không đánh, không la lớn tiếng, chỉ nghiêm mặt một cái thôi mà đủ để người đệ tử hiểu lỗi của mình, thì coi chừng là hiền hơn cái mức độ bình thường chứ không phải dữ. Đó, nghĩa là mình tự mình binh vực, mình chống đỡ, mình phản biện cái mình đã nhìn thì cũng làm cho mình có cái nhìn khách quan. Hoặc là thế này, đây cái trở lại cái nãy. Một con người nào đó cái mình góp ý họ, nói: "Anh đừng làm chuyện đó nữa." Họ không chịu nghe, họ cứ làm.
[47:51]Thì đầu tiên mình nghĩ trong đầu mình là cái gì? Cái người bướng bỉnh, nói hoài không chịu nghe, phải không? Mình nghĩ như vậy. Giờ mình nghĩ ngược lại một chút, nghĩ: "Hay là coi chừng cái mình góp ý trật lất mà người ta đúng hơn mình?" Phải không? Đâu phải lúc nào bộ mình đúng mà mình nói bắt cả thiên hạ phải nghe mình hết? Bộ mình đúng sao? Lúc nào mình cũng là chân lý sao, hễ mình nói câu nào người ta cũng nghe được hết? Coi chừng người ta có trí tuệ hơn mình, người ta lắng nghe, người ta thấy ý kiến mình trật lất rồi người ta không theo, cái bụng mình nói người ta bướng. Nhưng bây giờ mình tập phản biện lại,
[48:24]có khi cái sự góp ý mình sơ hở và có khi cái người kia cái trí tuệ họ cao hơn mình. Có khi như vậy. Đây là cái cách mà để chúng ta thoát ra khỏi cái nhận định chủ quan. Và cái phương pháp đúng nhất, cuối cùng nhất để thoát ra khỏi chủ quan là tu tập thiền định. Tu tập thiền định cho chúng ta hai cái vấn đề, hai cái lợi: một á là chúng ta cởi bỏ những cái vọng tưởng, những cái tình cảm, những thành kiến là tự nhiên mình thoát được chủ quan. Ví dụ như á là mình có cái thương ghét, nhưng mà khi tu thiền định mình lắng tâm xuống vượt qua thương ghét rồi cái hết, mất một cái đó là bớt cái chủ quan liền, phải không?
[49:02]Hoặc là nào giờ mình tin vào một cái ý nghĩ nào đó, mình tin vào một cái ý nghĩ là hễ mà đi ra đường, ra ngõ gặp gái là xui.
[49:15]Nào giờ mình tin chắc á, hễ mà mỗi lần mà đẩy cửa bước ra ngoài dòm dòm coi có phụ nữ không? Có phụ nữ đóng cửa vô lại, đợi một lát ngó ra mà thấy có đàn ông mới đi ra. Ví dụ như nào giờ mình có thói quen như vậy thì bây giờ do mình tu thiền định tâm nó lắng xuống, tâm nó lắng xuống, cái mình nắm cửa mình mở ra mình cũng ló đầu ra dòm, cái tự nhiên mình sực nhìn lại trong tâm mình, cái mình thấy có nó là sợ hãi, nó là một cái niềm tin vào một cái điều huyền hoặc, vượt qua bước ra đi luôn. Bước ra gặp luôn ba cô gái, ờ chào cười tươi vui vẻ, bữa đó mình cũng gặp hên như thường, không có chuyện gì hết.
[49:47]Ngay lúc đó nhờ tâm mình thanh tịnh, bình tĩnh bỗng nhiên mình vượt qua một cái niềm tin vô lý mà từ xưa đến giờ mình cứ đeo cứng. Cho nên cái thiền định làm cho mình vượt qua cái tình cảm, vọng tưởng và những cái thành kiến ấp ủ nào giờ, mình sáng ra nhìn thấy nó là sai, vượt khỏi nó. Thiền định làm cho tâm mình thanh tịnh. Và cái lợi thứ hai của thiền định là làm cho mình có trí tuệ, cái trực giác bắt đầu nó xuất hiện. Là khi ví dụ mình nghe kể một câu chuyện nào đó ở xa, không có gần mình, nhưng mà tự nhiên mình lắng nghe câu chuyện đó xong mình biết tỏng tòng tong trong ruột trong gan câu chuyện đó hết trơn, biết cái gì ở trỏng á. Đó là nhờ thiền định.
[50:28]Hoặc mình gặp một người cũng vậy, người ta chê người đó, người ta khen người đó, mình không có động, cái mình gặp người đó mình nhìn vô một cái, biết bản chất người đó là như thế nào, như thế nào và biết cái lời khen chê kia đúng hay sai liền. Cho nên nhờ trí tuệ của thiền định mà chúng ta được như vậy. Như vậy chúng ta có những cái bước là để chúng ta tập mình thoát được cái chủ quan: một là thiền định nè; hai là tự phản biện lấy cái ý nghĩ của mình nè; ba là tập xét lại mọi khuynh hướng, đạo lý, triết thuyết từ trước đến giờ trên thế giới; thứ tư là tập thương yêu bằng lòng từ bi để thoát cái ác cảm và cái thiên vị tình cảm;
[51:04]và cái thứ năm là tập khiêm tốn, bớt tin vào cái ý nghĩ của chính mình. Đó là chúng ta có năm cái cách để chúng ta tập mà thoát ra khỏi cái nhìn chủ quan. Ở đây chúng ta nhận định lại một chút nè, là cái chủ quan á nó gần với cái bướng bỉnh và tự kiêu, phải không? Cái chủ quan rất là gần với bướng bỉnh và tự kiêu, nghĩa là nghĩ mình là đúng rồi, mình chỉ làm theo ý mình thì chủ quan nó làm cho mình luôn luôn nghĩ mình là đúng. Mà giữ luôn luôn nghĩ mình là đúng, chắc chắn người đó là tự cao, chắc chắn như vậy. Nên người nào mà không dám nghĩ mình là luôn luôn đúng, người đó là khiêm tốn. Cho nên hễ đưa ý kiến nào nghĩ mình đúng rồi người khác sai,
[51:46]rõ ràng là tự cao, không chối cãi đường nào hết, phải không? Quý Phật tử đồng ý không? Nó rõ ràng như vậy. Đó, cho nên chúng ta ráng mà đừng có chủ quan, đừng luôn luôn tin mình là đúng thì chúng ta có được cái khiêm tốn. Chúng ta nhớ cái tính chất này nữa nè, cái câu của cổ nhân nè: "Việc người thì sáng, việc mình thì quáng", phải không? Ông bà mình có nói: "Việc người thì sáng, việc mình thì quáng" nghĩa là cái gì? Cái nhìn khách quan đúng hơn cái nhìn chủ quan. Việc người thì sáng, nghĩa là mình không có thương ghét, không dính líu trong câu chuyện của người ta hết trơn á, mình nhìn vô, ờ thấy ông chồng bớt thương
[52:22]bà vợ, bà vợ cũng tha thiết thương ông chồng, trong nhà con cái học hành như thế, mình đứng bên ngoài nhìn vô cái mình biết nguyên nhân tại sao. Do đó người ta tới người ta hỏi mình gỡ rối tơ lòng, mình nói vanh vách à. Mình nói: "À, chị muốn giữ được hạnh phúc gia đình, cái tánh ảnh như vậy á thì chị phải như vậy, vậy vậy, phải chịu khó trang điểm gì đó, rồi sau đó dụ ảnh đi chùa, tại ảnh có đạo đức rồi ảnh sẽ bớt lăng nhăng, bớt đi nhậu, phải không?". Mình nói vanh vách à. Tới chừng ông chồng mình bữa nào ổng về mà ổng có gì cái là mình nhảy đổng đổng lên tới nóc nhà, la làng la lối lên. Việc mình thì quáng, mình không còn bình tĩnh nữa, phải không?
[52:55]Đó là do từ trong cái chủ quan nó đi ra. Gỡ rối tơ lòng cho thiên hạ thì hay, nhưng mà tơ lòng mình gỡ không được là phải đem qua cái nhà bà nãy bả nhờ mình gỡ đó, giờ mình nhờ bả gỡ lại. Bắt đầu: "Bây giờ tui vậy đó, bây chị sao?", bắt đầu bà kia sẽ nói vanh vách lại là chị phải vầy phải kia, gỡ qua gỡ lại. Nghĩa là việc người ta mình gỡ được, việc mình thì thua. Thì ông bà nói vì sao vậy? Vì khi đụng chuyện mình ở trong đó mình bị tình cảm ở trong, cái thương ghét ở trong á mình nhìn vấn đề không sáng nữa. Rõ ràng chủ quan như vậy, cũng giống như trong ngành y khoa vậy, là tới ca mổ thì thường bác sĩ không được mổ người
[53:30]thân của mình, không biết thầy nói có đúng không? Phải không? Hình như có nguyên tắc đó, thầy nghe nói có nguyên tắc đó vậy. Ví dụ như là vợ của ông bác sĩ mà bị phải mổ thì ông bác sĩ không được vào dự. Tại vì sợ bị hồi hộp, bị xúc cảm á, cái dao mổ không còn đi chính xác nữa. Đó cũng là cái người ta hiểu được cái nguyên tắc của khách quan và chủ quan đã chi phối trong cái nhận định và hành động của con người. Cái khách quan luôn luôn nó đúng hơn, nó đỡ bị sai hơn. Chúng ta thấy thế này, cái nhìn khách quan không thương ghét thì nó dễ đúng, như chúng ta nói khi thương trái ấu cũng tròn à, khi ghét thì trái bồ hòn cũng vuông à.
[54:07]Cái người mình nghĩ người ta xấu, hoặc là mình nghe người khác nói rằng người ta xấu thì người đó nhúc nhích cái gì mình cũng suy diễn thành cái điều xấu hết trơn. Thấy người ta cười cái thấy cười nham nhở, người ta khóc cái uỷ mị, mà trong khi là không có phải vậy, có khi lòng người ta rất trong sáng, nhưng mình cứ suy diễn riết à. Còn mà khi mà mình thương người ta rồi đó, thế là thấy người ta ngồi ăn một lúc nghĩa là tám chén cơm, ngồi: "Nè, người này sức khỏe tốt, hay thiệt. Phải khỏe như vậy thì mới làm được chuyện đời", à, còn mà thấy người ta không thèm ăn chén cơm nào: "Con người hay thiệt á, biết tiết thực",
[54:43]làm sao cũng khen hết, là vì khi thương rồi cái gì cũng nhìn ra tốt. Cho nên chỗ này là chỗ thoát ra, và cái người mà họ đứng bên ngoài mà nhận xét á, nó dễ đúng hơn là mình ở trong cuộc vì mình dễ bị chủ quan. Nhưng coi chừng! Coi chừng những cái người mà thích dựng chuyện giật gân, ví dụ như cái gia đình đó với cái ông hàng xóm, thì ông hàng xóm đối với gia đình đó là khách quan phải không? Là người bên ngoài mà, thì đâu có dính líu gì. Thì mình nghĩ rằng ông hàng xóm này ổng bên ngoài ổng nhìn gia đình đó chắc là khách quan, chắc là sáng suốt, nên mình tin. Ví dụ mình gặp cái người trong gia đình mình hỏi về những
[55:18]người trong gia đình thì có khi mình nghĩ là họ bị chủ quan, họ binh vực lẫn nhau, là họ nói tốt cho nhau hay là họ trong nhà họ xung đột với nhau thì họ nói xấu lẫn nhau, họ chủ quan, giờ mình hỏi ông hàng xóm chắc ăn hơn tại ông hàng xóm là khách quan. Nhưng mà đâu ngờ ông hàng xóm này là chuyên gia mà dựng chuyện kinh dị. "Bây giờ tôi hỏi thiệt anh nha, anh thấy bên cái nhà đó hai vợ chồng với gia đình nó sống có tốt không?", ổng nói thế này chứ: "Ông đó đó nghĩa là một tuần ổng phải đánh bài ba lần, còn bà vợ đó, coi bả vậy chớ là bả là người một lần uống rượu là hai xị", thích chuyện gì. Mình nghe nói cha, hết hồn, chuyện thiệt hay không phải,
[55:54]mà tại vì cái ông này mắc bệnh chuyên gia là nói bậy, dựng chuyện giật gân cho thiên hạ nghĩa là hết hồn chơi, cho nên coi chừng cái khách quan nó không phải khách quan, cái đó là chủ quan. Cho nên cái gọi là khách quan và chủ quan chúng ta phải xét đi xét lại dữ lắm chứ không phải là đúng đâu. Cái người mà hay tin chuyện thần linh á thì cũng dễ tin vào cái chuyện thần thoại và cũng dễ bị các giáo chủ bịp bợm gạt gẫm. Vì cái tin vào thần linh á cũng là một thành kiến, một cái khuynh hướng có sẵn trong lòng mình. Ví dụ từ nhỏ mình nghe cái chuyện có nàng tiên, có bà tiên hiện ra là cứu người trong cơn nguy cấp,
[56:29]người thiệt thà, cái mình nghe, rồi cái lớn lên chút nữa cái mình đọc những cái sách mà Tây Tạng huyền bí, Ấn Độ huyền bí, có những bậc Chân sư có thể hiện ra cả một cái lâu đài đẹp đẽ rồi biến mất, và con người có thể sống cả ngàn năm, người mà bay trên mây trên gió là những đỉnh núi này của Tây Tạng một vị Lạt-ma bay từ đỉnh núi này bay qua đỉnh núi kia để thăm người bạn rồi bay về. Nghĩa là mình sống trong cái không khí chuyện thần thoại không, cái mình tin, mình tin, tin rồi cái đi trên cuộc đời mình dòm, cái mình thấy một cái bà ăn mày đi lụp xụp ngoài đường, mình nói: "Coi chừng cái bà tiên hiện ra thử người phàm", nó vậy.
[57:05]Nghĩa là mình nhìn theo cái niềm tin của mình. Vân vân cứ như vậy. Rồi một lúc nào đó, một ngày đẹp trời cái mình tới một cái am, cái mình gặp cái ông đó, mình tới ổng không thèm ngó tới mình, mình nói: "Dạ, thưa thầy ạ, con nghe thầy là thầy Tư Nước Lạnh, linh lắm". Ổng không thèm trả lời. Mình nói: "Kỳ ta, bậc thánh có khác, chứ mình đi tới đâu người ta cũng ân cần, còn bậc thánh coi thường mọi chuyện trên đời, hay á". Mới quỳ xuống, nghĩa là: "Bạch ngài, con tới đây xin ngài cái ân huệ, ngài cho con một cái ân điển để con về mà con buôn may bán đắt". Cái ổng từ từ ổng nói: "Cái phép của ta là cao siêu vô cùng,
[57:44]ta là mới xuống trần gian này năm năm, còn mà trước đây năm năm thì ta sống ở... Cổng Lãnh dưới chân Cổng Lãnh gì đó không biết. Nghĩa là: "Ngươi có phước lắm mới được ta cho phép này. Bây giờ trước hết vì cái phép này làm hơi tốn tiền, ngươi phải đưa năm cây vàng ta mới có thể làm cái phép này được". Lật đật chạy về mượn tiền đưa người ta. Nghĩa là những cái mình bị lừa gạt bởi những chuyện như vậy là do làm sao? Mình bị nuôi trong cái không khí có những chuyện thần thoại không thực tế, mà cái lớp trẻ bây giờ được cái là tin vào khoa học nên ít tin vào chuyện thần thoại, đỡ bị gạt hơn cái người thế hệ trước.
[58:20]Cái thế hệ mà già già cỡ đi đó là chúng ta dễ bị cái cái chuyện thần thoại mê hoặc, còn lớp trẻ bây giờ bởi vì tin vào khoa học hơn nên ít bị gạt hơn. Dĩ nhiên là phủ nhận cái chuyện tâm linh cũng là một cái sai, vì tâm linh là điều có thật nhưng hiếm xảy ra trên cuộc đời này, mà còn luôn luôn tin vào chuyện tâm linh thì dễ rơi vào sai lầm. Đó cũng là cái khách quan, cái chủ quan mà chúng ta để ý vậy. Nhưng mà rồi ngược lại, cái người luôn luôn hoài nghi, cái gì cũng hoài nghi hết á thì có cái hay là người này cẩn thận, cái gì mình cũng nghi, không có tin liền. Ví dụ mình nghe nói ông thầy đó ổng là chân tu,
[58:59]đạo đức, khoan tin đã, để từ từ tới gần ổng coi, tại thấy nhiều ông thầy cũng bê bối, thôi để từ từ, nói ông thầy này ổng tốt, khoan, để đó xét lại. Thì cái hoài nghi đó nó có cái lợi làm cho mình cẩn thận, nhưng nó có cái nhược điểm là gì? Làm cho mình đến với chân lý, đến với điều thiện bị chậm, bị chậm. Lúc đó đó, ví dụ như cái ông thầy đó ổng tốt thiệt, ổng là người tốt thiệt, nhưng mình là người hay hoài nghi vì mình bị nhiều vố, mình hố rồi, phải không? Bị hố nhiều vụ rồi. Bây giờ đụng đâu nghi đó. Nghe người ta khen: "Không, mấy ông kia tà chứ bây giờ có ông này ổng hay lắm nè, anh tới đi", cái mình cũng dè dặt nói:
[59:38]"Thôi từ từ, có duyên rồi tới, có gì tui mắc đi đám giỗ, thôi để từ từ", tại trong lòng mình không thiết tha, nghi là không thiết tha, rồi cái bẵng đi năm, sáu tháng sau mới có người rủ rồi mình mới tới. Sau khi tới nhiều lần mới thấy: "Ông thầy này hay thiệt, đúng là người chân chính, có nhiều điều để mình học hỏi". Mà nếu sáu tháng trước mình đã đến thì có lẽ trong sáu tháng đó mình đã tiến bộ được một bước tiến gì đó về việc tu tập, về tâm linh. Cho nên ở đây cái hoài nghi cũng là một cái cẩn thận đáng khen, nhưng nó có cái nhược điểm làm cho mình đến với cái điều thiện, đến với cái điều hay, đến với lẽ phải nó bị chậm bớt một chút.
[1:00:17]Nhưng mà thôi, thà chậm vững chắc, hơi nghi nghi một chút nó bảo đảm hơn đụng đâu tin đó, phải không? Thôi đụng đâu tin đó hơi hơi ớn, hơi bị run. Thôi thì mình nghi nghi một chút để chắc ăn. Xét đi xét lại nhiều mặt để mình gặp được một vị thầy, một sư cô nào đó thì tương đối tốt hay là tốt thiệt. Rồi một điều nữa là chúng ta đừng tin vội một cái lời phê bình của ai hết vì mình chưa biết là cái người đó phê bình, nhận định chủ quan hay khách quan, phải không? Không biết. Ví dụ mình nghe người này khen người kia trên mây cũng chưa chắc là đúng, coi chừng đó là chủ quan, hoặc mình nghe người này chê người kia chê rác không
[1:00:53]còn điều gì hết cũng khoan tin, tại vì có khi người đó họ có cái chủ quan. Chính chúng ta đó là mình đã dè dặt về cái nhận định chủ quan, khách quan nơi chính mình rồi và mình cũng phải dè dặt cái chủ quan và khách quan nơi mọi người khác. Một điều người kia nói ra cũng không chắc là khách quan, lẽ phải đâu, mà có khi cũng là chủ quan tuốt luốt. Cho nên vì vậy là mình đã nghi ngờ chính mình rồi và mình cũng dè dặt với mọi cái nhận định của người khác hết, dè dặt lại. Và có khi nhờ như vậy mà chúng ta đến gần được với lẽ phải hơn. Ừm. Rồi chúng ta tu tập cái quán vô ngã đó để thoát khỏi chính mình và tạo ra được cái nhìn khách quan.
[1:01:37]Cái quán vô ngã này hay lắm á, mà phải tu tập cho sâu, phải thực hành thiền định thì chúng ta mới hiểu. Còn bây giờ mình nói quán vô ngã không ai hiểu gì hết. Nhưng mà bây giờ nếu mình tập từ từ mình sẽ thấy, ví dụ chúng ta ngồi kiết già, à bắt chân, giữ tâm thanh tịnh, rồi biết rõ toàn thân, giữ thân đúng tư thế, đầu tiên là thấy cái thân này là vô thường, là hư ảo, à biết hơi thở ra hơi thở vào. Rồi một thời gian tâm thanh tịnh thì mình thấy cái tâm này có nhiều lớp tâm thức. Mà mỗi lớp tâm thức như vậy dù cạn, dù sâu, dù có những lớp tâm thức mình đã thấy được, có những lớp tâm thức mình chưa thấy được thì tất cả lớp tâm thức
[1:02:19]đó đều vô thường, đều biến hoại, không có cái gì đáng để mình nắm giữ cả. Thì như vậy là mình thấy không thật có cái gọi là ta, không thật. Cái ta nào giờ mình cảm nhận nơi chính mình có một cái ta khác biệt với mọi người, sự thật đó là sự chồng chất nhiều lớp tâm thức lên nhau, nó quyện lại thành cảm giác về một cái ta. Bây giờ mình tu thiền, mình đạt được sự thanh tịnh, bỏ dần từng lớp, bỏ dần từng lớp, bỏ dần từng lớp. Cuối cùng mình thấy giống như Phật nói như một cây chuối vậy, lột hết lớp này lột hết lớp kia, không có một cái lõi cứng để gọi là cái ta vĩnh viễn, vĩnh hằng, bền chặt không có.
[1:03:00]Khi mình ngồi thiền tâm mình được cái định và mình khởi cái ý đó một lần nữa thì gọi là mình quán được vô ngã. Quán được vô ngã chứ chưa phá được bản ngã, phá được bản ngã còn rất lâu. Nhưng mà quán được vô ngã như vậy rồi thì mình đã đạt được cái khách quan rất nhiều. Và trong mọi vấn đề trong cuộc sống, với chính cái ý nghĩ của mình, với chính cái mọi sự kiện xảy ra chung quanh, mình đều có cái nhận định rất là khách quan, không bị chủ quan nữa. Là bởi vì sao? Bởi vì mình đã thấy chính mình không còn có nữa, không còn tồn tại, không thực sự nữa. Cho nên cái trí tuệ mà nó hiện ra phía sau đó rất là khách quan, không bị chủ quan.
[1:03:40]Thì cái này phải đòi cái công phu thiền định rất là lâu dài. Đó nãy giờ là chúng ta nói về cái nhận định chủ quan, khách quan nơi tâm lý con người để từ đây mình biết là cái nhận định nơi chính mình và nơi người khác để đến gần được với lẽ phải hơn. Bây giờ chúng ta nói qua về cái xét trách nhiệm của một người theo hai phía khách quan và chủ quan. Cái khách quan và chủ quan này nó lại mang cái nghĩa khác. Khách quan và chủ quan hồi nãy đó nó đều nằm trong tâm mình hết, còn cái khách quan và chủ quan theo cái nghĩa này thì nó lại hai nghĩa khác nhau, một cái là bên trong gọi là nội tại, cái bên ngoài gọi là ngoại tại, nghĩa là cái điều kiện khác nhau.
[1:04:23]Ví dụ là chúng ta thấy một người thành công thì chúng ta coi coi phải do người đó là có trí nè, có tài nè, do người đó có cái nỗ lực, quyết tâm của người đó ở trong tổ chức đó thì gọi đó là điều kiện nội tại, điều kiện chủ quan. Hoặc là cái thành công đó là do những cái may ở bên ngoài đâu nó đưa tới. Nghĩa là họ cũng làm ăn bình thường nhưng mà tự nhiên họ trúng mánh, trúng mối gì đó, ai tới giao cho họ những cái mối làm ăn lớn, rồi họ suôn sẻ họ thành công luôn thì cái đó là những cái may mắn ở bên ngoài vậy, mà chúng ta gọi đó là cái điều kiện khách quan đã đem lại cái thuận lợi. Thì khi xét như vậy là chúng ta xét cả hai mặt và như vậy mới là công bằng.
[1:05:10]Chứ chúng ta đừng bao giờ xét một người chỉ một phía bên trong hay bên ngoài gọi là khách quan hay chủ quan á thì chúng ta không có được công bằng. Ví dụ bây giờ mình thấy người đó không dạy được con, gia đình người đó có những người con cái bị hư hỏng, thì đầu tiên á nếu xét theo cái điều kiện chủ quan thì mình nói làm sao? Nói làm sao? Nói người này không biết, không biết dạy con. Đó là mình xét chủ quan nhưng như vậy chưa công bằng, mình đánh giá như vậy chưa công bằng. Giờ mình xét theo khách quan, khách quan là những điều kiện bên ngoài tác động vào cái việc dạy con nè, là hai người này bởi vì
[1:05:48]nhà họ nghèo, họ phải ráng chạy lo làm ăn chứ không có nhiều thì giờ để mà lo cho con cái, chăm sóc con cái. Chính lý do kinh tế đã làm cản bớt cái việc mà giáo dục con cái, là một điều kiện khách quan. Cái thứ hai nữa là đứa bé này nó đi học vào trong cái lớp đó xui cho nó là cái lớp đó người xấu nhiều quá, mấy đứa bạn xấu nhiều quá tấn công nó, rủ rê nó, đưa cho nó coi những câu chuyện, những cái phim đồi trụy nhiều quá, rồi thậm chí có đứa lén đưa cho nó heroin hút nữa thì chuyện này cha mẹ không kiểm soát nổi. Cha mẹ giỏi gì giỏi cũng không thể nào kiểm soát được những cái thằng bạn mà ngồi kế nó trong lớp là những thằng nào.
[1:06:26]Nên ở đây trong cái vấn đề mà gọi là dạy con cái đó, nếu mà một bậc cha mẹ mà giỏi đó là phải biết trong lớp cái đứa con mình nó ngồi ở nơi bàn số mấy, nghĩa là năm sáu đứa bạn mà ngồi chung quanh nó là thuộc thành phần nào, gia đình nào phải nắm hết lý lịch. Cha mẹ nào mà phải theo dõi con tới mức độ đó mới gọi là cha mẹ giỏi dạy con. Còn đa phần cha mẹ chỉ kiểm soát con là coi những đứa bạn nào tới nhà thôi. À tới nhà biết à bạn đó quen con à nó học tốt không con, dạ được. Sao thấy rủ mày đi chơi hoài vậy, dạ không, đi học. Thì cũng nghi nghi, nhưng mình chỉ xét đứa nào mà mình thấy mặt nó tới chơi với con mình thôi.
[1:07:04]Nhưng mà nếu cha mẹ mà thuộc lại sâu sắc á, nghĩa là khi học xin phép nhà trường vô đứng bên ngoài cửa sổ nhìn vô coi thằng con mình nó ngồi nơi cái bàn nào, đứa nào thân với nó, chung quanh đó là những đứa nào, mặt rằn mặt rện, mặt hiền lành hay khôi ngô tuấn tú sao biết, thậm chí điều tra tư cách của mấy đứa kia nó ảnh hưởng tới con mình như thế nào. Nếu mà bậc cha mẹ mà giỏi á điều tra tới mức độ, kiểm soát con mình tới mức độ đó luôn. Và ở đây chúng ta nói chuyện ngoài lề, ngoài đề tài một chút. Bên thế giới Tây phương có cái gọi là quyền trẻ em, hiện nay nước mình cũng bắt đầu áp dụng á, là cha mẹ hoặc người lớn không đụng được tới trẻ em,
[1:07:40]gọi là quyền trẻ em, và chúng tôi gọi đó là cái thảm họa của nhân loại bắt đầu. Rất nhiều Phật tử ở nước ngoài về than với chúng tôi về việc không thể dạy được con cái, không dạy được. Bởi vì cái quyền trẻ em dạy cho nó bướng bỉnh từ nhỏ, nó không còn sợ ai hết vì nó có luật pháp bảo vệ nó, cha mẹ không được quyền làm dữ với nó. Và chúng tôi gọi là thế giới này đang đi vào bóng đêm bởi cái quyền trẻ em này. Người mà kêu gọi xây dựng, áp đặt cái quyền trẻ em này là những người vô trách nhiệm, nhìn vấn đề không sâu mà cứ tưởng mình là những người thiện tâm, thiện chí, đâu ngờ giết lần thế giới này.
[1:08:18]Thì những thế hệ sau lớn lên lớn lên dần thì toàn là những đứa trẻ mà nó biết về quyền trẻ em của nó, ương bướng, bất cần người lớn, không sợ cha mẹ, thật là một đại họa cho nhân loại. Thì nói chuyện đó một chút thôi giờ trở lại đi. Thì chúng ta thấy đó khi chúng ta xét về sự thành công, thất bại một người, chúng ta xét cả nhiều mặt như vậy mới gọi là công bằng, chứ đừng bao giờ kết tội người đó là tại vì bản thân người đó dở là mới xét cái điều kiện chủ quan thôi. Dĩ nhiên là nghiệp tạo ra tất cả, nghiệp tạo ra điều kiện chủ quan cũng như nghiệp tạo ra điều kiện khách quan. Ví dụ như trở lại vấn đề dạy con vậy,
[1:08:55]nghiệp tạo ra điều kiện chủ quan là khiến đứa con nó ngoan sẵn, mà khiến gia đình nó dễ dàng kinh tế để có thì giờ dạy con. Nghiệp tạo ra điều kiện khách quan là khiến thằng bé nó hên, nó lọt vô lớp ngồi gần chung quanh những đứa bạn tốt. Đó gọi là nghiệp nó chi phối cả hai cái. Đó nếu mình nói theo nhân quả, còn bây giờ mình không nói nhân quả mà mình xét điều kiện chủ quan, khách quan là phải xét như vậy. Bây giờ chúng ta nói qua vài câu mà cổ nhân đã nói để chúng ta thấy nè: như có cái câu mà ông bà mình nói: "Cái khó bó cái khôn." Nghĩa là sao? Cái khó là điều kiện chủ quan hay khách quan? Cái khó bó cái khôn.
[1:09:33]Cái khó là điều kiện khách quan hay chủ quan? Khách quan. Cái khó là cái bên ngoài đó, hoàn cảnh khó khăn bên ngoài. Bó cái khôn, cái khôn là chủ quan hay khách quan? Chủ quan. Như vậy ông bà mình đã có một cái câu nhận định là có những trường hợp mà khi cái hoàn cảnh khách quan nó khó khăn quá, nó khắc nghiệt quá thì dù bên trong cái chủ quan mình có giỏi, có nỗ lực mình vẫn thất bại, không thể làm được, phải không? Chúng ta gặp trên đời này nhiều người như vậy, có thành tâm, có thiện chí, có tài năng, có cố gắng nhưng không làm ăn được, không làm ăn được, bởi vì cái hoàn cảnh bên ngoài không
[1:10:11]may mắn, nghĩa là cái điều kiện khách quan không tốt mặc dầu bản thân người đó tốt. Cái đó ông bà mình gọi là "Cái khó bó cái khôn". Nhưng rồi ông bà mình cũng có sửa lại: "Cái khó ló cái khôn." Nghĩa là sao? Thì trong trường hợp này nghĩa là cái sự khó khăn bên ngoài nó đã kích động làm cho một người có một cái nỗ lực vượt bậc lên trên và đã xuất hiện ra được cái tài trí đặc biệt, phải không? Đó gọi là cái khó ló cái khôn. Ông bà mình có những cái nhìn cũng hay lắm. Những câu tục ngữ chút chút vậy chớ sự thực là những cái triết lý rất là lớn. Ừm. Như có cái câu này nữa là: thời thế tạo anh hùng, nghĩa là sao?
[1:10:57]Nghĩa là có một cái người đó họ giỏi sẵn rồi, nhưng mà sẽ không ai gọi người đó là anh hùng nếu nước nhà không có trong cơn nguy biến, phải không? Nhưng mà lúc đó nước nhà trong cơn nguy biến và người này đem tài năng ra giúp nước thì được đời đời lịch sử gọi là anh hùng cứu quốc. Đó là thời thế đã tạo anh hùng. Chớ có nhiều khi nếu không có thời thế thì cái người đáng để gọi anh hùng đó cũng nằm yên thôi, ở không, không có chuyện gì để làm lắm. Gọi là thời thế tạo anh hùng, là cái điều kiện khách quan để làm cho một con người vượt lên trên thời đại trở thành lẫy lừng, đặc biệt. Rồi có câu ngược lại là:
[1:11:37]anh hùng tạo thời thế. Nghĩa là sao? Nghĩa là cái người này giỏi xoay chuyển được cái thời cuộc bên ngoài, tạo ra những điều kiện khách quan cho mình. Những con người này phi thường. Những cái người này thì chúng ta thấy là nơi những nhà cách mạng, hay là những nhà bác học siêu việt là những người mà anh hùng tạo thời thế. Ví dụ trong nhiều năm người dân họ sống trong cái đày đọa, áp bức, họ đành chịu. Nhưng có một người vượt bậc nổi lên tạo một cuộc cách mạng thay đổi thời cuộc thì đó gọi là anh hùng tạo thời thế. Ở trong lịch sử chúng ta đã từng gặp như vậy. Hoặc là những nhà bác học, là nào giờ mình cứ quen
[1:12:18]là thôi mình đi bộ và đi ngựa, phải không? Nhưng rồi có ông nào ổng buồn buồn ổng chế ra một chiếc xe đạp. Thế là mình phải đi xe đạp, tạo cho cả thế giới phải đi xe đạp. Rồi bây giờ thế giới phải đi xe gì? À, phải đi xe Dream Trung Quốc. Tức là cũng anh hùng nào tạo thời thế. Không biết ông nào ổng nhập xe Trung Quốc tràn lan hết trơn, giá rẻ nữa. Đúng là anh hùng đó tạo thời thế, bây giờ xe đi rần ngoài đường tai nạn loạn xạ hết vì phân khối thì lớn mà bằng lái thì không, cho nên đụng nhau ì xèo hết trơn. Là anh hùng mà tạo ra cái thời thế đụng xe đó. Không biết ai đổ xe nhập xe quá chừng. Bây giờ vậy nếu mà bình thường đừng có những nhà
[1:12:57]bác học phát minh á, thì bây giờ mình sao? Thì bây giờ ví dụ quý Phật tử đi ngồi mà nghe giảng thì chưa chắc là mình có nhiều bàn ghế vậy để ngồi, tại không có phương tiện kỹ thuật. Mình ngồi trong cái mái nhà có mái tranh che và cái người giảng phải ráng gào lên mà la. Tại vì xa quá người ta không nghe được, phải ráng la, chớ không được mà nghe bằng cái ampli, cái loa tốt như vậy. Nên cái người bác học đúng là đã tạo thời thế đó. Họ làm thay đổi thế giới, kỹ thuật đã làm thay đổi thế giới. Ví dụ như người mà đã chế ra được cái máy vi tính á, họ thay đổi cả thế giới. Bây giờ mình liên lạc với thế giới, ngồi lên bấm bấm chút xíu
[1:13:33]là liên lạc được với nhau hết trơn, nên họ đã thay đổi. Gọi là những người mà anh hùng tạo thời thế vậy. Thì tất cả vẫn chỉ là nghiệp tạo ra tất cả thôi. Cái phước của nhân loại đưa đến những cái điều kiện tốt bên trong cũng như bên ngoài của con người. Giờ chúng ta nói qua về tín ngưỡng. Có những cái tín ngưỡng mà áp đặt niềm tin nhiều quá thì làm cho tín đồ dễ rơi vào chủ quan, dễ rơi vào cái thành kiến có sẵn. Ví dụ như tín ngưỡng đó họ đưa ra một ông thần, họ nói ông thần này là ông thần rất là linh thiêng, cao tột tất cả. Là ai mà hổng tin là người này phải xuống địa ngục. Họ nói như vậy.
[1:14:09]Và rất nhiều người tin theo, rất nhiều người tin theo. Rồi khi mà tin theo như vậy đó thì cái ông mà ông tu sĩ á, ổng nói ổng là người đại diện cho cho vị thần linh đó. Và ổng nói gì mọi người phải tin nha, không tin là xuống địa ngục á. Thì ở đây đó, chúng ta thấy mình bắt đầu hơi bị gạt rồi đó. Vì có bao giờ mình nghe ông thần đó mở miệng không? Có bao giờ không? Mà nghe ai mở miệng? Cái ông tu sĩ đó không à. Cái ông chức sắc đó không à, phải không? Cái ông chức sắc của cái đạo đó, ổng nói ổng là đại diện cho thần linh tối cao, ổng bảo mình phải làm cái này, bảo mình phải làm cái kia, bảo mình phải đi ghét người này, bảo mình phải đánh người kia,
[1:14:48]thậm chí bảo mình phải phản bội quê hương đất nước của mình luôn, thậm chí luôn. Và mình tin, tại mình nghĩ rằng ổng là đại diện cho thần linh, mà sự thực có ai nghe được thần linh lên tiếng đâu. Không có ai nghe hết. Cho nên ở đây á là chúng ta mong là mọi người sáng suốt, khách quan trở lại. Bất cứ tín đồ của tôn giáo nào cũng vậy, mỗi khi nghe một cái người tu sĩ chức sắc của tôn giáo mình nói điều gì, đừng nghĩ rằng lời đó là lời của thần linh, mà chỉ là lời của cá nhân của cái người tu sĩ đó mà thôi. Và phải xét lại, phải xét lại, coi cái điều đó có đúng với đạo lý, với lẽ phải hay không, chớ đừng có tin liền.
[1:15:28]Tin liền là có khi mình làm bậy. Và điều này đã diễn ra rất nhiều ở các tôn giáo, hiện nay đang xảy ra. Như có một cái tôn giáo vậy, cái ông chức sắc á ổng được mọi người tôn sùng như ông thánh á, ổng nói: Các con nghe lời ta, hy sinh cả mạng sống mình vì Thượng đế thì các con sẽ được lên sống với Thượng đế. Rồi những người kia tin ổng quá đi. Ổng nói là: Các con hãy đem bom đặt cái nhà đó cho sập. Hãy vào cái làng đó giết hết mấy đứa đó, mấy đứa đó nào giờ nó ghét ta, nó chống ta, nó chửi ta hoài, vô cắt cổ hết rồi các con sẽ được lên thiên đường. Rồi tín đồ hổng biết đi làm. Cứ tưởng cái tiếng nói của ổng là tiếng nói của thần linh,
[1:16:06]nào giờ mình bị chủ quan áp đặt, bị cái niềm tin đặt lên trên đầu mình, chớ không có ông thần linh nào nói câu đó hết, mà chỉ có ông chức sắc lừa bịp đó, xúi mình làm điều ác. Nên vì vậy, chúng ta cũng mong rằng tín đồ của tất cả các tôn giáo, kể cả Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, vân vân, đừng nghĩ rằng cái người tu sĩ là đại diện cho thần thánh tối cao, mà những ý kiến người đó đưa ra cũng chỉ là ý kiến cá nhân và luôn luôn cần phải được xét lại. Thì hôm nay chúng tôi ngồi đây trước mặt quý Phật tử, chúng tôi cũng giảng giải về đạo lý, thì ví dụ như chúng tôi mà lên giọng nói: À, tôi, thầy nha, thầy đại diện cho Phật nha,
[1:16:46]thầy nói lời nào là chắc cú lời đó, đừng có tin. Phải xét lại liền. Chỉ là ý kiến cá nhân của thầy. Có khi thầy nói đúng với Phật pháp, có khi thầy thêm ý kiến cá nhân thầy trật với Phật pháp, và bình tĩnh ngồi nghe. Và nếu mà ai cũng có tinh thần như vậy thế giới này sẽ hòa bình. Vì sự thật xúi người ta đánh nhau nhiều khi là tại mấy ông thầy tu. Tại mấy ông thầy tu xúi, bên này chia rẽ bên kia, bên kia chửi bới bên nọ lại là mấy ông thầy tu. Mà mấy ông thầy tu cứ tưởng mình là đại diện cho thần thánh ở trên cao, mà sự thực mình chỉ đại diện cho cái tham vọng cá nhân ích kỷ trong tâm mình. Vì vậy những người tín đồ trong các đạo vậy, phải bình tĩnh.
[1:17:30]Rồi có nhiều khi vậy, vì những cái niềm tin đó áp đặt đó vậy, tin quá đi, rồi mình chỉ biết có đạo mình thôi và mình bênh vực đạo mình như là một cái phe phái có tính cách cá nhân, mà không thông cảm được với những đạo khác, thành ra rồi làm cho thế giới này chia rẽ. Như có lần chúng ta nói vậy, lẽ ra một cái đạo giáo xuất hiện để làm cho con người thương yêu nhau, chớ lẽ nào mà một đạo giáo xuất hiện để làm chia rẽ thêm con người. À, vì nó khác đạo mình, mình phải tiêu diệt nó, mình phải ghét nó. Như vậy đạo đó không còn là là đạo nữa. Ngồi trong hội chúng của chúng ta đây, có một người Thiên Chúa giáo đang ngồi ở đây.
[1:18:14]Ở bên nước ngoài về, nhưng mà luôn luôn đi chùa đạo Phật, truyền bá băng giảng ở đạo Phật và có cuộc sống rất chan hòa. Có thể cô đứng lên cho mọi người gặp chút chị Bé kìa. Và chúng ta có thể vỗ tay.
[1:18:31]Là Thiên Chúa giáo về ở bên Úc về, và thích nghe băng đạo Phật và truyền bá băng đạo Phật luôn, cũng như là các cái tín ngưỡng khác, hay như vậy. Và chúng ta thấy đó là nếu mà những tín đồ của các tôn giáo được cái tinh thần như vậy thì thế giới này hòa bình lắm. Là những cái người tín đồ như vậy họ sáng suốt, họ đến trực tiếp với vị thần linh tối cao. Như trong đó có một lần có cái bộ phim mà nói về tôn giáo vậy, có một ông cha, ổng đến ổng rửa tội cho một cái người sắp sửa bị chết. Thì cái người này mới nói rằng nói: Thưa cha, con cám ơn cha đã đến đây, nhưng con tin rằng con có một sự hiệp thông
[1:19:10]trực tiếp giữa con và Chúa và không cần người nào khác, and nobody else. Ổng nói câu vậy. Mà không ngờ câu đó dạy được cho ông cha. Sau này cái ông cha vậy, ổng cũng trả lời với cha bề trên nữa. Khi ông cha bề trên tới nói một chuyện gì đó, ổng cũng trả lời với cha bề trên mà nói: Thưa cha bề trên, là trong việc này con nhận trách nhiệm của con trực tiếp với Chúa và không cần một nobody else, không cần một người nào khác làm trung gian nữa. Vậy. Cái đây chúng ta thấy họ có cái tư tưởng cách mạng là đối với cái người tu sĩ tuy là những người rất đáng kính, nhưng mà chúng ta đừng dại khờ tin hoàn toàn.
[1:19:49]Phải luôn luôn xét lại, vì có khi họ xúi mình làm chuyện bậy. Và theo cái cảm tính của một người đó làm cho cái đạo đó có mang cái sắc thái là một phe nhóm riêng biệt, mà đôi khi là sẵn sàng vì đạo mà chống lại quê hương, chống lại đồng bào, có khi sẵn sàng vì đạo mà giết hại cả đồng bào ruột thịt của mình. Giống như ở Algérie vậy, họ giết hại đồng bào của họ vì họ tin vào đạo. Đây là một điều mà chúng ta thấy cái sự áp đặt niềm tin lên con người tạo một sự chủ quan cực độ, rồi con người ta có thể làm chuyện sai lầm mà họ không ngờ được. Mình nhắc lại một chút xíu về ý nghĩa tôn giáo. Vào thời xa xưa đó, khoa học chưa tiến bộ
[1:20:31]thì tôn giáo là thay thế khoa học để giải thích mọi điều trong cuộc sống này. Và giải thích có đúng không? Đúng không? Trật lất, phải không? Vì hồi đó chưa khoa học, nhưng mà con người luôn luôn cần lời giải thích. Tại sao mưa rơi? Phải có trả lời. Không trả lời con người ta hoang mang và không sống được, vì con người mình rất là thông minh và tò mò. Ví dụ như con chó đó, mưa rơi nó chỉ biết mưa rơi, nó không cần biết mưa từ đâu tới, vì nó không đủ thông minh để khởi lên cái tò mò. Càng thông minh thì người ta càng tò mò. Nên con người là loại thông minh nhất trên thế giới nên cũng tò mò nhất trên hành tinh này.
[1:21:10]Mưa rơi dòm thấy mưa rơi, không biết mưa rơi từ đâu. Mưa rơi từ ngàn xưa hay mưa rơi về nẻo mơ?
[1:21:20]Nghĩa là người ta phải coi mưa từ đâu tới và người ta cứ thắc mắc người ta hỏi nhau, giống như bây giờ mấy đứa nít đó, là thấy cái ông hàng xóm qua thăm nhà: Mẹ mẹ, tại sao bác đó mập thế mẹ? Cái gì nó cũng hỏi hết, phải không? Đó là dấu hiệu của những đứa trẻ thông minh. Thông minh tức là tò mò. Thì con người mà sống tới ba bốn chục tuổi, năm sáu chục tuổi mà không trả lời được cái câu mưa từ đâu rơi chịu hổng nổi, điên. Phải có câu trả lời. Và câu trả lời lúc đó là trả lời sao? Ông Trời ổng tạo ra tất cả, đó. Lúc đó, tôn giáo đã là thay mặt cho khoa học để trả lời tất cả và dĩ nhiên trả lời sai, cho nên nó tạo thành một cái khuynh hướng khác.
[1:22:00]Nhưng ngày nay thì khoa học trả lời lại hết rồi, từ từ trả lời lại hết tất cả. Vì bây giờ cái trách nhiệm của tôn giáo là xây dựng đời sống tâm linh, chứ tôn giáo đừng nên mà đi vào các lĩnh vực khoa học quá sâu, việc tôn giáo không thể trả lời được. Khoa học vẫn chuyên môn hơn, nhưng tôn giáo có trách nhiệm là hướng dẫn đời sống đạo đức, tinh thần, tâm linh cho con người. Ngang chỗ đó thì tôn giáo có giá trị. Và tâm linh là cái cuộc sống cao cấp của chúng sinh, tuy nhiên chúng ta phải vạch ra một hướng đi chung hợp lý trên toàn thế giới, bởi vì trên toàn thế giới có nhiều cái khuynh hướng tâm linh khác
[1:22:38]nhau lắm, nghĩa là mỗi đạo có một cách đi khai thác tâm linh của mình rất là khác. Thì ở đây một ngày nào đó, chúng ta tin rằng là các nhà tâm linh học trên thế giới có tôn giáo, không tôn giáo, các nhà khoa học sẽ ngồi lại với nhau để định nghĩa lại thế nào là một đời sống tâm linh chân chính. Vì con người cần có đời sống tâm linh không thể phủ nhận được, nhưng mà cũng không thể là đi tìm một đời sống tâm linh sai lầm để trở thành mê tín, cuồng tín, huyền hoặc và tự gạt lừa chính mình. Nên chúng ta cần một đời sống tâm linh chân chính bởi những nhà tu hành chân chính có cái nhìn sáng suốt, đúng đắn, ngày nào đó thế giới phải xây dựng lại.
[1:23:26]Và lúc đó, tôn giáo sẽ gọi là một khoa học tâm linh, còn khoa học hiện nay gọi là khoa học của vật lý, khoa học tự nhiên, khoa học vật lý, còn tôn giáo khi mà đã được con người lập ra được cái nguyên lý, lý thuyết, định lý, định nghĩa đầy đủ rồi, kiểm nghiệm đầy đủ rồi sẽ trở thành khoa học gọi là khoa học tâm linh và từ từ bỏ hết những cái giáo điều sai lầm để chỉ còn lại những nguyên lý chung của một khoa học gọi là khoa học tâm linh. Lúc đó tôn giáo không còn là tôn giáo nữa, đã trở thành khoa học. Còn chúng ta nói về cái khách quan một chút xíu, cái ý nghĩa khách quan ở đây gọi là cái mà tồn tại bên ngoài tâm trí
[1:24:07]mình mà chúng ta có thể kiểm chứng, thí nghiệm lập lại nhiều nơi, nhiều chỗ khác. Ví dụ như cái công thức là khi mà ở với cái áp suất không khí này, nước mà nấu tới 100 độ thì nó nó sôi và cái thí nghiệm này mình đi bất cứ nơi đâu làm đều cũng được như vậy hết. Như vậy cái mà 100 độ nước sôi đó là cái nó tồn tại ngoài ngoài ý muốn của mình thì như vậy người ta gọi nó là khách quan, khách quan. Nhưng mà cũng có một cái nền triết học cho rằng trên đời không có khách quan, tất cả mọi cái đều chủ quan, nghĩa là đều có cái can thiệp của cái ý muốn, ý nghĩ, hiểu biết của con người đối với thế giới này, chứ hoàn toàn không có cái tồn tại độc lập ngoài cái tâm trí con người.
[1:24:54]Cũng có một cái nền triết học như vậy, nhưng mà thôi cái đó là một cái nhánh riêng, chúng ta không bàn tới. Giống như hôm trước chúng ta có nói với nhau cái đề tài có và không, quý Phật tử nhớ không? Đề tài có và không á. Chúng ta gọi cái gọi là có, khi nào sao? Khi nào chúng ta biết được nó, phải không? Mà cái mà chúng ta không thấy, không biết, đem máy móc ra đo không nhận ra được, chúng ta gọi nó là không tồn tại, mà sự thật nó không không? Chưa chắc nó không nha, coi chừng nó có mà mình không đủ sức để nhận ra nó được. Thì ở cái chỗ này chúng ta thấy rõ ràng là cái triết học mà nói rằng mọi cái đều chủ quan là có thể ăn khớp chỗ này,
[1:25:34]đúng chỗ này, là chúng ta thấy điều đó có bởi vì cái tầm mức khả năng mình tới đó thôi, chứ còn xa hơn thì mình không có biết được. À, hôm nay là đầu năm, chúng ta nói chuyện với nhau về cái đề tài khách quan và chủ quan để cho suốt năm và suốt cuộc đời cũng như nhiều kiếp còn lại, chúng ta tập nhận định mọi điều trên cuộc đời này rất là khách quan, thoát ra ngoài những cái thành kiến, thương ghét, chủ quan của mình để chúng ta có thể đến gần được với lẽ phải, đến gần được với chân lý, bớt tin vào ý nghĩ của mình. Còn đến sau này, khi mà chúng ta thoát được hết mọi cái thành kiến, mọi bản ngã rồi, lúc đó trí tuệ xuất hiện thì lúc đó chúng ta nhìn đâu đúng
[1:26:17]đó, lúc đó chúng ta sẽ rất là tự tin và không ai làm chúng ta lung lay được. Và lúc đó mọi điều mình nói ra đều là lẽ phải, đều là Phật pháp, là đạo lý. Xin chúc cho quý Phật tử được thân tâm thường lạc, trí tuệ sáng suốt, luôn luôn nhìn thấy được lẽ phải, thấy được chân lý và sống với nhau trong cái lòng thương yêu, chan hòa vô hạn. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu