[0:09]Xin mời toàn thể đạo tràng niệm Phật cầu gia bị. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:27]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:43]Nam Mô Bổn
[0:48]Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Chúng con xin cung thỉnh Thượng tọa Pháp sư an tọa. Xin mời toàn thể đại chúng an tọa. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Giờ ta nghe bài kệ: "Không bờ này bờ kia, cả hai bờ chẳng có, lìa khổ hết buộc ràng, ta gọi Bà-la-môn." Cái phẩm Pháp Cú qua tới chỗ này gọi là phẩm Bà-la-môn. Chữ Bà-la-môn là danh xưng về một cái giai cấp trong bốn giai cấp của nước Ấn Độ. Đó là giai cấp mà lãnh đạo tinh thần, giai cấp có tính tâm linh, có tính tín ngưỡng, thần linh. Và chữ Bà-la-môn á, Brahman, Brāhmaṇa trong tiếng Ấn Độ nó nó hàm ý là phạm chúng. Cái chữ phạm cái chữ phạm này nó khó dịch, nhưng mà nó hàm ý nghĩa là
[1:52]trong sạch, rất trong sạch, pure, thanh tịnh, rất trong sạch, dành cho những người mà cao quý, tức là người ta đáng kính bởi vì người ta trong sạch. Ý là như vậy. Nhưng sau này con người biến tướng nó không xứng với cái danh xưng của mình thì đó là chuyện khác, còn ban đầu thì cái danh xưng nó ám chỉ cho những người trong sạch. Nên cái danh xưng này nhiều khi nó bắt nguồn từ một cái Đức Phật xưa nữa. Từ một Đức Phật xưa cái từ Brāhmaṇa này có ám chỉ những cái tu sĩ thời Đức Phật xưa. Nhưng khi mà cái thời đại cái Chánh pháp bị thay đổi, bị biến hóa, bị người ta âm mưu phá hoại, biến tướng đi, cái chữ Brahman này nó biến thành một cái giai
[2:37]cấp tu sĩ đáng được ca ngợi nhưng mà lại không còn đúng là đạo Phật nữa. Đến khi đời Đức Phật Thích Ca ngài xuất hiện thì đành ngài không được dùng chữ Brahman sợ trùng lặp, ngài lại dùng chữ gì? Chữ gì? Bhikkhu là Tỳ-kheo, khất sĩ, người đi ăn xin. Đến biến tướng đó. Rồi một lúc nào đó, một lúc nào đó có khi vào cái thời cái giáo pháp của Đức Phật Thích Ca cũng bị bị những kẻ nó xâm nhập, nó biến tướng, nó giả bộ nó là đạo Phật. Nhưng mà khi nó lấy được quần chúng rồi cái nó biến thành một đạo khác. Hiện nay có nhiều cái giáo phái đang xuất hiện như vậy. Hiện nay đang có nhiều lắm á. Cũng giả vờ là đạo Phật để thu hút tín đồ,
[3:18]quần chúng xong khi mà người ta đến rồi cái nó biến thành đạo khác. Thì cũng đề phòng như vậy, đến lúc nào đó cái ừm đạo Phật cũng bị như vậy. Rồi lúc đó cái từ Tỳ-kheo, cái từ khất sĩ ta sẽ hiểu là không còn ám chỉ cho những người mà đệ tử chân chính của Đức Phật nữa mà đã trở thành một đẳng cấp nào khác, đẳng cấp nào đó. Đến khi Đức Phật Di Lặc xuất hiện, ngài không dùng chữ Tỳ-kheo nữa, ngài lại tạo ra một một cái từ mới. Thì cũng vậy, cái chữ Bà-la-môn trong cái thời Ấn Độ là một cái từ dành cho những người cao quý, có nghĩa là những người rất trong sạch, phạm chúng. Nên sau này khi Đức Phật Thích Ca giảng pháp,
[4:01]đôi khi ngài dùng lại cái từ Bà-la-môn để ám chỉ cho những người thánh thiện. Và cái phẩm Bà-la-môn trong trong cái đoạn Pháp Cú sau này cũng vậy. Chữ Bà-la-môn đều ám chỉ cho những người những người đáng kính, những người sống một đời thánh thiện. Cho nên là: "Không bờ này bờ kia, cả hai bờ chẳng có, lìa khổ hết buộc ràng, ta gọi Bà-la-môn." Sở dĩ Đức Phật nói bài kệ này là vì cái sự tình thế này. Lúc đó Ma Vương hiện hình người ra đến hỏi Phật: "Bạch Thế Tôn, Phật hay nói là hãy qua bờ bên kia, qua bờ bên kia, nghĩa là gì?" Đó là Ma Vương ghê lắm, hỏi chứ sự thực nó chuẩn bị đợi Phật trả lời xong bắt bẻ lại, gài lại.
[4:49]Nhưng mà Đức Phật thì lại biết ngay từ đầu. Đức Phật mới nói: "Này Māra," kêu tên liền. Mặc dầu nó giả hình một người rất là đẹp, đẹp hơn cả ca sĩ Triều Vân kia nữa. Này vậy, nhưng mà mà Phật biết liền. Phật nói: "Này Māra, không có chuyện mà có bờ này bờ kia." Ma Vương thì hỏi Phật sao Phật hay nói bờ bên kia bờ bên kia, nghĩa là gì? Thì cái ý là ma nó chuẩn bị một cái lý luận gì phía sau đó thì ta không biết, nhưng mà ngay đó Phật bác liền: "Này Ma Vương, không có bờ này bờ kia." Và Phật nói bài kệ: "Chẳng bờ này bờ kia, chẳng có bờ nào cả. Chỉ khi nào ngươi lìa được khổ, ngươi hết các buộc ràng,
[5:30]ta gọi ngươi là Bà-la-môn." Thì ma nó không có lừa được Phật. Mà thực sự là thế này, sở dĩ mà ma hỏi là bởi vì Phật cũng có nói bờ bên kia bờ bên kia chứ không phải không. Mà cái chữ bờ bên kia là một thành ngữ của Ấn Độ cổ. Thời nay người Ấn Độ người ta hết dùng rồi, nhưng ngày xưa người ta hay dùng cái chữ bờ bên kia là tượng trưng cho một cái sự khó nhọc, vất vả để hoàn thành được một cái công việc gì đó. Tức là công việc đó rất khó khăn, nhưng mà người nào hoàn thành được thì gọi là người đã đến bờ bên kia. Tại sao họ lại dùng cái hình tượng qua bờ bên kia để ám chỉ rằng hoàn thành một việc khó?
[6:10]Bởi vì thời đó Ấn Độ vượt qua sông Hằng cực kỳ khó. Sông Hằng nước chảy xiết, mênh mông, mà thời đó những phương tiện qua lại không có, cầu thì dĩ nhiên hoàn toàn không, không ai bắc nổi một cây cầu qua sông Hằng cả. Chỉ đi bè, đi thuyền, đó. Có những cái thuyền đóng rất công phu, nhưng mà thuyền á thường cho những người vua quan mới có, còn dân thì cứ chống bè. Bè đó họ kết bằng những cái gỗ và hầu hết là tre, tre bọng á, nó có không khí trong mà họ kết thành nhiều tầng dày, có khi dày tới 20 lớp tre như vậy để cho nó nổi lên được một phần ba thôi. Thì người ta đứng lên nữa nó lấp lấp lấp lấp nữa là cứ chống
[6:52]đẩy chống đẩy đi qua, rồi sông Hằng có những khúc nó cạn. Nó rộng quá thì có những khúc nó cạn thì người ta không bơi bằng xuồng, cầm cái cây sào thật dài hai, ba người đẩy một cái bè tre. Trên cái bè tre đó nó đứng được đâu mười mấy, hai chục người, mà đi qua cực lắm. Cho nên mỗi lần mà đi qua một con sông như vậy rất là vất vả. Còn đến cái mùa mà mưa lũ nước chảy ầm ầm thì ai liều mới dám dùng bằng bè đi qua sông, hầu hết là chết. Nên do đó là mùa mưa lũ cực kỳ hạn chế. Và nếu đi qua là phải là những cái bè đó phải là gồm những cái người rất là giỏi chèo chống. Bởi vì không còn cái chỗ cạn để chống đẩy,
[7:33]cái bè nó sẽ đi được một khúc rồi nó lại trôi tắp. Họ đến chỗ nào họ biết là nó tắp vào một cái chỗ bãi cạn là người ta tranh thủ đẩy nó qua. Cho nên khi mà nó qua bờ bên kia rồi nó không còn đúng là nằm băng ngang bờ nữa mà nó tạt xuống dưới mấy cây số. Nhưng mà cũng đã qua rồi và không chết. Nên qua được cái bờ sông Hằng vất vả lắm và mỗi lần ai qua được là một kỳ công. Nên do đó cái người qua rồi nói: "Tôi đã qua bờ bên kia rồi, qua bờ bên kia rồi", reo lên chiến thắng, từ đó cái thành ngữ đó ám chỉ cho bất cứ những công việc nào mà rất khó khăn. Rồi sau đó cái từ đó mới đi vào trong cái kinh điển.
[8:09]Phật thỉnh thoảng mới dùng nhưng mà sau này kinh Đại thừa thường hay dùng. Pāramitā, pāramitā, bờ bên kia bờ bên kia. Bây giờ mình chuyển thành chữ ba-la-mật, nên cái chữ ba-la-mật mình hàm ý một cái sự một cái giáo lý Đại thừa thiêng liêng cao siêu của Bồ-tát, nhưng mà xuất phát từ ban đầu nó là do mấy ông chèo bè, chống bè đi qua sông Hằng. Như vậy. Sau này thì ám chỉ rằng khi ta tu một cái công hạnh nào mà nó sâu xa, nó tuyệt đối, nó viên mãn, không còn có cái điểm khuyết lở thì ta gọi là ta tu được một cái hạnh Ba-la-mật, đó là kinh Đại thừa. Thì thầy hy vọng rằng sau khi giảng xong kinh Pháp Cú chắc thầy quay lại giảng kinh
[8:48]Đại thừa, vì kinh Đại thừa mênh mông, vi diệu lắm, rất dễ làm người ta mê tín. Nhưng mà công đức trong đó bao la. Kinh Đại thừa hiểu nhầm một cái thành mê tín phá hư đạo Phật luôn, nhưng mà hiểu đúng một cái rồi mình mình thành thánh hồi nào mình không hay. Nên kinh Đại thừa khó như vậy. Cái người mà chống kinh Đại thừa rồi thì sống sống không được, chết chết không được, chết đọa liền vì chống kinh Đại thừa. Nhưng mà người ôm kinh Đại thừa mà diễn dịch kiểu mê tín rồi thì cũng sống không được, chết cũng không được, cũng vật vặt vờ vờ luôn. Kinh Đại thừa khó như vậy. Nên vì vậy, ta xây dựng một đạo Phật thật cao siêu,
[9:24]ta phải giữ vững cái gốc Nguyên thủy để không bị đi nhầm. Khi mà ai hiểu gốc Nguyên thủy cho kỹ rồi đó mới phát triển lên thành Đại thừa thì không sợ sai mà mới thực sự là một đạo Phật vô cùng cao siêu. Nên thầy không biết là để sau kinh Pháp Cú này thầy sẽ tiếp tục giảng Nikāya để củng cố Nguyên thủy hay là thầy đổi qua kinh Đại thừa thì thì tùy trình độ. Nếu thầy thấy mà Phật tử trình độ đã cao siêu rồi thì thầy sẽ giảng kinh Đại thừa, còn nếu thấy Phật tử cần giữ cái căn bản thì thì sẽ giảng quay lại Nikāya để giảng kinh Nguyên thủy. Ở đây Phật tử thấy mình cao siêu hay là còn khờ khờ?
[10:08]Ủa, sao thầy nghe nói cao siêu lắm mà?
[10:15]Thì nghe nói nổ dữ lắm mà.
[10:19]Ví dụ mình nói nói sơ sơ cái chữ bờ bên kia cho vui một chút, sau này khi nào nghe kinh Đại thừa chúng ta sẽ hiểu cái chữ bờ bên kia, Paramita Ba-la-mật, mình hiểu là sự viên mãn tuyệt đối. Ví dụ như trong sáu phép Ba-la-mật có một cái phép gọi là bố thí Ba-la-mật. Bố thí cho đến viên mãn tuyệt đối là bố thí làm sao?
[10:44]Bố thí làm sao? Nhiều người cứ nghĩ bố thí Ba-la-mật tức là có gì cho sạch, phải không? Cho hết, cả thân mình cũng không tiếc, cho luôn. Thì chứng đạo không? Không, cái đó không phải Ba-la-mật. Cái đó là là bố thí liều mạng chứ không phải bố thí Ba-la-mật, tại Ba-la-mật nó đòi hỏi trí tuệ. Bên trong mình không tiếc cái gì hết, hiểu rõ không có cái gì của mình, cả cái thân này, thân này cần cho luôn, không tiếc. Đầu óc mình, bộ não này cần cho cho luôn, danh dự này cần cần cho cho luôn, tức là không còn gì của mình trong tâm như vậy. Nhưng mà không phải đụng ai cũng cho vì có nhiều người không biết xài, nhớ giùm điều đó.
[11:35]Cho đúng người biết xài và có lợi ích cho nhiều người phía sau nữa. Ta cho một người để người đó lợi ích cho nhiều người phía sau họ nữa. Giống như bây giờ, nghĩa là nói cái gì cũng cho hết cái mình gặp cái ông ông ăn mày thấy tội quá cái đem cho ổng cái laptop.
[11:56]Rồi ổng làm cái gì trong đó hả trời? Ổng mở không biết mở nữa, ổng cầm qua cầm lại ổng lót đít ổng ngồi. Ngồi tới chừng nào mà nó gãy hư rồi, rồi xong luôn. Thấy không? Tức là như vậy cái đó không phải bố thí Ba-la-mật mà cái đó cho cái cho khờ dại. Cũng vậy, ví dụ như mình thấy cái người đó họ tội quá, cái nhà mình có nói: "Tui là tu hạnh bố thí Ba-la-mật có nhiêu cho hết." Cái thấy ông hàng xóm ổng thất tha thất thểu ổng nghèo quá cái lấy 3 tỷ đưa ổng. Khi ổng có 3 tỷ rồi ổng làm gì? Lập tức ổng sắm bà vợ bé liền. Ổng không biết xài 3 tỷ, vì trình độ cái đầu ổng, ổng chỉ xài một ngày được trăm ngàn,
[12:34]năm chục ngàn thôi thì ổng biết mua gạo ổng ăn tằn tiện, nhiều hơn nữa hư liền. Còn nếu mà 3 tỷ mình cho ai? Cho ai? Chùa nào? Phật Quang. Sao khôn quá, vỗ tay. Cho nên là cái Ba-la-mật là đầu tiên là mình không tiếc
[13:01]nhưng mà cho cho đúng người nó là trí tuệ, như vậy. Ví dụ nhẫn nhục cũng vậy, nhẫn nhục là không bao giờ mình giận hờn, nhưng không có nghĩa là mình lúc nào cũng buông xuôi thụ động. Bởi vì có những người họ đến họ xúc phạm mình, mình không giận, nhưng mà cái việc mình không giận rồi mình thôi xề xòa bỏ qua coi chừng nó làm sao? Nó trở thành cái hại và cái người kia họ nghĩ rằng họ được quyền ai họ cũng xúc phạm, họ đi xúc phạm tới người khác nữa chính vì cái gì? Chính vì cái sự nhu nhược, thụ động và thản nhiên của mình. Cho nên cái đó không phải nhẫn nhục Ba-la-mật. Có những lúc lòng mình không giận nhưng mà nó lại nó xúc phạm mình thì sao?
[13:45]Có khi tát cho nó mấy bạt tai. Không phải giận, lòng không hề giận, mà chỉ để nó đừng đi qua nó chửi người khác tiếp tục, chặn nó lại không cho nó làm bậy. Cũng giống như nhà nước thôi, tại sao phải bắt người ta bỏ tù? Để nó đừng đi giết người tiếp nữa, tại nó mới giết người xong mà. Nói ờ mình khoan hồng thôi từ bi tha thứ thả ra, nó đi nó giết thêm mấy người nữa liền. Cũng giống như vậy, giống như câu chuyện trong những cái phim á có một cái tay nó phạm tội, nó cũng chưa phải giết người gì và căn cứ theo những cái tội nó đã phạm, tòa án mới đưa ra khung hình phạt cực kỳ hợp lý là nhốt nó 10 năm tù.
[14:23]Với cái tội đó, ăn gian rồi băng đảng này nọ này nọ thì 10 năm tù, không ai chê trách gì hết trơn. Nó vui vẻ nó vô 10 năm tù, nó vô trỏng trong đó nó vẫn làm đại ca trỏng và vừa ra tù một cái giết sạch hết 20 người dính líu với cái việc mà đưa nó vô tù trước đây, từ thẩm phán, công tố viên tới những nhân chứng, tới người dính líu giết sạch hết trơn. Bởi vì sao? Vì tòa án giam cái thân nó mà không thấy được cái bản chất của nó. Cho nên cái việc mà đúng khung hình phạt 10 năm á, nhiều khi là gì? Vẫn còn rất là thấp. Mà nhiều khi giam người 5 ngày vẫn là oan. Có người giam 5 ngày vẫn là oan, mà có người đúng tội phạm, đúng tội đúng tình hết
[15:05]rồi, giam 10 năm vẫn còn là ít vì nó ra nó giết người tiếp liền. Trước đó nó chưa giết, thả ra 10 năm sau nó giết người sạch, tàn bạo hơn. Vì vậy cái gọi là đúng khung hình phạt thực sự vẫn chưa đúng. Cũng giống như ta nói nhẫn nhục, lúc nào cũng nhẫn nhục có khi cũng không phải, không phải là nhẫn nhục Ba-la-mật. Mà nhẫn nhục Ba-la-mật, lòng mình không giận thôi nhưng mà cái thái độ mình xử với cái người ác, cái người sân, người dữ này nọ đó là phải có cái tính giáo dục họ và ngăn chặn họ không tổn hại tới ai khác. Chứ không phải nhẫn nhục Ba-la-mật là người ta làm gì mình cứ cười cười im im, cười im im, không phải vậy.
[15:48]Cho nên ta thấy chữ Ba-la-mật chỉ có Bồ Tát mới làm được là vậy, bởi vì nó đòi trí tuệ. Chứ còn mà nó đòi sự xìu xìu thụ động thì thầy nói ai làm cũng được, thầy làm cũng được nữa. Ai oánh mình cứ chạy là thầy làm được liền, thầy Ba-la-mật liền. Nhưng mà người ta đánh mình chạy nó không phải là Ba-la-mật, nó không phải Ba-la-mật. Mà cái gì là Ba-la-mật? Tùy người, có người đánh mình chạy thiệt, nhưng có người mình sao? Mình lòn xuống, bẻ ngón tay quật một cú ngã đè xuống bóp cổ nó hỏi: "Mày sợ chưa?" Rồi khuyên bảo đạo lý mới thả cho đi, có những trường hợp như khác như vậy. Còn thầy thì không đủ sức đó,
[16:27]cho nên ai đánh thầy thì chạy cho nên thầy không phải Ba-la-mật. Dòm tưởng Ba-la-mật: "Ồ, thầy nhẫn nhục quá ai đánh thầy chạy." Không phải thầy chạy là nhẫn nhục mà thầy nhát, sợ, phải không? Ốm quá oánh bị, nó khác như vậy. Cho nên cái chữ Ba-la-mật nó hàm ý sâu xa lắm. Mà tới Đại thừa ta mới hiểu điều này. Bây giờ ở đây ma đến hỏi Phật, mà để hỏi Phật thì ma hiện thành hình người. Mà lần nào mà hiện hình người tới Phật là là Phật vạch mặt liền. Chỉ có lần cuối cùng lúc mà trước khi Phật Niết Bàn thì ma không giấu giếm nữa, lúc đó ma hiện cái hình là ma đến thỉnh Phật nhập Niết Bàn. Có nhiều lần ma đến thỉnh Phật nhập Niết Bàn nhưng mà Phật nói:
[17:16]"Như Lai tự biết thời". Nhưng trước ba tháng, trước khi Đức Phật bị ăn miếng nấm rồi đau bụng á, thì ma đến thỉnh Phật nhập Niết Bàn, Phật đồng ý. Lúc đó Ngài thấy cái duyên đã tới, mà lúc đó ma không giấu giếm thân phận nữa. Như vậy, con ma hình dáng như thế nào? Mình cứ tưởng là mắt trợn lên phải không? Có nanh đồ, miệng máu chảy lốm đốm phải không? Không có đâu. Bởi vì ta cứ tưởng như vậy ta mới lầm. Giống như có cái ông tài xế tài xế taxi, ổng lái xe nửa đêm ổng thấy một cô áo trắng đứng vẫy xe. Ổng hỏi cái cổ lên xe, cổ nói: "Cho lái lại cái nghĩa trang Văn Điển." Ổng cũng hơi run mà ổng nghĩ thôi đời này làm gì có ma, thôi ổng cũng lái đi.
[17:57]Ổng lái đi một chút cái ổng nhìn lên kiếng chiếu hậu cái không thấy cổ đâu hết. Ổng sợ quá ổng đạp xe một cái thắng cái phé ét một cái, ngoái lại thì thấy cổ trợn mắt dòm ổng. Ổng run quá rồi không biết sao cái ổng lái tiếp, ổng lái một lát ổng nhìn kiếng chiếu hậu cũng không thấy cổ đâu hết. Ổng sợ quá ổng đạp thắng một cái ét một cái nữa, quay lại nhìn thì thấy mặt cổ máu chảy ròng ròng.
[18:22]Cái cổ mới nói: "Tôi cúi xuống tôi cột cái dây giày, anh thắng một cái đầu tôi đụng vô một cái muốn chết. Tôi đã trợn mắt tôi dòm anh mà anh còn chưa biết, anh chạy. Cúi xuống cột cái dây giày anh lại đạp thắng một cái miệng tôi đập vô máu chảy tùm lum". Đó, ổng đó kể lại cái chuyện ổng thấy ma. Tại ta cứ tưởng ma là mắt phải trợn, miệng phải máu tùm lum á nên vậy, không phải, cái đó là người bị đụng đầu vô xe. Còn ma thật sự làm sao? Cực kỳ xinh đẹp, cực kỳ xinh đẹp. Ở đây ai đẹp nhất đâu đâu đâu đứng lên đây coi, thì người đó là ma đó. Ma cực kỳ xinh đẹp. Tại sao ma mà lại đẹp? Đẹp là do đâu? Phước. Mà tại sao ma có phước?
[19:03]Nhớ, ma có phước nhiều nên ta đừng có tưởng. Tới cái từ ma, cái từ quỷ ngày xưa với ngày nay mình hiểu nó khác nhau. Tinh nè, ma nè, quỷ nè, ngày xưa là cái nghĩa khác, ngày nay mình nghe chữ ma với quỷ với tinh mình tưởng là mắt trợn rồi mắt có răng nanh rồi miệng máu nhỏ giọt giọt thì không có. Cái chữ ma á là những người có phước, có quyền lực nhưng mà có thủ đoạn. Quỷ chỉ là gì? Chỉ người chết thì gọi là quỷ thôi, tức là những vong linh thôi. Tinh là gì? Tinh là giống như thần linh vậy đó, chữ tinh là tinh thần á. Nhưng bây giờ mình mình nghĩa là nói ma là thấp, quỷ cao hơn ma và tinh còn cao hơn quỷ,
[19:43]bây giờ mình lập ra cái đẳng cấp như vậy và mình tưởng nào cũng ghê gớm, không có, không có. Và nhiều người trong chúng ta đã từng ở cõi Dạ Xoa đó đầu thai trở lại đây cũng có nữa. Cái nên ma vương vậy là những người mà kiếp xưa họ làm phước rất nhiều, rất thích làm phước nhưng trong lòng vẫn còn cái ám ảnh bởi cái gì? Hơn thua, danh lợi, thủ đoạn, đố kỵ, mà lại rất thích làm phước. Nên cái thích làm phước của họ làm cho họ cứ có phước nhưng mà họ không giải thoát, cũng không làm thánh được, mà cứ canh tối ngày đi hơn thua người ta. Lúc nào cũng muốn mình có quyền lực, muốn mình chi phối mọi người khác và cái đam mê của ma vương là gì?
[20:25]Là điều khiển được cuộc đời của người khác, cai trị được người khác, điều khiển được cuộc đời của người khác. Và cuối cùng họ chỉ còn một đam mê đó thôi, vì mọi cái khác họ có hết rồi, tiền bạc, danh sắc, tài sản gì có hết đầy hết rồi, nhưng mà còn cái là can thiệp vào cuộc đời người khác, điều khiển cuộc đời người khác theo ý mình, nói một tiếng người khác phải nghe, đó là cái đam mê cuối cùng. Mà ai có cái đam mê đó? Rất nhiều người có đam mê, và đam mê đó là bản chất của mọi người. Người ta giành nhau từng cái chức nhỏ mà, không có gì lên làm tổ phó, không tổ phó thì giành lên tổ trưởng, tức là từ cái nhỏ rồi lớn lên cao nữa
[21:03]thì giành nhau làm vua, làm gì đó, cứ giành nhau từng chức từng chút một. Vì cái chức đó là gì? Tức là mình can thiệp được vào cuộc đời người khác, nói một tiếng người ta phải nghe lời. Cái đó nó trở thành một cái đam mê rất kỳ lạ, lạ như vậy. Ví dụ bây giờ mình để ý lại mình nha, mình không có gì hết thì mình ham cái gì nhất? Nếu bây giờ mình chưa có gì hết thì cái gì là mình mình tham nhất? Tiền thôi, phải không ạ? Ham tiền, thích có tiền. Rồi mình có tiền mình mua này mua kia, mình trang bị. Nhưng mà với cái người mà có tiền rồi á thì tự nhiên nó xuất hiện cái đam mê kế tiếp là gì? Quyền lực. Mà quyền nghĩa là gì?
[21:40]Thầy giảng rồi. Bài "Triết lý quyền lực". Cái gì? Là thích can thiệp vào cuộc đời người khác, thích sai bảo người khác, thích người khác phải vâng lời, tuân phục mình. Đây, đó là cái cái hệ quả thứ hai sau khi mình có phước nhiều quá. Thì Ma vương là vậy, họ là những người rất thích làm phước, nhưng mà trong lòng hơn thua thủ đoạn đầy hết. Mà hạng người đó hiện giờ có không? Có đầy trên cuộc đời này. Ví dụ ta nghe ờ doanh nhân đó ổng làm việc từ thiện này, từ thiện kia, thì mình không biết ổng sẽ làm thánh hay là làm ma nhưng không biết chắc điều đó. Tới khi nào mà mình gặp ổng, mình thấy ổng là không cầu danh,
[22:23]không cầu lợi, thích tu hành thì biết ông này bố thí làm phước nổi tiếng như vậy nhưng mà sẽ làm làm thánh, sẽ lên lên cõi Trời. Còn ví dụ mình nghe nói ổng quá chừng ổng làm phước chuyện này, chuyện kia nhưng mà đến gần ổng thấy rõ ông này mánh mung, thủ đoạn, hơn thua, cầu danh thì biết chắc một điều ông này lên cũng là một loại Ma vương. Cho nên nghe người ta làm phước nhiều thì khoan tin, vì đó là Ma vương tương lai. Ví dụ như trùm xã hội đen ở đâu ra? Đâu phải không có phước mà làm trùm nổi đâu, phải không ạ? Rất có phước mới có lâu la, có đàn em, mới có nhiều người theo mình chứ. Rồi mới có tiền muôn bạc vạn khắp nơi mới mà
[23:03]làm đủ thứ trò được chứ đâu phải là không. Cũng là rất là có phước, nhưng mà trong đầu thì sao? Ác độc, thủ đoạn đầy hết. Đó, nó là như vậy, phải có phước. Nhưng mà bây giờ ta có cái ranh giới rõ ràng giữa bên đây là người sẽ là Ma vương và người này sẽ thành thánh nhân, có không? Không, không có. Nó đan xen nhau, nó gài nhau, nghĩa là cùng cái số người làm phước giống hệt nhau, nhưng mà cái người mà biết tu thì sẽ thành thánh, người không tu, hơn thua, đố kỵ, tham vọng thì thành ma. Nhưng mà làm gì có hai cái thế giới rạch ròi giữa ma và thánh? Ví dụ trong cái số người 100 người cùng ham làm phước,
[23:45]nhưng mà làm gì có cắt ra một cái ranh giới à 30 người này sẽ thành thánh, 70 người này sẽ thành ma, không có. Đan nhau! Trong cái ông mà sẽ làm thánh ổng có một chút ma ở trong đó. Trong cái ông mà sẽ làm ma, có một chút thánh ở trỏng á. Đúng không ạ? Nó gắn gắn nhau như vậy, vì con người ta chưa là vị thánh tuyệt đối, cho nên lẫn trong cái tốt của họ cũng có những điều xấu, mà ông kia xấu quá chừng xấu nhưng lẫn trong đó cũng thế nào cũng có gì? Cũng vài điều tốt. Nên nó không phân biệt, không rạch ròi giữa ma và thánh. Và chính vì cái chỗ không rạch ròi phân biệt giữa ma và thánh, thì có những lúc mà ma đã thành ma đã đắc đạo chứ không phải là không.
[24:27]Mấy trường hợp mà ma đắc đạo? Trong kinh để lại, ai nhớ được càng hay ạ. Trong kinh điển đạo Phật, có ít nhất kể về hai trường hợp mà ma trở thành thánh. Bởi vì trong lòng thẳm sâu của ma đã có chất tốt ở trỏng á, cũng vậy, không lường được. Ít nhất hai trường hợp. Một trường hợp thứ nhất là ngài Mục Kiền Liên. Nghĩa là trong bài kinh mà hàng ma trong Trung Bộ kinh, Đức Phật kể rõ ràng, trong kiếp xa xưa xa xưa ngài Mục Kiền Liên là một Ma vương, phá Đức Phật thời đó. Ngài thần thông rất lớn, nhưng mà ganh tị rồi phá Đức Phật rồi đọa địa ngục không biết bao nhiêu kiếp. Rồi sau này trở lại bao nhiêu kiếp tu hành lại,
[25:10]cho đến khi mà gặp Phật Thích Ca thì thì thành A La Hán, đó là một câu chuyện thứ nhất. Câu chuyện thứ hai là câu chuyện mà Tổ Upatissa tức là Ưu Ba Cúc Đa á. Trong truyền thuyết ngài là Tổ thứ ba. Là từ ngài Ca Diếp truyền xuống Thương Na Hòa, xuống ngài A Nan á, A Nan truyền Thương Na Hòa Tu, Thương Na Hòa Tu mới truyền cho ngài Ưu Ba Cúc Đa. Thì Tổ Ưu Ba Cúc Đa này thần thông rất là quảng đại. Thì một lần đó là Ma vương trên cõi trời xuống đấu phép với ngài, ngài dùng thần thông ngài chiết phục. Nhưng mà ngài có nói câu này: Sau khi mà Ma Ba Tuần đó, nghĩa là bị khuất phục, xin làm đệ tử ngài, ngài có nói câu này:
[25:47]"Ngươi sống từ thời Đức Thế Tôn", tại ma sống lâu lắm, phải không? "Đâu, ngươi thử hiện hình Đức Thế Tôn cho ta xem." Thì nó: "Dạ, con hiện thì được rồi đó, nhưng mà xin sư phụ đừng lạy, con tổn phước." Nó cũng biết nhân quả lắm chứ không phải không, thấy không? Cho nên cái người nào mà nói nhân quả vanh vách chuyện này chuyện nọ, coi chừng cũng là ma. Thì ma nói câu này xong cái ngài hứa, ngài hứa. Ma hiện ra liền. Tự biến mất bên đây, thấy bìa rừng bên kia Đức Phật ôm bát, đằng sau lưng là 1.250 vị Tỳ-kheo trong rừng đi ra. Đức Phật hào quang chói rực rỡ, 1.250 vị Tỳ-kheo oai nghi rực rỡ, hào quang sáng ngời, đi ra.
[26:29]Ai da, nghĩa là ma nó hiện hình mà giỏi quá, hiện y như Đức Phật. Thế là ngài ngài Ưu Ba Cúc Đa bất giác vì cái lòng tôn kính Phật nằm sâu thẳm trong cái cái tâm mình, kềm không được quỳ xuống liền. Quỳ xuống liền Ma vương biến mất liền. Toàn bộ cái đoàn người Đức Phật với 1.250 vị Tỳ-kheo biến mất luôn. Nhưng mà cái câu chuyện đó cho ta thấy rằng là đã có những lần mà Ma vương đã được thuyết phục và đắc đạo chứ không phải là không. Bởi vì sao? Bởi vì trong thẳm sâu trong ma cũng có chất gì? Chất thánh nằm ở trỏng á. Và có những người cũng vậy, xuất hiện giữa đời là những bậc đạo sư giảng Pháp, nhưng mà rồi nhiều khi cuối cùng lại biến chất.
[27:15]Biến chất có khi trở thành hư hỏng hoặc làm bậy mà lâu lâu ta cũng cũng thoáng nghe. Là bởi vì vì sao? Bởi vì trong tâm hồn người đó vẫn còn chất gì ở trỏng á? Chất ma ở trỏng á. Nên do đó, mình nhìn người rồi ngẫm lại, nhìn người rồi ngẫm lại ta. Phải hiểu rằng, ví dụ bây giờ ta ngồi đây, lòng mình hết sức là thiết tha đi theo con đường đường chánh đạo của Phật, nhưng mà phải biết thẳm sâu trong tâm mình cũng còn gì ở trỏng á? Còn chất ma ở trỏng á. Nên phải lo mà mà lọc ra, chắt ra để mà diệt trừ. Chứ nếu không, sau này mình về làm quyến thuộc của ma. Làm quyến thuộc của ma mà tụng kinh không sót
[27:55]bài nào, kinh nào cũng thuộc mà vẫn là ma. Nó vậy đó. Cho nên ở đây là Ma vương mà đến thử Phật, nghĩa là như vậy. Ở đây thế này: Ma vương hỏi: "Dạ, con nghe Thế Tôn hay nói là bờ bên kia, bờ bên kia. Vậy bờ bên kia nghĩa là gì?" Tức là ma ý gài Phật. Nếu Phật muốn nói là ờ "Bờ bên kia tức là đã hoàn thành xong cái công việc, đã xong bổn phận, đã đắc đạo" thì ma nó bắt đầu lấy hình ảnh đó nó gài liền: "Nhưng mà nếu con thấy bờ bên kia vẫn còn phải có sình, có lầy, nó giống hệt bờ bên này. Hai bờ sông con thấy giống hệt nhau. Bờ bên kia mà Thế Tôn nói là nó cao siêu gì, con thấy hai bờ sông giống nhau cũng
[28:33]sình, cũng lầy, cũng cây, cũng lau, cũng lách, cũng sậy." Tìm cách bắt bẻ. Thì bởi vậy cái ý mà nó tính bắt bẻ là Phật đã biết, nên Phật nói không có bờ nào hết á. Nào người hết khổ, người hết ràng buộc, hết phiền não, hết ngu si rồi đó, hết hỏi hoài á thì mới là thì thôi ta gọi ngươi Bà-la-môn. Nó vậy. Ở đây ta thấy thế này: Như vậy trước kia Phật nói bờ bên kia để ám chỉ rằng cái sự thành tựu về đạo pháp, Phật nói bờ bên kia để ám chỉ là sự hoàn thành đạo pháp. Nhưng mà khi ma đem bờ bên kia hỏi, Đức Phật bác luôn. Như vậy ta hiểu cái điều này là gì? Ta hiểu một điều thế này: Là ngôn ngữ không bao giờ nói hết được cái đạo lý thâm sâu.
[29:22]Ngôn ngữ chỉ gợi ý thôi, chứ ngôn ngữ không bao giờ nói ra hết được đạo lý. Mà nếu ta chấp vào ngôn ngữ là ta bị bị kẹt. Mà ta phải nhờ ngôn ngữ để thấy được đạo lý thôi, chứ đừng có dựa vào vào ngôn ngữ. Cũng giống như có câu chuyện cười thế này, nói là chuyện cười để cho ta suy ngẫm. Trong cái "Góp nhặt cát đá" có câu chuyện là bốn ông thầy thi nhau tịnh khẩu, là dặn nhau là không được nói, tịnh khẩu. Thì bốn ông cứ vô phòng rồi tối ngồi thiền. Cái ngồi thiền cái bỗng nhiên cái dầu, ánh đèn để dầu le lét le lét le lét nhỏ, tự nhiên nó nó nó bị cái gì, con gì bay vô đáp vô cái tim đó cái nó tắt.
[30:04]Cái ông kia không nhớ được là mình đang ở trong cái giai đoạn tịnh khẩu, lật đật nói: "Ê ê, cái đèn tắt!" Cái người thứ hai mới quở, nói: "Sao anh nói?" Thì là ổng có nói không? Ổng cũng nói. Ông thứ ba mới nói: "Hai ông vừa mới nói nha!" Cái ông thứ tư bèn nhận xét: "Tôi chưa nói câu nào."
[30:29]Như vậy là bốn ông phải không? Ổng nói hết. À trong đầu mình cũng vậy, khi mình tu thiền cũng vậy. Mình dùng cái câu này để mình dẹp cái câu kia, nhưng mà câu sau nó dẹp được câu trước rồi, nhưng mà chính nó cũng là một câu nói trong đầu. Phải không? Ví dụ như mình mình đang suy nghĩ về chuyện nhà, cái mình nói: "Thôi, dẹp à, đừng nghĩ tới chuyện nhà nữa". Thì cái câu mà "Đừng nghĩ chuyện nhà nữa" cũng là một câu nhưng mà nó dẹp được cái chuyện câu nhà. Cái mình mới nói: "Ê, mình vừa mới nói thôi đừng nói nữa". Thì câu thứ ba này cũng là dẹp câu phía trước nhưng cũng là một câu nói trong đầu. Cứ câu này nó dẹp câu kia và chưa bao giờ nó dứt được,
[31:06]cho đến khi nào mà mà nhờ cái câu này nhắc câu kia như vậy, ban đầu là thật sự là nhờ câu này nhắc câu kia. Cho đến khi cái tâm mình nó tĩnh dần tĩnh dần, nó có cái khoảng sáng lên trong những câu nói đó. Nghĩa là trong tâm mình nó sáng lên dần dần theo những câu nói trong đầu, nhờ cái câu này dẹp câu kia. Ví dụ mình niệm "thân vô thường", đã nhờ cái câu mình cái ý nghĩ niệm "thân vô thường", tâm mình sáng dần dần nhưng vẫn còn câu nói. Hoặc là nói: "Ờ, thôi mình an trú toàn thân đi. Thầy dạy à an trú biết rõ toàn thân". Cái đó cũng là một gì? Một câu nói, chứ chưa tắt. Nhưng mà những câu nói đó nó gợi ý cho tâm sáng lên từ từ, sáng lên từ từ.
[31:46]Cho đến khi tâm nó sáng rồi, tự nó sáng không cần câu nói nữa, bắt đầu mình buông câu nói dần dần. Tức là bước vào giai đoạn gì? Chánh niệm tỉnh giác, đó là vậy. Nên ban đầu thật sự cũng nhờ ngôn ngữ để ta hiểu được đạo lý, nhưng mà hiểu lần lần rồi thì cái đạo lý thực sự nó vượt ngoài vượt ngoài ngôn ngữ. Đó, giống như là nghe Phật nói: "Bờ bên kia", lại bắt thì Phật bắt liền, không có để dính nữa. Cũng giống như là bốn người tán gẫu, ông này bác ông kia, ông nào bác ông kia, sự thật ông nào cũng nói. Nhưng mà nhiều khi cái ông nhắc lại có lợi, ông kia: "À, thấy ông kia nhắc rồi thôi không nói nữa",
[32:18]cũng nhờ như vậy chứ không phải là không. Rồi cái ông cuối cùng nói: "Chỉ có tui không nói hà nha". Ổng cũng nói nhưng mà cũng là một cái câu nhắc khiến ba người kia thôi im luôn. Ờ nên nhờ như vậy, cũng giống như trong đầu mình câu nói này nó át câu nói kia, câu nói đạo lý này nó lấn cái cái vọng tưởng thế gian, rồi đến lúc nào từ từ từ rồi tất cả im luôn, cái câu nhắc nó cũng cũng im luôn. Cần thiết lắm chứ không phải là không, nhưng đừng lảm nhảm nói bậy thôi. Lảm nhảm nói bậy nó loạn hoài, còn mình tác ý đúng với đạo lý thì tâm mình sáng dần dần đi theo những cái câu nói đó, những sự suy nghiệm đó.
[32:51]Sáng đúng mức rồi thì những câu nói nó tắt luôn từ từ luôn, tự nhiên nó như vậy. Bí quyết thiền chỉ là như vậy thôi chứ chẳng có gì nữa. Còn bài kệ là: "Không bờ này, không bờ kia, hổng có bờ nào hết, chỉ lìa khổ, hết buộc ràng, ta gọi ngươi là Bà-la-môn". Nghe chữ Bà-la-môn là ta hiểu như vậy. Ta nghe bài kệ khác: "Tu thiền, xa trần lao, việc đã xong, vô lậu, đạt được đích tối thượng, ta gọi Bà-la-môn". Đức Phật nói bài kệ này là bởi vì có cái sự tình là thế này: là có một ông thuộc dòng dõi thuộc giai cấp Bà-la-môn thực sự. Ổng là đẳng cấp Bà-la-môn của Ấn Độ thời đó thì ổng nghĩ rằng là chỉ những người nào mà tu theo các kinh điển Vệ-đà,
[33:35]thờ Phạm Thiên, được sinh ra từ dòng dõi Bà-la-môn thì mới được gọi là Bà-la-môn. Nhưng mà ổng lại nghe Đức Phật đôi khi cũng khen đệ tử của Ngài là Bà-la-môn, tức là những người trọc đầu không theo tụng kinh Vệ-đà, không thờ Phạm Thiên, không phải là bảo đảm sinh ra từ dòng dõi của Bà-la-môn, nhưng mà tại sao lại được Phật khen là Bà-la-môn? Ổng tới ổng hỏi. Ý ổng hỏi là là ổng nói là cái thương hiệu này đã được đăng ký bản quyền tại cái Sở Công nghiệp của Thành phố Hồ Chí Minh rồi, tại sao Phật lại dùng cái chữ Bà-la-môn này, nghĩa là giống như là ăn cắp bản quyền, ăn cắp thương hiệu vậy, ừ. Rồi nói là:
[34:16]"Tại sao mà đệ tử của Ngài những người tôi thấy rõ ràng là không tụng kinh Vệ-đà, không thờ Phạm Thiên, không phải là sinh ra từ dòng dõi Bà-la-môn như chúng tôi, mà tại sao Ngài lại lạm xưng, lạm gọi, lạm hô họ là Bà-la-môn?". Thì Đức Phật mới gạt cái cái định nghĩa của ổng đó đi. Là: "Không phải bởi vì người đó tụng kinh Vệ-đà, không phải là vì người đó thờ Phạm Thiên, không phải vì người đó sinh ra từ dòng dõi Bà-la-môn, mà chỉ vì người đó là biết tu thiền. Nên đây mình tu thiền này nha, mình cũng Bà-la-môn á. Hai là xa được trần lao, trần lao tức là những chuyện rắc rối ngoài đời, việc đã xong,
[34:57]vô lậu, tức là chứng hoàn toàn A-la-hán, phải không? Đạt được đích tối thượng của sự giác ngộ, giải thoát, ta gọi Bà-la-môn". Tức là Ngài định nghĩa Bà-la-môn theo một cái cái cách khác là do gì? Do thánh vị, do quả chứng, do do đức hạnh, do tu tập, chứ không phải là bởi vì thọ sanh, không phải về dòng dõi hay là nghi lễ, đó không phải cái đó, hai định nghĩa khác nhau như vậy. Thì ở đây ta thấy là không phải riêng từ thời Đức Phật ở Ấn Độ đâu, mà ở các nước trên thế giới đều bị những cái tình trạng này. Là một cái từ có vẻ hay thì nơi này người ta dùng cách này, nơi kia người ta dùng dùng cách kia.
[35:44]Ví dụ như chữ "trời", cái chữ "trời" là cái từ mà phổ thông trên khắp thế giới đều dùng, nước nào cũng dùng hết, nhưng mà mỗi nước dùng cái chữ "trời" khác nhau. Trời khác nhau. Ban đầu cái chữ "trời" xuất hiện á có cái tính bình dân, rồi phi về sau á là có những người đó họ ngồi họ tư duy, chiêm nghiệm thì họ gán cho cái chữ "trời" đó bắt đầu những ý nghĩa cao dần, cao cấp dần, cao siêu dần, chuyên môn hơn, sâu xa hơn, quyền năng hơn và biến thành tôn giáo. Chứ còn ban đầu nước nào cũng có cái từ "trời", ý niệm về trời, nhưng mà chưa biến thành một tín ngưỡng. Về sau có bởi một số người nào đó ta không hiểu,
[36:29]họ nâng cái trời lên thành một tín ngưỡng, và bây giờ cái chữ "trời" trong đạo Phật cũng khác luôn. Nên ví dụ chữ "trời", đầu tiên
[36:40]đầu tiên trời nghĩa là gì? Đầu tiên, trời là cái người mà khi ổng đi tiểu thì dưới này mình mưa. Đó, đầu tiên mình chỉ vậy thôi. Ông trời ổng ấy cái dưới này mình mưa, đại khái vậy. Nghĩa là giải thích cho khi con nít hỏi. Nhiều khi ba mẹ mình cũng không rành, nhiều khi ba mẹ mình cũng không học nhiều á, nói: "Ủa, ba ba, sao trời mưa?". Thế là ngồi đó mà ngồi giải thích hổng nổi: "Trời ổng ấy đó con à", vậy xong chuyện. Đó là trong cái tâm hồn ngây thơ của đứa bé hiểu là ở trên đó có cái ông gì ổng bự lắm, ổng ấy cái mình dưới này có nước mình tắm chơi, đại khái vậy thôi. Rồi rồi sau này lớn lên lớn lên dần dần cái đứa
[37:21]bé nó nghe mỗi khi có chuyện gì người ta kêu: "Trời ơi" hay "Ông trời, trời phạt tui hay sao?", phải không? Hay: "Cầu trời cho tôi kỳ này tôi trúng số" hay: "Vái trời cho tôi trúng số", ví dụ. Cái chữ "trời" đi vào tâm đứa bé qua những cái điều đó, những điều mà khi con người không giải thích được thì nghĩ rằng có một cái ông trời ổng làm. Khi con người bó tay mà sức người không làm nổi thì cầu có cái ông nào đó ổng có thể làm được. Nên ông trời là ban đầu chỉ là như vậy, còn cái gì mà con người làm được thì thì không cần ông trời, đại khái vậy. Ví dụ như là một cái người thanh niên lớn tuổi lên cái yêu một cái cô gái đó.
[37:59]Ví dụ cô gái đó cái mà thấy mình đủ sức để mà chinh phục và để cầu hôn, để đến nhà thì không bao giờ cầu tới trời. Là là thấy gia thế mình cũng giàu có, mình cũng đàng hoàng đẹp trai, vài ba lần gặp cổ thấy cổ cũng có vẻ e thẹn, ẹo qua ẹo lại, chắc có lý. Thế là nhờ mai mối tới hỏi thì không cầu trời chi. Nhưng bên cạnh đó có cái anh cũng nghèo hơn cũng thương cô đó. À, thương cô đó thấy thua rồi, thấy là chạy đua không lại cái cái tay nhà giàu kia rồi thì anh này sao? "Cầu trời, vái trời cho con cưới được cổ", hả? Cầu... "Vái trời cho con cưới được nàng thì con mua gạch Bát Tràng về xây" đó, xây dọc rồi lại xây ngang, đại khái là đó.
[38:39]Khi người ta bó tay thì cái hình ảnh ông trời đi vào tâm của đứa bé như vậy. Và nó dễ thương dễ thương ở chỗ gì? Ở chỗ là cái vai trò của con người vẫn còn nhiều. Nghĩa là con người vẫn phải cày cấy, vẫn phải làm lụng, nhưng mà có những điều ngoài sức người thì cầu trời. Ví dụ như là đi cày ruộng nhưng mà mưa hay không mưa thì con người không làm được thì lúc đó phải sao? Lúc đó cầu trời, là ý nghĩa như vậy. Mà đi khắp Đông Tây đều giống nhau như vậy. Nhưng bắt đầu có những người họ ngồi họ suy nghiệm, đó cái rầu là mấy cái ông mà ổng ngồi không ổng nghĩ ra đó mới rắc rối. Ổng ngồi ổng nghĩ: "Giờ ông trời ổng sao ta?
[39:17]Nếu ổng có quyền như vậy thì ổng tạo ra mưa được thì thì chắc là ổng tạo ra được đá ha, chắc ổng tạo được con sông, chắc ổng tạo được cái đồi, cái núi này. Và chắc ổng tạo luôn con người, và chắc ổng tạo ra muôn loài. Chim thú là cọp beo là chắc ổng tạo". Bắt đầu mới ngồi mà suy nghiệm viết lại hay là kể lại thuyết phục người khác theo ý mình: "Là ông trời ổng vậy đó, ổng lớn lao, ta phải đầu phục, ta phải lạy lục, ta phải thờ, phải tế". Bắt đầu đi thành thành cái tín ngưỡng. Chứ ban đầu đầu óc con người chỉ giản dị, hiểu về ông trời một cách đơn sơ và dễ thương. Nhưng về sau có những người nào đó ta hay gọi là triết
[39:55]gia hay những nhà thần học gán cho ông trời nhiều chức năng hơn mà không biết ổng có bị oan hay không thôi. Thì gán nhiều chức năng hơn và để thu hút mọi người, ép buộc mọi người bước vào một cái hệ thống tín ngưỡng. Và ta có tôn giáo xuất hiện trên loài người lác đác khắp nơi này nơi kia, đó như vậy. Mà cái nôi Nó có ít nhất là ba cái nôi mà có khái niệm về trời rất là nặng. Một là Do Thái, hai là Ấn Độ, ba là Trung Hoa. Nhưng mà cái trời của bên Do Thái đó thì thiên về quyền năng, tức là quyền lực của ông trời khiếp lắm, ổng tạo ra tất cả, tất cả phải nô lệ, tất cả phải quy phục. Còn ông trời của Ấn Độ á thì lại có tính cách triết lý,
[40:45]ông trời đó bắt phải tu, con người phải hòa nhập, phải tu, phải tâm phải thanh tịnh, nên cái ông trời Ấn Độ đó cao siêu. Còn ông trời của Do Thái thì quyền lực. Mà qua ông trời của Trung Hoa thì hết sức là lãng mạn. Nghĩa là ổng ở trên cõi trên có cái ngai rồi có mây bay phất phới, có tiên nữ múa hát rồi đó. Đại khái vậy là ông cũng ngồi ông xử chuyện này xử chuyện kia, nhiều khi cũng rắc rối, mà có đôi khi nghĩa là Tôn Ngộ Không lên quậy tan nát ông cũng phải chạy luôn. Mỗi một quốc gia hiểu về ông trời khác nhau, cho đến khi Đức Phật xuất hiện thì ngài nói về trời cực kỳ phức tạp phong phú. Mà đặc biệt là ngài Anuruddha,
[41:25]ngài A Na Luật, người mà thiên nhãn đệ nhất, thì vị A La Hán đó mà diễn tả các cõi trời không sót một chi tiết nhỏ. Ổng có thể diễn tả tới chư thiên từng vị thiên tử trên trời như thế nào. Bởi vậy được mới tôn xưng là thiên nhãn đệ nhất. Nghĩa là ổng dưới cõi này mà ổng kể về trên cõi trời ổng kể từng vị một nếu cần, vị đó tên gì, hào quang đâu, nghiệp đời xưa như thế nào, phước đời xưa như thế nào, bây giờ làm thiên tử cỡ đó, hình dung như thế, hào quang như thế, ổng biết rõ không sót người nào. Nghĩa là cái mức độ siêu đẳng như vậy nên mới được tôn xưng là thiên nhãn đệ nhất. Và lúc đó, qua cái cái Phật nhãn, thiên nhãn của A La Hán,
[42:03]ta mới biết rằng cõi trời không đơn giản mà rất nhiều tầng khác nhau. Tùy theo mức độ phước đức, tùy theo mức độ tu tập mà về cái cõi trời tương ứng và cõi trời cực kỳ phức tạp. Mà nhiều tầng trời vô cùng. Thì cái câu nói của của Phật á bây giờ nó lại phù hợp với phát hiện của khoa học. Là các nhà khoa học á sau khi mà các vị mới đo cái khối lượng vật chất trong vũ trụ, tui cũng chẳng hiểu đo kiểu gì. Mình ở đây mình mình ra ngoài tiệm mà mình đo 1 ký đường còn khi còn bị ăn gian hết nửa trăm gam phải không? Mà không biết mấy ổng dòm dòm lên trời không vậy mà ổng đo được cái khối lượng của vũ trụ, cũng dễ sợ thiệt.
[42:45]Nghĩa là cái sự tính toán con người thật là cao siêu. Thì ổng ổng đo với cái cái vận tốc chuyển động của các thiên thể, của các vì sao, các thiên hà như vậy. Và tính ra được vũ trụ có bao nhiêu ký. Khiếp như vậy, tính như vậy đó, bao nhiêu ký tính ra. Thì mới phát hiện một điều là con số không ăn khớp giữa những cái vận tốc chuyển động đó của các thiên hà, các thiên thể với cái cái số kilo của vũ trụ không ăn nhau. Nghĩa là vũ trụ còn giấu mất 90% cái vật chất nằm trong bóng tối mà hay gọi là vật chất tối. Mà các nhà khoa học thì không chịu nghĩ rằng vật chất tối đó là các cõi trời. Họ không chịu nghĩ như vậy, họ không tin như vậy.
[43:31]Nhưng mà biết có, biết có là bởi vì trên đo đạc, trên tính toán có. Do cái vận tốc chuyển động của các thiên thể không thể chuyển động như vậy nếu mà vũ trụ không đủ cái khối lượng như vậy. Nhưng mà 90% khối lượng nằm đâu không thấy á, dòm không thấy. Nhưng mà họ không tin đó là cõi trời. Nhưng mà ngày nay khi ta đọc điều đó thì ta hiểu rằng Đức Phật đã nói đúng. Cõi trời tràn ngập. Cõi vật lý này chỉ là một phần nhỏ thôi. Các tầng trời mới là bao la, mới là mênh mông. Cho nên cái việc mà cái thế giới tâm linh nó cấu tạo thành các tầng trời đó nó mới chiếm hơn 90% cái khối lượng của vũ trụ, chứ không phải những đất đá này mà tạo nên khối lượng của vũ trụ.
[44:11]Đây là điều hết sức là độc đáo. Ha, những cái phát hiện của Đức Phật lại phù hợp với cái phát hiện của khoa học. Hoặc như là vào thời xưa các tôn giáo, tất cả tôn giáo đều chỉ biết có cái đất này và cái tầng trời mây bay trên kia. Vậy mà cái thời đó chưa có kính viễn vọng mà Đức Phật đã nói về vô số các cõi, vô số các cõi giới xa xôi trong vũ trụ mà nơi đó cũng có những bậc giác ngộ. Như trong Nikaya vậy, có lần ngài A Nan mới hỏi Phật: Con nghe Thế Tôn nói ở cõi đó có một Đức Phật và có một thị giả, thị giả của Đức Phật thần lực lớn như thế này lớn thế kia ở trên cái cõi xa đó, một cái hành tinh.
[44:55]Đức Phật mới nói: Nói chỉ là một thị giả. Tức là dù thần lực cỡ đó cũng chỉ là một thị giả, không thể bằng Đức Phật. Và Đức Phật lúc đó hiện thần thông cho ngài A Nan thấy. Nghĩa là ngài có thể dùng thần lực của ngài chấn động 3.000 thế giới, bao nhiêu thiên hà luôn. Đó là như vậy, trong bài kinh Nikaya còn ghi rõ điều đó. Cho nên những người mà theo theo đạo Phật, từ ban đầu đã hiểu về cái sự vô lượng của thế giới. Đức Phật thường hay nói thế này: Hãy nhìn cái bờ cát sông Hằng là như là mỗi một hột như vậy lại thành một con sông Hằng thì bao nhiêu cát của tất cả con sông Hằng đó chính là cái thế giới vô tận này, vũ trụ vô tận này.
[45:38]Thì đầu mình sẽ vỡ tung nếu mình muốn đếm. Nhưng mà làm cho ta mở lòng ra hiểu rằng là vũ trụ mênh mông bao la. Giống như các nhà khoa học vậy, cứ đi tìm cái hành tinh nào có sự sống đếm riết đếm riết thì bây giờ phát hiện như thế này. Phát hiện ra trong thiên hà này thôi chứ chưa nói những thiên hà khác, chỉ cái thiên hà của ta gọi là dải Ngân Hà thôi đã có 1.000 tỷ cái hành tinh, chưa nói ngôi sao nha, 1.000 tỷ cái hành tinh. Khiếp đảm như vậy. Và những điều đó hoàn toàn phù hợp với kinh Phật đã nói từ ngàn năm trước. Cho nên ta nói là cái khái niệm trời biến thiên qua nhiều giai đoạn, nhiều vùng đất.
[46:18]Nhưng mà cái chữ trời chỉ khi tới đạo Phật mới bắt đầu sáng ra được cái nghĩa đúng nhất. Trên trời có nhiều vị thiên tử, có các vua các cõi trời, đó, mà quyền lực cỡ nào, nguyên nhân thế nào, sự tồn tại thế nào, Đức Phật nói rất là rõ, đặc biệt như vậy. Hoặc là chữ Bụt. Bụt là gì? Là Phật á, là Buddha đó, từ Ấn Độ trực tiếp qua Việt Nam đó, không qua Trung Hoa đó, Bụt. Thì ta trong các truyện của Việt Nam chữ Bụt là nghĩa là ông gì? Ông tiên thôi à, ha. Tức là cái ông gì đó không biết, nghĩa là đang khổ quá ngồi than khóc cái Bụt hiện ra, nói: Thôi con đừng khóc nữa, cho con cái này, ha, con về con oánh lại nó con thắng liền, đại khái như vậy.
[47:01]Thì cái ông Bụt đó không phải là ngồi kiết già mà giảng Tứ Diệu Đế, mà ông Bụt ổng hiện ra cái ổng mặc giống như ông tiên thôi. Nên cái từ cái ông Buddha đầu tiên ở Ấn Độ qua tới Trung Hoa Phật về Việt Nam cái thành ra cái ông tiên, nó hiểu khác nhau. Về hoặc là cái chữ tiên cũng vậy. Tiên nghĩa là gì? Tiên là ban đầu là những người mà tu theo cái đạo Lão thường ở trên núi, nên cái chữ nhân với sơn. Họ tu như vậy, nhưng mà do là có những người đắc đạo tiên, cho nên họ có thần thông và phải có cái cõi dành cho họ khi họ chết về nên có thành cái cõi gì? Cõi tiên. Đó, và trong cái cõi tiên đó có nhiều người đẹp như tiên.
[47:47]Và vì có nhiều người đẹp như tiên cho nên người trần gian làm sao? Mê. Mê lâu lâu lạc vào cõi tiên, đến khi về thì trái đất đã thay đổi, vân vân. Hoặc là cái nàng tiên đó vì làm rớt cái chén ngọc nên phải đầu thai xuống dưới trần gian này mà đến chùa Từ Tân tu tập lại cho nó chuộc tội rồi mới được lên cõi trời lại. Mỗi tháng là tới ngồi thiền nghe Pháp, thấy không? Còn nếu nghe Pháp mà không ngồi thiền thì cũng không về cõi tiên được. Nha, thì cứ ngồi đó hoài. Ha, tiên như vậy. Quỷ là gì cũng vậy. Chữ quỷ là chỉ là hồn ma thôi, nhưng sau này biến thành cái gì mà nó có quyền lực nó ghê gớm như vậy.
[48:26]Thì những cái từ đó, từ Bà La Môn cũng vậy, Bà La Môn ổng nói rằng do điều kiện này, Đức Phật nói không phải điều kiện này, điều kiện khác là sự tu tập, cũng vậy. Ví dụ bây giờ ta nói hạnh phúc, thì cái hạnh phúc mỗi người hiểu khác nhau à. Nhưng cái người nghèo hạnh phúc của họ là gì? Là giàu, có ăn có mặc. Người đói hạnh phúc của họ là gì? Miếng cơm thôi, không có gì nhiều nữa. Người lạnh quá thì cái hạnh phúc họ là gì? Cái áo ấm, một mái nhà trong đêm đông, vậy. Nhưng mà cái người mà có mấy cái đó hết rồi, có nhà có cửa có xe hết rồi thì hạnh phúc là gì? Hạnh phúc là gì? Nhiêu đó vẫn chưa đủ, phải không? Khi cái mình đang có rồi thì lại không thấy hạnh
[49:09]phúc, nhớ hạnh phúc là cái gì mình chưa có. Luôn luôn hạnh phúc ở phía trước mình chứ hạnh phúc không ở trong hiện tại. Mà tùy mỗi người quan niệm mà để mà tìm kiếm.
[49:22]Vậy khi một người mà có hết đầy đủ rồi thì cái hạnh phúc họ là gì? Tùy cái đạo đức của họ, vì có một ông đó thì lúc ổng có tiền hết rồi đạo đức ổng phải là gì? Phải là vợ bé. À, chứ vợ lớn không phải hạnh phúc mà vợ bé nhỏ nhỏ thôi chứ. Nói: Đời anh anh ước mơ cái gì không? Tôi ước mơ nhỏ nhỏ à chứ tôi không ước mơ lớn. Nghĩa là làm sao? Dạ vợ nhỏ thôi chứ không không có vợ lớn đâu. Thấy không? Đời tôi bình dị lắm, tôi không ham cái gì lớn, tôi thích gì nhỏ nhỏ hà. Nói: Gì vậy? Là vợ nhỏ. Ví dụ. Nhưng mà rồi có người khác thì nghĩ sao? Tôi phải có quyền, tôi phải bầu vào ứng cử vào Hội đồng nhân dân
[49:56]kia nọ, tôi làm chủ tịch, vân vân, thì cái ước mơ quyền. Nhưng mà có người thì sau khi có đủ hết rồi bắt đầu thấy: Cuộc đời này vẫn đau khổ, mình phải làm sao? Phải tu hành, phải tới chùa tu hành thì đó mới là hạnh phúc, phải không? Tức là hạnh phúc luôn luôn ở phía trước mình. Nhưng đến khi mà một cái người đi qua hết mà cả cuộc đời rồi mà hạnh phúc vẫn ở phía trước, mới biết rằng mình bị lừa, thì ra hạnh phúc ở phía sau. Phía sau là làm sao? Hồi đó mình đi học, phải không, thật là vui ha, đi bắt bướm ngoài đồng, trốn học bị mẹ bắt chưa đánh roi nào đã khóc, bây giờ nhớ lại cái đó lại thấy mới là hạnh phúc.
[50:32]À, cũng giống như bây giờ nói thiệt đi tu khổ quá, ngồi thiền khổ quá, nhưng về già rồi thiệt, nói những cái giờ phút mà ở Từ Tân thiệt là hạnh phúc, thấy không? Được êm đềm, ngồi thiền chung với chúng bạn, có đau chân xuýt xoa, người này cười chọc người kia, qua hôm sau được nghe thầy giảng, rồi lâu lâu thầy ổng khôi hài mình cười vui, khoảng đời đó hạnh phúc biết bao nhiêu. Bây giờ già rồi, răng rụng hết rồi, chưa có tiền làm răng mới, vân vân, giờ mới là đau khổ, hạnh phúc nó không ở phía trước nữa, tại phía trước là cái chết, hạnh phúc ở phía sau. Vậy cái người mà thấy rằng hạnh phúc ở phía trước
[51:03]cũng là sai, hạnh phúc ở phía sau cũng là sai. Hạnh phúc ở đâu? Trời, đang hạnh phúc quá chừng đây nè. Thấy không, đang hạnh phúc quá chừng luôn.
[51:19]Mà người nào mới hiểu được rằng hạnh phúc trong hiện tại? Người nào đạt được chánh niệm tỉnh giác. Cái người mà đạt được chánh niệm tỉnh giác, gọi là chứng một phần nhỏ trong thiền á, bắt đầu khi họ ngồi trong hiện tại, họ an trú được toàn thân, buông lỏng toàn thân, tâm tỉnh sáng không vọng động, cái niềm hỷ lạc nó xuất hiện. Thế gian, trời đất hiện ra thênh thang, thấy mà như không. Lúc đó hạnh phúc vô cùng mới biết rằng trong chánh niệm đó, sự an lạc đó, đó chính là đó là hạnh phúc. Còn hầu hết chúng sinh hiểu thế nào là hạnh phúc đều hiểu trật. Hôm nay ngồi nghe giảng chưa hạnh phúc đâu, đắc đạo mới là hạnh phúc phải không ạ?
[52:02]Nhưng mà tới chừng già rồi vẫn chưa đắc đạo thì nhớ lại cái lúc ngồi nó mới ngồi nghe giảng mới là hạnh phúc, nó vậy. Nhưng mà thực sự đó, không ai biết rằng đây giờ phút này là hạnh phúc của mình khi mình an trú được trong trong chánh niệm. Còn mà lúc đó sân si thì không có, ha. Trong chánh niệm giờ nào thì đó là hạnh phúc giờ đó. Ví dụ như là: trí tuệ là gì? Hiểu trí tuệ là gì? Đó, trí tuệ cũng hiểu khác nhiều lắm, ừ. Ví dụ như đi lừa người ta được, à nói qua nói lại mượn tiền giật chạy mất, cái thằng này có trí tuệ. Thế mình nói: không, cái đó không phải trí tuệ, mà nó là cái gì? Nó là cái gian manh, sự khôn thôi, sự khôn thôi chứ chả gì là trí tuệ.
[52:42]Hoặc là nói bây giờ cái thằng đó học giỏi, người nói là trí tuệ, nói: không, cái đó chỉ là thông minh thôi, học giỏi không phải trí tuệ. Cho nên là tùy người định nghĩa. Mà trong đạo Phật thì trí tuệ là gì? Trong đạo Phật cái trí tuệ cũng nhiều cấp độ. Ban đầu á, trí tuệ nghĩa là thấy được lỗi mình, đó là trí tuệ. Còn sau này mà khi chứng đạo, tâm thanh tịnh rồi, nhìn thấy đạo lý trong từng điều nhỏ của cuộc sống thì đó mới là mới là trí tuệ thấy đạo lý. Nhưng mà cũng chưa, đến khi chứng đạo được tam minh lục thông rồi, nhìn cả vũ trụ như trong lòng bàn tay rồi thì cái tới lúc đó thì Phật mới gọi là là trí tuệ.
[53:21]Đó, nhưng mà thôi thì tùy mức. Ví dụ mình thấy một người nào nhận được lỗi về mình, mình nói: người này tu có trí tuệ vì thấy được lỗi mình, đó. Hoặc là người nào mình thấy sống trong cuộc đời nói ra điều gì cũng đúng với đạo lý, làm điều gì cũng đúng với đạo lý thì mình nói: người này có trí tuệ, vậy đó. Còn mấy người chứng đạo thôi mình khỏi nói rồi, đương nhiên rồi, đại khái như vậy. Cho nên cũng một từ nhưng mà tùy cái hiểu của người người ta. Ở vùng nào, thời nào, trình độ nào. Còn chúng ta thì thường là ta đứng trên góc độ của Phật pháp để ta hiểu những cái từ đó cho nó chuẩn xác. Nhưng mà mình cũng hiểu cuộc đời này người ta hiểu khác,
[54:01]nên vì vậy mình cũng không có cần phải không cần phải tranh cãi, ý như vậy. Nên: Tu thiền, xa trần lao Việc đã xong, vô lậu (vô lậu tức là không còn sơ hở nhỏ nào hết) Đạt được đích tối thượng Ta gọi Bà-la-môn. Cái chữ vô lậu nghĩa là không có một sơ hở nhỏ. Nghĩa là gì? Không một sơ hở nhỏ. Không một sơ hở nhỏ nè: là trong đối xử với chúng sinh không bao giờ có điều gì bất hợp lý. Khi nói hay khi không nói, khi cho hay khi không cho, khi nghiêm khắc hay khi tha thứ đều hợp lý. Đó là một cái không sơ hở. Không sơ hở là về nội tâm không bao giờ có loạn động, không bao giờ có động niệm là không sơ hở.
[54:49]Thẳm sâu bên trong không bao giờ có những phiền não, kiết sử, vi tế gọi là không sơ hở. Trong oai nghi, đi, đứng, nằm, ngồi không bao giờ có cử chỉ thừa gọi là không sơ hở. Nếu mà chúng ta được sống từ thời Đức Phật mà cứ đứng suốt ngày nhìn Đức Phật, ta sẽ hiểu thêm một cái điều gọi là không sơ hở về oai nghi. Như lần trước ta kể chuyện con ong đi tu chỉ vì vì kính ngưỡng cái cái đẹp của Đức Phật mà đi tu đó, phải không? Ta lần trước ta kể câu chuyện đó. Thì bây giờ nếu chúng ta sống vào thời Đức Phật mà chúng ta cứ đi theo chiêm ngưỡng Đức Phật ngày cũng như đêm, đêm đến ngày Đức Phật ngủ mình đứng đấy nhìn, ví dụ vậy.
[55:29]Phải Đức Phật đi, đứng, ăn, nói, thuyết pháp rồi mình đều nhìn hết, mình sẽ thấy lạ một điều: Đức Phật không sơ hở trong nét mặt, không có một cái bặm môi. Ví dụ mình lâu lâu mình còn cắn môi một cái cho vui, thấy không? Đức Phật không hề, tuyệt đối không có chuyện đó đâu. Mình lâu lâu mình còn nhướng mày, Đức Phật tuyệt đối không bao giờ có cái nhướng mày dòm kiểu này, tuyệt đối. Lúc nào cũng điềm đạm, hư vô, thanh thản như cười mà như không phải cười. Còn nếu mà Ngài cười rõ lên một cái là có chuyện lớn sắp xảy ra, chỉ vậy thôi. Đẹp như vậy mà sống động chứ không phải là cứng ngắc như bức tượng.
[56:07]Nhìn vô đó mình thấy rực rỡ của đạo đức, của từ bi, của trí tuệ lan tỏa lan tỏa, rừng rực rừng rực tỏa ra chung quanh, nhưng mà không bao giờ có một cái nét mặt thừa như mình, không có ngồi nhai nhóp nhép như vậy, ha, ngồi không ngồi nhai như vậy, không có nhếch môi, không có bặm mắt, không bặm miệng, không có cái nhướng mày. Cả nét mặt như vậy không bao giờ có một cử chỉ thừa, lạ như vậy, gọi là vô lậu, vô lậu.
[56:31]Cho nên, khi ta mà cách Phật đã xa, không còn gặp Đức Phật, ta thiệt thòi nhiều lắm, ta thiệt thòi. Cái người mà được sống vào thời Đức Phật á, cứ nhìn thấy Đức Phật, cái lòng tôn kính họ với Phật là tuyệt đối thôi, bởi vì Đức Phật không sơ hở, đẹp từng chút từng chút một, từng bước đi, thậm chí người ta nói cái tà áo của Phật hình như nó cũng có oai nghi nữa, nó không bay tầm bậy nữa. Tại vì gió thổi ào ào, y của Phật bay phất phơ phất phơ, nó không bay bậy như mình phải chụp bực bực đồ lại, không có đâu, không có. Họ nói là tà áo Phật gió bay cũng đẹp, đến đến đến vậy. Do đó ta sống vào thời Đức Phật,
[57:07]chiêm ngưỡng Đức Phật, chứng kiến Phật, lắng nghe Đức Phật thế nọ, lòng mình tôn kính Phật tuyệt đối thì lúc nào đó tự nhiên cái lòng tôn kính đủ để mình đắc đạo. Còn cái thời này không còn Đức Phật, mình chỉ nhìn thấy cái tượng, rồi nghe kể không ấn tượng, còn những người vị thầy mà mình nhìn thấy thì cử chỉ thừa nhiều quá. Thầy nói ví dụ như đệ tử của Thầy sống gần Thầy cũng phát hiện Thầy rất nhiều cử chỉ thừa. Ví dụ gì? Thấy Thầy đi tới đi lui lát bỗng nhiên Thầy hát một câu: “Nguyện cầu mai sau loài người thương nhau” gì đó, đại khái vậy, nó cũng thừa. Cái không phát tự nhiên hát lên một câu, đó, thừa, đó.
[57:42]Chứ còn thời Đức Phật là không có, không có cái gì thừa. Người ta nghe bài kệ ha: Mặt trời sáng ban ngày Mặt trăng sáng ban đêm Quan tướng nhờ vũ khí (tức là sáng nhờ vũ khí) Thánh nhân nhờ thiền định Còn Đức Phật, hào quang lúc nào cũng chiếu sáng. Cái bài kệ này Đức Phật nói trong cái trường hợp thế này: là lúc đó vào cái giai đoạn Đức Phật đã lớn tuổi, cái bà Visakha mà lúc mà Đức Phật mới đắc đạo á lúc mà Đức Phật mới đắc đạo á, Ngài có một lần Ngài du hành từ cái xứ Ca-tỳ-la-vệ của Ngài, Ngài đi xuôi về Nam dần dần ghé qua cái nước Tỳ-xá-li, rồi Ngài đi tiếp về Nam tới cái nước rất xa là cái nước Anga, trong kinh gọi là Ương-già.
[58:32]Thì lúc ở giáo hóa đó Ngài gặp một cô bé chín tuổi tên là Visakha. À và mới chín tuổi thôi, nghe một bài pháp của Phật chứng Tu-đà-hoàn liền. Nên cái cô bé đó sống một đời rất đẹp, rất có trí tuệ. Nhưng mà Tu-đà-hoàn thì chưa đủ để thoát ái dục. Cho nên, cái cô bé đó lớn lên tới 16 tuổi thì được một người tận cái xứ Cô-sa-la đến đó hỏi, tại vì cái đức hạnh đồn ra, nó còn nhỏ mà sống đẹp như vậy, trí tuệ như vậy, khéo léo như vậy, đức hạnh như vậy, cẩn trọng như vậy, cái tiếng danh thơm tràn ra. Cho nên những cái người thương buôn mà từ cái kinh thành Xá-vệ, họ đi đi buôn bán khắp nơi thì họ nghe tiếng đồn cái cô bé đó lớn
[59:16]lên dần, lớn lên dần thì một cái ông nhà giàu ở Xá-vệ lật đật chạy về tới đó cưới về cho con trai mình, rước luôn về Xá-vệ luôn. Và về Xá-vệ bà gặp lại Đức Phật của bà, vị Thầy mà khi mình còn bé đã được khai ngộ, chứng đạo. Cho nên, khi mà bà về bà làm dâu cái nhà đó rồi thì do chính cái gia thế của bà cũng giàu mà nhà chồng cũng giàu, rồi bà có đức hạnh cho nên không bao lâu bà nắm hết quyền trong gia đình chồng. Việc mà một người con dâu nắm hết quyền trong gia đình chồng thường thường người ta ghét, ha, ai cũng nói này nói kia. Nhưng mà trong trường hợp bà Visakha bà nắm hết quyền của gia đình chồng lại là một điều may mắn cho gia đình
[1:00:02]chồng, bởi vì bà dẫn dắt cả gia đình chồng đi theo chánh pháp, chứ còn mà những người dâu dữ mà vô giành hết, chiếm hết gia tài thì đó là một thảm họa. Nhưng mà trường hợp bà bà nắm hết quyền gia đình chồng, bà làm cho gia đình chồng đi theo chánh pháp, nền nếp, hạnh phúc. Rồi sau đó thì bà sinh ra một cái người con trai tên là Migara, Migara. Bà là Visakha đặt tên con là Migara. Thì người con trai này lớn lên chút đi tu luôn, xuất gia và chứng A-la-hán luôn. Cho nên sau này trong cái giới Tăng đoàn không gọi bà là Visakha nữa, mà gọi bà là mẹ của Migara, mẹ của Migara. Thì bà có cất một cái tinh xá khác để cúng dường Đức Phật và chư Tăng cũng tại Xá-vệ.
[1:00:45]Tức là tại Xá-vệ đó Đức Phật có một cái tinh xá tên gì? Tên gì? Kỳ Viên, phải không? Kỳ Viên của Cấp Cô Độc hồi xưa ổng mua ổng cúng á. Và sau này mấy mươi năm sau thì bà Visakha à là con mình đi xuất gia, rồi tài sản bà rất là lớn, bà lại xây một cái tinh xá khác cúng dường cho Đức Phật. Cho nên mỗi khi bà xuất hiện thì các Tỳ-kheo hay gọi ờ: “Mẹ của Migara, mẹ của Migara” hay “lâu đài của Lộc Mẫu”, lâu đài của mẹ của Migara, hay đại khái là như vậy. Thì câu chuyện của bà thì đẹp lắm, nhưng mà thôi sau, lúc khác Thầy nói. Bây giờ thế này: thì có một buổi chiều tại nơi cái tinh xá của mẹ của Migara, tức là bà Visakha,
[1:01:27]mà trong cái tinh xá lần này bà rút kinh nghiệm bà xây đẹp gấp mấy lần cái tinh xá Kỳ Viên, xây lầu các trùng chập chứ không phải là chỉ xây một tầng. Còn hồi xưa đó, à ở đây mọi người có xem cái Đỉnh Núi Tuyết tập 16 chưa cà? Nhìn mặt ngơ ngơ thế này là chưa. Ráng tỉnh mà coi đây nha. Thì cái thời đó đó, lúc mà ông Cấp Cô Độc cúng cái đất, cúng tiền để xây Tinh xá, thực ra là phía sau là bà Đức bà Da Du Đà La làm cả. Thì Phật mới cho ngài Xá Lợi Phất về để chỉ huy công trường, công trình. Thì bà Da Du Đà La đó, bà mới tác động là muốn xây rực rỡ thành một kinh đô Phật giáo luôn, thành như một cái cung vua
[1:02:14]luôn, để lập một cái tôn giáo lớn cho thế giới luôn. Cái tham vọng bà rất là lớn, mà phải nói là bà có trí tuệ. Nhưng mà ngài Xá Lợi Phất không cho, ngài nói cất đơn giản một tầng. Vì sao? Vì lúc đó vua Ba Tư Nặc chưa gặp Phật, chưa hiểu đạo, chưa quy y, mà ổng thấy bỗng nhiên có một nhóm tu sĩ lạ, không phải là đạo Bà-la-môn truyền thống, đi về cất một cung điện không thua gì hoàng cung, thì ổng nghĩ thế nào? Ổng nghĩ là muốn giành quyền lực với ổng không, đánh liền, cho nên sẽ không an ổn, nên hãy xây hiền lành. Do trí tuệ của ngài Xá Lợi Phất khéo xử lý kỳ đó, mà khi Đức Phật trở về là Xá-vệ để giáo hóa,
[1:02:54]thì vua Ba Tư Nặc không nghi kỵ, chứ ông Ba Tư Nặc ổng là đệ nhất nghi kỵ, nghi còn hơn Tào Tháo, giết người thẳng tay mà, vua Ba Tư Nặc, ổng không chứng thánh được bởi vì ổng giết người bừa bãi. Thì do cái trí tuệ, bởi vậy tại sao phía ta cứ tôn vinh ngài Xá Lợi Phất là trí tuệ đệ nhất, bởi vì cái sự mà lãnh đạo của ngài, cái sự xử sự của ngài cực kỳ khéo léo, sâu xa, khôn ngoan. Cho nên lúc đó cái Tinh xá Kỳ Viên sự thực nó đơn giản lắm, không có gì. Đến khi mà cái thế lực của của Phật tràn ngập hết, vua quan tướng đều nể phục hết rồi, thì bây giờ bà Vi-sa-kha bà mới cúng một cái tinh xá mới, một khu khác bả xây chồng chất lên bốn năm tầng luôn.
[1:03:34]Nè, có một cái tòa chính cho Phật ở để thuyết pháp là trùng các lâu đài là mấy tầng luôn, bốn năm tầng trên đó, đẹp như vậy. Còn những cái nhà khác chư tăng ở cực kỳ đẹp, cho nên lúc đó là chư tăng chia ra làm hai để ở, một số vẫn ở Kỳ Viên và một số vẫn ở bên lâu đài của mẹ của Mi-ga-ra. Đức Phật cũng đi qua đi lại cho vui, mà Đức Phật cũng không có bỏ Kỳ Viên. Cho nên nhiều bài kinh quan trọng tới cuối đời vẫn được giảng ở Kỳ Viên, bởi vì Đức Phật không muốn mọi người nghĩ rằng Ngài sao, mới chuộng cũ vong, thấy giàu thì bỏ bỏ nghèo. Nhưng mà Ngài cũng không bỏ cái tinh xá mới vì cái tấm lòng của bà
[1:04:11]Vi-sa-kha, nhưng mà Ngài vẫn tới vẫn lui, Đức Phật cũng khéo lắm. Nên muôn đời không ai dám nói Đức Phật: "Ồ, có tinh xá mới đẹp quá cái Ngài bỏ đây ở, Ngài chê cái kia", không bao giờ. Vì sao? Vì nhiều bài kinh quan trọng vẫn được thuyết pháp tại Kỳ Viên cho tới cuối đời của Phật. Phật hay lắm. Miễn ta mà hiểu từng chút từng chút ta mới thấy cái vĩ đại, vĩ đại của Phật khéo léo, những cái mà kinh không nói mà mình phải nhìn ra, khéo như vậy. Thì cái câu chuyện này, bài kệ này xảy ra ở tại cái tinh xá này, là lúc đó trong buổi chiều, chiều bắt đầu mặt trời tắt, bóng tối đã sẫm sẫm sẫm sẫm và lúc đó giờ đó rảnh thì vua Ba Tư Nặc mới tới thăm Phật.
[1:04:49]Lúc đó ông cũng rất là thuần, lòng rất là thuần thành, mà khi ông tới thì ông đội mão lấp lánh ngọc ngà, cái áo của ông, cái áo của vị vua vừa là giáp mà vừa là trang trí của một vị quân vương, ngọc ngà châu báu tráng ngợp, lấp lánh lấp lánh sáng ngời. Ổng đi tới, gươm đeo hai bên để uy vệ, đằng sau lưng là những thị vệ uy nghi. Chỉ khi nào tới gần sát tới cái cốc của Đức Phật, tới cái phương trượng, cái hương thất Phật thì ổng mới gì, bỏ dép ra, cởi mão ra, giao cho người thân tín cầm, cất cái gươm đưa qua, và ổng đi chân không đến quỳ trước cái hương thất Phật, lạy Phật mà mà thăm Phật. Hình ảnh vậy, nhưng mà hình ảnh nó đẹp, tại ổng là vua ổng cao to,
[1:05:34]cái phước của người làm vua họ lớn con, cao to, mà ổng mặc đồ uy nghi. Thì lúc mà ổng tới trong buổi chiều khi rảnh cái việc nước rồi, ổng tới thăm Phật, người đẹp rực rỡ. Nhưng đằng xa xa kia thì ngài Ca-lưu-đà-di, có ai nhớ ngài Ca-lưu-đà-di không? Lúc đó ngài Ca-lưu-đà-di là một vị A-la-hán lớn, ngài ngồi nhập định trong buổi chiều tối, ánh hào quang tỏa sáng rực rỡ. Ngài nhập định và trong buổi chiều tối đó ánh hào quang tỏa một vùng xa. Nhưng mà nhìn qua Đức Phật, thì cái hào quang nó vi diệu, nó không rực rỡ như ánh đèn, nhưng mà nó làm cái gì, nó nó sáng tới lòng người. Đây là một cái lạ. Cái hào quang của Phật nó không sáng chói như ánh đèn thế này.
[1:06:16]Không phải Ngài ngồi đó ánh sáng nó chói vô mắt mình rồi mình không nhìn thấy được như ánh đèn. Mình nhìn vô Ngài, mình biết là sáng, sáng nhưng mà cái sáng đó nó sáng vào trong tâm mình, chứ nó không phải sáng cái ánh sáng vật lý làm mình chói mắt như là một cái nguồn đèn sáng, khác như vậy, và cái ánh sáng nó sâu xa nó tỏa, tỏa như là tỏa cả đất trời, mà tỏa vào tâm chúng sinh, đẹp như vậy. Thì ngài A-nan ngài mới thấy cái cảnh đó đẹp quá, cái ngài mới ngài mới khen, ngài mới hỏi Đức Phật, ừ ngài mới hỏi Đức Phật mà nói: "Bạch Thế Tôn, hôm nay con nhìn thấy, chiều tối hôm nay con nhìn thấy vua
[1:06:55]Ba Tư Nặc đến thăm Thế Tôn và ổng sáng chói bởi cái vương phục của mình. Con nhìn ra góc rừng bên kia, góc dưới bóng cây kia, con thấy tôn giả Ca-lưu-đà-di sáng chói trong thiền định của mình, và khi con nhìn sang Thế Tôn, con thấy Thế Tôn sáng chói cả trời đất." Như vậy thì cái Đức Phật mới nói bài kệ, Ngài cũng thuận theo lòng ngài A-nan mà Ngài nói cái bài kệ cũng rất là là là lãng mạn, rất là hay: "Mặt trời sáng ban ngày, mặt trăng sáng ban đêm, quan tướng nhờ giáp khí, thánh nhân nhờ thiền định, còn Đức Phật hào quang lúc nào cũng chiếu sáng." Cái ý như vậy. Hôm nay ta nghe một cái bài kệ và một câu chuyện nói về
[1:07:41]vấn đề cái hào quang, ta cũng hiểu thêm một chút xíu. Hào quang là gì? Hào quang là ánh sáng sinh học tỏa ra từ nơi thân ta. Nó khác với cái ánh sáng của vật lý thường khi tỏa ra kèm thêm cái sức nóng, còn cái hào quang có khi tỏa ra mà làm cho ta mát mẻ. Một số người khi tu thiền, một lúc nào đó mà cái cơ địa họ tốt, cái người họ có nhân điện, trong bóng đêm họ chà trên da họ nhiều khi thấy lân tinh nó phát ra. Hoặc là cái quần áo họ mặc nó nhiễm cái tĩnh điện của họ, và họ cởi ra họ treo đó mình lại mình đụng cái giật liền. Đó là nhân điện nó làm cái tĩnh điện và điều đó có, có thật. Bây giờ vẫn có, vẫn nhiều người đang có chứ không phải là không.
[1:08:31]Còn cái hào quang đó là mỗi cái sinh vật, cả động vật và thực vật đều có cái hào quang đó hết, đều có hết, mỗi loài khác nhau. Cây cũng có hào quang của cây, hoa có hào quang của hoa, quả trái có hào quang của quả, cái trái đó. Mỗi loại cây cái hào quang khác nhau. Có những cái cây cái hào quang nó run rẩy và rùng rợn, ta ăn vô ta nhiễm độc chết liền. Có những loài cây cái hào quang nó tỏa tỏa ra nó nó mờ mờ ảo ảo tối, mà tiết ra lại chất nhựa, con thú con chim bay vô đáp xuống nó chụp lại nó ăn mất liền, là cây cối cũng có hào quang. Con thú, con cọp, con beo, con chó gì cũng có hào quang. Nhưng cái điều hào quang đôi khi không đẹp,
[1:09:19]nó dữ, phát ra những tia nó không đẹp, mà đặc biệt là con người thì có hào quang. Cái hào quang của con người nó có nhiều loại, nó có nhiều loại, và cái người nào mà hào quang nhiều đều gây cái tâm lý kính phục cho người khác. Nhớ như vậy. Cái hào quang yếu thì không gây sự kính phục của người khác, nhưng cái hào quang nhiều thì luôn luôn gây cho người ta một sự kính phục tự nhiên. Không nói, chưa nói thành lời là người ta nhìn mình người ta đã yêu mến, đã quý mến, cái hào quang nó như vậy. Nhưng mà vì hào quang có nhiều loại không giống nhau. Ví dụ có cái người họ làm việc trí thức đầu óc nhiều quá,
[1:10:06]họ rất là thông tuệ, họ rất giỏi, thì họ có cái hào quang của cái của người học giả, biết nhiều, đóng góp nhiều những công trình tốt cho cuộc đời, họ cũng có hào quang. Và khi ta nhìn họ ta cũng thấy ta nể, thì khi chưa biết họ nói gì, chỉ biết ông đó có học thì thôi, không biết nói gì, mà chưa nghe nói gì, nhìn đã thấy nể nể, bởi vì cái hào quang từ cái thông tuệ học hành, kiến thức nó tỏa ra. Có một người có cái hào quang của cái lòng từ bi. Họ sống yêu thương người, giúp người, giúp ai được cái gì đều ráng giúp, không có nể công. Ừ, thì cái người đó cũng tỏa một cái hào quang mà khi ta nhìn thấy người đó, ta bị hào quang của họ đánh vào trong
[1:10:49]tim mình cái mình yêu mến người đó liền, quý mến liền, hào quang của sự từ bi. Còn có người có cái hào quang của cái gọi là nghĩa tình. Nghĩa tình là sống trong đời, trong những cái sự ràng buộc ân nghĩa đối xử giao tiếp với nhau, họ không phải là từ bi vô tận như là lời Phật dạy, nhưng họ sống rất có trách nhiệm với những mối quan hệ của họ có được, với cha, với mẹ, với con cái, với anh chị, vợ chồng, với thân quyến, quyến thuộc, bà con, xã hội, nghĩa là bất cứ nơi nào họ có mối quan hệ thì họ đều có trách nhiệm, có nghĩa tình, thì người đó cũng tỏa ra cái hào quang. Và cái hào quang nó tỏa ra khi mình nhìn thấy họ mình cũng kính phục liền.
[1:11:29]Vì mà những người có hào quang đó đều chết về cõi lành hết. Nghĩa là hễ chết thì đi về cõi lành vì có hào quang. Có một cái dạng hào quang nữa là hào quang của sức khỏe. Nghĩa là cái người làm họ cơ thể họ luyện tập khỏe mạnh quá, họ cũng tỏa ra cái loại hào quang, mình nhìn vô mình cũng thấy rừng rực của cái sự sống, cái sức sống đó. Mình không nể phục vì những cái khác nhưng mình thấy nể vì cái sức sống tràn ngập trong con người họ, là hào quang của sức khỏe. Có một dạng hào quang của cái sự may mắn sắp tới. Ví dụ cái người đó họ sắp sửa trúng số, họ sắp sửa có tiền, họ sắp sửa được thăng chức thì bỗng nhiên cơ thể họ cũng sáng lên hơn bình thường.
[1:12:12]Cũng lạ vậy, và một cái người mà họ có cái tuệ nhãn nhìn vô thấy cái hào quang sáng hơn bình thường họ biết người này sắp có sự điều may mắn xảy ra. Rất là đúng như vậy, đó cũng là một dạng hào quang. Nó nhiều loại hào quang. Rồi cái hào quang của uy quyền cái người mà nắm quyền lực thì người toát ra hào quang. Luôn luôn như vậy, hễ là người có quyền lực mà cái quyền càng lớn thì cái hào quang nó càng mạnh, chứ quỷ thần cũng phải khiếp sợ. Mà ta đứng gần những người mà có quyền mà quyền lực thực sự, luôn luôn mình có cái gì nó có cái kiêng sợ ở trong đó. Bởi vì cái hào quang của uy quyền nó tỏa ra chứ không phải là không đâu. Ừm.
[1:12:50]Còn cái hào quang của của các vị A-la-hán như là ngài Ca-lưu-đà-di, hôm đêm đó khi ngài nhập định trong cái ánh chiều tà, mặt trời gần như tắt hẳn, thì cái hào quang ngài tỏa ra rất là xa. Vì cái hào quang đó từ cái sức thiền định vô ngã. Mà các vị A-la-hán đều như vậy, cho nên có những khi mà ngài Đại Ca Diếp ngài nhập định một tuần thì hào quang nó chiếu tới cõi trời mà chư thiên cứ thắc tha thắc thỏm đợi ngài xuất định mà cúng dường cho có phước. Thế thì cúng dường cho một vị A-la-hán sau khi mới xuất định hết sức là có phước. Cho nên cái chư thiên là giành cướp trước, loài người không thấy đâu nha.
[1:13:26]Loài người đi đi qua đi lại thấy có cái ông gì ổng ngồi trong hang thì thấy kệ ổng. Nhưng mà chư thiên là đứng trên trời cứ đứng chắp tay hầu, chờ chờ ngài xuất định. Xuất định rồi cái giả biến thành cái người thường mang cơm lại cúng dường liền để mà mà lấy phước, vì phước lớn lắm. Đó vậy, đó là cái hào quang từ cái sức thiền định của A-la-hán. Nhưng mà còn lúc mà ngài không nhập định thì cái hào quang nó thu lại bớt, nó tỏa ra gần lại hơn. Khi ngài nhập định hào quang nó tỏa rất là xa và chư thiên thấy rất là rõ. Còn riêng cái hào quang của Đức Phật thì nhập định hay không nhập định gì đều chiếu trùm cả trời đất, chiếu sâu thẳm vào trong lòng người.
[1:14:07]Thấy đặc biệt là hào quang của Phật là như vậy. Mà ta nghe nói là Đức Phật chiếu sáng hào quang thì ta đừng nghĩ giống như cái nguồn sáng của mặt trời mà nhìn vào chói mắt. Ta nhìn thấy Đức Phật sáng rực, ta không chói mắt. Vì thấy biết là sáng, nhưng mà cái sáng đi xuyên vào lòng mình, vào trái tim mình, vào tận trong cái thẳm sâu của tâm hồn mình làm cho mình chùng xuống, mình buông xuống, mình cúi đầu, đặc biệt như vậy. Để ta nghe hào quang một chút để hiểu thôi. Bây giờ ta nghe bài kệ thứ tư ha: "Dứt ác gọi Phạm chí, tịnh hạnh gọi Sa-môn, tự mình lìa cấu uế, đáng gọi bậc xuất gia." Đây là ừm có một trường hợp thì cũng về danh xưng này.
[1:14:52]Có một vị Bà-la-môn thì ông mới đi xuất gia, cũng làm Sa-môn. Mà xuất gia ở một cái giáo phái khác chứ không phải là xuất gia với Đức Phật. Mà cái thời đó hễ đi tu là đều đi xin ăn, à nhưng mà bên Đức Phật á các vị Tỳ-kheo đi xin ăn á thì họ nghiêm ngặt lắm, ngoài cái xin ăn ra thôi không không làm gì nữa và không có bếp, không có trữ. Cái thời đó vậy đó. Nhưng mà một số giáo phái khác xin mà dư thì đem về phơi để dành bữa sau ăn tiếp, hoặc là dư nhiều quá thì nuôi thêm con heo đồ để cho nó ăn, hay con mèo, đại khái là vậy. Mà thời Đức Phật thì đi xin ăn rồi xin thôi, không có không nuôi mèo, không nuôi gà, nuôi heo ăn cơm dư gì hết.
[1:15:32]Đại khái là như vậy, không bếp, không núc, không trữ qua đêm. Thì à ông này ổng cũng đi tu, một Bà-la-môn đi tu ở giáo phái khác cũng đi xin ăn, á na ná như vậy. Thì ông mới đến gặp Đức Phật. Ông mới nói là: "Thưa Sa-môn Cồ-đàm! Ừm tôi cũng đi tu, à tôi cũng a xin ăn, thì như vậy tôi phải được gọi là Tỳ-kheo chứ?" Bhikkhu, "như ngài gọi các đệ tử ngài?" Nha, thì Đức Phật một lần nữa ngài bác. Ngài nói: "Dứt ác thì gọi là Phạm chí, tịnh hạnh gọi Sa-môn, tự mình lìa cấu uế thì mới được gọi là bậc xuất gia, tức là Tỳ-kheo." Nên cái danh xưng đó Đức Phật nói không phải là bởi vì hình thức cũng đi xin ăn, nên cái xin ăn của Đức Phật khủng khiếp lắm.
[1:16:24]Nên ở đây là chuyện xưa mà ta nghĩ đến chuyện nay. Chuyện xưa là có người cũng đi tu rồi khi đến gặp Đức Phật yêu cầu cái danh xưng Tỳ-kheo, Đức Phật bác. Đức Phật nói: "Đừng tưởng ai đi tu cũng là Tỳ-kheo, mà chỉ như người nào có được cái phẩm hạnh như thế này thế này thì mới gọi là Tỳ-kheo." Đó là thời xưa, ở thời nay cũng vậy. Thời nay nó có những quy chế về tôn giáo, à tôn giáo thì được quyền như thế này như thế này, cái người tu sĩ của tôn giáo thì được như thế này như thế này. Nhưng mà thực sự nếu mà ta nhìn bằng cái nhìn của Đạo Phật thì điều đó không hợp lý, không công bằng. Thế giới thì họ đòi như vậy, thế giới họ đòi hễ tôn giáo phải được hưởng quy chế
[1:17:20]này, quy chế kia, tu sĩ của tôn giáo thì được hưởng quy chế này, quy chế kia. Nhưng mà nếu mà nhìn bằng cái nhìn của Đạo Phật của Đức Phật thì điều đó không hợp lý. Vì sao vậy? Bởi vì nếu mà theo Đức Phật định nghĩa để được gọi là một tôn giáo thì phải có những tiêu chuẩn như thế nào, có những phẩm chất thế nào. Để được gọi là một tu sĩ thì phải có những cái tiêu chuẩn thế nào, những phẩm chất thế nào, chứ không phải ai cứ tìm cách dựng lên một cái đạo, tự mình xưng là giáo sĩ, thu nhập tín đồ đều đòi hưởng cái quy chế ưu đãi của tôn giáo cả. Đừng nghĩ như vậy, mà phải dựa vào điều gì? Dựa vào phẩm hạnh, phẩm chất, giới luật,
[1:18:06]vân vân, mới đáng để được gọi là quy chế tôn giáo hay hay tu sĩ. Ở đây á ta hay có những cái ảo tưởng, ví dụ như bây giờ cái người Đạo Phật thì trong kinh điển ta chỉ nghe nói về những cõi Phật cao siêu mênh mông ba ngàn thế giới, cho nên trong lòng mình là chỉ có gì? Chỉ có cõi Phật thôi, còn quốc gia mình không có được nghe nhắc tới, thấy quốc gia tầm thường. Phải không ạ? Nó nhỏ bé tầm thường, cõi Phật nó mới mới mới đáng mê, mà chết là về cõi Phật, còn cõi này không có chết về làm cái gì hết trơn, đại khái. Rồi ở một tôn giáo khác cũng vậy, tôn giáo khác thấy quốc gia trần thế này không là cái gì quan trọng mà cõi trời, cõi thiên đường gì ở trên mới là quan trọng.
[1:18:57]Các tôn giáo đều bị cái ảo tưởng đó là do các giáo chủ, các đạo sư, các giáo sĩ cứ nhắc tới nhắc lui mà dựng nên điều đó là tín đồ bị ảo tưởng về điều này. Nhưng mà thực tế trong cuộc sống thì sao? Thì ngược lại. Cái người mà họ quản lý một quốc gia thì họ không hiểu họ không không biết điều đó, họ chỉ biết điều gì? Họ biết: "Anh có đạo hay không có đạo anh đều là công dân của quốc gia. Còn anh nghĩ gì trong đầu kệ anh, anh tin cái gì trong đầu kệ anh, nhưng mà anh phải sống theo đúng luật pháp quốc gia. Anh giết người thì bị bắt bỏ tù liền, trừng phạt liền. Phải không? Anh có công thì được thưởng, được cộng đồng khen thưởng, vân vân.
[1:19:40]Còn anh làm bậy là phạt liền, không có chuyện còn anh tin cái gì, anh mơ mộng cái gì, anh đánh giá cõi nào cao kệ anh. Nhưng hễ mà đã sống trong cái cương thổ một quốc gia thì anh phải chấp hành luật pháp quốc gia đó, vì anh cũng chỉ là công dân. Mặc dù nhà nước có cho phép anh được có những cái sinh hoạt theo cái niềm tin của mình, nhà nước cũng không có chống, không xâm phạm. Nhưng nhìn đi nhìn lại anh vẫn là công dân của quốc gia, vẫn phải tuân thủ luật pháp quốc gia và vận mệnh của quốc gia vẫn ảnh hưởng vào cuộc đời của anh. Nước nghèo bản thân anh sẽ khổ sở, nước cả nước giàu lên bản thân anh cũng sẽ sung sướng, ngoại xâm mà nó đánh vô anh cũng
[1:20:21]tan nhà nát cửa, cũng hết tu luôn." Đó, người ta nhìn người ta thấy như vậy, có đạo không đạo không cần biết. Thì như vậy trước hết trên pháp luật con người bình đẳng dù có tôn giáo hay không có tôn giáo, tu sĩ hay không tu sĩ. Đó là cái nhìn thứ nhất, bình đẳng trước pháp luật. Tuy nhiên ở trên cái thứ hai thì bắt đầu người ta mới phân loại tu sĩ là những người chân tu hay giả tu, đáng kính hay không đáng kính. Ví dụ như bằng cái phương tiện của nhà nước, cái nghiệp vụ của nhà nước, nhà nước dư sức biết ông thầy tu đó tu thiệt hay tu giả, tốt hay không tốt, đằng sau lưng có vấn đề gì hay không.
[1:21:04]Thì ngoài mặt thì đẹp giống nhau hết, nhưng mà sau lưng đó anh có bồ hay không có bồ, có bê tha không có bê tha nhà nước biết hết. Nhà nước người ta nghiệp vụ người ta người ta rành mà. Cho nên là nhưng mà nếu khi mà nhà nước họ biết được một người tu sĩ chân tu, sống một cuộc đời đạo đức thật sự, tu hành chân chính thì họ vẫn kính trọng như mọi người kính trọng. Vì cái giá trị đó là nó là chân lý. Hễ một người có đạo đức, có đức hạnh thì cả cõi trời cũng kính trọng chứ đừng nói tới nhà nước, cũng đừng nói tới tín đồ quần chúng, ai cũng đã kính trọng, phải không ạ? Còn cái người mà không có phẩm hạnh thì đừng
[1:21:44]đòi hỏi người ta phải kính trọng mình. Ví dụ mình không có phẩm hạnh thì nhà nước coi mình như mọi công dân thôi. Thì anh sinh hoạt tôn giáo tôi không đụng tới, nhưng anh vi phạm bắt liền à. Thì anh cũng như mọi người, tôi biết anh quá à. Nhưng mà nếu nhà nước biết phía sau của ông thầy đó là chân tu, bên ngoài cũng như mọi người nhưng đằng sau ông là một người rất có đức hạnh thì nhà nước thực sự có kính trọng, bởi vì chư thiên cũng kính trọng, mọi người cũng kính trọng. Cho nên ta trở lại ta thấy bài kệ Đức Phật nói là hợp lý nhất. Không phải vì cái áo mà đòi hỏi mình phải hưởng quy chế ưu đãi của xã hội, mà vì cái gì?
[1:22:23]Vì cái sự tu hành chân chính của mình mà tự nhiên ta sẽ được xã hội ưu ái, chứ mình đừng đòi hỏi. Đừng đòi hỏi: "Ê, tôi là tôn giáo tôi phải được nhiều ưu đãi." Không cần, cứ ráng tu cho tốt đi rồi mọi người sẽ ưu ái mình. Hiểu là như vậy nha. Và bây giờ trả lời các câu hỏi.
[1:22:52]Kính bạch sư phụ, con thấy kinh Thủ Lăng Nghiêm rất hay nên con mong sư phụ giảng kinh Thủ Lăng Nghiêm. Thật ra kinh Thủ Lăng Nghiêm á, nếu mà mình đối chiếu với cái khoa học và cái triết học á, khoa học hiện đại đó, với cái nguyên thủy nhiều cái nó không ăn khớp á, nên thầy rất là lo. Với thêm cái mảng thần chú, tức là tụng chú mà mà mà diệt hết ái dục á, thì cũng hơi đáng lo, mà trong kinh Phật thì phải nhập định à mới diệt được ái dục, chứ không phải đơn giản. Ấn Độ là nơi một đất nước mà Đạo Phật được khai sinh ra, nhưng tại sao bây giờ trở thành nơi có rất nhiều tệ nạn như phân biệt giai cấp, Hồi giáo cực đoan, hiếp dâm, chiến tranh, bạo loạn?
[1:23:32]Bởi vì Đạo Phật biến mất rồi. Từ thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ thứ XIII có một lực lượng Hồi giáo nổi lên giết sạch hết tăng ni, đập phá hết chùa chiền. Đạo Phật lúc đó không có lực lượng tự bảo vệ nên mất, mà khi Đạo Phật mất rồi thì xã hội khó còn đẹp được. Con bị trở ngại trong kỹ năng giao tiếp, con giao tiếp không được hòa hợp lắm với mọi người. Con rất muốn giao tiếp với mọi người nhưng không cải thiện được. Thật ra mình đừng có cố gắng giao tiếp mà hãy cố gắng thương người thôi, nha. Cứ cố gắng thật lòng mình thương người, bỗng nhiên tự nhiên giao tiếp tốt. Còn mình cứ cố gắng giao tiếp tốt thì lại bập bẹ và nói ngọng nha, nói lắp, như vậy.
[1:24:18]Muốn hết nóng tính thì phải nhiếp tâm được trong thiền, còn nếu chưa nhiếp được á thì mình phải cầu xin Phật. Cứ xin Phật riết riết vậy đó, tới khi đụng chuyện cái mình lại không nổi nóng. Còn đến khi mình nhiếp được thiền rồi thì hết bị à. Có một cái cô Việt kiều xuất gia, tại vì trước hay cúng dường cái chùa mến kêu xuất gia, mà khi xuất gia rồi thì cô không biết làm gì, cứ đi nấu ăn. Nấu ăn cái ông thầy trụ trì cứ la, làm gì không biết cứ nấu ăn không. Thế bây giờ cổ giận, cổ nói hồi trước tại cổ chưa có phát tâm mà bắt cổ đi xuất gia, giờ cổ xuất gia rồi cổ nấu cơm cho ăn thì lại la cổ không
[1:24:52]biết làm gì cứ nấu ăn, rồi không biết nên hoàn tục hay không? Cái này mới vô duyên à. Lỡ xuất gia thôi ráng xuất gia luôn nha, rồi mình nấu ăn cũng là một cái tốt, vừa nấu ăn vừa lễ Phật, vừa niệm Phật. Sau này khi phước đủ rồi bắt đầu trí tuệ mình mở mang ra những lĩnh vực khác, chứ đừng có coi thường. Nhớ hạnh phúc là trong hiện tại, nha, mình cứ tưởng hạnh phúc ở tương lai, không phải đâu. Ngay trong cái nấu ăn đó mà mình biết tu á, đó là đạo tâm, đạo lực mình sẽ tăng lên dần dần, đừng đi tìm đâu xa. Cứ nấu ăn tiếp, ông thầy ổng la kệ ổng, vừa nấu mình vừa niệm Phật nha. Vậy chứ mai mốt vượt lên.
[1:25:30]Là Phật tử có nên thọ Bồ-tát giới không? Thường thường thì thấy có nhiều người Phật tử, cư sĩ cũng thọ Bồ-tát giới rồi cái bản ngã lên, cứ nghĩ mình là Bồ-tát giới á. Nếu thật ra cứ nên đi xuất gia, thọ Tỳ-kheo xong thì sẽ thọ Bồ-tát giới ngay lúc đó luôn mà như vậy nó viên mãn. Còn cư sĩ mình cứ tu Thập thiện nha, thực hành những điều tốt và giữ năm giới, bảy điều nguyện là tốt rồi. Thế còn thọ Bồ-tát giới rồi cứ nghĩ mình Bồ-tát giới thì nhiều người bị cái ngã lên dữ lắm, thầy cũng thấy rất là lo, ừ. Cái hở van tim á thì rất là khó chữa, ngồi thiền cũng không hết mà cũng ngồi thiền không được lâu, nó làm mình mệt, làm việc cũng không có mạnh.
[1:26:09]Cho nên là phải có uống được nhằm thuốc Bắc á, nhất là cái thuốc cao quy bản á, hỏi cô Bảy ở ngoài kia coi, cái thuốc đó từ từ cái van tim nó đóng lại. Uống hơi lâu à, thế còn để van tim hở rồi khó làm việc, không làm việc gì được đâu, mệt lắm nha. À, hôm qua có câu hỏi, bây giờ bữa nay cũng có câu hỏi, là nhiều người cứ bị cái tâm dục nó khởi lên mà không kiềm chế được. Thứ nhất là nó do nghiệp, đời trước như thầy nói hôm qua vậy, nhiều khi mình đẻ ra bảy tám đứa con rồi cứ ráng dựng vợ gả chồng cho hết, thì đâu ngờ mình dựng vợ gả chồng là đẩy con mình vào đời sống ái dục, hoặc là những người chăn nuôi cứ phối giống
[1:26:47]cho con thú cũng đẩy nó vào đời sống ái dục. Đó là nghiệp. Còn cái thứ hai nữa là bản năng tự nhiên của con người, hễ tâm động, bộ não động là cái bản năng ái dục nó động theo, đó là điều tự nhiên. Và cái người tu thì phải vất vả vì nó, khổ sở vì nó, giằng xé vì nó và đấu tranh vì nó mới có công đức. Chứ còn nếu mà hễ phát tâm tu cái nó mất tiêu liền thì chắc ai cũng làm thánh hết. Mình làm thánh là bởi vì mình đi qua giai đoạn đấu tranh với nó vất vả, khổ sở chảy nước mắt lên đó. Nhưng mà nó giống như một người ở trong trận địa vậy đó, như đánh trận vậy đó, thấy kẻ thù mà chạy thì sao? Thì không bao giờ thắng được kẻ thù.
[1:27:30]Thấy lửa mà chạy thì không bao giờ dập tắt được lửa. Con người ta phải đối diện với ngọn lửa thì mới dập tắt được nó, phải đối diện với kẻ thù mới đánh thắng được kẻ thù. Cũng vậy, mỗi khi cái dục nó khởi lên, nhìn thẳng nơi nó, ngồi lặng lẽ, thanh tịnh nhìn vào cái dục đang khởi lên như thế nào, vậy đó mà một lát nó tắt à. Cứ như vậy, đừng sợ nha, đối diện, đừng sợ. Ví dụ vô rừng mà gặp cọp mà cứ đâm đầu chạy, cọp nó phóng tới nó cắn từ phía sau, quặc cổ mình chết liền. Mà nếu khi thấy cọp, đứng yên bất động nhìn nó, nhìn nó lặng lẽ, nhìn không chớp mắt, nhìn với tất cả sự dũng cảm và thanh tịnh, từ bi của mình, vậy con cọp nó bỏ đi liền.
[1:28:09]Không tin, vô kiếm cọp làm thử với thầy.
[1:28:17]Ai vô đó đứng y như vậy nhìn con cọp mà bị cọp ăn thịt về đây thầy bắt đền cho. Không, thầy nói thiệt à. Thà đứng lại nhìn nó mà anh hùng, lỡ có chết cũng anh hùng. Mà nó có cái điều thế này, ở trong Đạo Phật nó có cái điều thế này: một người mà ví dụ tu đến mức độ ví dụ như Tu-đà-hoàn thì trong tâm họ không cho phép họ sợ. Trong cuộc đời này nhiều thứ làm người ta sợ: sợ chết, sợ nghèo, sợ bị nói xấu, sợ đủ thứ á. Nhưng mà cái người mà chứng Tu-đà-hoàn rồi, họ không cho phép họ sợ. Cái sợ vẫn chưa dứt được cái gốc, tại vì tới A-na-hàm mới hết được cái sợ, nhưng mà ngang đó Tu-đà-hoàn không cho phép mình sợ.
[1:29:02]Hễ cái gì nguy hiểm, đương đầu tới nhìn nó. Kể cả ví dụ trước mặt mình là con cọp, đứng lặng lẽ, nếu có chết thì cũng nhìn thẳng con cọp đó mà chết, không có quay lưng chạy, không sợ. Ngày xưa vua Thành Thái vậy, ổng từ Huế ổng ra ngoài Hà Nội, ổng đến cái Vườn Bách Thú đi chơi. Cái trong lồng nó có con cọp, thấy người nó đi qua đi lại đi qua đi lại, cái ổng ra lệnh mở cửa ổng đi vô. Trời ơi, thị vệ sợ xanh mặt mà ổng ra lệnh, vua ra lệnh mà, phải mở cửa. Ổng bước vô ổng đứng ổng nhìn con cọp, cọp nhìn ổng từ từ quỳ xuống. Thế là Pháp nó biết rồi, nó biết cái ông vua mà mình dựng nên, mình tưởng là cái ông không ra gì, mình dựng lên để làm bù nhìn mình mới chiếm
[1:29:41]được cái nước này, không ngờ dựng lên nhằm cái cái tay này khủng khiếp quá. Dám một con người thường mà nhìn con cọp nó phải sợ thì ông này mà ổng đứng lên ổng kêu gọi dân đánh Pháp, nên lừa qua lừa lại bắt ổng đi luôn, không cho làm vua nữa rồi đưa vua Khải Định lên, như vậy. Đấy, đã là con người làm như vậy, mình cũng vậy nha. Mai mốt vô nghe lời thầy làm thử, chết thì về đây thầy đền cho. Năm nay con 11 tuổi, mẹ thường dẫn con đi chùa nhưng tâm con lúc nào cũng sợ ma. Con ráng tu riết rồi nó hết nha con. Tu riết tự nhiên mình có cái đức, khi mình có cái đức rồi tự nhiên cái tâm sợ ma nó mất, mà lúc đó ma sợ mình nha, ráng.
[1:30:22]Con đang học võ, thầy con dạy khí công để hỗ trợ cho con võ thuật, con không biết khí công này có ảnh hưởng xấu đến thiền định hay không? Tùy cái loại con. Nếu mà loại khí công mà làm cái lực chạy lên đầu thì nó phá thiền định á, còn nếu có loại khí công mà nó lại liễm cái lực của mình xuống dưới thì nó hỗ trợ cho thiền định, ừ. Là một người Phật tử thuần thành có nên hiến xác cho khoa học không? Hiến thì mình phải hiểu hiến là cái gì rồi hãy suy hãy hiến nha. Hiến xác cho khoa học có nghĩa là hiến cho đại học Y khoa đó, để cho các sinh viên thực tập họ mổ ra. Còn hiến tạng cho người bệnh là khác.
[1:30:57]Hiến tạng là ví dụ mình chết bất ngờ, nhưng mà cái tạng nó còn sống và người ta cứu kịp người ta mổ ra người ta lấy người ta ướp lạnh, người ta ghép cho một người khác thì đó là hiến tạng. Còn hiến xác là hiến cho đại học Y khoa để sinh viên mổ mà thực tập. Thì khi mà mình hiến xác á, khi mà mình mất á báo lên thì trường đại học họ đem xe xuống họ đưa xác mình về, vô trong cái phòng phòng ướp xác, họ cởi hết quần áo mình vô xong cái họ bỏ mình trong cái bồn phoóc-môn ngâm chung với rất nhiều cái xác khác. Xác nào cũng lõa lồ hết, nằm lẫn với nhau. Thì mình nhắm mình chịu được thì hiến, không chịu được thì thôi.
[1:31:31]Nếu mình cảm thấy mà mà sau khi chết, xác mình cởi trần lột truồng quăng vô nằm chung với một số người cũng lõa lồ vậy nó vui thì cứ hiến. Còn mà thấy không chịu là thôi. Nên có nhiều người tu sĩ bị hố chuyện này. Lúc còn sống là một thầy tu giữ giới luật nghiêm nghiêm túc, đi hiến xác, thì đúng cái luật hiến rồi thì gia đình không còn quyền nữa. Xe xuống chở đi, đưa vô trong, người nhà đi theo thấy lột hết y áo ra, bỏ quăng hết cái xác trần truồng vô nằm chung cái xác của cái bà nào nằm gần gần đó, mất hình ảnh tu sĩ, khóc liền! Mà bây giờ luật pháp là luật pháp, không lấy lại được tại đã ký giấy rồi, người nhà chịu chết luôn.
[1:32:12]Nên hãy suy nghĩ trước khi ký nha. Nếu thích nằm cho vui thì cứ hiến.
[1:32:20]Cứ ráng tu đi sẽ hiểu điều những điều tế nhị thế này. Ta đặt vấn đề xa quá mà trí tuệ mình chưa tới, tâm mình chưa đủ thanh tịnh thì nó giống như cái trường hợp mà một ông Tỳ-kheo tới gặp Phật á, nói: Thưa Ngài, trời đất từ đâu có, con người từ đâu có đó, nếu không giải đáp này con không tu nữa. Đức Phật mới quở: Này kẻ ngu si kia, hồi ngươi đến đây ngươi xuất gia với ta, ngươi có đặt điều kiện đó hay không? Ngươi có đặt điều kiện là nếu mà Thế Tôn không trả lời câu này thì con không tu? Ngươi có giao ước, ta chưa hề giao ước với ngươi mà hôm nay bỗng nhiên ngươi tới, ngươi ngươi đòi đặt điều kiện là không trả lời ngươi không tu.
[1:32:54]Này kẻ ngu si kia, giống như người bị một cái mũi tên độc bắn trúng, rồi người ta đem về người ta chữa, nói: Khoan, đừng nhổ mũi tên này ra, hãy hỏi mũi tên này ai bắn, mũi tên này làm từ vật liệu gì, ngâm thuốc độc gì, trả lời tôi biết tôi mới cho nhổ ra, thì người ta chưa tìm ra, chết ngắt. Ngươi cũng vậy, hỡi kẻ ngu si kia, hỡi kẻ ngu si kia.
[1:33:23]Phật nói không phải thầy nói, đừng có giận thầy rồi nha.
[1:33:30]Con là một người kém đạo đức nhưng con rất khao khát trở thành người có đạo đức, nên con mong rằng sau này sinh ở đâu, con cũng được là người chân chính, có đạo đức, vô ngã, thì con phát nguyện, thì cứ mỗi ngày con phát nguyện như vậy. Mỗi ngày quỳ trước Phật mà phát nguyện như vậy, thì cái lời phát nguyện ngay trong kiếp này ngót mười năm bắt đầu đó, nó có kết quả nhỏ nhỏ. Mỗi ngày mà nói cái câu này, mười năm sau bắt đầu nó có kết quả nho nhỏ. Và cứ như vậy cho tới bao nhiêu kiếp sau thì mình sẽ thành tựu được là người có đạo đức nha. Một cái nhân nó không phải trổ ra liền, mười kiếp sau nó mới thành.
[1:34:04]Mà trong một kiếp này cũng vậy, mình phát nguyện như vậy mười năm sau mới bắt đầu có kết quả chút chút. Mười năm, như vậy. Làm tài xế đưa đón ông chủ mà ngày nào cũng phải đưa ông chủ tới nơi sa đọa như vũ trường, phải rót rượu mời ông chủ này nọ. Nếu nghỉ thì giờ không biết làm cái gì, nên vậy có tội không? Đúng là mình có một phần tội. Dù là mình bị sai bảo, vẫn là một phần tội. Như vậy mỗi khi ông chủ vào chỗ ăn chơi, con ngồi con niệm Phật cầu gia hộ cho ông ấy chuyển đổi tâm ý được không? Rất hay, ý kiến rất hay. Được đó. Thế là tay mình thì mời ổng, rót rượu đưa ổng, nhưng miệng thì nói:
[1:34:43]"Cầu cho ổng bỏ rượu", nghe không? Hay là đưa ổng đi nhưng mà cầu cho ổng bỏ bồ, thí dụ vậy nha, không sao. Con gặp được một người chỉ con phương pháp tập thể dục và tăng cường sức khỏe rất đơn giản là vỗ tay mỗi ngày, vì vỗ tay sẽ kích hoạt, massage các huyệt đạo trên lòng bàn tay dẫn đến sự khoẻ khoắn của toàn bộ cơ thể, cũng kích thích sự tươi vui của tinh thần. Con cũng áp dụng được một tháng và thấy có hiệu quả, sức khỏe có tốt lên. Con hỏi sư phụ... Chứ không, cái này là cũng được rồi chứ không gì đâu. Nhưng mà mình kết hợp thêm hơi thở. Thực ra mọi cái luyện tập không phải là vỗ tay không,
[1:35:15]mà lấy tay đập lên đầu, lấy tay vỗ vào bụng, vào ngực, lấy tay vỗ vào lưng, vào mông, lấy tay vỗ vào cái ống quyển đều tốt cả. Mà không phải bàn tay không nữa, người ta tập làm thành một bó tre hoặc là một bó cây sắt nhỏ nhỏ đó, tự đập vào người mình, tự đập vào đầu cũng đều là khỏe hết. Không, cái khí công nó như vậy mà. Trên chùa thầy cũng đều có những cái bó sắt, bó tre như vậy hết để tập. Nên không phải là chỉ hai tay đập vào nhau không đâu. Hai tay đập vào nhau là một cái, một cách thôi. Và hai tay đập vào nhiều vị trí trên người mình nữa nha. Bởi vậy thầy cứ dặn khi mà xả thiền nhớ không?
[1:35:48]Đánh mình như là đánh kẻ thù á. Nhớ không? Nó cũng vậy thôi nha. Có một người sống nhưng mà bị cái vong theo, sống như vợ chồng. Ban ngày ban đêm gì sống hoàn toàn như vợ chồng, có quan hệ tình dục. Chồng cổ đi làm xa nhưng mà cổ biết hết mọi chuyện nhờ cái vong đó mách. Lần lần cổ trở nên ghét chồng và thậm chí muốn giết chồng. Đã nhiều lần cổ muốn tự tử theo cái vong đó. Giờ thì phải làm sao? Thật ra cũng là cái nghiệp. Cái này phải cổ phải vô chùa ở, vô chùa ở nào đó rồi về chùa coi như mỗi ngày tụng kinh cho cái vong đó, khuyên cái vong đó dữ lắm. Chứ không cái vong đó tạo nghiệp. Cái vong đó làm như vậy là là tạo nghiệp,
[1:36:30]tạo nghiệp ác, tác động vào người ta quá chừng.
[1:36:37]Mỗi khi làm việc gì đó, con thường hay nghĩ đến tấm y của người xuất gia dù con là Phật tử. Cái này ngày xưa có đắp y rồi đấy, và giờ vẫn còn nhớ. Con cứ bị giằng kéo giữa hai con đường, một là đạo và đời, con không biết con đường nào cho đúng. Thật ra là con đã từng đi xuất gia, nhưng mà đời trước tu chưa có đúng cho nên cái duyên xuất gia đời này nó yếu. Rồi nó cứ bị giằng xé giằng xé hoài. Cho nên phải là quyết tâm cho mạnh lên nha, quỳ trước Phật phát nguyện xuất gia luôn để chuyển hẳn nối tiếp cái con đường mà ngày xưa mình đã từng tu. Tu nhưng mà tu sai một cái gì đó, bây giờ bỗng nhiên nó bị cái nghiệp đời nó cứ xen vào.
[1:37:18]Con ngồi thiền cứ hay bị cảm giác khó thở, hơi thở cứ hay bị ngợp, lâu lâu phải hít một hơi dài rồi mới thở. Cái này có dấu hiệu bệnh tim nha, thì cứ như vậy mà được thôi, không sao. Nhưng cũng phải chữa tim đi.
[1:37:32]Ngồi thiền mà nó nóng ở trên phía ngực và phần lưng phía trên, tức là lực đã chạy lên rồi nha. Phải buông lỏng toàn thân, để tâm phía dưới cho lực nó xuống lại, chứ nó nóng ở phía trên vậy là bắt đầu sai rồi đó. Lực nó phải liễm ở dưới. Con ngồi thiền hơn một năm, nhưng gần đây con bị đau một bên chân trái và thắt lưng bên trái. Như vậy thận bên trái bị suy đó nha, và hệ thống thần kinh bên đó nó cũng bị suy đó. Kiểm tra lại uống thuốc nam thôi, thuốc bắc thôi chứ đừng uống thuốc tây, đừng mổ xẻ gì. Vừa xoa bóp bên trái, vừa uống thêm cái thuốc bổ thận nha, sẽ phục hồi lại. Làm sao để biết được bản chất thực sự của bản thân mình? Có người hỏi là:
[1:38:14]"Tại sao khi Phật muốn ở lại với thế gian thì ngài A Nan phải thỉnh Phật? Sao Phật không chủ động trụ thế trong khi còn rất nhiều chúng sinh còn trầm luân trong đau khổ?" Thật sự á đây là một cái tâm lý nè. Cái sự hiện diện của Đức Phật vào thời đó hết sức là cao quý và vĩ đại, nhưng qua 45 năm rồi chúng sinh bị nhàm. Đây là một tâm lý kỳ lạ. Như mình bây giờ không có Phật thì mình khát khao, nhưng mà khi có Phật rồi mà nếu mình ở bên cạnh Phật 30 năm bắt đầu mình cũng bị nhàm nếu mình không đắc đạo. Tất cả chúng sinh đều bị cái tâm lý như vậy. Vì sao? Vì khi gần Phật, lúc nào mình cũng khởi lên tâm tôn kính.
[1:38:57]Và cái tâm tôn kính nó khởi lên cũng là một dạng hao năng lượng của tâm làm mình mệt, lâu ngày bị nhàm. Nhớ như vậy. Tâm hư vô thì mới không chán. Các ngài vị A La Hán, tâm hư vô rồi nên ở với Phật mấy tỷ năm cũng không chán. Nhưng mà còn chúng sinh đa phần á là cứ gặp Phật là khởi lòng tôn kính, nghĩ tới Phật là tôn kính, Đức Phật ở gần biết gần đó là cứ tôn kính, tâm động, mệt. Mình phải nhớ, dù là một tình cảm tốt nhưng vẫn làm tâm mệt. Ví dụ như hai người yêu nhau. Yêu nhau đẹp không ạ? Họ nói đẹp bởi họ mới làm thơ làm nhạc quá chừng. Nhưng mà nó vẫn làm mệt, nên có những lúc ông chồng ổng không muốn yêu nữa.
[1:39:35]Ổng không muốn yêu ổng nghỉ cho khỏe. Ổng muốn đi đọc báo, đi chơi bạn bè ngoài, đi nghỉ yêu cho nó khỏe rồi từ từ khỏe rồi yêu lại. Nhưng bà vợ mà nghỉ yêu chút chết với bả: "Ông có con nào rồi? Khai ra." Này nọ á. Cuộc đời nó không hòa hợp là bởi vì họ không hiểu được một điều, dù một cái tình cảm đẹp mà kéo dài vẫn làm tâm bị mệt. Đó là cái tâm lý đó. Nó vẫn hao năng lượng. Cho nên cứ bắt người nào cũng phải kính trọng mình mãi, bắt người nào cũng phải yêu mình mãi là một cái điều sai lầm. Mà mình cứ bắt thế là làm người ta sợ. Giống như ăn món ăn hoài cũng đều ngấy. À nghe một bài nhạc hoài chết liền. Đúng không ạ?
[1:40:15]Cái bài nhạc hay quá đi mà cho mình nghe sáng chiều, chiều qua ngày mai nghe nữa qua một tháng thì mình tự tử chết liền, treo cổ liền chứ không cần nữa. Nó thật sự là như vậy. Cho nên Phật phải nhập Niết bàn để tránh cho chúng sinh cái tâm lý là bắt đầu mệt vì lòng tôn kính là như vậy. Ví dụ như sư phụ đây cũng vậy, cũng có những người thương, thương thầy lắm chứ không phải không. Nhưng mà hễ biết người ta thương thầy cái thầy phải trốn. Thầy thương lâu quá mệt. Thiệt á, thầy nói thiệt á, tâm lý nó lạ lắm á. Cho nên vì vậy mà Đức Phật phải nhập Niết bàn do tâm chúng sinh là họ không đủ thanh tịnh để mà gánh nổi cái sự tôn kính đó.
[1:40:56]Đây là một điều rất là lạ. Tâm lý này nào giờ như thầy chưa giảng phải không ạ? Đấy mai mốt thầy sẽ giảng lại cái này cho kỹ. Ai cũng vậy hết. Thương nhau rồi cũng mệt, ghét lâu mãi cũng mệt, thương mãi cũng mệt. Mà hễ động ra đều mệt, cho nên tâm hư vô mới kéo dài được, vậy thôi. Còn cái vụ mà nhân quả mà vua Lưu Ly giết cả dòng họ Thích thì nó nhân quả sâu xa lắm à. Nha, mình biết nhân quả mình sẽ thấy nó công bằng, chứ nhìn ở một hai kiếp hay nhìn trong đời đó mình không giải thích được đâu, nghe không?
[1:41:28]Thưa thầy, con có người bạn nằm mơ thấy cảnh tượng ba vị Phật xuất hiện với ánh sáng chói loà màu vàng và mỉm cười với bạn con, và bạn con có nằm mơ thấy Quan Âm Bồ Tát. Cho con hỏi như vậy có điềm gì không? Tức là người này đang hư. Nhớ như vậy á. Những người có duyên với Phật Pháp từ kiếp trước mà kiếp này không chịu lo tu thì thường hay nằm mơ thấy Phật, để Phật nhắc: "Phải tu." Còn cái người mà đã tinh tấn, ổn định, quyết tâm rồi thì không có thấy Phật nữa. Phật không muốn cho mình thấy Phật nữa, mà Phật chỉ muốn cho mình thấy cái gì? Thấy lỗi mình mà thôi. Nhớ nha. Hễ còn thấy Phật tức là mình còn hư.
[1:42:06]Có duyên với Phật mà lại không chịu tu, nên cứ hay thấy Phật. Còn người mà đã quyết tâm tu thật sự không cần Phật nhắc, mà cần thấy lỗi mình hằng ngày mới là đúng ha. Nếu mà Bổn sư đã mất rồi thì được quy y lại nha, cũng được. Có những trường hợp được quy y lại: Bổn sư đã hoàn tục, Bổn sư đã qua đời lâu, Bổn sư đi đâu mất mình không biết, vân vân. Có những trường hợp đó thì thầy cũng khuyến khích nên quy y lại. Thì mỗi khi tụng kinh con bị ngáp, tức là có cái vong nào họ đến gần mình á nha. Mình ráng mình tụng kinh để cho cái vong đó họ nghe họ tu theo. Vậy đó.
[1:42:46]Gần chùa có một sư cô cắm hoa hay làm việc gì rất hay, nhưng mỗi khi cổ chỉ ai rồi thì cổ lại làm việc đó không được nữa. Bởi vì lúc cổ chỉ, cổ có một chút kiêu mạn. Ừ, cổ nghĩ cổ giỏi, cổ hơn người ta nên... Cho nên bởi vậy khó lắm. Khi mình hướng dẫn ai điều gì đó mình phải khiêm tốn. Mình dạy người ta mà giống như là người bạn dắt tay cùng đi, chứ không phải là mình dạy người ta mình đi trước mình nắm cổ người ta mình lôi sau lưng, không phải. Giống như mình đi bên ngang cạnh người ta hoặc đi sau người ta để dìu người ta đi. Mình dạy trong cái khiêm tốn thì mình đi được, người ta cũng đi được.
[1:43:20]Còn mình dạy như kiểu mình làm thầy, mình giỏi hơn người ta thì người ta đi được không biết nhưng mình sẽ vấp té. Nó là vậy đó, ừ. Cái người chết dù mấy năm thì cũng đừng có dẹp nha. Cái cái tình nghĩa là vô tận, đừng có nói mấy thờ mấy năm rồi nghỉ hết, cứ thờ mãi thôi nha. Nó giống như người nói: "49 ngày con đốt tang được chưa?" Nói: "Ác vừa gì, mới 49 ngày bỏ tang, ít ra phải 1 năm." Nha, cái tình thương yêu của mình đối với những người quá cố cứ nghĩ giùm thầy là cứ vô tận nha, đừng có giới hạn. Sống trên đời là vậy, tình nghĩa là cái gì vô hạn, đừng có nói thờ mấy năm thôi không thờ nữa, đừng nghĩ như vậy nha.
[1:44:01]Có ai nè, coi lãng mạn chưa: "Hôm nay lần đầu gặp thầy, tâm con vô cùng phấn khởi và hạnh phúc, vui lắm không kể xiết. Hôm nay con cảm thấy không gian và thời gian đều là hoa và hạnh phúc." Xạo dễ sợ không!
[1:44:23]"Cho con hỏi làm sao để khuyên một người có tính cố chấp, khi biết họ làm sai và không nghe và còn khó chịu?" Đúng rồi. Cái cố chấp này cũng là cái ngã mạn. Và họ khi nào họ trả cái quả báo của họ, họ phải trả giá cho đến khi họ thân tàn ma dại, họ nhục nhã, không còn danh dự, lúc cái ngã họ rớt xuống rồi mình mới nói họ nghe. Đành phải vậy, không còn cách khác. Còn những người họ có trí tuệ thì ngay họ vừa sai mình nói thì họ nghe liền thì họ thoát, họ đi lên luôn. Tức là người nào mà nghe được cái lời góp ý của người khác thì vượt lên liền, còn người nào khăng khăng không nghe lời ai góp ý thì thế nào phải
[1:44:58]tới cái ngày thân tàn ma dại không còn gì nữa, nhục nhã hoàn toàn. "Khi đến nghĩa trang để cúng mộ người thân có nên trích ra một chút để cúng chung cho các mộ khác không? Và như vậy các vong linh ở đó có theo mình về không?" Mình đâu có mời về đâu mà về, cho nên phải cúng hết, đừng có nha. Đừng có, giống như mình đi thăm, thăm ai cũng vậy, thăm một người bệnh ở trong bệnh viện cũng vậy, hai ba cái giường gần đó mình cũng đem bánh, đem trái qua mời ăn cho vui. Bình thường, đó là cái người sống cũng vậy mà. Thì đúng rồi, hồi hướng cho chúng sinh là có những người mất luôn rồi. "Làm nghề cò nhà đất, làm nghề tiệm cầm đồ, hai nghề này có tội nhiều không?"
[1:45:38]Thật ra, ví dụ như khi mình làm mà có cái lời đó, được mình làm mà có cái lời tức là đời trước mình cũng có cái phước, nên đời này mình có cái lộc, thì à nhưng mà khổ vậy đó, giống như thầy giảng cái bài "Bên lở bên bồi" á. Mình cứ, mình cứ cậy vào cái cái lộc đó rồi mình cứ ăn hiếp người khác mà không nghĩ đến cái việc làm phước thì sau này nó mất cái lộc, vậy thôi à. Cái nghề đó là cái nghiệp, như bữa mà thầy giảng ở chỗ cái Công ty Xây dựng Hòa Bình cũng vậy. Thầy nói: "Trong cái Tập đoàn Xây dựng Hòa Bình này nó có hai hạng người, là hạng người lãnh đạo công ty ha, giám đốc, phó giám đốc, trưởng phòng,
[1:46:15]phó phòng á, nhưng mà xuống tới cái hạng thứ hai là những người công nhân cầm bay xây trực tiếp." Thì cái những cái người mà làm trưởng phòng, phó phòng, giám đốc nhà người nào cũng lớn á, nhưng mà cái người mà công nhân xây dựng cầm bay xây từng cục gạch có người ở thuê suốt đời không có nhà ở. Mặc dù đi xây hết nhà này tới nhà kia nhưng phần mình không có nhà ở, có không ạ? Có, lý do là cái nghiệp đời trước khác nhau. Cái người nào mà đời trước đi cất chùa, à cất giùm nhà người ta, cất trường học, bệnh viện á thì sau này mình cái nghề mình sẽ là nghề xây dựng mà mình thành công trong cái nghề đó.
[1:46:47]Đó, rồi còn cái người nào mà đi phá nhà người ta, phá nhà ví dụ như vô tình mình đi đánh giặc cái đồ, "Đốt hết nhà cho tao, tụi bây đốt hết nhà này phá hết để mà coi bắt giặc." thì sau này đi xây lại từng cái nhà để chuộc lại cái tội đó. Thì không có nhà để ở mà cái nghiệp là cứ phải làm cái nghề xây dựng. Đó, nghiệp cái nghề như vậy. Còn tại sao mình làm cò nhà đất mà mình lại có lãi, thành công, trúng mối, trúng đồ? Vì hồi xưa chắc là cũng cũng cúng đất cho chùa hay là xúi ai cúng đất cho chùa gì đó, đời này mình hưởng cò. Nhưng mà những cái mà mình không có lao động vất vả lắm mà mình sống trên cái sự đau khổ người khác,
[1:47:23]ví dụ người ta đem cầm đồ lúc đó người ta đang trong hoàn cảnh nào? Rất là khó khăn phải không? Mà nếu mình cho người ta mượn cái tiền để giải quyết khó khăn thì thôi cũng được, nhưng mà mình ăn lãi nhiều quá tức là mình sống bằng cái, sống trên cái sự đau khổ của người khác, khai thác cái lúc hoạn nạn, khó khăn người khác để mình sống. Giống như thầy nói thậm chí bác sĩ cũng vậy, lúc người ta bệnh mới tới chữa mà lấy tiền mắc, nghĩa là mình sống được sung sướng trên cái sự khổ đau của người khác. Thì cái cho vay, cầm đồ nó cũng giống giống như vậy, hay là người bán hòm này cũng vậy. Không ai chết, buồn quá ha, ai chết mừng.
[1:47:57]Đó đều là vậy đó. Cho nên mấy cái đó phải cẩn thận cái tác ý của mình dữ lắm, coi chừng cái tâm mình mà mình cứ cầu mong người ta khổ khó mình mới sống được á thì lại dễ thành cái tội. À "Cái mộ đã bốc đi rồi mình mua lại để mình táng có sao không, có bị ma cũ, ma mới gì không?" Có khi cái người đó người ta đầu thai mất rồi nha, mình cứ đến mình cứ chú nguyện, mình cúng thí thực rồi mình không sao. Nó có cái thế này, ví dụ như mình biết cái người thân của mình họ phạm tội như bán ma túy rồi thuốc lắc gì đó, biết mình khuyên không được rồi mình không báo nhà nước mình mắc cái tội là gì? Không tố giác tội phạm.
[1:48:40]Sau này mà nhà nước bắt được cái bên công an họ bắt được đó, họ truy ra tới mình luôn á là mình vô tù luôn á nha. Đó là theo luật pháp. Còn nếu theo đạo lý thì mình phải làm mọi cách để ngăn không cho người đó phạm tội tiếp. Hoặc là báo hay không báo nhà nước nhưng không được để người đó phạm tội tiếp. Nếu dùng lời nói không được thì phải dùng biện pháp cứng rắn, mà cứng rắn không được đành phải báo nhà nước. Chứ còn không là về đạo lý mình sai, về luật pháp mình cũng sai luôn. Không tố giác tội phạm. "Thưa sư phụ, cậu của con khoảng 40 tuổi nhưng chưa lập gia đình vì lý do mỗi lần quen bạn gái định tiến đến hôn nhân thì thấy hình ảnh người
[1:49:16]bạn gái trở nên già nua, xấu xí, có khi biến thành mặt quỷ ghê rợn. Xin sư phụ giải thích giúp con." Cái người này đặc biệt rồi nha, có căn tu rồi nha. Tốt lắm rồi nha, tốt. Đừng cho ổng lấy vợ nữa, nói ổng đi tu luôn rồi nha. Đến nước này mà còn ráng bắt ổng lấy vợ nữa mang tội chết á. Cái người này nhiều khi họ có khiếu, có tu, rồi có ai độ cho họ để họ đừng có lấy vợ, để nhắc người ta tu. Cứ ép ép người ta lấy vợ hoài. "À con ăn chay nhưng anh con ăn mặn, con phải nấu đồ ăn cho ảnh ăn, con mang tội không?" Thì cũng không tội đâu, việc đàng hoàng, bổn phận mà. "Con mở bài giảng nghe nhưng ảnh không muốn nghe,
[1:49:53]con mở loa lớn có sao không?" Nhớ làm sao cho đừng đừng để người ta ghét lây sư phụ. Cho nghe chút chút thôi, mình lựa cái đoạn nào mà sư phụ nói giọng êm ái thiệt hay đó cái mình canh để đó, ổng về nhà cái mình mở cho ổng nghe chút rồi tắt. Tức là vừa đủ cho ổng không bội thực, ổng đang ghét mở cái ổng nói kiếm cái tay nào mà nói quánh sư phụ mất công. "Con hay cúng thí thực và tụng niệm kinh vào mỗi buổi tối sau khi đi làm về, có vài lần đến giờ tụng thì con không đọc lời kinh liền mạch được, lưỡi như bị cứng lại, hàm khó mở ra. Dù con cố gắng đọc tiếp cũng không, vấp hay chữ chạy cũng bị có ai tác động rồi,
[1:50:28]có cái vong nào tác động rồi." "Mê đánh đề, ai khuyên thì quyết tâm không bỏ." Cái người mà bướng á, khi người ta làm việc sai mà người ta can ngăn mình mà mình quyết không bỏ thì sau này quỷ sứ sẽ khuyên. Mình người khuyên hết được rồi, cái người đó người khuyên hết được thì sẽ có ngày quỷ sứ sẽ khuyên. Nha, lúc quỷ sứ khuyên là sẽ nghe. Thôi mình đừng lo lắm, đành chịu thôi. Do đó ai cũng có thể tu được trừ người bướng bỉnh. Nhớ, người bướng rồi không, ác coi vậy chứ tu được nếu đừng bướng, vẫn có người khuyên được. Nhưng mà đã bướng rồi, rồi hết tu, không ai khuyên được, không ai sau này chỉ có quỷ sứ nói
[1:51:09]chuyện bằng cưa, dùi, đục, cái xiên, cái gươm đao này thôi, lửa thôi. Tới lúc đó mới nghe. Nhớ, tất cả những người đọa địa ngục đều là những người bướng bỉnh. Nhớ như vậy. Bướng ít địa ngục ít, bướng nhiều địa ngục nhiều, không bướng thì thôi nghỉ. Dạ thưa hết.
[1:51:33]Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả,
[1:51:48]đệ tử và chúng sinh đều trọn thành Phật đạo.