Lời giảng: Ý Niệm Vô Lượng Vô Biên Của Tâm Hạnh Bồ Tát - Bồ Tát Đại Thừa 14

  • Thuyết giảng: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Thời lượng: 1:18:10

Toàn văn lời giảng, chép từ phụ đề. Bấm vào mốc thời gian để nghe đúng đoạn đó.

[0:03]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Hôm nay chúng ta nghe tiếp về cái tâm hạnh của Bồ Tát Đại thừa. Nay ta nghe về cái khái niệm à vô lượng, vô biên trong cái tâm hạnh của Bồ Tát nè. Thường thì à chúng ta, những người phàm phu, thì luôn luôn có cái giới hạn. Chúng ta ước mơ một điều gì, chúng ta kỳ vọng một điều gì, hay phấn đấu cho một điều gì, thì âm thầm chúng ta có cái mức độ, có cái giới hạn, chứ không bao giờ chúng ta dám nghĩ đến một điều gì vô hạn.

[0:49]À thông thường con người là như vậy. Từ ngàn xưa cho tới bây giờ là như vậy, và ngàn sau này cũng sẽ như vậy nếu chúng ta không gặp được Phật pháp, nếu chúng ta không hiểu được tâm hạnh của Bồ Tát Đại thừa. Nên cái việc mà khi ta nghĩ đến một điều gì trong một cái chừng mực, một cái giới hạn nào đó, thì đó là điều bình thường của tất cả phàm phu. Ví dụ bây giờ nói cái thời nguyên thủy, đứa bé được sinh ra trong một bộ tộc, cái ước nguyện của nó là gì? Thì nó dòm thấy người lớn làm gì thì nó nghĩ nó sẽ làm cái đó, và chừng ấy thôi. Ví dụ bây giờ nó ngưỡng mộ cái ông bố sinh ra nó là làm chủ được tức là hai con ngựa,

[1:37]mà rồi săn được thú, tức là có cái có cái dao, có cái tên săn được thú, thì ước mơ nó cũng chỉ chừng ấy thôi. Rồi khi lớn lên nó hiểu có cái chuyện là à có cưới vợ, có sinh ra con, thì nó cũng chỉ ước mơ chừng ấy rồi hết chuyện. Và cái tâm lý từ cái thời nguyên thủy hoang dại đó cho tới bây giờ cũng y như vậy. Tất cả chúng ta cũng vậy, những ước mơ của mình cũng chỉ chừng ấy khi chúng ta nhìn bắt chước ai đó trong cái cuộc đời chung quanh mình. Ví dụ như bố mình, mẹ mình là một người thành công trong lĩnh vực nào, mình cứ bị đặt cái mục tiêu của mình cũng giống như vậy. Ví dụ như ông bố ổng làm bác sĩ thì đứa con cũng

[2:20]rất thích làm bác sĩ, thường thường là như vậy. Rồi thấy ví dụ như là ông bố ổng làm cán bộ, con cũng rất thích làm cán bộ, rồi hết. Chỉ trừ một vài trường hợp là cái đứa bé nó lại bắt gặp một cái hình ảnh thần tượng nào khác, thế là nó tự nó tách ra, nó ước mơ lại. Thì ví dụ như là thấy à ông này là một nhà khoa học, một nhà tiến sĩ nghiên cứu một đề tài gì rất là hay về môi trường hay về cái vật chất, những cái điều gì mà sáng giá, có thể nổi danh, được nhiều người ngưỡng mộ, thì bắt đầu cái tâm nó đủ trí tuệ, đủ thông minh, cái nó lại hướng về cái mục tiêu nó khác, khác với bố mẹ. Cho nên những cái ước vọng của con người đặt ra

[3:02]là thường là có cái khuôn mẫu, có cái giới hạn nào đó, chứ chúng ta không bao giờ ước mơ đến được cái vô lượng, vô biên. Chỉ trừ mà ta bắt chước một người là bắt đầu ta tiêu. Là bắt chước ai? Bất ngờ trong cuộc đời mình, mình gặp phải một nhà sư, nhà sư, mà cái nhà sư đó làm cho mình cảm động. Thế là trước đây ví dụ mình tính là nữa mình nối nghiệp bố mình, ổng có cái phòng răng thì mình cũng làm cái phòng răng, ha, ổng có cái lò rèn mình cũng làm cái lò rèn, rồi bố mẹ cho đi học nói: “Không, đời bố là vậy, đời con phải hay hơn. Con phải là bác sĩ, có nhà lầu, có xe hơi”, bố mẹ mình dệt cho mình cái ước

[3:44]mơ, thì mình cũng nghe lời, cho đến một ngày bất ngờ mình gặp một nhà sư. Thầy không có nói đi tu rồi nha, đừng có sợ. Ổng gieo cho mình một cái ý niệm về sự vô lượng, vô biên trong Phật pháp, thì tâm mình lúc đó mới vỡ tan ra. “Xin tâm này tan ra thành pháp giới bao la” là cái chỗ này. Là kể từ khi gặp Phật pháp, ta mới bắt đầu mở tâm mình hình dung ra có những cái điều vô hạn, chứ không phải là giới hạn. Và kể từ lúc này chúng ta bước vào một thế giới mới, một trạng thái mới, một tâm hồn mới, một cái hướng đi mới vì vì chân lý của Phật đà cho ta cái điều kỳ lạ này. Từ vô lượng kiếp, từ hồi mà chúng ta đầu thai trong cái thời nguyên

[4:33]thủy, bộ tộc, chỉ biết ước mơ những điều nho nhỏ nho nhỏ, cho đến ngày ta gặp Phật pháp, mà gặp được cái công hạnh Đại thừa thì lòng mình mới vỡ tan ra, mới nghĩ đến cái vô hạn, vô biên. Nhưng mà tụi con chỉ nghe được cái ý niệm thôi, nghe được cái ý niệm về vô hạn, vô biên thôi, chớ cũng chưa đủ sức hình dung nó như thế nào. Đó là chỉ có một lần à ví dụ bây giờ ta nghe một bài kệ: “Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ” - mà chúng sinh vô biên lát nữa thầy sẽ giảng đây - rồi “Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn, Pháp môn vô lượng thệ nguyện học, Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành”, để gieo cho ta một cái ý niệm cái gì không còn biên

[5:12]giới, nhưng mà ta chưa hình dung hết. Hoặc là mình đầu tiên mình vào lễ Phật: “Đấng Pháp Vương vô thượng”, tức là Đấng Pháp Vương không còn cái gì có thể hơn được nữa, không còn cái gì có thể trên được nữa, gieo vào đầu ta một cái gì nó vô hạn, nhưng nó là cái gì thì chính chúng ta cũng chưa hình dung ra cho đến ngày mà ta làm Bồ Tát. Khi mà ta làm Bồ Tát rồi thì bắt đầu ta hiểu về cái vô lượng, vô biên. Nên hôm nay ngồi đây nói với nhau vậy, ta đang nghe cái tâm hạnh của Bồ Tát Đại thừa về cái ý niệm vô lượng, vô biên. Chúng ta nghe để hiểu, để cảm, và gieo cái nhân lành cho cuộc đời của mình,

[5:56]chứ cũng chưa chắc là hôm nay chúng ta hiểu được, thực hành được. Nhưng mà ta nghe để ta ngưỡng mộ, và cái ngưỡng mộ này đem đến cho ta cái phước lành vô lượng. Nên có nhiều bài kinh Đức Phật nói một câu mình nghe thấy lạ: “Ai nghe được bài kinh này phước đức vô lượng.” Mình nói: “Ủa, mới nghe mà phước đức vô lượng cái gì?” Nói phải gieo nhân mới gặt quả, phải làm cực khổ, làm phước lành rồi vất vả, cống hiến, phụng sự mới có phước, chứ sao chỉ nghe bài kinh này mà phước lành vô lượng? Mà thực ra không không nói dối, bài kinh không nói dối. Ví dụ hôm nay vậy, ta nghe về cái ý niệm vô lượng, vô biên của tâm hạnh Bồ Tát, mà người nào nghe bài này được,

[6:38]hiểu bài này, cảm được bài này thật sự là đã được công đức rất là lớn. Mà nếu tâm mình có cái lòng ngưỡng mộ đối với các vị Bồ Tát thì thực sự mình giống như con cưng của chư Thiên rồi đó, bắt đầu là mình được cái phước lành từ ở trong cái ý niệm của mình, trong cái tâm hồn của mình rồi chứ không phải là không. Cái mà vô lượng, vô biên đầu tiên là thế này: đầu tiên là Phật quả là vô lượng, vô biên. Cái quả chứng của Phật là vô lượng, vô biên. Quả chứng của Phật là vô lượng, vô biên là gì? Ví dụ ta nghe chuyện Đức Phật nhập định 49 ngày dưới cội cây bồ-đề rồi đắc đạo thành Phật, thì mình chỉ hiểu vậy chứ mình cũng không hiểu hết được cái sự vĩ đại

[7:22]mà nơi 49 ngày Đức Phật nhập định đắc đạo đó, chưa ai trên đời này hiểu được cả. Nhớ như vậy. Chưa ai trên cuộc đời này hiểu được sau 49 ngày đó Đức Phật đắc cái gì, chưa bao giờ hiểu được. Vì nếu ta hiểu được ta cũng gần bằng Phật. Mà chỉ có cái may là ta nghĩ: ờ chắc là cao siêu lắm. Chỉ có nghĩ là chắc là cao siêu lắm thôi là ta đã được một chút phước rồi. Còn người nào mà cảm nhận được cái cao siêu của cái sự đắc đạo của Phật sau 49 ngày đó mà hiểu sâu chừng nào thì phước lớn tới chừng nấy. Hôm nay ta nói về điều đó một chút. Cái sự vĩ đại, cái sự vô hạn, cái tuyệt đối trong cái Phật quả là như thế nào sau 49 ngày đó.

[8:09]Muốn hiểu cái đó ta trở lại cái số lượng này một chút để nghe mà biết sợ. Trái Đất ta nằm ở trong một cái tinh hệ phải không? Một cái tinh hệ gọi là hệ Mặt Trời, solar system, một cái tinh hệ Mặt Trời. Và cái hệ Mặt Trời chúng ta gồm cái Mặt Trời và coi như chín hành tinh quay quanh và một đống đá bay vèo vèo vèo vèo vèo. Đó, cái tinh hệ này nằm ở đâu? Nằm trong dải Ngân Hà. Dải Ngân Hà là gì? Dải Ngân Hà là cái tên riêng. À, Ngân Hà là tên riêng, mà Ngân Hà là tên riêng của một cái gì? Một thiên hà. Vũ trụ này gồm nhiều thiên hà, mà cái thiên hà của chúng ta, ta tự đặt tên là dải Ngân Ngân Hà.

[8:59]Trong đêm trời mà trong vắt, ta nhìn lên ta thấy một dải mây bạc đặc sệt vắt qua bầu trời thì đó chính là cái dải Ngân Hà của chúng ta. Dải Ngân Hà giống là cái mặt trời chúng ta nằm ở ngoài rìa rìa của cái dải Ngân Hà này, mà cái dải Ngân Hà này nó lớn cỡ nào? Nó lớn thế này: là ánh sáng đi từ đầu này tới đầu kia mất khoảng 22.000 năm để đi từ một cái đầu này qua tới đầu kia, ánh sáng. Mà ánh sáng trong một giây nó đi được là 300.000 cây số. Tích tắc 300.000 cây số liền, mà nó phải đi 22.000 năm thì mới đi từ đầu này tới đầu kia cái dải Ngân Hà của ta. Như vậy cái thiên hà này lớn hay nhỏ? Ta có hình dung được cái độ lớn đó không?

[9:42]Không. Nội cái thiên hà của ta, ta không hình dung được độ lớn, mà ngày hôm nay các nhà khoa học mới tìm ra thêm được và ước tính con số của các thiên hà trong vũ trụ, con số nó là 1.000 tỷ thiên hà.

[10:02]Mà trong một cái thiên hà, thì cái con số mà những ngôi sao như mặt trời

[10:09]tỷ tỷ ngôi sao không tính kể, còn những hành tinh như mình là bụi bặm không đáng kể, không đáng là một hạt bụi. Cái sự khủng khiếp của vũ trụ là như vậy. Nghe rồi mình hình dung ra được độ lớn của vũ trụ không? Nếu ai cố gắng hình dung ra được độ lớn của vũ trụ thì ngay tức khắc vỡ não chết liền. Cái số liệu não mình không đủ để dung chứa cái data đó, cái độ lớn của vũ trụ trong cái bộ não mình. Cái bộ não mình có cái sức chứa rất lớn, bộ não con người, nhưng không bao giờ đủ để hình dung được cái độ lớn của của vũ trụ. Khủng khiếp lắm. Như hồi xưa khi bắt đầu mà thầy giở kinh Hoa Nghiêm ra thầy đọc, thầy hiểu liền thầy nói:

[10:54]"Chết rồi, nếu ai cố gắng động não để có thể hình dung được cái vô lượng vô biên của pháp giới thì vỡ não chết liền." Nên lúc đó thầy ngồi đọc kinh Hoa Nghiêm thầy lặng lẽ đọc không tác ý gì hết, không suy nghĩ, không hình dung. Cứ đọc để tự những ý niệm, đạo lý trong kinh nó cứ rơi vào tâm mình một cách tự nhiên, không dám hình dung, vì khởi tâm hình dung não bở vỡ chết liền, vì cái sự vô tận của vũ trụ khủng khiếp như vậy. Và các nhà khoa học thì nói thế này: "Cộng lại tất cả những hạt cát trên các dòng sông của thế giới này, thì ta hiểu được cái số lượng của các thiên hà và các ngôi sao." Hết sức trùng với cái câu mà "hằng hà sa số" trong kinh Phật.

[11:42]Hằng hà sa số, bây giờ ta ít dùng cái thành ngữ này, hồi xưa hay dùng "hằng hà sa số", số cát sông Hằng. Nha, cái từ mà ta dùng: "Ôi! Ôi nó bao la hằng hà sa số, đếm sao được!" thì cái từ hằng hà sa số là một thành ngữ từ kinh của Phật bên Ấn Độ truyền qua tới bây giờ. Con số đó được nêu trong rất nhiều kinh điển, nói rằng ví dụ như số cát trên sông Hằng đó, mỗi một hạt cát lại biến thành con sông Hằng một lần nữa, và mỗi một con sông Hằng đó có bao nhiêu số cát, thì mỗi một hạt cát đó lại là một thế giới có Phật ở trong. Nghe mình rùng rợn liền. Tức là cái ý niệm này nó vượt ngoài cái tư duy của người

[12:27]cổ đại, cả những người Trung Cổ, cả những người cận đại, vượt ra ngoài hết, hình dung không nổi. Chính vì những cái ý niệm về vũ trụ này mà khi ngày hôm nay cái giới khoa học, giới trí thức của thế giới họ tìm hiểu về đạo Phật, họ mới choáng váng là vào 2.500 năm trước tại sao có một cái con người đã hiểu được điều này. Mà 2.000 năm sau đó vẫn chưa ai hiểu nổi, chỉ tới ngày hôm nay của những năm 2010,

[13:02]2011, 12, 13, 14, 15, 16 mới bắt đầu thế giới mới tạm hiểu được điều này. Vậy mà 2.500 năm trước đã có một con người hiểu được điều này và nói đến điều này rất nhiều, thì chính vì điều đó mà người ta mới tin rằng thật sự đạo Phật được mở ra bởi một đấng giác ngộ, mà đây là một đấng giác ngộ phi thường, phi... hiểu được cái điều mà không ai có thể hiểu được.

[13:30]Đó là lý do mà ta thấy càng về sau này, những cái người trí thức lớn họ càng âm thầm hướng về đạo Phật. Vừa rồi vậy, có một vị linh mục nhà thờ lên thăm thầy, thì mấy chục năm trước ông đã từng lên núi thăm thầy. Thì sau khi nghe thầy nói chuyện về cái giáo lý trong cái Phúc Âm, ổng mời thầy về nhà thờ giảng mà thầy không dám. Hơn 20 năm sau thì ổng tìm lên ổng thăm thầy lại, thì ông được phân bổ qua một nhà thờ khác, rồi đem theo một ông bạn linh mục cũng linh mục và đem theo những ông trùm. Những ông trùm họ đạo là những người cư sĩ thôi, họ không phải đi tu, nhưng mà họ được phân công quản lý, mình ở đây gọi là chúng trưởng,

[14:11]chúng phó, còn họ là dùng chữ "ông trùm", nghe giống trùm này kia. Như vậy, lên mà mấy ông trùm mấy ông già già nói tiếng Anh, tiếng Pháp như gió, cái thời xưa trí thức lắm. Nói ra thì suốt hai mươi mấy năm qua thầy làm cái gì ông biết hết trơn. Dạ, ổng theo dõi thầy từng bước chân trên mạng á. Nay thầy giảng cái bài gì, thầy nói gì, thầy đi đâu, hỏi ra ổng biết hết trơn. Nói: "Bao nhiêu năm tôi vẫn theo dõi thầy." Và cái này mới ghê chớ: "Mỗi sáng tôi đều ngồi thiền và đi thiền hành, đi kinh hành." Tức là họ yêu mến đạo Phật, nhưng vì cái tình cảm gắn bó của ông bố, ông nội gì đó, tình cảm đối với tôn giáo họ không

[14:54]rời, không dứt ra được, nhưng mà trong lòng họ thật sự có yêu mến đạo Phật. Vì họ tìm thấy gì? Tìm thấy nơi đạo Phật một cái mẫu số chung cho tâm linh của nhân loại. Mà đây là những con người tiến bộ. Những con người tiến bộ sao? Họ không còn bị đóng khung bởi cái tôn giáo của mình nữa, không còn "ờ tôi đạo này, anh đạo kia" nữa, mà họ hiểu một điều: nhân loại này cần một tôn giáo chung để sống yêu thương, hòa bình lại, tử tế lại với nhau, đừng có phân chia, oán ghét, hận thù chỉ vì bảo thủ cái tôn giáo mình nữa. Họ hiểu một điều đó, cho nên những con người đó rất là đáng đáng ca ngợi, đáng tán dương.

[15:35]Họ đứng ở tôn giáo này mà vẫn vượt khỏi cái tôn giáo của chính mình để có thể tìm thấy được một cái tâm linh chung của nhân loại. Đó là một ví dụ vậy. Thì ở đây vậy, chỉ nói về cái thế giới thôi là ta đã thấy sự vô lượng vô biên, nhưng đó là cái biết của Phật thôi. Nhưng mà cái chứng của Phật trong cái vũ trụ này như thế nào mới là khủng khiếp. Bây giờ ta nghe cái này là hiểu. Là lúc đó ngài A-nậu-lâu-đà, tức Anuruddha, ngài đắc A-la-hán và cái duyên của ngài, ngài chứng được thiên nhãn đệ nhất, phải không ạ? Ta nhớ này: thiên nhãn thông hay thiên nhãn minh thì bất cứ vị A-la-hán nào cũng có. Tức là nhìn suốt được các cõi,

[16:23]nhìn lên tới cõi trời, nhìn tới cõi địa ngục, nhìn tam giới thấy hết, đó gọi là thiên nhãn thông của một vị A-la-hán. Nhưng mà vì lý do gì mà ngài Anuruddha được xưng là thiên nhãn đệ nhất? Chỉ bởi vì cũng là thiên nhãn như nhau, nhưng mà duyên của ngài Anuruddha thấy vượt hơn tất cả các vị A-la-hán khác. Mà thấy như thế nào? Nói rằng ngài thấy được tam thiên đại thiên thế giới như nắm một trái xoài trong lòng bàn tay. Cái chữ nè, cái từ là "tam thiên đại thiên thế giới như nắm một trái xoài trong lòng bàn tay". Cái từ "tam thiên đại thiên thế giới" này mình không hiểu vì nó không đối chiếu được với cái từ của khoa học hiện đại.

[17:10]Từ khoa học hiện đại ta chỉ có gì? Một tinh hệ là một ngôi sao gồm vài cái hành tinh vây quanh. Một tinh hệ là khủng khiếp lắm rồi, nhưng một tinh hệ đó mà nằm trong một thiên hà gồm tỷ tỷ tỷ các tinh hệ như vậy thì bắt đầu ngoài sức tưởng tượng của ta. Thì ngài Anuruddha có khả năng hiểu rõ, thấy rõ mọi điều trong một thiên hà. Thấy rõ, nắm rõ, biết rõ mọi điều trong một thiên hà mà ánh sáng từ đầu này của thiên hà bay tới đầu kia của thiên hà mất 22.000 năm, thì ngài Anuruddha chỉ trong một cái nhập định của mình là thấy suốt luôn cả tất cả những cái thiên hà đó. Nên ở đây, cái biết của một vị A-la-hán

[17:56]vượt bực hơn cái tốc độ của của ánh sáng rất nhiều lần, nhớ như vậy. Là vượt hơn tốc độ của ánh sáng rất nhiều lần. Ta đang nói về cái khoa học một chút. Thầy muốn nói thêm ít về khoa học nhưng thầy sợ lát rối trí rồi ngủ hết. Tại vì cái kiến thức Phật pháp nó liên quan nhiều tới khoa học lắm, mà mình càng hiểu khoa học thì mình mới càng thấm Phật pháp. Ví dụ như bây giờ ta nói là cái biết của một vị A-la-hán, cái chứng cái thấy của vị A-la-hán đó hơn cả ánh sáng. Ánh sáng để đi từ đầu này đầu kia 22.000 năm, còn ngài nhập định trong một giây biết liền tất cả. Thì nếu ta đối chiếu với khoa học,

[18:41]cái biết đó là gì mà cái sức nó nhanh như vậy, cảm ứng nó nhanh như vậy? Đó, ta sẽ đặt vấn đề, thì hôm nay mình chưa đặt vì mình đặt cũng không ra. Trong cái vũ trụ này coi vậy chớ không phải hư vô. Thầy cũng đang viết một bài mà mấy nay bận quá không viết tiếp: "Không gian nghĩa là gì?". Ví dụ trong đây thì ta quơ tay quơ lại ta gặp không khí, phải không ạ? Bay ra khỏi cái tầng khí quyển vào trong vũ trụ ta quơ qua quơ lại gặp cái gì? Không có gì hết. Tất cả mọi người đều lầm không có gì hết, nhưng sự thật không gian là gì? Là đặc sệt. Ta quơ tay không thấy gì hết, ta tưởng à ngoài không gian không

[19:24]có gì, trong đây còn có khí quyển quơ đụng không khí. Ra khỏi khí quyển là quơ quơ không có gì, là không gian trống rỗng, không. Không gian đặc sệt. Mà không gian đặc sệt cái gì? Hôm nay không nói, giữ bí mật, chơi, lúc khác nói. Ở đây nhớ lại cái cái thấy của vị A-la-hán, tức là chứng tới A-la-hán rồi, biết cả một thiên hà. Nhưng mà biết rồi có nói lại được không? Có nói được không? Có kể được không? Không kể được, vì kiến thức thời đó chúng sinh không đủ hiểu, nói ra người ta phát điên. Nên có rất nhiều điều Đức Phật không hề nói cho chúng sinh nghe, vì kiến thức khoa học thời đó không đủ để tiếp nhận.

[20:03]Nếu thời này có một Đức Phật thì ta sẽ nghe Đức Phật kể cực kỳ nhiều điều thú vị. Vì kiến thức khoa học ngày nay đủ. Hôm nay ta biết tới tế bào, ta biết tới ADN, rồi ta biết về cái vật lý thiên văn nó mênh mông như vậy. À, dĩ nhiên có nhiều điều ta chưa biết thì dựa vào những kiến thức này mà nếu có một Đức Phật giác ngộ, ngài sẽ sửa lại những kiến thức của chúng ta về vũ trụ, về ADN, về tế bào này, ngài sẽ sửa lại rất nhiều và ta hiểu ta sẽ thấy cực kỳ thú vị. Còn cái thời của Đức Phật, ta không biết gì hết. Nổi cái gọi là bây giờ nói mà 2 lũy thừa 15 thôi là đã điên rồi, không biết rồi, phải không à?

[20:46]Chưa đạt tới cái toán học đó, nên đừng có nói gì xa xôi. Không nói gì xa xôi nên ngài chỉ nói những điều chừng mực ừ trong cái đạo lý để tu tập thôi. Lâu lâu xì ra chút xíu, ví dụ ta đọc trong một quyển kinh Tiểu bộ thì xì chút xíu, ngài A-nan chắp tay hỏi Phật, "Bạch Thế Tôn! Thế Tôn nói là cái vị thị giả à của Đức Phật ở cái cõi đó là có thể đứng nơi cõi mình mà làm rung động cả thiên hà chăng?" Nghĩa là cái vị đó cái khủng khiếp ổng làm rung động cả một thiên hà, cái thần lực của ổng đó, vì thị giả của một Đức Phật là A-la-hán. Cái thần lực của ổng là làm phát lực ra là rung động cả một thiên hà.

[21:31]Đức Phật mới nói, "Thì cũng chỉ là thị giả thôi mà." Ngài A-nan hết hồn liền. Nếu như vậy là Phật còn khủng khiếp hơn nữa. Và lúc đó Đức Phật làm một cái rung động toàn bộ cả pháp giới này. Trong bài kinh nó có nói nhưng mà cũng không ai kiểm chứng, không có máy móc nào đo, không ai ghi lại sự kiện đó. Bài kinh đó chưa ghi được ngắn trong Tiểu bộ, nhưng để ta thấy rằng cái khái niệm về vũ trụ, về thiên văn đã được Đức Phật nói nhiều đối với các đệ tử của mình. Cho nên mới bất ngờ ngài A-nan hỏi câu đó, chứ còn mà ghi trong kinh điển thì có khi các vị mà sau này khi kết tập kinh điển thấy khó hiểu quá bỏ mất tiêu.

[22:09]Nên trong kinh điển ta kết tập lại ngày hôm nay, bị bỏ sót rất nhiều những kiến thức lớn của Phật pháp mà liên quan tới cái vũ trụ pháp giới. May mắn còn sót lại một vài kinh nhỏ để cho ta hiểu rằng trong những lúc trò chuyện với nhau, lúc thầy trò ngồi với nhau, Đức Phật đã nói rất nhiều về pháp giới, vũ trụ bao la. Tiếc rằng sau này các vị kết tập đời sau hiểu không nổi, cứ nói huyền hoặc bỏ bỏ bỏ bỏ, ta mất hết, ta mất nhiều cái mảng lớn về cái kiến thức vũ trụ trong kinh Phật, cũng là một điều đáng tiếc. Nên hôm nay ta phải để ý điều đó. Nên khi mà thầy đang viết về cái bộ truyện tranh Đỉnh Núi Tuyết

[22:46]về cuộc đời Đức Phật, thầy mới đi tìm những điểm nho nhỏ, những điều nho nhỏ mà giấu sau đó là những điều rất lớn. Một đoạn kinh nhỏ thôi thì phải hiểu rằng Đức Phật đã nói về vật lý thiên văn vũ trụ với đệ tử mình rất là nhiều mà bị bỏ hết. Nên có nhiều điều bị giấu về cuộc đời Đức Phật. Thì ngài A-na-luật vậy, thấy hết một thiên hà, ta gọi là tam thiên đại thiên. Hoặc là như một cái thị giả của Đức Phật ở trong vũ trụ ổng phát lực một cái nó rung cả một cái thiên hà, lực khủng khiếp như vậy. Nhưng mà Đức Phật thì sao? Đức Phật thì sao? Đức Phật thì thế này, một ngàn tỷ thiên hà trong vũ trụ đều biết rõ.

[23:32]Chúng ta hình dung không nổi. Chúng ta hình dung không nổi. Nói một lần nữa, tất cả số cát trên thế giới này, của các dòng sông trên thế giới này, mỗi một hạt cát là những thiên hà, những ngôi sao. Đức Phật biết sạch hết tất cả những điều trong đó. Biết hết những dạng sống, những bậc giác ngộ, nghiệp chúng sinh, biết tất cả tất cả. Đó là Đức Phật. Đạt tới cái mức độ gọi là vô lượng vô biên.

[24:04]Nên cái 49 ngày mà khi Đức Phật đắc đạo đến bây giờ ta không hiểu Đức Phật đắc cái gì. Mà nếu Đức Phật nói ra, ta vỡ đầu ta chết đi, tại cái đầu của ta, cái não của ta, tâm của ta không đủ sức hiểu một phần nhỏ cái quả chứng của Phật, không đủ sức. Nên Đức Phật mới than, ngài đắc đạo rồi ngài than liền. Cái mà ngài chứng ngài thấy cái điều cả một cái vũ trụ mà đến cái mức độ như vậy, nói làm sao được với chúng sinh thời đó, phải không ạ? Cho nên ta đọc đoạn kinh có cái đoạn mà Đức Phật chứng xong rồi ngài yên lặng ngồi luôn, chưa có tính giáo hóa, tại những điều ngài chứng khủng khiếp quá, nói không được.

[24:45]Lúc mà ngài ngồi yên lặng khi mà ngài thấy cái quả chứng của ngài như vậy rồi ngài ngồi yên lặng không khởi tâm giáo hóa vì nó khiếp quá, thì trời Phạm Thiên bay xuống mới thỉnh Đức Phật với Đức Phật giáo hóa để ngài bắt đầu động cái tâm lên, bắt đầu bước vào cái hành trình 45 năm thuyết pháp như vậy, rồi nhập Niết-bàn như vậy. Bởi vì ngài Phạm Thiên ý ngài nói rằng là chúng sinh không thể ngộ được những điều như như Phật, nhưng sự giáo hóa của Phật đều làm cho chúng sinh tăng thượng cái sự thánh thiện, sự cao quý, cái tâm linh cái hướng thượng của mình. Thì lên được mức nào tốt mức đó, chứ còn chứng nổi cái quả này thì vĩnh viễn không có, không có nổi.

[25:33]Kể cả chứng A-la-hán rồi cũng không có nổi. Thì ở đây vậy, cái vô lượng của Phật chứng một cái rồi biết cả vũ trụ luôn. Phát thần lực có thể làm rung động cả vũ trụ luôn. Thì này nếu người

[25:51]bình thường không hình dung không hiểu nổi, mà khi thầy nói ra câu này thì hai hạng người sẽ xuất hiện. Khi thầy vừa nói câu này, khi thầy vừa nói cái câu Đức Phật đắc đạo một cái thì ngài biết hết toàn bộ vũ trụ, mà nếu phát thần lực chấn động cả vũ trụ, thầy nói câu này thì xuất hiện hai hạng chúng sinh liền. Người nào nghe câu này tin, thì người này bước qua một con đường khác, sẽ có ngày đắc đạo. Người nào nghe câu này trong lòng phủ nhận, mở một con đường đi xuống địa ngục. Câu nói này rất nguy hiểm, nhưng mà hôm nay thầy lỡ miệng nói ra. Một số người đủ niềm tin cái câu này thì mở ra một con đường công đức để đi đến sự giác ngộ.

[26:42]Người nào trong tâm có cái ý phản kháng phủ nhận, mở một con đường đi xuống địa ngục liền. Thầy cũng rất hối hận khi thầy lỡ miệng nói câu này. Nhưng lỡ nói rồi, nói luôn.

[26:59]Liệu hồn nha, coi tâm mình lại nha. Đây vì câu này khủng khiếp quá, câu này khủng khiếp quá, mà ai có thể tin được điều này người này mở ra một con đường liền, mở ra cái công đức trong tâm mình, bắt đầu biết được con đường của Bồ tát Đại thừa. Nhưng tất cả đều có nhân quả. Cái nhân quả gì mà để cho một vị đắc đạo thành Phật biết hết cả pháp giới vũ trụ này? Ta không biết nhân gì, nhưng nhân đó, công đức đó phải là vô lượng vô vô biên thì mới có cái ngày mà chứng cái quả khủng khiếp như vậy. Đắc đạo rồi biết hết cả vũ trụ luôn, phát lực một cái rung động cả vũ trụ luôn, thì cái nhân phải là vô lượng vô vô biên.

[27:47]Thế nào là cái nhân vô lượng vô biên? Đó là cái tâm hạnh Bồ tát mà hôm nay ta nói với nhau. Chúng ta ước mơ gì trong cuộc đời mình? Em ước mơ mơ gì? Tuổi 12, tuổi 13. Em ước mơ em là, em được là thi sĩ.

[28:08]Đó ước mơ làm thi sĩ thôi. Trời ơi, ông Phạm Duy ông viết cái bài á. Tuổi Mộng Mơ á. Thì đó, mới lớn lên ước mơ mấy điều vớ vẩn. Mà đó là gì? Đó là chưa có gia đình á. Bắt đầu có gia đình rồi thì thôi sao? Thơ nhạc gác lại, kiếm cơm nuôi chồng, nuôi vợ, nuôi con cái đã. Tất cả mọi ước mơ lụi tàn, đúng không ạ? Tất cả ước mơ lụi tàn vì phải chạy theo cơm cơm áo gạo tiền. Đó là và chúng ta mãi mãi chỉ là gì? Phàm phu trôi lăn. Không thể có cái chuyện mà sinh tâm này tan ra thành pháp giới bao la được, không có chuyện đó. Thì ở đây một người Bồ tát, một vị mà tu hạnh Bồ tát càng ngày càng mở cái ước mơ mình về tới vô tận.

[29:01]Nhớ, đầu tiên, cái nhân quả đầu tiên của sự vô tận là ước mơ vô tận. Ước mơ vô tận mà không hão huyền, đây là mới lạ, ước mơ vô tận mà không hão huyền. Ví dụ bây giờ thế nào là hão huyền và thế nào là không hão huyền? Ở đây có ai ước mơ mình kiếp sau được làm vua không? Có không? Vậy là không hão huyền phải không ạ? Nhưng mà thầy hỏi thiệt, có ai trong đời mình đã ước mơ làm vua chưa? Chắc chắn có. Vì sao vậy? Nó tại coi phim nhiều quá. Coi phim cổ trang của Trung Quốc thấy vua, thấy hoàng tử đẹp quá, cho nên ước mơ mình cũng được làm vua vậy. Như sư phụ cũng vậy, như thầy cũng vậy, có một cô đệ tử tối ngày chỉ ước mơ làm công chúa, ở đâu đây nữa không biết.

[29:58]Bây giờ mà ví dụ như có một người phỏng vấn mình đó, "À xin bạn cho biết bạn ước mơ trong cuộc đời bạn lớn lên sẽ làm gì?", nói: "Tôi làm Tổng Bí thư." Thì bắt đầu mọi người nhìn cái người đó làm sao? Nhìn người đó làm sao? "Thằng này khùng khùng", đúng không ạ? Đầu óc có vấn đề. Tại vì mình mơ cái ngôi cao nhất này là huyễn hoặc, ảo tưởng, tham vọng, kiêu mạn, ảo tưởng về cái năng lực mình lớn quá, nghĩ mình giỏi quá, cho nên mới dám nghĩ tới cái sau này tôi lên làm Tổng Bí thư, một cái huyễn hoặc. Mới mơ ước Tổng Bí thư mà đã bị là huyễn hoặc, mà bây giờ ta học cái bài tâm hạnh Bồ-tát này phải ước mơ vô tận thì nó là gì?

[30:46]Siêu huyễn hoặc, phải không ạ? Mới huyễn hoặc thôi, thiếu điều là phát vô bệnh viện tâm thần rồi. Nha. Hỏi: "Ước mơ gì?", "Dạ, ước mơ làm Tổng Bí thư." Năm năm sau, "Ủa, ông đó ông đâu đi đâu rồi cà?", "Dạ, đang ở Biên Hòa, đang trị liệu liệu pháp vật lý tâm lý, uống thuốc hướng thần." Thì bây giờ bắt đầu là ổng không sống được với ai nữa. Ổng cứ nghĩ ổng làm Tổng Bí thư rồi ổng không sống được với ai nữa thì cái tưng tưng rồi, tưng tưng rồi. Nghĩa là mới có huyễn hoặc bậc thứ nhất mà đã vỡ cái não rồi. Còn ở đây nói tâm hạnh Bồ-tát Đại thừa dạy mình phải ước mơ vô tận thì nó là siêu huyễn hoặc.

[31:23]Thì như vậy là mình phải đi qua được bao nhiêu bệnh viện tâm thần mới đủ, phải không ạ? Nên ở đây vô tận mà không huyễn hoặc. Đó, cái mấu chốt của cái tâm hạnh của Bồ-tát Đại thừa là ước mơ vô tận mà không phải huyễn hoặc. Nghĩa là sao? Có cần thầy trả lời không hay là tự mình suy tư? Ước mơ vô tận mà không huyễn hoặc, bởi vì sao? Bởi vì cái tâm của Bồ-tát, cái trí của Bồ-tát

[31:59]không cho phép mình có giới hạn. Đó là điều tự nhiên. Giống như chúng ta tự nhiên là đặt cho mình một cái giới hạn. Nói: "Ủa lớn con làm gì?", nói: "Dạ, con bác sĩ", hết. Tự ta đặt cho mình một giới hạn. Nhưng hỏi một vị Bồ-tát làm gì, nói: "Dạ, duyên tới đâu con làm tới đó." Có giới hạn không ạ? Không. Huyễn hoặc không ạ? Không. Không giới hạn mà rất thực tế, đúng không ạ? Duyên tới đâu con làm tới đó. Duyên tới đâu làm tới đó nghĩa là gì? Dạ, nếu duyên con là người đi quét đường, con sẽ quét rất sạch, rất chăm chú, vừa quét vừa đi giáo hóa mọi người giữ sạch đường sá. Lỡ gặp ai trên con đường đi, cũng kêu người ta quét sạch nội tâm.

[32:51]Nếu con phải là người đi quét đường thì con sẽ làm rất tốt cái việc quét đường của mình vì duyên là quét đường. Nếu duyên con làm vua, con hết sức tận tụy làm vua, không sao cả. Duyên tới đâu con làm tới đó và không đặt một kỳ hạn nào cả. Đó chính là cái mơ ước vô lượng, vô biên của Bồ-tát. Mơ ước rất mênh mông mà không huyễn hoặc. Được chưa ạ? Vì sao? Vì không có tham vọng cá nhân, đúng không ạ? Không có tham vọng. Còn tại sao ta mơ ước Tổng Bí thư mà ta gọi là huyễn hoặc? Vì nó có gì? Tham vọng cá nhân. Ta phải đắc, ôi tôi phải cái đó mới làm, là tham vọng cá nhân. Còn mình, một vị Bồ-tát duyên tới đâu làm tới đó và

[33:40]làm hết sức tận tụy cái trách nhiệm của mình. Mà bất cứ ở vị trí nào cũng là một người mẫu mực, đạo đức, giáo hóa. Dù là một người quét đường cũng trở thành một bậc đạo sư. Dù là một người công nhân cũng trở thành một bậc thầy đối với mọi người chung quanh mình. Và thậm chí có cái duyên mà vô tù, ở trong tù cũng là một bậc thầy mẫu mực, mô phạm của các tù nhân khác. Bồ-tát là như vậy, không có giới hạn và không đặt một cái giới hạn nào hết. Tiếp tục đi nữa, hết duyên này bước sang duyên khác. Và mỗi một duyên, mỗi một vị trí đều tự biết đó là cơ hội để mình bồi đắp công đức, giáo hóa chúng sinh, lợi lạc mọi người. Bồ-tát là như vậy.

[34:32]Cho nên trong tâm không có vị trí nhưng mà không có giới hạn. Từng bước chân đi, từng giây phút sống đều chỉ là sống vì chúng sinh. Tại sao Bồ-tát có thể mở lòng được vô tận? Tại sao? Người ta nói là tại trí tuệ của Bồ-tát, mà trí tuệ đó bắt nguồn từ chỗ nào? Trí tuệ đó bắt nguồn từ cái ngày mà cái tâm vị kỷ tan biến để thay bằng tâm vị vị tha. Ngày đó bắt đầu thì mọi cái giới hạn bắt đầu tan vỡ. Chúng ta bị giới hạn, chúng ta bị định mức

[35:21]chỉ bởi vì chúng ta còn vị vị kỷ. Một cách tự nhiên của phàm phàm phu. Người phàm phu thì phải vị kỷ. Vị kỷ là một điều đương nhiên. Và chính cái vị kỷ đó làm cho ta bị giới giới hạn. Nói: "Ước mơ lớn làm gì?", làm: "Dạ, làm Thủ tướng." Thì nó là huyễn hoặc, là tham vọng mà cũng là giới hạn, phải không ạ? Giới hạn. Mà phải phấn đấu nhắm về cái đó, nó là tham vọng. Tham vọng bản thân mình, kiêu mạn, tưởng mình giỏi quá và giới hạn, thôi ngươi nói đủ rồi, ngon rồi. Giữa cái cuộc đời thế gian như vậy mà mình một lần làm Thủ tướng cũng là thật quá quá sướng rồi, quá đặc biệt rồi, tên tuổi ta để lại sử sách rồi.

[36:11]Rồi, cái chữ "rồi", cái chữ "được rồi" đó chính là giới giới hạn. Còn tâm hạnh Bồ-tát, khi cái tâm vị tha nó mở ra một cái, tâm vị kỷ chấm dứt một cái thì đã là vị tha thì làm bao nhiêu gọi là đủ để đem lại lợi ích chúng sinh? Làm bao nhiêu? Mấy nhiệm kỳ Thủ tướng thì gọi là đủ để đem lợi ích chúng sinh? Mấy nhiệm kỳ? Hả? Không bao giờ đủ, phải không ạ? Đó. Làm một bậc thầy mấy kiếp thì giáo hóa đủ chúng sinh? Có đếm được không? Không đếm được. Cho nên khi tâm vị tha mở ra thì con mắt mình, trái tim mình chỉ nhìn thấy gì? Vô lượng chúng chúng sinh. Mà chúng sinh đã là vô lượng thì cái hành trình mà làm lợi ích chúng sinh là bao lâu?

[37:13]Cũng là vô vô lượng. Cho nên khi tâm vị tha mở ra, nhìn thấy chúng sinh chứ không còn nhìn thấy mình nữa, mà khi nhìn thấy chúng sinh là nhìn thấy con số vô vô lượng thì ngay lập tức mọi cái ước mơ đã không còn giới hạn nữa. Nhớ như vậy. Nên mới có cái câu mà Tứ hoằng thệ nguyện của chư Tổ vậy, "Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ", đó, cái câu đầu tiên liền. Rồi tại sao có cái câu đó đầu tiên? Bởi vì cái ý niệm đó sẽ xuất hiện đầu tiên khi một vị bắt đầu chứng thánh Tu-đà-hoàn. Tâm vị kỷ tan vỡ, thay vào đó tâm vị tha xuất hiện. Mà khi tâm vị tha xuất hiện rồi thì nhìn thấy chúng sinh chứ không còn nhìn thấy bản thân mình nữa.

[38:05]Trước đây mình chỉ nhìn thấy bản thân mình, mình sống vì mình, mình ăn vì mình, mình mặc vì mình, đi chơi vì mình, mình học vì mình, mình lên cái chức đó là vì mình. Nhưng mà khi tâm vị kỷ đã tan vỡ, tâm vị tha đã thay thế thì không thấy mình nữa, không có cái mình mình mình mình nữa, mà chỉ là gì, thấy gì? Chúng sinh, chúng sinh, chúng sinh. Và chúng sinh là vô vô biên vô lượng. Do đó, tự trong tâm của Bồ-tát khởi lên một cái mục tiêu là gì? Vô biên vô vô lượng. Đó là cái nhân đầu tiên để đến cái ngày mà đắc thành Phật quả, mà chứng một cái rồi thấy hết cả vũ trụ này. Thấy một cái mà gọi là các nhà khoa học là 1.000 tỷ thiên hà.

[38:52]Mỗi một thiên hà cỡ trung bình của ta, ánh sáng đi từ đầu này tới đầu kia 22.000 năm. Khủng khiếp như vậy. Còn mình ngồi đây chứ cái chùa Từ Tân này mình chưa biết hết à nha. Như thầy đấy, thầy giảng ở đây với sư phụ Từ Tân là hai mươi mấy năm, hai anh em thân nhau hai mươi mấy năm. Sự thật chân của thầy chưa bao giờ lọt vô nhà bếp nữa. Thầy cũng chả biết trong đó có gì, không biết, đằng sau này không biết có cái gì, không biết. Cứ lên phòng rồi xuống đây, lên phòng xuống đây, không đi đâu. Đó, mà hai mươi mấy năm. Còn ngài A-nậu-lâu-đà chớp mắt một cái thấy một thiên hà. Phật đắc một cái thấy luôn cả vũ trụ.

[39:30]Tất cả đều có cái nhân quả, mà cái nhân đầu tiên là cái ý niệm về vô lượng vô biên. Cái ý niệm về vô lượng vô biên là vì chúng sinh vô lượng vô biên. Cho nên cái tâm nguyện mà đem đến cái lợi ích cho chúng sinh đó, nó cũng phải vô lượng vô vô biên. Mà vì sao? Vì vị kỷ biến mất. Hễ tâm vị tha xuất hiện rồi thì cái ý niệm đó bắt đầu có. Như vậy nha.

[40:05]Khi mà chúng sinh là vô biên vô lượng thì cõi giới cũng là vô biên vô vô lượng.

[40:15]Thời gian cũng là vô biên vô lượng, không có gì. Và những kiến thức của vũ trụ này là vô biên vô lượng. Vừa rồi thầy có nói câu này, mà không biết sao thầy nói cái chừng không bao lâu, một hai tháng sau thì thì thấy các nhà khoa học cũng nói. Thầy không biết là là là tâm đồng tâm hay là mấy ổng có nghiên cứu của thầy không biết. Ví dụ thầy nói câu này: "Hiện nay là các nhà khoa học đang đi tìm sự sống trong vũ trụ, coi coi cái hành tinh nào có những điều kiện giống Địa Cầu mà gọi là có sự sống đó, thì hôm nay mới phát hiện ra được một, hai hành tinh có điều kiện khá khá giống Địa Cầu, thì hy vọng là đó chắc có sự sống,

[40:57]mà vẫn còn rất ít." Nên thầy có viết một vài cái comment, thầy nói thế này. Nói là ở mỗi một cái hành tinh đó, cái điều kiện nó khác nhau.

[41:13]Ví dụ mình điều kiện mình ở đây á, nó nóng cỡ này, nó lạnh cỡ này, nước nó ở trạng thái này. Khi nó bay lên hơi hơi thành mây, khi nó lỏng thì thành sông thành biển, mà khi nó đông lại thành đá, nó ở trạng thái nó đổi qua đổi lại, và nó nóng như thế như thế, nên cái sự sống nó hiện ra vật chất như thế này. Nhưng một số hành tinh khác, nó nóng khủng khiếp, tất cả mọi cái đều ở dạng plasma. Nhưng miễn nó có tâm thức thì gọi là có sự sống. Và chúng sinh đó không cần phải mang hình hài vật chất này, họ chỉ là những plasma thôi, nhưng trong plasma nó có cái lõi của tâm thức thì vẫn gọi là sự sự sống, vẫn gọi là một dạng của cuộc cuộc sống, vẫn gọi là chúng sinh.

[41:57]Ta phải mở rộng cái khái niệm về dạng sống ra, chứ đừng có bắt là hễ vũ trụ này sống là phải y hệt như mình, nha! Hễ là đầu thì phải mọc tóc, chân phải mang dép, đừng nghĩ như vậy. Mà nhiều khi họ chỉ là những dạng những dạng sóng thôi, những dạng sóng, một cụm sóng một cụm sóng vậy thôi, chứ không phải là một dạng vật chất đặc sệt như ta, nặng như ta, mà họ chỉ là những sóng, nhưng trong cái lõi của cái cái cụm sóng đó có tâm thức. Vì sao? Vì tâm thức giống nhau, hình hài có thể khác nhau. Ta phải mở rộng cái khái niệm về dạng sống này thì ta mới hiểu được vũ trụ này vô biên dạng sống, vô biên chúng sinh.

[42:37]Chứ đừng có bắt là hễ sống là phải y như mình, phải đi ra đường phải chạy xe máy, không phải; ăn thì phải nhai cơm, không phải. Nhiều khi họ cái dạng sống họ khác nhưng miễn họ có tâm thức thì đều là sự sống. Thì thầy thầy viết hôm này thầy comment lên đâu độ ba tháng thì bữa nay bắt đầu có nhà khoa học cũng phát biểu giống vậy. Không biết, không biết ai bắt chước ai không biết. Như hồi mười mấy năm trước thầy nói về cái cái nguy hiểm của xà bông nhớ không ạ? Trong cái bài mà vi khuẩn hung hãn á, thầy có nói là xà bông tiêu diệt hết 99% vi khuẩn có lợi, nên làm hư hết dòng sông con suối, và lúc đó vi khuẩn nó trở nên hung hãn.

[43:20]Thì bây giờ, Mỹ cấm xà phòng trước, Việt Nam mình và các nước cũng chuẩn bị cấm xà phòng. Cho nên rõ ràng là đạo Phật mình đi trước thời đại, đúng không ạ? Đi trước thời đại.

[43:34]Cách đây hai ngày có cái tin, thầy nhận được cái tin từ bên nước ngoài, một cái em Phật tử đi qua Mỹ học ở một đại học về tâm lý của Mỹ. Thì cái cách đây hai ngày cái vị giáo sư vào giảng về cái stress, cái kêu tắt đèn, bắt đầu ngồi thiền. Và ông nói về cái ngồi thiền giống hệt đường lối thiền của Phật Quang mình, theo cái tài liệu mà mình dịch song ngữ á, tiếng Anh á: "Biết toàn thân, cảm giác toàn thân, giữ thân mềm mại bất động, rồi mới tới hơi thở." Đi đúng hệt đường của Phật Quang mình. Hình như họ có nghiên cứu của mình bí mật. Và họ nói rằng họ nghiên cứu và cảm thấy cái đường lối này là hợp lý, hiệu quả, vừa hợp với khoa học mà trong thực tế

[44:20]ứng dụng thấy có kết quả, tâm mọi người được bình an. Có điều họ không nói là từ chùa Phật Quang, họ nói của họ nghiên cứu đâu á, nhưng mà cái này mình đã nói mấy chục năm rồi. Thôi, vậy cũng tốt, không cần bản quyền, nhưng miễn làm sao mà: "Ngày sau thế giới tìm đến bên nhau, ngồi thiền bên nhau, hạnh phúc vô bờ..." Hát với nhau vậy.

[44:54]Thì cái thế giới vô biên, chúng sinh vô biên, cõi nước vô biên, kiến thức vô biên và dạng sống cũng vô biên. Kiến thức vô biên, Bồ Tát chứng tới đâu bắt đầu hiểu về con người, hiểu về thế giới dần dần đến đó. Khoa học sao? Cũng đi con đường đó, nhưng không phải đi bằng con đường tâm linh. Khoa học cũng tìm hiểu thế giới, tìm hiểu vũ trụ, nhưng bằng cách gì? Bằng cách vật lý, vật chất, tính toán, chứng minh, thí nghiệm nha, để chứng minh cái này có, cái này không, chứng minh rất là vất vả. Còn những vị Thánh Bồ Tát thì bằng cái trí tuệ chứng đạo của mình, biết từ từ, biết từ từ. Nhưng mỗi lần biết một cái thì cả một lĩnh vực rất lớn.

[45:44]Còn chúng ta mỗi lần biết cái bằng một milimét vậy, rồi ta được giải Nobel. Ta biết chút xíu thôi là đã được giải Nobel, còn vị Bồ Tát ổng biết một cái là cả một cái cõi lĩnh vực rất là mênh mông. Cho nên mới biết rất là nhiều, rất là nhiều những điều trong trong vũ trụ này. Nói đụng tới kiến thức khoa học nhiều quá không biết mọi người có ngán không?

[46:11]Nên vì vậy, khi mà chứng tới Phật quả rồi thì chuyện gì cũng biết, là vậy. Chuyện gì cũng biết, mà biết những điều sâu thẳm, biết những điều sâu thẳm, chứ còn thế giới coi vậy chứ biết không hết, khoa học thì biết không hết. Ví dụ thầy nói đơn giản một cái việc thế này thôi mà thế giới cứ lầm hoài. Hồi xưa đó, cái ông bà tổ tiên mình mở mắt ra thấy mặt trời mọc ở đâu? Rồi sau đó lên từ từ phải không? Ai nói mặt trời mọc hướng tây đó trời? Trời ơi!

[46:49]Sao lại có nhà khoa học nào siêu đẳng ở đây vậy trời! Mặt trời mọc ở hướng? Hướng đông. Và nó lên từ từ, cuối cùng nó lặn ở hướng? Hướng tây. Thì khi mà biết được trái đất tròn thì người ta kết luận rằng mặt trời quay quanh trái? Trái đất. Đến khi mà ngành thiên văn tiến bộ thì người ta phát hiện là không phải mặt trời quay quanh trái đất mà ngược lại trái đất quay, quay quanh mặt trời. Nhưng mà trái đất tự xoay quanh chính mình nên tạo ra một cái ảo giác là mặt trời quay quanh trái đất. Mãi đến bao nhiêu năm người ta mới thấy, mới hiểu được điều đó. Mà hiểu được rằng trái đất tự xoay quanh chính

[47:26]mình là bằng mắt thấy hay bằng trí tuệ thấy? Hả? Mắt thấy hay trí tuệ thấy? Ai nói mắt á? Bằng trí tuệ thấy, phải không ạ? Bằng trí thông minh suy luận mà biết, còn con mắt thì thấy cái gì? Thấy mặt trời quay quanh trái đất. Cho nên thấy làm sao thì nói làm vậy, nghĩa là gì? Thường là hơi bị ngu. Thầy nói một câu đó, đây là nói một câu hơi kỳ, dùng cái từ ngu hơi nặng, nhưng thực sự là như vậy. Hễ thấy cái gì thì ta kết luận như vậy thì hầu hết ta bị ngu.

[48:05]Phải nhớ cái ta thấy, cái sự thật khác nhau. Nó còn những điều giấu bên trong, mà cái điều giấu bên trong đó ta chỉ có thể thấy bằng thấy bằng? Trí tuệ. Nhớ như vậy. Và đến ngày hôm nay, các nhà khoa học ta lặp lại cái sai lầm đó một lần nữa. Các ngài mới phóng cái kính viễn vọng lên, quan sát trên bầu trời, mà kính viễn vọng bây giờ kỹ thuật nó cao khiếp lắm. Các ngài mới phát hiện ra là các thiên hà, một ngàn tỷ thiên hà đó, càng lúc càng rời xa nhau, đúng không ạ? Phải như vậy mấy ổng kết luận cái gì? Với đầu óc khoa học, tức là ngày xưa nó ở ở gần nhau, mà nó càng gần càng gần càng gần nữa thì tức là làm sao?

[48:52]Nó ở một chỗ và nó nổ cái bùng ra, từ từ từ từ đi ra, nó thành các thiên hà và bây giờ vẫn còn cái cái trớn đó mà nó nó rời xa nhau. Thấy làm sao thì kết luận như vậy, đúng y chang cái thời cổ đại, nguyên thủy, chả có gì hay cả. Đây là một cái hố rất là nặng của khoa học ngày hôm nay còn tồn tại. Thầy mới nói thế này, thầy nói chả bao giờ có cái vụ nổ kỳ khôi như vậy mà sinh ra vũ trụ cả. Chỉ vì thấy các thiên hà rời xa nhau mà kết luận ngày xưa nó ở một chỗ nổ bùng ra, rồi kết luận vũ trụ bắt đầu từ một vụ nổ. Thấy sao kết luận vậy là một cái sai. Thầy nói không ai tin á. Thầy cô đơn.

[49:39]Cho đến cái ngày năm 2011, 2011, giải Nobel trao cho ba nhà vật lý thiên văn của Mỹ. Chỉ bởi vì ổng thấy một điều này, là các thiên hà rời xa nhau nhưng mà rời càng lúc càng nhanh. Thầy nói đó, đó là chứng cứ. Chứng cứ gì? Tức là ngày xưa nó rời xa nhau với vận tốc càng lúc càng chậm. Nếu đi ngược lại quá khứ thì vận tốc rất là chậm, đúng không ạ? Mà nếu dời luôn tới 13 tỷ năm trước, có khi nó đang đứng yên à, không có nổ niếc gì hết trơn á. Nếu mà nó chậm thì có nổ không? Không. Nếu nó rời xa nhau càng lúc càng nhanh, có nghĩa là trước đây nó rời xa nhau càng lúc càng càng chậm. Đi càng về quá khứ thì nó càng càng chậm, mà 13 tỷ năm trước coi chừng nó đứng yên.

[50:27]Vậy có nổ không? Không. Ai nổ thì nổ chứ vũ trụ không nổ. Nha! Đó là một cái lầm của khoa học. Nên Phật không bao giờ nói vũ trụ bắt đầu từ một vụ nổ. Vậy con người sẽ hỏi: "Vậy vũ trụ bắt đầu từ đâu?" Hôm nào thầy giảng cái bài "Nhìn vào vũ trụ" thì sẽ nói. Mà thầy đã giảng cái này rồi, ở ngoài Hà Nội rồi. Thầy đã giảng rồi, vũ trụ bắt đầu từ đâu rồi. Nay muốn nghe không?

[50:58]Hết thời gian.

[51:02]Cái nguyên tử đơn giản nhất là nguyên tử gì? Nguyên tử gì? Hydro. Vì sao nó đơn giản nhất? Bởi vì nó chỉ có một proton và một electron, phải không ạ? Nguyên tử đơn giản nhất của vũ trụ. Còn nguyên tử mà phức tạp nhất thì càng lúc người ta càng tìm ra, càng lúc nó càng nặng, đại khái vậy. Trong cái khoảng không vũ trụ mênh mông, ở cái nơi mà ta nghĩ không có gì, nhưng trong đó nó đặc sệt, khi vừa nói nó đặc sệt hồi nãy, các trường, các sóng nó giao nhau. Ta có sóng gì? Sóng hấp dẫn. Ta có trường gì? Ta có từ trường. Và ta có nhiều loại trường trong đó cả cái trường tâm linh và cái trường nhân quả nghiệp báo nữa.

[51:54]Nó giao nhau lại và với cái điều kiện của một cái khoảng không cực kỳ lý tưởng, không bị lay động, không bị dao động bởi những thiên thể gần đó, tại vì nếu có những thiên thể gần đó sóng hấp dẫn nó sẽ bị dao động, cái trường hấp dẫn nó sẽ bị dao động. Còn ở một khoảng tương đối khá xa, các trường hấp dẫn không ảnh hưởng tới được, nó chỉ là sóng êm ả cộng với các sóng, các photon các ánh sáng bay lạc trong vũ trụ, nó va đập với nhau, xuất hiện một nguyên tử đầu tiên của proton và electron, thành một nguyên tử hydro đầu tiên. Một nguyên tử hydro mà thôi, vũ trụ bắt đầu từ một nguyên tử hydro đó.

[52:36]Nhưng mà để ta lập cái thí nghiệm chứng tỏ rằng có trong một môi trường mà vật chất tự xuất hiện, thì đây là cả một quá trình chứng minh rất là dài. Nếu khoa học để chứng minh được điều này rất là dài, nhưng mà thầy báo trước vũ trụ bắt đầu từ chỗ này, từ cái gọi là hư vô bỗng nhiên xuất hiện một nguyên tử hydro đầu tiên, nguyên tử đơn giản nhất. Trong một điều kiện chân không ta gọi là tuyệt đối, nhưng trong cái chân không tuyệt đối đó, những cái sóng, những cái trường va đập giao nhau cộng với nghiệp của chúng sinh, bởi vì vũ trụ này là những trường chứ không phải là hư vô. Hội tụ đủ rồi, một nguyên tử hydro đầu tiên xuất hiện trong

[53:16]một giây tại cái điểm mà xa vắng nhất của vũ trụ. Nhưng trong một giây này, tỉ tỉ hydro đang được xuất hiện, chứ không phải chỉ một nguyên tử. Và những nguyên tử khi nó xuất hiện rồi thì nó có lực hấp dẫn, nó dính dính với nhau, nó thành những đám mây hydro trôi bồng bềnh bồng bềnh trong vũ trụ, chỉ là những đám mây hydro thôi. Và cái đám mây hydro nó lớn đến nỗi ánh sáng từ đầu này qua tới đầu kia là mấy trăm ngàn năm. Những cái đám mây hydro lững lơ và ngày nay khoa học vũ trụ họ quan sát được có những đám mây hydro như thế, chứ không phải thầy tưởng tượng nha. Khoa học công nhận có mà không biết từ đâu,

[53:59]mà thầy nói từ đó, tự dưng nó sinh ra, từ hư vô nhưng không phải hư vô, vì các trường nó va đập trong một điều kiện lý tưởng, một nguyên tử hydro xuất hiện. Rồi mà trong một giây như thế này người ta đang ngồi đây, tỉ tỉ tỉ nguyên tử hydro xuất hiện, nó kết với nhau bay lững lờ lững lờ trong vũ trụ. Nó bay như vậy cho đến một ngày có một cái tinh cầu lạc đâm vào nó. Đâm vào nó tạo thành một cái sức hấp hấp dẫn và ép các nguyên tử hydro đó dồn lại dần dần, dồn lại dần dần, đúng không ạ? Dồn lại từ từ và khi nó dồn lại là từ cái sức nặng của nó ép với với nhau, ép chặt nữa, ép chặt nữa, ép chặt nữa, ép chặt cho đến khi mà cái áp lực quá nặng thì chuyện gì xảy ra?

[54:46]Chuyện gì xảy ra? Ở đây toàn là kỹ sư không nè. Khi mà các nguyên tử hydro bị ép chặt, ép nặng với cái lực ép cực mạnh thì chuyện gì xảy ra? Trời ơi trời, kỹ sư, bùng cháy lên, phải không ạ? Bùng cháy lên thành mặt trời. Bắt đầu ngôi sao xuất hiện.

[55:15]Mà trong cái quá trình cháy của mặt trời đó, các nguyên tử nó ép với nhau, nó nén với nhau lại và nó dồn nhiều proton lại một cách ngẫu nhiên. Bắt đầu xuất hiện oxy, cacbon, vàng, bạc, đồng, thiếc tự nhiên nó ngẫu nhiên, nên trên mặt trời đang cháy trên đó là quá trình tạo những vật chất phức tạp đang hình thành ở trên đó. Còn Trái Đất của ta là gì? Chính là một ngôi sao đã cháy và đã tắt, nên để lại những khối lượng vật chất đặc như thế này: đồng, thiếc, chì, kẽm rồi tùm lum nè, cacbon, hydro, lưu huỳnh, sunfat đủ thứ đây. Rồi sau đó ta bị thu hút bởi một cái ngôi sao mới cháy, còn ta là ngôi sao đã cháy xong.

[55:57]Cháy xong rồi bắt đầu ta bị thu hút để quay quanh một ngôi sao đang cháy, còn ta cháy rồi và hình thành sự sống, nghiệp, yếu tố của nghiệp tác động vào đây. Vũ trụ hình thành bắt đầu như thế. Có đồng ý không?

[56:18]Thế tại sao nó dời ra xa nhau? Giờ mà thầy giảng chắc mấy tiếng đồng hồ nữa chắc chết, thôi bỏ đi, bữa khác nói tiếp. Nghe mê hay là buồn ngủ? Mê! Mà bây giờ thôi bây giờ trở lại Bồ Tát đi. Vì chúng sinh là vô biên, phải không ạ? Cõi giới là vô biên, mà chúng sinh thì đơn giản hay phức tạp? Đơn giản hay phức tạp? Quá phức tạp đi, phải không ạ? Quá phức tạp đến nỗi cái người mà ở gần mình nhất mình không hiểu. Cho nên cái ngày mà phụ nữ đó thì đàn ông mới than: "Tôi không hiểu vợ tôi nghĩ gì, tại sao vậy? Mới đầu bả bày tỏ cái thái độ này thì tôi hiểu à bả là thuộc loại người này, ba bữa sau bả đổi thái độ khác, bả thành người khác tôi chả hiểu.

[57:11]Hồi bắt đầu mới quen nhau nàng thùy mị, dịu dàng, đằm thắm; khi tôi bưng bả về cái bả trở thành sư tử, tôi không hiểu, phải tôi biết trước vậy tôi đâu dám bưng về, sao bả thay nhanh quá không hiểu." Đó, vậy là phức tạp hay đơn giản? Đơn giản, ừ. Thì nàng cũng nói lại: "Em nhớ hồi xưa anh là soái ca, ga lăng, dịu dàng ha, từ một hot boy trở thành soái ca, nhưng mà bây giờ bắt đầu về thành thằng nhậu tối ngày buôn chuyện, phơi cái bụng phè lè ra mà uống rượu, lè nhè lè nhè, đêm ngáy còn hơn là sấm dậy, ngủ không nổi luôn, không biết tại sao em lấy anh không biết nữa." Đó, chúng sinh như vậy là phức tạp hay đơn giản?

[57:50]Quá phức tạp. Thì khi mà Bồ Tát mà muốn độ chúng sinh phức tạp như vậy thì phải làm sao? Phải làm sao? Hạnh nguyện phải hết sức là đa dạng, phong phú. Không có không có đơn không có mà một đường mà có thể độ tất cả chúng sinh, nên Bồ Tát phải xoay xở, phải biến hóa, phải linh động, phải uyển chuyển để mà đến với chúng sinh. Ví dụ như thế nào? Ví dụ như một vị thầy à về ở một cái vùng vùng đó người ta không biết đạo thì vị thầy đó phải độ chúng sinh sao? Hả? Thế là phải đi nấu bánh, ha, đến thăm từng nhà: "Ở đây chùa có lễ nên có ít lộc của chùa, gửi Phật tử ăn cho nó khỏe. Cái bánh này cúng Phật rồi nên ai ăn thì nhà được mạnh giỏi."

[58:41]Cái vậy người ta nghe vậy người ta khoái không? Khoái. Rồi nhưng người ta có tới chùa không? Không. Chưa, mới có cái bánh mà bắt người ta tới chùa cái gì. Phải ba năm như vậy, nha, ba năm như vậy người ta chịu ơn cái chùa người ta mến chùa rồi bắt đầu người ta mới tò mò người ta tới. Tới rồi thầy mới nói chuyện đạo lý cho nghe, ừ, kêu mấy đứa nhỏ tới cho nó mạnh giỏi, lạy Phật mạnh giỏi thì thầy mới giảng dạy đạo đức cho nghe, cái thấy nó đi chùa về nó ngoan, cái mến từ từ. Mà khi bắt đầu mà Phật tử mến chùa đi chùa nhiều rồi thì thầy bắt đầu mới trở mặt, bắt đầu thầy mới chảnh, nha, nói: "Thưa thầy, con muốn quy y." Thầy hỏi: "Đã phát đủ tâm chưa?

[59:22]Đủ lòng kính Phật, kính Pháp, kính Tăng chưa mà đòi quy y?" Nó rồi thầy bắt đầu chảnh, còn trước kia là phải tới tới nhà thì năn nỉ, phải không, giờ bắt đầu Phật tử hiểu đạo rồi cái thầy làm chảnh ra. Thì như vậy phải phải phức tạp không? Đó, thầy cũng thay đổi thái độ vì cái người đó cần phải thử thách một chút, đó, thử thách một chút cho nên thầy hơi làm khó, còn lúc mà chúng sinh chưa biết gì thì thầy hết sức là ân cần, chiều chuộng. Đúng không ạ? Cho nên như thầy cũng vậy, cũng nhiều người hận thầy lắm, nói: "Con nhớ con hồi con còn cư sĩ tới thầy thì vui lắm, tới con đi xuất gia rồi thì cả ngày không dòm thấy mặt con." Nói:

[59:57]"Thầy nhiều mặt để dòm quá thôi con ơi, đi tu rồi thì con ráng mà mà tu theo chúng, nương như huynh đệ, chứ bắt thầy cứ cứ mà mà cưng con như hồi còn cư sĩ chắc thầy chết. Để bây giờ để thầy dụ mấy người cư sĩ, còn tụi con xuất gia rồi thì thôi không có dụ nữa làm chi." Đó, tức là ngay cả thầy thầy cũng trở mặt nữa.

[1:00:22]Đó, nhiều trường hợp à ví dụ vậy. Ví dụ như mấy ông cán bộ quan chức tới với thầy à có ông á cái thầy xưng pháp danh rồi xưng Chân Quang. Mấy ông tại mấy ổng không có biết đạo, mấy ổng không coi mình là đệ tử, mấy ổng nghĩ mấy ổng là người quản lý, à mấy ổng kêu thầy xưng tôi, thì thầy cũng kêu xưng kêu anh xưng Chân Quang thôi, không không ấy. Nhưng mà có nhiều người cán bộ họ đến họ gặp thầy họ kêu sư phụ xưng con, thì thầy xưng lại là sư phụ xưng lại là thầy, tại vì những người đó họ hạ mình, họ thấy ông thầy cao hơn họ, mặc dù họ cũng là cán bộ. Mà ngộ lắm nha, có những cán bộ cả ở Trung ương á mà họ gặp cái thầy họ vẫn xưng con,

[1:01:02]mà có ông cán bộ xã gặp thầy nghênh nghênh kêu thầy tôi, ông tôi, nó ngộ vậy đó. Cũng tùy cái suy nghĩ của họ mình cũng không ép được, mình cũng không bắt được, thì tùy cái nhận thức của mỗi người, nhưng mà cũng tùy mỗi người mà mình có cái thái độ, có cái thái độ vậy. Thì cũng Phật tử cũng vậy, có người Phật tử tới có nhiều khi thầy phải cho tiền, tại vì thấy nhiều khi hoàn cảnh họ cũng thắt ngặt, rồi nhiều khi những em còn nhỏ đi học rồi gia đình vất vả thầy biết hoàn cảnh thầy cũng cho tiền. Nhưng mà có những Phật tử thầy gợi ý phải cúng thầy rồi nha, là vì thầy đang làm cái này làm cái kia nó đang thiếu rồi người ta phải cúng

[1:01:37]thầy, tức là thầy bắt phải cúng thầy, còn có người tới thì thầy phải cho, tức là nó không có nhất định, không nhất định là hễ tới chùa phải cúng, không có. Như vậy là có người tới thì thầy lại cho mà có người tới cái thầy gợi ý xa xôi rồi phải cúng cho thầy nữa. Nó nó nó nó đa dạng nó phong phú như vậy. Đúng không?

[1:01:58]Cái cô thủ quỹ cô cầm cái túi đó là cô gợi ý lớn đó, đó là cái gợi ý không nói được.

[1:02:07]Và chúng sinh phức tạp, tâm lý mọi người biến đổi, cho nên Bồ Tát phải tùy theo cái tâm lý, tùy theo nghiệp của chúng sinh mà giáo, mà giáo hóa. Cái quan trọng là cuối cùng là nói chúng sinh nghe, nghe lời, tin được nhân quả nghiệp báo trước cái đã, rồi mới từ từ mà hiểu đến cái sự tu hành giác ngộ giải thoát sau. Cho nên ta cũng vậy, ta bắt chước Bồ Tát đừng có đụng ai mà cũng nói cái đạo lý cao siêu. Đừng nói về giác ngộ giải thoát sớm. Cái người mà có thể hiểu về giác ngộ giải thoát là phải công đức rất lớn! Còn bình thường chỉ bắt đầu họ tin được nhân quả đã là cái nền tảng vững chắc được rồi.

[1:02:51]Nhớ, cho nên khi mà ta bắt đầu thực hành cái hạnh Bồ Tát làm lợi ích chúng sinh là nhớ giáo hóa đầu tiên là giáo hóa gì? Luật, luật nhân quả. Cho nên ta phải tập cách nói về nhân quả, kể chuyện về nhân quả, lý luận về nhân quả thật là cực kỳ hấp dẫn. Đó là cái cái cái hạnh đầu tiên đó. Là cái công đức đầu tiên của chúng ta đó. Trong bất cứ chỗ nào, hoàn cảnh nào, tình huống nào, chúng sinh nào, bạn bè nào cũng vậy. Lúc nào ta cũng trang bị cho mình một cái khả năng thuyết trình về luật nhân quả. Lúc nào cũng như vậy. Phải tập cái điều này nếu mà muốn làm phước nha. Coi như làm phước trên đời thì có nhiều loại,

[1:03:32]nhưng mà để làm phước theo kiểu Bồ Tát thì cái miệng mình, cái trí mình phải rất giỏi về việc nói về luật nhân quả, đó. Ví dụ mình phải nói cho người ta nghe thế này: có một ông giảng sư ổng đang ngồi giảng mà nhà bếp làm rổn rổn rảng rảng là sau này chết luôn, đọa chết luôn, nhớ như vậy. Mình phải nói về nhân quả người ta nghe như vậy, nghe không? Cái đó gọi là nói móc á, nói móc.

[1:04:02]Nghĩa là cái hạnh của Bồ Tát là phong phú, không có giới hạn. Không có hạn cuộc mình là ờ đời tui là tui trong sạch nè, ai tới thì học, nghe, không tới thì thôi. Bồ Tát không đặt mình cái đó. Nhớ như vậy. Còn cái người nào đặt mình à tôi là tôi chỉ độ cái hạng người này thôi, cái hạng người là từ mà tú tài tới đại học á, còn cấp dưới tôi không độ, là không phải Bồ Tát. Tại vì Bồ Tát không có giới hạn, không đặt hạn cuộc. Nghĩa là Bồ Tát gặp cái người không biết chữ cũng phải ráng mà độ người ta. Trong cái tình huống, hoặc gặp tiến sĩ cũng phải độ người ta. Tại vì thực sự là mình có một trí tuệ tu tập rồi tiến sĩ chưa là gì đâu.

[1:04:40]Tiến sĩ chưa là gì. Cái trí tuệ của đạo Phật cao hơn tiến sĩ nhiều nhiều lần lắm nha, nên không có ngại cái điều đó. Chỉ có cái là nhớ như vậy, chúng sinh phức tạp, đa dạng, thì cái tâm hạnh Bồ Tát để mà theo đuổi giáo hóa chúng sinh cũng là phức tạp, đa dạng, uyển chuyển, linh động, phong phú và không giới hạn. Nhớ như vậy. Rồi một cái nữa là cái kiến thức của vũ trụ là vô vô hạn và trí tuệ của Bồ Tát tự thôi thúc không bao giờ nói là à thôi biết nhiêu đây đủ rồi, không bao giờ. Nhưng mà chỉ có cái là không có cái ham biết để trở thành một cái động loạn. Bồ Tát ham học hỏi, ham học hỏi, hiếu học.

[1:05:33]Nhưng cái hiếu học đó nó bình thản, tự nhiên, chứ nó không phải là thành con mọt sách, bỏ hết, quên hết, chỉ còn có biết cái này biết cái kia để trở thành mình là một người biết nhiều, học giỏi, không phải. Mục tiêu không phải là biết nhiều, học giỏi, mà cái biết nhiều nó là một cái sự thôi thúc tự nhiên của trí tuệ. Đó. Khi ta có trí tuệ thì ta hiểu được một điều mà như Newton đã nói: "Những điều ta biết chỉ là một giọt nước, những điều ta chưa biết là cả một đại dương". Đó, cái trí tuệ của Newton là trí tuệ của Bồ Tát á. Thì khi một người mà họ có Bồ Tát, có cái tâm Bồ Tát rồi, họ cũng có cái ý nghĩ đó:

[1:06:12]những điều mình biết rồi là chưa bao giờ là chưa bao giờ là đủ. Cho nên cứ có tâm hiếu học nhưng không phải quá căng thẳng để đi tìm tìm học, không căng thẳng. Mà nhẹ nhàng, tự nhiên, nhẹ nhàng, tự nhiên, nhưng không bao giờ đóng lòng mình lại. Không bao giờ đóng lòng lại, lúc nào cũng open, lúc nào cũng đón nhận cái knowledge, kiến thức. Người ta gọi cũng là cái kiến thức của Bồ Tát cũng là vô lượng vô biên là như vậy nha. Vì cái tâm hiếu học nó thôi thúc, mà cái tâm hiếu học này là do trí trí tuệ, mà trí tuệ nghĩa là gì? Nghĩa là biết rằng còn nhiều điều mình chưa biết, đó gọi là trí tuệ. Còn mà chúng ta cứ nghĩ ồ tôi biết rồi thì mình được gọi là trí, trí tệ.

[1:07:03]Mất cái chữ u. Còn mình biết rằng còn nhiều điều mình chưa biết, đúng là trí tuệ. Đó coi chừng tui lấy mất cái chữ u á. Mình tự mãn, ồ tôi học giờ đủ rồi, tôi tiến sĩ rồi, là chết liền. Tiến sĩ chưa là một giọt nước nào cả. Nhớ như vậy. Hỏi tới ối, kinh tạng đạo Phật tôi đọc hết rồi, là chết rồi. Tại còn rất nhiều điều Phật chưa nói, còn rất nhiều điều Phật đã nói mà bị các thầy kết tập bỏ mất. Còn rất nhiều điều. Cho nên đừng bao giờ nghĩ mình đã biết đủ rồi. Chính vì cái biết rằng còn rất nhiều điều mình chưa biết nên Bồ Tát mở tâm hồn mình ra để đón nhận vô số những kiến thức mới. Mà những kiến thức đó không phải chỉ nằm trên Trái Đất này.

[1:07:51]Phải nhớ điều đó, không phải chỉ nằm trên Trái Đất này. Kiến thức đó bao la, mênh mông cả pháp giới vũ trụ này trên nhiều cõi Phật và sao, trên tận các tầng trời cao luôn. Vì trên đó còn những quy luật rất là lạ lùng trên trên cõi trời nữa. Trên cõi trời còn rất nhiều những quy luật lạ lùng nữa, chưa hết đâu. Nhớ. Rồi khi mà Bồ Tát ở cái cấp độ mà chưa đủ sức vân du các cõi, các cõi nước, các thế giới, các tinh hệ, chưa đủ sức, đang còn phải lẩn quẩn ở cái Trái Đất này và những cõi trời gần gần, thì tâm Bồ Tát luôn luôn xuất hiện một điều thế này: cung kính các bậc thánh khác, lòng rất khiêm hạ, cung kính các bậc thánh khác.

[1:08:39]Mà cái khiêm hạ của Bồ Tát là gì? Là vô biên vô tận, chúng ta nhớ như vậy. Vô biên vô tận. Vô biên vô tận nghĩa là sao? Nghĩa là nếu lạy ai cũng cần lạy là lạy, chả bao giờ có chấp nê. Nhưng chỉ sợ cái lạy xong rồi ông kia ổng hết đầu thai luôn thôi thì không lạy. Vì vậy, tại biết nhân quả mà. Biết nhân quả là biết cái quả chứng mình tới đâu, biết cái người kia phàm phu tới đâu. Cho nên không dám bày tỏ cái sự cung kính tại họ hết phước liền. Họ không mong cầu nhưng mình lạy cái họ hết phước liền, ta không dám. Chứ còn nếu cần lạy, lạy liền. Không bao giờ giới hạn. Vì sao? Vì cái tâm khiêm hạ là vô lượng vô biên nha,

[1:09:22]không còn một cái vướng víu một cái hạt bụi nào cả. Nhiều khi thầy hay nói với Phật tử là mình phải coi mình như là cát bụi phải không ạ? Là thầy nói còn chút cát bụi để mình còn được hình dung. Nhưng mà Bồ Tát thì sao? Cái chút lấn cấn hạt bụi đó cũng mất luôn, không có luôn. Nhưng mà giờ không lẽ thầy nói tụi con khiêm hạ như hư vô, nghe nó mơ hồ thôi thấy mình như là cát bụi là cỏ rác, nghe nó nên thơ lãng mạn mà dễ hình dung. Mà tụi con thấy mình như cát bụi cỏ rác là đã giỏi lắm rồi, phải không ạ? Siêu lắm rồi chứ không phải. Còn Bồ Tát không có cái lấn cấn của cát bụi cỏ rác ạ, lạy ai được cũng lạy.

[1:10:05]Nên lạy trời, lạy đất, lạy cỏ, lạy cây, lạy được, cần lạy là lạy, không cần. Nhưng chỉ có cái về nhân quả thì sợ, sợ lạy họ một cái họ tổn phước. Vì có những điều là sự thực, nhiều khi mình tổn phước không phải do mình. Nhiều khi mình tổn phước không phải do mình, mà do người khác làm bậy. Thì có cái câu chuyện thế này. Hồi chuyện hồi xưa á, có cái người học trò mỗi lần mà đi ngang qua một cái cái đình, cái có cái con lân nó nó nó cúi nó chào. Cái cái đám bạn ngạc nhiên lên về đồn ở trong làng. Về đồn ở trong làng cái mọi người mới cầu khấn cái ông thần đó ổng đạp đồng, ổng nói tại cái cậu này nữa đỗ Trạng nguyên.

[1:10:48]Rồi ồ cả làng bừng lên, quê làng mình mà có Trạng nguyên là vẻ vang, vinh hiển lắm rồi. Nhưng mà tiếc là cái ba mẹ cậu đó bắt đầu hống hách, nạt người này nạt người kia, tại nghĩ con tao mà nữa Trạng nguyên tụi bây biết tao, đại khái. Cái thời gian sau cậu bé đi ngang, cậu học trò đi ngang lân nó không chào nữa. Mọi người mới cầu khẩn thần đạp đồng nói: "Tại bố mẹ làm tổn đức á, hống hách quá cái phước cậu này không đậu Trạng nguyên mà cũng rớt luôn kỳ thi này, không đậu kỳ thi tiến sĩ luôn". Mà đúng sau này rớt luôn. Cái câu chuyện là như vậy, tức là cậu học trò này không có lỗi nhưng mà bố mẹ kiêu ngạo, cậu hết phước luôn.

[1:11:22]Cũng vậy, có những người chết rồi mình chết mình chưa được vãng sinh mà cái ổng ổng hộ niệm xong ổng niệm A Di Đà Phật, A Di Đà Phật: "Đó tui tụng 8 tiếng đồng hồ rồi vãng sinh rồi, vãng sinh rồi" là cái người chết đọa luôn. Mình đâu có vãng sinh đâu, mà cứ gán là vãng sinh rồi, vãng sinh rồi là hại người chết. Nên nhớ vì mình không phải như vậy mà người ta cứ khen mình riết, mình cũng tổn phước luôn. Giống như giống như thầy vậy, có nhiều đệ tử của thầy cũng treo hình thầy, nhiều khi treo ngang Phật nhà thầy có kiểm soát được không? Không, cái bàn thờ Phật ở đó treo hình một bên thôi, nhưng cái tầm cao cũng như vậy thầy không có biết.

[1:11:58]Thương thầy thầy không trách, nhưng mà cái đó cũng làm thầy tổn. Đó, rồi có nhiều người xưng nói thầy tôi đẹp, thầy tôi là một thánh tăng, những cái đó đều làm thầy tổn. Trong khi thầy chỉ là gì? Một ông già gần 70 tuổi, gầy còm, xấu xí, không ra gì hết. Thấy không? Những cái đó đều làm cho thầy tổn phước vô tình. Đó những cái vậy, nên Bồ Tát vì cẩn thận vì những điều nhân quả như vậy. Nên ví dụ như mình khen ai cũng coi chừng hại người ta chứ không phải là tốt đâu. Mặc dù cái lời khen là một đạo đức, mình khen người này để cho những người khác bắt chước cũng là một cái đạo đức. Nhưng mà trong một chừng mực nào để tội nghiệp cái người

[1:12:36]được khen, người ta không muốn đâu, người ta khiêm tốn người ta không muốn, nhưng người ta cũng bị tổn, như đó. Chỉ khi nào quá sức rồi đành phải vậy. Như vậy ví dụ như vừa rồi cái ngày Trung Thu vậy thầy cũng vinh danh cô Tường Phổ, tấm lòng của biển, tới lúc phải khen. Vì sao? Vì cô cực quá. Cực quá mà cũng để một tấm gương cho mọi người biết, biết là mình lo cho đạo phải chu đáo trong ngoài, tấm lòng đừng có giới hạn mà đừng có tính công, đừng có sợ cực sợ khổ, đó tấm lòng phải vô biên vô hạn, hiểu như vậy. Nhưng mà cô cũng khiêm tốn, cô cũng lên cái cái lời phát biểu cô cũng nói đáp lại là thật sự mà cô có có làm được cũng là do huynh đệ,

[1:13:17]đó cái cái phải khiêm tốn lại để không bị tổn phước, như vậy. Thì Bồ Tát vậy cái tâm Bồ Tát là khiêm hạ vô biên vô lượng. Do khiêm hạ vô biên vô lượng cho nên Bồ Tát rất thích cái gì? Gặp các bậc thánh để mà thừa sự, đảnh lễ, cúng dường, bày tỏ sự tôn kính của mình. Cái công đức mà một vị Bồ Tát đi lang thang trong pháp giới, trong vũ trụ, đi qua các cõi, tìm đến những bậc thánh mà đảnh lễ là vô lượng vô biên, ta nhớ điều này. Nó cũng giống như là Phật tử mình có cái hành hương vậy đó, mình hay đi chùa này chùa kia đảnh lễ. Ta nghe đâu có cái vị cao tăng mình cũng hay tới mình đảnh lễ, thì cái tâm cái cách đó cũng là cách của Bồ Tát.

[1:14:03]Nhưng mà Bồ Tát họ làm thì cao siêu hơn, chín chắn hơn, đầy đủ hơn, chính xác hơn, là cái tâm như vậy. Rồi sau này thầy sẽ giảng tới cái bài mà Thập Hạnh Phổ Hiền của Bồ Tát, ta sẽ hiểu điều này. Nhất giả Lễ kính chư Phật. Đó cái câu mà Nhất giả Lễ kính chư Phật đấy nghĩa là gì? Vì Bồ Tát như vậy, trong lòng khiêm hạ rồi, lòng cứ thành kính, rất thích được cung kính người khác, rất thích được cung kính một bậc cao hơn mình, mãi mãi đi tìm những vị cao hơn mình để mà quỳ xuống đảnh lễ. Nhớ cái tâm đó nó kỳ lạ, nó thôi thúc kỳ lạ lắm, đó như vậy, nó thành ra là một cái hạnh phúc của Bồ Tát. Chúng ta nhớ như vậy.

[1:14:42]Nên mỗi ngày mà khi chúng ta quỳ trước Phật, chúng ta đảnh lễ Phật, tôn kính Phật, tôn kính Bồ Tát, chính là chúng ta cũng đang tập cái hạnh của Bồ Tát như vậy. Vì Bồ Tát vậy có đạo đức, có trí tuệ, cứ bị một cái thôi thúc là thích được tôn kính một bậc cao hơn mình. Lúc nào cũng bị cái đó thôi thúc thôi thúc, do cái tâm khiêm hạ đó vô hạn rồi, nên trong tâm cứ bị cái thôi thúc điều này. Rồi chúng ta cũng vậy, nhìn lại mình coi có cái này hay không nha. Mình có thích tôn kính ai hay không? Có thích kính trọng ai, thích tôn trọng ai hay không? Thích ngưỡng mộ ai hay không? Hay trong đời mình cứ ngơ ngơ thằng nào cũng như tao,

[1:15:20]thằng nào cũng vậy, thì mình không phải Bồ Tát, mình là người phàm phu mà hơi là vi súc vật một chút ấy. Cái tâm đó như vậy, tầm thường quá. Còn đã làm con người ngay từ nhỏ mình đã được bố mẹ mình dạy phải lễ độ, thấy không? Biết kính trọng người lớn, đó đã là cái dấu hiệu của đạo đức. Mà khi lớn lên mình tu hành, tu đến cái mức độ mà chứng thánh rồi, thì cái tâm mà thích cung kính cái bậc cao hơn mình nó còn mãnh liệt, còn tràn đầy hơn nữa. Đó là như vậy, đó cũng là một cái dấu hiệu của Bồ Tát, cái hạnh mà cung kính, khiêm hạ là vô lượng vô biên. Biết bao nhiêu cái vô lượng vô biên mới tới cái ngày mà chứng thành Phật quả,

[1:15:58]biết hết cả vũ trụ này, bao nhiêu cái vô lượng vô biên từ ngày hôm nay là như vậy. Mệt chưa ạ? Ngồi đâu có mệt, nói mới mệt chứ. Người ta hỏi người ta hỏi khéo, người ta hỏi khéo để nghỉ mà cứ. Hôm nay nghe nhiêu đây thôi nha, lần sau. Tức hôm nay ta nghe cái điều gì? Cái tâm hạnh của Bồ Tát là hướng về cái vô lượng vô vô biên, không bao giờ đặt ra một giới hạn của mục đích của mình, cái ước vọng của mình, cái công đức của mình. Vì sao? Vì đó là cái nhân để chứng thành Phật quả. Mà Phật quả chứng một cái, những cái vô biên vô lượng của Phật quả, có một cái là biết hết vũ trụ này. Mà vũ trụ này lớn cỡ nào thì nãy ta vừa nói với nhau như vậy nha, như vậy.

[1:16:48]Chúng ta cũng vậy, hôm nay mình chiêm ngưỡng cái hạnh của Bồ Tát vô lượng vô biên, mình thấy vĩ đại không? Thấy không? Ủa không ai trả lời hết trơn vậy cà? Có thấy cái hạnh đó vĩ đại không? Mình có ngưỡng mộ không? Đó đó, đó là lý do mà thầy nói hôm nay ai nghe được bài này, người đó phước rất là lớn. Phước rất là lớn, mà tin được những điều này, mở ra một cái công đức cho tâm hồn mình rất là lớn. Còn người nào hôm nay ngồi trong pháp hội này mà trong lòng bất ngờ có ý phản kháng nhỏ, thì mở một con đường đi xuống địa ngục. Thầy không hù đâu, đó là thật sự đó nha. Cho nên khi mà nói những điều quá cao, cái nó chia chúng sinh ra làm hai hạng liền.

[1:17:31]Chia chúng sinh như vậy. Bởi ta cẩn thận, đừng nói những điều quá cao đối với những người chưa sẵn lòng để nghe, vì họ phản kháng một cái họ gieo nhân địa ngục liền. Nhớ những điều cao siêu chỉ nói cho những người đã sẵn lòng để nghe mà thôi, đủ thiện căn để nghe nha, đủ tâm hồn để nghe, đủ trí tuệ để nghe mà thôi. Thôi thầy chúc cho các Phật tử vậy, từ hôm nay biết ước mơ vô lượng vô biên mà không phải là huyễn hoặc nha. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.