Lời giảng: Nhân Và Duyên

  • Thuyết giảng: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Thời lượng: 1:32:19

Toàn văn lời giảng, chép từ phụ đề. Bấm vào mốc thời gian để nghe đúng đoạn đó.

[0:09]Kính bạch Thượng tọa Thích Chân Quang, giảng sư, Giáo thọ các trường Phật học, nhất là Giáo thọ trường Phật học tỉnh Long An. Hôm nay, ngày 9 tháng 4 năm Quý Mùi, thông lệ Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo tỉnh Long An, Ban Giám hiệu Trường Trung cấp Phật học Long An tổ chức tuần lễ kính mừng Phật Đản sanh. Trong tuần lễ này, chúng con có nhã ý cung thỉnh chư tôn Thượng tọa giảng sư quang lâm về lễ đài chùa Thiên Khánh để thuyết pháp cho Phật tử, để tăng trưởng lòng kính tín Tam Bảo. Hôm nay, Thượng tọa đã hoan hỷ hứa khả thân lâm về đạo tràng chùa Thiên Khánh. Hiện diện trước Thượng tọa là các Phật tử tại thị xã Tân An,

[1:05]tại huyện Thủ Thừa, tại huyện Cần Giuộc, tại huyện Cần Đước, Bến Lức, Tân Trụ. Đây là một số Phật tử tiêu biểu có điều kiện để về dự lễ hôm nay. Chúng con mong rằng Thượng tọa sẽ ban bố những lời pháp nhũ cao quý, và chính những Phật tử có mặt hôm nay sẽ tiếp nhận và đồng thời sẽ truyền đạt lại cho các đạo bạn của mình ở tại quê nhà không về dự hôm nay. Đôi lời giới thiệu, chúng con thành kính gửi đến Thượng tọa và toàn thể đạo tràng. Xin đạo tràng cho tràng pháo tay để cung nghinh Thượng tọa. A Di Đà Phật, giờ đã đến, chúng con kính thỉnh Thượng tọa bắt đầu. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[1:55]Chúng tôi rất là quý kính quý thầy trong Ban Trị sự tỉnh Long An, quý ngài Tăng chúng tỉnh Long An đã có cái duyên gì quý thầy là những người chân tu thật học, lúc nào cũng lo cho Phật pháp, lo cho Tăng Ni, lo cho Phật tử. Ở đây là điều chúng tôi tán thán như vậy, chứ cũng là một điều hiếm trong cái thời mạt pháp này. Hôm nay thì chúng tôi xin được trình bày hai cái ý nghĩa về nhân và duyên trong cuộc đời Đức Phật.

[2:28]Thứ nhất là Đức Phật sinh ra trong cuộc đời này bởi một cái nhân duyên rất là lớn để trở thành một vị giác ngộ tối thượng, đem giáo pháp đến cho chúng sinh. Trong cái nhân duyên lớn đó thì chúng ta thấy thế này: Ngài có một cái sự chuẩn bị để xuất hiện. Khi Ngài xuất hiện, có nhiều điềm lành và nơi bản thân Ngài có nhiều tướng tốt, hoàn cảnh thuận tiện. Nhưng mà đến khi Ngài từ bỏ hoàng cung để xuất gia thì những cái nỗ lực của Ngài cho đến ngày hôm nay chưa có người thứ hai làm được. Và như vậy là vừa có cái thiện căn từ đời trước, mà vừa có cái sự nỗ lực phi thường của kiếp này mới thành được một vị đại giác ngộ như vậy.

[3:17]Đây là điều để cho chúng ta chiêm nghiệm, học hỏi. Giờ thứ nhất là chúng ta kể chuyện Đức Phật sơ sơ một chút. Vào cái thời xưa thì có một cái vương quốc, một cái tiểu quốc ta gọi là tiểu quốc Thích Ca (Sakya). Đây là một cái cái nước đó lấy theo cái dòng dõi Sakya là dòng dõi quý tộc, thượng lưu lãnh đạo cái đất nước đó, là dòng dõi. Tuy nhiên, đất nước Sakya này chỉ là một tiểu quốc lệ thuộc vào một cái đế quốc, một cái vương quốc lớn hơn là vương quốc Kosala. Thì vương quốc Kosala đó, vị vua ở đó đó là ông có toàn quyền với những cái nước chư hầu của mình. Tiểu quốc Sakya cũng là một chư hầu lệ thuộc thôi.

[4:02]Mà vua Tịnh Phạn á là một vị vua được bầu lên, chứ không phải là cha truyền con nối. Mặc dù là cũng là xuất thân trong cái dòng dõi Thích Ca đó. Mà trong dòng dõi Thích Ca đó lại có nhiều cái dòng tộc, mà riêng cái dòng của vua Tịnh Phạn gọi là dòng Gautama, mình gọi là Cồ Đàm. Là lúc đó vua Tịnh Phạn, chữ Tịnh Phạn có nghĩa là người trồng lúa sạch. Vì vào cái thời đó nông nghiệp là chính, cho nên ai là người mà có nhiều đất trồng lúa mà trúng mùa thì thường là những người may mắn nắm quyền. Thì vua Tịnh Phạn là người có nhiều đất và có kỹ thuật trồng lúa tốt. Thì vua được bầu lên và vua tại vị một thời gian rất là dài.

[4:48]Thì sau này vua Tịnh Phạn có ý là đào tạo cho thái tử con mình là Sĩ Đạt Đa sẽ nối tiếp cái vương quyền đó. Nhưng mà không may là thái tử Sĩ Đạt Đa hoài bão một cái điều lớn lao hơn là thành một bậc giác ngộ, tìm ra con đường để cứu độ tất cả chúng sinh, chứ không phải là chỉ muốn làm vua của một cái dòng dõi Thích Ca đó. Và đến trước khi Ngài xuất gia thì Ngài đã để lại một một giọt máu là hoàng tử hoàng tôn La Hầu La. Do vì có hoàng tôn La Hầu La cho nên là vua Tịnh Phạn đã không tìm cách bắt thái tử quay về, mà để yên cho Ngài đi tu. Tuy nhiên sau này La Hầu La cũng đi xuất gia luôn, và cái vương quyền không còn nằm lại ở nơi cái dòng dõi Gautama

[5:40]nữa, đã chuyển sang cho một người khác cho đến khi bị vua Lưu Ly quay lại tiêu diệt tàn sát hết cả cái kinh thành Ca Tỳ La Vệ đó. Vua Tịnh Phạn chúng ta không có cái sử sách ghi là ông có bao nhiêu người vợ tất cả, nhưng có một điều rất rõ là ông cưới hai chị em ruột: một là Thánh mẫu Ma Gia là mẹ ruột của Đức Phật, hai là người em là bà Pasapati, tức là Ba Xà Ba Đề, hai chị em ruột. Thì khi mãi đến năm bà 40 tuổi, 39 40, bà mới có có mang có mang thái tử. Thì ngay lúc đó người em ruột là bà Pasapati cũng đồng thời có mang luôn là hoàng tử Nan Đà (Nanda). Khi mà sinh thái tử Sĩ Đạt Đa vài ngày sau,

[6:31]thì bà Ba Xà Ba Đề cũng hạ sinh Nan Đà luôn. Hai anh em đó bằng tuổi nhau, chỉ chênh lệch nhau vài ngày. Thì theo tục lệ Ấn Độ, cái người phụ nữ khi sinh thường là trở về quê ngoại, quê mẹ mình để sinh nở chứ không có ở bên nhà chồng, chúng ta cũng biết. Thì cái quê ngoại của bà Ma Gia, Thánh mẫu Ma Gia nằm ở phía đông của kinh thành Ca Tỳ La Vệ, nó thuộc về một cái vùng, một khu vực, một tiểu quốc là Devadaha, ở đó có một vị vua Thiện Giác cũng cai trị. Thì ngày xưa đi về đó chắc cũng hơn 100 cây số, 100 - 200 cây số vậy. Đi trên những con đường ngày xưa nó nhiều ổ gà, ổ voi, đi trên xe bò, xe ngựa nó lắc lư.

[7:15]Và nếu nói theo cái nhìn của y học là chính vì con đường nó dằn xóc cho nên bà lâm bồn sớm, nửa chừng, chứ không kịp về đến cái quê ngoại của mình, đó là nói theo cái nhìn của y học. Còn nếu mà nói theo cái nhìn của của tôn giáo, của tâm linh, thì Đức Phật của chúng ta không muốn đản sinh trong một cái cung điện, Ngài muốn đản sinh giữa rừng cây. Đây là điểm đặc biệt như vậy. Nên khi mà đi giữa đường thì trên xe bà nhìn xuống bên rừng, bà chợt thấy một đóa hoa ưu đàm nở. Cái mùi hương nó tỏa ngát cả một cái vùng như vậy. Đóa hoa đó cực kỳ đẹp, nhiều màu nhiều sắc rực rỡ, lớn, không giống như những cái hoa thường thường như

[8:00]vậy, gọi là hoa ưu đàm, mà theo truyền thuyết khi nào có một vị thánh nhân xuất hiện thì hoa đó mới nở. Thì bà nghe mùi thơm ngát trên đường đi, bà mới quanh quẩn mà nhìn ra ngoài cái cửa sổ xe thì thấy cái cánh hoa nó nở tung, đẹp, rực rỡ gần cái lề đường bên trong. Bà mới ý ra định là người đánh xe dừng lại. Bà bước xuống thì những người hầu đỡ bà đi xuống xe và dìu bà chầm chậm chầm chậm đi về phía cái hoa đó. Thì khi mà đi đến dưới cái gốc cây hoa đó, bà ngoái tay để hái cái hoa thì ngay lúc đó thái tử bước từ bên hông bên phải của bà bước ra. Bước ra và đi dưới đất, lẫm đẫm lẫm đẫm dưới đất,

[8:40]thì truyền thuyết nói rằng khi Ngài không để cái chân Ngài chạm đất, Ngài vừa bước xuống thì những đóa hoa sen nở ra hứng cái chân Ngài liền. Những cánh hoa mà bây giờ được cho là hoa sen nở ra đỡ cái chân Ngài, và đi Ngài đi lẫm đẫm lẫm đẫm, giống như Ngài có nói một cái điều gì đó. Thì ngay lúc đó đất trời chuyển động. Theo trong kinh ghi là đất rung động theo sáu cách. Bây giờ thì mình gọi là động đất mấy Richter, nhiều quá thì sập nhà sập cửa, nhưng mà khi Đức Phật xuất hiện thì đất rung động theo sáu cách là rung lên rung xuống, rung dồn tới dồn lui, rung theo tiếng tiếng vang, rung theo xoáy ốc,

[9:17]vân vân, sáu cách như vậy để đón mừng một vị Phật tương lai của nhân loại. Lúc đó cũng theo truyền thuyết kể, bỗng nhiên như là có rồng phun nước, bỗng nhiên có những dòng nước như là mưa tưới xuống để tắm cho Ngài, rồi hoa trời tung rợp cả bầu trời rắc xuống, rồi thiên thần tấu nhạc vang lừng trên không trung. Cái truyền thuyết là như vậy. Thì trước cái cảnh tượng mà huy hoàng rực rỡ kỳ diệu cả mấy ngàn năm cũng không ai có thể trông thấy được thì mọi người sững sờ ngây ngất. Và cuối cùng thì mọi chuyện dịu lại thì những cái thị nữ lật đật bế thái tử vào, quấn tã mà đem vào xe. Và như vậy không cần phải đi về quê ngoại ở Devadaha

[10:01]nữa, nên mọi người hối hả quay trở về kinh thành Ca Tỳ La Vệ, và cho một vài người người hầu cưỡi ngựa nhanh về về kinh thành để báo cho vua Tịnh Phạn luôn là Đức bà đã hạ sinh thái tử, và trên đường về. Thì khi về đó, vua mới lật đật mời một vị đạo sĩ nổi tiếng có thần thông, có phép, mà ta gọi là ông tiên A Tư Đà (Asita). Ông này là một vị đạo sĩ cố vấn cho vua về vấn đề tâm linh. Ngày xưa đó, những vị vua đều có những người, những nhà tiên tri có cái tâm linh kỳ lạ, có cái sức thần thông, biết hết mọi chuyện để cố vấn, và vua Tịnh Phạn cũng vậy. Cái vị mà cố vấn chính cho vua là ông tiên A Tư Đà, sống đã trên 100 tuổi.

[10:48]Thì lúc đem thái tử về, vua mừng rỡ vì thấy dung mạo thái tử tuyệt đẹp, mới mời ông vào xem. Thì ông vào ông nhìn thái tử xong, ông khóc. Ông khóc thì vua vua Tịnh Phạn sợ. Sợ mới hỏi chuyện gì thì ông nói không, Thái tử sau này sẽ thành tựu một trong hai con đường: một sẽ là một vị Chuyển Luân Thánh Vương là vua của tất cả những vị vua trên trái đất này, một là cái cái vinh quang tột đỉnh như vậy, nếu không thì Thái tử sẽ xuất gia để trở thành một đấng giác ngộ. Ngày xưa chữ Buddha có nghĩa là đấng giác ngộ. Thì vua Tịnh Phạn nghe vậy rồi cũng hoang mang lo liệu không biết mừng hay vui. Ông bảo nói rằng là không bao lâu ông sẽ mất,

[11:33]tại vì ông biết trước ngày ông chết, ông có thần thông, ông biết trước ngày ông chết. Sau đó ông mới dặn cái người cháu của ông là sau này phải chờ là Thái tử lớn lên đắc đạo mà đi theo mà xin làm đệ tử. Mặc dù lúc đó cái người cháu của ông rất là lớn. Rồi 7 ngày sau là tới cái lễ đặt tên cho Thái tử thì vua Tịnh Phạn một lần nữa lại mời 7 vị đạo sĩ Bà La Môn đến để làm lễ và xem tướng Thái tử một lần nữa. Thì vua Tịnh Phạn có cả một đội ngũ nhiều vị đạo sĩ cố vấn về tâm linh. Thì trong 7 vị đạo sĩ đó, cái người trẻ tuổi nhất là khoảng 17-20 tuổi chính là tôn giả Kiều Trần Như, cái người sau này đắc đạo đầu tiên trong đạo Phật.

[12:18]Lúc đó Thái tử là còn nằm trên nôi, mới có 7 ngày, còn ông Kiều Trần Như là một vị đạo sĩ tư tế, lúc năm đó ông khoảng 20 tuổi, ông khoảng hơn Đức Phật 20 tuổi. Thì ông cũng có mặt trong cái buổi lễ mà đặt tên cho cho Thái tử và mọi người đặt cái tên là Sĩ Đạt Đa, có nghĩa là người đạt được mọi cái ước nguyện của mình. Thì ngay khi mà tên vừa đặt xong, vua Tịnh Phạn hết sức vui mừng vì 7 vị đạo sĩ đó cũng tiên tri giống như vậy, nói sau này danh vọng của vị Thái tử này là trên thế gian này không có người thứ hai so sánh được. Cái tin đó làm vua Tịnh Phạn vừa vui mừng thì thị nữ cũng vừa bước ra báo vua Tịnh Phạn là Đức bà Ma Da vừa mệnh chung, mất luôn.

[13:05]Đó là cả cái niềm vui và nỗi buồn ập lại một lúc. Thì theo cái nhìn của y học, cho rằng vào thời xưa, do cái y tế không có đủ điều kiện, hạ sinh giữa đường rồi dằn xốc mà đi về, cho nên bà bị bệnh của cái người phụ nữ sau cái cơn sinh nở mà sự chăm sóc y tế không kịp thời nên bà đã mất sớm. Đó là nói theo cái nhìn của y học, còn nói theo cái nhìn của tâm linh thì Đức bà có mặt trên cuộc đời này với một sứ mạng duy nhất là hoài thai cho nhân loại một vị Phật tương lai. Và khi chuyện đó đã thực hiện được rồi thì bà từ bỏ thế gian này để đi về cõi trời. Sau này Đức Phật của chúng ta cũng vậy, Đức Phật cũng thường về cõi trời để gặp mẹ mình

[13:52]và thuyết pháp cho mẹ mình nghe, như vậy. Thì người em ruột của thánh mẫu là bà Ba Xà Ba Đề cũng là nằm cữ luôn. Vài hôm sau cũng hạ sinh hoàng tử Nan Đà. Thì do là thương cháu của mình nó mất mẹ, cho nên bà mới giao đứa con ruột của mình là Nan Đà cho người nhũ mẫu trông coi, còn bà trực tiếp cho Thái tử Sĩ Đạt Đa bú mớm, chăm sóc như một người mẹ ruột. Cho nên cái ân nghĩa của bà Ba Xà Ba Đề, Ba Xà Ba Đề đối với Đức Phật chúng ta rất là lớn. Sau này mà khi bà muốn đi xuất gia, Đức Phật cũng từ chối mấy lần vì có những lý do tế nhị. Thì Thái tử của chúng ta vậy, khi mà được tiên A Tư Đà và 7 vị đạo sĩ tiên đoán thì nhìn thấy nơi ngài có thế này:

[14:41]là 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp. Cái tướng mà trên thế gian không có người thứ hai có được, đó là cái tướng của một vị bá chủ thế giới, mà kinh hồi xưa gọi là Chuyển Luân Thánh Vương, hoặc là một vị Phật. Thì Thái tử có đủ 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp. Trong kinh ghi chi ly từng điểm từng điểm một như vậy. 32 tướng tốt thì nhiều, nhưng mà 80 vẻ đẹp là một điều rất hay. Mà muốn biết 80 vẻ đẹp như thế nào, thì chúng ta phải hiểu cái ngược lại của nó là 80 vẻ xấu. Mà muốn biết 80 vẻ xấu như thế nào, thì xin quý Phật tử hãy nhìn thẳng lên pháp tòa. Thì chúng ta suy luận ngược lại thì chúng ta sẽ biết như vậy.

[15:29]Thì những cái điều mà ngài được hạ sinh trong một cái cung điện vàng son, ngài sống một cuộc đời hết sức sung sướng, được mọi người thương yêu chìu chuộng, được dạy dỗ mọi điều đặc biệt, đó là cái nhân lành của ngài từ những đời trước để chuẩn bị cho một cái số phận của một con người hết sức phi thường của nhân loại. Mà đó là cái nhân. Tuy nhiên là đến khi lớn lên mà ngài xuất gia thì ngài lại có một cái nỗ lực không có gì so sánh được. Ở đây là khi ngài lớn lên á, mặc dù vừa thương yêu vừa chìu chuộng, nhưng mà vua Tịnh Phạn cũng nỗ lực mời những vị giáo sư giỏi về dạy ngài trong hoàng cung, thì ngài thông minh ghê gớm lắm.

[16:15]Nói mà học về văn chương, triết học, đạo lý, lý luận, tiên tri, tướng số, mọi điều thì ngài đều giỏi hơn những vị thầy của mình hết. Ngài 7 8 tuổi, mười mấy tuổi là khi mà ngài học hết nghề của mấy thầy hỏi lại mấy ông thầy bí. Học về võ cũng vậy, ngài có một cái năng lực tiềm ẩn phi thường, đánh không ai đánh lại dù lúc đó ngài còn nhỏ. Nên ngài đặc biệt trên nhiều phương diện như vậy. Thì tất cả những điều đó, cái trí thông minh phi thường, cái năng lực tiềm ẩn phi thường là để chuẩn bị cho một số phận phi thường về sau mà các vị đạo sĩ không ngờ là đã tiên đoán đúng như vậy. Thật ra đó, chúng ta đừng có tưởng là Đức Phật chỉ được

[16:56]chìu chuộng tới ngày ngài đi xuất gia, không có đâu. Ngài xông xáo, ngài tìm hiểu mọi điều hết, ngài gặp gỡ nhân tình, ngài gặp gỡ các vị đạo sĩ lang thang để mà lý luận đạo lý, rồi những lúc mà vua cha họp quần thần để bàn việc nước thì vua cha đều cho ngài đứng gần ngồi gần để dự nghe và đôi khi góp ý kiến, và đôi khi vua cha Tịnh Phạn cũng hỏi ý ngài những vấn đề quốc sự và ngài đã có những cái ý kiến đóng góp rất là xuất sắc, giúp cho cái tình hình của đất nước được ổn định tốt đẹp, không có bị loạn lạc. Đó là lý do mà về sau này, khi ngài trở thành Đức Phật, ngài đi giáo hóa khắp nơi, ngài hiểu rất rõ mọi điều trên thế gian này.

[17:38]Từ những vấn đề của con người, những vấn đề của y học, những vấn đề của thuốc, những vấn đề của chính sự, vấn đề của kinh tế, vấn đề của tâm lý ngài biết hết. Khi mà đọc lại những tạng kinh của ngài để lại, chúng ta bắt gặp những điều đó. Kiến thức của ngài thật là siêu tuyệt, bởi vì ngài đã được chuẩn bị trong cái thời gian ở hoàng cung như vậy. Mà đến khi mà ngài xuất gia á thì chúng ta sẽ thấy là một cái con người đặc biệt là sống trong cảnh sung sướng, năm 16 tuổi ngài đã lấy vợ rồi. Ngài đã lấy công nương Da Du Đà La mà ngài sống một đời sống thanh khiết, hai người sống với nhau như đôi bạn,

[18:15]mặc dù là cái tình yêu từ nhiều kiếp cũng thấm thía. Công nương Da Du Đà La thật là một người phụ nữ tuyệt vời. Mà lúc đó cái tâm hồn của Thái tử là chỉ bận tâm đi tìm cái triết lý đưa đến sự tuyệt đối. Bây giờ thì chúng ta thử nhìn trong cuộc đời, chúng ta thấy là mọi người cứ sinh ra, lớn lên, làm ăn tất bật, vất vả, dựng vợ gả chồng rồi tới già, tàn lụi rồi chết, rồi cứ tái sinh như vậy hoài. Nếu mà chúng ta có một chút suy nghĩ, chúng ta sẽ thấy cái cuộc sống này thật là mệt mỏi, chứ không phải là một cái gì đáng yêu thích lắm. Đức Phật cũng vậy, ngài nói con người cứ như vậy rồi vòng đời sẽ đi về đâu?

[18:54]Cái tột đỉnh của sự dừng lại mọi đau khổ là đâu? Ngài khát khao ngài đi tìm điều đó, nên ngài hay trầm tư và làm cho vua cha rất là ái ngại, vì nhớ lại những cái lời tiên tri của các vị đạo sĩ, sợ rồi con của mình, một con người mà mình đặt rất nhiều hy vọng, là một con người phi thường trên mọi lĩnh vực, ngày nào đó sẽ từ bỏ hoàng cung này sống một đời sa môn lang thang vô định để đi tìm cái chân lý gì đó. Thì vua cha rất là lo, nhưng mà chuyện gì nó tới rồi nó cũng phải tới. Năm 29 tuổi, cái nhân duyên lúc đó đã đến, thời cơ đã đến và ngài đã dứt áo ra đi, khi mà đã để lại cho vua cha một cái giọt máu là La Hầu La.

[19:37]Khi mà Ngài đi tu như vậy thì trước hết là Ngài rất khiêm tốn, Ngài đi tìm tới những vị đạo sĩ nổi tiếng để học. Những vị đó là những vị mà tu nhập được Định và đắc được thần thông. Như là Uất Đầu Lam Phất, hay là Ca La Ra là những vị đó có thể bay được hết á. Những vị đó cái sức đắc cao như vậy và nổi tiếng là danh sư của thời đại. Thì Thái tử của chúng ta đều đến tìm học. Thì đến vị đó không bao lâu, Ngài cũng chứng được bằng như những vị thầy của mình. Nghĩa là cũng nhập được định sâu và cũng có thần thông y như vậy. Tuy nhiên, với cái trí tuệ phi thường của một vị Phật tương lai, Ngài biết cái chỗ chứng này chưa phải giải thoát.

[20:17]Vẫn còn cái gì đó còn cái gì đó giới hạn, chưa phải là vượt qua được ranh giới cuối cùng. Nên Ngài hỏi các vị, các vị không trả lời được và Đức Phật bỏ đi. Ngài tu khổ hạnh. Tự tìm con đường đi giải thoát đầu tiên là Ngài thực hiện khổ hạnh. Ngài thực hiện cái khổ hạnh mà trên thế gian này chưa ai làm được. Suốt nhiều năm trời, trong kinh ghi sáu năm, sự thật không tới sáu năm. Ngài ăn rất ít, thở rất ít. Là râu ria ra xồm xoàm rồi rụng lông rụng tóc hết vì Ngài không chịu ăn uống. Ngài tự đày đọa cơ thể của mình cho đến sức tàn lực kiệt. Lúc đó mà Ngài mới suy nghĩ thế này: "Trong tất cả những kinh điển từ xưa để lại bây giờ,

[20:55]chưa có một người nào thực hiện được cái khổ hạnh bằng như ta. Ta đã thực hiện tới mức này mà ta vẫn chưa có đắc đạo thì như vậy có nghĩa là con đường khổ hạnh không phải là con đường đúng để đi tìm sự giác ngộ, giải thoát." Nghĩ như vậy cho nên Ngài quyết định là ăn uống trở lại cho có sức khỏe, tìm con đường khác. Thật ra lúc đó đó, khi mà Ngài đã bỏ đi xuất gia thì vua cha mới sai năm người trong hoàng tộc phải đi tu theo Ngài. Đi tu theo để hầu hạ, bảo vệ Ngài. Tức là đi tu mà vẫn có người hầu. Và năm cái người kia vừa cũng thích tu, nhưng mà vừa là bị vua Tịnh Phạn ra lệnh bắt buộc là phải đi theo hầu Thái tử, phải xuất gia luôn.

[21:38]Năm người đó vừa vâng lời của vua mà vừa đạt được cái hạnh nguyện của mình là đi tu, cho nên đi theo Đức Phật hầu như vậy, năm anh em Kiều Trần Như đó, trong kinh để lại. Đến khi mà thấy Đức Phật ăn uống trở lại, nhất là nhận cái bát sữa từ nơi một người thiếu nữ thì họ nghĩ rằng là: "À! Sa môn Cồ Đàm đã từ bỏ con đường khổ hạnh cao thượng, muốn quay về cuộc đời sống hưởng thụ." Và năm vị đó bỏ, bỏ Thái tử ra đi, bỏ Đức Phật ra đi. Thì cái điểm này nó có điểm nhỏ cũng vui là không hiểu được cái suy nghĩ của Đức Phật nghĩ như thế nào, không hiểu được cái trí tuệ Đức Phật đã nghĩ như thế nào, là Ngài đã đánh giá ra sao,

[22:21]Ngài nhận định ra sao, mà đứng bên ngoài chỉ nhìn thấy thôi đã vội phê bình. Là thấy Ngài ăn lại thì cho rằng Ngài chịu hết nổi, thích hưởng thụ. Thấy Ngài tiếp xúc với một người thiếu nữ thì cho rằng Ngài đã ô nhiễm, lật đật bỏ Ngài đi. Và cái bệnh mà hễ nhìn thấy bên ngoài rồi đánh giá liền như vậy, bây giờ mình có không? Có không? Có không? Thú thật trước khi trời sáng đi. Có hơi bị nhiều, mà nhiều hơn năm vị đó nữa, phải không? Nhiều hơn năm vị đó nữa. Ờ nên cái bệnh này là cái bệnh mà chúng ta cần phải sửa. Năm vị đó sau này hối hận vì những cái ý nghĩ đó, sau này họ có sửa, thì vì chúng ta nên sửa luôn giờ nha.

[23:07]Từ hôm nay mình sửa luôn, nên đừng bao giờ chỉ nghe nói hoặc chỉ nhìn thấy mà đánh giá liền, đánh giá phê bình người khác liền. Bởi vì cái nghe là một cái không đúng, mà cái thấy cũng trật luôn. Nên có một vị triết gia nói thế này: "Hãy tin phân nửa những gì ông thấy và đừng bao giờ tin những gì ông nghe." Đó là cái chúng ta dè dặt rút kinh nghiệm. Thì sau khi năm vị đó bỏ đi rồi thì Đức Phật của chúng ta mới một mình quyết liệt mà ngồi thiền dưới cội cây bồ đề. Câu chuyện kể rằng là Ngài thả cái bình bát theo dòng sông Ni Liên Thiền và Ngài lập câu thề: "Nếu mà Ngài sẽ đắc đạo thì bình bát này trôi ngược

[23:50]dòng." Mà đúng là bình bát trôi ngược dòng luôn. Và Ngài mới đến cội bồ đề, Ngài bắt chân ngồi nhập định. Ngài đi lại con đường thiền ngày xưa Ngài đã đi mà lúc trước Ngài đã bỏ để tu khổ hạnh, bây giờ quay trở lại con đường thiền định đó. Ngài nhập định vào sâu dần sâu dần suốt 49 ngày. Và trong lúc mà Ngài nhập thiền định như vậy, thì chúng ta nghe kể là Ma Vương quấy phá. Cái ý nghĩa mà Ma Vương quấy phá hay lắm á. Ví dụ mình đang giảng mà có người nói chuyện, không biết phải ma quấy phá không biết. Thật ra Ma Vương quấy phá đó, nó là những thử thách cuối cùng để chúng ta chiến thắng nơi chính mình.

[24:29]Mình muốn thắng nội tâm mình á mình phải nhờ một ngoại cảnh. Là ví dụ bây giờ trong lòng mình có cái nóng tánh, trong lòng mình có cái nóng tánh, mà mình muốn diệt cái nóng tánh đó thì mình phải nhờ một ngoại cảnh, là nhờ có người nào đó chửi mắng, cự nự, khinh mình, lườm mình, liếc mình. Thì lúc đó mình coi coi cái nóng nó khởi lên để mình diệt nó, chứ còn nếu không có một ngoại cảnh mình không diệt được cái xấu trong tâm mình. Và Đức Phật của chúng ta cũng đi theo quy luật đó, là trước khi Ngài chấm dứt hết tất cả những vô minh từ vô lượng kiếp, Ngài cần có một ngoại cảnh thử thách cuối cùng để Ngài vượt qua luôn, Ngài mới đắc đạo.

[25:10]Đó là nguyên tắc, nguyên tắc như vậy. Đức Phật chúng ta cũng vậy, mà chúng ta bây giờ cũng vậy. Nên trong sự tu hành, nếu lúc nào đó mà chúng ta thấy ai rớt xuống giữa đường trước mặt mình năm cây vàng thì cái đó là để làm gì? Để làm gì? Để cho chúng ta để chúng ta lượm không? Để cho chúng ta tiêu diệt cái lòng tham của mình, nhớ nha. Như mai mốt mà ai rớt xấp tiền trước mặt thì phải nhớ ngày hôm nay chúng ta nói chuyện với nhau là cái xấp tiền của ai rớt trước mặt mình là dùng để cho mình tiêu diệt lòng tham, chứ không phải để cho mình lượm xài xài đỡ. Nhớ như vậy. Hoặc là có ai mà chửi mình thì đó là để cho mình để cho mình chi?

[25:57]Không phải để cho mình chửi lại, mà để cho mình tiêu diệt cái tâm sân nơi chính mình. Nhớ như vậy. Thì Đức Phật của chúng ta như vậy. Và cái sự nỗ lực phi thường của Đức Phật cho đến ngày nay chưa có người thứ hai làm được. Và điều này làm cho chúng ta hiểu thế này, là để cho một người thành tựu được cái thân phận, cái vận mệnh, cái định mệnh lớn lao thì cần hai điều. Điều thứ nhất á là cái nhân lành từ nhiều đời trước, mà khi người đó xuất hiện ra đời này thì người đó có nhiều cái điềm tốt hiện ra, người đó có nhiều cái tướng quý hiện ra nơi cái thân người của họ, là cái thứ nhất. Và cái thứ hai, yếu tố thứ hai nữa là ngay chính cuộc đời này họ phải nỗ

[26:41]lực phi thường, chứ không phải là tự nhiên mà mọi cái tốt đẹp sẽ đến. Ví dụ như bây giờ có một người nào đó, chúng ta nhìn thấy họ sang trọng, bệ vệ, đẹp, tướng người đẹp, sang trọng, thì chúng ta biết rằng người này là có cái nhân lành đời trước, có cái thiện căn đời trước, có từng làm phước đời trước, nên đời này họ được cái tướng quý, sang, đẹp, ai nhìn vô cũng nể, cũng mến, đó. Nhưng mà nếu người đó không có cái nỗ lực phi thường ở kiếp này, không có ráng sức kiếp này, thì họ cũng chỉ hưởng phước tàn tàn rồi sống đời tầm thường riết rồi hết à. Nhưng mà nếu người đó biết chịu khó, chịu cực, vất vả, tu dưỡng bản thân, làm những điều phước, hoặc là ráng lo làm

[27:24]ăn thì thành quả lớn lao mới đến với người đó. Và đây chúng ta thấy thế này, cái nỗ lực là cái duyên của hiện tại, còn cái cái tướng tốt, nó là cái điềm báo cái nhân lành của quá khứ. Và phải có cả hai điều này, chúng ta mới có cái thành công trong cái kiếp này, đó là nguyên tắc như vậy.

[27:49]Đạo Phật của chúng ta là như vậy. Đức Phật như vậy, Đạo Phật cũng vậy, không ai tự nhiên đắc đạo. Ví dụ như có một người sinh ra đời này cái số người đó sẽ đắc đạo làm thánh, khi sinh ra có hào quang ở trong nhà, có hương thơm ngát lên trong nhà, thì người đó có cái nhân lành đời trước. Nhưng mà chúng ta theo dõi cuộc đời của vị đó rồi sẽ thấy vị đó cũng sẽ tu hành rất là vất vả. Giống như là Lục Tổ Huệ Năng vậy. Khi Ngài sinh ra á, có hào quang sáng trong nhà, lớn lên vài tuổi cha mất, thế là Ngài phải cực khổ đi làm lụng nuôi mẹ. Và đến khi mà từ bỏ mẹ, lặn lội đi về Hoàng Mai để học đạo, thì vô chùa làm công quả giã gạo.

[28:27]Mà Ngài lúc đó Ngài còn nhỏ, Ngài trẻ và Ngài gầy thì cái cối giã gạo nó nặng quá, Ngài không thể nào mà nhấc nổi, Ngài phải đeo một cục đá trên lưng để mỗi khi mà dậm cái chày đó, nó đủ sức để mà nó đánh vào cái cối. Ngài cực như vậy. Và đến khi mà được Tổ truyền y bát rồi, phải trốn chui trốn nhủi suốt mười lăm năm trong rừng. Trước khi mới bước ra hành đạo, thì chúng ta thấy những vĩ nhân như vậy, lúc Ngài sinh có điềm lành, nhưng mà suốt cuộc đời cũng phải rất là vất vả chứ không phải là dễ. Bây giờ chúng ta xét thế này, trường hợp như có nhân mà không có duyên, nghĩa là người đó sinh ra có điềm lành mà

[29:03]cuộc đời của mình không có nỗ lực thì cũng không đắc đạo được. Rồi hoặc là trường hợp có duyên mà không có nhân, nghĩa là mình tu hành rất là cực khổ, rất là nỗ lực, nhưng mà không có điềm lành, lúc sinh ra không có điềm lành, cái nhân lành đời trước không có, thì cũng không đắc đạo. Đây là điều chúng ta nghiền ngẫm chút. Có những người tinh tấn vô cùng, chịu khó, chịu cực để tu tập, nhưng mà tới chết cũng không có kết quả gì hết. Là lý do là có duyên mà không có nhân. Nhưng mà sự thật là khi chúng ta nỗ lực cực khổ như vậy á, mà không có đắc đạo đời này á thì đời sau đắc đạo. Đó là cái nhân để cho đời sau.

[29:41]Chứ không phải là mọi cái hiện ra liền. Rồi trường hợp tệ nhất là không nhân không duyên, là đời trước không có phước, mà kiếp này cũng không có chịu tu hành, thì đời người này bỏ đi, khi chết sẽ sinh về đọa xứ thôi. Thực sự thế này, là nếu mà nói là đời trước không có nhân á, cũng không hẳn đâu. Là vì chúng ta chắc ít nhiều chúng ta cũng đều có cái phước đời trước. Nhưng mà nếu mà đời trước chúng ta có phước nhiều á, đời này mình tu dễ đắc đạo một chút. Chớ còn nếu mà đời trước ít phước thì mình tu hơi cực. Chớ nếu nói là hoàn toàn không có nhân thì không phải. Tất cả chúng ta ngồi đây cũng vậy.

[30:21]Là nếu không có cái thiện căn đời trước thì chúng ta đã không có đến chùa để tu hành, để nghe giảng pháp đâu. Tuy nhiên là cái nhân không phải nhiều. Do đó, chúng ta biết chắc rằng đời này mình phải tu vất vả rất nhiều, chứ không phải là tu dễ dàng. Mà nếu mà mình không chịu tu siêng năng vất vả, thì không có chuyện gì xảy ra trong tâm mình hết. Mình không chuyển hóa được tâm mình, không chuyển hóa được tâm mình và không để dành được cái nhân lớn cho đời sau. Thì chuyện thế gian nó cũng giống như chuyện tu vậy đó. Chuyện thế gian thế này, ví dụ như một người mà chúng ta nhìn vào người đó, thấy người đó dung mạo đẹp

[30:59]đẽ, sang trọng quý phái, rồi người đó biết làm ăn, Cực khổ, tần tảo thì sau này họ thành những người giàu sang lớn. Đó là vừa có nhân vừa có duyên, mà chúng ta cũng bắt gặp những người như vậy trong cuộc đời này nhiều lắm. Như chúng tôi có biết vậy, một cái ông chủ, một ông chủ bây giờ thành công, giàu sang, nổi tiếng lớn. Tướng ông rất là tốt, tướng rất là tốt, nhưng mà bắt đầu sự nghiệp của mình bằng cách là rang những cái chảo đậu phộng. Cái là cởi trần, mặc quần đùi mà cầm những cái giá để mà rang những cái rá đậu phộng đầu tiên. Rồi đem ra chợ bán, khởi đầu sự nghiệp mình bằng như vậy. Mà bây giờ thì cơ ngơi, nhà cửa,

[31:41]xe cộ, hãng xưởng, hàng xuất đi cả thế giới, giàu sang vô cùng. Thì người đó chúng ta thấy cái này là vừa có cái tướng tốt, mà vừa có cái chịu cực, là vừa có nhân vừa có duyên. Còn trường hợp một người có nhân mà không có duyên á, là ví dụ họ sinh ra được trong gia đình giàu, tướng mạo tốt, ai nhìn cũng mến, nhưng mà họ lười. Thấy như vậy rồi ỷ y, không chịu phấn đấu, không chịu làm lụng, thì khi hưởng hết cái phước nào người ta chiều chuộng, cung cấp, rồi lui lại một đời sống tầm thường, không có gì đặc biệt cả. Đó. Còn trường hợp một người mà có duyên mà không có nhân, nghĩa là đời trước mình không có phước lắm,

[32:19]đời này kiếp này sinh ra cái gương mặt không đẹp lắm, không sang lắm, mặc dù mình chịu cực, chịu khó làm ăn, nhưng mà rồi vẫn không giàu. Đây là trường hợp rất nhiều, phải không? Chúng ta thấy trên đời này có nhiều người siêng năng làm ăn lắm, nhưng mà không giàu, họ vẫn đủ ăn đủ sống vậy thôi. Chứ mà nếu người đó mà không chịu khó nữa thì thua luôn. Đó là trường hợp là có duyên mà không có nhân. Bây giờ trường hợp mà cái người không nhân không duyên thì sao? Không nhân không duyên, tức là đời trước không gieo nhân lành, đời này sinh ra cái tướng không đẹp, mà không chịu khó làm ăn nữa, thì cái số phận người đó sẽ ra sao?

[33:01]Ai biết? Giờ chúng tôi hỏi lại: ví dụ một cái người mà đời trước không có nhân lành ha, là không có làm phước gì hết, cho nên sinh ra ở kiếp này gương mặt không đẹp, gương mặt không đẹp, không gì đặc biệt, rồi lớn lên không chịu làm ăn, tức là không nhân không duyên, đời trước không phước, đời này không nỗ lực, thì số phận người đó sẽ ra sao? Ai biết? Thì người đó sẽ làm gì để sống? Người đó sẽ làm gì để sống? Đi ăn xin? Không không, đừng nói người ta, ăn xin là một cái nghề thu nhập rất cao. Đừng nói ăn xin. Báo đăng á, ăn xin là một nghề thu nhập rất cao. Ví dụ có người lao động chân chính một ngày được năm mươi

[33:42]ngàn, cái người ăn xin có ngày được mấy trăm ngàn. Báo kể lại, ở ngoài Bắc có cái làng họ chuyên sống bằng nghề ăn xin. Thế sau khi mà xong vụ mùa cái kéo nhau đi tràn khắp cả nước đi xin, rồi sau đó đem tiền về cất nhà cất cửa. Nên nghề đó thu nhập rất là cao. Chúng tôi nói như vậy không có ý khuyến khích các Phật tử đi làm nghề ăn xin nha. Không có nói, xin đính chính rõ ràng. Chớ đừng có nói là ngày mai đi băng cái chân lết lết rồi cầm cái nón đi, nói tại ông đó giảng ông nói vậy, không phải. Là chỉ biết thế này, ví dụ một người, một người mà đời trước không phước, đời này không nỗ lực làm lụng, thì thật là thê thảm, thê thảm.

[34:21]Thê thảm là người ta không coi mình ra cái gì nữa. Đó là không nhân không duyên. Bây giờ chúng ta chỉ có hai cái lựa chọn: một á là đời trước mình có nhân lành, có phước, đời này sinh ra tướng mạo đẹp, mình nỗ lực thêm nữa thì mình thành công lớn. Hoặc là đời trước mình không có nhân lành, đời này sinh ra không có tướng mạo đẹp, không có may mắn, nhưng mình cũng phải nỗ lực để giữ gìn giá trị của một con người đủ sống đàng hoàng, chứ không có sống nhàn nhàn, phải không? Đó là cái người đời làm ăn như vậy. Thì chúng ta quay ngược trở lại trong sự tu hành của chúng ta cũng như thế. Hoặc là đời trước chúng ta có nhân lành,

[34:59]đời này chúng ta nỗ lực tu hành thì chúng ta rất có hy vọng đắc đạo. Hoặc là đời trước chúng ta không có nhân lành nhiều, nhưng mà đời này cũng phải nỗ lực tu hành để gieo cái nhân lành cho cuối đời và cho đời sau. Đó là cái ý nghĩa của nhân và duyên trong cuộc đời của một con người. Chúng ta kể chuyện Phật để chúng ta hiểu cái nhân và duyên của Đức Phật. Cái nhân là nhân lành đời trước và cái duyên là sự nỗ lực của kiếp này, Đức Phật đều có cả hai. Chúng ta phải hiểu cái nhân duyên của Ngài rồi áp dụng lại trong cuộc đời của mình. Đời trước mình không biết nhân nhiều nhân ít, nhưng đời này phải nỗ lực và nỗ lực phi thường như vậy.

[35:39]Bây giờ nói về cái sự nỗ lực. Cái gì là nỗ lực trong hiện tại để chúng ta có thể tăng trưởng được cái công đức của mình? Thì đây là một điều: thứ nhất á, một cái điều rất là căn bản là tìm lỗi để sửa. Cái điều này rất là lạ nha. Ngày xưa vậy, khi chúng tôi đọc cái kinh Phật, đọc tới cái đoạn mà Phật nói điều này chúng tôi không hiểu hết nữa. Phật có nói một câu thế này: là khi tâm mình có tham thì biết tâm mình có tham; khi tâm mình có sân thì biết tâm mình có sân. Phật nói đơn giản thôi, nhưng mà mình phải hiểu là nó đại diện cho vô số lỗi lầm trong tâm. Chúng tôi đọc tới câu đó rồi chúng tôi thấy: ủa, có gì đâu hay?

[36:22]Mà kinh Nguyên thủy đó, kinh chính Đức Phật dạy á. Chúng tôi nghĩ: ủa, sao này cái đoạn này Phật dạy có vẻ tầm thường? Nhưng mà đến khi cuộc đời tu tập nhiều năm nhiều tháng dần dần dần dần rồi mới biết được rằng cái điểm mà tâm mình có tham biết có tham, tâm mình có sân biết có sân là cái pháp môn tu tập cao nhất. Cao nhất. Nghe rất là lạ, hồi nào giờ mình cứ tưởng là vô số các pháp môn là cao nhất, không ngờ cái câu đó mới là cao nhất. Câu đó đem lại vô số những điều phước lành cho chúng ta. Cho nên vì vậy cái gọi là nỗ lực trong hiện tại, tức là nỗ lực tìm cái lỗi lầm còn lại trong tâm mình.

[37:01]Ở đây ai hết lỗi khỏi tìm giơ tay lên coi. Có ai không? Có ai không? Nếu mà có ai mà hết lỗi, hoàn toàn không còn lỗi để tìm nữa đó, mình có cái bàn ngồi đây ngồi trước, thỉnh lên đây ngồi. Khỏi mắc công ngồi bên kia, chứ ngồi vô đây nếu hoàn toàn mình không còn lỗi. Nhưng mà bởi vì biết chắc một điều là tất cả chúng ta đều đều có lỗi, phải không? Mình tin điều đó. Nên những người mà gật đầu đồng ý với chúng tôi rằng tất cả chúng ta ngồi đây trong tâm ai cũng còn có lỗi, đây là những người biết tu hết. Chúng tôi xin tán thán điều đó. Chỉ có người nào mà không gật đầu thì không nói, chứ nếu mà đồng ý với chúng tôi rằng tất cả chúng ta đều

[37:41]có lỗi thì đều là những người có trí tuệ, có thiện căn hết. Nhưng mà lỗi gì? Lỗi gì? Bây giờ thử mỗi người tự kể cái lỗi mình ra xem. Thấy không? Nhìn không ra. Bằng cái niềm tin thì mình tin chắc là chắc mình còn lỗi, tại nếu hết lỗi mình nhảy lên đây ngồi mất tiêu rồi, phải không? Nhưng mà tìm lỗi gì? Nói: ủa, đâu thấy mình lỗi gì đâu, mình tốt ghê ha. Hôm qua mình mới cho người kia một ký gạo, bữa nọ mình mới cho người nọ năm trăm, vân vân. Tìm thấy cũng tốt, đâu có thấy lỗi. Đó, đây chính là cái nhược điểm của chúng ta. Cái nhược điểm là không thấy được lỗi mình. Bây giờ chúng ta có một cái nỗ lực là quyết tâm tìm lỗi mình mỗi ngày.

[38:26]Ví dụ bây giờ chúng ta còn tham không? Còn không? Thấy không? Cái người thấy là người giỏi hơn chúng tôi á. Chúng tôi chúng tôi biết mình còn tham mà không thấy nó đâu hết trơn. Nên người mà thấy được tham là người giỏi hơn tôi á. Chúng ta còn sân không? Còn nổi nóng không? Có thấy không? Thôi cái này dễ thấy ha. Hôm qua nay thấy hoài, hồi nãy cũng mới thấy nữa. Đó, thì đó là những cái dễ thấy đó. Bây giờ có những cái vi tế hơn, ví dụ thấy người khác đẹp hơn mình, mình hơi khó chịu chút xíu, có thấy được không? Ví dụ đi ngang trong số những bạn ngồi chung mình, tự nhiên có một người bạn được người ngoài họ khen,

[39:05]mình ngồi đó người ta không khen, khó chịu không? Hơi khó chịu, mà mình không thấy, không mấy cái đó không thấy. Rồi ví dụ như là sáng hôm nay cái mình có thấy có hai mẹ con quần áo rách rưới dắt đi ngang qua nhà mình, mình trông thấy họ rách rưới, tồi tàn, nhìn vào biết rất là cực khổ, đi ngang qua cửa sổ và mình có nhìn ra thấy mà mình làm lơ, trong tâm mình lúc đó không có bận tâm suy nghĩ về người đó, không có để ý chuyện đó, thì cái tâm đó là tâm gì? Tâm đó tâm ác, thật sự là như vậy á. Là trước cảnh khổ người khác mà mình dửng dưng, mình có cái ác còn lại trong tâm chưa hết, chứ không phải ác là phải chửi ai, đánh ai, hại ai đâu.

[39:48]Chỉ thấy người khác khổ mà dửng dưng tức là ác. Mình có bị không? Có không? Có, đó những cái lỗi rất tế. Cho nên vì vậy mà việc tìm cái lỗi của mình á là một sự nỗ lực phi thường, tu hành đó, một sự tu hành phi thường, trước hết là như vậy. Nên cái người nào mà kể được nhiều lỗi của mình chừng nào thì người đó là đang tu tập đúng con đường của đạo Phật chừng nấy. Nhưng mà những cái lỗi vi tế lắm, vi tế lắm, không đơn giản. Ví dụ như bây giờ mình có người bạn họ thành công hơn mình, giàu hơn mình, khi gặp lại nhau thì người đó nhà cao cửa rộng, mình vẫn đi chiếc xe Dream Trung Quốc ví dụ vậy, còn người kia họ đi xe hơi, mà ngày xưa là bạn của nhau.

[40:34]Trong lòng mình vẫn có chút buồn buồn. Cái đó là cái gì? Mình không biết cái gì, nhưng có thể vẫn là một cái lỗi. Mà nếu lúc đó mình vui thì mới không phải là lỗi. Nhưng mà hiếm ai không bị buồn, phải không? Không bị buồn lắm. Nên nó có những điều từng chút từng chút. Hoặc là bây giờ ví dụ thế này, mình xem chương trình ca nhạc trên truyền hình, rồi mình thấy có cái cô ca sĩ, cô mặc đồ hở hang mà mình chợt động cái tâm muốn bắt chước cái bộ đồ đó, đó có lỗi không? Cũng là cái lỗi. Mà có không? Mình có bị cái đó không? Mấy bà già thì chắc không có nổi đâu ha. Mấy bà già mà có, té xỉu.

[41:16]Thì có những cái mà chúng ta đua đòi á, đua đòi theo hình thức cũng là một cái lỗi lầm, một cái chỗ khuyết điểm của nội tâm. Trong cuộc sống chúng ta vô số lỗi lầm, vô số lỗi lầm, nhưng mà vì chúng ta không tỉnh, không nhìn ra được. Nhưng bây giờ cái nỗ lực để tu hành trong hiện tại bước đầu là tìm ra được lỗi của tâm mình mà phải quyết tâm tìm cho ra, quyết tâm tìm cho ra. Là bây giờ mình không cần tìm nhiều, mỗi ngày mình tìm ra được một lỗi của mình thôi, không cần nhiều, được không? Mỗi ngày cái buổi chiều trước khi chúng ta ngủ, quý Phật tử thử làm này thử nha. Mỗi ngày trước khi chúng ta ngủ, nếu chúng ta có ngồi thiền thì

[41:56]tốt, nhưng mà nếu dù không ngồi thiền cũng phải tìm coi chúng ta còn một lỗi gì trong tâm, ngồi tìm một lỗi thôi rồi hãy ngủ. Mà xin báo điều này, nếu lúc đó đó quý Phật tử tìm được một lỗi của mình thì bảo đảm lát nằm xuống ngủ sẽ rất ngon. Bởi vì đó là sự tu tập chân chính, tìm được lỗi mình là một sự tu tập chân chính trong đạo Phật, thử đi. Rồi bây giờ trường hợp có cái ngày đó khi mình lễ Phật xong mình ngồi thiền, mình lên giường ngủ mình ngồi nghiệm lại coi mình còn lỗi gì trong tâm mà tìm không ra, thì đó nghĩa là gì? Nghĩa là sao? Nghĩa là đã hết lỗi rồi phải không? Phải không? Không, tức là còn phải không?

[42:44]Mà sao mình không thấy? Nghĩa là sao? Nghĩa là tại vì mình chưa thấy chứ không phải là đã hết lỗi, nhớ nha. Mỗi ngày chúng ta tìm một lỗi từ đây cho tới ngày mình chết, ví dụ như bây giờ mình sống thọ, mình không bị AIDS, không bị bệnh SARS, không bị bệnh hô hấp cấp gì đó ha, không bị viêm gan siêu vi B, không bị xe tông nửa chừng, không bị nghĩa là người yêu bỏ để phải tự tử, tức là mình loại trừ hết tất cả mọi nguyên nhân xấu, mình sẽ sống tới 85 tuổi ví dụ vậy, 85, chịu chưa? 85 chịu chưa?

[43:17]Nếu mà chưa thì cho 90 luôn, rồi. Và 1 năm chúng ta có 365 ngày ha, là từ đây cho tới năm mà chúng ta 90 tuổi là chúng ta được nhiều lần của 365 ngày, mỗi lần chúng ta tìm một lỗi thì tới khi chúng ta chết, chúng ta sẽ tiếp tục tìm được gần 1.000 lỗi, mấy ngàn lỗi nữa, tiếp tục như vậy và người đó công đức vô lượng cho kiếp sau. Không có cái cái việc tu hành chân chính nào, cao siêu nào, căn bản nào và sâu sắc nào bằng việc tìm được lỗi của tâm mình. Chúng tôi xin tuyên bố hùng hồn câu đó. Nếu mà người nào suốt một đời tìm lỗi mình mà không thấy tâm hồn mình an lạc, thanh thản, không thấy công đức tăng trưởng,

[44:01]không thấy Phật thương mình, thì tới Thiên Khánh này mắng vốn thầy trụ trì. Thầy trụ trì sẽ đền một chiếc xe Dream Trung Quốc. Đó, bảo đảm như vậy. Hoặc là không thì thầy thầy phó, thầy Minh Thiện cũng được. Nếu mà mình tìm lỗi mình nói là từ hôm Phật đản cho tới ngày nay là 1 tháng, đêm nào con cũng tìm thấy một lỗi nhưng mà tâm hồn con chưa bình an, xin thầy đưa con một chiếc xe Trung Quốc, thầy sẽ đưa liền, bảo đảm như vậy, nhưng đừng lên Núi Dinh nha, chỉ ở đây thôi.

[44:36]Chúng tôi nói câu này nghĩa là chúng tôi rất là bảo đảm. Vì chúng tôi rất là thương quý thầy ở đây á, cho nên sợ quý thầy phải đền xe, chứ tôi bảo đảm câu này là quý Phật tử tu thử một tuần đi. Lúc nào cũng xét lỗi mình, chúng ta sẽ thấy điều vi diệu xuất hiện. Bởi vì chúng ta làm đúng lời Phật dạy là tâm có tham biết tâm có tham, tâm có sân biết tâm có sân. Đó là Phật nói tổng quát, nhưng ứng dụng vào sự tu hành đi vào những điểm nhỏ nhỏ, nhỏ nhỏ rất là sâu sắc. Như nãy chúng ta nói đấy, từng chút thôi, cũng là những cái sâu sắc. Ví dụ thế này, rằng mình có một cái chai dầu tốt, mình hay bỏ theo túi mình mình xức, mình ngửi vậy đó, dễ thương.

[45:16]Thì đi giữa đường có người gấp gặp họ, họ bị bệnh á, họ mới mượn chai dầu, cái mình lấy chai dầu mình đưa họ. Khi mình cầm mình đưa họ trong đầu mình động tâm cái, sợ họ xài hết, sợ họ xài nhiều. Có không? Có không? Trúng tim đen không? Trúng chứ sao không, trúng vô cùng trúng. Thì đó, những cái lỗi còn sót lại trong tâm hồn chúng ta đấy, những cái chút chút này. Chừng nào mà mình đưa chai dầu cho người ta, mình cầu cho người ta xài hết cũng được, miễn người ta hết bệnh để người ta đi về tới nhà, người ta về tới nơi người ta thì tâm cái lỗi đó mới hết. Nhưng mà những cái vi tế nó nhúm rất rất bí mật trong tâm thấy không?

[45:54]Rất rất lẹ, mình không tinh ý không thấy được. Mà khổ một cái là muốn tu theo Phật thì phải nhìn cho ra những cái nhược điểm đó, những cái nhược điểm đó. Hoặc là ví dụ hoặc là ví dụ là

[46:09]mình là đệ tử mà mình giận thầy. Có không? Có bao giờ mình giận thầy mình không? Đó là mình phàm phu mình tu á, bây giờ lỡ có vị thánh đắc đạo thì các vị thánh có tìm lỗi mình không? Có không? Có. Có, nhưng mà các vị tìm lỗi siêu hơn mình. Mình á mình tìm lỗi trong cái tâm hiện tại, ví dụ như giờ mình sống mình va chạm qua đi, mình phát hiện, à mình còn nóng nà, mình còn giận, mình còn ích kỷ, mình còn tiếc của, mình còn ganh tị là do đụng chạm trong cuộc sống là mình mới thấy. Còn các vị thánh thì thì không phải thấy, mà các vị thánh thấy ngược lại mấy mươi kiếp trước luôn. Nên các ngài sám hối sâu sắc lắm.

[46:46]Thí dụ bây giờ là thấy các ngài đang ở ẩn tu bình thường, nhưng mà các ngài nhớ lại kiếp trước là trong năm kiếp trước có một lần đó va chạm, mình đã đánh một người kia một bạt tai hoặc là đã ngược đãi cái người nọ trong một tháng, các ngài nhớ được cho nên các ngài đang sống bình an, tự tại, kiếp này tâm thanh thản, đắc đạo nhưng mà vẫn sám hối những cái lỗi ngày xưa chứ không phải không. Tức là vẫn tìm thấy lỗi, mà thấy lỗi của ngược lại nhiều kiếp trước, bởi vì các ngài có thần thông, có phép. Còn chúng ta không có thần thông, không có phép thì chúng ta chỉ tìm cái lỗi trong hiện tại, mà người nào tìm được lỗi trong

[47:24]hiện tại tức là đó là người tu hành chân chính. Mặc dù chúng ta thua các vị thánh, còn các vị thánh thì các ngài tìm thấy lỗi và sám hối cái lỗi của năm kiếp, mười kiếp trước, ba bốn chục kiếp trước như vậy. Các ngài như vậy đó. Đó là nói cái lỗi, cho nên từ hôm nay để gọi là nỗ lực tu hành thì chúng ta hứa với nhau vậy, từ ngày hôm nay cho tới ngày mình mất, mà mình cũng cầu nguyện không mất vì bệnh SARS, không mất vì AIDS phải không? Mất một cách an ổn bình thường, là chúng ta mỗi ngày tìm lỗi ha, tìm cái lỗi của mình, được không? Được không? Bởi vì đó là cách tu cao nhất nha. Coi bình thường nhưng đó là cách tu cao nhất trong đạo Phật đó.

[48:06]Tin không? Nhiều người không tin. Không thật sự như vậy, chúng tôi biết mà, nhiều vị nào giờ còn ảnh hưởng ví dụ như khi mình nghĩ là à tôi tu theo pháp môn niệm Phật, có người kia nói tôi tu pháp môn Bát Nhã thấy gì cũng không, nghĩ rằng mấy cái đó mới cao, nhưng không ngờ không phải. Cái mà Phật nói đó, thấy được lỗi tâm mình, đó là pháp tu cao nhất. Quý Phật tử thử tu một tháng đi nha. Tu một tháng rồi lại đây tìm mấy thầy đây mà nói chuyện, đừng lên Núi Dinh nha. Đó là cái nỗ lực thứ nhất là tìm lỗi để sửa. Cái nỗ lực thứ hai là tìm phước để làm mỗi ngày. Chưa biết tu á thì thường thường chúng tôi khuyến khích mọi người á mỗi tháng làm một

[48:46]việc thiện, cái người biết tu hơi hơi rồi khuyến khích mỗi tuần làm một việc thiện, nhưng một người gọi là đã nỗ lực nỗ lực tu hành thì mỗi ngày phải làm một việc thiện. Còn cái người mà gọi là tinh tấn tu hành, chuyên chính tu hành, thì mỗi một lời nói là một việc thiện, mỗi một cái nhấc tay nhấc chân là một việc thiện. Quý Phật tử có tin có điều đó không? Tin là có những người mở miệng nói một lời là một việc thiện, đứng lên ngồi xuống thành một việc thiện, quý Phật tử có tin không? Tin sao không nói nghe? Tin nói vậy thôi chứ không biết là như thế nào. Chừng nào mình sống được như vậy mình sẽ thấy điều đó có thật.

[49:31]Chừng nào mà mình hết lòng sống vì con người, vì chúng sinh, vì Phật pháp, mình tu hành sâu sắc, mình sẽ nói mỗi một lời nói ra là một việc thiện. Mỗi một cái đứng lên ngồi xuống bước tới bước lui đều là những việc thiện hết. Đây là cái hạnh của Bồ Tát, ráng tu tới ngày đó đi là chúng ta sẽ thấy. Nhưng bây giờ thì chúng ta chưa đạt hẳn như vậy, chưa hiểu hết như vậy, thì chúng ta cứ nói với nhau rằng mỗi ngày làm một việc phước. Mà phải tìm được một việc phước để làm. Cái việc phước đó làm á hoặc á là mình giúp người ta một cách tự nguyện, hoặc là bằng lời nói mình khuyên người ta, hoặc là mình đem sang giúp người

[50:07]ta 10 ký gạo, hoặc là mình vác cuốc ra lấp lại cái hố ngoài đường đi. Tuyệt đối trước mặt nhà một người Phật tử không bao giờ được để con đường có ổ gà. Được không? Chắc nha. Đi ngang đường mà thấy ổ gà biết cái nhà đó không phải Phật tử. Hễ là một người Phật tử, tuyệt đối trước nhà mình không có ổ gà, được không? Ủa không ai được hết trơn vậy trời. Được không? Được nha, chứ đừng đợi nhà nước, đừng đợi ông tổ trưởng. Mà vì Phật, vì chúng sinh, vì ta là Phật tử, không bao giờ cho phép để trước nhà mình có một cái ổ gà, không bao giờ cho phép để trước nhà mình có cái miếng rác. Nhớ điều đó. Thì đó là mỗi ngày chúng ta cố gắng tìm việc phước để làm.

[50:50]Còn nếu chúng ta là người có việc làm trong cái hãng sở là hoặc là mình làm trong cơ quan nhà nước hoặc mình làm trong công ty tư nhân, thì cố gắng làm việc phước ngay trong công việc của mình. Tận tụy với công việc để giúp mọi người trong cái công việc. Ngày tám tiếng đồng hồ đó vẫn là một việc phước. Và có những khi ngày mình không tìm ra được việc phước nào làm thì đó là tại vì cái gì? Tại vì gì? Tại vì có phải là tại vì không còn chuyện gì để làm không? Phải không? Không, phải không? Chỉ tại vì mình không chịu cực, không ráng sức để tìm ra, phải nhớ như vậy.

[51:31]Một điều nữa, thứ ba nữa là trong sự nỗ lực nè, là chúng ta phải ráng lạy Phật, bởi vì lạy Phật là công đức căn bản nhất. Cái người mà lạy Phật nhiều á là tự nhiên tích thành một cái thiện căn rất lớn cho nhiều đời sau. Tự nhiên mọi cái nghiệp xưa mình được hóa giải lần lần, rồi mọi cái điều thuận tiện trong thân trong tâm mình dần dần xuất hiện. Việc tu hành sẽ dễ dàng, muốn làm phước tự nhiên có cơ hội để làm, muốn tu tập tự nhiên có cơ hội để tu. Cho nên lạy Phật là công đức căn bản nhất mà chúng ta không được bỏ qua. Dù chúng ta ở tại gia bận rộn nhiều, mỗi một ngày vẫn phải cố gắng sắp xếp để lạy Phật ít nhất 10 lạy, được không?

[52:10]Còn nếu rảnh nhiều hơn, và nếu rảnh mình đến chùa, mình gần chùa mình đến chùa mình lạy với quý thầy. Cái người mà lạy Phật nhiều đó, tướng từ từ đẹp ra. Hãy nhớ như vậy, chúng ta đừng nghĩ rằng chưng hoa Phật tướng đẹp nha, đừng nghĩ như vậy. Mà chính cái người lạy Phật nhiều, tướng mới đẹp. Hồi chúng tôi mới đi xuất gia á, chúng tôi cứ nghe quý thầy quý cô hay nói câu này: "Lễ Phật tướng hảo", tức là người lạy Phật nhiều thì tướng từ từ đẹp ra. Chúng tôi cũng không có biết lắm, chỉ nghe quý thầy quý cô rồi tin tại mình còn nhỏ đó, nghe quý thầy quý cô đi trước nói như vậy thì cũng ngoan ngoãn mà tin thôi.

[52:45]Nhưng sau này khi mà hiểu nhân quả rồi thì chúng tôi mới mới mới biết được đó là một điều rất chính xác. Người nào lạy Phật nhiều, tướng sẽ từ từ đẹp ra. Chỉ tiếc rằng khi chúng tôi biết được điều đó thì đã quá muộn, quá muộn. Lúc đó gương mặt mình đã quá tệ không còn làm gì được nữa, nên đành chịu. Nhưng mà trình bày lại cho quý Phật tử bắt chước như vậy.

[53:11]Rồi những cái thời khóa tu tập, nhất là vấn đề tọa thiền á, niệm Phật đừng bao giờ bỏ, dù có khi mình bận, mình mệt, mình bệnh, nhưng phải ráng một chút, chứ đừng bao giờ bỏ. Đó. Thì nếu mà một người nào mà có những cái nỗ lực được như vậy, thì đó là người tạo cái duyên trong hiện tại, chuẩn bị thiện căn cho đời sau. Và dấu hiệu của cái sự nỗ lực đó đó, nó sẽ hiện ngay trong kiếp này luôn. Có khi đời trước mình không có nhân lành, nhưng mà nếu đời này đó mình nỗ lực tìm lỗi mình nè, nỗ lực làm phước hằng ngày nè, nỗ lực lạy Phật hằng ngày nè, nỗ lực tọa thiền hằng ngày nè, thì ngay trong kiếp này những dấu hiệu tốt đẹp sẽ hiện ra dần dần.

[53:50]Bắt đầu từ 3 năm trở lên, 5 năm trở lên, chúng ta sẽ thấy cái dung mạo của mình bỗng nhiên dễ thương hơn. Đây là điều nói thật nha, nói thật. Hổng tin là quý Phật tử á đến đúng dùng một cái máy chụp hình chụp mặt mình, nhờ một ông thợ đó chụp, rồi cất cái hình đó cho kỹ, giấu cái máy đó luôn không cho ai rờ tới. Rồi mình ráng lạy Phật tu hành như vậy, tìm lỗi mình như vậy, làm phước như vậy, 5 năm sau lấy đúng cái máy đó ra nhờ ông thợ đó bấm một cái lại nữa, so sánh hai cái hình sẽ thấy khác hẳn liền. Sẽ thấy khác hẳn, sẽ thấy cái hình sau đẹp hơn cái hình trước. Đó. Chỉ sợ là cái người ví dụ như chưa được 5 năm lúc mình già quá mình

[54:28]chết thì thôi, thì mình lấy cái hình đó mình đem thờ cũng được. Còn cái người còn trẻ hãy tin rằng hai cái hình sẽ khác nhau hẳn khi mà chúng ta có tu hành. Còn nếu mà chúng ta duy trì cái sự tu hành như vậy suốt một đời của mình thì về già luôn luôn mình được sống trong an nhàn, trong hạnh phúc, trong vui vẻ, trong sự thương yêu quý mến của con cháu của mọi người và chết một cái chết an ổn. Chết một cái chết an ổn là như thế này: là nếu mà mình không bị bệnh á, nhiều khi mình chết như trong một giấc ngủ, hoặc mình gọi con cháu lại chia tay rồi mình ra đi. Còn nếu mình có cái bệnh nặng mình phải trả đó,

[55:03]thì mình sẽ trả, mình sẽ bị một cơn bệnh lúc gần chết, nhưng mà đến khi sắp chết thì lại ra đi rất là an ổn.

[55:14]Vì cái duyên như vậy cho nên chúng ta không có nói thêm được, nhưng mà chỉ nói thế này: là để mừng cái tuần lễ Phật đản này, mỗi người chúng ta phải ráng tu tập rất nhiều nha, để cúng dường lên Đức Phật. Chúng ta sẽ cúng dường Đức Phật ngoài cái dùng hoa, dùng đèn, dùng hương, mọi điều trang nghiêm để cúng Đức Phật trong tuần lễ Phật đản này, chúng ta còn dùng một điều để cúng dường Đức Phật nữa là sự tu hành của mình trong tuần lễ này phải nhiều hơn trong suốt một năm. Đồng ý không? Hôm nay đó chúng ta gặp nhau đây là chúng ta đang đón mừng cái tuần lễ Phật đản, mà đặc biệt là tại chùa Thiên Khánh này.

[55:51]Thì trong một tuần lễ này, chúng ta phải nỗ lực hơn suốt một năm. Trong một tuần lễ này chúng ta làm mọi điều lành để dâng lên cúng dường Đức Phật. Như chúng ta biết là chúng ta vẫn cúng dường Đức Phật hoa, hương, đèn, gì nữa? Kể ra xem. Nước, rồi gì nữa? Trái cây, rồi gì nữa? Gì nữa? Chè, rồi gì nữa? Xôi, rồi, gì nữa, nói tiếp. Rồi rồi. Mình, bánh, rồi. Cái người nào cái tánh mình làm sao đó mình sẽ nghĩ tới cái cúng Phật như vậy. Ví dụ như cái người mà đòi cúng hoa Phật thì mình biết người đó thích cái gì? Thích, thích đẹp. Cái người mà thích cúng đèn cho Phật, người đó thích cái gì? Thích trí tuệ.

[56:41]Cái người mà thích cúng nước cho Phật, người đó thích cái gì? Từ bi. Cái người mà thích cúng chè xôi cho Phật người đó thích cái gì? Hám ăn.

[56:54]Nhưng mà có một cái điều cúng dường mà chúng tôi rất là tâm đắc mà chúng tôi chưa có dịp để giảng, mỗi khi mà quý thầy tụng á, quý Phật tử nghe cái câu là: "Giới hương, định hương, dữ huệ hương, giải thoát, giải thoát tri kiến hương, quang minh vân đài biến pháp giới, cúng dường thập phương Tam Bảo tiền". Cái câu đầu là cái hương của giới luật, cái hương của giới hạnh, cái hương của thiền định, cái hương của trí tuệ, dùng cái hương đó để cúng Phật. Câu đó thật là đẹp, đẹp không thể tưởng được. Mà không có cái gì cúng Phật cảm động bằng, cao thượng bằng dùng cái giới hương, định hương, huệ hương để cúng Phật,

[57:31]tức là dùng cái sự tu hành của mình để cúng dường Đức Phật. Và trong cái tuần lễ này vậy, chúng ta sẽ thực hiện điều đó để cúng Phật. Ngoài cái mà cúng đèn, cúng hoa, cúng chè, cúng xôi để lát mình ăn ké nha, thì mình sẽ dùng cái sự tu hành của mình, tức là trong tuần lễ này mình sẽ lạy Phật nhiều hơn, đi chùa nhiều hơn, làm phước nhiều hơn trong suốt một năm, được không? Được. Ngoài ra, chúng ta còn phải biết là mình thăm hỏi bạn bè thân hữu nhiều hơn trong tuần lễ này. Trong tuần lễ này mình phải mặc đồ đẹp, mình tới thăm bà con, họ hàng hết. Mình sau khi đến thăm thì mình nói thế này: "Đây là nhân mùa Phật đản ha, à tôi đến thăm anh chị và

[58:12]chúc anh chị được mọi điều may mắn trong cuộc sống". Mình không thuyết pháp, không giảng đạo, mình chỉ nói một câu thôi: "Vì đây là tuần lễ Phật đản nên tôi đến thăm anh". Thì làm cho người ta bỗng nhiên người ta có cái nhớ về đạo, nhớ về Phật, mình cũng có công đức, được không? Thì trong tuần lễ này làm chuyện đó được không? Đó, cứ đi thăm hỏi nhau mà nhân danh Đức Phật, nhân danh tuần lễ Phật đản là thăm hỏi mọi người. Hoặc là chúng ta rảnh nữa đó, về đi thăm rồi không còn ai để thăm nữa, cái người mà quen thân mình đã thăm rồi, quen hơi hơi đã thăm rồi, mới gặp chào nhau mình cũng đã thăm rồi, giờ không còn ai cho mình thăm

[58:47]nữa thì bắt đầu ngồi ở nhà viết thiệp mình đi gửi đi khắp nơi, ở xa. Nói: "Nhân tuần lễ Phật đản ha, tôi gửi lời thăm anh chị, chúc anh chị và các cháu được nhiều điều tốt lành trong cuộc sống", vân vân. Đó, đó là những cái điều mà chúng ta cúng dường Đức Phật, được không? Được không? Tập làm cho quen nha. Năm này bắt đầu làm từ ngày mai làm, rồi những năm sau chúng ta phải làm như vậy là thăm hỏi, chúc tụng nhau, gửi thư gửi thiệp chúc tụng nhau nhân mùa Phật đản. Thấy không? Ví dụ nếu cái người nào mình có nhiều người quen thì mình có nhiều nơi để đi thăm, còn ví dụ mình ít quen ai, không còn ai chịu cho mình vô nhà thăm nữa thì mình ngồi ở nhà mình

[59:24]viết thư thăm người này người kia nha, để đón mừng tuần lễ Phật đản này, được không? Được nha. Thì thôi, nói được chứ cũng run. Hả? Chịu nghe nữa không? Chắc không? Chắc ha, thôi nói nữa.

[59:47]Rồi một điều nữa nè là mình phải trang hoàng nhà cửa lại cho đẹp như ngày Tết. Mình sẽ trang hoàng bàn thờ lại, trang hoàng nhà cửa lại, chưng hoa lại. Ngày bình thường á mình chỉ chưng hoa nơi bàn Phật mình thôi, nhưng mà trong cái tuần lễ Phật đản này á ngoài chưng hoa bàn Phật mình chưng hoa nơi bàn khách, chưng hoa nơi cửa, mình treo hoa cửa, làm cho cái nhà mình nhìn ra vô thấy đẹp hơn, được không? Để mình đón mừng Phật đản, làm được không? Hồi hôm qua giờ làm chưa? Chưa, phải không? Quên. Đó, đó là những cái. Rồi mình rảnh mình chạy tới chùa để mình phụ chùa trang hoàng chùa viện, được không?

[1:00:26]Mình gần chùa nào mình chạy tới chùa đó, mình phụ quý thầy quý cô. Tại nhiều khi quý thầy quý cô đó tu lâu quá cao siêu quý thầy quý cô cũng quên mất là trang trí sao cho đẹp, mình chạy vô mình mang hoa, mang đèn vào mình phụ trang trí để làm cho chùa sum huê, được không? Đó. Và cuối cùng chúng ta nhớ nha một điều thế này: là Đức Phật của chúng ta xuất hiện trên thế gian để làm cái gì? Để làm gì? Để Để đem lại cho thế giới này ánh sáng của chân lý, nhớ như vậy đó. Tuy nhiên, trong thời đại của Đức Phật, vì cái phương tiện hạn chế nên Ngài đã để lại cái ánh sáng chân lý đó nơi một cái vùng phía Bắc và

[1:01:07]phía Đông của Ấn Độ, chứ chưa có đem hết thế giới. Ngài gửi gắm lại cái tâm nguyện của Ngài cho những đệ tử Ngài về sau là chúng ta đó. Do đó, cũng nhân mùa Phật đản, chúng ta nguyện với lòng mình là nối tiếp cái chí nguyện của Phật. Chúng ta sẽ đem cái ánh sáng của Ngài, cái chân lý của Ngài đến cho khắp thế giới này. Chúng ta thực hiện cái hoài bão của Đức Phật, đó là một sự trả hiếu chân chính nhất, một sự đền ơn chân chính nhất của một người con đối với người cha của mình, của người đệ tử đối với vị thầy vĩ đại của mình. Và chúng ta nối tiếp Đức Phật, chúng ta cái ước mơ là xây dựng một thế giới đầy điều thiện và tình thương. Bởi vì sao?

[1:01:56]Bởi vì ước nguyện của Đức Phật, vô lượng kiếp của Đức Phật là làm sao cho tất cả chúng sinh vượt lên khỏi cái thân phận phàm phu tầm thường của mình để đạt được giác ngộ, giải thoát; để làm sao cho thế giới này sống với nhau đầy ắp thương yêu và trí tuệ. Thì chúng ta nối tiếp cái tâm nguyện của Ngài để làm cái điều đó. Trước mắt là chúng ta góp tay để xây dựng lại đạo Phật cho tốt đẹp hơn, là bằng cách là mỗi người chúng ta tâm nguyện mình sẽ là một cái sứ giả đem giáo pháp của Phật đến với tất cả mọi người. Chúng ta sẽ là một cái người sứ giả trung gian nối giữa Phật và chúng sinh, hoặc gần hơn, chúng ta là một người sứ giả trung gian để nối giữa quý thầy và những

[1:02:44]người chưa biết đạo, giữa quý thầy và những người mới biết đạo, vân vân. Nghĩa là chúng ta siêng năng cả một đời, tận tụy cả một đời để đem cái ánh sáng của chân lý, của luật nhân quả, của đạo lý từ bi đem đến cho tất cả mọi người trong cuộc sống này mà chúng ta có duyên gặp gỡ. Chúng ta nối tiếp cái tâm nguyện của Phật, như chúng ta đã nói, là xây dựng thế giới này thành một thế giới đầy ắp điều thiện và sự thương yêu. Mà tất cả những điều đó chúng ta không mong là có một ngày chúng ta sẽ hưởng lại cái phước cho mình. Chúng ta làm tất cả những điều đó để làm gì? Chỉ là để, chỉ để cúng dường lên Đức Phật, nhớ như vậy ha.

[1:03:31]Chúng ta vậy, chúng ta sẽ siêng năng làm rất nhiều điều thiện, chúng ta sẽ siêng năng nối tiếp cái tâm nguyện của Phật để xây dựng cái thế giới này sống với nhau trong thương yêu, trong trí tuệ. Và tất cả những cái công khó đó chỉ là dâng lên cúng dường Đức Phật, nhất là nhân mùa Phật đản này. Và cũng nhân mùa Phật đản này, chúng tôi chúc cho quý Phật tử hưởng một mùa Phật đản đầy an lành, hạnh phúc, vui vẻ, và suốt cuộc sống của mình sẽ làm được nhiều công đức, gặp được nhiều điều may mắn, nhiều niềm vui. Và chúng tôi cũng gửi đến gia đình quý Phật tử những lời chúc tốt lành về sức khỏe và hạnh phúc.

[1:04:10]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[1:04:15]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch Thượng tọa giảng sư, thật là hạnh phúc cho Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo tỉnh Long An chúng con, Ban Đại diện Phật giáo thị xã và trụ xứ chùa Thiên Khánh. Chúng con kính nghe: "Hạnh phúc thay! Đức Phật giáng sinh. Hạnh phúc thay! Giáo pháp cao minh. Hạnh phúc thay! Tăng-già hòa hợp. Hạnh phúc thay! Tứ chúng đồng tu." Chúng con rất vui mừng được Thượng tọa từ bi hoan hỷ quang lâm thương tưởng trụ xứ của chúng con nhân mùa Tuần lễ Phật đản. Quý Phật tử ở Tiền Giang, Gò Công Đông, Gò Công Tây, thị xã Tân An, Bến Lức, Tân Trụ, Châu Thành... Những Phật tử hiện diện ở đây có nhiều vị được ơn giáo dưỡng của Thượng

[1:05:11]tọa đã thành tựu công đức, niềm tin tăng trưởng và có lòng từ bi. Hôm nay, một lần nữa được Thượng tọa trong mùa Phật đản dạy cho chúng con nhân duyên và đã dạy cho chúng con mỗi ngày tìm lỗi của mình. Và hôm nay chúng con thay lời cho tất cả quý Phật tử xin tri ân, phụng hành những lời Thượng tọa đã dạy. A Di Đà Phật, xin cho một tràng pháo tay. Xin tất cả hồi hướng. Nguyện đem công

[1:05:45]đức này hướng về khắp tất cả,

[1:05:54]đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.

[1:06:07]Cảm ơn tất cả quý Phật tử.

[1:06:21]Rằm ngàn hoa tươi khoe đây, ngày trần gian chào đón Đức Phật Từ Tôn chúng ta. Ngàn ánh sáng bừng lên trong nắng mai huy hoàng. Màu ngàn hoa thắm tươi thắm hồng, tòa sen ngát trầm hương hoa lòng thành tâm chúng ta. Nhớ chớ quên ân Thầy cao đức từ bi. Đồng thanh chúng ta hát ca ngợi công đức Phật.

[1:06:55]Lời vang tháng ngày, tình chúng sanh hòa cùng, mong ngày mai sáng huy hoàng nơi trần ai. Nam mô Thích Ca Phật Đà! Nam mô Thích Ca Phật Đà! Thề noi theo vết Người, dầu nghìn muôn trắc trở. Nam mô Thích Ca Phật Đà! Hòa muôn tiếng kinh đây thành tâm nguyện cầu.

[1:07:28]Ngày rằm tháng tư năm xưa về đây, trời bình minh ngàn chim líu lo bờ cây. Ngày trần gian vui đón Đức Phật Từ Tôn, trong nắng mai huy hoàng ngày Đản sanh. Ngày rằm tháng tư chúng ta mừng vui, vừng hào quang bừng soi sáng nơi trần phương.

[1:07:54]Vùng trần gian u tối không còn đau thương, bao chúng sanh vui mừng ngày rằm tháng tư. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Phật Đà! Nam mô Bổn Sư Thích Ca Phật Đà! Hào quang lan sáng soi về muôn lối viễn khơi, ngàn trùng dương lướt trôi niềm tin khắp nơi. Nam mô chúng con kính xin lạy Ngài! Nam mô chúng con kính xin nguyện cầu! Cầu cho muôn chúng sanh đời thôi hết khổ đau, và từ đây sống trong ánh sáng đạo vàng. Rằm ngàn hoa tươi khoe đây, ngày trần gian chào đón Đức Phật Từ Tôn chúng ta.

[1:08:58]Ngàn ánh sáng bừng lên trong nắng mai huy hoàng. Màu ngàn hoa thắm tươi thắm hồng, tòa sen ngát trầm hương hoa lòng thành tâm chúng ta. Nhớ chớ quên ân Thầy cao đức từ bi. Đồng thanh chúng ta hát ca ngợi công đức Phật.

[1:09:23]Lời vang tháng ngày, tình chúng sanh hòa cùng, mong ngày mai sáng huy hoàng nơi trần ai. Nam mô Thích Ca Phật Đà! Nam mô Thích Ca Phật Đà! Thề noi theo vết Người, dầu nghìn muôn trắc trở. Nam mô Thích Ca Phật Đà! Hòa muôn tiếng kinh đây thành tâm nguyện cầu. Ngày rằm tháng tư năm xưa về đây, trời bình minh ngàn chim líu lo bờ cây.

[1:10:03]Ngày trần gian vui đón Đức Phật Từ Tôn, trong nắng mai huy hoàng ngày Đản sanh. Ngày rằm tháng tư chúng ta mừng vui, vừng hào quang bừng soi sáng nơi trần phương. Vùng trần gian u tối không còn đau thương, bao chúng sanh vui mừng ngày rằm tháng tư. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Phật Đà! Nam mô Bổn Sư Thích Ca Phật Đà! Hào quang lan sáng soi về muôn lối viễn khơi, ngàn trùng dương lướt trôi niềm tin khắp nơi. Nam mô chúng con kính xin lạy Ngài! Nam mô...

[1:16:13]Chiều ơi,

[1:16:17]lúc chiều về rợp bóng nương khoai, trâu bò về giục mõ xa xôi, ơi chiều.

[1:16:31]Chiều ơi,

[1:16:35]áo chàm về quẩy lúa trên vai, in hình vào sườn núi chơi vơi, ơi chiều.

[1:16:50]Chiều ơi,

[1:16:55]lúc chiều về là lúc yên vui, qua đường mòn ngửi lúa thơm hơi, ơi chiều.

[1:17:07]Chiều ơi,

[1:17:11]chiều ơi,

[1:17:16]chiều ơi.

[1:17:22]Thu về đồng lúa nương chiều, tay dân cày dừng giữa làn gió.

[1:17:33]Lúa ngát thơm trên những cánh nương, tiếng súng xa nghe lẫn oán thương, đây nhà nông phá rừng gầy luống.

[1:17:46]Mai về để lúa trên ngàn, ta nuôi người gìn giữ non nước.

[1:17:56]Lúc sức tôi chen với sức anh, lấy máu tô cho thắm núi xanh, đem mồ hôi tưới đồng lúa khoai. Chiều ơi,

[1:18:16]lúc chiều về mọc ánh trăng tơ, cho ngày mùa bài hát nên thơ, ơi chiều.

[1:18:31]Chiều ơi,

[1:18:36]mái nhà sàn thở khói âm u, cô nàng ngồi để suối tương tư, ơi chiều.

[1:18:52]Chiều ơi,

[1:18:57]biết chiều nào còn đứng trên nương, phố phường nhiều chiều vắng quê hương, ơi chiều.

[1:19:51]Chiều ơi,

[1:20:04]lúc chiều về rợp bóng nương khoai, trâu bò về giục mõ xa xôi, ơi chiều.

[1:20:17]Chiều ơi,

[1:20:22]áo chàm về quẩy lúa trên vai, in hình vào sườn núi chơi vơi, ơi chiều.

[1:20:37]Chiều ơi,

[1:20:42]lúc chiều về là lúc yên vui, qua đường mòn ngửi lúa thơm hơi, ơi chiều.

[1:20:54]Chiều ơi!

[1:20:58]Chiều ơi!

[1:21:02]Chiều ơi!

[1:21:09]Thu về đồng lúa nương chiều, tay dân cày dừng giữa làn gió rung.

[1:21:20]Lúa ngát thơm trên những cánh nương, tiếng súng xa nghe lẫn oán thương, đây nhà nông phá rừng gây luống.

[1:21:33]Mai về để lúa trên ngàn, ta nuôi người gìn giữ non nước.

[1:21:43]Lúc sức tôi chan với sức anh, lấy máu tô cho thắm núi xanh, đem mồ hôi tưới đồng lúa khoai.

[1:22:03]Lúc chiều về mọc ánh trăng tơ, cho ngày mùa bài hát nên thơ, ơi chiều!

[1:22:18]Chiều ơi!

[1:22:23]Mái nhà sàn mờ khói âm u, cô nàng ngồi dệt suối tương tư, ơi chiều!

[1:22:38]Chiều ơi!

[1:22:44]Biết chiều nào còn đứng trên nương, phố phường nhiều chiều vắng quê hương, ơi chiều!