[0:18]Hôm nay ta học tới hạnh thứ tám của Bồ Tát Phổ Hiền là "bát giả thường tùy Phật học", là cái hạnh thứ tám là thường theo Phật để học, ý là như vậy. Thì trong đây có nhiều cái điều
[0:36]tế nhị, sâu sắc để chúng ta nhìn lại bản thân mình. Sự thật giữa chúng ta với các vị Bồ Tát thì khoảng cách nó xa quá, nên nhiều khi ta không hiểu hết. Nên nghe cái hạnh Bồ Tát rồi ta ứng dụng lại nơi cái thân phận nhỏ bé tầm thường của mình, coi được cái gì đó thì được, chứ còn các vị Bồ Tát thì ta không hiểu nổi. Ở đây thế này, ta sẽ nghe là các vị Bồ Tát mà phát tâm theo Phật để học hỏi,
[1:08]rồi ta hiểu: ủa, vậy các vị Bồ Tát với Phật là khác nhau như thế nào mà Bồ Tát còn phải theo Phật để học? Hoặc là ta nghe trong kinh nói rằng các bậc vô học A-la-hán, tức là một bậc A-la-hán không cần gì phải học nữa. Đã không cần phải học nữa tại sao phải theo Phật để học? Mà trong thời Đức Phật cũng vậy, các mấy ngàn vị A-la-hán đó thường cứ đi theo Phật. Những vị đắc đạo rồi, những vị tỳ-kheo đắc đạo A-la-hán hay A-na-hàm và những vị tỳ-kheo chưa đắc đạo, cứ lúc nào cũng quấn quýt bên Phật. Mà ta đã nghe rõ ràng là các vị vô học, không cần phải học nữa, nhưng mà tại sao là trong Hạnh Phổ Hiền thì nói rằng là phát nguyện là thường theo Phật để học?
[1:59]Vậy theo Phật để học là học cái gì?
[2:04]Thế cái chỗ này rất là lạ. Rồi ta xem lại các sử của các thiền sư, là ta thấy các vị thiền sư tự tại, thậm chí có ông leo lên vai tượng Phật ngồi đong đưa trông cho vui, để chứng tỏ sự tự tại của mình, hoặc là có ông bưng cái tượng Phật xuống chẻ ra đốt để mà sưởi ấm mùa đông, vân vân. Có những điều mình thấy ngông nghênh, các ngài rất là tự tại. Rồi như vậy các ngài đã đủ chưa? Trí tuệ đã viên mãn chưa? Và cái chỗ này là cái chỗ mà Đạo Phật bị phân hóa, bị rẽ nhánh, thậm chí là đi vào đời mạt pháp là chính ở những chỗ này.
[2:56]Cái tâm lý của tất cả chúng sinh đều là kiêu mạn,
[3:02]trừ những bậc A-la-hán.
[3:06]Tới A-na-hàm mà vẫn bị kiêu mạn.
[3:11]Mà A-na-hàm á là dời núi đi được á, thần thông lớn như vậy mà Phật bảo rằng A-na-hàm vẫn còn kiêu mạn. Mà sự thật là không phải vẫn còn, cái kiêu mạn nó mới phát sinh do bản ngã chưa hết. Do bản ngã chưa hết mà quả chứng quá cao, xuất hiện một sự kiêu mạn tiềm tàng, chính các ngài cũng không thấy. Mà tới A-na-hàm á, bay lên trời được á, độn thổ dưới nước được, dời núi được á, nhưng mà vẫn bị kiêu mạn. Mà cái kiêu mạn này ngoài Phật không ai thấy. Nhưng mà lúc mà khi ta kiêu mạn, thực sự các ngài kiêu mạn không phải thô như mình, mà chỉ là cái tự tin thái quá, ta dùng cái chữ là "tự tin thái quá" của một bậc đắc đạo chưa phải A-la-hán.
[4:05]Khi một vị đắc đạo chưa phải A-la-hán đều bị một cái tâm lý rất mạnh. Cái tâm lý rất mạnh đó nó trở thành kiết sử, mà kiết sử nó là bản năng, chi phối rất là mạnh. Cái kiết sử đó là gì? Tự tin thái quá. Cái tự tin thái quá này làm cho các ngài luôn có cảm giác là mình đã đủ rồi.
[4:30]Cái cảm giác nó nằm rất là sâu mà chỉ có Phật mới phát hiện ra. Cho nên trong cái mười kiết sử, những tầng bậc tu chứng của các vị thánh mà Phật liệt kê ra, thì khi mà chứng A-na-hàm rồi, thì còn tồn tại năm cái kiết sử cuối cùng. Trong năm cái kiết sử cuối cùng đó có cái kiêu mạn. Kiêu mạn cực kỳ khó chịu làm ta ngạc nhiên, chứ ta nói chứng tới mức độ đó mà còn kiêu mạn hơi rất là lạ, nhưng mà sự thật là chỉ có Phật mới thấy. Hoặc là trong cái năm kiết sử còn lại của một bậc A-na-hàm có cái là sắc ái, vô sắc ái thì ta đừng hòng hiểu. Người phàm phu như chúng ta đừng hòng hiểu cái năm kiết sử còn tồn tại của một bậc A-na-hàm là gì.
[5:21]Ví dụ chữ "sắc ái", đố ai hiểu, nếu ta chưa chứng A-na-hàm. Mà chứng rồi cũng không biết vì nó là gì? Nó là cái lỗi của mình, mình không biết, chỉ có Phật mới biết thôi. Vậy sắc ái là gì? Sắc ái là khi một vị chứng A-na-hàm rồi thì cái cảnh giới tâm của vị đó tương ứng với những cõi trời ở Sắc giới mà cõi cao nhất là cõi trời Sắc Cứu Cánh. Cõi đó thì cực kỳ hạnh phúc, tự tại. Khi một vị mà chứng được tới mức độ đó rồi, lên cõi Sắc giới rồi, cõi trời đó cực kỳ hạnh phúc, tự tại, biến hóa tùy tâm. Và cái cõi đó hạnh phúc quá rồi, các vị phát sinh một cái chấp nhẹ nhẹ trong cái cõi đó. Cái chấp đó các vị cũng không thấy, cũng không ai thấy,
[6:09]chỉ Phật mới biết một vị A-na-hàm vẫn còn bị chấp vào nơi cái cõi trời Sắc giới. Hoặc là vô sắc ái là gì? Có vị an trú trong cõi trời Vô sắc. Cõi trời Vô sắc nó không còn cảnh giới nữa, không còn cõi nước, không còn hình tướng, không có lâu đài, địa ngục, không có hào quang, không có gì hết, mà chỉ là một cái cõi tâm vô hình, trống vắng, phủ trùm và nó cực kỳ hạnh phúc. Và chính cái cực kỳ hạnh phúc đó, các vị có một chút chấp nó. Cái chấp đó không ai thấy, các vị cũng không thấy luôn, chỉ có Phật mới thấy. Cho nên khi mà chỉ có Đức Phật với trí tuệ siêu việt mới nhìn ra những cái kiết sử tiềm tàng của một bậc thánh A-na-hàm,
[6:56]còn lại khắp cõi trời cõi người này đừng hòng ai thấy. Nên khi mà Phật nói về cảnh giới của A-na-hàm mà còn năm cái kiết sử còn lại, ta chỉ có biết cúi đầu quỳ lạy đảnh lễ thôi, vì những điều đó quá sâu kín, không ai hiểu nổi. Nhưng cái lỗi của một bậc thánh là gì? Là tự tin thái quá. Ta nhớ điều này giùm, thầy vừa dùng cái chữ "tự tin thái quá". Mọi người làm ơn mà ghi khắc trong lòng mình bốn cái chữ "tự tin thái quá" này, vì ta từ từ sẽ bị nha, ta từ từ sẽ bị. Từ từ sẽ bị nghĩa là làm sao? Nghĩa là chưa ta, chưa đợi ta chứng tới A-na-hàm, ta cứ mỗi một bước tiến tới đâu, ta cứ tự tin thái quá tới bước thứ thứ đó.
[7:44]Và thậm chí chưa cần chứng gì, chỉ cần đi thuyết pháp được điều hay, nói năng người ta nghe hiểu điều này điều kia, vẫn xuất hiện cái tự tin thái quá. Hoặc là ngồi thiền hơi yên yên một chút, cũng bị cái tự tin thái quá. Mà nhất là mấy ông giảng sư, pháp sư, tông sư, một tông phái đều mắc cái lỗi này: tự tin thái quá. Hễ mình nghe nói ông đó là một bậc đạo sư lớn, một tông sư lớn của một phái đó, mở ra một cái dòng thiền đó, mở ra một cái phái hệ phái đó, thì ta nắm chắc trong lòng bàn tay rằng ông đó mắc cái bệnh tự tin thái quá, không bao giờ trật. Vì sao? Vì ổng chưa chứng A-la-hán. Mà nếu dù các ổng có chứng A-na-hàm mấy ổng vẫn
[8:29]bị, huống hồ mấy ổng chưa chứng tới A-na-hàm. Mà nhiều khi chỉ chứng ở một tầng bậc tỉnh giác nào đó, một chút thiền định nào đó, hoặc là chỉ lanh lanh thông minh thôi, vẫn bị cái tự tin thái quá. Và cái tự tin thái quá này đánh tiêu Đạo Phật của ta. Tự tin thái quá là cứ tưởng rằng cái điều mình hiểu là đúng rồi, điều mình nói đúng rồi. Mà có đúng không? Chưa bao giờ đúng tới điểm sâu sắc, tột cùng với ý của Phật cả.
[9:05]Thầy nói câu này có phải chê bai khắp thiên hạ không? Không. Vì hai điều. Điều thứ nhất, ví dụ bây giờ chúng ta nhớ hồi nhỏ ta đi học, thầy cho ra bài toán, mình làm được mấy điểm? Nhớ lại coi được mấy điểm?
[9:25]Trong lớp mình mấy người được 10 điểm? Mấy người?
[9:33]Hồi xưa ai làm toán mà làm bài nào cũng được 10 điểm giơ tay lên coi nè.
[9:42]Có người giơ không biết thiệt không, dòm mặt hổng tin nổi nha. Dòm mặt khờ khờ mà giơ lên là tay bài toán nào cũng 10 điểm. Thiệt con có được 10 điểm không? Tất cả bài toán đều được 10 điểm không? Có không? Không. Con có được 10 điểm không? Không.
[10:06]Nếu tất cả các bài toán ta đều làm được 10 điểm thì được gọi rằng là ta đã hiểu được 100% vấn đề,
[10:17]hiểu đầy đủ. Nhưng vì không ai làm được 10 điểm hết, lâu lâu làm được một bài 10 điểm là mừng quá chừng, còn lại thường thường là ta được mấy điểm? Mấy? 8, 9? Không dám đâu. 3 điểm, 4 điểm à.
[10:36]Như vậy ta có hiểu hết bài toán hay hiểu hết vấn đề không? Không. Cái số người mà hiểu hết vấn đề để giải được bài toán đúng là một số rất ít, đa phần hiểu một phần nho nhỏ.
[10:49]Cũng vậy, những điều Phật dạy không ai hiểu hết trọn vẹn 100%, không ai, chỉ một phần nào đó thôi. Có người hiểu 5% là đã la làng rồi, coi mình là thông minh kiệt xuất, trí tuệ siêu đẳng à. Rồi có người chỉ hiểu được 10%, người được 20%, 30%. Hiểu được 30% lời Phật dạy thì ta gọi là người đó Bồ Tát tái lai à.
[11:17]Còn cái người mà hiểu được lời Phật được 70% thì đó là bậc Đại Bồ Tát siêu việt, nằm ở cõi nào chứ không phải cõi này. Không có ai hiểu được lời Phật 100%, nhớ giùm điều đó. Cho nên các bậc tông sư hoặc là một pháp sư dù lỗi lạc cách mấy mà khi giảng lại đạo lý của Phật cũng chỉ được gì? Một phần nào đó thôi. Chưa bao giờ có một người nào lột tả được 100% lời Phật dạy, ta hãy nhớ điều đó. Nên nếu chỉ có một điều này là đúng thôi, nếu ông nào mà giảng câu này thì ông đó đúng nè. Ông nào mà giảng câu này thì ông đó tuyệt đối đúng, thì ta nên nghe lời của ông đó. Dù ông đó ốm xấu cách mấy ta vẫn phải nghe lời, nếu ông nói ông nói câu này:
[12:09]"Trên đời này không có ai hiểu hết lời Phật dạy, chỉ hiểu được một phần mà thôi" thì ông đó rất đúng, phải cưng ông đó.
[12:21]Đó tôi nói vậy, chỉ có ông đó đúng thôi chứ còn ông nào cũng tẹt hết trơn. Nhưng khổ nỗi, khi người ta thông minh, người ta hiểu biết hoặc là trong cái thực tập của người ta có một phần tiến bộ nào đó thì người ta tưởng đã hiểu hết. Và người ta lấy cái hiểu hạn hẹp của mình đánh giá Đức Phật, đánh giá lời dạy Đức Phật, đánh giá cuộc đời Đức Phật, đánh giá công hạnh của Đức Phật, đúng không? Ta dùng cái chữ là con ếch ngồi ngồi đáy giếng xem trời bằng cái nắp vung.
[12:53]Tất cả các vị tông sư đều bị cái lỗi này: tự tin thái quá. Và lúc đó họ giải thích lời Phật ở mức độ đúng hay là thấp hơn? Thấp hơn hết, thấp dần, thấp dần. Và khi họ giải thích lời Phật dạy thấp dần, thấp dần như vậy làm cho cái cao siêu của đạo Phật bị sao? Cũng thấp dần, thấp dần. Khi mà bị thấp dần, thấp dần như vậy rồi, đạo Phật có còn giống như thuở ban đầu của Đức Phật giáo hóa không? Không. Và đó là lý do làm cho đạo Phật bị suy thoái, bị kém cỏi. Đó là đạo Phật đi vào thời mạt, mạt pháp. Người tu chứng ít dần, cái lòng mộ đạo người ta ít dần, cái sự mà tôn kính với Đức Phật kém dần, vì ta hiểu không nổi.
[13:45]Chỉ người nào mà hiểu rất kỹ lời Phật dạy thì mới cực kỳ xúc động để tôn kính Phật, vì mới hiểu cái sự cao siêu tột cùng của nó. Còn hiểu không hết thì mình không đủ sự xúc động với lời Phật dạy, cho nên không thể tôn kính Phật tột cùng. Đó là ta nhìn thấy những người tu hoặc là cư sĩ hoặc tu sĩ mà cứ nghênh nghênh nghênh nghênh, nhiều khi lòng tôn kính Phật không đủ thì ta hiểu một điều: người này không hiểu lời Phật dạy tới nơi. Vì một người mà hiểu lời Phật dạy tới nơi thì cái sự xúc động là tột cùng, cho nên họ tôn kính Phật khủng khiếp lắm. Cứ nhìn cái lòng tôn kính Phật của họ, ta biết được mức độ họ hiểu lời Phật dạy tới đâu.
[14:31]Thấy nhìn thấy một người xuất gia hay một người cư sĩ mà ngơ ngơ ngơ ngơ cái thái độ đối với Phật cũng không có hoàn toàn trọn vẹn cung kính, biết rằng người này tu chơi thôi. Nói đệ tử Phật cho chơi thôi, chả hiểu gì Phật, không hiểu gì. Vì lời dạy của Đức Phật là chân lý tuyệt đối, ta hiểu tới đâu cái sự xúc cảm dâng trào lên tới đó. Hiểu không hết thì bảo đảm sự xúc cảm không có, trơ trơ khô khô cho vui. Mà cái trơ trơ khô khô cho vui đó nó hiện ra ít nhất hai điều: Một, đối với Phật không đủ lòng tôn kính. Hai, đối với chúng sinh không đủ lòng yêu thương. Chắc chắn là như vậy. Còn cái người mà hiểu được lời Phật dạy,
[15:18]cái xúc cảm nó dâng cao dần, dâng cao dần thì ta cũng thấy hiện ra hai điều: Một là lòng tôn kính với Đức Phật cao tột cùng. Hai, lòng yêu thương đối với chúng sinh trải rộng. Đó đương nhiên là như vậy. Còn những bậc tông sư mà bị cái lỗi tự tin thái quá thì giải thích về đạo Phật, giải thích về kinh Phật, giải thích về công hạnh của Phật cứ bị thiếu thiếu, sót sót, thấp thấp; kéo theo biết bao nhiêu thế hệ con người hiểu về đạo Phật cũng làm sao? Cũng thấp theo luôn, làm cho đạo Phật suy thoái, đến lúc nào đó tàn lụi mất luôn. Đây là điều mà Đức Phật nói, cho đến khi đạo Phật không còn nữa thì lúc đó Phật Di Lặc mới xuất hiện trở lại qua một
[16:05]cái thời kỳ mà chúng sinh rơi vào tà kiến hết luôn. Ta mới thắc mắc: Tại sao cái tà kiến thì nó cứ tồn tại đều đều, nhưng mà chánh pháp, Phật pháp thì phải lâu lâu mới có một vị Phật xuất hiện để dựng lại? Xuất hiện rồi, rồi lại từ từ suy thoái, biến mất, mất tiêu luôn, rồi chúng sinh lại rơi vào trong tà kiến si mê tăm tối lại. Ta thắc mắc nó hoài: Tại sao? Tại sao không chánh pháp là thường hằng mà tà kiến là thường hằng? Ví dụ bây giờ nói là có một cái đạo nào đó họ tin vào những điều tà. Tin điều tà là không cần có nhân quả, à cứ làm một thủ thuật nào đó thì con người ta được sung sướng, hạnh phúc chứ không cần làm phước, không cần tin nhân quả, đó là một điều tà.
[16:55]Mà cái điều tà này nó sẽ tồn tại trước thời Đức Phật, tồn tại trong thời Đức Phật và nó phá đạo Phật tiêu cho tới khi mất đạo Phật luôn thì cái tà kiến đó cứ tiếp tục tồn tại. Cái mà không cần tin nhân quả, cái chỉ cần bằng những thủ thuật nào đó thôi mà làm cho người ta sung sướng, hạnh phúc, thành công, mua may bán đắt, lên chức, giàu có. Cái đó nó cứ tồn tại hoài, trước Phật, thời Đức Phật, sau Đức Phật, khi Phật pháp tiêu luôn cũng vì nó luôn. Và chính chúng ta cũng là thủ phạm góp phần. Vì sao vậy? Ví dụ bây giờ hôm nay mình đến mình nghe giảng, à có cái luật nhân quả gieo nhân gì gặt quả nấy, muốn thành công, hạnh phúc, sung sướng thì phải làm rất nhiều phước.
[17:40]Nhưng bây giờ có người khều tay mình, mình vừa mới tin nha, mới vừa vô chùa Từ Tân nghe giảng tin lắm, ra tới cổng có người khều tay: "Trời, có cái ông thầy này hay. Bữa ông chồng em ổng bệnh gần chết bị ung thư, ổng lại ổng ổng ổng ổng ổng kỳ kỳ người, trán ổng ra được cục đất ổng cho uống cái ổng hết bệnh ung thư liền." Nói: "Giờ có cái bà bạn bả coi như là thất cơ lỡ vận hôm nay là nợ nần đòi hết trơn, cái lại ổng ổng vò vò cái móng tay ổng ổng ra mấy cục ổng cho uống cái về tự nhiên là tiền bạc vô như nước." Mình nghe bị thuyết phục liền.
[18:15]Thuyết phục là làm sao? Dễ làm, không tốn công nhiều mà kết quả lớn. Mình mất niềm tin nhân quả liền. Hồi nãy ông thầy vô ổng giảng ổng kêu mình phải cực khổ làm phước ha, hy sinh, phụng sự, cống hiến, sống cả một đời dấn thân, chấp nhận thiệt thòi để đem yêu thương và niềm vui cho mọi người, cực khổ mình, bắt đầu phát tâm. Bắt đầu cái tâm lý của mình đang từ từ dâng lên, dâng trào lên, tới chừng ra có người khều nói nhỏ: "Chỉ cần lại ông thầy đó, ổng lấy trong móng tay ổng có cục gì đen đen ổng cho uống cái về mình trúng số Vietlott liền." Cái cái cái mà hăng hái lúc nãy sao? Tan biến như hư vô liền. Bắt đầu hỏi:
[18:54]"Ông thầy đó ở đâu cho địa chỉ em tới." Và cái tà kiến đó, cái tà kiến mà không tin nhân quả, đi theo bằng một thủ thuật rất nhỏ mà tin rằng mình được một cái kết quả rất lớn là một loại tà kiến trước Đức Phật có, đồng thời Đức Phật nó tồn tại và khi sau này nó đồng hành với đạo Phật, nó giết đạo Phật luôn. Chúng ta càng tin chừng nào thì càng tiêu đạo Phật chừng nấy. Đó, cái tà kiến nó cứ tồn tại và trong đó góp phần làm cho đạo Phật suy thoái là chính bởi những tông sư nằm ngay trong đạo Phật, những người không đủ sức hiểu Đức Phật, giải thích về đạo Phật thấp dần, thấp dần. Ví dụ như Đức Phật tu là mục tiêu là đạt vô ngã, vì vô ngã mới hết vô minh.
[19:45]Ta nhớ khi Đức Phật mà đi tu với hai ông đạo sĩ, Ngài đắc những cái định rất cao siêu, có thần thông hết. Mà Ngài chỉ hỏi một câu: "Vậy trong cái định này còn bản ngã hay không còn bản ngã?", hai ông thầy ú ớ không trả lời được, Ngài bỏ đi. Ngài xin phép bỏ đi, bởi vì sao? Vì Ngài tin rằng hễ còn dấu vết của bản ngã thì nó chưa phải là tuyệt đối. Mặc dù là Ngài nhanh chóng đạt được cái trình độ của hai ông đạo sĩ, Alara Kalama và Uddaka Ramaputta, Uddaka, nhưng mà Ngài tin rằng hễ còn dấu vết của bản ngã thì chưa phải trọn vẹn, nên Ngài đi tìm cái vô ngã. Và Ngài đi tìm cái vô ngã đó bằng sáu năm khổ hạnh cực vô cùng.
[20:27]Và đến khi bốn mươi chín ngày nhập định dứt được bản ngã rồi, mới tìm được sự giác ngộ viên mãn. Và trong suốt cái giáo lý của Ngài, bốn mươi lăm năm thuyết pháp cho con người và vô số bài thuyết pháp bí mật cho cõi trời, đều sao? Dẫn dắt chúng sinh đi về vô vô ngã. Nhưng sau này, mấy trăm năm sau, nghìn năm sau, có những bậc tông sư cũng chứng đắc được một cái gì trong tâm đó, nhưng bắt đầu giải thích về một cái đạo lý, sao, còn vô ngã không? Hết. Bắt đầu không đi theo cái hướng vô ngã nữa, mà bắt đầu giảng về đạo Phật có bản ngã. Nhưng mà không có nói cái bản ngã hay nói cái chấp ngã một cách trắng trợn, nhưng đã đổi tên.
[21:20]Cuối cùng vẫn là gì? Ôm ấp lại cái bản ngã. Làm cho đạo Phật làm sao? Xoay chiều 180 độ và tuột dốc liền. Đó là lý do mà càng về sau càng ít người tu chứng, càng về sau càng ít người tu chứng. Vì sai lời Phật dạy, chính các vị đó cũng không hiểu vô ngã là gì. Tu tới như ông tiên, hai ông đạo sĩ đó, có thần thông cao siêu, hai vị đó cũng không hình dung ra được bản vô ngã là gì. Phải trí tuệ của một Đức Phật tương lai thì mới hiểu được con đường này chưa tới vô ngã, Ngài phải đi tiếp, thì huống hồ là những thiền sư sau này. Những thiền sư sau này, cái cảnh giới Ngài cũng không hình dung ra được vô ngã
[22:07]nếu cái người đó không tuyệt đối tôn kính Phật, trung thành với Đức Phật.
[22:18]Nên vì vậy,
[22:22]chúng ta có thể chưa chứng đắc gì. Ví dụ như thầy, thầy cũng chưa chứng đắc gì, quý Phật tử cũng chưa chứng đắc gì. Nói không biết có ai, lỡ có ai chứng đây cái nói oan chết à, mang tội chết à. Có ai chứng gì không cà? Không. À, bây giờ bây giờ thầy cũng chưa chứng gì. Mọi người, đây đại chúng đây cũng chưa chứng gì. Ni sư có chứng gì chưa cà? Chưa hả? Ừ rồi.
[22:49]Chưa chứng gì, nhưng chúng ta ghi lòng tạc dạ một điều này thì chúng ta là đứa con trung thành của Đức Phật. Chúng ta ghi lòng tạc dạ, quyết lòng đi tìm mục tiêu vô vô ngã, nhớ như vậy, thì chúng ta là đứa con trung thành của Đức Phật. Chúng ta dựng lại Chánh pháp thời Đức Phật. Ví dụ mình có thể đi nghe các vị giảng sư này nói chuyện, pháp sư kia nói chuyện, tông sư nọ trình bày, nói gì nó nói kệ, nghe cho vui, tham khảo đều được, nhưng trong lòng mình giữ chặt cái mục tiêu vô vô ngã thì không sợ lầm, và không sợ bị ông pháp sư, giảng sư đó hạ thấp đạo Phật xuống. Vì trong lòng mình giữ chặt cái mục tiêu vô vô ngã, nhớ như vậy.
[23:43]Và cái chỗ này vậy, khi mà ta biết rằng cái mục tiêu vô ngã là tối thượng, khó hiểu,
[23:54]rồi và ta có tu chứng cái gì đó, bản ngã vẫn làm sao? Vẫn lẩn quất tồn tại ở phía sau. Hiểu được điều này, chúng ta sẽ bớt bị cái bệnh tự tin thái quá, dù cái kiết sử đó chưa hết, nhưng mà ta kềm nó được vì ta biết rằng là bản ngã vẫn còn. Thì mình biết thì mình đỡ được cái tự tin thái quá. Ở đây tại sao mà ta khó thấy được bản ngã là vì chỗ này. Cái này liên quan tới bài giảng mà thầy giảng ở ngoài Hà Nội lần trước, không có giảng ở đây, cho nên mọi người sẽ không có hiểu. Nay thầy nói sơ sơ một chút xíu, tại vì nó là liên quan tới cái bài Thức ấm mà thầy giảng ở khóa thiền ngoài Hà Nội, cái bài đó rất là cao.
[24:44]Bây giờ thầy nói tạm thế này: ví dụ như cái tâm của ta nó có một cái trung tâm của sự suy nghĩ. Trong não bộ mình đó, nó có cái trung tâm của sự suy nghĩ, mọi cái vọng tưởng mình nó cứ từ cái trung tâm nó phát ra, phát ra, mà cái trung tâm nó đặt ở đâu? Trong cái bộ não của mình, trung tâm của sự suy nghĩ. Mà cái trung tâm của sự suy nghĩ đó ta cũng có thể gọi nó là văn phòng đại diện của bản ngã, đại diện thôi, còn bản ngã nằm ở chỗ khác. Giống như bây giờ nói ở đây: "Đây là văn phòng đại diện của tức là Hòa thượng trụ trì chùa Từ Tân", thì có phải là Hòa thượng trụ trì Từ Tân ở đó không? Không, Hòa thượng ở chỗ khác, nhưng chỗ này là văn phòng đại diện thôi.
[25:32]Nhưng mà nơi đại văn phòng đại diện đó thì ta cũng làm sao? Cũng liên hệ được, giao dịch được, mọi thứ rồi hỏi đáp rồi làm ăn rồi được hết, vì cũng có nhiều rất nhiều cái chức năng. Nhưng mà ví dụ như bây giờ có lỡ mà có nó cháy, bốc cháy đi thì có phải là Hòa thượng Từ Tân có bị cháy không? Không, Hòa thượng ở chỗ khác, vẫn bình an vô sự. Văn phòng đó bị dời đi thôi, bị giải tỏa thôi, rồi xây văn phòng khác, không sao hết. Cũng vậy, chúng ta cũng vậy, trong đầu chúng ta có một cái trung tâm của sự suy nghĩ, và cái trung tâm sự suy nghĩ hết ý nghĩ này tới ý nghĩ kia cứ cứ khởi xuất liên tục, và cái nơi cái trung tâm của sự suy nghĩ đó cũng là văn phòng đại diện của bản ngã.
[26:19]Thầy nói tới nói lui lặp đi lặp lại đã hình dung ra chưa ạ? Hình dung thấy không? Cho nên lúc nào ta cũng thấy là có cái cái ta, có cái tôi.
[26:29]Cho đến ngày ta an trú trong thiền định, mà cái thiền định đó tiến bộ dần, tiến bộ dần, trong đi, đứng, nằm, ngồi, lúc nào ta cũng tự tại, tỉnh giác, thanh tịnh, và có một ngày đẹp trời, bất ngờ cái văn phòng đại diện đó tan vỡ.
[26:54]Cái trung tâm của sự suy nghĩ đó biến mất.
[27:01]Và lúc đó là cái gì xảy ra? Lúc đó ta gọi là ta bước vào trạng thái đại ngộ,
[27:11]chứng đạo, chứng đạo gì thì chưa nói. Thì cái người đó cái trung tâm suy nghĩ biến mất rồi thì tâm người đó còn loạn không? Không, hết. Văn phòng đại diện bản ngã biến mất rồi, còn cảm giác mình có cái ta không? Không. Nhưng cái ta còn không? Bởi vì nó mới mất cái gì? Văn phòng đại diện thôi. Đây mới là cái chỗ mà tất cả các bậc tông sư, đạo sư bị lầm chỗ này. Cái văn phòng đại diện biến mất rồi, tưởng cái tay trùm ở phía sau đã biến mất. Không, nó nằm chỗ khác điều khiển, vẫn tiếp tục chi phối, bí mật điều khiển dù văn phòng đại diện nó không còn nữa. Nói: "Ủa, văn phòng đại diện không còn nữa thì đi đâu?" Bí mật liên lạc
[27:54]qua điện thoại, smartphone, qua email, không cần văn phòng. Giống như có cái bộ phim gì đó, có một cái tay đó là viết văn liên lạc với một bên cái cô đó làm xuất bản, mỗi lần làm việc cứ tới quán cà phê này tới quán cà phê kia, thì cái cái anh viết văn mới hỏi cô: "Ủa, đây là văn phòng của cô hả?", ổng chỉ cái chỗ quán cà phê. Cái ổng nói, cô kia mới nói: "Không, văn phòng của tôi ở trên mây, tức là cloud á, cái chỗ mà lưu trữ đó, trong điện toán đó, không cần phòng, chỉ có mấy thằng khốn kiếp mới cần văn phòng." Tức là cái thời đại mới rồi, không cần văn phòng. Tức là văn phòng tôi khắp nơi, đâu cũng được hết,
[28:32]miễn có cái cloud, tức là cái bộ nhớ ảo của một cái công ty nào nó đặt đâu không cần biết, nhưng mà hễ nó có nó thì tức là mọi dịch vụ tôi đều hoạt động được hết. Cực kỳ rất đúng với cái tình trạng mà bản ngã này. Không cần văn phòng đại diện, bản ngã vẫn sao? Điều hành, chi phối hết. Còn cái trạng thái của một người mà khi bất ngờ tan vỡ cái trung tâm của sự suy nghĩ, biến mất cái văn phòng đại diện của bản ngã, cái trạng thái người đó như thế nào? Trạng thái người đó như thế nào?
[29:08]Biết được chết liền.
[29:16]Ông Bàng Long Uẩn, ổng là một cư sĩ, nhưng ổng có cái sức ngộ đạt rất là cao siêu. Sau này cái ổng muốn chết là ổng nhập định ổng chết liền, vợ ổng muốn chết là chết, con trai muốn chết là chết, con gái muốn chết là chết. Tức là, con gái ổng nhảy lên cái tòa của ổng ngồi nhập định chết liền. Ổng chôn xong có mấy ngày sau ổng cũng ngồi với người bạn ngã qua cái đùi người bạn chết liền. Cái bà vợ nghe tin vậy mới ra báo người con trai đang cuốc đất ngoài đồng. La là: "Ổng với đứa con gái chết rồi." Cái người con trai "Dạ" một tiếng, chống cái cuốc đứng đó chết liền. Bả chôn con trai xong bả bước vào núi bả biến mất luôn.
[29:58]Tức là cả gia đình đó đắc đạo. Rồi ổng có những bài kệ nói về cảnh giới tu chứng rất là hay. Trong đó ổng có nói câu này: "Giống như người gỗ xem cái bức vẽ hình con chim. Giống như một cô gái bằng đá mà đứng múa."
[30:19]Ai hiểu không? Hiểu chết liền.
[30:26]Cái người gỗ, người gỗ là người có tâm không? Nhưng vẫn sao? Vẫn xem thưởng ngoạn cái bức tranh vẽ hình chim hoa mùa xuân cây cỏ. Cái người gỗ mà thưởng ngoạn bức tranh thì trong tâm người đó có cái gì? Vì sao? Vì cái trung tâm của sự suy nghĩ đã biến mất. Con gái bằng đá vẫn đứng múa. Con gái bằng đá, thạch nữ đó, gái bằng đá có tâm không? Không, nhưng vẫn múa may, vẫn đi tới đi lui được. Lúc đó mới thấy không cần tâm, không cần trung tâm của sự suy nghĩ, không cần văn phòng đại diện của bản ngã, người ta vẫn gì? Gánh nước được, bửa củi được, bình thường. Nhúc nhích tay chân được hết, nhưng mà gì?
[31:17]Không có tâm, không có suy nghĩ.
[31:21]Hiểu không? Nếu ai gật đầu hiểu thì mời lên bàn thờ ngồi, người đó chứng rồi.
[31:31]Thì đây nó có những cái mức độ của sự tự tin thái quá. Ví dụ như bây giờ chúng ta ở mức độ chưa chứng gì cả nha, tâm mình còn cái trung tâm của sự suy nghĩ, vọng tưởng vẫn đều đều đặn nhấp nhô xuất khởi, nhưng mà ta thông minh quá, đọc kinh hiểu hết, đọc sách hiểu hết. Ta cũng sao? Xuất hiện một cái gì? Tự, tự tin hơi thái quá. Và lúc đó khi mình giảng đạo mình nói chuyện nghe cái giọng rất giống Phật. Nghe cái giọng, cái tự tin á rất giống Phật. Và nhiều người nghe mình thấy cái thái độ tự tin của mình quá cũng sao? Cũng bị thuyết phục, làm cho mình cũng có nhiều đệ tử.
[32:21]Và khi càng nhiều đệ tử tin thì làm sao? Nó lại tăng thêm cái mức độ tự tin của, của mình. Đây là cái bệnh tự tin thái quá. Rồi đến khi mình tu mà, tu mà tinh tấn vô cùng cho đến khi nó tan mất cái trung tâm của sự suy nghĩ thì lúc đó làm sao? Cái tự tin thái quá nó là sự tột cùng. Rõ ràng lúc đó thấy mình như chứng đạo, không có thấy cảm giác bản ngã nữa. Cái văn phòng đại diện bản ngã nó mất rồi mà, cho nên thấy giống như mình là gì? Vô cùng tự tại nha, vô cùng tự tại. Đây chính là cái chỗ mà gì? Đức Phật mới rầy các bậc A-na-hàm vẫn còn cái kiêu mạn. Vì sao? Vì cứ tưởng văn phòng đại diện của bản ngã mất rồi thì tưởng hết ngã.
[33:10]Đây, đây là cái chỗ mà mới sâu xa vi diệu của Phật pháp đây. Đây là chỗ mà Phật pháp cao siêu không có một tôn giáo nào bằng được là ở chỗ này. Chỗ mà văn phòng đại diện mất rồi, nhưng Đức Phật vẫn chỉ ra bản ngã vẫn tồn tại.
[33:30]Vẫn tồn tại. Văn phòng đại diện mất rồi nhưng Ma vương vẫn sao? Vẫn cười ngạo nghễ chi phối hết được tâm của chúng sinh, không cần thấy văn phòng đâu cả. Giống như cái bà đó bà, cái bà nhà xuất bản viết văn á, chỉ có mấy thằng khốn kiếp mới cần văn phòng, tui văn phòng ở trên mây. "Asshole, only the asshole needs the office. My office in cloud." Bả nói bả chỉ vậy. Chỉ có mấy thằng khốn kiếp mới cần văn phòng. Cái lối nói chuyện bỗ bã của họ là như vậy, nhưng mà ở đây để làm cho ta gợi ý một điều cho ta tu đến cái cảnh giới tan vỡ hết cái trung tâm của cái suy nghĩ, biến mất văn phòng đại diện bản ngã,
[34:13]ai cũng tới đó rồi tin chắc rằng mình đã tự, tự tại, đâu ngờ bản ngã vẫn bí mật chi phối. Và cái chỗ mà đâu ngờ đó Phật mới biết, còn tất cả chúng ta chết hết nên phát sinh ra cái tự tin thái quá. Mà nơi cái tự tin thái quá này ta sẽ dạy một loại đạo mới làm thấp cái giá trị của đạo Phật xuống. Đây là cái chỗ mà phải hết sức cảnh giác sau này. Nên hôm nay thầy nói là mọi người ngồi đây giùm thầy, với thầy nhớ hai điều. Một, nếu mình ở mức độ thông minh quá, hiểu nhiều đạo lý quá, nó cũng phát sinh cái gì? Tự tin thái quá. Làm ơn nhớ hôm nay thầy dặn rồi, lạy Phật xin cho con đừng bị cái lỗi tự tin thái quá.
[35:05]Thứ hai, lỡ bữa nào mà đại ngộ, tan vỡ cái văn phòng đại diện của bản
[35:15]ngã, tâm rỗng không, sáng suốt nha, đạt được một sự chứng tâm linh thật sự, thì lúc đó làm ơn nhớ đến kẻ hèn này đã nói rồi nha. Nhớ cái ông thầy ốm ốm, xấu xấu ổng đã nói rồi. Lúc đó là lúc mà cái tự tin thái quá là gì? Là tột độ. Nhớ giùm này. Chớ tới lúc đó thường không nhớ thầy nữa. Hễ mà tu tới cái ngày đó rồi, nó tan vỡ cái văn phòng đại diện bản ngã rồi, tâm mình rỗng rang, tự tại rồi thì lúc đó làm sao? Coi cái ông thầy ốm xấu này như là gì? Như là bèo bọt cỏ rác mà thôi nha. Dù cái ổng nói muôn ngàn lời, ổng giảng cho cả ngàn bài cũng không bằng cái khảy móng tay của tôi động tới tam thiên đại thiên thế giới.
[36:07]Nói khủng khiếp như vậy đó, tại mình ngộ đạo rồi mà. Ngôn từ rồi cái chứng ngộ cảnh giới khủng khiếp và coi những điều thầy nói hôm nay không ra gì, nhưng xin hãy nhớ điều thầy nói không phải là của thầy nói mà là của ai? Của Phật dặn dò. Cái tự tin thái quá, bị như vậy.
[36:27]Và chính cái tự tin thái quá này làm cho cái bậc thầy đó giảng những đạo lý bắt đầu sai với Phật dần dần mà chính vị đó cũng không biết. Chính vị đó không biết, làm cho đạo Phật bị giảm giá trị lại. Đây là chỗ mà Bồ Tát Phổ Hiền mới cảnh báo tất cả những người đã tu đạt tới đó rồi làm ơn mà thường tùy Phật học. Mãi mãi mà theo Phật học đi. Vì sao? Vì là có Bồ Tát chứng ngộ rồi vẫn gì? Vẫn chưa bao giờ hiểu hết lời Phật dạy 100%. Chưa bao giờ. Giống như chúng ta đã từng làm những bài toán chưa phải là cứ mà được mười, mười điểm tròn đâu. Không bao giờ. Thầy nhớ hồi nhỏ thầy đi học vào cái thời mà trước giải phóng
[37:14]á, sau giải phóng sao nghe người ta dễ được 10 điểm, hồi thầy ở trước giải phóng làm bài có đúng hết, ông thầy ổng ráng ổng cũng trừ mình một, hai điểm chơi vậy. Mà có hỏi tại sao tìm không ra lỗi, ổng cứ kệ, kệ bớt một, hai điểm để mà cho mày trả giá vậy. Không bao giờ được 10 điểm tròn dù bài toán mình làm không có sai điểm nào, ổng cứ trừ bớt chơi vui. Hồi đó cái thang điểm là 20, làm đúng trọn vẹn hết rồi ổng cứ 18 điểm thôi, tức là bằng bây giờ là 9 điểm. Mà hỏi: "Mất điểm nằm ở chỗ nào?" Ổng không trả lời ra. Nhưng cứ: "Tao cho mày tám", nghĩa là "18 điểm đó là làm gì tao?", cũng vậy. Hồi đó là vậy.
[37:49]Thì giờ ta nhớ một điều như vậy. Nên chính cái chỗ này mà Bồ Tát Phổ Hiền đưa ra một cái hạnh không phải ai cũng hiểu. Nhưng nếu ngày hôm nay chúng ta còn là phàm phu, mỗi ngày mình tụng cái mười hạnh Phổ Hiền: "Nhất giả lễ kính chư Phật, nhị giả xưng tán Như Lai" cho tới "Bát giả thường tùy Phật học", thì đến ngày kia bỗng nhiên mình chứng ngộ, mình đạt được cảnh giới cao siêu thì cái lời nguyện ngày hôm nay vẫn làm cho mình vẫn thúc đẩy mình còn một cái gì đó mình chưa, chưa hiểu, vẫn còn cái gì đó mình chưa hiểu.
[38:36]Còn lâu mới hiểu. Và chính cái chưa hiểu đó làm cho mình khiêm tốn mà mà học hết được. Vì trong cái nhiều cái mà chưa hiểu, nó có một cái này. Có cái này. Một số thiền sư hay bị:
[38:56]Bản thân mình thì chứng á, nhưng mà dạy người ta không được.
[39:02]Bản thân mình thì chứng, mà dạy người ta không được. Đây là điều rất là lạ. Chúng ta cứ tưởng rằng người có kinh nghiệm sẽ là người truyền đạt tốt, nhưng không.
[39:18]Bản thân mình thành tựu, nhưng mà có khi mình truyền đạt không giỏi. Đúng không ạ? Nhiều khi ông thầy đó ổng bằng ổng tiến sĩ, ổng lên lớp ổng giảng buồn ngủ chết mồ luôn. Có không? Bị hoài chứ gì. Ờ mà hỏi ra bằng cấp tiến sĩ, dạy không được. Ổng cũng học dữ lắm, ổng cũng hiểu dữ lắm á chứ, mới tiến sĩ á, đứng lớp nói đâu là ngủ sập tới đó. Tức là người này bản thân mình thì đạt được, mà truyền đạt không có phương pháp. Các thiền sư cũng bị cái đó. Chúng ta lật sách lại, chúng ta đọc lại các ngữ lục, các luận bản của các thiền sư, các thiền ngữ của các thiền sư, ta phát hiện ra một điều, các thiền sư bị một cái này:
[40:04]Tất cả chỉ khoe cảnh giới chứng ngộ của mình, chứ không mở ra một cái phương pháp cho chúng sinh thực hành từ dưới đất. Mình ở đứng dưới đất, mình là phàm phu, mình đứng dưới đất, các ngài ở đâu ở trên đó đó, mấy chục thước trên đó đó. Ổng ngồi ổng cứ đứng trên đó ổng nói không à. Ổng nói ờ: "Nhìn thấy á nóc nhà bao nhiêu căn nhà". Mình ở đây dòm đâu thấy nóc nhà của ai, tại mình đứng dưới đất mà. Mà ổng ngồi ổng diễn tả trên đó đó: "Mây bay lởn vởn qua đầu". Mình mây đâu trên đầu mình đâu thấy đâu. Rồi ổng nói: "Trên những ngọn cây có những con chim sà xuống nó đậu nó kêu nhau". Ờ, ổng ngồi diễn tả: "Cái dòng sông tới kia nó rẽ nhánh".
[40:46]Mình biết được chết liền á, mình cứ đứng đây dòm thấy cửa nhà người ta thôi. Mà ổng cứ nói, ổng nói thì nói mà ổng nói mãi mình có bay lên bằng ổng được không? Không. Trừ khi ổng có một cái thang, ổng thả xuống cho mình leo từng từng bước đi lên, đi lên, đi lên cho tới bằng ổng. Thì mình mới thấy được những cái điều mà ông ổng thấy. Nhưng đa phần các thiền sư đều bị cái lỗi diễn tả cảnh giới chứng chứ không có cái cách dạy người ta bước lên. Đó cũng là cái lỗi gì? Cái lỗi là mình thì đạt được mà truyền đạt không có phương pháp, không có cách thức. Mà chúng sinh nghe rất đã tai, nghe ổng diễn tả cảnh giới chứng ngộ ổng
[41:32]tuyệt vời, tự tại như mây bay, như người con gái bằng đá mà múa. Rất là gánh nước, bửa củi đều là thần thông rồi đó cầm gậy khều ánh trăng. Mặt ánh chớp mặt trời. Đó là ổng diễn tả nghe rất đã tai, nhưng mình làm được không? Không. Ổng diễn tả cho vui. Và cái việc mà mình thì chứng mà cái cách dạy không có, đó là một sự thiếu sót của gì? Của những bậc thánh, không phải Phật. Còn Phật, cái hay của Phật là chứng tột cùng nhưng mở ra một con đường rất thấp ở dưới đất để cho chúng sinh bước lên dần dần. Cái khác nhau giữa Phật và các vị A-la-hán và các vị thiền sư chính là cái chỗ này.
[42:25]Năm 12 tuổi, Đức Phật chứng sơ thiền, không cần ai dạy. Ngài chỉ tập khí công, võ công thôi. Rồi an trú trong phương pháp hơi thở đó tự ngài nhập sơ thiền luôn. Ngài chứng dễ dàng. Khi mà gặp các vị đạo sĩ, ổng nói bữa trước bữa sau vài bữa, ngài chứng bằng các ông luôn. Không cần dạy gì nhiều. Tức là ngài không cần dạy, ngài cao siêu. Cho nên việc mà ngài 49 ngày nhập định điều hết sức dễ dàng, chứng luôn, tức là ngài không cần thang, ngài không cần thang để leo lên từng bước như mình. Ngài đâu có máy bay có cánh bay lên luôn. Nhưng mà khi mà ở trên cao rồi, Đức Phật mới thả một cái thang rất thấp
[43:09]xuống tới tận dưới đất cho chúng sinh đặt từng bước chân ban đầu.
[43:16]Ngài thả cái thang xuống thấp, thấp quá, thấp ở dưới đất đen bằng cái gì? Bằng nói rằng gì: một vị tỳ-kheo giữ gìn giới hạnh, thấy sự nguy hiểm trong từng lỗi nhỏ nhặt. Những cái lỗi nho nhỏ, mấy lỗi nhỏ mình coi thường, thấy không quan trọng. Nhưng đối với Đức Phật từng một cái lỗi nhỏ đều phải thấy cái hậu quả của nó. Vượt qua, cẩn thận, yêu thương chúng sinh, làm vô số điều công đức, tránh mọi sự sai lầm từng chút từng chút một. Rồi bắt đầu tu tập cái sự tỉnh giác, lúc nào cũng cảm giác toàn toàn thân: đi, đứng, nằm, ngồi; khi ăn, khi uống, khi nhai, khi ngó, khi nhìn, khi nói chuyện, khi đại tiện, khi tiểu tiện,
[44:07]khi nằm, thiệt vân vân đều biết rõ toàn thân, biết thân này là vô thường. Thấy chưa, lúc nào cũng biết rõ từng cái hành động của mình do vì mình biết toàn toàn thân. Những cái điều đó cao hay thấp? Rất thấp. Cái thấp đó mình thực hành được không? Làm được. Thấp thì mình làm được. Đó, Phật thả một cái thang xuống để cho mình đi từng bước chân thấp nhất đầu tiên đi lên. Còn mấy ông thiền sư ổng nói ổng đứng trên mây ổng dòm thấy mây này nhiêu, ngọn núi kia có mấy ngọn, hồi ổng nói mình nghe không biết gì hết. Nghe thấy hay, rất kính nể các ngài vì các ngài ở trên cao quá, nhưng mình không có con đường đi.
[44:52]Còn Đức Phật thả cái thang xuống thật thấp, đó chính là lý do mà nhiều người khi tu tập cái đạo lý Đại thừa, nghe những cảnh giới trên cao, bắt đầu coi thường kinh điển Nguyên thủy. Đâu biết rằng kinh điển Nguyên thủy mới là cái phương tiện mà trí tuệ của Phật mới thấy, mới thả một cái thang xuống thấp cho chúng sinh. Còn kinh điển hoặc là Đại thừa hoặc của các thiền sư đó, không có con đường. Bởi mới nói là: "Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền". Bất lập văn tự là gì? Không có gì để nói. Không có gì để nói là vì sao? Vì không có phương pháp, không có con đường đi. Nên cái người mà cao lại nói được những điều rất thấp, đó chính là Đức Phật.
[45:44]Nên ta nghe những điều Đức Phật dạy những điều rất thấp thì phải hiểu rằng là trí tuệ của Phật rất cao. Còn những người mà chỉ nói những điều rất cao thì trí tuệ rất rất chưa bằng Phật.
[45:59]Bị lừa cái dính liền à.
[46:04]Đó thấy chưa, đây chính là cái chỗ này mà ta phải làm sao? Phải thường tùy Phật học. Nên một vị A-la-hán chứng cao siêu rồi vẫn phải theo Phật để học. Xem cái cách Phật dạy chúng sinh. À, Phật dạy chúng sinh tỉ mỉ, tẩn mẩn từng chút như vậy. Là ví dụ như bây giờ nói là một vị thiên tử hỏi:
[46:28]Cái cái mà cái hạnh cao quý nhất của người phụ nữ là gì? Phật nói: Là cái sự nhu thuận. Và nói: Cái cao quý nhất của người đàn ông là gì? Phật nói đó là sự trung thành. Thì cái đạo đức của cái nhu thuận của một người phụ nữ làm cho người ta mềm lòng. Và cái trung thành của người đàn ông làm cho ta kính phục. Vì sao nói là cái nhu thuận của người phụ nữ làm cho người ta mềm lòng? Vừa rồi thầy đọc trên báo mạng đó có một cái bài thế này: Cái ông đó ổng đi làm xa. Cái ổng có bồ. Vì có bồ mà bồ ở cái thành phố lớn thì cái nhu cầu lớn, cho nên bao nhiêu tiền của ổng là cung phụng cho cái cô bồ này hết và gửi rất ít về cho vợ của mình.
[47:20]Mà vợ mình thì ở với mẹ mình, lâu lâu ổng gửi một, hai đồng cho vui vậy thôi. Và cho đến khi cái cô bồ kia nó yêu cầu phải chính thức cái quan hệ này: Một là vợ của anh phải chấp nhận tôi, chúng tôi chấp nhận tay ba; hoặc nếu bà không chấp nhận thì anh phải ly hôn để tôi trở thành vợ chính thức. Và yêu cầu ảnh đưa về gặp đối mặt với mẹ anh và vợ của anh. Chứ chứ tôi chúng tôi không tôi không chấp nhận cái mối quan hệ mà mà mà phải giấu giấu giếm giếm này nữa. Mà vì anh này ảnh mê quá, nên bữa đó ảnh dắt về. Thì khi ảnh dắt về thì bà vợ rất là mừng, ra ôm chồng. Đó, thì nói: "Mẹ đâu?" - "Mẹ bệnh." Bước vô bà mẹ không có ngồi dậy nổi, nằm liệt luôn. Nói:
[48:07]"Sao em không báo cho anh biết?" Nói: "Sợ anh không yên tâm công tác, nên ở đây em phải hầu mẹ." Và ổng nói: "Mẹ bệnh như thế này rồi tiền ở đâu?" Nói: "Em ra ngoài đầu đường em bán bán nước để lấy tiền đồng ra đồng vô để lấy tiền nuôi mẹ, chứ còn sợ rồi cái anh anh động tâm anh không làm làm việc được." Ông kia ổng khóc liền, ổng quỳ xuống vợ ổng nói: "Anh xin lỗi em." Ổng nói: "Đây là bồ của anh bao nhiêu năm nay, nhưng ngày hôm nay anh tuyên bố rằng trong đời anh chỉ còn có em." Trời, cái cô bồ nhào vô oánh ổng quá chừng. Nhào vô oánh ổng quá chừng, ổng nói: "Anh cũng xin lỗi em, anh không thể phụ bạc một cái người vợ mà như thế này,
[48:46]nhất lòng chung thủy, nhu thuận như thế này." Câu chuyện dừng lại đó ai muốn hiểu sao hiểu, thì lúc đó thầy mới sực nhớ lại lời Phật dạy trong kinh Tăng Chi. Phật nói: Phẩm hạnh quý nhất của người phụ nữ chính là sự nhu thuận. Và cái đáng nể nhất của người đàn ông là sự trung thành. Đó, những điều mà Đức Phật nói nhỏ nhỏ, nho nhỏ trong cuộc sống cực kỳ chính xác và có giá trị. Và chỗ điểm này, khi một vị A-la-hán, một vị Bồ-tát hay những bậc A-na-hàm theo Phật học là học những gì? Những điều nho nhỏ như thế này cực kỳ cần thiết, hết sức chính xác cho cuộc sống này. Và nhờ những lời dạy nho nhỏ đó gần gần đó
[49:29]mà ta điều chỉnh được cái cái đạo đức cuộc sống, cái cư xử của mình lại. Chính là vì những điều này. Nên vì vậy mà ta cứ phải mãi mãi thường tùy Phật học. Mãi mãi phải theo Phật để học. Nhưng bây giờ nói: "Dạ, Phật nhập Niết-bàn rồi. Bây giờ Phật ở đâu mà để tụi con theo?"
[50:01]Nghe Thầy nói nãy giờ cũng xuôi tai, giờ cũng muốn thường tùy Phật học. Nhưng Phật ở đâu để theo?
[50:14]Ta có hai cách để mà theo Phật học. Một là mình phải theo một người đại diện cho Phật, là ai? Chư Tăng. Nhưng mà chư Tăng bảo đảm không? Nãy giờ mình mới mình mới rầy rà, cự nự mấy ổng quá chừng, thấy không? Đó, mấy ổng là đại diện cho Phật nhưng có phải là mấy ổng nói đúng hoàn toàn ý Phật không? Không. Đâu có ông nào được mười điểm đâu. Cho nên buộc ta cũng phải theo Tăng vì dù sao Tăng cũng là đại diện của Phật, mà phải sao? Có sự chọn chọn lựa. Tức là lựa cái ông Tăng nào mà sau khi ta xem xét rất kỹ, thấy ông nói khá gần với lời Phật, khá gần. Mình cũng không biết hết Phật là cỡ nào để biết rằng ổng gần hay không.
[51:04]Nhưng mà mình chiêm nghiệm rất nhiều, so sánh rất nhiều. Trong đó có hai điều quan trọng: một là phải tuyệt đối dựa trên luật nhân nhân quả; hai là phải hướng về mục tiêu vô vô ngã. Nếu vị nào nói vững được hai điều này thì ta tin rằng vị đó rất gần với Phật, ta có thể đi theo được, đó.
[51:31]Và cái thứ hai, ta cố gắng xem trực tiếp vô kinh Phật. Nhưng cái nhược điểm của cái xem kinh Phật là cái lời văn kinh thời xưa rất là khó hiểu, rất là khó hiểu.
[51:49]Do đó là thành thử ra cả hai cái: một là ta xem trực tiếp kinh, tức là lời dạy của Phật để gọi là thường tùy Phật học; hai là ta nương tựa vào người đại diện của Phật, cả hai đều có cái gì? Đều có một khoảng cách với Phật cả. Nhưng mà sao? Mình biết làm sao bây giờ, nha. Phước mình ít, sinh vào cái thời không có Phật, biết làm sao bây giờ. Cho nên buộc đều phải dựa vào hai nguồn này. Một là mình đọc trực tiếp kinh Phật mà cũng không hiểu hết nổi do cái khoảng cách của ngôn ngữ. Hai là mình phải dựa vào một cái vị đại diện của Phật, nhưng mà khổ một điều là không biết ông này ổng được mấy phần trăm của của Phật, nên cả hai cái đều có một khoảng cách.
[52:38]Nên ta phải chế thêm một cách thứ ba để làm sao đến gần Phật nhất.
[52:47]Cái thứ ba là gì? Lễ Phật mà cầu nguyện. Lúc nào ta cũng lễ Phật, cầu nguyện: Xin Phật cho con hiểu được đúng lời Phật dạy. Xin cho con được mười điểm Phật chấm.
[53:12]Thì Phật không còn, nhưng mà Phật chưa bao giờ mất, nhớ giùm Thầy điều đó. Phật không còn nhưng chưa bao giờ mất. Cho nên khi ta có thành tâm lễ kính, cầu nguyện thì Phật ở bên ta. Ta không thấy nhưng Ngài sẽ âm thầm gia hộ cho ta. Ý nghĩ sai, tự nhiên ta sẽ thấy có ý nghĩ điều chỉnh lại, đó là Phật trực tiếp. Lúc đó ta đã tiếp cận sát với Phật rồi đó.
[53:46]Rồi nghe lời ông thầy dạy mà ổng giảng có một cái điều gì sai, tự nhiên khiến ta sẽ có một cái hiểu, cơ hội để hiểu lại, điều chỉnh cái lời ông thầy ổng dạy còn thiếu. Hoặc là ta xem kinh mà không hiểu, tự nhiên khiến trong đầu ta lóe ra một cái gì đó, ta hiểu được cái lời kinh này. Đó là gì? Đó là cái thứ ba, cái vô hình, cái tâm linh mà ta được Phật dạy trực tiếp. Cho nên ta có hai nguồn để thường tùy Phật học: nhờ đi theo một vị đại diện của Phật, hai là xem kinh trực tiếp, nhưng cả hai cái này đều vẫn có khoảng cách. Do đó ta có cái thứ ba là cái tâm linh: thần thành kính lễ bái, cầu nguyện và Phật sẽ che chở,
[54:31]gia hộ ta, yêu thương ta, chưa bao giờ mất cả nha, yên trí như vậy.
[54:42]Rồi ví dụ như ta nói thế này:
[54:47]một vị A La Hán chứng được thiên nhãn, Phật cũng chứng được thiên nhãn. Thiên nhãn là gì? Là theo định nghĩa là ngài Anuruddha á, ngài chứng được thiên nhãn, ngài thấy được tam thiên thế giới như cầm một trái xoài trong bàn tay. Tam thiên thế giới là gì? Những cái khái niệm đó bây giờ ta so sánh với kiến thức của khoa học thiên văn hiện đại, ta không không có căn cứ để so sánh, không có căn cứ. Tam thiên là ba ngàn. Đại thiên, rất nhiều ngàn. Chữ thiên này không phải là trời, nha. Bởi trong chữ Nho nó có nhiều chữ thiên: thiên vị nó viết chữ khác, cái thiên là trời nó viết chữ khác, mà thiên là ngàn nó viết chữ khác.
[55:37]Phát âm đồng nhưng chữ nó viết khác. Chữ tam thiên, chữ thiên này là ngàn. Đại thiên, chữ thiên này cũng là ngàn. Chứ nhiều khi ta không đọc trực tiếp, ta thấy chữ thiên là trời, đại thiên là trời to là sai. Đọc trong nguyên văn mới biết đại thiên, thiên là ngàn, đại thiên là rất nhiều ngàn. Còn tam thiên, ba ngàn. Và rất nhiều ngàn, ba ngàn nhân cho rất nhiều ngàn là bao nhiêu ngàn? Ta không có căn cứ để so sánh. Nhưng nếu bây giờ ta lấy cái kiến thức thiên văn của ngày hôm nay, ta mới thấy rằng trong vũ trụ này gồm rất nhiều thiên hà.
[56:19]Mỗi thiên hà có nhiều tỉ tỉ ngôi sao. Mỗi ngôi sao thì có những hành tinh như như chúng ta quay quanh. Phải chăng cái tam thiên đại thiên thế giới mà trong kinh văn nói, phải chăng là ám chỉ một thiên thiên hà hay sao? Là gồm nhiều tỉ tỉ ngôi sao trong đó. Mà cái độ lớn của một thiên hà là nếu ta phát một tia sáng từ cái bìa bên đây chiếu cho tới, cho nó đi từ từ đi xuyên qua thiên hà cho tới cái bờ bên kia, cái ranh giới bên kia của thiên hà, có khi nó mất khoảng 300 năm.
[57:04]Như vậy thiên hà nhỏ hay lớn? Hoặc là có khi nó mất 3.000 năm nó mới đi từ bờ thiên hà này cho tới mé cái ranh giới cuối của cái cái thiên hà đó. Vậy thiên hà nó lớn hay nhỏ? Mà ánh sáng á, ánh sáng mà đi như vậy á, thiên hà vô cùng lớn, nó ngoài cái tư duy của ta. Phải chăng một thiên hà chính là một tam thiên đại thiên thế giới? Và một vị A La Hán đến mức độ như ngài A Na Luật được gọi là thiên nhãn đệ nhất thì mới thấy được cái tam thiên đại thiên thế giới như nắm một trái xoài trong bàn tay của mình. Còn Đức Phật, thiên nhãn của Đức Phật thì sao?
[57:52]Biết hết tất cả vũ trụ này, biết hết tất cả mọi thiên hà này. Và cái sự sai biệt giữa một vị A La Hán có thể biết được một thiên hà và một Đức Phật biết hết cả vũ trụ với tỉ tỉ tỉ tỉ thiên hà, sự sai biệt đó là cực kỳ lớn. Cho nên tuy nói rằng cùng chứng thiên nhãn, nhưng sự thật thiên nhãn của Phật khác và thiên nhãn của A La Hán khác nhau rất xa. Nên ta mới thấy rằng chính vì những sự sai biệt đó, mặc dù nói là lục thông, tam minh nhưng cái cái sự tuyệt đối của Đức Phật, cái thần thông tuyệt đối Đức Phật, cái trí tuệ tuyệt đối Đức Phật khác xa với A La Hán. Và đây chính là điều mà một vị dù chứng đạo rồi vẫn phải thường tùy Phật học.
[58:46]Thì coi vậy chứ cái sự sai biệt vẫn còn rất là lớn là như vậy, nha. Nên các vị hiểu ra điều này nên các vị thường tùy Phật học. Còn nhiều điều mình mình chưa biết, còn nhiều vô số điều kỳ lạ, kỳ diệu của pháp giới vũ trụ, vô số những cõi Phật khác mà ta vẫn chưa biết. Hoặc ta đi vào thế giới vi mô, cái thế giới vi mô là thế giới cực kỳ nhỏ.
[59:17]Trong cách nói đơn giản, ngày xưa Đức Phật nói Đức Phật nhìn đạo nhãn của mình trong một chén nước đó có tám vạn bốn ngàn con trùng. Thời đó không ai hiểu. Tin thôi chứ không ai hiểu. Có ai thấy đâu.
[59:33]Nhưng mà ngày hôm nay khi mà người ta tiến bộ rồi thì thấy lời Phật nói là đúng. Mà hôm đó thì Phật, thời đó Phật chỉ nói như đó thôi: "Trong chén nước có 8 vạn 4 ngàn con vi trùng." Nhưng Phật còn thấy gì nữa không? Còn thấy không? Còn thấy hơn điều đó, thấy những điều nhỏ hơn những điều đó. Mà Phật không nói. Nói ra cái thời đó chúng sinh hiểu không? Không. Vì chưa ai học hóa học, vật lý gì. Thời đó chưa có. Nếu nói, nói những điều nhỏ hơn nữa, nói về một thế giới nano nhỏ hơn nữa không ai hiểu. Cho nên Đức Phật chỉ nói những điều Như Lai biết như lá trong rừng, nhưng những điều Như Lai nói chỉ như nắm lá trong trong bàn tay.
[1:00:18]Nên ngoài cái việc nhìn trong bát nước thấy 8 vạn 4 ngàn con vi trùng, có thể Đức Phật đã còn thấy trong thế giới vi mô nhỏ hơn rất nhiều. Thế giới của cái gì? Của nguyên của phân tử, của nguyên tử, của những hạt. Và tận cùng cái hạt đó là gì?
[1:00:37]Cái nguồn, cái bản chất của những hạt đó là gì? Hạt electron bản chất thật sự là gì? Proton bản chất thật sự là gì? Ở đâu ra? Phật có thể đã biết hết. Phải dùng chữ có thể vì Phật không nói. Nhưng ta chỉ đoán rằng Phật biết hết. Biết hết nhưng không nói được. Vì sao? Vì có nói ra chúng sinh vẫn không hiểu. Nhưng nếu ngày hôm nay với cái trình độ khoa học tiến bộ này mà có một Đức Phật thì thôi rất là đã cho chúng ta. Vì Ngài sẽ nói hết luôn. Ngài sẽ nói hết tận cùng cái thế giới vi mô đó do kiến thức khoa học ngày nay đã chấp nhận được những cái điều cực kỳ khó hiểu đó rồi. Ha. Nếu bây giờ mà có một Đức Phật là cực kỳ ngon lành.
[1:01:26]Ngài sẽ nói hết từ cả nguyên tử, phân tử, những hạt này hạt kia nguồn gốc từ đâu ra và những cái hiểu sai của các nhà khoa học luôn. Nên chính vì cái đó đó mà ta thấy từ một vị A-na-hàm nhìn thấy được cõi trời, cõi địa ngục quanh quẩn, cho tới một vị A-la-hán thấy được cả một thiên hà, cho tới một Đức Phật thấy được cả vũ trụ. Khoảng cách đó lớn. Và để có thể thành tựu được Phật quả tuyệt đối thì một vị Bồ-tát phải làm sao? Phải tích lũy rất nhiều công đức mới viên mãn được Phật quả. Mà cái tích lũy công đức đó trong bao lâu? Trong bao lâu? Trong bao lâu?
[1:02:20]Ta vừa hỏi chữ không bao lâu là ta xúc phạm các vị thánh, các vị Bồ-tát. Vì ta còn bị cái ý niệm thời thời gian chi phối.
[1:02:33]Còn đối với các vị thánh, các vị thấy rõ ràng rằng vũ trụ này không hề có bắt đầu, không hề có chấm dứt. Thời gian là vô nghĩa. Cho nên không có nói chuyện là bao lâu thì bằng Phật, không có nói chuyện. Cứ là tích lũy công đức mà thôi, không có nói thời gian. Triệu năm, tỷ năm là vô nghĩa với các Ngài. Cái chữ triệu, chữ tỷ mình nghe vời vợi, nhưng các Ngài không thấy nó là lâu. Đối với các Ngài thời gian đã biến mất. Vì vũ trụ này không có bắt đầu, không có chấm dứt. Cho nên việc mà các nhà khoa học thiên văn nói rằng vũ trụ bắt đầu từ một vụ nổ Big Bang là một cái sai lầm rất lớn của khoa học thời hôm nay.
[1:03:26]Có thể 300 năm sau khoa học sẽ sửa lại cái sai này, sẽ sửa lại. Nhưng mà ta theo Phật ta yên trí chẳng có vụ Big Bang nào. Vì vũ trụ không có bắt đầu và cũng không có chấm dứt. Trong cái không bắt đầu, không chấm dứt đó, một vị Bồ-tát cứ gì? Tích lũy mãi cái công đức cho đến tuyệt đối, vô lượng luôn. Và chính vì cái công đức tuyệt đối đó nên khi các Ngài thành Phật, trí tuệ các Ngài mới tuyệt đối, thiên nhãn các Ngài mới tuyệt đối mới biết hết là như vậy.
[1:04:03]Thế như vậy cái quả thánh mà ta chứng được là cái gì? Vì ta tu tới cái ngày mà như nãy ta nói đó, văn phòng đại diện của bản ngã biến mất
[1:04:18]thì đó là cái gì?
[1:04:25]Vì văn phòng đại diện của bản ngã biến mất, lúc đó ta bắt đầu nhận ra một cái khái niệm:
[1:04:33]Vô lượng vô biên.
[1:04:37]Còn trước đó cái văn phòng đại diện bản ngã còn, trung tâm của sự suy nghĩ còn, dù ta có nghe cái chữ vô lượng vô biên, ta vẫn không cảm nhận được dù ta chấp nhận. Vì Phật đã nói vô lượng vô biên, các vị A-la-hán đã nói vô lượng vô biên, các vị Bồ-tát đã nói vô lượng vô biên, các vị thiền sư đã nói vô lượng vô biên, ta nghe mãi và ta chấp nhận vì ta là đệ tử của các Ngài mà. Nên ta chấp nhận. Chấp nhận nhưng có hiểu không? Không. Có cảm nhận được không? Không. Nhưng đến cái ngày bắt đầu ta chứng, ta chứng ngộ cái bước đầu tiên là tan vỡ được cái văn phòng đại diện của bản ngã thì đó chính là cái giây phút đầu
[1:05:27]tiên mà ta thật sự cảm nhận được cái gọi là vô lượng vô biên. Cảm nhận được thôi. Bước đầu thôi. Mở ra thôi, chớ ta chưa đạt được cái vô lượng vô biên tuyệt đối. Nhưng từ ngày hôm đó ta thật sự đặt chân lên đầu con đường, đầu con đường để đi đến gì? Vô lượng vô biên.
[1:06:01]"Để ta đi theo nhau trong chân lý... gì đó... thiên thu như mơ ước ban đầu.
[1:06:13]Người ơi xin theo nhau dẫu khó khăn dãi dầu, trong tâm hồn nương náu
[1:06:22]vì hư không bao la." Thôi nhiêu đó thôi. Đó là do chúng ta là con của Phật, một lòng kính Phật cho nên khi chúng ta nghe cái khái niệm vô lượng vô biên của Phật dạy ta chấp nhận. Thì cái chấp nhận đó đã là cái nhân của sự chứng ngộ. Mà đến cái ngày ta có cái quả của sự chứng ngộ là cái văn phòng đại diện bản ngã nó tan, ta mới đặt chân bước đầu tiên lên cái cảnh giới của vô lượng vô biên. Chứ trước đó ta không không hiểu, trước đó ta chỉ chấp nhận vì ta ngoan thôi. Cứ đến cái ngày mà ta có cái chứng ngộ trong tâm, tan vỡ cái văn phòng đại diện của bản ngã thì đó mới thật sự là mình chạm tay được vào cái
[1:07:15]cái vô lượng vô biên ở buổi đầu như vậy.
[1:07:21]Nó còn có cái này nữa nè, một cái mà theo Phật học cũng có cái này.
[1:07:30]Ví dụ như bây giờ là quý thầy, quý cô, các Phật tử đang theo thầy học, đúng không ạ?
[1:07:39]Ta có một cái hội chúng như thế này, hội chúng này cũng rất là trang nghiêm. Vì ta ngồi ta nghiêm túc, thanh tịnh, quần áo chỉnh tề, người thì tóc đen, người tóc bạc và có một vài người đặc biệt thì tóc hơi đỏ đỏ, vân vân. Nhưng tất cả đều rất là nghiêm trang mà nghe Pháp trong chúng hội.
[1:08:05]Mà giữa cái thời mạt pháp này, giữa cái lúc mà chúng sinh điên đảo, quay cuồng, hưởng thụ, ham chơi này, vậy mà có một cái không gian này, có một cái lúc này, bao nhiêu ngàn con người này ngồi nghiêm trang nghe nghe Pháp, ta thấy đã rất là khác biệt, phải không ạ? Người ăn chơi bừa bãi, ăn mặc hở hang, nói năng bỗ bã với những con người giữ lòng thanh tịnh để nghe Pháp, khoảng cách nó rất là lớn. Nhưng cái chúng hội mà ta đang có hôm nay thực sự chỉ là gì? Cát bụi nếu ta so với chúng hội mà Phật đang thuyết cho các Bồ-tát nghe. Khoảng cách nó cực kỳ lớn. Ngồi trong chúng hội đó là Đức Phật ở giữa, vô số Bồ-tát vây quanh, tất cả đều là những bậc thánh đắc đạo.
[1:09:09]Cái sự thanh tịnh của các Ngài là tột độ, hào quang của cái pháp hội đó là cực rực rỡ, cái trí tuệ của những vị mà ngồi nghe Pháp cực kỳ thẳm sâu. Thì lúc đó khi mà Đức Phật thuyết pháp dạy dỗ từ những cái cách mà giáo hóa chúng sinh, nói về cảnh giới của Phật, vân vân là những điều mà nếu chúng ta được nghe thì sao? Không hiểu gì hết. Không hiểu gì hết.
[1:09:48]Đó là lý do mà các vị Bồ-tát yêu thích dự pháp hội của Phật. Vì trong pháp hội đó rất nghiêm trang, rất hạnh phúc. Ta nhớ nha, nghiêm trang và hạnh phúc. Giống như bây giờ ta ngồi đây, ta đang cũng dự một pháp hội, thầy hỏi thật chúng ta có thấy hạnh phúc không? Có.
[1:10:16]Thank you very much! Cảm ơn rất nhiều vì đã thấy hạnh phúc. Vì có hạnh phúc cho nên ta mới từ bỏ những cuộc vui của ngày chủ nhật để mà về đây nghe pháp. Còn ta mới nhìn thấy những người mà họ cho rằng những cái kia là vui á, karaoke đi chơi đi bời là vui, ta mới thấy đó chỉ là gì? Những trò kệch cỡm, tầm thường và vô nghĩa. Còn đến dự trong pháp hội của Phật pháp, cái hạnh phúc đó mới là chân chính, thẳm sâu, bền bỉ, có giá trị. Vì nó có hạnh phúc chứ không phải là không. Rõ ràng, khi ta dự trong pháp hội này ta có hạnh có hạnh phúc. Nhưng cái hạnh phúc mà to ta có trong cái pháp hội này so với cái hạnh phúc mà các vị Bồ Tát dự trong pháp hội của Phật là sao?
[1:11:10]Vô cùng sai biệt. Hạnh phúc của ta rất là bé, còn hạnh phúc của các vị Bồ Tát mà dự trong pháp hội của Phật là vô cùng mênh mông, lớn lao, vĩ đại. Nên các vị rất thích dự trong cái pháp hội của Phật, vì cái hạnh phúc đó nó đến từ ba điều. Điều thứ nhất, từ đạo lý mà Phật dạy. Mỗi một lời Đức Phật nói ra là chân lý cao siêu, mà ta nhớ một điều này, khi ta tiếp nhận chân lý, ta đều có cảm giác là hạnh hạnh phúc, đúng không ạ? Đó là lý do tại sao mà ta thích nghe pháp. Ta nghe pháp bởi vì nghe tới đâu mình vui tới đó, đúng không ạ? Còn người nghe pháp mà nghe thì ngủ thì biết rằng là sao? Người đó không đủ trí tuệ. Nghe mà chán quá:
[1:12:08]"Thôi tắt đi bà ơi, bà cứ mở hoài tôi chịu không nổi." Còn bà ở nhà bà cứ mở bả nghe, ông chồng đi ngang là cứ cự nự, vì trí tuệ hai người đó khác nhau. Còn cái người đã có trí tuệ rồi, nghe mỗi một lời pháp, lòng mình dâng trào hạnh phúc. Nên cái hạnh phúc đến nơi chân lý. Nên trong pháp hội có ba điều làm các vị hạnh phúc: hạnh phúc thứ nhất là từ nơi đạo lý Phật dạy; hạnh phúc thứ hai, từ nơi
[1:12:39]tâm của Phật, uy đức của Phật tỏa ra. Không có gì hạnh phúc bằng ngồi nhìn Phật.
[1:12:48]Hôm nay, chúng ta không bao giờ có được cái hạnh phúc đó vì đã vắng Phật. Chúng ta chỉ nhìn ví dụ như ta nhìn lên chánh điện, ta chỉ lễ một pho tượng. Mà nếu may mắn pho tượng đó có thần lực của Phật thì ta có hạnh phúc. Còn nếu pho tượng đó cái chùa đó tu có thể bê bối nên ít thần lực thì ta lễ tượng Phật đó ít hạnh phúc, có đúng không ạ? Có những tượng Phật ta lễ ta rất hạnh phúc vì có thần lực của Phật an trú, nhưng có cái tượng Phật ta lễ ta cảm thấy không hạnh phúc lắm vì thần lực của Phật an trú nơi đó không nhiều. Hẹn quý Phật tử mùng sáu, mùng bảy lên Phật Quang để xem tượng Phật mới làm tạc xong và để xem lòng mình có hạnh phúc hay không nha.
[1:13:42]Nếu ngày hôm đó về Phật Quang mà ta nhìn tượng Phật chưa kịp lễ mà lòng đã dâng trào hạnh phúc thì biết rằng có thần lực của Phật an trú nơi đó. Hãy về mà xem nha, hãy về. Về chùa nghe em, mai sau có ai nuôi mơ ước dài...
[1:14:08]Đó là cái hạnh phúc thứ hai. Hạnh phúc thứ ba là trong cái pháp hội đó, tất cả đều là thánh. Cho nên cái cộng hưởng của nội tâm đó tạo thành một cái niềm hạnh phúc tột cùng. Đó là lý do mà khi dự trong một pháp hội đó, một vị Bồ Tát là cực kỳ hạnh phúc vì ba điều. Điều thứ nhất là gì?
[1:14:34]Đạo lý của Phật, nha. Đạo lý cao siêu, cực kỳ cao siêu làm cho các ngài vô cùng hạnh phúc khi được nghe. Cái hạnh phúc thứ hai là gì? Được chiêm ngưỡng Phật, được ngồi đó lặng lẽ trong cái vô hình mà hưởng cái uy đức của của Phật là đã là hạnh phúc. Và hạnh phúc thứ ba là gì? Là thánh chúng, tất cả đều là là thánh. Tự nội tâm của các ngài giao cảm với nhau cũng đã biến thành hạnh hạnh phúc. Bây giờ ta cũng có ba điều đó, mặc dù rất là nhỏ. Thứ nhất, ta cũng được nghe đạo lý, có vui không? Vui. Thứ hai, nhìn được mặt ông thầy mình có vui không?
[1:15:22]Chắc là cũng có, nhưng mà rất là ít, ít vô cùng phải không? Very little, rất ít, rất ít. Cái thứ ba là chúng hội. Mọi người ngồi trong đây làm sao? Ai cũng đang có tâm tu hành. Cái cộng hưởng của tâm người này qua tâm người kia làm cho chúng ta yên tâm và hạnh phúc. Ví dụ như năm người cùng phát tâm tu hành ngồi bên nhau, có cái hạnh phúc của năm người; nhưng năm trăm người cùng đang phát tâm tu hành ngồi bên nhau, niềm hạnh phúc đó lớn hơn nhiều. Nếu năm ngàn người cũng đang phát tâm tu hành mà ngồi bên nhau, niềm hạnh phúc đó cực kỳ lớn. Bởi vậy, nhiều khi ta đến ta dự một đại lễ mà cả chục ngàn người
[1:16:08]thành tâm về dự lễ, ta nghe một cái hạnh phúc mà không lý giải được, cứ thích về dự lễ lại để tận hưởng cái hạnh phúc vô hình, sâu xa mà thật ra mình không ngờ nó nó có, đúng không ạ?
[1:16:27]Đó, ba cái điều đó. Vì vậy, một vị Bồ Tát rất thích dự cái chúng hội là vậy. Được cái giá trị thiêng liêng, được học với Đức Phật, nhưng sự thật cái chính cũng là cái hạnh phúc vô hình. Chúng ta cũng vậy nha, nên lý do là tại sao ta thường tùy Phật học là là như vậy.
[1:16:51]Ví dụ như ta bước vào một cái hội giảng, ở trên có ông giảng sư mà ở dưới đâu chừng mười mấy người ngồi nghe
[1:17:01]thì cái cảm giác của mình là gì?
[1:17:11]Buồn buồn, chán chán, đúng không ạ? Chính ông giảng sư ổng giảng cũng không nổi nữa, đúng không ạ? Mà ổng đã giảng không nổi rồi, người nghe làm sao? Nghe cũng không nổi. Cái pháp hội đó không thành công. Chứ nếu cái pháp hội đó nó tăng lên mấy chục người, mấy trăm người, bỗng nhiên ông giảng sư ổng phấn khởi liền, bài giảng ổng hay lên liền. Cho nên cái bài giảng của ông giảng sư hay hay không lại lệ thuộc vào cái gì? Vào chúng số, cái số đại chúng trong pháp hội, cái sự chăm chú lắng nghe, cái sự yêu thích học hỏi. Cái tâm lý của người nghe đã làm cho cái bài giảng hay lên. Cho nên quý Phật tử đâu có ngờ đâu,
[1:17:54]đâu có ngờ rằng mình siêng đi dự pháp hội là mình đã làm nên một cái công đức rất là lớn, làm cho bài giảng hay hơn, không ai ngờ điều này.
[1:18:06]Ví dụ như bây giờ có ai khen thầy giảng hay, thì sự thực cái hay đó là do ai?
[1:18:15]Do ai? Chính do người nghe, đây là một bí mật.
[1:18:23]Mà cái lời khen đó ai hưởng? Cái he này hưởng. Người ta cứ nói: "Ờ, ông thầy ổng giảng hay quá!", đâu ngờ rằng cái hay của thầy là do thính chúng. À, đây là một bí mật nha. Nhưng mà tại sao thầy lại được thính chúng đông? Tại sao? Người ta nói: "Tại thầy giảng hay mới đông." Không phải! No, sir! Không phải, không phải điều đó, mà cái thầy giảng hay là do cái này: do hồi kiếp nào đó, thầy có cái lo sợ một vị giảng sư giảng không hứng thú, cho nên thầy cứ ép người này, bắt người kia, kêu người nọ vô đó mà ngồi cho đông, đứa nào ra tao oánh chết! Để làm trang nghiêm chúng hội. Thế là vị giảng sư thấy đông người, vị đó giảng pháp phấn khích,
[1:19:22]bài giảng bỗng nhiên rất là thú vị, tăng cái giá trị lên. Cái công đức của thầy chính là gì? Bắt mọi người ngồi nghe, ép mọi người ngồi nghe, kêu gọi mọi người ngồi nghe, ai vô nghe đi ra có thưởng. Nhờ vậy thôi. Thầy được cái phước đó, cho nên sau này khiến thầy giảng cái chúng số đông. Mà hễ đông lên cái bài giảng của thầy tự nhiên nó hay. Không phải không phải thầy hay, không phải thầy hay. Và như vậy, ngày hôm nay khi quý Phật tử siêng năng đi dự pháp hội này thì chuyện gì xảy ra ở tương lai?
[1:20:05]Rõ ràng cái sự có mặt mình làm cho bài giảng hay lên, làm cho không khí chúng hội nó phấn khởi hơn, thì chuyện gì xảy ra ở tương lai?
[1:20:17]Tương lai mình được hai điều: một, mình sẽ giảng rất là hay; hai là mỗi khi mình giảng thì thính chúng rất là đông. Rồi!
[1:20:33]Vậy thì đừng làm biếng đi đi nghe nha. Đó. Nhưng mà nghe có hiểu hay không? Hay là tại thầy nói là ráng ngồi nghe vậy thì mai mốt làm giảng sư đông Phật tử, thôi con ráng ngồi nghe, mà nghe có hiểu không? Không, tại vì thấy ngủ không à. Mà muốn hiểu thì phải làm sao? Thì phải ngồi thiền, phải đến từ bữa trước, dự khóa thiền đầy đủ, đừng có chơi cái trò ăn gian, ngồi thiền thì trốn mà nghe pháp thì vô. Đó, chơi xấu lắm, cái đó xấu lắm, nha. Mà làm cho mình sao? Mình không hiểu được đạo lý, nha. Nhớ, phải ngồi thiền, phải cực khổ chiến đấu với vọng tưởng, chiến đấu với nội tâm, thì lúc đó ta nghe bài giảng ta mới hiểu và tạo thêm
[1:21:23]cái sự phấn khích, hấp dẫn trong hội chúng và thúc đẩy giảng sư giảng hay hơn. Nhớ như vậy nha. Cho nên cái việc mà ta thường tùy Phật học, làm cho trang nghiêm chúng hội, thì một vị Bồ-tát vậy, thường theo Phật nghe pháp chính là đã làm gì? Làm cho trang nghiêm chúng hội. Dù các Ngài chỉ là một cá nhân, một người, đóng góp vào một cái hội chúng vô lượng vô lượng con người, các Ngài không thấy mình quan trọng, chỉ miễn rằng mình là hạt bụi mà có mặt trong cái chúng hội vô biên đó, cũng là gì? Cũng là bày tỏ lòng tôn kính đối với Đức Phật. Chứ đừng nói: "Tôi đi nghe cũng được nhưng mà vai vế tôi tôi phải ngồi
[1:22:07]ở quan trọng thế này, quan trọng thế kia", không có. Các Ngài lặng lẽ ngồi chìm ở trong chúng hội, nhưng đó là gì? Đóng góp vào sự trang nghiêm của pháp hội. Cái phước của các vị chính là như vậy, giống như chúng ta bây giờ. Chúng ta đến dự pháp hội, mình ngồi lặng lẽ chìm trong đại chúng, mình chẳng có gì quan trọng cả, nhưng đâu ngờ đó cũng chính là công công đức cho mai sau, như vậy. Đó là lý do mà một vị Bồ-tát phải thường thường tùy Phật học.
[1:22:44]Bây giờ vậy, cả một cái thế giới đang bận rộn vì đủ thứ chuyện. Khoa học càng tiến bộ thì con người lại càng bận rộn, không hiểu sao. Hồi xưa người ta cứ nghĩ thế này: khi mà khoa học tiến bộ, kỹ thuật tiến bộ, máy móc chế ra được nhiều thì con người sẽ rảnh rỗi hơn. Rồi nói rảnh rỗi sao? Thất nghiệp hơn, căng thẳng hơn, bất an hơn vì máy nó giành hết công việc của con người. Nhưng còn một điều nữa, là cái công nghệ tiến bộ hơn bỗng nhiên con người bận hơn. Bận hơn như thế nào? Gặp nhau không có thời gian để trao đổi, nói chuyện. Vì sao? Vì mỗi người mắc ôm một cái smartphone mà coi Facebook, bận lắm, rất là bận.
[1:23:31]Không ngờ là kỹ thuật càng tiến bộ thì con người càng bận rộn. Cho nên ta có trí tuệ, ta cố gắng thoát ra khỏi cái sự ảnh hưởng của công nghệ, tìm về cái gì thiên nhiên, giản dị, bằng cách gì? Lặng lẽ ngồi nghe pháp, thoát khỏi cái sự cuốn hút của công nghệ đi, bỏ cái smartphone đó đi, nha. Trong cái giây phút này ta lắng lòng, giản dị như như đất trời, như lá cỏ, vậy thôi. Đó chính là hạnh phúc. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.