Lời giảng: Giải Đáp Thắc Mắc - Phật Tử Hà Nội Hỏi Đạo Lý

  • Thuyết giảng: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Thời lượng: 1:32:16

Toàn văn lời giảng, chép từ phụ đề. Bấm vào mốc thời gian để nghe đúng đoạn đó.

[0:09]Kính bạch Thầy và quý cụ, là tổ chúng con đây thì gồm có là tổ thư viện của chùa Quán Sứ ạ, và tổ Phật tử tu tập tại 132 Quán Thánh, gồm có 25 anh chị em phần lớn là giáo viên, và một tổ nữa là ở số 7 phố Hàng Bắc. Thì chúng con cùng họp mặt tại đây, nghe tin Thầy ra Bắc thì chúng con rất là vui mừng và ngưỡng mộ. Và hôm nay là tổ của chúng con là rất vinh dự được đón Thầy, quý cụ cùng đến Đạo Tràng, và hôm nay thì chúng con rất là mong được nghe Thầy và cụ giảng pháp cho chúng con. A Di Đà Phật ạ.

[0:49]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Thật ra thì Thầy chuyến đi đây Thầy, thì thì mục đích của Thầy là đưa cho ông bà cụ thân sinh ra thăm quê hương miền Bắc. Và thăm quê hương, thăm quê má. Lặng lẽ đi và cũng không muốn cho ai biết. Nhưng rồi sao Phật tử có duyên lại biết. Thầy hay bị nói cái pha giọng Nam giọng Bắc, tại vì xin lỗi Thầy Thầy Thầy xin lỗi biết sao không? Thầy rất thích là giọng Bắc. Thích giọng Bắc. Nếu mà Thầy cố ý nói giọng Bắc thì Thầy sẽ nói như người Hà Nội. À nhưng mà vì Thầy không có ý á, cho nên nó bị pha lẫn lộn với giọng Nam. Nhiều lúc xưa Thầy học á, học về ngữ âm cái phân

[1:26]tích cái giọng nói cái chữ viết rất là kỹ. Cho nên Thầy có thể nói giọng Bắc rất là chuẩn. Nhưng mà vì Thầy không có cố ý. Khi nào mà phải lồng tiếng đóng kịch gì đấy, chắc là cũng chưa phải làm nghề đó. Nhưng mà nói chung là Thầy rất là yêu yêu giọng Bắc. Về đây thì Thầy không biết là người ở tại Hà Nội thì có cảm giác như thế nào. Nhưng khi Thầy ra Hà Nội luôn luôn Thầy có cái cảm giác thiêng liêng. Tại vì Thầy nghĩ là trải bao nhiêu ngàn năm á, lịch sử của mình nó dày dặn ở trên cái mảnh đất này. Bao nhiêu triều đại, bao nhiêu anh hùng, bao nhiêu cái thăng trầm của đất nước mình ở đây. Và cũng như hiện nay vậy, là cái sự lãnh đạo cả đất nước cũng nằm ở đây.

[2:03]Nên đến Hà Nội là thấy cảm giác gì thiêng liêng. Mà trong cái cảm giác thiêng liêng đó thì Thầy có nhiều cái suy nghĩ, nhất là về Phật pháp. Thì chúng ta thấy là nếu mình hiểu đúng thì đạo Phật cho chúng ta một cái chân lý sống rất là tuyệt vời. Mà không chỉ là cái chân lý sống tuyệt vời, mà có thể làm thành cái sức mạnh của cả cái dân tộc. Như là trong quá khứ đã đã từng chứng minh như vậy. Mà trong cái thời gian sắp tới, Thầy vẫn nói là chúng ta càng ngày càng đi vào tương lai thì cái quan trọng là đạo Phật cũng sẽ đi cùng với chúng ta vào tương lai. Một cái đạo Phật gì đó mà đi vào tương lai với đất nước để làm thành cái sức sống

[2:42]cho dân tộc của chúng ta trong những năm, những tháng, những thế kỷ sắp tới. Thầy đang nói về thủ đô đối với Thầy là cái gì rất thiêng liêng, mà nhất là đối với ý nghĩa Phật pháp. Chúng ta biết rằng đạo Phật đã cho chúng ta một cái chân lý sống rất là tuyệt vời, mà còn hơn như thế, là đã cho cái dân tộc ta cả cái sức mạnh. Cái quan trọng là thời đại mỗi ngày mỗi tiến bộ, khoa học đã làm đảo lộn mọi cái suy nghĩ của con người trên khắp cả thế giới. Và cái quan trọng là đạo Phật phải tiếp tục đứng vững cái vai trò hướng dẫn tinh thần cho nhân loại, chứ đạo Phật không thể lạc hậu. Mà điều chúng ta may mắn là chúng ta được làm đệ tử Phật,

[3:28]mà quả thật rằng giáo lý của đạo Phật mãi mãi vẫn xứng đáng là một cái ánh sáng để đi trước và hướng dẫn tinh thần cho nhân loại. Nên đây là điều mà chúng ta không có hồ nghi, cũng như không cần phải bàn cãi. Cái điều mà chúng ta phải bàn cãi, chúng ta phải do dự, phải hồ nghi chính là vì chúng ta không hiểu hết được đạo Phật để có thể là ứng dụng được giáo lý của đạo Phật trong cái cuộc sống của mình mà mỗi ngày một tiến bộ như thế thôi. Cái quan trọng là hiểu được giáo lý đạo Phật để ứng dụng trong cuộc sống hiện đại như thế này, mà còn hiện đại hơn nữa, là vậy. Thì có một lần vậy, Thầy cũng hay trách,

[4:12]Thầy trách khéo không biết có ai giận không. Thầy nói rằng mỗi ngày chúng ta đều hướng về tương lai, nhưng mà chúng ta cứ thích ngoái nhìn về quá khứ. Ví dụ như là chúng ta cứ thích là nắm giữ cái giáo lý thời Đức Phật nguyên thủy, à thì cho đó là nhất. Hoặc có người thích nắm giữ cái giáo lý thời Ngài Long Thọ, thì cho đó là nhất. Hoặc có người thích nắm giữ cái giáo lý thời Đường Tống của Trung Hoa, cho đó là nhất. Thậm chí có người cho rằng cái giáo lý Việt Nam phải là thời Lý Trần là nhất. Mà Thầy nói tất cả đều ở quá khứ. Tất cả giáo lý đó dù hay nhưng đều ở quá khứ. Cái quan trọng là chúng ta đang bước vào tương lai,

[4:53]đất nước chúng ta và cả thế giới đang đi vào tương lai. Chúng ta cần có đạo Phật của tương lai. Cái đạo Phật đó bắt rễ chắc từ quá khứ, nhưng mà phát triển vượt đi trước thời đại để tiếp tục hướng dẫn cho cái đời sống cho tinh thần của thời đại sắp tới. Mà cái quan trọng là chính những người đệ tử Phật, Tăng Ni và Phật tử, chúng ta phải nắm vững được điều đó trước để chúng ta sống một đời sống thật là đẹp, thật là tiệp. Chúng ta làm gương cho mọi người, chúng ta dìu dắt mọi người chung quanh mình để cùng đi về với cái chân lý đó. Ở đây chúng ta muốn dùng cái chữ chân lý để từ từ chúng ta không muốn có một cái

[5:31]gọi là phân biệt à là đạo Phật mình là hơn hoặc là đạo khác là kém, vân vân. Bởi vì sao vậy? Bởi vì cái điều quan trọng là không phải là cái đạo này hay đạo kia, mà cái điều quan trọng là lẽ phải, là lẽ phải, là chân lý. Cái gì là chân lý, cái gì lẽ phải thì nó không có biên giới, không có ranh giới. Cho nên chúng ta tạm dùng cái chữ đạo Phật vì chúng ta đã may mắn tiếp nhận giáo lý đó từ Đức Phật, à nên chúng ta gọi là đạo Phật. Nhưng chúng ta phải hiểu ngầm rằng đạo Phật không phải là một cái khuôn, không phải là một hệ thống giáo điều hay một tổ chức mà gói chúng ta trong một cái ranh giới nào đó,

[6:11]mà chúng ta hiểu đạo Phật tức là lẽ phải chung của toàn thể nhân loại. Có thể là có nhiều người họ là người của đạo Phật, họ có hiểu đạo lý đó, có thể có người đó không hề là đạo Phật nhưng mà có khi họ cũng đã hiểu một cái lẽ phải rất gần với đạo Phật. Tất cả chúng ta đều tôn trọng. Bởi vì đạo Phật tức là lẽ phải, không có biên giới. Nên chúng ta hiểu về đạo Phật, chúng ta phải hiểu một cách cởi mở như vậy để chúng ta thương yêu và chúng ta tôn trọng, mà bớt phân biệt. Đồng thời chúng ta cũng có cái cảnh giác là thậm chí đôi khi dù là đệ tử Phật, có khi chúng ta đã hiểu sai lời Phật dạy để chúng ta sống một cách sai lầm,

[6:46]ích kỷ, cố chấp, bảo thủ làm cho đời sống mình trì trệ mà cũng làm phiền lòng người chung quanh mình. Có khi như vậy đó, và cũng có khi chúng ta cảnh giác với những người khác. Nhiều khi họ nhân danh đạo Phật mà họ cũng đã diễn dịch hoặc là truyền bá một cách sai lầm về đạo Phật, à hoặc là chúng ta cũng cảnh giác với nhiều cái triết lý cứ xuất hiện rải rác trên khắp thế giới mà không phải là lẽ phải, không phải là chân lý và cũng làm cho một cái đại bộ phận của nhân loại đi vào trong mê tối, sai lầm. Đó là những điều chúng ta cảnh giác. Còn tấm lòng của chúng ta thì rất là độ lượng, rất là bao dung, nhưng mà chúng ta cũng có cái cảnh giác rất là cao.

[7:25]Khi mà nói dông dài nãy giờ như vậy là điều Thầy muốn như thế này. Chúng ta không phải là Phật tử thì thôi, nhưng đã là Phật tử thì chúng ta phải thấy được cái vai trò của đạo Phật đối với dân tộc là đạo Phật luôn luôn đồng hành với dân tộc, thêm được sức mạnh cho dân tộc, đóng góp được ích lợi cho dân tộc, cho đất nước. Đây là điều chúng ta phải khẳng định, khẳng định. Mà cái quan trọng nữa là là tại thủ đô, tại thủ đô. Là đạo Phật chúng ta về nơi thủ đô Hà Nội này à chúng ta có bề dày về lịch sử Phật giáo rất là đáng nể. Nhưng mà thời gian qua vì chiến tranh, vì hoàn cảnh không thuận tiện, cho nên đạo Phật tại thủ đô chúng ta đúng là có có giảm sút.

[8:09]Hiện nay thì ở trong miền Nam tương đối là đạo Phật thịnh, tương đối như vậy. Nhưng mà dù là thịnh, chúng ta phải hiểu miền Nam cũng chỉ là gì? Đồng bào miền Nam ruột thịt nhưng cũng chỉ là, Thầy nói nhiều khi sợ mất lòng người miền Nam quá. Thì thủ đô mới là gốc. Cho nên nếu mà đạo Phật nơi thủ đô mạnh thì đất nước chúng ta sẽ có nhiều cái cái tốt đẹp rất là đáng kể. Đó là điều mà Thầy ưu tư, Thầy trăn trở, Thầy ưu tư trăn trở. Và hôm nay khi mà Thầy được dịp tiếp xúc với những người Phật tử tại thủ đô như thế này, Thầy có thầm nghĩ điều này, Thầy nghĩ là vượng khí quốc gia mình còn. Cho nên là khi mà nhìn những gương mặt này Thầy thấy là còn có cái đức.

[8:51]Mọi người ở đây còn có cái phúc, có cái đức, có cái tâm. Thầy nhìn thấy điều đó. Và đây là làm cho Thầy có cái hy vọng, có cái mầm hy vọng lớn lên dần dần. Và Thầy hy vọng là những cái con người ở đây hoặc là không có ở đây nhưng mà cũng đều có cái tâm, còn cái đức trong lòng mình, cũng có cái phúc của gia đình mình thì sẽ góp phần làm cho đạo Phật được phục hưng, phục hồi, được phát triển mạnh mẽ trở lại tại thủ đô này để xứng đáng trở lại là một cái đầu tàu về đạo Phật cho cả nước trở lại như là những ngàn năm xưa. Thầy nói Thầy không có nịnh. Thầy nói Thầy không có nịnh. Người miền Nam không có nịnh.

[9:27]Điều này Thầy nói giống như Thầy ám chỉ người miền Bắc nịnh phải không? Thầy không nói như vậy. Nhưng người miền Bắc thì khéo, khéo. Sau này mấy hôm nay Thầy đi với anh Hùng á, anh Hùng người Hà Nội, nên ảnh có dặn dò Thầy nhiều điều, à dặn dò nên Thầy có kinh nghiệm á. Như Thầy nói khi mà nghe người miền Bắc khen thì Thầy phải trừ đi phân nửa giùm.

[9:48]Không biết có

[9:53]phải không? Nhưng mà có một điều thế này là khi mà Thầy ca ngợi, Thầy khen ngợi các Phật tử miền Bắc mà Thầy được tiếp xúc trong những ngày qua, làm cho Thầy có hy vọng thật sự. Bởi vì dù sao Thầy cũng nhìn người đó, tuy Thầy không biết hết một trăm phần trăm, nhưng Thầy cũng biết được là không phẩy năm phần trăm về người đó. À cho nên Thầy thấy là ở đây chúng ta còn nhiều người có cái tâm, có cái đức và có cái phúc của dòng họ. Đây là điều mà sẽ không bao lâu Phật pháp sẽ được nhờ những người như thế này mà phát triển mạnh mẽ lại. Nên đây là điều Thầy hy vọng. Chỉ có cái điều là những cái bài giảng của Thầy

[10:32]là quý Phật tử chưa có được dịp nghe nhiều, chưa có được nghe nhiều. Trong những cái băng giảng đó khi mà các sếp có một số người có còn đa phần thì chưa có. Nên thầy hy vọng là là sắp tới mọi người sẽ được nghe nhiều hơn. Vì vậy mọi người ngồi đây chứ không hiểu thầy lắm. Có người đọc ít sách gì đó, ví dụ như đọc cuốn Nghiệp và Kết Quả phải không? Dạ. Nhưng có người như chưa đọc phải không? Có ai chưa đọc không ta? Có. Có người chưa đọc phải không? Nhiều việc. Mấy cuốn sách của thầy. Nghiệp và Kết Quả. Ai ai chưa đọc cho thầy biết giơ tay lên cho thầy biết. Hèn chi thầy thấy nhìn thầy như người nhìn người ngoài hành tinh mới đầu đến.

[11:09]Ví dụ như đọc hết cuốn Nghiệp và Kết Quả, Luận Về Nhân Quả hay Nam Mô A Di Đà Phật gì đó thì vẫn chưa hết, chưa hiểu hết về con đường mà đạo Phật phải đi tới đâu. Chưa hiểu hết, cũng chỉ là một phần rất nhỏ thôi. Cho nên vì vậy là hôm nay chúng ta gặp nhau, sự thật là tuy thầy có hy vọng nhưng mà Phật tử thì cũng chưa hy vọng lắm đâu. Về cũng chưa hiểu gì về thầy nhiều. Hy vọng là năm khác khi thầy trở lại đây đó thì hy vọng là được thăm lại quý Phật tử và lúc đó chúng ta sẽ hiểu nhau nhiều hơn. Hôm nay là đúng là buổi đầu gặp gỡ thì trong tâm tình chúng ta vẫn còn có cái dè dặt, có cái ranh giới ngấm ngầm vì chưa hiểu nhiều về nhau.

[11:50]Thầy nhìn chứ thầy có thể hiểu được 0,5 của mỗi người, 0,5% của mỗi người. Nhưng mọi người nhìn thầy thì như chưa hiểu gì về thầy nhiều lắm. Cho nên vì vậy là chúng ta thôi thì cái duyên nó như thế chúng ta chấp nhận như thế. Chúng ta hẹn vài năm sau biết đâu là cái duyên nó đậm đà hơn. Kế tiếp là thầy mong rằng bây giờ mọi người có những cái câu hỏi, những cái thắc mắc gì về đạo có thể nêu lên để tùy theo cái chỗ hiểu biết cạn cợt của thầy, thầy cũng sẽ giải đáp được một phần nào. Nhất là lựa những câu nào thiệt dễ giùm thầy. Mời các anh vào đây ngồi đi. Mời đạo hữu ngồi đi, cứ ngồi đi. Lớn tuổi đừng đứng lên đứng xuống. Hình như đây là Bác sĩ Hiến.

[12:30]Bác Hiến ạ. Dạ. Bạch thầy, chúng con có duyên được biết đến đạo Phật cũng đã khá lâu bởi vì gia đình cũng truyền thống. Và cũng được gần gần gũi các các bậc Phật lớn, các bậc đại tri thức thì được truyền thám nên chúng con tôn sùng. Nhưng mà con lại thấy con có thiên về việc ngồi thiền các cách. Thì lại nghe thấy nhiều các thầy dạy là có cảnh. Vừa gần đây lại có các cảm ứng, hiểu biết nhiều về một pháp môn niệm Phật. Thế thì bây giờ cái việc hành trì niệm Phật thì niệm Phật như thế nào? Mà thiền không có thầy thì như thế nào? Bạch thầy, chúng con, bản thân chúng con thì được gần gũi các sư phụ một thời gian khá

[13:21]dài và cũng tiếp thu đến đâu thì tu đến đấy. Thế thực sự là một bậc sư phụ kiểu như gọi là guru dắt chân dắt tay để cho chúng con Các bậc thứ hai, bậc thầy có, các bậc đàn anh có đến nay cũng không có. Cho nên là bản thân cũng phải tự lo. Cho nên hiện nay chúng con tu Phật trên cơ sở các kinh các giáo lý đã tiếp thu được và tự tự tu một cách chân thành. Nhưng mà vẫn thấy nó thưa thầy, chứ trên cơ sở thực hành. Mà niệm Phật thì đến chỗ nhất tâm nên như thế nào? Thế thì ở đây con không phân biệt hai pháp môn, con coi hai pháp môn là một. Thế nhưng mà niệm Phật đến nhất tâm thì cũng phải có thầy.

[14:10]Hơn nữa niệm Phật nhất tâm thì cũng là thiền. Nhất tâm lại là thế nào? Nhất tâm thì hóa tâm chăng? Thì cái đó là thực tế thật sự đấy. Thì bất kể tuổi nào bao nhiêu lâu không biết, vẫn cứ bị phá. Ai ai cũng nhiều người nói là tu Phật dễ thì con không dám nói nhưng mà con thấy là dễ đối với lý thuyết nhưng mà đối với thực hành hàng chục năm nay thì vẫn không phải. Mặc dù cái giáo lý mình tiếp thu có nhiều người cứ bảo rằng anh ấy giỏi nhưng mà về thực hành thì không được thế. Cho nên thì cũng có những lúc mà có những khác tí thầy giảng cho rõ. Nhưng mà cũng không biết như thế nào. Bác Hiến đã nói những lời nói rất là chân tình,

[14:55]thật

[14:59]là chân tình. Thật ra như Bác Hiến đã nói đúng mấy điều này. Thứ nhất là không có phân biệt giữa thiền và niệm Phật. Đây là cái quan điểm rất đúng, hết sức đúng và rất cần thiết cho đạo Phật chúng ta ngày hôm nay. Bởi vì nhiều người đã phân biệt thế này là thiền, thế kia là niệm Phật để rồi gây chia rẽ đạo Phật. Nên cái quan điểm mà thiền, niệm Phật là một là quan điểm chân chính. Thứ nhất, chúng ta tán thán điều này. Ca ngợi bác đã suy nghĩ được như thế. Cái thứ hai, bác nói rằng là tu thiền dù tuổi tác thế nào cũng bị phá. Đây là điều hết sức chân thành và rất đúng, rất đúng. Đây là của của những người mà có chân thành tu tập đều

[15:36]có những kinh nghiệm khốn đốn về điều này hết. Rất thê thảm, phải nói thế. Và thứ ba là cần phải thầy hướng dẫn như thế nào? Thì chúng ta sẽ nói Thật ra vấn đề thiền á thì không thể nói trong vài lời mà hết, không thể nói trong vài lời mà hết đâu. Như hôm trước hình như có ai nói với thầy, không biết phải anh Hùng hay là ai, nói với thầy về thiền tức là một vấn đề rất đơn giản. Thầy nói không, thiền là một vấn đề cực kỳ phức tạp. Nhưng mà cái phức tạp của thiền nó làm cho tâm chúng ta trở nên đơn giản. À nó khác là như vậy. Nó làm cho chúng ta thanh tịnh, nhẹ nhàng, độ lượng, bao dung, thương yêu hơn.

[16:10]Nó làm mình đơn giản hơn, sống nhẹ nhàng hơn. Nhưng mà nó rất phức tạp. Còn nếu mà chúng ta hiểu thiền một cách đơn giản thì thầy nói cái chuyện đơn giản chỉ thuộc về chuyện của những người ít trí tuệ, mà thiền không phải là của những người ít trí tuệ. Cho nên thiền rất phức tạp. Nếu mà chúng ta hiểu đạo Phật là nói à thiền đến với thiền chỉ là một câu nói giữ vậy mà hành suốt đời, thầy nói người này hiểu sai, không muốn nói là ngu. Bởi vì chỉ vấn đề trí tuệ kém chúng ta mới thích một vấn đề đơn giản. Mà đơn giản không bao giờ là chân lý, chân lý không bao giờ là đơn giản cả. Chân lý luôn luôn đa dạng, phức tạp.

[16:45]Nha, vì vậy có người nói là chỉ cần một tiếng hét, chỉ cần một cái đánh có thể ngộ đạo, thầy nói người này hiểu như thế hiểu sai đạo Phật. Để có một cái tiếng hét, một cái đánh mà ngộ đạo thì đã đi qua một quá trình rất phức tạp của nhiều kiếp, không đơn giản. Nhưng có cái hay là chúng ta hiểu được thiền một cách phức tạp nhưng cái phức tạp của thiền làm tâm chúng ta an tịnh được. Đó là đúng. Còn cái chuyện của thế gian phức tạp làm tâm chúng ta loạn lên, nó khác nhau chỗ đó thôi. Ví dụ bây giờ chúng ta ăn chơi, sa đọa, thác loạn, vân vân thì những điều đó nó cũng phức tạp lắm đâu đơn giản phải không?

[17:17]Nhưng mà làm mình loạn, còn cái đạo lý của thiền cũng phức tạp nhưng làm tâm chúng ta yên tĩnh. Và cái cái phức tạp này, lắt nhắt này, do đó là chúng ta cần một sự hướng dẫn kỹ, cần một sự hướng dẫn rất là kỹ lưỡng để chúng ta đi từ những bước rất căn bản, rất là vững chắc từ cái chỗ đứng của mình mình bước tới dần bước tới dần không bị sẩy chân. Còn nếu mình nhận được một cái đường đi mà cái đường đi nó nó cách mình, thầy nói cách mình hai thước thôi, mình bước đã sẩy chân rồi, vì vì chân mình chỉ bước vài tấc thôi. Huống hồ đôi khi chúng ta nhận được một cái giáo lý nó cách vị trí của mình 200 thước thì không bao giờ mình tu có kết quả.

[17:52]Thì mình cứ bước tới bước tới không hề có chỗ đặt chân nữa. Vì nó cái chỗ đặt chân sắp tới cách mình 200 thước rồi, vì người nào đó đã cho mình cái giáo lý không thực tế, không căn bản. Nên cái quan trọng là chúng ta cần cái giáo lý của thiền căn bản, mà khi chúng ta bước bước chân vài tấc đặt đúng liền, đúng với cái giáo lý đó liền và chúng ta cứ thế mà đi tới. Vì vậy, một vị thầy hoặc là một cái đường lối thiền mà cụ thể, khúc chiết, tỉ mỉ và căn bản, thiết thực rất là cần thiết. Và đây là tùy cái duyên. Chúng ta duyên may chúng ta sẽ gặp được người đó. Nhưng bây giờ làm sao mà chúng ta biết mình may hay không?

[18:25]Thì có một điều để vượt qua là chúng ta hãy cầu nguyện Phật tha thiết. Mỗi ngày chúng ta đến chúng ta cầu Phật là xin Phật gia hộ cho con gặp được minh sư, gặp một vị thầy có kinh nghiệm để hướng dẫn chúng con về thiền, thì cứ cầu nguyện suốt như một tháng, hai tháng hoặc năm, hai năm chắc chắn chúng ta sẽ gặp người đó. Và đó là một người ví dụ như sẽ rất là mập to, đẹp trai nào đó để chúng ta được học chứ không phải gặp một người gầy ốm như thế này. Bác Hiến trong cái sự tu của Bác Hiến có trục trặc. Tuy rằng bác rất là tinh tấn, rất quyết tâm đấy. Một con người quyết tâm vô biên đấy, có thiện căn đấy, nhưng bác bị trục trặc.

[19:02]Thầy có thể nói ra luôn những cái điều bác trục trặc đấy, nhưng mà thôi cũng không phải lúc, không phải lúc. Nhưng mà bác trình bày một cách rất chân tình đã là điều rất là đáng khen. Nghĩa là bác đến đây không có một cái vẻ như là huênh hoang, khoe khoang mà với tâm đức khiêm cung nói những điều như vậy. Mọi người nghe được sẽ rất là lợi ích. Cái câu hỏi của bác làm lợi ích cho những người nghe nên thầy rất là tán thán cái câu hỏi của bác vừa rồi. Và thầy cũng mong rằng là sau này bác sẽ có cơ duyên để tiếp nhận cái đường lối rất là chi tiết. Và chắc là dì Kim Chi phải nhanh chóng đưa một loạt băng Tâm Lý Đạo Đức liền. Dạ.

[19:34]Tại vì cái tâm lý đạo đức nó là nền của thiền. Thầy nói thiền á nó có ba cái nền. Thiền có ba cái nền mà có khi vào thiền chúng ta không có ba cái nền này tu bảo đảm sai liền. Ba cái nền thế này. Cái nền thứ nhất là đạo đức. Đạo đức phải cho sâu. Đạo đức tức là cái tốt trong tâm mình á phải cho kỹ cho sâu. Mà người càng trí tuệ chừng nào càng dựng cái đạo đức trong tâm mình thật kỹ chừng nấy. Cái đây nó thuộc về nội tâm. Mà dành cho những người có trí tuệ và có thiện chí. Còn nếu không có thiện chí mình không sửa tâm mình thì cũng chẳng ai thọc tay vô sửa giùm mình được. Phật cũng chịu thua chỗ này.

[20:06]Đây là cái công việc làm của người có trí tuệ và có thiện chí là tu dưỡng đạo đức trong tâm. Và thầy có giới thiệu về đạo đức này trong 32 cuốn băng Tâm Lý Đạo Đức. Cho nên dì Kim Chi phải nhanh chóng đưa nhiều bộ, tức là phải năm, sáu bộ, một bộ là 32 cuốn cho các Phật tử nghe cho thầy. Ha, phải xây dựng cái đạo đức này. Bởi vì xây dựng đạo đức này dù mình chưa xong là tâm đã yên tĩnh rồi. Cái hay của đạo đức là vậy. Trong khi đang tu là tâm đã yên tĩnh rồi. Cái thứ hai, cái nền tảng thứ hai của thiền là công đức, tức là cái điều mà chúng ta làm lợi cho người khác, cho tha nhân là phước đó. Tức là suốt một đời sống của mình phải luôn luôn

[20:41]làm lợi cho chúng sinh, dù những việc rất nhỏ. Ngay cả việc cúi xuống nhặt giùm người ta một cái nón rơi cũng phải làm. Hoặc là lớn lao hơn là hướng dẫn cho người ta đi chùa, làm Phật pháp cũng phải làm. Hoặc là kéo cả một cái đoàn từ thiện đi cứu trợ vào cái vùng sâu vùng xa cũng phải làm. Nghĩa là khi mà mình hiểu được cái đạo Phật để tu rồi thì cuộc đời này không còn là của mình nữa. Cái thân xác này không còn là của mình nữa, tâm hồn này không còn là của mình nữa, mà là của Phật và của chúng sinh. Người nào hiểu được như vậy mới có thể tu Thiền được. Còn nếu mình mình đi tìm một cái gì cho riêng mình,

[21:13]một cái sở đắc, một cái sự chứng ngộ, một cái thánh vị gì cho riêng mình, người này tu sẽ điên, bởi vì hàm chứa tham vọng cá nhân. Còn chúng ta phải hiểu cái công đức, sống một đời sống đầy công đức là sống hoàn toàn vị tha, thân tâm này nguyện cúng dường cho Phật, cho tất cả chúng sinh, phải như vậy. Cho nên trong lúc kinh Kim Cang, Thầy chưa có giảng kinh Kim Cang, chắc là phải qua năm Thầy giảng hết Tứ Diệu Đế rồi Thầy mới giảng tới kinh Kim Cang, thì đầu kinh Phật nói một câu mà Thầy nói là làm choáng váng hết mọi người, lúc mà ngài Tu-bồ-đề mới hỏi Phật là: "Bạch Thế Tôn, làm thế nào để hàng phục được cái tâm này,

[21:47]để an trú được cái tâm này?", bởi vì tâm đang loạn mà. Đức Phật trả lời một câu mà người ta nghe điếc á, nói rằng muốn hàng phục tâm này, an trú tâm này thì phải độ tất cả chúng sinh vào vô dư Niết-bàn. Nghe chới với liền, nói mình chưa được độ, mình chưa tâm an làm sao độ chúng sinh? Nhưng mà cái câu đó Phật muốn nói cái này: là việc tu hành bí mật trong tâm mình, an trú tâm mình, hàng phục tâm mình là việc bí mật trong tâm, nó gắn liền với lợi ích của tất cả chúng sinh, không bao giờ được tách rời hai điều đó ra, không phải à tôi tu nội tâm tôi, tôi tránh mọi người để tôi giữ tâm thanh tịnh, như vậy là sai.

[22:18]Hoặc là nói là thôi bây giờ tôi lo làm công đức với tất cả chúng sinh mà không lo tu dưỡng nội tâm, cũng sai, hai cái đó là một. Nên vì vậy Thầy nói cái căn bản thứ hai của Thiền là công đức, tức là cả một đời sống đã hi sinh cho mọi người. Căn bản thứ ba của Thiền là khí công. Dưỡng sinh khí công mà mà ảnh Bác sĩ Hiến vừa mới đưa Thầy cuốn tập mà Thầy không biết nội dung như thế nào. Về cái khí công thì như thế này, là trong kinh Phật không nói về khí công một cách công khai, rõ ràng. Phật chỉ nói xa xa, gần gần trong các hơi thở, 17 hơi thở của Thiền, của cái phép Quán niệm hơi thở. Nhưng mà trong cuộc đời Đức Phật thì điều này được nói lên rất rõ ràng.

[22:57]Là lúc Đức Phật còn là một Thái tử trong hoàng cung thì Đức Phật được dạy về cái khí công của Ấn Độ cực kỳ giỏi. Chúng ta vẫn nghe kể câu chuyện về cuộc đời Đức Phật á, khi mà Ngài thi về võ đó, Ngài giỏi hơn hết tất cả mọi người. Vì những cái bí thuật đó chỉ dạy trong hoàng cung, dạy cho vua chúa thôi, mà Ngài là hoàng tử, thái tử, nên Ngài được dạy những cái bí thuật đó. Nghĩa là kể lại có những cây cung mà không ai giương nổi thì Ngài mới là người giương nổi, hoặc là Ngài đánh võ rất là giỏi. Chính nhờ cái khí công đó mà sau này khi Ngài đi xuất gia, Ngài đã nhanh chóng nhiếp tâm vào trong định.

[23:29]Nên nhớ như vậy, khí công là căn bản của Thiền. Nên vì vậy là khi nói đến một cái giáo trình để mà tu Thiền, chúng ta nhắc lại ba căn bản mình phải thiết lập trước, phải dựng lập trước trong tâm mình, trong cuộc đời của mình. Thứ nhất là? Thứ nhất là? Đạo đức. Thứ hai là? Công đức. Thứ ba là? Khí công. Đó. Phân biệt giữa đạo đức và công đức khác nhau làm sao? Đạo đức là cái tốt trong tự tâm mình. Còn công đức là là việc làm lợi ích cho mọi người, cho chúng sinh, mình phân biệt cái đó. Còn khí công thì thì chúng ta từ từ rồi biết. Cái vấn đề mà nói về việc làm công đức á thì đúng là cả một đời chúng ta phải làm, phải không?

[24:14]Từ từ chúng ta vừa làm vừa có kinh nghiệm. Mà trong cái việc đó như thế này, nghĩa là giúp người đó, giúp người. Mà giúp người là giúp cái gì? À thì đây có những việc chúng ta liệt kê ra một chút xíu, những cái căn bản. Thứ nhất là giúp về vật chất. À ví dụ như thấy người ta khó khăn, mình đem bịch gạo, một ít tiền mình bố thí thì đó, hoặc là mình đem đến chùa mình cúng dường thì đó là giúp đỡ về vật chất. À thứ hai là giúp đỡ về nghề nghiệp. Ví dụ thấy cái người đó họ thất nghiệp, họ không tự lo cho đời sống họ được, chứ mình đâu phải đem gạo cho hoài được, thì hãy giúp cho họ một cái nghề để họ tự đứng vững lấy họ, là một cách giúp.

[24:49]Thứ ba là giúp đỡ về tinh thần. Ví dụ như người ta có những cái suy nghĩ sai, người ta có những nỗi buồn, thì mình đến mình an ủi, mình giúp cho người ta vượt qua cái nỗi buồn đó, là giúp đỡ về tinh thần. Và cái thứ tư là giúp đỡ về về đạo lý, đạo đức trước đã, làm cho người ta từ một người người ta sống xô bồ, bừa bãi, ích kỷ, ác độc, làm cho người ta trở thành con người hiền lành, à sống vị tha, tốt đẹp, biết nhẫn nhục, biết khoan dung, đó là cái thứ tư, quan trọng vô cùng. Thầy nói giúp ai cái gì giúp, không bằng giúp người ta đạo đức. Giúp đạo đức quan trọng nhất. Mình cho người ta tiền, cho vàng cũng không quý bằng mình cho người ta đạo đức.

[25:28]Bởi vì khi có đạo đức rồi người ta sẽ tự biết làm phước rồi đời này và vô số đời sau người ta sẽ sung sướng. Còn mình cho người ta, ví dụ cho người ta một tấn vàng ấy, nhưng mà không đủ phước, người ta đánh bài thua liền trong ngày hôm sau liền. Nên vì vậy là giúp đạo đức là quan trọng nhất và công đức lớn nhất. Đây là cái cách làm phước của những người mà có tinh thần mà nghèo. Nghĩa là khi chúng ta có thể giúp người kia miếng gạo, miếng tiền cũng được, nhưng mà nếu có cơ hội thì nhanh chóng phải truyền bá đạo đức liền, làm cho người ta có đạo đức liền. Thì như vậy mình không tốn nhiều lắm, nhưng mà phước rất lớn.

[26:01]Thầy nhắc lại, truyền bá đạo đức, công đức không thể tính kể được. Và cái thứ năm, cái cuối cùng, mới là cái thăng tiến về tâm linh, à, mới giúp người ta tu hành, giải thoát, niệm Phật, thiền định gì đó, đó là cái thứ năm. Như vậy Thầy nói lại, là có năm điều để chúng ta giúp người trong việc mà chúng ta tạo dựng cái công đức. Thứ nhất là? Thứ nhất là? Vật chất, giúp đỡ vật chất vì nó căn bản và thiết thực, căn bản và thiết thực. Thứ hai giúp người ta về? Nghề nghiệp, để người ta tự nuôi sống. Thứ ba là? Tinh thần, đúng rồi, ha. Thứ tư là? Đạo đức, đây là cái mốc quan trọng nhất, quan trọng nhất.

[26:40]Nghĩa là giúp gì giúp chứ không bằng đạo đức, mà chúng ta làm lợi cho cả xã hội luôn nữa. Cứu được cuộc đời của người đó, làm lợi cho gia đình của người đó và cả xã hội luôn. Vì một người mà trở nên đạo đức, cả nhà sẽ vui, còn một người quậy, cả nhà cũng khổ luôn đó. Đây có ai quậy không? Chắc không, hi vọng biết tu thì chắc không quậy. Và cái thứ năm, mới là cái giai đoạn cao của sự giúp đỡ là giúp người ta tu hành về tâm linh, thiền định, niệm Phật, vân vân gì đó, đó là cái thứ năm. Đó, đây là năm điều để chúng ta biết mà mình làm công đức suốt cả cuộc đời của mình như vậy, ha. Đó, còn cái khí công thì nó như thế này:

[27:13]khí công là cách mà tập luyện cái cơ thể để nâng cao cái sức khỏe của mình. Có một điều à khi mà Thầy suy nghĩ về cái việc mà đất nước mình nghèo á thì thấy mình thua các nước khác ở chỗ là sức khỏe. Người ta mạnh quá! Mấy người Tây phương họ làm quần quật cả ngày, cho nên năng suất rất là nhiều, tinh thần người ta cũng mạnh, họ ngồi họ tập trung họ suy nghĩ, họ tìm cái này, tìm cái kia. Còn mình yếu rồi cả cái đầu mình cũng yếu theo nữa. Cho nên có những lúc thì mình chiến đấu rất là giỏi, nhưng mà buông ra rồi cái mình rõ ràng mình thua người ta về năng suất lao động do sức khỏe kém. Bây giờ mình tập luyện thì cũng không bằng người ta vì người ta mạnh quá.

[27:45]Cách mình biết tập người ta cũng tập hết rồi, cách mình biết dinh dưỡng thuốc men thì cả thế giới cũng biết hết. Nhưng mà chỉ có một cái thôi phù hợp với người Việt Nam mình cái hình vóc nhỏ thó là khí công. Khí công này thì Trung Quốc họ cũng rất là giỏi, Việt Nam mình cũng không thua, nhưng mà Trung Quốc họ hơn mình cái là họ phổ biến tràn lan hết cả nước họ. Còn Việt Nam mình thì ai biết giấu, mặc dù lâu lâu mình biểu diễn thì mình không thua Trung Quốc, nhưng mà rất ít người biết về khí công. Nên Thầy nghĩ đây là một cái điều sai lầm của cha ông mình á là khi giấu cái khí công này. Cho nên vì vậy Thầy mới kêu gọi là từ đây về sau

[28:15]ai biết khí công mình ráng dạy cho mọi người. Tuy nhiên khí công nó có những vấn đề của khí công, là nếu mình tập khí công mà không căn bản thì cũng cũng điên, tẩu hỏa nhập ma. Cho nên vì vậy chúng ta cần một cái phương pháp khí công nào cũng hết sức là căn bản trở lại, cái phương pháp tập luyện nhẹ nhàng, người yếu nhất, bệnh nhất, già nhất cũng tập được thì đó là phương pháp đúng. Về khí công thì Thầy có cái gợi ý này một chút xíu, thì có thể là có nhiều người ở trong đây giỏi hơn Thầy nữa, nhưng mà Thầy cũng xin đóng góp ý kiến. Thường thường người ta vẫn xem Thiếu Lâm là cái nôi của khí công, võ thuật.

[28:48]Nhưng mà sự thật là trước khi có Thiếu Lâm thì ở Trung Hoa người ta đã có cái đó rồi. Nghĩa là cái việc mà phi thân nhảy nóc nhà này nọ đó là đánh chưởng đồ là người Trung Hoa đã có trước khi có chùa Thiếu Lâm. Và Việt Nam cũng vậy, từ cái đời mà Trưng Trắc, Trưng Nhị này nọ là lúc đó Việt Nam mình cũng đã có phi thân đánh chưởng là bình thường rồi. Nói chung là cái bí quyết về rèn luyện cơ thể trong võ công này nọ là nguyên cái mảng Trung Hoa, Việt Nam có hết. Nhưng sau này thì có nhiều người họ giỏi võ họ đi tu vào chùa Thiếu Lâm, thế họ dành nhiều thời gian để mà cải thiện, hệ thống lại, cho thành ra nơi đó giống như là cái nguồn gốc,

[29:24]là cái tổ, nhưng mà sự thật là trước đó đã có. Thế có một nhân vật rất là kiệt xuất xuất thân từ Thiếu Lâm là Trương Tam Phong, thì ổng mới bước ra, ổng thành lập cái phái Võ Đang, phái Võ Đang. Thì hai cái cách tập của Thiếu Lâm và Võ Đang khác nhau, nhưng mà để đúng với đạo Phật thì chính Võ Đang chứ không phải Thiếu Lâm. Kì lạ là như vậy. Lại là Võ Đang á, cái cách tập khí công của Võ Đang nó lại đúng với đạo Phật, đúng với Thiền hơn là Thiếu Lâm. Đây là điều rất là lạ. Tại vì sao vậy? Tại vì cái lối tập khí công của Thiếu Lâm á nó còn có một chút cương mãnh, có một chút có, có chút có. Trong khi cái lối tập của Trương Tam Phong tìm á là phải Không.

[30:03]Đi tìm cái Có trong cái Không, là đi tìm cái khí lực trong cái Không hoàn toàn. Cho nên vì vậy nó rất gần với Phật pháp. Còn cái Thiếu Lâm á thì các võ sư bên ngoài họ đi tu có bao nhiêu họ mang vào y chang vậy, họ giữ nguyên cái cách tập như vậy, cho nên trong đó nó có cái cái cương mãnh và nó có cái Có. Cho nên vì vậy chúng ta nhìn một vị sư Thiếu Lâm mà biểu diễn khí công á, chúng ta sẽ thấy gương mặt không có phải là bình thản, không có điềm tĩnh. Thầy ví dụ thế này. Ví dụ như là họ lấy cái búa, ví dụ họ để cục đá trên đầu ha, rồi họ có người lấy cái búa tạ đập lên đầu thì bể cục đá mà cái đầu không sao.

[30:37]Nhưng mà để như vậy đó, chúng ta sẽ thấy họ vận khí lên xong rồi gương mặt họ rất là căng thẳng và khi đập họ hét một tiếng nữa. Đó là những cái như trợ thêm cái tinh thần, và những cái đó nó không phải đạo Phật. Đạo Phật mình là ung dung, điềm đạm. Mà bên Võ Đang thì như vậy, bên Võ Đang á họ đánh mà như không đánh, gồng mà như không gồng. Thì Võ Đang cuối cùng trở lại là rất gần với đạo Phật. Đây là điều lạ đó. Và thầy có may mắn cũng có tìm ra được một vài phương pháp tập khí công của Võ Đang. Nên thầy thấy rất là hay, rất là căn bản. Và tuy nhiên là thầy chưa có mạnh dạn phổ biến nhiều bởi vì để cho

[31:12]trong chùa đó, trong chùa thầy tập cho nó có kỹ lưỡng một chút. Rồi sau đó thầy sẽ mạnh dạn phổ biến. Thầy chỉ phổ biến một vài cách là cho một vài người thân hữu thôi. Người thân hữu khi thấy người đó có bệnh thì hướng dẫn cho tập thì nó sẽ cải thiện về cả thần kinh cũng như là các nội tạng của mình rất là hiệu quả. Rồi bản thân thầy cũng là người rất là bệnh. Thế nên thầy có cái kinh nghiệm, thầy là trung tâm bệnh nhiệt đới á. Trung tâm bệnh nhiệt đới. Giờ ai nói thuốc gì bệnh gì thầy cũng biết, nói ra biết, tại thầy bệnh hết trơn rồi. Nhưng mà may mắn thầy tìm được cái phương pháp tập khí công của Võ Đang.

[31:41]Và thầy thấy thực sự nó là hỗ trợ rất lớn cho thiền. Cho nên nãy bác Hiến nói về cái con đường thiền. Đó, thì thầy có muốn nói là nó cả một hệ thống rất là lớn. Trong một vài thời gian như thế này chúng ta không nói hết được. Thầy chỉ muốn nhấn mạnh lại ba cái căn bản cho người tu Phật, đệ tử Phật: đạo đức, công đức và khí công. Cho nên từ đây về sau mọi người tìm tài liệu cũng như là tu dưỡng nội tâm mình về ba điều này. Riêng khí công thì thầy nghĩ là ngoài Bắc không thiếu đâu, ha. Ráng tìm thì sẽ có đó. Còn cái phương pháp của thầy thì để lúc nào mà thầy sẽ hệ thống lại chiếu phim á, thu vào trong phim rồi

[32:15]phổ biến ra thì nó sẽ nhẹ lắm, nhất là những người già, người yếu, người bệnh á, tập rất là tiện, rất là hay, mà hiệu quả ghê lắm, rất là hiệu quả. Thì như vậy đi bác Hiến nha. Bác Hiến nha, rồi về lâu về dài chúng ta sẽ trao đổi thêm như vậy. Có ai hỏi gì thêm? - Dạ thầy, những điều mà thầy vừa giải thích thì con hoàn toàn tâm đắc và cũng đã hiểu. - Dạ, đó là căn bản. Bác thì cái con đường thiền á, cái giáo lý của thiền á bác có hiểu vấn đề đó. Để sau này từ từ rồi trao đổi thêm. Còn niệm Phật hoặc là thiền nói giống nhau á thì chỗ này là đừng bị xao lãng. Thầy dùng cái chữ "đừng bị xao lãng". Thì trong đạo Phật gọi là "chánh niệm".

[32:51]Tức là trong Bát Chánh Đạo á: từ chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Thì cái không xao lãng nằm ở chỗ chánh niệm, mà chúng ta thấy nằm ở giai đoạn thứ bảy. Trước đó phải tu rất nhiều cái chánh để thành một cái công đức rồi mới tới cái không xao lãng. Cho nên tâm mình mà mình làm cái gì mà không xao lãng là mình phải hiểu rằng mình đã có công đức nhiều, không phải đơn giản đâu. Chứ nghe ai mà ví dụ ngồi thiền mà tâm nhiếp được là thầy biết người này vô tình hay cố ý gì đó đã tích lũy được rất nhiều công đức phía trước, chứ không phải đơn giản đâu, không phải đơn giản.

[33:22]Bởi vì nhiếp vào thiền là nó giai đoạn thứ bảy, thứ tám rồi, mà cái chánh niệm tức là không xao lãng. Giờ nếu mình niệm Phật mà không xao lãng thì là đã đúng chánh niệm, hoặc là khi mình theo dõi hơi thở mà không xao lãng là đã đúng chánh niệm. Hoặc mình tu cái gì vậy mà mình cảm thấy trong suốt thời gian mình ngồi như vậy không bị xao lãng là đều gọi là chánh niệm, nên gọi là giống nhau. Đây là chỗ mà bác Hiến muốn nói, mà thầy dùng cái từ cho nó đúng là đều là chánh niệm khi chúng ta không xao lãng trong bất cứ pháp môn nào. Còn chánh định thì đã chứng rồi, chánh định là giai đoạn tự động luôn rồi, tự động.

[33:55]Nhiếp tâm không cần phải cố gắng nữa. Chẳng những không xao lãng rồi mà nó tự động giữ trong yên tĩnh luôn thì gọi là chánh định. Nhưng mà cũng phải vượt qua nhiều giai đoạn của chánh định rất xa, chúng ta mới chứng được trí tuệ và đạo quả, Niết-bàn, không phải đơn giản. Thì đây là chỗ giống nhau đấy bác ạ, gọi là chánh niệm tức là không xao lãng là đều giống nhau hết. Còn một vị chân sư, gọi là có thầy để mà hướng dẫn á, thì trên đời này chúng ta quả thật là khó biết ai thật sự là một chân sư, khó biết lắm. Ừm. Do đó là thôi vị chân sư đó nếu là chân sư thì chắc vị đó cũng khiêm tốn, không nhận mình là chân sư đâu.

[34:30]À, mà tuyên bố mình là chân sư thì phải xét lại, giống như ông Osho đó anh Hùng ha. Người tuyên bố mình là chân sư thì chúng ta phải xét lại, còn người thật sự chân sư thì họ lại không thấy mình là chân sư. Họ thấy mình lúc nào cũng như là cỏ rác bên đường, những vị đó lại là chân sư. Cho nên vì vậy chúng ta có duyên gặp ai là chân sư thì mình lạy Phật, cầu Phật gia hộ cho mình khiến người gặp. Có ai hỏi gì nữa? - Thầy cho con phép được hỏi là trong quá trình học đạo học Phật thì con đọc sách thấy cái cánh của Đức Phật. Lần trước

[35:01]con cũng đến đây có được duyên gặp thầy nhưng mà không được thầy đến giảng, hôm nay được... nhưng không có không có cái dịp để mà hỏi. Là thế này ạ: Là Đức Phật sau 49 ngày mà thiền định á thì khi ngài giác ngộ, ngài có nhìn ra và thấy là tất cả chúng sinh đều là có Phật tính. Tức là đều có một cái cái tâm tri giác đó.

[35:31]Thế thì trong cái kinh Thủ-lăng-nghiêm thì ông Phú-lâu-na cũng có hỏi và trong kinh Viên Giác á thì Bồ-tát Kim Cương cũng có hỏi là: Thế thì trước khởi thủy thì con người chúng sinh á là có tâm Phật, có Phật tính, vì sao lại trở thành vô minh? Đấy, thế là cái thứ nhất. Thì thế này, thì xin thắc mắc ở chỗ là cả hai kinh đó thì không thấy Đức Phật trả lời cụ thể cho con. Thế cái thứ hai là trong kinh Viên Giác thì câu hỏi của Bồ-tát Kim Cương có hỏi là: Sau khi tu mà đã giác ngộ, tâm đã trở thành viên giác rồi á, thì còn trở lại vô minh hay không? Thì Đức Phật có ví dụ như là người ta luyện vàng lấy từ quặng.

[36:28]Thế mà vàng mà khi mà đã lấy từ quặng đã thành vàng rồi á thì nó không trở lại thành quặng nữa. Nếu thế thì tại sao mà lúc khởi thủy mọi người đều là đã có Phật tính rồi á, thì sao lại vô minh? Mà quặng là là tức là kỹ không thấy ai ai cũng có nói có Phật tánh. Đấy. Thì đấy là cái câu hỏi thứ nhất. - Thôi để để thầy trả lời câu này trước, rồi đây là vấn đề lớn. Hồi nãy giờ thầy dặn là hỏi gì từ từ dễ mà hỏi, ai dè hỏi câu khó. Cái lý thuyết mà nói rằng thế này, thầy xin phép trả lời nha câu này trước, một cái vấn đề lớn. À nói rằng khi Đức Phật giác ngộ đạo vì thấy rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, câu đó nằm trong kinh Hoa Nghiêm.

[37:12]Mà trong lịch sử không phải như vậy. Nói về lý thuyết rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, thầy xin thưa là một phái của đạo Phật, chứ không phải là cái gốc của đạo Phật, một phái mà thôi. Giờ thầy sắp sửa nói ra một điều động trời mà chính ngày xưa khi thầy nghe điều này thầy cũng bị sốc. Mà thầy sắp sửa nói ra một sự thật, cho nên mọi người nghe bình tĩnh và đừng giận thầy. Cứ từ từ nói thầy gom dép thầy chạy trốn. Là thế này: Toàn bộ kinh Đại thừa không phải Phật thuyết.

[37:44]Kể cả kinh mà nãy giờ đạo hữu vừa nói, Hoa Nghiêm, Lăng Nghiêm, Viên Giác đều không phải Phật thuyết. Kể cả thầy vừa dẫn kinh Kim Cang cũng không phải Phật thuyết. Nhưng mà không phải sai, đừng nghĩ rằng toàn bộ nó sai. Nó rất hay, không phải Phật thuyết. Đây là một chuyện rất động trời trong đạo Phật. Khi thầy đến với đạo Phật thì thầy đi qua ngõ kinh điển Đại thừa, nhờ kinh điển Đại thừa mà thầy tiếp cận với đạo Phật. Cho nên thầy tôn sùng, thờ kính kinh Đại thừa. Hằng ngày thầy tụng kinh Đại thừa, đến nỗi thời đó không có kinh mà thầy phải ngồi viết tay kinh Viên Giác, để hằng đêm tụng và lễ lạy các vị Bồ-tát trong kinh Viên Giác,

[38:21]vân vân, cũng như là học kinh Lăng Nghiêm, kinh Hoa Nghiêm, đủ thứ kinh của Đại thừa. Nhưng một ngày khi thầy được Hòa thượng Thanh Từ á, vì thầy là đệ tử của Hòa thượng Thanh Từ từ gốc, cũng cho biết kinh Đại thừa không phải Phật thuyết, thầy chới với như rớt ở trên xuống vực thẳm. Nhưng vì thầy tin Hòa thượng nên thầy bình tĩnh lại tìm hiểu lại. Sau đó đọc các sách của nước ngoài, sách Hòa thượng Minh Châu, của một số tiến sĩ Phật học thời đó của Nhật nữa, thì đành phải chấp nhận một sự thật là kinh Đại thừa không phải Phật thuyết. Nha. Nhưng bây giờ là chúng ta phải công nhận là kinh Đại thừa đã là một đóng

[38:52]góp rất lớn cho đạo Phật và có nhiều tư tưởng phát triển rất hay. Mình phải sử dụng nhiều cái điều rất hay trong kinh Đại thừa. Còn về mặt lịch sử thì đúng là không phải Phật thuyết, nhưng về mặt lẽ phải, về mặt chân lý thì kinh Đại thừa rất là độc đáo, rất là hay. Và đây là điều mà hôm nay với cái tinh thần khoa học, những người trí thức chúng ta phải chấp nhận điều đó, không được mê tín nữa. Không được cãi nữa. Vì có một lần có cái hội nghị lớn trên thế giới tại Mỹ á bàn về cái nguồn gốc xuất xứ kinh điển Đại thừa thì các nhà học giả lớn trên thế giới mời cả Đức Đạt-lai Lạt-ma đến dự. Thì họ dẫn chứng từng chi tiết một tại sao kinh Đại thừa không phải Phật thuyết.

[39:27]Họ dẫn chứng từng chi tiết luôn. Ví dụ họ nói là kinh nguyên thủy trong cái thời đó cái cách hành văn của con người là như thế này, cái từ đó chưa có. 300 năm sau trong xã hội Ấn Độ cái từ đó mới xuất hiện thì trong kinh Đại thừa mới có cái từ đó xuất hiện. Như vậy kinh này xuất hiện sau 300 năm. Họ đối chiếu về ngôn ngữ học vân vân, về xã hội học, ngôn ngữ học, bối cảnh lịch sử thì họ phát hiện ra hết kinh nào xuất hiện vào thời đại nào. Mà các nhà khoa học họ làm việc thì thôi nghiêm túc lắm. Họ dẫn chứng đâu là hết cãi. Tức là trong cả mấy ngày cái hội nghị đó họ từng người lên chứng minh từng

[39:58]điểm, từng người lên chứng minh từng điểm rồi là không ai cãi được nữa. Thì sau đó mọi người đã tương đối chấp nhận thì mọi người mới hỏi ý kiến của Đức Đạt-lai Lạt-ma là ý kiến ngài như thế nào, thì ngài chỉ trả lời một câu: "Nhưng tôi tin kinh Đại thừa là của Phật thuyết." Thì mọi người cười, cười xòa vì chữ "tin". Tin mà không chứng minh. Cho nên ở đây là chúng ta thấy là một là chúng ta đi theo con đường tin mà bất chấp lý lẽ thì chúng ta cứ tiếp tục mà đi. Còn nếu chúng ta là những người trí thức có trí tuệ, làm việc cái gì có khoa học nghiêm túc thì chúng ta phải làm cái gì có lý lẽ, không có tin đơn giản, không chấp nhận cái gì mà mình không chứng minh được.

[40:35]Chữ tin tức là chấp nhận, nhưng mà ở đây chúng ta phải chấp nhận điều gì sau khi chúng ta đã chứng minh kỹ lưỡng, chứ không được mà chỉ nghe nói mà chấp nhận. Thì như vậy là cái chuyện của ngày xưa, ngày hôm nay khoa học kỹ thuật ngày nay không cho phép chúng ta chấp nhận một điều gì dễ dàng hết, phải chứng minh. Do đó thầy nói rằng cái lý thuyết mà nói tất cả chúng sinh đều có Phật tánh là một lý thuyết sau Phật, là một trường phái, mà sau này được Thiền tông phát huy rất là rực rỡ, ha. Còn từ thời Đức Phật thì không nha. Đây chúng ta nghe nè, chúng ta nghe thời Đức Phật thế này. Là thời đó các kinh điển Vệ Đà của Ấn Độ nè, cái Upanishad Áo nghĩa thư Ấn Độ

[41:11]nè, là đã có nhiều vị đạo sư tu thiền và chứng được những cảnh giới rất cao. Từ một cái con người phàm phu bản ngã loạn động thì các ngài vị đó đã tu tập thiền định tâm thanh tịnh, bừng sáng ra một cái ngã mới mà các ngài gọi là chân ngã, hay là thần ngã, hay thánh ngã. À và cho đó là cái cứu cánh. Mà để đạt được cái chân ngã, thần ngã, thánh ngã đó, các vị đó đã chứng được nào là Không vô biên xứ định, Thức vô biên xứ định, Vô sở hữu xứ định, Phi phi tưởng xứ định, vân vân. Khi Đức Phật của chúng ta xuất gia, ngài cũng đã đến tìm học với ngài Alara Kalama, rồi với lại Uddaka Ramaputta. Thì hai vị đạo sư đó đã chứng được cái chân ngã đó ở cái mức độ rất cao.

[41:55]Đức Phật chúng ta nhờ cái căn bản công đức của vô lượng kiếp cũng như cái khí công, ngài chứng cái rẹt liền, ngài tu mấy bữa ngài chứng bằng mấy ông thầy đó. Thì ngài Alara Kalama đó mới nói mới mời Đức Phật lúc đó là ở lại cùng lãnh đạo giáo chúng, chia đôi tòa ra cùng chia quyền lãnh đạo. Nhưng Đức Phật mới hỏi một câu này là, "Thưa thầy, cái chỗ chứng này bản ngã còn hay không còn? Vì nếu mà bản ngã còn thì chưa giải thoát. Mà nếu không còn bản ngã thì ai biết mình chứng ngộ?" Thì vị thầy bí. Thế là Đức Phật từ giã ra đi. Ngài đến với ông Uất Đầu Lam Phất là Ramaputta. Thì chứng được Phi phi tưởng nhanh chóng luôn.

[42:32]Thì ông Ramaputta cái đạo hạnh của ổng khiêm tốn hơn ông thầy trước nữa là chẳng những không chia quyền lãnh đạo giáo chúng, mà giao hết quyền lãnh đạo giáo chúng cho Đức Phật. Là ổng sẽ lui về để làm vị chứng minh thôi. Mà Đức Phật cũng hỏi lại câu đó là, "Bản ngã còn hay không còn nơi cảnh giới này?" Ổng cũng bí không trả lời được. Thế là Đức Phật lại ra đi. Và ngài nghĩ rằng để vượt qua được cái bản ngã cuối cùng này để chứng được cái vô ngã này là phải khổ hạnh, nên ngài đã tự đày đọa mình suốt sáu năm trời như trong kinh nói. Và ngài thấy là thân thể tiều tụy và tinh thần sa sút không phải là con đường.

[43:02]Đức Phật nghĩ chắc có lẽ chính con đường thiền định đó đưa đến, chứ không phải là cái khổ hạnh. Mà vì chưa tới thôi. Nên bây giờ quyết tâm ngài sẽ đi sâu hơn những cái mức định mà ngài đã chứng nơi những vị thầy khác. Nên ngài ăn uống phục hồi sức khỏe lại. Rồi ngài ngồi dưới gốc cây Bồ đề, ngài nhiếp vào định luôn. Hình như trong kinh nói là 49 ngày bất động. Trong 49 ngày bất động đó ngài vượt qua được hết những cái mức định cuối cùng để tan biến bản ngã luôn. Tan biến bản ngã. Và nơi cái bản ngã tan biến này, ngài trở thành toàn thể vũ trụ, toàn thể chúng sinh, không gian và thời gian trở thành hư vô hoặc là thành một điểm.

[43:37]Tất cả chung đồng hết, không còn ranh giới nữa. Và đầu tiên là ngài nhớ lại vô lượng kiếp của mình. Đây cái chỗ vô lượng kiếp này mới là câu trả lời. Nghĩa là ngài kể là ngài nhớ từ kiếp gần, kiếp xa dần, xa dần. Trong đó ngài đã sinh ra trong gia đình nào, cha mẹ là ai, ngài tên tuổi là gì, ngài đã tạo những nghiệp gì. À, rồi kiếp xa hơn cũng như vậy: tên tuổi gì, hạnh nghiệp gì, nghĩa là như thế nào, vô lượng vô lượng. Rồi chúng ta sẽ hỏi, "Vậy kiếp đầu tiên của ngài là ai?" Kiếp đầu tiên là ai mà ngài trôi lăn, phải không? Mà nếu trả lời được câu đó thì tất cả chúng sinh chúng ta có lẽ cũng giông giống như vậy.

[44:09]Chúng ta cũng đã có khởi đầu như vậy để rồi trôi lăn, phải không? Mà Đức Phật cũng không trả lời. Ở đây chỗ này, đây là một cái chỗ bí hiểm. Cái chỗ này chỉ có những vị mà chứng đến A-la-hán hay Phật mới biết mà thôi. Mà biết rồi, ngôn ngữ không diễn tả được, không thể nói được. Bởi vì những điều mà ngôn ngữ có thể bày tỏ được cho chúng ta đó, nó đều nằm trong giới hạn của tương đối. Mà chúng ta nói đến đầu mút của luân hồi, khởi điểm của luân hồi là chúng ta đụng chạm tới vấn đề của tuyệt đối, ngôn ngữ không diễn tả được. Cho nên những vị thánh khi chứng tới đó rồi biết, đành im lặng. Mà ngài chỉ dạy cho chúng ta con đường giải thoát thôi.

[44:46]Để cho chúng ta cũng giải thoát, chúng ta chứng đạo rồi, chúng ta cũng sẽ biết điều đó. Rồi chúng ta cũng không thể đem cái điều đó nói cho người khác được. Muốn cho người khác hiểu, cũng chỉ dạy cho người khác tu thôi. Để người đó chứng đạo, rồi người đó sẽ biết. Cho nên cái câu hỏi mà bắt đầu từ đâu chúng sinh trôi lăn, chúng ta không có câu trả lời trực tiếp. Mà chúng ta chỉ có câu trả lời gián tiếp bằng cách dạy cho mọi người tu để mọi người đắc đạo và mọi người sẽ tự biết cái chỗ đó. Chúng ta chỉ có câu trả lời gián tiếp, không có câu trả lời trực tiếp. Đó. Còn cái Phật tánh nói rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, rồi tại sao bị mê?

[45:19]Thì cái câu trả lời đó là một phái thấy Phật tánh này rất gần với cái chân ngã, cái thánh ngã của ngoại đạo Ấn Độ thời đó. Rất gần. Cho nên giống như thế này, giống như từ thời Đức Phật á ngài ví dụ như từ một bản ngã phàm phu tu với ngoại đạo ngài chứng được cái thánh ngã mà ngày nay chúng ta đặt cái tên là Phật tánh. Nhưng mà ngài không chấp nhận cái đó, ngài vượt qua luôn để ngài chứng luôn vô ngã, nên ngài đã đắc đạo và giải thoát. Rồi sau khi Đức Phật nhập Niết bàn rồi, cái thời tượng pháp, mạt pháp đến, những vị thiền sư không đủ sức chứng ngộ được cái vô ngã bằng như Đức Phật, cho nên dừng lại đúng ngang cái mức của ngoại đạo.

[45:53]Là cũng chứng rất cao, có thần thông. Nhưng mà cái ngoại đạo gọi là thánh ngã hay thần ngã, thì bên đây chúng ta gọi là chân tâm hay Phật tánh, rất giống nhau. Tức là cũng hoạt dụng, cũng tự tại, cũng sắc bén, cũng như vậy. Nhưng mà chưa đủ để gọi là vô ngã như Đức Phật. Cho nên chúng ta không trả lời được, không thấy được đầu mút của luân hồi sinh tử. Như vậy. Đây là vấn đề rất là khó mà nói ra rất là dễ đụng chạm. Nhưng vì vậy mà sau này khi mà thầy thuyết giảng, thầy luôn luôn nhắc mọi người hãy bắt chước Đức Phật là lấy vô ngã làm mục tiêu tối thượng. Đừng dừng lại ở một cái giai đoạn nào hết, kể cả giai đoạn Phật tánh hay chân tâm.

[46:32]Rồi có người mới hỏi, "Vô ngã tức là không còn gì?" Tại hôm đó có một lần thầy giảng cho mấy ông linh mục, lúc đó thầy nói chuyện với mấy ông linh mục, mấy ổng muốn tìm hiểu về đạo lý đạo Phật. Thì khi mà nói về vô ngã thì có một ông linh mục, một cha đứng lên hỏi, nói, "Thưa thầy, vô ngã rồi tức là không có gì nữa phải không?" Mới nói, "Nếu vô ngã tức là không còn gì nữa thì chắc Đức Phật không dạy mình con đường như vậy đâu. Thế này, khi ta mà không còn là ta nữa thì lúc đó ta trở thành tất cả vũ trụ, tất cả chúng sinh." Cái câu trả lời tuyệt để. Chính vì chúng ta trở thành toàn thể vũ trụ, nên chúng ta biết tất cả mọi điều

[47:03]của vũ trụ mà được gọi là trí tuệ tuyệt đối, hay gọi là Nhất thiết trí đó. Chính vì chúng ta trở thành tất cả chúng sinh nên chúng ta thương yêu được tất cả chúng sinh, cho nên gọi là đại bi tuyệt đối. Nên vì vậy vô ngã mà không thành hư vô. Khi chúng ta không còn bản ngã nữa, không ngờ chúng ta thành tất cả chúng sinh, chúng ta thương yêu tất cả chúng sinh, chúng ta thành tất cả vũ trụ nên chúng ta biết tất cả mọi điều trong vũ trụ. Nên cái vô ngã rất là độc đáo. Nhưng mà mình đừng có hứa hẹn nhiều, ca ngợi nhiều về cái kết quả đó quá thì có thể làm cho mình có một cái tham vọng hay là một cái khoe khoang, mà chúng ta chỉ nhắc nhau ở cái mục tiêu vô ngã

[47:40]là đừng để bị cái bản ngã, cái ngã chấp nó lừa gạt. Vì có khi chúng ta tu đạt được một cảnh giới thiền định nào đó, ví dụ ngồi tâm quá thanh tịnh, ngồi thấy biến mất cái thân này, hoặc là thấy tâm mình phủ trùm tràn đầy, vân vân, những cảnh giới của chứng đó, chúng ta hãy nhớ một điều: bản ngã vẫn còn bí mật trong đó, chưa hết. Và chính đó mới là kẻ giặc, trên giống như cái trong cái bảng kẻ thù lớn nhất của chúng ta chính là là chính mình. Trong đây có ghi chữ thầy viết, à, kẻ thù lớn nhất, tức là cái bản ngã bí mật của mình. Mà thầy gọi là bí mật bởi vì mình không có thấy. Nếu thấy thì nó không nguy hiểm, chính vì không thấy nên nó rất nguy hiểm.

[48:15]Thậm chí cái người ngồi thiền bất động được bảy ngày, tâm hoàn toàn không khởi niệm, có thể khởi được thần thông, có thể đi xuyên qua vách, vẫn bị bản ngã khống chế. Không giải thoát được. Lên được cõi trời một thời gian rớt xuống lại. Cho nên cái bản ngã nguy hiểm, đây là điều mới là đáng quan tâm. Chứ Phật tánh hay không không đáng quan tâm, mà chính bản ngã mới là điều đáng sợ. Cho nên vì vậy khi mà chúng ta cảnh giác về cái bản ngã này, chúng ta đối chiếu với cái đạo đức là một trong căn bản của thiền định mà nãy thầy nói, ba cái căn bản, là khi chúng ta làm điều gì, chúng ta nghĩ chúng ta có bị bản ngã bí mật sai sử hay không, sai khiến hay không.

[48:50]Ta hãy cảnh giác điều đó thôi thì lúc đó chúng ta sẽ đối xử với con người nhẹ nhàng hơn, khoan dung hơn và thân ái hơn. Tại vì mỗi khi một chút mình có cảm thấy mình hơi quan trọng một chút, mình có cảm thấy là mình bề trên một chút, mình biết mình vừa bị bản ngã lừa gạt, bí mật đấy. Có khi bên ngoài người ta chưa thấy đâu, nhưng mình phải tự thấy. Vì mình là người có trí tuệ, mình phải thấy. Một chút gì đó mình hơi cảm thấy, "À, mình hơi đặc biệt đây nha. Giữa bao nhiêu người đây mình hơi quan trọng đây nha," thì mình phải biết buông liền, bản ngã vừa lừa mình. Đó, cứ để ý điều đó thì chúng ta sẽ nhắm thẳng được tới mục tiêu

[49:21]tối thượng của đạo Phật, cũng như là chúng ta xây dựng được cái đạo đức trong cái từng giờ phút hiện tại của mình. Là như vậy, rõ ràng quá. Có gì nữa không? Thầy nói lựa câu dễ dễ hỏi. Dạ, mời. Nói lớn lớn cho mọi người cùng nghe. Dạ

[49:42]vâng. Thầy à về à thiền định thì thầy đã từng nói chúng con được biết. Thế và chúng con cũng có cái điều suy nghĩ là giữa cái sáu Ba la mật là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn... Đức Phật thì thì phần tu thiền có nằm trong cái Sáu Ba-la-mật không? Có mà, Thiền định Ba-la-mật mà. Dạ. Có mà. Sáu Ba-la-mật á tức là bố thí, trì giới tức là sáu Ba-la-mật của Bồ-tát. Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn... Dạ thì trong cái đó thì việc tu thiền và liên hệ giữa thiền định và sáu Ba-la-mật thì như thế nào ạ? À Ba-la-mật cũng là thuộc về cái kinh điển về sau đó, chứ còn thời Đức Phật là Bát chánh đạo.

[50:16]Vì thật ra đó, chữ Ba-la-mật á là ám chỉ là cái gì thật là quyết liệt, thật là trọn vẹn, à thật là thấu đáo. Cái chữ Ba-la-mật á, Ba-la-mật là paramita tức là qua bờ bên kia. Thì đó là một cái thành ngữ của Ấn Độ ngày xưa, có nghĩa là làm điều gì cho tới viên mãn, cho tới cái finish cuối cùng á, lần cuối cùng mình gọi bây giờ là rốt ráo, là viên mãn, thấu đáo thấu đáo rồi đó. Cái chữ đáo bỉ ngạn là mình dịch đúng cái nguyên văn của của Ấn Độ nhưng mình phải hiểu theo cái ý thật là cái gì cho nó viên mãn trọn vẹn. À ví dụ như bố thí Ba-la-mật là bố thí cho trọn vẹn, cho viên mãn là sao? Hiểu như vậy... Tam luân không tịch. Đó là một cái đó, nhà đó là một ý.

[50:58]Đừng có hiểu là đem tiền cho hết nha. Đừng nghĩ là bán nhà, bán cửa cho sạch hết rồi sạch hết rồi mình không còn gì hết, không phải là bố thí Ba-la-mật, mà đó là bố thí không suy nghĩ. Bố thí không hề có người bố thí, không có tài thí... Nó nhiều lắm, nhiều lắm. Bố thí trí tuệ, Tam luân không tịch chỉ là một góc, một phía của cái bố thí Ba-la-mật. Bố thí mà cho viên mãn, cho trọn vẹn á tức là mình không có chấp công, bố thí mà như không bố thí đó là một. Còn cái thứ hai nữa, bố thí mà phải có trí tuệ biết rõ cái đồng tiền mình bố thí nó tạo ra được lợi ích cho cuộc đời. Chứ không phải là vô minh mà bố thí.

[51:35]Ví dụ như một người họ xin tiền mình, nhưng mình biết rằng sau đó... ai hút thuốc vậy ta? Nếu mình biết rằng người đó cầm đồng tiền đó đi nhậu, dứt khoát không cho. Tại mình bố thí như vậy không có trí tuệ, nó không phải là Ba-la-mật. Khi mình bố thí mình phải bảo đảm rằng đồng tiền đó luôn luôn đem lại an vui, lợi ích cho con người thì mới bố thí. Cho nên có trách nhiệm trong việc bố thí của mình. Chứ không phải là bố thí đại. Nghĩa là một bên á, Tam luân không tịch, nghĩa là bố thí mà như không bố thí. Rồi thứ hai là bố thí một cách có trách nhiệm, có trách nhiệm về cái đồng tiền của mình. Thế nên nhiều lắm, nên gọi là trọn vẹn á, thì thiền định cũng là một trong đó.

[52:12]Nhưng mà sự thật thì Đức Phật nói về Bát chánh đạo á thì nó thật ra nó lớn hơn, lớn hơn. Thưa Thầy, con muốn hỏi Thầy là ý là Sáu Ba-la-mật tức là bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, thiền định, trí tuệ. Thế là trong

[52:33]kinh Bát-nhã thì đó là gọi là tự tha, gọi là tự độ và tự tha. Thì làm sao mà chúng con có liên hệ được giữa thiền định, tập thiền định với lại sáu Ba-la-mật? Trong Sáu Ba-la-mật có thiền định Ba-la-mật rồi. Có. Thế này nè, thật ra nó thế này, mọi cái ví dụ như là mình nói trì giới ha, nhẫn nhục nè, bố thí nè, tinh tấn nè, vân vân, thì nó đâu có khác gì trong Bát chánh đạo. Mà cái quan trọng bố thí tức là tạo công đức, trì giới và nhẫn nhục là cái đạo đức bản thân. Thì như nãy nói cái căn bản là công đức và đạo đức á, chỉ có cái là trong đó không nói khí công Ba-la-mật thôi. Là trong ba cái căn bản của thiền thì trong Bố thí Ba-la-mật đã nói hai cái:

[53:08]là đạo đức và công đức. Vì hồi xưa không có cái từ đạo đức, cho nên Phật phải nói qua từ này từ kia, trì giới rồi nhẫn nhục này kia. Còn chữ bố thí thì mình phải hiểu là nhiều cách giúp đỡ, chứ không phải là chỉ là tiền bạc, vật chất. Mà một điều thế này, có nhiều người hỏi là tại sao mà cái phước mình làm lợi cho mọi người lại liên quan đến cái thiền định nội tâm? Đây là điều nhân quả thôi, luật nhân quả. Ví dụ bây giờ nha, có một người đó họ lo lắng là ngày mai họ không có tiền để mua gạo. Đó là cái lo, phải không? Mà cái lo đó làm sao? Rất căng thẳng, phải không? Thế mình đem đến mình cho họ 20 ký gạo, thì như vậy cái lo đó họ còn không?

[53:46]Tạm thời mất cái lo đó chút. Như vậy tâm họ lại gọi là an. Như vậy chính cái đồng tiền bố thí của mình đã làm cho người được an tâm, thì cái an đó nó rớt vào tâm mình, để đó, cất dành đó. Và nếu trong cuộc đời này mình cứ làm vô số những điều đó cho mọi người an vui, cho mọi người an vui, thì nó kết lại, nó nén chặt lại thành cái định trong tâm mình. Đó là nhân quả công bằng. Nên vì vậy, chúng ta sống trên đời này, hãy cố gắng luôn luôn đem an vui đến cho mọi người, từng lời nói nhỏ, từng công việc. Mà làm cho người khác buồn là mình phải biết đánh vào cái định của mình liền, mình sẽ bị xao động liền.

[54:18]Còn mà làm cho người khác được an vui, thì mình biết những điều đó, vô số điều đó nó kết tinh lại thành cái thiền định trong lòng mình. Cho nên, vì thế mà sống với con người, đối xử với con người, chúng ta hết sức cẩn thận trong từng lời nói, trong từng hành động là vậy, chỉ đem lợi ích, đem an vui thôi. Đó là, nó là nhân quả.

[54:43]Thưa Thầy, cho con hỏi... Thưa Thầy là con thì con mới tiếp, mới học đạo Phật. Thế nhưng mà con thì thực hành, thế nào con cũng muốn hỏi. Thưa Thầy là con ở nhà thực hành, những cái lúc mà con làm công tác nội trợ, con thấy là tâm con con có cảm giác như là nó tĩnh lặng, thế là con phải không làm được việc gì nữa, con phải ngồi ngay hoặc là bằng một tư thế nào mình đứng mình soi lại mình. Thì mình cảm thấy là nếu mà soi thì không cần nhiều, chỉ

[55:13]cần 10 hoặc 15, 20 phút là người con có cảm giác nó khác hẳn, nó nhẹ nhàng như là ngồi trước một làn gió mát. Và bây giờ con cũng cảm thấy người nó khác thì con, tại vì con mới tu tập cho nên con nghĩ bảo nhiều khi các các đạo hữu và trong các cái sách nói là 40 năm hay là 50 năm thì mới có những cái cảm giác như thế, mà mình mới thì hay là như thế nào? Nhưng mà con lại nghĩ bảo: "Đạo Phật nó làm cho mọi người xung quanh, rồi cá nhân rồi bản thân mình có những cái nhẹ nhàng và đúng là từ hồi tiếp cận đạo Phật thì các cái phiền não đối với con nó nó cũng không, vâng, không không có xuất hiện". Thế thì con xin hỏi Thầy nếu mà so với thời gian

[55:47]mà con mới tu tập như vậy thì có phải là là tà đạo hay như thế nào? Con xin hết ạ. Không phải. Khi mà chúng ta tu mà có kết quả như vậy á, nó là do hai nguyên nhân. Kết quả sớm á, kết quả lâu thì đương nhiên rồi, ví dụ mình tu 10 năm, 20 năm mình phải có định thì nó đương nhiên rồi. Nhưng mà mới đến với đạo Phật tự nhiên mình có xuất hiện những trạng thái giống như là nhập định vậy, tâm mình tâm linh có chuyển biến, tức là xuất hiện rất sớm, thì là một trong hai nguyên nhân này: Nguyên nhân thứ nhất là đời trước mình đã tu rất nhiều, rồi bây giờ mình vừa gặp đạo Phật là cái kết quả nó đến luôn, đến mà nó bền luôn.

[56:23]Đó là cái nguyên nhân thứ nhất. Nguyên nhân thứ hai á là không phải mình sẽ được cái kết quả bền, mà bởi vì Phật muốn nhắc mình. Ở trên đó, chư vị Bồ-tát, chư vị thần á trợ lực cho mình để đạt được những trạng thái đó để cho mình giống như nhớ lại kiếp xưa mình đã tu như thế, làm cho mình có cái thích thú đối với đạo Phật và từ đây mình phát tâm tinh tấn để đi tu luôn. Mà khi mình phát tâm tinh tấn rồi cái định nó mất. Bắt đầu mình phải tu lại rất căn bản, 10 năm sau mình mới đạt được lại. Thì đó là trường hợp thứ hai. Cho nên Thầy không biết là cô trong trường hợp nào. Là nếu cô trong trường hợp thứ nhất,

[56:56]tức là thiện căn đời trước đã rất dày, bây giờ được sớm và được luôn. Còn trường hợp thứ hai là mình có cái duyên với đạo Phật mà được nhắc bằng một trạng thái lạ của tâm để mình phát tâm tu hành tinh tấn và trạng thái đó sẽ nhanh chóng biến mất, để buộc mình phải tu lại từ căn bản giống như mọi người. Đó là không biết trường hợp nào, thì sau này cô sẽ biết.

[57:21]Thưa Thầy, con thì làm ở trên thư viện cho nên là nhiều Phật tử cũng hay đến hỏi con.

[57:34]Thế thì con cũng muốn là bạch Thầy hôm nay, ví dụ như là à như trường hợp của con á thì là con là tu theo như con vẫn kết hợp với ngồi thiền. Thế thì có một à Phật tử đến chùa thì có nói rằng là chỉ, có hỏi con về cái cách hành trì, con có con nói rằng là ví dụ như là sáng thì con niệm chú và tối thì con tụng kinh A Di Đà cộng với lại con có ngồi thiền. Thế thì vị có nói với con rằng là tu mà kể cả thiền và tịnh, cả hai cái thì là sẽ bị hỏng và chỉ nên theo một pháp môn. Thế thì con cũng nói rằng là à con thì sáng niệm chú, chiều tụng kinh A Di Đà và tối thì tụng xong là con ngồi thiền cỡ nửa tiếng thì con cảm thấy là

[58:08]đời sống cũng an lạc và tự nhiên nó cũng có nhiều cái mà biến đổi trong cái cuộc sống của cá nhân con cũng như là trong về mặt tâm linh con. Thế thì con cũng nói là con cảm thấy là con an lạc hơn thì con cũng không biết là như thế là nếu mà con tu như thế cả ba thứ như thế là có bị sai không mà có một vị Phật tử nói con là: "Nếu mà đi cả hai ấy thì là sẽ ai sẽ cõng về, đi cả ba chân thì thế ai sẽ cõng về?". A Di Đà Phật, con bạch Thầy. Mấy con vật đi tới bốn chân mà không sao đây nè. Thầy nói cho nghe. Dạ. Đó là khi mình biết mỗi thứ nó có cái giá trị của nó thì mình đều thấy là mỗi cái công phu như vậy nó đều làm phong phú thêm cái đạo tâm của mình.

[58:48]Mình nói ví dụ, niệm Phật là mục tiêu để làm gì? Tưởng nhớ Phật với lòng tôn kính, điều này tốt hay xấu? Quá tốt đi chứ, ta thấy không? Ha. Rồi ví dụ khi thiền định, tức là buông xả vọng tưởng... Hình như phía dưới có ai hút thuốc dữ lắm á. Thôi khỏi cầm tới trên này, ngồi đó cũng được. Cái này còn ví dụ khi mình thiền định, tức là mình giữ tâm thanh tịnh để mình đi về vô ngã thì đó là đúng cái con đường của Phật pháp. Nó có sai không? Đâu có sai. Còn niệm chú, à niệm chú thì phải đặt vấn đề. Ngồi xuống đi, thầy nói câu chuyện chú. Ví dụ khi tụng câu chú nè: "Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da", có ai hiểu gì không?

[59:26]Có có chú giải. Thì phải đợi chú giải. Thì thôi đọc cái chú giải sướng hơn là đọc cái bài chú, bởi vì đạo Phật là cái gì phải hiểu. Đạo lý phải được hiểu rõ để thực hành, còn mình nếu tụng một cái điều gì không hiểu rõ, tức là mình chỉ tin, mà tin không phải Phật pháp. Đức Phật định nghĩa, nghĩa là: "Giáo pháp của ta là đến để mà thấy, không phải đến để mà tin." Thiết thực, rõ ràng đến để mà thấy, được người trí tự mình chứng hiểu. Cho nên là ví dụ như mà một cái câu chú mà mình không hiểu thì thì hơi hồ nghi. Nhưng mà tại sao lại có xuất hiện câu chú? Bởi vì ngày xưa nguyên văn ở bên Ấn Độ là người ta hiểu. Đó.

[1:00:03]Ví dụ bài Chú Đại Bi thì ngày xưa được viết bằng tiếng Ấn Độ, người Ấn Độ đọc người ta hiểu. Và người ta thấy đó là một đạo lý tụng nghe hay, rồi linh, à người ta tụng. Sau đó người ta truyền qua bên Trung Hoa thì người Trung Hoa thay vì dịch đi lại không dịch, chỉ là phiên âm. Phiên âm thì nó na ná na ná, rồi từ cái tiếng Trung Hoa lại phiên âm qua Việt Nam một lần nữa thì nó rất xa với cái nguyên âm của Ấn Độ, mà quan trọng cái không hiểu. Chính cái không hiểu nó làm cho chúng ta chỉ chấp nhận bài chú bằng cái niềm tin và chúng ta cứ phát triển cái niềm tin. Cho nên đây là một cái thiệt thòi, thiệt thòi.

[1:00:33]Cho nên vì vậy, chúng ta đề nghị sau này mà nếu mà truyền bá thần chú là nên dịch ra để được hiểu xem đạo lý của thần chú đó là gì mà linh như vậy. Thì phải hiểu. Chúng ta đến với đạo Phật không được chấp nhận cái điều không hiểu, phải hiểu rõ ràng. Ngày xưa Đức Phật dạy như vậy. Cho nên là về cái niệm Phật và thiền là đều là đóng góp cho sự tu hành của chúng ta. À mà riêng tại sao mà, nhưng đây là một điều thế này, điều có thật: cái bài chú mình tụng không hiểu mà nó vẫn linh, có không? Có chứ. Tại sao không linh? Tại sao vẫn linh trong khi mình không hiểu vẫn linh? À, nó có cái lý do của nó.

[1:01:11]Mình không được bác đâu, phải hiểu thấu đáo vấn đề. Là ví dụ ông thầy khi ổng đưa cho mình bài chú, chả hiểu gì hết, ổng cũng chả hiểu, mình cũng chả hiểu, ổng nói: "Tụng bài này nữa con chữa bệnh được cho người ta đó nghe con." Thì như vậy, sự thật là mình khi tụng bài chú đó, mình lại nhận cái gì? Nhận cái câu nói của ông thầy là bài chú này tụng lâu chữa được bệnh, bài chú này tụng lâu chữa được bệnh. Nên mình nhận cái ý niệm của ông thầy trong tâm vào trong bài chú đó. Là khi mình tụng bài chú, kỳ thực là mình tụng cái câu là tụng lâu chữa bệnh, tụng lâu chữa bệnh. Đến mai mốt cái mình gặp ai bệnh, cái mình đem thí nghiệm,

[1:01:42]mình mới lấy ly nước mình tụng vô xong rồi đưa người ta uống, cái hết, linh thiêng, tại vì cái tâm lực mình đã luyện được nhiều năm. Nên bài chú đó là một cái ý niệm được chấp nhận, một mệnh lệnh, một cái ý niệm của tâm được chấp nhận chứ không phải cái bài chú đó đâu. Chừng nào mà bài chú được dịch qua tiếng Việt Nam á, lúc đó sự thật là chúng ta tu đúng cái ý nghĩa bài chú đó, còn bây giờ vẫn chưa. Bây giờ là chúng ta tụng bài chú, kỳ thực là chúng ta nhận cái lời dạy, cái ý niệm của ông thầy. Chà, hôm nay Phật tử miền Bắc hỏi mấy câu khó không à!

[1:02:17]Ngồi lâu như vậy một cả tiếng đồng hồ thầy thấy bắt đầu mọi người mệt rồi đó nha. Dạ, chúng con ngồi ba tiếng cũng được. Thì lúc đó thầy là hết được rồi.

[1:02:31]Con con xin được hỏi thầy ạ. Vấn đề thứ nhất là trong kinh Kim Cang ấy có dạy rằng là tức là nếu bố thí, cúng dường mà cả tam thiên đại thiên thế giới về những cái của báu ấy thì cũng không bằng trì bốn câu kệ, tức là "nhất

[1:02:49]thiết hữu vi pháp". Không phải câu đó đâu, không phải. Không phải câu đó đâu. Chỉ bốn câu kệ thôi chứ không nói là bốn câu nào chính xác. À thế cũng không nói bốn câu nào chính xác? Vâng. Không nói bốn câu nào chính xác. Vâng, thế thì con thì con cũng cứ suy nghĩ á, tức là muốn được hiểu rõ rằng là lúc mình hiểu được bốn cái câu kệ như thế nào mà để cái công đức nó lại lớn lao đến một cách ghê gớm như thế là cái thứ nhất. Cái thứ hai, tức là mình phát mình đã đi theo Phật là phải phát tâm bồ đề, tức là phát tâm là tu để giải thoát, thì là mình giải thoát rồi là mình là phải

[1:03:27]thực hành, tức là tự độ và độ tha để đến đi đến kết quả là được là tự độ và độ tha. Thế thì là nhưng mà bây giờ làm như thế nào mà lúc mà mình đạt đến được một cái mức độ nào đấy rồi, thì bây giờ trong lúc mình đang tu hành như thế này thì Phật có độ trì cho mình, thì cái mình nhận cái sự độ trì đó như thế nào? Và nếu thì để mình biết rằng lúc mình được giải thoát rồi thì mình cũng sẽ độ trì cho chúng sinh, tất cả chúng sinh như thế nào? Đấy, và cái thứ ba... Thôi thôi thôi để thầy trả lời, hỏi nhiều quá. Để thầy nói từ từ, mấy vấn đề này rất là phức tạp. Cái vấn đề thứ nhất là nói rằng là dù bố thí cả tam thiên đại thiên thế giới cũng

[1:04:09]không bằng là cúng dường cho cái người mà tụng bốn câu kệ trong Kim Cang. Thì người ta hỏi câu nào? Không có câu nào. Thực tình đó là một lối nói cường điệu. Là ám chỉ rằng là một cái đạo lý nhỏ trong kinh Kim Cang này vẫn công đức vô lượng hơn là việc mình bố thí lớn lao. Đây là một lối nói cường điệu, mà chính vì lối nói cường điệu này mà các nhà sử học phát hiện ra kinh Kim Cang không phải Phật thuyết. Vì thời Đức Phật, Đức Phật không bao giờ nói lối cường điệu như vậy. Đức Phật nói thế nào nó chừng mực cái đó. Mà đây là câu nói rất cường điệu. Tức là ông bố thí cho đã, khắp tam thiên, giá trị không bằng bốn câu. Bốn câu nào?

[1:04:42]Đó là một góc nhỏ của cái giáo lý Kim Cang này. Bốn câu đó là tượng trưng cho một cái đạo lý nhỏ trong đó trích ra, vậy thôi, chứ không phải là bốn câu cụ thể nào đó. Thì đó là một lối rất cường điệu. Nhưng mà điều cái cường điệu để chúng ta hiểu như thế này: thời ví dụ như chúng ta giúp đỡ chúng sinh bằng vật chất, người ta ăn cũng hết, nhưng chúng ta cho chúng sinh một cái đạo lý thì người ta có đạo lý để sống, người ta sẽ được cái quả lành hết kiếp này sang cái kiếp khác, thậm chí đi đến giải thoát luôn. Cho nên trong năm cái việc công đức hồi nãy thầy nói đó, giúp người đó, từ bố thí vật chất cho tới nghề nghiệp,

[1:05:12]tinh thần, đạo lý rồi này nọ thì cái vật chất căn bản nhất, thiết thực nhất nhưng mà lại cái ích lợi nó ngắn ngủi nhất. Còn cái đạo đức, cái tâm linh á thì nó trừu tượng nhưng mà lợi ích rất là lâu dài, rất là lâu dài. Mà nhất là đi đến cái đạo lý tâm linh, cho người ta tu tập tâm linh để giải thoát thì thật là cực kỳ trừu tượng nhưng mà ích lợi là tuyệt đối. Cho nên vì vậy Đức Phật trong kinh Kim Cang đã dùng một lối nói rất cường điệu để nói như vậy. Còn cái câu thứ hai? Dạ câu thứ hai là câu tức là lúc mà mình mình được cái sự gia trì... Thôi để để thầy nói cái chỗ này đó, đó là Đạo Bồ Tát mà cái người phàm phu rất là khó biết.

[1:05:57]Nhưng bởi vì cô hỏi cho nên thầy tạm nói một chút, chứ đây là một bí mật, bí mật của chư Phật. Bí mật của chư Phật là như thế này: Trước hết là lòng của chư Phật, chư Bồ Tát thương yêu tất cả chúng sinh một cách bình đẳng. Thương, cái lòng thương trải đầy hết, bởi vì các ngài không còn bản ngã. Cho nên các ngài thấy mình lại các ngài là một, nhưng mình đừng có thấy cái đó ẩu à. Mình thấy mình với Phật một cái mình mang tội, nhưng mà Phật thì thấy như vậy, bởi vì ngài đã giải thoát. Cho nên cái lòng thương tràn đầy nơi từng người hết. Thì trong cái tình thương đó đó, lúc nào Đức Phật cũng muốn cho mình

[1:06:30]tiến đạo, mình tu chứng, mình được giải thoát, lúc nào cũng muốn. Nhưng mà một cái trở ngại mà làm cho mình không có tiến đạo được là vì cái gì? Vì cái nghiệp của chính mình, phải không? Mà nghiệp mình đã tạo ra, mình đã tạo sự ràng buộc, nó là một cái nhân quả công bằng thì không có thần linh nào mà phá cái đó được, vì trong đạo Phật đó là sự công bằng. Cho nên không có chuyện mà ví dụ như mình giết người rồi lúc đó Phật che chở đưa mình lên thiên đường, không bao giờ có chuyện đó. Trong đạo Phật không bao giờ có chuyện đó. Đạo Phật là công bằng. Đạo Phật có chuyện này: ví dụ như mình đã lỡ tay giết người,

[1:07:03]cái quả báo đó đáng lẽ vào năm tháng đó mình bị giết lại. Vì cái người này là mình giết cái giết bậy, chứ còn mà ví dụ như cái người lính mà đánh ở chiến trường đánh giết giặc thì lại không phải quả báo đó, hoặc là người công an họ bắn chết tên cướp thì lại không phải quả báo đó, mà lại có phước á. Chỉ trầy tay trầy chân sơ sơ nhưng lại phước lớn. Còn đây trường hợp mình nói mình giết người bởi vì sân hận và ích kỷ, nên mình tạo cái tội rất nặng. Cái tội đó đáng lý mình phải đọa xuống địa ngục, khi trở lên làm người mình phải bị giết trở lại. Đó là cái tội giết người vì tham lam, ích kỷ, ác độc.

[1:07:36]Ví dụ mình đã phạm tội đó là đáng lẽ mình phải bị đọa. Rồi rồi trong thời gian mà chưa kịp đọa, bắt đầu mình gặp Phật pháp, mình tu hành, mình hối hận, mình lạy Phật sám hối thì Đức Phật mới cứu bằng cách này nè: không phải là ngăn chặn không cho mình xuống địa ngục, ngăn chặn cho người kia không giết mình, không phải. Nhưng mà Đức Phật sẽ tạo điều kiện để cho mình làm được nhiều việc phước để giải bớt cái nghiệp đi. Đó, tức là Ngài dựa vào đạo luật nhân quả công bằng, Ngài giúp cho mình gieo nhân. Là khi sau khi mình hối hận mình lạy Phật mình biết đạo mình biết cái tội mình quá nặng rồi mình cứ khóc lóc mình sám hối thật thiết.

[1:08:12]Cái sau này tự nhiên khiến có một người nào đó đến hướng dẫn cho mình. Để rồi mình làm được việc này công đức, mình làm được việc kia công đức, mình làm nhiều điều để mình chuộc lại. Thì đến cái ngày đó đáng lẽ mình phải chết mình phải xuống địa ngục, không xuống nữa, đầu thai trở lại làm người liền. Và khi đầu thai trở lại làm người liền á thì mình chờ cái ngày để người kia tới giết mình thôi, để trả lại. Nhưng mà người kia lúc mà đang chưa tới giết mình á, mình đầu thai ở kiếp mới bỗng nhiên mình lại gặp Phật pháp nữa, mình lại tiếp tục tu mà mình quên mất cái việc mình đã giết người rồi, đã sám hối kiếp trước rồi.

[1:08:40]Nhưng mình vẫn tu tinh tấn thì Đức Phật tiếp tục gia hộ cho mình làm bao nhiêu công đức, rồi tiếp tục cho mình gặp cái người kia để mình giúp đỡ họ. Lúc mà họ chưa có nhớ lại mối thù cũ đó thì họ gặp mình họ bình thường thôi, cũng chưa ghét chưa thương gì nhiều, chưa có xô xát, nhưng mà khiến tạo điều kiện để mình giúp họ. Thì sau khi mà mình giúp họ một thời gian rồi, thì có ơn nghĩa rồi, bắt đầu cái mối thù mới khởi lại, bỗng nhiên có chuyện xích mích xảy ra. Lúc đó họ muốn giết mình. Nhưng mà bởi vì thứ nhất là nghiệp mình đã giải quá nhiều, mình làm phước quá nhiều và chính họ cũng mang ơn nghĩa

[1:09:11]của mình, thì thay vì là họ rút dao họ đâm mình một dao chết thì họ lấy cây họ đập mình ba cái. Mình cũng siểng niểng, mình phải xuống nằm bệnh viện hết một hai tháng, rồi sau đó cái hận thù hết, xong chuyện. Phật cứu mình như vậy, kiên nhẫn như vậy đó, chứ đừng có nghĩ là Phật ra phép một cái là cứu liền, không có. Tức là chúng ta mới thấy rằng một vị Bồ Tát mà độ một chúng sinh á, kiên nhẫn rồi dai dẳng, rồi miệt mài, cực khổ như vậy đó, chúng ta mới thấy thương Phật. Thương Phật với Bồ Tát, chứ chúng ta ngồi đây cũng vậy, khi mình phát tâm mình tu là ở trên Phật biết hết, chư Thiên, chư Bồ Tát biết hết rồi.

[1:09:42]Và cũng đang soi sáng cái nghiệp của mình như thế nào để cân nhắc thế nào và cứu mình như thế nào từng bước từng bước mà mình không biết, mình không biết đâu. Và sau này như nãy cô hỏi nếu nữa mình lên làm Phật mình cứu làm sao, cũng vậy. Lo xa, cái con người này phải lo, lo rất xa. Bây giờ đã phải lo tới chuyện mà nữa làm Phật không biết độ chúng sinh làm sao. Hỏi câu chú gì đó. Đó là cái chú, chú tức là năm chú Lăng Nghiêm nhá. Thì con cũng thường, thường xuyên tụng chú Lăng Nghiêm, là vì con nghĩ là con đọc trong kinh Lăng Nghiêm nói rằng, cái chú Lăng Nghiêm ấy tác dụng rất là lớn. Cũng chỉ là niềm tin. Vâng.

[1:10:18]Chỉ là niềm tin. Là như rằng ngài A Nan

[1:10:25]ấy thì lỡ bị đến Ma Đăng Già. Ma Đăng Già đấy. Đấy, thì nhờ cái chú đấy mà thoát ra khỏi được. Đấy. Và cái hai nữa là trừ những cái ma ở trong mình thôi, thì con nghĩ là trừ những cái ma nội ma của mình, những cái chướng của mình, nội ma và ngoại ma của mình, thì con nghĩ là con tụng như thế. Kinh Lăng Nghiêm rất là lạ thế này. Tức là kinh Lăng Nghiêm là một bộ kinh về lý luận. Nha, bác Khiến thấy không? Lý luận chặt chẽ chặt chẽ, nhưng bỗng nhiên đưa vô một cái đoạn chú toàn niềm tin không. Bác thấy mâu thuẫn không? Cho nên sau này các nhà sử học họ nói rằng, bên Mật Tông đã bí mật đưa vào Lăng Nghiêm cái đoạn chú đó.

[1:10:58]Chứ nguyên thủy kinh Lăng Nghiêm không có cái năm đệ thần chú. Tại vì bộ kinh Lăng Nghiêm là một cái lý luận chặt chẽ ghê gớm lắm. Nói tới những điều rất là trừu tượng mà trong đó cứ lý giải thế này, lý giải thế kia, dành cho những người có trí tuệ có lý luận. Bỗng nhiên đưa một đoạn năm đệ Lăng Nghiêm toàn là niềm tin, cứ tin là sẽ được. Mà đây là điều chúng ta nói nè, ví dụ nói rằng khi mà tụng năm chú Lăng Nghiêm, mình sẽ không bị ô nhiễm về ái dục. Thì xin thưa, biết bao nhiêu thầy tu thuộc lòng chú Lăng Nghiêm vẫn hoàn tục lấy vợ. Có không? Có. Thế nếu mà nói là nhờ chú Lăng Nghiêm thì đêm nào mấy ổng cũng tụng,

[1:11:30]3 giờ khuya mấy ổng đã dậy, thì mấy ổng đừng bao giờ lấy vợ. Nhưng vì vậy cái tác dụng mà nói rằng diệt ái dục, điều đó không đúng. Phải không? Chúng ta phải xét lại, vậy cái ô nhiễm nó từ đâu mà có? Ô nhiễm do kiêu mạn mà có. Để trở lại câu hỏi của bác Khiến đây. Hồi nãy tại sao tu đến tuổi nào vẫn có thể bị phá ngầm ngầm bên trong? Bên ngoài người nhìn mình không biết, nhưng bên trong mình đã biết mình bị vấp lên vấp xuống. Là xin thưa, chính vì kiêu mạn. Khi mình tu mình cảm thấy mình hơn người, cái ý niệm hơn người vừa xuất hiện thì cái ô nhiễm nó bắt đầu nó tới, làm cho mình rất là vất vả.

[1:12:04]Tự nhiên mình cảm thấy mình động tâm vì chuyện này, mình động tâm vì chuyện kia, mình động tâm vì người này, mình động tâm vì người kia, mà trước đây không có, là chỉ vì cái kiêu mạn. Cho nên do đó là để diệt được cái nội ma ô nhiễm thì phải giữ tâm khiêm hạ. Mà cái tâm khiêm hạ nó rất sâu. Bởi vì sao? Bởi vì cái kiêu mạn nó rất tế. Những cái tâm gọi là tự hào của mình á, nó bí mật, nó thầm thầm tự mình khen mình, tự mình cho mình hơn người. Những cái tâm đó rất bí mật. Nhiều khi chính mình không thấy nhưng mà nó đang có và nó làm mình ô nhiễm. Cho nên vì vậy á là thay vì tụng cái đệ thần chú Lăng Nghiêm rất là dài,

[1:12:37]thầy có một câu thần chú khác rất là linh mà có thể diệt được cái ô nhiễm. Câu thần chú nó thế này. Thấy không? Là kính lạy Phật, xin cho con lúc nào cũng nhớ rằng mình chỉ là cát bụi, là cỏ rác. Cái câu đó mới diệt được cái kiêu mạn, mà diệt được kiêu mạn tức là ngăn chặn được ô nhiễm. Câu thần chú này hiểu rõ nghĩa mà linh hơn nhiều.

[1:13:08]Dạ, giờ mời người đằng kia. Cứ ngồi đi đạo hữu ạ. Dạ. Kính thưa thầy, về trong cái giáo lý của Phật thì nói rất nhiều về chuyện duyên khởi. Dạ. 12 nhân duyên. Nó lại so với tam pháp ấn, vô thường, vô ngã, khổ theo cái nhận thức của xin lỗi, của chúng em thì nghĩ rằng cái duyên khởi nó bao trùm hết.

[1:13:39]Đã hiểu được duyên khởi, thậm chí Phật dạy là thấy duyên khởi là thấy pháp, thấy pháp là thấy Phật. Thì nó bao hàm cả vô thường, vô ngã và khổ nằm trong duyên khởi. Thế tại sao không thấy nói hẳn, mà chỉ còn tam pháp ấn thì nói ba cái kia vô thường, vô ngã và khổ, mà không thấy đề cập tới duyên khởi? Vô ngã. Hay là nói tới vô ngã là coi như là gồm cả duyên sinh rồi? Mà trong khi đó thì học Phật thì rõ ràng là cái duyên sinh duyên khởi quá hay và quá quá quan trọng. Nhìn sự vật bằng cái duyên duyên thì là hoàn toàn nó khác với mình nhìn pháp hoặc là nhìn ngã. Cái đó là cái cực kỳ hay. Và từ đó mình cũng tự mình nghiêm khắc được với mình mà mình tu học được

[1:14:21]cho mình và mình nhìn người mình cũng bao dung rộng lượng được. Đúng là cái lý duyên khởi. Đấy thì xin xin thầy giải cho rõ thêm về duyên khởi. Đấy là một ý. Thôi để để để nói từng ý, để nói từng ý. Không, thế cùng ý với thầy luôn á. Dạ. Ngay cái ý này thôi ạ. Ý thế con kết hợp luôn, giải luôn. Tức là cái nhân 12 nhân duyên hay duyên khởi thì trước khi có Phật thì đã có các vị Độc Giác thì cũng đã là được cũng có những giáo lý có dạy rằng là các vị Độc Giác trước đó là tu theo 12 nhân duyên mà thành được đạo quả Độc Giác, trước khi Phật

[1:15:04]chưa chưa ra đời, nhưng vẫn có. Còn sau này Đức Phật thì trong cái giáo lý chúng ta có thể cũng nói rằng chính cái 49 ngày mà Phật thành đạo cũng là 12 nhân duyên. Thì cái nhận thức đó như thế nào? Ở trong Phật học Khái Luận cũng có đề cập đến. Vâng, đó là những quyết định của người sau thôi. Chúng ta đừng nghĩ là bất cứ cuốn sách nào viết đều đúng. Đừng nghĩ rằng bất cứ giảng sư nào giảng đều đúng. Ừm, mình nghĩ rằng ai giảng cũng đúng, ai viết cũng đúng là bắt đầu mình mê tín. Bắt đầu mê tín là mất cảnh giác. Cho nên là là một người trí thức, chúng ta nhớ một điều là khi đọc một cuốn sách viết về đạo Phật phải luôn luôn cẩn thận,

[1:15:40]bởi vì chưa chắc tác giả này viết đúng, hoặc là nghe một bài giảng cũng phải nghĩ cái này chưa chắc giảng sư này giảng đúng hết. Cho nên vì vậy mà nói rằng khi Phật giác ngộ là 12 nhân duyên cũng là một cái ý kiến của cá nhân thôi. Mà sự thật ra là sau khi mà Đức Phật đắc đạo á, Đức Phật mới thấy, bằng cái trí tuệ Đức Phật mới thấy cái đường đi của 12 nhân duyên. Mà sự thật ra không phải là Đức Phật thấy từ đầu, mà trước đó bên giáo lý Ấn Độ họ cũng đã nói tới phất phớt về cái nhân duyên đó nhưng mà nói không có thấu đáo. Sau này Đức Phật mới nói thấu đáo thôi. Như vậy. Cái lý mà 12 nhân duyên mà không xem được trong cái tam

[1:16:12]pháp ấn á, không xem tam pháp ấn là vì lý do thế này. Bây giờ ví dụ mình nói là 1 cộng với 1 là 2. À. Và như vậy mà nếu mà nói rằng à muốn hiểu được cái toán học hay là cái văn minh của loài người thì phải hiểu rằng 1 với 1 là 2, mình không thấy. Phải không? Nói rằng ơ phải hiểu làm sao? 2 + 1 = 3, 3 + 1 = 4, 4 với 5 là 9, 4 x 5 = 20, 4 lũy thừa 5 là bao nhiêu nữa, nghĩa là bắt đầu nó phải biến hóa thành vô số thành phép cộng, trừ, nhân, chia, bốn phép tính này mới bắt đầu gọi là toán học. Rồi bắt đầu nó phát triển thành cái lũy thừa, thành căn số, rồi thành logarit, ôi đạo hàm, tích phân, vi phân đủ thứ chuyện hết

[1:16:54]trơn vậy đó, mới gọi là đại diện cho cái văn minh của nhân loại. Cho nên nói hiểu là à muốn hiểu cái văn minh của nhân loại hiện nay thì phải biết về vi tính nè, biết về công nghệ sinh học nè. Đó đại khái như vậy. Đó, thì đó mới là đại diện cho cái văn minh hiện nay, chứ còn không thể nói là muốn biết cái văn minh hiện nay của nhân loại thì phải biết là 1 + 1 = 2. Vì nó quá căn bản đi. Vì nó quá căn bản cho nên không thể là đem nó ra làm đại diện cho cái đạo Phật được, cái lý luận. Mà phải nói phức tạp hơn là chính cái vô thường, vô ngã và khổ, vì cái đó là từ nhân duyên nó phát triển ra, và được cô đọng.

[1:17:30]Chứ nếu mà không quy định ba cái đó thì từ cái nhân duyên này người ta suy ra những cái nhân duyên khác mà không liên quan đến sự tu tập. Vì nhiều cái khác cũng do nhân duyên tạo ra, nhưng mà họ nhấn mạnh vào những cái khác thì họ không đi đúng hướng tu giải thoát nữa. Cho nên vì vậy từ cái lý nhân duyên căn bản, nhưng mà phải quy định ba cái nhận thức vô thường, vô ngã và khổ thì mới có thể tu hành để giải thoát. Cho nên nó là, nó định hướng cho cái cái lý nhân duyên đó đi về đâu. Giống như 1 + 1 = 2 vậy, nhưng mà mình định hướng tốt rồi đó thì mình đi về cái vi tính, cái viễn thông, cái công nghệ sinh học.

[1:18:00]Còn nếu mà định hướng không đúng á, nhiều khi đi luôn vào vũ trường, thuốc lắc gì tùm lum trong đó. Rồi sa đọa. Cho nên từ cái nhân duyên là căn bản nhưng định hướng là phải vô ngã, vô thường, khổ. Thì nãy dặn là lựa câu nào dễ dễ. Dạ mời bác Thí. Thưa thầy à trong các cái trước khi được nghe thầy à chỉ giáo hôm nay thì tụi con nhận thức được cái Lăng Nghiêm là một quyển kinh mang tính cách giáo khoa mẫu mực. Đúng. Và trong tổ con cũng sẽ tiếp tục học, và sau tổ cũng sẽ trao đổi về về về kinh Lăng Nghiêm. Thế nhưng là con thấy hai phần: một phần là cái thần chú, hai phần là cái phần ngũ, ngũ mươi con ma.

[1:18:34]Thế thì trước khi được nghe thầy giảng, thì con nghĩ như là trong vấn đề kinh Lăng Nghiêm có cái vấn đề nhận thức có cái vấn đề tu pháp và nói cả vấn

[1:18:47]đề kiến, kiến chứng và biến cố thì quá hay. Nhưng cái ma cái phần ngũ ma như thế có chắc thật rằng giáo lý không? Thế thần chú thì vừa thầy vừa chỉ rồi. Còn

[1:19:02]cái ngũ ma thì thế nào?

[1:19:12]À, ngũ ma thế này, con đó là cái điều có thật á. Nói về ngũ ấm ma tức là những cái hiện tượng mà khi mình tu mình có kết quả là bắt đầu mình lại đi vào lạc hướng. À. Những cái lạc hướng nó như thế nào? Thí dụ khi một người tu thiền tâm được định, rồi bỗng nhiên họ thấy họ chứng họ có thần thông, hoặc là tiếp xúc được với thần linh, họ làm được nhiều chuyện phi thường. Đầu tiên là như vậy. Nhưng rồi chính những chuyện đó, chính những chuyện lạ lùng đó tiếp xúc được với thần linh nè, có thần thông là làm được những chuyện phi thường, không ngờ là dẫn họ đi vào đường tà. Để sau này lãnh một cái kết quả rất là bi thảm. Mà nguyên nhân tại sao?

[1:19:48]Nguyên nhân là tại vì cũng ở chỗ kiêu mạn thôi. Ừ nó có những cái chướng ngại, từng bước chướng ngại trên bước đường tu thiền là như thế này. Cái chướng ngại đầu tiên là thân, ngồi mà không đúng thế, ngồi bị nhúc nhích, ngồi bị căng thẳng thì đó là cái chướng ngại đầu tiên của người tu thiền. Vì vậy, đầu tiên tu là mình phải điều thân là ngồi đúng tư thế, buông thân toàn thân lỏng và bất động. Vừa mềm mại, vừa bất động và đúng tư thế nên là điều thân để vượt qua cái chướng ngại đầu tiên về thân. Chướng ngại kế tiếp là cái vọng tưởng là những ý tưởng khởi lên làm mình xao lãng, làm mình quên cái phương pháp mình đang dụng công.

[1:20:27]Đó là chướng ngại thứ hai. Vì vậy mình tu phải đủ công đức mới vượt qua cái chướng ngại thứ hai này. Khi mà chướng ngại thứ hai vượt qua rồi nghĩa là vọng tưởng bớt rồi thì bắt đầu xuất hiện những cái gọi là ảo ảnh, những linh ảnh. Khi vọng tưởng lắng rồi tự nhiên mình hay thấy hào quang hoặc là có những triệu điền hiện tượng gì rất là lạ và lúc đó người mình rất là sảng khoái. Người ai nói mình cái đó là ảo tưởng sai mình không tin. Tại vì mình thấy cái ảo tưởng nó hiện ra mà người mình rất là sảng khoái, dễ chịu. Chừng nào mà tự nhiên cái nó hiện ra mà mình thấy mình bứt rứt khó chịu á thì người ta nói đó là sai mình mới tin.

[1:21:00]Nhưng mà tiếc rằng lúc đó cái ảo ảnh hiện ra mình lại rất là thích. Cho nên đó là cái chướng ngại thứ ba. Chướng ngại thứ ba của cái vọng tưởng nó lắng. Rồi bây giờ nếu người nào vượt qua được cái ảo ảnh đó luôn, không bị ảo ảnh nữa thì bị cái chướng ngại thứ tư là thần thông. Bắt đầu mình có phép á. Thần thông thì nhiều mức độ. Mà thần thông gần nhất là mình biết chuyện này biết chuyện kia. Còn thần thông cao hơn là bắt đầu mình phi hành biến hóa, đó như vậy, ảo thuật đồ được. À thì cái thần thông lại là một tiếp tục là một cái chướng ngại. Vì sao vậy? Vì cái thần thông này nó làm cho bản ngã bốc

[1:21:30]khởi, làm cho kiêu mạn tăng lên dữ dội. Và như nãy mình nói cái công thức: kiêu mạn có mặt thì ô nhiễm sẽ xuất hiện. Nên hễ cái nói ngũ ấm ma là thường hay nói tới chướng ngại thứ tư là thần thông. Khi chướng ngại khởi lên, kiêu mạn khởi lên, rồi ô nhiễm nó tới. Và chính cái đó làm cho cái sự tu hành mình nó gãy đổ. Nên nói đi nói lại vậy chứ không sợ, thật ra cũng không sợ những cái chướng ngại đó, chỉ sợ cái kiêu mạn của chính mình. Mà chính cái kiêu mạn âm thầm nhẹ nhàng mới là cái mình không thấy á, mới là cái đáng sợ. Vì đó là kẻ thù ngay sau lưng mình. Mình quay lại thì nó lại sau lưng bên đây,

[1:22:01]nằm chỗ ót mình không bao giờ mình thấy được hết trơn á. Ờ chỉ khéo léo cảm nhận thôi. Chứ còn ví dụ nghe có bản ngã mình ở sau lưng mình đó, mình quay lại không thấy, bởi vì nó tiếp tục nó quay theo cái ót của mình. Suốt đời chúng ta tu cứ phải cảnh giác cái bản ngã, cái kiêu mạn đó. Thì cái cảnh giới mà ngũ ấm ma hiện ra không đến nỗi dữ dội như vậy. Vì nhiều người cũng chứng nhẹ nhàng, không có sao. Chỉ cần hiền lành, đừng kiêu mạn là chúng ta vẫn có thể vượt qua từng bước những cái chướng ngại đó hết. Mời bác. Thưa thầy à vừa rồi thầy có chỉ giáo cho biết là các cái kinh Đại thừa với cái tính cách lịch

[1:22:33]sử như thế là không phải là do chính phần Phật. Thế mà về con lại thích là vẫn có thể học được. Thế cái việc tổ chúng con sắp sửa học kinh Lăng Nghiêm mà theo như con nhận thì đấy là một quyển kinh mang tính cách giáo khoa mẫu mực. Thì có tiếp tục học học như thế nào? Thế này nè, thì nên thường á thì thầy hay khuyến khích mọi người, kể cả tăng ni nữa, phải học Nikaya trước. Bởi vì giáo lý nó nguyên thủy. Thôi thì mình nói về ba cái tam pháp ấn: vô thường, vô ngã, khổ rất kỹ. Nên mình nắm nó cho chắc cái đã và mình thực hành cho kỹ cái đã. Rồi sau này mình sẽ tham khảo thêm kinh Đại thừa. Bởi vì thầy có lần thầy giảng cái bài là Đạo Phật cho ngày mai.

[1:23:14]Trong đó thầy nói á là Đạo Phật cho ngày mai á tức là cho ngày hôm nay của chúng ta và cho ngày mai chúng ta đi tới, nó gồm những yếu tố thế này: Thứ nhất là phải dựa chắc vào giáo lý nguyên thủy của hệ thống Nikaya. Kinh A-hàm, Nikaya á. Thứ hai, chúng ta tham khảo thêm giáo lý Đại thừa. Bởi vì trong Đại thừa có nhiều giáo lý rất độc đáo, rất có lợi ích, có giá trị. Thứ ba, chúng ta tham khảo thêm kiến thức khoa học của thời đại. Một người Phật tử chân chính ngày nay là phải biết ba điều này: biết giáo lý nguyên thủy, biết giáo lý Đại thừa và có kiến thức khoa học. Có ba điều này rồi, chúng ta hiểu một cái Đạo Phật cho ngày mai rất là chân chính.

[1:23:53]Chúng ta ứng dụng được vào trong cuộc sống, chúng ta lợi ích cho bản thân mình và làm lợi cho mọi người chung quanh mình. Nên vì vậy, việc chúng ta học kinh Đại thừa chúng ta vẫn phải học, nhưng trước hết chúng ta phải nắm vững căn bản của Nikaya là kinh nguyên thủy. Đồng thời là những kiến thức về khoa học ngày hôm nay cũng không được quyền thiếu. Kiến thức về sinh học, về toán học, khoa học không được quyền thiếu, cũng phải biết.

[1:24:16]A Di Đà Phật, con muốn hỏi thầy như thế này ạ. Kính lạy đại chúng, kính lạy thầy. Tức là con cũng được học hàm thụ 6 tháng, thì cũng có là được à đọc cái cái cái những sơ sài về kinh Đại thừa, cũng học kinh Đại thừa và cái kinh nguyên thủy. Nhưng mà thưa thầy là thí dụ như anh chị em chúng con ở đây mà tổ chúng con tự học lấy thì nên nghiên cứu từ Thầy có giảng một số hai mươi mấy bài giảng về Nikaya á, rất là căn bản. Cố gắng là nghe cái bộ đó trước. Giáo lý về Nikaya, học trước cái đó. Thầy cũng có giảng bộ Pháp Hoa là kinh Đại thừa đó, nhưng mà hãy nghe Pháp Hoa sau. Dạ. Và còn thầy đang giảng hiện nay thì trong Sài Gòn thầy đang giảng Tứ Diệu Đế lại.

[1:24:52]Thì sau khi qua năm mà thầy giảng xong Tứ Diệu Đế, chắc thầy sẽ giảng qua kinh Kim Cang. Nhưng mà bây giờ để chị Kim Chi đưa gấp cái bộ Nikaya lên cho quý Phật tử học cái đã. Dạ vâng ạ, đức. Bởi vì Nikaya hơi cao nha, nói Thật sự là với đối với tăng ni là phải lên tới cao cấp mới nghiên cứu, lên tới học viện đại học mới nghiên cứu. Nhưng bởi vì thầy hi vọng là ở đây chúng ta Phật tử cũng trí thức rồi đó, mức nhận thức khả năng nhận thức mình cũng đã cao rồi, cho nên học hẳn Nikaya luôn. Có ai hỏi gì nữa không? Mình còn vài phút nữa. Nguyện đem công

[1:25:32]đức này

[1:25:41]hướng về khắp tất cả, đệ tử và chúng sinh đều trọn thành Phật đạo. Thôi thầy chúc lành cho mọi người nha. Hẹn gặp lại.

[1:26:13]Mẹ ơi, con hát khúc ca này như cánh chim tìm bầy, như nước sông tràn đầy yêu thương.

[1:26:28]Ấm áp đại dương bát ngát, trong lòng con ấp nhỏ ven bờ.

[1:26:43]Mẹ ơi, con nhớ làm sao tiếng ru ngày nao nắng trưa trời chiều mang đầy thương yêu.

[1:26:57]Ôi, tiếng ru đợi chờ con ngủ say sưa trong giấc mơ.

[1:27:13]Con nhớ hôm nào mẹ khóc

[1:27:18]khi con ốm trên giường xanh xao,

[1:27:25]đôi mắt ủ buồn xa vắng

[1:27:30]cho con từng muỗng cháo ngọt ngào.

[1:27:41]Con nhớ hôm nào trong sáng,

[1:27:46]tay mẹ nắm tay dắt con đi,

[1:27:53]đưa đến ngôi trường đông lắm,

[1:27:58]khuyên con ráng đi học nên người. Ôi, Ơn lòng mẹ tuyệt vời.

[1:28:17]Đã nuôi con, đã cho con cuộc đời, biết thương yêu mọi người, giữa trăng sao vời vợi. Bao la ấm êm, lòng con chất ngất, muôn tình thương ấp ủ trong đời.

[1:28:48]Bây giờ con đã lớn,

[1:28:54]bây giờ mẹ đã già,

[1:29:00]nhưng tình thương lúc trước

[1:29:06]vẫn đầy không xóa nhòa.

[1:29:13]Tim con còn dòng máu,

[1:29:19]khi xưa là sữa mẹ,

[1:29:25]hôm nay là nguồn sống,

[1:29:31]hôm nay là ân tình.

[1:30:06]Ôi, giờ đây khôn lớn,

[1:30:11]con mang dòng máu mẹ,

[1:30:18]con mang trái tim mẹ

[1:30:24]yêu thương trìu mến và mang ánh mắt như vì sao sáng ngời cho đời.

[1:30:44]Con sẽ đi về muôn lối,

[1:30:49]nơi nào giữa muôn trùng thương đau,

[1:30:56]đem khúc ca bình an tới

[1:31:01]cho nhau cùng vơi bớt nỗi sầu.

[1:31:11]Con sẽ xin làm con suối, trôi qua những sa mạc bao la,

[1:31:24]đem nước ân tình chan chứa, nuôi xanh những hy vọng cho đời.

[1:31:38]Mẹ ơi, đây con tha thiết nguyện cầu Chư Phật ban ơn phúc đời đời cho mẹ.

[1:31:49]Mai sau nữa ngày mẹ trăm tuổi, mẹ sẽ về cõi Phật

[1:31:57]an vui.