[0:12]Nam mô Bổn Sư Thích
[0:16]Ca Mâu Ni Phật. Hôm nay chúng ta học tiếp bài Kinh Ví Dụ Con Rắn ha. Lần trước chúng ta nói với nhau cái chỗ là cái gì vô thường là cái đó đau khổ, phải không? Chúng ta biết rằng cuộc đời là khổ, khổ như thế nào thì hôm nay chúng ta học cái đề tài một cái yếu tố khổ là vô thường là khổ. Chỗ này là một cái khái niệm mới, nó có tính cách triết học nhiều hơn. Thế còn cái nguyên khổ của nó đó như hôm trước chúng ta phân tích là nó thuộc về cảm giác. Trong cảm thọ chúng ta có ba loại là cảm thọ khổ, cảm thọ vui và cảm thọ trơ, không khổ không vui. Thì cái khổ của cảm thọ là cái gì, ai có thể biết được?
[1:05]Thì chúng ta thật ra không có dùng lời để diễn tả được những cái trạng thái của tâm hồn. Giờ ví dụ như một người mà không từng đi qua cái tâm trạng đó thì người ta không hiểu được cái cảm thọ khổ là gì. Ví dụ như có một lần nào đó mình bị ai nói xấu mà lúc đó tâm mình chưa có vượt qua được, mình cảm thấy buồn, mình ngồi cái mặt mình rầu rầu được rồi. Thấy có một người họ chưa từng biết buồn, họ đến họ hỏi, "Sao mặt của huynh sao mà kỳ vậy? Nó giống như bánh bao chiều." Cái mình nói, "Tôi buồn." Họ nói, "Buồn là sao?" Họ không hiểu. Nhưng mà nếu có người nào đã từng đi qua cái nỗi buồn đó thì mình nói là, "Tôi buồn," họ hiểu liền.
[1:42]Nên ở đây là chỉ có những người nào mà nghĩa là gọi là nóng lạnh tự biết, uống nước thì nước nóng lạnh tự biết, cũng như những trạng thái của tâm mà mình có đi qua rồi thì có nói về khổ hay buồn mình mới biết, chứ bình thường thì người ta không có biết được. Như ở bên Mỹ họ có cái phim nổi tiếng là phim người máy Terminator. Không biết mấy thầy đã xem phim này chưa hả? Chưa. Kẻ người máy Kẻ Hủy Diệt Ngày Tận Thế đó. Cái chuyện này thì khoa học giả tưởng, trong phim nó nói rằng năm tới năm 2000 á thì thế giới này bị cai trị bởi robot hết. Vì vào năm 1980 mấy á, người ta đã chế ra được những cái chip điện tử
[2:22]cực kỳ đặc biệt, cái lúc đó tạo thành những người máy thông minh hơn loài người. Và do thông minh như vậy nên đến năm 2000 thì cả thế giới bị cái người máy cai trị. Thì lúc đó có những con người họ mới chống lại, gọi là kháng chiến chống lại sự cai trị của người máy, thì người máy nó đi lùng diệt hết người nào thật sự là người, nó đi nó diệt hết. Thì ở trong đó có khái niệm về thời gian, nghĩa là nếu mà năm 1983 có một sự kiện A thì nó sẽ đưa đến là năm 2000 xuất hiện sự kiện B, lý luận của họ vậy. Bây giờ muốn cho sự kiện B này đừng xuất hiện thì bây giờ mình diệt cái sự kiện A này, thì đến năm 2000 sẽ không xuất hiện sự kiện B.
[3:01]Lý luận nghe hợp lý, phải không? Và trong đó như thế này, là trong khi mà robot đang cai trị trái đất á, loài người đang phải vất vả chống lại robot á, thì có một đứa bé, nó sinh ra năm 1980 mấy đó, và đến năm 2000 nó sẽ trở thành lãnh tụ kháng chiến của loài người để chống lại robot và nó rất là giỏi. Do biết được chuyện đó, cho nên những người máy này họ đi ngược lại thời gian đến năm 1983 để tìm giết đứa bé đó. Vì đứa bé đó mà giết thì năm 2000 không có chuyện loài người có thể chống lại robot được, vì đứa bé nó quá giỏi. Thì lúc đó có hai người máy đều đi ngược lại thời gian trở lại năm này để tìm đứa bé đó.
[3:36]Một người máy thì bảo vệ đứa bé, còn người máy thì giết đứa bé đó. Cái người máy mà bảo vệ đứa bé á thì cái cái cái công nghệ nó đã bình thường, nó bằng cơ nhiều hơn, còn người máy mà muốn tiêu diệt đứa bé đó là người máy cực kỳ đặc biệt, gọi là tinh thể lỏng, muốn hiện hình ai hiện cũng được hết. Ví dụ như cái nhà đó mà muốn đi qua cái nhà đó, tự nhiên nó chảy lỏng ra thành một cái chất lỏng, chui qua cái lỗ, qua đó rồi cái dựng lên tạo thành người trở lại. Nghĩa là cái người máy nó tinh vi như vậy, nghĩa là từng cái phân tử, từng cái cái cục chất lỏng đều có trí thông minh hết. Thì qua những cuộc mà đấu đá với nhau rất là vất vả,
[4:11]cái người máy mà bảo vệ đứa bé cũng cũng khổ sở. Thì đứa bé nó khóc nhiều chuyện cảm động, cái người máy biểu, "Tại sao bạn khóc?" Tại họ không có trong cái chip của họ không có quy định được cái nỗi buồn, họ không hiểu được nỗi buồn là gì. Cho đến cái khi mà đã chiến thắng xong cái người máy hủy diệt á, thì cái người máy bảo vệ mới nói thế này, "Nhưng tôi cũng phải tự tự hủy mình, vì sao? Vì trong đầu tôi còn một con chip của loại đó cực kỳ thông minh. Nếu con chip này còn tồn tại, biết đâu một ngày nào đó người ta lại dùng nó để chế tạo ra những người máy thông minh khác và thế giới sẽ bị nguy hiểm.
[4:44]Cho nên tôi phải tự hủy." Rồi ổng mới bước xuống cái lúc mà là cái nồi mà nấu kim loại á, nó nó đang sôi lỏng mấy ngàn độ, ổng bước xuống để cho mình ổng chảy lỏng ra hết luôn, con chip đó nó cháy mất luôn. Thì cái đoạn đó nó nó hùng tráng lắm, rồi ổng mới nói, lúc tới đoạn đó rồi ổng mới nói, "Tôi đã biết vì sao các bạn khóc." Nghĩa là tới lúc đó ổng chợt nhận ra được cái nỗi buồn của loài người khi chia tay đó. Đó là cái chuyện vui như vậy. Thì ở đây cái tâm trạng là cái gì mà người ta phải đi qua rồi mới biết, chứ còn nếu mà không đi qua thì không biết được. Và ở bài kinh này thì chúng ta học được một cái nguyên tắc là
[5:17]cái gì vô thường là cái đó đau khổ, vô thường là đau khổ. Cái này có tính nguyên tắc, nhưng mà phù hợp với lý luận của con người bình thường, vì có một triết gia gọi là triết học Tây phương họ cũng lý luận như vậy, họ nói rằng, "Cái gì mà bạn cho là hạnh phúc thì khi mất nó, bạn sẽ đau khổ." Cái này hợp lý không? Quá hợp lý, phải không? Nên cái điều đó nó rất đúng với cái lý luận mà Đức Phật nói. Ví dụ như chúng ta có một cây viết đẹp, mình rất là thích. Hễ vừa thích là rồi đó, vì nó đem cho mình cái niềm vui khi mình sở hữu nó, thì một ngày nào đó nó mất, nó bị rỉ sét, mình sẽ buồn. Cũng như mình có một người bạn thân, hai người thân với nhau và thường
[5:58]cho nhau những niềm vui trong cuộc sống, một ngày nào đó người đó phải ra đi hay người đó bị bệnh rồi mất, mình sẽ đau khổ. Vô thường là đau khổ. Thì chỗ này là chỗ rất là hay, vì nếu mà mình nói là cuộc đời là đau khổ thì nhiều người họ sẽ lý luận ngược lại, họ nói, "Đúng, cuộc đời khổ nhưng cũng có những lúc vui, những lúc hạnh phúc." Thì ở đây mình mới nói được, dựa vào đó mình nói, "Nhưng mà có bao giờ chúng ta giữ được hạnh phúc đó mãi trên đời không?" Phải không? Chắc chắn không bao giờ. Và cái mà mình cho là hạnh phúc rồi đến lúc nó không còn tồn tại thì đau khổ sẽ đến. Nên đây là cái câu mà chúng ta có thể trả lời lại những người
[6:40]nào mà họ chưa thấy được bản chất đau khổ của cuộc đời. Ngày hôm Chủ Nhật vừa rồi, tôi đi giảng ở một cái tịnh xá. Cuối bài giảng thấy có hai người phật tử, nói hai người chứ có một người phật tử, một người thì không có hai chân, một người thì không có hai mắt. Họ mới hát một bài chào mừng coi như tạ pháp cuối năm, thì có một bài hát của cái người mù mà nhạc sĩ mù đó đặt cái bài là "Mắc Nợ". Cái tựa nghe mắc cười nhưng bài rất hay. Hồi sáng tôi có hát cho Thiên Phước nghe, còn lát mà giảng xong nếu ai năn nỉ thì cũng hát lại. Cái bài nó dễ thương lắm, nghĩa là: "Ta nợ mùa thu một bài thơ lá rụng sương mù." Nghĩa là gì?
[7:25]Nghĩa là khi vào trong bài thơ mà bài thơ đó không biết bao nhiêu thi sĩ làm nên được, đi vào mùa thu nó đẹp lắm, có lá rụng, có sương mù, cái trước cái cảnh đẹp như vậy thì rất nhiều thi sĩ đã làm nên được những bài thơ và cho chúng ta thưởng thức. Nên chúng ta đã thưởng thức được những bài thơ hay nhờ có mùa thu, nên cái người nhạc sĩ này ổng mới nói ổng đã mắc nợ mùa thu, vì ổng nhờ đó mà có được những bài thơ để nghe, nên "Ta mắc nợ mùa thu một bài thơ lá rụng sương mù." Rồi, "Ta mắc nợ ai cả một đời mà không trả nổi." Không biết mắc nợ gì? Là gì? "Một nụ cười má lúm đồng tiền." Không biết câu này giờ ổng
[8:01]thấy không, tại ổng không có mắt, mà làm hay như vậy. Rồi, "Nợ quê hương một chùm khế ngọt, nợ cuộc đời một lần đắng cay, nợ cơn mưa một lần ướt áo, nợ trời quê một cánh diều bay." Tuyệt vời, hay. Rồi, "Ta nợ lời ru mẹ ầu ơ bên cánh võng thuở nào, nợ bạn bè lần hẹn hò cuối phố, nợ trường xưa nét chữ ban đầu, cả một đời mãi khắc ghi sâu."
[8:31]Nghĩa là cái gì trong cuộc đời mình hưởng được thì mình đều cảm thấy là một món nợ. Nhưng mà trong những cái món nợ nên thơ đó, hạnh phúc, dễ chịu đó chỉ có một cái chỗ là, "Nợ cuộc đời một lần đắng cay." Nghĩa là đây là một người nhạc sĩ mù chưa hề biết Phật pháp, nghe như Phật pháp. Mà hễ mà nói cái gì thì nghe cũng hay, mà nói tới cuộc đời là khổ đau, đắng cay. Đây là chúng ta thấy cũng lạ, lạ không? Là vì giống như là trong cái thâm trầm, sâu lắng của một con người dù là chưa biết đạo, họ vẫn cảm nhận đời là khổ. Hay vậy. Dù người này chưa biết đạo, nhưng trong thâm sâu, khi mà người ta đã đi qua cuộc đời lớn lên một chút
[9:10]rồi, đều vẫn có một cái gì đó thâm trầm mà hiểu được cuộc đời là khổ chứ không phải là vui. Nhưng trong cái khổ đó, người ta cũng có cái gì thú vị của nó, nên gọi là mắc nợ là cuộc đời lần đắng cay. Đây là một cái như cái quan điểm chung, chỗ gặp gỡ chung của con người, đời là khổ, chả có sướng ích gì hết, thế thà đi tu là tốt. Ở đây, cái gì là vô thường là khổ, như vậy nó đã là vô thường là khổ chịu sự biến hoại thì có hợp lý chăng khi mình nghĩ rằng cái đó là của tôi, cái đó là tôi, cái đó là tự ngã của tôi? Phật nói như vậy, nó vô thường thì không nói như vậy. Cho nên bây giờ hỏi sắc là vô thường
[9:54]thì đừng có nói sắc là là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Sắc là gì? Sắc là gì? Sắc là cái xác thân này nè, hình hài này nè. Sắc thân hình hài này được gọi là sắc. Thì ở đây là chúng ta phải thấy sắc này là vô thường để không thấy nó là của ta, của tôi. Và đối với thọ, tưởng, hành, thức cũng như vậy, phải thấy nó là vô thường, mà vô thường tức là đau khổ thì đừng bao giờ cho nó là ta, là của tôi, là tôi gì hết á. Cái chỗ này nghe hiểu không? Hiểu không? Hiểu không? Hơi hơi, chưa thấm. Nhưng mà đây là quan trọng. Chỗ này là yếu chỉ của toàn bộ đạo Phật đó. Yếu chỉ toàn bộ đạo Phật nằm ở chỗ này.
[10:39]Quý thầy sẽ nghe nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần trong Nikaya mà nói là sắc, thọ, tưởng, hành, thức là vô thường, cho nên không phải là ta, không phải là của ta. Chúng ta nghe đi nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần. Mà nếu nó không quan trọng, Đức Phật đã không nhắc lại đi nhiều lần như vậy. Mà nếu nó quan trọng thì chúng ta phải hiểu và thực hành nó một cách thấu đáo. Chúng ta có hiểu được chỗ này, chúng ta có thực hành đây, chúng ta mới biết ơn Phật, mới thấy đạo Phật vô cùng an lạc, vi diệu, lợi ích cho cuộc đời. Ví dụ như tưởng thì chúng ta hiểu là gì? Là suy tư, vọng tưởng ha, là những cái hình
[11:15]ảnh, âm thanh nó hiện ra trong tâm mình. Mình tu đến lúc nào đó cái mình bỏ được bớt cái suy tư này, định bắt đầu định được. Nhưng mà còn cái hành là cái tâm tế, những cái tâm tế, những cái quyết định, những suy luận, những sáng tạo, những lấy trong ký ức ra, những cái sự chú ý, những tình cảm ở trong hành, hành nhiều lắm, mình khó nói được. Thì đây là tâm tế. Mà nếu mình tu đến lúc nào mình lắng được cái này thì còn lại cái thức, chính là một cái biết thụ động mênh mông, còn cái biết mênh mông đó. Đến chỗ này mình bỏ luôn được không? Bỏ được không? Bỏ luôn được không? Ai bỏ được là thành Phật á.
[11:53]Đúng là phải bỏ, nhưng chỗ này dĩ nhiên là mình không qua được đâu. Có thể là khi mình vào định mình lắng được cái này xuống nè, rồi mình chứng được đến cái Định Tam thiền mình lắng được cái này. Nhưng mà còn cái biết mênh mông vi diệu này mình không bỏ nổi. Mình không bỏ nổi thì ở chỗ này mới có cái yếu chỉ là tuy không bỏ được nhưng mà trong thâm sâu vẫn không chấp nhận nó, biết nó vẫn là vô thường và biến hoại, thì ngang đây là mình có thể chứng A-la-hán. Đó là con đường chân chính. Tuy nhiên, đã có nhiều người khi đạt được cái trạng thái biết thụ động đó, thênh thang đó, rỗng rang đó, đã đứng lại dừng ngang đó, chấp đó rằng là chân tâm Phật tánh, chấp ngang đó luôn.
[12:34]Nhiều người đã bị như vậy, nên chỗ đây là khó vượt qua. Nếu chúng ta nghiên cứu trong kinh điển Nikaya nguyên thủy thì Đức Phật bảo chúng ta phải vượt qua điều này. Mình tu vậy đó. Đối với sắc là mình quán mình bỏ, sắc này là vô thường biến hoại, chết rồi chôn, mình dễ thấy. Đối với cảm thọ khi buồn khi vui, mình tu một thời gian mình thấy ờ đúng, vượt qua được để đừng cho bị tâm hồn không bị xao động. Rồi những vọng tưởng, những suy nghĩ mình thấy được, bỏ. Đến khi mà những cái tâm tế sâu bên trong vượt qua được luôn, bỏ, còn lại cái biết mênh mông vi diệu, chỗ này thường mình không bỏ nổi. Nhưng nếu hôm nay mình đã học được Nikaya,
[13:12]mình hiểu được rồi, thì khi một ngày nào quý vị mà quý quý quý thầy mà chứng được cái định này, thì hãy nhớ ngày hôm nay chúng ta đã học được lời Phật dạy là không chấp, không chấp thôi chứ vượt qua chưa nổi đâu, mà lúc mà không chấp tức là sẽ có ngày vượt qua, là sẽ chứng A-la-hán chỗ này. Kỳ tới chúng ta sẽ học bài Thân Hành Niệm thì chúng ta sẽ nói về cái hơi thở của tưởng ấm, của hành ấm, của thức ấm như thế nào, và quý thầy có thể sẽ hiểu kỹ hơn. Nhưng bài Thân Hành Niệm là bài phải thực hành, phải thực hành mới hiểu. Còn bài này cũng là cái thực hành, mà thực hành trên trên trên quán chiếu nhiều hơn.
[13:51]Ở đây mà quý thầy cố gắng hiểu cho kỹ năm cái khái niệm này. Nhất là bắt đầu bằng Cúp điện rồi.
[14:03]Nhất là bắt đầu từ cái sắc ấm quán chiếu kỹ lưỡng để không thấy là ta thì nó là khởi điểm để đi sâu vào trong đạo, vì cái chấp thân này rất là khủng khiếp, rất là mãnh liệt. Cái chấp thân á mãnh liệt lắm. Bình thường á, ví dụ như đang ngồi bình thường ở đây nè, thì chúng ta nghe Phật nói thân này là vô thường, là hư ảo, biến hoại, mình tin, hiểu á. Nhưng khi gặp việc thì chúng ta mới thấy rằng mình không thể từ bỏ được cái chấp thân được. Đoạn dưới á chúng ta sẽ thấy nè: Do vậy, này các Tỳ-kheo, bất cứ sắc pháp nào quá khứ, tương lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, thì đều phải suy nghĩ rằng cái này
[14:43]không phải là của tôi, không phải là tôi, không phải là tự ngã của tôi. Đức Phật dặn như vậy. Mà tại sao Đức Phật dặn kỹ như vậy? Cái đoạn đoạn kinh văn này đó, nếu mình đọc lướt qua mình không hiểu kỹ thì sẽ đọc Nikaya dễ chán, dễ buồn ngủ lắm. Nikaya mà sở dĩ đọc khó hiểu là vì như vậy, những ý rất lớn nhưng mà chỉ lướt qua trong một câu văn ngắn như thế này: Bất cứ sắc pháp nào quá khứ, tương lai, hiện tại là gì? Chỗ này đó đọc Nikaya mấy chỗ này không được đọc lướt qua, phải hiểu cho ra rồi mới được đọc tới. Mà từng cái đoạn ngắn như vậy nếu mình hiểu được thì lần lần mình mở ra những bài kinh khác cũng tương tự như vậy, mình có thể hiểu được.
[15:23]Sắc pháp quá khứ là gì? Nghĩa là cái hình hài này mà thuộc về tuổi thơ hay thuộc về những kiếp trước. Có khi là chúng ta đang sống với cái thân trong hiện tại của năm 2000 này, nhưng mà nhiều khi mình vẫn còn chấp cái thân của những năm từ thời thơ thơ ấu. Nghe nói vô lý không? Vô lý mà tôi bị rồi đó. Tôi bị tôi mới biết. Tôi có bị qua tôi mới biết lời Phật dạy là hay. Vì sao vậy? Vì tôi nghe hai người Phật tử nói chuyện với nhau. Có một người kể lại, nói: Hồi con chưa gặp Thầy, con nghe băng Thầy giảng, con mới hỏi một cái chị bạn là đã gặp Thầy rồi, hỏi Thầy hình dung sao? Chị kia nói: Thầy ốm nhom xấu quắc à. Tôi cũng hơi buồn, tôi mới nói chữa lại, nói:
[16:09]Coi vậy chứ hồi nhỏ Thầy đẹp lắm. Hồi nhỏ mấy ông cậu Thầy ổng thích Thầy lắm, ổng cứ nói Thầy là Alain Delon. Giờ Thầy xấu vậy chớ đừng chê Thầy tội nghiệp. Đó là, đó là mình chấp cái sắc pháp của quá khứ. Còn cái hiện tại là như vầy rồi phải không? Còn vị lai, sắc pháp vị lai là gì? Là tương lai, sự mơ mộng tương lai. Chấp cái sắc pháp. Còn cái sắc pháp nội hay ngoại là gì? Ngoại là bên ngoài, là hình hài như thế này, còn cái nội là những bộ phận trong cơ thể mình. Cái chấp này ghê lắm. Như bây giờ thì mình không có thấy tim gan phèo phổi mình sao hết, nhưng mà coi vậy giữa cái chấp của mình á với cái thân,
[16:49]giữa cái thân và cái tâm nó vẫn có một cái sợi dây liên hệ vô hình bí mật làm cho mình chấp mà không cưỡng lại được. Như có cái chuyện ở bên Mỹ á, có cô đó cô bị bệnh tim, bác sĩ cho biết là tim cần phải thay. Thì trong tình trạng là thập tử nhất sinh rồi, đang thở oxy là đang chờ đợi coi có ai có tim để thay. Bất ngờ có một cái cái người thanh niên đó đi xe bị tai nạn, chết. Chết thì cảnh sát lục túi ra thì trong đó có cái tờ giấy là nguyện hiến cơ thể, hiến bộ phận cơ thể. Cái cảnh sát lật đật chở vô bệnh viện để lấy bộ phận ra liền. Thì cũng được cái thông báo của cái bệnh viện kia là đang cần tim thì mổ cái trái tim người này,
[17:26]bỏ vô hộc lạnh gì là chở máy bay đưa tới bệnh viện để thay cho cô kia. Thì cô kia được cái quả tim đó rồi sống, thay tim rồi cô sống. Nhưng cô cho biết là từ đó rồi cô luôn luôn cảm thấy có một người ở bên cạnh cô, có một cái linh hồn của ai cứ vất va vất vưởng bên cạnh cô. Mà cô đổi tánh nữa, từ từ cô thích uống bia, thích phóng xe chạy bạt mạng, thích ăn cái món gà chiên mà trước đây cô chưa bao giờ biết. Sau cô đi tìm mãi tìm mãi mới mới tìm lại được cái gia đình của người thanh niên mà đã tặng cô quả tim, thì đúng là anh chàng này khoái uống bia, thích lái xe chạy bạt mạng mới chết đó, thích ăn gà chiên.
[18:02]Thì chúng ta thấy, tức là đã chết rồi mà trái tim mình cho người khác rồi, vẫn có một cái chấp vô hình nó ràng buộc làm cho người này cứ lẩn quẩn bên cạnh cô gái. Thì cũng vậy, ví dụ như một người chết rồi chôn sâu dưới lòng đất lạnh, thân thể từ từ mục rữa chỉ còn lại bộ xương khô nằm ở dưới, vậy chứ mà cái bộ xương không còn gì nữa, nó vẫn kéo cái tâm người đó về đó. Cái linh hồn, cái thần thức cứ lẩn quẩn lẩn quẩn bên cái mộ hoài, ít đi đâu xa. Chỉ có đi đâu đi đâu rồi chứ cũng về lẩn quẩn bên cái mộ, vì cái xác mình nằm đó, giống như cái nhà mình ở đó. Một cái chấp trong vô hình mà không cưỡng lại được đâu
[18:41]nha, đừng có nói là lúc đó là tôi tu tôi không có chấp, tôi bỏ được, coi vậy chứ vẫn không cưỡng lại được. Cái sức mạnh lạ lùng như vậy. Thậm chí có những người mà khi chết, được thiêu, còn miếng tro trơ chút xíu nè, bỏ vô cái hũ, vậy mà đem đâu là cái linh hồn cũng đi theo tới đó. Lạ lùng như vậy. Cho nên quý thầy thấy mà mấy cái hũ tro xương đốt hết rồi đó, đừng nghĩ là đây bảo đảm không có sợ ma nha, không, vẫn còn đâu đó. Đừng có lại mà giỡn đó, không được cái chuyện đó. Nghĩa là tới cái chỉ còn cái tro xương đốt rồi đó mà cái sự chấp giữa thân và tâm vẫn còn tồn tại, vẫn kéo ràng buộc như vậy.
[19:21]Nên ở đây mà nếu mình không có cái sức tu thật sự để vào định thì cái thân luôn luôn nó ràng buộc mình. Nó ràng buộc mình dữ lắm, thấy vậy không. Đó là nội hay ngoại. Thô hay tế là gì? Thô tức là cái hình dáng tổng quát. Ví dụ như là mình cao thước mấy, mập hay ốm vậy, còn tế là những cái chi tiết nhỏ. Ví dụ như mình cười như nãy nói má lúm đồng xu, mắt bồ câu đen láy, mặc dù hơi lé mài mại, ví dụ vậy. Cười có cái răng khểnh, đó là những cái chi tiết nho nhỏ trong cái sắc của mình, hình hài của mình, cũng làm cho mình chấp. Liệt hay thắng là gì? Liệt tức là cái điểm xấu của mình, mà thắng là cái điểm ưu...
[20:02]Ví dụ như mình có cái bàn tay đẹp, mình nói chuyện mình cứ quơ quơ ra ngoài, nói chuyện giả bộ quơ ra ngoài, đó là cái cái đẹp của mình. Còn nhưng mình có cái, ở đây thì không thấy ai có gì xấu để tôi coi ví dụ. Thấy ai cười cũng đẹp quá. Còn ví dụ mình có cái tật xấu nào đó thì mình phải giấu nó. Liệt hay thắng là vậy đó. Xa hay gần. Đó là những cái chi tiết nho nhỏ nhưng mình đọc mình phải hiểu như vậy. Thì như vậy, mình phải suy luận với thọ uẩn, với tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn cũng như thế. Là những chi tiết nhỏ nhỏ của tư tưởng, của cảm thọ, vân vân, mình đều phải vượt qua hết để không có chấp vào đó.
[20:41]Bây giờ chúng ta nghe đoạn này: "Chư Tỳ-kheo, nhờ thấy như vậy, vị Đa văn Thánh đệ tử yểm ly đối với sắc, yểm ly đối với thọ, với tưởng, với hành, với thức. Do yểm ly nên ly tham, do ly tham nên giải thoát." Cái câu này một chuỗi như là tiến trình đi rất là quan trọng mà Đức Phật chỉ tóm gọn trong một câu nhỏ, nên mình phải hiểu cho kỹ. Yểm ly là gì? Yểm là chán, ly là lìa. Cái chữ yểm ly á để ở chữ Nho nghe hay, mà dịch qua tiếng Việt Nam chán lìa nghe nó hơi kỳ kỳ ha. Cho nên cái câu văn xưa và nay nó khác vậy. Nên khi quý thầy mà ví dụ như viết kinh dịch á, chỗ này cẩn thận, đừng có dịch sát nghĩa quá, kỳ lắm.
[21:24]"Vì thế nên Tỳ-kheo chán lìa đối với sắc", người Việt Nam mình nghe là lạ tai, không hiểu. Nên mình phải phải phải sửa như thế nào để cho đúng ý mà cái ngôn ngữ đó nhiều người họ đang sử dụng. Đó là cách mình diễn dịch kinh điển. Chỗ này mình phải nói là một vị Thánh đệ tử mà học nhiều và tu nhiều, có tu có học. Biết như vậy nên là không chấp hình hài này. Cái chữ yểm ly mà dịch không chấp thì nghe hơi gần gần. Nhưng mà nếu quý thầy tìm được chữ nào thì hay hơn. Yểm ly đối với sắc, đối với thọ, với tưởng. Cái chữ yểm ly chán lìa nghe nó đơn giản lắm, đơn giản, nhưng mà tất cả tâm huyết, tất cả sự khởi đầu của tu hành đều nằm ở đây hết.
[22:08]Quý thầy phải cố gắng thực hành điều này. Trong năm cái uẩn đó thì cái cửa ngõ đi vào là sắc uẩn. Từng ngày từng giờ chúng ta phải làm sao yểm ly được đối với sắc. Mà yểm ly được đối với sắc rồi thì đối với thọ, tưởng, hành, thức mình rất dễ vượt qua. Đó là lý do tại sao mà trong lần tới chúng ta học bài Thân Hành Niệm là Đức Phật chỉ phá cái chấp thân thôi mà vẫn làm cho người ta chứng đạo được. Chỉ tu thân thôi, sắc thôi mà vẫn làm chứng đạo được, nên cái sắc rất là quan trọng. Phá được cái chấp về hình hài này. Cái câu nói này đơn giản mà nếu chúng ta đọc qua Nikaya, chúng ta đọc cái chữ yểm ly rồi mình lướt qua mình đọc đoạn
[22:48]khác, mình không bao giờ mình thấy được cái hay. Là vì sao? Vì mình không có thực hành. Từng giờ từng phút mình đã không suy nghĩ điều gì đó để nó xuất hiện được cái yểm ly trong tâm hồn mình. Nghĩa là từng giờ từng phút mình nghe rồi hiểu rồi bỏ qua, rồi vẫn chạy theo cơm ăn áo mặc, nên trong tâm mình không bao giờ mình yểm ly được đối với sắc. Trong lòng mình không biết lìa, biết chán đối với cái hình hài này, vẫn tiếp tục chấp vào nó, tham đắm vào nó, và đi trôi lăn mãi trong luân hồi sinh tử. Và vì vậy, mình học Nikaya sẽ không thấy cái hay. Chúng ta phải nhớ đến ơn của Phật. Chúng ta phải nhớ đến ơn của bao nhiêu vị
[23:25]tiền nhân đi trước mà giữ gìn được Phật pháp cho đến chúng ta ngày hôm nay. Chúng ta phải nhớ ơn những vị giáo thọ sư đã dày công dạy dỗ cho chúng ta bao nhiêu là điều để tu, để học, mà chúng ta phải yểm ly cho bằng được cái sắc này. Nghĩa là phải thật sự trong tâm mình biết tu hành. Từng giờ từng phút dù đi, đứng, nằm, ngồi phải suy nghĩ cái thân này là hư giả để yểm ly nó. Nên chữ yểm ly này nó không phải là một cái điều để chúng ta hiểu suông mà chúng ta phải thực hành từng giờ từng phút mới thấy cái giá trị của kinh điển, mới gọi là biết đền ơn được Phật và chư vị tiền nhân đi trước. Và cũng là có trách nhiệm đối với những người đi sau của mình.
[24:03]Sau này quý thầy lớn lên, quý thầy sẽ làm thầy, làm giảng sư, làm giáo thọ, mình có trách nhiệm đối với bao nhiêu người đi sau mình. Lúc đó quý thầy cũng sẽ dạy lại những bài kinh này, cũng sẽ gặp lại cái chữ yểm ly này. Nhưng mà từ đây cho tới cái ngày mà quý thầy dạy, quý thầy không thực hành, thì lúc đó quý thầy cũng nói hai cái chữ yểm ly này lại cho bao nhiêu người nghe một cách khô khan, nhạt nhẽo và hời hợt trở lại. Và như vậy, Phật pháp tiếp nối thế hệ này đến thế hệ kia cũng chỉ là những con người nghe rồi nói lại. Nhưng nếu từ ngày hôm nay quý thầy nghe hai chữ yểm ly này mà quý thầy thực hành tinh tấn,
[24:46]dù lúc ăn, lúc ngủ, lúc nói, lúc nín, đi, lúc đứng đều cố gắng thấy thân này là hư giả để yểm ly nó, thì đến mấy mươi năm sau, 10 năm sau, 5 năm sau, 20 năm sau quý thầy có đệ tử, quý thầy bảo đệ tử mình: "Các con phải yểm ly sắc", cái câu nói nó mang cái sức mạnh của hai chục năm thực hành tu tập và người đệ tử mình sẽ yểm ly được sắc. Tại vì mình phải mang cả cái nội lực của mình vào trong cái lời nói đó chứ không phải mình nói suông. Khi quý thầy nói: "Các con đừng chấp cái thân này, nó là vô thường, là giả tạm", thì câu nói đó nó không phải là một câu nói nhạt nhẽo, vô nghĩa, hời hợt nữa mà nó mang được cả cái
[25:25]tâm hồn, cả cái sức mạnh mấy mươi năm tu tập của quý thầy, thì người đệ tử của quý thầy sẽ tiếp tục thực hành như vậy, rồi sẽ nối tiếp được hết thế hệ này đến thế hệ kia, hễ học được kinh là thực hành được đúng lời Phật dạy, và đạo Phật nhờ như vậy mà tồn tại, mà hưng thịnh. Còn nếu hôm nay chúng ta học qua bài kinh này một cách lướt vậy, cũng nghe chữ, hiểu nghĩa rồi bỏ qua, nghe, hiểu nghĩa rồi bỏ qua, không thực hành, thì quý thầy không thực hành, đệ tử của quý thầy cũng không thực hành, và Phật pháp chỉ nối nhau bằng những con người chỉ học, hiểu mà không hành, chắc chắn sẽ sơ hở, sẽ suy tàn, không còn là chỗ dựa cho chúng sinh, cho nhân loại nữa.
[26:07]Nên ở đây, mình nghĩ đến cái sự tồn tại lâu dài của Phật pháp, nghĩ đến cái lợi ích cho loài người trên thế giới này, thì hôm nay chúng ta học cái bài kinh này với cái chữ yểm ly đơn giản này, mình phải thực hành cho thấu đáo, cho thấm thía, cho vững chắc để truyền được cái sức mạnh nội lực đó cho những thế hệ đi sau. Khởi đầu bằng cái chữ yểm ly sắc, thường xuyên quan sát thân này là hư giả, chứ đừng có học rồi bỏ qua. Tôi nói với quý thầy bằng tất cả cái tâm hồn của tôi, bằng tất cả cái sự xúc động và quyết tâm của tôi, mong cho quý thầy thực hành như vậy để cho sau này Phật pháp còn được tồn tại.
[26:51]Vì những người tu sĩ là tu chứ không phải học sĩ. Bây giờ chúng ta dễ bị tu sĩ trở thành học sĩ là vậy, chỉ học hết trường này tới trường kia, lấy hết bằng này tới bằng nọ mà không một giờ tu tập. Trong khi chúng ta là người tu sĩ là người tu, thực hành giáo pháp. Học là để thực hành chứ không phải là học để hiểu rồi lại tiếp tục truyền nhau cái học, cái hiểu, cái học, cái hiểu mãi như vậy. Nên ở đây trong bài kinh này hoặc là toàn bộ Phật pháp của Đức Phật mà nếu chúng ta không có thực hành, chúng ta không thấy được cái hay. Không thấy được cái hay. Cũng giống như là thấy sắc, thọ, tưởng, hành, thức là vô thường á, mình nói cái câu đơn giản vậy,
[27:30]mình không bao giờ mà hiểu giáo pháp đó với tận cái lòng biết ơn sâu xa của mình đối với Phật. Là vì sao? Vì mình không hề thực hành. Tập mà cho đến cái lúc mà chúng ta chỉ còn một cái thức, nghĩa là vào trong định chỉ còn cái biết thụ động mênh mông thôi, và không chấp luôn cái biết đó luôn, thì người này mới thấy được cái hay của lời dạy của Phật là từng uẩn như vậy, thấy nó là vô thường để buông bỏ nó. 10 năm trở lên, phải ngồi thiền 10 năm trở lên, tinh tấn không được dãi đãi thì mới thấy được cái chỗ này. Phật pháp nói tới nói lui lại cũng chỉ năm uẩn này mà thấy được vô thường và không thấy uẩn nào là ngã hết.
[28:07]Chỗ này nó hay vô cùng, vi diệu vô cùng mà nếu chúng ta nói lướt qua rồi mình hiểu không hết. Một lúc nào đó quý thầy ngồi thiền, nghĩa là khi cái suy nghĩ khởi lên cái, thấy đây là thuộc về tưởng uẩn này không phải là ta. Rồi những cái suy luận, quyết định gì đó, mà biết ngay cái này không phải là ta, là hành uẩn. Đến khi tâm nó định xuống chỉ còn cái biết thụ động mênh mông, mình lại biết đây là thức uẩn không phải là ta, buông luôn, không chấp nhận. Dù chưa vượt qua được thức uẩn để chứng vào bản thể tuyệt đối, nhưng là mình đã đi đúng đường. Phải 10 năm công phu tinh tấn như vậy. Lúc đó quý thầy mới thấy công ơn của Phật.
[28:41]Cái trí tuệ của Phật đã để lại ánh sáng nhưng mà chúng ta không thắp lại được, không nối tiếp được, rất là uổng phí. Phải thực hành cho bằng được. Trong này "do yểm ly nên ly tham, do ly tham nên được giải thoát". Phật nói công thức này hơi gọn, và cái chữ lìa bỏ cái tham á, ly tham tức là hết tham và được giải thoát, thì chữ này nó cô đọng và khó hiểu. Chỉ cần hết tham là giải thoát thì chữ tham này nghĩa nó lớn, nghĩa từ rất là cạn mà cho tới rất là sâu thì mới có cái ý nghĩa là hết tham là giải thoát, chứ bình thường không có dễ như vậy. Cái tham nó có những cái sâu, cái cạn của nó. Ví dụ cái cạn như là tham ăn.
[29:20]Tham ăn thì dễ hiểu phải không? Dễ hiểu. Quý thầy rành rồi phải không? Tham ăn quý thầy rành chưa? Rành chưa? Rành rồi phải không? Nhưng mà còn những cái tham khác nó vi tế hơn. Ví dụ như là ai đến gặp mình khen câu: à con nói con thấy thầy đức độ ghê, thầy tu hành tinh tấn thiệt, chùa này nhờ thầy. Có câu nói làm mình vui, thì cái vui đó đã là cái tham rồi đó. Hoặc là cái người mà khi vào trong định, tâm thanh tịnh, thích quá chừng, thích an trú trong đó, thích giữ cái đó, chấp cái đó, thì đó cũng là cái tham. Cái đó cũng là coi chừng sắc ái hay vô sắc ái. Rồi có nhiều cái nó tế, mà một cái tiếng khen,
[30:05]thường là cái khen là cái tế mà mình khó gỡ. Ví dụ như là người ta mắng mình, mình dễ buông, nhưng người ta khen mình mình rất khó buông. Lại người ta nói xấu mình, mình nhẫn nhục được. Thường là người tu dễ chịu đựng nghịch cảnh, tâm mình giữ bình thản, nhưng mà khi người ta khen mình, mình lại không buông, cứ nhớ hoài ba ngày, vui không ăn cơm cũng được. Thì phải là hết được cái tham rất là tế mới được Phật gọi là giải thoát. Trong đây có cái câu này: Trong sự giải thoát, có cái trí tuệ khởi lên biết được là đã giải thoát. Câu này quan trọng nha. Quan trọng này. Có một lần, tôi gặp cái vị đó, vị đó mới nói rằng,
[30:43]vị đó mới tuyên bố với mọi người là vị đó tu đã thành tựu, đã được thanh tịnh, thì có một vài vị thầy khác chất vấn lại: "Nếu thầy nói như vậy là thầy tu mà còn có chứng, có đắc là không phải đạo Phật." Chỗ này á thật ra đó, cái vị thầy mà công kích là sai đó. Cái vị kia mà nói mình tuyên bố mình chứng thì mình không biết là có chứng hoàn toàn hay chưa, nhưng mà cái vị mà nói rằng là, là thầy nói thầy có tu mà có chứng là thầy có chứng có đắc, không phải đạo Phật là không chứng không đắc, cái câu phê bình đó là sai, quý thầy nhớ câu đó là sai. Tại vì sao vậy? Là vì tâm mình như thế nào mình phải biết rõ
[31:27]như thế đó, chứ không phải là không biết. Như ngày hôm qua mình còn vọng tưởng, ngày hôm nay mình hết vọng tưởng, mình phải biết chứ làm sao mà không biết được, phải không? Vậy cho nên tu là tuy tâm mình đã thay đổi những trạng thái nào, mình luôn luôn kiểm soát, biết rất rõ. Đó chứ không phải không biết. Mà nó đi qua từng trạng thái sâu, sâu như thế nào mình cũng biết được hết á. Nhưng mà chỉ có cái khác này: Biết vậy là không có sai nha. Hễ tâm mình động là biết động, tịnh là biết tịnh, là không sai. Chỉ có cái này mới sai: ví dụ như tâm thanh tịnh thì mình biết nó thanh tịnh, nhưng mình khởi lên cái tự hào vì cái thanh tịnh đó
[32:06]thì ở đây người xưa gọi là có tâm sở đắc. Chỗ này là sai. Nếu mà có tâm này thì sau này từ từ mình sẽ đọa lại. Nhưng mà người mới tu hay bị lắm. Ví dụ nào giờ mình chưa có được định, mình nhiếp tâm thời gian cái vào định được, mình biết mình vào định, cái tự hào khởi lên theo. Thời gian cái mình mất phước, cái định nó mất lui lại. Mà nếu tự hào quá thì có thể điên, nguy hiểm như vậy. Chứ còn bình thường là phải biết chứ không được không biết. Còn ai nói mà tu mà không chứng không đắc là chỉ trên lý thuyết chứ không có hiểu, người này chưa có thực hành. Biết rất rõ nhưng mà không tự hào. Vì đó là trí tuệ.
[32:40]Cái chuyện này nó liên quan đến vào cái chuyện, một cái lịch sử trong đạo Phật. Thời xưa có một Tỳ kheo là Đại Thiên Mahadeva, ổng tuyên bố ổng chứng A La Hán rồi. Khi ổng tuyên bố ổng chứng như vậy thì nhiều người cũng theo ổng làm đệ tử. Thì ổng có người đệ tử thị giả ở gần thầy ổng mới phát hiện thầy cũng còn nhiều sơ suất. Một lần ổng mới bạo gan ổng hỏi thầy: "Thưa thầy, tại sao thầy nói thầy chứng A La Hán rồi mà thầy còn sơ suất như vậy?" Thì ông thầy ổng mới nói, ông Đại Thiên mới nói là: "Ừ, A La Hán cũng còn sơ suất như vậy." Rồi cái ổng mới chỉ luôn đệ tử: "Ông cũng chứng A La Hán luôn." Cái ổng giật mình:
[33:16]"Ủa, con chứng hồi nào sao con không biết?" "Ừ, A La Hán chứng không biết, phải người ta nói mình mới biết." Cái người đệ tử ngơ ngơ ngác ngác: "Ủa, mình chứng rồi hả?" Sau này mới thành một cái cái trường phái nói rằng A La Hán là còn sơ suất, A La Hán chứng không tự biết, phải người khác nói mới biết. Thì cái đoạn lý luận đó, cái trường phái đó sai so với kinh Phật. Vì trong kinh Phật đã nói rõ ràng là trong sự giải thoát đó có trí tuệ biết mình là đã giải thoát, phải nắm chắc như vậy. Nên ở đây ông Mahadeva ổng xạo, ổng nói ẩu ổng chứng, nói bậy nói bạ nói đệ tử chứng để gây uy tín cho mình.
[33:55]Mà thật sự không phải, cho nên đã nói lên nhiều điều ngược lại với lời dạy của Phật từ trong kinh điển. Mà đã gây một sự hiểu lầm giữa hai bên, Đại thừa và Tiểu thừa rất là là lớn. Có một lần, có một thầy cũng học xong cơ bản là bắt đầu đắp y mặc áo, đảnh lễ ba lễ, thưa hỏi: "Thưa thầy..." "Thôi có gì nói bình thường, khỏi cần lễ mễ." Nói: "Hồi con học Tứ Thập Nhị Chương ở trường cơ bản đó, trong đó có cái câu là: Cúng dường một vị ngũ giới không bằng cúng dường vị thập thiện, cúng dường vị thập thiện không bằng cúng dường vị Tu Đà Hoàn." Thấy không quý thầy? Đọc qua chưa? Học chưa? Trong đó có cái đoạn là cúng dường một vị Phật không
[34:39]bằng cúng dường một vị vô tâm, vô tu, vô chứng. Quý thầy đọc qua đó chưa? Đọc chưa? Chưa học nhưng mà có đọc chưa, phải không? Thì vị thầy mới mới hỏi tôi là: "Sao vậy? Con không hiểu đoạn này." Thì tôi mới trả lời là: "Nói mà vô tâm, vô tu, vô chứng thì có khác với Phật không?" Dạ đâu khác. "Phật thì cũng là vô tâm, vô tu, vô chứng thôi, mà sao trong kinh lại chia ra làm hai? Con không hiểu." Thì tôi mới nói rằng: Phật thì cũng là vô tâm, vô tu, vô chứng, nhưng mà cái đoạn kinh đó là không phải để dạy cái người đi tìm người cúng dường. Không phải. Không phải là để dạy mình cúng dường là mình phải lựa người nào cúng
[35:19]cho nó có phước, không phải, mà dạy những người tu có mục đích. Như khi chúng ta tu vậy, chúng ta hướng về mục đích nào? Nếu mình hướng về mục đích chỉ tu ngũ giới không bằng mình hướng về mục đích tu thập thiện, phải không? Thập thiện thì không bằng hướng về mục đích tu giải thoát được Tu Đà Hoàn. Hướng về quả vị Tu Đà Hoàn không bằng tu mà để chứng Tư Đà Hàm, không bằng A Na Hàm, không bằng A La Hán, không bằng tu để thành Phật, mà vậy chứ vẫn không bằng cái người không còn mục đích luôn, không tu không chứng. Vì sao? Vì cái danh từ, cái quả vị mà mình hướng về á, nó vẫn còn là danh từ, vẫn còn là mục đích và vẫn còn là một
[35:55]sự lừa gạt bí mật của bản ngã, vẫn còn vì chính mình trong đó, nên mình phải hướng một cái danh hiệu nào đó để mình hướng về. Còn một người tu thật sự là không còn vì mình nữa. Tu rất tinh tấn, làm việc rất tinh tấn để mong đi tìm sự giác ngộ cho chúng sinh, chứ không còn vì mình nữa. Cho nên đối với bản thân mình là vô tâm, vô tu, vô chứng vì không còn mục đích, không còn mục đích cho riêng mình nữa. Mặc dù thành tựu mà không lấy đó là vinh quang, chỉ mong cho chúng sinh giác ngộ, còn mình chỉ mong được làm một hạt bụi bay trong buổi chiều lộng gió, không mong gì cho mình. Cái đoạn văn đó là cảnh giác người tu.
[36:32]Ta nói về tu chứng. Ở đây, vị ấy biết: "Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, không còn trở lui lại đây với một đời sống khác." "Sanh đã tận" tức là cái sự tái sinh đã chấm dứt, không còn tái sinh trở lại. "Phạm hạnh đã thành", phạm hạnh là gì? Phạm hạnh là cái hạnh mà không còn ái dục nữa, tức là tới giải thoát A La Hán mới thực sự hết ái dục. "Những gì nên làm đã làm" là à việc tu vậy là xong hết rồi, hoàn thành rồi, không còn phải tu gì thêm. "Không còn trở lui lại đây với một đời sống khác nữa." Cái câu này bắt đầu mới gây tranh cãi này. Như vậy, dựa vào kinh Nikaya, hệ nguyên thủy mà người ta cho là Tiểu
[37:12]thừa, thì một vị chứng A La Hán sẽ không bao giờ trở lại cõi này nữa, bỏ cõi đời vĩnh viễn, được sự giải thoát một mình mình thôi. Do đó mới xuất hiện cái lý luận Đại thừa là cái hành trạng của Bồ Tát là đi vào trong luân hồi sinh tử để giáo hóa chúng sinh. Cái lý tưởng như vậy, cái hành trạng như vậy cao cả hơn là một vị chỉ tìm tu cho mình rồi cuối cùng nhập vào Niết Bàn biến mất, không còn thấy gì nữa. Đây là cái cái lý luận mà xuất hiện cái sự chia rẽ trầm trọng trong đạo Phật giữa hai tông phái lớn là Nam tông và Bắc tông. Một bên Nam tông hiểu là à, không còn trở lui lại đời sống này nữa là hết,
[37:49]chấm dứt, và một bên Bắc tông là phủ nhận và coi cho đó là tiêu nha bại chủng, là Tiểu thừa không phải là hay, không phải là lý tưởng cao đẹp trong đạo Phật thực sự, mà lý tưởng cao đẹp phải là lý tưởng Bồ Tát, trôi lăn, thị hiện, xông xáo, dấn thân vào sinh tử để hóa độ chúng sinh. Ở đây thì chúng ta mới giải thích điều này một chút. Chúng ta phải học để hiểu ra được một chân lý, một lẽ phải gì đó mà hễ nó là lẽ phải nó phải đem lại sự đoàn kết chứ không nên chia rẽ. Một bên là Niết Bàn, một bên là sự thị hiện. Nó có nhiều cái hay. Thật ra mình đi tu mình cứ đi tìm cái đúng. Cái gì đã đúng tự nhiên nó đem lại sự tốt đẹp.
[38:32]Như có nhiều người nói a nói tôi: "Sao con đường của thầy đi thoáng?" Tôi ngồi tôi nghĩ tôi đâu có chủ trương thoáng. Có người nói: "Con đường của thầy đi kỹ." Tôi ngồi tôi nghĩ tôi cũng đâu có chủ trương kỹ. Rồi cái tôi ngồi nghĩ nghĩ: "À, tôi chỉ đi tìm cái đúng." Hễ đúng rồi á thì có những trường hợp như mình rất là phóng khoáng, mà có những trường hợp mình rất là kỹ lưỡng, sâu sắc là vì lẽ phải nó buộc mình phải như vậy. Bây giờ chúng ta đi tìm cái lẽ phải nào để giải quyết cái mâu thuẫn lớn giữa hai cái tông phái Bắc tông và Nam tông trong đạo Phật. Một bên cho là Niết Bàn rồi là mất, không còn giá trị gì nữa, chỉ có thị hiện sinh tử. Còn người kia:
[39:07]"Ờ, lý tưởng của tôi dạy Niết Bàn, tôi biết nhiêu đây, anh nói khác là ngoại đạo." Lý luận hai bên mâu thuẫn dữ dội vậy. Có những lời công kích nhau dữ dội. Nói mà bên Tiểu thừa chứng A La Hán Niết Bàn là Tiểu thừa tiêu nha bại chủng không làm cho Phật pháp phát sinh được, nên mình mới là thị hiện làm Bồ Tát gọi là Đại thừa. Bên kia thì nói: "Tôi, Phật dạy như vậy tôi thực hành đúng, còn anh nói khác anh là ngoại đạo." Hai bên cứ bảo vệ phần đúng cho mình. Ở đây chúng ta tìm hiểu một chút. Niết Bàn là còn ngã không? Còn không? Hết. Hết ngã thì làm sao? Là cái gì? Hết ngã là vô ngã chứ gì. Vô ngã là gì?
[39:48]Vô ngã là Niết bàn. Niết bàn còn ngã không? Không còn. Không còn ngã là gì? Vô ngã. Vô ngã là gì? Vô ngã là Niết bàn. Niết bàn là vô ngã phải không? Không còn ngã tức là trở thành tất cả. Chúng ta nhớ điều đó. Khi mà chúng ta còn bản ngã, chúng ta thấy mình ngăn cách nhau như thế này, nhưng nếu một vị mà họ không còn bản ngã nữa thì họ trở thành toàn thể vũ trụ, toàn thể chúng sinh. Mà trở thành nghĩa là gì? Như chúng ta vậy, ví dụ ngày xưa có một tôn giả, ví dụ như tôn giả A-nậu-lâu-đà đã chứng A-la-hán và đã ở trong Niết bàn. Bây giờ mình có thấy mình có liên quan gì với vị này không? Có không? Có thấy không?
[40:32]Thấy gì đâu, mịt mùng đâu có biết đâu. Mà vì sao vậy? Vì mình còn bản ngã. Nên mình chỉ biết bản thân mình, mình chẳng thấy mình liên lạc với cái ông nào tên là Anuruddha, ổng địa chỉ, lý lịch sao mình đâu có biết. Nhưng mà riêng ngài là một vị A-la-hán thì ngài đang là chính mình, đang là từng người đứng ở trong đây. Ngài đang là cái chiếc quạt đang quay. Ngài đang là con kiến đang bò, ngài đang là những tăng sinh ngồi dưới để nhìn lên cái vị giáo thọ đang giảng, ngài cũng là một vị giáo thọ đang thao thao giảng cho các tăng sinh, Phật tử. Ngài luôn ở một bên cạnh mình, ngài như người bạn của mình,
[41:05]như người cha, như người mẹ của mình, như chiếc bóng của mình. Nhưng mình không biết. Nhưng mà nếu một giây phút nào đó mình chợt khởi lên một cái tâm thiện thì ngài ngài cảm ứng, ngài gia hộ liền. Một lúc nào đó mình khởi tâm mình tôn kính Phật thì lập tức mình nhận được cái sự gia hộ, cảm ứng của các vị thánh liền, chứ không phải là biến mất. Chúng ta đừng tưởng Niết bàn là biến mất, mà Niết bàn là tất cả. Trong cái tất cả đó tràn đầy sự cảm ứng và sự gia hộ cho những chúng sinh có tâm. Tại vì chúng ta thiếu tâm thôi, chứ nếu chúng ta có tâm thì chư thánh luôn luôn ở bên cạnh, bên mình, bên lưng mình, trong tâm sâu thẳm của mình và gia hộ cho mình không mất.
[41:47]Còn một vị thị hiện là mặt đối mặt để giáo hóa chúng sinh thì được có cái ưu điểm là dạy một cách cụ thể, dạy một cách cụ thể, nhưng mà không có cái ưu điểm là phủ trùm hết được. Tuy nhiên, hai vị này đều hỗ trợ lẫn nhau. Khi một vị thánh mà ra đời, hiện ra đời để mà giáo hóa chúng sinh trực tiếp á thì sau lưng vị đó là tất cả những vị thánh khác bí mật yểm trợ, bí mật yểm trợ. Nghĩa là sao? Nghĩa là sao thì hôm nay tôi chưa có có nói được, tôi chưa có tiết lộ được. Tôi sẽ không có nói về việc yểm trợ điều này vì hôm nay chưa tới lúc, một lúc nào đó thì tôi sẽ nói rõ, hẹn lúc khác. Nhưng quý thầy chỉ biết vậy là một vị Bồ-tát mà thị hiện xuất
[42:30]hiện giữa thế gian với những vị thánh mà ở yên trong Niết bàn phối hợp với nhau làm việc rất là đẹp mắt, rất là đẹp. Và như vậy thì chúng ta thấy là hai bên đều làm lợi chúng sinh nhưng theo hai tính cách khác nhau: một bên thì âm thầm gia hộ tất cả chúng sinh, còn một bên là thị hiện mặt đối mặt với chúng sinh nhưng là bị hạn chế trong một số người nào đó, cụ thể nhưng sẽ bị hạn chế, còn bên kia trừu tượng thì phổ quát cùng khắp. Mỗi bên đều có ưu khuyết điểm, do đó các vị luôn phối hợp với nhau để mà giáo hóa chúng sinh. Hiểu ra được điều này chúng ta mới thấy rằng là gọi là Nam tông, Bắc tông, Tiểu thừa,
[43:09]Đại thừa chỉ là một sự hiểu một bên, chứ cả hai đều cùng đúng và phải bổ sung nhau. Đạo Phật không thể chia rẽ mãi thành hai tông phái như vậy được, mình phải hiểu như vậy mới đem lại sự đoàn kết, hòa hợp cho đạo Phật được. Sau này lớn lên quý thầy đi làm việc mà nếu lúc nào đó hễ mà thấy ai còn có sự chia rẽ giữa hai cái tông phái lớn này, quý thầy phải tìm lý luận để xóa đi để cho đạo Phật không còn chia rẽ. "Này chư tỳ-kheo, tỳ-kheo ấy được gọi là đã vứt bỏ đi các chướng ngại, vị ấy đã lấp đầy các thông hào, đã nhổ lên cột trụ, đã mở tung các lề khóa, đã hạ cái cờ xuống, đặt gánh nặng xuống,
[43:48]không có gì hệ lụy." Đoạn này thì đoạn kế tiếp Đức Phật đã giải thích rồi phải không? Quý thầy đọc đoạn kinh tới chưa? Đọc chưa? Chưa. Nghĩa là vứt bỏ các chướng ngại nghĩa là đoạn trừ được vô minh, còn lấp đầy các thông hào nghĩa là đoạn trừ tái sinh, nhổ lên cột trụ nghĩa là đoạn trừ khát ái, mở tung các lề khóa là đoạn trừ năm hạ phần kiết sử. Tôi nghi kinh này viết sai, tôi nghi bản kinh để lại viết sai, có lẽ là đoạn trừ năm thượng phần kiết sử mới đúng, chứ năm hạ phần thì có gì đâu. Bây giờ từ cái thấp nhất là gì? Kiết sử đầu tiên là gì? Thân kiến phải không? Kế tiếp là nghi, gì nữa? Giới cấm, giới cấm thủ, gì nữa? Tham, sân.
[44:38]Như vậy từ nè, tham, sân nè, giới cấm thủ, nghi, thân kiến này là năm hạ phần kiết sử. Và trên đó là phóng dật nè, gì nữa? Ngạo mạn, ngạo mạn, sắc ái, vô sắc ái phải không? Cuối cùng là vô minh. Năm cái này là năm thượng phần kiết sử. Khi mà mình chứng á, từ A-na-hàm á thì mình phá được hết năm kiết sử này, mà phá xong năm kiết sử trên này á mới gọi là chứng A-la-hán. Thì ở đây tôi nghĩ trong kinh này là có lẽ là nói là phá xong năm thượng phần kiết sử đúng hơn. Sợ là kinh lâu quá rồi cái cũng có viết sai chứ không. Còn 10 kiết sử này là gì á thì là những vấn đề lớn, chúng ta hôm nay không đủ thì giờ để giảng.
[45:23]Mỗi kiết sử, mỗi vấn đề này lớn lắm, hy vọng lúc nào đó có dịp chúng ta sẽ giải thích về 10 kiết sử mà chúng ta phải hiểu về 10 kiết sử này một cách sâu sắc, kỹ lưỡng để chúng ta tự kiểm soát cái con đường đi của mình, sự tu hành của mình. Cứ hôm nay mình đã phá được kiết sử nào mình thấy rõ là mình biết mình đã đến mức độ nào. Đây là 10 cái bước đi mà chúng ta phải nắm thật chắc, không có sai. Ví dụ như cái thân kiến nè. Thân kiến là gì? Hả? Không phải. Thân kiến là cái cái từ hồi xưa, bây giờ mình phải gọi là ích kỷ. Nên cái người mà chứng Tu-đà-hoàn sơ quả là phá được ba cái ba cái kiết sử này:
[45:59]giới cấm thủ, nghi và thân kiến, nghĩa là người này không ích kỷ, người này sống cuộc đời hết sức là vị tha, chỉ sống vì người khác. Dấu hiệu đó là dấu hiệu của vị thánh Tu-đà-hoàn. Mà muốn biết đúng hay không mình nhìn lại bản thân mình. Nếu mà... Còn nếu mình nhìn vào tâm mình mà mình thấy mình sống trên đời chỉ sống vì người khác, chuyện nhỏ chuyện lớn gì cũng lo cho người khác nhiều, chứ ít lo cho bản thân mình thì coi chừng mình Tu-đà-hoàn rồi đó. Thì người như vậy báo cho tôi biết nha, chứ không là tôi không gặp, tôi không chào, tôi sợ tội tôi mang tội nha. Quý thầy nhớ báo cho tôi biết nha.
[46:31]Nó cái thân cái chữ đơn giản vậy nhưng mình phải kiểm tra, nhờ biết cái này mình mới kiểm tra mình rà mình đang còn vướng cái kiết sử nào. Trong khi mình tu nhiếp tâm, thiền định, trong đạo đức như vậy, mình đã phá được cái nào, cái nào. Ở đây chúng ta mới thấy nè: Chữ phóng dật nghĩa là gì? Phóng dật là làm biếng. Phóng dật là làm biếng. Vậy mà người mà chứng tới A-na-hàm á trở xuống còn bị Phật chê là còn làm biếng. Dễ sợ chưa. Tới A-la-hán mới hết, hết cái phóng dật này, mới hết cái làm biếng. Chúng ta thấy tu mà chứng A-na-hàm là trầy vi tróc vảy, vậy mà vẫn bị Phật chê là làm biếng. Như vậy cái khái niệm mà gọi là ý chí trong
[47:10]đạo Phật khủng khiếp, không đơn giản. Cái chữ ý chí nè. Tu chứng tới A-na-hàm rồi đã phá được năm kiết sử này mà đối với đạo Phật vẫn chưa đủ ý chí, ý chí này chưa gọi là vô biên, vô hạn. Cho nên chúng ta phải hiểu mà cái cái ý chí trong đạo Phật là khủng khiếp, không đơn giản. Còn ví dụ như cái ngạo mạn là thấy mình hơn người khác. Tới chứng A-la-hán mới hết. Cho nên mình tu mình chỉ dùng cái đạo đức khiêm hạ để kiềm chế nó bớt lại, chứ không thể diệt trừ. Khi nào vào định chứng thực sự mới hết ngạo mạn. Dễ sợ không. Ví dụ như là quý thầy mà tu... sắc, thọ, tưởng, hành, thức lần khác lần tới tôi
[47:48]sẽ giảng, lần này tôi nói phớt qua một chút. Là tu trong hơi thở, ví dụ quý thầy đạt được cái hơi thở thâm sâu, nhiếp vào trong đó chỉ còn hơi thở, mình mất, ngồi thiền không còn thấy có mình nữa mà chỉ còn có hơi thở ra vào biết rõ. Mà khi thấy mình mất rồi á là lúc đó thấy con mèo, con chó mình cũng cúi đầu lạy được nó, cái khiêm hạ đến như vậy. Nhưng mà có phải A-la-hán chưa? Phải chưa? Chưa. Tức là vẫn còn ngạo mạn, khủng khiếp chưa. Nghĩa là tu mà nhiếp vào trong hơi thở, chỉ còn hơi thở, không còn chính mình nữa mà mình khiêm hạ đến cái nỗi là lúc đó mình thấy con chó, con mèo mình vẫn lạy được, vậy đó mà vẫn bị Phật chê là còn ngạo mạn.
[48:28]Nên chúng ta thấy đạo đức trong đạo Phật khủng khiếp, dễ sợ không. Một vị A-la-hán, cái đạo đức của vị đó mình không thể tưởng tượng nổi. Cho nên là tôi mới nói vài điều, khi nào có dịp tôi sẽ giảng hết toàn bộ 10 kiết sử này để chúng ta tham khảo mà kiểm soát tâm mình trong sự tu hành. Hễ mình tu đến mức độ đó là mình biết mình có kiểm soát được kiết sử đó hay phá được kiết sử đó hay không, biết rõ. Nghi là cái gì? Vì vắn là ngờ lắm. Thôi để bữa khác rồi nói. À thì giờ Thế nào là đã đặt gánh nặng xuống? Là đã đoạn trừ ngã mạn, đó là phá được cái cái kiết sử đó. Cái đoạn này chúng ta nghe: "Này các Tỳ kheo, một Tỳ kheo mà đã giải thoát như vậy
[49:12]thì chư thiên ở Đế Thích thiên giới, Phạm thiên giới, Sanh Chủ giới sẽ không tìm được dấu vết của Tỳ kheo ấy. Ta nói: Này các Tỳ kheo, ngay hiện tại, một Như Lai cũng không thể tìm thấy dấu vết của một người chứng đạo như vậy." Cái lời tuyên bố này rất là độc đáo, tuyệt vời, rất hay.
[49:34]Là các vị chư thiên không nhìn thấy được cái dấu vết của người đó, cả Đức Phật cũng không nhìn thấy luôn. Cái đoạn này nghĩa là gì? Cái dấu vết của chúng ta là gì? Dấu vết là gì? Dấu vết này không phải là cái dấu hiệu của hình hài hay là dấu vân tay để lại bị công an điều tra, không phải. Mà cái khởi niệm của tâm. Khởi niệm của tâm nó lắng đến tuyệt đối không còn một hạt bụi nhỏ, nên chư thiên không nhìn thấy mà trí tuệ Như Phật cũng cũng không nhìn thấy người này luôn. Vì chư thiên á nhìn mình á là nhìn thấy bằng cái tâm không à, chứ không có nhìn thấy hình hài đâu, không cần nhìn thấy hình hài.
[50:11]Ví dụ như bây giờ chúng ta có mặc đồ đẹp, thật đẹp đi, nhưng mà trong tâm mình còn nhiều cái sai, chư thiên nhìn biết liền. Họ nhìn xuống họ thấy là nói cái người này tuy mặc đồ đẹp nhưng trong tâm còn đứng trong chùa nhìn phe gái không hoài. Họ thấy rằng khi mà ngồi nghe giảng là hay nghĩ vớ ba vớ vẩn, nhìn họ đọc được cái tâm liền. Mà thấy là khi làm bài là cứ hay liếc qua cái tờ giấy của cái người bên cạnh, là họ biết liền. Còn cái người mà ví dụ như ăn mặc sềnh xoàng nhưng mà trong tâm thanh tịnh, thanh cao, vị tha, đạo đức, chư thiên nhìn biết liền. Nên mình giấu ai giấu được, không giấu được chư thiên tử.
[50:50]Các vị đó là những vị thánh, họ biết trong tâm mình. Tuy nhiên, những cái động mà quá tế thì có khi chư thiên không thấy được nhưng mà Đức Phật thấy được. Tuy nhiên, một vị mà chứng tới A la hán rồi thì Đức Phật cũng không thấy luôn dấu vết luôn. Tâm thanh tịnh cùng cực như thế. Thì ngay chỗ này Đức Phật cũng nói liền, Đức Phật nói rồi ngài biết là người ta hiểu lầm, ngài nói: "Khi nghe ta nói như vậy, này các Tỳ kheo, một số Sa môn, Bà la môn xuyên tạc ta một cách không chân thật, hồ đồ, hư vọng là Sa môn Gautama đã chủ trương chủ nghĩa hư vô, đề cao đoạn diệt, hủy diệt sự tiêu diệt các hữu tình.
[51:29]Nhưng này các Tỳ kheo, ta không chủ trương như thế, ta không như là các Sa môn, Bà la môn đã xuyên tạc ta, ta từ trước đến nay chỉ chủ trương, chỉ nói lên cái khổ và sự diệt khổ." Ở đây Đức Phật đã tránh né, không trả lời. Cái đoạn mà ngài nói rằng khi một người chứng đạo như vậy thì dù cho chư Phật, chư thiên cũng không nhìn thấy dấu vết của người đó. Ngài nói xong ngài biết có người sẽ nói rằng ngài chủ trương chủ nghĩa hư vô. Ngài giải thích lại. Tuy nhiên, ngài không giải thích tới nơi, ngài chỉ tránh né và ngài nói rằng Như Lai chỉ nói về khổ và sự diệt khổ chứ không chủ trương chủ nghĩa hư vô.
[52:05]Thế cái còn cái câu nói là "không còn dấu vết" nghĩa là gì để không bị là chủ nghĩa hư vô thì Đức Phật không có giải thích. Đức Phật không giải thích thì ở đây chúng ta sẽ nhờ quý thầy chuyên cắn là người học cao hiểu rộng, tài trí vô song giải thích giùm. Chúng ta giơ tay lên. Tại sao mà nói là chư thiên, chư Phật cũng không nhìn thấy dấu vết mà không phải là hư vô, đoạn diệt mất tiêu? Đến bây giờ vẫn còn nhiều người hiểu lầm như vậy. Nhiều triết gia, nhiều học giả phương Tây nghiên cứu về đạo Phật đến chỗ này vẫn cho rằng đạo Phật thụ động, tiêu cực, chủ trương hư vô, hoại diệt. Mình là đệ tử Phật mình binh Phật coi. Ai? Ai?
[52:44]Hôm nay mọi người làm lơ tôi hết trơn rồi, thấy dòm ai cũng quay đầu đi hết, kỳ nghen. Kệ, làm quen đi. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch thầy, theo con hiểu thì Đức Phật nói như vậy á có nghĩa là muốn phá cái chấp. Có nghĩa là không còn thấy dấu vết có nghĩa là không còn khiến cho cái người khác không còn thấy chấp vào đó nữa. Bây giờ mình binh để mình nói là cái chuông không phải là chủ nghĩa hư vô là sao? Rồi cảm ơn. Vị nào nữa đây? Đây đây giỏi chưa? Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch thầy, theo câu hỏi của thầy thì con có hai cái ý sau đây. Ý thứ nhất, Đức Phật không trả lời bởi vì con nghĩ ngay cái cái chữ này
[53:33]chỉ có những người tu mới cảm nhận được chứ không thể dùng lời nói. Cái thứ hai nữa là Đức Phật giáo lý Đức Phật là phải tu để diệt khổ, cho nên trước cái việc trước mắt của mình không là phải quyết trước mắt để đạt được, cho nên ngài tha thiết không thể dùng lời nói để mà biện luận. Kính bạch thầy. Cũng đâu binh được Phật câu nào đâu. Mô Phật bạch thầy, khi một vị A la hán đạt đến tâm rất là thanh tịnh thì đến Đức Phật cũng không thấy được dấu vết của vị đó. Khi Đức Phật nói ra vấn đề này thì Đức Phật sợ rằng có một số vị cho rằng Gotama chủ trương đến cái chỗ mà chủ nghĩa hư vô thì Đức Phật cho rằng không phải như vậy.
[54:14]Ở đây con cũng nói rằng tại những người nói như vậy chưa hiểu được Phật. Tại vì tuy Đức Phật không thấy được dấu vết của vị đó nhưng Đức Phật chỉ thấy được vị đó đạt đến chỗ nào. Thì bây giờ mình phải nói ha. Hồi nãy ngài chưa nói mình phải nói. Đâu có binh được câu nào nữa đâu. Sư cúi đầu buồn bã như thế. Thầy không biết nữa làm sao tôi biết. Xin nói theo mức độ mà khởi tâm thì đúng là không thể nào tìm thấy được một tâm niệm của vị đó. Tuy nhiên, chúng ta thấy cái chỗ mà không còn gì hết, cái chỗ đó trở thành tất cả, nên vị đó không thấy tâm vị đó nhưng mà vị đó với toàn thể chư Phật trở thành một.
[55:03]Đây là cái diệu hữu. Trong nhiều thế kỷ thì Đức Phật không nói, đạo Phật không nói. Về sau các vị Đại thừa mới tiết lộ về khía cạnh diệu hữu, tuy hư vô, chân không mà lại diệu hữu là vậy. Ở đây chúng ta nói thêm cái cảm ứng ha, cái cảm ứng cùng khắp giữa những vị thánh với nhau. Là khi mà cái Niết bàn quý thầy nghĩ đó là của riêng từng vị hay là của chung tất cả? Riêng hay chung? Chung. Chỗ này phải gan dạ, xác định, đừng có sợ. Tại vì riêng là bản ngã, chỉ có bản ngã mới là cái riêng thôi, mà hết ngã rồi nó phải chung, không còn của riêng ai. Hồi đó cũng vậy, khi mà tôi nghe học về lý thuyết Phật tánh, tôi mới hỏi một vị thầy:
[55:47]Thưa thầy, như vậy Phật tánh là mỗi người có một cái giống nhau, giống nhau nhưng mà mỗi của riêng? Vị nói: Ờ Phật tánh của riêng mỗi người một cái. Tôi cứ ngờ ngợ bao nhiêu năm vậy đó, tôi nghi nghi, nói sao kỳ quá, nó giống nhau hết thôi cho nó chung một cái luôn đi chi mà. Rồi sau này khi mà đọc tới A hàm mới biết là Phật nói ba loài ngã chấp: Một là thô phù ngã chấp, chấp thân là ta; hai, ý sở thành ngã chấp, chấp cái tư tưởng là ta; ba là vô sắc ngã chấp, tức là ngoại đạo mà được định cái tâm thanh tịnh trùm khắp cho đó là chân ngã, Phật nói đó cũng là chấp ngã. Bây giờ mình gọi đó là một cái tên gì đó,
[56:22]nhiều khi coi chừng mình gọi lầm là chân tâm, Phật tánh cũng không ngờ, vẫn có thể coi chừng đó vẫn là cái vô sắc ngã chấp mà ngày xưa Phật đã cảnh giác. Nên trong cái đó mình bị riêng, thấy à cái tâm này là của tôi riêng tôi, tâm kia là của người khác. Còn khi mà mình đến cái chỗ mà bản ngã không còn, một niệm của tâm không còn thì chỗ đó là chỗ chung đồng, nghĩa là tất cả vị thánh đều là một trong chỗ đó, chứ không có hai, ba. Nên tuy không phải không thấy nhưng mà chính là nhau tất cả, cái này vi diệu. Chúng ta ví dụ này chứ, ví dụ bây giờ có cái thùng nước to, mình cầm ly nước mình đổ vào trong đó, thì có thể nào mình tìm ra được
[57:04]à cái nước nào là của cái ly và nước nào là của cái thùng để sẵn không? Tìm ra được không? Tìm không? Không, phải không? Nó đổ vào rồi là lẫn chìm, mất hết, không còn. Đây là cái hình ảnh mà người ta hay ví dụ cái ly nước nhỏ giống như bản ngã của mình, còn cái thùng nước to ví như là một cái đại thể của vũ trụ. Khi mình tu mình chứng mà mất bản ngã giống như mình đã hòa nhập vào, đã tan rồi, không còn cái riêng rẽ của mình nữa. Ví dụ đó rất là hay. Đó là dùng cái một cái hình ảnh vật lý để ví dụ cho trường hợp của tâm linh. Nhưng khi mà ngược lại thì cái hình ảnh của vật lý này không ví dụ được nữa là trong trường hợp bây giờ mình múc ly nước ra.
[57:41]Thì cái ly nước mình múc ra đó nó đúng phải thật chính xác là đúng cái nước của cái ly ban đầu không? Đúng không? Đúng không? Không, sao mà đúng được nữa, trộn mất tiêu rồi, phải không? Đó, nhưng mà một vị thánh nhập định một cái ha, ví dụ như một vị A la hán, khi các ngài vượt qua bản ngã, ngài nhập định vào trong bản thể thì ngài trở thành đồng nhất với chư Phật mười phương. Nhưng khi xuất định lấy ra lại đúng lại cái tâm của ngài lại, lấy lại đúng cái bản ngã mình lại, giống như là đổ ly nước vô trong cái thùng nước lớn á, tới chừng múc ra lấy lại đúng nước hồi nãy luôn, không trật một giọt nước nào hết.
[58:18]nó là cái chung mà cái riêng. Lý nó là như vậy, không được như vậy. Ví dụ như nói là Minh Trí nhập định vào trong Niết bàn, vào đó đồng với chư Phật. Tới chừng xuất định ra thì vẫn là Minh Trí trở lại, không có lộn qua người khác, chứ không phải giống như ly nước mình đổ vô đó tới chừng múc ra là nó không còn đúng ly nước hồi nãy. Nhưng Minh Trí nhập định vô tới chừng xuất định ra thành ngài A Nan đâu, không phải, phải không? Nó không có lẫn lộn. Đó là nên cái mà cái hình ảnh của vật lý không có ví dụ được cho cái sự kiện của tâm linh vậy. Của tâm linh là đổ vô hòa chung hết mà múc ra là trở lại y như cũ, vật lý thì không được như vậy.
[58:55]Và chỗ mà không dấu vết này chính là chỗ mà thánh và thánh rung động, cái cảm ứng phủ trùm, tâm niệm thì đúng là không còn gì nữa, nhưng mà nó xuất hiện cái thay thế không phải là hư vô mà trở thành sự cảm ứng vi diệu khắp cả vũ trụ. Đây là cái tính cách chân hữu, từ đó mọi thần thông, mọi trí tuệ, mọi lòng thương yêu, mọi cái từ bi xuất hiện tràn đầy trong này. Chỗ này Phật không nói vì sợ người ta tưởng tượng, nhưng ngày hôm nay mình phải nói. Như hồi nãy mà chúng ta nói, mình tu khi tâm mình lắng rồi mình có thể lạy được con mèo, con chó, nghĩa là khi mà tâm mình lắng thì cái gì nó khởi lên?
[59:32]Đạo đức khởi lên, phải không? Khiêm hạ là đạo đức. Tâm càng lúc càng mất, bản ngã càng lúc càng mất thì đạo đức, từ bi càng lúc càng lớn, chứ không phải là hư vô, chứ không phải tâm tôi lắng như cây cỏ rồi lãng trang rồi thôi, rồi mình với thế giới tuyệt không còn, không phải. Tự nhiên lúc đó mình cúi đầu mình lạy được, tôn trọng được mọi người, cho nên mất cái này nhưng mà kỳ thực những cái tuyệt vời nó đang lớn lên rất là nhiều. Cũng vậy, khi mà không còn dấu vết của tâm nữa thì lòng từ bi của người này trở thành vô hạn, không thể dùng lời để diễn tả được. Chúng ta phải có lý luận đó để bênh vực Phật nghe,
[1:00:08]quý thầy nhớ mai mốt ai nói, để bênh vực. "Này, này các Tỳ kheo! Nếu ở đây có người mắng nhiếc, phỉ báng, muốn làm cho Như Lai tức giận nhưng mà các Tỳ kheo, Như Lai không có sân hận, bất mãn, không phẫn nộ. Ngược lại, cũng có những người cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường Như Lai thì Như Lai cũng không hoan hỷ, sung sướng, tâm không thích thú. Vì sao vậy? Vì Như Lai nghĩ rằng đây là điều xưa kia là ta đã từng biết rõ và đây là trách nhiệm của ta phải làm." À, đoạn này mới hay đây. Đố quý thầy tìm ra được cái hay của trong đoạn này. Cái hay này là chỗ nào? Mâu Mật, bạch thầy theo con nghĩ cái hay của một Đức Phật
[1:00:51]là trước cái khen và trước cái giận thì trước trước những cái việc bất khả ý như những gì vừa ý Đức Phật vẫn
[1:01:00]không bị dao động mới gọi là chư Phật, thì đó là một cái mà đặc trưng của gọi là chư Phật. Thấy Minh Trí cũng được vậy, có ai thấy gì nữa không? Ai thấy cái hay ở đoạn này? Chúng ta thấy á là bình thường á mà để giữ tâm mình không có động ở trong cái nghịch cảnh lời mắng nhiếc cũng như sự khen chê, mình hay dùng cái lý, là lý Không, để mình bảo vệ cái tâm mình. Khi người ta mắng mình thì mình nói ờ cái lời mắng chửi như gió thoảng, như mây bay, như hư vô để mình đừng có giận, rồi người ta lại khen mình, mình nói: "Ôi, lời khen chê cũng như gió thoảng, mình không bận tâm", thì đó là mình dùng cái lý để bảo vệ tâm mình.
[1:01:36]Ở đây, Đức Phật cho mình một cái phương pháp thật sự để bảo vệ tâm mình, mà sự tức là đạo đức và nhân quả. Nhớ hai cái này khác nhau, nên chúng ta cứ hiểu, nếu nói trên lý đó, Đức Phật dư sức dùng cái định để bảo vệ tâm mình, ngài không thể nào động được, nhưng mà trong đây tự nhiên ngài nhắc cái câu này là ai nói gì ngài nói, ngài không động vì ngài dùng cái sự, cái sự là gì? Tức là: "Đây là điều mà ta đã biết được, chân lý lẽ phải ta đã biết được và bổn phận của ta là gì? Là tận tụy một đời truyền đạt lại cho chúng sinh". Ngài xem đó là bổn phận của mình đối với chúng sinh, chứ không phải là cái vinh quang, không phải là một cái gì
[1:02:12]hay đặc biệt gì hết, mà là vì ngài đã may mắn, ngài thấy được ánh sáng, đã tỏ ngộ được chân lý, thì bổn phận còn lại là đối với chúng sinh làm sao cho chúng sinh cũng tỏ ngộ được điều này, là nhấn mạnh cái bổn phận, tức là, tức là gì? Tức là đạo đức. Ngài không dùng cái lý Không để giữ tâm mình mà ngài dùng cái đạo đức để giữ tâm mình. "Ở đây là điều mà ta đã biết rõ, ở đây là bổn phận ta phải làm đối với chúng sinh", lời nói rất là. Và ngài dạy những Tỳ kheo cũng vậy, khi mà được cái người ta khen ngợi hay bị người ta chê bai, cũng bình thản vì sao? Vì nghĩ rằng: "Đây là điều mà mình đã được học,
[1:02:51]đã được chứng ngộ, đã biết rõ thì bổn phận còn lại là dạy cho chúng sinh, tận tụy một đời vì chúng sinh, mà làm cho chúng sinh có được ánh sáng, có được chân lý như mình". Thì bây giờ quý thầy cũng vậy, sau này quý thầy lớn lên hãy nhớ điều này. Đi vào trong cái việc làm Phật sự có nhiều cái cay đắng và cũng có vinh quang. Có khi có gặp những sự ganh tị, quý thầy sẽ gặp những sự chống đối, nói xấu đủ điều, và cũng có những vinh quang là nhiều người họ có duyên, họ thông cảm, họ hiểu được, họ biết ơn mình, họ ca ngợi, lớn lên quý thầy phải khi dấn thân vào Phật sự sẽ gặp những điều đó cả. Vinh quang và cay đắng đều có đủ hết,
[1:03:26]mà lúc đó hãy nhớ lời Phật dạy hôm nay là chúng ta đã may mắn gặp được Phật pháp, gặp được thầy lành bạn tốt để ngày hôm nay mình thành tựu được đạo đức, thành tựu được trí tuệ, thì bổn phận còn lại suốt cuộc đời mình này là tận tụy, là dấn thân trong những cái thuận cũng như cái nghịch để giúp cho người khác cũng được chân lý, được ánh sáng, được sự tỏ ngộ giống như mình. Quý thầy nhớ điều này. Phật đã dạy trong bài kinh này, nhớ. Nhớ không? Ừ, kỳ kỳ, khờ quá. "Do vậy, này các Tỳ kheo! Cái gì không phải của các ngươi, các ngươi hãy từ bỏ và việc từ bỏ cái đó sẽ đưa các ngươi đến hạnh phúc và an lạc lâu dài".
[1:04:06]Ví dụ như là sắc, thọ, tưởng, hành, thức cũng vậy, mình thường xuyên biết cái này không phải là mình, thì nếu mình không chấp thì mình sẽ được an lạc, hạnh phúc lâu dài. Phật nói tới nói lui cũng vậy, giống như là một người lượm cỏ lại, cây, cành, nhánh, lá lại đốt thì mình có muốn lại mình lượm ra không? Không. Cũng vậy, hãy nhìn cái sắc, thọ, tưởng, hành, thức này, hãy nhìn mọi cái gia tài, tài sản của mình trên đời này giống như là cây, lá, cành, nhánh gom lại đang bị ngọn lửa vô thường thiêu đốt, và mình cũng không có cái tâm là muốn níu giữ nó là gì nữa. Thì cũng vậy, hãy nhìn bình thản nhìn tâm mình,
[1:04:42]nhìn thân mình á, nhìn mọi cái sở hữu của mình đang trong ngọn lửa vô thường thiêu đốt mỗi ngày, và lòng mình bình thản, không có nắm giữ, không chấp thủ, không tham ái, thì mình sẽ được an lạc, hạnh phúc lâu dài, đó là lời Phật dạy như vậy. "Chư Tỳ kheo! Pháp do ta khéo giảng làm cho tỏ ngộ, làm cho khai thông, làm cho khai thị, được loại trừ các vải quấn cũ." Vải quấn là tượng trưng cho kiết sử. "Chư Tỳ kheo! Thì nhờ như vậy, có nhiều vị Tỳ kheo thành một bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, tu hành thành mãn, việc nên làm đã làm, gánh nặng đã đặt xuống, lý tưởng đã thành đạt, hữu kiết sử đã đoạn trừ,
[1:05:23]được giải thoát nhờ chánh trí, và vòng sinh tử của vị này không thể chỉ bày." Hữu kiết sử là năm kiết sử, năm kiết sử trên. Hữu là gì? Không phải hữu là có đâu. Hữu này là trong 12 nhân duyên á. Hôm trước chúng ta nói rồi phải không? Cái gì sanh hữu?
[1:05:42]Và hữu này nghĩa là cái sức mạnh của nghiệp đưa mình đi vào luân hồi sinh tử. Thì ở đây cái vị mà chứng A-la-hán thì chấm dứt được cái hữu này, không còn hữu này nữa, nghĩa là không còn cái sức mạnh của nghiệp để đưa mình vào sinh tử nữa. Vị A-la-hán là cấp bậc thứ nhất. Bắt đầu cái thứ hai: "Là khi ta khéo giảng như vậy, có những vị Tỳ kheo đã đoạn trừ được năm hạ phần kiết sử, vị này trở thành vị hoá sinh, nhập diệt tại đây, không còn trở lui vào đời này nữa." Nghĩa là khi một vị mà chứng A-na-hàm á là phá được năm hạ phần kiết sử thì sẽ sinh lên cõi trời, ở trên cõi trời một thời gian rồi tại đó chứng Niết bàn luôn chứ không có còn phải sinh xuống cõi người nữa.
[1:06:25]Cái đoạn này chúng ta nghe cho biết cái thứ bực. "Rồi khi ta khéo giảng thì có những vị đoạn trừ được ba kiết sử và làm cho muội lược tham, sân, si." Tham, sân thôi, tham, sân với lại ba cái kiết sử ban đầu. Thì ở đây chỗ này nè: Phá được ba kiết sử này là chứng gì? Tu-đà-hoàn. Phá được cái nghi, giới cấm thủ, thân kiến là chứng Tu-đà-hoàn. Chỗ này chúng ta để ý, đây là về nguyên tắc là giáo lý phải học, mà con đường đi của đạo Phật phải thuộc cho kỹ. Rồi đối với cái tham sân này nó làm cho mỏng nhạt thì chứng Tư-đà-hàm, và theo lý thuyết là trở lại cõi đời này một lần nữa. Mà phá hẳn luôn không còn tham sân thì là chứng A-na-hàm.
[1:07:08]Chỗ này phải thuộc nha, thuộc cho rõ nha. Vì đây là con đường chứng thánh đạo Phật mình phải biết làm tăng sinh chỗ này, ai hỏi là không được nghi ngờ, trả lời không được sai. Ba cái này phá xong, ba cái ban đầu phá là Tu-đà-hoàn, làm mỏng nhạt, chữ Nho gọi là muội lược tham sân thôi chứ không có hết thì vẫn chứng được Tư-đà-hàm. Phá hoàn toàn tham sân thì chứng A-na-hàm, nhưng mà coi vậy chứ tham sân này mà mỏng nhạt là hay lắm. Cái người đó mình thấy đạo đức lắm. Nó còn cái tế của tham của sân thôi thì bên ngoài cũng đã thấy người này rất là đạo đức. Còn một vị A-na-hàm mà gọi là phá hoàn toàn được hai cái tham
[1:07:45]sân này là thôi tuyệt vời, là vị thánh ở trần đời mà thấy mà mình gặp mình quỳ xuống mình lạy á, sướng luôn. Thật sự vì tuyệt vời lắm, cái vị mà không còn tham, không còn sân là thôi, mình gần vị đó là lòng từ bi trải rộng, mà họ không còn sống gì cho họ, không nắm giữ cái gì, tuyệt vời. Khi nào quý thầy gặp được vị nào vậy báo cho tôi biết để tôi tới tôi lạy. Đạo đức tuyệt vời lắm. "Rồi chư Tỳ kheo, pháp của ta khéo giảng làm cho những vị mà phá đoạn trừ được ba kiết sử và những vị ấy trở thành bậc Dự lưu, không còn bị đọa ác thú, quyết định hướng đến Chánh giác." À, chỗ này giữa A-hàm và và và Nikaya khác nhau nha.
[1:08:27]Cái quả vị Dự lưu này nè, ở bên A-hàm á thì nói là còn tái sinh bảy lần xuống cõi người thì sẽ thành A-la-hán, còn bên Nikaya thì không có thời gian, không có thời gian. Chỉ biết chắc rằng người này đi trong luân hồi sinh tử á không đọa ba đường ác rồi một ngày nào đó chứng A-la-hán nhưng mà không hẹn ngày nào, không hẹn ngày nào. Còn bên A-hàm là hẹn bảy kiếp. Đây là hai cái khác nhau giữa hai cái hệ, chúng ta cũng phải biết để phân biệt. Mà dường như là bên Nikaya đúng hơn, vì có những vị mà chứng Tu-đà-hoàn từ đời xưa rồi mà tôi đang biết, nhưng mà cái giống Phật pháp không bao giờ mất, đời nào cũng sống vị tha vì người khác,
[1:09:04]làm lợi ích cho chúng sinh, do đó vị đó có phước lớn, có khi thường sinh vào làm vua, làm chúa, đủ thứ hết trơn. Thầy mình là thầy tu thì cũng học giỏi, đẹp trai như Minh Trí rồi Minh Đạo gì đó, không không phải là thường. Rồi có khi vị này cũng tạo nghiệp, cũng do có những lúc kiêu mạn, vì ngã mạn là tới A-la-hán mới hết mà, cũng tạo nghiệp gì đó. Hễ tạo gì tạo, cũng chỉ làm thân người để trả chứ không bao giờ đọa, đọa súc sinh để trả, luôn luôn dù trả trả thê thảm lắm, cũng chỉ ở thân người để trả thôi, là do vị này đã chứng Dự lưu từ một lúc nào đó rồi. Bây giờ có trôi lăn lên xuống lên xuống vậy đó,
[1:09:40]vẫn tiếp tục sống vị tha làm việc Phật pháp, sống vị tha làm việc Phật pháp. Khi nào đủ duyên rồi thì chứng luôn A-la-hán luôn, mà không có hạn là bảy kiếp, như là là trong A-hàm nói. Hai bên khác nhau, mà dường như Nikaya đúng hơn. Rồi có những vị mà khi nghe Pháp như vậy, vị này là tùy pháp hành, tùy tín hành. Những vị này sẽ hướng về Chánh giác, mà không biết bao nhiêu kiếp tới. Tùy pháp hành là gì? Là những người theo giáo pháp để mà thực hành tu tập. Tùy tín hành là gì? Là những người theo niềm tin, theo cảm tính mà tu tập. Như vậy ở đây chúng ta học được là có hai hạng người, hai căn cơ đến với đạo.
[1:10:21]Một người đến với đạo bằng lý trí, tức là nhờ hiểu biết giáo lý rồi tu tập. Rồi còn có người đến với đạo bằng tình cảm, bằng niềm tin gọi là tùy tín hành. Đây là hai hạng người mà quý thầy phải biết để sau này mình hóa độ. Khi mình gặp một người mà mình thấy à người này trọng lý trí, lý luận, có học thức thì đây là hạng người tùy pháp hành, thì quý thầy phải có lý luận sắc bén để độ người ta. Nhưng mình gặp một người họ đơn giản, dễ tin, à nhiều tình cảm, dễ thương thì người này là tùy tín hành, quý thầy chỉ cần phải đọc bài thơ: "Lá rụng sương mù", coi chừng người ta đi theo quy y luôn. Do vậy một cái vị trụ trì ở tương lai á là phải ngoài
[1:11:04]cái giỏi giáo lý rồi còn phải biết thêm nghệ thuật, thơ, nhạc gì đó, những cái gì á, nên cái sinh hoạt tương lai của đạo Phật phải phong phú hơn, chứ không có cô đọng để mà độ được cả hai hạng người là người tùy pháp hành, cả người tùy tín hành, hai hạng người: người đi về lý trí, người đi về tình cảm, và cả hai đều được Phật cho là bình đẳng hết, nhớ như vậy. Nên chúng ta cũng đừng có thiên vị người nào. Rồi cái hạng thứ cuối cùng là: người nào chỉ đủ lòng tin nơi Ta, chỉ đủ lòng thương mến đối với Ta, người này cũng sẽ sinh về cõi Trời. Tới bài kinh này Đức Phật tiết lộ một điều mà Đức Phật thường tế nhị không nói.
[1:11:40]Nhưng ngày hôm nay á thì mình thẳng tay mình ca ngợi Phật, mình cứ đề cao cái sự tôn kính Phật, tức là khi chúng ta tu hành thì mọi công đức mình phải đặt trên nền tảng của lòng tôn kính Phật. Lòng tôn kính Phật lớn chừng nào thì mình có nhiều công đức và dễ tu chừng nấy. Ngày hôm nay mình nói thoải mái, nhưng ngày xưa Phật đâu có nói vậy được, phải không? Phật đâu thể nói là: các ông phải tôn kính Ta, phải lạy Ta một ngày ngàn lạy cho mau chứng đạo, đâu có nói được. Nhưng bài kinh này Phật nói một ít: người nào chỉ đủ lòng tin nơi Ta, đủ lòng thương mến đối với Ta cũng sinh lên cõi Trời. Phật nói câu ngắn, nhưng mà chỗ này mình phải khai thác và mình
[1:12:16]phải giảng thành nguyên một bài là "Hiểu và tôn kính Phật" trong bài Đạo đức số 2, xin đón nghe, xin kiếm nghe.
[1:12:26]Như vậy cái nhân duyên bài kinh này từ một Tỳ-kheo khởi lên một tà kiến sai lầm, rồi Đức Phật quở chấp, rồi sẵn đó Đức Phật nói qua những giáo lý quá chừng lớn phải không? Nhiều vấn đề quan trọng trong bài kinh Ví dụ con rắn này. Hôm nay chúng ta đã học, rồi kỳ tới quý thầy thi cái đề tài tôi đã cho. Giờ có ai hỏi gì thì hỏi, còn vài phút. Cái gì thì mau quên, hát thì không có quên. Cái bài này vừa lai giữa dân ca và nhạc hiện đại nữa, cho nên nó hơi khó hát. Hát thì được nhưng hai điều yêu cầu: Thứ nhất là: Đừng chê. Thứ hai: Đừng ra ngoài mách với người ta. Đừng có mách Thầy. Bài này buồn
[1:13:11]quá. Bài này có tựa là Mắc Nợ. Ta nợ mùa thu một bài thơ lá rụng sương mù. Ta nợ ai cả một đời mà chưa trả nổi. Một nụ cười má lúm đồng xu.
[1:13:35]Một nụ cười má lúm đồng xu. Nợ quê hương một chùm khế ngọt. Nợ cuộc đời một lần đắng cay.
[1:13:54]Nợ cơn mưa một lần ướt áo.
[1:14:01]Nợ trời quê một cánh diều bay.
[1:14:08]Ta nợ lời ru mẹ ầu ơ bên cánh võng năm nào.
[1:14:16]Nợ bạn bè lần hẹn hò nơi góc phố.
[1:14:23]Nợ trường xưa nét chữ ban đầu, cả một đời mãi khắc ghi
[1:14:37]sâu. Hát lại ha? Lại nghen. Ta nợ mùa thu một bài thơ lá rụng sương mù. Ta nợ ai cả một đời mà chưa trả nổi.
[1:14:57]Một nụ cười má lúm đồng xu. Một nụ cười má lúm đồng xu.
[1:15:07]Nợ quê hương một chùm khế ngọt.
[1:15:14]Nợ cuộc đời một lần đắng cay.
[1:15:19]Nợ cơn mưa một lần ướt áo. Nợ trời quê một cánh diều bay.
[1:15:31]Ta nợ lời ru mẹ ầu ơ bên cánh võng năm nào.
[1:15:39]Nợ bạn bè lần hẹn hò nơi góc phố. Nợ trường xưa nét chữ ban đầu, cả một đời mãi khắc ghi sâu.
[1:16:01]Không ai hát theo buồn quá. Thôi nghỉ. Nguyện đem công đức này hướng
[1:16:25]về khắp tất cả, đệ tử
[1:16:33]và chúng sinh đều trọn thành Phật đạo.
[1:17:07]Như mây, như gió thênh thang, xin tâm này biết yêu thương mọi loài.
[1:17:22]Tình thương dâng khắp muôn nơi, bao la ngàn chốn xa
[1:17:37]xôi vạn trùng. Như là một trái tim chung, như chung dòng máu, như cùng nỗi đau.
[1:17:48]Thương người nghèo khó lo âu, thương ai chẳng biết tìm sâu đạo mầu.
[1:18:05]Thương loài cầm thú hoang vu, chim bay khắp chốn, sông sâu cá bầy.
[1:18:23]Thương người trong cuộc mộng say, nên đem tay bỏ, bám tay nhiễu xuôi.
[1:18:35]Thương chốn mê đạo đọa đày, từ lâu si ám nên gây tội tình.
[1:18:53]Lòng này thương hết chúng sinh, cho dù kẻ oán người thân cũng đồng.
[1:19:06]Dòng đời đầy những đau buồn, lòng người đầy những ghen hờn, đổi thay.
[1:19:24]Một lòng quỳ dưới Phật đài, nguyện người người biết chung xây tâm từ.
[1:19:37]Từ nay cho đến ngàn sau, nguyện gom tim nhỏ để yêu quý người.
[1:19:54]Đôi môi xin tặng cho đời, ngàn lời trìu mến, vạn lời thân thương.
[1:20:09]Bàn tay nồng ấm lam lũ, dựng xây cuộc sống đẹp như thiên đường.
[1:20:25]Đời là một giấc mơ chung, hận thù thì hết, tình thương thì còn.
[1:21:22]Tình thương sáng khắp muôn nơi, bao la ngàn chốn xa xôi vạn trùng.
[1:21:37]Như là một trái tim chung, như chung dòng máu, như cùng nỗi đau.
[1:22:22]Thương người trong cuộc mộng say, nên bàn tay bóp bàn tay ngậm ngùi.
[1:22:38]Thương trong địa ngục đọa đày, từ lâu si ám nên gây tội tình.
[1:22:53]Lòng này thương hết chúng sinh, cho dù kẻ oán người thân cũng đồng.
[1:23:08]Dòng đời đầy những đau buồn, lòng người đầy những ghen hờn đổi thay.
[1:23:24]Một lòng quỳ dưới Phật đài, nguyện người người biết chung xây tâm từ.
[1:23:39]Từ nay cho tới ngàn sau, một con tim nhỏ để yêu quý người.
[1:23:54]Đôi môi xin tặng cho đời ngàn lời trìu mến, vạn lời thân thương.
[1:24:09]Bàn tay nồng ấm làn hương, dựng xây cuộc sống đẹp như thiên đường.
[1:25:22]Mẹ ơi, con hát khúc ca này, như cánh chim tìm bầy, như nước sông tràn đầy.
[1:25:33]Yêu thương ấm áp đại dương, bát ngát trong lòng con, ấp nhỏ ven bờ.
[1:25:52]Mẹ ơi, con nhớ làm sao tiếng ru ngày nào, nắng trưa trời chiều mang đầy thương yêu.
[1:26:05]Ôi, tiếng ru đợi chờ, con ngủ say sưa trong giấc mơ.
[1:26:21]Con nhớ hôm nào mẹ khóc
[1:26:27]khi con ốm trên giường xanh xao,
[1:26:34]đôi mắt u buồn xa vắng,
[1:26:39]cho con từng muỗng cháo ngọt ngào.
[1:26:49]Con nhớ hôm nào trong sáng,
[1:26:54]tay mẹ nắm tay dìu con đi,
[1:27:02]đưa đến ngôi trường đông lắm,
[1:27:07]khuyên con ráng đi học nên người. Ôi,
[1:27:18]tấm lòng mẹ tuyệt vời,
[1:27:25]đã nuôi con, đã cho con cuộc đời, biết thương yêu mọi người, chứa chan sao vời vợi, bao la, ấm áp lòng con chan ngập, muôn tình thương ấp ủ trong đời.
[1:27:56]Bây giờ con đã lớn,
[1:28:03]bây giờ mẹ đã già,
[1:28:09]nhưng tình thương lúc trước
[1:28:15]vẫn đầy không xoá nhoà.
[1:28:21]Tim con còn dòng máu,
[1:28:27]khi xưa là sữa mẹ.
[1:28:34]Hôm nay là nguồn sống,
[1:28:40]hôm nay là ân tình.
[1:29:14]Ôi, giờ đây khôn lớn,
[1:29:20]con mang dòng máu mẹ,
[1:29:26]con mang trái tim mẹ
[1:29:33]yêu thương, trìu mến và mang ánh mắt như vì sao sáng ngời cho đời.
[1:29:52]Con sẽ đi về muôn lối,
[1:29:57]nơi nao giữa muôn trùng thương đau,
[1:30:05]đem khúc ca bình an tới,
[1:30:10]cho nhau cùng vơi bớt nỗi sầu.
[1:30:47]Mẹ ơi, con tha thiết nguyện cầu Chư Phật, ban ơn phúc đời đời cho mẹ, mai sau nữa ngày mẹ trăm tuổi, mẹ sẽ về cõi Phật
[1:31:05]an vui.