[0:00]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:13]Nam Mô Bổn Sư
[0:18]Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:35]Chúng con cung thỉnh Thượng tọa Pháp sư an tọa. Kính mời chư nam nữ Phật tử an tọa. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Thì đang trong mùa hạ, chùa Huệ Minh lại có cái chương trình tu học ở trong trường hạ. Những bài giảng này dành cho chư Tăng, chứ không phải là dành cho Phật tử. Nhưng mà Phật tử mà nghe cái bài này rồi thì phải phát nguyện đi tu, chứ còn không là không cho nghe nha.
[1:12]Có chịu không mà vỗ tay hả? Kính thưa đại chúng, nay chúng ta cùng trao đổi, chia sẻ, bàn luận cái một đề tài đạo lý là: người chân tu của thời hiện đại.
[1:31]Thì thời nào cũng cần những người chân tu, nhưng mà người chân tu thời xưa làm sao, mà chân tu thời nay thì sao? Ví dụ như là
[1:42]có những điều mà cái thời người chân tu ngày xưa và người chân tu ngày nay phải hoàn toàn giống nhau, vì nếu trật cái không phải chân tu, mà là tay tu, giả tu. Nhưng mà có những điều á khác với người xưa người nay khác nhau, nhưng vẫn là chân tu. Ví dụ như thời xưa là phải quấn y như thế này thì gọi là người tu. Nhưng bây giờ ta thấy một vị Tỳ kheo chạy chiếc xe máy, đội cái nồi cơm điện, mình có dám nói người ta là giả tu không? Có không? Nói: "Thôi, ông này ổng tự nhiên ổng đội mũ bảo hiểm, lái xe máy chạy vèo vèo, chắc ổng không phải là chân tu, chỉ cái ông nào đắp y mới là chân tu", mình có dám nói đó không? Không.
[2:31]Tại vì có thể là cái vị đó họ lái xe máy, họ đội mũ bảo hiểm theo đúng pháp luật, nhưng mà bên trong họ vẫn là một chân tu. Nên có những cái giống nhau có cái khác nhau. Nên hôm nay vậy, chúng
[3:00]ta nói
[3:12]với nhau điều này:
[3:23]Điều
[3:32]thứ nhất là
[3:43]giới hạnh. Vì thời trước hay
[4:05]thời
[4:10]sau,
[4:15]tu thời nào cũng phải giữ gìn giới luật, gọi là giới hạnh.
[4:30]Giới thì đúng là có một số điều sẽ thay đổi, lát nữa ta sẽ nói. Nhưng trên căn bản là cái vị tu hành đó yêu quý, yêu kính, tôn trọng, hành trì, giữ gìn giới luật. Thì nếu không có cái ý ở trong tâm mình mà yêu kính, tôn trọng giới luật thì người này không phải chân tu. Giới thì có nhiều tầng bậc, ví dụ như là Tỳ kheo, hoặc là bên Ni là Tỳ kheo ni, dựa vào cái hoàn cảnh mà Đức Phật chế ra. Thì trong giới, cái ý nghĩa của giới nghĩa là không được làm những điều sai. Còn điều sai đó là cái gì, thì đó là sự bàn bạc, luận bàn, sắp xếp, tính toán, dạy dỗ, chỉ đạo của các vị tổ, các vị tôn túc. Thời Đức Phật thì do Phật chế ra,
[5:22]thời sau này các chư tổ cũng có sự thay đổi chút xíu, nhưng mà nó nguyên tắc của nó vẫn là cấm không được làm điều sai lầm. Thì nếu ta là người tu hành thì ta phải yêu giới luật, nghĩa là sao? Ta cũng lòng mình cũng quyết không làm điều sai lầm. Còn điều gì là sai thì tính sau, đó là đi vào nội dung của giới luật. Thì trong ý thức của người chân tu là yêu kính giới luật, đó là cái đầu tiên cái đã. Thực sự thì ở buổi đầu khi Đức Phật giáo hóa, giới luật chưa có. Lúc mới mở đạo, lập Tăng đoàn, giới luật chưa được đặt ra.
[6:10]Thời đó đó, khi đến với Phật pháp người ta chỉ yêu đạo lý thôi. Đức Phật dạy Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, Vô Ngã, rồi người ta yêu đạo lý, rồi người ta biết điều nào là sai, điều nào là đúng, điều nào nên làm, điều nào không nên làm, tự biết mà thôi. Nên không nói thành giới luật, mà giới luật đã bao hàm ở trong đó. Sau này, không hiểu tại sao khi cái người xuất gia bắt đầu đông lên, khoảng 13 năm sau á, Tăng đoàn bắt đầu hơi hỗn tạp. Mặc dù cũng nghe đạo lý giống nhau như vậy, nhưng mà con người lúc đó tự nhiên không nhận định được là điều nên làm hay không nên làm, điều nào đúng, điều nào sai.
[6:54]Thế là hỗn loạn, cái tôn giả Upali mới đề nghị với Phật: "Bạch Thế Tôn, xin thỉnh Đức Thế Tôn chế giới, là quy định hẳn điều này là cấm không được làm". Thì bắt đầu từ đó mới xuất hiện gọi là giới luật do chính Phật tuyên thuyết chế ra, nhưng mà sự thật là do tôn giả Upali đề xuất hết. Tôn giả Upali là người khuôn mẫu, mực thước, rạch ròi ra giữa điều đúng và điều sai. Khi mà chưa có giới luật thì tôn giả Upali đã là người mà khuyên dạy Tăng chúng những cái nề nếp, khuôn thước trong Tăng đoàn, mà chưa gọi là luật, chưa gọi là giới. Sau này khi chính thức mà lập giới rồi, thì ngài Upali là người hệ thống lại hết những điều
[7:39]đó, nên lúc nào nên đắp y, y nên sắm như thế nào, lúc nào nên mang bát, bát lấy từ đâu, giữ gìn ôm bát thế nào, đặt bát nơi thế nào, tức là ngài Upali là người đưa ra những cái khuôn mẫu như thế, khuôn thước như thế thành một cái luật từ thời xưa cho đến bây giờ. Thì nhưng mà cái gốc của luật, cái giới là gì? Là không làm điều sai. Thì cái người tu đừng vượt qua ranh giới này. Người tu, người chân tu phải yêu thích giới luật, tức là thiết tha khẳng định, quyết tâm không làm điều sai. Sau này ta có nghe một vài trường hợp có những vị tu phá cách, tự tại làm cho nhiều người cứ dựa vào những hình ảnh đó mà hạ thấp giới luật xuống, đây là điều không nên.
[8:30]Ví dụ như ta nghe trong cái chuyện của thiền sư, ngài Nam Tuyền là chém mèo. Lúc đó là có hai dãy nhà tăng, một bên nhà Đông, bên nhà Tây, lúc thất niệm cái giành nhau một con mèo. Nói con mèo nó con mèo thì nó chả bao giờ nó có cái nhà nào của nó đâu. Hễ nhà nào nó bò đi nó kiếm chuột được, nó cứ đi. Nhưng mà cái bên nhà Đông thì thấy con mèo này thường hay bên này, nói: "Con mèo này nhà tui". Bên nhà Tây nói: "Không, mèo này nhà tui, thấy qua đây hoài". Còn con mèo hỏi nó thì nó chỉ trả lời: "Meo meo", tức là nhà nào cũng của tao. Hai bên cứ giành nhau, mà lúc giành một con mèo mà nói nhà thôi vậy lúc đó còn giữ được chánh niệm không? Mất chánh niệm.
[9:10]Lúc không giữ được cái tâm tỉnh giác tu hành, mất cái công phu rồi. Thì ngài Nam Tuyền ngài bước vô, cái ngài thấy chúng cứ lăng xăng giành con mèo, ngài biết chúng thất niệm hết rồi. Nãy giờ quên mất cái công phu thúc liễm thân tâm. Ngài chụp con mèo một cái, ngài bảo: "Nói! Không nói được ta chém con mèo". Mà đúng là ngài chắc cũng có võ, chớ con mèo chụp nó, nó quào nó cắn liền, mà ngài chụp cái nó cứng ngắc hết nhúc nhích luôn. Chớ không ai chụp được con mèo mà nhanh tay mà khống chế nó như vậy. Chụp một cái nó hết nhúc nhích, rồi cầm con dao lên rồi nói: "Nói được, không nói ta chém con mèo".
[9:47]Bị lúc nãy giờ hai bên thất niệm, không giữ được công phu tu hành nên ngay đó không thể khởi ra được thiền ngữ được. Ta nhớ đấy, các thiền sư nói thiền ngữ với nhau là bởi vì tâm vằng vặc trong chánh niệm. An trú trong chánh niệm lúc đó mới xuất ra được cái câu thiền ngữ có trí tuệ, còn loạn tâm rồi không nói được. Lúc đó hai bên nhà tăng ú ớ ú ớ không nói được, ngài vung dao chặt cái búp rớt cái đầu con mèo. Ngài Nam Tuyền Phổ Nguyện chắc chắn là một kiếm sĩ, hay là một người công phu về về võ thuật cũng rất là cao. Bây giờ nói, nói cầm con cá mà đưa, quý đố các thầy cầm dao chặt cái nó đứt khen hay á.
[10:26]Chặt cũng phải hai ba cái. Còn đây ngài làm cái bụp đứt cái đầu con mèo, máu phun ra tùm lum giãy giãy giãy giãy chết. Rồi chúng tá hỏa hết trơn biết là ngài vừa phạm giới sát sanh. Cái câu chuyện đó nó truyền trong cái nhà thiền tràn ngập hết trong các tùng lâm, trong các chùa hết, về chuyện Nam Tuyền Phổ Nguyện chém mèo. Lúc đó ngài Triệu Châu là đệ tử ruột mới đi về, ngài mới kể lại câu chuyện đó. Cái ngài Triệu Châu nghe thầy kể lại câu chuyện đó xong, đứng tuột giày ra, cầm cái đôi giày để lên đầu đi ra ngoài. Cái ngài Nam Tuyền mới nói vói với theo: "Nếu lúc nãy có ông đã cứu được con mèo".
[11:03]Tức là ngài vừa nói một thiền ngữ chính xác, thỏa mãn được ông thầy mình. Nhưng mà lúc đó ngài đi vắng, hai bên nhà Đông nhà Tây loạn tâm không nói được. Nên cái việc mà ngài Nam Tuyền chặt con mèo một cái giống như ngài phạm giới, chuyện nó đồn lan ra hết các tùng lâm, truyền luôn trong sử sách tới bây giờ ta đọc. Vì hình ảnh này mà bắt đầu có những người họ dao động về ý nghĩ về giới luật, à nghĩ rằng đắc đạo rồi chắc không cần giữ giới. Cái câu chuyện nó nó nói bậy, nên sau này có một số người bị lệch lạc điều này. Nhưng mà ta phải hiểu điều này: giới là không được làm điều sai, và người chân tu
[11:43]yêu kính giới luật, tức là khẳng định mình không làm điều sai. Giữ được hay không là chuyện khác, nhưng mà trong tâm phải xác định buổi đầu là dứt khoát không làm điều sai. Và chính vì dứt khoát không làm điều sai, ta mới được đăng đàn thọ giới. Nhớ nha, khi ta quỳ xuống ta lãnh thọ giới pháp từ các vị giới sư, nghĩa là trong lòng ta quyết cả đời mình không làm điều sai lầm. Còn điều gì là sai lầm giữ được hay không, đó là một thời gian dài tính sau nữa. Cái điều thứ hai một người chân tu phải có, dù thời xưa hay thời nay, tâm phải được thúc liễm trong thiền định. Dù thiền pháp môn nào đó không biết, niệm Phật cũng phải được coi là một cách nhiếp
[12:24]tâm gọi là thiền định, hoặc là theo dõi hơi thở, hay quán chiếu Bát-nhã, vân vân. Một pháp môn nào đó mà làm cho ta ngồi bất động để tâm bất động gọi là thiền định, thì từ xưa cũng phải như vậy và thời nay cũng phải như vậy, chứ không được nói nói: "Dạ thời xưa tu vậy thời nay không cần, thời nay có máy rồi cắm hai cái kim vô đầu cái là đầu bất động nhập định liền không cần tu", thì không được nói câu vậy. Vì thiền định mà thành tựu đều phải do công phu vất vả, đi từ cái công đức của nhiều đời cho tới cái sự thực hành vất vả của thời nay mà thành, chứ không có chuyện lúc nào đó chế được cái thuốc uống vô cái nhập định liền, không có.
[13:07]Thì người đó có thể uống thuốc vô nhập định, nhưng sau đó là phát sinh vô số phản ứng phụ. Ta có biết cái loại thuốc nào mà uống vào nhập định không ạ? Có ai biết không? Có rồi. Uống vô rồi xuất hiện cái trạng thái giống thiền định liền. Mà thuốc đó xuất hiện ở đâu thì công an tới đó bắt liền. Đó là hê-rô-in, ma túy, nha. Cái ma túy mà được tinh chế thành hê-rô-in á, uống vô một cái tâm xuất hiện cái trạng thái của thiền định liền. Hổng tin các thầy uống thử một cái, kiếm một viên làm thử, rồi công an tới còng đi liền. Lạ như vậy. Ủa nói vậy thầy có biết không mà sao thầy thầy có uống chưa mà sao thầy nói khẳng định?
[13:58]Chúng tôi chưa từng chích hút gì cả, nhưng mà có một thời gian nuôi mấy cái đứa nghiện cho nó cai á, nghe nó kể lại, ủa nó kể toàn bộ trạng thái của thiền định hết. Cái mới phát hiện ra à, thì ra ma túy là một dạng của thiền định, nhưng mà chỉ là khác thế này: khác một cái là nó là cái bên ngoài, ngoại nhập đưa vào nên nó sinh ra hàng loạt các phản ứng phụ. Thứ nhất là ghiền, thiền cũng ghiền. Xin thưa, tất cả thiền sư đều ghiền ngồi thiền. Thiền giống nhau. Thứ hai, nó làm phá hủy hết hệ thống miễn nhiễm của cơ thể, cho nên cái người mà nghiện thuốc đó rồi rất dễ bệnh tật. Còn ngược lại, cái người mà thiền định bằng công
[14:40]phu thì sức đề kháng lại tăng dần tăng dần. Cái khác nhau là như vậy, nó làm cái phản ứng phụ vậy thôi. Nên nó tai hại mục xương mục đồ bệnh tật tùm lum hết là do uống thuốc để nhập định. Còn ta ngồi thiền để nhập định thì ngược hẳn lại, cái xương nó không mục mà xương nó đặc dần đặc dần cho tới khi chết, ta thiêu cái nó chảy quánh lại thành xá lợi thành ngọc luôn. Còn cái mà cái xương của cái người mà uống thuốc để nhập định á thì chưa chết mà nó đã mục xương rồi. Nó khác nhau như vậy. Nên từ ngàn xưa cho tới ngàn sau, người chân tu đều phải yêu thích thiền định, cũng giống như ban bước đầu là phải yêu thích giới luật.
[15:19]Xưa cũng vậy mà nay cũng vậy. Cái thứ ba là người xưa, người chân tu ngày xưa với người chân tu ngày nay phải giống nhau là phải có trí tuệ. Nói trí tuệ là gì? Nói trí tuệ mênh mông, nói vạn biết đủ thứ hết trơn, kinh điển làm sao mà biết hết định nghĩa đâu là trí tuệ. Trí tuệ thì mênh mông, nhưng nó có một cái điều mấu chốt căn bản được gọi là trí tuệ mà trong kinh Pháp Hoa đã định nghĩa ở phẩm Tựa. Trong phẩm Tựa của kinh Pháp Hoa, trong kinh đưa ra hình ảnh thế này: Đức Phật ngồi trên tòa sen lơ lửng giữa hư không, ánh sáng nơi cái chấm lông mày chiếu từ suốt lên trời Hữu Đảnh và chiếu xuống đáy địa ngục A-tỳ.
[16:03]Đó là trí tuệ nghĩa là gì? Đó là ẩn dụ cho điều gì? Ẩn dụ cho điều này, thứ nhất: Phật ngồi lơ lửng giữa hư không nghĩa là không dựa vào một thành kiến nào cả. Không dựa vào một thành kiến nào cả, không dựa vào một phe phái, một chủ thuyết nào cả. Cái vô sở trụ đó mà phát sinh ra làn hào quang nhìn suốt đáy địa ngục A-tỳ, tức là thấy tột cùng của điều tội. Và ở trên thì chiếu suốt tới cõi trời Hữu Đảnh, tức là thấy suốt của điều phúc. Nên định nghĩa thế này: cái điều thứ ba của một bậc chân tu là có trí tuệ, tức là một bậc chân tu phải thấy rõ điều nào là tội, điều nào là phúc. Người nào mà có thấy được điều đó, ta gọi vị đó là vị có trí tuệ.
[16:51]Chứ không phải vị đó là bằng cấp cao hay là tu lâu, không phải. Có thể là vị đó không bằng cấp, có thể vị đó còn trẻ, nhưng nếu vị đó biết rõ điều tội phúc từng chút trong cuộc sống này, vị đó được gọi là trí tuệ, vị đó có thể làm thầy thiên hạ được. Còn cái việc mà kiến thức biết rộng rãi khắp nơi là chuyện sau nữa. Nhưng á ba cái là: giới, định, tuệ. Giới: quyết không làm điều sai; định: tức là có công phu để nhiếp tâm; tuệ: tức là biết rõ điều tội phúc trong cuộc sống này từng chút một. Đó, đó là ba cái căn bản của một bậc chân tu. Rồi từ ba cái căn bản này vị đó có một số cái công hạnh mở ra.
[17:36]Thứ nhất là đạo đức. Tỏa hương đạo đức trong cuộc sống, lời ăn tiếng nói, sự cư xử đúng mực, tinh tế, nhã nhặn, có khi nghiêm trang, có khi hiền lành, có khi bao dung, có khi nghiêm khắc. Tất cả những cái đó đều tạo thành một cái đạo hạnh mà ta gọi đó là một bậc chân tu có đầy đạo đức. Thì người xưa cũng vậy, người nay cũng phải như vậy. Một cái bản chất, một cái phẩm chất của một bậc chân tu từ xưa ngày nay nữa là tâm từ bi. Thời nào người chân tu cũng phải là một người từ bi. Tâm yêu thương tất cả chúng sinh này. Đó là cái quan trọng, là yêu thương tất cả. Nhưng mà yêu thương không có nghĩa là chiều chuộng, nhớ như vậy.
[18:31]Ví dụ như thấy có chúng sinh lầm lỗi, thì có khi ta gọi tới ta khuyên lơn, dạy bảo, tha thứ, rồi người đó sửa lỗi mà tiến tu.
[18:45]Nhưng có trường hợp có một người phạm lỗi, không nói tới mặt nữa, bắt phạt, bắt rầy, rồi im lặng không nói tới cho tới chừng nào người đó biết lỗi thôi. Vì sao? Vì người này nói không có lợi, mà người này nghiêm khắc mới có lợi, mới sửa lỗi. À, như vậy. Nhưng mà sao? Lòng vẫn yêu thương, đó là bậc chân tu Bồ Tát. Rồi một cái tính chất của một bậc chân tu thời xưa cũng như thời nay nữa là tinh tấn. Không thể gọi là một bậc chân tu khi mà ta dãi đãi. Thế nào là dãi đãi? Thế nào là tinh tấn? Dãi đãi là ta còn bỏ sót một số thời gian trôi qua vô ích gọi là dãi đãi. Thế nào là tinh tấn? Là cố gắng không bỏ sót một thời gian nào.
[19:43]Ví dụ như nói: "Hồi tiếc quá hôm nay mà mà đi như vậy tiếc một ngày hôm nay", thì cái người đó là mức độ có mức độ tinh tấn vì có tiếc một ngày, sợ một ngày đó trôi qua vô ích. Nhưng mà tiếc tới một ngày lận thì người này mức độ tinh tấn chưa sâu. Hoặc là có người nói chứ: "Thôi, đi như vậy làm vậy mất hết một buổi tu", người này tiếc từng buổi, cũng là tinh tấn mà chưa sâu. Hoặc có người nói: "Thôi, làm như vậy mất hết một giờ, bỏ phí một giờ đồng hồ", thì người này tiếc từng giờ đồng hồ một, thì đây là bắt đầu mức độ tinh tấn cao rồi. Nhưng mà chưa. Một bậc mà chân sư họ tiếc từng sát-na, một đồng hồ đi tích tắc, tích tắc, không để sót.
[20:33]Mới là người đại tinh tấn. Trong từng giây phút tích tắc, không để một giây nào mất trôi qua vô ích. Nói: Thầy nói sao con thấy thầy nãy giờ thầy ngồi thầy nói chuyện không, mất bao nhiêu tích tắc chứ đâu phải mới một tích tắc đâu? Nhưng mà sao nãy giờ thầy nói nghe ghê. Không phải, cái người mà chân tu á có thể vẫn phải nói chuyện, vẫn phải làm việc, nhưng trong tâm họ kiểm soát, giữ chánh niệm từng tích tắc, không để một giây nào mà mất chánh niệm trong tâm mình. Đó là bậc đại tinh tấn đó, mà ta tu là phải tới mức đó. Cái người mà bỏ trôi mất một tháng quên tu, người đó vứt đi, ta gọi là người rất giãi đãi.
[21:17]Con người đó chết không biết đi về đâu á. Còn người bỏ một tuần phí rồi giật mình nhìn lại lo tu, con người này cũng khó xài. Còn người nào bắt đầu từng ngày không để một ngày trôi qua vô ích, thời ta bắt đầu xếp người này là tinh tấn, nhưng mà chưa cao. Người tiếc từng giờ, người này tốt rồi, đây là bậc tu hành đàng hoàng. Nhưng mà còn cái người mà tiếc từng tích tắc thì người này, cái sự tinh tấn này đáng để làm thầy thiên hạ, để làm mô phạm cho đời, vì ta biết chắc người này không có làm bậy trong cuộc đời họ, vì họ quý từng giây một, tích tắc tích tắc. Mà nếu có một giây nào thất niệm, họ đã hối hận, đã thầm sám hối với Phật rồi:
[22:00]Nãy giờ bao nhiêu cái giây trôi qua, có những lúc con vừa mới mất chánh niệm. Thì người này là người bậc cao tăng lỗi lạc, một bậc chân tu cao cả của thời đại. Nhớ như vậy, đó là cái tinh tấn. Và một tính chất nữa của một bậc chân tu nữa, dù thời xưa cũng như thời nay, là lòng tôn kính Phật hoàn toàn trọn vẹn. Hôm trước chúng ta đã nói về điều này. Giữa thời Chánh pháp và Mạt pháp khác nhau điều nào là vì lòng tôn kính Phật. Thời xưa đó, lúc nào ta cũng nhìn thấy Phật, biết Đức Phật còn tại thế. Ví dụ như mắt không thấy Phật nhưng mà nghĩ à Đức Phật ở bên kia kìa, lòng mình lúc nào cũng sống trong, cũng an trú trong lòng tôn kính Phật.
[22:46]Cho nên được vài năm chứng đạo mất tiêu hết trơn. Vì có tâm tôn kính Phật thì đó sẽ có kết quả là chứng đạo. Cho nên thời xưa họ mau chứng đạo là vậy, lúc nào cũng an trú trong đó, sống trong đó, lòng tôn kính Phật tuyệt đối. Sống gần Phật ba năm từ từ chứng hết trơn, ông nào trễ nhất cũng ba mươi năm chứng hết. Thời nay ta không được điều đó, Phật nhập Niết-bàn chỉ thấy cái tượng xi măng. Có lâu lâu đọc kinh nhớ lại, nên lòng tôn kính Phật của ta không thường xuyên. Chính vì vậy ta rất khó chứng đạo. Thì thế nào là một bậc chân tu? Đó là một bậc mà không biết cách nào đó, không biết tác ý sao đó, lòng lúc nào cũng cuồn cuộn
[23:28]sự tôn kính Phật, nên cái vị đó rồi trước sau cũng đắc đạo. Cho nên cái bài kệ vào thiền của ta, ta nhắc điều đó nha: Xin Phật độ cho con luôn nhớ và hiểu rằng, thân không phải là ta, tâm không phải là ta, chẳng có gì là ta, trong từng hơi thở vào, trong từng hơi thở ra, trọn niềm tôn kính Phật. Đó là ta dựng lại cái thời Chánh pháp cho cho ngày hôm nay là như vậy, là lòng tôn kính Phật. Nên một bậc chân tu dù thời xưa cho tới thời nay đều phải có lòng tôn kính Phật. Ta thời nay bị thiếu yếu tố cuối cùng này. Ta rất ít cái yếu tố cuối cùng này nên ta khó trở thành bậc chân tu là vậy. Nên người nào mà có trí tuệ phải dựng lại cái lòng tôn kính
[24:13]Phật trong tâm mình cho sâu sắc, cho triệt để, mà nếu nói là tuyệt đối, tức là ta là bậc chân tu, nhớ như vậy. Đó là những cái tính chất mà thời xưa, thời nay đều phải giống như vậy. Điều ta nói tiếp thế này: là phẩm chất là thế, nhưng mà theo thời đại có một số điều ta phải linh động, phải thích ứng. Ví dụ như là đi xe máy buộc phải đội mũ bảo hiểm. Nhiều lúc chúng tôi cứ cười cười trong bụng nhìn thấy một vị Tăng cỡi chiếc xe máy Future, úp cái mũ bảo hiểm lên, bịt cái cái khăn mặt vô rồi chạy vèo vèo đi qua. Chúng tôi nhìn chúng tôi cười cười, nói: Lúc này Đức Phật mà sống lại, Đức Phật nhìn cái vị đó
[25:01]không biết còn biết là đệ tử của mình hay không? Hình ảnh lạ quá, lạ quá. Hồi xưa đi chân trần đắp y ha, ôm bát. Bây giờ là đằng sau xe mình chở một đống đồ, phía trước máng một đống đồ, đội mũ bảo hiểm chạy vèo vèo. Nhưng mình dám chê mình nói người đó không phải Tỳ-kheo không? Không, vẫn là Tỳ-kheo, phải không ạ? Vẫn công nhận, vì người đó vẫn giữ giới. Nhưng mà không thể đi bộ giáo hóa được nữa, không thể đi bộ giáo hóa được. Có phương tiện đi xe thì phải đi, không thể đi xe đò, không thể đi xe hơi xe khách, có khi là có xe máy rồi tự mình phải cỡi xe máy mà chạy. Mà cỡi xe máy rồi luật pháp quy định,
[25:38]dù thầy là thầy tu hễ leo lên chiếc xe máy rồi yêu cầu chụp đội mũ bảo hiểm vô, còn không là phạt thầy bao nhiêu tiền đó không biết. Móc tiền của đàn-na tín thí cúng ra mà trả tiền phạt công an cũng không được, cho nên phải tuân thủ luật pháp. Đây là điều biến đổi rất xa, rất lạ, từ cái quấn cái y đi chân không leo lên chiếc xe máy cỡi úp cái đội mũ bảo hiểm vô, hình ảnh nó biến đổi rất là lớn, đúng không ạ? Nhưng mà ta cũng phải sao? Phải chấp nhận, phải hoan hỷ chấp nhận. Miễn là những tính chất giới, định, tuệ, tinh tấn, từ bi đồ vị kia vẫn còn đủ, hổng sao hết, đúng không ạ? Đó, cái thời nay nó như vậy.
[26:15]Cái điều thứ hai nữa là ví dụ như bây giờ nhập hạ. Hồi xưa nhập hạ là tuyệt đối không có vụ mà tùng hạ ngoại thiền. Hễ mà về an cư rồi là ở tập trung trong trường hạ, trong cái giới tràng của mình hoặc tiểu giới tràng hoặc đại giới tràng không có đi ra ngoài. Mà đi ra, có duyên sự đi ra phải tác bạch, phải xin phép mà lý do hết sức chính đáng. Nhưng thời nay là xuất hiện thêm cái vụ gọi là tùng hạ. Tới lễ nhập hạ vô nhập hạ xong rồi biến mất luôn, không bao giờ thấy mặt mày. Tới chừng Tự tứ lại tới xuất hiện lần nữa thì năm nay tính thêm một tuổi đạo. Hồi xưa không có chuyện đó. Hồi xưa là phải ở trong trường hạ, tu học giới luật thúc liễm đầy đủ hết.
[26:56]Còn bây giờ có vụ tùng hạ rồi trốn mất tiêu luôn, không biết đi đâu, không biết làm gì ở nhà, nên nó lỏng. Nhưng mà vì sao? Vì nói rằng nói vậy: Dạ, có Hòa thượng thương chứ bây giờ chùa con có một mình, làm sao con bỏ lên ba tháng ở trên đây. Rồi vô tới chừng về chùa còn có ông tượng Phật ngồi nó không ăn cắp thôi, còn gì nó ăn cắp sạch sẽ hết. Nên phải về coi chùa, rồi mỗi tối Phật tử tới tụng kinh thì con phải dẫn. Đó, chùa có một tăng rồi đệ tử nó mới xuất gia nó lờ khờ lờ khờ, ai dụ đâu đi đi mất, bỏ đi luôn nó bỏ chùa, nó bỏ tu luôn, chết á. Cho nên thông cảm là con phải về, đành phải chấp nhận.
[27:30]Thế là ta mở thêm ra cái gọi là tùng hạ ngoại thiền, chứ hồi xưa không có. Mà bây giờ đành phải chấp nhận, đó là sự thay đổi của thời đại mà ta phải thích ứng. Cho nên chúng tôi cũng đề nghị với Hòa thượng thiền chủ vậy, nói tùng hạ ngoại thiền nhưng mà tới giờ học phải về học. Đêm thì về lại trú xứ mình ngủ giữ chùa, nhưng ban ngày nếu mà có giờ học vẫn phải tới trường hạ để học, chứ đừng có để bỏ lỏng như vậy. Hiện nay ta bị bị lỏng cái điều này ở trường hạ Huệ Minh, nên Hòa thượng cũng đã rút kinh nghiệm năm sau không cho phép như vậy. Năm sau hễ tùng hạ vẫn phải tới học, giới, học luật, học giáo lý đàng hoàng,
[28:07]thì mới gọi là ba tháng hạ mà thúc liễm thân tâm, nó như vậy. Hoặc là ví dụ như ngày xưa đó, ở các quốc gia cái ranh giới nó mong manh. Ví dụ cái người họ sống ở cái quốc gia Thích Ca không thích tui qua Koliya tui sống, hổng thích nữa tui qua xứ Sakka tui sống, hổng thích nữa tui về Vesali tui sống, chả có ai xét cái passport nhập khẩu xuất nhập cảnh gì cả, không có. Rồi buồn bỏ nước đó chạy về Magadha, về Ma-kiệt-đà sống, hay qua là nước Kiều-tất-la tui sống, không ai mà hỏi cái vụ nhập cảnh xuất cảnh. Nhưng hễ anh ở đó thì người ta tới người ta quản lý rồi đóng thuế đồ vậy thôi, chứ không có.
[28:49]Nên ranh giới các quốc gia nó không có rõ ràng. Chỉ có các ông vua đó, ổng thấy ở bên nước đó nà ổng muốn chiếm thì ổng đem quân qua ổng oánh bay cái cái cái triều đình người ta rồi ổng giành nước người ta thôi. Nhưng mà còn người dân thì muốn đi đâu đi tứ lung tung chả ai nói gì cả. Nên vào thời đó ta thấy Đức Phật cứ ôm bát mà đi, hết nước này qua tới nước kia, không bao giờ mà tới biên giới dừng chân mà trình passport cho coi rồi đóng dấu visa mới đi tiếp, không có. Ôm bát đi tiếp, muốn ở đâu đó ở, nên cái vị Tỳ-kheo nước này qua nước kia ở tùm lum. Nên cái khái niệm quốc gia nó không rõ ràng.
[29:20]Khái niệm quốc gia nó không rõ ràng và cũng không đặt thành vấn đề tình yêu nước. Nhưng ngày hôm nay khác ạ, quốc gia nó có ranh giới rất là rất là kỹ lưỡng, và cái việc mà quyền lợi giữa các quốc gia với nhau cũng cạnh tranh, phân định rất rõ ràng. Cho nên một cái người tu theo Phật giáo thời nay buộc ta phải có cái trách nhiệm với cái cõi nước mà mình đang sống, buộc ta phải có cái tình yêu thương đối với cái cõi nước mà mình đang sống mà ta gọi là tình yêu nước. Nên cái khái niệm này cũng mới luôn, hồi xưa không rõ ràng, nhưng thời nay được đặt ra. Và nhiều vị hòa thượng, tôn túc của ta lại phát huy cái đạo đức yêu nước này rất là tốt.
[30:02]Có những lúc khi mà quốc gia ta bị xâm chiếm, à bị lệ thuộc, dân chúng ta bị đàn áp, áp bức dã man thì rất nhiều chùa, thậm chí có những vị sư đã cởi áo cà-sa khoác chiến bào. Có những cái chùa, nhiều vị sư không cởi áo cà-sa khoác chiến bào, nhưng trong chùa lại là cơ sở nuôi giấu những người kháng chiến. Tức là chùa một cách nào đó đã tham gia trong cái việc mà giành lại độc lập cho quốc gia. Và bây giờ mà nói tới cái tình yêu nước thì xin thưa chỉ có các chùa của Phật giáo mới giảng về tình yêu nước thôi, còn các đạo khác mặc dù ta cũng công nhận họ là những tôn giáo hợp pháp nhưng đừng hòng họ giảng về tình yêu nước.
[30:55]Thì việc mà ta sống trong một quốc gia mà ta không nói tới tình yêu nước thì như vậy là một thiếu sót lớn. Mà ta cũng nói thẳng là anh coi bộ hơi kém đạo đức á. Tại vì người có đạo đức rồi thì phải có tình yêu nước trong tâm mình, mà chỉ có Phật giáo mới nói được điều này. Cho nên so sánh coi vậy chứ trong các tôn giáo vòng vòng được gọi là hợp pháp thì Phật giáo vẫn là một tôn giáo có đạo đức nhất, vì họ có trách nhiệm với cái cõi nước mà mình đang sống ở đó. Mình sinh ra, mình lớn lên, mình tu hành nơi cái cõi nước nào thì mình có tình yêu thương và có trách nhiệm với cõi nước đó. Đây cũng là một sự biến đổi nhiều so với thời xưa và ngày nay.
[31:38]Mà điều này ta chấp nhận không ạ? Quá hay chứ sao nữa, phải không? Cái tình yêu nước là một đạo đức tốt, quá hay trong đạo Phật của mình. Tuy nó lạ, nhưng đó là cái sự cần thiết của của thời đại như vậy, thấy không?
[31:53]Rồi theo thời đại cũng có một số giới luật mặc nhiên bỏ bớt và có một số giới luật mặc nhiên bỏ bù thêm. À không nói. Thì cái văn bản mà giới luật Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni từ ngày xưa, nguyên cái văn bản đó tới đời này ta vẫn còn giữ, tới đời này ta vẫn còn học. Nhưng mà thực sự có những cái giới luật bỏ mất rồi, không dùng tới nữa mà có phạm cũng chẳng ai trách vì mặc nhiên bỏ đâu mất tiêu. Ví dụ như có cái giới là cái tọa cụ á hay là cái ngọa cụ á, cái mà tấm để trải nằm nó hơi bị rộng thì giới này là giới Ba-dật-đề à. Nhưng mà ngày nay nếu mà cái tấm ra mình trải giường nó hơi rộng chút, có ai lại bắt lỗi không? Có ai lại bắt lỗi không? Nói:
[32:48]"Nè, giới Phật là chế mấy gang tay, sao anh làm tới hơn hai gang tay? Phải không? Lại là anh phạm giới Ba-dật-đề." Giờ còn ai bắt bẻ nhau chuyện đó không ạ? Không, coi như bỏ luôn hồi nào không ai hay. Mặc dầu trong văn bản thì còn ghi. Đó, rồi còn trong đó có cái giới là không được quẩy cái gói lông dê trên mình mà đi mấy cây số. Bây giờ mình có quẩy lông dê làm chi không ạ? Cũng chẳng cần, nên giới đó không ai nói tới. Rồi có cái giới là không được cho ngoại đạo ăn. Ví dụ cái người đó họ theo đạo khác. Đó, ví dụ như đó là đạo ông cha, ông linh mục ổng tới thăm chùa mình. Ổng là ngoại đạo. Ổng tới thì trong giới là không được cho ngoại đạo ăn.
[33:32]Bây giờ tới giờ bữa cơm trưa mình có: "Thôi cha xin lỗi, thôi đi về nha. Đây tui giữ giới không cho cha ăn." Được không? Chứ mình sao? Phải mời ổng vô phải không? Ngồi ăn ân cần và ngồi cái ghế mà khách VIP, hạng sang nữa. Tại ổng là ông cái linh mục giáo xứ gần sát bên chùa mình, mình còn phải mời ân cần nữa. Cho nên cái giới kia bỏ mất tiêu, không dùng nữa. Nên có một số giới luật mặc nhiên bỏ mất. Mặc dầu văn bản thì cứ ghi, mình thọ thì cứ thọ nhưng mà xài không được.
[34:03]Rồi bây giờ có cái giới là không được ngủ chung phòng với người mà chưa thọ cụ túc giới giống như mình. Thì giới này ví dụ như bây giờ, bữa đó thầy trò đi, ông thầy Tỳ-kheo, ổng đệ tử Sa-di. Mà đi xa, hôm đó tới cái chỗ đó có một phòng một à. Bây giờ nói: "Thôi vì giữ giới, thôi thầy ở trong phòng, con chịu khó ra hành lang ở nha con." Được không? Người ta nhìn vô nói: "Ông thầy này ổng tu sao kỳ vậy ta? Ổng lại cho cho đệ tử ra ngoài hành lang ngủ cho muỗi cắn, còn ổng thì vô phòng sướng vậy?" Nên cũng không được. Thôi vô đây, hai thầy trò nằm chung phòng. Mặc dầu theo giới là: "Anh chưa được thọ giới cụ túc thì anh không được ở chung
[34:36]phòng với thầy." Có những cái mặc nhiên phải bỏ luôn rồi nó cũng hoàn cảnh không không ấy được, đúng không ạ?
[34:44]Thì đó, rồi có một số giới luật mặc nhiên phải bỏ thêm vào. Mặc nhiên bỏ thêm vào là ngày xưa không có nhưng mà bây giờ thì có. Ví dụ như là hồi xưa thì không có ma túy cho nên trong giới không có ghi là cấm hút ma túy. Nhưng bây giờ mình có nói: "Bởi cái này thì Phật không cấm cho nên tôi cũng hút đỡ." Có không ạ? Tự mình phải ra cái giới đó luôn, phải không ạ? Cũng là coi như là trong giới luật có quy định điều là cấm hút ma túy luôn. Đúng không ạ? Rồi có một cái nó cũng ghiền không khác gì ma túy là chơi game điện tử. Trong giới luật ngày xưa làm gì có điện tử, có game mà mà mà mà cấm. Nhưng ngày hôm nay nó là một loại sinh nghiện
[35:29]và có những người ở ngoài xã hội họ nghiện đến nỗi họ giết người để lấy tiền mà đi chơi game. Cái nghiện đó không thua gì ma túy. Thậm chí có một cái cô đó, cổ có đứa con nhỏ và cổ nghiện chơi game. Cổ đặt cái đứa con ở trong cái cái nôi gần sát bên để cổ đưa cho nó. Một tay cổ cứ nhìn vô máy tính để cổ chơi game mà cái trò chơi game là trò chơi nuôi con. Cổ chơi cái trò chơi đó hăng say, cái đứa con nó khóc. Nó khóc quá, cổ một tay cổ thò kêu bóp mũi cho đừng khóc nữa để cổ tập trung mà cổ chơi game, đứa nhỏ chết luôn. Chuyện xảy ra ở Trung Quốc á. Rồi có đứa lại giết ông ngoại, bà ngoại mình cái nọ để lấy tiền chơi game.
[36:09]Cho nên ngày hôm nay, game điện tử rõ ràng là một loại ma túy, ngày xưa không ghi trong giới luật cấm nhưng ngày nay ta mặc nhiên xem nó cũng là một giới luật: Thầy tu đừng chơi game. Có đồng ý không ạ? Quý thầy có đồng ý không?
[36:26]Hôm trước á, hôm trước có lần chúng tôi đi giảng đến cái chùa đó, đây khoảng gần 20 năm, thấy ông thầy đó ổng sắm nguyên bộ đồ chơi game chuyên nghiệp luôn. Máy chơi game PlayStation của Sony đàng hoàng, có nút bấm nè, bấm cạch cạch cạch cạch nhìn trên màn hình rồi đó, xôm lắm. Đứng tui nhìn, nhìn cái bộ đồ ổng, thì lúc đó ổng đang mắc bận không không có chơi nhưng đứng nhìn lát cái nghĩ game này nó có liên hệ gì đến giải thoát? Cái ngồi nghĩ đúng là cái game này nó không liên hệ gì tới giải thoát cả mà nó chỉ làm mất thì giờ. Và nếu một thầy tu mà để mất thì giờ và mất hao tổn tâm trí mình trong
[37:04]một cái chuyện không liên hệ đến giải thoát thì rõ ràng ta có tội. Nên từ ngày đó, chúng tôi đã nhận định game là một loại tệ nạn từ ngày đó rồi. Bắt đầu nói xa nói gần cho đến cái ngày mà báo chí rộ lên khắp nơi ở ngoài xã hội là nghiện game rồi người ta giết người được thì chúng tôi thấy rằng đúng là chúng tôi đã thấy đúng. Là một loại tệ nạn, cho nên có những cái phần đó là buộc trong giáo hội ta mặc nhiên đưa vào: Thầy tu cấm không được chơi game. Cấm không được chơi game, đó là bắt buộc như vậy nha. Vậy thầy tu có được hút thuốc không ạ? Ví dụ như chúng tôi vậy, chúng tôi không hút thuốc và chúng tôi cũng nghĩ rằng thầy tu đừng hút thuốc.
[37:46]Giờ tui nghĩ bình thường đấy. Nhưng mà thật sự có rất nhiều vị thầy mà mình quen, mình thân, mình rất kính, nói chuyện với thầy ổng hút thuốc. À nhưng mà sao mình vẫn, ổng hút thuốc sao mình thấy vẫn thương ổng, vẫn kính ổng, chả hiểu làm sao nữa. Nó ngộ. Mà ở ngoài đời thì lúc này người ta đấu tranh để bỏ thuốc lá từ từ. Người ta đấu tranh cho nên giống như người mà kể cả thầy tu mà hút thuốc thì vẫn hơi bị lạc hậu so với thời đại. Vì thời văn minh rồi, người ta bắt đầu bỏ thuốc. Hồi trước đây đó, hút thuốc giống như là một điều lịch sự, lãng mạn, nghệ sĩ, ai cầm điếu thuốc phì phà coi nó lãng mạn, nó đẹp gì đâu.
[38:23]Nhiều người thấy ông đó chả được tích sự gì mà chỉ thấy ổng phì phà điếu thuốc là mê ổng. Nhưng mà thời nay, ông nào phì phà điếu thuốc là bắt đầu gây ô nhiễm. Người ta không nói gì cái khác nhưng mà nó gây ô nhiễm vào không khí. Thì thật ra bản thân chúng tôi, chúng tôi cũng chưa quyết định được điều này. Vì trong lòng mình không hút thuốc, mình không ghiền, mình nghĩ thôi thầy tu đừng hút thuốc, vậy thôi. Nhưng mà nhiều vị thầy mình quen, ổng có phì phà điếu thuốc. Nhưng mà ngoài cái phì phà điếu thuốc ra, mọi việc khác mình thấy ổng rất ok. Rất đàng hoàng, tu hành rất tinh tấn, chuyện đạo lý đồ vững vàng.
[38:56]Ngồi nghĩ chắc cũng không sao. Như có lần vậy, có một vị thầy đâu ở ngoài Bắc ổng vô ổng thăm. Ổng thăm ổng nói chuyện với mình chút xíu tới bắt đầu cái lúc tới cử. Vì trong phòng khách của chúng tôi là không có cái đồ gạt tàn. Ổng nói: "Thượng tọa Thượng tọa cho con xin cái gạt tàn chút." Kiếm không ra, chùa lật đật lấy cái dĩa nhỏ cho ổng gạt tàn mà ổng móc điếu thuốc ra ổng châm thuốc ổng hút. Vừa nói tiếp tục nói chuyện đạo lý và nói rất hay. Mà nói rất hay, mà miệng thì cầm điếu thuốc hút mà nói chuyện đạo lý rất hay, làm lúc ấy chúng tôi cũng xét lại nha. Xét lại, nói chắc hút thuốc không sao quá.
[39:29]Nhưng mà mình nói hễ mà nói hút thuốc không sao, xúm nhau hút thuốc hết chắc cũng chết cái chùa mình luôn. Cho nên cái vấn đề hút thuốc để mở để đó, chưa quyết định lắm nha. Hôm nay vậy thôi mở để đó, không quyết định. Quý thầy hút thì cứ... Thôi đừng hút nữa.
[39:52]Rồi một điều nữa, một vị chân tu là có những điều mà ngày xưa và ngày nay phải giống hệt nhau không được thay đổi, đó là việc xuất gia phải là thiêng liêng, tăng đoàn giáo hội phải là thiêng liêng. Không có được nói: "Dạ, do thời đại thay đổi á nên bây giờ chúng ta tu không cần xuất gia, chúng ta không cần tăng đoàn, không cần giáo hội." Người đó nói câu đó xuống địa ngục liền. Vì sao vậy? Bởi vì giữa tại gia và xuất gia khoảng cách rất là lớn. Lớn là lớn cái gì? Lớn là xuất gia là chống lại một bản năng chướng ngại trong tâm ta. Mà người tại gia thì cái bản năng đó được cho phép, được ca ngợi.
[40:35]Nhưng đối với người xuất gia, nó là bản năng đó là một chướng ngại trong sự tu hành giải thoát. Bản năng gì? Bản năng là thiên vị gia đình ruột thịt của mình. À. Cái người tại gia đó thì cái tình mà mình thiên vị gia đình ruột thịt mình được coi là đạo đức, được coi là có trách nhiệm. Ví dụ cái người chồng thương vợ, người cha thương con, thiên vị con mình nhiều hơn thì được khen: "Ông đó biết lo cho gia đình, người sống có trách nhiệm." Mà nhờ ổng thiên vị, ổng thương vợ, thương con cho nên ổng tránh được nhiều tật xấu bên ngoài xã hội. Vì muốn làm điều xấu nhưng mà nghĩ tới vợ, tới con, thôi quay về.
[41:16]Cho nên cái bản năng mà thiên vị gia đình ruột thịt được coi là đạo đức. Nhưng đối với việc giải thoát thì bản năng đó là một chướng ngại. Mà để vượt qua được cái bản năng này, phải xuất gia, cắt bỏ cái tình gia đình, bước vào đạo, chỉ sống trong lòng từ bi, yêu thương chúng sinh, không còn tình cảm riêng tư ruột thịt nữa. Mà cái tình ruột thịt nó khủng khiếp lắm. Nó là một bản năng vô hình cực kỳ mạnh. Hôm trước tôi kể có người đệ tử vậy, xuất gia rồi thấy lòng mình thanh thản, nhưng khi vừa có một đứa cháu của mình gọi mình bằng chú tới chùa một cái, rộn ràng tình yêu thương lên, thiên vị lên liền.
[41:58]Mặc dù trước đó không bao giờ nghĩ tới. Tại nó vô hình nhưng nó ràng buộc rất là mạnh mà người xuất gia phải vượt qua. Mà chỉ khi xuất gia ta mới đứng ra ngoài nhìn thấy nó mà diệt trừ. Còn sống trong gia đình ta chìm trong nó luôn, được xã hội khuyến khích, ca ngợi luôn. Nên ta ôm giữ cái bản năng là thiên vị gia đình ruột thịt không thấy. Xuất gia ta mới thấy. Cho nên người chân tu mà ngàn xưa cho tới ngàn sau này vẫn phải xuất gia. Và vì xuất gia cho nên ta phải có một Tăng đoàn, Giáo hội thiêng liêng để ta nương tựa. Cho nên dù thời xưa, dù thời nay và mãi mãi sau này, người chân tu vẫn phải là người hướng về xuất gia,
[42:45]vẫn phải là người bảo vệ, xây dựng cái Tăng đoàn, vẫn phải là người xem cái Tăng đoàn, Giáo hội này là một điều thiêng liêng, cao quý. Mà đúng như Phật dạy là Tam bảo: Phật, Pháp, Tăng. Mà chỉ khi có người xuất gia ta mới có Tăng bảo. Cho nên nói là người chân tu, dù thời đại có biến thiên thay đổi, nhưng mà việc cơ chế xuất gia, tổ chức Tăng đoàn, Giáo hội vẫn phải là một điều không thể thay đổi được. Nhớ như vậy nha. Rồi một điều không thay đổi được nữa là thế này. Theo cái thời đại mới, nhiều triết thuyết mới ra đời,
[43:26]nhiều nhà triết gia mới xuất hiện, nhiều cái lý thuyết mới
[43:34]được phơi bày ra. Và có những người ta gọi là le te, tè lẹt, làm lanh, tài lanh, lấy cái triết thuyết mới này để mà phân tích đạo Phật. Và dĩ nhiên, phân tích tầm bậy. Lấy những triết lý đời mới này đem ra lý giải đạo Phật, phân tích về Đức Phật thì lập tức làm hạ giá trị đạo Phật xuống liền. Vì sao vậy? Vì những triết thuyết mới này chưa bao giờ được nói bởi những bậc Thánh chứng ngộ thực sự. Họ chỉ là những người ngồi suy nghĩ thôi, ngồi tư duy thôi. Mà cái mà ngồi suy nghĩ, tư duy không bao giờ nó là trạng thái của một bậc Thánh chứng đạo cả. Cho nên, đem những cái triết thuyết mới này mà phân tích về Đức Phật, về đạo Phật,
[44:27]chắc chắn làm giảm giá trị của đạo Phật và Đức Phật xuống một tầng bậc thấp. Nên cấm điều này. Nếu là một bậc chân tu của thời đại thì không bao giờ được dùng những triết thuyết của thời đại, những kiến thức của thời đại mà phân tích về đạo Phật. Vì sẽ làm giảm giá trị đạo Phật, hiểu không tới về đạo Phật. Đây là điều mà ông Einstein ổng nói nè. Ổng là nhà bác học lỗi lạc mà ta vẫn gọi là ông là nhà bác học giỏi nhất, ta vẫn gọi ổng là nhà bác học giỏi nhất. Vậy mà khi nói về tôn giáo, ổng đành phải nhường bước cho Phật giáo một bước rất là lớn. Khi ổng phân tích về các tôn giáo, ổng nói nhiều khía cạnh,
[45:11]ổng nói xa nói gần, nói xa nói gần, ám chỉ là tôn giáo coi vậy chứ lạc hậu. Vì khoa học càng lúc càng khám phá ra nhiều điều đặc biệt quá. Ví dụ như bây giờ nói việc hình thành vũ trụ thì sự thật khó có một tôn giáo nào nói chính xác. Vì ông Einstein, nhà bác học Einstein là người nghiên cứu về vật lý thiên văn vũ trụ mà, vật lý lý thuyết, vật lý thiên văn, vật lý vũ trụ, ba cái vật lý nó liên quan với nhau. Vật lý lý thuyết tức là nghiên cứu tới chiều sâu của những cấu trúc nhỏ nhất của vật chất, những cái mà mắt thường ta không thấy, máy móc đo cũng không ra. Cái thứ hai là vật lý thiên văn,
[45:51]tức là vấn đề lớn lao nhìn vào những thiên thể và vật lý vũ trụ. Vật lý thiên văn, vật lý vũ trụ thì giống nhau, nhưng vật lý lý thuyết thì khác, nhưng mà ba cái đó nó giống nhau, nó liên kết với nhau để hiểu hết về vũ trụ, về cuộc sống thế này. Ổng là một nhà đó nên ổng hiểu về vũ trụ nhiều. Thì khi mà nhìn qua các lý thuyết của các tôn giáo, ổng thấy hầu hết các tôn giáo nói tào lao. Nên khi đưa ra một nhận định về tôn giáo thì ổng nói xa nói gần ổng chê các tôn giáo hết. Nhưng chỉ Phật giáo, ổng dành cho một lời trọng thị và không dám phân tích. Và ổng nói: "Nếu có phải chọn một tôn giáo, nếu phải có một tôn giáo
[46:31]mà có thể đáp ứng được cái yêu cầu của khoa học thì chỉ có Phật giáo." Vì Phật giáo coi vậy chứ đi trước thời đại, đi trước khoa học và đi trước thời đại. Ổng dành cho một lời trọng thị, chỉ nói vậy thôi, không dám phân tích. Đó, không dám đem kiến thức khoa học của thời đại mà lý giải về đạo Phật, vì đạo Phật vượt cao xa hơn cái tầm hiểu biết của ông. Mà đó là nhà bác học giỏi nhất. Cho nên ta cấm, cấm ngặt một người mà đem dùng kiến thức khoa học thời đại hay dùng cái triết lý của thời đại mà phân tích đạo Phật. Vì sao? Vì sẽ làm giảm giá trị của đạo Phật xuống. Vậy mà ta có người bị đó nha.
[47:14]Vậy mà ta có một người cũng khá nổi danh chuyên môn lấy cái triết lý của thời đại gán vô cho đạo Phật.
[47:23]Chúng tôi không tiện nói tên người nào, nhưng tôi mong rằng đại chúng tỉnh táo khi đọc những tác phẩm của thời đại ngày hôm nay do những tác giả thời hôm nay viết về Đức Phật, về đạo Phật. Vì chúng ta nếu tinh tế mà ta phát hiện ra cái vị này dựa theo cái chuẩn mực của triết học Tây phương mà để lý giải đạo Phật thì ta biết vị này phạm vào điều cấm kỵ, làm cho đạo Phật, Đức Phật giảm giá trị xuống. Như cái đêm mà Đức Phật chứng ngộ, cái đêm đó vĩ đại biết ngần nào, cao xi biết chừng nào, vậy mà dám nói là Đức Phật chỉ ngồi tư duy suy tưởng. Đúng là bậy bạ, tào lao hết sức. Mang tội chết á. Làm cho bao nhiêu người hiểu đạo Phật chỉ là
[48:10]như vậy, mình ngồi mình cũng tư duy được. Rồi ai lanh lanh cũng ngồi tư duy được. Đó là hạ giá trị đạo Phật xuống liền. Trong khi mà cái 49 ngày nhập định của Đức Phật, cái sự khủng khiếp, cái vĩ đại của cái định lực là như thế nào, của sự khai mở trí tuệ là như thế nào, phàm phu làm sao hiểu nổi. Triết học làm sao mà phân tích được. Cho nên đây là điều ta cấm kỵ. Dù ngàn xưa, ngày nay hoặc sau này, tuyệt đối không được mà mà dùng cái triết học thời đại lý giải đạo Phật. Và ngược lại, phải dùng đạo Phật lý giải mọi điều của thời đại hôm nay. Ngược lại. Tức là sao? Tức là đạo Phật với cái hệ thống đạo lý của mình,
[49:02]với cái trí tuệ của mình đủ để soi sáng hết mọi điều của thời đại, của thế gian, không sót điều nào. Đây là cái đặc biệt của đạo Phật như vậy. Có những điều mà khó hiểu nhất thì đạo Phật vẫn soi sáng hết và nhìn cho tới gốc tới ngọn đàng hoàng luôn. Ví dụ bây giờ nói: "Thưa thầy, bây giờ có một cái tình trạng là bệnh tự kỷ của trẻ em xuất hiện nhiều quá. Bệnh tự kỷ là gì? Là nó không thèm giao tiếp với mọi người, nó không thèm nói chuyện và nó như không nói được luôn." Là cái nỗi khốn khổ của thế giới ngày hôm nay mà cái tỉ lệ trẻ mắc bệnh tự kỷ bắt đầu tăng dần ở các nước và ở Việt Nam. Nó nói không được.
[49:49]Đẻ ra đứa con cực gần chết, nuôi cực gần chết mà nó không giao tiếp với mình, giống như nó không biết cha mẹ là ai. Mình bỏ bỏ không được, giết giết không được. Nhưng mà nó giống như không tồn tại trong gia đình mình. Học đi học không được, nó có giao tiếp gì đâu mà đi học. Khổ vô cùng và tỉ lệ này tăng dần. Khoa học cũng không biết đường đâu mà rờ. Nhưng mà nếu dùng đạo Phật thì soi sáng ra hết, lý giải ra hết luôn. Đạo Phật soi sáng làm sao? Có hai nguyên nhân để hình thành bệnh tự kỷ: một là nhân quả ở kiếp xưa và hai là ảnh hưởng tâm linh của kiếp này. Nhân quả của kiếp xưa là sao? Nó không nói chuyện tại ngày xưa nó hay bắt người ta không được nói:
[50:37]"Im miệng lại! Tụi bây không được nói!" Nên cái người nào mà hay nói câu đó, kiếp sau dễ mắc bệnh câm hay bệnh tự kỷ. Ta có hay nói câu đó không ạ? Trong đời mình có không? "Câm miệng tụi bây lại!" Ta có hay nói câu đó không? Có không ạ? Có đó, phải không ạ? Thì nếu mà ta thường hay nói câu đó thì kiếp sau ta sẽ hân hạnh mắc bệnh câm. Nói: "Nhưng mà nghen, kêu người ta nói con chịu không nổi, người ta nói nhức đầu ờ." Mà nếu mà mình gặp ai mình cũng kêu: "Nói đi, nói đi!" thì kiếp sau mình mắc bệnh điên.
[51:17]Còn mà kiếp trước mình kêu người ta nín không được nói, kiếp sau mình mắc bệnh câm. Gặp ai cũng kêu nói đi, kiếp sau mình mắc bệnh điên. Nói như vậy thì con phải làm sao? Nói đừng làm sao hết. Đừng làm sao hết thì không mắc câm, mắc điên. Đó là nhân quả ở đời trước. Còn kiếp này là sao? Kiếp này do ảnh hưởng tâm linh. Nơi một đứa trẻ tự kỷ là ta biết cái thế giới chung quanh ta ngạ quỷ rất nhiều, các vong linh rất nhiều. Mà bây giờ quý Phật tử thấy đứa con nít đẻ mới đẻ ra có thấy cưng không ạ? Cưng không? Ai thấy cũng cưng, mình thấy cũng cưng thì ma thấy cũng cưng. Ma thấy con nít nó cũng cưng mà nó lại nó giỡn.
[51:59]Ví dụ mình cái người mà sống á, họ thấy họ lại nựng, mình cho họ nựng chừng mực nào thôi mình giành đứa con mình lại phải không ạ? Còn ma mình đâu có thấy, cái lại nó cứ giỡn, nó nựng, nó ngắt, nó nhéo. Có lúc nó giỡn mạnh quá đứa nhỏ khóc thét lên trong đêm. Con nít có hay bị khóc thét trong đêm không? Thường hay bị là ma nó lại đó. Mà có những lúc mà ma nó giỡn cách êm ái mà thiếu điều nó muốn nhập vô đứa nhỏ luôn. Thế là cái tâm trí, bộ não của đứa nhỏ bị ma nó khống chế, nó giống như người lớn mình còn bị ma nhập mà, huống hồ mấy đứa nhỏ. Cho nên có những trường hợp đứa nhỏ bị ma nhập ta không
[52:33]biết và nó sống trong cái thế giới của ma không. Nó giao tiếp với ma không, nó đóng lại cánh cửa giao tiếp với loài người. Mà lúc đó loài người mình hời hợt, cha mẹ đi làm bỏ cho cái người vú coi, mà người vú đó thì lúc cũng còn trẻ, có bồ, có gia đình, tối ngày cầm điện thoại gọi về nhà nói chuyện với bồ, bỏ đứa nằm, nó hơi nó o e đưa cho nó cái bình sữa cho nó bú để không giao tiếp với nó. Cho nên nó không giao tiếp với loài người, nó chỉ giao tiếp với ma thôi. Đúng 3 năm sau khi mà cái cấu trúc não nó hình thành đầy đủ rồi thì trong cấu trúc não đó không có cái vùng ngôn ngữ dành cho loài người.
[53:10]Nó chỉ có cái vùng ngôn ngữ dành cho ma. Thế là nín luôn, không bao giờ giao tiếp với loài người nữa. Cho nên bệnh tự kỷ là một dạng bệnh về tâm linh do từ lúc sơ sinh nó bị ma tiếp xúc và khống chế. Còn kiếp xưa thì nó hay bắt người ta nín. Nên bây giờ vậy, khi mà ta đẻ đứa con ra ngoài việc mà chích ngừa một số bệnh phải không, theo quy định của y tế thì xin thưa phải chích ngừa về tâm linh, đừng cho ma tới phá nó. Nói: "Ủa tâm linh cũng có ống tiêm chích chích ngừa hả thầy?" Có. Ở đâu? Trong chùa. Trong chùa ông thầy nào cũng có ống chích chích ngừa tâm linh hết nha. Mình bồng đứa con đó lại gặp một vị
[53:58]tôn đức, vị đại đức, thượng tọa, hòa thượng mà mình biết là người chân tu để cho vị đó để tay xoa đầu, vị đó chú nguyện cho nó. Vị đó chú nguyện rồi là thiên thần bảo vệ nó liền. Thế là đem về nhà, có ma đó, ma vẫn còn trong nhà chứ chưa đi, nhưng mà sau đó là có một vị chư thiên tới nạt: "Mày không được đụng tới đứa nhỏ nha, đứa nhỏ này được hòa thượng bảo vệ rồi. Đứa nhỏ này là con của hòa thượng, hòa thượng ổng nhận làm con, ổng vỗ đầu nó rồi, mày xính chỗ khác." Thế đứa nhỏ ban đêm hết khóc, không tiếp xúc với ma nữa, từ từ mới bắt đầu tiếp xúc với loài người trở lại. Cho nên quý Phật tử nhớ, ai mà
[54:37]còn đẻ đó, không biết dòm không biết ai còn đẻ nữa, thì nhớ điều này: Một là khi đẻ đứa nhỏ ra, chích ngừa theo quy định của y tế. Hai là chích ngừa tâm linh nha, theo quy định của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Giáo hội Phật giáo Việt Nam sẽ quy định tất cả các Phật tử nào còn đẻ con, khi con đẻ ra, yêu cầu bồng tới chùa cho quý thầy, quý cô chích ngừa. Nhớ, tức là vỗ đầu, chú nguyện cho nó. Thì đó vậy, chứ mà nó tránh được cái ảnh hưởng tâm linh mà phát sinh bệnh tự kỷ. Thì ta nhớ là đạo Phật lý giải hết tất cả mọi điều trong cuộc đời này, chứ còn mà đem cái lý thuyết thế gian mà lý giải lại đạo Phật là tầm bậy.
[55:22]Rồi nói còn nhiều điều nữa, ví dụ nói
[55:28]thường hay nghe nói tới tận thế. Tận thế là người ta chết hết, sự sống biến mất, thì nhiều tôn giáo hay đưa cái tận thế ra hù người ta. Còn khoa học thì đi coi coi khi nào thì cuộc sống này chấm dứt, ví dụ có thiên thạch nào nó tông vô bể trái đất, hay là nóng quá rồi như mình mình đang bị nóng, cứ vài năm nữa cứ nóng dần dần lên thì cây cối chết sạch nhưng người mình chết sạch luôn. Thì đó đó là tận thế hay là bom nguyên tử nổ chết sạch, đại khái là như vậy. Thì khoa học thì đi tìm cái có tận thế hay không, nguy cơ tận thế theo cái điều gì mà mà có lý giải được có tính khoa học, còn tôn giáo thì hù đủ thứ:
[56:08]ngày 12 tháng 12 năm 2012 là tận thế. Trước chúng ta có nghe chuyện đó không ạ? Nói ngày 12 tháng 12 năm 2012 là sẽ tận thế, rồi có nhiều người hỏi đứa con nít nó mới chạy lại hỏi ba nó: "Ủa sao nói là tháng 12 tận thế mà con thấy cái hộp bánh của con cái ngày date nó ghi tới năm 13 lận?" Như vậy là 12 chưa tận thế được, mà đúng là đứa nhỏ nói đúng, năm 12 chưa tận thế, toàn là mấy lời hù của tôn giáo tào lao. Nhưng mà trong đạo Phật thì sao? Đạo Phật thì lý giải chuyện đó theo nghiệp báo nhân quả. Nếu con người ta gây cái nhân diệt sự sống thì cái sự sống loài người cũng sẽ biến mất hết. Vậy thôi.
[56:52]Nếu con người ta gây cái nhân là hưởng thụ sự sống này quá sức thì cái sự sống cũng cạn kiệt rồi tận thế luôn. Vậy là có hai cái nhân để tận thế: Một là người ta diệt sự sống, hai người ta tận hưởng cho hết cái cuộc sống này sớm quá, vội vã quá thì chết. Hai cái đó là gì? Một là diệt sự sống là gì? Là chặt hết cây, đó là diệt sự sống. Cho nên không cần giết nhau đâu, không cần gây chiến tranh giết nhau đâu, chỉ cần cứ vô rừng có cây nào ló lên phá, cây nào ló lên là chặt hết thì tận thế liền, đó là ta diệt sự sống. Kèm thêm nữa là cầm cái mút điện đó xuống sông múc, xẹt hết con nào vô điện mình chết sạch hết, đó là diệt sự sống.
[57:37]Thì cái quả báo là gì? Sẽ có một lúc có một thiên thạch đụng vô cái ầm ta chết sạch, vì mình diệt sự sống muôn loài mà, diệt sự sống trái đất mà. Cho nên để cưỡng lại cái này thì mỗi người chúng ta phải trồng cây xanh, dựng lại sự sống. Dựng lại sự sống bằng gì? Cây xanh trước. Một cái dây leo nho nhỏ trước hàng rào ta cũng là cái phước ta dựng lại sự sống. Cho nên người Phật tử ta, nhất là Phật tử hiểu được điều này, hiểu được nhân quả này, lúc nào cũng tìm cách dựng lại sự sống, phước này không thua gì phóng sanh, bố thí. Ở chỗ nào mà trồng được cái cây, đặt được một cái chậu cây xanh là làm liền, từ trên nóc nhà mình xuống tới vách nhà cho tới cửa
[58:20]sổ tới hiên nhà, hễ mà trồng cây được là là trồng, vậy đó. Nói: "Dạ, trồng nhiều quá không có chỗ để đi." Thà ta không có đường đi, chứ cố gắng thêm được một chậu cây xanh, vậy đó thì vẫn là có phước, đó là cái phước mà ta dựng lại sự sống để ngăn chặn cái sự tận thế cho cho thế giới này. Đó, ta không phá rừng, ta không tận diệt các sinh vật, đồng thời biết trồng cây xanh. Đó, nhớ về làm điều đó. Rồi cái nữa là tận hưởng cuộc sống nhiều quá thì cái tận thế sẽ đến. Nói tận hưởng sự sống nhiều quá là sao? Ta nói ví dụ là vừa có tiền chút xíu, thích mua sắm xe đi chơi, trời hơi nóng chút xíu mở máy lạnh thiệt lạnh cho mát.
[59:09]Rồi trời mát mát cái gì? Tắm nước nóng thiệt nóng cho nó đã, tức là ta hưởng thụ cuộc sống nhiều quá. So cái nữa là bao nhiêu vô số tiện nghi, mặc đẹp vậy được rồi, phải mua một cái loại kem rất mắc tiền thoa cho nó đẹp hơn nữa, có bị không ạ? Đó là tận hưởng cuộc sống nhiều quá. Nấu ăn vậy ngon rồi, nấu sao cho nêm thêm gia vị quý cho nó ngon hơn nữa, như vậy. Mặc quần áo vậy là được rồi, phải lụa là, gấm vóc đặc biệt hơn nữa, tức là ta tận hưởng cuộc sống, mà nếu cả bảy tỷ người này mà ai cũng tận hưởng cuộc sống ráo riết như vậy thì cuộc sống cạn kiệt cũng tận thế tới luôn. Cho nên bớt đi xe, bớt xài điện, bớt hưởng thụ giàu sang,
[59:52]tiện nghi thì đó là ta tiết kiệm sự sống cho trái đất này thì lâu tận thế một chút. Đó, ta dùng đạo Phật ta lý giải hết mọi điều của thế giới này mà thế giới này không bao giờ có thể đủ sức lý giải về đạo Phật. Tại đạo Phật là gì? Một tầm cao vượt lên trên, cái thấp không thể lý giải được cái cao, nhưng cái cao thì lý giải hết được mọi điều của của cái thấp. Nên nhớ như vậy, nghe không? Rồi một điều nữa, cái người chân tu thời đại ngày hôm nay nữa là cưỡng lại dòng chảy của thời đại, vì có những cái dòng chảy của thời đại cuốn ta rời xa sự giải thoát nên ta phải cưỡng lại.
[1:00:41]Ví dụ như là thời đại ngày hôm nay nó có một cái được gọi là văn minh là trẻ lớn lên phải học khiêu vũ.
[1:00:51]Thầy có biết khiêu vũ không ạ? Sao thầy cười đáng ngờ quá? Ngày xưa thầy biết. Đi tu thì hết biết, rồi ngày xưa là biết, học là văn minh. Là Thượng tọa đây ngày xưa là đại tá sư đoàn trưởng vậy đó rồi vậy mà từ bỏ hết để đi tu. Tổng giám đốc hay công ty dầu khí đó, vậy mà bỏ đi tu hết. Nên cái gì cũng biết hồi xưa hết. Mà hồi nãy tự hào là khi về hưu rồi là trong sạch. Ta cũng có một... Nhờ như vậy mới đi tu được, mới đủ cái phước để đi tu được. Tại vì cái người mà không trong sạch, họ không đủ phước, không đủ đạo đức để trở thành một người xuất gia. Nên dòng chảy của thời đại vậy, nó có những cái điều mà
[1:01:36]nó cuốn ta rời xa sự giải thoát, ta phải cưỡng lại. Hôm trước vậy, chúng tôi có gặp người Phật tử ở ngoài Bắc á. Anh cũng xuất thân nghèo, nhưng mà khi vô Nam học thì nói: "Dạ, con cũng đi học cái văn minh của thời đại. Mặc dù nghèo, đi xe đạp nhưng phải sắm một bộ đồ thiệt mới để tới nhà cái nhà văn hóa lao động mà học khiêu vũ." Ôm cô này cô kia nhảy để cho mình là văn minh. Thì đó là dòng chảy mà nó cuốn ta ra khỏi sự giải thoát, cưỡng lại. Cái người Phật tử mà ham tu không trôi theo những điều mà ta gọi là văn minh đó. Bởi vì sao? Cơ thể nam nữ xúc chạm tự nó phát sinh cái dục, ta phải tránh ra.
[1:02:21]Phải tránh xa. Nên có những cái người Tây phương, cái người bên Tây mà họ qua đây họ du lịch, họ đi một vòng nơi này nơi kia của Việt Nam xong rồi họ mới ngạc nhiên, họ nói câu này. Họ nói: "Ngộ quá ha? Có những cái chúng tôi bỏ thì Việt Nam lại xài." Họ nói cái gì? "Như cái khiêu vũ á. Chúng tôi thấy chúng tôi chán, vì lúc này chúng tôi chỉ thích cái gì? Khí công, thái cực quyền. Vận động bằng cái đó nó lành mạnh, hết bệnh. Còn cái nam nữ ôm nhau nhảy nhảy, xưa rồi mà nó chán, nó sinh ra đủ thứ tệ nạn. Ví dụ như hai vợ chồng đang sống hạnh phúc, bà vợ bả đi khiêu vũ rồi chắc chắn bả ngoại tình.
[1:02:58]Nó phá vỡ gia đình, không hay gì hết. Nhưng mà sao Việt Nam thấy bây giờ lại chạy theo cái mà chúng tôi đã bỏ? Còn cái á mà Việt Nam có cái rất là hay mà sao lại hổng xài mà chúng tôi lại đang rất mê là cái Thiền của Phật giáo. Là cái mà chúng tôi đang mê, đang tìm hiểu, đang nghiên cứu để ứng dụng thì Việt Nam ngày xưa là có thiền sư đồ quá chừng. Trần Nhân Tông, Trần Thái Tông đi đánh giặc ì xèo chiến thắng hết, mà sao bây giờ không không thấy à, bỏ trơn." Chúng ta thấy nghịch lý không? Cho nên là ta cưỡng lại những dòng chảy của thời đại để mà giữ gìn sự giải thoát. Những cái gì mà họ gọi là văn minh là tiến bộ, ta phải kiểm tra lại.
[1:03:41]Vì nếu cái gọi là văn minh tiến bộ đó mà đẩy ta ra xa khỏi sự tu hành thì ta phải cưỡng lại, không không đi theo. Ví dụ như là việc mà sử dụng các thiết bị thông tin liên lạc như điện thoại di động vậy, nó tiện cho ta, chớp mắt là ta liên lạc được với nhau liền, cực kỳ tiện lợi, đỡ mất bao nhiêu thời gian. Ví dụ để ta gặp một người nào đó ta trao đổi, ta phải đi một chặng đường dài, tốn bao nhiêu xăng, bao nhiêu xe, cái đó, bây giờ ta bốc điện thoại lên ta trao đổi được liền. Thì đó là điều tiện lợi, nhưng có khi ta lạm dụng nó, nói ba chuyện tào lao, hay là ta dùng nó tìm những thông tin xấu ở trên mạng,
[1:04:29]đó là những cái mà dòng chảy của thời đại cuốn ta đi ra khỏi sự tu hành giải thoát. Nên bây giờ mà nói là đừng xài điện thoại ta cũng khó. Vì sao? Vì ví dụ bây giờ một vị mà lãnh đạo giáo hội, họ muốn liên lạc với một thầy một cô nào thì họ cần kiểm soát cái gì đó, họ bấm máy gọi thì có liền: "Trả lời cho tôi nghe chuyện đó như thế nào." Chứ bây giờ gọi cái nói: "Dạ ổng không có điện thoại, giờ ổng đi đâu mất tiêu rồi, ổng đi đám đâu không ra." Thế là giáo hội không kiểm soát được, rất là bất tiện. Nhưng mà lúc nào cũng kè kè cái điện thoại mà để tìm hiểu, tra cứu những cái điều ngoài sự tu hành thì nó là một điều xấu, điều nguy hiểm.
[1:05:10]Cho nên ta phải cưỡng lại. Cưỡng lại nghĩa là sao? Có dùng nhưng mà biết chọn lọc, biết kiềm chế chứ không có lạm dụng để mà mất thời giờ của mình, mất tâm trí của mình. Gọi là cưỡng lại vậy. Rồi một cái nữa là cái đời sống văn minh hiện nay á cái nhà cao tầng mọc lên, phố thị nó mọc lên nhiều, càng lúc càng nhiều. Đến nỗi có cái phim là phim Star Wars, Chiến tranh giữa các vì sao, trong đó họ giới thiệu một cái hành tinh không còn một cây xanh nào. Tất cả chỉ là nhà và họ đi qua lại với nhau đi trên đĩa bay thôi, đi từ nhà này qua nhà kia đi bằng đĩa bay, không có cây xanh. Mà cái người một vị mà mà mà bác học đó tự hào giới thiệu
[1:05:56]với một người khách đến từ hành tinh khác nói này: "Cả hành tinh này là một thành phố lớn."
[1:06:04]The whole planet now is a big city. Là cả một cái hành tinh này là một thành phố lớn. Nói rất tự hào: "The whole planet is a big city." Nói như vậy rồi mà tự hào. Nhưng trong khi cái người mà hiểu biết thì nói: "Đây là một tai họa. Đáng lẽ hành tinh này chết rồi, không còn rừng thì hành tinh này đáng lẽ phải tận thế rồi." Nhưng mà vì người ta dựng phim, người ta không thấy nhân quả. Nên ở đây cái thời đại mới là thời đại gì? Nhà cao cửa rộng, phố thị đông đúc, nhưng ta là người tu thì ta cưỡng lại điều đó. Cưỡng lại là điều đó nghĩa là sao? Cưỡng lại nghĩa là cố gắng sống với rừng cây, với nơi có nhiều bóng xanh.
[1:06:56]Đó là một người chân tu thời nay phải cưỡng lại điều đó. Nếu có điều kiện ta ra cái nơi thoáng đãng trồng vườn, trồng cây mà sống, mà tu. Vì cái khung cảnh mà có cây rừng nó ảnh hưởng tốt cho tâm linh. Còn nếu ta lỡ kẹt ở cái chùa ở trong thành phố rồi thì phải làm rất nhiều dây leo, rau xanh phủ từ trên nóc xuống để tạo thêm màu xanh. Chớ đừng bị lệ thuộc rồi an ổn, mãn nguyện trong những bức tường gạch và bê tông như thế. Đó là thời đại nó cuốn ta đi vào gạch và bê tông. Ta cưỡng ngược lại, dừng lại, trồng lại, tạo lại cái mảng xanh cho cuộc đời, cho đời tu của mình, cho tâm hồn của mình nha.
[1:07:47]Phải yêu rừng xanh mà cưỡng lại những cái sự tiến bộ của thời đại như vậy. Đó là người chân tu. Nhưng mà người chân tu cũng không chống lại cái tiến bộ của thời đại. Ta cũng hòa theo cái tiến bộ của thời đại để tu và để giáo hóa. Hòa theo cái tiến bộ của thời đại để tu và để giáo hóa nghĩa là sao? Có những phát hiện mới của thời đại khoa học giúp ích cho sự tu hành của ta nhiều. Có những cái tiến bộ, ví dụ như tiến bộ về y học, ta biết là những thức ăn nào cần
[1:08:26]để cho ta có sức khỏe, ta có sự tỉnh táo, bớt độc hại, thì cái đó người xưa không rành lắm đâu. Ngày hôm nay với cái ánh sáng khoa học, với kỹ thuật khoa học họ phân chất ra hết. Nên họ biết là mức độ tác hại, không hại. Có những món mà mình rất thích nhưng bây giờ ta phải cẩn thận.
[1:08:47]Ví dụ như đậu hũ, mình ăn rất ngon, mình không ăn thịt thì ăn đậu hũ thay đạm, nhưng mà cũng vừa chừng trong mức độ nào đó chứ không phải là hoàn toàn tốt. Dưa leo, đừng để vỏ vì vỏ bây giờ phát hiện ra có độc tố, vân vân. Rồi hoặc là như trái cam, ta uống nước cam đều đặn có vì nó giúp cho ta có chánh niệm, vì nó giúp lại cái trí nhớ. Những cái đó, những chất flavonoid, flavanoid chứ, flavonoid có trong những cái trái cây đó nó hỗ trợ hệ miễn dịch và bộ não ta. Rồi ta cũng bớt ăn bột. Chứ nào giờ cái người tu mình gì? Cái người chân tu là chỉ cần miếng cơm ha, miếng nước tương, miếng rau luộc là sống được rồi.
[1:09:35]Nhưng mà điều đó phản khoa học, thiếu dinh dưỡng và có thể tăng lượng đường trong máu, mà đường trong máu tăng rồi thì nó gây đủ thứ chuyện về sau: hư thận, hư tim, hư gan, hư não, mù mắt luôn. Cho nên phải điều hòa cái lượng đường, vân vân như vậy. Rồi ví dụ như là những cái thông tin về như Phật pháp trao đổi với nhau qua mạng qua đồ, những cái kỹ thuật đó có lợi cho ta. Ta cũng cần biết, ví dụ thay tra vào một cái trang báo ta có thể biết được một số thông tin về Phật pháp, những diễn biến của Phật pháp, nên đó gọi là ta hòa theo tiến bộ của thời đại để giúp cho sự tu hành của mình. Và cũng giúp cho sự giáo hóa, ví dụ như hôm nay vậy,
[1:10:16]chúng ta cầm cái micro này cũng là tiến bộ của thời đại, ta giăng cái màn hình cho mọi người theo dõi cũng là tiến bộ của thời đại, ta đưa bài giáo lý lên trên mạng cũng là tiến bộ của thời đại, giúp cho mọi người dễ tiếp cận đạo lý hơn. Còn ngày xưa mà muốn đi giảng, muốn giáo hóa chúng sinh thì thế này ạ: một vị giảng sư nha, mà không lâu đâu, cách đây 60 năm thôi, chứ chưa nói tới kiếp trước, một vị giảng sư mà muốn đi giảng
[1:10:45]Có cái tay nải, trong đó đựng xôi, đựng muối vừng á, muối mè muối đậu phộng á, đi lên núi gặp cái chùa đó, bắt đầu ngồi giảng. Mà trong núi đâu có nhiều người, nhiều khi cũng năm bảy tăng chúng à. Giảng một bài chỉ có năm bảy người nghe. Đó, mấy vị kia ráng tìm giấy với bút mà viết những điểm chính, còn ông thầy thì ổng giảng phân tích, rồi cái là xách cái nải đi tiếp qua chùa khác. Rồi ví dụ như nơi đó là Phật tử mời lại giảng, chỗ đó cũng không phải là có chùa, lại cái nhà Phật tử đó, Phật tử mới hú hàng xóm, mà hàng xóm ở xa xa mới có cái nhà, hú lại được đâu chừng 10 người, 15 người ngồi thì ông thầy ổng ngồi
[1:11:23]giảng cho nghe, giảng đạo lý cho nghe xong mời ổng bữa cơm, xách tay nải ổng đi tiếp. Nên cái việc mà mọi người tiếp cận đạo lý hết sức là khó khăn. Nên ngày xưa khi ta còn nghèo, đạo Phật cũng đơn sơ, ta truyền đạo khó khăn và ít, nên tuy đạo Phật là quốc đạo của Việt Nam, vậy mà cái người hiểu đạo rất ít, không nhiều là do cái phương tiện truyền bá ít quá. Nên khi có đạo khác nó đáp tàu vào trong bờ biển mình, nó với lực lượng hùng hậu nó truyền đạo, nó nhanh chóng nó lấy dân mình làm tín đồ, rồi sau đó nó chiếm mình mất luôn. Muốn chiếm nước mình nó truyền đạo trước. Ta nhớ như vậy. Muốn chiếm nước mình nó truyền đạo đi trước.
[1:12:05]Nên vì vậy, ngày hôm nay ta nghe cái đạo nào lạ hãy cẩn thận, bởi vì cái đạo đó là đội quân tiên phong để nước ngoài xâm chiếm nước ta, để làm cho ta trở thành nô lệ lại một lần nữa, những cái đạo lạ. Đạo lạ là đạo gì? Có nhiều khi nó rất giống đạo Phật luôn, nó vẫn được gọi là đạo lạ. Ví dụ như bây giờ, nói: "Con thấy ông đó đạo Phật mà ổng mặc đồ đạo Phật, ổng tên gì?" "Dạ ổng tên là Trần Tinh." "Không phải Thích?" "Không. Ổng ổng lấy tên tên gì đó, cái biệt hiệu là Trần Tinh, không phải là Thích gì đó." Ví dụ như Thích Kiến Đăng đồ nó còn ra chữ Thích. Thầy ổng là ai? Hổng biết. Tông phái nào, giáo hội nào công nhận, thọ giới ở đâu? Hoàn toàn không có.
[1:12:48]Vậy mà mặc đồ đạo Phật rồi thu hút dụ tín đồ đạo Phật về với mình, đó vẫn được gọi là đạo lạ. Tức là người này không có gốc gác, không ở từ giáo hội, không được học trường lớp đàng hoàng, không có chánh kiến trong đạo Phật, chỉ mặc cái áo cho giống đạo Phật rồi dụ tín đồ đạo Phật đi mất, ta vẫn gọi là đạo lạ. Và vẫn phải xem đó là đội quân tiên phong của một sự xâm lược mới đối với đất nước ta. Phải cẩn thận cái điều này. Cho nên còn cái ngày hôm nay, nhờ khoa học kỹ thuật ta truyền đạo rất nhanh, giúp cho mọi người tiếp cận đạo lý rất là lẹ. Đó cũng gọi là ta biết hòa theo sự tiến bộ của thời
[1:13:25]đại để mà tu hành và giáo hóa nha quý vị. Rồi có những điều mà ta không được thay đổi, nhất là thiền không được thay đổi. Nói: "Dạ tu theo thầy bộ hơi lâu chứng, bắt ngồi kiết già đau chân thấy mồ", phải không? "Tu mà thầy hứa con 30 năm thì thầy mới bắt đầu cho con có kết quả, tu không mê. Mà thầy hứa con 30 kiếp bắt đầu mới có chứng sơ sơ, tu không mê. Con có phương pháp mới." "Phương pháp làm sao?" "Con có cái máy ló ra hai cái điện cực, cắm một cái qua bàn tay bên đây, cắm một cái qua bàn tay bên kia, bật nút lên một cái, 5 phút sau con đắc đạo liền." "Đắc đạo gì?" "Dạ một là chết hoặc là nhảy tê tê,
[1:14:09]còn không đắc đạo liền." Bấm vô một cái đâu đâu làm thử thầy coi, bấm vô một cái giựt điện giựt tê tê chết liền. Mà nói cái đó gọi là cải biến á, vì sao? Vì con đường thiền tuyệt đối muôn đời không có thuốc, không có kỹ thuật nào thay thế được nó hết. Con đường thiền phải đi lên bằng sự cô độc và đơn sơ tột cùng. Đi bằng con đường gì? Đạo đức. Đi bằng con đường gì? Phước đức. Đi bằng con đường chánh kiến. Đi bằng con đường quan sát tự thân, quan sát nội tâm. Đi bằng con đường gì? Diệt trừ lỗi lầm, diệt trừ vọng tưởng, diệt trừ bản ngã, không có con đường khác, không có con đường khác.
[1:14:57]Không bao giờ được thay đổi. Nên con đường thiền là con đường tột cùng của sự cô độc và đơn sơ. Không có thay thế bằng thuốc, không có thay thế bằng kỹ thuật nào cả, máy móc nào cả, nhớ như vậy. Nói tu với thầy dở, con để cái máy ngồi thiền con để cái máy con rà rà rà rà ngoài đầu con cái lát con đắc đạo liền là không bao giờ có chuyện đó nha.
[1:15:22]Cũng không bao giờ có cái chuyện làm nói ở một cái bộ tộc đó, khi lớn lên cái có cái ông thầy ổng ngồi ổng nhập định ổng truyền hết dữ liệu kiến thức ổng nhập vô tâm mình, thế là mình biết hết tất cả mọi điều không cần học, chuyện đó cũng chuyện nói dóc luôn. Nó giống như trong cái chuyện mà kiếm hiệp của Kim Dung, cái ông nọ ổng có mà 30 năm thành công lực, ổng để tay vô lưng ông kia ổng truyền qua 20 năm, thế là ông kia tự nhiên đắc nội công phi thường lên đánh chưởng bay ì xèo, xin thưa chuyện đó cũng nói dóc luôn. Vì cái công lực gì cũng phải tự mình luyện tập chứ không có chuyện mà người khác truyền cho mình, nha.
[1:15:58]Tất cả đều phải là sự cô độc, đơn sơ, cực khổ tận cùng của tự thân mình. Cho nên nếu ai giới thiệu một cái thiền nào khác hơn thời Đức Phật, ta biết ngay nói dóc và nói bậy. Thời Đức Phật ngồi kiết già, bây giờ nói: "Dạ thiền sao không được ngồi thõng chân được, ngồi ngả ghế lim dim vậy cũng được" là nói bậy. Phải ngồi đúng như lời Phật dạy. Còn ngồi chưa được là tại nghiệp mình chưa còn cản, phước mình chưa đủ thôi, chứ vẫn phải ngồi cho đầy đủ đúng như Đức Phật, vẫn phải theo dõi từng hơi thở vào, từng hơi thở ra, vẫn phải quan sát toàn thân, an trú toàn thân, vẫn phải thấy thân này là vô thường, không còn con đường nào khác, nhớ như vậy.
[1:16:43]Rồi đi qua từng cảnh giới từng cảnh giới, ta cũng phải vượt qua từng cái chướng ngại của mình: vượt qua cái chướng ngại của thân, ngồi tê ngồi đau; vượt qua chướng ngại của vọng tưởng, làm sao phải yên lắng; vượt qua chướng ngại của ảo giác, khi tâm nó yên rồi bắt đầu ảo giác xuất hiện, phải nhiếp trong hơi thở để diệt trừ cái ảo giác; vượt qua chướng ngại thứ tư là chướng ngại thần thông, bắt đầu nó phát thần thông lên rồi cái tưởng mình là thánh, phải nín lại, phải dằn lại, diệt trừ; và cuối cùng cái thứ năm, vượt qua chướng ngại của cái chấp ngã thì ta mới vượt hết chướng ngại để chứng đạo.
[1:17:17]Mà vượt qua hết những chướng ngại đó, đó là sự cô đơn tột cùng, sự đơn sơ tột cùng, sự vất vả tột cùng. Ta nhắc lại năm cái chướng ngại của thiền: một là chướng ngại về thân, hai là chướng ngại về vọng tưởng, ba là chướng ngại về ảo giác, bốn là chướng ngại về thần thông, và năm, chướng ngại về chấp ngã. Năm cái chướng ngại đó thì không có cái máy nào mà giúp cho ta hết, tự mình phải chiến đấu vượt qua thôi, nha quý vị. Rồi vấn đề về bốn quả thánh từ Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm, A la hán, tiêu chuẩn đó là mực thước, là chân lý, không có thay thế, không có chế biến gì được hết. Chỉ có ta chứng, ta chưa biết cái cái đó là quả nào mà thôi vì không
[1:18:03]còn Đức Phật, hoặc là chưa chứng mà tưởng mình chứng mà thôi. Chứ còn nếu đúng, biết rõ thì rõ ràng có bốn tầng bậc thánh mà ta phải dự vào dần dần. Và có những trường hợp ta chứng thiền rất cao mà vẫn chưa được chứng được thánh quả nào. Đó. Có những người chứng thiền tới đâu thì chứng quả thánh tới đó theo luôn, nhưng có những người chứng thiền từ từ từ từ mà không có quả thánh nào cả. Nên cái quả thánh và thiền có liên quan nhưng hai cái đó khác nhau hoàn toàn. Thì những điều này, từ ngàn xưa Đức Phật đã nói cho đến bây giờ vẫn giống hệt như vậy, không thay đổi được, không ai sửa được cái điều gì hết, nha.
[1:18:44]Cố gắng ta giữ lại những điều cổ kính của của của đạo. Những điều cổ kính của đạo phải được giữ lại. Ví dụ như gì? Ví dụ như tình thầy trò thiêng liêng. Là nói: "Dạ bây giờ, thưa thầy, ở ngoài giờ thay đổi rồi, ông thầy với học sinh giờ là như bạn thôi, cho nên bây giờ mình phải áp dụng nó vô trong đạo Phật, cho nên giờ con tu với thầy thôi con thầy cũng như bạn thôi, được không ạ?" Vác cây mà đập mà rượt đuổi ra khỏi chùa đi chứ không có vụ mà bạn, vì đó là điều cổ kính. Mà cái cổ kính này là đạo đức, mà là là gì? Nó là nhân quả để tu hành, vì mình bất kính với thầy mình rồi thì mình không làm thầy được nữa.
[1:19:25]Cho nên phải muôn đời tôn kính thầy mình thì mới làm thầy được. Đó là những điều cổ kính thiêng liêng. Đó, những cái phép yết ma, những cái tác bạch, những lễ nghi, những chuẩn tắc, nhiều khi thấy nó hơi rườm rà một chút, nhưng nó là cái đẹp, nó là những điều cổ kính mà ta phải bảo vệ và giữ gìn, chứ không nói: "Dạ thời đại này mới rồi thầy ơi, ôi hơi đâu mà rườm rà quá, bớt đi bớt đi", không được. Có những điều phải giữ lại. Nhưng mà có những điều ta cũng phải mượn của thời đại để mà mà tu hành và giáo hóa. Ta phải đón nhận những phương tiện kỹ thuật và nghệ thuật, và nghệ thuật luôn, ví dụ như hát.
[1:20:11]Cái việc mà hát là ngày xưa trong đạo Phật ta không có, không nói tới, thậm chí ghi luôn vào giới luật cấm luôn. Nhưng bây giờ mà không hát thì sao? Buồn lắm. Chùa sẽ sao? Đìu hiu gió cuốn, nha. Cho nên hễ chùa có lễ, phải có hát. Nhưng mà cái hát nó gì? Hát nhạc đạo, hát có đạo lý. Và cái điệu nhạc nó hỗ trợ cho đạo lý, làm tăng cái cảm xúc trong lòng mọi người. Nhiều khi nghe một bài nhạc hay quá, người ta dâng trào niềm yêu kính đạo, yêu kính Phật, yêu kính Pháp, yêu kính Tăng. Nếu ta khéo dùng thì nghệ thuật hỗ trợ rất nhiều cho cho Phật pháp. Ví dụ ngôi chùa cất cho đẹp, đó là nghệ thuật.
[1:20:58]Những tranh, những ảnh, ừ những cái câu chữ cho đẹp để mà giúp người ta có cơ hội tiếp cận với đạo. Rồi một cái lễ hội có một đêm văn nghệ hoành tráng, những bài nhạc được chọn lọc rất hay cũng đều là gì? Hỗ trợ với đạo. Thậm chí ta phải nghĩ tới việc làm phim và có nhiều người đã làm phim về đạo Phật, về Đức Phật rồi, cũng rất là rất là thành công. Cho nên ta phải mượn cái kỹ thuật và nghệ thuật như là một phương tiện để tu hành và giáo hóa. Đó là những điều mới, mặc dù những cái lõi cổ thì không bao giờ được thay đổi. Kính thưa đại chúng, thì hôm nay vậy cũng là một chuỗi trong những ngày mà học
[1:21:43]của trường hạ Huệ Minh thì ta thêm một bài đạo lý, thêm một sự phân tích, thêm một góc cạnh để nhìn để ta biết là trong cuộc đời tu hành của mình, cái điều gì ta mở ra, ta đón nhận và cái điều gì ta phải giữ để làm cái lõi không được thay đổi, và đó là một bậc chân tu của thời đại, của thời đại. Vì thời đại nào cũng cần cái bậc chân tu, nhưng mà cái hình ảnh, cái sự cư xử, cái lối sống đôi khi có những điều hơi sai khác, nhưng mà dù khác nhưng người đó vẫn là một bậc chân tu. Nó không lệ thuộc hình thức, nhưng mà cái lõi của sự tu hành thì không bao giờ khác nhau. Ví dụ cái vị đắp y thế này, vị mặc áo tràng thế này có thể khác về hình thức,
[1:22:26]nhưng mà đã là chân tu rồi thì có những cái lõi bên trong nó phải giống nhau: sự yêu thích, yêu kính giới luật, tinh tấn của thiền định, cái sự trí tuệ biết rõ tội phúc, tâm từ bi, phẩm hạnh đạo đức, sự tinh tấn không ngưng đều là điều phải giống nhau cả thôi. Vậy xin kính chúc cho đại chúng vậy mùa an cư tinh tấn và an lạc. Thầy cũng kính chúc cho các Phật tử, thầy kính chúc cho các Phật tử, những người mà đã lén đến trường hạ để nghe bài giảng của chư tăng sớm đều được xuất gia hết. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.