[0:15]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:23]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:37]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:47]Kính mời quý phật tử cùng ngồi xuống. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Hôm nay chúng ta học cái bài Nikaya cuối là chúng ta tạm ngưng Nikaya ở đây để mà chúng ta đổi qua cái môn khác. Thì hôm nay chúng ta học hai bài kinh ngắn trong Tiểu Bộ kinh. Kinh Tiểu Bộ thì gồm hai cuốn sách gồm nhiều cái phần kinh trong đó như là Trưởng Lão Ni Kệ, Trưởng Lão Tăng Kệ, tức là nói lên những bài kệ và sở hành tổng quát của một vị Tỳ kheo ni hay một vị Tỳ kheo tăng khi những vị này đắc đạo. Và chúng ta có bài Kinh Tập là những bài kinh ngắn ngắn mà hôm nay chúng ta dẫn ra hai bài là Kinh Người Cày Ruộng và Kinh Từ Bi.
[1:35]Rồi có Kinh Pháp Cú cũng ở trong Tiểu Bộ, có Kinh Phật Thuyết Như Vậy cũng trong Tiểu Bộ. Mà vì chúng ta không có thời gian nên chúng ta không có nghiên cứu hết được. Chúng tôi chỉ trích dẫn hai bài ngắn cũng là quý thầy sẽ thường hay gặp để biết vì những cuốn sách mà nói về đạo Phật thì cũng thường hay nói về hai bài kinh ngắn này, chúng ta xem qua cho biết vì sau này khi quý thầy lớn lên đi dạy thì những cái bài phổ thông như vậy mình phải nắm, phải nắm một chút. Thì trước hết là chúng ta học bài Kinh Người Cày Ruộng. Chúng ta nghe kể câu chuyện chút xíu. Kinh Bharadvaja, người cày ruộng: Như vầy tôi nghe, một thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Magadha
[2:22]tại núi Dakkhinagiri trong một làng Bà-la-môn tên Ekanala. Làng Bà-la-môn tức là làng này người ta theo đạo Bà-la-môn hết, giai cấp Bà-la-môn ở quây quần ở đây. Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Kasi Bharadvaja có khoảng 500 lưỡi cày sẵn sàng, 500 lưỡi cày sẵn sàng tức là bao nhiêu nông công nhân? Cũng phải 500 công nhân làm việc cho ông này, ổng rất là giàu có. Vì là thời gieo mạ, rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm bát đến chỗ Bà-la-môn Kasi Bharadvaja đang làm việc. Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Bharadvaja đang phân phát đồ ăn cho công nhân của ông. Rồi Thế Tôn đi đến chỗ phân phát đồ ăn. Sau khi đến, ngài đứng một bên.
[3:09]Bà-la-môn Kasi Bharadvaja thấy Thế Tôn đang đứng một bên để khất thực liền nói với Thế Tôn, "Này Sa-môn, ta cày và ta gieo, sau khi cày, sau khi gieo, ta có ăn. Và Sa-môn cũng hãy như vậy, hãy cày và gieo, sau khi cày và gieo sẽ ăn." Đức Phật mới trả lời, "Này Bà-la-môn, ta cũng cày và cũng gieo, sau khi cày và sau khi gieo, ta cũng có ăn." Ông nói, "Nhưng chúng tôi không thấy cái ách hay cái cày, hay lưỡi cày, hay gậy thúc hay con bò đực của tôn giả Gotama, vậy mà tôn giả Gotama nói là tôn giả có cày, có gieo và sau khi có cày, có gieo cũng có ăn." Thì là sao? Thì Bà-la-môn Kasi Bharadvaja nói một bài kệ,
[4:00]"Ngươi tự nhận, ngươi tự nhận người cày, ta không thấy người cày. Hãy trả lời chúng tôi đã hỏi về người cày, chúng tôi muốn biết rõ người cày như thế nào." Thế Tôn trả lời, "Lòng tin là hạt giống, khổ hạnh là cơn mưa, trí tuệ đối với ta là ách và lưỡi cày. Tàm hổ là cán cày, ý là sợi dây buộc và niệm đối với ta là lưỡi cày, gậy thúc.
[4:32]Với thân khéo phòng hộ, với lời khéo phòng hộ, với món ăn trong bụng biết tiết độ, chế ngự, ta tác thành chân thật để cắt dọn cỏ rác. Sự giải thoát của ta thật hiền lành, nhu thuận, với tinh cần, tinh tấn, ta gánh chịu trách nhiệm, ta tự mình đem lại an ổn mọi khổ ách. Như vậy, ta đi tới không trở ngại, thối lui. Chỗ nào ta đi tới, chỗ ấy không sầu muộn. Cày bừa là như vậy, được quả là bất tử. Sau cày bừa như vậy, mọi khổ được giải thoát." Sau cái đoạn này thì Bà-la-môn Bharadvaja thay đổi quan điểm hẳn lại, từ một cái châm biếm, xỏ xiên, không muốn cúng dường, thì ông lại cảm động và lấy cái bát bằng đồng trắng đổ đầy cháo và sữa cúng dường Đức Phật.
[5:24]Thưa, "Tôn giả Gotama, hãy dùng cháo sữa. Tôn giả là người đi cày, tôn giả Gotama đi cày quả bất tử." Đức Phật từ chối này, "Ta không hưởng vật dụng do tụng kệ đem lại, đây không phải là pháp của bậc có chánh kiến, chư Phật đều bác bỏ tụng hát các bài kệ. Khi pháp được hiện hữu, truyền thống là như vậy. Hỡi này Bà-la-môn, ngươi cần phải cúng dường đồ ăn, vật uống khác bậc Đại sĩ toàn diện đã đoạn các lậu hoặc, đã lắng dịu dao động, ngài chính là thửa ruộng cho những ai cầu phước." "Vậy thưa tôn giả Gotama, con sẽ cho ai cháo sữa này?" "Này Bà-la-môn, ta không thấy ai ở trên thế giới với chư Thiên,
[6:09]chư Ma, Phạm thiên trên đời này với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn với chư Thiên và loài người có thể tiêu hóa được món cháo sữa này trừ Như Lai hay đệ tử của Như Lai. Vậy này Bà-la-môn, ngươi hãy đổ cháo sữa này trên chỗ không có cỏ xanh, hãy nhận chìm trong nước không có sinh vật." Rồi Bà-la-môn đem cháo sữa ấy nhận chìm trong nước không có sinh vật. Cháo sữa ấy khi bị đổ xuống nó sôi lên, sôi lên sùng sục, nó phun khói, nó bốc khói ví như một lưỡi cày phơi cả ngày dưới ánh nắng được đem quăng xuống nước, lưỡi cày ấy sôi sùng sục, phun khói, nó bốc khói lên. Cũng vậy, Bà-la-môn hoảng hốt, rợn tóc gáy đi đến Thế Tôn, cúi đầu đảnh lễ Thế Tôn và bạch Thế Tôn.
[6:51]Ông xin quy y, ông ca ngợi và xin quy y rằng, "Như người dựng lại những gì đã bị quăng ngã, mở toang ra những gì đã bị che kín, chỉ đường cho kẻ đi lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để người ta có thể nhìn thấy, cũng vậy, Pháp đã được tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày. Con xin quy y tôn giả Gotama, quy y Pháp, quy y chúng Tỳ-kheo-tăng, mong rằng con được xuất gia với tôn giả Gotama, được thọ đại giới." Ông này trong giây phút thay đổi hoàn toàn tâm hồn như vậy. Thọ đại giới không bao lâu, tôn giả sống một mình viễn ly không phóng dật, nhiệt tâm tinh cần, rồi ông ông đạt được cái cứu cánh trong hiện tại tự mình
[7:34]với thắng trí chứng ngộ chứng đạt và an trú cứu cánh phạm hạnh ấy. Vị ấy biết rõ sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa. Tôn giả Bharadvaja trở thành một vị A-la-hán nữa. Cái bài kinh như vậy. Thì ở đây chúng ta điểm qua lại, thì câu chuyện này thì ở đây chúng ta thấy là người Bà-la-môn ở Ấn Độ họ là giai cấp có học, được trọng vọng, đó là gọi là giai cấp cao nhất trong bốn giai cấp của xã hội Ấn Độ. Thời đó ít có người biết chữ, chỉ có người Bà-la-môn thì biết chữ nhiều và họ biết cách làm thơ làm văn nên ở đây ông Bà-la-môn này sau khi đối thoại vài câu nói với Đức Phật đã bật
[8:19]lên thành một bài kệ để hỏi Đức Phật bằng kệ, và Đức Phật cũng trả lời bằng kệ. Thời này ví dụ như mình nói chuyện với nhau rồi chợt nhiên cái mình nói chuyện bằng thơ với nhau thì mình thấy nó hơi lạ tai, thì thấy cái người này giống người trên phải không? Tự nhiên đang nói chuyện nhau tự nhiên mình xổ thơ mình nói chuyện với nhau cái người ta nghe người ta nói mình người cõi trên chứ không phải người cõi dưới. Nhưng mà hồi xưa thì như vậy hơi thường, mà tại sao vậy? Là tại vì ông bà mình hồi xưa xưa đó vấn đề mà chữ viết, văn tự nó không có được phổ biến lắm, cho nên người ta hay dùng một lối nói nào đó để gây ấn tượng và dễ nhớ.
[9:00]Thì cái lối mà gây ấn tượng dễ nhớ đa phần là gì? Là là thơ, là thơ dễ nhớ. Mà giống như Việt Nam mình cũng vậy, ông bà mình thời xưa cha hay nói chuyện nhau bằng những câu ca dao lục bát mà dễ nhớ lắm. Ví dụ như quý thầy không biết có còn được nghe người lớn hay nói chuyện nhau lát cái tự nhiên bật thành câu ca dao lục bát, quý thầy có hay nghe không? Thế hệ quý thầy là bớt rồi, phải không? Chứ như thế hệ của tôi hồi nhỏ đó là thường được nghe lắm. Rồi tôi nghe mẹ tôi nè, bà cố tôi nè, hễ nói qua nói lại, hễ rầy ai một cái là cũng đem câu thơ câu ca dao đồ ra nói, nó quen. Nhưng mà tới thời đại này rồi tôi thấy bắt đầu mẹ tôi cũng hết.
[9:42]Chắc bà cũng bị theo thời đại rồi cũng quên dần dần. Giờ cũng không còn ai nói nữa. Mở miệng cứ nói thơ hoài, ta nói mình người cõi trên, thôi nín luôn. Chứ hồi nhỏ tôi vẫn còn nghe. Rồi những người bà con tự nhiên ngoài Huế lớn tuổi già già, thấy nói chuyện lát cũng lòi câu thơ ra. Hoặc là những người lớn, người Bắc cũng vậy. Rồi sau này cái họ bớt đi. Vì cái thời đó nói những câu đó dễ, nên cái văn hóa mà dùng thơ văn là thường lắm. Ví dụ như là một bà cụ vậy, thấy con cái cự nự, nói xấu người này nói xấu người kia, cái bà mới khuyên: "Lòng... Trách người, nói người phải nghĩ đến ta, rờ tay lên trán xem xa hay gần."
[10:23]Nghe cái mình nhớ luôn suốt đời luôn cái lời dạy đó cô đọng vậy. Mai mốt mình muốn trách ai cái mình rờ rờ lên trán mình cái, đó như vậy. Nên cái hay như vậy. Ví dụ như những lời dạy của của người xưa vậy. Thí dụ như hai người chơi với nhau một thời gian, người này trách người kia là tệ bạc. Vì coi cái ông bà nghe thấy vậy mới khuyên, nói là: "Trách người một, trách ta mười, bởi ta tệ trước nên người bạc sau." Nghe vậy cái giật mình, chắc mình cũng cà chớn gì đó, người ta mới đối xử mình vậy. Cho nên, nghe những câu thơ cô đọng, ngắn ngủi một chút mà mình thay đổi quan điểm, mình được giáo dục tốt, những bài thơ vậy.
[11:03]Hoặc là cái người lớn thấy cái đôi vợ chồng trẻ nuôi con ăn học, cho nó ăn học nhưng mà cái thái độ của hai vợ chồng đối với thầy giáo của con coi vậy nó thường, cho nên có câu rằng: "Muốn sang thì bắc cầu kiều, muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy." Những câu ca dao như vậy cái là cảnh giác con người phải biết yêu quý thầy giáo. Những cái lời nói nho nhỏ, nho nhỏ vậy nhưng mà làm cho chúng ta dễ nhớ, đầy ấn tượng. Một lời nói ngắn ngủi một chút mà có đôi khi thay đổi tâm hồn của mình. Phải không? Quý thầy có thấy vậy không? Thấy vậy, quý Phật tử thấy vậy không? Cái thời cái những câu ca dao nó làm thành tâm hồn,
[11:45]nó làm thành văn hóa của cả dân tộc, trong đó rất nhiều đạo lý được lưu truyền, mà nó sống động, sắc bén và cô đọng thật là hay như vậy. Nên cái văn hóa Việt Nam cũng vậy và người Ấn Độ thời xưa cũng vậy. Nên họ quen lối nói chuyện với nhau bật thành cái bài kệ, một bài thơ dài. Thì ở đây, ông Bà La Môn này hỏi Đức Phật bằng một bài thơ,
[12:11]thì Đức Phật cũng trả lời thành một bài thơ rất là dài, thành một bài pháp ngắn và thay đổi hẳn tâm hồn của ông. Đây trong trường hợp này, ta thấy điều này. Hồi sáng tôi giảng ngoài Thiên Phước tới cái đoạn này tôi cũng muốn khóc, vì Đức Phật chúng ta vậy, Ngài ôm cái bình bát Ngài đi khất thực. Cái cảnh đó mình mình mũi lòng mình chịu không nổi. Mặc dù cái thời đó cái hình ảnh đó là là bình thường. Là một bậc đạo sư, một vị tu sĩ thì không có cái cách sống nào khác ngoài cái là đi khất thực, những vị Sa Môn á. Còn giai cấp Bà La Môn thì họ cũng là đại diện cho một tôn giáo, nhưng mà họ được quyền có vợ,
[12:53]có con, có nhà cửa, có ruộng đất, rồi có nhiều công nhân đầy tớ, nuôi nhiều thú vật, người giai cấp Bà La Môn họ được như vậy. Rồi đến khi trong làng ở đâu đó có cái nhu cầu cúng kiến thì họ đi tới đó họ tụng họ cúng, là họ hướng dẫn tinh thần. Họ được quyền như vậy, nghĩa là họ vừa như một tu sĩ, mà vừa như một gia chủ giàu có, giai cấp Bà La Môn được quyền như thế. Nhưng những người Sa Môn thì không được như vậy, họ phải sống đời sống không gia đình, và chỉ được đi xin ăn, nên hình ảnh một người người tu sĩ đi xin ăn là bình thường, và Đức Phật chúng ta cũng sống bằng cái hình ảnh đó. Ngày hôm nay thì hình ảnh đó quá xa lạ,
[13:37]và chúng ta thấy Đức Phật là cái Đấng cái Đấng mà mình tôn kính tuyệt đối. Tức là mình sẵn sàng bỏ hết cái thân mạng này, mình sẵn sàng chết vì Đức Phật. Nếu mà bây giờ chúng ta gặp được Đức Phật, chúng ta thấy được Đức Phật hiện diện thực sự ở cuộc đời này thì mình mình chấp nhận bất cứ cái điều gì trong cuộc sống này, miễn để làm một điều gì đó cúng dường Đức Phật, dù điều đó rất nhỏ nhoi. Tức là nếu lúc đó Đức Phật, mình mình chết để làm được điều gì cho Đức Phật mình chết liền. Giống như ngày xa xưa khi Đức Phật mà nằm dưới bùn để cho Phật Nhiên Đăng bước lên, đi qua cái chỗ mà sình lầy, thì Ngài nằm xuống để cúng dường Đức Phật.
[14:20]Ngài trải tóc, Ngài nằm cái thân Ngài xuống, lúc đó cái đoạn đường bùn, thì Đức Phật Nhiên Đăng bị Ngài xin, nghĩa là xin Thế Tôn hãy bước lên người con để đi qua đoạn đường lầy này, cho con xin được công đức này. Thì Đức Phật Nhiên Đăng mới bước lên thân người Ngài, bước lên tóc Ngài bước qua và quay lại thọ ký liền: "Vào đời sau này ở thế giới Ta Bà, ngươi sẽ thành Phật hiệu là Thích Ca, ở trong cõi ác trược." Vì cái hình ảnh mà Đức Phật dấn thân xuống bùn để cúng dường lên Phật Nhiên Đăng, hình ảnh đó là biểu tượng cho muôn kiếp sau này, là ngươi sẽ vào trong cái cõi bùn lầy như thế ở thế giới này để thành Phật giáo hóa chúng sinh.
[14:57]Cái tâm của Đức Phật thời xưa, thời xưa là như vậy, tôn kính với chư Phật quá khứ là như vậy, chúng ta ngày nay cũng như vậy. Đối với Đức Phật vậy, chúng ta hết lòng tôn kính, chúng ta có thể bỏ tất cả, bỏ cả thân mạng này miễn làm điều gì rất nhỏ cúng dường chư Phật. Đức Phật là Đấng mà chúng ta tôn kính tuyệt đối như vậy. Vậy mà khi Đức Phật ôm bình bát đi đến khất thực nơi cái ông Bà La Môn gia chủ đó, thì ông đã không cho mà còn nói dèm xỉm. Cái câu chuyện này nếu mà ngừng ngang đó mình chịu không nổi. Mình đau lòng không chịu nổi, phải không? Hình ảnh mà Đức Phật mình tôn quý như vậy, mà gặp cái ông Bà La Môn như vậy,
[15:39]đã xin khất thực là Ngài khiêm tốn lắm rồi, mà còn nói xỏ nói xiên nữa: "Nè tôi phải đi làm tôi mới có ăn, ông có ngon ông đi làm đi rồi ông cũng sẽ có ăn chứ đi xin chi vậy?" Đó vậy. Đây là một cái cái sự khước từ mà khước từ ở cái nhu cầu căn bản nhất. Nó không gì đau bằng cái này. Trong thực tế cuộc sống, không gì đau bằng cái việc khước từ một miếng ăn hết. Dĩ nhiên trong cuộc sống chúng ta, chúng ta cũng đã nhiều lần đối diện với việc mà chúng ta bị khước từ, bị chỉ trích, bị xỏ xiên, bị công kích, chúng ta nhiều lần, trong suốt cuộc sống này ai cũng bị hết, phải không? Nhất là quý Phật tử, là mình va chạm trong cuộc đời,
[16:20]đã có nhiều lần mình nhờ vả một điều gì đó trong lúc mình cần thiết, nhưng cũng đã có người khước từ. Những lúc đó mình cũng buồn lắm, phải không? Buồn. Mà trong đó, trong những cái khước từ á thì khước từ miếng ăn là dữ dội nhất. Ví dụ bây giờ mình nói mình qua người hàng xóm mình nói: "Giờ em đi đám cưới, mà cái áo chưa lấy về kịp, chị cho mượn đỡ cái áo dài." Người kia từ chối: "Nói dạ xin lỗi là thứ nhất ông xã tôi ổng khó, không muốn cho ai mượn đồ tôi mặc. Thứ hai nữa là lát tôi cũng đi tiệc." Thì về mình có buồn không? Cũng buồn buồn chút, nhưng cái đó không nhiều lắm, cái mặc. Hoặc là mình kẹt tiền, qua nhà hàng xóm nói:
[17:03]"Cho tôi mượn đỡ vài triệu, ít bữa tôi trả." Người ta nói: "Tôi cũng đang kẹt tiền." Mình buồn không? Cũng buồn nhưng mà không nhiều lắm. Là có nhiều điều mình cũng xin xỏ, nhờ vả rất nhiều lần trong cuộc đời mình, rồi có khi mình cũng bị khước từ thì cái cũng làm mình buồn, nhưng mà cái ít. Nhưng mà cái miếng ăn á, ví dụ bước vào một cái phòng ăn có nhiều người họ đang ăn, không ai nói tới mình hết. Cái đó rất là đau, rất là tự ái. Nên ông bà mình có nói: "Miếng ăn là miếng tồi tàn, mất ăn một miếng lộn gan lên đầu." Đâu cũng lòi ra câu nữa. Như cái chuyện bên hồi Đông Chu Liệt Quốc vậy. Cái lần ông vua đó ổng đãi có món thịt dê đặc biệt,
[17:45]ổng đãi hết cái quan quần thần ở trong triều, mà ổng cố ý không mời một ông. Cái là ổng đi ổng gắp từng người từng người, nhưng mà tới một ông quan ổng bỏ ổng đi qua, ngầu ngắp. Ông kia ngồi đó điếng người hết trơn. Sau đó bỏ đi qua đầu quân ở bên nước bên kia, dắt quân về đánh tan ông này luôn, đánh mất ngôi vua luôn. Cái mối thù căm hận như vậy. Nên cái tự ái về miếng ăn nó dữ dội lắm. Chúng ta thấy ví dụ như quý thầy, quý thầy bước vào phòng có ba bốn huynh đệ à mỗi người lúc đó đang ăn cái bánh gì đó, mà bánh trên bàn vẫn còn, thấy mình họ lơ họ không mời, mình thấy sao? Mình thấy mình bị xúc phạm nặng nề. Xúc phạm nặng nề.
[18:23]Bởi vì miếng ăn là cái miếng gì nó căn bản nhất, đơn giản nhất, mà người ta phải có bổn phận đối đãi lịch sự, ân cần với nhau. Vậy mà người ta lơ không mời mình ăn thì mình không chịu nổi, nó đau dữ lắm. Nhưng cái mức độ tâm lý tâm lý mà khi chúng ta khi chúng ta gặp cái sự khước từ công việc á hoặc là miếng ăn, những cái những cái quá trình tâm lý nó xuất hiện. Thí dụ như cái ông quan đó là ổng hận thù khi bị khước từ miếng ăn, hoặc có khi là chúng ta tự ái khi bị khước từ. Khi mình xin cái gì, mình nhờ cái gì đó, người ta không cho mà còn nói xỏ nữa, thì những diễn biến tâm lý nó phản ứng thế nào?
[19:03]Nặng nhất là hận thù, kế đó là mình tự ái, không thù nhưng buồn mình tự ái. Tôi nhớ có câu chuyện, hồi đó tôi gặp cái anh đó, anh kể chuyện là hồi trước giải phóng, anh làm cho cơ quan của Mỹ. Cơ quan này chuyên môn đi khoan lấy mẫu đất, mẫu đá ở mấy vùng này, tỉnh này, tỉnh kia của Việt Nam. Mới đầu anh chỉ là tài xế, rồi sau đó anh theo anh học nghề, cái làm được người ta cũng giao anh làm một trưởng toán, đi khoan chung, lấy mẫu đem về nộp cho cơ quan của Mỹ, giống như lúc đó Mỹ thăm dò địa chất gì của Việt Nam á. Thì anh kể là có một buổi trưa gần tới bữa ăn, anh chưa ăn cơm, thì chợt có cái lệnh có một người Mỹ tới yêu
[19:42]cầu anh phải đi mang đồ theo để đi với ông ta khoan cái mẫu nào ở đâu á. Mới leo lên chiếc trực thăng đi với người Mỹ đó, thả xuống cái vùng đó. Thì đi xe Jeep đi tới cái vùng đó, cái bắt đầu khoan lấy mẫu đo đạc đồ gì đó. Tới buổi trưa, đúng giờ ăn thì người Mỹ đó bắt đầu mới lấy đồ hộp ra ngồi ăn một mình, để anh ngồi một mình đó anh dòm. Rồi anh không hiểu, anh sững sốt, tại vì văn hóa Việt Nam mình không có chuyện đó, phải không? Tới giờ ăn là không thể nào mà không mời nhau một tiếng. Nhưng mà cái kiểu Mỹ này nó kỳ quá, không hiểu, bắt đầu anh hơi ngạc nhiên. Ngạc nhiên qua bắt đầu tới tự ái, tự ái bắt đầu ổng tới căm phẫn,
[20:19]chịu không nổi lại ổng đánh thằng Mỹ đó giọng một cái. Thì dĩ nhiên là Mỹ Việt Nam mình đánh sao lại Mỹ, ảnh thì thuộc loại nhỏ con nữa, vừa đánh một cái trúng mặt cái là lại nó túm ảnh, nó ôm ảnh, nó gói ảnh cái xách cặp tai đem lại nó bỏ lên xe Jeep nó lái đi luôn. Thì cái chuyện chuyện đó nó còn dài dài, đại khái là vậy đó. Thì ở đây đó mình không có giải thích tiếp, nhưng mà đại khái như vậy đó, là trước cái miếng ăn mà từ chối con người ta bị bị sốc dữ dội lắm vì nó là một sự xúc phạm. Nó không phải chỉ riêng là đói mà nó là một sự xúc phạm, vì người Việt Nam cái văn hóa Việt Nam mình cái đối xử căn bản,
[20:54]đơn giản với nhau nhất vẫn là cái miếng ăn, miếng uống. Mời nhau miếng ăn, miếng uống, bây giờ còn thêm mời thuốc lá nữa, còn có cái tệ đó nữa. Nhiều khi tôi cứ ngạc nhiên hoài, ba thứ độc hại mà gặp nhau mời mà coi như là lịch sự lắm. Không biết sao kỳ, nó đưa thuốc độc nhau mà mời coi vui vẻ lắm, mà không có thuốc lá cái khó nói chuyện, không hiểu. Không biết nói có đụng chạm ai ngồi ngoài kia không. Thôi từ đây nha đừng có mời thuốc độc nhau nữa. Rồi ví dụ như khi mình tu có tiến hơn, mình đạt được cái cái tâm này, ví dụ như bây giờ mình không có tự ái ra mặt thì mình im lặng. Im lặng trong cái lặng lẽ đó nghĩa là mình giấu được cái phiền
[21:30]não của mình, mình không có hận thù ra thái độ, mình không tự ái ra thái độ, mình dằn đè nén cảm giác mình xuống, im lặng. Im lặng nặng nề. Ví dụ lỡ như hôm nào đó quý thầy đang vui vẻ bước vô phòng gặp mấy huynh đệ mình, mỗi người thì đang đang là đang ăn một cái trái cóc, cóc mà cóc chín vàng, trên bàn còn một trái, nói thôi đừng nuốt nước miếng, cóc chín vàng. Thấy mình vô cái họ quay chỗ khác, họ tiếp tục nói chuyện như không có mình. Do mình biết tu, mình không bày tỏ thái độ, mình lặng lẽ im lặng đi ra, thề trong lòng không bao giờ nói chuyện với mấy người huynh đệ đó nữa. Đó là mình im lặng thôi đó, nhưng mà giấu cái thái độ mình lại.
[22:14]Còn trường hợp mà người biết tu á thì bình thản. Nghĩa là trong tâm coi như không có chuyện gì, không giận, không hờn, không buồn gì hết. Để không bày tỏ cái thế, cũng à thấy người ta không mời mình, thôi cũng coi như không có chuyện gì, cũng không hỏi xin, người ta không mời mình ăn, thôi kệ, rồi cúi vô phòng mình làm việc của mình lặng lẽ, tâm không động. Người như vậy là có tu dữ lắm nè. Ở đây mình tu chừng mấy năm thì được như vậy? Tu chừng mấy năm? Mấy năm, Chơn Hiến, cả đời? Nó không đến nỗi đâu, coi vậy chứ không đến nỗi, mình tinh tấn chút xíu chừng vài năm cũng đạt được. Có điều tôi chưa đạt được.
[22:50]Xin báo cho quý thầy là tôi chưa đạt được nha. Cho nên khi quý thầy có ăn gì gặp tôi xin vui lòng mời một tiếng. Mà ở cấp độ cao hơn nữa đó, cấp độ cao hơn nữa thì trước cái tình hình căng thẳng đó, nặng nề đó, chúng ta hóa giải luôn, hóa giải cho nó mất cái tình trạng đó luôn. Nghĩa làm cho người ta đang lơ mình, người ta đang căng với mình, người ta ác cảm mình biến thành người ta vui với mình, thì đây là hóa giải. Hóa giải này có hai cách. Một cách á là một bài pháp, một cái bài pháp nghiêm trang như Đức Phật, nói lên một giáo pháp, đó là trường hợp Đức Phật làm. Vì Ngài là một bậc đạo sư cho nên Ngài đã hóa giải
[23:28]cái này bằng một cái giáo pháp nghiêm trang. Còn trường hợp chúng ta đây, nếu mà mình là người tự chủ, đạo lực mạnh thì mình hóa giải bằng một cái cái lời nói khôi hài nào đó, khôi hài nào đó thì nó cũng tan biến cái tình trạng căng thẳng đó đi. Ở đây đó hai cái này là hai cái tốt nè, phải không? Cái bình thản này là Định, còn cái mà nghĩ ra được cái điều gì trong đó tức khắc để mình hóa giải tình trạng đó đi gọi là Huệ, tức là cái Dụng. Cái Định mình phải sâu một chút mình mới có cái Dụng, có cái Huệ. Nghĩa là người tu tập cũng vậy, phải có sức Định một chút rồi mới có thần thông, chứ bình thường chúng ta chỉ bình thản,
[24:06]tự tại chứ mình không thể nhanh nhạy, sáng suốt được. Thì ở đây vậy, cái hóa giải như vậy. Ở đây trong cái trường hợp này, chúng ta học bài kinh này chúng ta thấy những cái nghịch cảnh mà Đức Phật phải đối diện trong khi Ngài đi giáo hóa nó không có ít, cũng rắc rối lắm chứ không phải ít. Mà đây là một trường hợp nho nhỏ, một trường hợp nho nhỏ là Ngài đã bị xúc phạm. Nghĩa là đã không cúng dường, mình nói bình thường là không cho ăn đi, mà còn nói xỏ nói xiên nữa. Ngài đã bị xúc phạm. Trong cuộc giao cuộc đời giáo hóa của Ngài không có đơn giản. Chúng ta có đầy đủ tất cả những tấm gương về cái việc mà làm việc đạo,
[24:47]về Phật pháp, về cuộc sống trên đời này, chúng ta học nơi Đức Phật đầy đủ hết. Ngài phước đức là vô biên vô lượng. Khi Ngài xuất hiện, Ngài cuốn hút chúng sinh theo mình rất là mạnh. Nghĩa là khi người ta gặp Đức Phật, ngoài cái việc mà người ta người ta bị thuyết phục bởi giáo lý, ở đây người ta còn bị thuyết phục bởi nhân cách của Đức Phật nữa. Nghĩa là khi nhìn thấy tôn nhan của một cái con người, Ngài có tướng đẹp lắm, cao to, gương mặt đẹp đẽ, cả cái hình dáng Ngài thong dong, nghiêm trang. Ngài đẹp đến từng cái ngón tay, từng cái sợi tóc của Ngài cũng đẹp nữa. Từng cái ánh mắt nhìn từ bi mà sáng rực.
[25:32]Ngài ít khi cười, nhưng mà Ngài cười một cái là giống như ánh mặt trời xuất hiện giữa giữa đêm đen vậy. Cái nụ cười Đức Phật á. Ngài ít cười, Ngài nghiêm trang lắm, nhưng mỗi khi có chuyện gì Ngài nở mỉm một nụ cười nhè nhẹ là giống như cả bầu trời rực lên ánh sáng á. Rồi từ cái tướng đi thong dong này. Nghĩa là người mình nhìn Ngài mình tưởng như đó là một ngọn núi chứa đầy châu báu vậy. Phật đẹp như vậy. Nên người ta bị thuyết phục bởi cái nhân cách, bởi dung mạo của Đức Phật, người ta đổ theo. Mà một khi người ta đổ theo như vậy thì một điều không thể tránh khỏi là Đức Phật buộc phải chịu cái sự ganh tị, buộc phải chịu.
[26:11]Đó là quy luật muôn đời, không tránh khỏi, dù Đức Phật rất có phước, Ngài vẫn phải chịu đựng cái sự ganh tị của con người. Ở đây nghịch những cái giáo phái khác cũng đã chống đối Ngài cũng dữ dội lắm. Họ bêu xấu Ngài, nói xấu Ngài, vu khống đủ điều hết. Nghĩa là có một cô cho độn bụng giả để nói rằng để vu oan cho Đức Phật, giết một người thiếu nữ chôn dưới tinh xá để vu oan Đức Phật, vân vân đủ thứ hết. Cuộc đời Ngài sóng gió. Và ở đây chúng ta học bài kinh này, chúng ta
[26:46]học hỏi được một lần Đức Phật đã phải đối diện với nghịch cảnh nho nhỏ như thế nào. Nói nho nhỏ chứ cũng đau lòng lắm, chúng ta chịu không nổi. Thì ở đây cái cách mà Ngài đã hóa giải sự kiện như thế nào, chúng ta theo dõi từng bước rồi sẽ thấy. Thứ nhất là Đức Phật Ngài tùy thuận tùy thuận với cái sự công kích của người đó, nói là: "Ông hãy đi làm đi, ông hãy đi cày ruộng và ông sẽ có ăn." Đức Phật trả lời liền: "Ờ, ta cũng cày ruộng, ta cũng có ăn." Cái câu nói không có chống lại, rồi bắt đầu mới giải thích thành một đạo lý. Cái hay là như vậy, là tùy thuận trước cái sự chỉ trích của người ta như vậy.
[27:27]Ví dụ như bây giờ mình gặp người nào đó cái cái mình nói thế này, ví dụ như người ta nói thế này, ví dụ cái người nào đó họ không biết đạo Phật, họ thấy quý thầy đi qua đi lại ngang, cái ngồi cái nó nói nó nói lớn lên với nhau cho quý thầy đi ngang, cố ý quý thầy đi ngang nghe chơi. Nói: "Ờ, cái thứ mà mà xấu hoắc, hết xài rồi mới làm thầy chùa." Ví dụ nói như vậy, rồi mình đi ngang mình nghe một câu vậy, thì lúc đó làm sao? Thì bình- một là mình bình thản đi luôn. Hai là mình im lặng không nói gì, chẳng lẽ quay lại cãi lộn người ta, đi luôn. Mà nếu mình sức mạnh nhiều thì mình quay lại mình trả lời một câu.
[28:08]Quay lại mình trả lời một câu nào đó. À thì mình nói ví dụ mình nói rằng là hồi chưa đi tu còn xấu hơn nữa đó. Thấy mình nói một câu vui vui nhẹ nhẹ rồi chứng tỏ mình không giận. Nghĩa là mình chấp nhận người ta nói mình xấu, không có chối là: "Tôi còn đẹp hơn mấy người nghe", này kia nọ, cãi, bắt đầu là thành chuyện. Quay qua mình cười, "Hồi chưa đi tu còn xấu hơn bây giờ nữa", cái thôi người ta huề, người ta không nói gì nữa. Đó. Trong đây cái việc mà mình tùy thuận theo cái sự chỉ trích người khác, nó làm cho tình hình dịu hẳn đi. Chúng ta câu chuyện này trong Góp nhặt cát đá, thì lúc đó vào một lúc gấp gáp,
[28:46]cái người ở nhà bếp đi ra mới cầm cái lưỡi liềm để hái rau. Ổng hái rau ổng chụp, ổng nắm từng đầu rau ổng cắt cắt cắt luôn cái đầu con rắn ở trỏng, đem vô ổng nấu canh. Ổng cái trình độ quý thầy- cái ông thầy mà nấu bếp đó thì cũng gần bằng trình độ quý thầy Thiền Khánh, cắt rau không lặt mà đem mo- nấu luôn vậy. Cho nên cái nồi cơm nồi canh hôm đó thì tương đối là khá hấp dẫn. Rồi trời bất dung gian sao cái múc cho ông thầy cái tô canh thấy lọt cái đầu con rắn ngay ông thầy luôn. Mà không biết sao kỳ, trên chùa tôi tôi cũng bị cái đó đó. Nghĩa là mấy đệ tử tôi không biết ăn sao hay là ăn nhiệt tình quá không
[29:21]biết gì hết, mà cái mâm của tôi luôn luôn tôi phát hiện đủ thứ hết. Kể cả tóc rồi cứt chuột gì tùm lum trong cái món ăn. Thôi có lần tôi nói vui vui, tôi nói tôi có một lần huynh đệ tôi tới nói, "Cái chùa của tôi ở đây mấy cô nấu ăn hay lắm. Nghĩa là rau muống nấu canh với tóc, rong biển chiên với cứt chuột, ở đây đầy đủ hết." Họ thấy kỳ. Thì cái trường hợp đó cũng vậy, cái ông thầy trụ trì sao tới chừng ổng ổng gắp lên thấy con cái đầu con rắn, ổng mới gắp cái đầu ổng đưa lên, ổng không nói gì, ổng đưa lên cho cái người cho ông tăng nhà coi nhà bếp coi. Ông kia chạy lại lượm cái đầu bỏ miệng nhai luôn. Thì đó là gì?
[30:04]Trong cái tựa ghi là "ăn lời trách mắng", nghĩa là khi người ta công kích, người ta chỉ trích mình mình đón nhận hết luôn. Thì tình hình nó sẽ lắng dịu, chứ mình đừng có xô đẩy ra, mình đừng có chống đỡ trước cái lời công kích của người khác. Đó là cái cách để hoá giải mà sự tự tại. Cho nên từ đây về sau, người ta có công kích mình, mình nhận luôn, mình mình đón mình nhận luôn thì tình hình tự nhiên nó sẽ tốt lên. Nó có nhiều cái sự căng thẳng trong cuộc sống mà mình khéo khéo, mình tự chủ một chút xíu mình làm cho nó vui trở lại chứ đừng làm cho nó nặng nề. Như tôi nhớ, tôi đến cái nhà Phật tử vậy, thì nhà đó cũng là đạo Phật thuần,
[30:42]nhưng mà như không để ý dạy mấy đứa nhỏ nhiều lắm. Nó nhỏ chứ nó lớn lắm, lớn mười tám, mười chín, hai mươi mấy tuổi. Thì khi gặp quý thầy lại tỉnh bơ à, nó cười cười nó đi à. Thì lúc đó mình nếu mình bực á cái mình la, hoặc là mình trách nói: "Không thèm tới cái nhà này nữa, quý thầy tới không chào." Khi mà tôi đang đứng á, đang đứng nói chuyện thấy nó đi ngang mà nó không chào cái kêu lại liền, nói: "Con xấu ha, gặp thầy không chào ha?" Mình cười vui vui nói vậy, vừa rầy nó nhưng mà vừa nói cái vui, thế là nó giật mình nó biết lỗi, nó quay lại nó chào. Đó là những cách để mình hoá giải, nhưng mà trong lòng mình phải bình an, đừng giận.
[31:19]Tức là mình phải được cái bình thản này trước, rồi sau đó mình mới có cái hoá giải. Mà cái phương pháp để hoá giải thì trước hết là mình phải tuỳ thuận theo cái câu nói người ta. Cái cách người ta công kích mình, mình đón nhận hết. Rồi mình nhiều khi mình còn nói đùa mình nói còn nặng hơn nữa. Thí dụ như nói sao thầy tu thầy dữ quá vậy? Thì trả lời sao? Nói: "Hổng tu còn dữ hơn nữa." Nhận luôn à, không cãi, không cãi, chứ mình lúc đó mình mình rống lên cổ nói: "Tôi dữ hồi nào? Mấy người thấy tôi dữ hồi nào?" thì sao? Tình hình nó còn căng thẳng thêm nữa, phải không? Cho nên là đó cách thứ nhất là mình đón nhận luôn.
[31:56]Rồi cái thứ hai, tuỳ mình, nếu mà mình lúc đó mình làm Hoà thượng rồi đó thì thôi mình tuỳ thuận xong mình nói vui vui một bài pháp giống Đức Phật. Mà nếu mình chưa phải Hoà thượng á, ví như cỡ tôi trở xuống thì mình nói một câu gì vui vui cái tình hình nó mất. Đó là cái cách. Hôm nay vậy, chúng ta học cái bài kinh này nó có một cái ý nhỏ xíu nhưng mà chúng ta hay gặp trong cuộc đời để chúng ta thấy đánh giá cái mức độ đạo lực mình một chút. Bây giờ chúng ta nói về nội dung cái bài này một chút. Đức Phật mới trả lời thế này. Ông kia ổng hỏi: "Đức Phật cày ruộng như thế nào mà ngài nói ngài có cày ruộng?" Đức Phật trả lời:
[32:31]"Lòng tin là hạt giống, hạt giống ban đầu. Lòng tin ở đây, lòng tin ở đây còn có nghĩa là lý tưởng. Lòng tin hay lý tưởng là chúng ta tin chắc vào một cái kết quả, một cái mục tiêu cao xa phía sau, mặc dù trong hiện tại mình chưa rờ mó được, chưa thấy được nó. Ví dụ bây giờ quý thầy xuất gia vì mục tiêu nào? Giải thoát, phải không? Giác ngộ, Niết-bàn tuyệt đối gì đó. Quý thầy có ai chứng được cái đó chưa? Chứng được chưa? Chưa, phải không? Nhưng mà mình vẫn tin vào cái mục tiêu tối hậu đó. Thì cái niềm tin về cái mục tiêu đó, cái khát khao đạt được cái mục tiêu đó gọi là lý tưởng. Thì đó là cái nhân ban đầu, cái sự thúc đẩy ban đầu, cái mầm mống ban đầu.
[33:22]Thì Đức Phật nói như vậy: "Cái ban đầu để ngài làm cái việc cày ruộng này là cái lòng tin, tức là cái lý tưởng tu hành, lý tưởng hướng tới sự giải thoát." Hôm trước cái lần đầu tiên mà khi tôi giảng cái bài Tâm lý Đạo đức á, chúng tôi cũng có nói là cái rễ cái tượng trưng cho gì? Của một cái cây. Khi đưa ra hình ảnh cái cây á, tượng trưng cho cho lý tưởng giải thoát và lòng tôn kính Phật. Thì ở đây cũng là như vậy, đầu tiên là phải nói tới cái lòng tin là hạt giống. "Khổ hạnh Khổ hạnh là cơn mưa." Cái chữ khổ hạnh này chúng ta phải suy nghĩ khác một chút. Đừng nghĩ khổ hạnh là đày đoạ thân xác, sống một cái đời ép xác, không phải.
[34:02]Khổ hạnh này có nghĩa là chúng ta sống một đời sống thích hợp cho sự tu hành. Tức là cái người tu phải sống trong cái môi trường nào, sinh hoạt như thế nào, chúng ta phải làm đúng như vậy, thì gọi là khổ hạnh. So với người đời đó là khổ hạnh. Ví dụ như người đời họ có thể mặc quần áo nhiều màu, nhưng mình không được, gọi là khổ hạnh. Nhưng mình gọi là một sự thích hợp cho sự tu hành. Thì người đời người ta có thể ăn uống tuỳ ý, nhưng mình chỉ được ăn những món ăn cho phép, những món ăn thực vật cho phép thì đó là sự khổ hạnh. Hoặc là người đời có thể đi ca hát nhảy múa, đi chơi ở những nơi nào họ thích.
[34:43]Họ có thể là đi vào những cái nơi vui chơi nam nữ, nhưng mà người tu không được phép thì đó gọi là khổ hạnh. Cho nên khổ hạnh là cơn mưa, mưa tức là nước tưới á để cho cái hạt giống nó lớn lên thành cây. Vậy cái lý tưởng tu hành chúng ta phải được ươm, phải được tắm mát trong một cái đời sống thích hợp, chân chính. Chúng ta không được quyền sống sai cái đời sống đó, thì đó gọi là khổ hạnh. Khổ hạnh là cơn mưa làm cho cái đạo tâm chúng ta lớn lên từng ngày. Còn nếu chúng ta có lý tưởng xuất gia, nhưng mà rồi chúng ta không sống đúng với cái đời sống của người xuất gia, nghĩa là tuy có lý tưởng nhưng mà tối nay mình phải đi nhậu một chút, phải không?
[35:26]Sáng nay mình phải đi vô coi hát một chút, chiều thì mắc bận đi thăm người xưa một chút, ví dụ vậy. Nghĩa là hạt giống đó nó nằm ở đâu đó đó chìm trong đất, không bao giờ được nảy mầm, không bao giờ được tắm mát để nảy mầm. Còn mình sống một đời sống đúng với người tu thì hạt giống nó nảy mầm vươn lên từ từ. Hình ảnh rất là đẹp. Rồi, "Trí tuệ là ách cày. Trí tuệ đối với ta là ách và lưỡi cày." Tôi không có rành lắm về việc cày bằng trâu bằng bò, nhưng hồi sáng tôi có hỏi thì cái ách là cái gì cái cột cái lưỡi cày và nó đè lên cái cổ, phải không? Rồi khi con bò bước đi thì cái lôi cái ách nó và cái lưỡi cày nó kéo đi luôn.
[36:07]Nhưng ở đây cái quan trọng là lưỡi cày. Cái lưỡi cày. Đức Phật cho hình ảnh lưỡi cày là hình ảnh trí tuệ. Cái lưỡi cày cái nhiệm vụ nó làm cái gì? Lật đất lên, phải không? Lật tung lên, làm cho đất nó mềm, tơi xốp lại, thì tâm hồn chúng ta cũng vậy. Tâm hồn của chúng ta nào giờ chưa có cái tác động gọi là chưa có ánh sáng của trí tuệ hay chưa có lưỡi cày của trí tuệ lật tung lên thì tâm hồn của chúng ta là chai cứng. Chai cứng. Chai cứng là cái gì chai cứng? Ví dụ thế này, ví dụ như khi chúng ta nhìn thấy một người đau khổ, lòng mình tâm hồn thản nhiên, không có có xúc động. Hoặc mình nghe dân mình bị lũ lụt, nghe nhiều người mất nhà,
[36:55]mất cửa, mình nghe mình tỉnh, không có xúc động thì đó gọi là tâm hồn chai cứng. Đó cũng là một cái chai cứng là không có lòng từ bi. Hoặc là khi mình được người lớn dạy dỗ mình không nghe lời, mình lì, mình bướng thì tâm hồn như vậy cũng giống như một miếng đất chai cứng chưa được trí tuệ cày xới tung lên cho tơi xốp vậy. Đúng là chai cứng. Hoặc là khi chúng ta toạ thiền, mình muốn tâm mình vào định nó không chịu vào định, nó vẫn động thì tâm hồn đó gọi là chai cứng. Nên ở đây cái hình ảnh mà cái lưỡi cày nó xới tung đất lên nó làm cho tâm tâm mình mềm mại lại, đất tâm mềm lại, tức là mình thương yêu được con người trước nỗi khổ của con
[37:44]người, rồi mình biết vâng lời người lớn, mình thay đổi được tâm hồn mình để mình tu tập đạo tu tập thiền định, nhiếp tâm được, đó gọi là mình đưa cái lưỡi cày của trí tuệ cày xới, phá tan miếng đất tâm của mình, làm cho nó tơi xốp, mềm mại. Rồi còn một điều nữa, ở đây có ai đã từng cày ruộng với trâu với bò rồi xin giơ tay lên. Ủa, quý thầy không có ai là nông dân hết trơn hả? Có không? Có ai không? Có không? Ủa, sao quý thầy xuất thân từ dòng dõi nào quý tộc dữ vậy kìa? Thật sự không ai hả? Hồi sáng quý cô vậy chứ mà giơ tay ào ào hết trơn à. Quý cô giơ tay lên là đã từng cày bò cày đồ hết trơn à. Quý thầy không có hả?
[38:28]Thiệt không? Tự thú trước bình minh đi. Có không? Kì vậy ta? Quý Phật tử có không? Ủa, đời mới này sao kì vậy ta? Không không không cày bò, bây giờ có ai cày máy cày chưa? Có chưa? Rồi thôi, không cày bò thôi cày máy cày cũng được. Thì khi mà cái lưỡi cày nó đi đất nó cày tung đất lên thì chuyện gì xảy ra? Chuyện gì? Thấy cái gì? Những gốc, những cái rễ không? Những cái gì mà nó làm cho mình khó trồng trọt, nó bị xới tung lòi ra hết. Ví dụ như cái gốc rạ, những gốc rễ của cây nào đó bị lòi lòi lòi lên, phải không? Thấy không? Thấy người ta không đi cày ruộng mà nói còn rành vậy. Thì cũng vậy, dưới ánh sáng của trí tuệ hay là với cái lưỡi cày
[39:16]của trí tuệ cày xới tâm hồn, chúng ta thấy được lỗi của mình. Thấy được lỗi của mình. Từng cái gốc, từng cái rễ ngầm trong đất nào giờ bật tung lên, bật tung lên để chuẩn bị chúng ta gieo cái hạt giống đạo đức, giác ngộ lên đó. Nhưng mà trước đó người ta cày xới lên những cái rễ lầm lỗi trước đây cái đã. Là chúng ta thấy mình là người tham lam, thấy mình là người nhỏ mọn, thấy mình là người gian dối, vân vân, thấy ra hết. Nhưng mà cái việc mà cái lưỡi cày trí tuệ nó xới tâm hồn chúng ta như vậy có làm mình đau không? Đau không? Khi tâm mình bị cày xới như vậy mình đau không? Quý thầy đã cày chưa, hay là cày không đau, hay là chưa bao giờ cày? Đau không?
[40:01]Đau không? Sao quý thầy ngây thơ vô số tội quá vậy ta? Đau chứ sao không đau, phải không? Khi mà mình thấy được cái lỗi của mình như vậy đau lắm. Nó đau trên hai cái, một là mình nhờ sự chỉ dạy để mình thấy được lỗi của mình cũng đau lắm, hoặc là tự mình biết cũng đau lắm. Ví dụ như bây giờ có ông thầy của mình, vị thầy đầy đức độ, từ bi, thương yêu mình và mình rất tôn kính, gọi mình lên, nói: "Con hãy quỳ xuống!" Mới phân tích là: "Ngày hôm qua con đã làm điều đó như vậy là sai. Nghĩa là con đã làm thầy thất vọng. Con phải thay đổi." Thì mình không có tự ái lắm, nhưng mình đau không? Thầy mình rầy mình đau không? Đau chứ.
[40:44]Mặc dù là mình không tự ái, không giận, nhưng mình đau lắm. Vì thầy người mình tôn kính mà lại nghiêm khắc như vậy. Mà còn có những người nhiều khi họ không bằng mình nữa. Như ví dụ có người Phật tử nào mình thấy họ cũng không có phải là Phật tử thuần thành lắm, tự nhiên gặp lại: "Thầy thầy tôi nói thầy nghe nha. Thầy vậy là không được nha, thầy tu vậy là không được." Thì chắc là mình cũng có sơ suất gì đi, coi như mình cũng có sơ suất, nhưng mà kêu mình nói vậy mình đau không? Đau chứ. Có thể là đúng là họ có thấy lỗi mình đó, nhưng mà một cái người không phải người mình tôn kính, không phải cái người thương yêu mình mà lại nói
[41:19]cái lỗi của mình để cho mình thấy lỗi mình, đau lắm, phải không? Đau lắm. Một trường hợp khác nữa là mình tự mình biết. Ví dụ như mình có làm cái lỗi hôm qua mình lỡ mình nói nặng huynh đệ mình gì đó, trong cái đó mình có cái hơn thua gì đó. Qua tối đó mình tự biết: "À, tâm mình đó đã có hơn thua. Lời nói mình đã nói xúc phạm huynh đệ mình." Mình hối hận và đau. Đau không? Đau lắm. Nghĩa là cái gì cũng vậy, hễ mà thấy được lỗi mình thì đau lắm, chứ không phải là không đau. Nên Đức Phật dùng cái hình ảnh mà cái lưỡi cày trí tuệ xới đất lên, hình ảnh thật chính xác và thật đẹp. Tôi ngạc nhiên điều này.
[41:59]Là trong một lúc nhất thời Đức Phật ứng khẩu nói thành một bài kệ để trả lời mà ý tứ thật là chặt chẽ, hoàn chỉnh. Lúc đó Đức Phật trong tức khắc trả lời liền chứ Ngài đâu suy nghĩ. Mà bây giờ mình có thời giờ mình ngồi phân tích lại từng chút từng chút, hay từng điểm nhỏ, chính xác từng điểm nhỏ, lạ lùng như vậy. Đúng là trí tuệ của Phật thật là lạ. Thì ở đây vậy, nếu mà quý thầy quý Phật tử vậy, mình được nhiều lần đau trong đời về những trường hợp này thì sau này mình có thể dạy người khác được. Chỉ sợ là những người chưa từng đau, chưa từng đau. Nghĩa là không ai dạy mình để mình biết lỗi,
[42:37]hoặc mình không tự biết được lỗi của mình để đau, thì mình không dạy ai được. Nghĩa là tâm hồn mình sẽ chai cứng, nghĩa là mình chưa được lưỡi cày trí tuệ xới miếng đất tâm của mình tung lên. Còn nếu người nào đã đau đớn người này có thể hướng dẫn người khác được. Tôi cũng vậy, tâm hồn tôi tan nát hết. Tôi đau đớn vô cùng, thương tích đầy mình. Nghĩa là bên ngoài quý thầy nhìn thấy tôi xấu như vậy, mà trong tâm còn xấu nhiều hơn nữa. Tại không biết tôi thôi, tưởng là tôi tốt lắm. Nhưng mà sự thật nếu người nào mà có đạo nhãn nhìn vào tâm tôi sẽ hoảng kinh lên, nói: "Không ngờ xấu xa như vậy!" Thì tôi vậy, tôi cũng đau đớn tâm hồn mình dữ lắm
[43:19]thì mới có thể là góp được một vài đạo lý với quý thầy, với quý Phật tử như vậy. Tâm hồn cũng tan nát hết rồi. Nên cái hình ảnh mà lưỡi cày là trí tuệ hình ảnh thật là đẹp. "Xấu hổ là cán cày." Cái cán cày là cái gì? Là cái người ta cầm cái lưỡi phải không? Để đi cho nó hướng dẫn cái lưỡi cày đi cho đúng luống. Thì vậy, ở đây trong kinh đạo Phật gọi là chữ nho gọi là cái gì? Tàm quý, đúng rồi. Chữ chuyên môn trong đạo Phật gọi là tàm quý, nghĩa là xấu hổ, là hổ thẹn khi mình làm điều gì lầm lỗi. Hôm trước chúng ta có học cái bài hối hận phải không? Đó, hối hận hay xấu hổ đều rất là cần thiết á, đều là những cái tâm đạo đức.
[44:07]Vì nếu không có những tâm này, chúng ta dễ làm bậy. Nhờ chúng ta biết hổ thẹn, nhờ chúng ta biết hối hận nên chúng ta không làm bậy. Nên nhờ cái hổ thẹn kẹp chúng ta đứng được vững, đi được vững trong cái giới vức của sự tu hành của người tu hành mà mình không đi trật ra ngoài. Nghĩa là mình đi trật ra ngoài một chút mình biết là sai, mình lấy lại vô lại, giống như người cầm cái cán cày vậy, điều khiển nó lại. Hình ảnh này rất là hay. "Ý là sợi dây buộc." Dây buộc là phải dây vàm của con con bò phải không? Để điều khiển được nó thì ở đây Đức Phật ví cái đó giống như là chánh tư duy, nghĩa là chúng ta suy nghĩ điều gì là suy nghĩ
[44:49]trong đạo lý mà thôi, chứ không nghĩ ra ngoài đạo lý. Chúng ta có ba cái căn cơ thế này nè, nhớ không? Thứ một á, thứ nhất là luôn luôn là nghĩ bậy. Hễ mà nghĩ đâu nghĩ chuyện bậy bạ thì người này chắc chưa vô chùa bữa nào. Cái căn cơ thứ hai là lẫn, nghĩa là khi thì nghĩ chuyện đạo, khi nghĩ chuyện bậy, khi nghĩ chuyện đạo, khi nghĩ chuyện bậy, lẫn qua lẫn lại, nghĩ chuyện bậy lát giật mình. Còn căn cơ thứ tư á là lúc nào trong tâm cũng nghĩ chuyện đạo lý thôi. Suy nghĩ là nhân quả này làm sao, con người gặp nhau tại sao oán thù, tại sao thương mến. Cứ ngồi cứ nghĩ chuyện đạo không, mà nó tự nhiên lắm không ai bắt buộc.
[45:26]Thì người này là căn cơ thuần, người này trước sau gì cũng vô chùa đi xuất gia. Mà xuất gia rồi thì có thể làm thầy người ta được vì thuần thục. Còn cái người mà nhiều khi cứ nghĩ chuyện đạo rồi nghĩ chuyện bậy như nào, đứng giữa thì phải sám hối, lạy Phật cho nhiều. Mà nếu mình luôn luôn giữ được cái suy nghĩ trong đạo lý thì thuần thục lắm, giống như sợi dây vàm buộc con bò đã thuần thục. Ở đây quý thầy thuộc căn cơ nào? Xin thành thật khai báo. "Niệm là gậy thúc." Không biết sao gọi không gọi là roi mà gọi gậy thúc? Vì tôi nhớ đó là cái người mà họ đánh xe bò họ có hai cái, một là cái roi phải không?
[46:04]Quất chóc chóc, hai là cái đóc là họ làm đầu có cái đinh đâm, con vật bị lủng cái bụng nó, lủng cái lưng nó, nó đau làm nó chạy nhanh. Thì cái hình ảnh mà cái gậy thúc, cái đóc nó đau quá để làm cho bò đi nhanh lên một chút. Nghĩa là sự tu hành của chúng ta đó tiến bộ hay không là nhờ cái gậy thúc này, tức là niệm. Niệm ở đây có nghĩa là chánh niệm tỉnh giác. Chánh niệm tỉnh giác là gì? Chánh niệm tỉnh giác là nó cao hơn cái chánh tư duy hồi nãy. Chánh tư duy hồi nãy là chúng ta suy nghĩ trong đạo lý, còn chánh niệm tỉnh giác lúc nào mình cũng nhớ một cái pháp môn chặt chẽ để giữ sự tu hành, giữ được tâm mình thanh tịnh.
[46:40]Ví dụ như người nào mà thích niệm Phật lúc nào cũng giữ câu niệm Phật trong tâm thì đó là chánh niệm tỉnh giác. Hoặc cái người nào mà thích theo dõi hơi thở thì lúc nào để ý coi thở hơi thở mình nó đang như thế nào, nó đang ra đang vào như thế nào vậy. Hoặc có người tu theo pháp quán vô thường thì lúc nào cũng biết rõ toàn thân của mình để thấy thân này là hư giả. Thì lúc nào cũng giữ một pháp môn như vậy để nhiếp tâm như vậy gọi là niệm. Mà người nào miên mật được như vậy thì sự tu hành của mình tiến rất là nhanh. Nên ở đây Đức Phật ví dụ với hình ảnh là chánh niệm giống như là cái gậy thúc để cho bò đi nhanh vậy.
[47:20]Còn nếu chúng ta tu mà mình không có một pháp môn nhiếp tâm chặt chẽ từng giờ từng phút thì mình đi chậm lắm, đi lâu không có tới. Như vậy. "Với thân khéo phòng hộ, với lời khéo phòng hộ." Trong cái tờ dàn bài của tôi ghi thì bị tôi tôi nhờ người ta đánh máy, tôi không có coi lại kỹ nên thiếu mất một câu, quý thầy để ý biết câu nào. "Với thân khéo phòng hộ", chữ thân này hồi xưa nói là thân bây giờ mình phải hiểu là hành động, phải không? Với những hành động được giữ gìn cẩn thận, mình không làm cái điều gì để tạo thành ác nghiệp, chỉ làm những điều để tạo thành phước mà thôi, nhớ như vậy. "Với lời khéo phòng hộ" thì cũng vậy,
[48:01]là lời nói nó dễ tạo thành phước thành tội nên mình không có nói lời vô ích, không nói lời phù phiếm, không nói sai đạo lý, không nói lời ác độc. Người cư sĩ không được nói tục nói bậy, nhớ điều đó. Là lời nói được phòng hộ. "Với món ăn trong bụng, biết tiết độ chế ngự." À, vấn đề ăn uống. Là thế này, vì vào thời Đức Phật á, đi xin người ta cho gì ăn nấy nên đã có cái thức ăn mặn, có khi cũng có ăn thịt vì người ta cho gì ăn nấy chứ đâu có xin đồ chay được. Và chư Tăng lúc đó cũng không phải lao động gì chỉ tu thôi, nên Đức Phật rất sợ là thức ăn bị dư. Mình ăn mà quá cái nhu cầu của mình nó cũng là điều không tốt đối
[48:43]với người tu, nên Ngài mới khuyên là ăn uống tiết độ lại. Nhưng mà bây giờ chúng ta ăn chay thì nó khác nha, đừng có theo cái này. Nhiều người không hiểu dinh dưỡng, ăn chay rồi vẫn buộc là phải phải thấy tiết độ là sai đó, làm sai vì nó suy dinh dưỡng. Suy dinh dưỡng lâu ngày sẽ suy thận, rồi não sẽ yếu luôn, suy nhược thần kinh luôn. Nên nhiều người nhiều cái chùa mà cho đệ tử lao động nhiều quá mà ăn chay thì kham khổ, một thời gian bị bệnh hậu hết không chữa được. Nên cái mà ăn chay suy dinh dưỡng lâu ngày rất là nguy hiểm, nhất là chúng ta phát tâm chân thật lâu ngày rồi nó nguy hiểm. Nên vì vậy là thứ nhất á là nếu sau này quý thầy có đệ tử á
[49:24]là đừng bắt đệ tử lao động nhiều, mà phải cân đối với cái ăn uống cho đủ dinh dưỡng. Ăn chay thì mình không sợ dư lắm đâu, nên đừng để thiếu. Suy dinh dưỡng là một cái sai lầm không đúng với khoa học. Lâu ngày rồi không tới đâu hết. Để ý như vậy. Nên chúng ta cứ ăn uống, ăn chay thì cứ ăn thoải mái một chút. Nhất là những khi có lao động thì phải được bồi dưỡng thêm chè hay cái gì đó. Nghe nói bộ mặt tươi rói hết trơn. Giảng gì nghe rầu, chứ giảng cái này coi bộ nghe bộ dễ chịu.
[49:59]Để cắt dọn cỏ rác. Ta tác thành chân thật để cắt dọn cỏ rác. Thấy ngạc nhiên ghê tôi không hiểu sao Phật ổng ứng khẩu nói một cái mà bây giờ mình ngồi mình phân tích lại đúng từng điểm từng điểm một ăn khớp với nhau. Cắt dọn cỏ rác tức là lầm lỗi á. Ở đây cái sự mà chân thật với cái là không lầm lỗi nó đi đôi với nhau. Vì sao vậy? Vì nếu mà mình hay lầm lỗi, hay làm chuyện bậy bạ thì thế nào mình cũng phải nói dối để che đậy á. Hai cái này nó đi đôi. Còn nếu mình sống một đời đúng, chân chính thì không bao giờ mình che đậy gì nữa hết trơn. Là người sống quang minh chính đại, rực rỡ trước mắt mọi người, không có gì phải che đậy, nên hai cái này đi đôi với nhau.
[50:44]Hễ mình chân thật tức là mình phải không lầm lỗi. Mà mình phải không lầm lỗi mình sẽ sống được chân thật. Còn nếu mà mình lầm lỗi thì phải gian dối. Mà mình gian dối thì chắc chắn mình lầm lỗi. Hai câu đó đi đôi mà Đức Phật nói hai câu đó luôn, vậy. Hay ghê! Tôi không hiểu tại sao vậy. Trong một cái lời ứng khẩu nhanh chóng mà đạo lý chặt chẽ nhau, không có hở. Thật là hay. Sự giải thoát của Ta thật hiền lành, nhu thuận. Nghĩa là Ngài nói người tu làm sao không biết, nghĩa là tu trên mây dưới đất gì không biết, tiến tới đâu không biết, nhưng cái dấu hiệu đầu tiên phải là hiền lành. Tu đúng là phải hiền lành từ từ chứ không thể
[51:23]mà chúng ta tu lâu rồi mà gương mặt vẫn còn hình sự, không được. Cho nên mình tu rồi là gương mặt phải còn chỉ là dân sự thôi, chứ không có hình sự được. Dân sự, hình sự là cái gì? Dân sự, hình sự là tên của hai bộ luật: civil law còn crime law, hai bộ luật của luật pháp á. Nghĩa là cái luật mà hình sự là phạm tội đó, như là trộm cướp, giết người này kia nọ đủ thứ hết á, là luật hình sự. Còn civil law là luật dân sự về luật về tranh tụng về đất đai, về thủ tục này kia nọ là luật dân sự, hai cái khác. Cho nên mình tu mà tu đúng thì càng ngày nó phải sao? Nó càng dân sự chứ nó không được hình sự.
[52:06]Chớ còn mới vô chùa gặp ông thầy thôi ớn quá, vô thấy mấy mặt mấy ổng hình sự ghê quá, thì như vậy là mình tu chưa tiến. Nên Đức Phật nói nè: "Sự giải thoát của Ta thật hiền lành, nhu thuận." Bữa hôm nay đó, Ngài không có định nghĩa sự giải thoát cao như ở những bài kinh khác. Những bài kinh khác Đức Phật nói về sự giải thoát, giác ngộ rất là chi ly, rất là kỳ đặc. Phải... phải sáu loại thần thông, biến hóa trí tuệ giải thoát đủ hết. Nhưng ở trong bài này Đức Phật chỉ nói một điểm nhỏ là hiền lành, nhu thuận, phải hiền cái đã. Tu mà dữ là không được. Thì ở đây quý Phật tử cũng vậy, ví dụ mình biết đi nghe kinh,
[52:43]nghe Pháp, nghe một thời gian rồi thì từ từ mình phải phải hiền lành, không còn được làm mặt hình sự với ai nữa hết. Với tinh cần, tinh tấn, Ta gánh chịu trách nhiệm. Ta tự mình đem lại an ổn khỏi khổ ách. Tới giờ này Đức Phật mới nói tới cái tinh tấn. Cũng thật là hay, thì giống như là Bát Chánh Đạo cũng vậy. Tới cái chánh đạo thứ sáu á, Đức Phật mới nói tới tinh tấn. Chứ còn trước đó là chỉ tạo phước thôi. Nên ở đây chúng ta nhớ thế này: Cái việc mà tạo đủ phước rồi đó, tự nó xuất hiện một cái sức mạnh tinh tấn tự nhiên, mình nhìn mình không biết. Mình nhìn mặt người đó mình không biết người đó đang
[53:23]nỗ lực cố gắng tu hành, vì phước nó tạo thành. Còn mà nếu mình không đủ phước mà mình ráng tinh tấn á, nó thành một sự gượng ép. Ví dụ như một người đó, bữa nay tự nhiên ông thầy đó ổng phát tâm ổng tinh tấn, không thèm nói chuyện với ai, ai mà lại tính hỏi cái ổng lườm mắt một cái không dám hỏi. Ổng đi đâu ổng chầm hăm chầm hăm, ổng ngồi ổng tinh tấn ổng nói ôm câu niệm Phật sống chết. Nghĩa là sinh tử sự đại vô thường tấn tốc, không biết chết ngày nào, ngày hôm nay phải tinh tấn dốc hết sức lực tu hành. Ai nói gì trợn mắt không cho nói chuyện, nín, nghĩa là tịnh khẩu luôn không nói với ai hết.
[53:55]Thì cái đó là cái tinh tấn gượng gạo không do phước tạo thành, cưỡng ép, thì chỉ tinh tấn được vài bữa thôi. Tới bữa thứ chín thứ mười nhảy nóc nhà ngồi cười ha hả rồi. Bữa thứ mười một người ta chở lên Biên Hòa khám lại một chút. Nó vậy, nên nó bộc lộ cái sự khoe khoang kín đáo. Cái tinh tấn đúng nó nhẹ nhàng, nhìn không biết, nhưng bên trong người ta rất là chặt chẽ, miên mật. Đó là cái tinh tấn đúng. Chỗ nào Ta đi tới, chỗ ấy không sầu muộn. Đây cái này nè, nghĩa là Đức Phật nói thêm một dấu hiệu nữa là nơi nào có sự hiện diện của một vị thánh thì nơi đó được an vui. Nghĩa là vị thánh đến nơi nào thì mọi người chung quanh
[54:39]tự nhiên được chuyển hóa, tự nhiên được tươi mát. Đó là cái dấu hiệu. Là vì sao vậy? Ở đây chúng ta không nói theo cái huyền bí là nơi vị thánh đó có một cái điện lực, có một cái nội tâm hay cái sức mạnh tinh thần lan tỏa ảnh hưởng, cái điều đó hơi cao quá. Mình chỉ nói rằng cái một vị thánh xuất hiện nơi nào thì lời nói, đạo lý là tuôn tràn, cái đời sống thanh thoát, nhẹ nhàng, cao cả, độ lượng, hiền lành. Thế là làm mình chỉ nhìn những hình ảnh đó thôi là mình đã được chuyển hóa, đã được thuyết phục, đã được giáo dục. Cho nên: "Nơi nào Ta đi tới, chỗ ấy không sầu muộn", vị thánh như vậy đó. Chúng ta tu thế nào mà cái người chung quanh chúng ta được
[55:24]an vui, được lợi ích là chúng ta đã đi đúng đường. Ở đây, cái đoạn kinh này sau khi Đức Phật nói như vậy, một đoạn kinh ngắn như vậy, ông Bà La Môn Bharadvaja thay đổi quan điểm 180 độ. Từ buổi đầu là xiên xỏ, chống đối, từ chối không cho ăn, mà bây giờ cung kính, phát tâm đem bát cháo sữa cúng dường. Thì chúng ta đọc cái đoạn này nhiều khi mình coi thường, mình bỏ qua, chứ sự thực không đơn giản. Vì sao vậy? Bởi vì chúng ta thử tưởng tượng là chúng ta gặp một người nào đó trong vòng thời gì mình Đức Phật nói cái đoạn kinh này chắc chừng 3 phút hay 5 phút, về cho mình 20 phút. Mình nói chuyện với ai, ví dụ một người đó họ chưa hiểu đạo
[56:13]Phật, họ không mến mình, không thích mình, họ ghét chùa. Ví dụ cái người đó mà mình biết người hàng xóm ở cách chùa không bao xa, nhưng lúc nào cũng xỉa xói mấy thầy, lúc nào cũng chống đạo. Mà nhất là mình á thì hay qua cự nự, ổng là sao mà để bò, để chó, gà cứ qua vườn chùa hoài, ổng không ưa mình. Một lần nào đó trời đổ mưa, mình vào một cái mái nào đó mình trú, ổng cũng vào cái mái đó trú, nghĩa là định mệnh đem hai con người kẻ thù lại đứng chung với nhau. Thì quý thầy nhắm coi mình sẽ nói bao lâu để cho ông này bắt đầu thương mình, mến chùa, mến đạo? Nói bao lâu? Mình sẽ nói cho đến khi mưa tạnh, phải không?
[56:55]Và vẫn chưa xong, mình sẽ nói thêm nữa. Mình sẽ nói cho đến lúc nào đó ổng bực chịu không nổi, nhiều khi ổng dọng mình một cái nữa không chừng. Nói hoài, nói lải nhải nói hoài. Là vì cái sức thuyết phục mình không đủ. Nên nói vậy chứ không phải dễ. Mà ở đây trong trường hợp này, Đức Phật chỉ nói một bài kệ ngắn trong vòng vài phút chuyển hẳn tâm hồn một con người. Từ chống đối trở sang nhu thuận, tôn kính, xin quy y, xin xuất gia luôn. Nên thì ông Bà La Môn này cũng là người có thiện căn chứ không phải không. Nên việc mà Đức Phật đi tới để khất thực là dường như Đức Phật đã thấy trước, tới để độ ổng chứ không phải tới để xin ăn.
[57:32]Nên bằng cớ là sau đó ổng cúng dường Đức Phật từ chối không nhận. Thì ở đây vậy, là để độ cho ổng. Nhưng mà cái đặc biệt trong bài kinh này là trong thoáng chốc vài phút, thay đổi hẳn tâm hồn một con người. Chúng ta nghe như vậy mình vẫn chưa thấy hết được. Là mình phải hiểu điều này, là nơi Đức Phật toát ra một cái gì vô cùng vĩ đại, cao cả thì mới thuyết phục con người nhanh như vậy. Nghĩa là nơi Đức Phật có một cái gì đó bằng cái sự điềm tĩnh, an lành, từ bi, độ lượng, sáng tỏ thế nào đó, cái giọng nói nghĩa là trìu mến, thương yêu thế nào đó, mình không thể hình dung ra được. Mà chỉ với những cái đặc biệt như vậy thì mới trong một vài
[58:17]câu ngắn ngủi đã thay đổi hẳn tâm hồn một con người. Chớ còn bình thường chúng ta không được như vậy, chúng ta không đủ trình độ như vậy. Nên một cái đoạn ngắn như vậy chúng ta phải biết suy luận. Chúng ta phải biết suy luận là Đức Phật của chúng ta vô cùng cao cả, vô cùng đặc biệt, mới một vài lời nói mà thay đổi người khác được. Có những điểm nhiều khi là trong kinh không diễn tả hết nhưng chúng ta phải suy nghĩ ra. Với lại cái bài kinh này cho chúng ta một cái điều nữa, cho chúng ta một cái ý, một cái đạo lý nữa là ông Bà La Môn đó ổng nghĩ rằng mọi người trên đời này đó muốn có ăn thì phải đi sản xuất,
[58:57]là phải đi cày ruộng để có ăn, ổng suy nghĩ đơn giản như vậy. Nhưng Đức Phật đã nói cái ý nghĩa mà Ngài xứng đáng để có ăn bằng một cách khác. Là bằng cách gì? Ngài đã tu tập nên Ngài đắc đạo, Ngài xứng đáng được sự cúng dường. Và sự hiện diện của Ngài, nơi nào Ta đi tới nơi đó được an vui, chính điều đó Ngài xứng đáng để có ăn trong cuộc sống này. Nghĩa là sự hiện diện của Ngài không phải dư thừa trong cuộc đời này. Chỉ khi nào chúng ta xuất hiện trong cuộc đời này không đem lại lợi ích cho ai, chúng ta không đáng ăn. Chúng ta không nên không nên ăn. Mình nên, giờ không lẽ nói mình nên tự tử chết thì nó nhiều, nó cay đắng quá.
[59:41]Chứ mình sống thừa, ăn đúng là hơi uổng cơm. Nếu mình nói hơi nặng á, ăn đúng hơi uổng cơm. Nên chúng ta phải sống trên đời như thế nào, dù ở vị trí nào phải sống cho có lợi. Dù ngày đó chúng ta đã già, chúng ta vẫn phải ráng tu để không uổng cơm ăn. Là cái thứ nhất. Nhưng đồng thời chúng ta phải hiểu rằng có rất nhiều cách để chúng ta xứng đáng có cơm ăn, không phải luôn luôn là chỉ đi cày ruộng làm ra miếng ăn. Ví dụ như người thầy giáo dạy học, cơm ăn dù không cần cày ruộng. Người thợ may xứng đáng có cơm ăn dù không cần cày ruộng. Người thợ làm đường, người thợ xây nhà xứng đáng có cơm ăn dù không cần cày ruộng.
[1:00:21]Người ta đều có làm được điều gì có lợi trong cuộc đời là người đó xứng đáng có cơm ăn. Mà trong tất cả những con người như vậy thì cái bậc thánh là người cực kỳ xứng đáng nhất. Vì sao vậy? Vì người đó sống một đời, cái ích lợi mà tràn vào cuộc đời này là không thể tưởng được. Là sự hiện diện của người đó luôn luôn đem lại an vui, đem sự thanh bình, đem sự chuyển hóa, đem sự tốt đẹp cho cuộc đời, nên họ rất xứng đáng có cơm ăn. Nên đây là câu trả lời của Đức Phật: "Ta cũng cày, Ta cũng có ăn." Nhưng cái công việc Ngài cày là công việc khác. Ngài cày xới tâm hồn mình và cày xới tâm hồn cho chúng sinh. Cho nên Ngài có ăn.
[1:01:04]Ngài xứng đáng có cơm ăn và chúng ta phải hiểu như vậy. Rồi cái đoạn kinh sau á, khi mà ổng cúng dường Phật, Phật không nhận. Phật không nhận rồi mà ông Bà La Môn này ông cũng tinh tế, ông nghĩ là với cái bát cháo sữa mà ông đã phát tâm cúng cho Phật rồi, bây giờ Phật từ chối thì ai là người kế theo xứng đáng ăn bát cháo sữa này? Đức Phật nói không có ai hết. Không có ai còn xứng đáng nữa, nên hãy đổ đi. Mà Đức Phật không ăn vì sao? Vì đúng theo chánh pháp là không được mà giảng pháp rồi nhận tiền cúng dường. Nhận sự cúng dường vì lúc đó là giống như mua bán chánh pháp. Giáo pháp không thể được đem ra mua bán, chỉ là tự nguyện.
[1:01:48]Cái người giảng pháp là giảng không, cho không, tặng không cho cuộc đời, không đòi hỏi tiền bạc. Và cái người đem sự cúng dường cho cái vị giảng pháp đó cũng bằng cái lòng tôn kính chứ không phải là bằng sự mua bán đổi chác. Phải nhớ như vậy. Nên Đức Phật từ chối không ăn liền. Dù lúc đó Ngài có xin nhưng sau đó Ngài từ chối, Ngài đi chỗ khác Ngài khất thực. Để Ngài xác định lại là Ngài không phải cần miếng ăn này, nhưng mà Ngài chỉ là vì giáo hóa chúng sinh. Bây giờ đó thì nhiều khi chúng ta không có để ý kỹ điều này. Ví dụ, khất sĩ mỗi khi mà trai tăng là thuyết pháp trước rồi mới ăn sau, đó là một cái trật với cái truyền thống này.
[1:02:32]Có một lần tôi gặp quý thầy bên khất sĩ tôi cũng nhắc, nhưng quý sư nói là vì truyền thống lâu quá rồi, giờ không đổi được nữa. Nó trật, nó trật với cái truyền thống trong... Còn quý thầy bên Bắc Tông mình thì từ bi lắm, cúng làm sao cũng được hết. Trước khi giảng cúng cũng từ bi nhận, sau khi giảng cúng cũng từ bi nhận tuốt luôn. Quý thầy Bắc Tông mình thì dễ chịu hơn. Sao cũng được. Tôi tôi cũng từ bi lắm, nhưng mà thấy cũng hơi kỳ. Cho nên nhiều khi quý Phật tử giảng xong bài pháp quý Phật tử tới cúng dường, biết trật rồi đó, trật đối với cái đường lối của Phật. Nhưng mà vì thấy tâm của Phật tử vô tư hoan hỷ,
[1:03:08]cho nên cũng đau khổ mà nhận chứ còn không thì... Ở đây có cái ý này, khi mà cái món ăn mà chúng ta đã khởi tâm cúng Phật rồi thì tự nhiên nó linh lên, nó có sức mạnh. Cái đoạn kinh là sự ẩn dụ, khi ông đem đổ vào nước thì nước sôi lên sùng sục là một ẩn dụ. Chúng ta không biết đó là thần thông của Phật, hay là chuyện thật, hay là chuyện người sau thêm thắt. Nhưng ý của đoạn đó rằng, cái món ăn mà đã được khởi tâm cúng cho Phật rồi thì món ăn đó tự nhiên có cái linh thiêng ở trỏng. Đó là lý do nhiều khi Phật tử đến chùa xin lộc cúng Phật, ví dụ bày đĩa trái cây đó, xin một trái đem về cho con cháu ăn nó mạnh giỏi.
[1:03:48]Mình nghe mình tưởng là mê tín, không có đâu, đúng với đạo lý trong kinh này đó. Hoặc là những cái ly nước cúng Phật, rồi người ta xin uống để cho bớt bệnh, tưởng mê tín chứ không đâu, đúng với đạo lý á. Vì cái gì mình đã tác ý là cúng Phật rồi thì có cái sức mạnh tâm linh tiềm tàng ở trỏng. Đúng như vậy chứ không phải không. Cho nên giảng xong bài kinh này rồi, một lát trên chánh điện không còn trái nào trỏng hết trơn, mất hết. Giờ chúng ta nói qua bài kinh Từ Bi. Bài kinh Từ Bi này cũng được trì tụng nhiều lắm. Là để nói về lòng từ bi, Đức Phật nói qua những giai đoạn thế này: là đầu tiên là những điều kiện cần phải có
[1:04:27]trước khi chúng ta có thể có được tâm từ bi, chứ nếu không có những đạo đức đi trước dọn đường, nhiều khi từ bi hơi khó khởi. Nhất là cái từ bi trong bài kinh này là tâm từ bi tuyệt đối. Là thứ nhất là phải thông minh, thứ hai là phải chân thành, kế là nhu thuận, khiêm hạ, sống đạm bạc, tâm thanh thản, khôn ngoan, cẩn thận, không dính líu vào đời sống thế tục nhiều, không tham ái, không tham vọng, không nhỏ mọn. Có những điều kiện đó, chúng ta mới có thể có được tâm từ bi. Nên Đức Phật nói là: “Vị đó thiện xảo mục đích, cần phải làm như sau sau khi hiểu thông suốt con đường an tịnh ấy: có khả năng, trực tánh, thật sự khéo chân thực,
[1:05:08]dễ nói và nhu hòa, không có gì cao mạng, sống cảm thấy vừa đủ, sống thật dễ dàng, ít có sự rộn ràng, sống đạm bạc, giản dị, các căn được tịnh lạc, khôn ngoan và thận trọng, không xun xáo gia đình, không tham ái, tham vọng, các sở hành của mình không nhỏ nhen, vụn vặt khiến người khác có trí có thể sanh chỉ trích.” Đó là một loạt đầu tiên nhập đề của bài kinh này, chúng ta phải tu dưỡng nhiều về đạo đức để dọn đường cho cái tâm từ bi tuyệt đối. Cái dấu hiệu chính của tâm từ bi là thế này, đoạn kinh tiếp Phật nói: “Mong mọi loài chúng sinh được an lạc, an ổn, mong chúng chứng đạt được hạnh phúc và an lạc.” Cái dấu hiệu là muốn chúng sinh được an lạc, được hạnh phúc.
[1:05:59]Nếu chưa có cái tâm mong muốn này xuất hiện thì chúng ta chưa có tâm từ bi. Ví dụ, có thể mỗi ngày chúng ta lạy Phật, chúng ta ngồi thiền, chúng ta đều phát nguyện thương yêu chúng sinh. Là con nguyện thương yêu tất cả chúng sinh trong pháp giới này, là mỗi ngày chúng ta đều có cái tâm nguyện như vậy, nhưng mà đến chừng nào mà chúng ta chưa có cái niềm mong ước, cái khát khao mãnh liệt là tất cả chúng sinh được hạnh phúc thì lúc đó tâm từ bi chúng ta chưa có, chỉ còn là trên lời nói của tâm nguyện hoặc là ở đầu môi mà thôi. Chừng nào mà lòng mình mong cho mọi loài được hạnh phúc hết, lúc đó mới là tâm từ bi xuất hiện.
[1:06:40]Nhưng mà nói mong cho mọi loài hạnh phúc á, sự thực là trong cái thực tế trong đời sống á là cái tâm đó nó phải rớt vào những người chung quanh mình, trước mắt mình cái đã. Ví dụ, người ở trong lớp vậy, cái người nào lúc nào cũng nghĩ đến huynh đệ mình, không biết những huynh đệ mình học hành có được thuận tiện chăng, có người nào thiếu vở thiếu viết chăng, có người nào quần áo không đủ mặc chăng, có người nào bệnh mà ráng chịu đựng không nói chăng. Lúc nào cũng nghĩ như vậy rồi mong các huynh đệ mình được điều tốt, được sức khỏe, được học hành giỏi giắn. Cái mong đó đó, mong cái lợi cho người khác, đó là dấu hiệu của từ bi.
[1:07:17]Còn nếu mình chưa có cái mong đó, mình chưa có từ bi. Có thể quý thầy sống với nhau, tu mỗi ngày đều nói về đạo lý từ bi, nhưng có khi trong tâm mình chưa có. Vì mình chưa có cái mong mỏi đó cho huynh đệ mình. Rồi khi một Phật tử ở xa tới chùa cũng vậy, mình nhìn quý Phật tử tới thăm chùa, tới nghe pháp mà mình nhìn dửng dưng dửng dưng như vậy, tức là tâm từ bi chưa có. Khi mình chợt nhìn thấy quý Phật tử vừa đổ xuống chùa một cái, trong lòng mình khởi lên liền: người những người này từ đâu đi tới? Cái đoạn đường xa cỡ nào? Họ đã ăn uống gì chưa? Có mệt mỏi không, có khát nước không? Rồi họ biết đường vào nhà vệ sinh chưa?
[1:07:56]Rồi có ai bị bệnh không? Nghĩa là một loạt các vấn đề rồi có ai tiếp, ai nói chuyện, ai hướng dẫn chưa? Một loạt mình khởi lên tâm liền khi nhìn thấy một con người vì mình sao? Lúc nào mình cũng quan tâm lo cho người khác được lợi ích, được thuận tiện, tâm đó là tâm từ bi. Chứ không thể mỗi ngày mình đều nói là thương yêu chúng sinh nhưng mà trong đời sống thực tế thì không hề lo lắng, quan tâm cụ thể cho ai điều nào. Nên đây là dấu hiệu của từ bi, dấu hiệu rất quan trọng. Nếu mà chúng ta thiếu cái tâm mong mỏi này thì mình chưa có từ bi, cũng chỉ là những ước mơ suông trong tâm mình thôi. Thì quý thầy xem lại, quý Phật tử cũng xem lại nơi mình như vậy.
[1:08:37]Nên cái người mà có tâm từ bi đó, đầu tiên là cái tâm họ trải ra với những người chung quanh mình, những huynh đệ chung quanh mình trước. Lo cho huynh đệ mình, rồi tâm từ từ trải ra tới đất nước, tới thế giới. Nghĩa là cái trí tuệ mình lớn tới nào thì cái lòng thương yêu mình, cái sự lo lắng của mình, cái quan tâm, cái mong ước của mình nó lớn theo chừng đó. Thì cái người vậy cứ tối ngày lo chuyện bao đồng thiên hạ. Có khi là không làm được gì, nhưng lúc nào cũng lo lắng như vậy, cũng mong ước như vậy, mong cho mọi loài đều an vui, được hạnh phúc, đó là dấu hiệu tâm từ bi, chứ nó không phải là chỉ thương suông.
[1:09:16]Nó có ba cái giai đoạn để chúng ta để ý: là chúng ta phát nguyện thương. Nếu mà thương đúng á là mình phải mong mỏi cho chúng sinh được hạnh phúc. Mong xong rồi lúc nào mình phải làm được cái gì cho con người, cho thế giới, cho chúng sinh, chứ không phải là mình thương không. Ở đây Đức Phật lấy cái cái dấu hiệu ở giữa này để đánh giá tâm từ bi, lấy cái giữa. Chúng ta tu thì chúng ta tu ở cái ban đầu này, là tâm thương yêu. Chúng ta hằng đêm chúng ta phát nguyện thương yêu chúng sinh, mà chúng ta phát nguyện đến khi nào lòng chúng ta có cái mong ước cho ai cũng được hạnh phúc, từ một người, hai người trước mặt mình cho tới tất cả
[1:09:56]chúng sinh trong pháp giới, mình đều mong cho mọi loài được an vui hạnh phúc. Thứ ba là chúng ta làm, cái làm thì nó sẽ không được nhiều, mà tùy khả năng, tùy nhân duyên của mình mà làm được điều gì đó. Ba cái như vậy. Ở đây kế đến đó là Đức Phật mới phân tích ra cái chúng sinh là gì. Mong tất cả những ai hữu tình có mạng sống kẻ yếu hay kẻ mạnh không bỏ sót một ai, kẻ dài hay kẻ lớn, trung, thấp, loài lớn nhỏ, loài được thấy không được thấy, loài sống xa không xa, các loài hiện đang sống, các loài sẽ được sanh, mong mọi loài chúng sinh sống an lạc hạnh phúc. Ở đây cũng vậy nữa, nào giờ ví dụ như chúng ta phát
[1:10:38]nguyện là chúng ta thương yêu chúng sinh. Nhưng mà sự thật cái lòng từ bi đó không được củng cố. Bởi vì cái chữ chúng sinh đó chung chung. Đến chừng nào mà chúng ta phân định rõ chúng sinh là như thế nào như thế nào thì lúc đó cái lòng từ bi của chúng ta mới được củng cố, được khẳng định. Ví dụ bây giờ mình mỗi đêm mình phát nguyện: Cho con thương yêu tất cả chúng sinh. Cho con thương yêu tất cả những loài trong ba cõi sáu đường hết. Cho con thương yêu được những chúng sinh trong thế giới hữu hình cũng như chúng sinh trong thế giới vô hình. Xin cho con thương yêu cả loài người cũng như loài thú.
[1:11:15]Xin cho con thương yêu được những loài lớn, những loài nhỏ bé. Xin cho con thương yêu được những người giàu sang cũng như những người nghèo khổ. Vân vân. Nghĩa là, xin cho con thương yêu những người đã biết đạo lý cũng như những người chưa biết đạo lý. Thì tất cả những cái mà chúng ta phân ra, chúng ta liệt kê ra chúng sinh là những người nào người nào đó làm cho cái lòng từ bi của chúng ta cụ thể được xác định rõ ràng. Chứ còn mình cứ nói chúng sinh chung chung thì cái tâm nguyện mình không có mạnh. Cũng giống như bất cứ một người đệ tử Phật nào đều có cái lời phát nguyện là độ tất cả chúng sinh cùng thành Phật đạo. Đúng không? Có không? Có.
[1:11:58]Nghĩa là hễ chúng ta là đệ tử Phật mà ngay cả người tại gia cũng vậy nữa. Nhiều khi người tại gia cũng đã phát nguyện như vậy. Nhưng mà chính vì lý do mình cứ cầu nguyện cái chữ chúng sinh chung chung nên không bao giờ mình làm được điều gì. Còn cái người mà thật sự thương yêu á, thật sự có tâm muốn độ tất cả chúng sinh thành Phật đạo á, bắt đầu mình biết chúng sinh đó là ai. Trước hết là ai. Những người họ hàng gần mình như thế nào phải độ làm sao. Rồi những người nghèo phải độ làm sao, những người hiểu đạo rồi sao, những người chưa hiểu đạo sao, người trong nước mình độ sao, nước khác mình phải độ thế nào,
[1:12:33]trên thế giới chưa biết đạo Phật mình phải có kế hoạch độ như thế nào. Tức là phân ra chúng sinh là từng hạng người từng hạng người nào thì như vậy cái tâm nguyện mình mới mạnh, mới được củng cố vững chắc. Còn mỗi đêm mình chỉ nói là: Con độ tất cả chúng sinh thành Phật đạo, cứ dùng cái chữ chúng sinh chung chung thì không bao giờ cái tâm nguyện mình thành sự thật được. Nên hồi đó tôi cũng ngạc nhiên về điều này. Chúng tôi thấy đúng là đi tu thì quý thầy thấy ai cũng phát nguyện độ chúng sinh hết mà sao thấy lần lần quý thầy bị thoái tâm, thoái tâm, bị sa sút. Có những người thì dõng mãnh tà tà tà tới làm được việc đạo nhưng
[1:13:11]có những người thoái tâm mà trong khi hai người như vậy người nào cũng hằng đêm phát nguyện là độ chúng sinh cùng thành Phật đạo. Mãi sau này chúng tôi mới biết là vì lý do đó, nghĩ cái chữ chúng sinh chung chung quá, cái tâm nguyện mình nó yếu, không được củng cố, như vậy. Đó là cái lòng thương của mình đối với chúng sinh là lấy mình làm trung tâm. Bây giờ mới xoái cái trung tâm nè. Mong rằng không có ai lường gạt lừa dối ai, không có ai khinh mạng tại bất cứ chỗ nào, không vì giận hờn nhau, không vì tưởng chống đối lại có người mong muốn làm khổ đau cho nhau. Cái bài thơ thật là hay. Ở đây vậy là hồi nãy đó cái giai đoạn đầu mình tu
[1:13:57]tập từ bi á thì mình lấy mình làm trung tâm. Từ nơi cái trung tâm mình mình toả tình thương yêu ra đến mọi loài trong pháp giới chúng sinh. Đến cái giai đoạn hai này, mình xoá cái trung tâm đó mà cầu nguyện cho muôn loài thương yêu lẫn nhau. Đó đây là cái hay, cái trình tự rất là logic, chặt chẽ của bài kinh Từ Bi này. Đi từng bước từng bước rất là kỹ lưỡng, cái dàn ý rất là chặt. Đầu tiên là chúng ta làm trung tâm thương chúng sinh, kế đến là cầu cho chúng sinh thương lẫn nhau chứ không còn có cái trung tâm nữa. Thì quý thầy cũng vậy, quý Phật tử cũng vậy. Khi mỗi đêm mình phát nguyện thương yêu chúng sinh thì phải nói thêm câu đó
[1:14:41]là, con nguyện con thương yêu tất cả chúng sinh trong ba cõi sáu đường, xin cho tất cả chúng sinh, muôn loài chúng sinh biết thương yêu lẫn nhau. Như vậy. Tức là không còn lấy mình làm trung tâm nữa mà muôn loài thương yêu đan xen lẫn nhau hết, ai cũng thương ai hết. Rồi bắt đầu bây giờ nói tới cái chiều sâu của cái lòng từ bi đó như thế này. Như tấm lòng người mẹ đối với con của mình, trọn đời lo che chở con độc nhất mình sanh. Cũng vậy, đối tất cả các hữu tình chúng sinh hãy tu tập tâm ý không hạn lượng vô biên. Thì theo Đức Phật á, trong cuộc đời này cái tình thương lớn nhất là tình thương của
[1:15:24]người mẹ đối với người con duy nhất của mình. Đó là tình thương tự nhiên, bản năng, bẩm sinh mạnh mẽ nhất. Mà không nói người cha nha. Ví dụ bây giờ có hai vợ chồng đẻ ra một đứa con bị tàn tật, ông chồng có khi ổng buồn ổng ly dị vợ giao đứa con cho vợ nuôi, ổng đi kiếm vợ khác kiếm đứa con khác. Nhưng mà người mẹ, người vợ đẻ đứa con dù tàn tật vẫn thương yêu con mình suốt đời. Cái lòng thương yêu của người mẹ đối với con đặc biệt như vậy mà nhất là đứa con duy nhất nữa thì dồn hết cả cuộc đời, cả trái tim mình luôn. Nghĩa là có khi thương yêu con mình hơn cả chính mình nữa. Nên có cái bài Mẹ Yêu á mà ban tam ca Ba Con Mèo hát biết quý thầy có nghe không?
[1:16:08]Sinh con ra với bao nhiêu khó nhọc, mẹ thương yêu con lo cho con cuộc sống, mong cho con nên người gì đó sao tôi quên có cái câu gì nữa? Mẹ thương yêu con hơn yêu cuộc sống, lát ai biết hát thì đứng lên hát mọi người nghe. Nên là, có những đêm mẹ khóc ướt vai con, mẹ có biết con thương mẹ nhiều dù câm nín nhưng con thật lòng muốn nói. Ánh sao đêm cho con sáng soi là mẹ yêu, khúc hát ru con trong suốt đời là mẹ yêu. Đó là chiều sâu. Nghĩa là với cái tình thương mà lớn như vậy, tuyệt đối như vậy, với một người như vậy thì ở đây Đức Phật nói phải thương tất cả chúng sinh bằng cái tình thương đó. Bằng cái tình thương mà như người mẹ đối với người con duy nhất.
[1:16:52]Đây tình thương quá lý tưởng, quá tuyệt đối chúng ta thực hiện không nổi. Nhưng mà Đức Phật nói cái từ lòng từ bi phải như vậy, chúng ta nghĩ chắc có mình Đức Phật làm nổi. Chúng ta cũng vậy, chúng ta ráng hết sức tu tập. Chúng ta cũng nguyện lòng thương yêu tất cả chúng sinh, đem cả cuộc đời này dâng hiến hết cho mọi người, không còn tiếc gì đối với mình. Nhưng mà chúng ta vẫn không thể nào thương yêu tất cả mọi người bằng một tình thương đối từng người như là người mẹ đối với người con độc nhất của mình. Phải nói cái chiều sâu mà Đức Phật nói trong cái lòng, trong cái bài kinh Từ Bi này quá lý tưởng, quá tuyệt đối chúng ta theo không nổi.
[1:17:33]Nhưng chúng ta phải tụng, phải trì, phải mơ ước cái tình thương đó. Bây giờ mới tới cái chiều rộng nè. Hãy tu tập từ tâm với tất cả thế giới. Hãy tu tập tâm ý không hạn lượng vô biên trên và phía dưới cũng cả bề ngang không hạn chế trói buộc, không hận, không thù địch. Nghĩa là cái lòng từ bi đó phải trải được với chiều rộng mênh mông khắp cùng trong pháp giới vũ trụ này. Với cái chiều sâu là sự thương từng người từng người trong chúng sinh một cách sâu đậm mà với là phủ trùm cả pháp giới với cái tình thương tuyệt đối đó. Chúng ta thấy cái bài kinh Từ Bi như vậy. Bây giờ nói tới chiều dài nè. Khi đứng hay khi đi, khi ngồi hay khi nằm,
[1:18:15]lâu cho đến khi nào khi đang còn tỉnh thức hãy an trú niệm này. Nếp sống này vậy được đời đề cập đến là nếp sống tối thượng. Nghĩa là cái sự miên mật lâu dài. Nghĩa là khi chúng ta có được cái tâm thương yêu chúng sinh tuyệt đối phủ trùm rồi, phải giữ cái tâm đó miên mật từng giờ từng phút mãi, không để gián đoạn. Từ bi là như vậy. Đó là chiều dài. Chiều sâu là thương tất cả chúng sinh như người mẹ thương con duy nhất. Chiều rộng là cái lòng thương đó phủ trùm vũ trụ. Chiều dài là giữ tình thương đó miên mật từng giờ từng phút trong cuộc sống của mình. Bài kinh Từ Bi này ý tứ rất chặt chẽ. Chỉ có cái lời xưa chuyển thành lời nay mình nhiều khi nghe không suôn.
[1:19:02]Cho nên hồi sáng tôi đề nghị quý cô ở ngoài Thiên Phước là viết lại bài kinh này với giọng thơ của Việt Nam dễ đọc hơn, hay hơn. Thì tôi cũng đề nghị quý thầy phải viết lại bài kinh này để có thể thành bài kinh hay nhất được tụng đọc trong Phật pháp, trong đạo Phật. Quý thầy hợp tác với nhau hết toàn bộ một lớp soạn lại một bài kinh rồi bên Thiên Phước bên Thiên Khánh đánh tù tì bài nào hay nhất mình đem phổ biến cho mọi người đọc tụng. Vì ý tứ trong đây quá chặt chẽ, quá hay. Đoạn cuối là: Ai từ bỏ tà kiến giữ giới đủ chánh kiến, nhiếp phục được tham ái đối với các dục vọng không còn phải tái sinh đi đến thai tạng nữa.
[1:19:40]Nghĩa là với cái lòng từ bi mà mình tu tập được như vậy rồi, mình chỉ cần thêm một vài yếu tố, giới luật, chánh kiến gì đó thì mình sẽ đạt được giải thoát. Bởi vì cái sức mạnh của lòng từ bi tuyệt đối là một cái đạo lý, đạo lực rất là lớn, đạo tâm rất là lớn. Sẽ giúp cho chúng ta thành tựu được đạo quả giải thoát. Ở đây chúng ta thấy thế này. Từ ngàn xưa, ngàn xưa mãi khi trái đất này mới thành lập và ngàn sau ngàn sau mãi khi trái đất này tan vỡ, vĩnh viễn không có một vị thánh nào, vĩnh viễn không có một tôn giáo nào nói lên được cái lòng thương yêu, lòng từ bi mà tuyệt đối mênh mông, chặt chẽ, vững chắc, vô biên như là Đức Phật
[1:20:29]đã nói, như là đạo Phật đã nói, không bao giờ có.
[1:20:35]Chúng ta may mắn chúng ta là đệ tử của Đức Phật. Chúng ta được học những cái đạo lý vô cùng quý giá này. Chúng ta một lần trong đời được nghe nói đến cái đạo lý về lòng thương yêu tuyệt đối phủ trùm này là chúng ta vô cùng hạnh phúc, chúng ta vô cùng may mắn, chúng ta có được nhân duyên lớn trong đời này. Vì sau này có thể chúng ta không tu tập được nhiều, nhưng một lần trong đời chúng ta đã nghe nói đến cái lòng từ bi tuyệt đối phủ trùm. Nó đã thành cái chủng tử rớt vào tâm hồn chúng ta. Một ngày nào đó nó sẽ sinh sôi nảy nở để đưa chúng ta thăng tiến mãi trên con đường giác ngộ. Đây là cái may mắn mà chúng ta có được mà có thể nhiều người khác chưa có được.
[1:21:20]Cái lòng từ bi tuyệt đối này chỉ trong đạo Phật mới có, chỉ nơi Đức Phật mới có được, nên chúng ta hãnh diện vì chúng ta là đệ tử Phật. Chúng ta tự hào vì chúng ta là đệ tử Phật, nhưng chúng ta cũng mắc cỡ vì chúng ta
[1:21:40]không thực hiện được lời dạy cao quý của Đức Phật. Đúng là chỉ nơi Đức Phật, chỉ trong đạo Phật mới nói được cái lòng từ bi tuyệt đối như thế này. Còn chúng ta là đệ tử của Người mà chúng ta chưa làm được bao nhiêu. Đối với con người này chúng ta vẫn còn lãnh đạm, thờ ơ. Chúng ta chưa thương yêu được chúng sinh. Chúng ta chưa từng ray rứt, trăn trở trước nỗi đau của con người. Chúng ta chưa biết lo lắng khi mà đạo đức thế giới này suy thoái, khi mà con người vẫn còn hận thù, vẫn còn chém giết nhau. Chúng ta chưa biết lo lắng, chưa biết trăn trở, chưa biết băn khoăn, chưa biết suy nghĩ, chúng ta phải hổ thẹn vì điều đó.
[1:22:23]Chúng ta có được một vị thánh tuyệt đối, chúng ta có được một cái đạo Phật làm chân lý tuyệt vời. Chúng ta hãnh diện vì điều đó, chúng ta tự hào vì điều đó, nhưng chúng ta cũng phải hổ thẹn vì điều đó. Vì vậy từ ngày hôm nay chúng ta nghe được bài kinh này, mỗi người chúng ta, những người đệ tử Phật chúng ta dù xuất gia hay tại gia,
[1:22:48]phải mãi mãi cố gắng thực hành cái tâm từ bi thương yêu tất cả chúng sinh không hạn lượng tuyệt đối như vậy. Để chi? Để cho cuộc đời này bớt đi bóng tối, để cuộc đời này bớt đi thù hận, để cho tình thương, cho ánh sáng, cho đạo lý vĩnh viễn là niềm hy vọng trước mắt mọi người.
[1:23:11]Hôm nay chúng ta kết thúc cái loạt bài giảng về Nikaya với bài kinh Từ Bi. Thì tôi cũng cầu chúc cho quý Thầy, quý Phật tử được nhiều an lạc, được tinh tấn trong sự tu hành và đem được tình thương yêu đến với cuộc đời này. Giờ có vài cái câu hỏi mà người hỏi làm ví dụ như nói rằng cái người bệnh quá mà chết không chết được thì nếu theo cái luật quyền được chết thì họ nhờ bác sĩ tiêm cho họ một mũi thuốc để họ chết vội để họ không có duy trì tình trạng sống dở chết dở rồi làm cực người chung quanh thì như vậy có phải trốn nghiệp hay không? Cái nhân quả nó không có cố định, đừng nghĩ là trốn nghiệp, đừng nghĩ như vậy.
[1:23:55]Nè ví dụ như là mình gặp người nghèo cái mình nói: "Ờ cái người nghèo này tại nghiệp nè, đừng có cho tiền họ, đừng giúp họ." Vậy như vậy là mình đã vịn vào luật nhân quả để mình mình là mình có đạo đức, phải không? Đúng là nghiệp người ta mới nghèo đó, nhưng mà có cái duyên gì với mình nên mình đã giúp đỡ. Cũng vậy, ví dụ có một người chiến sĩ ở trận tuyến đã hy sinh mạng sống mình để bảo vệ quê hương thì cái hy sinh mạng sống nó tự mình hy sinh thì không được gọi là trốn nghiệp. Như báo vừa rồi có đăng báo An ninh Thế giới có đăng đó, một người Mỹ là John Baca, khi ổng bị một cái lựu đạn quăng xuống hầm
[1:24:37]của ổng thì ổng lấy cái nón sắt ổng đè lên và ổng ôm luôn cái nón sắt đó. Trái lựu đạn nổ tung lên thì bụng ổng nát hết nhưng ổng cứu được những người đồng đội trong cùng hầm của ổng. Thì những người đó họ hy sinh mạng sống của họ thì cái hy sinh đó không gọi là trốn nghiệp, cưỡng nghiệp mà đó là hành vi đạo đức. Thì cái việc mà nếu người nào đến lúc mà cảm thấy cuộc sống của mình là nỗi đè nặng, ám ảnh cực khổ người chung quanh, có quyền được chết. Điều đó không phải là trốn nghiệp. Bởi vì nghiệp là chúng ta được tự do chọn lựa chứ nghiệp không phải là cố định, cứng ngắc. Có người khác phạm lỗi mà biết mà mình không chỉ cho họ thì có tội không?
[1:25:17]Còn nếu chỉ có mắc quả báo không? Mình chỉ trong lòng thương yêu thì không mắc quả báo. Thấy mà làm hiểm không nói thì mắc quả báo. Hoặc là mình đem nói cho người khác là mắc quả báo, mình nói đúng người đó, nói với lòng thương yêu thì không mắc quả báo. Trong việc tu tập nếu mình cảm thấy có sự tiến bộ hoặc đạt được thành quả nào đó mà mình cứ giữ riêng cho mình thì có mắc tội ích? Vì Thầy dạy rằng nói ra khoe khoang thì mất phước. Ở đây đó phải cẩn thận điều này, là mình phải khuyến khích người khác tu nhưng mình nói cách nào á, đừng để người ta nghĩ mình hay. Không nói á là ích kỷ, mà nói mà nói để khoe khoang là:
[1:25:58]"Tôi tu trước mấy người, tôi tu này hay lắm, nheo theo tôi tu." thì là khoe khoang, cũng mang tội. Cho nên trong cái việc mà giáo hóa hay là khuyến khích người khác tu, mình phải lách qua rồi lách lại. Để sao mà dụ người ta tu được mà đừng để người ta nghĩ mình hay. Nghĩa là mình nói cho đã đời đạo lý xong cái mình chê mình một hơi cho xong chuyện rồi. Phải khéo. Nếu Phật tử cúng dường cho một vị tu sĩ tu không chân chính mà mình không biết thì Phật tử có tội không? Thường thì cái tội vô tình không quan trọng, nhưng cái tâm mình là tốt là đúng. Ví dụ mình không biết ổng làm gì, nhưng mình cầm số tiền mình nghĩ là
[1:26:35]cúng dường cho chư Tăng tu à để chư Tăng chư Tăng tu được phước được à tu tốt để giáo hóa chúng sinh, thì cái tâm đó là mình được phước rồi, xong rồi. Ông thầy đó ổng làm bậy ổng chịu tội, nhưng với cái tâm đó thì sau này quả báo mình rất lớn. Dù ông thầy đó ổng làm bậy, quả báo cũng vẫn rất là lớn. Còn nó sẽ lớn hơn nữa nếu ông thầy đó sử dụng đúng số tiền đó luôn. Nghĩa là ổng sử dụng số tiền đó một cách chính xác, giáo hóa chúng sinh, lợi ích chúng sinh, thì phước mình cực kỳ lớn luôn. Mặc dù ổng dùng sai, với cái tâm mà mình khởi tâm phát tâm cúng dường thế nào, mình vẫn có phước. Có chuyện có lần tôi kể là một ông già khi chết thác sanh một kiếp chó.
[1:27:18]Con chó này thường nhảy lên ghế ngồi và bị đứa cháu đuổi xuống thì ổng báo mộng mắng và bảo rằng ghế của ông thì ngồi tại sao dám đuổi? Thực ra đó không phải là con chó là hiện hồn ra ông già đâu, nhưng mà do cái tâm linh thôi, cái vô thức á báo mộng. Tức là cái vô thức của cô đó nhận ra được ông con chó này là ông già ngày xưa nên hiện ra để báo một cách gì đó. Hoặc là vì Hộ pháp họ trợ duyên để cho cô đó thấy giấc mộng báo như vậy. Chứ lúc đó con chó đọa vào con chó rồi đâu có hiện hồn nữa. Cho nên những giấc mộng mình không phải luôn luôn chính xác đâu. Phải là người có mắt mới biết mộng đó là thực hay là giả, hay do ai tạo ra.
[1:27:56]Chứ không phải mộng luôn luôn là thật giống như mình thấy đâu. Cúng tiền vàng bạc cho người chết có hiệu quả gì không? Cúng vàng bạc, giấy tiền vàng bạc cho người chết thì hơi nguy hiểm, vì cái người chết mình mà đem tiền đó xài có thể bị công an ở dưới âm phủ bắt vì tiền giả. Đô la mà không bảo chứng mà đem xài rất là ghê. Cho nên ở đây đó mình mà muốn cho người thân mình ở dưới là được sung sướng á, mình làm phước rồi hồi hướng thôi. Ví dụ mình muốn cho người thân mình có quần áo đẹp, mình đem mua quần áo về mình bố thí cho hàng xóm. Rồi mình đứng mình chú nguyện: "Con xin đem cái việc này hồi hướng cho
[1:28:36]cửu huyền thất tổ, cha mẹ con hay người đó, tên đó đó, được nghiêm trang đẹp đẽ." thì tự nhiên người kia được quần áo đẹp liền. Biến liền. Chứ không phải là mình đốt tờ giấy tưởng tượng cái áo cắt cắt rồi đem đốt ra mà dưới có áo giấy mặc, không có. Phải nhờ phước, chuyển phước đi chứ đừng có chuyển giấy. Ừ. Tại sao ngài Mục Kiền Liên đã đắc A-la-hán rồi mà còn bị ác ma nhập vào? Mà bình thường thì không biết ác ma sao mà phải nhập định? Cái này giải thích bài kinh Hàng Ma. Rằng sao mà ngài là A-la-hán rồi, chúng ta phải hiểu điều này là ác ma khủng khiếp lắm. Thần thông của ác ma cũng dữ dội lắm chứ không đơn giản. Ma-ra đó.
[1:29:15]Nên có nhiều khi người ta nói là Phật cao nhất xích, ma cao nhất trượng là vậy đó. Nó không phải là dễ. Thần thông rất là lớn. Mà thần thông vị A-la-hán thì chưa phải là tuyệt đối như Phật. Vì các ngài tức giải thoát thì đồng với Phật, nhưng mà thần thông, trí tuệ, công đức, dung mạo vân vân thì thua Phật. Tức là tuyệt đối, nhưng khi các ngài xuất định, các ngài vẫn có hạn chế trong cuộc sống. Nên nhớ là những vị A-la-hán mà trong đời sống thường các ngài không biết tất cả mọi điều, không biết. Vì các ngài đã sử dụng lại năm uẩn, sử dụng lại bản ngã để tạm thời sống với con người. Nhưng mà cái bản ngã lúc đó nó trở thành đầy tớ của các ngài.
[1:29:58]Khi ngài nhập định là mất bản ngã liền. Nó khác với chúng ta. Chúng ta bị bản ngã sai sử, còn các vị A-la-hán là sai sử được bản ngã là năm uẩn này để sống với con người. Giờ khi cần nhập định thì mất tiêu bản ngã liền. Lúc đó các ngài biết hết, các ngài là tuyệt đối. Nhưng khi xuất định với đời sống bình thường thì các ngài vẫn bị hạn chế không biết tất cả mọi điều.