Lời giảng: Đạo Phật Cho Ngày Mai

  • Thuyết giảng: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Thời lượng: 1:27:48

Toàn văn lời giảng, chép từ phụ đề. Bấm vào mốc thời gian để nghe đúng đoạn đó.

[0:09]Trong cái tình hình mà đạo Phật hiện nay rất là nhiều tông phái, ví dụ như là có hai cái tông phái chính gọi là Nguyên thủy và Đại thừa hay là Nam tông và Bắc tông, thì trong Bắc tông Đại thừa lại cũng chia ra rất nhiều tông phái. Và dĩ nhiên thì chúng ta biết cái tâm lý muôn đời của con người là ai cũng cho cái tông mình là đúng. Đó là cái tâm lý. Mà có những điều nói rất là trái ngược nhau mà ai cũng cho mình đúng hết, thì chắc chắn rằng hoặc là trong hai bên có một bên đúng bên sai, phải không? Hoặc cả hai bên đều sai, đó chắc chắn như vậy. Mà đạo Phật thì nó lẫn cái sai, lẫn cái đúng ở trỏng là

[0:50]điều mà chúng ta không đành lòng nhìn thấy như vậy. Chúng ta không đành lòng nhìn thấy một đạo Phật mà nó cứ lẫn giữa cái sai và cái đúng như vậy. Chúng ta tin theo Đức Phật, cái sự giác ngộ tuyệt vời của người là ánh sáng soi rọi muôn đời cho nhân loại. Và chúng ta tin rằng nơi cái trí tuệ đó thì không có điều sai lầm, không có điểm sơ hở. Có thể là Phật nói chưa hết, vì như Phật nói là ngài mới nói được như một nắm lá trong bàn tay. Nhưng mà chắc chắn đạo Phật phải là một đạo không có sai lầm. Mà bây giờ cứ mỗi tông phái nói một đường một nẻo nó khác nhau làm cho chúng ta hoang mang và chúng ta cũng buồn nữa.

[1:35]Và do đó là tất cả chúng ta mơ ước là những người tôn thờ Phật, người chưa thờ Phật thì mình không nói, nhưng những người tôn thờ Phật thì sẽ tìm thấy được một cái điểm chung đồng để có thể đến lại với nhau, gần gũi với nhau, nắm chung tay với nhau và không còn chia cách nữa.

[2:01]Chớ chúng ta không muốn là cùng là đệ tử Phật mà cứ nhìn nhau bằng cái ánh mắt nghi kỵ và tấm lòng thì chia rẽ, và miệng thì cứ nói những điều trái ngược nhau. Nên chúng ta đi tìm cái điều đó, một cái mẫu số chung gì đó, một cái điểm chung đồng nào đó có thể đoàn kết lại tất cả, gom lại tất cả được. Nhưng cái tham vọng này thì nó hơi lớn, nhưng mà chúng ta phải làm thôi. Vì thế giới càng lúc càng gần lại thì chúng ta không thể để đạo Phật mà cứ xa nhau mãi như thế này. Mà không phải là đứng yên, mà nó cái xa càng lúc càng xa nhiều hơn, là vì cứ mỗi thời cái một người nói thêm cái mới gì đó, cái là tạo thành cái xa cách nữa.

[2:43]Đó. Bây giờ chúng ta xét lại là cái sự xuất hiện của đạo Phật á. Thật ra đạo Phật thoát thai từ cái nền văn hóa của Ấn Độ cổ, đều có cái nguồn gốc từ các kinh Vệ-đà và Upanishad. Đây là điều chúng ta không thể phủ nhận. Vì trong các kinh Vệ-đà, trong các kinh Upanishad đã nói tới nhân quả, đã nói tới luân hồi, đã nói tới cái sự giải thoát, đã nói tới các vị A-la-hán, đã nói tới cái vị giác ngộ là Đức Phật. Nghĩa là các kinh ngày xưa nói hết á, có hết. Chỉ có cái điều là không hiểu một vị thánh nào hay là những đời xưa một vị đạo sư nào ngày xưa đó, trước Đức Phật á, trước cả ngàn năm cả 600 năm như vậy,

[3:34]nói lên những kinh điển mà rất sâu sắc về tâm linh như vậy. Và điều đó nó phát sinh ra cái sự tu hành nơi đất nước Ấn Độ rất là mạnh. Các vị Bà-la-môn mới ban đầu là chỉ tôn thờ các kinh Vệ-đà. Sau này các kinh Upanishad xuất hiện, nó giống như là một sự cải cách so với kinh Vệ-đà, thì các vị Bà-la-môn đó mới lấy các kinh Upanishad đó vào mà mà mà làm thành cái tài sản của đạo Bà-la-môn luôn. Thật ra cái chữ Vệ-đà đó, nó có nghĩa là trí tuệ, là sự khôn ngoan. Cái tiếng Ấn Độ nó gần với cái tiếng Anh á. Cái chữ Veda nó lại gần với chữ wisdom của tiếng Anh á, nên nó có nghĩa là sự khôn ngoan, là trí tuệ.

[4:19]Nên các kinh Vệ-đà là nói đến cái trí tuệ, còn Upanishad chữ shad là nó y hệt như cái chữ sit, chữ sat của tiếng Anh là ngồi. Upanishad là ngồi với nhau, ngồi sát bên nhau, ngồi với nhau. Nên nó có tính cách nghĩa là cái lời dạy của vị thầy truyền cho trò mà truyền miệng qua miệng á, tức là ngồi với nhau để nói cho nhau nghe những cái điều giáo lý gì đó. Mà trong cái Upanishad á, tức là cái kinh mà kinh ngồi với nhau đó, sau này mình dịch là Áo nghĩa thư, dịch hơi xa hơi xa, chứ đúng là kinh ngồi với nhau.

[4:52]Là nói lên những cái điều rất gần với đạo Phật bây giờ, rất gần, nói về sự giác ngộ, sự tu tập yoga, cũng nói đạo đức về nhân quả, về giải thoát rất là nhiều. Và Đức Phật của chúng ta cũng đã học được hết những cái kinh đó trong cái thời niên thiếu, là khi còn là một vị vương tử để chuẩn bị cái khả năng mà nối tiếp trị vì cái ngai vàng, tức là ngài được vua cha mời hết các vị thầy giỏi trong xứ về dạy. Và ngài là một người cực kỳ thông minh, nên ngài học rất là nhanh. Và khi ngài học, ngài tìm ra hết những cái sơ hở trong thời đó ở trong kinh điển liền, mà ngài không có phản kháng gấp lúc đó. Nhưng ngài phải thực hiện cái sự tu chứng của mình trước.

[5:38]Nhưng mà lúc đó ngài đã biết trong cái các kinh điển cũ đã có nhiều điểm sai lầm, nên ngài cần phải bổ sung với sửa lại. Sau này thì ngài mới từ bỏ cái hoàng cung, ngài đi vào rừng tu hành, ngài thực hành, ngài chứng ngộ. Ngài mới cải cách, chỉnh lại những điều mà các vị Bà-la-môn đã nói và lập lại thành một hệ thống mới hoàn toàn, nó hoàn chỉnh hơn. Nên những cái điều mà những cái ngôn từ trong kinh Phật dùng, nó đều na ná nó gần với cái kinh của Bà-la-môn của Ấn Độ chứ nó không có xa lắm. Nhưng mà có cái điều là với cái trí tuệ của một vị Phật, ngài mở ra quá nhiều vấn đề mà các kinh Vệ-đà hay kinh Upanishad

[6:23]thì không có nói tới được, nói quá sơ sài. Còn ngài thì trong cái trí tuệ của một vị Phật mà thuyết pháp suốt 45 năm nên rất nhiều vấn đề mới được mở ra mà trước đó không ai biết hết. Nên trong cái thời đại của ngài á, những điều Đức Phật nói là những điều phải nói là giống như là kinh động vậy đó, làm kinh động, làm chấn động khắp nơi hết, vì nó rất nhiều điều mới. Lúc đó người ta chỉ có mấy cuốn kinh sơ sơ thôi mà ngài nói tràn lan hết kinh này tới kinh kia, mà những điều nào nói cũng đều sâu sắc, đều đưa người ta tới cái sự chứng ngộ thực sự. Ích lợi nó lan truyền rất là mạnh nên nó gây thành một cái sự

[6:57]chấn động trong cả một cái vùng gọi là đông bắc Ấn thời đó. Thời đó thì nó chia nhiều quốc gia lắm chứ nó không là một cái quốc gia Ấn Độ lớn như bây giờ. Lúc đó nó có nhiều cái tiểu quốc, nó có hai cái vương quốc lớn là vương quốc Kosala và Magadha, còn nhiều cái tiểu quốc nhỏ nhỏ nhỏ nữa. Mà Đức Phật là ở trong cái tiểu quốc Sakya cũng là một tiểu quốc nhỏ thôi. Mà ngài đi du hóa trong các nước đó hết, đi qua đi lại thì chúng ta không hiểu là ngài đã dùng ngôn ngữ gì. Thì mỗi xứ nó nói tiếng khác nhau hết, mà không hiểu sao là ngài tới đâu ngài nói được tiếng nước đó. Thì đây là lịch sử mình không biết được, hoặc là ngài dùng thần thông hay là ngài

[7:33]đã được học hay là ngài thích ứng nhanh như thế nào mình không biết, nhưng mà ngài giáo hóa và giáo lý của ngài gây chấn động vì nó quá nhiều điều mới. Bây giờ đó, mình nhìn kinh Phật mình thấy nó không có mới vì từ cái bao nhiêu bộ kinh đó: Trường bộ kinh, Trung bộ kinh, Tương ưng bộ kinh, Tăng chi bộ kinh á có bao nhiêu đó bộ à, thì mình đọc tới đọc lui mình thấy nó thường, thấy nó không có thỏa mãn được cái tri thức của mình, nó vừa đủ thôi. Nhưng mà trong cái thời đó việc xuất hiện những cái bài kinh đó là cả một cái sự rất là độc đáo. Nhưng mà chúng ta thấy là cái ngôn ngữ, cái phong cách tư tưởng á, nó thích hợp vào cái không gian và thời gian đó.

[8:09]Ở trong thời gian đó ngài đã dùng những lời nói như vậy, nhưng mà đến bây giờ mình dùng cái lời nói như vậy nhiều khi không hiểu. Do đó là các kinh Ba-li mà được dịch ra rồi đó, cũng rất là khó hiểu. Phải đợi giảng giải, như ở Viện Cao cấp Vạn Hạnh là quý thầy thường hay dạy kinh Ba-li là vậy. Vì chúng ta từ Ba-li dịch qua tiếng Việt Nam rồi chứ mình đọc mình cũng không hiểu nổi nữa. Mà cũng không phải là những người nào xuất gia tu tập rồi đọc kinh Ba-li cũng hiểu được, không hiểu nổi nữa. Đọc những bài kinh Nguyên thủy, phải có kinh nghiệm tu hành, phải có trí tuệ rất sâu mới có thể hiểu được kinh Ba-li, khó như vậy.

[8:46]Do đó mà cần có cái nhiều luận bản để giải thích tiếp giải thích tiếp, dùng những cái ngôn từ của cái thời đại mới. Ngay cả bây giờ mình nói ngay nước Việt Nam mình, những cái từ mà ông bà mình dùng cách đây chừng hai ba trăm năm, mình đọc lại mình cũng cảm thấy tối nghĩa, nó nó không có rõ ràng, không có sáng sủa về văn phạm. Nên cách đây hơn mấy ngàn năm mà của một đất nước Ấn Độ khác, với nền văn hóa rất là lạ, thì mình không hiểu được. Bây giờ đạo Phật là gì? Đạo Phật là gì?

[9:20]Chúng ta đừng có nghĩ đạo Phật là hai cái chữ đạo Phật, không có.

[9:27]Mà đạo Phật là là chân lý, là lẽ phải, chứ đạo Phật nó không phải là hai cái chữ đạo Phật, mà đạo Phật là chân lý, là lẽ thật, là những điều có thật trong vũ trụ này, trong cuộc sống này. Nên khi mà người đệ tử Phật chúng ta, chúng ta đến với Đức Phật, mà nếu chúng ta hiểu đúng ý của Đức Phật thì chúng ta không có chấp hai cái chữ đạo Phật, cũng giống như chúng ta không có chấp những cái ngôn ngữ mà gói trong các kinh điển đó. Chúng ta sẽ biết tìm cái sự thật vượt ra ngoài những cái hàng rào ngôn ngữ, những cái khuôn khổ đó hết để thấy được cái chân lý nó bàng bạc nằm khắp tất cả mọi nơi, là nhìn ở đâu mình cũng thấy được

[10:09]cái lẽ thật, ứng dụng được cái lời Phật dạy vào trong cái cuộc sống một cách linh hoạt, sáng tạo chứ không có cố chấp. Mà là nếu mà nói mình à tôi là đạo Phật, tôi không biết gì các tư tưởng của các đạo khác, thì ngay đây là chúng ta phản bội Đức Phật liền, phản bội đạo Phật liền. Là vì sao? Vì đạo Phật tức là chân lý, mà chân lý thì nó không của riêng ai, không của riêng đạo Phật. Đức Phật là người tìm thấy và Ngài dạy lại. Rất nhiều người cũng tìm thấy chân lý, mặc dầu không tìm thấy một cách toàn diện như Đức Phật, nhưng họ cũng tìm thấy được những điểm nhỏ nào của chân lý. Người tìm thấy được một điểm nhỏ này, người kia tìm thấy được một điểm nhỏ kia,

[10:50]và tất cả những điều đó đều có giá trị trong cuộc sống, đều là chân lý hết. Dĩ nhiên những cái tà, những cái sai thì chúng ta không có kể tới. Và tinh thần của một người đệ tử Phật là đi tìm chân lý. Chúng ta tôn trọng cái lời dạy của Phật, nhưng chúng ta cũng tôn trọng lời dạy của bất cứ người nào mà xét thấy đó là chân lý, chứ chúng ta không có tự ràng buộc lấy mình bằng hai chữ đạo Phật. Nên nếu chúng ta xét chúng ta thấy đó, có những điều mà bên Yoga Ấn Độ cũng giống đạo Phật kỳ lạ lắm, giống giống dữ dội lắm. Mà đó là do bên đạo Ấn Độ sau này họ phát triển, họ lấy bên Đại thừa Phật giáo qua làm thành một cái đạo Ấn Độ như hiện nay.

[11:31]Mà đạo Ấn Độ hiện nay có sức sống mạnh lắm. Người dân Ấn Độ hầu hết họ theo cái đạo Hindu, gọi là đạo Ấn Độ của họ, sức sống rất là mạnh, đạo Phật mình chen vô không nổi. Hiện nay tại Ấn Độ, đạo Phật chen vô không nổi với đạo Ấn Độ cổ của họ là vì sao? Vì cái đạo Ấn Độ, đạo Hindu á, họ lấy cái tư tưởng của Đại thừa Phật giáo ra họ làm trở thành cái tôn giáo của họ một cách vững chắc. Còn những cái đạo Phật giáo lý mình yếu yếu như Đại thừa thì về đó cũng không lọt vô thì họ đã có rồi, còn Nguyên thủy thì so với họ kém hẳn luôn nên họ không xài tới. Nên tại sao một đất nước Ấn Độ mênh mông là xứ của Phật

[12:07]mà bây giờ rất ít người biết đạo Phật hay theo đạo Phật là vậy. Ví dụ như trong các Yoga họ nói có cái là Bhakti Yoga là cái Yoga là cái tu tập của tình thương yêu. Thấy làm sao mà mình phát triển cái tâm từ bi, tâm thương yêu mênh mông khắp tất cả các loài, như vậy nó nó có giống với tâm Đại bi của Đại thừa Bồ tát không? Giống hệt, thấy không? Rồi hoặc là họ có cái Karma Yoga tức là cái Yoga mà tu tập chuyên làm việc thiện, việc phúc thiện, tức là sống vị tha đó, làm lợi cho người khác không, là Karma Yoga, thì cái này nó rất giống với cái hạnh vị tha của Bồ tát. Nên họ có đủ hết những điều đó, bây giờ mình nói thêm họ thấy thừa, có đủ hết.

[12:49]Mà những cái đó họ lấy từ Đại thừa Phật giáo qua. Trong một thời đại khi mà Đức Phật xuất hiện thì những ngoại đạo Ấn Độ bị lu mờ hết vì cái ánh sáng từ trí tuệ của Đức Phật, từ cái nhân cách vĩ đại của Phật và những cái giáo lý gọi là vô tận của Phật, nên cái ngoại đạo Ấn Độ thời đó, Bà-la-môn thời đó là bị sếp hết, bị lui lại hết. Nhưng qua vài trăm năm sau từ từ họ phục hồi lại. Lúc đó đạo Phật mình cũng chia nhiều bộ phái, rồi có Đại thừa xuất hiện để mà phát triển đạo Phật, thì đạo Ấn Độ, đạo Hindu đó họ cũng phát triển theo luôn. Họ phát triển theo rồi lần lần họ lấy rất nhiều tư tưởng của

[13:26]Đại thừa Phật giáo sang trở về cho đạo Hindu của họ. Và nó tồn tại, như cái ăn chay của người Ấn Độ là lấy đúng tinh thần của Đại thừa Phật giáo. Bây giờ đất nước Ấn Độ họ ăn chay nhiều lắm, mà cái tinh thần đó là lấy từ Đại thừa Phật giáo qua. Mà bây giờ thì bên Nguyên thủy thì không chịu. Nguyên thủy nói mà hễ mà ai ăn chay người đó ngoại đạo, người đó đạo Bà-la-môn không phải đạo Phật, mà ai ăn mặn á mới thiệt đạo Phật, nên nó có những cái như vậy, những cái buồn cười như vậy. Mà đó là do chúng ta quá cố chấp vào cái khuôn khổ gì đó, mà chính cái sự cố chấp nó lại là một cái hiểu sai lời Đức Phật.

[14:03]Bây giờ chúng ta xét lại, chúng ta thấy thế này: Như Thầy vẫn thường giảng trong các buổi lễ quy y là một lần Đức Phật đi ngang qua một khu rừng, Ngài mới hái một nắm lá, Ngài mới hỏi các vị tỳ-kheo là: "Nắm lá trong tay của Như Lai với lá trong rừng cái nào nhiều?". Các vị mới thưa: "Bạch Thế Tôn, lá trong rừng rất nhiều mà lá trong tay của Thế Tôn rất ít". Đức Phật cũng nói vậy: "Phật những điều mà Ta chứng, những điều Ta biết như lá trong rừng, mà những điều Ta nói như lá trong bàn tay".

[14:38]Đây là một điều mà kinh Nguyên thủy cũng ghi lại. Nghĩa là gì? Nghĩa là cái chân lý của vũ trụ mà Đức Phật chứng được thấy được á, nó vô biên vô tận. Còn suốt 45 năm Phật thuyết pháp, nói được rất ít, rất ít. Thì bây giờ, nếu có một người nào chấp rằng chỉ có những cái lời Phật dạy trong 45 năm đó là chân lý còn ngoài ra là phi chân lý, thì cái người này có còn đúng cái tinh thần của Đức Phật, của đạo Phật không? Sai liền lập tức! Tức là người đó đã phản bội cái câu mà Phật nói, vì cái trí tuệ của Phật là chứng thấy được vô biên vô lượng mà Ngài nói ra rất ít. Bây giờ mình chấp là chỉ có bao nhiêu kinh Pali đó thôi mới là chân lý,

[15:18]là đạo Phật, còn ai nói khác ra thì người đó không phải là đạo Phật. Nếu mà chấp như vậy là lập tức chúng ta phản bội đạo Phật liền, phản bội Đức Phật liền. Mà tình trạng này có chưa? Tình trạng này đã có nơi các sư Nguyên thủy, Thầy nói thẳng ra luôn. Nơi Phật giáo Nguyên thủy đã xuất hiện cái tâm trạng này, cái quan điểm này. Quan điểm rằng mà cái điều gì mà nó chạy ra khỏi bên ngoài nghĩa là các kinh điển Pali là điều đó không phải đạo Phật. Đây là một quan điểm hết sức là hẹp hòi và phản bội chính Đức Phật luôn. Nghĩa là thuyết pháp là cứ 37 phẩm trợ đạo thôi, không nói gì khác hơn. Ai nói khác hay nói bắt đầu đi ra ngoại đạo, một sự hẹp hòi và giết chết đạo Phật.

[16:00]Cho nên một điều mà nhiều người họ thắc mắc, chính Thầy cũng thắc mắc, Thầy nói những cái vùng mà có Phật giáo Nguyên thủy thì Hồi giáo họ tràn vô rất là mạnh. Hồi giáo họ tàn bạo và họ cuồng nhiệt. Như ngay như cái đất nước Ấn Độ thì Hồi giáo ép sát lấn, đằng đó là ép sát hai bên thành cái Pakistan và cái Bangladesh, phía trên là Afghanistan, chung quanh là đạo Hồi giáo bao vây hết. Mà trước đây, đó là những vùng mà đạo Phật đã từng sang đó giáo hóa. Rồi cái vùng Indonesia là cái vùng mà ngày xưa đạo Phật rất thịnh, bây giờ thì Hồi giáo hầu như chiếm gần hết. Mã Lai Phật giáo rất thịnh, bây giờ hầu như là Hồi giáo là chiếm đa số.

[16:42]Thái Lan Phật giáo là quốc giáo, bây giờ Hồi giáo đã bắt đầu xuất hiện ở phía nam Thái Lan là bắt đầu có vũ trang chuẩn bị đánh đòi độc lập. Nghĩa là những cái xứ mà Phật giáo Nguyên thủy á, thì Hồi giáo từ từ đặt chân tới hết. Mình chống đỡ không nổi, tại sao vậy? Tại vì mình thiếu cái gì, mình không đủ cái sức mạnh. Mà tại sao mình không đủ sức mạnh? Tại vì mình lời Phật dạy mình không thực hiện đúng, cho nên nó trở thành yếu đuối, yếu đuối. Chứ nếu mình thực hiện đúng lời Phật dạy, thì đạo Phật tự có cái sức mạnh để mà truyền tỏa được chánh pháp, chứ không để cho tà giáo ngoại đạo mà nó lấn dần lấn dần bằng cái sức mạnh của bạo lực.

[17:24]Nghĩa là cái sức mạnh của lẽ phải nó có cái sức mạnh thực sự của nó, nó không có thua cái bạo lực. Vậy mà cái sức mạnh của tâm linh, của trí tuệ đã lùi bước trước cái bạo lực. Là vì sao? Vì mình không khai thác hết được trí tuệ trong đạo Phật, vì mình cố chấp một cách hẹp hòi.

[17:43]Bây giờ chúng ta thấy cái sự giác ngộ của Phật là hữu hạn hay là vô hạn?

[17:52]Hữu hạn hay vô hạn? Vô hạn. Nếu sự giác ngộ đó là vô hạn, thì cái kinh điển mà để diễn tả được, thì nó hữu hạn hay vô hạn? Cũng phải vô hạn, phải không? Do đó, nghĩa là bây giờ người ta có viết thêm 50 bộ kinh nữa, 500 bộ kinh nữa, 5.000 bộ kinh nữa, vẫn không thể nào diễn tả được cái sự chứng ngộ của Đức Phật, vẫn không thể nào diễn tả được hết. Thế nên, mình chấp là chỉ có bao nhiêu kinh sách mới là Đạo Phật, mới là đầy đủ sự giác ngộ của Đạo Phật, thì là một sự hết sức là hẹp hòi và thiển cận. Thì cũng vậy thôi. Bây giờ nói cái sự giác ngộ của Đức Phật là vô hạn, mà trong cái sự giác ngộ đó, cái sự tịch tĩnh là tuyệt đối,

[18:43]cho nên không cần dùng bất cứ một lời nào để diễn tả hết. Hễ hạ xuống một lời là bắt đầu dư. Bắt đầu là dư. Nhưng mà nếu cần dùng ngôn ngữ để diễn tả, thì chúng ta cần vô lượng kiếp để diễn tả cái sự giác ngộ này vẫn không đủ, vẫn không đủ. Vì cái sự giác ngộ này là vô biên vô lượng. Quý Phật tử đồng ý điều này không? Đồng ý không? Cho nên, một lời cũng là dư, nhưng mà khi cần thì nói trong vô lượng kiếp vẫn không hết cái ý được. Do đó mà khi đã nói rồi thì cái ngôn ngữ là không có hạn chế được.

[19:28]Đây là điều mà chúng ta đặt cái tiên đề như vậy. Đối với Đạo Phật mà mình chấp chỉ có một số kinh điển Pāli, thì ngay nó đã phản bội cái tinh thần của Đạo Phật, một tinh thần là cái sự giác ngộ vô tận như vậy. Rồi còn sinh ra cái sự công kích nữa. Ví dụ như các sư Nguyên Thủy á mà gặp các Bắc tông Phật giáo thì nói liền: "Mấy ông đó Bà-la-môn." Thầy cười... hỏi mấy sư đó, tự nhiên mấy người Phật tử họ không biết, họ gặp mấy sư Nguyên Thủy, họ nói: "Ủa, mấy sư sao đắp y, mặc áo vầy, còn con thấy mấy ông thầy kia mặc áo kia?" Mấy sư cũng trả lời liền: "Mấy ông đó Bà-la-môn." Nói liền à, tức là họ được dạy từ ngàn xưa như vậy.

[20:06]Mấy ngàn năm nay là phải dạy như vậy, tức là không phải là Phật giáo Nguyên Thủy thì người đó là ngoại đạo Bà-la-môn rồi. Thẳng thừng một cách hẹp hòi cố chấp như vậy, mà không tìm thấy được cái đúng của người khác. Như thầy nói một điểm này, mà hồi nãy thầy có nói, một lần thầy có đọc với luận giải của một vị sư Nguyên Thủy, cũng là một tài liệu ở nước ngoài gửi về, thì vị sư đó sau khi diễn tả về các trạng thái của tâm, các vấn đề của tâm niệm, mới nói rằng cái hối hận là tâm bất thiện, vì kể một câu chuyện cái thời đó Đức Phật chưa có chế giới luật, có một vị Tỳ-kheo tu rồi đi về thăm nhà. Thì gia đình ổng chỉ có một mình ổng là con trai,

[20:49]thì ổng cưới vợ rồi, cũng chưa có con cái ổng đi tu. Đi tu cái ổng về thăm nhà, cái cha mẹ buộc ổng phải để lại một đứa con, tại vì ổng đi tu rồi nhà gia đình không có người để thừa kế, thì tài sản sẽ nếu mà cha mẹ chết là sẽ bị sung vào công quỹ.

[21:05]Cái cha mẹ nói quá cái ổng chịu, ổng chịu cái ổng ăn nằm lại với vợ ổng, cái vợ ổng có bầu cái ổng đi trở lại ổng tu. Ổng trở lại ổng tu cái ổng cảm thấy cái việc đó nó nó sai. Lúc đó Phật cũng chưa chế giới luật nha, Phật cũng chưa có nói tới giới luật, nhưng mà tự cái lương tâm ổng ổng thấy điều này nó sai, ổng hối hận bứt rứt. Ổng bứt rứt cả một thời gian rất là dài, chờ cho cái hối hận bứt rứt của ổng đủ rồi, Phật mới kêu lên Phật rầy, Phật dạy, và thế là ổng buông được cái hối hận đó ổng tu, sau này ổng cũng chứng quả. Do cái thời gian mà ổng hối hận bứt rứt ổng xanh xao gầy ốm, nên các sư Nam tông kết luận cái hối hận là tâm bất thiện.

[21:45]Thì nghe xong thầy hỡi ôi luôn á. Thì nghe thầy nói thì kết luận một cái thầy hỡi ôi liền. Thầy nói: "Đây là một cái điều nguy hiểm, vì người ta rất cần cái sự hối hận để người ta sửa đổi, để rửa bớt cái tội lỗi của mình, mà nếu phủ nhận thì cái người mà lầm lỗi họ không thèm hối hận nữa, thì cái tội đó còn nguyên trong lòng họ hết." Mà thầy không hiểu tại sao cái hệ thống Nam tông duy trì cái điều đó, vì các sư Nam tông là trung thành lắm, hễ người trước nói làm sao thì người sau nói y vậy, không dám nói khác. Tức là ông sư đó ổng nói như vậy thì ông sư trước, ông sư trước trước nữa mấy ngàn năm họ cũng nói y như vậy hết.

[22:19]Như vậy thầy hỏi là trong mấy ngàn năm qua một cái người nào mà có thể tìm thấy sự thật không sửa lại được? Không lẽ không ai tìm thấy chỗ này sai trong mấy ngàn năm qua? Do đó thầy nghi ngờ, thầy cảm thấy nghi ngờ cả một hệ thống lý luận. Nên tự cho mình là đúng bắt đầu coi chừng cái sai đã xuất hiện. Nên người bên Nguyên Thủy họ khẳng định mình là đúng dữ lắm, thì thầy nói hễ chấp mình là đúng là bắt đầu cái sai đã từ từ mò tới. Như hồi sáng này vì có một đạo hữu ở Vũng Tàu lên, ông mới than ông mới than với thầy là mẹ ông quá hung dữ, không biết Phật pháp gì hết, tới lúc này bệnh già yếu rồi mà vẫn còn hung dữ chửi

[23:02]người này chửi người kia, ông khuyên gì khuyên không nghe, mở băng kinh không thèm nghe, mở Chế Linh thì nghe. Ông nói: "Nửa bả chết chắc Chế Linh độ bả chứ không ai độ được hết." Thì nghe thì thầy cũng không hiểu được cái nguyên nhân mà tại sao cái hung dữ nó kéo dài như vậy, nhưng mà nghe ông kể kể một lát nó lòi ra. Khi mà khuyên tu á thì ổng nói: "Tao ăn hiền ở lành tao có moi mề móc mật của ai đâu mà mày nói tao phải tu?" Thì nghe xong thầy nói: "Rồi rồi, thôi được rồi, thầy tìm ra nguyên nhân rồi." Nguyên nhân là cái người mà tự xưng mình ăn hiền ở lành thì sẽ làm điều ngược lại. Hễ là ai mà tự cho mình có cái gì hay thì cái dở bắt đầu nó lòi ra.

[23:40]Nên đó là việc nhỏ của con người, thì bây giờ nói tới chung cả một Đạo Phật lớn cũng vậy. Khi mà mình bắt đầu quả quyết mình là đúng rồi thì bắt đầu mình sẽ làm sai. Đó là vậy, cho nên chúng ta luôn luôn cần cái tâm khiêm hạ là vậy đó. Lúc nào cũng tránh cái tâm tự hào là vậy. Lúc nào cũng phải dè dặt dè dặt, hễ thấy mình đạt được một kết quả gì, phải hiểu còn rất ít, còn rất dở, chưa tới đâu đâu. Thì như vậy nó còn hy vọng đi tới được, chứ mình vừa đạt được một kết quả gì trong sự tu hành thấy: "Rồi, mình ngon rồi, mình đúng rồi", thì ít bữa thối thất mất liền, mất liền. Đó đó. Đây là chính cái chỗ mà hễ mình chấp mình đúng mà công kích

[24:19]người khác sai là tạo nên một cái sự chia rẽ thôi. Và chúng ta thấy nghĩa là trong cái thời điểm thời Đức Phật ở đất nước Ấn Độ, Phật đã nói những điều như vậy. Bây giờ qua một cái thời gian khác, qua những đất nước khác thì cần cái sự phát triển mới để cho Đạo Phật nghĩa là thích ứng mà giáo hóa, làm lợi ích cho chúng sinh. Chứ còn mà nếu cứ chấp như vậy, nếu mà cứ chấp như vậy thì Đạo Phật tự mình trói buộc chính mình lại. Đó chúng ta thấy sự phát triển là cần thiết, sự phát triển là cần thiết, phải không? Chứ không thể là cứ nói Phật nói nhiêu mình cứ lặp y như vậy thì nó sẽ thành nhàm. Cho nên khi mà cái thời đại phát triển thì Đạo Phật cũng cần phát triển thêm,

[25:02]tức là cần nói thêm những điều mới, vì Phật mới nói được có nắm lá à. Bây giờ bắt đầu mình thêm một vài cái mảnh lá, những cọng lá nhỏ nhỏ, chứ mình cũng không nói được một cái lá đâu. Ví dụ Phật nói được một nắm, thì mình nói hết trí tuệ mình cũng chưa được một cái lá đâu, mình thôi mình nói được cái cọng gì thêm được cũng được. Tức là cũng cần thêm rất nhiều sự phát triển mới để phù hợp với tâm tình của con người, điều đó là hợp lý. Nhưng mà nó cái khó cái này: Cái người mà nói cái điều mới đó biết đúng hay sai? Phải không? Biết là nói đúng hay sai đây chứ? Đó. Nếu mà đúng á thì rất là tốt, nghĩa là có lợi cho Phật pháp

[25:40]và lợi ích cho chúng sinh, nhưng mà lỡ nói sai cái dắt người ta đi quẹo mất tiêu, nó lạc ra khỏi Đạo Phật luôn. Thì bây giờ mình biết dựa vào đâu để đánh giá cái người mà họ phát triển cái điều mới là người đó đúng hay sai? Thì dựa ở đâu?

[25:55]Dựa ở đâu mà đánh giá? Ví dụ như bây giờ quý Phật tử nè, quý Phật tử mà đang ngồi trên chùa là có duyên với thầy, nên tin rằng thầy nói đúng, phải không? Những điều thầy nói thật ra nó cũng không có khác gì Đạo Phật, nhưng đều cái cách thầy nói nó mới thôi. Ví dụ Phật cũng nói từ bi, thầy cũng nói từ bi, có gì lạ, nhưng mà cách thầy nói nó mới. Thì bây giờ những người ngồi đây thì đa số đều tin rằng thầy nói đúng nên theo thầy, phải không? Nhưng mà còn rất nhiều người khác họ nói thầy nói sai. Nhưng bây giờ biết làm sao là đúng, sao là sai, phải không? Bây giờ dựa vào đâu? Mà Đạo Phật thì cần phải phát triển, không thể không phát triển.

[26:31]Nếu mà đứng yên không phát triển, là tự mình đào thải mất Đạo Phật mình ra khỏi nhân loại, nên phải luôn luôn phát triển. Nhưng mà cái phát triển nói lên cái điều mới thì dựa ở đâu mà nói đúng nói sai? Dựa ở đâu?

[26:49]Nó cũng khó lắm, nó cũng khó. Nên thường là thế này: cái người mà nói lên điều mới á mà được người ta nghe hay không á là có hai điều. Một là người đó có uy tín hay không, có uy tín hay không. Hai là cái chúng sinh có duyên với người đó hay không, đó như vậy. Ví dụ bây giờ có một cái vị Hòa thượng á ổng khá nổi tiếng, ổng khá nổi tiếng. Những điều mà ổng nói ban đầu khá hợp lý, hấp dẫn, lôi cuốn, nhiều người đã đi tin theo. Nên bây giờ qua mấy chục năm rồi, ổng thành uy tín ổng vững chắc rồi. Bây giờ ổng nói ổng nói thêm cái gì nữa người ta cũng tin là đúng, "Ờ đúng rồi, cứ theo ổng đi." Nhưng mà coi

[27:30]chừng à, có khi về sau ổng nói có trật ở trỏng á. Đó là một trường hợp, là nhờ có uy tín rồi người ta tin theo cái sự phát triển của mình. Thứ hai đó là có duyên. Có duyên ví dụ như là bây giờ ví dụ trường hợp thầy thì thầy là người không có uy tín gì hết, thầy cũng chỉ tuổi đạo ít, tuổi đời nhỏ, và cái thời gian thầy đi giảng làm việc cũng không có bao nhiêu so với những vị khác. Nhưng mà tại sao quý Phật tử tin thầy? Là vì hồi xưa chắc là cũng có duyên gì với thầy trong kiếp trước. À trong cái kiếp trước là là thì không có nhớ được cho nên thầy cũng không biết là không có nhớ là mấy Phật tử ngày xưa có duyên với thầy bằng cái cách nào.

[28:08]Hoặc là cho thầy mượn nợ hay là thầy cho mượn nợ không biết, mà bây giờ thành ra có cái duyên mà ngồi đây với nhau. Nhưng mà cũng có cái duyên gì đó nên mới lên đây mà ngồi nghe thầy mà có vẻ tin thầy. Chứ còn những người mà không có duyên họ không có tin. Thế nên sự phát triển của đạo Phật nó khó là chỗ đó đó. Khó là có rất nhiều người đã nói theo những điều mới mà trong đó đúng và sai đã lẫn lộn. Rồi cái người đó do cái phước cái duyên gì của mình á mà được một số người khác nghe theo, cho nên cũng làm thành từng nhóm, từng tông, từng phái, bắt đầu chia rẽ ra. Cái phát triển là cần thiết, nhưng cuối cùng nó đã tách

[28:45]đạo Phật ra thành nhiều cái phái, nhiều nhóm hết rồi. Mà rồi cái đúng sai lẫn lộn là như vậy. Và vì vậy, hôm nay chúng ta nói đến một cái đạo Phật cho ngày mai. Là ngày mai là một cái ngày nào? Ngày mai là những cái ngày sắp tới mà cái tình hình của thế giới nó đã có một cái bối cảnh rất là mới. Rồi cái sự phát triển của khoa học kỹ thuật nó tiến quá nhanh, rất là mới, thì đạo Phật mình cũng không thể cũ được. Con người ta nó càng lúc càng đòi hỏi cái lý trí rất là cao thì mình cũng phải đáp ứng được hết những cái điều đó. Người ta là người trí thức lý trí lắm, những nhà khoa học họ học hết sách hết vở rồi.

[29:23]Cái điều cái lý luận trong toán học của họ chặt chẽ nên là không có một điểm sơ hở nhỏ, thì khi họ dùng cái trí tuệ đó họ nhìn vào trong đạo thì họ cũng vậy, họ xem xét từng cái lý luận nhỏ của đạo, chỉ cần một điểm sơ hở nhỏ là họ gạt ra liền. Thì đạo Phật mình có nhiều cái rất là đáng quý, nhưng mà nếu mình không phát triển cho nó phù hợp thì người ta không có chấp nhận mình, mình không có đem đạo Phật đến với cuộc đời, đến với thế giới được. Do đó, đạo Phật cần phát triển cho một ngày mai hết sức là phù hợp. Vì thế giới họ lúc này chật chội lắm rồi. Ngày xưa đó, mình muốn mà liên lạc với một người ở bên Âu châu,

[30:01]bên Mỹ, mình viết bức thư đi không biết năm ba tháng mới tới rồi bên kia người ta gửi thư năm ba tháng mới về. Sau này có máy bay rồi mình gửi bức thư qua chừng tuần mười ngày tới rồi người ta gửi thư lại một tuần mười ngày về phải không? Bây giờ thì cái điện thoại nhấc lên cái gọi là nói chuyện mà nói rõ mồn một. Hoặc mình sợ tốn tiền điện thoại thì mình gửi thư điện tử là email, mình gõ máy đánh qua nhấn rẹt bên kia họ nhận được liền. Rồi họ ngồi gõ gõ nhấn rẹt bên đây là trong tích tắc nhận được liền. Là cái thế giới họ liên lạc với nhau như vậy đó. Nên một chuyện nhỏ nhỏ ở ngõ hóc, ngách hẻm, xó nào thì cả thế giới biết hết trơn.

[30:33]Chuyện là lạ là người ta đăng báo hết. Nên bây giờ mình ngồi ở đây mà mình cảm thấy như cái chuyện bên bên Âu châu, bên Mỹ, chuyện Tổng thống Bill Clinton bị cự nự ở Quốc hội gì mình thấy rõ từng ngày từng ngày, mình thấy cái thế giới nó không có xa nhau nữa, không xa nhau nữa. Ở đây đó thí dụ như khi mình đọc báo á, mình chuyện bên Mỹ bên Pháp mình biết mà chuyện bên hàng xóm nhiều khi gần mình bên hông chứ mình lại không hay á. Cái thế giới càng lúc nó càng chật lại. Trong cái thế giới chật chội đó thì những cái người mà họ tiến bộ đó họ có cái khuynh hướng đoàn kết lại, gom lại chung một mối, xóa các ranh giới.

[31:07]Nhưng cũng có những cái khuynh hướng lại rất là lạc hậu, lui lại, tiếp tục chia rẽ, tách rời, ly khai ra, chống đối với nhau. Thì con người ta vẫn tiếp tục mới là có những cái si mê như vậy, si mê lầm lẫn như vậy. Thì chúng ta phải làm cái gì? Trước hết là chúng ta hoàn thiện đạo Phật mình lại, đoàn kết lại thành một khối chung để chúng ta đem cái tinh thần từ bi, tinh thần hòa hợp đó đến cho thế giới, làm cho cái thế giới này ngày sau này cũng được cái hòa hợp, cũng được cái đạo đức như vậy. Cho nên chúng ta vì thương yêu con người, thương yêu thế giới này mà chúng ta phải củng cố lại cái đạo Phật mình cái đã.

[31:43]Tìm cho đạo Phật mình một cái khuôn mẫu gì đó, một cái đường lối gì đó mà nó có một cái điểm chung đồng để gom hết tất cả các tông phái lại vào một chỗ luôn. Mà muốn làm được điều đó thì tự mỗi người, từ mỗi tông phái phải bỏ cái chấp mình xuống cái đã. Trước hết là buông cái chấp rằng chỉ có tông mình là đúng, buông cái ý nghĩ đó, buông xuống đi, buông sạch xuống. Nghĩa là cái người Nguyên thủy cũng buông xuống đừng nghĩ rằng mình đã đúng tuyệt đối. Rồi cái người Đại thừa buông xuống đừng nghĩ mình là cao, là đúng rồi. Cái đúng nó vẫn còn nằm ở chỗ khác nữa mà mình vẫn phải tham khảo, tìm tòi, học hỏi.

[32:18]Nghĩa là đó bây giờ chúng ta chưa biết cái điểm đúng chung ở chỗ nào để cho mọi người tìm lại. Nhưng mà trước hết thì mỗi tông phái phải thực hiện được cái điều này, là buông xuống cái cố chấp rằng cho rằng chỉ có mình là đúng. Buông cái đó trước rồi bắt đầu chúng ta mới nói chuyện khác tiếp theo. Bây giờ chúng ta nói tiếp thế này: thì ở đây thầy đưa ra một cái mẫu đạo Phật cho ngày mai. Mà dĩ nhiên đây là cái mẫu của thầy đưa ra thì thầy cũng phải buông luôn cái ý nghĩ rằng cái mẫu này là đúng, đúng duy nhất. Coi chừng nó cũng còn có sai, phải không? Thầy kêu người ta buông cái chấp thì thầy cũng phải buông trước.

[32:58]Nên ở đây thầy đưa ra cái mẫu này cũng là đưa ra một cách dè dặt. Biết đâu có người có cái ý kiến gì hay hơn. Nhưng mà bây giờ đây là lỡ cái trí tuệ thầy nó có nhiêu đây, cho nên thầy cũng đành phải nói nhiêu đây thôi chứ không nói nói hơn được nữa. Sau này có vị nào cái trí tuệ họ cao hơn thì họ lại tìm ra những cái hay hơn nữa, những cái điểm nào mà có thể đoàn kết cả đạo Phật lại một chỗ. Còn bây giờ thì moi hết đầu hết óc thầy ra, hôm giờ thầy gãi đầu gãi tai đủ thứ thì tìm ra được có nhiêu đây, giờ thầy trình bày nghen. Là đạo Phật cho ngày mai là một đạo Phật có bốn yếu tố. Cái thứ nhất á là dựa vào gốc Nguyên thủy.

[33:39]Nghĩa là cái hệ thống mà kinh Pali đó của các sư Nam tông á là phải dựa nó làm tiêu chuẩn gốc của đạo Phật, chứ không có được đi xa, không có được đi sai ra khỏi cái gốc đó. Vì nếu mà mình phát triển mà mình đi trật cái gốc là mình là cái cây khác, không còn là cái cây đạo Phật nữa. Nghĩa là phải bảo đảm ví dụ mình nói là bây giờ cái cây xoài thì bảo đảm là cái trái cái hoa đó nó từ cái cành đó, mà cái cành đó từ cái thân đó, thân nó bảo đảm từ cái gốc đó. Còn bây giờ mình cũng lấy trái, nhưng mình coi kỹ cái cành nó ở đâu, cành nó vô cái thân, cái thân nó không ngờ không phải là cái gốc cây xoài mà là một cái cây mọc chung một chỗ với cây xoài.

[34:16]Hai cây mọc ép sát nhau vậy mà nó khác gốc nhau thì rõ ràng ra cái trái không phải trái xoài nữa. Thì cũng vậy, chúng ta chấp nhận cái sự phát triển mới cho đạo Phật, nhiều lý luận mới, nhiều tư tưởng mới, nhưng mà những cái tư tưởng đó khi mà so lại, gom lại, quy lại, đối chiếu lại nó phải đúng hoàn toàn theo cái hệ kinh Pali, không có đi sai ra ngoài. Thì đó đó là như vậy. Nên đạo Phật mới có một yếu tố trước hết là phải dựa đúng vào cái gốc Nguyên thủy. Quý Phật tử chịu không? Nếu ai có ý hay hơn thì nói nha, chứ thầy cũng chưa chắc thầy đúng đâu. Rồi yếu tố thứ hai nữa cho cái đạo Phật của

[34:56]ngày mai là phải tham khảo thêm Đại thừa,

[35:02]chứ không bao giờ được nói Đại thừa là ngoại đạo hết. Dĩ nhiên Đại thừa cũng đừng bao giờ cho mình là đại nữa, hễ cho mình là đại bắt đầu mình tiểu á. Cái nhân quả nó vậy đó, hễ tự thấy mình là lớn thì bắt đầu mình làm chuyện nhỏ nhặt, chuyện nhỏ mọn liền à. Cho nên có rất nhiều người tự cho mình Đại thừa mà rồi gây gổ nhau rồi cái giành nhau từng chút này chút kia. Cho nên mình càng nói mình lớn thì mình sẽ làm những điều toàn là chuyện nhỏ mọn lặt vặt không à. Đó là nó hiện ra cái đạo đức nhân quả. Thì bây giờ tham khảo thêm Đại thừa, nhưng mà những người Đại thừa là cũng buông luôn cái tư tưởng tự cao của mình.

[35:39]Đây là mình nói một đạo Phật của ngày mai không có tông phái, thì cái đạo Phật đó dựa vào gốc Nguyên thủy xong bắt đầu dựa vào cái tư tưởng Đại thừa. Bởi vì nhiều cái tư tưởng Đại thừa hay vô cùng. Phải công nhận là những vị tổ Đại thừa thời đó trí tuệ rất là sáng suốt, nhiều khi mình cho là Bồ Tát cũng được. Là những vị đó cũng có cái tâm chứng gì rất là đặc biệt nên trí tuệ vô cùng là xuất sắc, ứng trong cái thời đại Ấn Độ thời đó nên các ngài đưa ra những lý luận hết sức là độc đáo. Yếu tố thứ ba là tham khảo thêm khoa học. Khoa học là những điều mà mới mẻ hiện nay, là do cái công lao tư duy, thí nghiệm của không biết

[36:20]bao nhiêu các nhà bác học, trí thức trên thế giới này tìm ra từ từ hết nguyên lý này tới nguyên tắc kia. Cái khoa học thì nó bao hàm rộng lắm, cả các xã hội học, kinh tế học, rồi đi vào trong cái kỹ thuật, vật lý học, toán học là đủ thứ hết, gọi chung là khoa học. Thì cái người tu theo đạo Phật, nghĩa là một cái người mà đi tìm cái đạo Phật cho ngày mai là người phải có kiến thức khoa học, nghĩa là phải áp dụng được khoa học vào trong đạo Phật. Là là chúng ta tham khảo thêm khoa học chứ cũng không được quyền nghĩa là là dốt đối với khoa học nữa. Nên có những người có cái tư tưởng cực đoan cho rằng đạo Phật là

[36:59]đủ chân lý rồi, không cần biết tới khoa học nữa thì người này cũng là một cái sự hẹp hòi, thiển cận mới chứ không có đúng. Lát chúng ta nói thêm. Và thứ tư, yếu tố thứ tư là phải đối chiếu với công phu tu hành của bản thân mình. Vì Phật nói, đây là điều Phật dạy trong kinh Nguyên thủy, là đừng tin bất cứ điều gì ai nói hết trơn. Phải thử nghiệm nơi bản thân mình coi được hay không, kết quả như thế nào rồi mới chấp nhận cái điều đó. Đây là trong cái bài kinh Kalama đó, khi mà có người hỏi Đức Phật, cũng dài dòng rồi Đức Phật nói đừng tin ai hết. Nghĩa là kể cả những người có uy tín cũng đừng có tin, những cái lời đồn đãi đừng thèm tin.

[37:41]Rồi cái người mà thầy mình cũng đừng thèm tin, chính cái ý nghĩ của mình cũng đừng tin. Mình chỉ tin cái điều gì mà khi mình đã thực hành kỹ, kiểm tra nó kỹ rồi mới tin. Đây là điều Phật dạy thì bây giờ chúng ta cũng áp dụng trong cái yếu tố thứ tư này. Nghĩa là chúng ta dựa vào gốc Nguyên thủy nè, cái giáo lý Nguyên thủy, tham khảo thêm giáo lý Đại thừa, tham khảo thêm những cái sự tiến bộ của khoa học. Xong hết rồi bắt đầu ngồi tu thử coi nó tới đâu, tu thử tới đâu cái đã, được hay không rồi mới tính. Rồi những cái công phu thiền định cũng vậy, mỗi ngày mình ngồi kiết già, bắt chân, nhiếp tâm vào trong định thì Phật dạy về hơi thở như

[38:17]vậy, rồi bên Đại thừa hơi thở như vậy, cái mình thực hành thử, mình đi tìm chính nơi bản thân mình, nơi tâm mình, rồi coi tâm mình có bắt đầu yên hay không, có định hay không, mình kết luận điều này có đúng hay không. Dĩ nhiên mà cái dựa vào cái công phu của bản thân mình á nó cũng có phần nào chủ quan, tùy duyên tùy phước của mỗi người nữa. Nhưng mà đây là điều bắt buộc phải làm thôi, vì đây là tinh thần nhân bản của đạo Phật. Cũng có người ví dụ như áp dụng cái hơi thở, cái người thì vô định, người thì hít thở không không có định thì cái người hít thở không định nói: "Vậy là Phật nói trật." Còn cái người hít thở được định thì nói:

[38:52]"Phật nói đúng." Thế nên khi mà mình dựa vào cái công phu của bản thân mình á nó cũng có cái nó sẽ tạo thành cái sự sắc thái khác biệt giữa từng người nhiều lắm đó, chứ không phải là không. Nhưng mà bắt buộc phải như vậy, bởi vì đạo Phật là đạo của con người, là đạo mà từ sự thực hành chứ không phải là niềm tin mù quáng. Cho nên khi mà chúng ta đã học Nguyên thủy, học Đại thừa, tham khảo khoa học, rồi bắt đầu phải thực hành, làm bao nhiêu việc thiện, tu tập thiền định, tôn kính mọi người, khiêm hạ nơi bản thân vân vân, đều phải thực hành hết để tìm coi những cái điều đó có đúng hay không, nghĩa là ba cái yếu tố kia có đúng hay không.

[39:31]Bây giờ chúng ta nói cái yếu tố là tham khảo Đại thừa. Tại sao có cái sự xuất hiện của Đại thừa? Vì thế này, vì các vị Tổ Đại thừa mới nhìn ra được cái ích kỷ của những người mà chỉ tự tìm giải thoát, những người mà sợ lỗi cho bản thân, nên các Tổ Đại thừa mới mở ra cái công hạnh Bồ tát hoàn toàn vị tha. Có một lần thầy đọc trong báo Giác Ngộ cái chuyện mà Tế Điên hòa thượng á. Quý Phật tử có đọc cái chuyện đó không? Chắc cũng có người đọc, người không. Thì lúc đó hình như ngài Tế Điên á mới gặp một vị tu tiên, vị đạo tu nào đó thầy cũng không có nhớ rõ lắm, thì hỏi vị đó tu sao, vị đó mới nói thế này:

[40:14]"Tôi cố gắng giữ gìn bản thân mình không cho phạm lỗi, không dám làm việc gì khác." Nghĩa là cuộc đời tu của tôi chỉ là cầu không có lỗi, chứ không cầu làm cái việc lợi cho người khác. Cái quan điểm tu hành của ông là như vậy. Thì nghe thì mới nghĩ là đúng rất nhiều người mà tu theo Phật giáo Nguyên thủy đã bị đúng cái chỗ này luôn. Thầy nói rất nhiều chứ không phải là toàn bộ. Có nhiều người cũng nghĩ ra được cái điều khác, nhưng mà hầu hết á là giữ điều này giữ điều kia, sợ bản thân mình lỗi lắm, còn ai sao kệ, thì không ngờ chính cái điều này lại là một điều ích kỷ. Có một ông cha bên Thiên Chúa, ông nói câu này:

[40:56]"Có những người không bao giờ lầm lỗi, vậy mà suốt đời lầm lỗi." Nghĩa là sao? Nghĩa là cái người mà giữ cho mình không có lỗi, sợ tránh lỗi hết, cái gì cũng tránh đừng có lỗi, không ngờ suốt đời lầm lỗi là mắc cái lỗi vị kỷ. Vì khi mà mình bước ra mình làm lợi cho người này người kia, thế nào mình cũng đụng lỗi. Nhưng mà có lỗi chứ mà được có cái tâm vị tha. Còn cái người sợ lỗi, không làm gì có lỗi hết, nhưng mà chính cái tâm vị kỷ mới làm cái gốc của đau khổ. Trong đây nó có cái câu chuyện. Câu chuyện Bát Nhã Sanh thầy chưa có giảng tới nhưng mà sẵn vì liên quan tới cái ý này nên thầy kể lại.

[41:38]Cái chuyện gần cuối đó là chuyện Vị Ngã. Là trên quãng đường rừng vắng vẻ, một tên tướng cướp đã hoàn lương đang hối hả trở về non. Mục đích anh ta về hỏi thầy xem cách nào cho mau tiêu tội chướng. Đã hơn 3 năm qua dù hết lòng làm việc thiện mà bộ đồ thâm của anh chưa trắng lại được theo lời thầy mách trước, chứng tỏ tội giết 51 mạng người của anh còn nguyên đó. Anh bước đi vẻ buồn rầu, ân hận, xốn xang. Nghĩa là anh này á, ông thầy ổng cho cái bộ đồ mà nó bị cái tội ảnh nhiều quá nên bộ đồ nó bị màu đen, mà ông thầy ổng dặn: "Chừng nào mà con hết tội là bộ đồ tự nhiên nó thành màu trắng." Mà ảnh

[42:14]làm việc thiện quá chừng mà thấy bộ đồ nó cứ có đen hoài, anh buồn. Anh đi về núi để hỏi cách nào làm mau mau. Đang đi bỗng có tiếng khóc lóc van xin thảm thiết vang lên ở phía trước. Anh chạy nhanh đến, thấy một tên cướp toan giết người để đoạt của. Anh vội bước tới khuyên ngăn. Vì tình đồng nghiệp cũ, tên cướp với giọng hách dịch nói: "Thôi đường ai nấy đi, nếu can vào phải chịu chung số phận với mụ này." Anh suy nghĩ: tay mình đã đẫm máu quá nhiều, chưa gột được, chả lẽ lại nhúng thêm vào máu nữa, toan bỏ về non lo gỡ tội xưa. Nhưng khi nhìn thấy ánh mắt van lơn tha thiết khẩn cầu của người cô thế lâm nguy, anh không nỡ phó mặc.

[42:50]Sau vài giây giằng co giữa lòng vị kỷ và vị tha, anh quyết định: "Thôi ta cam đọa địa ngục để cứu người nguy khốn." Anh vung lên vài đường kiếm tuyệt luân, tên cướp ngã quỵ, máu ra lênh láng. Anh sững sờ nhìn xác chết như là mình mới giết người lần đầu, miệng thì thào: "Đó là sự bất đắc dĩ, thật ta đâu nỡ thế." Nhưng lạ thay, anh nhìn lại bộ đồ thâm của mình đã đổi trắng. Thật không thể ngờ điều mong ước từ lâu nay đã đến, thế là dấu hiệu tội lỗi đã chấm dứt. Cái câu chuyện như vậy. Và ở đây á, chúng ta thấy thế này, chính cái người mà sợ cái lỗi hoặc là cái người tu ghê gớm lắm mà chỉ đi tìm cái

[43:31]giải thoát thì ngay người này nghĩa là chắc chắn 100% là người ích kỷ. Chắc chắn không còn cách nào khác hơn. Không biết có một lần thầy có nói, bởi vì tất cả chúng ta đến với đạo Phật là đi tìm cái gì? Đi tìm giải thoát, giác ngộ, phải không? Hỏi trăm người ai cũng nói đúng câu đó hết trơn. Thì cái câu trả lời đó nó chứa đựng luôn cái sự ích kỷ luôn. Nghĩa là mình đi tìm cái mục đích gì cho chính mình thì ngay đó là vị kỷ rồi. Còn nếu mà mình đi tìm sự giải thoát khỏi cái sai lầm, khỏi cái chấp ngã để rồi từ đó mình đủ lòng đại bi, đủ năng lực để làm lợi ích cho chúng sinh á thì cái giải thoát đó không có lỗi.

[44:15]Như vậy cái giải thoát nó chỉ là phương tiện, phải không? Như vậy cái giải thoát nó chỉ là phương tiện để mình đủ trí tuệ, đủ đạo đức, đủ năng lực làm lợi ích cho chúng sinh, mà mục đích cuối cùng là gì? Là độ cho chúng sinh, làm cho chúng sinh được đạo đức và làm cho chúng sinh cũng được giải thoát. Cho nên cái mục đích cuối cùng nữa lại là cũng là giải thoát nữa, mà là giải thoát của người khác. Còn với bản thân mình, cái sự giải thoát nơi bản thân mình chỉ là phương tiện thôi, mà mục đích cuối cùng là sự giải thoát của tất cả chúng sinh. Chúng ta phải hiểu cái ý nghĩa giải thoát là như vậy,

[44:52]chứ còn mình tìm đến đạo Phật mà nói chữ giải thoát mà giải thoát cho mình là rơi vào lỗi ích kỷ liền. Cho nên đây là cái cái chỗ mà các vị Tổ Đại thừa ngày xưa đã nhìn thấy. Nhìn thấy cái người đến với đạo Phật cứ nói đi tìm giải thoát, đi tìm giải thoát, các ngài nhìn ra cái ích kỷ liền. Cũng như những người Phật tử bên Nguyên thủy vậy, cúng cái gì là để gì? Để cầu phước. Thì cái đó là ích kỷ hay vị vị tha? Nó là cái vị kỷ hẳn hoi liền, phải không? Cho nên nếu mình nếu mình bố thí cho người nào đó chỉ vì lòng thương yêu, không nghĩ tới quả báo thì phước thì vẫn có đó, nhưng mà tâm mình không có vị kỷ.

[45:29]Cũng giống như Phật tử đem tài vật tới cúng dường nơi chùa, phước thì chắc chắn phải có đó, nhưng đừng có tâm cầu phước. Mặc dù phước phải có nhưng mà như vậy là không có vị kỷ. Mình chỉ mong rằng à quý thầy, quý cô có cái phương tiện để tu hành rồi sau này làm lợi ích cho chúng sinh, duy trì Phật pháp, cái tâm niệm đó là cái tâm vị tha. Phước nó còn gấp bội bội lần cái tâm cầu phước nữa, khi có tâm cầu phước nữa. Còn khi mình cúng mà có tâm cầu phước thì nó cũng có thiệt, nhưng mà nó đã chờ cái hiểm họa sau lưng. Nên do đó, cái tư tưởng mà không cầu phước, tư tưởng của Đại thừa rất là độc đáo.

[46:07]Vì nhìn ra những cái lỗi đó đó mà các vị Tổ Đại thừa mới mở ra cái công hạnh Bồ tát hoàn toàn vị tha. Và từ đây, nghĩa là cái người mà tu theo đạo Phật là không có nghĩ gì cho mình nữa, kể cả cái sự giải thoát của mình. Là tu từng giờ từng phút là chỉ vì người khác, làm bất cứ điều gì chỉ vì người khác mà làm, hoàn toàn vị tha. Tìm từ cái vị tha này mà sau này nó tạo thành cái sự tự do vô biên vô lượng luôn. Cái sự tự do vô hạn đó chính là giải thoát đó. Nên các ngài đã đi con đường đó và rất là thành công. Và chính các nhờ cái tư tưởng độc đáo của Đại thừa làm cho Phật giáo lan tràn hết từ nước này sang nước kia,

[46:48]lan tràn một cách rất là mạnh mẽ luôn, nhờ cái tư tưởng độc đáo như vậy. Mà đây là cái điểm chung đồng của thế giới luôn. Cái cuộc sống vị tha nó là một cái đạo đức tuyệt vời mà bất cứ một tôn giáo nào cũng phải công nhận. Còn cái người nào mà mà không công nhận vị tha thì mình biết ngay người đó không phải là một cái nền đạo đức. Còn mà đời sống vị tha nó là điểm chung của tất cả tôn giáo chứ không riêng là của đạo Phật. Thì chỗ này chúng ta thấy này, cái công đức đã đưa đến tự tại. Cái người đó mà tạo được phước lớn mà sống đời sống vị tha thì cái người đó được cái phước, và chính cái phước làm cho họ trở nên được tự tại.

[47:32]Cho nên cái từ tại mà cái từ tại này nghĩa là cái định đó, cái tâm mình đạt được cái định thiền định đó. Cái thiền định phải do phước mà có, mà phước là thực sự của cái phước là do một đời sống hoàn toàn vị tha mà có. Cho nên khi một vị Bồ tát mà sống hoàn toàn vị tha thì người đó lại dễ được thiền định. Mà khi được thiền định rồi, tâm từ tại rồi, để làm cái gì? Để lên Niết bàn ở, phải không? Không phải, lại để làm lợi ích chúng sinh tiếp. Đó là như vậy đó. Nên cái cái tư tưởng này của Đại thừa là một tư tưởng phát triển đạo Phật rất là độc đáo mà rất là cần thiết. Nên đây chúng ta biết ơn Đại thừa là chỗ này.

[48:11]Mà khi một vị Bồ tát mà tu cao rồi, đến những vị như là ngài Di Lặc nè, Bồ tát Quan Âm, Bồ tát Văn Thù, Phổ Hiền, tới những vị đại Bồ tát như vậy á thì thầy xin thưa luôn là cái mục tiêu mà thành Phật biến mất luôn.

[48:26]Bây giờ mình mà hỏi, gặp mấy vị đó mà hỏi thử, bữa nào mình cứ niệm Quan Âm xuống con hỏi thử coi cái ông Chân Quang ổng nói bậy bạ không biết có đúng không. Ổng nói là các ngài không thèm thành Phật nữa không biết có đúng không, hỏi thử đi. Đến trình độ các ngài là cái mục đích thành Phật biến mất luôn, không còn nữa. Nhưng mà có thành Phật không? Rồi cũng thành, bởi vì cái nhân đủ nó quả tới à, nhưng mà chừng nào thành? Vô lượng vô ức kiếp, như là Phật thọ ký đó: À, ta thọ ký là ngài Xá Lợi Phất qua vô lượng vô biên vô số ức kiếp đến cõi nước đó tên là Hoa Quang Như Lai. Mình nghe mình hết hồn, mình nói tu 3 tháng mà mình không được định là mình thấy

[49:03]mình rầu, còn nói thọ ký vô lượng vô biên vô ức kiếp, cái điều đó nghĩa là gì? Nghĩa là đối với một vị Bồ tát cái thời gian là vô nghĩa, không quan trọng. Đối với một vị Bồ tát cái việc là từng giờ từng phút làm lợi ích chúng sinh. Đó, cái giá trị là từng giây phút hiện tại làm lợi ích chúng sinh, còn cái việc bản thân mình thành cái gì không có quan trọng, tại mình đâu còn là mình nữa, các ngài đã vô ngã hết trơn rồi, đâu còn nghĩ gì cho mình nữa. Cho nên cái tư tưởng Đại thừa chỗ này rất là độc đáo. Còn cái người Nguyên thủy mà nói rằng tu là phải chứng từng bước, ngày nay tu phải chứng quả này, phải chứng quả kia,

[49:38]thành thử cuối cùng cái lại làm cái điều rất là kém, rất là thấp kém. Cho nên cái tư tưởng Đại thừa mà phát triển đạo Phật lên tới cái mức độ đó, thật là độc đáo, thật là độc đáo. Nghĩa là thấy tu vị tha hết mình mà không bao giờ nghĩ tới cái quả nữa, mất luôn, quên luôn.

[49:58]Nhưng mà không ngờ thế này, không ngờ là khi mà mình lo cho chúng sinh như vậy, cái công hạnh nơi mình nó dần dần hoàn chỉnh hết trơn rồi. Ví dụ bây giờ, ví dụ như bản thân thầy đi, thầy là người bê bối, tệ lậu, không ra gì hết trơn, không nên thân nên nết gì, ví dụ vậy. Mà chắc cũng vậy thiệt. Nhưng mà nếu lỡ hên thầy có một chút hên là thầy có lòng thương người, thầy có chút đó thôi, nên thầy nghĩ tới chúng sinh, nghĩ tới nhân loại, nghĩ thế giới, nghĩ tới Phật pháp. Vì nghĩ riết rồi phải ráng tu chút chút, phải lo này lo kia chút, tự nơi thầy cái công hạnh nó từ từ nó hoàn chỉnh lại. Những cái mà chưa hoàn chỉnh từ từ nó lấp đầy nó hoàn chỉnh lại hết.

[50:38]Đó là nói như vậy, thầy nói ví dụ thôi chứ thầy thì không được cái gì hết trơn. Nhưng bây giờ quý Phật tử nhớ như vậy đó, chính bản thân mình, khi mà mình cứ lo cho mọi người, thương yêu chúng sinh thì những cái công hạnh mà mình chưa đạt được từ từ đạt được hết luôn. Nó nó nó lạ như vậy. Còn mà mình bây giờ mình muốn đạt được điều đó, mình bỏ hết mọi người đi để mình tu cái gì cho được cái hạnh đó, thì lại không được gì hết trơn. Như bây giờ thầy nói nội cái hạnh nhẫn nhục thôi, nhẫn nhục là gì? Là chịu đựng cái nghịch cảnh, chịu đựng cái sự chửi mắng, mưu hại của người khác. Bây giờ cái mình mình nói thôi bây giờ tôi không tu,

[51:10]không lo cho ai hết, tôi về tôi tu cho được cái hạnh nhẫn nhục đã. Mình nói như vậy thì lại không nhẫn nhục được. Vì mỗi lần mà gặp nghịch cảnh mình lại buồn khổ, ai chửi mắng mình, mình lại buồn quá. Thôi ráng nhẫn nhục, nói thôi bây giờ anh đi làm phước, thôi tôi không làm phước hết, tôi về tôi ở nhà tôi cắn răng tôi chịu cái nhẫn nhục, mà chịu không được. Còn bây giờ bắt đầu mình vị tha, sống thương yêu mọi người á, tới chừng gặp người ta, người ta chửi mình cái tự nhiên không giận, cái nhẫn, không nhẫn nhục mà mà tự nhiên thành nhẫn nhục. Ta không có buồn nữa, tại vì mình đang thương cái người chửi mình,

[51:41]mà cũng không bận tâm cái chuyện người ta chửi mình, vì mắc lo mấy người khác nữa, hơi đâu đứng nghe người đó chửi hoài, còn mắc đi xách nước cho người yếu, người già bên xóm, chạy vô lo nấu thuốc giùm cho cái bà bệnh bên kia, phải không? Mắc lo, người ta đứng chửi kệ người ta, hết buồn. Cho nên chính khi mà mình không lo cho mình nữa, lo cho người khác thì những cái công hạnh mà nào giờ mình tu, tu hoài không được, tự nó từ từ nó được hết trơn. Đó cái con đường của Đại thừa, từ một cái vị tha thôi mà thành tất cả mọi điều khác á. Rồi trong cái Tiểu kinh Rừng sừng bò, là cái kinh của Nguyên thủy

[52:12]này nha, mà chùa mình hay tụng á, khi Phật hỏi ba cái vị tôn giả là sống hòa hợp bằng cách nào, thì ngài Anuruddha nói rằng: Con, chúng con không, con không sống bằng tâm con mà con sống bằng tâm của huynh đệ con. Nghĩa là các ngài không theo ý mình nữa, ý huynh đệ sao sống vậy. Tư tưởng đó là của Nguyên thủy, bây giờ Đại thừa phát triển, phát triển thành cái gọi là hằng thuận chúng sinh. Trong mười hạnh Phổ Hiền á là bát giả thì sao? Thường tùy Phật học. Cửu giả: Hằng thuận chúng sinh, tức là tùy thuận với chúng sinh rồi mới đem Phật pháp đến cho họ. Nghĩa là đến cái xứ mà người ta tròn thì mình tròn,

[52:54]đến xứ người ta méo thì mình méo theo người ta liền. Sống hòa hợp với mọi người, sống theo tâm mọi người, rồi đem Phật pháp đến cho mọi người. Đó, Đại thừa là như vậy, nên Đại thừa đã làm đúng điều kinh Nguyên thủy dạy. Còn kinh Nguyên thủy thì sao? Thì lại không. Đến xứ Việt Nam mà cứ mặc cái đồ Ấn Độ không à, mặc đồ vậy nè. Còn mà đồ mà thí như là bên Bắc tông mặc là bộ đồ bà ba của Việt Nam, rồi may một cái vạt sang một bên cho nó hơi khác chút thôi, chính là tùy thuận theo dân tộc á. Đến xứ nào thì mình hòa hợp theo xứ đó, nhưng mà cái Phật pháp, cái chân lý của tâm linh vô hình thì không mất á, từ từ hóa độ người ta.

[53:31]Đó cái khéo như vậy á, cái sự thích ứng của Đại thừa là hay như vậy á. Cũng giống như như Hòa thượng Thanh Từ cũng hay dẫn, ví dụ bây giờ mình uống thuốc tây, mình có cần là phải mặc đồ vest rồi kéo mũi cho cao lên giống Tây rồi mới được quyền uống thuốc tây? Phải không, đâu cần. Cũng vậy, giáo pháp của Phật là một vị thuốc, vị thuốc để chữa tâm bệnh thì mình không cần phải mặc đồ Ấn Độ, không cần phải bôi da cho đen, không cần. Cứ trắng như vậy, cứ mặc đồ bà ba, vậy đó mà mà là có thể nên được. Đó nên cái chính ra những cái người Đại thừa đã áp dụng được cái cái lời dạy trong Nguyên thủy là vậy.

[54:06]Bây giờ ví dụ có bên Nguyên thủy họ nghi ngờ những vị đại Bồ tát, bên Nguyên thủy là không có thờ Bồ tát Quan Âm nha, không thờ. Thầy nói cái đó là ngoại đạo, không thờ. Nhưng bên Đại thừa thì thờ, vì sao? Vì linh. Nghĩa là ai niệm Bồ tát Quan Âm cũng thấy có linh hết trơn á, đúng không? Quý Phật tử thấy có không? Quý Phật tử thì có không? Là ai niệm Bồ tát Quan Âm cũng thấy linh hết, nhưng bên Nguyên thủy không tin. Thì bây giờ chúng ta có thể dẫn một cái mẫu hỏi đáp này để chúng ta thấy các vị Bồ tát Đại thừa là như thế nào. Bây giờ những vị thánh mà chứng đạo đó, bây giờ chưa vào Niết bàn thì đi đâu?

[54:44]Chết rồi đi đâu? Thì đều lên các cõi trời hết, các vị gọi là chư thiên tử đó. Cho nên chư thiên tử trên cõi trời á hầu hết là thánh trần á, những người tu những đắc quả sơ quả, nhị quả, tam quả ở trên cõi trời hết á. Bây giờ chúng sinh dưới này khổ, kêu cứu. Giờ có một ông sư, giờ nói ông sư đó ông tên là Thiện Tâm đi, đi ngang bờ sông thấy một người rớt xuống sông té không biết bơi, họ đang chết, dớ với họ thấy có một ông đi ngang. Họ đâu biết ông sư đó tên là Thượng tọa Thiện Tâm, ngoắt: Ông Hai, ông Hai, Hai cứu con, Hai cứu con! Thì giờ vị sư có cứu không? Hay nói chừng nào mày kêu đúng tao tên Thượng tọa Thiện

[55:21]Tâm mới xuống cứu, kêu ông Hai không cứu, có không? Không, phải không? Đó, mình là người phàm á mà thấy họ kêu trật tên kệ nó, nó nó nó khổ nhảy xuống cứu, bơi kéo vô cái đã. Thì bây giờ những vị thánh trên trời có cần kêu đúng tên không? Hễ mình khổ mình phải cần kêu đúng tên mới cứu không? Không cần, các ngài đâu có chấp tên nữa. Thôi bây giờ mấy vị thánh trên đó mình kêu Quan Âm cũng cứu, kêu Di Lặc cũng cứu, kêu Phổ Hiền cũng cứu, kêu tên gì cũng cứu hết. Mặc dù hồi mà lúc ổng chưa lên cõi trời ổng tên khác à. Chưa lên cõi trời có khi ổng tên là là Moggallana hay là Kassapa hay là hay là Sariputta gì đó, thì bây giờ không cần kêu đúng tên Ấn Độ,

[55:59]kêu tên Việt Nam ông Hai, ông Tư gì kêu cũng cứu tuốt hết trơn. Nên đó là những vị Bồ tát như vậy. Cho nên bây giờ mình cứ niệm Bồ tát Quán Thế Âm thì thế nào cũng được cứu vì vô số các vị thánh trên cõi trời với lòng thương yêu chúng sinh là sẵn sàng hết. Cho nên cái việc mà chấp cái tên để cho rằng cái vị Bồ tát đó nó không có cũng lại là một sự hẹp hòi. Rồi bây giờ, trong cái kinh Nguyên thủy nói cuộc đời là khổ. Phải dạy vậy cho đúng á, Tứ Diệu Đế á, đời là khổ á, nói sai là không phải đạo Phật á, ngoại đạo á. Nhưng mà chúng ta xem lại, cũng chính kinh Nguyên thủy lại có một điều nói ngược lại.

[56:36]Hôm đó có một vị Bà La Môn tên là Bhaggava đến hỏi Phật: Bạch Thế Tôn, Ngài tuyên bố Ngài đã chứng ngộ, đúng không? Nói: Đúng. Rồi Ngài cũng dạy rằng cuộc đời là đau khổ, đúng không? Phật nói: Đúng. Như vậy con có quyền kết luận: Khi một người chứng ngộ thì người đó thấy cuộc đời này là đau khổ? Phật nói: Sai. Kết luận vậy là sai liền. Đó. Như Lai tuyên bố khi một người chứng ngộ, người đó thấy tất cả là thanh tịnh, là giải thoát. Cho nên cái điều mà Phật dạy cho mình để tu đó, khác với cái điều Phật thấy. Nhưng mà Phật mà nói theo cái điều Phật thấy mình tu không được. Cho nên Phật với trình độ mình chưa chứng ngộ,

[57:20]Phật dạy mình phải thấy cuộc đời này là đau khổ thì mình tu được. Nhưng mà với người chứng ngộ thì tự biết tất cả vạn hữu, cây cỏ, núi sông, trăng sao, hoa lá cả đều thanh tịnh và tràn đầy giải thoát hết. Nhưng cái cảnh giới của người chứng ngộ đó thì Phật không có dại gì nói cho cái người còn phàm phu nghe họ tưởng tượng. Nên họ chỉ hiểu trong đúng cái vị trí họ: cuộc đời này đau khổ, vậy họ tu được, họ sẽ giải thoát, họ sẽ tiến đạo. Nên trong giai đoạn nào mới nói cái giáo lý đó. Nên về sau này cái tư tưởng của Đại thừa mà nói cái cái lý không, tất cả đều là huyễn hóa, tất cả đều là thanh tịnh,

[57:58]chính là cũng trung thành với lời dạy của Nguyên thủy. Nhưng mà bên Nguyên thủy lại không chấp nhận, lại cho là nói sai, lại nói cuộc đời là khổ mới đúng. Nên chúng ta thấy như vậy đó, nên giáo lý Nguyên Đại thừa là một sự phát triển rất là độc đáo. Rồi bây giờ, ví dụ như bây giờ mình thấy trong kinh Đại thừa có một số kinh giống với ngoại đạo, giống với ngoại đạo của Ấn Độ, giống yoga, thậm chí bây giờ giống luôn Thiên Chúa luôn nữa, thì giờ mình nói làm sao đây? Nói làm sao đây?

[58:34]Như vậy cái Đại thừa này là ngoại đạo, đúng không? Đây lại là một kết luận thiệt là là nông nổi nữa. Chớ đúng ra mà thấy như vậy là mình phải mừng, phải mừng vì vì ngoại đạo giống mình.

[58:49]Tức là họ cũng có một phần chân lý trong đó, vậy là điều đáng mừng chứ phải không? Càng nhiều chúng sinh tìm được chân lý thì mình càng mừng chứ tại sao mà lúc đó mình giận lên, sao người ta giống tui làm chi vậy? Phải không? Đó lại là một cái hẹp hòi một lần nữa. Bây giờ tôi nói từ bi, đây là chân lý, người khác không được nói từ bi à? Thấy thấy cái đó hẹp hòi không? Bây giờ mình nói từ bi thì bên cái chùa kia cũng nói từ bi, mình phải mừng chứ, vì là nhiều chúng sinh được nghe cái đạo lý về từ bi. Bây giờ đạo Phật mình nói tới lòng thương yêu, quái đạo khác nó cũng nói lòng thương yêu, mình mừng chứ.

[59:25]Mừng như vậy là chân lý có giống nhau, có chỗ tương đồng và chúng sinh dễ đến được với chân lý. Đây là điều mừng phải không? Hễ ai khác mình cái mình cự nự, chê bai, khinh miệt người ta, lại là một sự sai lầm. Cho nên khi mà bước sang cái sự phát triển của Đại thừa thì nó có nhiều điểm giống với các ngoại đạo Ấn Độ và đây là điều đáng mừng chứ không có gì đáng chê, không đáng buồn hết trơn á. Điểm chúng ta nói nữa là tham khảo với khoa học. Vì khoa học cũng là chân lý, nhưng mà chân lý còn hạn chế. Chúng ta sẽ sai nếu mà chúng ta nói khoa học là tất cả. Có nhiều người họ có cái mê tín khoa học,

[1:00:03]hễ là cái gì á mà khoa học nói đúng là đúng, khoa học nói sai là sai. Họ chỉ biết khoa học thôi, thì người này thuộc loại mê tín đó. Vì rất nhiều điều khoa học nói rồi mai mốt phải sửa lại á. Nhiều. Cho nên chúng ta tin khoa học vì cái lý luận của khoa học nó logic lắm, logic, nghĩa là 1 cộng với 2 là 3, 3 cộng với 2 là 5, đó từng bước từng bước đi như vậy.

[1:00:29]Nhưng mà cái thấy của khoa học nó chưa thấy được tất cả những vấn đề của vũ trụ, do đó chúng ta tôn trọng khoa học, nhưng mà biết rằng khoa học chưa phải là tất cả, chưa phải là tất cả. Giống như có một điểm mà thầy cứ hay nói hoài, hiện nay các nhà khoa học cho rằng vũ trụ xuất hiện bắt đầu từ một vụ nổ. Từ vụ nổ tung ra cái từ từ các tạo thành các thiên hà, các thiên thể rồi từ từ tiếp tục dời xa nhau ra do từ một vụ nổ. Là vì sao vậy? Cũng từ ông Thiên Chúa nữa. Hồi trước á à bên Thánh kinh của Thiên Chúa đó, cái mắt mở nhìn thấy nè, mặt trời mọc ở phương Đông, lặn ở phương Tây, cho rằng là mặt trời quay quanh trái đất. Phải không?

[1:01:15]Do mắt thấy nên kết luận như vậy. Sau này mới biết đó là sai, thật ra là trái đất quay quanh mặt trời. Thì bây giờ cũng một ông giám mục Thiên Chúa là Lemaître, ổng nghiên cứu về thiên văn, cùng với các nhà thiên văn trên thế giới ổng thấy là các thiên hà nó dời xa nhau, từ từ nó rời xa nhau hết, nên ổng kết luận là ngày xưa các thiên hà nó ở chung một chỗ, chung một chỗ rồi nó nổ tung ra nó dời xa nhau ra, và vũ trụ xuất hiện bắt đầu từ một vụ nổ, từ một điểm mà nổ tung ra, tạo thành vật chất, tạo thành các trái đất, các hành tinh, các thiên thể, thành các thiên hà rồi dời xa nhau. Thầy nói là không bao giờ thầy tin cái điều đó,

[1:01:54]không bao giờ thầy tin cái lý thuyết đó. Thầy nói cứ chờ xem đi mai mốt các nhà khoa học sẽ thấy cái thuyết của họ là sai. Còn tại sao mà thầy từ bây giờ thầy kết luận đó là sai thì dĩ nhiên thầy cũng có lý luận của thầy, nhưng mà thầy chưa có thời giờ để nói thôi. Khi nào có dịp thì thầy mới nói, nhưng mà thầy đã tìm thấy cái điểm hở của chuyện đó. Nên thầy tin khoa học lắm, thầy nghiên cứu, thầy đọc sách khoa học, thầy cũng hay tham khảo khoa học, nhưng mà không bao giờ cho khoa học là tất cả hết. Phật giáo mình cần tham khảo khoa học một cách hợp lý, vừa chừng, vì cả đạo Phật và khoa học đều là chân lý hết,

[1:02:29]cho nên mình biết ứng dụng khoa học trong cái đời sống tu hành của mình. Ví dụ như là vấn đề ăn uống vậy, mình ăn uống đừng để bị suy dinh dưỡng trong khi mà cái định mình chưa có đủ, cố gắng ăn uống cho nó hợp lý, rồi khi cần cũng phải ngủ cho đủ chứ đừng có ráng thức mà thành ra suy nhược cái thần kinh não rồi cũng sẽ không nhiếp tâm được. Cho nên sức khỏe là nền tảng, rồi sau đó mình mới thực hiện cái công việc tâm linh, đó là cái như vậy. Rồi mình cũng biết ứng dụng khoa học trong lý luận nữa. Bây giờ mình lý luận mình diễn giải về thiền định, về luật nhân quả, về luân hồi, về những cái rất là siêu hình,

[1:03:08]nhưng mà mình phải lý luận cho nó chặt chẽ, cái lý luận giống như của toán học, chứ không có được mà lý luận nói đại, nói áp đặt à, nói: Không tin mang tội xuống địa ngục ráng chịu. Không nói được, không nói kiểu đó được, thời buổi này không có nói kiểu đó. Nếu là người ta chưa tin là vì lý luận mình chưa đủ hoặc là cái hiểu mình chưa tới, chứ nếu cái hiểu mình tới rồi, lý luận mình vững rồi thì thầy nói rằng nhà khoa học cỡ nào cũng phải chấp nhận đạo Phật hết, không có sợ, không có sợ chuyện đó. Không có sợ. Cho nên mình khéo mà ứng dụng được khoa học trong cái lý luận là vậy. Cũng như mình biết ứng dụng khoa học trong cái công phu tu tập.

[1:03:47]Trong cái công phu tu tập ví dụ bây giờ mình ngồi thiền, mình ngồi thiền rồi mình mình muốn cho mình định, cái mình gồng cái đầu lên để mình dằn cái tâm mình lại đừng cho nó khởi vọng tưởng. Ví dụ như mình thấy nè, ví dụ mình thấy cái người mình mà nhúc nhích, mình muốn cho nó đừng nhúc nhích cái mình gồng lại, giữ như nè, phải không? Cái mình nói cái vọng tưởng mình nó cũng vậy á, nó khởi lên khởi xuống hoài cái mình ngồi gồng, trong óc mình gồng lên cho nó đừng có khởi nữa. Thì như vậy chuyện gì xảy ra? Chuyện gì xảy ra? Chuyện gì xảy ra thì thầy không biết, nhưng mà thầy biết có một điều là khoảng bảy ngày sau mình sẽ nhảy lên nóc nhà mình ngồi cười ha hả.

[1:04:30]Vì cái não của mình á nó mềm lắm, nó không có hoạt động, nó không giống như cơ bắp. Nó càng yên tĩnh, càng mềm mại chừng nào thì nó lại càng thông minh, sáng suốt chừng đó. Còn mà mình gồng nó cho nó căng thẳng chừng nào thì nó mau hư chừng đó. Cái hoạt động của não nó ngược lại với cơ bắp, nên mình biết được cái điều này thì mình mình giữ gìn cái bộ não mình rất là kỹ khi mình tu thiền vậy, mình không có suy nghĩ nhiều, giữ cho nó thư giãn và mình tu một cách nhẹ nhàng. Tuy miên mật kỹ lưỡng nhưng mà rất nhẹ nhàng. Mà trong cái miên mật kỹ lưỡng mà nhẹ nhàng đó mà không nhiếp tâm được thì tại sao?

[1:05:10]Phước chưa đủ, vậy thôi à, nói gọn vậy á, rồi cứ tiếp tục lo làm phước tiếp, nó nó vậy, chứ không bao giờ được nôn tu rồi dằn cái đầu, gồng cái đầu thì nó sẽ hư bộ não. Đó là mình phải khéo áp dụng được khoa học trong cái sự tu tập, nhưng mà quan trọng vẫn là cái nhân quả. Có một cái điều nữa là khoa học chưa có chỗ đứng trong thế giới tâm linh. Là các nhà khoa học cứ tìm cách giải thích những hiện tượng lạ theo theo vật lý, nhưng mà sự thật có nhiều điều họ giải thích không nổi. Như có hiện tượng mà người tự bốc cháy, hiện tượng người tự bốc cháy lạ trên thế giới họ liệt kê ra được mấy ngàn trường hợp á.

[1:05:46]Nhưng cái người đó họ đang sống bình thường tự nhiên bốc cháy chết mất tiêu luôn. Chết mất tiêu luôn. Lửa không biết từ đâu phát ra, đốt cháy tiêu họ luôn thành tro luôn. Mà khi vô mà đi khám, đi tìm á thì thấy đồ vật chung quanh còn nguyên nha, không có cháy nha, kể cả họ nằm trên cái nệm cháy, cái nệm không cháy, chỉ vừa cháy đúng cái thân của họ thôi, còn cái nệm họ nằm không cháy luôn. Mà có nhiều người cháy tan hết trơn còn lại cái chân với cái xương chân với cái nguyên cái bàn chân với cái đôi giày không cháy. Lạ lùng như vậy, mà khoa học cũng không giải thích nổi, tại vì dùng bằng các kiến thức của khoa học không giải thích được.

[1:06:24]Vậy mình phải dùng sao mình giải thích được?

[1:06:31]Bây giờ khoa học giải thích không nổi rồi đó, dùng các nguyên tắc vật lý giải thích không nổi, vì nếu mà có một cái tác động từ bên ngoài, lửa phóng vô mà đốt cháy được cái thân đó thì nó phải trên 1000 độ, trên 1000 độ C mới cháy được cái thân xác người ta hết, cháy thành tro luôn. Mà nếu được một ngàn mấy độ như vậy thì đồ vật chung quanh cháy sạch hết, không còn gì hết. Nhưng mà lạ làm sao cái xác đó cháy chứ đồ chung quanh không cháy này nha. Thì khoa học giải thích không nổi. Vậy mình mình ỷ mình giỏi mình giải thích coi. Đây là cái cái cái tâm linh đó. Thứ nhất là người đó có cái nghiệp chết cháy,

[1:07:06]và cái nghiệp chết cháy này đó là nó có cái lạ là cái sức nóng này nó tự trong tâm họ phát ra, từ trong vô thức họ phát ra. Là nó giống như một dạng thần thông vậy đó, là các vị A-la-hán á, các ngài cũng tự khởi lửa lên đốt thân theo ý muốn của mình được. Còn cái người mà họ bị lửa tự đốt thân này á là không phải do ý muốn mà do nghiệp thúc đẩy, cái sức mạnh trong vô thức tạo thành ngọn lửa đốt họ. Mà ngọn lửa nó như này, nó đủ đốt tiêu họ luôn mà chung quanh không bị gì hết. Cho nên cái sức mạnh của vô thức, sức mạnh của tâm á nó lạ lùng, vi diệu mà mạnh lắm, khoa học chưa biết được. Đây là cái chỗ một lĩnh vực rất mới,

[1:07:43]lĩnh vực của tâm linh thì mình gợi ý để cho khoa học từ từ tiến tới. Đó, khoa học sẽ từ từ tiến tới là do trong đạo Phật mình hiểu được mà mình gợi ý tới lần lần là như vậy. Rồi một điều nữa là khoa học cũng chưa tìm thấy được cái đường đi của luật nhân quả. Cho nên mình phải có bổn phận gợi ý cho khoa học. Tức là mình phải tìm mọi cách lý luận, mọi cách giải thích để cho những người khoa học họ tin rằng sự thật trên cuộc đời này nó tồn tại một sự công bằng tuyệt đối thông qua cái luật nhân quả nghiệp báo. Và do đó cái bổn phận của tất cả chúng ta là phải sống một đời sống hết sức là tốt đẹp để giữ gìn cái quả báo cho mình,

[1:08:25]giữ gìn cuộc đời của mình, cũng như làm lợi ích cho người khác. Nó là một cái nền đạo đức quan trọng nếu mà trên thế giới này ai cũng tin được, chấp nhận được cái luật nhân quả nghiệp báo thì thế giới này sẽ rất là đạo đức. Vì mình nghĩ đến cái một cái thế giới mà đạo đức tốt đẹp cho nên mình cố gắng là giải thích, chứng minh, kêu gọi các nhà khoa học cũng phải làm sao chấp nhận, hiểu được, tin được cái luật nhân quả nghiệp báo vì đây là cái lĩnh vực mà khoa học cũng chưa biết tới. Nó nằm sâu trong tuyệt đối nó đi ra cho nên khoa học chưa bước tới nổi thì chúng ta là đệ tử Phật, chúng ta phải có bổn phận

[1:09:02]là giải thích, lý luận, thuyết phục để cho các nhà khoa học hướng về cái điều này. Đây là một cái nhiệm vụ khá thiêng liêng của chúng ta. Rồi một điều nữa chúng ta thấy thế này, khoa học tiến quá nhanh mà đạo đức không có tiến bước nào hết trên tình hình trên thế giới hiện nay. Khoa học tiến quá nhanh, cứ mỗi ngày là không biết bao nhiêu cái phát minh mới, mỗi ngày không biết bao nhiêu phát minh mới. Nội cái máy tính, máy vi tính này thôi, cứ trong sáu tháng là ra một máy tính đời mới, sáu tháng ra máy tính đời mới, mình theo theo không kịp nữa. Rồi mà đạo đức thì không có tiến. Cả một năm trời không hề có một cái lý luận

[1:09:39]mới gì về đạo đức để đem dạy học sinh hết. Nghĩa là môn đạo đức mà dạy trong nhà trường không có gì tiến bộ, học sinh nó chán phèo, không thích gì hết trơn. Nên nó chỉ mê khoa học tại khoa học tiến quá đi, mà đạo đức không tiến. Và đây là điều nguy hiểm cho nhân loại. Khi mà người ta có khoa học kỹ thuật, người ta có những phương tiện rất là mạnh trong tay mà trái tim người ta không có đạo đức thì người ta sẽ dùng cái phương tiện đó làm gì? Tiêu diệt lẫn nhau. Tiêu diệt lẫn nhau, đây là điều đe dọa cho cái sự sống còn của cả cái trái đất này. Mà những nhà chính trị, những người có trách nhiệm,

[1:10:13]những nhà khoa học vẫn chưa chịu tỉnh ra cái điều này, vẫn chưa ý thức được, vẫn tỉnh bơ, vẫn tiếp tục đi tìm các phát minh khoa học mà không bao giờ chịu nhìn lại cái đạo đức, cái sự cân đối giữa khoa học và đạo đức cho nhân loại, cho thế hệ trẻ, cho học sinh. Vẫn cứ tiếp tục thúc đẩy cho khoa học cứ tiến tới, tiến tới, còn đạo đức bỏ mặc chuyện đó ai làm gì thì làm. Đây là một điều phải nói là một cái sai lầm lớn của cả cái trái đất này, của cả cái nhân loại này. Mà thầy không biết làm sao thầy kêu cho mọi người nghe, không biết nữa. Vì phải làm sao mà dạy cái đạo đức trong nhà trường cho học sinh

[1:10:45]dạy thật nhiều lại để cân đối lại với sự tiến bộ của khoa học. Làm sao là cứ mỗi ngày, mỗi năm lại có nhiều cái lý luận mới, phát hiện mới về đạo đức để nó mới bù đắp kịp với cái khoa học. Còn bây giờ đạo đức thì không ai phát minh mới hết trơn á. Như bản thân thầy cũng chả phát minh gì được cái đạo đức mới, thầy cũng chỉ lặp lại những điều của Phật, thì nó nói bằng cái ngôn ngữ mới đây chứ cũng không phát minh gì được mới. Phải làm sao cứ phải phát minh hoài, phát minh hoài những cái điều đạo đức mới để dạy cho con người cho nó cân đối với cái khoa học nó tiến bộ. Một ngày nào đó mà cái nhóm Hồi giáo mà nó có được cái bom nguyên

[1:11:18]tử là chúng ta thấy sẽ có khủng bố bằng bom nguyên tử. Nó bấm nút một cái là một vài thành phố bị hủy diệt liền. Mà bây giờ lại dễ rồi, bom nguyên tử bắt đầu dễ chế rồi. Một cái phương tiện thì rất mạnh mà đạo đức không có, thế giới này rất là mong manh. Bây giờ chúng ta nói qua cái phần là đối chiếu với cái công phu tu tập.

[1:11:42]Là lời dạy của Phật, lời dạy của các vị tổ thì nhiều lắm, của các thiền sư thì nhiều lắm, nhưng mà luôn luôn chúng ta phải khéo léo đối chiếu lại với chính mình, không bao giờ được tin vội. Không bao giờ được tin vội. Như hiện nay thấy đấy, thầy thấy bây giờ các nơi dạy thiền quá chừng dạy thiền đấy. Những người có uy tín cũng dạy thiền, những người không uy tín cũng dạy thiền, những người có thực hành cũng vậy, những người chưa thực hành cũng đem thiền ra dạy, thầy không hiểu sao nữa. Bây giờ đi đâu cũng nghe dạy thiền hết trơn. Thành thử ra các Phật tử phải cẩn thận khi học thiền. Vì phải biết một điều thế này,

[1:12:16]không phải là những người dạy thiền đều đã có kinh nghiệm. Đây là điều phải cẩn thận. Dĩ nhiên là thầy cũng chả có kinh nghiệm gì hơn ai đâu. Nhưng mà thầy nhìn chung là vậy đó, thầy nhìn chung là thấy là khắp nơi người ta thi đua dạy thiền. Vì dạy thiền bữa nay giống như cái mốt vậy, niệm Phật riết nó nhàm rồi bây giờ thôi nơi này dạy thiền có vẻ hấp dẫn, nơi kia dạy thiền để thu hút Phật tử rồi vậy. Nhưng mà chính những người dạy thiền nhiều khi cũng chưa có kinh nghiệm nhiều lắm. Đây là điều mà các Phật tử phải cẩn thận khi đi học thiền. Không phải ai dạy thiền cũng đúng đâu, nhiều người dạy thiền khá sai đó.

[1:12:49]Thầy cũng chưa chắc đúng đâu nha, nghĩa là nghe thầy dạy thiền cũng về phải thực hành lại coi ông thầy ông nói đúng hay không á, chứ không chắc là ông thầy dạy đúng đâu. Nên điều đầu tiên là ai dạy nếu mình có duyên mà tin người đó phải về thực hành thử cái đã. Mình thấy mến mến ổng, ví dụ thấy ông thầy đó ổng mập mạp, tròn trịa nè, hảo tướng, ổng phúc hậu nè, nghe ổng dạy có lý về cũng phải thực hành thử chứ cũng khoan tin. Hoặc là có duyên thấy ông thầy ổng ốm yếu gần chết, tội nghiệp, ổng thấy ổng nói ổng dễ thương rồi về thực hành thử cũng chưa chắc đừng có tin liền á. Thầy nói bây giờ ví dụ như có cái câu dạy thế này,

[1:13:20]là khi làm cái gì phải chú ý vào cái đó. Quý Phật tử có nghe câu này chưa? Nghe chưa? Làm cái gì phải biết rõ chú ý vào việc đó khi học thiền á, nghe chưa? Nghe nhiều á. Rồi về thực hành thử là biết liền. Biết đúng sai. Tại vì thầy gỡ không biết cho bao nhiêu người cái câu này á. Hồi xưa có một lần có người đó cũng nói là thầy mới hỏi, nói này chớ anh tu thiền thế nào? Nói: "Dạ, con làm việc gì cũng biết việc đó." Thầy mới nói: "Như vậy một ngày anh làm bao nhiêu việc?" Thì nói: "Cũng nhiều lắm." "Như vậy tâm anh chạy theo bao nhiêu công việc?" "Dạ, thì làm việc nào chạy theo việc đó là cũng nhiều." "Như vậy tâm nó động hay là định?" Nói:

[1:14:07]"Dạ, thấy động rồi đó." Thấy ngay lý luận là thấy trật liền. Mà đó là ngay lý luận thôi, bây giờ còn trong thực tế thì thầy nghe không biết bao nhiêu người than, nói: "Dạ, con cũng cố gắng làm việc gì biết việc đó mà sao nó loạn?" Thì đúng rồi, làm việc gì biết việc đó thì phải loạn thôi. Như vậy phải làm sao mới đúng? Thầy nói làm bất cứ việc gì chỉ biết tâm mình thôi, lúc nào cũng kiểm soát tâm mình, giữ tâm mình cho thanh tịnh. Còn công việc làm tự nó làm, để cho tay mình nó tự động nó làm, được không được kệ nó, vậy chứ mà nó lại hoàn chỉnh, vậy mà nó nhẹ nhàng nó hoàn chỉnh. Mà nó không chấp công việc nữa, làm mà thấy như không làm

[1:14:41]tại vì mình cứ lo giữ tâm mình cho thanh tịnh thôi. Đó, nên ai dạy gì dạy chứ cũng phải cẩn thận thực hành lại, không phải tin liền được. Cũng giống như nói ích kỷ là nguyên nhân của đau khổ thì đến khi nào mình thấy mình có cái gì đau khổ thì mình nghĩ rằng bây giờ mình mình làm một cái gì vị tha coi có hết đau khổ hay không. Đó là như vậy. Ví dụ bây giờ mình có người nào đó họ họ bỏ mình họ ra đi, thì mình thấy mình buồn. Thì mình hiểu buồn, đau khổ là nguyên nhân có nguyên nhân là ích kỷ. Thì như vậy cái ích kỷ trong trường hợp này là cái gì? À, vì mình thấy mình thương người này nhiều quá,

[1:15:25]mình cảm thấy người này là của riêng mình, cho nên người này bỏ mình ra đi mình buồn, mình đau khổ. Bây giờ mình vị tha, mình đem lòng mình thương hết mọi người, mình có tâm niệm thương hết thì tự nhiên mình không còn buồn vì cái việc ra đi của người kia nữa. Mình thực hành thử rồi mình sẽ thấy điều đó đúng hay không. Đó, và mình thấy rằng à điều này rất là đúng, đây là chân lý. Là vậy đó. Ví dụ như bây giờ mà nghe nói phải mặc cái áo kiểu Ấn Độ thì mới giải thoát được, thì mình thử mình đắp cái áo kiểu Ấn Độ thử. May cái áo kiểu giống như hai sư cô đây đắp thử coi có giải thoát hay không. Đó mình phải thực hành thử đó để mình biết coi người ta nói đúng hay sai như vậy.

[1:16:05]Ví dụ mình nói là tụng chú, nghe nói là tụng chú thì được công đức vô lượng. Mình cứ tụng chú thử. Tụng cho thiệt nhiều thử coi công đức có vô lượng hay không hay là phải sống cuộc đời vị tha công đức mới vô lượng? Cứ thử thực hành là biết à. Cho nên không có được mà nghe đâu tin đó. Hoặc là bây giờ nghe nói, nghe thầy nói tôn kính Phật thì làm tăng trưởng công đức. Thì về cứ làm thử biết à. Cứ lúc nào ngày nào rảnh cứ lễ Phật, lễ Phật với lòng thiết tha tôn kính thì từ từ mình sẽ thấy. Từ từ mình sẽ thấy bắt đầu cái tánh xấu của mình mình kiểm soát được, buông bỏ được. Những cái đức tính tốt từ từ tăng lên dần dần, tăng lên dần dần được. Lạ như vậy.

[1:16:43]Cho nên nếu mà mình nghĩa là có thể đánh mất mọi cái hạnh, nhưng mà thầy xin một điều là giữ chặt giùm thầy cái lòng tôn kính Phật. Vì khi mà còn được cái lòng tôn kính Phật thì từ từ những cái hạnh khác mình lấy lại được hết nếu mình có lỡ mất. Ví dụ bây giờ mình là con người ích kỷ, mất mất cái hạnh từ bi rồi. Ví dụ mình là con người nóng nảy, mất cái hạnh nhẫn nhục rồi. Ví dụ mình là con người đố kỵ, mình mất cái hạnh tùy hỷ rồi. Nhưng mà xin có một điều đừng mất là lòng tôn kính Phật. Giữ cho chặt cái lòng tôn kính Phật dù chết. Giữ cho chặt lúc nào cũng tôn kính Phật, từ từ mình sẽ thấy bắt đầu những cái hạnh kia mình lấy lại được.

[1:17:23]Bắt đầu mình bớt ích kỷ, thương người trở lại. Bắt đầu mình bớt nóng nảy, tâm bình thản trở lại. Bắt đầu mình bớt đố kỵ, có thể tùy hỷ được với cái niềm vui, với sự thành công của người khác được. Cứ thực hành rồi sẽ thấy như vậy. Ví dụ như bây giờ có người nói cứ tinh tấn thiền định khỏi cần làm phước, cứ thực hành thử đi, 20 năm tu thử đi rồi biết à. Đừng thèm làm phước nữa hết, cứ 20 năm mà tu rồi coi coi có gì được không? Biết à. Trừ trường hợp cái người có phước đời trước thầy không dám nói. Chứ vì hai người cùng là đều không có phước đời trước hết, một người làm phước, vừa làm phước vừa tu thiền,

[1:18:00]một người không thèm làm phước, tinh tấn tu thiền, thử coi ai có kết quả, biết liền à. Nên những điều đó phải thực hành rồi sẽ cảm nhận được. Đó là chúng ta nói một cái đạo Phật cho thế giới ngày mai là gồm bốn điều: một là dựa vào gốc nguyên thủy, hai là tham khảo thêm Đại thừa, ba là tham khảo thêm khoa học, và thứ tư là đối chiếu với công phu tu hành thực tế của chính mình. Chứ không có dễ tin ai hết. Đó là một cái Phật giáo cho ngày mai như vậy, đạo Phật ngày mai. Và đạo Phật cho ngày mai để làm gì? Đạo Phật cho ngày mai không phải để đem trưng mà để có trách nhiệm đối với thế giới, để có trách nhiệm đối với thế giới này.

[1:18:43]Là đạo Phật có mặt là để đem lại lợi ích cho chúng sinh chứ không phải là để cho chúng sinh cung phụng cho đạo Phật. Chúng ta phải nhớ điều đó. Nhiều khi chúng ta cứ nghe nói là tôn thờ Phật pháp, thừa sự Phật pháp, nghĩa là duy trì Phật pháp, rồi mình coi Phật pháp là một đối tượng để mình cung phụng. Bắt đầu mình hiểu sai rồi. Mà không ngờ không phải vậy. Phật pháp có mặt để biến thành cái sức mạnh trong lòng của mình và mình đem cái sức mạnh đó mình sống tốt đẹp với tất cả mọi người khác, và mình sống có trách nhiệm đối với thế giới này.

[1:19:21]Bây giờ mình có trách nhiệm với thế giới là có trách nhiệm cái gì? Thầy nói những điều này là những điều mà quý Phật tử phải ghi tâm tạc dạ, vì đây là những điều mà thế giới rất cần thiết mà chúng ta phải có trách nhiệm để làm những điều này. Thứ nhất là đạo đức. Thế giới chưa có đạo đức nhiều. Người ta còn chém giết nhau lu bù hết trơn. Thì người đệ tử Phật mình phải có trách nhiệm đối với thế giới. Phải làm sao làm cho đạo đức nó cứ lan truyền lan truyền thật mạnh. Chứ không có được mà mình sống chỉ biết cho mình. Nên làm sao trong một kiếp của mình, trong một kiếp này, mình sống được 50 tuổi,

[1:19:56]60 tuổi, 70 tuổi, 80 tuổi thì cái sự nghiệp của mình là đem được đạo đức cho mọi người. Ít nhất là cũng con cháu mình, hàng xóm mình, bạn bè mình, làm sao cho người ta tin được cái luật nhân quả nghiệp báo, làm sao cho người ta biết sống thương yêu nhau, đó là cái đạo đức. Mỗi người từng người từng người thế này này, ai cũng phải đối với Phật mình nhận cái trách nhiệm đối với thế giới này là đem cái đạo đức này cho thế giới. Mình không thể làm được trong cái phạm vi lớn thì cũng phải làm được trong phạm vi nhỏ, phải nhớ điều đó. Nghĩa là bên cạnh cái bổn phận hàng ngày là phải kiếm cơm ăn, áo mặc thì ai cũng phải nhận lấy cái trách nhiệm thiêng

[1:20:33]liêng của Phật giao lại cho mình là đem cái đạo đức đến cho thế giới, chứ thế giới quá thiếu đạo đức rồi. Cái tội lỗi này nó có thể làm cho trái đất ngày nào nó vỡ tung ra. Cho nên chúng ta phải cứu lấy cái trái đất này là bằng cách thắp lại đạo đức. Mỗi người mình phải bằng mọi cái phương tiện nào đó, bằng mọi cái duyên nào mà mình có sẵn, nhắc một người, khuyên một người, dạy một người nào đó cho người ta tin được đạo đức nhân quả cũng là một điều rất cần thiết. Thế giới chưa có hòa bình. Đây là điều Phật giáo phải làm sao cho thế giới có hòa bình. Mà làm bằng cách nào? Làm sao cho người ta đừng có sát sanh nữa,

[1:21:13]người ta đừng có ghét nhau, đừng thù hận nhau nữa. Thế giới này còn các tà kiến, còn cực đoan, còn khủng bố, còn kỳ thị đủ thứ hết, thì đừng làm cho người ta đừng cái đó nữa. Ví dụ như thầy nói cái kỳ thị đó là quốc gia này kỳ thị quốc gia kia, chủng tộc này kỳ thị chủng tộc kia, người da trắng kỳ thị người da đen, người Công giáo kỳ thị người Phật giáo, vân vân, đó là rất nhiều cái điều làm cho người ta kỳ thị ganh ghét nhau. Thì người đạo Phật mình, mình phải làm sao xóa những cái kỳ thị đó đi. Nghĩa là nhìn thấy con người là thấy nước mắt mặn, thấy máu đỏ, thấy ai cũng là Phật tánh, mà chỉ vì cái hiểu sai trong tâm họ làm cho họ xa cách nhau.

[1:21:55]Thì bây giờ cái người đệ tử Phật mình cố gắng tìm cái điểm tốt của mọi người để quý trọng thì người ta tự nhiên người ta cũng quý lại mình. Ví dụ như bây giờ đối với đạo Thiên Chúa này, mình đừng có nghĩ họ là ngoại đạo, tà giáo. Mà phải tìm những lời dạy của Chúa Giêsu, mình thấy có nhiều điều rất là hay. Đó mình tôn trọng. Khi mình tôn trọng được cái đạo Công đạo họ thì họ tự nhiên họ cũng có cảm tình lại với mình. Và như vậy làm cho các tôn giáo gần lại với nhau, thế giới gần lại với nhau, không có kỳ thị nữa. Mà tại sao mình mình có thể là tìm được cái tốt, cái hay của người khác để tôn trọng là bởi vì mình

[1:22:31]không có chấp ngã, mình không có ích kỷ. Mà đạo Phật cho chúng ta cái vô ngã đó, cho chúng ta cái vị tha đó, cho chúng ta cái tâm mà biết nhìn cái tốt, cái ưu điểm của người khác. Đạo Phật cho chúng ta điều đó thì chúng ta phải áp dụng cái điều đó để xóa đi cái kỳ thị của con người với nhau, là như vậy.

[1:22:52]Hiện nay một cái hiểm họa đối với thế giới là Hồi giáo. Đây là một cái hiểm họa rất là là lớn lao mà nó đã tới trước mắt rồi. Vì sao mà chúng ta nói là hiểm họa? Thật ra, chúng ta không muốn kỳ thị đâu, nhưng mà cái thực tế này nó nguy hiểm quá nên mình phải đối diện, phải nhìn cho rõ. Là vì sao vậy? Vì những người Hồi giáo trong cái giáo lý của họ có cho phép truyền đạo bằng bạo lực. Nghĩa là nếu mà giết người mà làm đẹp lòng Thánh Allah thì có phước chứ không có tội. Nghĩa là ai chống đạo Hồi, giết họ thì là có phước. Cho nên, họ truyền đạo bằng cách đó. Mình mà ở gần người đạo Hồi, họ ít người thì thôi,

[1:23:35]chứ nếu mà họ đông lên là họ giết mình liền nếu mình không theo đạo Hồi, vì họ cho rằng việc đó là việc có phước. Chính vì cái bạo lực ấy, cuồng tín của họ mà đạo Phật bị biến mất. Ngày xưa đạo Phật bị đạo Hồi giết á, và ngày nay cũng vậy, tiếp tục đạo Hồi lấn từ hết nơi này lấn qua tới nơi kia cũng bằng cách bạo lực cuồng tín của họ, gọi là cái cuồng bạo của họ. Sau này thì họ sẽ gây chiến tranh nơi này nơi kia. Hiện nay thì họ đem bom đặt nổ nơi này đặt nổ nơi kia nhiều lắm. Và tương lai sắp tới thì họ còn nghĩa là có thể gây nên những cuộc chiến tranh lớn để mà truyền bá đạo Hồi. Cái điều mà mơ ước của những người đạo Hồi là cả thế giới phải theo đạo Hồi.

[1:24:16]Mà nếu ai không theo là tiêu diệt cái đất nước đó luôn. Là trước cái thái độ cuồng bạo của họ, cực đoan của họ thì chúng ta phải làm cái gì? Chúng ta phải làm gì để ngăn chặn cái sự cuồng bạo đó lại? Đó đây là một nỗi ưu tư, trăn trở của thầy mà thầy cũng muốn gửi gắm lại tất cả mọi người điều này. Là chúng ta bây giờ thì chúng ta may mắn chúng ta sống trong đất nước có được nhà nước che chở nên mình không có thấy đạo Hồi đâu hết á. Chứ nếu mà chúng ta bước sang các thế giới khác, nước khác mình thấy đạo Hồi sát bên nách liền. Và chúng ta thấy cái bạo lực khủng bố cũng kề một bên cạnh luôn. Bây giờ thì mình chưa thấy, nhưng mà tương lai rồi sẽ thấy.

[1:24:55]Và thầy muốn gửi gắm lại cái ưu tư, trăn trở này cho tất cả người, người là người đệ tử Phật hết, không có luận tại gia hay xuất gia, là phải làm sao để ngăn chặn cái hiểm họa của Hồi giáo nơi cái sự cuồng bạo, khủng bố, cực đoan của họ để cứu cái thế giới này, chứ người Hồi giáo họ chỉ có tâm nguyện là đem bom rải khắp nơi để tiêu diệt những người nào không phải đạo Hồi để làm cho cả thế giới này thành đạo Hồi hết. Đó tâm của họ là có cái đó rất là mạnh, và chúng ta phải làm cái điều gì trước cái điều đó nó đang từ từ nó đi tới. Hôm nay chúng ta mình nói đạo, sinh hoạt trước buổi lễ thành đạo

[1:25:35]thì thầy nói về cái Đạo Phật Cho Ngày Mai. Vì tại sao mình nói Đạo Phật Cho Ngày Mai? Vì mình biết rằng cái đạo Phật cũ trước kia thì sẽ không có thích hợp, không có thích ứng được đối với thế giới, với thời đại. Do đó, chúng ta phải tìm một đạo Phật hợp lý cho ngày mai. Cũng không có nghĩa rằng cái đạo Phật của Đức Phật là có cái gì sơ hở, sai lầm, mà chỉ là chúng ta đào sâu, phát triển những điều Phật đã nói cho nó phù hợp với tâm tình của con người trong thời đại và cũng là để cho đạo Phật nó tràn đầy lợi ích đối với thế giới. Vì nó có phù hợp, nó mới có thể làm lợi ích cho thế giới được. Và đó cũng là biểu lộ cái trí tuệ,

[1:26:18]cái sức sống của đạo Phật, nó không bao giờ lụn tắt được. Mà có trí tuệ thì nó đủ khả năng để mà tồn tại mãi, phát triển mãi. Mà vì cũng vì chúng ta tin rằng đạo Phật là chân lý, chúng ta không nỡ để cái chân lý này nó tàn lụi. Ngày mai khi làm lễ thì thầy sẽ nhắc lại điều này một lần nữa.

[1:26:42]Cho nên, chúng ta hiểu Phật pháp, chúng ta thương yêu con người, chúng ta nghĩ đến thế giới và tự nhận lấy cái trách nhiệm vào trong đôi tay, vào trong trái tim của mình. Và như vậy, chúng ta không được sống một cách tầm thường qua ngày qua tháng nữa, chúng ta không được tu tập một cách ích kỷ nữa, mà phải làm sao rất tinh tấn tu hành mà sống rất có trách nhiệm, sống rất vị tha đối với mọi người để làm cho đạo Phật có cái sức mạnh lan tràn đi khắp nơi. Mà không không phải là vì chúng ta là người đạo Phật cho nên chúng ta muốn đạo Phật lan tràn để cho mình thỏa mãn cái đạo của mình, mà vì chúng ta tin rằng những cái chất liệu trong đạo Phật về

[1:27:26]từ bi, về nhân quả nó sẽ tưới mát lên trên cái thế giới mà đầy những ngọn lửa đau thương, thù hận này, làm cho cuộc đời nó mát mẻ, tươi đẹp hơn, hạnh phúc hơn, an lạc hơn. Đó là điều mà thầy gửi gắm đến mọi người như vậy, mong như vậy. Bây giờ chúng ta nghỉ ha.