Lời giảng: Văn Tư Tu 1

  • Thuyết giảng: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Thời lượng: 1:21:06

Toàn văn lời giảng, chép từ phụ đề. Bấm vào mốc thời gian để nghe đúng đoạn đó.

[0:15]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:23]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam Mô Bổn

[0:41]Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[1:03]Thường là khi người đến học đạo với Phật thì Đức Phật dạy ba cái khái niệm căn bản của sự tu học. Nó có nhiều cái khái niệm căn bản hoặc là gọi là nhiều cái pháp số trong đạo Phật, nhưng ở đây lần này thì chúng ta trao đổi với nhau về ba cái pháp số, là ba cái tiến trình của sự học để tu, gọi là Văn, Tư và Tu. Nguyên cái nghĩa cái chữ Văn á có nghĩa là nghe, theo cái chữ Nho có nghĩa là nghe, nhưng bây giờ thì chúng ta phải hiểu cái chữ Văn có nghĩa là học. Và vì sao? Vì mỗi thời đại cái từ dùng khác, cái nghĩa khác từ từ đi. Đây là cái sự biến đổi về ý nghĩa của ngôn ngữ qua nhiều thời đại. Chúng ta có thể thấy điều này

[2:00]là cũng cùng một cái từ đó, nhưng mà cách đây 50 năm từ đó có nghĩa khác, nhưng sau 50 năm từ đó có nghĩa khác. Đây là sự biến thiên của ngôn ngữ, thì chư Tăng chúng ta khi mà đi sâu vào nghiên cứu giáo điển, chúng ta sẽ bắt gặp nhiều cái từ cổ. Trong những cái từ cổ đó mà nếu chúng ta cứ dịch nguyên nghĩa thì có khi chúng ta không nắm được hết cái ý mà người xưa muốn nói. Người xưa đây là chúng ta nói là chư Phật, chư Tổ, các vị đại sư, các vị luận sư, vân vân. Đó. Thì bởi vì cái ngôn ngữ nó biến thiên như vậy, như là thường chư Tăng Bắc tông à chúng ta thường ảnh hưởng Hán tạng, là mình tụng kinh, học kinh gì cũng bằng chữ Nho

[2:49]phần nhiều, mà tạng kinh của chữ Nho thì rất là đồ sộ, lớn lao. Ở trong đó, chúng ta thường bắt gặp nhiều cái từ cổ mà nếu chúng ta cứ hiểu nguyên nghĩa chúng ta không giải thích được hết. Tôi nói ví dụ như là cái từ "vô sở đắc". "Vô sở đắc" thì "vô sở đắc" mà dịch sát theo nghĩa á, chúng ta thấy nó là không chỗ được. Không chỗ được thì mình khó hiểu. Bây giờ mình cũng khó hiểu mà Phật tử, người ít biết chữ Nho cũng khó hiểu. Nhưng nếu chúng ta lắng tâm, chúng ta hiểu sâu vào cái nghĩa thực sự mà không dựa vào cái ngôn từ đó thì chúng ta mới thấy rằng đó là không có kiêu mạn. À khi mà chúng ta đạt được một cái thành công gì trong cái việc tu

[3:40]học, ví dụ một người tu tập thiền định rồi tâm đạt được một sức định nào đó, hay một cái biến cố ngộ đạo nào đó, nhưng trong thâm sâu cái ngã chấp chưa hết thì người này vẫn có thể bị cái kiêu mạn khởi lên, cái tự hào khởi lên do cái thành quả của mình. Ở đây, Phật dạy mình vô sở đắc. Người xưa dịch là không chỗ được, nhưng mình phải hiểu là đừng có tự hào vì cái thành quả đó. Do đó, đây là cái biến thiên của ngôn ngữ, à chúng ta nhớ như vậy. Rồi, ngay như trong kinh Kim Cang có một câu phải nói là thường được dịch nhiều lần, nhiều nghĩa và gây sự tranh cãi mà gọi là cái yếu chỉ, là "Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm"

[4:24]cũng là một cái câu đặc biệt trong kinh Kim Cang. Nhưng mà mỗi người cũng hiểu mỗi cách khác nhau. Ờ là vì sao? Là vì chúng ta là người Việt và sống trong cái thời đại cách người xưa cũng cả mấy ngàn năm, mình không hiểu hết được. Cho nên không chắc là ai hiểu đúng cái câu "Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm". Đây là điều khó đó, nhiều cái chỗ khó khăn như vậy về hàng rào ngôn ngữ. Thì nơi cái chữ Văn, Tư, Tu cũng vậy. Chữ Văn nếu mà mình cứ theo nguyên nghĩa là nghe, cái bộ Môn ở dưới trong có cái chữ Nhĩ ở trong là nghe, nhưng mà chúng ta phải hiểu đó là học, học. Vì sao? Vì sao chữ Văn có nghĩa là học?

[5:07]Bởi vì thời Đức Phật á, ngoài cái việc mà người này nói cho người kia nghe thì không có một phương tiện thứ hai để học và dạy, để học và dạy. Chỉ nói và nghe thôi. Thời đó chữ viết không có thịnh, chỉ nằm trong một số rất ít các tu sĩ Bà-la-môn chuyên sâu cao cấp thì mới có thể biết được cái Phạn ngữ. Mà cái thời Đức Phật á, cái Phạn ngữ cũng chưa phát triển mạnh lắm nữa, mãi đến cách sau Phật 600 năm thì cái chữ viết của chữ Phạn á mới bắt đầu được phát triển, thì cũng đồng cái thời đó là Đại thừa xuất hiện theo luôn. Nhưng mà đúng thời Đức Phật thì người ta học đơn giản lắm, chỉ ngồi nói mà nghe.

[5:53]Nên ở đó mà ai có trí nhớ tốt, nghe được nhiều thì được gọi là một bậc uyên bác, nhà bác học. Nên bây giờ chúng ta nghe lại cái chữ đa văn á, như ngài A-nan được khen là đa văn, hoặc là những vị nào mà học nhiều, kiến thức rộng thì được khen là đa văn. Đa văn là nghe nhiều, có nghĩa là người đó học rất nhiều. Bây giờ mình gọi là một vị bác học, một vị học giả là cũng như vậy. Vào cái thời đó, ờ khi một vị thầy dạy cho một người học trò trong bất cứ một cái ngành nghề nào chứ không riêng ở trong đạo, thì ông thầy ngồi xếp bằng hay là bán già hay kiết già, ừ có thể là trên một chỗ cao hơn một chút hay là ngồi trệt,

[6:42]còn người học trò thì không được phép mà ngồi giống như ông thầy, nghĩa là không được phép ngồi xếp bằng, mà chỉ ngồi bây giờ mình gọi gọi là ngồi xổm, à có khi còn gọi là ngồi gì? Chồm hỗm. Ở miền Nam hay gọi từ gọi là ngồi chồm hỗm hay ngồi xổm. Đó, chỉ được ngồi đó, ngồi trong cái tư thế hơi khó khăn đó để lắng nghe ông thầy và phải hết sức chú tâm, vì nếu mình nghe không được thì mất luôn. Tuy nhiên là vì cái hoàn cảnh như vậy nên người xưa họ có luyện được cái trí ức, cũng như ông thầy cũng chịu khó mà kiểm tra đệ tử. Khi ông nói một loạt các bài như vậy, một bài đoạn tụng, vì cái thời mà chỉ nghe và nói nên cái

[7:29]văn xuôi rất ít được phổ biến, không giống như chúng ta ngày nay, mình cứ nói tràn giang đại hải bằng cái văn nói, văn xuôi. Còn người xưa vì phải nhớ nên thường phải phải nói bằng văn vần, là bằng những đoạn thơ để dễ thuộc. Đó, chúng ta vẫn thấy tại sao mà cái văn chương à cách đây nhiều thế kỷ thường là văn vần là vậy, là do thơ nên dễ ghi nhớ. Đó, thì cái thời Đức Phật cũng vậy. Nên chúng ta thấy trong kinh có nhiều đoạn kệ tụng là vậy đó, cứ từng năm chữ, năm chữ, bảy chữ, bảy chữ. Cái thơ đó có cái tính nghệ thuật là nó thêm cái cảm xúc, vần điệu làm cho người ta dễ nhớ. Nên ông thầy ngoài việc là ổng cố diễn đạt cái ý tưởng

[8:14]bằng cái văn vần, thì ông còn kiểm tra tới lui nữa. Ông nói rồi người đệ tử lặp lại câu đó, nói rồi người đệ tử lặp lại câu đó. Qua ngày sau bài học mới thì ông kêu đọc lại. Thì người đệ tử mà khi nghe một lần rồi, tối là phải ngồi lẩm nhẩm, lẩm nhẩm, tụng. Cho nên nó mới xuất hiện cái gọi là một nghi thức tụng kinh. Chúng ta ngày nay cũng theo người xưa tụng kinh mà mình không hiểu. Ngày nay chúng ta tụng kinh vì đó là một nghi thức thiêng liêng. À mỗi giờ, mỗi ngày đó chúng ta đến trước bàn Phật, mặc áo tràng, mặc áo hậu, y nghiêm chỉnh tề, tụng kinh, gõ mõ, thỉnh chuông gọi là một nghi thức thờ cúng, tu hành.

[8:52]Còn ngày xưa đó, ngoài cái giờ mà ông thầy dạy rồi đó là người đệ tử phải ngồi lẩm nhẩm tụng lại, tụng lại. Chữ tụng recite, trong tiếng Anh dịch là recite, lẩm nhẩm đọc lại, lẩm nhẩm đọc lại để không bị quên. Là vì ngày mai ông thầy ổng trả bài mà, mai ông thầy ổng kêu ra hỏi lại. Cho nên cái chữ tụng kinh ngày xưa là vậy. Thì đến cái truyền thống mà tụng để thuộc, ngày nay nó đã cũng biến đổi luôn. Hôm nay thì chúng ta có kinh điển ghi trong băng giảng, trong sách vở nhiều nên mình không cần phải ghi nhớ, điều gì cần biết cứ lật ra coi lại. Nhưng rồi chúng ta vẫn giữ cái truyền thống tụng, tụng kinh của người xưa lại mà mình hiểu bằng một

[9:34]nghĩa hoàn toàn khác, hoàn toàn khác. Chúng ta mà ai có tụng kinh Pháp Hoa đều nhớ câu này là tụng kinh này được vô lượng công đức, có không? Có không? Quý thầy cũng có nhớ phải không? Nói tụng đây nè bản Kinh Pháp Hoa nè. Đó, là tụng được vô lượng công đức. Là vì sao vậy? Vì cái người mà tụng lẩm nhẩm đó chính là người giữ gìn Phật pháp, giữ gìn Pháp bảo không để quên mất. Hễ người này quên còn có người khác nhớ, nhờ vậy mà lời dạy của Phật là tiếp tục được giữ gìn. Mà không để mất lời dạy của Phật là một công đức vô lượng không gì có thể so sánh được. Đó là ý nghĩa mà tại sao nói tụng kinh được vô lượng công đức.

[10:19]Nhiều người không hiểu hết điều đó rồi bây giờ cứ để hết thì giờ để tụng bộ kinh Pháp Hoa gọi là đạt vô lượng công đức thì cái nghĩa đó nó không có chính xác lắm. Thời bây giờ cái việc mà ghi nhớ nó dễ, phần còn lại là sự thực hành tu tập. Bây giờ thì mình trở lại vấn đề Văn - Tư - Tu, mà hôm nay chúng ta nói về Văn trước là đề tài học hỏi đạo lý, Văn là học hỏi đạo lý. Phương tiện người xưa chỉ nói và nghe, hôm nay thì chúng ta có quá rất nhiều phương tiện để học hỏi. Và cách học cũng mở rộng nhiều đường, nhiều trường học, nhiều nơi nhiều chốn, nhiều vị thầy, tức là cái phương tiện để học rất là nhiều.

[10:59]Chỉ sợ là người mà học không có hoặc không có hiếu học, không quyết tâm, không áp dụng được thôi, chứ còn cái phương tiện để học ngày hôm nay thì hoàn toàn không thiếu. Và thứ nhất là khi mà chữ viết được phát triển, rồi người ta chế được giấy để ghi lại chữ viết. Cái thời cổ á, từ thời Đức Phật qua mấy trăm năm sau thì người ta tìm cách viết trên cái lá gọi là lá bối. Lá bối nó gần gần giống như lá buông, mà người ta đem cái lá đó người ta xử lý, người ta ngâm thuốc gì đó, để đừng để bị mọt ăn, mối ăn, nó bền vững, rồi người ta mới viết chữ lên đó mà viết nắn nót đẹp lắm. Nên cái công phu mà viết chữ cực duyên lắm.

[11:41]Người mà phụ trách cái việc viết chữ lên lá bối phải nói là một đại công đức. Còn bây giờ thì mình nhiều quá mình không hiểu điều đó. Chứ người xưa mà ai được gọi là thư ký để mà viết kinh lên lá bối thì người đó là như là thầy của tất cả mọi người, thì ít có ai mà có thể uyên bác để viết chữ được. Thời đó học chữ khó lắm, là chữ Phạn đó. Nhưng mà bên Trung Hoa thì được có cái nền văn minh về chữ viết và in ấn tiến bộ nhanh hơn, nên người Trung Hoa phát triển ra ngành giấy, ngành in sớm nhất nhân loại. Rồi chữ viết họ nhờ vậy cũng phát triển rất là sớm. Do đó, cái việc mà phổ biến phát triển kinh điển bên Trung Hoa tiện lợi

[12:22]hơn các nước khác, nên cũng là một lý do mà làm cho Phật giáo bên Trung Hoa không bao lâu mà tràn lan, phát triển nhanh hơn cả tại cái cái xứ gốc của Phật giáo là Ấn Độ, hoặc là những xứ gần như Tây Tạng, Tích Lan, vân vân, cũng không bằng Trung Hoa, nhờ cái phương tiện. Nên chúng ta thấy cái phương tiện là một điều quan trọng. Nếu chúng ta áp dụng nó vào việc đời thì nó cũng ra tùm lum chuyện đời, nhưng nếu chúng ta áp dụng cái phương tiện vào trong việc đạo thì cũng đem lại lợi ích rất lớn cho đạo. Ví dụ như hôm nay chúng ta có cái băng cassette, băng video, máy vi tính, nhiều phương tiện truyền thông khác,

[13:02]computer là máy vi tính, đó, những cái điều như vậy đó, mà

[13:08]nếu chúng ta áp dụng vào trong việc học và phổ biến đạo thì cũng vô cùng là lợi ích cho người học Phật. Còn nếu chúng ta dùng những thứ đó vào những chuyện thế gian thì nó cũng sinh ra nhiều cái chuyện thế gian. Đó là lý do tại sao những nhà kỹ thuật mà cái phước của họ cũng không phải là nhiều lắm là vậy đó. Khi họ phát minh ra một cái kỹ thuật thì cái kỹ thuật đó nó không có định được cái hướng là chỉ thuần đi trong đạo, mà ai muốn dùng gì đó thì dùng. Nên có người đã dùng băng cassette để ghi những bài nhạc trữ tình, tào lao gì đó, nhưng cũng có những người dùng băng cassette để ghi lại những lời giảng dạy, vân vân.

[13:43]Thành thử ra, cái người mà phát minh ra cái băng cassette thì tội phước cứ bằng nhau, cứ bằng nhau thôi. Cho nên không quyết định được là cái kỹ thuật đã làm cho cái người phát minh ra nó được phước nhiều hay ít. Nhưng ở đây, thì chúng ta trong cái điều kiện gọi là học hỏi thì chúng ta thấy rằng khi phương tiện càng nhiều, chúng ta dễ có điều kiện để học, đó là một cái thuận lợi. Còn ngày hôm nay, thì thế giới đã phát triển đến một cái kỹ thuật mới gọi là mạng internet. Tôi nói điều này hôm nay, tôi giới thiệu mà cũng là một sự kêu gọi quý thầy, nhất là quý thầy còn trẻ, cố gắng phải học cho được

[14:22]cái computer, rồi sau này biết luôn cả cái mạng internet để có thể vào đó mà tìm được rất nhiều tài liệu trên thế giới. Tức là chúng ta không cần phải ra nước ngoài, chúng ta ở Việt Nam mà mình có cái computer tốt, mình nối vào mạng internet, có thể mình truy tìm những cái nơi mà họ phổ biến Phật pháp trên khắp thế giới, mình có thể tìm lấy tài liệu về nghiên cứu được hết. Đây là một cái cái phương tiện để giao thông liên lạc của cả loài người ngày hôm nay rất là tiện lợi thì chư Tăng chúng ta không được quyền lạc hậu với những cái phương tiện này. Giống như cái thời xưa mà chỉ có nghe và nói,

[14:56]mình cảm thấy những người mà nghe, nhớ rồi họ nói đâu cần viết làm chi nữa, nghe nói thừa, nhưng mà chúng ta thấy rõ ràng cái chữ viết và giấy đã làm cho Phật pháp phát triển. Thì hôm nay cũng vậy, nhiều khi mình nói: "Ôi, học tu rồi cần chi máy móc nhiều, cần chi computer, máy tính, mạng internet." Nhưng không đâu! Nếu một ngày nào đó mà chúng ta sử dụng được cái phương tiện đó tinh xảo, chúng ta sẽ thấy cũng là một cách để phát triển Phật pháp. Bây giờ thì nhiều các học viện Phật giáo trên thế giới, nhiều tu viện Phật giáo trên thế giới đã đi vào mạng internet để trao đổi giáo lý, trao đổi Phật học với nhau.

[15:33]Hôm nay thì chúng ta là một trường hạ nhỏ ở vùng sâu vùng xa, nhưng cũng mong rằng quý Thượng tọa, Hòa thượng làm lãnh đạo Phật giáo ở huyện có thể là sắp xếp cho quý thầy trẻ đi học được cái computer, rồi nối mạng, lần lần thì cũng là một cách mà chúng ta không còn là cái vùng sâu vùng xa lạc hậu thiếu thốn giáo lý nữa, mà có thể nối vào khắp thế giới luôn, chứ không riêng là chỉ ở trong nước, không cần phải là ở Long Khánh hay Sài Gòn nữa, có thể đi vào bất cứ nước nào có Phật giáo là mình tìm được hết. Đó là cái điều mong mỏi như vậy. Ở những cái phương tiện học rất là nhiều, do đó chúng ta không có đề cập đến việc học tràn lan ở ngoài thế gian.

[16:16]Chúng ta đề cập đến việc học hỏi đạo lý của người tu Phật. Chúng ta không có đi rộng ngoài thế gian, nhưng cũng không lạc hậu với thế gian. Chúng ta nhớ điều này. Đây là cái khó của người tu. Cái khó của người tu ở chỗ thế này: làm sao cũng thoát ra ngoài thế gian mà không lạc hậu với thế gian. Đây là một cái khó. Cái người mà chấp một chiều nó dễ. Chấp một chiều là sao? Nghĩa là cứ theo đời mà học là chấp một chiều. Đời tới đâu tôi tới đó. Ai học biết gì tôi cũng biết hết, dễ. Rồi bỏ tu cứ lo học, cũng dễ. Hoặc là cái người chấp một chiều khác: không biết gì tới thế gian, không biết tới kỹ thuật,

[16:55]cứ trốn trong cốc tu, tối ngày tụng kinh thôi, dễ. Dễ thì có nghĩa không phải là lẽ phải. Cái dễ, cái một chiều thường là không phải chân lý. Cái khổ là vậy đó. Cái chân lý là cái gì mà nó không chấp nhận cực đoan một chiều dễ dãi. Nó lại là cái gì luồn lách tinh vi, sai và đúng cách nhau trong đường tơ kẽ tóc mà mình làm được điều đó. Nhiều khi mình gọi nó là trung dung, nhiều khi mình gọi nó là sự phối hợp, nhưng cũng khó dùng một từ để chính xác. Ví dụ bây giờ chúng ta nói, giữa cái phương tiện mà tiến bộ vượt bậc của kỹ thuật để giúp cho chúng ta có nhiều cách để học thì chúng ta đặt cái vấn đề là học làm sao

[17:36]không bị ảnh hưởng bởi thế gian pháp, nhưng không lạc hậu với thế gian? Giờ mình gọi cái đó là cái gì? Cái đó gọi là trung dung hay phối hợp? Mình thấy từ nào cũng không chính xác, phải không? Không chính xác. Ở đây chỉ là tùy cái trí tuệ của người tu chúng ta làm sao để mà chúng ta được cái điều đó trong từng bài học, trong từng trường hợp, trong từng kỹ thuật. Như bây giờ khi mà chúng ta nói mình gặp được cái máy nghe băng cassette đó, đây là phương tiện thấp đó. Hồi xưa hoàn toàn không có, bây giờ gọi là một phương tiện mới, mà đã trở thành lạc hậu rồi đó. Giờ làm sao chúng ta không lạc hậu với thế gian mà không dính vào thế gian?

[18:16]Là cái gì? Nghĩa là chúng ta phải thành thạo sử dụng cái máy cassette đó: biết trở băng, biết thâu băng, biết tăng tiếng nhỏ, tiếng lớn, vận tốc nhanh, vận tốc chậm, biết hết, nhưng mà không nghe băng băng nhạc đời, không nghe những tài liệu mà ngoài cái việc tu hành này nọ, chỉ thuần nghe băng đạo gì đó, thì đó gọi là không lạc hậu với thế gian nhưng không bị đắm nhiễm thế gian. Hoặc là bây giờ phương tiện computer là máy tính đó, là chúng ta người tu bây giờ bắt đầu cũng phải biết sử dụng. Mà không phải là riêng quý thầy trẻ đâu, rồi sợ chừng ba năm sau nữa thì Thượng tọa mà mà Chánh đại diện, Thiền chủ huyện Xuân Lộc của chúng ta

[18:55]cũng phải ngồi lên máy tính mà gõ lóc cóc như người khác luôn. Cũng phải làm luôn, quý thầy lớn tuổi già cũng phải biết ngồi lên máy tính mà điều khiển máy tính luôn, vì nó trở thành cái điều bình thường. Như bên UNESCO người ta định nghĩa người không biết máy tính là mù chữ. Mình cứ tưởng mù chữ là không biết đọc biết viết, nhưng mà cái khái niệm đó từ từ nó thay đổi. Thì ngày hôm nay, UNESCO đó họ định nghĩa thế này: là không biết đọc biết viết là một mù chữ, không biết sử dụng computer là cái mù chữ thứ hai, không biết một ngoại ngữ là mù chữ thứ ba, không biết cái văn hóa của nước mình là mù chữ thứ tư. Bốn điều mù chữ.

[19:31]Ở đây chúng ta mù hết mấy điều? Ba điều.

[19:37]Thì ở đây đó, chúng ta đề cập đến việc học hỏi giáo lý không lạc hậu với thế gian nhưng không có dính vào thế gian. Bây giờ chúng ta nói về quan điểm học, quan điểm của cách học. Thứ nhất là hiếu học.

[19:54]Hiếu có nghĩa là ham thích, hiếu học nghĩa là ham thích học. Mà tại sao chúng ta ham thích học?

[20:04]Tại sao chúng ta ham thích học? Cái hiếu học này nó cũng lạ lắm. Nó nhiều khi nó không thuộc về lý trí mà nó thuộc về một khuynh hướng gì sâu xa trong tâm hồn của mình á. Bây giờ ví dụ như ở đây hỏi nè, mọi người học là tốt hay xấu, đi học Pháp là tốt hay xấu, thì tất cả chúng ta ngồi đây đều nói rằng học hỏi giáo lý là điều tốt, đúng không? Mấy Phật tử đúng không? Nhưng bây giờ chiều nay ví dụ bên kia có một thời nghe Pháp, rủ đi nghe, cái bắt đầu ngó: "Sao trời mưa ghê quá chuyển. Không biết nay sầu riêng rụng nhiều, ít? Chôm chôm bữa nay thất mùa quá." Đủ cách để mình từ chối. Thì đó là người không hiếu học.

[20:45]Mặc dù học là lợi ích ai cũng biết, nhưng còn cái thúc đẩy ham thích nó lại là một cái sức mạnh gì nó khác, một khuynh hướng gì nó khác trong con người mình lạ lùng lắm, không có ai giống ai hết. Đây là điều rất là lạ. Còn có người nghe bên kia có giảng Pháp, trời mưa tầm tã mặc áo mưa đi nghe. Nên cái giữa hai người cùng trả lời giống nhau là ờ học Pháp rất là tốt, nhưng một người đội mưa đi nghe Pháp, một người không đội mưa, hai cái khác nhau. Cho nên giữa cái chúng ta biết là giáo lý, chân lý, chánh pháp, Phật pháp là điều lợi ích với cái thứ hai là cái sự ham học, hiếu học mạnh mẽ trong lòng, hai cái đó khác nhau.

[21:25]Như vậy, cái phần đầu ai cũng được rồi. Ai cũng biết rằng học hỏi giáo pháp là tốt, còn cái phần thứ hai đó là có cái sức mạnh gì lạ lùng bí mật trong tâm để thúc đẩy mình vượt qua khó khăn để mà đi học. Cái sức mạnh gì bí mật trong tâm làm cho chúng ta tới tối rồi vẫn chong đèn ngồi học. Cái sức mạnh gì bí mật ở trong tâm mà làm cho chúng ta biết lắng nghe đạo lý của người khác, dở từng trang sách để xem, cái sức mạnh gì? Cái đó nằm ở đâu ra? Đây là một cái bí mật, bí mật thuộc về nhân quả, thuộc về nhân quả. Giống như khi chúng ta nhìn những đứa trẻ cũng vậy, bây giờ chúng ta phân tích cho chúng thấy cái người

[22:05]có học lớn lên làm bác sĩ, kỹ sư, làm lớn. Rồi cái người không học thì không có được những cái vinh quang đó, nên bây giờ phải ráng học, thì nó nghe nó hiểu liền. Nhưng mà có đứa bữa nào mà không đi học được, khóc. Mà có đứa đi học là phải đánh đòn, phải hăm he rồi mới cầm cặp đi một cách gượng gạo. Cái biết mà cái học là lợi ích thì giống nhau, còn cái sức mạnh hiếu học lại là phải khác nhau. Nó đây là cái khó giải thích thì từ từ chúng ta cũng sẽ nói tới vì đâu nó có cái khó đó, mà làm cách nào để chúng ta có được cái sức mạnh hiếu học ở trong tâm hồn của mình. Cái đó thuộc về nhân quả, cái đó thuộc về nhân quả.

[22:49]Thì trước hết chúng ta phân tích trên lý trí một chút. Là đầu tiên trên lý trí thì chúng ta khát khao hiểu biết đạo lý vì thứ nhất là tự biết mình còn kém. Mà đạo lý trong vũ trụ này, chân lý trong vũ trụ này thì mênh mông không có giới hạn. Phải có cái ý nghĩ đó trước, có cái nhận định đó trước thì mới có cái hiếu học sau. Còn nếu một người nào không thấy mình dở thì người đó không xuất hiện được cái hiếu học. Người nào mà không thể có cái khái niệm rằng chân lý trong vũ trụ là mênh mông không giới hạn thì người đó không hiếu học. Mà đây không phải là dễ nhận định đâu, không phải là ai cũng nhận định được điều đó đâu.

[23:38]Như bình thường mình ngồi mình nói chuyện với nhau bình thường, trong đầu mình không hề có ý nghĩ rằng mình đang còn kém còn dở. Trong đầu mình không có điều đó. Đến lúc nào có ai hỏi thì tự mới suy nghĩ lại, à nói rằng: "À mình cũng kém dở." Chứ trong từng giờ từng phút cuộc sống mình vẫn thấy những điều mình đã hiểu biết đủ rồi. Ví dụ như nói về người Phật tử tại gia biết được nhiêu cãi bấy nhiêu, mình chỉ cần biết mảnh vườn của mình. Hoặc là quý thầy tu cũng vậy, có những người nhiều khi không hiếu học, học được vài bản kinh, vài bản luận, dự vài trường hạ, tự nhiên thấy hiểu rồi, đủ rồi. Nhất là mấy loại giáo pháp như thế này, giáo pháp mà gây cho người ta sự tự mãn.

[24:21]Ví dụ như nói rằng chỉ một cái tâm này là trùm pháp giới, ngoài ra không cần thêm gì nữa, không để cho một hạt bụi nào hết. Những cái loại vậy nghe thì cao nhưng giết chết cái tâm hiếu học của người khác. Cho nên nếu mà một người tu sĩ mà nghe nhầm những cái giáo lý đó rồi cái tự nhiên cái tâm hiếu học biến mất. Họ từ không còn thấy mình kém dở, không còn thấy rằng chân lý trong vũ trụ này mênh mông không giới hạn nữa, mà cảm thấy mọi điều đã đủ rồi, gần nằm trong tầm tay. Đó. Còn nếu mà chúng ta gặp được một cái cái đạo lý đúng thì càng học chúng ta càng thấy mình dở. Ở đây là chúng ta để ý, chúng ta sẽ học cái giáo

[25:05]lý như thế nào, tìm được những vị giảng sư nào, giáo thọ nào cho chúng ta được cái khái niệm là càng học càng thấy mình dở thì chúng ta biết đó là đường đi chân chính của Phật pháp. Như ông Newton, ông nói thế này: khi ông càng học càng nghiên cứu thì ông thấy mình càng dở. Mà trong cái thời đó thì ông là hạng nhất, ông là nhà bác học nổi tiếng nhất thế giới trong thời đại đó. Nhưng mà tại sao một người giỏi nhất lại thấy mình dở? Là bởi vì cái người giỏi thì mới thấy mình dở. Còn người dở thì thấy mình giỏi. Ở đây ai thấy mình giỏi không? Nghe nói vậy đâu dám thấy mình giỏi nữa, vì sợ hễ thấy mình giỏi thì mình là người dở.

[25:52]Còn cái người mà thấy mình dở người đó là người có trí tuệ. Ông Newton là vậy, người có trí tuệ thì mới thấy mình dở được. Khi ổng nghiên cứu rồi bắt đầu ổng mới biết được có những điều mình không thể hiểu được, cả một đời còn lại còn mấy mươi năm tìm không ra, chết rồi vẫn không biết hết được mọi điều nên ổng biết ổng dở quá. Còn chúng ta không có cái trí tuệ đó, mình học được nhiêu thấy đủ rồi. Đó là cái cái dở của mình so với cái người xưa. Thì trong Phật pháp cũng vậy, chúng ta mà học nhầm một cái giáo lý á, học xong bài kinh bước ra thấy mình muốn thành Phật, đủ, thì đó là một cái giáo lý coi vậy chứ sai, nói nghe hay, nghe đã tai, trật.

[26:31]Còn cái giáo lý nào mà cho chúng ta một cái điều là: "À sao mình dở quá", giáo lý đó đúng. Phải nhớ cái đó. Rồi một cái điều nữa chúng ta thấy thế này, là cái điều mà thấy mình kém dở đó thì cái tâm đó là tâm kiêu mạn hay tâm khiêm hạ?

[26:51]Thấy mình kém dở là kiêu mạn hay khiêm hạ? Khiêm hạ phải không? Đó. Nên cái mà thấy mình kém dở là tâm khiêm hạ. Như vậy, cái người có trí mới thấy mình kém dở, thấy mình kém dở thì tức là khiêm hạ. Chúng ta kết luận lại gọi là tam đoạn luận hay là diễn dịch nói rằng: người có trí mới có thể là một người khiêm hạ.

[27:18]Nhưng mà như vậy chưa có dừng lại, mà người có tâm khiêm hạ rồi thì vô lượng công đức lành chờ ở phía sau, vô lượng công đức lành chờ phía sau. Tất cả chúng ta ngồi đây, công đức lành chưa được viên mãn bởi vì trong sâu thẳm tâm hồn chúng ta chưa đủ tâm khiêm hạ. Đây là một điều thực sự đau đớn, cay đắng mà tất cả những người tu hành chân chính đều tìm thấy cái lỗi đó trong tâm mình hết. Như bản thân của tôi cũng vậy. Bản thân của tôi là một người thường xuyên cố gắng là tự thấy lỗi mình và nhắc nhở mọi người giữ tâm khiêm hạ, nhưng mà tôi thú thật, tôi rất thường xuyên để sẩy cái tâm đó khỏi tầm tay của mình.

[28:05]Đó là một điều cay đắng của người tu. Mà nếu chúng ta cứ không kiểm soát được, không giữ được cái khiêm hạ trong tâm hồn mình thì có nghĩa là, có nghĩa là gì? Vực thẳm cứ lờ mờ chập chờn chờ trước mặt mình, không biết ngày nào mình rớt xuống. Cái kiêu mạn là cái cực kỳ nguy hiểm. Hễ mình thấy mình hơn rồi mình giỏi rồi, mình vượt bậc rồi là có lúc nào đó phải rớt xuống vực sâu. Đây là cái quan trọng của người tu hành. Nên người tu hành càng tu cao chừng nào, càng thấy mình thấp kém chừng đó. Đó là người tu đúng và có trí tuệ. Mà như vậy cái người trí tuệ thì thấy mình kém dở, có khiêm hạ thì ngược lại cũng vậy.

[28:49]Cái khiêm hạ thấy mình kém dở sẽ thúc đẩy cho mình có cái tâm hiếu học, muốn học mãi thôi, vì biết cái biết của mình không bao giờ đủ, không bao giờ đủ. Nhưng chỉ có cái khác là thế này, là cứ càng về sau thì cái học càng chọn lọc hơn, càng chọn lọc hơn. Như tôi lấy kinh nghiệm bản thân mình vậy, khi tôi bắt đầu tôi vào xuất gia, trước khi xuất gia thì cũng học dữ lắm, trước khi xuất gia là cũng ráng học chữ Nho, ráng đọc sách đồ dữ lắm. Khi vào xuất gia được thì thôi sách nào cũng ráng đọc, kinh nào cũng ráng đọc. Kinh Vạn Phật cũng ráng mà lạy, Hoa Nghiêm ráng đọc, cái gì cũng ráng hết. Vì lúc đó mình biết mình chưa biết gì hết,

[29:28]chập chững bước vào đạo, rồi những luận giải này nọ cố gắng tìm đọc hết. Nhưng trong cái quá trình mà vừa học vừa tu, vừa học vừa tu thì lần lần mình gạn lọc lại. Thì có những điều là sách viết vậy chưa chắc đã đúng, phải xét lại, đối chiếu so sánh sách này với sách kia, kinh này với kinh kia. Có những điều gì mâu thuẫn với nhau thì phải xem cái nào đúng hơn để chấp nhận. Nên mới ban đầu thì học, học dữ lắm, nhưng mà về sau thì bắt đầu so sánh đối chiếu cân nhắc lại mọi điều chứ không có bừa bãi. Rồi càng về sau nữa càng về sau nữa thì càng lúc càng chọn lọc, càng lúc càng khó tánh trong việc học.

[30:07]Nhưng mà không phải là ít học. Mà chán học đó, thì cái đó là cái đương nhiên vì cái tuổi đời mình lớn, rồi những sách vở nhiều khi xuất bản không kịp. Sách vở có xuất bản mới nhiều khi có những điều trùng lặp cái cũ mình không có thì giờ để đọc lại nữa. Do đó luôn luôn tìm cái mới và tìm cái chọn lọc cái mình chưa biết. Ở cái tuổi của tôi bây giờ thì khi bước vào một cái nhà sách thì không còn có cái, cái vui mừng ham thích như ngày trước, như cái ngày mới xuất gia nữa. Mà lướt một loạt cái tựa sách, lướt mình đoán trước, đoán coi cái tựa sách nào có thể nói lên những điều mới, độc đáo thì mới lấy cuốn đó lật ra vài trang coi thử, vài dòng coi thử.

[30:48]Chỉ trong một vài dòng mà thấy cái văn phong cũng như ý tứ của tác giả độc đáo thì mới lấy cuốn đó, mua cuốn đó về đọc. Còn mở ra lật vài dòng, chỉ cần một vài câu thôi, đánh giá được cái con người tác giả rồi là gấp sách gửi lại, không đọc. Thì không có thì giờ, không phải mình chê, mà không có thì giờ, tuổi lớn rồi việc nhiều. Nhưng mà không bao giờ được quyền cho mình là đủ. Chỉ có cái là mình có duyên tìm được cái sách hay, sách mới hay không thôi, chứ không bao giờ được quyền cho mình đã biết đủ. Mặc dù là bây giờ có đi giảng, là có ừm có thể giúp đỡ người khác trong giáo lý, nhưng mà cũng không được quyền là dừng lại,

[31:30]vì còn rất nhiều điều mình chưa thể biết được, chưa thể biết được. Cái tâm hiếu học thì làm cho chúng ta có những thái độ như thế này: là thứ nhất, nghe ở đâu có đạo lý là đến học. Đó là cái thái độ của người hiếu học, nhất là những người mới bước vào đạo, hoặc là mới xuất gia đó, thì cái thái độ này phải có. Chứ nếu mình mới vào đạo mà thái độ này chưa có thì là một cái sai lầm cực kỳ lớn. Những hàng quý vị Thượng toạ, Hoà thượng lớn thì không nói nữa. Những vị đó thì học quá nhiều, bây giờ quý thầy cũng chọn lọc thôi, nhưng những người nhỏ phải có tâm hiếu học. Không hiếu học là sai lầm. Nơi nào có đạo lý là mình đến học, dù có nhiều khó khăn.

[32:21]Thì ở đây chúng ta thấy cũng có nhiều vị thầy tốt lắm, là gửi đệ tử mình đi học nơi này nơi kia. Đó. Hoặc có những điều kiện mà không thể đi học được thì người đệ tử cũng phải xin phép thầy mình lặn lội đường xa khó khăn để mà dự nghe pháp, chứ không có được nghe ở đó có pháp mà thờ ơ. Vì theo nhân quả, chúng ta coi thường điều gì, chúng ta sẽ vĩnh viễn đánh mất điều đó. Nếu mình nghe ở đâu có pháp mà tâm mình không có cái trăn trở, ham thích thì từ đó đến cuối đời tự nhiên mình ít gặp được Phật pháp. Nhân quả nó là vậy. Còn nếu mà mình nghe pháp, mình ham thích thì đó là cái duyên để từ đây đến cuối

[33:05]đời càng lúc mình càng gặp được nhiều giáo lý, gặp được nhiều chánh pháp. Đó là nhân quả. Trong nhân quả nó có một điều rất là lạ. Chúng ta cứ tưởng là gieo nhân gì gặt quả đó là mình bố thí thì được giàu sang, cúng Phật có phước, cúng hoa là đẹp, không phải. Trong đó có một cái nhân quả nữa là mình không quý cái gì, mình sẽ đánh mất cái đó. Rồi một điều nữa trong cái thái độ của người hiếu học là mỗi khi mình nói chuyện với ai nè, nghe một lời nói hay thì đón nhận một cách hoan hỷ. Cái bài học này nó bàng bạc khắp trong cuộc đời. Nó không phải là đợi chúng ta phải có cái ý muốn tìm gặp đâu, không phải là mình phải đến đạo tràng nghe pháp,

[33:50]không phải đến trường để học, giở sách để xem, không phải. Nhiều khi trong cái giao tiếp bình thường của cuộc đời, rồi cái người bạn bên cạnh mình hoặc một người nào gần của mình nói một câu bất chợt mà mình vẫn nhận ra cả cái đạo lý tràn trề ở trong đó. Rồi câu nói nó thoáng qua, cái người nói họ dĩ nhiên họ hiểu cái sâu sắc của họ, nhưng họ ít nói, họ nói nhẹ họ bỏ đi. Những người chung quanh cũng nghe mà những người đó không lưu tâm. Nhưng mình là người có tâm hiếu học thì một câu nói hay giữ lại liền. Những cái câu nói hay này nó bàng bạc khắp trong cuộc sống của chúng ta mà nếu chúng ta khéo là hiếu học thì mình học được rất nhiều điều.

[34:32]Ví dụ như là hai người bạn thì mình cùng đi xe trên con đường, nói chuyện với nhau, thì chợt một cái xe nó vượt qua mặt, nó vượt ẩu, thế làm cả hai người mình suýt té thì trong đó một người bạn của mình họ buột miệng họ nói: "Tới cái lúc mà suýt chết rồi mới thấy là mình còn ham sống." Họ nói một câu họ cũng bâng quơ rồi đi luôn. Nhưng mà nếu cái người hiếu học nghe được cái câu đó rồi cái tự nhiên tìm thấy được cả một cái triết lý ở trong đó. Nghĩa là nghe xong là hiểu luôn cả một triết lý sâu xa ở trong đó. Hiểu cái điều gì?

[35:14]Hiểu điều gì? Hiểu cái điều thế này: lúc bình thường ai mở miệng nói cũng ngon, ai cũng anh hùng, nhưng đụng chuyện rồi mới thấy cái bản năng ham sống sợ chết của mình nó còn mãnh liệt. Thì nghe một câu bâng quơ của ông á, mình đã nhận ra được, thức tỉnh được, hiểu được một điều của con người. Tuy lúc đó nhiều khi mình chưa chạm mặt, lúc đó nhiều khi mình không có sợ, nhưng mình phải hiểu đó là vấn đề của con người: ham sống sợ chết. Và khi mình hiểu điều đó thì mình hiểu được bản thân mình cũng như mình thông cảm được cho những người khác. Vì sao có những lúc mà người ta phải làm những chuyện

[35:52]thấp hèn để giữ gìn cái sự sống của họ? Ví dụ như là chúng ta thấy có những người họ quá khổ đi, họ lang thang trên đường, la lết trên đường, họ bị què chân què tay, họ bò lết trên đường để đi xin ăn. Mình thấy sống vậy sống chi, tự tử chết cho rồi. Nhưng mà khi mình nghe cái câu của người bạn, mình chợt hiểu là cái bản năng sinh tồn của con người nó quá mạnh. Khi hiểu điều đó rồi thì mình mới hiểu: à, thì những người ăn xin mà bò lết trên đường như vậy là một điều đáng thông cảm. Vì cái bản năng ham sống của con người nó kỳ lạ lắm, nó chi phối người ta. Vừa là cái nghiệp người ta phải trả trong một cái kiếp nào gieo cái nhân hèn

[36:29]hạ gì đó, bây giờ phải bò lết để đi xin ăn, nhưng đồng thời cũng là cái bản năng tự nhiên nên mình không có ngồi đó mà phê bình người ta nữa. Không ngồi nói: "Sao không tự tử chết cho rồi đi mà cứ la lết mà đi xin ăn?" Lúc đó mình cảm thấy thương con người hơn. Vì hiểu cái bản năng ở trong ở trong con người mình nó mạnh ghê gớm lắm. Nó có nhiều điều như vậy. Và vô số điều, vô số điều trong cuộc sống này mà nếu chúng ta là người hiếu học thì cần nghe thoáng một điều người khác nói một cái, mình hiểu được cả một cái đạo lý lớn, hiểu một đạo lý lớn. Mà có khi đem giảng lại mấy tiếng đồng hồ cho người khác nghe.

[37:01]Có không? Sau này các chú rồi quý thầy còn trẻ nhớ ráng như vậy đó. Có khi chúng ta bắt gặp một cái đạo lý, một câu nói nhỏ có thể thành một bài giảng mấy tiếng đồng hồ hay viết thành cả một cuốn sách nếu mình đào sâu ra là như vậy. Mà lúc nào mình cũng phải có cái tâm hiếu học thì mới có thể bắt được những cái đoá hoa đẹp trong cuộc đời như vậy. Còn nếu mình thờ ơ không hiếu học, ổng nói xong câu đó mình chỉ biết: "À, nãy ổng sợ ổng run gần chết rồi thôi." Về nói: "Ông đó coi tướng nhát." Nhưng còn cái người hiếu học nghe câu nói đó rồi mở được cả một cái triết lý để sống. Hoặc là khi chúng ta gặp một cuốn sách hay thì lòng mình vui mừng vô hạn.

[37:50]Đó là cái người hiếu học. Nên có những người họ quý sách là vậy đó, nhiều khi họ quý đến cái độ ích kỷ. Đó là người thế gian á, người thế gian có những người họ sưu tập sách, họ về họ đọc, họ giữ gìn cẩn thận, bọc nhựa nilon lại, cuốn nào đọc xong thì bọc nhựa lại để vào kệ, đóng cửa lại. Nghĩa là cái kệ sách đó để trưng. Mà ai hỏi mượn thì à chỉ có một câu trả lời lịch sự: "Xin lỗi chìa khoá tôi quăng đâu mất." Nghĩa là không cho ai đụng tới mấy cuốn sách của mình, họ quý sách như vậy. Dĩ nhiên cái thái độ quý như vậy nó không có hay vì nó là ích kỷ. Tuy nhiên thì cái cái tâm quý đó cũng đã là nói lên cái thái độ hiếu học.

[38:32]Còn cái người đệ tử Phật chúng ta thì cũng hiếu học, nhưng lại có cái tâm độ lượng hơn, thích san sẻ đạo lý cho người khác. Ví dụ mình đọc được cuốn sách hay rồi thì luôn luôn muốn đưa cái cuốn đó cho người khác. Nên người đệ tử Phật mình có cái điểm dễ thương đó, chứ ít có ai mà đọc được cuốn sách hay rồi rồi giấu luôn lắm. Ở đây có ai có không? Chắc hy vọng là không ha. Thường là cứ đem cho, nhiều khi in đem cho, khi mua đem cho người khác nữa. Đó là thành cái công đức. Mà chính cái công đức đó đó tạo thành cái tâm hiếu học ở vô lượng kiếp sau. Còn cái người mà có cái đạo lý hay à có cuốn sách hay rồi giấu thì cái người đó qua nhiều

[39:19]kiếp sau tự nhiên không có hiếu học, nghe nói tới học là làm biếng à. Đó, như vậy. Nên bây giờ chúng ta xét lại, nếu thấy mình hiếu học là biết hồi trước có đưa sách cho ai đọc, còn nếu thấy mình làm biếng học là hồi kiếp trước giấu sách. Vậy ở đây kiếp trước giấu sách đâu? Ai? Giơ tay lên. Hi vọng là không.

[39:42]Rồi trường hợp mỗi khi mà chúng ta biết đó là một người có trí tuệ, chúng ta được nói chuyện với họ thì thái độ của mình rất là trân trọng, ân cần. Cái việc mà nói rằng người đó là người có trí tuệ thì dĩ nhiên là không phải là tự mình biết, mà có khi là do nhiều người đồn, hoặc có khi là xem sách hay là mình đã từng trao đổi vân vân. Mỗi khi mình gặp lại người đó thì mình đều ân cần quý trọng, vì mình biết nói chuyện một lát thế nào ổng cũng nói ra được cái nhiều điều quý giá, sâu sắc mà mình chưa biết. Đó là cái cái thái độ như vậy. Thì tôi cũng có cái may mắn là có được cái tâm hiếu học nằm ở trong lòng từ hồi nhỏ.

[40:26]Nên hồi nhỏ bữa nào mà không đi học được là khóc. Ví dụ như trời mưa hay bệnh mà không đi học được là khóc. Rồi khi gặp mọi người đến nói chuyện, mà thường thì mình nhỏ tuổi nên ai mà người lớn thì mình luôn luôn đối với tôi, thế giới người lớn là một thế giới gì nó kỳ diệu lắm. Vì họ nói ra những chuyện mình không biết, chưa biết bao giờ. Nên ngồi mà nói chuyện với mấy anh mà lớn tuổi á, thì mình nhỏ thì dĩ nhiên không có góp chuyện gì với người ta được, chỉ nghe họ nói chuyện qua lại. Thì tôi cứ đứng một góc tôi rình nghe thôi. Nhưng mà nghe như là một lòng ham thích lắm. Thấy cái thế giới của người lớn sao nó nhiều điều kỳ cục.

[40:58]Dĩ nhiên cũng có nhiều điều bậy bạ lắm. Nghe một lát bắt đầu thấy mấy ổng nói chuyện bậy bạ thôi lẻn đi chỗ khác. Nhưng mà bình thường chuyện này chuyện kia đều cho mình một bài học gì đó. Rồi lớn lên cũng vậy. Lớn lên một chút mà mà gặp người nào có trí tuệ là lắng nghe ân cần lắm. Mong là họ rớt ra được một cái chữ nào mình chụp chữ đó bỏ túi vậy đó. Đó cũng là cái hiếu học. Thì đó là cái kinh nghiệm bản thân, tôi cũng muốn san sẻ lại với quý thầy là vậy. Mà khi mà lớn lên rồi thì từ từ bắt đầu cái thái độ đổi khác lại. Thì thì không còn có có xem vấn đề tuổi tác như hồi nhỏ nữa. Tại mình hồi nhỏ mình xem cái người tuổi lớn

[41:36]quý, vì họ biết nhiều điều mình chưa biết. Nhưng đến khi lớn lên, nhất là khi vào đạo rồi, thì thì không còn chấp cái tuổi tác nữa, mà có khi gặp cái người nhỏ nhưng mình nhìn thoáng qua mình thấy người này có trí tuệ, có cái hay thì mình cũng quý và lắng nghe họ. Lắng nghe xem cái người đó nói điều gì có thể mình cũng học được. Đó đó là cái thái độ, cái tâm hiếu học và là quan điểm học.

[42:03]Cái thái độ thứ hai, cái quan điểm thứ hai về vấn đề học trong văn tư tu là chúng ta học với tâm niệm khiêm tốn. Khiêm tốn nghĩa là như chúng ta đã biết, là thấy mình kém dở, là tự hạ mình xuống, tự hạ mình xuống. Ở đây chúng ta có một ví dụ minh họa cũng phù hợp, như Lão Tử nói: "Tại sao mà trăm con nước đều đổ về biển? Bởi vì biển thấp hơn trăm con nước đó." Cái lời xưa thì nói nó ngô nghê, nhưng mà mình vẫn hiểu vậy: Sở dĩ muôn sông tuôn về biển, bởi vì biển thấp hơn muôn sông. Đó. Thì cũng vậy, khi mà chúng ta thấy mình là kém, là dở, chúng ta tự hạ mình xuống, thôi khỏi tự hạ mình cũng đã thấp,

[42:50]tuột xuống ở dưới rồi, khỏi hạ nó cũng thấp rồi, thì tự nhiên nước đổ về. Nước này là nước gì? Nước đạo lý, nước kiến thức. Hễ cái người tự cao thì tự lần lần mình cô độc với mọi người, còn cái người hạ thấp mình xuống thì tự đón nhận được mọi điều tốt đẹp các nơi khác đưa đến. Do đó, cái quan điểm thứ hai của việc học là chúng ta phải thấy mình kém, mình dở trước, không bao giờ có cái ý nghĩ chủ quan rằng mình đã giỏi rồi. Ví dụ như trong những vị ngồi đây, dù là xuất gia hay tại gia vậy, như có duyên chúng ta trao đổi với nhau ngày hôm nay, thì có thể những điều tôi nói quý thầy đã biết rồi.

[43:34]Biết rồi, giỏi rồi, thực hành được rồi nữa. Nhưng mà dù như vậy, cũng ráng giữ trong tâm mình một cái điều là không bao giờ thấy mình giỏi, ngồi lặng lẽ nghe. Người ta nhìn vô thấy mình vẫn nghe bình thường, mà sự thật những điều này biết hết. Biết hết rồi mà vẫn lặng lẽ ngồi nghe trong cái thái độ khiêm tốn, mà trong tâm không hề khởi lên cái niệm: "Thôi, điều này biết rồi." Vẫn nghe như hư vô, nghe như một biển sâu. Đó, đó là thái độ chân chính của một người tu học là vậy. Mà điều này sự thật thì tôi chưa có được. Không biết bây giờ tôi có được không? Mà cách đây khoảng 10 năm thì tôi tôi không có đạt được điều này.

[44:11]Thì tôi nói cái điều này là một cái dở của tôi, mà ngày hôm nay tôi nói điều này cũng là để sám hối. Hồi đó tôi cũng học ở trong chúng, thì cũng được mấy ông sư huynh ổng dạy. Mà khổ một điều là mấy điều mấy ổng dạy thì biết hết rồi. Mà nhiều khi mấy ổng nói ra nhiều khi thấy sao nó chưa vừa ý nữa. Cứ ngồi trong cái thời giảng thấy nó không được học điều gì, cái bỗng nhiên cái nó bứt rứt khó chịu giống như mình ngồi cái nó không yên, cứ nhích qua nhích lại. Rồi lấy viết cái ngồi viết lên vở. Thì mấy ông sư huynh ổng dòm xuống ổng thấy mình loay hoay chép, rồi ổng nghĩ mình siêng học, mà sự thật viết tầm bậy cho nó hết thì giờ không à.

[44:49]Viết cái điều này viết điều kia trên giấy vậy cho nó hết thì giờ mà trong tâm khó chịu lắm. Vì thấy mấy điều ổng nói sao mình biết hết trơn. Nhưng đó là cái dở đó. Nghĩa là cái đạo lực lúc đó mình không có mạnh để có thể là ngồi lặng lẽ nghe dù người ta nói một điều đã biết. Nghĩa là tâm mình chưa thật sự khiêm tốn. Đó là cái thứ nhất. Trong cái khiêm tốn có những điều này chúng ta để ý này. Ví dụ như một cái người họ kiêu mạn, khi họ đọc một cái câu nói hay nghe một quan điểm thì cố tìm cái chỗ sơ hở để phản bác, để chứng tỏ mình hơn. Cái người như vậy là người kiêu mạn. Chúng ta thấy rõ lắm. Chúng ta tiếp xúc đi.

[45:34]Ví dụ như khi mình nói chuyện bình thường, mình nói ra câu gì ổng cũng cãi. Thì ổng cãi cũng có cái đúng chứ không phải là không. Nhưng mà cứ cố cắn cãi, có thể câu nói ổng đúng nhưng thái độ là bệnh rồi đó, bệnh nặng, cái bệnh kiêu mạn. Cứ cố gắng tìm cái sai người khác để nói, để làm chi vậy? Chứng tỏ mình giỏi hơn. Đó là cái sai. Cho nên vì vậy, cái người kiêu mạn không bao giờ nhận ra cái tốt, cái đúng của người khác. Vì tự mình thấy mình hay, nó che tâm hết trơn rồi.

[46:08]Ở đây quý thầy đã từng gặp cái điệu người này chưa? Có chứ? Chắc có rồi chứ hả? Tôi cũng hay gặp. Có khi tôi vài gặp vài người như vậy. Nhưng mà thấy tội nghiệp. Thấy tội nghiệp làm sao? Tội nghiệp là đúng là thiệt, 10 năm sau gặp lại ổng cũng y nguyên à, không tiến được chút nào hết. Vì cứ ai nói gì cũng ráng cãi hết trơn, cũng ráng bác người ta. Có một lần tôi có một người người bạn, người bạn đạo, bạn tu, ổng có cái tánh hay lắm, hễ nói gì ổng cũng cãi. Ổng cãi lại. Thì tôi cố gắng giải thích. Giải thích lát cái ổng hết cãi rồi thôi ổng mới chịu. Mà cứ chừng hai ba chục lần như vậy thì từ đó thôi ổng mới không.

[46:49]Rồi ổng mới trớ ra, ổng nói: "À, tôi phải cãi, tôi phải phản biện đó thì để cho thầy mới mới mới mới nói ra cho hết chứ." Sự thật mình biết là ổng nói để ổng ổng binh cái thái độ cãi thôi, chớ cái thật sự không phải vậy. Ai nói cũng cãi, đó là cái dở. Rồi trường hợp tôi gặp vài thầy cũng bị cái điểm này. Tức là mình nghe cái vị Hòa thượng hay ghê á, mình thấy cũng nể, cái đem về hỏi ổng. Ổng chê cái làm mình cũng xìu xuống luôn. Mà chê như vậy nó khổ cái này. Khổ cái là không biết ổng sai hay đúng, cái làm mình cũng bớt phát tâm, bớt cái tâm kính trọng với vị Hòa thượng đó, thiệt là tai hại. Mà trong đời tu của tôi, tôi bị cái đó cũng nhiều lần rồi.

[47:34]Mà chính cái điều đó, ông kia ổng tổn phước đâu không biết, mình tổn phước trước. Mình nghe ổng chê ông Hòa thượng đấy, tự nhiên mình cũng bớt tin ổng. Mà sau này mới biết là ổng mắc cái bệnh chê, ai ổng cũng chê, rồi cuối cùng ổng lãnh quả báo thê thảm luôn. Cái người mà hay chê người khác, trời ơi cái ông đó sau này ổng lãnh quả báo thê thảm không thể tưởng được. Cái chữ thê thảm không thể tưởng, tôi không dám diễn tả hết tại vì nếu tôi kể cặn kẽ nhiều khi quý thầy biết là ai, có thể biết ai liền. Tại vì ổng gặp một cái tai nạn thê thảm. Mà tôi không không xin phép không kể. Vì kể chuyện ổng bị như thế nào thì quý thầy biết liền đó là ai liền.

[48:10]Nói ra mình giống như nói xấu người khác mất rồi. Nhưng mà thấy rõ ràng cái nhân quả là vậy. Cái nhân quả là lúc nào ai nói cái gì cũng tìm cách phản bác, ai nói gì tìm cách phản bác để chứng tỏ mình hay thì không còn nhận được cái điều tốt, điều đúng nữa. Cho nên, còn cái ngược lại cái người khiêm tốn là sao? Thích tìm cái hay người khác để học và để qua một bên cái điều mình chưa bằng lòng. Dĩ nhiên là không ai bằng Phật được, không ai toàn vẹn như Phật được. Họ hay điều này, họ dở điều khác. Thì khi mình trao đổi hoặc là mình nghe đạo lý của người đó, thì khi mình có nhận ra những điều dở, đừng chú ý, cố gắng tìm cái hay để học.

[48:52]Đó, thì như vậy mình tăng trưởng được cái khiêm tốn. Còn nếu mà mình bỏ cái tốt, mình tìm cái dở thì ngược lại liền. Ở đây vậy, như ở cái tuổi của tôi, cũng như ở cái sự tu học của tôi tuy còn kém cỏi, nhưng mà tôi buộc mình phải có cái độc lập để nhận định người này người kia. Thì có những vị những vị cũng nổi tiếng, tôi cũng không có bằng lòng lắm. Ví dụ, giáo lý của những vị đó nhiều khi tôi cũng không có bằng lòng. Tuy nhiên, tôi phải tìm ra những cái hay của những vị đó. Nên có người hỏi tôi về vị đó như thế nào thì tôi tôi khen không ngớt lời. Tôi khen đúng chứ tôi không khen nịnh. Mà tôi cố tìm cái điểm hay tôi khen.

[49:39]Và những điều đó là điều thực sự có. Còn những điều mà tôi không bằng lòng tôi không nói ra, tôi để qua một bên. Và tôi cố gắng mình không vấp theo thôi, không vướng theo thôi. Còn cái hay của vị đó mình phải ráng học.

[49:54]Với một điều nữa, người khiêm tốn có cái tính tự nhiên là hay kính trọng người khác. Đó là cái tính của người khiêm tốn. Mình nhìn cái người mà tốt hay không tốt là mình cứ cứ xem coi họ có kính trọng người khác hay không. Nếu mà họ gặp ai thấy họ cũng ân cần, trân trọng thì biết người này tốt liền, vì tâm khiêm hạ có, mà tâm khiêm hạ có thì vô lượng công đức lành mở ra. Còn nếu mà mình cứ hay bới móc khuyết điểm người khác thì mình chặn lại công đức. Đó là cái cái quan điểm gọi là học với tâm niệm khiêm tốn. Rồi quan điểm thứ ba trong việc học nữa là học mà cân nhắc, đối chiếu, so sánh chứ không có dễ tin.

[50:42]Hồi nãy thì chúng ta có vẻ giống như ngoan mà dễ tin, nhưng bây giờ thì bắt đầu chúng ta phải có cái cân nhắc, chọn lọc kỹ lưỡng trong việc học. Thường á thì người học nào cũng có sẵn một số kiến thức, cái khuynh hướng quan điểm từ trước. Ví dụ như ngày hôm nay đi, tôi nói quý thầy ngồi đây nghe tôi trao đổi, sự thực là trong tâm quý thầy mỗi người ai cũng có học mớ hết trơn rồi. Không mớ đâu, nhiều khi nhiều mớ nữa phải không? Học hết sách này qua sách kia rồi, học hết trường này tới trường kia rồi chứ không phải là là ít đâu. Nên thường là vậy, chúng ta luôn luôn có một số kiến thức và mình dựa vào cái kiến thức cũ để mình so sánh, mình đánh giá cái kiến thức mới.

[51:25]Chúng ta hay dựa vào cái cái khuynh hướng cũ để đánh giá cái cái cái cái kiến thức mới mình nhận được, cái đạo lý mình mới nhận được. Thì trong trường hợp này đó, nó có cái may rủi như thế này, có cái may rủi là thế này: là nếu mà cái kiến thức trước đó nó đúng thì mình dựa vào nó cái mình đánh giá mấy cái sau. Hễ cái nào đúng mình nhận tiếp, cái nào đúng mình nhận tiếp, còn nếu nó không đúng mình bỏ ra. Nhưng mà lỡ thế này: lỡ cái đạo lý cũ trước kia mình học nó là cái sai rồi mà mình cố chấp, mình dựa vào nó để mình đánh giá cái mới thì rõ ràng là toàn bộ cái điều đánh giá mình sai hết luôn, sai hết luôn.

[52:08]Đó. Nhiều khi cái mới nó đúng hơn cái cũ hoặc là nó dở hơn cái cũ.

[52:17]Nếu mà nó dở hơn cái cũ á, mình bỏ đi thì không gì, nhưng mà nhiều khi nó hay hơn cái cũ mình đã biết mà mình chủ quan mình bỏ luôn thì đúng là một cái cái thiệt thòi trong việc học hỏi của đạo lý. Nhưng bây giờ dựa vào đâu để mình biết rằng là cái mới với cái cũ cái nào đúng hơn? Dựa vào đâu để mình biết điều đó?

[52:41]Ai có thể đưa ra cái tiêu chuẩn là khi những ngày mình mới đến với đạo mình đã học được những đạo lý, đạo lý này là đúng, đúng hơn những cái học được sau, hay là những đạo lý nó dở hơn những cái học được sau? Dựa vào đâu để mình biết được điều này?

[52:59]Thật ra không bao giờ có điểm để dựa được hết mà chỉ tùy nhân duyên phước đức thôi. Đây là một cái tập mờ. Nếu mình nói theo toán học gọi là fuzzy logic, là cái logic mờ. Chỗ này là chỗ không thể xác định được mà chỉ gọi là chỉ tùy nhân duyên phước đức thôi. Nếu mà chúng ta có phước

[53:22]á, nếu chúng ta có phước á thì tự nhiên khi mình đón nhận một cái đạo lý mới rồi cái mình biết được: À, cái mới này phủ hơn, cái mới này hay hơn hay dở hơn cái mình đã biết cũ. Nếu nó hay hơn cái mình thay thế liền, bỏ những cái cũ để đón nhận cái mới liền. Đó là tâm cầu tiến mà không cố chấp. Còn nếu mà mình không đủ phước á, mình nghe cái mới mình không biết, có khi cái mới nó dở hơn cái mình nhận hết, hoặc là có khi cái mới hay hơn mà mình lại chấp cái cũ, không chịu nhận cái mới. Nên đây là chỗ mà nhận định cái đạo lý mình học được về sau là hay hơn hay dở hơn là một điều lệ thuộc vào nhân duyên phước đức.

[54:03]Mà nhân duyên phước đức là như thế nào? Nói tới nhân duyên phước đức, hoặc là nhân quả đời trước, hoặc là cái tâm thành của mình đối với Tam Bảo đời này. Nếu người nào thường xuyên lễ Phật, cầu nguyện mà cầu Tam Bảo gia hộ cho con luôn luôn nhận được Chánh pháp. Nhờ cái lời nguyện như vậy thì khiến khi mình gặp một giáo lý mới, cái bỗng nhiên trong tâm mình có cái sáng là mình biết cái đạo lý mới này hay hơn hay dở hơn đạo lý cũ. Đó là nhờ cái sức gia hộ của Tam Bảo, chứ còn tự mình không có điểm nào để dựa mà tìm ra hết, vì mình rất dễ bị cố chấp, hoặc là mình rơi vào cái dễ tin, ai nói gì mới cũng tin hết,

[54:42]hoặc là mình rơi vào cố chấp, cho cái cũ là đúng cái mới là sai. Hai thái độ đó đều là sai lầm. Nhưng nếu mình có công đức lễ Phật thì mỗi khi mình đụng một giáo lý mới, mình có cái sáng, tự nhiên mình nhận định được liền. Nên đây là chỗ mờ, một tập mờ mà phải do nhân duyên phước đức, do công đức lễ Phật thì mới có được. Đó. Và vì vậy đó, giữa cái gọi là mờ giữa cái mới và cái cũ thì trước hết chúng ta không được chủ quan tin những điều mình đã biết là hoàn toàn đúng, vì như vậy là mình cản đường những cái đúng hơn. Ở đây đó, có một số tông phái trong đạo Phật, khi mà dạy đạo, họ nói chắc như đinh đóng cột rằng giáo lý của họ là tột đỉnh.

[55:30]Rất nhiều tông phái mà tông phái nào cũng nói như vậy hết. Ví dụ như một người tu theo tông Tịnh độ thì nói rằng tu Thiền không thể bằng Tịnh độ. Lý luận đủ cách hết và người từ ban đầu mà nhận được giáo lý đó rồi là chấp cái đó luôn. Hoặc một người tu Thiền, tu Thiền thì cũng nhiều phái, ví dụ có cái phái mà như bên Thoại đầu đi, họ nói: "Chỉ một câu thoại đầu này là siêu Phật vượt Tổ, không giáo pháp nào bằng nữa." Ai nói cũng mạnh hết, mà nếu từ ban đầu mình nghe giáo pháp đó mình tin thì mình rớt cái chấp của họ vào đó luôn, mình rớt luôn cái chủ quan của ông thầy dạy vào lòng mình luôn. Thì khi mà mình đã ôm luôn cái chủ quan của ông thầy đó,

[56:09]từ đó mình mắc cái bệnh là khi mình gặp một giáo lý nào mình cũng sao? Không có chấp nhận nữa. Nhưng mà không ngờ không ngờ không bao giờ có một đạo lý nào hoàn toàn đúng tuyệt đối. Chúng ta nhớ điều đó. Cũng giống như là các pháp môn tu hành không bao giờ mà có một pháp môn đầy đủ hết mọi ưu điểm hết. Chúng ta phải khẳng định điều đó. Pháp môn nào cũng vậy, hay điểm này, dở chỗ khác và luôn luôn chúng ta cần một sự bổ sung và kết hợp. Chính vì chúng ta hiểu rằng không có pháp môn nào hoàn toàn, chính vì chúng ta hiểu rằng tất cả mọi sự tu hành đều cần bổ sung và phối hợp thì chúng ta có được cái tâm đoàn kết hòa

[56:47]hợp với mọi tông phái, mọi giáo lý trong Phật pháp. Thì nếu mà chúng ta có được cái quan điểm rộng rãi, cởi mở, chân chính như vậy thì chúng ta dễ đón nhận được những cái hay hơn. Đó. Nhưng cách đây cũng phải gần 15, 16 năm rồi, nó có một giai đoạn các tông phái trong đạo Phật hay tranh cãi với nhau, đấu tranh với nhau giành phần hơn, rồi những người của tông phái nào thì cứ chấp cái tông phái đó là nhất. Mà ôm cái chủ quan đó đến bây giờ không gỡ ra được thì mình sẽ không có đủ cái sự khiêm tốn để nhận cái mới. Cái đó là mình chủ quan tin cái cũ. Rồi trường hợp một cái bệnh khác là nếu mình thiếu tự tin,

[57:31]nghe ai nói lưu loát, hùng hồn mình cũng tin thì coi chừng mình nhận luôn tà kiến. Vì ông giảng sư nào ổng cũng nói lưu loát hết. Bất cứ ông giảng sư nào mà để được người ta mời giảng thì có thể nói luôn mấy tiếng đồng hồ không nghỉ. Ít có ông giảng sư nào mà giảng nửa chừng bí, như tôi tôi bị rồi đó. Chứ trường hợp đa số các vị giảng sư là họ nói thao thao bất tuyệt, rồi mình thấy họ nói hay quá, lưu loát quá, cứ tưởng họ nói đúng, coi chừng đúng không chắc đâu. Nói lưu loát ào ào vậy chứ nghe kỹ lại, phân tích ra trật tùm lum trỏng á. Nên do đó chỗ này chúng ta cũng phải có cái gì á, nó là cũng tùy cái phước thôi.

[58:11]Chứ mình chê ổng coi chừng mắc cái tội, mà mình tin ổng coi chừng ôm cái sai của ổng. Nên ở đây là không biết nên gạt cái nào ha, đón nhận cái nào thì nó cũng thuộc là cái tập mờ, cũng thuộc là cái nhân duyên phước đức. Nhờ Phật gia hộ để mình có thể có cái sáng trong tâm mà biết được cái sai cái đúng của ông thầy đó, chứ không phải là dễ. Bây giờ thì chúng ta cũng không có điểm nào dựa để mà bây giờ mình đón nhận hết những cái mới hay là chối bỏ hết những cái mới. Là mình nên chủ quan tin vào điều cũ, hay là mình dễ dãi thiếu tự tin để đón nhận tất cả mọi điều mới? Hai cái này cũng khó nhận định được.

[58:51]Do đó, trong cái bấp bênh của hướng đi đó, chúng ta luôn luôn phải dựa vào sự gia hộ của Tam Bảo là vậy. Tuy nhiên, trong toàn bộ những cái giáo lý mênh mông của Phật pháp, thì chúng ta vẫn có một cái rất là căn bản phải dựa, đó là luật nhân quả nghiệp báo. Nghĩa là dù chúng ta có theo tông phái này, theo tông phái kia, thì phải có một cái giáo lý cực kỳ căn bản, không để mất, đó là nhân quả nghiệp báo. Pháp môn gì pháp môn, mà đào không sâu, hiểu không kỹ hay hiểu sai về nhân quả, thì tất cả thành tà kiến hết. Chúng ta nhớ điều đó. Cho nên người tu Phật căn bản trước hết vẫn là phải hiểu nhân quả cho thật kỹ, thật sâu.

[59:35]Rồi ông thầy đó ông giảng về pháp môn, giảng về giáo lý, thì mình phải thấy ông thầy đó phải luôn luôn đi ăn khớp ăn khớp với luật nhân quả nghiệp báo thì mình chấp nhận được. Còn nếu có một lúc nào đó mà ông nói một cái câu gì đó mà rời nhân quả nghiệp báo, thì mình phải biết sai liền. Như có một lần, tôi nghe một một vị trước đây là giảng sư. Rồi cái sau này vị đó gặp cái nạn, nên thời gian cũng ngừng không đi giảng nữa. Rồi vị đó gặp ai, vị đó cũng khuyên là: "Thôi đừng có làm giảng sư nữa, vì làm giảng sư thì sẽ gặp nạn, như là bản thân vị đó đã bị". Khi tôi nghe cái câu chuyện đó lại thì tôi cũng hơi buồn.

[1:00:18]Vì tôi thấy rằng vị đó sau bao nhiêu năm gặp nạn vẫn chưa chưa có chánh kiến, cũng chưa có cái đạo lý kỹ, nhất là cái hiểu về nhân quả chưa sâu. Đâu phải ai làm giảng sư cũng bị? Giảng sư mà có cái nhân gì đó nó mới bị nạn. Còn giảng sư không có nhân gì xấu thì đâu có bị nạn. Biết bao nhiêu vị giảng sư họ thành công cho tới chết? Phải không? Bao nhiêu vị đại sư ngày xưa thành công cho tới ngày nhập tịch luôn, đâu có bị chuyện gì. Cho nên cái vị đó mà nói rằng học giảng sư, làm giảng sư sẽ bị nạn, là nói không dựa vào nhân quả. Đây là điều chúng ta giữa cái bấp bênh của giáo lý, cái cũ, cái mới không biết cái nào đúng,

[1:00:57]cái nào sai, thì chúng ta có một điểm để dựa, đó là nhân quả nghiệp báo, hiểu thật kỹ, thật sâu. Bây giờ chúng ta nói qua cái phần là đối tượng, cái nguồn để chúng ta học, thì học với giáo thọ sư, học với thầy đó. Giáo thọ sư là chỉ chung cho những người trực tiếp hướng dẫn, trao đổi với mình, ví dụ như là bổn sư. Bổn sư là người mà thế phát mình, cạo tóc rồi giữ ở chùa dạy dỗ mình, đó cũng gọi là giáo thọ sư. Đó. Hoặc là giảng sư họ đi tới lui làm chùa mời tới giảng rồi xong rồi đi, giảng sư vậy cũng gọi là giáo thọ sư. Hoặc là vị giáo thọ chuyên trách về dạy giáo lý tại chùa thì cũng gọi là giáo thọ sư.

[1:01:37]Đó, chữ giáo thọ sư là nói chung, nói chung cho những vị mà mình trực tiếp học hỏi với vị đó, vậy đó. Thì ở đây, trong những cái những loại giáo thọ sư như vậy, phân loại như vậy, thì bổn sư hơi đặc biệt, vì sao? Bổn sư giống như cha như mẹ, vừa nuôi nấng, vừa dạy dỗ.

[1:01:57]Vì các vị giáo thọ họ dạy mình chứ không có nuôi, nên mình chỉ nợ tinh thần mà không có mắc nợ về tình thương yêu, không có mắc nợ về đời sống vật chất, về cơm áo. Còn bổn sư mà ổng dạy mình á thì mình vừa mắc nợ đạo lý nè, mình vừa mắc nợ tình thương yêu nè, mình vừa mắc nợ cả cái cơm áo gạo tiền, nên đối với bổn sư thì đúng là như cha như mẹ thật. Mà nếu mình may mắn gặp được vị bổn sư mà có khả năng giảng thuyết thì mình học được rất nhiều. Vì sao? Vì tình thầy trò đậm, nên ông thầy mà ổng làm giảng sư nữa thì thôi học tha hồ. Tuy nhiên, có những vị bổn sư thì dạy ít, các vị đó nhiều ít chịu dạy đệ tử mà thích dạy trên cái ngôn hạnh.

[1:02:44]Có nhiều vị không có dạy đệ tử, chỉ dạy bằng tấm gương trong đời sống, nhắc nhở vài điều, rồi gửi đệ tử mình đến nơi trường lớp nào đó để được học nhiều hơn. Đó là có trường hợp như vậy. Thì cái người học chúng ta đối với trường hợp này phải tránh tình trạng này, tránh tình trạng là ở gần lâu rồi sinh lờn. Nhiều khi có người đệ tử ở gần thầy lâu ngày quá cái cái sinh lờn, vì ỷ ổng thương mình á cái coi thường, không biết ở đây mấy chú có không? Tôi nhớ có một lần tôi đến thăm cái chùa, chùa của quý cô, thì khi tôi đang ngồi nói chuyện với ni sư trụ trì, chợt một cái cô đó cô đi học về, cô là đệ tử, cô bước vào cửa, thì bình thường người ta

[1:03:33]phải chắp tay cúi chào người là thầy của mình, vị bổn sư của mình. Cổ quăng cái đãy rộ bay lên lòng của ni sư cô ngồi luôn, cô ôm luôn, cười thấy mồ. Tôi trợn mắt tôi dòm. Tôi trợn mắt tôi dòm, mà trước đây đó, trước đó thì thật ra tôi không ngạc nhiên vì tôi hơi ngạc nhiên vì cảnh mình thấy thôi, vì trước đây đó thì lúc tôi dạy ở cái trường thì cô đó có học với tôi, cũng học trò mà, thì hôm mà tôi cho làm bài thi, thì lần đó làm bài thi mới đi xuống dưới bàn, canh thi mới đi qua đi lại coi họ làm, tôi đi đến cái bàn của cô đó thì tôi mới nói: "Bớt nhõng nhẽo lại nha!". Bớt nhõng nhẽo. Cái mấy người xung quanh cười cười, không biết đúng sai.

[1:04:13]Hôm đó sao vô tình tới đúng cái chùa của cô đó luôn, tôi không không ngờ là chùa của cô đó. Thấy cổ bay luôn vô lòng bổn sư cổ ngồi luôn, chào bằng cách đó đó. Mà thấy bổn sư cũng thương quá đi, cưng quá đi, không la không rầy gì nữa, quen tật. Nhưng mà tôi nghĩ chắc cũng không coi lờn, thương quá, cái tánh người. Tuy nhiên thế này, cái người đệ tử học với bổn sư mình thế này, tránh ở lâu sinh lờn mà phải có lòng hiếu, dù là học được ít hay nhiều mình cũng phải quý trọng cái lời dạy của thầy mình. Đó, cái người mà đệ tử học đạo đối với bổn sư là phải như vậy, phải có cái lòng hiếu suốt đời. Dù sau này mình sẽ đi chùa khác để học, đến trường khác để học,

[1:04:55]thì những lời dạy nho nhỏ ban đầu của thầy mình là phải ghi khắc trong tâm, và cái lòng thương yêu, cái sự nuôi dưỡng của thầy mình như cha như mẹ thì phải có cái lòng hiếu để đáp lại, nhớ cái điều đó. Còn đối với giảng sư hoặc giáo thọ sư, thì việc giảng dạy của những vị đó có cái tính chuyên môn, chuyên môn. Hôm nay tôi nói điều này thì quý Phật tử cũng như quý thầy để ý là hầu hết những lời dạy của các vị đó vượt quá sự thực hành của họ. Nhớ điều đó. Những cái vị mà chuyên dạy đó, chuyên đi làm giảng sư, chuyên làm giáo thọ, thì những vị đó hầu hết những lời dạy của họ vượt quá sự thực hành của họ.

[1:05:39]Tuy nhiên, chúng ta không được phê phán. Chúng ta quý trọng cái điều gì? Chúng ta quý trọng gì? Là họ giới thiệu cho chúng ta cái giáo lý, họ giới thiệu chúng ta hướng đi, họ giới thiệu cho chúng ta cái sự vĩ đại của Phật pháp. Chính vì Phật pháp quá vĩ đại nên cho nên họ chưa thể trong một đời họ thực hiện được theo cái điều họ hiểu, đúng như điều họ nói. Nhưng mà chính cái nhờ cái sự giới thiệu của họ làm cho chúng ta biết được cái sự vĩ đại của Phật pháp, mà mình mới phát tâm tu tập, mình mới cảm động, mới cảm xúc trước cái mênh mông của Phật pháp, mà quyết tâm dành trọn cuộc đời của mình để tu theo Phật pháp, nên cũng có cái ơn của mình.

[1:06:22]Cái ơn đối với chúng ta rất là lớn, nên chúng ta phải biết ơn họ, đừng đòi hỏi cái sở chứng của họ phải tương đương với lời nói. Đây là chúng ta phải hiểu điều này, chứ đừng có bày đặt phê bình, nói: "Trời, sao ổng giảng vậy rồi cái sao không thấy ổng có tu gì đâu, giảng vậy cũng không phải". Vì các vị đó họ chuyên, họ chuyên là giới thiệu Phật pháp thôi. Nó khác. Cho nên ở đây là nếu may là họ giới thiệu đúng, thì chúng ta có được chánh kiến đúng, đó là chúng ta biết ơn họ, chứ đừng có đòi hỏi là ổng nói sao phải chứng vậy. Ổng mà nói sao ổng chứng vậy thì đầy Phật hết rồi, ông thầy nào cũng là Phật hết.

[1:06:59]Tại vì nói những điều của Phật nói, nói những điều của Phật chứng, chứ đâu phải dễ thực hiện được cái sở chứng của Phật. Chúng ta phải nhớ điều đó. Nhưng cũng có một số trường hợp, thì có những vị giảng sư họ tinh tấn tu tập, thì cái tâm chứng của họ với lời nói của họ gần bằng nhau. Thì lời nói của họ có tính thuyết phục mạnh, thì đây là những viên ngọc giữa cuộc đời. Lâu lâu chúng ta gặp được một vài vị như vậy, đây là cái vốn quý. Thì ở đây, là cái thái độ của chúng ta đối với những vị giảng sư như vậy, chúng ta phân biệt ra hai loại, là có những vị giảng sư mà lời nói và tâm chứng khá xa, thì chúng ta vẫn phải biết ơn để học hỏi,

[1:07:41]vì họ cho chúng ta biết cái sự vĩ đại Phật pháp. Còn cái trường hợp một vị mà lời nói và tâm chứng gần với nhau, thì đây là cái viên ngọc giữa cuộc đời mà chúng ta phải hết sức là quý trọng. Nói điều này còn có nghĩa nhắc nhở tất cả chúng ta thế này, tất cả các tăng sĩ chúng ta phải cố gắng tu tập và cố gắng trở thành một vị giáo thọ sư cho mọi người, để sau này khi mà mình đi làm giảng sư thì lời nói và tâm chứng của mình gần bằng nhau, thì rất là có lợi cho người học, rất có lợi. Mình cố gắng như vậy không phải là vì để mình được cái vinh quang gì, mà để có lợi cho người học. Cái người mà họ có tu, họ giảng có cái sức mạnh,

[1:08:32]có cái sức thuyết phục, mình ngồi mình nghe họ rồi mình muốn tu liền, muốn thực hành liền. Còn cái người mà không có tu, mình nghe giảng thì mình có thể cảm động vì Phật pháp mênh mông, vĩ đại, nhưng mà trong tâm mình không có cái sự thúc đẩy phải thực hành. Còn cái người có tu, họ nói là mình thực hành. Nên do đó là tất cả chúng ta dù là tăng sĩ hay là cư sĩ, phải cố gắng tu tập để làm căn bản, để một ngày nào đó mà chúng ta cất lên tiếng rống của con sư tử để tuyên dương Phật pháp, thì ở trong đó nó chứa đựng cái sức mạnh kỳ diệu thúc đẩy, lôi cuốn mọi người phải thực hành, phải từng giờ từng phút kiểm soát tâm của mình, sửa đổi những lỗi lầm của mình.

[1:09:20]Thì đối với những vị giáo thọ sư như vậy, chúng ta luôn luôn nghe Pháp với cái tâm tôn trọng và biết ơn, đừng có vừa lắng nghe mà vừa rình tìm chỗ sơ hở để chứng tỏ mình hơn. Dù là không nói thành lời. Ví dụ có những người ngồi nghe Pháp, ngồi nghe tuy không có thì giờ để cãi mà cứ lắng nghe coi ổng, "Chỗ này ổng nói sai nè", nói trong bụng nè, "Ông này ổng trật chỗ này nè, ổng nói sai". Thì cái tâm đó là làm cho mình cái tâm kiêu mạn tăng lên từ từ. Đó đây là chỗ chúng ta cẩn thận trong cái việc học. Có thể là chúng ta có những điều không đồng quan điểm, ví dụ khi mình đang nghe một bài pháp thoại chợt mình nghe cái

[1:09:57]điểm gì đó mình không đồng quan điểm thì cũng nên bình thản bỏ qua. Chớ không nên có thái độ mạnh làm mất hòa khí và mất oai nghi của buổi giảng. Có những vị nhiều khi họ hơi nhiệt tình quá, nghe ông thầy giảng chỗ nào không vừa ý đứng lên nói mạnh, phản bác, viện, bắt hỏi trả lời, thắc mắc đủ thứ thì cái đó nhìn vô nó không có hay trong Phật pháp. Không phải là mình nói trong Phật pháp phải bắt buộc áp chế con người, không phải. Mà ở đây cái chỗ, cái chỗ là dù lời nói mình có hay đi, dù mình lý lẽ mình có hay cãi lại ông giảng sư nhưng mà người ta nhìn chung vào không khí buổi giảng là người ta thấy là một sự gây cãi, người ta không biết ai đúng sai, người ta nói:

[1:10:35]"Ủa, trong đó học cái gì giảng pháp cãi lộn um sùm vậy?". Người ta đánh giá chung. Do đó ở đây mình giữ cái hòa khí, oai nghi thì thoáng có lắng nghe điều gì không đồng quan điểm, cứ bình thản mà lắng nghe. Học với tâm khiêm tốn, còn muốn trao đổi gặp riêng, trao đổi. Gặp cái lúc nào thích hợp thì mình đến trao đổi. Khi mà trường hợp ví dụ như mình phải hỏi cái điều mà mình chưa đồng quan điểm hay mình thắc mắc mà hỏi công khai giữa cái buổi giảng, buổi dạy thì mình cũng phải dùng cái từ nó nhẹ nhàng, khéo léo để mà không đánh mất cái sự khiêm tốn của mình. Chớ mình đứng lên nói mạnh quá coi chừng.

[1:11:15]Một điều nữa là chúng ta học với sách vở, thì chúng ta nhớ một vài cái điều này là không nên nằm dài, nằm bẹp để đọc kinh sách vì có thể chúng ta bị cái tội là không trọng Pháp, trừ trường hợp mình bị bệnh. Là không nên lấy kinh hay giáo lý nằm dài trên giường mà đọc. Nếu mà mình nằm lâu có thể sợ mệt thì mình nằm cái ghế mà ghế bố đó nó nó ngả nghiêng nghiêng thôi, nằm cho thoải mái, chớ đừng nằm nằm dài hẳn trên giường. Là như vậy, không trọng Pháp á cũng thành cái tội từ từ từ từ, ngấm ngầm lâu ngày cái tự nhiên mình mất trí tuệ hết rồi mình không biết tại sao. Không ngờ là tại lý do là xem kinh xem sách mà nằm dài trên giường.

[1:11:55]Nó có cái quả báo trích trích đừng có ham. Đọc sách thì có cái lợi thế này, là có cái đoạn nào khó mình đọc tới đọc lui được. Còn mình nghe người ta giảng, ổng giảng qua rồi không hiểu hay nó mất. Nhưng đọc sách thì có lợi, đọc tới đọc lui mình có thể nghiền ngẫm kỹ lưỡng, hiểu thấu đáo hơn. Vậy cái điều nữa là sách được viết với sự chuẩn bị khá công phu nên đó là cái thuận lợi. Như tôi thấy ví dụ bản thân tôi cũng vậy, tôi viết cái cuốn sách về nhân quả, cái cuốn sách đó nếu mà giảng á về nhân quả tôi giảng chừng ba buổi hết. Có ba bốn năm về nhân quả giảng hết. Nhưng để viết cuốn sách đó tôi phải mất đúng một năm.

[1:12:37]Có những ngày vào ngồi vào bàn viết chỉ viết được hai câu mà phải bỏ đi. Cân nhắc kỹ lưỡng như vậy. Có những ngày viết được một, hai trang, viết chầm chậm, chầm chậm, cân nhắc từng chút, từng chút tại vì khi viết phải quan sát. Ví dụ khi mình nói cái nhân đó sẽ sinh ra cái quả đó là phải ngồi lắng tâm để quan sát. Quan sát điều mình nói như vậy có đúng hay không, có trường hợp ngoại lệ nào hay không, có cái gì bất ngờ hay không. Nên viết cuốn sách về đạo đức cực là vậy đó. Phải quan sát tâm tình con người, quan sát sự kiện thế gian rồi chứ không có dám viết bừa, viết rất là chậm. Thì nhờ như vậy một cuốn sách viết ra có công phu mình đọc mình mình cũng lợi hơn.

[1:13:19]Kinh điển cổ thì không có dễ thâm nhập vì văn xưa từ cổ, đối tượng nghe thì căn cơ cao. Vì chúng ta mà giở những bài kinh nhất là kinh Nikaya á Phật dạy mà bây giờ Hòa thượng Minh Châu đã dịch ra hết á, chúng ta đọc mình thấy cũng khó hiểu lắm. Vì Phật nói quá cô đọng mà từ quá xưa, khó thể hiểu được. Nhiều khi mình thắc mắc là ngày xưa các vị Tỳ kheo thời đó trí tuệ rất là cao, Phật nói vài chữ hiểu liền, chứng được liền. Bây giờ bằng chừng ấy chữ mình không hiểu được, phải có người giảng ra. Nên cái cái kinh điển cổ thì cần phải có người giảng. Mà cái người giảng kinh điển cổ đó là người phải vừa có học, vừa có tu.

[1:14:06]Chúng ta đừng tưởng là chỉ có tu là giảng được kinh điển cổ. Vì sao? Phải có học vì có những cái từ nó chuyên môn mà mình không học cái mình mình hiểu theo cái ý của mình. Hiểu theo ý của mình cái mình diễn dịch trật. Tôi không muốn nói, nhưng có một vị gần đây trong cái thời cận đại, cận đại là cách đây khoảng 40 - 50 năm á, vị này cũng lập ra cả một cái tông mới cũng khá nổi tiếng. Nhưng mà thời đó có lẽ không có điều kiện để học mặc dầu vị này rất là có trí tuệ. Thì vị này mới diễn giải lại Phật pháp, nhưng mà diễn giải theo cái hiểu của mình bây giờ đối chiếu lại nó sai so với từ chuyên môn trong kinh điển.

[1:14:49]Nhưng tôi không có muốn nêu đích danh. Ở đây thì tôi tôi hiểu điều đó và tôi thông cảm vì, tôi thông cảm là bởi vì 50 - 60 năm trước, 60 - 70 năm trước, không nếu mà so sánh sau giải phóng giờ được mấy chục năm thiệt á, cũng phải 70 - 80 năm trước. 70 - 80 năm trước thì vị này không có điều kiện để học nhiều như chúng ta, không có tài liệu. Do đó vị đó đã định nghĩa nhiều cái từ của đạo Phật trật. Mặc dù là biết vị đó có tu, có tu, nhưng mà cái sở học chưa đủ. Đây là chỗ chúng ta phải cẩn thận. Khi có điều kiện chúng ta cũng cố gắng dù sau này mình lớn tuổi, à mình cũng uyên bác rồi, vẫn cố gắng khi nào rảnh vẫn đọc thêm

[1:15:28]cái gì đó, chứ đừng bao giờ dừng cái sự học lại. Dù chứng đạo rồi cũng vậy. Vì có những cái chuyên môn của từ ngữ hay của kỹ thuật của những những cái thuật ngữ chuyên môn của cuộc đời, mình vẫn phải được biết, được học chứ không phải là tự mình biết được dù mình có chứng đạo. Nhớ như vậy. Bây giờ thì sách vở rất là nhiều nhưng chúng ta nhớ một điều là không phải ai viết cũng chuẩn, cũng đúng. Phải biết lựa sách để đọc, chứ còn không đọc tràn lan, đọc tràn lan nó không không có đúng đâu.

[1:16:06]Về vấn đề viết sách á, thì ngoài những cái sách mà có giấy phép hiện nay thì có nhiều sách được in ngoài luồng, nghĩa là không có giấy phép mà ở các chùa cũng bán. Nhiều sách có giá trị lắm, đọc rất là hay, nhưng cũng có nhiều sách không có giá trị và nhiều khi tai hại. Nên ở đây chúng ta cảnh giác điều này. Nhưng mà cũng như hồi nãy chúng ta nói biết cuốn nào là hay, cuốn nào dở, cuốn nào sai, cuốn nào đúng, đây cũng là một chỗ. Mà có khi có những vị nổi tiếng viết cũng trật lất luôn. Nào giờ ổng rất là nổi tiếng, uyên bác vậy mà ổng cũng viết trật luôn. Vậy làm sao mình biết lựa ai, tin ai? Mà thấy đừng có tưởng à ông đó nào giờ nổi tiếng là sách ổng là đáng tin, không chắc.

[1:16:45]Có khi vẫn viết sai như thường. Nên đây là cái chỗ chúng ta nói đi nói lại rồi chúng ta vẫn nhớ một điều: Làm sao để tìm được sách đúng mà đọc?

[1:16:57]Đúng đó, đúng là cuối cùng cũng chỉ cầu Phật gia hộ. Chứ còn cái sai cái đúng của người đời mình dựa vào mình cũng không được, vì mình không đủ sức để nhận định. Lúc nào cũng khiêm tốn, thành tâm cầu nguyện Phật gia hộ cho mình lựa được đúng chánh pháp. Tự nhiên mình lơn tơn vô tiệm sách mình bóc bóc một lát được ngay cuốn hay là thầm thầm có Phật gia hộ. Còn nếu mình chủ quan theo ý mình, lựa đi trúng nhầm cuốn sách người ta viết không có chuẩn, đó là điều bất lợi. Điều cuối cùng trong cái ý nghĩa về văn, tức là học, thì chúng ta học với tất cả mọi người. Trong khi chúng ta giao tiếp, trò chuyện với mọi người,

[1:17:34]chúng ta phải biết nhìn thấy lời hay, ý đẹp, cái tính tốt của người để học hỏi. Ví dụ mình chợt nhận cái điều dở của người đó thì sao? Mình làm cái gì? Cầu cho người hết lỗi. Phải không?

[1:17:52]Thấy cái điều tốt của người thì học, thấy điều dở của người thì thầm mong cho người vượt qua điều đó. Vì có cái hay thế này, ví dụ mình thấy cái người đó họ ích kỷ, đừng có chê mà cầu nguyện. Cầu nguyện cho ông Chân Quang ổng đừng ích kỷ nữa, tội nghiệp ổng. Thì khi mình cầu nguyện như vậy đó thì mình được cái phước gì? Chính mình tránh được điều đó luôn. Mình mong cho ai thoát điều gì, chính mình sẽ thoát cái lỗi đó. Còn bình thường trong cuộc sống cố gắng nhìn cái hay của người khác để học. Có rất nhiều cái hay xung quanh chúng ta. Dĩ nhiên không ai là tốt hoàn toàn vì nếu chúng ta tốt hoàn toàn thành thánh hết trơn sao.

[1:18:26]Nên những người chung quanh mình ai cũng có điều hay, cũng có điều dở và chúng ta tìm những cái hay đó để để học. Cuối cùng một điều trong ý nghĩa mà văn, tư, tu đó là

[1:18:39]tất cả pháp đều là Phật pháp.

[1:18:45]Nếu chúng ta biết học thì tất cả pháp đều là Phật pháp. Từ cái chiếc lá rơi cũng là Phật pháp, từ cái tiếng chim kêu cũng là Phật pháp, tiếng xe bóp còi ngoài kia cũng là Phật pháp. Cái điều này không dễ hiểu. Điều này không dễ hiểu. Mà ý nghĩa của cái cái cái câu mà "Tất cả pháp đều là Phật pháp" hơi cao. Ngày xưa có một đoạn tụng mà tôi không nhớ cái xuất xứ lắm thế này, một vị đã bạch với Phật thế này: "Nhất thiết pháp vô phi Phật pháp, nhi ngã bất liễu tùy vô minh lưu, thị cố ư giải thoát trung khởi sanh triền phược, ư bồ đề trung xuất khởi vô minh". Tôi nhớ mang máng vậy, không chính xác lắm.

[1:19:31]Nghĩa là ngài bạch Phật thế này: Kính bạch Thế Tôn, tất cả pháp đều là Phật pháp, vậy mà con không biết nên trôi theo dòng vô minh. Ở trong giải thoát mà lại tạo thành ràng buộc, ở trong trí tuệ mà đã xuất hiện ngu si. Là vì không ngộ được cái điều tất cả pháp đều là Phật pháp. Ở đây chúng ta học Phật pháp, nãy giờ chúng ta nói qua nhiều điều để học nhưng có một điều cuối cùng: Tất cả pháp đều là Phật pháp. Thì câu này tôi xin phép không giải thích, không giải thích. Để cho mọi người chúng ta nghiền ngẫm ngẫm cho vui, vì nhiều khi tôi giải thích cũng trật lất luôn. Như nãy tôi nói á, cái người giảng chưa chắc đúng, phải không?

[1:20:14]Tôi ngồi tôi nói nãy giờ cũng chưa chắc đúng nên quý thầy cũng như quý Phật tử phải thầm niệm Phật gia hộ để coi coi cái ông này ổng nói đúng hay sai. Và câu cuối cùng là để dành lại thành món quà tặng cho mọi người, về chúng ta nghiên cứu cho vui: Tất cả pháp đều là Phật pháp. Thì thôi hôm nay có duyên đến thăm quý thầy, cũng cầu chúc cho quý thầy được một mùa hạ tinh tấn. Là sau mùa hạ được nhiều cái sự tăng tiến tâm linh và sở học để có thể làm lợi ích cho Phật tử chung quanh, làm cho cái thiền Xuân Lập mới này là được rạng danh của Phật pháp. Cũng mong rằng từ đây hết hạ gặp được quý thầy lần nữa. Chúc quý thầy được an vui.

[1:21:00]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.