[0:00]Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:17]Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:32]Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:47]Thỉnh quý thầy ngồi xuống. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Hôm nay chúng ta học tiếp cái loạt bài về quản lý tự viện. Hôm nay là cái chức năng của ngôi chùa. Hôm trước thì ta nói cái vai trò, cái giá trị của một ngôi chùa trong cái cộng đồng, trong xã hội, trong cái đất nước. Đó. Bây giờ chúng ta nói cái chức năng của ngôi chùa là sự tu tập, là nơi để tu tập, nha. Cái đề tài hôm nay là như vậy: Tự viện là cơ sở tu tập. Nên ta hay nói là tu viện cũng vậy đó. Nói đi tu là bởi vì vô chùa, vậy đó. Nói: "Đi đâu rồi?" - "Đi tu rồi", tức là vô chùa ở. Như vậy chùa là cái nơi để tu hành, nơi để tu tập, như vậy.
[1:38]Thì trong cái cái ý nghĩa mà tu tập như vậy,
[1:45]thì chùa ẩn chứa nhiều cái điều kiện. Ta dùng cái chữ "ẩn chứa" có nghĩa là ở bên ngoài không biết được. Nổi cái đơn giản đầu tiên như là cái giới thôi, như giới Tỳ-kheo thì cũng theo nguyên tắc cũng không cho cái người mà chưa thọ giới biết giới là cái gì. Thì có nhiều người thắc mắc, có những một số vị có nơi nói là: "Phải cho tôi biết cái giới trước rồi tôi mới phát tâm để tôi thọ". Nhưng mà các vị tổ thì lại, các vị luật sư thì nói: "Không, thọ đi rồi học". Cái đây là một điều gây tranh cãi. Rồi có một số mấy thầy trẻ trẻ sau này lại đi theo cái hướng là là gọi là dân chủ á, nói cho tôi biết trước rồi tôi mới thọ, không thì thôi.
[2:38]Nó không thọ thì thôi à. Nhưng mà các vị tổ cứ nói thọ rồi mới được học. Lúc đầu thì ai cũng thắc mắc điều này. Ai cũng thắc mắc điều này. Sau này khi mà thọ giới sâu xa, chúng ta tu hành nhiều năm chúng ta mới phát hiện là đúng là tổ mới nói đúng, còn mình loi choi, mình nông nổi, mình bồng bột, mình cứ đòi biết trước, rồi đó lại là một cái dở. Cái dở là vì sao? Cái dở là mình biết rồi, không chịu thọ. Cái biết được giới rồi mà không chịu thọ, vậy biết để làm gì? Để đi rình người khác, đi canh người khác có phạm hay không rồi mình phê bình, cái đó mới chết. Cho nên tổ cực kỳ sâu sắc điều này.
[3:20]Cho nên học qua rồi, mình trải qua cuộc đời tu hành mới thấy là chư tổ quá sáng suốt, nhưng mình không bằng được. Nên vì vậy là khi một vị thầy mà thấy đệ tử mình đủ đạo hạnh cho đi thọ Tỳ-kheo, tức là biết rằng đứa này nó đảm đương được cái giới Tỳ-kheo. Mà giới Tỳ-kheo phức tạp và nghiêm túc mà nó đảm đương được, tức là cái sự tu hành, cái quyết tâm, cái phát tâm, cái lý tưởng tu, đạo hạnh, đạo đức nào giờ đủ rồi để bắt đầu bước vào cái giới luật. Mà giới là gì? Giới thật sự ra thì nó bắt đầu từ đạo đức mà thôi. Ví dụ như từ Sa-di, những cái điều luật của Sa-di biến thành cái giới của Tỳ-kheo chứ chả có gì lạ cả.
[4:07]Nhưng chỉ có Tỳ-kheo thì bắt đầu lại phát sinh ra nhiều điều luật lớn hơn. Còn những cái giới của Tỳ-kheo chính là điều luật của Sa-di. Nhưng khi ta học giới Tỳ-kheo rồi thì lại phát sinh cả mấy chục ngàn cái điều luật nhỏ nhỏ lặt vặt lặt vặt nhỏ nhỏ mới, thì những điều đó để xử lý chút chút chút chút các công việc mà Sa-di chưa được học. Nên cái giới Tỳ-kheo nó lớn hơn là vậy, chứ còn nói nguyên tắc mà giới, sự thực giới Tỳ-kheo chỉ là luật Sa-di. Nhưng mà tại sao nâng lên cái thành giới? Là bởi vì thế này. Ví dụ một người Sa-di mà phạm điều đó thì chỉ gọi là phạm luật, rầy, quở, trách, phạt chút đỉnh.
[4:50]Nhưng mà Tỳ-kheo phạm đúng cái điều đó thì trở thành nghiêm trọng, gọi là phạm giới. Ờ nó nó khác nhau, nó nâng cái bậc mức độ nghiêm trọng lên. Nên từ cái đạo đức mà biến thành giới là ở chỗ nào? Ở chỗ là đạo đức nó uyển chuyển, mềm, nó có tính thuyết phục, dạy răn. Còn giới là gì? Giới là cứng rắn, nghiêm khắc, nguyên tắc. Nó khác nhau ở chỗ đó thôi. À ví dụ bây giờ, có một cái người mà đứng nói chuyện riêng với một người nữ ở nơi cái chỗ kín mà chưa thọ giới thì ta chưa gọi họ phạm giới, chỉ kêu lại rầy. Thầy nói: "Con à, con đi tu rồi cạo đầu rồi, không được đứng nói chuyện với người nữ ở chỗ khuất đó nghe không con?". Nó:
[5:37]"Dạ dạ", rồi thôi, chỉ rầy, quở vậy thôi. Nhưng mà ông Tỳ-kheo mà ổng đứng nói chuyện với người nữ ở chỗ khuất là rơi vào giới liền, rơi vào giới Ba-dật-đề liền. Tức là đem ra vấn đề là cảnh cáo phạt rất nặng liền, nó có tính nguyên tắc và cứng rắn liền. Nên khi gọi là một người mà thọ Tỳ-kheo, thọ giới, thì trong cái tâm của họ phải dứt khoát với điều đúng điều sai chứ không còn có cái mờ mờ nữa. Mà để có thành cái bản lĩnh dứt khoát giữa điều đúng điều sai đó thì phải là Tỳ-kheo, phải là cái người mà có đạo lực rất mạnh mới có thể gọi là đảm đương được cái giới này, tức là cái tính dứt khoát nó cao hơn, nó vậy thôi.
[6:18]Còn ở cái mức độ mà còn là luật thì những điều đó còn du di, còn rầy, còn quở, còn khuyên rồi được, nhẹ nhẹ được. Nhưng mà tới Tỳ-kheo rồi cái điều đó nó trở thành trầm trọng, trở thành trầm trọng. Ví dụ bây giờ tí, như là Phật ở đây lỡ mà mình đi lên trên đầu Phật, ở trên cái tầng trên nó còn có cái tầng đi ngang, thì ông thầy ổng biết: "Ê con con, tổn phước chết à con. Phật ở dưới này mà sao con đi vô đó? Phải lấy cái gì đậy lại không cho ai đi qua lại nha", vậy. Nhưng mà nếu là một Tỳ-kheo rồi thì có thể lột y liền, bị phạm một cái giới trong trong 100 giới học chúng liền hoặc trong hoặc 30 giới Ba-dật-đề liền.
[6:59]Là là là bởi vì đó là điều phạm giới. Phật ở dưới, tầng dưới mà mình đi lên trên tầng trên, ở tầng trên là phạm giới liền, không nói gì nữa. Nên cái tính của Tỳ-kheo là gì? Nó là cứng rắn, nghiêm khắc, nguyên tắc, và đòi hỏi cái người thọ giới, giữ giới phải có sự dứt khoát, mạnh mẽ. Cái khác nhau giữa đạo đức và giới luật là như vậy. Thì những cái điều này nó là điều bí ẩn ở trong chùa, người ngoài không được quyền biết. Nên ta nói là chùa là một nơi tu tập, bởi vì nơi đó ẩn chứa nhiều cái điều kiện của một sự tu tập mà người bên ngoài không thể biết được hết. Đó là như vậy. Thật ra thì chúng ta cũng không giấu giếm
[7:46]cái cuộc đời tu hành của mình, chúng ta cũng không che đậy, nhưng mà tự cái sự tu hành nó đã có những cái sự bí mật.
[7:55]Tự cái sự tu hành nó đã có một sự bí mật, cho nên chùa luôn luôn là một điều gì bí ẩn đối với người cư sĩ. Tại sao là cái sự tu hành là bí ẩn? Mình nói đơn giản như hai điều thôi. Cái điều thứ nhất: giới là một điều bí mật, không được tiết lộ. Thứ hai: cái người tu chân chính không bao giờ khoe khoang công phu của mình, cho nên người bên ngoài nhìn vô không biết. Hai điều đó thôi thì cái sự tu hành của một ngôi chùa đã là một điều bí ẩn. Vì cái sự bí ẩn này cho nên cái người cư sĩ họ nhìn quý thầy với một cái gì nó tò mò, khát khao, ngưỡng mộ và kính trọng.
[8:42]Kính trọng vì quý thầy tu hành cái điều gì mà họ không biết được, đây cũng là như vậy. Đây mới là cái bí mật mà khiến người cư sĩ kính ngưỡng mình, chứ không phải là cái thần chú. Điều này ta phân tích điều này mới thấy nè: Có một số thầy thích khi mà đi tụng đám á, tụng những cái câu chữ Nho bí hiểm hay thần chú bí hiểm mà cư sĩ không biết, thì để cư sĩ mới thấy à ông thầy ổng cao hơn mình một bậc, ổng tụng cái mình không biết, chắc là ổng cao hơn cho nên mình phải cung kính cúng dường. Thật ra đó là một gần như một sự lừa bịp, một sự nghĩa là gạt dối người ta. Đó không phải là cái bí mật. Cái mà tụng cái câu kinh cho khó hiểu,
[9:30]cái đó không phải là một cái bí mật, mà cái bí mật nó nằm ở hai điều: Một, giới luật. Hai, là sự kín đáo trong cái sự tu hành, trong công phu tu hành. Cái đó mới là thật sự cái bí mật của người tu đối với người cư sĩ, mà chính cái bí mật đó làm cho người cư sĩ lúc nào cũng ngưỡng mộ, tò mò, khát khao và yêu kính chư Tăng là vì? Vì nó là chân lý, nó là đạo đức. Còn cái mà tạo ra một sự bí mật bởi những bài kinh tụng, chữ nghĩa bí hiểm, khó hiểu, cái đó không phải là hay đâu. Mà cái lỗi mà nó dùng cái bài kinh tụng khó hiểu để tạo ra một sự bí hiểm đối với cư sĩ, thì cả Nam tông cũng bị cái lỗi này và Bắc tông cũng bị cái lỗi này.
[10:15]Nam tông thì giấu kinh điển trong cái ngôn ngữ gì? Tiếng Pali. Tụng mình bó tay luôn, không hiểu nói gì. Còn Bắc tông thì giữ bí mật trong cái gì? Chữ Nho. Mà đối với quần chúng thì hai ngôn ngữ này cực kỳ khó hiểu, nên người ta cứ à chắc quý thầy là tu cao, học cao ở bậc trên, nên mới hiểu được cái này, mình không hiểu. Thì cái cái bí hiểm này không phải là cái hay. Cái bí hiểm đó làm ngăn cản cái sự hoằng pháp. Khi người ta không hiểu được giáo pháp thì người ta không tăng trưởng được cái đạo tâm, vậy thôi. Nên cái bí hiểm về ngôn ngữ trong cái nghi thức tụng niệm, nó lại là một điều ngăn cản sự hoằng pháp.
[10:58]Kinh tụng cần phải được mà nói lên, viết ra bằng cái ngôn ngữ của của thời đại, của cộng đồng, của con người, chứ đừng giấu trong cái ngôn ngữ cổ. Cái bí ẩn thực sự nằm trong cái sự tu hành của chúng ta và chùa là nơi tu hành nên chùa coi vậy đó mà vẫn chứa sự bí ẩn. Nói rằng cửa chùa rộng mở, ai có chuyện gì vô cũng được, ngày nào vô cũng được, giờ nào vô cũng được. Quý thầy đều dang tay đón chào tới đó tu hành, công quả, xin quy y, học đạo gì quý thầy cũng chấp nhận hết á. Nhưng mà cư sĩ vô thì vô, chứ cũng không biết hết được cái sự tu hành của quý thầy. Còn có những người nói: "Gì chứ con biết hết thầy ơi.
[11:44]Ôi mấy thầy sao con biết hết." Đó là trường hợp gì? Đó là trường hợp có những người cư sĩ họ tới lui, họ ở chùa lâu quá mà quý thầy cũng chẳng có gì để tu thì họ biết hết. Có người cư sĩ đến rồi ở bên chùa một thời gian cái về nói với tôi, nói: "Dạ, con tu còn nhiều hơn thầy đó nữa." Mình nói: "Ủa sao vậy?" "Dạ, thì tới khuya vậy con tụng kinh chứ ổng đâu có tụng đâu, ổng kêu con tụng rồi ổng ngủ tiếp. Rồi cái lâu lâu ổng đi đám một chút vậy thôi chứ con thấy chả có gì tu hành." Tức là chùa không có gì đặc biệt, không gì bí ẩn, coi thường rồi bỏ đi, đi qua kiếm ông thầy khác. Đó là người có tâm đạo, còn không có tâm đạo bỏ chùa, bỏ Phật đi luôn.
[12:21]Còn nếu mà quý thầy mình có công phu tu hành thật sự thì mãi mãi quý thầy mình là một bí ẩn đối với Phật tử. Phật tử có tò mò tìm hiểu hoài, không bao giờ biết hết. Vì sao vậy? Vì những công phu thuộc về tâm linh, quý thầy không có nói ra. Chỉ khi nào ai học, ai tu thì dạy, dạy tới đâu thì biết tới đó. Tức là cái người đệ tử mãi mãi kính trọng ông thầy mình là vì sao? Vì khi mình tu tới tiến được một bước, thấy cái trạng thái tâm linh mình mở ra như vậy, tới trình thầy mình, thầy mình giải đáp ra liền. Giải đáp nó là cái gì, vì sao, vì sao liền, mới té ngửa ra là ông thầy ổng đã qua khỏi cái giai đoạn này lâu rồi, lúc đó mới kính phục ông thầy mình.
[13:01]Nên mãi mãi ông thầy mình là sự bí ẩn vì không hiểu hết ông thầy mình. Tu tới đâu thì ổng giải thích tới đó mới biết ổng đi qua mất tiêu rồi. Còn bình thường không hiểu, nên mãi mãi ông thầy là sự bí ẩn vì sao? Vì ông thầy có tu. Còn ông thầy không có tu thì ổng giống như mình thôi chứ chả gì. Chắc ổng tụng kinh hay hơn, đầu ổng mỗi tháng cạo hai lần vậy thôi. Cho nên, chùa là nơi tu tập mà đã là tu tập thật sự thì chùa có một cái bí ẩn ở trong đó. Nội cái giới không đó là bí ẩn rồi. Nhưng mà để gọi là nơi tu tập thì đầu tiên chùa phải là nơi gì? Nơi thờ Phật. Không thờ Phật không gọi là ngôi chùa.
[13:44]Nhớ, không thờ Phật không gọi là ngôi chùa. Đó là cái đầu câu đầu tiên của chúng ta vậy. Vì sao vậy? Vì đó là Thầy của ta, người khai sinh ra một đạo Phật, người mở lối cho tâm hồn của ta, người xây dựng cho ta cả một lý tưởng tu tập giải thoát. Nếu không có con người này, chúng ta là vô nghĩa! Cho nên, cái sự tôn kính của ta đối với Phật phải là tuyệt đối, cái lòng biết ơn của ta đối với Phật phải là tuyệt đối, cho nên ta phải kính thờ Phật. Và khi ta kính thờ Phật, tôn trí cái tôn tượng của Phật là ta hướng về Ngài với tất cả sự kính yêu, dù đó chỉ là tượng đất, dù đó chỉ là bê tông. Nhưng mà đó là biểu tượng và là biểu tượng của Phật rồi thì ta tôn kính tuyệt đối.
[14:34]Chứ đừng có ai nói cái giọng mà mà ôi đó Phật đất sét, Phật tự tánh trong tâm á. Nói câu đó mai mốt đọa nằm một chỗ á. Phải cẩn thận, ta thờ Phật phải tôn kính tuyệt đối, dù đó là biểu tượng, nhớ vậy. Nếu không có thờ Phật, không có thành ngôi chùa. Có một lần vậy, chúng tôi gặp một ông thầy, ổng ở nước ngoài về, thì ổng cũng mặc đồ thầy tu, nhìn vô người mặc đồ thầy tu mà tóc ổng thì nó không phải cạo sát, giống như hớt còn chừa mấy mấy mấy ly gì đó cao cao, nhìn nó đã hơi ngờ ngợ. Nhìn thấy ngờ ngợ ông thầy tu mà không chịu cạo sát đầu mà vẫn còn để mấy ly thì không biết có ý đồ gì. Chỉ cần khoác cái áo vô là thành ra cái người model liền.
[15:19]Thì khi mà ngồi nói chuyện thì thấy cái quan điểm của ông hình như giống như người ngoại đạo mà giả vờ làm thầy tu á. Thấy cách nói chuyện làm cho người ta mất đi cái lòng tôn kính Phật. Mình nói đây đúng là âm mưu của ngoại đạo. Có những người ngoại đạo họ gài những cái người vào trong đạo Phật, cũng xuất gia, nhưng mà khi họ đi giảng, người ta nghe họ giảng xong rồi người ta mất hết lòng tôn kính Phật. Đó là âm mưu rất là hiểm độc. Có một lần cũng vậy, ngay cả như học viện của mình có cái ông thầy đó cũng gọi là đậu bằng tiến sĩ Phật học rồi được mời dạy. Rồi cái đệ tử của tôi về báo là ông thầy đó nói toàn chê Đức Phật không.
[16:00]Tôi mới dặn đệ tử mình: "Sau này mà hễ ông thầy đó mà bước vào phòng, tụi con bỏ ra khỏi phòng cho thầy. Hổng học nữa." Và phản ánh lên liền ban giám hiệu. Hỏi: "Tại sao?" Nói: "Cái cách dạy ông này là mất lòng tôn kính Phật. Đây là một cách phá hoại đạo Phật." Vì một tôn giáo có tồn tại hay không là do cái lòng tôn kính của tín đồ đối với giáo chủ của họ. Nếu mà cái người tín đồ mà không còn tôn kính cái giáo chủ họ thì tôn giáo đó biến mất khỏi cuộc đời, nhớ như vậy. Cho nên, trong bao nhiêu cách để mà ta bảo vệ Phật pháp thì có một cách quan trọng cơ bản là ta phải xây dựng lòng tôn kính tuyệt đối đối với Đức Phật.
[16:42]Đó là trách nhiệm, đó là đời tu của ta mà đó cũng là cái trách nhiệm của ta để bảo vệ Phật pháp, mà đó cũng là cách ta gieo căn lành cho tất cả chúng sinh. Chúng sinh nào mà khởi được cái tâm tôn kính Phật là chúng sinh đó bắt đầu có cái thiện căn trong tâm họ, có hạt giống bồ đề rớt vào lòng họ. Nên cái trách nhiệm của một thầy tu suốt cuộc đời của mình cho tới ngày mình nhắm mắt, qua những kiếp khác cũng vậy, phải xây dựng cái lòng tôn kính Phật cho chúng sinh. Đó là mình tạo không biết bao nhiêu phước đức như vậy. Đó là điều rất là quan trọng. Đừng nói cái giọng mà Thiền tông cao siêu cái gì cũng không không
[17:19]không rồi làm người ta mất lòng tôn kính Phật, đọa chết á. Cũng một lần chúng tôi gặp một vị hòa thượng cũng vậy. Ông giảng dữ dội lắm mà giảng nói xong rồi người ta không coi, không kính Phật, không trọng Tăng luôn. Rồi cuối đời, cuối đời ông hòa thượng ổng cô độc. Tất cả mất. Sống trong một cái am thất nhỏ, chẳng còn ai ngó ngàng tới. Mà trước đó là một người giảng sư cực kỳ nổi tiếng, vị thế trong giáo hội rồi cũng cao vời mà cứ đi giảng cái điệu mà mà kêu người ta đừng kính Phật, từ từ rồi bắt đầu tiến tới không trọng Tăng. Sau này đời ổng tiêu luôn. Giờ vẫn còn sống, vất tha vất thiểu chả ai nhắc tới,
[18:01]nghèo khổ, cô độc, chẳng ai tới mình, sống nhờ trong một cái vườn của một cư sĩ, thê thảm. Chúng tôi có tới thăm. Thăm rồi nhìn thấy cái phước ngài, cái sắc mặt ngài xuống dần, xuống dần. Kia là phước quá khứ, ngày xưa thì còn được nổi tiếng nhưng mà giảng tầm bậy nên mất hết phước từ từ. Nên là vậy, chùa là cái nơi thờ Phật và đã thờ Phật phải thờ cho trang nghiêm, cho đẹp đẽ. Tôi trở lại cái ông thầy bên nước ngoài về. Sau khi ổng đi về rồi, chúng tôi mới gặp mấy người Phật tử đi theo với ổng hỏi ông thầy đó là ai, ổng tu cái gì. Nói: "Dạ, ông thầy đó ở bên nước ngoài ổng có cái chùa mà chùa ổng không có thờ Phật." Tôi nói:
[18:40]"Ông này đúng là ngoại đạo, là trá hình, đột nhập vào trong giới Phật giáo." Rồi ổng cũng về Việt Nam, mấy năm về Việt Nam ổng đi gặp tiếp xúc với nhóm này, tiếp xúc nhóm kia và gieo rắc cái tư tưởng bất kính đối với Đức Phật. Rồi sau này dường như là bên an ninh Việt Nam phát hiện ra ổng là một cái loại người kỳ lạ rồi tìm cách ngăn cản, hồi không thấy ổng xuất hiện lại nữa. Chứ nếu ổng xuất hiện lại mà gieo rắc cái tư tưởng hết sức là nguy hiểm. Chúng ta biết rằng á có nhiều cái thế lực đang tìm cách mà phá hoại cái lòng kính Phật của tín đồ, nhiều cách lắm. Ngay cả cái cách niệm Phật cũng vậy.
[19:17]Ví dụ ta Nam mô A Di Đà Phật, chữ Nam mô tức là kính lễ. Nam mô A Di Đà Phật tức là kính lễ Đức Phật A Di Đà. Rồi cái mới sửa lại Nam mô A Mi Đà Phật. Thôi Mi cũng được, tại nguyên bản của chữ Tàu với chữ Ấn Độ nó là Mi, mà phiên âm qua Việt Nam không biết sao biến thành chữ Di thì thôi Nam mô A Mi Đà Phật cũng được. Nhưng mà lần lần đấy bỏ bớt chữ Nam mô đi, như còn A Mi Đà Phật, A Mi Đà Phật. Bỏ bớt chữ Nam mô tức là bỏ bớt chữ kính lễ. Rồi cái một thời gian sau có bắt đầu cái cái phái đó bắt đầu bỏ bớt chữ Đà Phật đi, còn A Mi, A Mi, A Mi. Và ta thấy chữ A Mi đổi qua chữ A-la chút xíu thôi. A-la.
[19:58]A-la là đạo nào? Alla là đạo nào? Nói vậy thôi. Đó chúng ta thấy họ xâm nhập vào đạo Phật, họ khoác lên cái hình tướng đạo Phật, cái chiêu bài đạo Phật, họ truyền bá, họ lôi kéo tín đồ của quần chúng đạo Phật, bắt đầu họ lái từ từ, lái từ từ đến một ngày nào đó họ lôi thành một đạo khác. Mà bao nhiêu người bị lừa đi theo, bị lừa nhiều lắm. Nên đầu tiên tự viện là một nơi thờ Phật, tự viện là một nơi tu hành. Trong cái sự tu hành đó, tự nhiên hình thành một cái điều bí ẩn và cách biệt đối với quần chúng thế tục bên ngoài, đó là điều đương nhiên. Và trong cái việc tu hành đó, cái quan trọng là việc thờ kính Phật.
[20:45]Đó phải là một nơi thờ Đức Phật trang nghiêm và thường có những cái nghi thức gì đó để bày tỏ lòng tôn kính đối với Đức Phật hằng ngày. Nghi thức gì đó ta không biết tùy chùa, nhưng mà đó là một nơi có thờ Phật. Tự viện là một nơi có thờ Phật, thờ rất trang nghiêm. Và trong việc thờ kính đó hằng ngày ta đều có một cái nghi lễ, một nghi thức gì đó để bày tỏ lòng tôn kính Phật. Đó là ngôi chùa. Nếu cái chùa nào không có điều đó, đó là một chùa giả mạo. Nếu cái chùa nào mà không có thờ Phật thì không được gọi là chùa. Nếu chùa nào thờ Phật mà nhìn vào không nghiêm trang, đó là chùa giả mạo. Mà nếu có thờ Phật mà hằng ngày không có làm một cái nghi thức gì để bày
[21:36]tỏ lòng tôn kính đối với Đức Phật, đó cũng là giả tu, cũng là giả mạo. Đây là điều căn bản của một ngôi chùa. Mà cái tâm linh của ngôi chùa cũng từ đây mà phát sinh. Cái sự linh thiêng, linh khí của ngôi chùa cũng từ sự thờ Phật, kính Phật mà phát sinh. Nếu cái chùa nào mà thờ Phật nghiêm trang mà tăng chúng trong đó lễ kính Phật hằng ngày với lòng tôn kính thiết tha thì bảo đảm chùa đó linh thiêng, chùa đó được chư thiên hộ pháp vây quanh và bảo đảm người thế tục khi có duyên sự đến với chùa đó cầu nguyện thường được linh ứng, bởi vì chùa đó linh thiêng, chùa đó có linh khí, chùa đó được chư thiên theo hộ trì.
[22:23]Nên cái căn bản của việc tu hành là gì? Thờ kính Phật. Thờ Phật cho trang nghiêm và hằng ngày phải có cái nghi lễ gì để bày tỏ lòng tôn kính Phật, chứ không được thờ để cho chơi ạ. Nên có nhiều khi ta vào cái nơi ta gặp một vị ẩn sĩ ở cái am, cốc ừm ổng ngồi ổng nói chuyện về đạo lý rồi trên mây nghe lãng mạn, bước vào chỗ thờ thấy bụi bặm là mình nghi liền ông này bắt đầu tu sai. Và hỏi ổng mỗi ngày ổng có lễ Phật? Ổng nói: "Phật trong tâm mình, lễ làm chi bên ngoài, Phật đất sét." Là biết ngay ông này đã đi vào ngoại đạo, đi sai cái căn bản. Anh nói cao gì không biết, nhưng mà cái việc thờ Phật không
[23:06]nghiêm trang, mỗi ngày không bày tỏ một cái nghi lễ để tôn kính Phật thì anh là ngoại đạo, nói thẳng một câu. Và việc để ông Phật đó chỉ để làm chiêu bài lừa gạt người khác thôi, trong lòng anh không có Phật. Không kính Phật đừng nói trong tâm anh có Phật. Trong tâm ta chỉ có Phật khi nào đối với tượng Phật này ta tôn kính lễ bái, đó là căn bản. Giống như ông thầy phó Na rất thích tụng kinh lễ Phật, đó số một, ngon lành. Nên đừng nói gì cao siêu, cứ nhìn thấy ông thầy nào mà hằng ngày biết lễ bái, tụng kinh, bày tỏ tôn kính Phật, đó là căn bản, không nói gì hết trơn. Và coi vậy thấy ông thầy đó ổng không cao siêu á,
[23:52]mà ổng chết an lành, ổng biết trước cái chết ổng ạ. Còn mấy ông thầy mà nói cho cao siêu mà đối với Đức Phật không tôn kính, đối với tôn tượng không thành kính, không lễ bái coi chừng tới chết, chết không được, sống sống không được, bệnh nằm quặt lên quặt xuống à. Tới chừng bắt đầu đồ chúng, đệ tử gì sợ lánh xa hết á. Cẩn thận cái điều đó. Nên cái căn bản mà ta bây giờ nói cái, nói: "Tôi không biết tu gì cao siêu, tôi chỉ tu cái căn bản hết sức căn bản là thờ kính Phật." Ok. Là người đó đạt được cái căn bản, căn bản rất vững chắc, không sợ sai lầm. Trên cái căn bản đó bắt đầu ta mới phát triển thêm
[24:31]từ từ từ từ từ những điều cao siêu hơn nữa. Chứ còn cái căn bản nhất là thờ kính Phật mà không có thì vất đi, nói thẳng một câu vậy.
[24:42]Như vậy thường thường như chúng tôi vậy, nhiều khi buổi sáng bận ví dụ ngồi thiền rồi tập luyện nên trễ giờ ăn sáng lười biếng cũng không ăn sáng luôn. Xong rồi mới lễ Phật một chút. Khi lễ Phật như ở cốc chúng tôi thì chúng tôi có cái bàn thờ ở trong cốc mình, thì cứ tự lễ bái. Nhưng về đây không có nên phải lên chánh điện. Nhiều khi trễ quá rồi lên nhằm lúc mà đại chúng đang lễ, lễ Ngũ Bách Danh. Thì chúng tôi cũng xin điều hòa theo để cùng lễ. Mà lòng mình xúc động, xúc động. Vì được quỳ lạy Phật một lạy là cả cái hạnh phúc lớn trong cuộc đời mình. Chúng ta phải thờ Phật với tôn kính Phật đến cái
[25:22]mức độ mà lạy Phật là một điều hạnh phúc. Không có hạnh phúc gì trên đời bằng lúc mà ta quỳ xuống mà lạy Đức Phật hết. Thì rõ là ta đạt được cái căn bản của sự tu hành. Còn mà lạy lạy cho xong, cứ nói: "Mày quất ba cuốc rồi đi xuống đi bây," là tiêu rồi đó. Ví dụ ông thầy mà dạy chú tiểu: "Lên thắp nhang quất ba cuốc cho tao," là ông thầy nói cái câu đó rồi là giết chết cái đạo tâm của người đệ tử mình luôn. Cuốc ba cuốc nói một câu như vậy tức là lạy Phật không có cảm xúc. Thầy phải nói làm sao nói: "Con bữa nay không tụng kinh được, con lên con làm giùm thầy con thắp nhang lễ Phật ba lễ giùm sư phụ đi con nha." Mà cái cách mình nói có tình cảm,
[26:01]có trân trọng thì cái chú tiểu mình chạy lên thắp nhang lễ bái đàng hoàng, trong tâm có thành kính dù ít ít nhưng là đàng hoàng. Còn nói: "Lên cuốc ba cuốc cho tao bây," là rồi đó, giết chết tâm hồn của đệ tử mình luôn, coi cái việc mà lạy Phật ba lạy như là một cái nghi lễ bắt buộc. Không. Lạy Phật là một điều hạnh phúc, lễ kính Phật là một điều hạnh phúc. Đó là căn bản của sự tu hành như vậy. Nên nói trong chùa là nơi tu tập thì đầu tiên là thờ Phật, thờ kính Phật cho đàng hoàng. Có cái đó rồi mới tính tới những chuyện khác, như vậy nhé. Thứ hai, tự viện là nơi cư trú của các tăng sĩ, mình nói là tăng ni, những người tu sĩ, những người xuất gia.
[26:46]Là cái chức năng là như vậy. Có những cái chùa ví dụ không có tăng ni, chỉ có thờ Phật thôi, người ta vẫn gọi là ngôi chùa, miễn có thờ Phật. Còn không thờ Phật không là chùa. Có thờ Phật rồi là chùa. Rồi cái thứ hai nữa, dù có cư sĩ ở trông coi nhưng mà người ta vẫn không bao giờ xem cái người cư sĩ thế tục đó là cái người thuộc về ngôi chùa đó cả. Chỉ khi nào có một người xuất gia đàng hoàng, cạo tóc, từ bỏ đời sống thế tục, giữ gìn những giới luật, cách ly với thế tục thì người ta mới gọi cái người đó thuộc về ngôi chùa đó. Còn cư sĩ có trông coi ở cho bạc đầu, chết luôn ở đó luôn người ta vẫn không bao giờ coi cái người đó thuộc về ngôi chùa đó.
[27:32]Vì ảnh còn để tóc, vì ảnh chưa bao giờ cạo tóc xuất gia, vì ảnh chưa bao giờ thọ giữ những giới luật. Mà cái giới luật đó là gì? Là hàng rào ngăn cách hai cái đời sống khác nhau. Một bên kia ngoài cái giới luật là đời sống của thế tục đầy sự hưởng thụ.
[27:50]Giới luật bên này bên trong đây, bên trong hàng rào giới luật này là một đời sống khác hẳn, đời sống của những người mà từ khước những cái sự hưởng thụ, vui chơi. Rồi dồn hết sức mình cho cái tâm linh tu tập, hai cái thế giới nó khác nhau. Cho nên bây giờ cư sĩ có giữ chùa gì thì giữ nhưng mà họ không bao giờ họ coi người đó thuộc về ngôi chùa. Vì chùa là đất của người tu. Chùa là nơi cư trú của tu sĩ chính thức mà thôi. Vì cái người kia dù có họ ở chùa nhưng chưa bao giờ họ thọ giới thì họ vẫn thuộc về cái thế giới bên ngoài giới luật, thế giới được quyền hưởng thụ, ăn chơi, không ai trách cả.
[28:27]Còn cái người mà thọ giới rồi, cạo tóc đàng hoàng rồi thì người đó mới thuộc về cái đất của Phật, thuộc về cái ngôi chùa này. Nên cái giá trị thứ hai của ngôi chùa chính là chùa là nơi cư trú của tu sĩ. Tu sĩ thì phải ở chùa là vậy. Còn cái trường hợp mà ta nói ra lập am cốc riêng thì cũng phải cả một thời gian dài mới được giáo hội công nhận thì điều này nó cũng đúng với nhân quả. Đúng với nhân quả là sao? Là cái nơi mình ở
[29:03]có đàng hoàng, có thờ Phật đàng hoàng không? Có lễ bái đàng hoàng không? Có tu tập đàng hoàng không? Sau khi một thời gian dài mà mình thờ Phật đàng hoàng, lễ bái đàng hoàng, tu tập đàng hoàng thì cái đất đó mới được trên chư thiên hộ pháp công nhận là một cái điểm tâm linh. Thì nhân quả nó hiện ra thì tự nhiên giáo hội, chính quyền cũng ký cái giấy công nhận đó là chùa hợp pháp. Nhân quả nó đi theo vậy thôi. Còn mình bỏ cái chùa của mình, mình bỏ chùa của thầy tổ mình, mình ra mình dựng cái am thất riêng mà nhiều khi mình đi theo cái con đường tu tập mà sự thờ kính Phật không đàng hoàng thì ở trên
[29:45]trời chư thiên hộ pháp không công nhận đó là ngôi chùa. Nên cái việc mà tự nhiên chính quyền, giáo hội họ cũng hay có trục trặc này kia nọ trong cái việc mà công nhận chùa. Lý do là như vậy. Và phải một thời gian dài ta ở cốc, am mà ta tu hành nghiêm túc
[30:04]thì cái sự tu hành của ta nó khiến cho cái đất đó biến thành đất chùa. Đó là do con người đó, linh tại ngã bất linh tại ngã. Cái sự tu hành chân chính của ta biến cho cái am, cốc ta ở thành cái đất chùa, được chư thiên công nhận trước rồi nhà nước và giáo hội công nhận sau. Nhớ như vậy. Thì chùa là nơi cư trú của tu sĩ, cho nên thầy tu thì phải ở chùa.
[30:34]Mà cái ngôi chùa càng cổ, càng có nhiều cái linh khí của chư Tổ để lại thì càng tốt, cái người tu sĩ đó hưởng được cái linh khí của chư Tổ thì dễ tu. Nên cái người tu sĩ vậy mà rời bỏ chùa, rời bỏ chúng mình đi ra, chưa biết đi đâu là một cái thiệt thòi rất là lớn. Nhưng mà con người ta hay thích tự do, phóng túng, thích ra lập riêng để tự làm trụ trì, không bị ai câu thúc, không bị ai rầy trách nhắc nhở, thực sự đó lại mất nhiều lắm, chúng ta mất nhiều, chứ không phải là hay đâu. Tại sao mà ngôi chùa càng cổ càng quý là vậy đó. Tại sao mà cũng là nhân quả khiến nhà nước mà hễ cái chùa nào mà càng cổ thì nhà nước càng lập di tích,
[31:31]càng trân trọng thì cũng không phải là tại như nhà nước hay giỏi gì, mà đó là nhân quả tự nhiên, nên khiến nhà nước cũng phải làm ra, phải lập nó thành cái di tích. À đây là ngôi chùa 300 năm tuổi, chùa 600 năm tuổi. Nhiều khi có cả giai đoạn không có tu sĩ luôn nữa, chùa bỏ hoang phế, nhưng mà cái linh khí của Tổ còn nằm đó đó. Nên cái người nào mà ở được những ngôi chùa đó, có cái bề dày của đại chúng, có cái bề dày của lịch sử thì thường hưởng được cái linh khí của chư Tổ để lại, nên mình có phước. Mà ở đó mình tu hành, giữ gìn, mình chăm sóc cái đất Tổ thì được phước rất lớn, lớn hơn là mình ra mình dựng một cái am riêng, một cái cốc riêng.
[32:17]Tự nó thôi đã là cái phước lớn. Còn cái việc mà ta rời ra ở am cốc riêng thì nó có hai trường hợp: một là ta là người buông lung, thích tự do, tự tung tự tác thì người này trước sau gì đời tu cũng tiêu. Còn hạng người thứ hai là khi bước ra lập am cốc riêng mà hết sức là tinh tấn, nghiêm túc, vì một lý do gì đó bước ra, thì người đó ra để tạo một cái điểm tâm linh mới cho cuộc đời, tạo ra một cái chùa mới, thêm một cái nảy nở thêm một cái điểm tâm linh, thêm một đất Phật cho cuộc đời, thì đây là những cái bậc mà ta cũng thường gọi là thượng sĩ, những người mà đặc biệt, chứ không phải là dễ. Cho nên quý thầy mình phải đừng có bồng bột,
[33:12]phải cân nhắc trước cái việc mà rời chúng ra mà đi lập cái am cốc riêng, hết sức cẩn thận về điều này. Nhưng mà tại sao ta có cái khuynh hướng lập am cốc riêng? Là vì rất nhiều kinh điển, nhiều cái
[33:31]truyện tích, kệ phú thi luận hay kể về những cái vị sống độc cư. Cái hình ảnh một vị mà sống ẩn dật độc cư nhiều khi nó lãng mạn và nó đẹp, nên làm cho ta thích thú. À thích thú rồi ta rời chúng ta đi sớm, sự thực đó là một cái mất mát lớn, không hay. Cho nên chư Tổ nói một cái câu, cái câu này là chư Tổ nói chứ trong kinh không có nói, là: "Hổ ly sơn hổ bại, tăng ly chúng tăng tàn". Cái câu này nó không có trong kinh, nhưng mà là đúc kết kinh nghiệm, trí tuệ của chư Tổ bao nhiêu đời nay. Mà câu này bên Trung Hoa cũng không có, chỉ Việt Nam mới có: "Hổ ly sơn hổ bại, tăng ly chúng tăng tàn".
[34:22]Câu này không được ghi trong bất cứ cái luận nào của bên Trung Hoa, cũng không ghi được trong cái luận nào luận tạng nào của Việt Nam, chỉ truyền khẩu, nhưng mà cực kỳ chính xác.
[34:35]Chúng tôi ngày xưa cũng vậy, cũng ngày xưa cũng đọc cuốn Milarepa - Con Người Siêu Việt, thấy một vị Thánh sư Tây Tạng tức là được ông thầy khuyến khích đi ở độc cư lên trên núi tuyết, ngồi ổng nhập định bao nhiêu năm rồi ổng đắc đạo, hình ảnh nó đẹp, thế mình cứ thích đi ở riêng. Sau này lớn lên rồi mới nhớ lại nó mới hối hận, nói đúng là nông nổi. Bỏ chúng đi là một điều nông nổi. Vì cái linh khí, cái tâm linh của đại chúng vẫn có cái sức mạnh hộ trì cho mình, và cái chùa cổ có cái linh khí của chư Tổ hộ trì cho mình. Cho nên là cái người tu cố gắng ở chùa. Ở chùa là cái gì? Mình giữ cái cơ nghiệp của chư Tổ lại,
[35:23]giữ lại cơ nghiệp chư Tổ, và chính cái mà giữ gìn cái cơ nghiệp của chư Tổ là một cái công đức lớn, là một công đức lớn. Còn cái người nào mà ra mà dựng am cốc riêng rồi sau này thành công thành ngôi chùa to thì đó là một trường hợp đặc biệt, thì cái phước bù lại sau đó, chứ ban đầu đi ra không có chút phước nào hết, ban đầu đi ra là mất phước á. Chỉ khi nào mà từ cái am cốc riêng đó ta dựng lên thành một ngôi đại tự sau này mà hoằng pháp lớn lao thì lúc đó bắt đầu mới có phước bù lại sau, còn lúc rời chúng đi đã là cái mất phước rồi. Đó là một cái tổn thương rất là lớn, không phải không. Chùa phải là nơi ở của tu sĩ Phật giáo.
[36:04]Trong cái sự tu tập của đại chúng như vậy thì chùa cần phải có một cái thanh quy, một cái thanh quy. Thanh quy cái quy luật. Thường thì cái thanh quy mỗi nơi mỗi khác, cái giống nhau thì na ná. Ví dụ như là trong các chùa Tịnh độ cái nghi thức có sẵn, cứ vậy mà dùng mà xài, thích thì tụng Lương Hoàng Sám, lạy Ngũ Bách Danh, hay là Thủy Sám, hằng ngày thì cứ Di Đà, Phổ Môn, Bát Nhã, Đại Bi. Chùa nào cũng giống vậy, cho nên vấn đề nghi thức cũng không không đặt vấn đề. Nhưng mà có một số chùa tu ví dụ Nam tông thì cái nghi thức họ tụng tiếng Pali không, hoặc là các vị Thiền tông thì họ lấy theo những nghi thức của nhà thiền ra tụng.
[36:54]Như ví dụ như chùa Phật Quang của chúng tôi cũng vậy, chúng tôi cũng có nghi thức khác là tôi cố gắng Việt hóa lại hết cái kinh của Phật ngày xưa, lại viết thành tiếng Việt hết cho dễ hiểu, cũng là một cái cách. Thì cái chùa nào thì có cái tông đó thì trên Giáo hội cũng không ngăn cấm, nhà nước cũng không cản, miễn làm sao mà cái nội dung đó không sai với đạo lý của nhà Phật, miễn làm sao cái nội dung đó nó không phạm về chính trị thì thôi nhà nước cấp giấy phép xuất bản và Giáo hội cũng không có lý do gì phản đối. Thì đọc ra hết từng bài từng câu thì cũng đạo lý Phật không, thôi ai thích tụng tụng, không thôi.
[37:35]Nên đây cũng là một cái điều mà gọi là khá dân chủ trong cái Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Là các chùa cái nghi thức nhiều khi khác khác khác khác nhau, nhưng mà cái lời tụng niệm đọc ra thấy đạo lý Phật thì không có lý do để cấm, mà ai thích tụng thì tụng. Cái chữ mà ai thích tụng thì tụng nó có nghĩa là thế này: có nghĩa là việc mà soạn kệ, kinh tụng thì nhiều vị soạn lắm, nhưng mà không phải cái bài kệ hoặc kinh nào đưa ra cũng được nhiều người quần chúng hưởng ứng, sử dụng để tụng, không được. Nó lệ thuộc cái duyên bí mật của người đó nữa, lạ như vậy. Tức là vị đó có cái duyên, tự nhiên bài kinh, bài kệ đưa ra rất nhiều người tụng.
[38:20]Còn có những vị cũng soạn kệ, soạn kinh đưa ra hổng ai tụng. Mà mình đọc cũng thấy rất hay, cũng chẳng sai gì đạo lý của Phật, mà tự nhiên không ai tụng. Đó, nó có cái nhân quả bí mật gì ở trên trời thì thôi mình bó tay, thì thôi để nó qua một bên. Nhưng mà điều này nó được quy định trong thanh quy của chùa, đó, cái chùa đó tụng kinh gì, đó, giữ những điều luật gì. À ví dụ như bây giờ, đầu tiên của thanh quy là thời khóa: mấy giờ thức, mấy giờ tụng kinh, ngồi thiền, sáng ăn rồi lao tác giờ nào, cúng thí thực rồi cúng ngọ, vân vân, giờ nào giờ nào, đầu tiên là thời khóa. Rồi thứ hai rồi cái quy luật về đi ra đi vào,
[38:57]muốn đi ra khỏi chùa thì phải trình những ai những ai. Rồi cái quy định về những chức vụ trong chùa, chùa đó gồm những chức gì chức gì chức gì như vậy. Thì cái thanh quy này á Đa phần các chùa đều bị đơn giản. Dán một trang một từ trên xuống dưới, đọc mấy dòng trong một trang A4 là hết. Đa phần là vậy. Kể cả có những tu viện mà quy mô lớn, cái thanh quy nhiều khi một trang, hai trang, có thanh quy tới ba trang là hết. Có thanh quy bước vô mình nhìn thấy đề thanh quy của cái tu viện gì đó, đọc đúng một trang đúng hết á. Rồi có cái một cái tu viện rất là lớn, chúng rất là đông, mình đọc cái thanh quy nó đứng bốn trang, hết.
[39:40]Cái đó thật sự về cái thanh quy của các chùa cũng chưa chặt chẽ lắm. Rồi hỏi tại sao? Nói: "Vì còn có luật. Thanh quy là cơ bản của chùa, nhưng mà khi xuất gia rồi được nguyên cuốn Luật Trường Hàng. Phải không ạ? Thì đó cũng là thanh quy, nên đó là cái phần bổ sung mà rất là dày, trong đó gồm có giới luật, gồm có luật nghi, gồm có cái tỳ ni, vân vân, những điều được dạy trong đó rồi. Cho nên là cái thanh quy của chùa không cần nhiều nữa, chỉ cần một trang, hai trang là đủ rồi." Thì thôi cũng chấp nhận. Thì thôi đó cũng là một cái. Ta có một cái... vậy ta có một cái thanh quy chung giữa các chùa, đó là cuốn Luật Trường Hàng.
[40:21]Luật Trường Hàng là 24 thiên oai nghi, rồi các giới điều, vân vân, rồi bổ sung thêm cái thời khóa của ông thầy trụ trì nữa là thành cái thanh quy, nên gồm hai cái ghép lại: một cái Luật Trường Hàng truyền thống mà chùa nào cũng xài, và hai là cái thanh quy riêng, thời khóa riêng của ông thầy trụ trì. Nhưng mà coi vậy chứ dòm na ná cũng giống nhau hết trơn à. Còn riêng như cuốn thanh quy mà của chùa Phật Quang chúng tôi thì nó dày một cộc. Quy định hết mọi điều của tu sĩ: mối quan hệ đối với giáo hội, với chính quyền, trong tu sĩ với nhau, cái tình đạo với nhau, mà cứ phải bổ sung hoài. Cứ lâu lâu mới phát hiện ra là cái điều này còn thiếu,
[40:59]phải bắt đầu bổ sung vào trong thanh quy hoài. Thanh quy. Đây là điều nè, ví dụ như quý thầy là trụ trì, quý thầy là giáo thọ, tri sự của chùa, hoặc quý thầy làm chúng trong chùa thôi, thì vui lòng sau cái mùa hạ này về, quan tâm xem lại cái thanh quy mình một chút. Tại thanh quy mà càng chặt chẽ thì ngôi chùa sau này càng phát triển tốt. Là chúng sẽ có nền nếp, có kỷ cương, rồi chùa tự nhiên phát triển. Thấy cái thanh quy nó vậy, nó là linh hồn mà. Có cái thanh quy, tuân thủ được thanh quy thì chùa tự nhiên sẽ phát triển. Nếu cái thanh quy nó đúng thì bắt đầu thu hút người về. Là Phật tử họ tới về tới cái chùa rồi, họ nhận ra cái không khí liền. Cái không khí:
[41:48]"Ờ, quý thầy đây ổn định quá, hiền lành, từ bi. Cái tiếp khách đàng hoàng, vồn vã, ân cần." Vì sao? Vì cái tiếp khách nó là một chương trong thanh quy. Trong thanh quy nó đã quy định cái thái độ tiếp khách. Ví dụ: Cái người nào mà tới cái phiên làm tri khách thì họ phải có bổn phận ngồi ở đâu trực, khách đến nói chuyện gì, hỏi chuyện gì, cư xử ra sao, đã được dạy trong thanh quy. Cho nên khi khách tới thì họ lọt vào trong cái thanh quy cả, đã được đối xử như thế cả. Thế là người tri khách lúc nào cũng phải có cái nụ cười, lúc nào cũng nhã nhặn, lúc nào cũng phải chăm sóc cho cái tinh thần, đời sống của người Phật tử tới chùa, dù là một người hay một trăm
[42:31]người, thậm chí một ngàn người, phải có cái thái độ đúng hết. Không bao giờ thấy cái sự cau có, lạnh lùng của cái người tu sĩ trong chùa, mà nhất là cái người đang giữ cái phiên tri khách. Lúc nào chỉ nhìn thấy tình yêu thương. Nhớ như vậy. Mà cái tình yêu thương, cái lòng từ bi của người tri khách đối với Phật tử là một điều được tu tập mà thành, chứ không phải là cái lệnh mà thành. Không phải là do cái lệnh nè: "Nè, con! Con phải vui vẻ, vồn vã với khách nha." Đó là lệnh. Còn ở đây, trong hằng ngày, trong đời sống, người tu sĩ đã được dạy về lòng từ bi, đã được huân tập về từ bi. Cho nên khi làm tri khách bước ra ngoài,
[43:17]Phật tử họ nhận ra liền, họ đọc ra cái tâm mình liền. Trên đời này mọi người khôn lắm chứ không ai ngu, ta không đóng kịch được lâu. Ta sống chân thật, mọi người hiểu hết. Còn mình đóng kịch, 5 phút sau người ta biết à. Ví dụ mình tới ngôi chùa mình cũng nhận được một sự vồn vã của cái ông thầy hay của bà sư cô, nhưng 5 phút mình nhận ra là giả dối. Cái sự vồn vã này giả dối, cái sự vồn vã này để vận động cúng dường, không phải từ bi. 5 phút nhận ra liền. Đúng không ạ? 5 phút nhận ra liền. Còn mà nếu cái vồn vã, ân cần của ông thầy đó bởi cái từ bi, mình cũng nhận ra liền. Tại vì ổng vồn vã, ổng ân cần, ổng ngọt ngào mà ổng bất cần,
[44:04]thái độ ổng bất cần, chả cần, không cần cúng dường. Nhưng mà ổng chỉ cần mình sao? Mình nhận được sự yêu thương để mình có niềm tin với Phật pháp, nên ổng vồn vã, ổng ân cần, mình cũng hiểu liền. Cho nên khi mà ta có cái thanh quy, ta quy định từng điều nhỏ nhỏ nhỏ nhỏ, cách bước vào nhà vệ sinh thế nào, giữ gìn nhà vệ sinh sạch sẽ như thế nào, việc ăn cơm thế nào, lao tác thế nào, tiếp khách thế nào, những điều đều quy định từng chút, từng chút nhỏ nhỏ nhỏ nhỏ như vậy, cái nó thành cái phẩm chất, thành cái đời sống, thành cái tư cách của người tu sĩ trong cái chùa đó. Rồi khi cái người khách họ tới thì họ lọt vào trong cái không
[44:45]khí đó liền, họ lọt vào trong cái không gian mà đã được tâm linh nó chụp lên, nó ấn định lên trên cái đời sống của người tu sĩ, họ được sống trong cái không gian đó, họ nhận ra liền. Họ họ nhận ra đây là một ngôi chùa bình an. Họ nhận ra ngôi chùa này đặc biệt có cái không khí gì rất là hay, rồi họ mến, họ tới hoài. Cho nên ta thấy là quý thầy khi về chùa đem cuốn thanh quy ra coi lại, soạn lại, viết lại cho kỹ, để mình áp dụng và huynh đệ mình áp dụng, còn nếu mình có đệ tử thì đệ tử mình áp dụng. Thì khi mà mọi người cùng áp dụng một cái thanh quy đẹp như vậy thì bắt đầu đất chùa mình thành đất linh,
[45:29]thành đất linh, thu hút được mọi người về từ từ, rồi mới thu hút cái người đến xuất gia. Ta nói 1.000 người đến quy y, chừng 3 người xuất gia.
[45:42]Như chùa chúng tôi tính cái tỷ lệ còn thấp hơn nữa. Thấp hơn không ta? Như chùa chúng tôi là quy y là bữa nay là như 70 ngàn người, mà có được chừng 150 người xuất gia chứ nhiêu đâu. Rất ít, tỷ lệ rất là thấp. Nhưng mà đầu tiên vậy ta phải xây dựng một cái thanh quy cho đẹp. Thì ở đây đầu tiên quý thầy nên tham khảo, tham khảo cái Thanh Quy Bách Trượng, tham khảo thanh quy một số thiền viện, một số tu viện, một số tịnh viện, và quý thầy cũng có thể tham khảo cái thanh quy của chùa Phật Quang của chúng tôi, tham khảo cái thanh quy đó xây dựng như thế nào. Rồi quý thầy sẽ có cái của riêng mình. Cái riêng mình đó là mình học nơi này một chút,
[46:26]cái khi mình thấy hợp, cái khi thấy hợp, mình cũng dựng một cái thanh quy, thì nó cũng không khác nhau lắm đâu, nó cũng na ná giống nhau, nhưng mà nó hơi có cái đặc trưng riêng của cái sự tu hành của mình. Mà nếu thanh quy đó ổn định rồi, đẹp rồi, ta sẽ thấy bắt đầu quần chúng tới. Cho nên cái đó mới là cái chân chính. Hồi lúc mà chúng tôi mới lên núi, ở thì ở một cái chòi lơ thơ, thì có một vài người học trò lúc mà chúng tôi dạy học, họ cũng lên ở theo, rồi cũng vài người cư sĩ đâu chợ Sài Gòn họ nghe đồn trên núi có cái ông thầy ở chòi cũng dễ thương, họ cũng lên họ ở chơi mấy ngày. Họ lên thì thời đó thì không có điện, chỉ có cái đèn dầu lờ mờ.
[47:11]Trên núi mà, thời đó mới lên không có điện, cách đây mấy chục năm rồi không có điện đóm gì hết trơn. Thì mấy thầy trò ngồi nhau trước cái hiên nhìn ra biển xa xa, nhìn ra biển Cần Giờ xa xa. Cái núi thì nó bao quanh vì chùa ở thung lũng, không thấy gì. Lúc đó chúng tôi mới đem một câu chuyện hỏi, nói cái cái câu này là Trang Tử nói:
[47:36]"Bậc tiểu nhân thì trách người mà không trách mình. Bậc trung nhân thì trách mình mà không trách người. Bậc đại nhân quân tử chẳng trách người cũng chẳng trách mình." Chúng tôi mới hỏi kêu mấy Phật tử chung quanh mình đó, đệ tử giải thích câu đó cho thầy. Mỗi người nói ý này ý kia. Chúng tôi mới giải thích: Cái người tiểu nhân là đụng chuyện đổ lỗi người khác nên dễ hiểu, đúng không ạ? Nên bậc tiểu nhân là trách người mà không trách mình. Bậc trung nhân tức là người có tu, con người bắt đầu cao cả hơn, đụng chuyện gì sai thì nhận lỗi về mình, đây là người bắt đầu có tu, nhận lỗi về mình nên trách mình không trách người.
[48:23]Nhưng tại sao bậc đại nhân quân tử lại chả trách mình cũng chả trách người là sao? Bởi vì người này tu đến cái mức độ bất hối. Bất hối là sao? Khi đụng chuyện một chuyện sai lầm gì xảy ra thì không trách người khác, vì có những lý do mới có chuyện sai, cũng chẳng trách mình vì biết nó là sai, quyết tâm sửa chứ không hối hận. Quyết tâm không để lần sau lặp lại, nhưng lòng bất động. Cái lòng bất động này mới gọi là bậc đại nhân quân tử. Cái câu này thật là ý vị. Thì chúng tôi chỉ ngồi nói như vậy. Thì qua 2 ngày sau, một cái người cư sĩ đó họ đến chào để họ bỏ về. Họ chỉ nói câu này: "Không biết thầy có biết con không?
[49:09]Con người nhà nước lên đây theo dõi thầy. Tại nghe tin mấy Phật tử đồn đồn có cái ông thầy trẻ trẻ lên núi vậy đó, nên con lên đây ở một tuần để coi thầy ra làm sao. Nhưng mà suốt một tuần sống với thầy thì con mới phát hiện một điều này: Thầy sẽ là một người không bao giờ có đệ tử đông, không bao giờ có Phật tử tới đông. Vì sao? Vì thầy trong sáng quá." Tức là suốt 7 ngày không bao giờ nghe chúng tôi nói tới chuyện bùa phép, linh thiêng, mầu nhiệm, huyền bí, bùa... cái gì phép lạ cả, không, chỉ nói đạo lý mà cái đạo lý kiểu đó trong sáng, đạo đức hoàn toàn. Mà ổng đã định nghĩa thế này: Một ông thầy mà muốn thu hút được quần chúng thì
[49:51]phải có cái gì nó mờ mờ, huyền bí, mầu nhiệm. Còn ông thầy nào mà đi con đường trong sáng như kiểu này, không bao giờ ai thèm tới. Nhưng cái câu tiên tri đó nó trật. Câu suy luận nó trật lất. Cái cái ổng nói gì kệ ổng, chúng tôi vẫn tiếp tục bao nhiêu năm đi cái con đường trong sáng của mình. Đi con đường đạo lý, đạo đức trong sáng, không có cái gì mờ mịt, không có gì huyền bí cả. Nhưng không ngờ là Phật tử mỗi lần lễ đến rất đông. Như lễ Phật Đản vừa rồi là rất là vắng thì hơn mười ngàn người, còn bình thường là hơn hai chục ngàn người về dự lễ. Vì sao? Vì mọi người yêu sự trong sáng. Chúng ta nhớ điều này.
[50:37]Trong cái thời đại ngày hôm nay, khi mà cái tri thức đã lên cao rồi thì con người ta yêu lý trí, yêu sự trong sáng. Vẫn còn một số người thích cầu xin, mầu nhiệm huyền bí vẫn còn chứ chưa hết đâu, mãi mãi không hết đâu. Nhưng mà cái số người yêu thích đạo lý, lý trí trong sáng đã tăng lên rất nhiều trong xã hội này. Và đó chính là cái con đường chúng tôi đi và được mọi người chấp nhận. Mà cái này nó được quy định trong thanh quy tu hành của chúng ta. Cho nên vậy, việc đầu tiên mà ta củng cố cái chùa mình là thứ nhất việc thờ kính Phật lại cho chuẩn, cho tôn kính, thiết tha thì tự nhiên chư thiên hộ
[51:18]pháp đến với mình liền là cái thứ nhất. Cái thứ hai, xây dựng lại cái thanh quy cho kỹ. Đa số chùa là hồi xưa mình ở với ông thầy mình như thế nào thì bây giờ mình có cái ngôi chùa mình cũng sống theo kiểu đó. Chúng ta vừa dùng cái chữ "sống theo kiểu đó" chứ không phải có thanh quy. Bây giờ làm lại phải có một cái thanh quy được ghi chép, nghiên cứu tỉ mỉ từng điều nhỏ nhỏ. Mà cái thanh quy này nó là trí tuệ của ta. Nhìn cái thanh quy đó biết trí tuệ của ông thầy trụ trì tới đâu. Nên bây giờ đó thi đua nhau cái gì? Thi đua nhau cái trí tuệ là gì? Viết thanh quy cho coi thử, đọc thử. Nên tại sao mà trong cái mùa hạ này khi ta học cái môn quản
[52:05]lý tự viện này chúng tôi bắt quý thầy phải viết bài. Quý thầy viết quý thầy động não. Sau này quý thầy nhìn vấn đề gì nó cũng kỹ lưỡng, sâu sắc, chứ còn người ít viết bài coi vậy chứ cạn cợt. Đó là kinh nghiệm của chúng tôi. Khi chúng tôi đi dạy Phật học viện cũng vậy, bắt viết bài khủng khiếp, đụng tới giờ chúng tôi là sợ. Viết mà nghĩa là cái tờ giấy mà mà A4 mà tờ đôi tờ đôi đó, dưới sáu tờ không chấm. Mà một tờ đó là bốn trang, hai mươi bốn trang, dưới sáu tờ không chấm. Nên nghĩa là chúng tôi hai tuần mới quay lại dạy một lần, trong suốt hai tuần đó là các tăng ni sinh học các môn khác lơ lơ lơ, chỉ dồn để làm bài của môn tôi không. Mà vậy mà họ giỏi lên.
[52:54]Sau này đi ra các nơi học đồ rất là dễ dàng, rồi sau đó đi thuyết pháp rất dễ dàng, vì viết quái viết khủng khiếp luôn. Mà chúng tôi cũng kinh nghiệm trong cuộc đời của mình như vậy, hồi xưa không bị ai bắt viết chúng tôi vẫn lặng lẽ lấy ra viết đạo lý. Viết cái đạo lý mình suy tư được, viết đạo lý của thầy mình, viết đạo lý này kia, viết, cứ viết thôi. Có những cuốn viết ra bị người ta chửi quá chừng bởi nhiều khi mình viết thẳng quá, nhưng mà cứ viết. Nên hôm nay cũng vậy, chúng tôi rất mừng là nghe Ban Chức Sự báo cáo là trong một tuần vừa qua cái bài đầu tiên quý thầy viết rất nghiêm túc làm chúng tôi rất là cảm động.
[53:31]Quý thầy sẽ thấy qua một mùa hạ mà viết bài cực khổ, quý thầy bước một bước lên thêm về cái trình độ của mình. Thì hôm nay học trong cái bài này thì chúng tôi khẩn thiết, khẩn khoản, năn nỉ quý thầy khi trở về chùa mình soạn lại cái thanh quy, chứ không còn là sống theo cái kiểu đã quen từ thầy tổ mình để lại, đừng có cái chuyện mà xưa bày nay bắt chước nữa. Thời đại ngày hôm nay khác nhiều lắm rồi. Cái sự thử thách của cái xã hội đối với người tu ngày hôm nay thì cực kỳ khác so với ngày xưa, cực kỳ khác so với ngày xưa. Vì cái sự mà cám dỗ của xã hội bên ngoài rất là lớn đối với một thầy tu. Chúng ta là thầy tu thì mình chọn cái con đường sống đạm bạc,
[54:24]giản dị, không hưởng thụ, nhưng mà xã hội bên ngoài nó giàu lên từng ngày. Cái sự xa hoa, lộng lẫy nó giàu lên từng ngày và nó cuốn hút chúng ta. Ngày xưa người ta dễ đi tu là vì sao? Vì cái đời sống gia đình người ta với đời sống chùa nó giống nhau. Bỏ gia đình vô chùa sống cũng gần gần như vậy, mà nhiều khi vô chùa còn sướng hơn, có cơm ăn đàng hoàng hơn ở nhà nữa, cho nên họ bỏ nhà họ đi tu rất là dễ. Mà ngày nay bỏ nhà đi tu không nổi vì nhà sướng quá, chùa không bằng. Cho nên cái lớp trẻ giờ nói bỏ nhà đi xuất gia phải là những người mà cực kỳ có lý tưởng mới nghĩ đến chuyện bỏ nhà đi xuất gia.
[55:05]Và cái thanh quy của chúng ta phải làm sao mà xây dựng được một đời sống đẹp trong chùa, để khi người ta vào chùa rồi người ta thấy đời sống này là đẹp, còn cái đời sống gia đình mà trước đây mà họ tưởng là sung sướng á, thực ra là chỉ là rác rưởi, là vô thường, là đau khổ. Nên cái quan trọng là cái thanh quy. Quý thầy thông minh hay không là cái thanh quy, quý thầy xây dựng cái chùa bền vững ngàn năm hay không là cái thanh quy này. Nên sau cái mùa hạ này về chùa, quý thầy ngồi nghiên cứu viết cái thanh quy. Như cái thanh quy chùa Phật Quang của chúng tôi, chúng tôi được viết khi chúng tôi đang còn ở cái cốc.
[55:43]Chúng tôi chưa lên núi, chưa dựng chùa, lúc ấy còn ở một cái cốc nhỏ ở Long Hải. Mà cái cốc đó bề ngang hai thước, bề dài hai thước rưỡi. Chung quanh mình là các ngôi mộ, ở lọt trong cái nghĩa địa. Chúng tôi về đó ở hai ngày thì người ta đem cái mả người ta chôn cách đó hai thước. Ở chung với cái người mới chết. Thế đó, nghĩa là cứ vậy cứ ở đó với họ mấy năm. Mà trong lúc ngồi ở cái cốc đó là ngồi bắt đầu chuẩn bị viết cái thanh quy cho cái chùa Phật Quang ngày hôm nay rồi, đã chuẩn bị nghiên cứu viết như vậy. Cho nên quý thầy cũng vậy, thì quý thầy có chùa sẵn hay quý thầy đang ở am, ở cốc thì ngày hôm nay quý thầy chuẩn
[56:19]bị soạn cái thanh quy cho chùa mình tương lai. Thì biết đâu sau này quý thầy cũng sẽ trụ trì cái chùa, biết đâu sau này cái am cốc của mình phát triển hoặc là ai mời mình về thì mình trong túi mình đã có cái thanh quy mình chuẩn bị trong đầu mình hết rồi, mình sẽ dạy chúng như thế nào, dựng cái ngôi chùa như thế nào. Mà cái thanh quy mình nó đẹp rồi, tự nhiên cái không khí chùa nó trang nghiêm. Nó không có nghiêm khắc, gò bó, tù túng nhưng nó không có buông lung, dễ dãi. Nó vừa đủ vừa đủ một cách nào đó để cho ai tới đó cũng cũng yêu mến. Nói ví dụ như là nãy chúng tôi vừa nói, cái lễ hội trên chùa Phật Quang á,
[56:57]những ngày đông tới hai mươi mấy ngàn người mà phăng phắc nề nếp nha, không bao giờ có cảnh chen lấn hay gì, không có một cọng rác. Thì nhiều người mới nói: "Tỷ như ôi, vậy gò bó, tù túng quá chắc người ta không tới." Không, càng nghiêm khắc người ta càng tới đông. Vì sao? Vì con người ta yêu cái nề nếp, yêu cái kỷ cương. Còn mà bừa bãi rồi người ta tới một lần, lần sau người ta không tới nữa. Vì tới cái chùa mà ở đằng này có nhóm ngồi đánh bài, đằng kia nhóm bầy ra ăn nhậu rồi rác xả lung tung, nhà vệ sinh thì dơ bẩn thì người ta tới lễ Phật một lần người ta bỏ luôn. Còn ở đây vô nhà vệ sinh lúc nào cũng như là mình mới đi là người
[57:38]đầu tiên, được dọn, được quét thường xuyên thường xuyên. Suốt cả ngày đó đều có người dọn sạch sẽ hết, không bao giờ để hôi để dơ. Ai tới là đều lúc đó nhà vệ sinh đang vừa mới dọn sạch xong, rất là thích. Rác không có thấy. Ngồi cơm là có người bưng tới chỗ ăn, không phải xếp hàng để nhận cơm. Rồi không bao giờ có cảnh mà đánh bài, nhậu nhẹt riêng từng nhóm, tất cả đều hòa theo không khí lễ hội. Vậy đó mà người ta rất thích đến với khung cảnh lễ hội của một cái chùa nghiêm trang như vậy. Đó là lễ, còn bình thường trong đời sống trong chùa cũng vậy. Dĩ nhiên có những cái người mới tu vẫn còn những
[58:14]sai sót, nhưng mà lần lần được phát hiện, được chỉnh đốn, mà người nào chịu không nổi thì đi. Nếu người nào không chấp nhận được một cái đường lối chùa như vậy thì họ phải rời ra đi thôi, đó là điều đương nhiên. Còn ai chịu ở lại thì người đó sẽ là người tu hành tốt đẹp. Nên ta nói chùa là nơi tu hành, nơi chư tăng ở thì đầu tiên là cái thanh quy, quý thầy dựng cái thanh quy giùm. Cái thứ hai, mà cũng là trong cái thanh quy này nó có cái gọi là thời khóa. Thời khóa là ta dậy lúc mấy giờ, ta đi ngủ lúc mấy giờ, trong suốt ngày đó ta làm gì, thì gọi là thời khóa quy định. Thì tương đối tới ngày hôm nay,
[58:54]các chùa đều thời khóa gần gần giống nhau cả, gần gần giống nhau cả. Hồi lúc chúng tôi ở thiền viện thì ba giờ rưỡi là thức chúng để ngồi thiền,
[59:07]Lúc mình còn trẻ mình còn hăng máu, giờ nhớ lại hối hận gì đâu. 3:30 thì thức chúng mới ngồi thiền. Lúc mình còn trẻ là bí mật 2:30 là mình đã dậy ngồi thiền rồi. Đấy, lúc để cái đồng hồ nằm ngủ mà cái tay đã chạm cầm cái đồng hồ, một cái đồng hồ reo. Nó vừa 2:30, nó vừa mới nhóm reo là tay mình bấm liền để cho nó không động chúng. Nhưng chúng vẫn không nghe, chỉ vừa nghe cái "tích" cái là mình bấm lại rồi, nó không có reo nữa. Nhưng lúc trước khi ngủ là đã lên dây cót. Nhưng mà tới gài nó 2:30, nó vừa mới tích tính kêu cái là mình bấm cái cạch rồi, bắt đầu lặng lẽ dậy, ra súc miệng, vệ sinh, vô ngồi thiền.
[59:51]Tức là mình dậy sớm hơn chúng 1 tiếng đồng hồ. Cái có một hôm cái ông thầy của chúng tôi mới họp chúng, mới hỏi là: "Mấy chú thấy làm sao, 3:30 dậy có hợp lý không?". Chúng tôi mới nói, chúng tôi là người đứng lên nói: "Thưa thầy, con thấy thôi nên 3:00 dậy để thêm được thời gian tu. Chứ 3:30 dậy rồi thêm ít thời gian vệ sinh này nọ thật ra ngồi thiền không có được một tiếng rưỡi như là mình quy định, bị nó trễ mất. Còn nếu mình dậy 3:00 thì loay hoay loay hoay vậy chứ mình ngồi cũng gần được hai tiếng". Cái thời đó vậy, cái ông thầy ổng gật đầu, cái ổng đưa cái đưa vào thanh quy, đưa vào thời khóa dậy 3:00.
[1:00:32]Thế là tàn sát chết hết luôn. Tất cả các thiền viện đó phải 3:00 dậy. Mà sự thực cơ thể con người dậy lúc 3:00 là điều trái khoa học, bất hợp lý. Vì giờ đó gan mới bắt đầu nó tái tạo tế bào. Chúng ta ngủ đến cái lúc mà cái giấc khoảng 3:00, cái giờ đó bắt đầu gan nó thực hiện một cuộc tái tạo các tế bào. Mà giờ đó mình thức và mình chiến đấu, trừ những người có định không sao, người không có định thì gan suy rất nhanh. Chúng tôi lúc mình trẻ mình cũng không biết y lý mà mình hăng máu đó, mình thấy mình đề nghị vậy cho huynh đệ mình tinh tấn. Chớ thấy như vậy họ tu không được tinh tấn lắm, mình cứ nghĩ như vậy.
[1:01:16]Đâu có ngờ mình giết người, phải không? Sau này hối hận quá chừng. Mà vì làm sao giờ ông thầy ổng ra lệnh mất tiêu rồi, ổng truyền bá đi khắp nơi. Giờ mình rời khỏi nơi đó rồi nhưng mà cái hậu quả để lại tới giờ vẫn chưa hết. Nên sau đó chúng tôi giảng hay nói về điều này. Nên khi mà lập chùa thì chúng tôi cho 4:00 dậy, chứ còn trễ hơn nữa thì cũng kỳ. Thêm được một tí giấc ngủ, thêm được một khoảng ngủ để cho tế bào gan nó có cơ hội nó tái tạo vào cái lúc đó lại một chút xíu. Nên mà dặn đệ tử mình: "Tụi con mệt, báo thầy đi ngủ liền". Vì giấc ngủ nó quan trọng. Nhiều khi kể cả trong ban ngày, nhiều khi thời khóa giờ đó không phải giờ ngủ
[1:01:57]nhưng mà lúc cảm thấy nhọc, mệt hay là lý do gì thầy cho đi ngủ liền, ngủ để phục hồi sức khỏe rồi bắt đầu trở lại làm việc và tu, chứ đừng có gượng. Dù còn trẻ, dù còn trẻ nhưng giấc ngủ rất là quý. Ngủ làm sao mà để khỏe làm sao để khuya dậy ngồi thiền đừng hôn trầm. Chứ khuya dậy ngồi thiền mà hôn trầm, công đức mình không có. Ngồi đó mà nó không có cái tỉnh, ngồi đó mà không có cái dụng công, chỉ mê mê mê mê thì đúng là uổng cơm của đàn na tín thí á. Cái đó khó, nó vừa phải là ý chí, vừa phải là công đức mà vừa phải là sức khỏe, vừa phải là ngủ đủ giấc. Nên cái thời khóa thì quý thầy phải tính lại,
[1:02:37]quý thầy phải tính lại như thế nào mà phù hợp với sức khỏe của chúng, phù hợp với cái lối dụng công tu tập của mình. Đó, để còn có thể đi được lâu dài, còn có thể càng già còn chịu đựng được. Chứ nhiều khi mà quá sức, chừng năm mươi mấy rồi là bắt đầu buông tay, năm mươi mấy rồi theo không nổi nữa. Nó vậy. Nên cái thời khóa là cái khôn ngoan và nó có cái linh động chứ nó cũng đừng có cứng ngắc. Vì thời khóa do con người đặt ra thì con người cũng có thể sửa được. Ví dụ như mình nói là 1:30 thức chúng, thức chúng để làm cái gì? Học hay lao tác hay gì đó. Nhưng ví dụ như có người đó lỡ có việc gì
[1:03:22]họ tới 1:00 họ mới đi nghỉ thì nửa tiếng nữa gõ kẻng thức chúng bắt họ dậy rồi thì cơ thể họ cái giấc ngủ nó chưa đủ nạp của cái buổi trưa thì suốt ngày hôm đó là nó bị suy giảm về sức khỏe. Mà nếu không được phục hồi, nó kéo dài qua tới ngày hôm sau, tới tháng sau là người đó bắt đầu có cái mầm bệnh. Mầm bệnh chỉ vì ngày hôm đó dậy sớm nửa tiếng mà không có cơ hội bù lại. Cho nên ví dụ như nói là 1:30 gõ kẻng thức chúng hay là có nơi 2:00 gõ kẻng thức chúng buổi trưa, nhưng mà nếu mình biết cái người đó nãy giờ tiếp khách nhiều quá, đoàn khách tới lui họ tiếp đãi rồi xong khách về hết thì 1:00 mới leo lên giường thì
[1:04:03]lúc á 1:30 gõ kẻng cái nó không thèm dậy, nó ngủ luôn, để yên nó ngủ, đừng kêu. Để yên để cho nó bù được cái giấc ngủ lại thì nó được khỏe mạnh lâu dài. Nhớ mình làm thầy, mấy cái đó mình phải để ý. Tâm phải rất là tinh tấn tu tập nhưng mà phải co giãn với cái thân của mình. Khi còn trẻ đó, thường mình dùng ý chí bắt cái thân mình phải đi theo ý muốn của mình. Nhưng về già, ngược lại, sự tu tập của mình, sự làm việc của mình bắt đầu đi theo cái thân. Vì thân lúc đó nó cho tu thì tu, thân nó không cho tu, nghỉ, quỵ là nghỉ. Đây là cái lúc mà... Cho nên khi mà nhập hạ mà thời khóa răn rắt thế này,
[1:04:46]những cái vị lớn tuổi thế này rất là tội nghiệp. Những vị lớn tuổi này nếu đã tu tới giờ này thì không ai dãi đãi nữa đâu. Mấy vị lớn tuổi này, ví dụ bây giờ nói như là Thượng tọa Minh Trí thôi, giờ nói ổng dãi đãi là chuyện không bao giờ có. Nhưng bây giờ thấy giờ đó sao tôi dậy rồi ổng còn ngủ, đừng nghĩ là ngài dãi đãi. Mà chỉ vì lúc đó cơ thể không cho phép, chắc là ngài nằm thêm một chút để phục sức rồi ngài sẽ tu sau vì ngài không bao giờ dãi đãi, ngài tinh tấn. Vì ngày xưa là chúng tôi ở chung với thầy, chúng tôi biết mà. Thầy là người tinh tấn và giữ được đời sống tu hành tới bây giờ. Nên chúng tôi rất là yên tâm.
[1:05:26]Bây giờ thầy ổng có ngủ, ngủ luôn từ tối hôm qua ổng ngủ luôn tới 11:00 trưa hôm nay mới dậy thì chúng tôi biết chắc chắn có cái lý do chính đáng, không phải là ổng dãi đãi. Chắc chắn. Cho nên cái người lớn tuổi nó khác. Cho nên khi ta đặt ra cái thời khóa thì quý thầy khi mà soạn ra cái thời khóa, quý thầy nhớ giùm như vậy. Cái thời khóa nó là cái khung để giữ ổn định cho chùa, nhưng cái khung đó đừng cứng, đừng cứng ngắc, đừng cố chấp. Trong đó nó có sự mềm dẻo, linh động vì nó còn có công việc, có những tình huống bất ngờ, có vấn đề sức khỏe, bệnh tật, vân vân. Nhớ như vậy. Nhưng thời khóa vẫn là cái khung chính,
[1:06:07]không có lý do gì hết thì phải giữ thời khóa cho nghiêm túc để giữ cái gì? Giữ cái nề nếp của chùa. Còn có lý do thì được quyền di động. Nhưng đó là cái ý nghĩa của thời khóa nha. Quý thầy khi soạn cái thời khóa để ý điều này. Cái điều nữa, cái sự tu tập nữa là nghi thức tụng niệm bái sám. Nghi thức tụng niệm bái sám thì nó là một phần của sự tu chứ nó không phải là toàn bộ sự tu hành, nhớ như vậy. Nhưng mà có những giai đoạn người ta không còn gì để tu nữa thì người ta xem cái việc tụng kinh bái sám là tu, cứ lấy cái tụng đó gọi là tu. Nhưng đến khi mà ta có một cái công phu khác để tu thì nghi thức tụng kinh bái sám chỉ là một phần
[1:06:55]của sự tu thôi, không thể bỏ hoàn toàn. Vì sao vậy? Bởi vì ta bổn phận đối với Phật, mình là con của Phật, mỗi ngày mình phải tới chào Cha của mình mà mình chào Cha của mình bằng một nghi thức, nên nó có cái nghi thức lễ Phật, tụng một thời nào đó. Nghĩa là đó là một đứa con có hiếu, đi đâu về cũng phải xá Phật cái đã, trước khi đi đâu cũng xá Phật cái đã. Đó là bổn phận của đứa con mà. Và trong một ngày tu tập phải có một thời để quỳ trước Cha mình mà nói lên những điều gì đó. Thì khi quỳ trước Cha mình, lạy Cha mình, nói những điều gì đó thì ta gọi đó là thời tụng kinh bái sám. Cho nên trong cái nghi thức mà ta bày tỏ sự
[1:07:38]tôn kính với Đức Phật, đó cũng là cái tu. Nhưng nó không phải là tất cả. Thì ta nói lại, có những giai đoạn mà ta không biết tu gì nữa, ta chỉ tụng thôi, chỉ tụng, đó cũng là một sự khiếm khuyết. Nhưng đến cái giai đoạn bỗng nhiên người ta có cái cách để tu, ví dụ ngồi thiền, nhiếp tâm, thì buộc lòng cái tụng kinh bái sám phải bớt lại để dành cái thời gian kia. Vì cái tu tập mới là quan trọng. Nó tại sao vậy? Bởi vì ta thực hành cái lời Phật dạy mới là quan trọng.
[1:08:19]Giống như bây giờ vì người cha có hai đứa con. Một đứa con lúc nào cũng theo bên cạnh cha mình: "Cha ơi con thương cha lắm. Cha ơi con thương cha lắm". Mà không làm gì hết trơn. Còn một đứa: "Dạ cha cần con làm gì?" Nói: "Ờ con sửa sang cái nhà này, con mở rộng cái khu ruộng kia, con đi chăm sóc công nhân cho cha". Nó đi làm hết. Nó đi làm, nó gánh vác những công việc của cha nó muốn, làm hết. Một đứa lúc nào cũng theo bên cha: "Con thương cha lắm, con thương cha lắm". Vậy ông cha ổng thương đứa nào? Ổng tin cậy đứa nào? Đứa nào ổng cũng thương. Nhưng mà sau này gia tài sự sản lớn nhất thì giao
[1:08:57]cho cái đứa làm theo lời ổng, phải không ạ? Theo cái lịnh của ổng. Còn cái đứa nào cũng đi theo nè léo đẻo cứ nói: "Con thương cha lắm, thương cha lắm" thì thôi cho nó ít tiền nó sống qua ngày cho rồi. Chứ thằng này không làm được gì, không gánh vác được sự nghiệp của cha. Thì Phật cũng vậy. Mình lễ kính Phật, bày tỏ lòng hiếu Phật, nhưng mà suốt ngày cứ lễ riết lễ riết, đụng, nói riết nói riết nói riết, không phải là người gánh vác sự nghiệp của Phật pháp. Mà cái người bắt đầu ta ngồi lặng lẽ ở một cái góc nào đó. Hơi thở vào biết hơi thở vào, hơi thở ra biết hơi thở ra. Cảm giác toàn thân tôi thở vào, cảm giác toàn thân tôi thở ra. Người quán chiếu:
[1:09:34]"Thân này là vô thường, tâm này là vô ngã". Cái người đó đang thực hành lời của Phật dạy. Đó mới là người mà Đức Phật giao cho cái sự nghiệp sau này. Đó là người Đức Phật, chư Thiên, Hộ pháp, Bồ tát bảo vệ để cho người này sau này đứng lên làm được việc lớn. Vì người đó mới gánh vác được. Rồi cái người đó gì không phải là chỉ quỳ lạy Phật riết đâu, mà bắt đầu đi lo tiếp tăng độ chúng. Cái chùa mình ở đây, bài này sau này chúng tôi sẽ nói, mà bây giờ nói trước nhắc chút xíu. Chùa ở đây, bắt đầu dắt thêm người huynh đệ đi thăm các nhà chung quanh hết. Đi thăm từng ờ người, nói: "Tại sao lâu quá không thấy bác qua chùa?" Nói:
[1:10:14]"Bận quá thầy ơi!" Cái mình nói: "Thôi bận gì bận hứa nhớ tới chùa lễ bái. Mà khi dắt con cái mình qua lễ bái gặp quý thầy nhắc cho vài câu thì sau này nó ngoan, nó đỡ hư thì các bác cũng đỡ cực. Chứ bác lớn lên từ từ mà nó lớn lên nó không ngoan rồi sau này bác khổ lắm à. Giờ nó còn nhỏ nè dắt nó qua chùa đi, cho nó gặp quý thầy nó tu". Tức là đi hết nhà này rồi thăm qua nhà kia thăm. Lâu lâu chùa làm một ít bánh cũng đem cho hàng xóm. Đó là sao? Mình độ chúng sinh, gieo duyên chúng sinh, kéo chúng sinh về chùa. Chứ còn mình ở không không nói tiếng nào là chùa quanh năm vắng tanh à, lâu lâu người ta tới một chút vậy thôi.
[1:10:52]Ví dụ cái người đó họ là đạo Phật thì lâu lâu họ tới, còn mình tới trước. Họ không tới chùa thì mình tới mình thăm từng nhà từng nhà trước. Thì cái người như vậy bên trong thì thốc liễm tu hành, thực hành công phu thiền quán; bên ngoài thì tìm cách gieo duyên với chúng sinh, tiếp xúc chúng sinh, đưa họ về chùa, thì người đó là người gì? Người đó là người mà gánh vác sự nghiệp của Phật. Người đó là người mà chư Thiên, Hộ pháp, Bồ tát bảo vệ hết để xây dựng người đó lên. Còn cái người mà chỉ có tụng kinh, lễ bái không, coi vậy chứ không phải là người gánh vác sự nghiệp lớn. Như vậy. Nên ở đây cái trong chùa ta ngoài cái thanh quy,
[1:11:31]thời khóa rồi, ta còn có cái nghi thức tụng niệm sám sám thì quý thầy phải soạn, phải chọn làm thế nào mà cái công phu bái sám đó nó có ảnh hưởng vào cái đời tu của người tu sĩ và nó ảnh hưởng vào cái tâm đạo của cư sĩ khi họ tới chùa họ tụng kinh. Bài kinh tụng nghi thức đó thực sự nó là bài hoằng pháp rất là quan trọng. Chúng tôi cũng hay nói với cái quý thầy ở trên Giáo hội Trung ương á, chúng tôi nói chứ quý thầy đừng coi thường cái Ban Nghi lễ. Thì nào giờ ở trong Giáo hội cái Ban Nghi lễ nó không quan trọng, nó không có quyền hành gì. Ta nói Phật pháp sống còn hay không là cái nghi lễ á, cái nghi thức tụng niệm á.
[1:12:16]Hễ mà nghi thức tụng niệm nó lay động được lòng người, đạo Phật phát triển. Còn nghi thức tụng niệm không ai hiểu hết, chỉ ting ting thôi, đạo Phật tàn lụi từ từ. Như chúng tôi có lần bị được cái ông thầy đó cái chùa rất là to mời đến, đem Phật tử đông về đó giùm để mà hỗ trợ tổ chức cái lễ. Thì hôm đó chúng tôi cũng dắt Phật tử lại rất là đông. Sau khi nghi lễ hành chánh xong tới qua tới tụng niệm thì có cái ông thầy ổng tụng rất giỏi, rất nổi tiếng. Tụng đúng một bài Bát Nhã. Rồi ổng chú nguyện cầu siêu gì đó rồi xuống. Tất cả mọi người thất vọng hết. Phật tử họ nói: "Lần sau con không tới nữa". Thua liền.
[1:12:56]Tức là cái nghi thức tụng niệm khó hiểu, cái bài Bát Nhã đâu phải ai cũng hiểu. Tụi con dự một cái buổi lễ không thấy cái gì làm tụi con cảm xúc hết. Thôi lần sau sư phụ đừng kêu con tới đây nữa. Chết liền. Còn một lần bị ở trên Điện Biên, chúng tôi tới hỗ trợ để làm cái lễ cầu siêu cho cái chiến sĩ liệt sĩ ở đó. Chúng tôi có nguyên cái nghi thức. Từng câu, từng văn vừa nói lên lòng yêu nước, vừa ca ngợi chiến sĩ, cầu siêu chiến sĩ, khuyên chiến sĩ, liệt sĩ về với Phật pháp, vân vân. Cái bài đó hết thức sức là chặt chẽ, cảm động. Ai tụng cũng cảm xúc, quý thầy tụng cũng cảm xúc, ai tụng cũng cảm xúc.
[1:13:38]Và khi họ cảm xúc như vậy cái họ yêu đạo thêm. Họ yêu nước đã đành, yêu các anh liệt sĩ đã đành rồi, nhưng mà họ yêu đạo thêm rất nhiều. Nên cái nghi thức quan trọng lắm. Nghi thức là một cái thủ thuật hoằng pháp. Ví dụ bây giờ mình chưa có ngồi giảng cho họ nghe, nhưng mà chỉ là bài cái tụng kinh hay, cảm động thôi là đã thay bao nhiêu cái bài giáo dục. Từ đó họ mến đạo lần lần, mà nhất là mỗi ngày mỗi tụng nó lần lần nó vào tim, vào óc và nó thành tâm hồn, thành cuộc sống người ta luôn. Cái bài tụng rất là quan trọng. Cho nên quý thầy khi về chùa xây dựng cái chùa mình lại vui lòng nghiên cứu lại cái nghi thức tụng niệm bái sám của chùa mình.
[1:14:20]Vì nó chính là con đường tâm linh của chùa mình, nơi cái nghi thức tụng kinh bái sám này. Đừng có cái mà xưa bày nay bắt chước nữa, phải mạnh dạn cải cách để làm sao nó tràn đầy đạo lý, dễ hiểu, cảm xúc mà từ cái em bé tới cụ già và người tu sĩ đều có cảm xúc, đều được ích lợi từ cái bài tụng đó. Nên phải mạnh dạn cải cách cái nghi thức này. Tham khảo nhiều nơi, tham khảo trong trường hợp này tụng bài nào, trong trường hợp kia tụng bài nào. Tức cười nhất là mấy thầy mình chỉ có cái Đại Bi với Bát Nhã mà đem đi mà xài, ăn không biết bao nhiêu tiền của người ta, cứ Đại Bi, Bát Nhã không. Mà hai bài đó không có nghĩa gì hết.
[1:15:03]Bát Nhã họ không hiểu nổi, Đại Bi là càng không có nghĩa gì, mà cứ đem đi ăn tiền người ta.
[1:15:10]Mà lại thỏa mãn, chết cái đó. Nên bây giờ phải nghiên cứu lại, quý thầy phải nghiên cứu lại, có khi quý thầy phải sáng tạo. Có một số trường hợp phải tự mình sáng tạo. Đó là lý do mà năm ngoái chúng tôi phải bắt quý thầy tập làm thơ hết là vậy. Năm ngoái mà ai có nhập hạ nhớ, năm ngoái tôi bắt tập làm thơ, hướng dẫn lại cách làm thơ để chi vậy? Mình mới soạn những bài kệ sám trong cái trường hợp đó. Ví dụ bây giờ nói chớ hôm đó làm ờ đi tụng cái đám ma. Mình đến tụng đám ma là cha chết, cha chết mẹ chết. Mẹ chết thì có nhiều bài sám á, chứ cha chết bắt đầu ít rồi đó. Nhưng bây giờ bữa đó người ta tới là cái ông bà già
[1:15:51]ổng, con ổng chết, mình có bài sám nào không? Chưa bao giờ có. Khi mà nghe người ta nói là: "Trời ơi thầy ơi, con con mất rồi" thì mình phải biết ngay Di Đà, Đại Bi, Bát Nhã không xài được đâu. Tụng cho vui thôi, cần bài sám riêng trong trường hợp mà cha mẹ khóc con. Tụng làm sao mà người cha mẹ khóc con thì cái lòng thương con đó là đương nhiên, nhưng mà phải hướng về Phật pháp, khuyên con mình đi theo Phật trong cái cõi kia, rồi mình cũng tu để mà tìm cái phước cho con mình luôn. Tức là nó là một bài sám mới hoàn toàn mà chưa từng có ai soạn, chưa từng ai soạn cả. Quý thầy phải soạn ra. Quý thầy phải ngồi ở chùa đó đặt bút xuống nửa tiếng đồng
[1:16:36]hồ sau có một bài kệ ngắn, nó không dài lắm, nửa tiếng thì không ra một bài sám dài, nhưng nó cũng được tám câu, mười câu gì đó, lại đó bắt người ta cùng tụng, bắt người ta tụng với mình thì nó độ được người ta và người ta cảm động, nó đúng với trường hợp. Như vậy. Hoặc là có người nói: "Trời ơi thầy ơi, chị con bị đụng xe chết". Lấy bài nào tụng? Đại Bi, Bát Nhã à? Di Đà? Phải có một bài tụng liền. Nên cái nghi thức tụng niệm bái sám phải là một sự sáng tạo vô tận trong rất nhiều hoàn cảnh.
[1:17:12]Giống như vậy, ngay khi mà thấy được nỗi khổ địa ngục, chúng tôi soạn liền cái loạt bài sám là sám độ chúng sinh dưới địa ngục. Rồi khi thấy mà chúng sinh chết nước, họ không siêu nổi, họ cứ kẹt ở cái bến nước đó hoài không về được, chúng tôi phải soạn cái bài siêu độ cho những chúng sinh bị chết nước. Rồi cái những cái đến những cái nghĩa trang liệt sĩ, thấy các liệt sĩ không biết Phật pháp, thời trẻ đi chiến đấu rồi đâu biết tu, thế là phải soạn bài sám để dành riêng nói chuyện với các anh. Đó, tụng niệm khuyên các anh tu hành, vừa là cầu siêu mà vừa là nói đạo lý. Tức là ứng biến ứng biến trường hợp.
[1:17:48]Sau này các bài sám đó được các nơi sử dụng là vậy, vì nó nó phong phú, nó đa dạng, thích ứng được nhiều hoàn cảnh. Nhưng mà cũng chưa hết, đầy đủ. Nên quý thầy vậy, phần mà nghi thức tụng niệm bái sám của các chùa mình phải sáng tạo, đổi mới, bổ sung. Giống như trên chùa chúng tôi có nghi thức là sám cầu mưa. Nghe chữ sám cầu mưa ai cũng mắc cười, nói: "Sao đạo Phật mà nói sám cầu mưa giống như là là là thầy bùa, thầy pháp nghe". Thì tụng đi thì biết. Mà đúng là tụng lên là toàn đạo lý không. Phân tích tại sao hạn hán, do cái lối sống sai lầm, bây giờ mình thay mọi người mình sám hối điều đó và nguyện sống
[1:18:27]tốt, truyền bá Phật pháp để cho mọi người biết tu tập làm phước. Cho nên mình hứa điều đó, giờ xin thôi mưa xuống trước đi rồi mình tu sau, mình giáo hóa sau. Cũng là hứa nhưng mà nó có đạo lý, tràn đầy đạo lý. Mà cũng rất linh rồi nha, nhiều nơi tụng thấy có mưa thiệt chứ không phải không. Đó. Nhất vậy. Đó đó nhiều cái vậy nên cái phần mà nghi thức bái sám quý thầy về sáng tạo lại. Đừng có kiểu mà xưa ông thầy mình ổng cho tụng cái gì giờ mình cũng tụng y chang như vậy, đạo Phật tiêu à. Lớp trẻ nó không tới chùa nữa à. Nhớ, lớp trẻ nó không tới chùa nữa. Vì sao? Tụng nó không hiểu. Thứ hai, cái điệu tụng xưa rồi quê, nó bây giờ thích nhạc hip-hop, pop rock đó.
[1:19:12]Đó mà bây giờ là là là bắt nó tụng cái điệu cổ xưa gọi là cải lương nó không thích. Mà nó không tới chùa, làm gì nhau? Cho nên phải thu hút, như ở chùa chúng tôi vậy, chúng tôi có những nghi thức chỉ hát nhạc thôi. Nghi thức hát nhạc thôi. Như cái Tâm Tự Quy Y soạn thành một bài nhạc luôn. Trời, cái lớp trẻ thanh niên nó theo rần rần luôn. Bởi vì sao? Vì đúng cái tâm lý của nó, đúng cái sở thích của nó. Ví dụ khi nào tụng cổ thì tụng, nhưng mà lại có những bài chỉ là là hát thôi. Ví dụ như cái bài sám hối, bài sám hối là nguyên một bài nhạc, bài hát đó. Điệu ba bốn đàng hoàng phát lên, có ca sĩ hát chuẩn mực,
[1:19:55]ở dưới này đại chúng hát theo, bài rất là cảm động.
[1:20:01]Thôi thế này, thế này để báo với thầy à chúng trưởng với thầy à chánh a phó na giùm. Tối nay giới thiệu một cái đoạn nhạc hát đi coi. Cái bài sám hối á, nha. Cho quý thầy nghe cho biết, cũng là một cái giới thiệu. Đó là nghi thức rất đổi mới và rõ ràng thu hút được quần chúng. Giống như khi lễ Phật Đản vậy đó. Lễ Phật Đản mà bao nhiêu ngàn con người đến vậy nè. Nghĩa là sau khi mà niệm hương xong, lễ Phật xong, tất cả thầy trò cùng cầm hát cái bài bài Người Đã Đến để mừng Phật Đản. Người đã đến với trần gian mà. Ai cũng cầm mình phát bài loa ra, có ca sĩ hát rất chuẩn, tất cả mọi người mười mấy
[1:20:42]ngàn con người cùng hát và có những người hát vừa hát vừa khóc. Mà toàn là nhạc hiện đại nên lớp trẻ rất là thích, rồi bà già không biết gì hát riết cũng thích luôn. Vì cái âm nhạc nó có cái sức lay động lòng người. Người đã đến bao la như muôn mặt trời.
[1:21:03]Người đã đến đem cho tin yêu nghìn nơi.
[1:21:11]Người bước tới hoa sen nở rồi.
[1:21:17]Chiều tiếng hát vang lên mừng vui.
[1:21:24]Cả thế giới thương đau đang mỏi mong đợi chờ.
[1:21:33]Đại khái vậy, muốn nghe nữa thì lấy máy nghe. Đó, thế là cả mười mấy ngàn, hai mươi mấy ngàn con người cùng hát lên, biến thành cái cảm xúc mà đó là nhạc hiện đại. Cho nên là quý thầy vậy trong cái phần mà nghi thức tụng niệm bái sám phải mạnh dạn cải cách để mà thu hút được cái lớp người trẻ tới chùa. Nhớ đừng có cái mộc. Cả mấy trăm năm xưa đã dùng bây giờ mình dùng tiếp chết à, chết à. Đó, phải mạnh dạn cải cách. Bây giờ tới cái phần nữa là công phu thiền quán. Đây là bắt đầu tới cái chỗ vô hình vô ảnh. Đây mới là cái bí ẩn của người tu á, cái công phu thiền quán. Nào giờ ta nói thờ kính Phật nha,
[1:22:14]thanh quy, thời khóa, nghi thức tụng niệm, những cái đó hữu hình. Giới luật là bắt đầu vô hình rồi. Mà tới cái công phu thiền quán lại càng bí ẩn, vô hình hơn nữa. Và chính cái công phu thiền quán này nó mới thực sự là một cái cõi riêng của người tu, vượt hẳn người đời. Đó, đây là cái khác. Ta làm thầy tu, người tu sĩ mà không có công phu thiền quán thì mình không có cách người thế tục bao nhiêu đâu. Nếu mình có công phu thiền quán, thực sự mình mới cách biệt với người thế tục đó. Nhưng tôi nhớ cái câu này coi. Rồi, ừ, lâu không lặp lại nghén. À: "Người tu phẩm hạnh khác xa, cách người thế tục những ba dặm trời.
[1:23:06]Bên ngoài vui vẻ nói cười, mà trong thút liễm cả đời chân tu." Nhớ như vậy. Khi họ gặp ông thầy tu thì người thầy tu cũng vui vẻ nói cười nhưng mọi người, nhưng mà bên trong khác á, thút liễm cả một đời tu hành. Người ngoài không hiểu hết. Nên người tu phẩm hạnh khác xa, cách người thế tục những ba dặm trời. Bên ngoài vui vẻ nói cười, mà trong thút liễm một đời chân tu. Như vậy, mà đây chính là cái công phu thiền quán của ta. Thì cái công phu thiền quán này có nhiều pháp môn, nhiều đường lối, nhiều tông phái.
[1:23:47]Không cần biết, nhưng phải có một điểm chung thì mới được gọi là đạo Phật, là hướng về vô ngã.
[1:23:56]Còn mình tu mà không hướng về vô ngã thì vẫn còn là ngoại đạo, nhớ như vậy. Dù đắc thiền, giống như Đức Phật mà học với ông Uất Đầu Lâm Phất, với ông Kamalam Kalara, học chứng thiền chứng thần thông luôn với hai ông đó luôn và chứng rất nhanh. Mà Đức Phật chỉ hỏi là: "Còn bản ngã hay không?" Hai ông kia ú ớ, Đức Phật phải đành phải bỏ đi. Và ngài phải tự tu dưới cội bồ đề để khi diệt hẳn hoàn toàn bản ngã mới đắc thành vô thượng bồ đề. Thì đó mới gọi là đạo Phật. Cho nên, cái con đường mà đi đến vô ngã rất là xa, không biết bao nhiêu muôn kiếp nữa. Nhưng ta phải hướng về đó thì đó mới là đạo Phật.
[1:24:39]Còn không hướng về vô ngã thì không phải đạo Phật à. Cho nên là quý thầy có thể là cái công phu nói: "Dạ, tôi không có thiền, tôi niệm Phật." Niệm Phật cũng là thiền, phải không ạ? Cũng là nhiếp tâm. Ờ người đó nói: "Dạ, tôi tu là tôi tu theo thiền tông, tôi tu tìm chân tâm Phật tánh." Cũng là nhiếp tâm. Hoặc: "Tôi tu hơi thở, càng giống với Phật, càng tốt." Người nói, thế là: "Tôi tụng chú." Cũng là nhiếp tâm. Đó. Nhưng mà tu gì tu không biết, phải hướng về vô ngã. Tu làm sao để diệt trừ bản ngã. Thì đó là đúng đạo Phật. Cho nên, trong cái công phu mà quán niệm hơi thở, Đức Phật dạy kỹ lắm. Là sau khi dạy cái ban đầu là khí công
[1:25:27]á, là hơi thở vào biết hơi thở vào, hơi thở ra biết hơi thở ra, hơi thở vào dài biết hơi thở vào dài, hơi thở ra dài biết hơi thở ra dài, cảm giác toàn thân tôi thở vào, cảm giác toàn thân tôi thở ra, tức là những giai đoạn đầu Phật dạy toàn khí công không. Sau khi mà ta đắc khí rồi, bắt đầu sức tỉnh giác trào dâng rồi, bắt đầu Đức Phật mới dạy thêm cái tác ý: Hơi thở vào diệt tham, hay là diệt tham tôi thở vào, ly tham tôi thở ra, với tâm định tĩnh tôi thở vào, với tâm định tĩnh tôi thở ra. Tức là những phần sau là bắt đầu diệt trừ từ từ những cái tâm xấu tâm xấu mà đi, đi sâu đào sâu đào sâu mà diệt trừ bứt bản ngã luôn à.
[1:26:11]Cho nên, khi ta niệm Phật không biết, niệm sao cho vô ngã, niệm sao đừng thấy mình niệm, niệm làm sao mà lòng mình chan hòa với chúng sinh. Niệm chú cũng được, mà niệm sao đi tới vô ngã diệt trừ bản ngã. Còn mình hơi thở, lỡ nó đắc khí nó phát thần thông, cũng nhớ giùm là vô ngã, hướng về vô ngã, đừng tìm cái khác. Cái công phu tâm linh bí mật này bắt đầu mới là cái lõi của người tu. Đây là cái khoảng cách của người tu đối với người thế tục. Và trong đạo Phật ta nhiều tông phái, nhiều pháp môn. Nhưng mà đừng bao giờ bỏ một cái chung, để chúng ta có thể yêu thương nhau được, đoàn kết hòa hợp với nhau được, là cái vô ngã. Ví dụ như nói là:
[1:26:57]"Ông thầy ổng tu tịnh độ, à tôi tu thiền, ông kia tu mật." Nhưng mà ngồi lại vẫn thương nhau được, vẫn quý nhau được, bởi vì ba chúng ta đều đi về vô ngã. Đều đi tìm cái vô ngã, và trên con đường đi tìm tới vô ngã mình không còn thấy có cái thân sơ thù ghét gì nữa, chỉ còn cái lòng từ bi thôi. Cho nên ông đó niệm Phật, ông tu thiền, ông kia niệm chú, nhưng vì ba người chúng tôi đều tìm vô ngã, cho nên gặp nhau như anh em trong nhà, như tình ruột thịt trong nhà. Và cái đó mới chịu gọi là tình Linh Sơn cốt nhục vậy. Ta thương nhau được là vì lý do đó. Còn nếu mà mình không hướng về cái vô ngã chung: "Không, tôi không chơi.
[1:27:37]Tôi là niệm Phật à, vãng sanh à, còn ổng tu khác tôi, tôi không chơi." Đó, cách nhau liền, đạo Phật bị chia rẽ liền, mất hòa hợp liền. Nhưng mà mình biết vãng sanh hay không vãng sanh, anh chứng triết gì đó không biết, nhưng mà đi tìm cái vô ngã thì chúng ta vẫn là anh em, chúng ta vẫn là con của Đức Phật, vẫn chung cái dòng máu từ bi này, vẫn là cùng cái tình Linh Sơn cốt nhục này. Nên cái vô ngã là quan trọng trong cái công phu thiền quán. Thì ở đây, hôm giờ là chúng tôi cũng chưa có trực tiếp lên trong các buổi ngồi thiền để hướng dẫn. Thì mà tối chiều nay có thể mắc phải đi Long An để giảng.
[1:28:18]Nên một buổi nào chắc cũng gần đây thì chúng tôi sẽ trực tiếp lên trên để cũng giới thiệu, hướng dẫn về cái phương pháp thiền từ thời Đức Phật nguyên thủy về hơi thở để quý thầy tham khảo. Là nhớ tu gì tu thì cái thời nguyên thủy Đức Phật dạy cái gì, ta phải biết. Nha, rồi sau này muốn phát triển đi đâu tùy cái duyên của mình. Nhưng mà cái Phật dạy từ thời mà ban đầu nhất, chứa đựng cái trí tuệ của một bậc đại giác nhất thì ta phải biết, phải lão luyện, nha. Như vậy hôm nào vậy. Rồi cuối cùng ta một cái ý cuối của cái bài hôm nay là: Chùa cũng mở cửa cho quần chúng, cư sĩ, Phật tử đến tu tập. Chứ không phải chỉ của người tu.
[1:29:02]Tức là chùa là nơi của tu sĩ ở và tu, nơi thờ Phật. Nhưng cái đặc biệt là chùa mở để cho cư sĩ tìm về tu tập, quy y, nương tựa, ờ thậm chí là khổ đau quá né đời cũng được, vân vân, ý Nghĩa là chùa là nơi bao dung, bao dung của những người thích tu và bao dung cả những người đau khổ, miễn họ đừng quậy. Họ quậy thì buộc lòng mình không cho ở chùa nữa, còn nếu họ trong lúc khổ sở mình vẫn dung chứa hoặc là người thiết tha tu hành mình vẫn mở cửa đón. Có người đi tu luôn thì càng tốt mà cái người không đi tu luôn, tu ngắn hạn mình vẫn dung chứa, hướng dẫn, dạy dỗ hết. Nên cái mối cách thức giáo dục thì thôi những bài sau ta sẽ nói,
[1:29:55]nhưng mà trong các chức năng của một ngôi chùa gọi là chức năng tu tập thì có một cái chỗ rất lớn, một cái room rất lớn, một cái không gian rất lớn, một cái nơi cái vị trí rất lớn, một sự ưu đãi rất lớn dành cho người cư sĩ tới chùa tu tập. Cho nên quý thầy phải thiết kế cái điều này, đó, khi quý thầy đi về chùa, quý thầy phải thiết kế. Bây giờ mình mở khóa tu hàng tuần Chủ nhật cho cái mấy em nhỏ sẽ tu cái nào, người già sẽ tu thế nào, cái thanh niên nó đi học đi làm nó rảnh nó tu là làm sao, mình mới vạch ra cái đường lối để giáo hóa hết. Rồi khi quý thầy vạch ra vậy nói: "Thưa thầy ơi, chùa tôi cái am nhỏ."
[1:30:40]"Am nhỏ được, nhưng mà thầy có khả năng dạy chúng hay không?" Nói: "Có." "Cái bài kinh thầy người ta tụng có hiểu cảm xúc không?" Nói: "Có, có đổi mới rồi, có cảm xúc." "Thầy có tu hành có kinh nghiệm không?" Nói: "Cũng có sơ sơ." "Thầy dạy, giảng một bài đạo đức được không?" Nói: "Được." "Vậy thầy phải mở lớp dù cái am thầy nhỏ." Nói: "Am nhỏ chỗ đâu ngồi?" Năm bảy thầy trò ngồi trước hiên mà nói chuyện, rồi Hộ Pháp mở ra. Hộ Pháp, chư thiên có nhiệm vụ mở cái cái am của thầy cho nó lớn ra. Các ngài sẽ dùng thần thông mở cái am của thầy lớn ra nếu việc thầy giáo hóa là chính đáng. Nếu thầy giáo hóa đúng chánh pháp thì chư thiên có nhiệm vụ mở cái am thầy ra.
[1:31:25]Còn bây giờ chính trong lúc cực khổ, chính trong lúc thiếu thốn điều kiện mà thầy vẫn tinh tấn tu, vẫn mở cửa giáo hóa Phật tử thì đó mới là cái thử thách, đó mới là cái nhân để sau này phát triển thành cái ngôi chùa to, nhớ như vậy. Chứ đừng đòi hỏi là: "Thôi, phải có chùa to rồi tôi mới cho Phật tử vô tu." Không, sai. Ta phải bắt đầu từ cái chỗ mà ta thiếu thốn. Công đức bắt đầu từ cái sự cực khổ thiếu thốn mới là công đức, nhớ như vậy. Cho nên cái am tôi nhỏ quá, nhỏ dạy theo nhỏ, ít dạy theo ít, đó, là vẫn tìm cách thu hút mấy đứa nhỏ về dạy theo mấy đứa nhỏ, người lớn về dạy theo lớn, chỉ có một cái tinh tế về giới luật cẩn
[1:32:13]thận, ví dụ như những đứa nhỏ nó tới có các em gái, thì em gái nó con nít đừng nghĩ nó con nít, vài năm nó lớn ấy dậy thì nó phát triển liền. Cho nên vẫn phải rất nghiêm khắc giữ một khoảng cách, đừng có gần gũi mấy đứa con gái. Vẫn cho nó cơ hội để tới học tập, tu tập nhưng phải giữ khoảng cách. Và mấy bà già đó, đừng tin bà già, kể cả bà già phải giữ khoảng cách. Vì sao vậy? Vì bả vẫn còn ở cõi dục. Nói: "Bà già rồi còn dục gì?" Vô hòm rồi vẫn còn dục, chết làm ma rồi con ma đó vẫn còn dâm dục. Cho nên phải giữ khoảng cách, thì đó là cái lớp học của mình, cái khóa tu của mình, việc độ sinh của mình nó sẽ bền.
[1:33:00]Còn nếu mình thân mật thì nó không lâu. Không lâu, nó vỡ không lâu, mà ta dễ bị cái thân mật là do cái gì? Do cái bản năng lừa ta, bản năng trong tâm mình nó lừa. Mình thấy quý mến cái người đó, mình nghĩ là à chắc là duyên thầy trò sâu đậm, nhưng không, cái quý mến đó là bản năng ái dục bí mật nó chi phối, chả phải duyên thầy trò gì cả. Nên phải nghiêm khắc điều này. Khi mà thấy quý mến, biết đây là bản năng. Dù có duyên gì cũng phải giữ khoảng cách, thì cái việc mà giáo dục Phật tử ta sẽ được bền, nhớ như vậy. Thì hôm nay ta nói chuyện đến đây, quý thầy về quý thầy viết lại hết giùm nha, những điều hiểu về điều này,
[1:33:42]có những cái sáng tạo thêm và những cái ví dụ cụ thể thêm càng tốt. Đó, những điều chúng ta nói là tổng quát, khi quý thầy làm bài cố gắng đưa những ví dụ cụ thể ra. Thanh quy cái gì là cụ thể? Tại sao thanh quy lúc đó là phải phải cấm là là nói giờ đó không được rửa mặt, giờ đó quá giờ không được ăn cơm, phải giải thích tại sao, vân vân vân vân như vậy nha. Rồi chúc quý thầy khỏe, vui làm bài. Mà kỳ này thì không có thời gian nhiều. Qua sáng mai chúng ta có Hòa thượng Viên Giác về giảng, rồi thứ Hai tuần sau mình lại học tiếp phải không ta? Thứ Hai tuần sau học tiếp, nên quý thầy kỳ tuần này thời gian
[1:34:22]làm bài rất là ngắn, cố gắng dồn sức làm bài cho nhiều nha. Thôi, ta hồi hướng. Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ.
[1:34:39]Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn.
[1:34:49]Pháp môn vô lượng thệ nguyện học.
[1:34:59]Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.