Lời giảng: Kinh Nikaya 28 - Kinh Người Biết Sống Một Mình

  • Thuyết giảng: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Thời lượng: 1:24:25

Toàn văn lời giảng, chép từ phụ đề. Bấm vào mốc thời gian để nghe đúng đoạn đó.

[0:09]Là bài kinh này cũng có một thầy đã viết cuốn sách giảng về nó. Nhưng mà thôi, kệ mình thì cứ mỗi người cũng có một cái nhìn của mình. Thì lần này á sau khi nghe giảng xong, tất cả mọi người cố gắng viết lại một bài giảng về bài kinh này. Ai cũng phải viết hết, đừng có ai bỏ. Sau cái bài kinh chính thì đều tụng cái bài kinh này thay cho bài Bát-nhã.

[0:39]Cái đoạn kệ thôi, còn nguyên bài như thế này thì chúng ta đọc nghe: "Như vầy tôi nghe, một thời Thế Tôn ở Savathi, Vườn Kỳ Viên, Tịnh xá ông Cấp Cô Độc. Ở đấy, Thế Tôn gọi các tỳ-kheo: 'Này các tỳ-kheo'. 'Thưa vâng, bạch Thế Tôn'. 'Này các tỳ-kheo, ta sẽ giảng cho các ngươi Nhất Dạ Hiền Giả, tổng thuyết và biệt thuyết. Hãy nghe và suy nghiệm, ta sẽ giảng'. 'Thưa vâng, bạch Thế Tôn'. Thế Tôn giảng như sau: 'Quá khứ không truy tìm, tương lai không ước vọng. Quá khứ đã đoạn tận, tương lai lại chưa đến. Chỉ có pháp hiện tại, tuệ quán chính là đây. Không động, không rung chuyển, biết vậy nên tu tập.

[1:30]Hôm nay nhiệt tâm làm, ai biết chết ngày mai. Không ai điều đình được với đại quân thần chết. Trú như vậy nhiệt tâm, đêm ngày không mệt mỏi, xứng gọi Nhất Dạ Hiền, bậc an tịnh trầm lặng'.

[1:50]Quá khứ không truy tìm, tương lai không ước vọng. Quá khứ đã đoạn tận.

[2:00]Quá khứ đã đoạn tận.

[2:04]Tương lai lại chưa đến.

[2:11]Đó là đoạn thứ nhất, bốn câu đoạn thứ nhất. Đoạn thứ hai: Chỉ có pháp hiện tại. Câu thứ năm đó: Chỉ có pháp hiện tại. Tuệ quán chính là đây. Hay chính ở đây cũng được. Tuệ quán chính là đây. Không động, không rung chuyển.

[2:38]Biết vậy nên tu tập. Chỉ có pháp hiện tại, tuệ quán chính là đây, không động, không rung chuyển, biết vậy nên tu tập. Đó là đoạn thứ hai. Giờ đoạn thứ ba:

[2:56]Hôm nay nhiệt tâm làm.

[3:01]Hôm nay nhiệt tâm làm.

[3:06]Ai biết chết ngày mai.

[3:10]Ai biết chết ngày mai. Không ai điều đình được.

[3:16]Không ai điều đình được

[3:22]với đại quân thần chết. Không ai điều đình được với đại quân thần chết.

[3:32]Trú như vậy nhiệt tâm.

[3:38]Trú như vậy nhiệt tâm. Đó là đoạn thứ tư đó, cuối. Trú như vậy nhiệt tâm, đêm ngày không mệt mỏi.

[3:48]Đêm ngày không mệt mỏi.

[3:52]Xứng gọi Nhất Dạ Hiền. Xứng gọi Nhất Dạ Hiền.

[4:02]Bậc an tịnh trầm lặng. Bậc an tịnh trầm lặng.

[4:10]Và này các tỳ-kheo, thế nào là truy tìm quá khứ? Vị ấy nghĩ: 'Như vậy là sắc của tôi trong quá khứ', và nó truy tìm sự hân hoan trong ấy". Bắt đầu là văn xuôi, Phật nói chuyện. "Bậc an tịnh trầm lặng" là hết. Đọc lại ha.

[4:31]"Quá khứ không truy tìm, tương lai không ước vọng. Quá khứ đã đoạn tận, tương lai lại chưa đến. Chỉ có pháp hiện tại, tuệ quán chính là đây. Không động, không rung chuyển, biết vậy nên tu tập. Hôm nay nhiệt tâm làm, ai biết chết ngày mai. Không ai điều đình được với đại quân thần chết. Trú như vậy nhiệt tâm, đêm ngày không mệt mỏi, xứng gọi Nhất Dạ Hiền, bậc an tịnh trầm lặng". Phật nói tiếp: "Và này các tỳ-kheo, thế nào là truy tìm quá khứ? Vị ấy nghĩ: Như vậy là sắc của tôi trong quá khứ, và nó truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy là thọ của tôi trong quá khứ. Như vậy là tưởng của tôi trong quá khứ.

[5:21]Như vậy là hành, là thức của tôi trong quá khứ, và nó truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này các tỳ-kheo, là truy tìm quá khứ.

[5:32]Và này các tỳ-kheo, thế nào là không truy tìm quá khứ? Nó nghĩ: Như vậy là sắc của tôi trong quá khứ, và nó không truy tìm sự hân hoan trong ấy. Thọ, tưởng, hành, thức cũng vậy. Và này các tỳ-kheo, thế nào là ước vọng tương lai? Vị ấy nghĩ: Mong rằng như vậy sẽ là sắc của tôi trong tương lai, và nó truy tìm sự hân hoan trong ấy. Mong rằng như vậy sẽ là thọ của tôi, và nó truy tìm sự hân hoan trong ấy. Tưởng, hành, thức đều như vậy. Còn thế nào là không ước vọng tương lai? Thì mong rằng như vậy sẽ là sắc của tôi trong tương lai, và nó không truy tìm sự hân hoan trong ấy. Thọ, tưởng, hành, thức cũng giống như vậy.

[6:14]Và này các tỳ-kheo, thế nào là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại? Ở đây, này các tỳ-kheo, có kẻ vô văn phàm phu (vô văn là không có học, không chịu học), không hiểu rõ các bậc thánh, không thuần thục pháp các bậc thánh, không tu tập pháp các bậc thánh, không hiểu rõ các bậc chân nhân, không thuần thục pháp các bậc chân nhân, không tu tập pháp các bậc chân nhân, quán sắc là tự ngã, hay quán tự ngã là có sắc, hay quán sắc là trong tự ngã, hay quán tự ngã là ở trong sắc, hay vị ấy quán thọ, tưởng, hành, thức cũng giống như vậy (có ngã hay là ngã ở trong đó). Và như vậy, này các tỳ-kheo, là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại.

[7:02]Và này các tỳ-kheo, thế nào là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại? Ở đây, này các tỳ-kheo, có vị đa văn thánh đệ tử (đa văn là học nhiều), hiểu rõ các bậc thánh, thuần thục pháp các bậc thánh, tu tập pháp các bậc thánh, hiểu rõ các bậc chân nhân, thuần thục pháp các bậc chân nhân, tu tập pháp các bậc chân nhân. Vị ấy không quán sắc là tự ngã, không quán tự ngã là có sắc, không quán sắc trong tự ngã, không quán tự ngã ở trong sắc. Thọ, tưởng, hành, thức cũng giống vậy. Như vậy, này các tỳ-kheo, là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại". Rồi Phật lặp lại: "Quá khứ không truy tìm, tương lai không ước vọng", vân vân.

[7:43]"Khi ta nói: Này các tỳ-kheo, ta sẽ giảng cho các ngươi Nhất Dạ Hiền Giả, tổng thuyết và biệt thuyết, chính duyên ở đây mà nói như vậy". Đó là hết bài kinh. Nay ta học bài kinh ngắn như vậy.

[7:56]Hôm nay thì mình học thêm một phương pháp để nhiếp tâm. Chúng ta nhớ cái bài kinh Tiểu Không là cái phương pháp để nhiếp tâm là gì? Có ai nhớ không? Sư Hạnh thì chắc không nhớ, mới có học đâu mà nhớ.

[8:16]Ai nhớ? Ai nhớ phương pháp nhiếp tâm của bài kinh Tiểu Không?

[8:24]Tức là trên không gian, trên sự vật đi từ cái phức tạp, đi lần đến cái đơn giản ha, rồi khi bỏ luôn cái đơn giản đó thì nhập vào Không vô biên xứ định. Đó là bài kinh Tiểu Không. Còn bài kinh này thì đi trên thời gian. Hễ tâm mình mà khởi vọng tưởng thì luôn luôn xuất hiện khái niệm thời gian, luôn luôn xuất hiện khái niệm thời gian. Bởi vì những sự vật, sự việc mà mình liên tưởng đến, mình nghĩ đến đều có một cái thời gian gắn theo đó. Như khi mình nghĩ về một người bạn nào của mình thì luôn luôn mình gắn cái người bạn đó ở trong một khung cảnh nào, ở trong một thời điểm nào. Đó, mọi cái ý nghĩ của mình,

[9:11]mọi cái đối tượng mà mình nhớ nghĩ đều gắn với thời gian. Như vậy nếu mà mình dứt cái yếu tố thời gian, đừng có suy nghĩ cái gì mà bị chi phối bởi thời gian, thì ngay lúc đó mình còn cái đối tượng để suy nghĩ hay không? Còn không? Dám là còn lắm á. Còn không? Không còn nữa. Ngay cả cái ước mơ của mình vậy, ví dụ như mình mơ mộng sau này mình sẽ cất một cái ngôi chùa để đời lại làm cái dấu hiệu cho văn hóa của Phật giáo, thì như vậy nó có thuộc về một thời gian không? Nó cũng thuộc về thời gian tương lai phải không? Có khi tương lai đó chưa xác định rõ nhưng nó vẫn có cái khái niệm thời gian gắn vào trong đó.

[10:06]Như vậy mọi ý nghĩ của mình dù là truy tìm, hối tiếc hay là ước mơ, hy vọng đều có gắn với cái khái niệm thời gian. Nếu mà mình gạt bỏ mọi cái yếu tố thời gian thì lập tức không còn một đối tượng, một đề tài nào để mình suy nghĩ. Đó là phương pháp nhiếp tâm. Bây giờ ở đây chúng ta sẽ đưa ra một câu hỏi khó nhất:

[10:36]Thời gian là gì? Thời gian là gì? Ai định nghĩa được khen hay.

[10:45]Nếu chúng ta định nghĩa được, chúng ta hay hơn các nhà bác học. Bởi vì đến bây giờ các nhà bác học vẫn chưa định nghĩa được thời gian là gì. Vậy mà trong đạo Phật mình có câu định nghĩa, lạ lùng. Bây giờ chúng ta ngừng 3 phút để tìm câu trả lời: Thời gian là gì?

[11:09]Ngài Long Thọ ngài có... Không biết sau này mình có duyên học Trung Quán Luận không? Nếu mà sau này có duyên mình học Trung Quán Luận thì ở đây ai cũng giỏi á. Luận đó là khó nhất của Đại thừa Phật giáo. Trong Trung Quán Luận ngài Long Thọ có nói thế này: "Thời gian không có thật". Mà tại sao thời gian không có thật? Vì lý do thế này: Chúng ta nhìn từ thay đổi của sự vật mà lập ra khái niệm thời gian. Ví dụ như khi thấy một người mới sinh, khi thấy người đó lớn, khi thấy người đó già, tóc bạc, khi thấy người đó chết, và chúng ta nghĩ rằng khái niệm có thời gian ha, để cho cái sự vật nó thay đổi như vậy, từ lúc con người sinh ra

[12:00]cho tới đến lúc chết, nó phải trải qua một giai đoạn thời gian. Đó, thời gian nó dính gắn liền với sự thay đổi của sự vật. Ví dụ nữa là chúng ta thấy một cái hoa nở buổi sáng, đến chiều mình thấy nó nó nó héo lần, héo lần. Nó chính cái sự thay đổi của sự vật mà làm chúng ta lập ra khái niệm thời gian. Ở đây, cái sự lập ra nó không có phải là hoàn toàn do cái chủ quan của mình, mà có nghĩa là thế này:

[12:33]là sự vật nó trôi trong một khoảng thời gian nên nó bị thay đổi,

[12:40]hoặc là sự vật, vì sự vật thay đổi nên có khái niệm thời gian?

[12:51]Ở đây chúng ta chọn cái nào?

[12:56]Thôi, câu đó mình ngừng lại, mình nói câu này qua trong thiền định. Trong lúc mà chúng ta ngồi thiền á, khi mà tâm nhiếp được thì khái niệm thời gian nó dường như lần lần biến mất. Quý sư có đồng ý điều đó không? Có đồng ý không? Vì sao?

[13:19]Vì sao?

[13:23]Vì sao khi mà trong thiền định, khi tâm chúng ta yên tĩnh, vọng tưởng lắng sạch thì dường như không còn thời gian nữa? Vì sao?

[13:36]Mời cô. Quên rồi. Quên. Đó là cô nói theo kinh nghiệm, mình quan sát trực tiếp, nhưng ở đây mình nhìn thẳng vào bản chất. Cô gì nè? Hạnh hả? Không, cô Hạnh, Hạnh cư sĩ kìa. Hỏi coi tại sao khi mà trong thiền định mình không vọng tưởng thì khái niệm thời gian biến mất, mình thấy như ngồi trôi qua một khoảng thời gian lâu mà mình không hay, cứ tưởng như là vừa mới chừng đó? Vì sao?

[14:18]Thấy ai cũng nói gần gần đúng hết mà không nói cho thật chính xác. Thôi để tôi nói luôn thế này. Giống như sư Hải lúc nãy nói, như thế này, là chính vì có cái sự thay đổi mà khái niệm thời gian nó hiện hữu. Vọng tưởng mình có phải là một sự thay đổi không? Vọng tưởng mình chính là một sự thay đổi, phải không? Mình thay đổi từ ý nghĩ này sang ý nghĩ khác. Cho nên, vì mình có suy nghĩ nên thời gian luôn luôn hiện hữu. Bây giờ thế này, cũng trong khoảng thời gian 5 phút thôi, một người mà trong thời gian 5 phút đó nghĩ được nhiều đề tài đó, nghĩ nhiều chuyện thì thấy 5 phút đó rất lâu. Tại vì nó thay đổi nhiều á, nên cái thời gian nó như dài ra.

[15:06]Nó nhiều cái thay đổi hơn, tức là thời gian như lâu hơn. Còn một người trong 5 phút đó mà suy nghĩ rất ít vấn đề thì thấy 5 phút đó trôi qua nhanh chóng mà không hay biết nữa. Như một người mà tâm thanh tịnh vậy, họ sống một ngày từ sáng cho tới chiều thời gian trôi qua lẹ làng, họ cảm thấy nhanh chóng, không có gì hết. Còn người mà suy nghĩ rất nhiều chuyện thì thấy một ngày đó thật là nặng nề và dài dằng dặc.

[15:38]Chúng ta có kinh nghiệm đó chưa? Có không? Ví dụ như có những người mà trong những lúc mà cực khổ thì thấy thời gian trôi qua rất lâu, bởi vì trong cái cực khổ đó họ suy nghĩ, buồn bã. Chính cái sự thay đổi của tâm nó như vậy, nó khởi động, nó nhiều thay đổi như vậy nên mình thấy cái khái niệm thời gian nó rất là dài. Còn một người sống hoan hỷ, sung sướng thì lại thấy trời thời gian trôi qua rất nhanh. À à, có cái câu chuyện, nhớ không biết ai nói câu chuyện này, chuyện hơi buồn cười nhưng mà cũng là một cái minh họa, như nói có câu chuyện nào, à, hình như cũng ông thầy nào của mình giảng đó chứ không phải ai, tức là một cặp tình nhân mà ngồi với

[16:29]nhau á, qua một buổi họ thấy sao nhanh quá, là vì sao? Trong cái vui đó. Trong cái vui họ thấy như vậy. Còn ví dụ một người mà đầy tớ làm việc cực khổ hoặc là thôi như mình đứng cuốc đất thôi, trời nắng chang chang thôi, chính cái khó chịu đó mình cảm thấy cái thời gian trôi qua dài. Cái lo âu, buồn bực, cái sự thay đổi nhiều như vậy làm khái niệm thời gian nó dài ra trong tâm tư mình. Còn người trong thiền định khi không có vọng tưởng, tức là lúc đó cái sự thay đổi, sự biến đổi, sự biến chuyển không có thì thời gian biến mất. Đó, hình như rõ ràng. Đó, cho nên người ngồi thiền, trong cái chủ quan của người

[17:13]đó khái niệm thời gian nó nó yếu ớt hoặc là nó vắng hẳn. Đó, là vì như vậy chúng ta định nghĩa thời gian lại: là thời gian gắn liền với sự thay đổi của sự vật. Chính vì có sự thay đổi của sự vật mà khái niệm thời gian được thành lập, được nhận thức.

[17:37]Trong bài kinh này, Đức Phật giải thích ý nghĩa không tri tìm quá khứ, không ước vọng tương lai bằng cách đưa ra cái khái niệm năm ấm, ngũ uẩn đó, năm ấm. Ở đây chúng ta không có thời gian để nói về năm ấm, thì hy vọng một lần khác thì có dịp chúng tôi sẽ giải thích rõ sắc, thọ, tưởng, hành, thức, những cái hoạt động nó như thế nào. Hôm nay thì mình lướt qua điều đó, không giảng. Hôm khác thì mình sẽ không có giảng kinh mà mình nói hẳn về năm ấm thôi, chuyên đề về năm ấm. Bây giờ chúng ta nghe trong bài kinh nói rằng bỏ quá khứ, bỏ tương lai để chỉ an trú trong hiện tại. Bây giờ tôi nhờ quý sư, quý cô chỉ cho tôi hiện tại là thế nào?

[18:36]Mình biết mới an trú được, phải không? Chứ không biết làm sao an trú? Bây giờ mỗi sư, mỗi cô suy nghĩ xem hiện tại là cái gì để mình an trú.

[18:53]Nhường đi, Nhường. Biết không? Không. Mời cô Trí? Không. Cô Hạnh? Không. Sao vậy? Cứ nhìn tôi chứ có gì đâu phải cúi đầu mắc cỡ. Mời sư, sư Phương không? Sư Phương phải không? Ừ. Hiện tại là cái gì? Nói không được. Sư, mời sư, hiện tại là gì?

[19:32]Biết được hiện tại thì nó không phải là hiện tại. Hay. Cảm ơn sư. Sư nào có ý kiến nào khác không?

[19:40]Mời sư. Dạ.

[19:49]Dạ, cảm ơn sư. Đang ngồi học, nghe giảng. Mời sư, sư sư mà ngồi sau lưng sư Hải nè. Sư gì? Sư gì? Sư Trung. Hiện tại là gì, thưa sư?

[20:11]Ừ, hiện tại không suy nghĩ, cảm ơn sư. Mời sư.

[20:19]Dạ, đang ngồi đây và đang nghe giảng, cảm ơn sư. Mời sư, sư đẹp trai kìa, sư ngồi trước sư Phương, ngồi kế cái chuông.

[20:32]Hiện tại vô thường, hay. Cảm ơn sư. Mời sư. Mời sư. Hiện tại là gì? Thôi mời sư Hải đi, sư Hải tổng kết

[20:56]coi. Thì cái đó là...

[21:22]Hay, hay. Cám ơn sư. Thì nãy sư ngộ hết rồi đó. Ờ, thấy sư trả lời rất là hay.

[21:34]Nhưng mà nó có cái điều thế này, ừ là sư nói là cái tâm thức ngay lúc mình tiếp xúc với căn trần. Thôi, khoan nói điều này. Điều này cũng có một thầy giảng trong cuốn sách. Nãy tôi vừa lật coi lại đúng ngay cái trang mà sư Hạnh vừa nói nè. Có thể đây là sự trùng hợp. Hà, mình sẽ nói dần dần ha, để đến cái chỗ chúng ta đều gặp nhau. Bây giờ nói bình thường á, thì hiện tại giống như mình đang ngồi đây đi ha, mình đang làm cái gì ở đây, thì như vậy nó có mang một chút quá khứ và dính thêm một chút tương lai. Như quá khứ là gì? Như mình vừa nói cái câu nói vừa rồi hay mình vừa nghe xong câu nói vừa rồi thì nó trôi vào hiện tại.

[22:18]Nhưng mà cái vừa trôi vào quá khứ, nhưng mà cái vừa trôi vào quá khứ đó mình vẫn còn hãy xem như là hiện tại, phải không? Tại vì vẫn còn đang trong khung cảnh mà mình ngồi họp đây, mình cứ cho như là hiện tại. Rồi tương lai là gì? Tương lai là những điều sắp sửa được nói tới. Nhưng vừa nói nó sắp sửa cái bắt đầu nó được nói tới, đó, cái câu nói được nói tới. Hoặc là cái tiếng chân người đi xa ở ngoài kia đó, mình đang nghe đó, thì một lát nữa sẽ đến gần thì như vậy cái tiếng chân đến gần là tương lai chưa tới, nhưng một chút nữa nó tới. Như vậy, mình nói cái khung cảnh hiện tại của mình á nó đang trôi chảy.

[23:00]Nhưng mà nó có cái khoảng của nó, nó hơi phủ qua một khoảng của quá khứ và hơi phủ một khoảng của tương lai. Trong cái chừng mực của một khoảng đó, một khoảng đó, một khoảng đó, mình gọi là hiện tại. Tuy nhiên, với cái trí tuệ sâu sắc mà mình nhìn sâu vào nó, nhìn sâu vào nó, thì cái khoảng mà một chút quá khứ, một chút tương lai á nó bị hẹp dần, hẹp dần, phải không? Tùy cái tâm của mỗi người. Khi mà tâm chúng ta còn nhiều vọng tưởng á thì cái khoảng của hiện tại nó rất rộng. Nó kéo một khoảng quá khứ rộng và một khoảng tương lai hơi xa. Như mình nói hiện tại là những gì của mình đi, mình nói trong hoàn cảnh của mình á.

[23:49]Cái người mà loạn tâm á thì nói: "Dạ, hiện tại tôi là một thầy tu, à chùa tôi đang cất, chúng tôi đang lo học hành". Thì cái câu chuyện mà chùa đang cất, chúng tôi đang lo học hành, tôi là thầy tu thì năm vừa rồi có không? Tháng vừa rồi có chuyện đó không? Có, phải không? Rõ ràng là tháng vừa rồi mình cũng là thầy tu, chùa cũng đang cất, mà mình cũng đang học. Mà tháng tới còn chuyện đó không? Còn không? Tháng tới rõ ràng chùa cũng đang cất, mình cũng đang học, và mình cũng đang là thầy tu. Như vậy, khi một người được hỏi: "Hiện tại là cái gì?" thì họ nói, à cái câu trả lời của họ nó cho chúng ta biết cái khoảng hiện tại của họ nó rộng, hẹp cỡ nào.

[24:37]Và biết rằng tâm người đó ở mức độ định hay động ra sao. Cái người mà cái khoảng hiện tại của họ quá rộng thì biết rằng tâm họ còn động dữ. Như nói: "Ờ, hiện tại là gì? Tôi là thầy tu, chùa chúng tôi đang cất, chúng tôi đang học mấy lớp giáo lý, rừng chúng tôi đang trồng". Cái câu đó nó bao hàm một khoảng thời gian quá rộng từ quá khứ đến tương lai, thì biết rằng tâm người này còn loạn. Còn hỏi một người: "Hiện tại là những gì, hè?" thì nói: "Hiện tại là ngày hôm nay chúng tôi đi ăn trai tăng". Mấy sư có ăn trai tăng bữa nay không? Nghe nói. Ờ, thì cái trai tăng ngày hôm nay đó là nó mất bao nhiêu thời gian?

[25:23]Mấy tiếng đồng hồ, phải không? Đi, về. Có khi mình vừa trả lời thì cái trai tăng nó đã làm hồi nãy, nhưng mình vẫn xem như là cái của cái ngày hiện tại. Như vậy, đối với người này, cái khoảng hiện tại nó hẹp lại trong cái một ngày hôm nay thôi. Còn hỏi một người: "Hiện tại là những gì?" Nói: "Dạ, đang ngồi họp". Thì cái hồi họp này có tiếng rưỡi, hai tiếng à. Cái khoảng thời gian hẹp lại, hẹp lại, tức là tâm này định hơn, định hơn một chút. Nhưng hỏi một người: "Hiện tại là gì?", họ nhìn vào hiện tại không có. Vừa một tích tắc cái tiếng nó trôi qua liền, thành quá khứ liền. Nhìn thẳng vào bản chất của hiện tại, không có hiện tại.

[26:04]Thế mà tại sao Phật bảo mình phải an trú hiện tại? Nghĩa là gì? Nghĩa là gì?

[26:16]Nghĩa là thế này, khi mà chúng ta đi tìm cái hiện tại là như chúng ta thấy từ từ nó giống như một cái một cái thoại đầu, một cái công án trong thiền vậy. Đi tìm hiện tại để an trú và chính cái người mà lắng tâm đi tìm hiện tại thì cái khoảng thời gian của hiện tại nó hẹp lần, hẹp lần, hẹp lần. Cho đến còn một tháng, còn một ngày, còn một giờ, còn một phút, còn một tích tắc, rồi biến mất. Biến mất, hiện tại biến mất luôn. Lúc mà hiện tại biến mất á thì tâm mình an trú chỗ nào?

[26:56]Khi mà nhìn thẳng vào đối tượng hiện tại nó là từng sát na biến mất liền, trôi qua liền thì đâu còn hiện tại để mình an trú mà lại sao nói là: "Tuệ quán chính là đây,

[27:11]không động, không rung chuyển". Thì mình an trú chỗ nào khi mà hiện tại không còn nữa?

[27:22]Mời sư, mời mời cô, nha. Dạ, đúng rồi. Sao nay ai cũng giỏi quá vậy ta? Khi mà cái thời gian của hiện tại nó hẹp dần, hẹp dần, tức là vọng tưởng mình ít dần, ít dần. Cho đến khi mình nhìn thẳng vào hiện tại mà thấy không còn nữa thì không còn đối tượng, không còn đề tài để mình suy nghĩ nữa thì lúc đó tâm trở thành thanh tịnh. Nhưng mà nói vậy là đã xong chưa? Thanh tịnh được chút đó thôi. Lát ra đụng chuyện cái bắt đầu cái thời gian kéo dài ra lại. Như lúc hôm nay mình đang ngồi tỉnh giác với nhau á, mình nhìn vào từng giây phút hiện tại mình thấy nó tan vỡ không còn nữa, giây phút đó là mình đang tu đó.

[28:11]Cho nên đây chính là một đề mục thiền quán rất quan trọng. Có khi chúng ta không cần có một pháp môn nào khác, chúng ta cứ đi tìm trong hiện tại, đó là một pháp môn thiền định đặc biệt để nhiếp tâm, rất là hay. Nhưng mà có một cái tiếc thế này, khi mình hiểu được điều đó, mình nhiếp tâm được, nhưng mình ngồi đây mình cứ nhìn từng giây phút trôi qua mất, trôi qua mất, không còn nữa và tâm mình thanh tịnh. Khi không còn thời gian thì rõ ràng mình không còn đề tài, không còn đối tượng để suy tư, tâm mình lập tức thanh tịnh. Nhưng chỉ tiếc một điều mình không giữ được cái cái đề mục này lâu. Mình ra khỏi lớp học, bước ra kia đụng chuyện mất liền, thời gian kéo dài ra lại.

[28:54]Cho nên cái khoảng thời gian hiện tại của chúng ta đó nó rộng hay hẹp tùy cái ý thức tỉnh giác chúng ta thường xuyên hay không. Với cái người mà không thường xuyên tỉnh giác á thì hôm nay mình biết cái thời gian hiện tại không thật có, nhưng bước ra cái là nó trôi chảy ra thành một năm, một tháng liền. Còn người giữ được lâu thì luôn luôn, luôn luôn thời gian hiện tại không có, không có. Một lát nữa tan lớp học này, bước ra bên ngoài vẫn không có hiện tại, không có quá khứ, không có vị lai. Vậy an trú ở đâu? An trú ở thời gian nào?

[29:37]Như cô Thúy hồi nãy nói: "Chính cái tâm mình thanh tịnh là chỗ an trú". Tuy nhiên ở đây, chúng ta nói rằng tâm thanh tịnh là chỗ an trú, nó cũng là một lối nói có thể trên lý luận thôi, trên lý thuyết. Còn nếu thật sự mà chúng ta đã chứng thực được cái chỗ không hiện tại thì ngay lúc đó là không thời gian. Cái tâm thanh tịnh tức là không còn thời gian. Tuy nhiên, nó rất là lạ của cái cảnh giới này. Thật sự một người nhiếp tâm được vào định không thời gian, ngay lúc đó tâm trùm lại ba đời lại. Cùng một lúc, tâm phủ trùm ba đời lại liền. Nhưng cái tâm phủ trùm ba đời này nó khác với cái tâm vọng tưởng mà truy

[30:26]tìm, hối tiếc quá khứ và cái tâm vọng tưởng ước mơ, hy vọng ở vị lai. Khác nha. Trước kia, chúng ta chưa có được cái tâm thanh tịnh phủ trùm ba đời, nên Phật dạy chúng ta bỏ quá khứ, bỏ vị lai để an trú trong hiện tại. Khi chúng ta đi tìm hiện tại để an trú cho đến khi hiện tại nó biến mất. Đến khi hiện tại biến mất, không còn thời gian, tâm chúng ta thanh tịnh, không ngờ là ngay lúc thanh tịnh bỗng nhiên tâm mình nó rộng ra, phủ trùm ba đời trở lại. Hôm trước trong bài kinh Tiểu Không, khi một người bỏ hết tất cả những đối tượng của không gian là sự vật, sự việc chung quanh, bỏ hết bỏ dần dần dần dần

[31:12]cho tới cái cái chạm, cái mặt đất mà mình đang ngồi ở trên á cũng bỏ được luôn thì lúc đó tâm phủ trùm không gian, gọi là tâm vào định Không Vô Biên Xứ định, tâm phủ trùm không gian. Bây giờ, cái thời gian cũng vậy. Khi chúng ta buông thời gian dần dần cho đến trong hiện tại, bắt được luôn hiện tại, tâm được vào định, tự nhiên nó trùm một khoảng thời gian quá khứ, vị lai trở lại. Tuy nhiên, cái câu này dễ bị hiểu lầm, dễ bị hiểu lầm ở chỗ này: Chúng ta phải nhớ: cái không thời gian nó là gốc của sự tu, còn cái tâm mà phủ trùm ba đời nó là cái ngọn, tự nhiên nó tới, không phải là cái mình tưởng tượng.

[31:58]Nhiều người nghe nói tâm này phủ trùm cả trời đất, tâm này phủ trùm cả ba đời, cái ngồi đó tưởng tượng cho tâm mình phủ trùm. Chính cái tâm tưởng tượng là một loại tâm loạn đưa đến điên, sẽ bị điên. Nếu người nào tưởng tượng tâm mình phủ trùm không gian, phủ trùm thời gian thì vài ba ngày sẽ bị nhức đầu, mà cứ gượng làm mãi sẽ bị điên. Ở đây chúng ta không đi tìm cái phủ trùm đó bởi vì nó sẽ thành cái tự cao, nó làm sự tưởng tượng và sự tăng trưởng của bản ngã. Ở đây chúng ta đi tìm cái không thời gian, không có đối tượng để khởi suy nghĩ, đó. Từng phút từng phút thấy cái hiện tại nó tan vỡ không

[32:45]có, tâm mình thanh tịnh không còn thời gian nữa. Còn cái mà tự nhiên nó phủ trùm trở lại ba đời thấy quá khứ vị lai nằm luôn một chỗ trong tâm mình thì đó là chuyện tự nhiên của nó, không tưởng tượng. Còn mình khởi động tâm để tưởng tượng ngay lúc đó là sai lầm. Chúng ta nhớ nha, cẩn thận á, trật một chút xíu là điên á. Cái chỗ mà tuệ quán chính là đây, phải hiểu như thế nào? Tuệ quán chính là đây.

[33:24]Mời sư cười. Cười tức là ngộ giống như ngài Ca Diếp đó. Tuệ quán chính là đây nghĩa là gì? Như thế nào? Cảm ơn sư.

[33:40]Có ai có câu trả lời nào bổ sung không?

[33:45]Sư Hạnh.

[33:50]Sư cố gắng tinh tấn lên nha, siêng theo huynh đệ để học, để mình được gọi là Đa Văn Tỳ kheo, chứ đừng bị gọi là Vô Văn Phàm Phu.

[34:02]Tuệ quán chính là đây nghĩa là gì? Cô Hạnh, cư sĩ nha.

[34:11]Nhìn thanh tịnh trong một sát-na. Trời ơi, nghe ghê quá ha. Nghe câu trả lời siêu quá ha. Hiểu không nổi à. Chú Trí, tuệ quán chính là đây nghĩa là sao?

[34:28]Quán cái hiện tại, giống như... Sư Hải.

[34:59]Sư nói gần tới được. Tức là mặc dầu nói là mình nhìn thời gian, lấy thời gian làm đề mục, thu hẹp cái cái khoảng thời gian của hiện tại lại cho đến khi nó tắt luôn cái hiện tại. Như vậy nhưng mà kỳ thực cuối cùng cũng là cái nhìn vào nội tâm thôi, nhớ điều đó. Kinh nghiệm tu hành thực sự không bao giờ đi qua khỏi chỗ này là biết rõ được tâm mình. Đây là một chỗ mà bất cứ pháp môn nào cũng phải có. Dù người đó tu một pháp môn nói là siêu Phật vượt Tổ, tối thượng thừa, siêu siêu thừa gì không cần biết, mà nếu không thấy được tâm mình trong từng sát-na, không thấy được vọng tưởng khởi diệt như thế nào thì vẫn là sai lầm.

[35:48]Đó là điều tôi khẳng định. Ví dụ như người đó niệm Phật, niệm tinh chuyên, miên mật, hễ tâm lắng được rồi thì vẫn thấy được tâm mình, bắt đầu từng niệm khởi diệt vẫn thấy. Những cái tập khí sâu xa bên trong, tham, sân, đố kỵ, hờn giận gì đó phải thấy và để cho nó tan. Hoặc là một người nhiếp tâm trong câu thoại đầu cũng vậy, nhiếp thanh tịnh rồi cũng trở thành thấy tâm mình. Từng niệm khởi diệt thấy vượt qua. Hoặc là người quán hơi thở, hoặc là người quán cái như bài kinh Tiểu Không là buông bỏ sự vật, sự việc chung quanh. Hoặc là người quán theo pháp môn của cái kinh Nhất Dạ Hiền Giả này là thu hẹp cái hiện tại lại,

[36:35]rồi cuối cùng cũng phải gặp nhau ở một điểm, thấy được từng niệm khởi diệt. Nhớ điều đó. Không có một pháp môn nào đi qua khỏi chỗ này hết. Chính cái tuệ quán nó xuất hiện là chỗ này. Tu gì tu rồi cuối cùng cái tuệ quán này cũng phải xuất hiện là thấy được tâm mình trong từng sát-na. Cái sanh diệt của tâm trong từng sát-na thấy rõ và nhìn càng sâu càng sâu cho tới những cái tâm rất là tế, rất là tế. Những cái tâm mà trước kia mình loạn mình không thấy, bây giờ bắt đầu mình thấy. Ví dụ, ví dụ, nội cái mà mình tới một chỗ nào tự nhiên mình bị người ta đẩy ra ra đứng đằng sau, ngồi ở hàng cuối, mình thì thấy bình thường,

[37:23]ý thức mình không gì nhưng trong tâm rất sâu mình vẫn có một cái gì hơi bực bực. Nói: "Họ mình là tu lâu, sao họ không biết mà họ để mình đứng ở phía thối là sao?" Chính cái tâm rất tế đó mà ý thức không khởi được, không có, nhưng hôm nay mình có cái tuệ quán rồi mình nhìn sâu thẳm vào trong thấy vừa rồi mình có một cái phân biệt của cái ngã chấp. Hơi bực khi thấy người ta không tôn trọng mình, thấy liền. Tức là cái đức hạnh nó sẽ xuất hiện. Khi người mà có cái tuệ quán, cái tuệ quán chính là đây đó, thấy được tâm mình đó, thấy càng lúc càng sâu dần dần cho tới vào chỗ vi tế thì người đó xuất hiện được đức hạnh.

[38:07]Nên không có cái biểu lộ thô ra bên ngoài như là tham lam, giận hờn, ích kỷ, ganh tị không còn nữa. Bên trong cái gốc chưa dứt hẳn, nhưng những biểu lộ thô ra bên ngoài không còn nữa, đó là người tu chân chính. Hiện nay, nhiều khi mà như chúng tôi vậy, khi gặp các cư sĩ nói chuyện, họ cứ hay than. Họ than là họ đi chùa này, chùa kia thấy mấy thầy, mấy cô xuất gia rồi mà sao vẫn còn như người đời, cứ thấy tham lam, giận hờn, giành giật với nhau từng chút từng chút, họ buồn quá. Lỗi thì đâu? Thật ra nghe thì tôi cũng thở dài, đó là cái cái cái buồn chung của Phật giáo. Nhưng mà chỉ vì một điểm này là chúng ta tu

[38:59]mà tu trên hình tướng, không có cái tuệ quán của nội tâm. Không có cái tuệ quán của nội tâm để thấy được những cái phiền não, tập khí của tham lam, sân hận, đố kỵ, ích kỷ này kia nọ để mà diệt trừ đi, chưa có cái tuệ quán. Nên tuy mang hình thức người tu, giữ những cái oai nghi, giới luật bên ngoài, nhưng ở bên trong tâm hồn mình còn cả một cái ổ rác mà chưa dọn dẹp được. Chỉ người nào có được cái tuệ quán bởi một pháp môn thiền định nào đó không biết pháp môn nào, tùy duyên, nhưng mà xuất hiện được cái tuệ quán, thấy được tâm mình rất sâu rất sâu thì người đó mới có đức hạnh. Đó là những người có thể làm gương để cho cư sĩ họ noi theo mà họ tu hành.

[39:51]Chúng ta cố gắng điều đó.

[39:55]Nãy giờ chúng ta đã từng từ bỏ cái quá khứ và vị lai. Bây giờ chúng ta lấy lại xài. Những gì mà đã xảy ra trong quá khứ nó có lỗi để cho chúng ta phải từ bỏ hay không? Phải không? Quá khứ có lỗi hay không? Mà nói rằng mình phải từ bỏ quá khứ? Tương lai có lỗi hay không để mà mình phải từ bỏ tương lai?

[40:28]Có lỗi không? Nói một câu cho can. Không. Không, sao Phật phải kêu là: "Đừng truy tìm quá khứ"? Nếu quá khứ không có lỗi thì tại sao Phật kêu mình phải từ bỏ để tu hành?

[40:49]Không, không. Ở

[41:06]đây mình phải dùng phương tiện. Tức là nói bỏ quá khứ là mình phải có ý nghĩ bỏ thật sự, như không truy tìm rõ ràng mình dứt bỏ đó. Đúng khi mà tâm mình vào định rồi đó mà khởi một cái niềm bỏ là dư. Nhưng khi tâm mình còn loạn, cái niềm bỏ cần thiết nha. Nhớ điều đó. Cảm ơn sư, để nói thêm điều này chúng ta dễ bị hiểu lầm là ở trong các pháp môn thiền á là cứ nói: "Diệt trừ vọng tưởng càng thêm bệnh." Vì sao? Vì có cái niệm diệt trừ phải không? Càng thêm bệnh. Nhưng không, cần thiết nha. Tôi xin nói là cần thiết trong giai đoạn chúng ta còn động tâm, nhớ điều đó. Hoặc là nói như là quán là quán các pháp là như

[41:49]huyễn như hóa, nói cái quán đó là còn là động. Xin thưa không phải như vậy, còn là phương tiện, cần thiết. Ngay như chữ mà trong kinh kể cả trong kinh Nikaya Phật thường hay dùng chữ diệt trừ: "Hãy diệt trừ vọng tưởng, hãy diệt trừ tham lam", vân vân, Phật dùng cái chữ diệt trừ rất rõ và đúng, đúng. Nếu chúng ta cứ cho mình là nói như nguyên thủy Tiểu thừa đi, cứ dùng cái niệm diệt trừ đi, sẽ thấy rất hiệu quả. Nhiều khi mà tâm mình vừa khởi một cái động gì đó, mình nói thôi diệt trừ niệm này, mình nói cái niệm dùng chữ diệt trừ nhẹ nhàng, cái niệm đó tắt liền, tắt rất nhẹ nhàng, nhẹ nhàng, rất hiệu quả, mà không phải là chấp.

[42:32]Chỉ đến khi nào mà tâm định rồi, khi không không có gì hết trơn bỗng nhiên mình khởi cái diệt trừ á thì cái đó đúng, đúng là không bệnh mà uống thuốc. Nhưng mà khi đang còn bệnh, thuốc vẫn cần thiết. Cho nên, chúng ta nói từ bỏ quá khứ, nên là từ bỏ vị lai, không chấp nhận vị lai, không mơ ước vị lai là điều đúng, Phật nói là đúng, không có dư đâu, chữ đó không dư đâu. Tuy nhiên chúng ta đặt lại vấn đề. Như vậy cái quá khứ với vị lai nó có lỗi hay không mà chúng ta phải từ bỏ?

[43:12]Mời sư.

[43:38]Sư Huynh nói đúng. Nó có một vài điểm Sư Huynh nói đúng, để lặp lại để cho nó vô trong băng. Tức là chính Đức Phật nhiều khi cũng nói những chuyện tiền thân, phải không? Đó, như vậy có phải là ngài hối tiếc quá khứ không? Đâu phải, phải không? Mà đó là biểu hiện của trí tuệ. Đôi khi ngài tiên tri một việc vị lai, ngài thọ ký một việc vị lai, có phải là ngài ước mơ vị lai đâu? Phải không? Rõ ràng, nên đó đâu phải là ước vọng tương lai, mà đó là trí tuệ. Cho nên quá khứ, vị lai không có lỗi, mà lỗi ở chỗ là chấp, lỗi ở chỗ là loạn.

[44:20]Cái biết phủ trùm quá khứ, vị lai cái đó là trí tuệ, cái đó không có vọng tưởng. Nhưng khi có vọng tưởng đó thì bắt đầu là loạn tâm. Tuy nhiên chúng ta coi chừng cái vọng thô, vọng tế. Nhiều khi trên vọng thô mình không có ước mơ quá khứ, không khát vọng tương lai, nhưng trong cái vọng tưởng tế vẫn còn. Nên khi mà thấy tâm thanh tịnh, vắng lặng rồi mình bắt đầu ngồi hướng tâm về quá khứ, hướng tâm về tương lai coi chừng vẫn hãy còn là truy tìm quá khứ mà ước vọng tương lai chứ chưa hết hẳn. Nhưng mà ở đây chúng ta nói đến tận cùng, tức là đến một vị thánh, tâm các ngài định thật sự, cả cái vọng tưởng tế không còn nữa

[45:05]thì lúc đó cái quá khứ, cái vị lai không có lỗi, mà nó là cái này.

[45:13]Nói một cách bình thường thôi, mình không nói sâu xa, nói một cách bình thường thì quá khứ là kinh nghiệm. Quá khứ là kinh nghiệm cần thiết cho chúng ta. Bất cứ người nào cũng cần quá khứ hết. Nếu chúng ta biết dùng nó như một kinh nghiệm ngay cả trên sự tu hành của chúng ta cũng vậy, những lỗi lầm mà chúng ta đã mắc phải trong quá khứ nó sẽ là một cái kinh nghiệm để chúng ta giữ được mình trong vị lai không phạm nữa, nên quá khứ là một kinh nghiệm. Ngay ngay cả người thế gian hay là người xuất gia cũng vậy, quá khứ luôn luôn là kinh nghiệm. Cho nên quá khứ không có lỗi. Nó giống như thế này, giống như tiền vậy.

[45:59]Tiền nó không có lỗi, mà lỗi là ở cái cách sử dụng của chúng ta. Nếu chúng ta dùng tiền để làm lợi ích cho Phật pháp, làm lợi ích cho con người, không có cái sự tham lam, ích kỷ của mình thì đồng tiền đó là điều tốt đẹp. Còn nếu chúng ta giữ tiền với ý tham chứa, sắm sửa, sử dụng cho riêng mình thì đồng tiền đó trở thành tội lỗi. Thần thông cũng vậy, thần thông không có lỗi. Nếu chúng ta sử dụng thần thông đó với cái tâm vô ngã để làm lợi ích chúng sinh, để giáo hóa hay để cứu đời, vân vân, mà làm cái lợi cho mọi người, nhất là về khía cạnh đạo đức thì thần thông đó là hợp lý, là cần thiết. Còn nếu chúng ta dùng thần thông

[46:56]để khoe khoang, để làm những việc sai lầm, để làm cho người khác nảy sinh tà kiến thì thần thông đó không đúng. Ví dụ thế này, như ông thầy đó tu có một số năng lực thần thông, đến khi người Phật tử, tín đồ biết được đến nói rằng: "Bây giờ con mua bán ế ẩm, thầy cho con cái phép để con mua bán đắt." Ổng cho phép bán đắt lên thật, điều đó có, chứ không. Nhưng mà cái thần thông đó Phật không chấp nhận, vì sao? Vì sẽ làm người tín đồ nảy sinh tà kiến. Họ sẽ nghĩ rằng không cần làm phước, mà chỉ cần mình nịnh sao khéo xong thầy ổng ban cho cái phép thì mình có thể thành công trên cuộc đời. Đó, thần nên thần thông đó nguy hiểm.

[47:50]Rất nhiều người đã tin vào những thần thông loại đó. Như hằng năm mà người ta đi cúng chùa Bà ở Châu Đốc, hoặc là người ta đi ở Dinh Cô, Long Hải, hoặc là ở những nơi vậy mà nói là linh thiêng đó, có thể cho cái phép về làm ăn, thì đó, không biết là những cái vị thần đó có thần thông đó hay không, nhưng mà cái niềm tin rằng những vị thần đó có cái thần thông đó, đó là một loại mê tín, một loại tà kiến. Nên thần thông trong đạo Phật ấy phải được sử dụng để không nảy sinh tà kiến nơi người tín đồ. Chúng ta để ý điều đó. Thì quá khứ cũng vậy, chính Đức Phật thường hay nói về quá khứ, nói về tiền kiếp, nhân quả

[48:36]để cho đệ tử học tập mà biết được cái phải trái mà nhắm tới để tu tập, nói vậy.

[48:48]Bây giờ cái tương lai. Tương lai là Tương lai có vai trò gì? Tương lai có vai trò gì?

[49:01]Tương lai chưa tới, nhưng mà mình có phủ nhận nó được không?

[49:12]Tương lai là thể hiện của trí tuệ đó. Ví dụ như thế này, mình nói một việc nhỏ nhỏ là ngày mai à trong đây ai là tri sự sắp xếp công việc? Đấy. Rồi. Ví dụ như Thượng tọa, ngày mai Thượng tọa sắp xếp người này làm cái này, người kia làm cái kia mà phải phân công từ hôm nay, phải không? Đó, hoặc là sáng ăn cơm là bắt đầu dặn công việc, hoặc là dặn tuần tới à quý sư phải làm cái này, làm cái kia. Thì cái tâm mà sắp xếp công việc ở vị lai đó, cái đó có phải là vọng tưởng không? Phải không? Không phải. Nó là điều cần thiết, nó là một thực tế, là cuộc sống. Và cái người tu đó thì đã sắp việc, sắp xếp cái tương lai nó sẽ xảy ra

[50:06]theo một chiều hướng có lợi cho Phật pháp, có lợi cho đạo đức của chúng sinh. Đó, chính cái trí tuệ mà mình hướng về tương lai để sắp xếp cái đường đi của cuộc đời này nó trôi chảy theo cái hướng nào đó cho nó có lợi cho Phật pháp, cho đạo, cho chúng sinh, đó là điều tốt. Cho nên nếu mà chúng ta ước mơ tương lai mà ước mơ cho tự kỷ á, như trong bài kinh Phật nói, mơ ước cái ngã của ta sẽ là thế này, là thế kia đó thì đó là vọng tưởng, là bệnh, là thối đọa. Chúng ta nghĩ như là sau này mình sẽ vinh quang, mình sẽ có nhiều tín đồ, mình mặc được cái áo xoa, mình đắp cái y đắt tiền, mình có được chiếc xe hơi, chùa to, Phật đẹp, ví dụ vậy.

[50:56]Hoặc là một người cư sĩ ngoài đời không có cái ước mơ để làm lợi cho cuộc đời, cho con người, mà chỉ ước mơ sau này mình giàu có, à mình địa vị cao, vân vân, đó chính cái đó cái tương lai biến thành cái lỗi lầm mà Đức Phật nói không có ước vọng tương lai. Còn nếu mình nhìn về tương lai và cái tương lai đó là tương lai của tất cả mọi người, của đạo pháp, mình nhìn về tương lai để sắp đặt cái việc hiện tại bây giờ phải làm cái gì để chuẩn bị cho tương lai. Bây giờ mình phải tu như thế nào, đó, bây giờ phải sắp xếp mọi việc trong chùa như thế nào để 1 năm sau, 2 năm sau, 3 năm sau trong chúng này có những người

[51:40]thành đạt tốt đẹp để những người đó tiếp tục nối bước con đường Phật đã đi mà làm lợi ích cho chúng sinh thì cái đó cái tương lai đó không có lỗi. Cái trí tuệ, cái tâm mà hướng về tương lai đó là điều cần thiết. Nên các vị thánh cũng vậy, đâu phải nói là tâm thanh tịnh là các ngài hoàn toàn không biết tới việc ngày của ngày mai. Đâu phải tâm thanh tịnh là hoàn toàn các ngài đã quên mất quá khứ, phải không? Mà một người bạn của năm xưa đến là đã hiểu, nhớ lại những cái ân nghĩa lúc trước. Việc tương lai chùa chiền các ngài thông suốt hết. Như Phật, kể cả cái tiên tri Đức Phật nhìn thấy trước. Cái tương lai không phải là không có,

[52:26]mà từng giây phút chúng ta gieo nhân hiện tại nó đã hình thành cái tương lai rồi, chỉ là nó chưa chảy tới, chúng ta tưởng là chưa có thôi. Đối với những vị thánh, tương lai là một cái gì cụ thể đã nằm trong lòng bàn tay rồi. Còn những vị Bồ tát khi mà thị hiện vào trong sinh tử để hóa độ chúng sinh á thì tương lai đối với các ngài là một ý nghĩa quan trọng ở chỗ thế nào? Ở chỗ là cái ngài biết gieo nhân gì trong hiện tại để cái quả lành nó trổ ra ở vị lai. Như khi đến một cái làng xóm đó, các ngài muốn độ những người dân này theo đạo Phật, biết ăn chay giữ giới, biết tin nhân quả, mà đến nói khơi khơi tu họ không nghe.

[53:10]Không phải cầm cây nhang đi giữa chợ kêu tu đi tu đi, không phải như đó. Nói người ta không nghe. Không có ân nghĩa, người ta không thương mình, không quý mình, nói người ta không có nghe. Trước hết phải làm sao cho người ta thương quý mình. Thế là các ngài mặc cái áo rách, cầm cái cuốc đi cuốc đường, ban đường, thấy nhà ai mà sửa lại phụ dựng lại, rồi thấy người nào bệnh tới chữa, thấy ruộng rẫy ai nên là bận rộn thì đến phụ giúp. Cứ nhiều năm nhiều tháng như vậy, có khi cả một đời như vậy gieo duyên cho qua những kiếp sau người ta mắc nợ mình rồi, nó thành cái ân nghĩa tự nhiên người ta thương quý.

[53:50]Lúc người ta thương quý rồi thì mình mới đem đạo lý để nói tiếp sau đó. Cho nên cái mà bố thí, cái lợi hành, rồi cái ái ngữ, cái đồng sự vân vân là cái gieo duyên để cho có ân nghĩa, để được chiếm được cảm tình, sau đó mới giáo hóa đạo đức. Cho nên một vị Bồ tát khi ra đời như vậy, thị hiện chúng sinh á, các ngài nhìn suốt cả cái ba đời. Làm một việc là thấy cái ảnh hưởng việc đó tới năm kiếp mười kiếp sau nó sẽ xảy ra như thế nào. Đó là cái thấy của trí tuệ. Còn chúng ta bình thường mình làm một việc gì thì mình chỉ thấy cái ảnh hưởng nó chừng một hai ngày, một hai tháng, một hai năm. Nhưng các ngài hễ mà khởi một cái tâm,

[54:41]làm một việc là biết năm kiếp sau nó sẽ xảy ra cái gì. Nó là như vậy. Cho nên cái quá khứ, cái vị lai nó không có lỗi. Chỉ cái lỗi là cái tâm mình còn loạn động, còn cái tình nhiều quá, còn cái cái cái hối tiếc, truy tìm, cái ước mơ, cái hy vọng thì nó là lỗi thôi.

[55:05]Bây giờ mình nói qua cái cái tâm một chút.

[55:10]Nãy chúng ta nói rằng tất cả những cái tư tưởng khởi động đều dựa vào thời gian, phải không? Tất cả mọi đề tài, mọi đối tượng mà chúng ta suy nghĩ đều bám theo thời gian.

[55:27]Bây giờ cho đến khi

[55:31]mình quán sát được thời gian đến tận cùng của hiện tại thì nó mới chấm dứt. Bây giờ mình quan sát tư tưởng.

[55:41]Tư tưởng có hai loại.

[55:48]Có những cái tư tưởng thuộc loại vẩn vơ đó, mình rất dễ trừ diệt, mình rất dễ trừ diệt. Ví dụ như khi mình vẩn vơ, mình nhớ lại một cái điều gì đó cái mình chợt tỉnh, mình buông xả, nó tắt liền. Đó là loại tư tưởng vẩn vơ. Nhưng có một loại tư tưởng mà khi nó khởi lên rồi, nó cứ có cái sức mạnh nó lôi kéo tâm mình phải chú ý vào đó mà không buông rời ra được. Vì sao? Vì tư tưởng đó bị cái tình cảm ở phía dưới thúc đẩy. Cái lớp ở trên á là cái tư tưởng nó trôi chảy, nhưng ở sâu bên dưới thì tình cảm nó cứ thúc đẩy thúc đẩy. Cái tư tưởng mà nó mang theo cái tình cảm, mang theo cái cảm tính á thì tư tưởng rất mạnh, rất khó rời bỏ vì tình cảm nó có cái sức mạnh của nó.

[56:42]Ví dụ thế này, những tư tưởng bình thường như mình nghĩ về cái chuyện con gà, con cóc, mây trôi hay là trăng soi vân vân, chuyện đó mình buông dễ dàng. Nhưng mà chợt mình nhớ lại một cái nỗi buồn quá khứ, như ngày xưa là mẹ mình mất hay ba mình qua đời, à mình chợt nhớ cái nỗi buồn, nỗi đau của một người mất cha mất mẹ thì cái tư tưởng đó nhiều khi mình tỉnh không nổi, buông không nổi vì nó gắn theo cái tình cảm. Hoặc là khi mình nhớ đến một cái niềm vui như là lần đó mình được thưởng, được khen vì mình học giỏi, làm được nhiều điều tốt đẹp, được cha mẹ khen thưởng hay được thầy cô khen thưởng, cái tư tưởng mà có cái cái niềm

[57:28]vui đó, có cái tình cảm á cái mình cứ nhớ hoài nhớ hoài. Mình sực nhớ lại chuyện đó cái mình cứ để nó trôi đi một khoảng thời gian rất dài vì nó có cái tình cảm thúc đẩy bên trong. Mà cái tình cảm thì nó mạnh nhất là những loại tình thương yêu, cái thương ghét, cái thù hận. Thương yêu, cái thù hận, cho nên khi mà chúng ta nghĩ về những cái đề tài mà nó liên quan tới tình cảm đó, những cái thương yêu, những cái thù hận thì cái nghĩ đó không dừng ngay được, nó rất là mạnh. Cho nên có người như đời sống bình thường tâm có thể an trú lặng lẽ, nhưng mà than là tại sao vẫn còn động. Cả ngày không động nhưng mà có những cái vọng tưởng không buông rời được

[58:14]thì mình biết ngay là vọng tưởng đó nó liên quan đến tình cảm. Nó đã nghĩ đến những cái đối tượng mà có cái thương ghét ở trong, có cái vui buồn ở trong, nên mình không có dứt rời nó ra được. Nên cái tư tưởng cái tư tưởng nó trôi lan man lan man nhưng mà đừng cho nó đụng cái cái đối tượng của tình cảm. Nó trôi một lát thì khi nó vẩn vơ mình không có tỉnh giác, nó cứ trôi mãi, nhưng đến khi mà nó nghĩ lan qua đụng được cái đối tượng tình cảm rồi là cái tình cảm nó sẽ thúc đẩy cái tư tưởng nó trôi chảy nữa. Nó là như vậy. Nên tư tưởng phát sinh ra tình cảm bí mật bên dưới, và chính cái tình cảm bí mật bên dưới nó thúc đẩy tư tưởng trôi lăn nữa.

[58:57]Đó gọi là phàm phu. Nếu mà khi nó đã có một cái cái quỹ đạo đó, cái quỹ đạo là tư tưởng tình cảm, tư tưởng tình cảm nó quay vòng vòng thì mình cứ động tâm mãi. Cho nên ở đây đôi khi chúng ta phải dùng tới cái sức quán. Nghĩa là nếu mà chúng cái tư tưởng bất chợt nó nghĩ về những đối tượng có thương có ghét thì chúng ta phải dùng cái sức quán. Lúc đó mình phải quán: à cuộc đời là vô thường, cái thương ghét trên đời này là mong manh, là hệ lụy, là ràng buộc, không xứng hợp với người tu vân vân. Đó nhờ cái quán đó, cái tình cảm nó mới tắt bớt. Nó tắt được rồi tư tưởng mình mới buông được. Chứ còn mình cái lời mà không có dùng cái sức quán cho mạnh á,

[59:43]chỉ ngồi lặng lẽ nhìn cái tâm thôi, nhìn thấy tư tưởng khởi lên, nhìn nó cho nó tiêu rớt mất, tư tưởng khởi lên, nhìn nó cho nó tan đi. Nhưng mà hễ cái tư tưởng mà nó khởi lên nó nhằm nó đem theo tình cảm thì mình nhìn nó nó sẽ không tan, thấy nó nó không tan. Lúc đó phải dùng sức quán. Chỉ đến khi nào mà tâm mình lắng rất sâu, lắng rất sâu vào gần ở trong vô thức, gần được tới cái gốc của tình cảm, tới cái hang ổ của tình cảm á thì một mình cái sức định, cái sức tỉnh mình nó rất mạnh, cái giác nó mạnh lên rồi, nên một cái máy động của tình cảm mình thấy, tắt liền ngay cái gốc đó thì nó mới không còn sức mạnh để thúc đẩy cái tư tưởng mình trôi chảy nữa.

[1:00:26]Còn bình thường cái tâm mình nó chưa định sâu, nó định ở càng càng ở bề mặt thì một cái tình cảm mà nó khởi từ trong vô thức nó đẩy ra rồi, mình bứng nó không nổi. Phải ngồi quán một lát nó mới lắng dịu cái tình cảm đó xuống. Lắng dịu thôi chứ không phải là là bứng gốc đâu, nên chúng ta đừng có lầm. Ví dụ như là mình thấy một tuần này, một tháng này, một năm này cái tâm tư mình rất yên tĩnh, không có khởi thương ghét, xin đừng nghĩ rằng cái tình cảm mình đã bứng chưa đã bứng được cái gốc, chưa phải. Chỉ khi nào định mình vào được trong cái vô thức, thấy được cái hang ổ, cái gốc của tình cảm á, lúc đó mới bứng nó được.

[1:01:06]Còn ở cái định càng càng, dù có thanh tịnh lặng lẽ tháng này qua tháng kia vẫn chưa phải bứng được cái gốc tình cảm. Đây là điểm để mình cảnh giác mà đừng có tự hào. Vì có một số người tu nhiếp tâm vừa được cái có cái tự hào bí mật là thấy à mình tu đã tiến bộ, mình có cái hay đây, tâm mình nhiếp được đây thì ít bữa sau loạn lại liền, mất hết phước. Chính cái tâm tự hào làm mình mất hết phước. Mà nhất là những lý luận của tổ sư Thiền sau này nó cực kỳ nguy hiểm. Cứ nói là đó là Phật tánh, đó là chân tâm, đó là ông chủ. Người nào ngộ được cái chỗ đó thì ngay đó thấy mình à mình đã nắm được chân tâm, à Phật tánh là đây rồi,

[1:01:50]cứ theo đây mà giữ gìn bảo nhậm thì sau này sẽ thành viên mãn. Chính cái tư tưởng đó là tư tưởng nguy hiểm. Nó phát sinh một cái tự cao âm thầm, cái tự hào bí mật phá tan hết công đức của mình. Còn người biết đó, dù có được một trạng thái tỉnh giác, một trạng thái ngộ, một cái định rỗng rang trong sáng hoàn toàn, vẫn thấy mình còn là một hạt cát mà thôi, vẫn còn ở trong tâm thức, chưa ra khỏi tâm thức. Mà chưa ra khỏi tâm thức thì cái ngã chấp chưa hết, mà ngã chấp chưa hết thì chưa phải tất cả. Khẳng định điều đó. Khi mình hiểu được điều đó thì mình cứ yên lặng, âm thầm lo tu, không có cái tự cao bí mật bên trong nó khởi lên.

[1:02:33]Nhờ vậy không có bị tổn phước. Giữa ví dụ như mình ở một chỗ đông người thế này, bao nhiêu người nói năng lao xao lộn xộn, tâm mình vẫn giữ lặng lẽ thanh tịnh. Lúc đó mình không khởi cái tự cao nữa. Còn nếu mình không biết cái điều này đó, ví dụ như giữa bao nhiêu người họ đi tới đi lui lăng xăng, họ nói chuyện này chuyện kia, mình ngồi một chỗ tâm mình lặng lẽ. Mặc dầu tâm lặng lẽ đó nhưng bí mật bên trong mình vẫn thấy mình hay hơn mọi người. Mình vẫn thấy mọi người động loạn, phàm phu, chỉ có mình nắm được cái con đường tu hành, nhiếp được tâm. Mặc dầu tâm vẫn đang thanh tịnh đó nhưng vẫn đang tự cao.

[1:03:12]Chính cái tự cao đó phá vỡ hết công đức của mình, sau này mình sẽ bị lùi một cái bước rất dài. Nên đây là được chỗ mình cẩn thận trong sự tu hành. Thôi hôm nay mình học bài kinh ngắn này. Bây giờ ghi hai câu hỏi. Câu hỏi thứ nhất là viết lại bài kệ để đạt tính nghệ thuật cao hơn.

[1:03:37]Thật ra là chúng tôi tụng ở bên chùa cũng có viết lại. Chúng tôi viết lại như thế này nè, mà cũng chưa chắc là hay, thì quý sư viết có khi hay hơn. Là không truy tìm quá khứ, không ước vọng tương lai, quá khứ đã qua rồi, tương lai lại chưa đến, chỉ có pháp hiện tại, tuệ quán chính là đây, bất động chẳng lung lay, hãy thực hành như thế. Không một ai biết trước cái chết đến lúc nào, tử thần có đợi đâu, làm sao điều đình được? Vì thế nên nỗ lực, tinh tấn suốt đêm ngày, tỉnh giác từng phút giây, an trụ bằng chánh niệm. Như vậy mới xứng đáng người biết sống một mình, người ấy đã tôn vinh đạo nhiệm mầu vô thượng.

[1:04:19]Đó, bên chùa thì chúng tôi viết lại như vậy. Bây giờ mỗi sư cũng viết lại theo cái cách của mình, làm sao cho nó hay hơn. Đó là câu thứ nhất. Rồi câu thứ hai: giảng bài kệ, viết nguyên một bài giảng về bài kệ này. Giờ mình đứng lên hồi hướng ha. Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả, đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.

[1:05:19]Trên đỉnh núi Linh Sơn êm đềm trong đại chúng an hòa trang nghiêm,

[1:05:33]cành sen trắng Phật đưa lên trầm hùng.

[1:05:41]Môi ai thoáng một nụ cười bao dung.

[1:05:48]Hoa sen đó có từ muôn đời rồi, hoa không tướng khắp vô cùng không gian.

[1:06:04]Hoa không ý chứa đựng muôn vạn loài,

[1:06:12]hoa không đóa ngát hương vào vô biên.

[1:06:20]Hoa sen đó có chăng là tâm hoa, khắp nơi là tâm ta, rất an bình bao la.

[1:06:34]Nơi nhân thế khóc và than nhiều rồi, hoa tinh khiết đứng vươn mình hiên ngang.

[1:06:49]Trong gian khó vẫn tỏa hương ngạt ngào,

[1:06:57]đem chân lý sáng soi cả muôn sinh.

[1:07:05]Hoa sen đó có chăng là con tim, sắt son và trung kiên, chiếu soi ngàn muôn niên.

[1:07:19]Con nguyện suốt cuộc đời như cành sen thơm ngát, như Phật đấng đại hùng đã vượt bao khó khăn, đi tìm mảnh áo vàng đem về cho chúng sinh. Con nguyện sẽ trọn đời chướng ngại không lui bước, theo lời Đấng Đại Từ giữ gìn tâm trắng trong, giữ gìn ánh đạo vàng, giữ gìn cho chúng sinh.

[1:08:14]Trên đỉnh núi Linh Sơn êm đềm trong đại chúng an hòa trang nghiêm,

[1:08:28]cành sen trắng Phật đưa lên trầm hùng.

[1:08:36]Môi ai thoáng một nụ cười bao dung.

[1:08:43]Hoa sen đó có từ muôn đời rồi, hoa không tướng khắp vô cùng không gian.

[1:08:57]Hoa không ý chứa đựng muôn vạn loài, hoa

[1:09:08]không đóa ngát hương vào vô biên.

[1:09:15]Hoa sen đó có chăng là tâm hoa, khắp nơi là tâm ta, rất an bình bao la.

[1:09:29]Nơi nhân thế khóc và than nhiều rồi, hoa tinh khiết đứng vươn mình hiên ngang.

[1:09:44]Trong gian khó vẫn tỏa hương ngạt ngào,

[1:09:52]đem chân lý sáng soi cả muôn sinh. Hoa sen đó có chăng là con tim, sắt son và trung kiên, chiếu soi ngàn muôn niên.

[1:10:14]Con nguyện suốt cuộc đời như cành sen thơm ngát, như Phật đấng đại hùng đã vượt bao khó khăn, đi tìm mảnh áo vàng đem về cho chúng sinh. Con nguyện sẽ trọn đời chướng ngại không lui bước, theo lời Đấng Đại Từ giữ gìn tâm trắng trong, giữ gìn ánh đạo vàng, giữ gìn cho chúng sinh.

[1:10:54]Con nguyện sẽ trọn đời chướng ngại không lui bước, theo lời Đấng Đại Từ giữ gìn tâm trắng trong, giữ gìn ánh đạo vàng, giữ gìn cho chúng sinh.

[1:11:15]Con nguyện sẽ trọn đời chướng ngại không lui bước, theo lời Đấng Đại Từ giữ gìn tâm trắng trong,

[1:11:36]giữ gìn ánh đạo vàng.

[1:12:06]Còn ước mơ từng giờ trong trái tim, cho thế gian một lần tan bóng đêm.

[1:12:20]Tình thương lớn thâm sâu trong mọi người, và hạnh phúc sáng trên môi nụ cười.

[1:12:48]Còn ước mơ mọi người thương mến nhau, cho ánh dương đẹp ngời ngàn đời sau.

[1:13:02]Nguyện cầu cho khắp nơi yên vui, Phật đạo gieo rắc thêm không thôi,

[1:13:11]niềm bình an đến như xuân tươi, lòng người vang tiếng ca tuyệt vời.

[1:13:22]Lạy Phật cho trái tim như không, lạy người cho ước mơ mênh mông, lạy cỏ cây gió mây hoa sông, để lòng tan biến trong vô cùng.

[1:13:39]Biết bao lần nhìn đời thoáng qua, xót thương người còn bận bôn ba, giữa luân hồi miệt mài trôi xa, đến khi nào tìm được lối ra.

[1:13:55]Ước mơ mọi người chung chắp tay, dưới chân Phật đài hương ngát bay.

[1:14:52]Nguồn chân lý vẫn bay lan mọi miền, và cuộc sống sẽ tan đi muộn phiền.

[1:15:06]Xin mọi người nhìn nhau bằng đôi mắt, chứa hiền lành và sáng mãi niềm tin.

[1:15:20]Xin khắp nơi cuộc đời vang pháp âm,

[1:15:27]cho thế gian chẳng còn cảnh lầm than. Nguyện cầu mưa pháp tuôn tuôn rơi, mọi người không sống trong chơi vơi, nụ cười tươi mãi trên đôi môi, và niềm vui đến cho cuộc đời.

[1:15:53]Nguyện cầu trên thế gian hôm nay, một lòng quy hướng theo Như Lai, dù ngàn năm vẫn không phôi phai, để người quên hết bao u hoài.

[1:16:11]Ước mơ mọi người càng vững tin, lý nhân quả Phật đà xướng minh, cứu muôn loài vượt ngoài điêu linh, đắp xây đời ngày càng thắm xinh.

[1:16:27]Ước mơ một ngày mai sáng tươi, ánh dương đạo màu soi khắp nơi.

[1:16:39]Nguyện cầu mưa pháp tuôn tuôn rơi, mọi người không sống trong chơi vơi, nụ cười tươi mãi trên đôi môi, và niềm vui đến cho cuộc đời.

[1:16:57]Nguyện cầu trên thế gian hôm nay, một lòng quy hướng theo Như Lai, dù ngàn năm vẫn không phôi phai, để người quên hết bao u hoài.

[1:17:15]Ước mơ mọi người càng vững tin, lý nhân quả Phật đà xướng minh, cứu muôn loài vượt ngoài điêu linh, đắp xây đời ngày càng thắm xinh. Ước mơ một ngày mai sáng tươi, ánh dương đạo màu soi khắp nơi.

[1:18:16]Mẹ ơi, con hát khúc ca này, như cánh chim tìm bay, như nước sông tràn đầy.

[1:18:27]Yêu thương ấm áp đại dương bát ngát, trong lòng con ốc nhỏ ven bờ.

[1:18:46]Mẹ ơi, con nhớ làm sao tiếng ru ngày nào, nắng trưa trời chiều mang đầy thương yêu.

[1:18:59]Ôi, tiếng ru đợi chờ con ngủ say sưa trong giấc mơ.

[1:19:15]Con nhớ hôm nào mẹ khóc

[1:19:20]khi con ốm trên giường xanh xao,

[1:19:28]đôi mắt u buồn xa vắng

[1:19:33]cho con từng muỗng cháo ngọt ngào.

[1:19:43]Con nhớ hôm nào trong sáng,

[1:19:48]tay mẹ nắm tay dìu con đi,

[1:19:56]đưa đến ngôi trường đông lắm,

[1:20:01]khuyên con gắng đi học nên

[1:20:09]người. Ôi, tấm lòng mẹ hiền tuyệt vời

[1:20:19]đã nuôi con, đã cho con cuộc đời, biết thương yêu mọi người giữa trăng sao vời vợi bao la, ấm áp lòng con chất ngất muôn tình thương ấp ủ trong đời.

[1:20:50]Bây giờ con đã lớn,

[1:20:57]bây giờ mẹ đã già,

[1:21:03]nhưng tình thương lúc trước

[1:21:09]vẫn đầy không xoá nhoà.

[1:21:15]Tim con còn dòng máu,

[1:21:21]khi xưa là sữa mẹ,

[1:21:28]hôm nay là nguồn sống,

[1:21:34]hôm nay là ân tình.

[1:22:08]Ôi, giờ đây khôn lớn,

[1:22:14]con mang dòng máu mẹ,

[1:22:20]con mang trái tim mẹ

[1:22:26]yêu thương, quý mến, và mang ánh mắt như vì sao sáng ngời cho đời.

[1:22:46]Con sẽ đi về muôn lối,

[1:22:51]nơi nào giữa muôn trùng thương đau,

[1:22:58]đem khúc ca bình an tới cho nhau cùng vơi bớt nỗi sầu.

[1:23:14]Con sẽ xin làm con suối trôi qua những sa mạc bao la,

[1:23:26]đem nước ân tình chan chứa

[1:23:31]nuôi xanh những hy vọng cho đời.

[1:23:41]Mẹ ơi, con tha thiết nguyện cầu chư Phật ban ơn phúc đời đời cho mẹ, mai sau nữa ngày mẹ trăm tuổi, mẹ sẽ về cõi Phật

[1:23:59]an vui.