Lời giảng: Kinh Nikaya 06 - Thân Hành Niệm (Quán Thân)

  • Thuyết giảng: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Thời lượng: 1:30:45

Toàn văn lời giảng, chép từ phụ đề. Bấm vào mốc thời gian để nghe đúng đoạn đó.

[0:09]Thân hành niệm, nhưng hôm nay tôi cũng bị cái thân nó hành, bệnh thiệt. Bài Thân hành niệm này là một bài kinh dạy cái pháp môn tu hành rất là thấp, rất là căn bản trong đạo Phật. Chúng ta nhớ là càng về sau thì không có ai mà giữ được đúng cái sự dụng công như thời Đức Phật dạy hết. Ví dụ như Đức Phật đã dạy những pháp môn như thế này, nhưng cứ xa Đức Phật thì nhiều vị đại sư về sau đã chế biến, đã sáng tạo thành nhiều cái phương pháp tu hành khác, cả Nam tông lẫn Bắc tông. Chúng ta thường cứ nghĩ là bên Nam tông là những vị bảo thủ, giữ gìn truyền thống kỹ, không để sai lời Phật dạy, còn Bắc tông mới phát triển, bạo, tức là dám sáng tạo những

[1:03]cái mới, nên nhiều khi nó đi khác nhiều lời Phật dạy. Thì đúng, đúng vậy. Nhưng mà nếu xét kỹ, chúng ta sẽ thấy cả Nam tông cũng biến thái luôn, chứ không thực sự hoàn toàn dụng công đúng chính xác từng tí những gì Phật dạy đâu, không phải như vậy. Và ở đây cái việc đó là chúng ta không có phê bình, chúng ta không nói là việc đó dở. Vì sao vậy? Vì thực sự là do một cái nhân duyên gì đặc biệt nên khiến một vị đại sư đó ổng vô tình ổng áp dụng một cái phương pháp mới của ổng. Trong khi dụng công đang tu, chợt ổng dụng công một cách gì đó, ổng cảm thấy nhiếp tâm được. Rồi sau khi thành công được thì ổng cực lực xiển dương cái đường

[1:48]lối đó, làm thành một cái pháp môn mới trong đạo Phật. Nhưng có cái điều là cái tai hoạ nó phát sinh ở phía sau này, là cái vị đó quá nhiệt tình với cái con đường của mình đi, nên cực lực xiển dương nó và đả kích pháp môn khác. Cái tai hoạ nằm ở chỗ đó, chứ còn cái pháp môn nó không có lỗi. Nhưng mà cái chỗ hiểu lầm là chỗ à chỉ con đường này đi mới đúng, con đường khác đi không đúng. Nên thành ra gây ra cái sự chia rẽ trong Phật pháp về pháp môn. Như ví dụ một vị mà nhiếp tâm trong hơi thở thành công, thì đừng ai nói khác hết, đừng ai nói cái pháp môn gì khác ngoài hơi thở là ổng công kích liền.

[2:31]Nói rằng chỉ có pháp môn này mới đưa đến đạo quả tối thắng vân vân, pháp môn khác là tà thị. Hoặc là một vị nào đó niệm Phật rồi được thành công nhiếp tâm được khi chết mình được vãng sinh hay là chết biết được ngày giờ vân vân gì đó, thì đừng có ai nói pháp môn gì khác ngoài niệm Phật ổng không chịu. Ổng nói chỉ có sáu chữ Di Đà vô biệt niệm, bất lao đàn chỉ đáo Tây phương, chứ không nói gì khác nữa. Hoặc là vị nào quán thoại đầu mà thành công thì thôi, pháp môn nào cũng tà hết, chỉ có câu thoại đầu mới chánh. Nên cái bệnh đó nó làm cho Phật giáo bị chia rẽ. Mà cực độ nhất của cái phát minh mới đó là bên Thiền tông.

[3:12]Cái vị Thiền tông mới tuyên bố: "Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự", tức là không đi trong kinh điển, ngoài giáo lý không đi trong kinh điển, truyền riêng từ tâm đến tâm. Nên bên Thiền tông còn cực lực mà rời xa truyền thống, rời xa kinh điển luôn. Như một vị trong Thiền tông này ví dụ như là đến hỏi: "Thưa Thầy, thế nào là đạo?" Ổng Thầy im lặng nhìn xuống. Thì nếu gặp người thượng căn, ngộ liền, ngay đó ngộ đạo liền. Rồi mai mốt ai hỏi mình: "Thế nào là đạo?", cũng im lặng nhìn xuống. Cái người ta đi ra: "Sao Thầy không biết trả lời, hỏi ổng ổng ngó làm lơ kỳ quá!" Người khác người ta không ngộ được.

[3:53]Hoặc là người nào vô hỏi: "Thưa Thầy, thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ sang?" Đá cho một cú đá văng xa, cái té ngoài đường, văng vô cửa rồi ngộ đạo. Mai mốt cái mình ngộ đạo rồi mình gặp người ta tới, hỏi: "Thưa Thầy, thế nào là đại ý Phật pháp?" Mình đá một cú bàng long cước, người ta bay ra cửa sổ, người ta lồm cồm vô người ta đánh lại mình á. Ở đây đó là mỗi người một cái căn cơ như vậy, chứ không có ai giống ai. Còn bên Nam tông cũng vậy, bên Nam tông thì cái con đi khá gần kinh điển nguyên thuỷ, nhưng mà thực sự là các vị ấy cũng biến thái. Ví dụ như chúng ta nghe cái pháp môn minh sát tuệ thì gần giống,

[4:31]nhưng mà quán phồng xẹp, quý Thầy đã nghe cái quán phồng xẹp chưa? Thí dụ khi hít vô cái bụng mình nó phồng ra thì mình nói phồng à, thở ra cái nó xẹp bụng lại cái xẹp à, vậy đó. Cứ phồng à, xẹp à, rồi hơi thở vô à, rồi ngồi ngủ gục cái ngủ gục à, à, vậy đó. Cái tay nhúc nhích, nhúc nhích à, giống vậy. Tức là cái gì cũng biết mà hay dùng cái chữ "à", thì cái đó nó cũng gần với kinh điển của Phật nhưng mà coi vậy chứ cũng có biến thái một chút. Hoặc là có vị thì để tâm ngay cái sống ức nè. Như sống ức ở chỗ này an tâm ngay đó mà thấy yên tâm, cho nên truyền dạy. Bây giờ các sư ở Miến Điện thường để,

[5:08]còn một số sư ở Sri Lanka thì hay hay phồng xẹp ở dưới bụng. Bên Bắc tông cũng có trường hợp như một Thiền sư bên Nhật Bản, không biết phải ngài Bạch Ẩn mà tôi quên, thì ngài lại an tâm nơi hai lòng bàn tay. Lúc mình ngồi thiền mình để hai lòng bàn tay mình ngửa lên á thì để tâm ở đó mà yên được tâm. Nên có nhiều cách khác nhau, nhưng mà hễ yên được tâm thì là tốt. Chỉ có cái đừng có nghĩ rằng chỉ có con đường của mình đi là đúng khi mình đã thành công. Có những người khác họ thành công bằng những con đường khác. Nơi quý Thầy cũng vậy, quý Thầy ví dụ như mình thành công pháp môn này thì nhớ về sau đừng có bài xích pháp môn khác,

[5:47]phải hiểu, ngày hôm nay phải hiểu điều này cho quan trọng. Đó là lý do tại sao mà tôi soạn trong giáo trình Thiền quán, tôi đã nói rất nhiều cái pháp môn này, nhiều cách dụng công để cho quý Thầy thực hành qua hết, thực hành một cách tự tại, biến đổi một cách tự tại, và khi mình dụng công này mình thấy tâm mình sao, dụng công cách kia mình thấy tâm mình sao thì có kinh nghiệm hết. Vì đó là cái cũng là kinh nghiệm của bản thân tôi vậy. Thì tôi chủ trương, như tôi cũng thường hay nói quý Thầy, một đạo Phật mới phải là thứ nhất là phải dựa vào giáo lý nguyên thuỷ. Kế đó là, kế đó là gì? Kế đó là phải tham khảo Đại thừa.

[6:30]Thứ ba là tham khảo kiến thức của khoa học hiện đại, và thứ tư là đối chiếu với kinh nghiệm dụng công của bản thân mình. Đó là cái con đường Phật pháp phải đi qua như vậy. Thì ở đây thì tôi cũng vậy, tôi cũng đọc, nghiên cứu Nikaya rồi cũng thực hành rồi cũng xuất phát từ Bắc tông cho nên kinh nghiệm Bắc tông thì cũng cũng biết, rồi cũng chịu khó đọc tài liệu về khoa học. Sau đó nỗ lực thực hành nhiều năm nhiều tháng rồi. Thì sau khi nỗ lực thực hành nhiều năm nhiều tháng tôi mới chợt phát hiện ra một điều là kinh Nikaya, lời Phật dạy là hoàn hảo nhất. Bởi vậy nói rồi nhiều khi mình nói mình là Đại thừa

[7:15]phát triển, về sau nó có những cái mới độc đáo hơn, vô thượng thừa, Đại thừa gì đó, coi vậy chứ đúng vẫn là thời tượng pháp và thời mạt pháp, nó xuống dần dần chứ không phải là đi lên, không phải đi lên. Và chính những lời Phật dạy nghe coi bình dị, bình thường, đơn giản vậy mà thật là căn bản, thật là sâu sắc, có lợi ích, tránh được những cái phản ứng phụ. Vì như chúng ta biết không có pháp môn nào mà đầy đủ mọi ưu điểm hết, pháp môn này ưu điểm mặt này, pháp môn khác thì sẽ ưu điểm mặt khác. Cho nên khi mà chúng ta dụng công nhiều pháp môn, chúng ta mới thấy được cái ưu cái khuyết của mỗi cái, đồng thời là sự bổ sung lẫn nhau.

[8:02]Và như vậy mình không có độc tôn pháp môn nào hết, đồng thời mình có thể linh động thay đổi khi cần thiết. Quý Thầy đã đọc cái bài Dụng công linh động chưa, trong giáo trình Thiền quán? Thì đó đó, ví dụ như khi mình đang ngồi thiền tự nhiên mình loạn, không nhiếp tâm được trong khi những ngày trước mình nhiếp tâm rất tốt, bây giờ không nhiếp tâm được thì đừng có dại mà cứ tiếp tục dụng công như cũ, sẽ không thành công. Mà phải đổi. Thì thường á mỗi khi mình đang tiến bộ như vậy mà bỗng nhiên tâm loạn trở lại thì nó do một cái lỗi gì trong cuộc sống mình. Trong cuộc sống mình gây cái lỗi gì đó mà có thể mình chưa biết, thì phải tìm lại cái lỗi đó.

[8:45]Như sáng nay có cô Phật tử nói với tôi vậy. Cô nói người ta than nói: "Sao Thầy viết cái giáo trình Thiền quán tùm lum hết, ngồi đọc mệt quá không biết tu làm sao. Còn cái pháp môn của người khác đơn giản có một cái một để tu hoài." Nhưng mà bản thân cô thấy đổi qua đổi lại rất là cần thiết. Ví dụ một lần cô loạn, cái cô ngồi cô mới đi tìm nguyên nhân thì mới phát hiện ra hai ngày trước đi ăn đám cưới mình đã trở đũa xuống núi ăn mặn, cho nên nó loạn. Ngồi loạn thiền hoài hổng hổng hổng giải quyết được. Nhưng đến khi mà tìm ra được nguyên nhân đó, có tâm hối hận thì tâm yên trở lại liền. Đó là mình bỏ pháp môn đi, mình đi tìm cái lỗi.

[9:23]Hoặc là trường hợp như mình thấy tâm mình loạn thì đổi qua quán từ bi. Quán trải lòng thương yêu chúng sinh chừng 10 phút, 15 phút trở lại nhiếp tâm thì nhiều khi nó yên. Hoặc là ngồi loạn, mình đi tìm không ra lỗi luôn. Không biết mình có lỡ ăn bánh bao giữa đường mà nó mua nhầm cái bánh bao có thịt mà mình tiếc mình mình bỏ sợ mang tội với trời đất á, nên mình ráng ăn cho hết, vậy đó. Mình không biết được cái lỗi phải lỗi đó hay không vân vân, cho nên thôi mình niệm Phật sám hối. Nghĩa là lúc đó đổi qua niệm Phật sám hối, niệm Phật sám hối chừng nửa tiếng đồng hồ, trở lại dụng công lại cái pháp môn của mình, vậy mà tâm nó nhiếp được.

[9:59]Cho nên cái sự linh động qua lại nó vừa có lợi trong thực tế của sự tu mà vừa làm cho mình không có chấp pháp môn, không chia rẽ. Chứ cái việc mà chia rẽ vì pháp môn nó cũng là vấn đề trầm trọng nặng nề trong Phật pháp đó. Chúng ta trong cái đạo Phật mà thiên niên kỷ mới, chúng ta phải tránh cái tình trạng mà đạo Phật bị chia rẽ vì bất cứ lý do gì. Ở đây chắc quý Thầy chưa nghe cái bài tôi giảng Đạo Phật trong thiên niên kỷ mới phải không? Tôi nói rằng đạo Phật trong 1000 năm tới, tức là thiên niên kỷ mới, phải có lối hành đạo mới, vừa lợi ích thực sự mà vừa có thể dẫn dắt được nhân loại. Chứ trong 2000 năm qua, chúng ta đã hành đạo một cách gì đó,

[10:43]nó có cái trật cái chỗ nào đó mà ngày xưa Iran, Iraq là đất nước Phật giáo, bây giờ thành đất nước Hồi giáo, Afghanistan là đất nước Phật giáo, bây giờ toàn bộ thành Hồi giáo. Pakistan là Phật giáo, giờ thành Hồi giáo. Bangladesh là Phật giáo, giờ thành Hồi giáo. Indonesia là Phật giáo, giờ thành Hồi giáo. Mã Lai là Phật giáo, giờ thành Hồi giáo. Còn Việt Nam bắt đầu đã lác đác xuất hiện. Và hàng ngày đã có những người Hồi giáo đi bán vải, họ lấy tiền ở bên cái khối Hồi giáo Ả Rập về họ đi bán vải vào trong quần chúng họ bán. Bán vừa cho vừa bán thiếu, vừa cho vừa bán thiếu để tới lui mà lấy cớ là đòi nợ,

[11:19]nhưng sự thực là để dẫn dụ lần lần quần chúng đi theo đạo Hồi. Hiện nay đang trở lại tình trạng đó. Và nếu trong 1.000 năm tới chúng ta không làm gì cả, cứ tiếp tục mà tu tàn tàn, tu tàn tàn, thì 1.000 năm sau nếu mình muốn tu đạo Phật thì mình phải ra một cái hoang đảo nào đó. Chớ coi chừng Việt Nam thành đạo Hồi luôn rồi. Nói trước như thế. Nếu chúng ta không cảnh giác, vì họ đang liếm tới rồi. Từ từ. Mà đạo Hồi thì thề là chiếm hết thế giới. Họ quyết tâm họ thề như vậy. Họ phải cai trị hết thế giới này. Mà một trong những lý do làm cho đạo Phật suy yếu là có sự chia rẽ. Chúng ta nói vô ngã nhưng chúng ta chưa vô ngã.

[11:59]Chúng ta chia rẽ nhiều quá. Trong đó pháp môn là một vấn đề, một nguyên nhân để gây chia rẽ. Do như vậy, khi tôi soạn giáo trình Thiền quán, tôi đã trình bày một cách phong phú nhiều đường lối để cho chúng ta thực hành từng bước. Mỗi bài như vậy thực hành qua vài tháng, vài tháng. Sang tới bài thứ bảy thì tôi vừa bận mà vừa cố ý không soạn nữa trong một vài năm cho quý thầy thực hành. Rồi sau đó ừm từ từ tôi sẽ soạn tiếp. Cho mọi người thực hành cái đã. Chứ giáo trình Thiền quán gọi là thực tập, mà chứ viết ào ào cho quý thầy đọc thì nó thành kiến giải trở lại, không có tốt. Thì so sánh những cái con đường mà của các vị khác mà dạy

[12:43]á với lời Phật dạy thì chúng ta thấy có cái khác nhau là đa số những vị sau này đó đề cao cái pháp môn mình rất là mạnh, cho nên gây cho cái người học, cái người đệ tử một cái sự quyết liệt đối với pháp môn, một cái niềm tin mạnh mẽ đối với pháp môn, để mà không đổi qua pháp môn khác hoặc sẵn sàng công kích các pháp môn khác. Nhưng mà chúng ta đọc lại những lời dạy của Phật thì Phật dạy các pháp môn một cách ôn hòa. Mặc dù Ngài xác quyết là nó sẽ đưa đến chứng ngộ nhưng mà Ngài nói ôn hòa. Mà cái cụ thể là gì? Cụ thể là pháp môn gì đó thì pháp mà phải chứng cho được Tứ thiền và Tam minh Lục thông một cách cụ thể,

[13:28]chứ không có thể là mình cứ nói là cao trên mây xanh nhưng rồi cuối cùng mình không thể đi qua từng bước Tứ thiền, không thể có được Tam minh được. Đó, đó là cái cái mình chỉ nói suông, nghĩa là mình gọi là bây giờ cái từ lóng gọi là "nổ", nghĩa là mình cứ đề cao mình quá sức mà kết quả thực tế thì không có cái gì. Nhưng chúng ta cũng nghe vậy, bao nhiêu là những thiền sư sau này trong lịch sử Phật giáo mình dường như không nghe nhắc đến một vị nào có thể có khả năng nhớ được vô lượng kiếp trước của mình. Không đủ khả năng. Hoặc cũng không đủ khả năng có thể biết được vô lượng kiếp trước của một người khác.

[14:09]Nhưng thời Đức Phật thì đó là tiêu chuẩn bắt buộc để đánh giá một người là thực sự chứng ngộ hay không. Nên ngày hôm nay cũng vậy, khi mà chúng ta có cái tinh thần khoa học cao thì chúng ta không có bị lừa gạt bởi những ngôn từ hoa mỹ nữa, mà phải tìm lại cái giá trị cụ thể, phải có hiệu quả thực sự chúng ta mới tin. Nghĩa là cái pháp môn đưa ra phải có hiệu quả, chứ còn không có hiệu quả thì không tin, mặc dù nó có thể có lợi ích trong chừng mực nào đó. Nghĩa là trong thiên niên kỷ mới gọi là một người tu tập thiền định mà nếu người đó dám tuyên bố mình chứng thì tự mình tự người đó phải thấy mình có khả năng nhớ lại vô lượng kiếp.

[14:53]Và có thể nghĩa là có cái thần túc thông, đi xuyên qua vách tường, xuyên qua núi như đi qua hư không. Ví dụ vậy. Chớ không có nói miệng, không nói à cái tâm của tôi là bằng tâm Phật, cái tâm này bất sanh bất diệt, tâm này là vô thượng bồ đề, chỉ dùng ngôn từ gán cho cái mình chứng được. Nhưng mà cái khả năng thực sự của cái Tam minh Lục thông thì không đủ thì không được. Có thể là chúng ta có trí tuệ, thấy được tâm mình vi diệu, nhưng hãy nhớ từ ngày hôm nay hãy nhớ, nếu đối chiếu lại với kinh điển nguyên thủy mình chưa đủ lục thông thì đừng nói mình chứng ngộ đã viên mãn. Nhớ như vậy. Vì sau này quý thầy cũng có thể tu có được kết quả,

[15:34]trong bao nhiêu con người ngồi đây biết đâu trong đây cũng có những vị mà thượng căn, ngày hôm nay lặng lẽ ngồi làm tăng sinh để học, nhưng có thể sau này vị này một lúc nào đó nỗ lực tinh tấn dụng công và đạt được những thiền định rất là cao thì hãy nhớ lời tôi góp ý ngày hôm nay. Hãy nhớ lời một con người gầy ốm, tiều tụy, tàn tạ ngày hôm nay góp ý với quý thầy là nếu mình chưa đủ sức nhớ lại vô lượng kiếp thì hay gì hay cũng đừng nói mình đã chứng ngộ tuyệt đối. Tôi mong quý thầy như vậy. Thế nhân duyên của bài kinh này là lúc đó một buổi chiều các vị tỳ kheo mới tụ họp trong cái hội trường của cái tịnh xá do ông Cấp Cô Độc xây.

[16:22]Thì như vậy chúng ta biết là thời đó khi cất một cái tịnh xá thì Phật đã cho cất một cái cái hội trường để làm nhà giảng như bây giờ mình là cái chánh điện vậy. Thì thời đó Phật không có leo lên đó để mình thờ mà Ngài chỉ leo lên cái tòa của cái hội trường đó để giảng, nên cái hội trường để dành cho Phật thì nó rất giống với chánh điện bây giờ, có lẽ cũng khá rộng. Chúng ta thường nghe nói là có khoảng 500 tỳ kheo thường xuyên theo Đức Phật. Thì hội trường chắc cũng đủ chứa như vậy. Hội trường đó thì có thể là

[16:57]thời đó thì chắc chưa có tôn, fibro gì, chỉ lợp mái lá, những cái cây tốt được dựng lên, bắt ngang và có những người thợ khéo. Nền thì mình không biết là làm bằng cái gì nhưng chắc chắn là không phải bằng gạch men Italy mà có sáu cạnh. Thì các vị tỳ kheo mới ngồi nói chuyện với nhau ca ngợi cái pháp môn là thân hành niệm. Đức Thế Tôn đã ca ngợi, ôi thân hành niệm này thật là vi diệu. Nghĩa là tu như vậy là được có làm cho sung mãn thì sẽ được cái quả báo lớn, được cái công đức lớn như Đức Thế Tôn tuyên bố. Thì Đức Phật lúc đó đến chiều Ngài xả thiền, Ngài cũng đi vào hội trường. Ngài mới hỏi là các thầy đang nói gì đó?

[17:43]Các thầy mới trả lời là bạch Thế Tôn, chúng con đang nói về thân hành niệm là như Thế Tôn đã ca ngợi nếu tu tập cái pháp môn này cho viên mãn thì được quả báo rất là thù thắng. Thì Đức Phật mới lên trên tòa ngồi và Ngài giảng luôn, Ngài giảng luôn. Rồi chúng ta đi vào kinh. Là này các tỳ kheo, thân hành niệm tu tập như thế nào làm cho sung mãn như thế nào có quả lớn, có công đức lớn? Ở đây, này các tỳ kheo, vị tỳ kheo đi đến khu rừng hay đi đến gốc cây hay đi đến ngôi nhà trống và ngồi kiết già, lưng thẳng và an trú chánh niệm trước mặt. Như vậy, cái điều kiện đầu tiên để ngồi thiền là phải đến

[18:24]nơi thanh tịnh, vắng vẻ, đừng có ngồi chỗ đông người. Sau này quý thầy nhớ mình dựng cái chùa của mình hoặc là mình về cái chùa nào nên có một cái chỗ yên tĩnh để mình tu tập, còn chỗ nào mà phồn hoa đô hội quá tránh né. Tôi sợ nhất cái chùa mà gần ở bên cái quán người ta mở nhạc hoặc là sợ nhất là gần một cái người mà họ ghiền cải lương, thiệt từ tử chết luôn á, ngồi dưới ngọa. Những loại nhạc mà mình không ưa đó hoặc nhiều khi là nhạc mà nhạc sến nữa thì thiệt là khổ. Cho nên mình cố gắng tìm cái chỗ vắng vẻ để có cái điều kiện tu tập và ngồi kiết già, lưng thẳng. Cái ngồi cho đúng thế, có nhiều vị không có chú ý cái

[19:09]cách ngồi cho đúng, như thế này là không được. Chúng ta phải nghiêm khắc về vấn đề cái tư thế ngồi. Vì tôi có xem một số đoạn phim mà ở các nơi khác họ dạy thiền á, họ dễ dãi về cái thế ngồi. Đây là điều không có tốt. Chúng ta phải nghiêm khắc dù nó khó khăn. Chớ có nhiều người chỉ ngồi xếp bằng rồi có người chỉ ngồi gác một chân bán già thì tàm tạm, có người nói thôi ngồi thiền sao cũng được, ngồi ghế dựa cũng được. Thậm chí có cái pháp môn thoại đầu ngồi dựa lưng hút thuốc lá mà chiêm ngưỡng quán câu thoại đầu nữa. Họ quá dễ dãi. Cái điều đó không chấp nhận, không đúng với tinh thần của đạo Phật.

[19:45]Mặc dù rất phóng khoáng nhưng rất là nghiêm khắc. An trú chánh niệm trước mặt, chỗ này khó à nha, nghĩa là người mà thực sự có thể đi vào pháp môn là đã có cái chánh niệm trước mặt rồi. Cái chánh niệm này là tâm họ đã kiểm soát được, tương đối thanh thản rồi, chứ không phải là dễ, không phải là dễ. Cái mà có được chánh niệm trước mặt, nếu nói theo thiền tông, là cũng đã ngộ được ông chủ, chứ không phải là dễ. Nhưng mà thời xưa, thời Đức Phật thì cho nó còn rất là thấp, chỉ mới gọi là có được chánh niệm tỉnh giác thôi. Nhưng mà ngày nay thì nhiều người có được cái trạng thái chánh niệm tỉnh giác đó đã vội cho mình là kiến tánh,

[20:26]ngộ được ông chủ, nên đã nói những điều những điều hơi cao kỳ khiến tổn phước. Trước khi đi vào pháp môn này là phải có chánh niệm, mà trong đời sống hằng ngày mình đã giữ tâm mình một cách dễ dàng, chứ không phải dễ. Bây giờ chúng ta đi vào hơi thở thì thấy Phật nói thế này: Chánh niệm vị ấy thở vô, chánh niệm vị ấy thở ra. Chánh niệm tức là biết rõ đó, nghĩa là khi thở vô vị ấy biết rõ, khi thở ra vị ấy biết rõ. Hơi thở vô dài, vị ấy biết tôi thở vô dài. Hơi thở ra dài, vị ấy biết hơi thở ra dài. Vì tôi không có nguyên cái bản gốc của Pāḷi cho nên tôi nói theo cái cái bản dịch của Hòa thượng Minh Châu.

[21:18]Nhưng mà tôi vẫn có nghi ngờ, có nghi ngờ. Vì tôi nghi rằng là câu nói như thế này mới đúng: Hơi thở vô dài, vị ấy biết hơi thở vô dài. Hơi thở ra dài, vị ấy biết hơi thở ra dài, chứ không có chữ tôi thở ra dài, không có chữ này. Tôi nghi ngờ như vậy nó mới chính xác, vì lúc đó nó không phải là một cái câu nói, nó không phải là một cái câu mà vị ấy lẩm bẩm, một câu tụng nữa. Vì đã đạt được chánh niệm thì tâm mình không cần phải khởi cái ngôn ngữ lên nữa. Ở đây quý thầy có bản kinh phải không? Trong bản kinh thì đều có những cái câu mà móc ngoặc nè: An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vào. An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra.

[22:04]Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vào. Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra. Thì tôi cũng cảm thấy nghi ngờ, vì cái câu đó nó giống câu tụng quá, mà ở đây nó chỉ là một sự dụng công thôi. Phải nói rằng: Cảm giác toàn thân, vị ấy thở vào. Cảm giác toàn thân, vị ấy thở ra thì có lẽ nó đúng hơn. Vì trong kinh điển mấy ngàn năm ghi lại, thì thì tôi cũng có cái nghi ngờ, tôi được phép nghi ngờ một chút. Có thể cái nghi ngờ của tôi là sai, nhưng mà tôi cũng được nói lên tiếng nói một chút, và quý thầy có quyền dè dặt cái điều tôi nói. Tuy nhiên, khi mà tôi dụng công thì tôi thấy không có sử dụng cái câu ở trong đó.

[22:47]Không có cần phải dụng công như vậy, mà chỉ cần biết, một cái biết không lời nói, một cái biết không lời nói. Nên ở đây chúng ta giải thích về ba cái loại hơi thở một chút: hơi thở của tưởng, hôm trước chúng ta có nói rồi, hôm nay mình chính thức nói lại; hơi thở của hành, hơi thở của thức. Quý thầy phải cố gắng biết rõ, con đường này khá quan trọng, quý thầy cố gắng nắm cho vững. Tưởng ấm là gì? Tưởng ấm là tưởng tượng, là cái tâm mình có hình ảnh, có âm thanh, có ngôn ngữ trong tâm thì cái đó gọi là tưởng ấm. Vậy quý thầy dễ nhìn thấy không, dễ hiểu không? Khi mình nói cái điều gì trong đầu mình thì nó thuộc về tưởng ấm.

[23:28]Khi mình hình dung ra một hình ảnh nào đó thì nó là tưởng ấm, hoặc là mình nhớ lại cái âm thanh nào đó, nó là tưởng ấm. Thậm chí cả mùi hương, vân vân. À ví dụ như bây giờ chúng ta trong lúc mình mình mình đi tới đi lui mình bị vọng tưởng, cái mình chợt nhớ lại cái hình ảnh là lúc đó mình giặt cái áo của mình thấy nó bị một đốm mực gì dơ nó hiện ra trong tâm mình, thì cái đó là tưởng ấm nó hiện ra. Hoặc rồi cái tự nhiên mình nói thêm câu nói: Không biết cái huynh đệ nào tệ ghê, không cẩn thận để làm nhỏ mực vào cái áo của tôi. Cái câu nói như vậy nó cũng là tưởng ấm vì nó có ngôn ngữ, có ngôn ngữ, nó tưởng ấm như vậy.

[24:11]Còn hành ấm á thì nó quá tế rồi, nó không còn có ngôn ngữ mà không còn có hình ảnh âm thanh nữa. Đó là những tâm tế mà mình không thấy được, nhớ như vậy. Cái hành ấm, cái hoạt động đó mình không thấy được, và thường là nó điều khiển mọi hành động của mình. Đây là cái hang ổ của tâm, nó điều khiển. Cho nên suy luận, sáng tạo, tính toán này kia nọ là toàn hành ấm không. Còn thức ấm là biết. Cái biết này nó từ có cạn và có sâu. Nó cạn, ví dụ như là mắt mình thấy cảnh mình biết, biết trắng biết đỏ gì đó thuộc là nhãn thức; tai mình nghe tiếng Honda nổ, mình nghe mình biết có tiếng Honda nổ, gọi là nhĩ thức;

[24:56]đó rồi lưỡi nếm là thiệt thức; mũi ngửi là tỷ thức; tay mình rờ biết cứng, mềm, nóng, lạnh là thân thức, thân thức; và rồi cái khi trong tâm mình có khởi ý nghĩ lên mình biết được gọi là ý thức. Đó sáu cái thức đó là rất là cạn, sáu thức đó rất là cạn. Còn đi sâu hơn nữa thì cái thức này nó thành trực giác, thành trực giác, là có những cái nhiều khi rất ít thông tin mà mình vẫn biết được vấn đề, hoặc là mình đoán một việc. Nhưng thường cái trực giác này thì bẩm sinh là người nữ có nhiều hơn người nam. Người nam thì lý trí mạnh hơn người nữ, người nữ thì mềm yếu, cảm tính hơn, nên dễ bị dụ. Bởi vậy trời thương trời mới cho người nữ thêm chút trực giác để

[25:44]biết nhìn ra, nghĩa là ai là mới thật sự là cái người đáng tin cậy, còn ai là người chỉ là lợi dụng để mà chọn cho mình nơi một cái bến bờ ghé cho nó an toàn, không 12 cái bến nước. Thường người nữ này chỉ nhìn người cái thì đoán được cái người đó như thế nào. Phải không, quý Phật tử có đúng không? Phải người nữ thấy không, trực giác nhạy không? Đúng không? Dòm tôi thử coi ra sao. Đúng không, quý cô? Còn quý thầy á thì đa phần người nam họ lý trí mạnh, nhưng cũng có một vài trường hợp người nam có trực giác, nhưng mà tính tỷ lệ thì vẫn ít hơn. Mà đến cái độ có khi có cái thần thông, đôi khi biết được một, hai kiếp của mình cũng còn của thức ấm.

[26:27]Thức ấm nó dễ sợ vậy đó, nó vi diệu như vậy. Thì hơi thở vậy, nó cũng đi theo tưởng ấm, hành ấm, thức ấm. Hơi thở mà của tưởng ấm là thế này, ví dụ như chúng ta tưởng tượng hơi đi vào bụng, quý thầy có tu hơi thở bụng chưa? Có tưởng tượng đi xuống bụng không? Có không? Có, phải không? Thì đó là hơi thở của tưởng ấm. Hầu hết là chúng ta tập hơi thở bụng là chúng ta đang tập hơi thở của tưởng. Hoặc là mình tưởng hơi thở chỉ đi ngoài da chứ không có đi thông sâu, thì đó là hơi thở của tưởng ấm. Những vị khí công thì họ còn tưởng đi theo vòng Chu Thiên nữa, nghĩa là xuống tận ở dưới hội âm, ngược ra sau xương sống đi lên trên

[27:05]đỉnh đầu, đi một vòng đỉnh đầu đi xuống, đi theo cái đường vòng đó gọi là vòng Chu Thiên, cũng là dùng cái tưởng mà tu, thì đó là tưởng ấm. Còn hơi thở của hành ấm là hơi thở mình có điều khiển. Ví dụ mình điều khiển hơi mình dài khoảng đó, ngắn khoảng đó. Ở đây quý thầy có điều khiển hơi thở không? Có không? Quý thầy có tu không? Không, bây giờ hỏi là quý thầy có điều khiển hơi thở không? Có không? Có, phải không? Là khi mình tu mình vẫn điều khiển hít vô dài cỡ đó, thở ra dài cỡ nào, thì mình có điều khiển như vậy phải không? Có ai mà không điều khiển? Thì cái điều khiển hơi thở đó tức là hơi thở của hành ấm.

[27:43]Còn hơi thở của thức ấm là quý thầy biết hơi thở, phải không? Hơi thở nó dài, hơi thở nó ngắn, hơi thở nó nhiều, hơi thở nó ít, mình có biết, đúng không? Có biết không? Đừng lắc đầu nữa nha. Lắc đầu nữa là méc thầy Giám hiệu á, Giám viện á. Quý thầy phải ráng mà tu nha, học là để tu nha. Riêng cái bài này cũng vậy, cái bài kinh này là bài để thực hành, nên qua Tết thì chúng ta mới gặp nhau trở lại thì quý thầy cũng còn đã gần hơn một tháng, quý thầy có tới hơn một tháng để làm cái bài Thân Hành Niệm này, và xin quý thầy hãy nỗ lực dụng công để làm bài này cho thật thật kỹ. Quý thầy có thể xin phép Ban Giám hiệu

[28:24]là Tết này con không ăn Tết, con nhập thất để con con tu con biết cái Thân Hành Niệm này như thế nào để con làm bài, chứ không chừng qua Tết lại trễ. Bỏ Tết được không? Dám không? Nghe lắc cười mà méo...

[28:43]Vì cái này là phải thực hành, là vì sao vậy? Là vì thường thường quý thầy để ý cùng một lúc quý thầy có ba hơi thở lận, phải không? Là mình cũng vừa tưởng hơi thở đi xuống bụng, vừa điều khiển hơi thở dài ngắn theo ý mình, mà vừa biết rõ hơi thở. Đó là quý thầy đã như vậy. Nhưng mà nếu chúng ta học kỹ trong kinh, kinh Nikāya chúng ta sẽ thấy, mà chúng ta sẽ thấy là Phật từ từ bỏ hai cái hơi thở này, chỉ còn hơi thở của thức ấm. Điều rất là cao, điều rất là chính xác. Chính vì lý do này mà tôi mới nói rằng: Quay lại với ờ, vì sau này các các vị đại sư khác dạy dạy về thời thiền biết không có chính xác hoàn toàn như ý Phật là vậy.

[29:28]Vì các vị đó nhiều khi dạy hơi thở mà vẫn còn bị hơi thở của tưởng ấm, hành ấm dính vào. Còn Đức Phật là dạy hơi thở thức ấm hoàn toàn, nghĩa là hơi thở như thế nào thì mình biết như thế đó, chứ không thêm cái tác động của mình vào trong đó. Quý thầy đọc ngay cái đoạn đó rồi phải không? Ở nhà có đọc rồi phải không? Là hơi thở vô dài, vị ấy biết hơi thở vô dài. Hơi thở vô ngắn, vị ấy biết hơi thở vô ngắn. Là quý thầy đã đọc rồi thì thấy trong đây Đức Phật không hề nói mình phải tưởng tượng hơi thở như thế nào, cũng không hề bảo là mình phải điều khiển hơi thở như thế nào, mà chỉ biết một cách khách quan, thụ động, chỉ biết.

[30:09]Tức là chỉ có hơi thở thức ấm. Mà muốn thực hành cái này thì bây giờ bắt đầu chúng ta đi vào sâu một chút. Lúc mới dụng công á, đúng là mình phải dùng hơi thở của tưởng ấm và hành ấm để cho nó nhiếp tâm, vì tâm mình còn loạn quá, cho nên mình phải có thêm tưởng tượng nè, có điều khiển nè, dồn hết tưởng ấm, dồn hết hành ấm rồi biết rõ ràng, tập trung thức ấm luôn cho tâm nó nhiếp. Nhưng đến lúc nào đó tâm mình nó yên rồi thì mình từ bỏ tưởng ấm, từ bỏ hành ấm liền, chỉ còn thức ấm. Nghĩa là, nghĩa là sao, ai biết? Nghĩa là không điều khiển hơi thở nữa, chỉ biết thôi, thụ động biết thôi.

[30:50]Và lúc đó chúng ta sẽ thấy hơi thở của mình khi nó dài, khi nó ngắn, khi nó nhiều, khi nó ít, và mình chỉ biết thôi, không có thêm vào. Không biết là trật, nhưng mà biết mà điều khiển cũng trật, phải không điều khiển, chỉ biết thôi. Chỗ này rất là nhẹ nhàng, tế nhị, sâu. Quý thầy đã biết cái điều này chưa? Đã thực hành tới cái này chưa? Tới chưa? Bây giờ cố gắng nha, nghĩa là kỳ này quyết thề không ăn Tết để mà mà mà dụng công. Từ giã, nói với Phật tử mình đó: "Tết này đừng lên thăm thầy, thầy sẽ dụng công." Dám không? Dám nhẹ. Nói một năm có một cái Tết thề bặt bỏ. Cái chỗ mà không điều khiển mà chỉ biết, cái chỗ đó rất là tế nhị.

[31:37]Cho nên quý thầy phải đạt tới cái trình độ tâm an định và trí tuệ mình sâu sắc, mình mới tách ra không điều khiển mà chỉ có biết thôi. Chỗ này rất là khó, rất là khó. Tối nay quý thầy bắt đầu thực hành thử, không điều khiển hơi thở mà chỉ lặng lẽ biết thôi. Mà nhiều khi nó chen vô nó cứ muốn điều khiển, cái hành uẩn của mình nó khởi động lên, nó muốn bám lấy hơi thở, nó điều khiển hơi thở dài cỡ đó, ngắn cỡ đó theo ý nó. Mình buông cái điều khiển đi, chỉ giữ cái biết. Chỗ này rất là tế nhị, rất là khó, mà rất là sâu, mà mới đúng được cái ý của Phật trong Nikaya. Còn nếu mình có thêm cái điều khiển là mình bắt đầu hơi trật

[32:16]một chút, trật một chút, nên hơi thở tức ấm hoàn toàn.

[32:24]Rồi đồng thời là Đức Phật cũng nói thêm nè: "Cảm giác toàn thân, vị ấy thở vào. Cảm giác toàn thân, vị ấy thở ra." Cảm giác toàn thân nghĩa là gì? Nghĩa là gì? Biết toàn thân phải không? Cái này chúng ta học ở đâu rồi? Trong điều thân, trong giáo trình thực tập thiền quán phải không? Do ông Chân Quang nào đó viết bậy bạ thôi, phải không? Thì như vậy là vào là chúng ta đã biết rõ toàn thân. Như vậy trong câu này, Đức Phật cho chúng ta hai cái biết: một là biết hơi thở, hai là biết toàn thân. Cho nên cái biết này không phải là tập trung vô một chỗ nha, không tập trung vô một chỗ. Chúng ta đừng tưởng mà dồn cái biết mình vào một điểm

[33:08]công phu thì gọi là chuyên nhất, không phải đâu. Chính Đức Phật ở đây dạy chúng ta biết hai chỗ: một là biết khắp thân, hai là biết hơi thở. Tôi thêm cái này nữa, tôi thêm cái này nữa mà nhiều khi không nói, nhiều khi có những vị khác không nói, là không được quá chăm chú. Quý thầy nhớ câu này giùm đó, không được quá chăm chú. Biết nhẹ nhàng, không được quá chăm chú, yếu tố này quan trọng lắm. Vì khi mà quý thầy ráng chăm chú vào hơi thở thì hành uẩn khởi lên liền. Cái mà ráng dồn tâm ý mình vào hơi thở thì lúc đó khởi động hành uẩn liền, bản ngã khởi lên liền. Cho nên biết nhẹ nhàng, biết nhẹ nhàng mà nó vẫn không hết vọng tưởng thì

[33:52]đó là do phước mình chưa đủ, thì ráng sống đời sống vị tha với huynh đệ, ráng lạy Phật thường xuyên, chứ không có mà thấy tâm mình loạn quá ráng gầm gầm gầm cái đầu để mà nhiếp trong hơi thở vân vân thì đó là sai lầm. Là lúc đó là chấp, là khởi động hành uẩn, khởi động bản ngã, sẽ nhức đầu, và một bước nào đó mình có thể bị điên loạn. Đó đây là cái yếu chỉ mà người ta bị tẩu hỏa hay không là tại chỗ này. Điên đó, tu thiền mà bị điên thường là do hai điều: một là do kiêu mạn, điên; hai là do chăm chú quá độ, tâm không định mà chăm chú quá độ, rồi bản ngã bộc khởi, mà kiêu mạn thì cũng điên luôn. Cho nên là nhớ như vậy.

[34:33]Đức Phật nãy giờ không bao giờ dạy chúng ta là phải tập trung chăm chú hết mức, hoàn toàn không có. Ngài chỉ nói biết một cách bình thản, nhẹ nhàng, chúng ta nhớ không được quá chăm chú. Những cái nhỏ nhỏ này chứ quan trọng lắm trong cái kỹ thuật về thực hành thiền định, quý thầy để ý đó. Rồi có một câu nữa là: "An tịnh thân hành, vị ấy thở vào. An tịnh thân hành, vị ấy thở ra." An tịnh thân hành là sao? Thân hành tức là cái hành động của thân, hãy để nó được yên lại. Cái điều này có nghĩa là gì? Có nghĩa là thân không nhúc nhích, phải không? Thân bất động, không nhúc nhích, kiểm soát được cái thân không nhúc nhích.

[35:16]Nó vừa biết hơi thở mà vừa giữ cho thân không nhúc nhích, như vậy nó có giống cái điều thân mình đã học không? Rất giống phải không? Đó. Mà cái thân hành á nhiều khi nó tế chứ nó không phải là thô lắm, ví dụ khi chúng ta ngồi thiền rồi cái mình nhúc nhích mình gãi, cái đó là thô. Hoặc đang ngồi thiền cái chợt thấy có người đi ngang quay qua dòm, cái thấy người quen: "Á, chào, vô!" Nói vài câu rồi cái để cho ngồi thiền lại, thì cái đó là nó nó thô quá. Còn thường á là nó không đến nỗi như vậy, không quá nhiệt tình như vậy, mình chỉ nhúc nhích nhẹ nhẹ thôi. Ví dụ ngồi thì tự nhiên mình gồng lên chút,

[35:50]để ý bỏ lại, là do mình biết toàn thân á, nên mình nhẹ nhàng như vậy. Có ai ngồi thiền mà giơ tay chào bạn? Không có. Chúng ta thấy không? Là không bao giờ mà một cái tâm không bao giờ tập trung một chỗ, vừa biết hơi thở mà vừa thêm một cái gì đó, thì rõ ràng ta biết toàn thân và giữ được cho tâm thân nó không có nhúc nhích. Đó là bài kinh này chỉ nói có 10 câu niệm vậy thôi. Nhưng mà nếu chúng ta đi qua một cái bài kinh khác cũng nói về hơi thở thì chúng ta sẽ thấy Phật nói tới 16 cái câu niệm như vậy. Có nhiều cái câu như là: "Tùy quán vô thường, vị ấy thở vào. Tùy quán vô thường, vị ấy thở ra.

[36:35]Quán tịch diệt, vị ấy thở vào. Quán tịch diệt, vị ấy thở ra." Nó có thêm một số câu phía sau nữa. Nhưng mà trong đây Đức Phật nói rất là gọn của bài kinh Thân Hành Niệm này, có lẽ Đức Phật thấy ngang đây là đủ rồi. Mà ở đây ở đây chúng ta đừng có lấy mấy câu này mà tụng khi ngồi thiền. Vì có một số nơi theo như tôi biết là khi dạy thiền đã kêu cái hành giả lấy câu này để tụng lẩm nhẩm khi đang ngồi là sai. Nó không phải là một câu để tụng. Đức Phật không hề nói rằng là tụng, mà chỉ biết thôi chứ không có tụng. Nên có nhiều người lấy cái 16 câu đó rồi ngồi từ đầu tụng câu thứ nhất cho tới câu 16,

[37:18]xong cái trở lại từ câu thứ nhất tới câu 16. Cả một thời ngồi thiền, ngồi thiền chỉ là tụng giống như tụng kinh thì đó là không phải yếu chỉ của thiền định. Thiền định chỉ là cái biết, không có lý nghĩ. Tại vì nếu mà còn tụng thành lời thì nó là cái gì? Tưởng uẩn, phải không? Còn mình chỉ biết không có lời, đó. Ở đây là có nhiều người bị, có người cũng đã tập như vậy, tụng như vậy thì không có đúng, không có ngồi lẩm nhẩm. Mà cứ nói là: "Hơi thở vô dài, tôi biết hơi thở vô dài. Hơi thở ra dài, tôi biết hơi thở ra dài", không phải vậy, không tụng, mà chỉ lặng lẽ biết thôi. Nên ở đây nó là một cái khéo, quý thầy dụng công trong tâm mình,

[38:00]rồi quan sát lại, đối chiếu bài kinh mình sẽ thấy rõ như vậy. "Trong khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an tọa, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy, này các Tỳ kheo, đó là một Tỳ kheo tu tập thân hành niệm." Thì khi mà nhiếp được tâm như vậy, thì Đức Phật nói có cái yếu tố kết quả xuất hiện là những cái ý niệm, những cái suy nghĩ về thế tục được đoạn trừ. Hễ lúc ngồi thiền mà mình nhiếp được tâm thì trong đời sống tự nhiên mình cũng thanh tịnh, không có nghĩ về cái chuyện đời nữa, không nghĩ nhiều về chuyện đời.

[38:45]Còn nếu mà mình không có những lúc tinh tấn như thế này, ngồi thiền, nhiếp tâm thế này thì trong đời sống mình dễ bị dễ bị những niệm thế tục nó xen vào. Quý thầy thấy có đúng không? Đúng không? Ai thấy đúng giơ tay lên? Như vậy những vị đó cũng đã đau khổ ghê gớm rồi phải không vì những niệm thế tục. Niệm thế tục là gì? Niệm thế tục là nói ra thì nó mênh mông đại hải. Ví dụ như là danh cũng là thế tục. Như mình nghĩ là sau này mình phải nổi danh, hoặc là quyền lợi, nói sau này mình phải làm cái chức gì lớn, hoặc là tiền bạc, mình nói phải sau mình có tiền giàu mình làm chuyện này chuyện kia thì cũng là cái cái lợi.

[39:33]Hoặc là nhiều khi mình muốn cho nhiều người thương mến mình, nó cũng là cái cái động tâm về thế tục. Hoặc là khi mình mình nhìn một cái người thế gian họ mặc bộ đồ đẹp cái mình cũng thích ngắm nghía. Nói: "Trời ơi, thiệt mấy người ở đời sướng, mặc đồ đẹp." Những niệm đó thuộc là tư duy về thế tục. Còn nếu mà mình ngồi thiền tâm mình thanh tịnh thì những điều đó không làm mình động tâm. Ở đây có nhiều vị á, có nhiều thầy tu từ nhỏ, cho nên chưa từng mặc những bộ đồ đời, nhiều khi tò mò cũng mặc thử coi nó ra làm sao. Có rồi. Chuyện này là tôi biết có cái ông thầy vậy, ổng đi tu từ đâu năm, sáu, bảy tuổi,

[40:18]thì cứ lớn từ từ lớn từ từ lên, ổng cứ nhìn người đời: "Ngộ ha, cái bộ đồ Tây này mặc biết có ra sao không?" Bữa ổng cắn mắt ổng kêu: "Mày đem cho thầy bộ đồ Tây đi thử coi nó ra làm sao." Thì cái ông ông Phật tử chắc cũng cắc cớ đem về cho ông thầy cái quần jean cái áo thun. Thì mới vô phòng hai thầy trò mặc thử vô. Ổng mặc thử đang mặc vô thì đang mặc chưa xong, chưa kịp cởi ra thì tự nhiên ở ngoài có người đập cửa kêu: "Thầy ơi thầy thầy, chuyện gì?" Ổng quýnh quá ổng đâu có biết đâu, này ổng không quen á, không quen mà cởi áo với quần cái kiểu người Tây cứ lúng ta lúng túng. Thì chuyện về sau đó thì mình không nghe kể nữa,

[40:56]nhưng có chuyện đó mà nó thành nên quả. Nhân quả khiến thời gian ông ông mặc đồ đời, thời gian hết mấy năm trời, năm bảy năm. Ẩn mình trong hình thức cư sĩ, mặc dù ở trần tu rất tốt, vẫn tinh tấn tu rất tốt. Mà khiến cái nhân duyên vậy đó, cứ bị đi vào hoàn cảnh phải mặc đồ đời đó hết năm bảy năm. Tôi ngồi tôi nghĩ cũng lạ thiệt, cái khởi tâm nó thành cái nhân quả lạ thiệt. Cho nên quý thầy đừng có khởi niệm mặc thử đồ Tây. Quý thầy đừng có khởi niệm, mình đừng khởi niệm là: "Ủa, người ta thương con quá ha, ước gì mình có con thử", chết nha! Chết á. Đó là cái những niệm về thế tục đó. Thấy đừng có, nó thành nhân quả.

[41:40]Vì thấy tôi ngạc nhiên là thấy ông thầy như vậy đó, ổng thử cái sau ổng bị dính năm bảy năm vậy đó, ngộ ghê. Cho nên mình rút kinh nghiệm và tất cả mọi điều khác nữa. Thì đó đó là do mình tinh tấn tu tập và tâm nó thanh tịnh thì những cái niệm tư duy về thế tục cũng không có khởi. Trong đời sống mình tỉnh, mình thắng nó được, biết được cái lầm lỗi mình trong từng cái nhỏ nhỏ này. Qua cái đoạn tiếp: Lại nữa này các tỳ kheo, vị tỳ kheo đi, biết rằng mình đi. Khi vị tỳ kheo đứng, vị ấy biết rằng đứng, khi ngồi biết ngồi, khi nằm biết nằm. Tức là thân thể được sử dụng như thế nào, vị ấy biết thân thể như thế ấy.

[42:18]Co tay, khi duỗi tay biết rõ việc mình đang làm. Khi mang áo Tăng-già-lê, mang bát, mang y biết rõ việc mình đang làm. Khi ăn, uống, nhai, nếm biết rõ việc mình đang làm. Khi đi, đứng, nằm, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng biết rõ việc mình đang làm. Thì hai cái đoạn này giống nhau là biết rõ việc mình đang làm, nhưng cái đoạn trên là nói những cử động tổng quát, thô, còn đoạn dưới thì nói những cử động tế, nho nhỏ. Hôm trước chúng ta đã học bài tam muội tế hạnh, chúng ta đã nói cái này nhiều rồi phải không? Nhớ không? Nhớ không? Vi diệu lắm á. Thì ở đây á, chúng ta nhắc lại một chút, là có nhiều người cũng học những đoạn kinh này, rồi mới than:

[43:01]"Trời, sao Phật nói hay Thầy nói là làm cái gì biết cái đó? Con con biết sao nó nhức đầu quá." Có nhiều người tu này nhức đầu, quý thầy phải biết để mà trả lời cho người ta. Là thế này: là không được cố ý biết. Nhớ nha, không được cố ý biết. Cái biết về thân thể nó tự nhiên nó xuất hiện do mình thường quán thân là vô thường. Cái bài kinh này đó, Phật nói tu hơi thở trước, nhưng mà những bài kinh khác á, Đức Phật lại dạy quán thân là vô thường trước. Mà bản thân tôi cũng vậy, tôi cũng quán thân vô thường trước và tôi thấy nó thích hợp hơn. Tuy nhiên là mình không bao giờ quả quyết cái nào là tuyệt đối đúng, nhưng kinh nghiệm của tôi vậy.

[43:43]Ví dụ mình thường biết thân mình vô thường thì đương nhiên cái thân nó làm gì mình biết luôn, nhúc nhích thế nào mình biết luôn. Mà cái biết đó nó là một hệ quả tự nhiên chứ không phải cố ý. Còn nếu mình làm cái gì mình cũng cố ý biết cho rõ, biết cho rõ thì nó trở thành tâm hướng ra bên ngoài rồi cố chấp, nên sẽ từ từ bị nhức đầu. Đó, đó là lý do tại sao. Nên từ đây về sau, mà ví dụ như có ai hỏi quý thầy: "Tại sao làm gì biết cái đó thấy nặng đầu?", quý thầy nói là như vậy Phật tử do cái lỗi là đã cố ý biết. Còn ở đây mình không cố ý biết, mình chỉ biết một điều thôi, là thân này hư giả, vô thường quá.

[44:24]Vậy rồi trong đời sống, nhúc nhích cái gì mình biết liền. Thân mình như thế nào mình biết như thế đó. Mình ở đây mình cứ liếc ra đường hoài mình biết: "À, tôi cứ liếc ra đường hoài." Ví dụ vậy. Rồi khi mà trong cái bàn ăn, ngồi thì có nhiều khi có nhằm được cái bánh đậu xanh, lâu lâu ai cúng bánh đậu xanh ngon để đầu bàn ăn xong á, mình cứ liếc cái bánh đậu xanh hoài mình biết: "Tôi ngồi ăn cứ liếc cái bánh đậu xanh hoài." Nhiều khi ở trong lớp vậy, ngồi cái cái tay mình nó buồn buồn, nó thò thò thò lát qua cái đùi người bạn nhéo một cái cho vui, cái mình biết mà: "Tôi nhéo người bạn, tôi biết tôi đang nhéo người bạn."

[44:58]Hoặc mình nghe giảng lát cái từ từ mình lim dim. "Tôi đang lim dim. Tỳ kheo ấy biết rõ mình đang lim dim." Ở đây có cái là: ngủ, thức đều biết rõ. Cái chỗ này không có dễ nhen. Biết thức thì biết, chứ ngủ, ngủ thì rất khó biết. Vì sao vậy? Vì ngủ là hết biết rồi.

[45:21]Tuy nhiên, những vị nào mà có Có thật chứ không phải không. Nên Phật nói không có dư chữ nào đâu, Phật nói rất chính xác. Nhưng mà vì mình tu chưa tới, nên là không hiểu nói chắc kinh này in thiếu, in dư một chữ: ngủ sao biết nữa? Phải không? Nhưng mà thật sự là cũng chưa cần chứng ngộ viên mãn, chỉ chứng ngộ cái mức độ trung trung thôi, là khi ngủ đã biết rồi, biết rõ mình đang ngủ. Vi diệu như vậy. Khi co tay, khi duỗi tay, khi mang bát đều biết, thì như vậy là nó không cố ý nhưng mà những điều này phải hiện ra thì mới sự tu tập như vậy mới gọi là đúng. Lại nữa này các tỳ kheo, vị tỳ kheo quan sát thân này từ dưới bàn chân trở lên

[46:03]cho đến đỉnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt. Trong thân này, đây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, thận, tủy, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước bấc, khớp xương, nước tiểu... Giống như một người cầm cái bao đồ hai đầu trống, đựng gạo, lúa, đậu xanh, đậu lớn, mè, đổ ra và người đó phân biệt từng món, cũng vậy, vị ấy biết rõ trong thân mình như thế nào từng thứ trong thân. Thì cái này nó thuộc về kiến thức của giải phẫu học trong y khoa. Chứ mình thường thường bây giờ mình từ nhỏ tới lớn mà nếu không được học thì

[46:42]mình không có biết gan mình là cái gì, ruột mình là cái gì, phải không? Mình biết có một chỗ mà tới chừng nó đói cái nó cồn cào trong đó vậy thôi, chứ còn mà không biết gì nhiều, không biết gì nhiều. Nhưng mà không biết tại sao Đức Phật biết rõ như vậy? Có lẽ lúc còn ở trong hoàng cung, Ngài đã được học về giải phẫu học về y khoa, vì kiến thức y khoa của thời đó cũng tiến bộ lắm. Trong cung đình họ dạy rất tiến bộ, ở Ấn Độ chứ không phải không. Người ta đã từng mổ những xác chết, đã từng nghiên cứu con người cũng nhiều, cho nên có lẽ Ngài đã được học, nên Ngài liệt kê ra khá rõ ràng. Thì đây là một cái đoạn nữa là biết rõ từng thành phần của

[47:17]thân mình, nó như vậy, biết khách quan, không phê phán, không phê phán, biết rõ, chỉ là thức trống, không phê phán. Một đoạn kế tiếp nè: Vị ấy biết rõ vị trí các giới, thân này có địa đại, thủy đại, hỏa đại và phong đại. Giống như một người đồ tể thiện xảo giết một con bò, ngồi cắt chia từng phần tại ngã tư đường, cũng vậy, vị tỳ kheo biết rõ thân này gồm có địa đại, hỏa đại, phong đại, thủy đại. Qua cái này chúng ta biết được một cái phong tục ở Ấn Độ là họ giết bò giữa ngã tư đường. Ngộ ha. Vì thời đó cái đạo Ấn Độ chưa có thịnh, vì đạo Ấn Độ sau này thì họ thờ bò, không có giết bò. Như vậy là thời Đức Phật, người ta chưa có thờ bò.

[48:02]Mình đọc cái này mình phát hiện ra được những chi tiết lịch sử đó, người ta chưa có thờ bò. Và thời đó thì khi giết con vật, tại sao giết ngã tư đường ha? Giết để bán, để chia cái gì, ngộ ha. Thôi. Thì ở đây là biết thân thể một cách vắn gọn là gồm tứ đại, còn biết như ở trên là biết một cách chi tiết. Thân như thế, mình biết như thế, hoặc là nói gọn: thân này là tứ đại, biết gọn nó là tứ đại, đó. Biết như vậy là biết một cách khách quan, không phê phán, không phê phán. Đố quý thầy biết để làm chi? Khi mình biết cái thân mình chỉ là tứ đại như vậy, mình biết cái tứ đại nó đang nói chuyện trong lớp như vậy, cũng biết luôn.

[48:46]Nói tứ đại, đừng nói chuyện trong lớp nữa. Khi mình biết thân mình chỉ là cái tứ đại như vậy thì mình cảm thấy mình cái thân này không phải là mình nữa, phải không? Đúng không? Đúng không? Cái đó rất là hay đó, quý thầy thử nhìn là sẽ thấy. Tự nhiên mình cảm thấy mình là cái gì không phải là cái thân này nữa, khi mình biết thân này là tứ đại. Vi diệu lắm. Nên Phật không có nói dư. Phật khi mà dạy mình cái lối tu như vậy, nhìn thấy thân như vậy, là không có ở không mà đặt chuyện đâu. Mà khi mình thực hành đúng như vậy, mình sẽ thấy rằng mình và cái thân này nó không dính gì nhau, tâm bớt chấp thân, rất là hay.

[49:27]Rồi để mạnh hơn nữa, Đức Phật mới dạy mình những đoạn kế tiếp: Lại nữa, này các tỳ kheo, vị tỳ kheo như thấy một thi thể quăng bỏ trong nghĩa địa một ngày, hai ngày, ba ngày, thi thể ấy trương phồng lên, xanh đen lại, nát thối ra. Vị tỳ kheo quán thân ấy như sau: "Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi bản chất ấy." Cái việc mà thân mình rồi sẽ chết, sẽ mục là một sự thật hay là không sự thật? Một sự thật, phải không? Điều không ai chối cãi được. Và đạo Phật là như vậy. Đạo Phật là cái gì thật như thế nào phải biết nó rõ như thế đó, không có tránh né, không bóp méo, không tưởng tượng, không tu điểm.

[50:13]Đó là đạo Phật. Quý thầy nhớ nha, đây là một yếu chỉ quan trọng của đạo Phật, là đạo biết như thật. Sự thật như thế nào, cứ biết đúng như vậy, không thêm bớt. Mà có cái hay là khi mình biết được sự thật thì tâm hồn mình tự nhiên được an tịnh, giải thoát. Giống như một nhà văn, một nhà tư tưởng nói, mà tôi quên mất cái vị nào, không biết phải Newton không, nói là: "Sự thật giải phóng chúng ta."

[50:42]"Sự thật giải phóng chúng ta" là sao? Là ví dụ như con người mình sở dĩ mê muội, ờ hiểu lầm, hoạt động sai, rồi tự trói buộc mình vô mê tín là vì mình không biết được sự thật. Nếu biết được sự thật thì mình thoát ra khỏi những cái mê lầm đó. Ví dụ như là một thời gian con người ta cứ tin rằng có một Thượng đế đó đã tạo ra tất cả, thì cái đó không phải sự thật. Mà khi mình tin như vậy rồi một ông nào đó nói: "À, Thượng đế bắt bảo anh là phải giết người đi thì anh sẽ được lên ở với Thượng đế." Thì do mình đã tin như vậy nên mình sẽ tin cái ông gọi là giáo sĩ đó, mình đi mình giết người để làm đẹp lòng Thượng đế.

[51:25]Đó, cái đó là từ cái sai lầm.

[51:29]Từ cái hiểu sai mình đã đi vào trong cái trói buộc tội lỗi. Còn ở đây nếu lúc nào đó mình biết được một sự thật, tất cả đều là do nhân duyên tạo thành không phải do một Thượng đế, nên người ta xúi mình làm bậy, không làm vì mình biết nhân quả. Đó là sự thật giải phóng chúng ta. Thì ở đây cũng vậy, khi mình thấy cái thân nó là như vậy, bản chất nó sẽ hư giả, vô thường mục nát, biết một cách khách quan như vậy, tâm hồn mình sẽ đi dần vào an tĩnh. Chứ không phải là vô lý, không phải là ngồi đó mà bi quan, thân chưa chết mà ngồi lo quáng là thân nó chết sình trương. Đây những người ta không biết người ta sẽ nói

[52:10]rằng đạo Phật bi quan, nhưng không phải. Đó là cái can đảm nhìn thấy sự thật về cái thân này. Dù cái thân này như thế nào, nó đẹp trai hay xấu trai, thì rồi cuối cùng nó cũng sẽ mục nát. Rồi ở cái đoạn tiếp, Đức Phật nói: Này các Tỳ-kheo, như thấy một thi thể quăng bỏ trong nghĩa địa bị các loài quạ ăn hay bị các loài diều hâu ăn, chim kên kên, loài chó, loài dã can, côn trùng ăn, vị ấy quán bản chất của thân này là như vậy. Khi nằm trong lòng đất lạnh thì côn trùng nó rỉa, nó rúc. Hoặc là nếu như ở phong tục Ấn Độ bị quăng trong rừng thì thú rừng nó sẽ rỉa, nó sẽ cắn xé. Bản chất thân này là như vậy, biết một cách khách quan như vậy.

[52:58]Mà khi mình biết như vậy thì tâm mình lìa được cái chấp thân, lìa được cái chấp thân. Rồi cái đoạn kế tiếp là Tỳ-kheo thấy một thi thể quăng bỏ trong nghĩa địa tất cả mục rã chỉ còn cái xương gân nó dính lại với nhau: Đây là xương ống, đây là xương chân, đây là xương bắp vế, bản chất của thân là như vậy. Rồi vị Tỳ-kheo ấy thấy cái xương lâu năm chỉ còn màu trắng hoặc là thối rã trở thành bột và biết cái thân này bản chất nó là như vậy. Phật nói cái tận cùng căn để như vậy để cho mình biết đó là một sự thật. Mà đó là sự thật mình phải can đảm đối diện, mà can đảm đối diện như vậy mình hết được cái chấp thân. Tại sao như vậy?

[53:46]Vì cái chấp thân là cái chấp quan trọng, là cái nền cho tất cả những cái chấp khác. Ví dụ như tại sao mà chúng ta ham muốn giàu sang? Bởi vì mình chấp thân này, mình thấy thân này quý, nên mình muốn giàu sang để cho thân này sướng. Tại sao mình ham thích lời khen? Vì mình cũng do chấp thân mà ra. Và tại sao mình thích đẹp trai? Vì cũng do chấp thân mà ra. Cho nên nếu mà phá được cái chấp thân thì những cái chấp khác khác nó rơi rụng tả tơi như một mùa thu lá rụng sương mù. Không biết có lẩm nhẩm hát lén bài đó không? Nên cái Phật phá cái chấp thân thật kỹ là như vậy, lý do là như vậy đó. Bây giờ sau khi mà đi qua những giai đoạn đó,

[54:37]thì một vị Tỳ-kheo này vừa nhiếp tâm được trong hơi thở mà vừa phá được cái chấp thân, nên vị ấy bắt đầu chứng được Sơ thiền. Lại nữa, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo ly dục, ly ác pháp chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Cái tiêu chuẩn của Sơ thiền là phải ly dục, ly ly ác pháp. Ly tức là lìa đó, lìa bỏ đó. Cái này là cái bản chất ở trong tâm mình đó. Cái dục này nó có hai nghĩa: Một là cái nghĩa là những cái ham muốn của thế gian, hai là cái nghĩa là dâm dục. Thì cái người mà nhiếp tâm được vào trong Sơ thiền thì cả hai cái dục này cũng phải mất thì mới tâm mới thanh tịnh được.

[55:21]Lìa ác pháp là trong tâm mình không có làm không bao giờ nghĩ một điều sai, điều bậy trong tâm, chỉ nghĩ điều thiện. Không có ý giận người khác, không bao giờ có ý muốn hại chúng sinh nào, chỉ có lòng từ bi thương yêu thôi, gọi là mới lìa được ác pháp. Chứ trong tâm mình ví dụ ai làm gì mình còn giận là còn ác pháp trong tâm, hoặc lòng mình khởi lên còn ham muốn cái điều gì là ác pháp trong tâm. Cho nên hai điều này phải mất, mất trong căn bản trong gốc luôn đó mới gọi là lìa được dục, lìa được ác pháp. Thì đạt được một cái tình trạng là: Hỷ do ly dục sanh.

[55:58]Hỷ là vui mừng, cái trạng thái nó rộn rã trong tâm vui mừng. Khi mình lìa được những cái ham muốn của thế gian thì tự nhiên cái niềm vui mừng xuất hiện. Dĩ nhiên là phải có định nữa, Đức Phật không nhấn mạnh đến định vì nó còn lẩn khuất cái tầm, cái tứ. Tầm tứ là những ý niệm tế trong sâu xa, tế đó, còn tầm, còn tứ. Nhưng mà trên bề mặt của tâm thì đã thanh tịnh lắm rồi thì mới được cái này. Rất thanh tịnh rồi mình mới lìa được dục, lìa được ác pháp. Nhưng mà nếu thật sự lìa được dục thì cái vui mừng xuất hiện. Đây là một quan điểm lớn của đạo Phật. Quan điểm lớn. Có một câu này chút xíu chứ nó là một quan điểm lớn. Quan điểm lớn nằm ở chỗ nào?

[56:39]Ở chỗ là ở thế gian đó, người ta đi tìm cái vui mừng hạnh phúc bằng cách là thoả mãn dục lạc. Ví dụ như là người ta nghĩ rằng ăn một bữa ăn ngon là hạnh phúc. Cái hạnh phúc đó do thoả mãn được dục mà có. Người ta lấy nghĩ rằng lấy được vợ đẹp con xinh là hạnh phúc, tức là thoả mãn dục là hạnh phúc. Người ta nghĩ rằng người ta phải quyền cao chức trọng mới là hạnh phúc, nghĩa là thoả mãn được dục mới là hạnh phúc. Trong khi đạo Phật lật ngược lại hẳn: Lìa bỏ tất cả những cái dục đó thì được hạnh phúc. Đây là một quan điểm lớn của đạo Phật mà lật ngược lại cái vấn đề của con người hết. Đây chúng ta chúng ta để ý cái điều này.

[57:23]Cái câu nói rất ngắn, vài chữ thôi, nhưng mà thể hiện một quan điểm cực kỳ lớn của đạo Phật. Và chỗ này là chỗ mà người tu đạo Phật khẳng định cho mình. Vì nếu mình có cái gì đó buông, chiều theo niềm vui của thế gian là mình đang đi về cái phía này, đi trôi lăn vào. Mà nếu quyết tâm lật ngược lại, mình cũng tìm được niềm vui, niềm vui đó do cái ly, do không có còn ham muốn gì nữa. Đây là quan điểm rất là lớn. Tuy nhiên, bây giờ chúng ta tin Phật, à Phật nói như vậy thì không thể nào sai lầm. Phật đã nói rằng lìa được cái dục lạc thì xuất hiện trạng thái vui mừng, hạnh phúc trong tâm, Phật nói không sai.

[58:04]Nhưng mình làm gì làm phải kiểm chứng với sự tu hành của bản thân mình đó, như nãy chúng ta nói phải không? Phải đối chiếu với công phu tu hành của tự thân, cũng giống như Đức Phật đã dạy chúng ta không tin bất cứ điều gì của người khác nói nếu mình chưa có kiểm chứng lại. Thì ở đây cũng vậy, khi mà Đức Phật nói rằng mình lìa bỏ mọi ham muốn này mình được hạnh phúc thì mình cũng phải kiểm chứng lại coi Phật nói đúng hay không. Bây giờ thì Phật nói đúng hay không? Hiện nay chúng ta đang ngồi trong giảng đường này, quý thầy có ai có cái dục nào không? Nói lên tôi nghe. Có không? Khi đang ngồi đây nhìn vào tâm mình có cái dục nào không? Có không? Có không?

[58:45]Quý Phật tử có không? Có không? Cũng không, có ai có ham dục có gì đâu. Có ai có ham muốn gì đâu? Đang ngồi nghe kinh đâu dám ham muốn gì nữa phải không? Giờ này là bánh tráng tôm khô gì cũng bỏ nhà hết chứ đâu có dám ham, không dám nghĩ gì nữa phải không? Còn quý thầy đang ngồi nghe kinh như vậy thì trong lòng là cũng đang thanh thản, không có ham muốn gì nữa hết. Thì mình sẽ hỏi rằng: Ủa, tôi đang ly dục, tôi đang không muốn gì nữa, tại sao tôi không xuất hiện được cái trạng thái hạnh phúc như Phật nói? Sẽ có người hỏi chúng ta điều này. Tôi nói thêm chút nữa. Khi quý thầy sau này giảng kinh đó, quý thầy có thấy một điểm này.

[59:22]Nhiều khi kinh nói sao mình cứ nói lại như vậy coi chừng người ta hỏi. Những cái người mà họ hay hoài nghi và họ hỏi sâu sắc, họ lấy một điểm nhỏ họ hỏi là mình bí. Mình phải lường trước là người ta sẽ bạt lại, lật ngược vấn đề như thế nào, biết trước để mà trả lời. Sau này nếu quý thầy đi làm giảng sư nhớ như vậy. Thì điều này tôi sẽ nói sau này, khi tôi giảng xong loạt bài về phương pháp diễn giảng thì sẽ nói kỹ. Hôm nay thì nói đến đây vậy. Thì ở đây chúng ta sẽ trả lời câu hỏi như thế này: Cái dục của chúng ta nó như là một cái khối, nó đang nằm im ở trong tâm mình. Hiện nay nó không có khởi lên, vì nó không có bung khởi ra.

[59:58]Khi mình rời khỏi cái giảng đường này đó, trong cái thầm lén riêng tư của mình đó, bắt đầu mới khởi lên đùng đùng, khởi lên. Dưới kia Phật tử là bún bò, giò heo. Trên đây quý thầy là ví dụ như quý thầy không biết có gì, tôi cũng không nghĩ không ra. Quý thầy chắc là là đây quý thầy bánh bao gì đó, ví dụ vậy. Mình khởi muốn này, muốn cái kia là lúc lúc có có cái đụng chuyện, hoàn cảnh nào đó nó khởi lên. Còn mà bình thường á, như lúc này nó giấu tuốt ở trong. Cho nên lúc này mình thấy mình thanh thản và nó không có khởi được cái hỷ này là vì cái cục này còn. Tuy nó không khởi nhưng cái cục này còn,

[1:00:37]cái cục dục này nó còn trong bụng mình nè nên cái hỷ không khởi. Mà mình tu thiền cho đến ly dục, ly ác pháp tâm thanh tịnh được, cục này nó mất. Trong thầm kín, trong sâu xa, trong cái y nguyên vời vợi, thẳm sâu nào đó của lòng mình nó mất cái cục này thì mình mới có cái cái cái hỷ, cái cái vui mừng nó xuất hiện. Đó là câu trả lời. Quý thầy đồng ý không? Đồng ý không? Không biết có giục gì không mà không đồng ý gì hết trơn hết trọi. Rồi Đức Phật cũng ví dụ là

[1:01:16]giống như một người hầu tắm là rắc bột tắm trong thau bằng đồng. Cái bột tắm này bây giờ kêu là cái gì? Xà bông. Rồi nhồi bột tắm ấy với nước, rồi trộn lẫn trong lẫn ngoài. Cũng vậy, thì cái trạng thái mà cái bột tắm nó tròn, nó đều, nó nhuần nhuyễn khắp nơi cả cái thau nước như vậy đó, thì giống như trạng thái Sơ thiền. Mình nghe Phật ví dụ vậy mình cũng không biết đường đâu mà rờ. Phật ví dụ rất là lạ, mà Phật ví dụ nhiều lần như vậy. Rất là lạ, ví Sơ thiền giống như là thau nước xà bông, không biết làm sao. Rồi tới đoạn mà chứng Sơ thiền: "Vị ấy diệt tầm và tứ, chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh,

[1:01:58]không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm." Tới cái này mới thật sự vào Định nè. Tới cái Nhị thiền đó, thì cái tầm tứ này nó chấm dứt, cho nên tâm rất định. Chỗ này nhiều người tưởng mình chứng hoàn toàn. Nhiều người tu tới đây thấy không còn ý niệm gì nữa thì nói mình là hoàn toàn, coi như là sạch niệm. Nhưng giống như mấy vị thiền sư, mình không đi hiểu được nhưng mà đều giống giống nhau vậy. Như ngài Thạch Đầu ngài nói: "Ta ở đây, mũi kim, mảy bụi chẳng lọt vào." Một cái vọng tưởng nhỏ cũng không thể nào rớt vào tâm các ngài được. Hoặc như ngài Dược Sơn nói: "Con trong ấy như trồng hoa trên đá." Trồng hoa trên đá có dính không?

[1:02:38]Không dính, không có gì dính được trong tâm ngài. Hoặc có vị nói rằng "Không một điểm dối gạt được y." Tức là trong tâm mình nó sáng, một điểm vọng tưởng nhỏ cũng không, cũng bị phát hiện ra, hóa giải liền, không có bao giờ để lọt vào được. Thì cái đó là cái định không còn tầm tứ của Nhị thiền. Thì ở đây chúng ta thấy nè, cái Hỷ này vẫn còn mà xuất hiện thêm cái Lạc, hai cái khác nhau. Chỗ này chúng ta mới thấy cái trí tuệ của Phật nè. Ghê thật. Hỷ là vui mừng, Lạc là hạnh phúc. Mà hai trạng thái này nó trộn cùng một lúc khi mình đạt Sơ thiền, mà Đức Phật tách ra làm hai, phân tích được. Chứ nếu như mình mà đạt được trạng thái này mình

[1:03:20]không thể nào nhìn ra hai cái như vậy. Là có cái vui mừng rộn rã trong tâm, đồng thời có cái cảm giác an lạc, hạnh phúc mênh mông, hai cái đó mình mình không phân biệt ra được. Mình cứ gọi chung nó là là Hỷ Lạc hay Lạc cái gì đó một cái hẳn chung. Vậy mà Đức Phật tách ra làm hai để dạy mình được. Và cái vui mừng này nó không phải do ly dục, mà cái vui mừng này do Định. Và trong cái Định này nó xuất hiện luôn cái Lạc, hạnh phúc cái an lạc. Cái cảm giác này thì ai chứng thì biết, như tôi chưa chứng thì không biết. Phật ví dụ: như một cái hồ nước trong dâng lên rồi tràn ra một cách sung mãn, thì Đức Phật ví dụ là cái Nhị thiền cũng giống như vậy.

[1:04:04]Tới cái Tam thiền: nè, "Ly hỷ, trú xả, là xả niệm lạc trú, là an trú thiền thứ ba, thân cảm cái lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng trú thiền thứ ba." Nó còn cái Lạc, xuất hiện cái Xả. Ở đây chúng ta thấy này thiệt là hay, cái công thức nó quá hợp lý. Xả này nó có nhiều nghĩa. Thí dụ mình trồng dưới đất thì kêu là sả, sả như củ sả, xả ớt. Nhưng nếu trong từ bi hỷ xả thì xả này có nghĩa là tha thứ. Trong trí tuệ Bát-nhã thì xả này có nghĩa là buông bỏ được chấp trước. Còn cái xả trong Tam thiền có nghĩa là vượt qua được tâm tự hào bí mật. Khi mà mình tu hai cái thiền trên đó vì còn cái Hỷ cho nên còn cái tự hào.

[1:04:57]Nhớ nha, hễ còn vui mừng là còn có tâm tự hào xuất hiện. Thì xuống tới cái thứ ba này nó mất cái Hỷ thì nó mất cái tự hào cho nên nó xuất hiện cái Xả liền. Cái trạng thái mà vượt qua được cái tâm tự hào bí mật mà người xưa họ gọi là "vô sở đắc". Tu vượt đến cái chỗ vô sở đắc, không còn thấy mình được gì nữa, tức là không có có tự hào về cái kết quả của mình. Chứ còn người chứng Sơ thiền, Nhị thiền vẫn còn cái Hỷ nên vẫn còn bị cái tự hào. Ngang chỗ này nếu không có vị thầy hướng dẫn, nếu mình không có cái công đức từ nhiều kiếp, cái tự hào này nó kéo mình trở lại, lui trở lại, không tiến sâu vào vào Tam thiền được nữa.

[1:05:37]Hồi sáng này có một sư cô ở Thiên Phước, khi tôi giảng xong mới ra hỏi tôi là: "Trước kia khi con còn ở cư sĩ, con ngồi thiền tâm con thanh tịnh, mất cái thân và đạt tới cái hỷ. Lúc đó con sợ quá con bỏ, không dám tu nữa." Thì tôi nói á: "Đúng ra là cô bỏ cũng là cái may. Bởi vì cái Hỷ nó làm cho mình khởi cái tự hào. Nhưng nếu lúc đó đó, mình mà có đủ phước á thì mình đừng có chạy theo cảm giác Hỷ đó mà nắm chặt cái pháp môn mình, biết rõ hơi thở, bỏ mặc cái cảm giác khác thì mình đi tiếp. Hoặc là mình gặp ông thầy ổng cảnh giác mình cái Hỷ này là tự hào, giữ chặt pháp môn, thì mình có thể đi tiếp được.

[1:06:17]Nhưng trường hợp của cô là lúc còn cư sĩ cô tự tu một mình, cô đạt ngang đây mà không ai hướng dẫn. Lúc đó nếu ngồi mà cứ chiêm ngưỡng cái cảm giác hỷ lạc của mình, thì một thời gian cái tự hào nó cứ bốc lên, dần dần bốc lên, có thể kiêu mạn rồi tẩu hỏa, điên luôn." Nguyên nhân của điên trong thiền định như chúng ta đã nói là do do gì? Kiêu mạn. Đó, và chính cái Hỷ này nó làm mình tự hào, tự hào quá rồi thành kiêu mạn, kiêu mạn rồi sẽ điên. Cho nên chúng ta nhớ khi chúng ta ngồi thiền, hễ những cái cảm giác hỷ lạc mà nó xuất hiện mênh mông, thì đừng có để ý tới nó mà lo nắm chặt cái hơi thở mình.

[1:06:51]Nắm chặt coi chừng rơi vào cái trớn "trú" nha. Nghĩa là vẫn khéo léo biết rõ hơi thở, đừng quan tâm đến những cảm giác đó thì mình có thể tiến lên, tiến lên nữa. Mình giảng tới mấy bài này bắt đầu nó hơi sâu trong sự tu hành ha. Phải có tu hành mới biết. Quý Phật tử phải về nỗ lực mà ngồi thiền để mà hưởng được những cái lời dạy cao quý của Đức Phật, chứ còn mình chỉ nghe qua tai về không ngồi thiền uổng phí, uổng phí. Rồi tới cái thiền thứ... Cái câu này Phật không có nói rõ. Như cái Tam thiền này hầu như không thèm nói rõ nữa. Vì thời xưa, vào cái thời Nikaya Đức Phật nói cái dụng công thì nhiều mà nói kết quả thì ít.

[1:07:33]Còn cái thời kinh Đại thừa đó thì nói dụng công thì ít mà lại diễn tả kết quả thì nhiều. Các ngài nói tâm này mênh mông trùm khắp pháp giới này kia nọ là diễn tả kết quả. Còn Đức Phật ngày xưa Đức Phật giấu, bặt, không có nói. Chứ Tam thiền này là có thần thông rồi đó, coi chừng đắc thiên nhãn thông được. "Tứ thiền là xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh." Câu này Phật nói đơn giản quá, quá đơn giản. Chứ sự thực tới Tứ thiền là quá cao, quá cao. Từ Tứ thiền là có Tam minh Lục thông luôn á. Cho nên chỗ này Phật nói như vậy là những người mà muốn bắt chước,

[1:08:12]không chứng thì không thể hiểu được Tứ thiền là gì, không dám nói dóc. Vì Đức Phật diễn tả quá ít. Đó là cái khôn ngoan của Phật. Phật không có diễn tả nhiều, sợ người sau bắt chước cái lời nói rồi đem khoe khoang tổn phước. Ngài nói rất là gọn, để cho ráng thực hành tới rồi biết, không có nói ra. Đó là cái trí tuệ của Phật. Còn người sau này không có trí tuệ bằng Phật nên hay diễn tả. Diễn tả tâm thế này, tâm mênh mông thế kia, rồi người khác họ nghe ngôn ngữ rồi bắt chước đi nói đó. Tổn phước rồi đạo Phật bị suy tàn là vậy. Ở đây Đức Phật mới nói rằng: người nào, "Người nào mà tu tập Thân hành niệm sung mãn như vậy,

[1:08:52]thì như các con sông đều đi vào trong biển, đều thuộc về biển lớn, thì cũng vậy, các con sông đi vào trong biển tâm người đó. Và Ma vương không có cơ hội để chi phối người đó. Vì tâm không có chỗ bám, sự chấp, sự sai lầm. Ma vương phá chúng ta là do chúng ta có cái sai lầm trước. Ví dụ mình hay ghét người khác, thì ma nó nó nó ghim vào cái tâm ghét đó, nó tác động tiếp, nó xúi mình làm bậy. Hoặc mình hơn thua thì ma nó chực cái tâm đó mà nó làm tới cho mình. Còn nếu người mà tu tập Thân hành niệm, thường không có chấp cái thân thì ma không có chỗ bám vào." Đức Phật nói ví dụ như người mà không tu tập

[1:09:34]Thân hành niệm, thì giống như cục đất sét ướt, quăng cục đá vô, nó sao? Xẹp cái bẹp, phải không? Thì những cái đoạn kế tiếp thì chúng ta nghe Đức Phật dùng nhiều ví dụ rất là mạnh để thuyết phục mọi người ráng tu tập Thân hành niệm cho sung mãn để tránh được cái Ma vương, mà Đức Phật dùng nhiều thí dụ lắm. Như bình nước trống rỗng thì người ta có thể đổ nước lên đó được, cũng vậy, người không tu tập Thân hành niệm thì người đó rỗng, thì ma nó chế cái cái thứ nước của nó vô được. Rồi giống như người quăng trái banh vào cánh cửa, nó dội ra, nó không dính gì vô cánh cửa hết trơn. Thì cũng vậy, cái người mà tu tập Thân hành niệm

[1:10:19]sung mãn thì ma không có dính vô được. Như vậy là ngày xưa có đá banh rồi. Ngày xưa có đá banh rồi. Ngộ ha, mình đọc đây mình thấy nè, có banh nè. Như vậy hồi xưa đã có trò chơi đá banh rồi. Mà kiếp trước coi chừng quý thầy không biết ai giữ gôn đây đó, coi chừng á. Có. Ở đây Phật dùng nhiều ví dụ, để quý thầy đọc thẳng kinh bản cho nó hay ha, chứ không có thì giờ. Ở đây nè, Đức Phật nói tiếp về mười công đức khi mà mình thành tựu. Chúng ta nghe: "Lạc, bất lạc được nhiếp phục", đó là dù cái vui hay cái không vui là mình vẫn an ổn, chứ không có đòi hỏi cái điều vui mà không có khó chịu vì cái điều không vui.

[1:10:57]Công đức thứ hai là "khiếp đảm, sợ hãi được nhiếp phục", nghĩa là người này rất là can đảm, không còn sợ điều gì nữa, không có sợ chết, không có sợ ma, không có sợ gì nữa hết. Trong cái hoàn cảnh bị hăm dọa gì cũng không bao giờ sợ hãi, vào nơi vắng vẻ không sợ hãi, hoặc là trước sự hăm dọa, áp bức người khác không sợ hãi, lòng thanh thản, cái sợ nó mất tiêu. Thứ ba là "kham nhẫn được, chịu đựng được lạnh, nóng, đói, khát, ruồi, muỗi, gió, mặt trời, các loài rắn rết, các cách nói khó chịu, khó chấp nhận", nghĩa là người ta nói xóc óc, người ta chửi mắng mình cũng chịu đựng được. Hoặc là "thân mình đau nhói, khổ,

[1:11:30]thô bạo, bất khả ý, bất khả ái đưa đến chết điếng cũng chịu đựng được". Công đức thứ tư là "chứng được bốn Thiền". Công đức thứ năm là, là "chứng được Thần túc thông: một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân, hiện hình, biến hình, đi ngang qua vách, qua tường, qua núi như đi ngang hư không, độn thổ trồi lên ngang qua đất liền như ở trong nước, đi trên nước không chìm như đi trên đất liền, ngồi kiết già đi trên hư không như con chim, với bàn tay chạm và rờ mặt trăng và rờ mặt trời, những vật có đại oai lực, đại thần lực như vậy, có thể bay đến cõi trời Phạm Thiên". Đó, Thần túc thông. Một công đức kế tiếp là, thứ sáu là "Thiên nhĩ:

[1:12:13]Với thiên nhĩ thanh tịnh siêu nhân, có thể nghe hai loại tiếng, chư Thiên và loài người, ở xa hay ở gần". Rồi "Tha tâm thông: Với tâm của vị ấy, vị ấy biết tâm của chúng sinh, các loài người: tâm có tham biết tâm có tham, tâm không tham biết tâm không tham, tâm có sân biết có sân, không sân biết không sân, chuyên chú biết chuyên chú, tán loạn biết tán loạn, tâm đại hành biết tâm đại hành, tâm không đại hành biết tâm không đại hành". Tâm đại hành là gì? Đại hành này mình có thể hiểu là tâm quảng đại, rộng lớn á, rộng rãi á, không có hẹp hòi, ích kỷ. "Tâm vô thượng biết tâm vô thượng, tâm chưa vô thượng biết tâm chưa vô thượng".

[1:12:50]Tâm vô thượng là gì? Đây cái từ xưa có thể có nhiều nghĩa. Ở đây có thể có cái nghĩa là cái tâm người này có cái chí hướng, có lý tưởng đối với Phật pháp cao xa, chứ không phải sống cuộc đời thấp hèn, chỉ biết ăn biết mặc trước mắt, mà người này đã có lý tưởng xa vời trong Phật pháp rồi, là tâm có lý tưởng. "Tâm thiền định biết tâm có thiền định, tâm không thiền định biết tâm không thiền định. Tâm giải thoát biết tâm giải thoát, không giải thoát biết tâm không giải thoát". Rồi tới "Túc mạng minh: Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ như một đời, hai đời, vân vân. Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ với các nét đại cương và các nét chi tiết".

[1:13:27]Tự mình á sanh trong gia đình nào, cha mẹ là ai, tên tuổi gì, hạnh nghiệp gì, nhớ lại hết, không còn sót điều gì. "Với Thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, vị ấy thấy rõ sự sống và sự chết của chúng sinh. Vị ấy biết rõ rằng chúng sinh người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh đều do hành nghiệp của chúng". Rồi cuối cùng là gì? "Lậu tận thông: Với sự diệt trừ các lậu hoặc, sau khi tự mình chứng tri với thượng trí, vị ấy chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại tâm giải thoát, tuệ giải thoát không có lậu hoặc". Đó là mười công đức. Bài kinh này chúng ta thấy Đức Phật nói một pháp môn rất là thấp,

[1:14:04]rất căn bản, dễ áp dụng mà kết quả thì vô cùng lớn, vô cùng lớn. Cho nên ở đây chúng ta có thể yên tâm là mình không cần phải đua đòi để đi nói nơi này pháp môn cao, nơi kia pháp môn thấp nữa, mà có khi mình cứ tự khiêm tốn cho mình là căn cơ thấp để mình bắt đầu bằng cái pháp môn thấp như thế này, là thường thấy thân này là vô thường, là hư giả. Và khi ngồi thiền vậy, vừa biết hơi thở, vừa biết toàn thân. Và trong cái biết hơi thở này thì chúng ta chỉ biết mà không điều khiển, không tưởng tượng. Đó là những cái căn bản như vậy. Tuy nhiên, chúng ta phải ráng giữ cho được cái đạo đức sâu thẳm, thương yêu được chúng sinh là từ từ rồi thiền định sẽ thành.

[1:14:50]Chúng ta khiêm tốn đi trong một cái pháp môn thấp như vậy nhưng mà rất là căn bản. Tạm thời như vậy. Hôm nay cũng là gần Tết thì cũng có cái chút vui để hướng dẫn quý thầy hát cái bài khúc tán ca tôn kính Phật. Vì tôi tôi nghĩ rằng sau này biết đâu các chùa sẽ bắt đầu dùng những bài hát để mà tụng kinh thay vì những bài kinh tụng theo điệu cổ, cho nên có thể là như vậy. Nên quý thầy cứ chuẩn bị bài hát rồi mở máy lên cho quý thầy nghe rồi hát theo lần lần. Nghe lần đầu, lần sau thì hát theo. À quên, còn cái câu hỏi, có một người hỏi để trả lời luôn. Là nói rằng đức, phước đức nhiều có thể bù được tội,

[1:15:34]tại sao Đức Phật còn bị nạn kim cang và ăn lúa ngựa? Chẳng lẽ Đức Phật, phước đức của Phật không đủ nhiều để xóa đi những nghiệp ác xưa? Chúng ta nhớ thế này nè, cái nghiệp quả đó có thể là nó xóa hết, nhưng nó vẫn hiện ra một cái dấu. Ví dụ như mình có nghiệp bị xe đụng mới là tàn phế suốt đời, nhưng mà do mình tu tập, làm phước, cái nghiệp bị hết, nhưng mình vẫn bị xe quẹt trầy một cái. Chuyển nghiệp rồi đó, nhưng nó vẫn hiện ra nó báo cho mình biết mình có cái nghiệp đó, nhưng mà nó nhẹ thôi. Ví dụ mình có cái nghiệp cháy nhà, nhưng mà mình tu hết à, nhưng mà thế nào lửa cũng bốc lên làm mình hú hồn hú vía một cái. Đó, nó như vậy.

[1:16:13]Thì Đức Phật vậy, trong vô lượng kiếp có những lúc mà Ngài vì chúng sinh Ngài cũng phải tạo cái nghiệp ác quyết liệt. Giống như là dẫn binh đi đánh một trận đánh nào đó kinh hồn, thấy không? Thì những cái nghiệp đó nó qua nhiều kiếp nó xóa, nhưng vẫn phải bị trầy một cái gì đó để báo cho biết. Và ở đây chúng ta thấy đạo Phật hay, Đức Phật là Đức Phật tối thắng nhưng luôn luôn tùy thuộc với nhân quả. Vẫn là nhân quả, nhân quả vẫn đúng tuyệt đối. Do hiểu được điều này, chúng ta càng tin sâu vào nhân quả, cố gắng làm những điều phước mà nghiệp tới thì kiên nhẫn mà trả. Giờ nhờ nhờ bên mở máy cho quý thầy nghe ha, rồi hát theo.

[1:16:54]Quý Phật tử cũng cố gắng, có bài hát rồi tập, về nhà tập hát. Tết này buồn không biết gì mở bài hát ra hát.

[1:17:13]Kính lạy Đấng Vô Thượng, Người là cánh hoa sen, nơi biển đời nhân thế.

[1:17:25]Người là nguồn thương yêu, bao dung khắp muôn loài.

[1:17:35]Là mặt trời ban mai, đem ánh sáng cho đời, dựng lại niềm tin sống, nơi tăm tối u sầu.

[1:17:55]Quỳ lạy Bậc Chánh Giác, Thầy của khắp trời người. Lòng từ bi bao la, cha lành chung bốn loài. Người là một đại dương, mà con như giọt nước.

[1:18:23]Người là ngọn cao sơn, mà con như hạt bụi.

[1:18:32]Con xin đảnh lễ Người, với trọn lòng thiết tha, quy y và tôn kính.

[1:18:48]Xin đem trọn cuộc đời, đi theo bước chân Người, xa lìa bờ vô minh, tìm về nơi giác ngộ. Xin theo trái tim Người, để trải lòng thương yêu, bao dung khắp muôn loài.

[1:19:20]Nam Mô Thích Ca

[1:19:29]Mâu Ni Phật. Nam Mô

[1:19:37]Thích Ca Mâu Ni Phật.

[1:19:48]Kính lạy Đấng Vô Thượng, Người là cánh hoa sen, nơi biển đời nhân thế.

[1:20:04]Người là nguồn thương yêu, bao dung khắp muôn loài.

[1:20:14]Là mặt trời ban mai, đem ánh sáng cho đời, dựng lại niềm tin sống, nơi tăm tối u sầu.

[1:20:31]Quỳ lạy

[1:21:02]Người là ngọn cao sơn, mà con như hạt bụi.

[1:22:38]Con xin đem lòng tin kính, con xin dâng ngàn hương hoa, con xin dâng ngàn mây trong, gió nhẹ.

[1:22:54]Đây hoa chân thành tinh khiết, dâng lên chư Phật mười phương, soi sáng tâm hồn chúng con.

[1:23:49]Con tim trinh nguyên khắc ghi lời thề, luôn luôn đi theo tiếng chuông đại từ,

[1:24:01]đem cho muôn sinh tình thương tha thiết. Con xin đem thân hiến dâng vì đạo, theo gương Như Lai đã trao ngày nào.

[1:24:52]Con xin đem lòng tin kính, con xin dâng ngàn hương hoa, con xin dâng ngàn mây trong, gió nhẹ.

[1:25:08]Đây hoa chân thành tinh khiết, dâng lên chư Phật mười phương, soi sáng tâm hồn chúng con.

[1:25:40]Dù đời còn nhiều gian khó, lòng nguyện không hề âu lo, nụ cười hiền hòa không thiếu, ánh mắt sáng ngời thương yêu.

[1:26:03]Con tim trinh nguyên khắc ghi lời thề, luôn luôn đi theo tiếng chuông đại từ,

[1:26:15]đem cho muôn sinh tình thương tha thiết. Con xin đem thân hiến dâng vì đạo, theo gương Như Lai đã trao ngày nào.

[1:27:32]Trầm tiếng mõ thanh tao, chuông ngân như đón chào, lời kinh Phật như đóa hoa vạn màu.

[1:28:55]Trầm đốt khói tỏa bay, trang nghiêm hương nét bày, đứng lặng niệm Phật đài tâm thư thái.

[1:29:10]Trầm tiếng mõ thanh tao, chuông ngân như đón chào, lời kinh Phật như đóa hoa vạn màu.