Lời giảng: Thiền Tịnh Song Tu

  • Thuyết giảng: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Thời lượng: 1:23:05

Toàn văn lời giảng, chép từ phụ đề. Bấm vào mốc thời gian để nghe đúng đoạn đó.

[0:31]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính thưa chư tôn đức Tăng Ni và kính thưa quý Phật tử, hôm nay nhân cái khóa tu học tên là khóa tu học Liễu Quán lần thứ 15 chúng ta tổ chức tu và hội thảo để tưởng nhớ đến công ơn của Tổ.

[0:56]Thì chúng tôi được Hòa thượng trưởng ban yêu cầu à có một buổi trao đổi đạo lý. Cho nên a theo lời dạy của Hòa thượng chúng tôi xin trình bày một cái đề tài là Thiền - Tịnh song tu. Cái bài này là phản ảnh Thứ nhất là chúng ta là đệ tử của Tổ. Mà Tổ là một vị thiền sư đắc đạo nên ắt hẳn là Tổ chuyên tu về Thiền. Nhưng mà ngày hôm nay thì chúng ta lại tu Tịnh Độ. Chúng ta thiên về niệm Phật và tán tụng, ứng phú, nghi thức. Nên vì vậy nếu có một cái gạch nối giữa Tổ ngày xưa với ta ngày nay thì đúng là ta phải có một sự kết hợp giữa cái lối tu của Tổ và lối tu của ta ngày nay. Cái điều làm chúng ta ngạc nhiên là

[1:54]Tổ là một vị thiền sư đắc đạo ta ngày nay toàn tu Tịnh Độ. Ta không biết được ở cái thời điểm nào mà nó tạo thành một sự chuyển biến kỳ lạ như vậy. Là cái dòng thiền của Tổ bỗng nhiên biến qua thành Tịnh Độ của ngày hôm nay. Đây là điều mà ta phải nghiên cứu lại rất là nhiều. Trước hết thì ta nghiên cứu sơ cái khung cảnh của sự xuất hiện của Tổ. Nếu mà ta nhìn bằng một con mắt bình thường thì ta cho rằng Tổ là một người mồ côi mẹ sớm. Tới năm sáu tuổi là mẹ mất. Ở năm 12 tuổi thì vào chùa tu. Đến năm 19 tuổi ờ Bổn Sư mất. Rồi cái năm 20, 21 tuổi cha mất. Cứ mất mất liên tiếp rồi Ngài phải từ đó một mình phải đi

[2:46]tham học cho đến khi gặp Hòa thượng Minh Hoằng Tử Dung. Ờ được trao cái công phu thoại đầu rồi khổ công cho đến ngày mà mà giác ngộ và đắc đạo. Đó là một người hết sức là có nhiều cái chướng duyên. Ngài cũng nói lại là trong cuộc đời tu hành của Ngài gặp nhiều cái chướng duyên, nhiều cái cay đắng, khổ cực. Nhưng không lúc nào Ngài nản lòng, vẫn giữ vững khí tiết thanh cao và bước tới cầu tầm để cho một ngày mình sáng đạo. Đó là ta nhìn bằng con mắt bình thường. Còn nếu ai nhìn theo con mắt của Đại thừa Phật giáo thì sẽ cho rằng là đất Phú Yên ta có duyên lành phát tích được những vị danh tăng nên khiến có một vị Bồ Tát đã giáng trần,

[3:40]thị hiện, đi qua một cuộc đời tu hành cần khổ rồi đắc đạo, để lại cái sức mạnh tâm linh cuồn cuộn trong cái dòng Phật giáo của dân tộc. Mà đến ngày hôm nay, cũng chính nhờ cái sức mạnh tâm linh đó, ta nối tiếp cái dòng pháp của Ngài, ta tu hành, ta truyền bá, ta làm được cái nhiệm vụ hộ quốc an dân, vân vân. Đó thì ta nhìn bằng hai con mắt như vậy. Còn cái khung cảnh đó thì ta sẽ thấy là lịch sử lúc đó rất là biến động. Trước khi Tổ ra đời được năm năm thì lúc đó bên Trung Hoa á nhà Mãn Thanh đã chiếm hết cái đất nước Trung Hoa và lập nên một triều đại mới gọi là nhà Thanh. Thì năm năm sau thì Tổ mới mới ra đời, mới sinh ra.

[4:30]Nghĩa là Tổ sinh năm 1667 thì năm 1662 thì nhà Thanh đã chiếm xong hết Trung Hoa.

[4:39]Vào thời đó, nhà Mãn Thanh họ ở phía đông của Mông Cổ mà không biết tại sao Mông Cổ với Tây Tạng đều rất là chuộng Lạt Ma giáo hay ta gọi là Mật tông á, thì bên nhà Mãn Thanh họ cũng rất là thích Mật tông. Cho nên vì vậy, từ cái vòng đai chung quanh của Trung Hoa ở phía tây lên phía bắc và đông bắc là các nước đó đều đi theo Mật tông. Nên nhà Mãn Thanh cũng rất là thích Mật tông. Khi nhà Mãn Thanh chiếm xong hết Trung Hoa rồi thì cũng đúng vào năm đó, trước đó một năm, thì vua Thuận Trị ổng bỏ ngai vàng ổng đi tu, để lại một người con nhỏ lên ngôi là vua Khang Hy. Vua Khang Hy còn nhỏ nhưng mà tài trí phi thường.

[5:24]Lúc đó triều đình là bị quyền thần Ngao Bái nắm hết. Nhưng vua Khang Hy đã khi mà lớn tuổi lên một chút xíu, mới mười mấy tuổi, là ổng bắt giết luôn cường thần Ngao Bái và từ đó ổng nắm quyền tập trung lại trong tay mình. Và cũng do lời dạy của vua Thuận Trị, nên vua Khang Hy đã tôn sùng ngài Ngọc Lâm làm quốc sư. Thì ngài Ngọc Lâm á Ngài chứng theo cái Thiền tông của Trung Hoa chứ không có Mật tông. Nhưng bởi vì là cái triều đình nhà Thanh, các quan, các tướng ai cũng thờ Mật tông hết. Ờ lúc đó là các vị Lạt Ma giáo vào trong cung cấm giảng đạo bình thường. Ờ mặc dầu là gặp ngài Ngọc Lâm như có cái duyên lành sắp xếp gì đó nên vua Thuận

[6:08]Trị cung kính tôn thờ làm thầy, rồi ngài Khang Hy tôn lên làm quốc sư luôn. Ờ nhưng mà cái truyền thống của nhà Mãn Thanh vẫn là đi theo Mật tông, Lạt Ma giáo. Nên vì vậy ngài Ngọc Lâm Ngài vẫn phải có cái dung hòa. Ngài có dung hòa mà Ngài dung hòa rất là kỳ lạ. Ngài dung hòa ba cái cái quan ba cái tông phái là Thiền tông, Tịnh Độ, Mật tông luôn. Lúc Ngài mới soạn ra một cái nghi thức mà bây giờ ta vẫn áp dụng gọi là ừ hai thời công phu. Thường á, từ thời Đức Phật á, khi các vị Tỳ-kheo buổi khuya, tinh mơ, có khi trước khi gà gáy, có khi sau khi gà gáy ờ các vị thức dậy ờ vệ sinh, ngồi thiền.

[6:54]Ngồi thiền ngồi thiền cho tới sáng rồi kinh hành, rồi thấy trời sang sáng rừng rực lên chút xíu bắt đầu mà sương bớt ướt thì cùng với Phật, các vị Tỳ-kheo đi khất thực. Ờ ăn trong buổi sáng, khoảng 9 10 giờ ăn mất rồi. Đi khất thực về tới khoảng 9 10 giờ của mình bây giờ ăn ăn xong rồi thôi nhịn luôn. À lúc đó lo ngồi thiền hay đàm đạo hay thuyết pháp, vân vân. Ờ rồi tối vậy cũng chìm trong thiền định. Đêm ngủ chút xíu, sáng thức dậy ngồi thiền. Ấy. Rồi sau này, khi mà Đức Phật nhập Niết-bàn thì ờ xá-lợi của Phật hoặc là các ờ đền, tháp dựng lên lần lần khắp nơi để thờ Phật. Thì lúc đó, các vị Tỳ-kheo cũng vậy,

[7:36]buổi khuya dậy khi tiếng gà gáy canh khuya các vị dậy, thắp một nén hương hay là xông hương gì đó. Có tùy nơi, cái cây nhang mà bây giờ ta cắm thời đó cũng chưa có. Các vị dùng nhiều cái loại bột đốt lên để xông tẩm hay hoa đến trước bàn thờ Phật lạy Phật rồi ngồi thiền. Lúc đó cũng không có tụng kinh. Thường là tụng kinh vào buổi tối. Lúc đó tụng kinh là vào buổi chiều sâm sẩm khi mà ừ mặt trời chuẩn bị tắt ờ các vị mới châm cái ngọn đèn dầu, rồi một vị ờ giáo thọ A-xà-lê mới đến ngồi ở trên cái bục hơi cao, ngồi theo thế kiết già, kêu một vị Sa-di tới, ngồi. Cái vị Sa-di tới không dám ngồi kiết già mà ngồi theo lối chồm hổm á,

[8:21]bây giờ ta gọi là ngồi chồm hổm hay gọi là ngồi xổm, chắp tay lại. Rồi lúc đó tới cái thời tụng kinh. Tụng kinh là không giống như ta là quỳ tụng cái bản kinh trước Phật á, lúc đó không có kinh. Các vị lúc đó là: "Ông thầy mới đầu hôm nay ta tụng cái bài kinh gì đó." Rồi ông thầy ổng đọc một đoạn, cái người Sa-di ngồi xổm như vậy chắp tay đọc lại. Đọc sai, cái ông thầy ổng đọc lại cho nghe, cái người Sa-di đọc lại. Cái chữ đọc lại gọi là tụng hay là trùng tụng. Ờ cứ vậy, làm chừng năm mười lần vậy cái thuộc đoạn đó. Cái ông thầy bắt đầu ổng đọc qua đoạn khác. Ổng nhớ trong đầu chứ không có trong bản kinh.

[8:56]Thời đó chưa có viết, chưa in, chưa gì hết trơn á. Ờ nên cái thời buổi chiều mới là thời tụng kinh. Mà mục mục đích để tụng kinh là gì? Là cho có người nhớ kinh mà truyền cái kinh đó đi. Chứ nếu mà ông thầy đó không truyền được cho đệ tử nhớ kinh thì tam tạng kinh điển biến mất. Rồi sau này cũng vậy. Sau này khi mà Phật giáo qua tới Trung Hoa thì kinh được in, được khắc. Có những bổn kinh mặc dù cũng hiếm, ít có lắm, nhưng bắt đầu đã có. Rồi các ngài vừa đọc kinh bổn mà vừa cũng thuộc lòng chứ cũng không phải luôn luôn lấy kinh của mình nha, như là một buổi tụng nhiều khi cả trăm bản kinh phát ra.

[9:28]Hồi xưa không có, hồi xưa là một bản kinh, hai bản kinh thôi. Rồi ai thuộc rồi nhường cho người khác tụng. Vậy thôi. Thì cũng vậy, tới khuya mà khuya dậy các ngài mới thắp nhang lễ Phật rồi cũng ngồi thiền. Rồi cái buổi chiều tối là mới tụng kinh mà không còn là ông thầy tụng cho trò nữa mà cả thầy trò cùng quỳ trước Phật rồi tụng cho Phật nghe. Nghe cái thời vậy. Đến thời ngài Ngọc Lâm quốc sư thì cái hai thời khóa đã làm biến đổi hẳn sự tu hành. Là ngài buộc là buổi sáng phải dậy tụng năm đệ Lăng Nghiêm theo cái nghi thức Ngài soạn ra cũng công phu. Rồi à chiều tối mới là cái công phu Tịnh Độ Di Đà.

[10:08]Nhưng mà trong mỗi công phu đó đều có gài cái bài Bát-nhã Tâm Kinh là một chút ý của Thiền ở trong đó. Nên như vậy khi ta nghiên cứu hai thời khóa tụng của ngài Ngọc Lâm truyền lại, ta thấy có ba cái tông phái trong đó là cả Thiền tông là bài Bát-nhã, Mật tông là kinh Lăng Nghiêm hoặc là Thập chú Đại Bi, hoặc là Tịnh Độ và Tịnh Độ tông là bài kinh a A Di Đà hoặc là đôi khi chúng ta tụng Phổ Môn cầu an hay là Pháp Hoa, vân vân, như vậy. Mà mãi đến cái thời của ngài Ngọc Lâm thì cái nghi thức đó mới bắt đầu được phổ biến. Lúc mà ngài Ngọc Lâm mới phổ biến cái nghi thức đó thì rất nhiều chùa, rất nhiều thiền sư phản đối.

[10:50]Vì đất nước Trung Hoa thời đó rất nhiều thiền sư đắc đạo. Họ ẩn ở nơi chùa này, trong rừng, trong núi kia. Và cái lịnh của ngài Quốc sư đưa ra thì phải thi hành. Tại vì Quốc sư đưa ra tức là vua đưa ra. Thì các quan họ ở các vùng họ theo dõi hết á. Coi chùa có tụng hay không. Thì khi mà cái thưa cái quan điểm mà phản đối á phản đối là không chịu khuya dậy tụng Lăng Nghiêm. Cái phản đối đó nó vang tới tai của các quan. Các quan mới phản ánh về tới triều đình. Thì ngài Ngọc Lâm Ngài mới viết một cái bài Ngài mới viết một bài rất là nghiêm khắc cứng rắn mà để bác, để đánh bạt đi những cái luồng tư tưởng chống đối hai thời công phu.

[11:28]Và cái văn biểu của Ngài được phổ biến ngược lại xuống dưới các địa phương lại cho các quan rồi các quan y cứ đưa vào các chùa. Nên từ đây là quốc sư đã lệnh như vậy, chùa mà buổi khuya dậy mà không nghe tiếng tụng Lăng Nghiêm là có chuyện á, rồi quan tới hỏi thăm sức khỏe. Thế là từ đó mới đóng khung luôn là chùa nào cũng xem đó là thường. Rồi qua vài trăm năm cái ta thấy chuyện đó nó bình thường. Người ta cứ tưởng hễ vào chùa tu là phải tụng Lăng Nghiêm chứ sự thật là trước ngài Ngọc Lâm chưa có chuyện đó, chưa có, ngồi thiền không à. Cho nên là cái thời mà năm năm sau khi mà nhà Thanh đánh chiếm được cái ngôi của

[12:04]nhà Minh bên Trung Hoa rồi cái ngài Ngọc Lâm Quốc sư cũng phải mười mấy năm sau mới bắt đầu là đưa cái nghi thức hai thời công phu thì Việt Nam ta chưa có. Lúc đó là Việt Nam trong đây là nhà Trịnh ngoài Bắc, nhà Nguyễn miền Nam, hai bên còn đánh nhau và chưa có ứng dụng hai thời công phu vì cái thời đó nó chưa qua tới Việt Nam. Nên các thiền sư và của Trung Hoa vì họ bất mãn cái hai thời công phu đó nữa và họ bất mãn nhiều việc họ bỏ Trung Hoa họ đi vào miền Nam, vào Việt Nam. Họ cũng không dám vào miền Bắc vì vào miền Bắc gần Trung Hoa quá họ sợ là quân của nhà Thanh tràn qua bắt tội họ về nên thường

[12:41]họ chạy luôn tuốt vào trong chúa Nguyễn Đàng Trong. Họ chạy ghé vào trong Chiêm Thành, họ ghé luôn xuống Thủy Chân Lạp ở miền Nam hoặc là tạt luôn xuống dưới Indonesia, Nam Dương luôn, có người đi vòng luôn vòng biển qua Vịnh Thái Lan qua tới Thái Lan luôn. Là có một số nhà sư như vậy, họ không chịu tu theo cái lối của ngài Ngọc Lâm. Thì ở Việt Nam ta lúc đó cũng chưa có cái hai thời công phu. Đó là cái khung cảnh mà Tổ ta xuất hiện. Năm năm sau Tổ ta xuất hiện, Tổ ta lớn lên, 12 tuổi Tổ ta đi vào chùa tu cũng chưa có tụng Lăng Nghiêm buổi khuya. Lúc đó cũng vậy, cũng có cái tụng gì buổi khuya

[13:16]sơ sơ, buổi tối sơ sơ rồi ngồi thiền là nhiều. Sau khi Bổn sư mình mất mới lặn lội nơi này nơi kia để tham học mà quyết tìm cái sự giác ngộ. Lúc đó Ngài cũng nhiều cái cực khổ. Những cái điều mà Ngài cực khổ cay đắng thì không được ghi lại rõ, mà ví dụ như ta có hư cấu thì ta cũng nói là đôi khi Ngài có đi những dặm đường xa mệt, đói; đôi khi Ngài bị người ta coi thường đến với chùa nào đó người nào đó không có con mắt tuệ nhãn đã xem thường một vị tăng trẻ nghèo khó từ phương xa ở Phú Yên tìm tới mà đối xử hắt hủi, bắt ra đằng sau giã gạo bửa củi gì đó vân vân. Là vì Bổn sư đã mất không có ai đỡ đầu mà người thì còn trẻ, mới có Sa-di.

[13:59]Trước lúc mà còn ở với ngài Tế Viên có lẽ Ngài đã thọ Sa-di rồi nhưng mà chưa Tỳ-kheo. Cái khung cảnh là như vậy. Sau này rồi Ngài mới đến chùa Từ Lâm Ngài thọ Sa-di rồi sau này thọ Cụ túc vân vân như vậy. Ta để ý thêm điểm này nữa: trong cái đời nhà Nguyễn lúc đó có hai cái sự biến liên quan tới Phật giáo rất là lớn. Chúa Nguyễn Đàng Trong á lúc đó là tôn thờ ngài Minh Châu Hương Hải. Ngài Minh Châu Hương Hải là một thiền sư của thiền phái Trúc Lâm, người ngoài Bắc nhưng mà không biết sao lưu lạc trong vào Nam rồi được chúa Nguyễn thờ phụng. Khi mà như vậy không biết ai gièm pha nói rằng là ngài Minh Châu

[14:35]Hương Hải là nằm vùng của miền Bắc do chúa Trịnh gài vào. Cái chúa Nguyễn sai bắt giam ngài mấy tháng. Bắt giam ngài mấy tháng thì sau khi thả ra thì ngài bí mật đem theo 50 thiền sinh của mình cùng bao nhiêu kinh, sách, tượng Phật đồ lên thuyền bỏ trốn ra ngoài Bắc. Cái sự biến nó xảy ra là khoảng 4 năm sau khi mà Tổ ta xuất gia. Tức là Tổ ta xuất gia được năm 12 tuổi thì 4 năm sau, lúc đang còn ở với Bổn sư thì lúc đó triều đình Phú Xuân nổi loạn lên vì cái vụ ngài Minh Châu Hương Hải đã lén xuống thuyền chở trơn cái tượng Phật, pháp khí đi ra mất tiêu. Lúc đó chúa Nguyễn mới cho rằng đúng như vậy là cái dòng thiền Trúc Lâm

[15:18]của dòng Trúc Lâm Yên Tử ngoài Bắc là cái dòng thiền phản động. Nên hạ lệnh là ai mà theo cái dòng thiền này là giết hết. Nếu mà người bình thường là tru di chín đời luôn chứ không phải tru di ba đời. Đi lùng để tìm ra hết. Nên một loạt lúc đó là những vị mà theo thiền Trúc Lâm là bay sạch trốn hết vô trong miền Nam. Lúc đó còn cái Thủy Chân Lạp á, lúc đó còn cái Thủy Chân Lạp, còn một góc của Chiêm Thành ở phía dưới Khánh Hòa, Phan Rang, Phan Rí là lúc đó ta chưa lấy được hết, bọc ra khỏi Chiêm Thành chạy trốn về trong miền Nam. Sự biến nó rất là lớn. Thì có những người hoàn tục, có những người trốn lên

[15:54]núi, có người chạy tuốt vô miền Nam để mà tránh tu. Thì lúc đó là không còn cái vị cao tăng đạo đức đại đức lớn thì chúa Nguyễn mới vào trong Bình Định mời ngài Nguyên Thiều ra để mà tôn thờ coi như làm việc Tăng cang, Quốc sư mà hóa đạo vùng Phú Xuân tiếp. Mà rồi lại có cái sự biến xảy ra nữa. Vào lúc đó là khoảng thời gian Tổ ta bắt đầu là đang đang mà tu tập tinh cần ở cái vùng Phú Xuân á thì lại xảy ra cái sự biến ở vùng Bình Định tiếp. Lúc đó có một nhóm người Hoa họ nổi lên, họ xưng là Linh Vương, họ rèn khí giới nổi lên là chống lại nhà Nguyễn, chống lại nhà Nguyễn. Nhưng mà khi mà chúa Nguyễn điều tra ra á

[16:36]thì mới nói rằng là cái những cái người mà người Hoa mà nổi lên chống chúa Nguyễn trước đây cũng là đệ tử của ngài Nguyên Thiều. Tức là cái vị quốc sư mà họ đang thờ á, họ mời trong Bình Định ra để thờ. Thì bây giờ trong Bình Định lại nổi loạn lên. Thì như vậy là mà điều tra ra thì mấy cái người Hoa này có tới lui với chùa của ngài ngài Nguyên Thiều, Thập Tháp. Thế là chúa Nguyễn bị ngài Minh Châu Hương Hải một lần rồi, bây giờ lần thứ hai nữa cái đâm ra nghi ngờ quay sang kết tội ngài Nguyên Thiều là là nội gián một lần nữa. Thế là ngài Nguyên Thiều nửa đêm cũng phải ra thuyền trốn tuốt vô trong Biên Hòa luôn, đổi tên lại.

[17:15]Lúc đó nên bây giờ ta có thờ ngài Nguyên Thiều ví dụ có thờ tháp mà chỉ là thờ vọng chứ còn tháp thật của ngài ở Đồng Nai á. Ngài chạy vào đó ngài hóa đạo đổi pháp danh luôn: Siêu Bạch. Và truyền đạo ở trong miền Nam, thịnh lên ở trong đó vì lúc đó còn cách một cái Chiêm Thành, chúa Nguyễn không có tiện mà đi vào truy vấn rồi tìm cho ra. Rồi lúc đó là Phú Xuân lại trống, Phú Xuân lại trống không có những bậc tôn túc nào để hóa đạo nên chúa Nguyễn lại sai người đi sang Trung Hoa thỉnh một số thiền sư. Thì trong số các thiền sư đó lúc đó mới có ngài Minh Hoằng - Tử Dung. Ngài Minh Hoằng - Tử Dung mà là thầy truyền pháp

[17:53]ấn chứng cho Tổ Liễu Quán của ta là vậy. Ngài Minh Hoằng - Tử Dung là đi qua trong cái đợt mà chúa Nguyễn mời như vậy. Thì ngài Minh Hoằng - Tử Dung là đệ tử của ngài Đại Sái Như Trường mà ngài Đại Sái Như Trường là đệ tử của Quốc sư Đạo Mân của nhà Thanh lúc đó. Đó là cái uy tín cũng rất là lớn. Là bây giờ coi như mời được một cái người mà có cái liên quan đến triều đình nhà Thanh thì rất là yên tâm về chính trị. Rất yên tâm về chính trị, không sợ gì nữa. Nên ngài Minh Hoằng - Tử Dung giáo hóa nổi tiếng ở kinh đô Phú Xuân. Thì ta cũng đoán hơi vui vui là Tổ Minh Hoằng - Tử Dung là người Hoa thì người Hoa mà qua Việt Nam thì cũng phải

[18:33]lần lần cũng phải học nói tiếng tiếng Việt Nam. Ban đầu có thể có người phiên dịch nhưng về sau cũng phải tập nói tiếng Việt Nam thì sẽ nói như thế nào? Đây ta hình dung được không? Ta hình dung giống như à cái người Hoa ở Chợ Lớn mà nói tiếng Việt Nam lơ lớ lơ lớ như vậy. Nhưng mà rồi chắc là cũng thông cảm được với nhau. Cho đến khi cho đến khi mà Tổ ta đến gặp Tổ Minh Hoằng - Tử Dung rồi truyền pháp.

[19:01]Trong cái sự kiện đó nữa là Tổ ta tịch vào đời chúa Nguyễn Phúc Khoát. Nghĩa là chúa Nguyễn Phúc Khoát lên ngôi được 4 năm thì Tổ ta tịch. Nghĩa là chúa Nguyễn Phúc Khoát lên ngôi năm 1738 thì đến năm 1842 thì Tổ tịch, nghĩa là 4 năm sau thì Tổ tịch. Nhưng mà Tổ tịch xong rồi, 23 năm sau thì lúc đó là chúa Nguyễn Phúc Thuần lên ngôi. Nhưng mà chúa Nguyễn Phúc Thuần lên ngôi thì bị cái loạn thần Trương Phúc Loan khống chế. Đến năm 1776 thì chúa Trịnh đem quân từ ngoài Bắc vô chiếm bứt kinh thành Phú Xuân luôn. Chúa Nguyễn Phúc Thuần phải chạy luôn. Rồi lúc đó Lê Quý Đôn cũng có trong cái nghĩa là danh thần Lê Quý

[19:39]Đôn cũng theo chúa Trịnh mà vào giữ Phú Xuân vào thời đó. Thì lúc đó cũng là thời điểm mà Tây Sơn nổi lên. Đánh nhau thì chúa Nguyễn Phúc Thuần bị chết trận thì lúc đó là Nguyễn Ánh mới nổi lên. Nguyễn Ánh nổi lên rồi lúc mà khi mà vua Quang Trung mất thì nhà Tây Sơn bị suy yếu do ly gián và do nội bộ bị phá hoại từ bên trong. Thế là chúa Nguyễn Phúc Ánh nổi lên đánh thắng lần lần. Năm 1802 Lúc đó thấy cái vị trí mình đã vững rồi thì Nguyễn Phúc Ánh tự lên ngôi Hoàng đế. Nguyễn Ánh lên ngôi năm 1780, lên ngôi tại Sài Gòn, tự xưng lên ngôi luôn. Nhưng mà hai năm sau thì khi diệt hết nhà Tây Sơn rồi thì tự

[20:23]lên ngôi Hoàng đế ở Phú Xuân, khoảng cách hai năm như vậy. Khi chúa Nguyễn Ánh lên ngôi lấy hiệu là Gia Long, lúc đó bên Trung Hoa đã qua đến đời vua Gia Khánh là sau đời của vua Càn Long. Ừ. Thì lúc đó là cái nền tảng Phật giáo Trung Hoa đã ổn định từ đời Quốc sư Ngọc Lâm tới bây giờ là ai cũng tụng hai thời công phu hết. Và vua Gia Long thì có đặc điểm là cứ rập khuôn của nhà Thanh. Luật của nhà Thanh làm sao thì luật của Gia Long giống giống như vậy hết, nghĩa là khi soạn một bộ luật của triều đình Gia Long thì lấy y hầu hết luật nhà Thanh đem đưa qua. Và Phật giáo cũng vậy, bên nhà Thanh lúc đó Phật giáo là cũng phải

[21:01]tụng hai thời công phu, khuya phải tụng Lăng Nghiêm thì bên đây vua Gia Long cũng cho ứng dụng y như vậy luôn, nghĩa là cho nó giống để khỏi có cái phức tạp rắc rối đối với Trung Hoa. Như vậy á ta thấy rằng khi Tăng Ni được học là chỉ học nội bộ trong chùa thôi, chứ không có mở trường như Giáo hội hiện nay, là ở nơi vị chùa nào mà có một vị danh Tăng thì nhiều người kéo tới học, học với vị đó, chứ không có tổ chức thành một cái trường lớp như bây giờ. Những cái môn như là hoằng pháp, đạo đức, giáo lý căn bản, môn hộ pháp, môn thiền tập đồ thì nó không có bài bản tiêu chuẩn, chỉ tùy theo bản lĩnh riêng của vị bổn sư đó thôi.

[21:38]Trong chùa đó ông thầy mà ổng giỏi môn nào thì ổng sẽ dạy môn đó, thí dụ vị đó giỏi luật thì dạy luật cho đệ tử, vị đó giỏi thiền thì dạy thiền, vị đó sống đời sống đạo hạnh, đạo đức thì dạy đạo đức, vân vân, như vậy, chứ không có nhiều môn học để cho Tăng Ni được học đa dạng như là hôm nay ta được học. Thì chùa nào á cũng xưng là Lâm Tế Chánh Tông. Lâm Tế là gì? Lâm Tế là tên cái địa phương của ngài Nghĩa Huyền, Thiền sư Nghĩa Huyền. Thời đó Thiền sư Nghĩa Huyền ngài tịch năm 867, còn ngài sinh năm nào thì ta không biết, là một thiền sư nổi tiếng đắc đạo Trung Hoa, đệ tử rất là đông, người đắc đạo rất là nhiều, uy thế rất là lớn lan rộng.

[22:19]Hễ mà nói tới thiền thì dường như người ta chỉ tin rằng con đường thiền của Lâm Tế là giỏi nhất. Mặc dù là bên Trung Hoa cũng có cái tông Tào Động, Vân Môn, Pháp Nhãn, Quy Ngưỡng nhưng mà Lâm Tế vẫn là uy tín nhất. Mà Lâm Tế không phải là tên cái chùa, tên của một cái địa phương, cái làng, cái thị trấn. Mà không dám gọi tên của ngài là Nghĩa Huyền, cứ gọi là ngài Lâm Tế. Giống như bây giờ ta gọi là à Hòa thượng Khánh Hòa, Hòa thượng Bình Định, Hòa thượng Phú Yên là ta biết ám chỉ ai, nói gọi bằng cái tên của địa phương. Bây giờ ta ghi chữ là Lâm Tế Chánh Tông, cái chữ Lâm Tế chả dính líu gì tới Đạo Phật hết,

[22:55]chỉ là tên cái địa phương, một cái thị trấn, nhưng mà thành cái tên gọi là ở trong Đạo. Thì mặc dầu ghi là Lâm Tế Chánh Tông, nghĩa là Thiền Tông, nhưng ngày hôm nay tất cả chúng ta đều tu Tịnh Độ hết, hầu hết đều tu Tịnh Độ. Vì vậy ta cũng đi tìm cái căn do một chút xíu. Mà thế nào là tông Tịnh Độ? Nói thì nhiều, nhưng mà Tịnh Độ có hai nét chính. Một nét thứ nhất á là niệm Phật, cầu vãng sinh Cực Lạc, đó là nét thứ nhất. Nét thứ hai là phát triển về nghi lễ tụng cúng. Mà cái nghi lễ tụng cúng của Tịnh Độ Tông cho ta thấy rằng là các nhà sư của ta cũng rất là nghệ sĩ, có nhiều tính nghệ sĩ, bởi vì lối tụng cúng đó là một hình thức hát.

[23:41]Có những cái nhạc khí để đệm: chuông, mõ, tang, trống, phách, thậm chí có vài nơi người ta còn kéo cả cái đàn, đàn cò. Như bên Tây Tạng cái nghi thức của họ còn có tới cái kèn nữa, cái kèn, cái khèn nữa. Thì các vị đại sư của ta khi trong khi tu pháp môn Tịnh Độ mới nhận thấy rằng là pháp môn này dễ tu, cái người bình dân ai cũng tu được. Cứ có một câu niệm Phật ta cứ giữ trong tâm là "Nam Mô A Di Đà Phật" thì tâm bớt loạn, có một chỗ để ta bám. Thay vì bỏ cái tâm trống, nghĩ lung tung chuyện, bây giờ ta an trú bằng câu niệm Phật "Nam Mô A Di Đà Phật" nên dễ tu. Mà đồng thời là có một cái sự hứa hẹn là cái người nào mà niệm

[24:28]Phật thuần thục như vậy, nhất tâm được như vậy thì khi mất chắc chắn sẽ được Tây Phương Tam Thánh là Phật A Di Đà tiếp dẫn về cõi Cực Lạc của Ngài, nơi một cái cõi cực kỳ thù thắng. Dĩ nhiên là về đó ta chưa phải là Phật nhưng mà ta sẽ tu tiếp, tu trong một cái khung cảnh là thanh tịnh trang nghiêm, không có những nghịch cảnh, không có lo nay đói mai kém, là không có phải bận tâm vì có những người ác mà hại ta, không có lo sóng thần, bão tố, vân vân. Cái gì muốn đều có được. Nếu ta nhất tâm niệm Phật thì ta sẽ được hứa hẹn như vậy. Và vì vậy là với cái niềm tin đơn giản như thế, với pháp môn đơn giản như thế, mọi người dễ áp dụng, dễ tu hành.

[25:19]Thấy thì là dễ đó, nhưng mà không ngờ cũng chỉ dễ cho người thượng căn à. Vì sao vậy? Vì chỉ có người thượng căn á mới chuyên tâm ngày đêm niệm Phật. Nghĩa là lúc đi, lúc đứng, nằm, ngồi đều niệm Phật, rồi ngồi kiết già cũng niệm Phật, hay đi làm lao tác gì cũng niệm Phật. Chư Tổ mới phát hiện ra là cuối cùng cũng chỉ có người thượng căn mới chuyên tâm niệm Phật. Còn người căn cơ thấp hơn, tâm cũng phải lo toan đủ thứ, trong khi làm việc lo việc này việc kia cũng mất câu niệm Phật, không chuyên tâm được. Cái niềm tin, cái sự hứa hẹn là sau khi mất ta được vãng sinh về Cực Lạc cũng không phải là đủ mạnh để cho mọi người dồn hết tâm trí vào câu niệm Phật.

[26:03]Các Tổ thấy như vậy. Nhưng mà nếu mà cứ để cho trong chùa nó buồn quá, vô chùa cứ thấy vắng lặng, chỉ thấy một người một góc cầm xâu chuỗi lặng lẽ niệm không ai nói tới ai thì cái sinh hoạt Phật giáo nó nó xuống liền, không ai tới chùa nữa, tại vì các vị cứ bắt niệm Phật. Mà nếu không ai tới chùa làm sao có người ủng hộ chùa, làm sao có người xuất gia nối tiếp các vị cao tăng? Vì vậy các vị phải tạo cái cái sự phong phú đa dạng trong sinh hoạt là ta mới thấy có cái hình thức tụng cúng xuất hiện, mà tụng cúng rất là hấp dẫn là cái lối tán, lối tụng như là một bài hát á. Nếu một bài hát đơn giản á thì ta nghe như cái điệu

[26:43]ru mà thôi, cứ tụng đều đều từng chữ từng chữ. Mà nếu cao cấp hơn, chuyên sâu hơn thì ta có cái lối tán là có ngân nga kéo dài, gần giống như cái lối hát bội miền Nam, nhưng mà có thêm tiếng trống, tiếng tang, tiếng phách rồi gõ nó đệm nhịp thật là hấp dẫn. Vào thời đó cái nghi thức tán, cái âm điệu tán là một loại âm nhạc cao cấp. Hiện nay thì ta nghe không quen nữa. Hiện nay là ta bị cái âm nhạc của Tây phương tràn ngập, lớp trẻ bây giờ chỉ thích nhạc rap, đứt nối, hip hop gì đó, rock, xì lô bờ lu gì, disco gì á nên nghe tang trống nghe không nổi, nghe ư a rồi bốc keng keng đồ nghe không biết, không biết ông thầy ổng nói cái gì, chạy ra ngoài nghe nhạc khoái hơn.

[27:31]Nhưng mà người ngày xưa đó, cái lối mà tụng ư a, tán phách tang chứ là một loại âm nhạc cực kỳ cao cấp mà chỉ có các nhà sư mới thủ đắc được, mới thực hành được, chứ người bình thường là không làm nổi. Nên vì vậy khi nào mà có một cái đám gì đó mà mời nhà sư đến mà sư chỉ tán một khúc thôi, chứ tán hết buổi thì thì thì mắc tiền lắm á, tán một khúc thôi là cả gia đình háo hức, sung sướng vô cùng vì đó là một âm nhạc cao cấp mà. Nhờ vậy, thấy trong chùa mà có vừa tụng kinh vừa hát cái người ta tới chùa vui, cái tạo ra một cái không khí phong phú trong sinh hoạt của Phật giáo nên nhiều người cứ tới lui nhờ cái vui, cái vui rất là quan trọng.

[28:12]Thì ngày hôm nay mà ta tán như vậy thì người ta nghe không nổi, buộc lòng ta phải hát giống nhạc Tây phương. Phải nghĩa là: "Hạnh phúc như là khi con quỳ bên chân Người...". Rồi bây giờ hát vậy thì nghe có lý á, chứ giờ ư a nữa không hiểu. Giờ cũng theo thời đại mà ta buộc lòng phải phải phải hát kiểu Tây phương như vậy. Thì đó là hai cái nét chính của Tịnh Độ Tông là niệm Phật cầu vãng sanh và phát triển về nghi thức tụng cúng cho sinh hoạt Phật giáo được phong phú hơn để hấp dẫn quần chúng. Còn bên Thiền Tông á vẫn phát triển, vì sao vậy? Bởi vì quả thực là ở trong nhà thiền có nhiều thiền sư

[28:51]đắc đạo lẫy lừng, đắc đạo mà siêu việt có thần thông. Do đó là người ta vẫn kính phục, vẫn hâm mộ thiền. Nên đồng thời song song ta thấy Đạo Phật phát triển hai cái dòng: một là Thiền Tông như là dành cho những người thiện căn, thượng căn mà đắc đạo, còn mà Tịnh Độ Tông dành cho những người bình dân hơn; và một cái thứ ba bí ẩn hơn là Mật Tông dành cho những người có cái khuynh hướng về cái gì chuyện thần bí, những quyền năng để trấn để áp, vân vân. Nhưng mà rồi lần lần ta thấy đều có lai hết, người tu Tịnh Độ Tông cũng biết Mật Tông, rồi cũng biết Thiền Tông, vân vân. Nhưng mà ta cứ tạm thời phân là Thiền và Tịnh

[29:30]là hai cái dòng mà truyền truyền mạnh nhất. Vì Thiền có người đắc đạo nên được hâm mộ, còn Tịnh Độ dễ tu nên nhiều người theo. Hai cái dòng thiền cứ đi đi chung, đi song song song như vậy. Nhưng mà đi song song như vậy có nghĩa là có chia rẽ, có chia rẽ. Người nói: "Anh tu gì?" "Tu Thiền." "Tôi tu Tịnh." "Anh tu Tịnh không? Tôi nghỉ chơi tại tôi tu Thiền." Lúc đó là hai khuynh hướng khác nhau quá, một bên Thiền Tông là gì? Là "trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật", một bên là "niệm Phật nhất tâm, vãng sanh Cực Lạc quốc", hai khuynh hướng nghe không giống gì nhau hết. Mình chẳng biết Đạo Phật là của ai nữa.

[30:08]Mình không biết nếu Đạo Phật là của Thiền Tông thì không phải của Tịnh Độ, mục tiêu khác. Nếu Đạo Phật là của Tịnh Độ thì không phải của Thiền Tông, hai mục tiêu khác nhau. Vì Đạo Phật thật sự là cái gì? Ta thấy cái khuynh hướng chia rẽ ngấm ngầm ngấm ngầm mà rất là trầm trọng, cho nên những cái vị tổ sư không muốn điều đó, nhưng các vị muốn dung hợp lại, muốn dung hợp Thiền và Tịnh để cho Đạo Phật bớt cái chia cách nên đã khởi xướng lên gọi là Thiền Tịnh song tu, khởi xướng Thiền Tịnh song tu. Hôm nay ta nói Thiền Tịnh song tu là ta nói cái chuyện mà chư vị tổ sư đã nói rất là lâu. Các ngài cũng ray rứt, trăn trở về sự chia rẽ trong Phật giáo

[30:52]mà để cho người ta tin rằng người tu Thiền cũng tu Tịnh được, người tu Tịnh cũng tu Thiền được, các ngài đã nói rất nhiều. Các ngài cũng nói rằng tu Tịnh Độ mà có Thiền hoặc là tu Thiền mà có Tịnh Độ thì giống như là giống như là gì? Chúng ta nghe là giống như cái gì? Giống như hổ mà mọc sừng. Tức là con hổ là đã là lẫm liệt, là oai hùng rồi, mọc thêm cái sừng nữa thì không ai chịu nổi. Nghĩa là tu một pháp môn thì đã là dữ dội lắm rồi, mà bây giờ kết hợp được cả hai nữa thì không ai chịu nổi. Không ai chịu nổi. Là là kết hợp giữa Thiền và Tịnh. Các ngài khuyến khích như vậy để cho mọi người, cái là người tu Thiền bỗng nhiên thấy Tịnh độ cũng là một điều gì cần thiết với mình.

[31:40]Người tu Tịnh độ cũng thấy Thiền là một cái gì cần thiết với mình, chứ không phải là hai cái là không đội trời chung. Cho nên cái người mà ta cứ nghĩ là Thiền - Tịnh chia rẽ là người hiểu sai ý Tổ. Vì Tổ cố gắng cho ta thấy rằng Tịnh và Thiền có một mối liên quan rất là rõ. Lát nữa ta sẽ nói liên quan như thế nào. Mà tại sao phải Thiền - Tịnh song tu? Tại sao phải Thiền - Tịnh song tu? Bởi vì có hai cái ý, hai cái ý, ẩn ý trong đó. Cái ý thứ nhất á là chư Tổ không muốn gọi là có một người thượng căn để tu Thiền rồi có những hạng người hạ căn tu Tịnh độ. Chư Tổ không muốn có cái sự phân biệt kiểu đó nữa.

[32:22]Là muốn là kết nối lại để nâng mọi người lên hết. Ví dụ cái người đó họ căn cơ không phải cao, mà họ lỡ họ tu Thiền. Họ cứ tưởng mình trên cao á, nhưng mà sự thực là tu không nổi thì nên, cũng không cần bỏ Thiền, chỉ cần kết hợp thêm Tịnh độ tông để nâng cái trình độ họ lên. Nghĩa là cái người đó lỡ đi theo ông thầy tu Thiền, nhưng mà căn cơ tu không tới, tu hoài tu không được, thì người này tốt nhất nên niệm Phật, nên lễ Phật. Đôi khi có tụng những bài kinh, thì như vậy cũng nâng được cái trình độ của mình lên. Thì như vậy là Tịnh độ đã giúp hỗ trợ cho cái người tu Thiền. Cũng giống như ta vậy, ta ngồi thiền mà

[33:03]vọng niệm quá, ta cứ ngồi đó niệm Phật sám hối rồi tiếp tục điều tâm của mình tiếp. Đó là một ý. Trường hợp thứ hai là có người tu Tịnh độ, tu Tịnh độ đã thuần thục, tâm nhiếp rất yên, tánh tình cởi mở, đạo đức đã tăng trưởng, thì người này phải bước sang tu Thiền để đi cho tới cái vô niệm luôn. Chứ ôm một câu niệm Phật hoài nó cũng thành một sự cản trở. Cho nên các các ngài khuyến khích: Thiền - Tịnh song tu là khi Tịnh độ đã thuần rồi, ta buông được câu niệm Phật, đi chuyên sâu vào tới vô niệm là đúng bản ý của chư Phật. Nên vì vậy có cái Thiền - Tịnh song tu để nâng cái trình độ căn cơ của mọi người lên.

[33:42]Người tu Thiền mà chưa đủ căn cơ dùng Tịnh độ cũng nâng mình lên được. Còn người Tịnh độ căn cơ đã cao rồi thì phải bước qua tu Thiền để mình vượt thoát, siêu trần luôn chứ không có đứng lại nữa. Đó là ý thứ nhất về cái căn cơ tu tập. Cái ý thứ hai của chư Tổ là muốn cho Phật giáo đừng chia rẽ. Cái ý thứ hai là một ý rất là là tế nhị và rất là quan trọng. Hai cái ý đó đáng cho ta tôn thờ, học hỏi. Hễ mà người nào nói: "Tôi tu Tịnh độ", người nào nói: "Tôi tu Thiền", thì ta sẽ nghe lòng mình có một cái gì nó nó ray rứt, bởi vì người này chưa có Thiền - Tịnh song tu. Người nào có Thiền - Tịnh song tu

[34:23]là quý, nhưng mà họ phải hiểu là tại sao Thiền - Tịnh song tu. Họ phải hiểu rằng: Thiền - Tịnh song tu thứ nhất là để nâng cái trình độ tu tập của con người lên; thứ hai là để Phật giáo đừng chia rẽ. Nếu người nào mà ứng dụng Thiền - Tịnh song tu mà hiểu được tới cái bản ý của chư Tổ, thì ta rất là cung kính đảnh lễ người đó, vì người đó đã hiểu đúng được ý của Tổ. Tuy nhiên, hôm nay ta có thêm ý thứ ba nữa. Ý thứ ba của ta là vậy. Tức là nhờ Thiền - Tịnh song tu mà Phật giáo đã đoàn kết. Giờ phải thêm ý thứ ba, là sau khi đoàn kết rồi, Phật giáo phải phát triển mạnh mẽ bên cạnh các tôn giáo bạn hiện nay đang truyền đạo một cách kinh hồn.

[35:11]Phú Yên thì không biết sao, ở những vùng khác các tôn giáo bạn của ta gõ cửa từng nhà để truyền đạo. Thì Phật giáo ngày nay cũng vậy, ta phải đi tìm sự đoàn kết. Khi đã tìm sự đoàn kết rồi, thì ta cũng phải phát triển Phật giáo một cách mạnh mẽ bên cạnh các tôn giáo bạn đang truyền đạo một cách kinh hồn. Ta phải nguyện với Phật, với Tổ. Chung quanh ta còn người nào mà chưa biết Phật pháp, ta phải hổ thẹn, phải sám hối và phải giúp cho người đó biết đạo, dù người đó không quen ta. Giống như cái chùa ta nằm ở đây mà chung quanh chùa của ta còn cái gia đình nào chưa biết đạo, ta phải tới lui thăm hỏi, truyền đạo, đưa cho người đó về với Phật pháp.

[35:55]Một người Phật tử ở trong cái khu vực này, trong cái làng cái xóm mình, còn người nào chưa biết đạo, mình phải rủ mấy chị em bạn đạo tới thăm cái gia đình đó, giúp cho người đó biết đạo, đưa người đó về chùa quy y. Đó là cái lời nguyện, lời hứa của ta đối với Phật Tổ nhân ngày kỷ niệm về Tổ sư Liễu Quán của ta. Chúng ta làm điều này được không, Phú Yên hả? Thưa chư Tôn đức và Phật tử, làm được không?

[36:25]Phải quyết tâm nha, là phải quyết tâm. Đã qua rồi cái thời đại mà ta ngồi một chỗ chờ người khác tới cầu đạo. Hết rồi, cái thời đó xưa rồi. Cái thời mới bây giờ là ta tới từng nhà để năn nỉ cái người đó cầu đạo. Thời đại khác rồi. Ngày xưa vậy, ta tụng táng bằng cái lối âm nhạc của vào thời đó. Ngày hôm nay ta hát bằng cái âm nhạc của thời đại ngày hôm nay. Cũng vậy, ngày xưa để đi tìm cái người nào mà quyết tâm tha thiết cầu đạo, ta ngồi chờ người đó đến đảnh lễ, thậm chí chặt một tay để cầu pháp như ngài Huệ Khả. Nhưng mà thời nay không có chuyện đó nữa. Thời nay ta phải chủ động tìm đến từng nhà để năn nỉ người ta cầu đạo.

[37:13]Thời đại khác nhau. Bây giờ ta nói về từng ý lại. Cái thứ nhất là nâng cao trình độ tu tập lên. Vào thời Đức Phật là cái quan niệm về niệm Phật vãng sinh chưa có thịnh, chưa có thịnh, hầu hết là phải sao? Phải ráng tu trong hiện đời để chứng một cái thánh quả nào đó, từ hoặc là Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán. Thấy vậy cứ nỗ lực tu, chứng gì đó không biết, nhưng mà phải ráng trong hiện đời, chứng ngay. Còn nếu không chứng thì phải tính theo mình chứng quả gì hay chưa chứng quả gì, còn phải trở lại bao nhiêu lần để mà mà đắc đạo. Thời đó vậy. Sau này xa Phật, các phương pháp Thiền rất là khó thực hành,

[37:57]nên các vị đã đưa ra cái phương pháp niệm Phật để ta có chỗ mà bám giữ tâm. Mình niệm Phật suốt ngày có vẻ nó buồn đối với những người không nhiếp tâm được, nên chư Tổ đã tạo ra nhiều cái hình thức sinh hoạt: đàn Chẩn tế, tụng cầu an, cầu siêu, tụng thời kinh Tịnh Độ buổi khuya buổi tối, Lăng Nghiêm buổi khuya, vân vân, để làm cho chùa có tiếng chuông vang, có tiếng mõ kêu, có tiếng tụng rền rà làm cho nó vui, trầm ấm lại. Nên tiếng chuông chùa đã đi vào lòng của dân tộc ta. Vào những buổi chiều khi mà mặt trời bắt đầu lặn, vào buổi khuya khi mà mặt trời chưa kịp lên, thì ta nghe thoang thoảng văng vẳng ở xa xa bên kia

[38:43]triền núi, tiếng đại hồng chung thong thả buông từng tiếng, buông từng tiếng, vang vọng giữa không trung, giữa bầu trời êm ả, làm cho khách trần bỗng dừng chân đứng lại, chợt tỉnh mộng cái giấc chiêm bao của thế gian mà từ bấy lâu nay ta theo đuổi. Từ lâu con người sống rộn ràng, vội vàng, lẹ làng, ngỡ ngàng, mà theo đuổi những cái bã vinh hoa phú quý. Nhưng nghe một tiếng boong vang vang vang giữa trời khuya như vậy, chợt lòng mình chùng lại, nghĩ những điều mà xưa nay ta theo đuổi, ta nắm đuối rồi sẽ được gì vì một ngày mai ai cũng phải chôn mình vào cát bụi. Cái ta đem theo chính là cái tâm linh, cái công đức.

[39:33]Mà ta đã làm được gì chưa? Ta đã làm được cái công đức gì trên đời này chưa? Tâm linh ta đã thăng tiến chưa? Trong khi ở xa bên kia, tiếng chuông chùa vẫn ngân nga, vẫn thong thả, vẫn buông từng hồi làm cho mọi người phải suy nghĩ lại. Nên là những cái nghi thức của chùa đã làm cho chùa gây được ảnh hưởng vào trong lòng người nhiều hơn. Đó là công phu công lao, phải nói rằng công lao của những vị tu theo pháp môn Tịnh độ đã làm cho đạo Phật đến gần với với quần chúng hơn, như vậy. Thì các vị Tôn đức về sau mới thấy rằng là khi người ta tin vào pháp môn Tịnh độ, người ta tin vào vãng sinh, ồ người ta ráng niệm

[40:20]Phật và có những người có cái thượng căn, thiện căn. Họ đạo đức quá, họ sống cuộc đời hiền lành, thánh thiện. Họ tu ở trong chùa, họ thương yêu được huynh đệ của họ. Rồi họ ở chùa này, họ hỗ trợ thương yêu được các chùa khác. Họ thương yêu được tất cả chúng sinh, họ niệm Phật họ nhiếp được tâm. Thì cái người như vậy là căn cơ đã lên cao, nên các ngài mới đến nhiều khi chỉ hỏi: "Ông niệm Phật siêng cần, nhưng ông có biết ai là người niệm Phật không?". Nói: "Dạ cái miệng". Nói: "Cái miệng ông ba bữa nó chết rồi, vậy có niệm được không?". Nói: "Dạ cái tâm con niệm". "Tâm ông ở đâu đưa ta coi?". Loay hoay tìm tâm không được. "Đi về tìm đi, hãy ngồi mà tìm đi".

[41:02]Và khi tìm được cái tâm bùng vỡ rồi thì trở thành thiền sư. Tức là cái người niệm Phật thuần thành, nhưng mà qua một cái bí quyết thủ thuật khai thị của thiền sư, lập tức biến thành Thiền liền. Nên ta thấy cái ranh giới giữa Tịnh độ và Thiền nó không có. Và các ngài muốn dùng Thiền để nâng cái trình độ của cái người tu Tịnh độ lên trên lên trên cao hơn một bước nữa là cái ý là là như vậy. Tuy nhiên, Là có những vị à tuy tu pháp môn niệm Phật nhưng mà cũng bỗng nhiên có cái duyên gì với Thiền á, tự nhiên cũng thích tu Thiền. Thích tu Thiền đến gặp một vị đại sư. Vị đại sư hỏi nào giờ ông tu gì? Nói:

[41:49]"Dạ, nào giờ con tu a Tịnh độ, giờ con thích tu Thiền." "Rồi ông tu Thiền ông bỏ hết hả?" Nói: "Dạ, con bỏ hết Tịnh độ, con bỏ niệm Phật hết, con đi theo Thiền thôi." Thì các vị đại sư họ sáng mắt không bao giờ họ cho phép điều đó. Vì họ thấy cái người này bỏ cái công phu niệm Phật rất là uổng, vì công phu niệm Phật làm cho người đó tăng trưởng được cái đạo lực, tăng trưởng được cái phước duyên. Bây giờ cứ kết hợp giữa Thiền và Tịnh độ thì sẽ rất là tốt, nên các vị không có dùng cái thoại đầu để khai thị, cũng không cho bỏ câu niệm Phật mà bắt phải kết hợp vừa Thiền vừa niệm Phật. À theo như cái cách là theo dõi hơi thở.

[42:29]Là các vị bắt là bây giờ ông thở vào, ông Nam Mô A Di Đà Phật; thở ra, Nam Mô A Di Đà Phật. Hoặc là: thở vào, thở ra, Nam Mô A Di Đà Phật; thở vào, thở ra, Nam Mô A Di Đà Phật. Tức là vẫn theo dõi hơi thở như là tu Thiền, nhưng mà không được bỏ câu niệm Phật. Vì Tổ thấy cái người này vẫn còn duyên với Tịnh độ và vẫn còn cần phải niệm Phật để tăng trưởng được cái căn cơ của mình. Vì câu niệm Phật giúp cho ta tăng trưởng được cái căn cơ của ta cao hơn. Ta hay nói là người này có căn tu, người kia không có căn tu, hoặc người nọ có căn cơ cao, người này có căn cơ thấp. Vậy căn cơ thấp, căn cơ cao là gì?

[43:12]Chính là cái công đức mà câu niệm Phật là một trong những yếu tố giúp ta tăng được công đức nên tăng được căn cơ ta lên. Có những người mà chưa thể bỏ câu niệm Phật như là một vị Thiền sư nói: "Niệm Phật là ai? Ai là người niệm Phật?" Là người đó giết, ông kia vỡ được thoại đầu rồi bỏ câu niệm Phật luôn là đạt được chứng ngộ. Còn cái người muốn tu Thiền mà căn cơ chưa đủ nên buộc phải là vẫn giữ câu niệm Phật vừa kết hợp với hơi thở, đó là gọi là thiền tịnh song tu. Nhân nói về thiền tịnh song tu, chúng tôi cũng muốn kể lại một cái đạo lý mà nhân cái chuyến đi về Phú Yên này. Nhân chuyến đi Phú Yên này, vì có việc ở Sài Gòn cho nên chúng

[43:57]tôi phải đi bằng máy bay thì trùng cái chuyến máy bay với Hòa thượng Thích Trí Quảng, Trưởng ban Hoằng pháp Trung ương. Thì vé thì mua không có giống nhau, nhưng mà Hòa thượng gọi chúng tôi lên ngồi bên cạnh. Thì trong suốt một chuyến bay hơn một tiếng đồng hồ, cứ nghe Hòa thượng nói về chuyện Tịnh độ. Ngày hôm đó cũng là đúng ngày vía Phật A Di Đà, vía Phật A Di Đà. Hòa thượng mới khoe: "Năm nay á, cái ngày sinh nhật ngày Tây của tôi là ngày 05 tháng 01. Tôi sanh ngày 05 tháng 01 ngày Tây. À thì năm nay là ngày 05 tháng 01 của tôi là ngày này nè, đang ngồi trên máy bay, cũng là ngày vía A Di Đà."

[44:40]Hòa thượng cũng vui vì cái sự kiện này. Rồi nhân đó, Hòa thượng mới nói rằng: "Tôi cho rằng thế giới Cực Lạc là biểu tượng của cái thế giới tâm linh, mà thế giới Ta Bà của Phật Thích Ca là biểu tượng cho cái thế giới hiện thực. Ừ cái thế giới tâm linh ta theo đuổi là cái gì nó đẹp đẽ, bằng phẳng, là vàng ròng, trân châu, mã não, là không có oán thù, không có kẻ xấu, điều ác. Còn cái thế giới hiện thực của Phật Thích Ca là cái thế giới thế giới thực mà ta đang sống, là đầy những cái điều bất an, những gò, những nỗng, những kẻ oán đối, những buồn, thương, giận, ghét. À đó gọi là hai cái thế giới, thế giới của Cực Lạc của Phật A Di Đà và thế giới Ta Bà

[45:29]của Phật Thích Ca." Và Hòa thượng cũng nói một cái ý rất là lạ, Hòa thượng nói rằng: "Hôm nay là ngày 17 tháng 11 vía Phật A Di Đà, đúng 21 ngày sau là ngày 08 tháng 12 là ngày Phật Thích Ca thành đạo. Từ vía Phật A Di Đà đi thêm đúng 21 ngày, đúng ba tuần lễ, cái con số đinh ở trong đạo Phật á, thì tới ngày Phật Thích Ca đắc đạo. Không biết là ngày xưa chư Tổ chọn hai ngày này hoặc là dựa vào cái ngày Phật Thích Ca thành đạo là ngày 08 tháng 12 để lui lại 21 ngày mà chọn đó là ngày vía Phật A Di Đà để gởi một cái ẩn ý, gởi một cái ẩn ý đến cho muôn đời sau mọi người có hiểu hay không?" Nghĩa là cái câu chuyện về cái

[46:15]đạo lý giữa thế giới Cực Lạc và thế giới Ta Bà hoặc là cái sự tu hành của ta của pháp môn mà tu Thiền của Phật Thích Ca và cái lối là niệm Phật cầu vãng sinh của Phật A Di Đà, Hòa thượng nói có một cái sự nối kết rất là lạ, một sự rất là lạ. Một cái ẩn ý gì đó mà chư Tổ ngày xưa đã gài lại chờ cái người sau giải mã. Và như vậy, nếu hôm nay ta vía Phật A Di Đà thì 21 ngày sau ta vui mừng đón cái ngày Đức Phật thành đạo. Vậy ẩn ý là gì? Ẩn ý này, ẩn ý rằng một người mà tu niệm Phật A Di Đà nghĩ rằng mình cầu vãng sanh

[46:57]nhưng không ngờ tu được ba tuần sau thì đắc đạo theo con đường của Phật Thích Ca. Nếu ai đồng ý thì ta vỗ tay. Tức là chư Tổ đã gài cái ý như vậy thì không còn có cái chia cách giữa Thiền và và Tịnh nữa. Đây là điều cũng rất là hợp lý. Và nó bước sang cái ý thứ hai của chư Tổ, tức là kết hợp Thiền tông và Tịnh Độ tông lại để cho đạo Phật không còn chia rẽ nữa. Nên nếu ta hiểu được cái ý thứ hai này thì ta còn phải phải làm rất là nhiều. Ta bổ sung lại cái ý thứ nhất chút xíu. Khi mà ta thở vào, ta thở ra, ta niệm: "Nam Mô A Di Đà Phật." Rồi thở vào, ta thở ra, ta niệm: "Nam Mô A Di Đà Phật." Nhờ ta niệm Phật như vậy ta được Phật gia hộ.

[47:49]Nên cái người nếu mà không có niệm Phật á mà chỉ theo dõi hơi thở không á, tự nhiên tâm nó loạn. Thở vào, thở ra một lát nhớ tùm lum chuyện hết trơn, nhớ tới tờ giấy vé số mình mua để đâu mất tiêu quên mất, lỡ nó trúng rồi không biết làm sao, á đầu óc chạy tá lả. Nhưng mà nhờ mình có niệm Phật nên được Phật gia hộ, cái ít có quên, ít có vọng tưởng. Rồi cứ như vậy cứ kiên nhẫn là thở vào, thở ra, Nam Mô A Di Đà Phật; thở vào, thở ra, Nam Mô A Di Đà Phật. Lần lần, lần lần hết nhớ vé số, hết nhớ. Đến lúc thuần, buông câu niệm Phật, lúc đó chỉ còn thấy được cái thân này là vô thường. Hơi thở vào, biết thân này vô thường;

[48:29]hơi thở ra, biết thân này vô thường; hơi thở vào, biết thân này vô thường; hơi thở ra, biết thân này vô thường. Nó chỉ là cái biết thôi, không còn câu niệm nữa, không còn ý niệm, mà chỉ còn là cái trí tuệ đi theo hơi thở là biết thân vô thường. Và dần dần cái sức tỉnh giác tăng lên cho ta không còn vọng tưởng, à không còn nhớ người nào đó đã nói xấu ta, không còn nhớ cái tờ vé số đã để đâu quên, không còn nhớ là ai nợ mình chưa trả, vân vân, quên dần quên dần, chỉ còn nhớ hơi thở và cái thân vô thường này. Lần lần sức tỉnh giác tăng lên rồi ta vượt qua được năm triền cái, ta nhập được sơ thiền dần dần.

[49:10]Là ta bắt đầu bước vào một thế giới mới, thế giới của của tâm, thế giới của tâm linh dần dần. Và lúc đó ta mới thấy rằng là đạo là ở đây, Cực Lạc là ngay chốn này, lúc đó mới thấy như vậy. Còn đối với người chuyên tu Thiền mà không chịu niệm Phật

[49:31]mà căn cơ mình thì thấp, căn cơ thấp, chuyên tu Thiền sao mà tu nổi. Vì vậy chư Tổ cũng buộc phải kết hợp với Tịnh độ là phải lễ Phật cho nhiều. Nếu không niệm Phật, thôi cũng được, không chịu niệm Phật cũng được, không có duyên với Tịnh Độ tông, không chịu niệm Phật, thôi cũng được, nhưng phải lễ Phật. Lễ Phật còn cực hơn niệm Phật nữa. Một ngày cũng phải lễ thôi được 100 lễ, phải sám hối tội lỗi, phải khởi lòng tôn kính Phật tha thiết, phải phát đại nguyện độ sinh, à phải thấy được cái cái lỗi lầm của mình trong đời sống, một ngày phải lạy Phật giùm vài trăm lạy, cũng là lối tu Tịnh độ. Khi ta tôn tính kính Phật cũng là một hình thức của Tịnh độ.

[50:08]À như vậy, ừ thì như vậy, khi mà người này lễ Phật được nhiều, đạo đức được tăng trưởng, làm được nhiều công đức trong đời sống, thương yêu được mọi loài, thương yêu được huynh đệ gần bên mình đã đành rồi, thương yêu được tất cả vạn loài ở xa thì công đức được tăng trưởng. Mà khi công đức tăng trưởng rồi thì sức tỉnh giác của tâm tăng lên. Thì lúc đó không cần niệm Phật, chỉ cần theo dõi hơi thở thôi rồi cũng không bị vọng tưởng, rồi từ từ kết hợp giữa thiền tịnh song tu. Nghĩa là người Tịnh độ mà thêm hơi thở vô, biến thành Thiền; còn người tu Thiền thêm niệm Phật hay là thêm lễ Phật là có kết hợp với với Tịnh độ, đó là gọi là thiền tịnh song tu.

[50:49]Mà ta hiểu cái ý nữa là thay vì ta cứ bỏ quên cái thế giới này để ta nhắm đến một cái thế giới Tây phương Cực Lạc nào đó thì ta hiểu rằng 21 ngày sau vía Phật A Di Đà là tới vía lễ thành lễ thành đạo, không có đi đâu xa. Ta tưởng rằng ta sẽ đi về một thế giới Cực Lạc cao siêu xa xôi nào, không ngờ 21 ngày sau ta đắc đạo tại chốn này thì mới biết chốn này là cũng là Tịnh Độ. Lúc đó mới có một trong kinh vậy, trong kinh là là trong kinh Duy Ma Cật, người mới hỏi sao cõi này đất đai nó cứ gồ gỏng rồi tùm lum gai góc? Đức Phật mới ấn ngón chân xuống đất thì thế giới này hiện thành một thế giới Cực Lạc toàn bằng vàng ròng. Rồi Phật mới nói rằng:

[51:40]"Tại các ông không thấy. Cái thế giới này vẫn là thế giới Tịnh Độ". Nên mọi người không biết thì nói: "Phật Thích Ca đi vào cái cõi Ta-bà uế trược, gò nổng gai góc để hóa độ chúng sinh vất vả." Nói như vậy là vì người đó không có con mắt. Nếu có con mắt thì mới thấy: "À, Phật Thích Ca cũng thị hiện xuống cái cõi Tịnh Độ này để giáo hóa chúng sinh." Nhưng mà cái không có con mắt... nhưng mà sự thật cái đó là cái con mắt đạo mới nhìn ra. Chứ hằng ngày hiện nay ta cũng thấy: "Ồ, người kia ghét tôi, người nọ chửi tôi, cái kia là nghèo đói đang chờ tôi, nợ đang đòi tôi, vân vân." Nhưng mà nếu ta có con mắt đạo sáng lên một cái thì

[52:20]cái người mà chửi ta không phải là người xấu mà đó là người ơn của ta. Là vì sao vậy? Vì nào giờ mình cứ được khen mà. Phải có người chửi, người chê để mình tu lại. Chứ ai cũng khen hết cái mình quên tu. Nhờ có cái người chửi đó mình tu một chút. Nên những người đó lại là ân nhân, người đó lại là Bồ Tát thiện tri thức. Cho nên cõi này vẫn là cõi cõi Tịnh Độ. Chừng nào ta thấy cái người đó ác với ta, ta mới thấy đây là cõi Ta-bà hiểm độc. Còn thấy ta thấy người đó là Bồ Tát thì cõi này là cõi cõi Cực Lạc. Thì cái người mà chửi ta, nếu ta nghĩ đó là kẻ xấu thì đây là cõi Ta-bà. Còn cái người chửi ta, ta thấy đó là Bồ Tát giúp

[53:01]ta thì cõi này là cõi Tịnh Độ mất tiêu rồi. Như vậy tại con mắt của ta, ta nhìn như thế nào mà cõi này thành thành Tịnh Độ hay là cõi Ta-bà, tùy ta thôi. Bây giờ ta nói ý thứ hai của chư Tổ là ngăn chận sự phân hóa của Phật giáo. Vì vào cái thời đó đó, những cái vị mà xiển dương Tịnh Độ họ nói quá sức đi. Họ nói rằng chỉ có một câu niệm Phật này là siêu sinh ba cõi, là bác hết tất cả. Chỉ một câu niệm Phật này thôi, không cần cái gì hết, tức là họ đề cao Tịnh Độ, đề cao khiếp đảm. Rồi vị tu thiền cũng vậy. Các ông thiền sư nói lỡ niệm Phật một lần súc miệng ba ngày. Tức là bên tông này bác bên tông kia quá đáng.

[53:48]Và những vị mà tu tập kinh điển, những vị pháp sư thì nói: "Mấy ông tu mấy ông không học, mấy ông tu cái gì? Lời Phật dạy trong Tam Tạng kinh điển để lại rành rành. Ông thì chấp câu niệm Phật không cần biết gì hết, ông thì biết chân tâm Phật tánh không biết gì hết, mấy ông tu cái gì, mấy ông phản Tam Bảo. Tam Bảo là Phật, là Pháp, là Tăng. Pháp là giáo pháp, Tam Tạng kinh điển. Mấy ông tu, mấy ông chê kinh điển rồi mấy ông tu cái gì?" Rồi cũng có, tức là bên này không đồng ý bên kia. Cho nên các vị đại sư mới nhìn thấy cái nguy cơ đó gọi là nguy cơ phân hóa Phật giáo quá nặng và các ngài buộc phải xiển dương,

[54:25]phải đưa ra cái đường lối gọi là Thiền Tịnh song tu để ngăn chận sự phân hóa của đạo Phật. Mà đạo Phật không phân hóa, không chia rẽ, đoàn kết lại một mối thì đạo Phật mới phát triển được. Mới phát triển được, nghĩa là ví dụ như bây giờ ta thấy có hai cái chùa. Hai chùa không ưa nhau. Còn cái người Phật tử thì trong tâm đâu biết, người Phật tử thấy thầy cô nào cũng quý, cũng thương thôi. Đi qua chùa này công quả ít bữa, qua chùa kia công quả ít bữa. Cái ông thầy ổng nói: "Nếu con qua chùa thầy thì thầy cấm con không qua cái chùa đó. Chùa đó tệ thế này thế kia." Thì cái người Phật tử họ hoang mang, nhưng có thể là họ thôi thì nghe lời ông thầy mình,

[55:08]rồi thôi nghỉ chơi chùa kia không qua nữa tại chùa đó xấu. Thì ta thấy rằng như vậy cái người cư sĩ đó đáng lẽ phải giúp được hai chùa, bây giờ chỉ còn giúp được một một chùa. Đạo Phật yếu đi phân nửa. Còn bây giờ nếu người Phật tử đó họ tư tưởng họ chan hòa, họ đi qua chùa này họ nghe bên chùa này khen chùa kia, đi qua chùa kia thì nghe chùa kia khen chùa nọ, họ thấy chùa nào cũng thương yêu nhau hết thì cái đạo tâm họ tăng lên gấp ngàn lần. Họ quý kính, họ tin yêu chư Tăng, chư Ni vô cùng. Và họ tin rằng đúng: Đạo Phật xuất hiện giữa thế gian này là đem ánh sáng đạo đức soi rọi vào lòng người khiến cho

[55:49]cái người nào giờ sống lung lay, sống không có đạo đức, không có niềm tin, bây giờ bắt đầu có niềm tin, có chỗ nương tựa. Bởi vì thấy những người xuất gia theo Phật là những người đạo đức, những người từ bi, những người hòa hợp, đoàn kết. Nên vì vậy khi ta hiểu được ý của chư Tổ là xiển dương cái Thiền Tịnh song tu để ngăn chận sự phân hóa của đạo Phật, để làm cho đạo Phật đoàn kết hơn thì ta phải thực hiện cái bản hoài của chư Tổ là làm cho đạo Phật đoàn kết lại. Ví dụ ta bước vô một cái chùa, ta có cảm giác lạnh lẽo, ta thấy chúng ở trong chùa này ít ai thương ai, ta nhận ra liền và ta biết rằng đạo Phật sẽ suy.

[56:36]Vì ngay trong chùa mà không thương nhau. Cho nên phải tập là từ ở trong chùa, huynh đệ của mình còn hơn cả ruột thịt của mình. Mình đã bỏ cái gia đình thế gian, cái gia đình ruột thịt thế gian, mình đi vào chùa thì như vậy cái tình ở trong chùa nó phải hơn cái tình gia đình thì mình mới bỏ gia đình mình chứ. Còn nếu cái tình gia đình là đậm đà, thắm thiết mà mình bỏ cái tình gia đình đó để vào cái chùa mình đi tìm cái nơi không có tình thương yêu, lạnh nhạt hơn thì như vậy rõ ràng mình đi từ nơi quý vào cái nơi dở. Mà cái người có trí tuệ thì phải đi từ cái nơi thấp đến nơi cao. Cái tình gia đình đậm đà như thế mà ta bỏ,

[57:19]ta vào chùa thì phải bảo đảm rằng cái tình trong chùa nó còn hơn tình ruột thịt chứ. Phải không? Vì người có trí mà, đi tu là có trí, đi từ thấp lên cao. Như vậy cái tình đạo trong chùa nó phải đậm đà hơn tình ruột thịt gia đình. Giờ ta nhìn lại nếu trong chùa ta mà huynh đệ chưa thương nhau hơn cả ruột thịt thì ta biết ta có cái gì thiếu sót á. Ta có cái gì thiếu sót. Phải làm sao cho chùa là một tổ ấm, một thiên đường, bởi vì huynh đệ rất thương yêu nhau, có thể hy sinh mạng sống vì nhau được. Thì một người Phật tử họ bước vào chùa, họ nhận ra liền. Dù chưa nói gì, họ nhận cái không khí trong chùa này ấm quá. Ấm là cái gì?

[58:05]Tại vì từ tâm đến tâm của những người trong chùa thương yêu nhau. Họ bước vô chùa, họ chưa nghe ai nói chuyện, chưa thấy ai thương ai, chưa thấy ai giúp ai mà không khí đã đầm ấm rồi. Bởi vì cái cái tâm linh nó lan tỏa vô hình ở trong không khí á là người này thương người kia. Thầy trụ trì thương đệ tử mình hơn con, huynh đệ trong chùa thương nhau hơn anh chị em ruột. Không khí chùa ấm liền. Và người ta đến cái chùa, người ta nhận ra đây là tổ ấm. Người ta phải tới hoài để người ta học được cái tình thương đó về người ta sống với cuộc đời. Cũng vậy, bây giờ giữa chùa này với chùa kia có thể ta khác tông phái, ta khác dòng phái.

[58:48]Bên này dòng Chúc Thánh, bên kia dòng Liễu Quán, bên nọ dòng Nguyên Thiều, vân vân. Nhưng ta cùng là một Đấng Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni, ta có cái tình Linh Sơn cốt nhục, nên ta phải thương yêu nhau như ruột thịt. Thì cái người Phật tử họ đi từ chùa này họ đi sang chùa kia họ nhận ra được cái đạo đức đó, đạo đức là những người xuất gia dù khác chùa vẫn rất thương nhau, vẫn thường hay hỗ trợ nhau trong Phật sự, trong công tác, trong đời sống. Và như vậy họ có niềm tin rõ ràng là những vị xuất gia là những ánh mặt trời chân lý, là những cái bóng cây đại thụ che mát cuộc đời này giữa trưa hè nóng bức.

[59:31]Những người xuất gia là dòng suối mát chảy qua cái sa mạc khô khan đầy hận thù, khói lửa. Và như vậy họ yên tâm để họ đến với chùa họ tu, họ học. Và như vậy gọi là một đạo Phật hòa hợp, đoàn kết. Mà ta thực hiện được cái tình thương yêu như vậy là ta đã tu theo đúng với bản hoài của chư Tổ khi mà chư Tổ xiển dương cái Thiền Tịnh song tu. Chúng ta có đồng ý không? Đồng ý không? Nam Mô A Di Đà Phật.

[1:00:02]Muốn mà tạo nên sự hòa hợp, sự đoàn kết trong đạo Phật thì ta có những điều phải ghi nhớ như sau: Thứ nhất là ta đừng cố chấp pháp môn. Tịnh độ có nhiều khi cũng ba, bốn cách niệm Phật, tu thiền cũng ba, bốn cách tu thiền. Không biết, tu cách gì đó cách, pháp môn nào đó pháp môn, đừng cố chấp pháp môn. Vì sao vậy? Bởi vì pháp môn nào thì pháp, chúng ta vẫn phải thế nào? Vẫn phải lấy Bát Chánh Đạo làm gốc, lấy tam vô lậu học là giới-định-tuệ làm cốt lõi, lấy mục tiêu giải thoát giác ngộ làm cứu cánh. Cứ còn nói: "À, tôi tu pháp này tôi không giác ngộ, tôi không cần giác ngộ, tại tôi tu pháp này", vậy là không phải đạo Phật.

[1:00:52]Tu pháp gì pháp, phải có mục tiêu chung. Ta nói là ta nói: "Dạ, đạo Phật có tám vạn bốn ngàn pháp môn", đúng. Tám vạn bốn ngàn pháp môn để đi về một mục đích chung là giác ngộ giải thoát. Đạo Phật có tám vạn bốn ngàn pháp môn, đúng. Nhưng tám vạn bốn ngàn pháp môn đó xuất phát từ một cái gốc là Bát Chánh Đạo. Chúng ta có cái chung cái gốc xuất phát, chúng ta có chung cái gốc điểm đến, vì vậy ta không có lý do gì để chia rẽ pháp môn, không có lý do gì để phân cách tông phái. Hôm nay vậy, ta nói: "Tôi ở dòng Chúc Thánh, người nọ dòng Nguyên Thiều, tôi tin tụng Tịnh độ, tôi tu thiền, tôi tu thoại đầu, à tôi tu Mật tông", bỏ những điều đó, phải không?

[1:01:37]Chỉ cần chúng ta cùng thờ Đức Phật, chỉ cần chúng ta cùng nhắm về mục tiêu giải thoát giác ngộ thì ta là anh em trong một nhà. Máu ta có người máu A, người máu C, có người máu B, người máu D, người máu G, máu H, máu gì không biết, nhưng mà cùng là máu của Phật đà hết. Thật ra là tất cả chúng ta là máu gì? Máu của dòng máu Thích Ca, dòng máu của Gautama, và chung máu gì nữa? Máu của Âu Cơ, Lạc Long Quân. Cho nên ta phải phải thương nhau và phải yêu thương đất nước này, vậy thôi. Ta phải để ý cái này nữa là các tôn giáo bạn của ta họ khôn hơn ta nhiều. Ví dụ bây giờ ta thử hỏi một bất kỳ một ni sư, một thượng tọa nào là:

[1:02:26]"Năm nay ni sư quy y được mấy Phật tử?" Ni sư nói không nhớ. "Như vậy, ni sư có đặt chỉ tiêu là sẽ quy y được bao nhiêu người trong vùng này không?" Nói: "Dạ không để ý." Có bao giờ ni sư tự đặt trong đầu mình năm nay tôi phải quy y được 500 Phật tử, không có không? Không. Không biết. Nhưng bên các tôn giáo bạn họ có, nên vì lý do đó họ có một hệ thống tổ chức rất là chặt để họ truyền đạo rất là mạnh. Lát nữa ta nói lại cái này, nhưng bây giờ nè, khi mà họ muốn truyền đạo trên một đất nước mà đạo Phật đã có truyền thống lâu dài như vậy thì họ phải phá cái đạo Phật đó trước cái đã. Họ phải phá đạo Phật cho yếu xuống rồi họ mới truyền cái đạo mới của họ được.

[1:03:06]Mà muốn phá cái đạo Phật đó cho yếu á thì họ phải làm cho đạo Phật sao? Chia rẽ nhau thì đạo Phật mới yếu. Ông thầy này ghét ông thầy kia, chùa này công kích chùa kia, tông này đả kích tông kia thì đạo Phật mới suy được. Mà muốn cho đả kích nhau thì phải làm sao? Phải làm sao? Phải có người xúi. Có người xúi thì mới ghét nhau được, chứ bình thường ví dụ như hai sư cô ở hai chùa qua lại bình thường, không bao giờ ghét nhau phải không? Không có gì hết. Nhưng mà có một người tới mới nói: "Hôm qua con tới chùa đó, cái sư cô đó nói rằng kêu con đừng có qua chùa của cô nữa, tại cô xấu lắm. Nhưng mà con thương cô nên con vẫn qua."

[1:03:47]Mình nghe rồi bắt đầu mình thấy sư cô kia làm sao? Cô kia là: "Con đừng có tin cái thứ dạ xoa, ác quỷ. Miệng mồm nó ác độc như rắn. Cô đây mới là từ bi..." Đừng đừng vậy! Mình chửi lại liền, mình rơi vào bẫy liền. Mà thực sự đã có như vậy. Có rất nhiều người họ bước vào, họ gài và họ giả vờ làm đạo Phật, làm Phật tử. Họ đi chùa này họ kích động, đi chùa kia họ kích động. Cái kiểu đó đó! Thế là làm cho chùa này không còn thương chùa kia nữa, thầy này không còn thương thầy kia nữa. Đạo Phật yếu từ từ, không hợp tác với nhau thì làm sao làm được các Phật sự? Ví dụ bây giờ ta muốn tổ chức cái Lễ Phật Đản cho lớn,

[1:04:26]nhưng một chùa làm đâu có nổi, phải kết hợp hết là 100 chùa trong tỉnh làm. Nhưng 100 chùa đó không chùa nào thương chùa nào hết, không chịu làm việc với nhau thì như vậy làm sao ta có một cái đại Lễ Phật Đản lớn? Phải không? Đạo Phật nhìn vô yếu liền, yếu liền. Còn nếu 100 chùa đó thương nhau, mỗi người vác lại cây tre thôi, làm cái làm cái khán đài mạnh liền, lớn liền. Vì vậy muốn cho đạo Phật yếu, phải làm cho đạo Phật chia rẽ. Mà muốn cho đạo Phật chia rẽ, phải có người xúi. Mà để có người xúi, họ đưa người vào trong đạo Phật. Cho nên vì vậy, từ đây về sau, nếu có một người nào mà đến với quý thầy, quý cô mà nói cái giọng điệu để làm cho quý thầy quý

[1:05:06]cô ghét một thầy cô nào khác thì ta phải làm sao? Ta phải chỉ người đó nói liền: "Hoặc là con hiểu lầm nên con đã nói điều này, hoặc con là người của tôn giáo bạn gài vào đây phải không?" Chỉ điểm mặt liền! Không bao giờ ta nghe theo cái lời của người đó để ta ghét cái người huynh đệ của mình. Ghét là một cái tội ở trong đạo Phật. Nếu ta ghét là ta mang tội, mà nếu người nào xúi cho ta ghét thì người đó là người mang tội, mà ta ghét theo thì ta mang tội theo. Người đó xúi, ta phải chặn ngay người đó liền, không bao giờ ta dại khờ để tâm mình khởi lên cái điều ghét. Là ta thắng được ma vương. Thắng được ma vương.

[1:05:53]Ma nó làm đủ cách để trong lòng ta khởi lên cái ghét, cái hận, cái thù, cái tham, cái sân. Bây giờ ma nó làm gì làm, ta không khởi lên cái hận, cái ghét, cái thù, cái tham, cái sân thì ta vượt qua được cái lưới ma. Cũng vậy, có người muốn cho Phật giáo ta chia rẽ mà ta không thèm chia rẽ, ta giữ chắc lời Phật dạy, lúc nào cũng hòa hợp, cũng thương yêu, cũng đoàn kết thì những kẻ xấu phải chịu thua. Mà muốn như vậy thì đạo tâm ta phải vững vô cùng. Ta phải tu thế nào đó mà không ai có thể làm cho ta khởi lên cái ghét được hết. Thì đạo lý của ta, đạo lực của ta, đạo hạnh của ta thắng được cái âm mưu bên ngoài.

[1:06:36]Còn nếu đạo hạnh ta thấp, người ta nói một câu mình khởi cái ghét lên liền thì mình lọt vào lưới ma liền lập tức. Cho nên ở đây là lệ thuộc, ăn thua vào cái tu của ta, đạo lực của ta tới mức độ nào. Có ai còn kích được cho ta ghét hay không? Nếu trên đời không còn ai kích được cho ta ghét nữa thì ta là những người đệ tử của Phật, đệ tử của tổ, giữ gìn cái sự hòa hợp, đoàn kết trong đạo Phật này. Cho nên chúng tôi kính mong chư tăng ni, chư tôn đức vậy, theo lời Phật dạy giữ vững cái đạo lực của mình, không bao giờ có ai có thể làm cho mình ghét cái người huynh đệ đầu tròn áo vuông giống như mình nữa.

[1:07:20]Xin chúc như vậy, xin mong như vậy, mong quý ngài hãy như vậy. Vì tiền đồ của Phật pháp mai sau. Bây

[1:07:32]giờ ta nói qua cái tình hình hiện nay một chút xíu là cái ý thứ ba, tức là đạo Phật phải phát triển mạnh trong cái thời đại mà tôn giáo bạn đang truyền bá kinh hồn. Ngày hôm nay, Hồi giáo đánh bom ngay giữa lòng thủ đô Bangkok, đó là một cái xứ Phật giáo là quốc giáo, từ vua đến dân đều theo đạo Phật, những tưởng rằng là cái đó là một đất nước yên bình theo Phật, nhưng không ngờ Hồi giáo đánh bom ngay giữa lòng thủ đô, ngay bên cạnh những cái mái chùa vàng, chùa bạc như vậy, thì người ta biết rằng là sao? Đạo Phật bên đó đã không đủ sức để bảo vệ đất nước Thái Lan dù mang tiếng là quốc giáo.

[1:08:18]Theo một vài cái nguồn tin, thì từ rất lâu Hồi giáo đã gài người vào trong chính phủ Thái Lan rồi, nên họ vừa rồi họ lật đổ luôn. Họ lật đổ cái chính quyền theo Phật giáo luôn để họ nắm quyền luôn, và họ tạo điều kiện để cho Hồi giáo tiếp tục gài người vào chật cứng hết trong chính quyền. Và sau này Phật giáo sẽ biến mất khỏi đất nước Thái Lan, vì Hồi giáo nó tràn ngập, nó tràn tới đâu nó giết sư tăng tới đó thì đạo Phật sẽ biến mất, giống như vào thế kỷ thứ VIII tới thứ XIII mà Hồi giáo đã giết sạch các tăng ni ở bên Ấn Độ. Ngày nay, lịch sử đang lặp lại và bắt đầu bởi đất nước Thái Lan. Nếu Thái Lan mất đạo Phật rồi thì Việt Nam sao?

[1:09:01]Mối đe dọa rất là rất là lớn, rất là lớn. Chúng ta thấy các tôn giáo bạn họ không đơn giản, họ quyết tâm truyền đạo bằng đủ cách hết: một là bằng bạo lực, hai là bằng thủ đoạn chính trị, đủ cách hết. Mà họ truyền đạo không phải là để truyền cái điều thiện, mà để họ lấy lãnh thổ và lấy lực lượng. Còn ta, ta truyền đạo vì ta muốn cho mọi người sống thương yêu nhau, hai cái mục tiêu khác nhau, nhưng ta hiền quá, truyền được không sao, không được cũng không sao, rồi về nhà cái đóng cửa tụng kinh, gõ mõ không sao hết. Nhưng mà ở tôn giáo bạn không có chuyện đó, hễ một người tu sĩ phải truyền được bao nhiêu tín

[1:09:42]đồ, chứ không có mà nói là cái tụng kinh, gõ mõ. Cái quyết tâm truyền đạo của họ rất cao, nhưng mà chỉ có cái là động cơ của họ là xấu, động cơ họ nhiều cái chính trị. Còn ta, ta truyền đạo rất là tốt nhưng mà ta không quyết tâm. Động cơ của ta truyền đạo là muốn cho mọi người yêu nước, thương dân, muốn mọi người ăn hiền, ở lành, nhưng mà ta thiếu quyết tâm, ta sống lặng lẽ trong chùa mình. Và nhiều khi vậy, nhiều khi Phật tử tới với ta, ta hay gợi ý là xây chùa, cất này, cất kia, đôi khi nó hơi không đáng, không cần lắm, nhưng làm Phật tử sợ không dám tới chùa. Ví dụ cái chùa của Ban Trị sự ta đây là điều cần thiết.

[1:10:26]Ta phải có một cái chùa bề thế để làm cái trụ sở của Giáo hội tập trung cất cái này đúng. Còn một nơi nào đó ta không cần chùa lớn, ta chỉ cần truyền đạo được nhiều thôi, không cần chùa to. Chùa nhỏ một chút xíu cũng được, nhưng mà truyền đạo cho mạnh là thành công, là đúng ý Phật. Còn ví dụ nơi nào rất cần cơ sở như thế này, ta cất cái chùa thế này rất cần cất thêm nhiều nhà vệ sinh, cất nhà nghỉ, nhà ăn, cất những hội trường, cất những đoàn quán, cất nhà tăng, vân vân, một cái nơi mà để cho chư tăng tụ hội lại ở tu học rất là tốt. Nhưng mà có những nơi không cần, chứ đụng cái gì chùa nào lại cũng có nhu

[1:11:07]cầu xây cất và xây cất lớn, mà dân ta đâu phải ai cũng giàu, nên vì họ mệt, họ sợ, nên vì vậy là họ bớt đến chùa cũng là một thất bại. Và ta phải làm sao họ thấy họ đến chùa họ được, chứ không phải họ mất. Còn bây giờ đến chùa là thấy mất chứ không thấy được, sợ không dám đến chùa nữa. Quý Phật tử có thấy phải đúng không?

[1:11:31]Nên làm sao á cho người Phật tử tới chùa thấy mình được mà không có mất. Được cái gì? Được đạo lý, được sự thương yêu, được dạy dỗ. Ngày hôm nay, ta tu không có bình yên như là thời xưa nữa. Ta tu mà ta phải tỉnh táo rất nhiều mặt để không đi sai con đường vì ta còn có một nhiệm vụ rất lớn của Phật giáo là hộ quốc an dân. Tuy nhiên, ta bị một cái nhược điểm là bị thiếu tăng sĩ. Ta thấy tăng sĩ đông mà lại thiếu. Như vừa rồi chúng tôi gặp Thượng tọa ở Xuân Đông, Thượng tọa phó trị sự Xuân Đông. Thượng tọa nói một mình Thượng tọa phải lo hết, có khi Bát Quan Trai bốn năm trăm người mà cứ một mình phải lo.

[1:12:10]Vì chư tăng nhiều khi đi học rồi đi luôn, không trở về vùng sâu vùng xa, cứ nghĩ là quê mình nghèo, thích về cái vùng phồn hoa đô hội, đó là một cái thiếu. Có một lần chúng tôi ghé Phan Thiết đến thăm cái ngôi chùa nhỏ trong làng, mới hỏi: Thầy mới xây ngôi chùa này, như vậy trước đây cái vùng này có chùa không? Nói là: Trước đây thì cũng có chùa, nhưng mà rồi chùa hoang. Dân không theo đạo Phật nữa. Nói vì sao? Nói dạ vì có một ông thầy, Phật tử cho ổng mượn chiếc xe, cái ổng lấy xe ổng trốn đi luôn. Rồi có ông thầy thứ hai tới, họ mời về, cái ổng khui thùng công đức lấy tiền ổng trốn đi luôn.

[1:12:46]Rồi cái ông thứ ba tới, ổng nhanh chóng

[1:12:52]hoàn tục với một cô Phật tử, đi luôn. Thế là từ đó cái người dân họ họ lãnh nhạt với đạo Phật, họ mất niềm tin. Rồi khi ông thầy ổng về đây, bắt đầu ổng tu thì không ai ngó tới ổng hết, vì người ta nghĩ rằng ổng cũng là người thứ tư sẽ sẽ ra đi, sẽ ra đi. Nhưng mà không ngờ thì ông này ổng lại tốt, ổng trụ được, tu hành tốt hơn. Nhưng mà như vậy ta cũng thấy rằng là cái lực lượng tăng sĩ mà vừa giỏi vừa có đạo hạnh rất là ít. Mà ta đang rất cần những vị như vậy tỏa ra khắp đất nước mình để mà đem cái Phật pháp đến với chúng sinh. Nên ta rất cần. Nên cái người nào mà có thể xuất gia, tu hành chân chính, tốt đẹp, đó là những viên ngọc quý giữa cuộc đời này.

[1:13:36]Những người đó công đức rất là lớn, có lúc nào đó ta sẽ nói lại điều này. Nhưng bây giờ về quý Phật tử nhớ: Ai cảm thấy mình là người có thể xuất gia tu hành chân chính thì hãy xuất gia, để làm chi? Để phụ tiếp với những bậc cao tăng tiền bối mà ta đem Phật pháp đến với cuộc đời. Ai cảm thấy con mình có thể xuất gia tu hành chân chính thì hãy khuyến khích con mình xuất gia, hãy hoan hỷ cho con mình xuất gia để cùng với quý thầy quý cô mà làm rạng danh Phật pháp mai sau thì công đức của gia đình rất là lớn, vì đã cúng dường một đứa con cho Phật pháp. Đó là cái mà ta ta rất là cần trong hiện nay.

[1:14:18]Ta trở lại vấn đề này một chút là trong cái việc tu hành ta không bao giờ được tự mãn. Nghĩa là không bao giờ cho rằng mình đã đủ rồi. Chùa mình như vậy là tốt rồi, đệ tử tôi vậy là được rồi. Khi mà ta tự mãn tức là ta đã bắt đầu lui. Lúc nào cũng phải nghĩ rằng ta đang còn thiếu một cái gì đó. Đi tìm cái thiếu đó mà cố gắng hoàn thiện thêm thì như vậy đạo phong của ta mới tăng tiến. Khi ta ra đi về với Phật thì ra đi trong sự thương tiếc của mọi người. Còn nếu ta tự mãn, à tu vậy được rồi á thì coi chừng cái ngày ta ra đi qua bên cõi thế giới bên kia mọi người đã lạnh lùng chán ghét. Vì hễ tự mãn tức là ta lui mà lui là bắt đầu ta hư.

[1:15:03]Còn nếu ta nghĩ rằng ta vẫn còn thiếu cái gì đó thì ta lúc nào cũng cố gắng, cố gắng, nỗ lực hoàn thiện, tu sửa thì ngày ta ra đi, ra đi trong sự tiếc nhớ của mọi người và đó là một đời tu hành xứng đáng. Ta phải tu thế nào để có đủ bản lĩnh? Hoặc là Phật tử cũng vậy, Phật tử tu thế nào phải có bản lĩnh là ta gặp những người của tôn giáo bạn, ta đủ sức để giải thích cho họ hiểu về đạo Phật. Biết họ là người của tôn giáo bạn, họ không tin đạo Phật, nhưng ta dám đến nói chuyện với họ. Ta hiểu về tôn giáo họ và ta giải thích đạo Phật cho họ nghe để họ hiểu về đạo Phật. Chứ còn ta cứ đem cái kiến giải đạo Phật mà nói

[1:15:45]chuyện với huynh đệ với nhau là bình thường. Có nhiều người cũng vậy, học được giáo lý, học được thiền ngữ, tối ngày cứ đi kiếm những người huynh đệ để đối chất với nhau, đối đáp hơn thua với nhau, cái đó dở. Chúng ta hãy tìm đến những người của tôn giáo bạn mà nói chuyện Phật pháp, giải thích cho họ nghe, cái đó mới là hay. Hoặc là ngay cả quý thầy quý cô cũng vậy, ta cũng đủ khả năng gặp cái người tu sĩ của tôn giáo bạn để nói cho họ nghe về đạo Phật, giới thiệu cho họ biết về đạo Phật để họ bớt coi thường đạo Phật và để họ cũng thấy rằng cái hay của đạo Phật là cái hay một tôn giáo gắn bó với với dân tộc, không có vọng ngoại.

[1:16:25]Có một lần vậy, à một người đạo Tin Lành đến gặp một cái người Phật tử ở Long Khánh để truyền đạo thì cái anh Phật tử này mới hỏi là: Anh như vậy anh có biết là cái nguồn gốc của tổ tiên đất nước ta ở đâu ra không? Người kia nói: Không biết. Nói: Như vậy anh vậy là anh rành về cái đất nước nào? Nói: Tôi rành về đất nước Do Thái. Đất nước Do Thái có ông Môi-sen, có A-đam, có Ê-va, có Giê-hô-va, có Gia-cốp, có Giê-su. Lịch sử Do Thái rất rành bởi vì tôi học đạo của Kitô nên tôi phải học cái giáo lý của cái lịch sử của cái dân Do Thái. Mà anh là người Việt Nam hay người Do Thái? Nói: Người Việt Nam.

[1:17:12]Anh thấy có một cái gì nó sai chưa? Anh là người Việt Nam, dòng máu của tổ tiên còn chảy trong máu của anh. Những trận đánh khét tiếng Bạch Đằng Giang, ở Ải Chi Lăng còn rừng rực trong trái tim anh mà ngày nay hỏi anh chỉ biết lịch sử của dân tộc Do Thái, anh không biết lịch sử dân tộc Việt Nam, anh không biết Âu Cơ Lạc Long Quân là ai, anh không biết Ngô Quyền Trần Quốc Tuấn là ai thì như vậy anh thấy anh có đi sai đường chưa? Cái giật mình liền, giật mình liền. Thì ta phải đủ sức như vậy. Ta phải đủ sức nói chuyện với những người của tôn giáo bạn để cho họ hiểu được Phật pháp cũng như phải kéo họ lại để họ biết yêu thương

[1:17:50]cái đất mẹ mà nơi họ đã sinh ra, nơi mà trước đây máu của không biết bao nhiêu anh hùng tổ tiên đã đổ xuống để giữ được cho đất nước này được độc lập, được bình yên, được phát triển như vậy. Đó là bản lĩnh của ta. Hôm vừa rồi chúng tôi có nói chuyện trong cái giới đàn à ở ở Đại Tòng Lâm ở Bà Rịa Vũng Tàu vậy, lúc mà sau khi tăng ni sinh thọ giới xong thì ở lại học luật. Chúng tôi có nói về luật, tới đoạn cuối chúng tôi có nói về cái phương châm của giáo hội là: Đạo pháp, Dân tộc, Chủ nghĩa xã hội. Thì nói: Đạo pháp, Dân tộc thì biết rồi, nhưng mà tại sao phải có Chủ nghĩa xã hội? Có nhiều người nói là tại vì chính trị.

[1:18:29]Không phải. Đừng có nghĩ cái chữ chủ nghĩa xã hội là một cái quyền lực chính trị mà phải hiểu chủ nghĩa xã hội là khát vọng của một dân tộc hướng về một cái xã hội không có bóc lột, không có bất công, không có sự phân cách giàu nghèo quá lớn. Tại vì sao? Khi mà người ta chạy theo kinh tế thị trường, khi người ta chạy theo lợi nhuận thì lúc nào người ta cũng tạo ra xã hội có cái phân cách giàu nghèo. Cái người giàu sẽ càng lúc càng giàu, người nghèo sẽ càng lúc càng nghèo. Mà cái người giàu họ có khả năng họ bóc lột được người nghèo. Và xã hội luôn luôn có cái bất công ngấm ngầm mà cái người thấp cổ bé miệng không biết nói với ai. Luôn luôn như vậy.

[1:19:14]Thì kinh tế thị trường là như vậy, chạy theo lợi nhuận của tư bản là như vậy. Thì trong cái lúc mà ta phải phát triển đất nước, ta cũng phải sử dụng kinh tế thị trường nhưng cái chữ chủ nghĩa xã hội nó không phải là quyền lực chính trị mà nó là một khát vọng của dân tộc. Mà cái khát vọng đó ai thực hiện được? Ai thì không biết, nhưng mà những người đệ tử Phật lòng tràn đầy từ bi bác ái phải lo làm điều đó. Phải làm sao để cho con người thương yêu nhau, để cho cái người giàu biết chia sẻ với người nghèo, để cho cái người có quyền thế không bóc lột người kém ưu thế, nên nó là một ước mơ, đừng nghĩ đó là chính trị. Vậy.

[1:19:55]Hôm nay nhân cái ngày tưởng niệm lịch sử của tổ, chúng ta nói về đề tài Thiền Tịnh song tu. Ta nhớ ơn tổ vì sao vậy? Là chính vì đã có tổ, Phật giáo đã bùng lên một thời gian rất là mạnh cho đến khi mà cái thời Pháp thuộc nó khống chế, ta còn cái sức để đi qua khỏi thời Pháp thuộc rồi đứng lên lại. Chứ nếu không có tổ, Phật giáo không có một lúc bùng lên mạnh thì vào trong cái thời Pháp thuộc, Pháp nó diệt hết Phật giáo. Sau thời Pháp thuộc, không còn có những ai đứng lên để chấn hưng đạo Phật nữa. Nên khi ta ca ngợi các vị tôn túc đã đứng lên chấn hưng Phật giáo vào những thập niên 20, 30, 40 thì ta phải biết

[1:20:44]rằng cái gốc nó nằm ở mấy trăm năm trước, lúc mà ở Phú Yên này có một vị đại sĩ xuất trần dựng nên một dòng thiền, thổi một cái sức mạnh tâm linh vào đạo Phật để cho đạo Phật đi qua được cái lúc khó khăn nhất là thời Pháp thuộc để ngày hôm nay ta có Phật giáo được chấn hưng, ta có nhiều cái ngôi chùa được mọc lên khắp làng quê, các phố thị và để cho con cháu ta còn nghe được tiếng chuông, còn nghe được tiếng kệ và còn biết thương yêu nhau. Nên muôn vạn lần ta không biết nói lời nào để ghi ơn của tổ. Chỉ nguyện lòng là tinh tấn tu hành theo lời tổ dạy để giữ gìn Phật pháp của tổ, của Phật mà mà giữ gìn cái đất nước này và thế giới

[1:21:31]này cho thanh bình, cho tốt đẹp, cho thánh thiện hơn lên. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.