Lời giảng: Ý Nghĩa Sự Giác Ngộ

  • Thuyết giảng: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Thời lượng: 1:13:07

Toàn văn lời giảng, chép từ phụ đề. Bấm vào mốc thời gian để nghe đúng đoạn đó.

[0:00]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:13]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:25]Mời quý thầy, quý cô và quý Phật tử ngồi xuống. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:32]Nay nhân lễ thành đạo, chúng ta nói về đề tài Ý Nghĩa Của Sự Giác Ngộ để chúng ta hiểu sự giác ngộ của Phật là vĩ đại như thế nào. Vì chúng ta chỉ biết là Đức Phật là một thái tử rồi đi xuất gia, rồi đắc đạo, thành Phật, là mình hiểu tổng quát như vậy. Đôi khi chúng ta không hiểu hết nên chúng ta không có cái sự tôn kính đúng mức. Mà chính Đức Phật cũng vậy, sau khi Ngài đắc đạo, Ngài cũng thấy rằng cái chỗ mà Ngài giác ngộ được quá khó hiểu đối với người thế gian, quá khó hiểu. Vì sao vậy? Giờ chúng ta nhìn lại thực tế chúng ta cũng thấy. Ví dụ như trong làng, trong xóm, mọi người sống một đời sống bình thường và hơi ích kỷ.

[1:23]Thì chợt có một người đó họ đi chùa, họ biết đạo, rồi họ biết làm phước. Họ thấy trong làng có con đường bị hư lở, họ mới mướn xe đất, vác cuốc đi san lấp những cái đoạn đường hư lở. Vậy đó mà có nhiều người không hiểu. Có nhiều người bắt đầu mới bàn tán, nói cái thằng cha đó nay nó hâm, nó mát, ăn cơm nhà mà lo đi làm việc người ta. Đó, chúng ta thấy đó là một việc thiện rất đơn giản vậy mà vẫn có người không hiểu. Huống chi là sự giác ngộ của Đức Phật cao gấp triệu triệu lần như vậy, nên thường người ta không hiểu nổi. Chúng ta chỉ biết Đức Phật đắc đạo thành Phật chứ không hiểu được sự vĩ đại của sự giác ngộ, sự đắc đạo, sự thành Phật đó là như thế nào.

[2:13]Vì đã có rất nhiều lần như vậy, một người tốt hơn người bình thường đã bắt đầu bị nghi kỵ, nói nó đội đạo đức giả, chứ trên đời này làm gì có người tốt như vậy. Chúng ta thấy mức độ sơ sơ. Rồi hoặc à có những người biết đạo tu tốt hơn một chút, nghĩa là cũng biết làm phước chút chút, nhưng mà chợt gặp một người sống quá vị tha, quá xả kỷ, không giữ gì lại cho mình. Nghĩa là tất cả cuộc sống này, từng ý nghĩ, từng hành động chỉ vì thương yêu và làm lợi cho người khác. Nhiều khi mình không hiểu nổi. Vì cái tốt của mình ở mức độ chừng chừng ha. Mình không hiểu nổi là sao có một người mà cả một đời hy sinh cho người khác từng ly từng tí một.

[2:55]Cho nên cũng nhiều khi nghi ngờ, nói ông này không biết có mưu đồ gì không mà sao ai ổng cũng lấy lòng? Tức là người ta tốt thật sự mà mình nghĩ người ta là lấy lòng. Đó cũng là một cái hiểu lầm. Nghĩa là cái người mà xấu hơn thì không thể hiểu được cái tâm của một người tốt hơn mình. Đó là chuyện đời đó, còn chuyện giác ngộ còn vĩ đại hơn, vi diệu hơn triệu triệu lần như vậy. Rồi chúng ta thử có một người đó là cả một đời sống với bản thân mình thì khắc khổ, đơn giản, chịu cực chịu khổ, nhưng với người khác thì hy sinh chan trải hết. Nghĩa là lúc nào mỗi ngày cũng đều quán từ bi thương yêu chúng sinh,

[3:39]nghĩa là tận trong tâm niệm mình từng giờ từng phút xét nét, không để cho mình ghét một người nào, hễ thấy trong tâm mình có bực người nào, ghét người nào là liền sám hối và khởi tâm thương yêu người đó liền. Và mỗi ngày như vậy đều trải lòng từ phủ khắp chúng sinh không phân biệt. Một cái người như vậy nhiều khi người thường không hiểu được. Vì một người quen sống một đời bình thường là gặp chuyện vui thì vui, gặp chuyện chơi thì chơi, chuyện ăn thì ăn, nhậu thì nhậu, thì không thể hiểu được sao có cái người mất thì giờ đến như vậy, lý tưởng đến như vậy. Và họ không tin rằng sẽ có cái hạnh phúc xứng đáng bù đắp lại

[4:16]cho một cái tâm tốt đẹp kỳ lạ như vậy, họ không tưởng tượng. Nhưng mà chúng ta biết một người sống tốt như vậy là người đó khi mất chắc chắn được sinh về cõi trời. Bởi vì cõi trời là cõi dành cho những chúng sinh mà lúc sống như vậy làm vô số điều lành, tâm luôn luôn quán từ bi thương yêu tất cả và có nhiếp tâm được vào trong thiền định. Nghĩa là ba điều kiện đó, chúng ta nói lại: một là có tu tập thiền định nhiếp tâm. Thứ nhất là tâm nhiếp được vào trong thiền định, thứ hai là thường khởi tâm thương yêu tất cả chúng sinh, và thứ ba là thật sự làm được những điều lợi ích cho chúng sinh. Người nào có ba điều đó sẽ sinh lên cõi trời.

[5:00]Chúng ta thấy ví dụ như ngày hôm nay chúng ta biết đạo mình nghe ba điều đó mình không lạ lắm. Nhưng mà vào cái thời kỳ mà có nhiều người chưa biết Phật pháp, nghe ba điều đó thấy rất là lạ. Cũng không tin rằng trên cuộc đời có con người vĩ đại đến như vậy. Vậy mà sự giác ngộ của Đức Phật còn vĩ đại hơn gấp triệu triệu lần như vậy. Cái sự giác ngộ đó được tôn xưng, Ngài được tôn xưng trở thành thầy của cả cõi trời và cõi người, vượt ra khỏi tam giới, sáu cõi, trùm khắp cả cái vũ trụ pháp giới này. Cái sự nghĩa là đắc đạo là điều vô cùng kỳ diệu. Cho nên khi Đức Phật thành đạo rồi, Ngài nghĩ rằng, Ngài thấy rằng chúng sinh sẽ rất khó hiểu được

[5:48]cái mục tiêu giác ngộ này, cái kết quả giác ngộ này và sẽ rất khó có được cái lý tưởng để hướng về đạt được sự giác ngộ như thế này. Lúc đó Ngài Ngài nhận định như vậy. Khi mà Ngài nhận định như vậy thì có các vị Phạm Thiên là những vị thiên tử lớn đến đảnh lễ Ngài và xin Ngài tha thiết xin Ngài hãy nói lên tiếng pháp để giáo hóa chúng sinh. Vì từ lâu không có Phật pháp, cái điều ác, cái điều tội lỗi nó giăng đầy ở trên cái cõi thế gian này. Lúc đó người ta đọa làm thú vật nhiều hơn, con người ít hơn. Giờ chúng ta điểm sơ lại cuộc đời tu hành của Đức Phật để chúng ta thấy cái quá trình đó một chút.

[6:35]Điều này thì nhiều vị mà đã biết rồi, nhưng mà chúng tôi nói sơ lại một chút xíu. Hồi lúc Đức Phật còn nhỏ, Ngài là thái tử ở trong cung vua á thì Ngài được dạy dỗ kỹ lưỡng, được nuông chiều, nhưng mà Ngài thông minh, Ngài có đạo đức nên Ngài không có hưởng thụ cái điều đó, Ngài không có vì cái sự nuông chiều đó mà mà mà mà kiêu mạng. Cái Ngài rất là tử tế, tốt bụng với mọi người. Mà khi học thì Ngài học rất là giỏi. Ngài được dạy đủ điều hết của một người để trở thành một vị vua. Những điều đó là gì? Thì võ thuật, Đức Phật rất giỏi võ. Rồi gì nữa? Văn chương, Ngài rất giỏi văn. Nên khi đắc đạo rồi, Ngài thuyết những bài pháp,

[7:21]làm những bài thi kệ độc đáo, không thể tưởng tượng được. Đến bây giờ cái giá trị văn chương của những bài kinh Phật vẫn là tuyệt vời. Ngài được học cách để làm chính trị, để tổ chức, để lãnh đạo một đất nước, Ngài được học hết á. Và đặc biệt là Ngài có học về các tôn giáo trong thời đại đó, các triết học trong thời đại đó. Khi học như vậy thì Ngài có cái đối thoại với những vị thầy mà dạy về triết học của mình. Thì dĩ nhiên những vị thầy đó lần lần trở nên lúng túng. Chúng ta đọc trong cái lịch sử Đức Phật chúng ta thấy rõ là khi mà những vị thầy đến dạy Ngài á, Ngài hay hỏi lại. Ngài chỉ thông minh mà hỏi thôi chứ Ngài không có cố ý bắt bẻ.

[8:06]Nhưng mà những điều Ngài phát hiện cái chỗ hở trong cái lý luận, Ngài hỏi lại các ông thầy bí, các ông thầy bí. Cho nên nhiều người dạy Ngài một thời gian rồi lần lượt cũng phải xin xin từ giã, chứ không có dạy được nữa. Trong các môn mà Ngài học thì có một môn gọi là cái lối luyện yoga thời đó, giống như bây giờ mình tập nội công vậy đó, thì Ấn Độ có cái môn yoga song song với cái môn võ thuật. Thì cái môn yoga đó cũng gần với thiền, nhiều vị đạo sĩ thời đó đã tập thiền qua cái con đường yoga như thế, nên Ngài có cái biết cách nhiếp tâm. Mà có thể là lúc đó là theo lịch sử nói là Ngài chưa phải là người nhiếp tâm tốt.

[8:48]Nhưng một lần vào một ngày mùa xuân, vào một ngày mùa xuân thì tục lệ Ấn Độ là có làm cái lễ hạ điền là chính vua và quan phải đi xuống ruộng để cày cái thửa đầu tiên mà cầu phước cho dân chúng. Vì lúc đó người dân sống bằng nông nghiệp. Thì khi mà vua cha, vua Tịnh Phạn xuống ruộng để cày và mọi người làm lễ reo mừng thì thái tử, Đức Phật, trẻ nhỏ nhưng mà không có ham vui, không có reo hò, không có chạy theo, Ngài đến một gốc cây giống như một cây sộp bây giờ của mình vậy á, Ngài ngồi dưới đó. Ngài Ngài bắt chân lên ngồi thiền, cũng ngồi theo thế yoga thôi. Nhưng mà không ngờ khi mà thở vài hơi của yoga

[9:32]thì Ngài đắc được sơ thiền lần đầu tiên. Khi mà Ngài đắc được sơ thiền như vậy thì có một hiện tượng lạ xảy ra là khi mà buổi lễ hạ điền người ta ăn mừng đã xong hết rồi thì vua cha mới quay đi tìm Ngài. thì mới thấy rằng ngài ngồi dưới bóng cây ngồi thiền. Mà lúc đó mặt trời đã qua buổi trưa, đã nghiêng về bên đây, tức là đã đổ về phía tây. Ngài lúc mà ngài ngồi á là ngài ngồi ở hướng tây của cái cây, lúc mặt trời đang còn ở phía đông, nên cây nó có cái bóng nó đổ lên nó che mát cho ngài. Mà ngài ngồi lâu đến cái độ mà mặt trời đã chếch qua hướng tây, ngài không ăn buổi trưa đó, lúc mọi người đã dự tiệc ăn uống ngài không

[10:11]ăn, mặt trời đã đổ qua cái hướng tây, mà lạ là cái cây sộp đó bỗng nhiên những cái cành, cái nhánh của nó kéo từ từ từ từ từ qua che mặt trời. Tức là cây như là một cái cơ thể sống lúc đó vậy. Mặt trời ngả hướng tây thì cái cây nhánh của nó cũng nghiêng nghiêng, những cái nhánh như là có cái biết cử động, ngả dần ngả dần về hướng tây để che mát cho thái tử. Đây là một điều rất là lạ. Thì khi vua Tịnh Phạn chứng kiến cảnh đó thấy ô kinh ngạc, không hiểu sao cái người con của mình lại ngồi thiền lâu như vậy, mà đến nỗi cây cối cũng phải che chở như vậy. Đó là lần đầu tiên ngài hưởng được cái cái thiền vị như vậy.

[10:52]Rồi đến khi lớn lên một chút, ngài bắt đầu gặp nhiều đạo sĩ bên ngoài cung điện. Chúng ta đừng có nghe đồn là nói ngài bị giam trong cung nha, rồi tới khi mà đi ra bốn cửa thành mới thấy cảnh sinh, lão, bệnh, tử rồi đi tu, không có đâu. Cái chuyện đó là chuyện của Đức Phật Tỳ Bà Thi, còn Đức Phật Thích Ca thì không phải vậy. Đức Phật Thích Ca vẫn được học hỏi, đào tạo kỹ lưỡng, vẫn giao tiếp nhiều người. Tuy nhiên, dù vua cha có sợ là ngài sẽ xuất gia như lời tiên tri của đạo sĩ A Tư Đà, mà ngài có đi tìm hiểu dân chúng, có đi nơi này nơi kia chứ không phải là chỉ ở trong cung. Ngài có gặp các đạo sĩ, có đàm luận đạo lý và có thực hành thiền định thử.

[11:33]Vì vậy mà cái quyết tâm xuất gia trong lòng ngài cứ thôi thúc, dù lúc đó là ngài đã lập gia đình, ngài lập gia đình. Đến khi cái duyên đã đủ thì chúng ta biết là ngài đã bí mật lén ra đi trong một đêm tối, từ bỏ tất cả để lại. Nơi ngài có tất cả những gì mà chúng ta hiện nay ước ao, đó là hạnh phúc đó. Thấy người thế gian chúng ta ước mơ là chúng ta có giàu sang, chúng ta có địa vị, chúng ta có một mái ấm gia đình, à vợ chồng hạnh phúc, con cái ngoan ngoãn. Tất cả điều đó là điều chúng ta ước mơ, không còn gì hơn điều đó nữa. Tức là cái vinh quang, địa vị, uy tín, tiếng tăm, sự tôn trọng của mọi người là một cái ước mơ lớn.

[12:19]Rồi giàu sang, tài sản nhiều là một ước mơ, kế đến nữa là vấn đề tình cảm, đôi lứa, vợ chồng, gia đình hạnh phúc là điều ước mơ đầy hết. Là vậy mà ba cái ước mơ lớn trong đời người đó, ngài có đầy đủ mà ngài từ bỏ ra đi, ngài khước từ ra đi. Khi ngài đi thì ngài mới đi tìm đến những vị đạo sĩ nổi tiếng thời đó. Đầu tiên ngài đến với ngài Alara Kalama, một đạo sĩ mà được đồn rằng đã chứng đạo, đắc định, ngồi thiền rất lâu, có thần thông và thuyết pháp như mây bay nước chảy. Thì ngài đến học với vị Alara Kalama đó, không bao lâu là ngài cũng đắc được cái trình độ mà như vị thầy đó đã đắc được. Thì khi mà đắc được như vậy, ngài mới trình bày cái kiến giải của mình,

[13:13]mà vị đạo sĩ đó bằng thần thông của mình cũng biết là Đức Phật cũng đã đạt được. Mà vị đạo sĩ đó không có cái tâm ganh tị với đệ tử, rất là khoáng khoáng, muốn mời Đức Phật ở lại để cùng với mình mà giáo hóa đệ tử. Tuy nhiên, đây là chỗ mà khác giữa một vị đạo sĩ, một vị tiên nhân à thông thường với một vị mà Phật tương lai là chỗ này. Trong khi cái vị đạo sĩ đó thấy cái thần thông mình là quảng đại rồi, ngài chứng được cái chỗ mà Vô sở hữu xứ định là ổng có thần thông, ổng bay được rồi, ổng nhìn ổng biết quá khứ, vị lai được hết rồi, thuyết pháp như mây như mưa được rồi, là nghĩ mình cao tột rồi.

[13:58]Đức Phật cũng được như vậy rồi, nhưng mà trong cái đời sống giao tiếp với đạo sĩ Ala, bậc đạo sư Alara Kalama này cũng như giao tiếp với những đệ tử chung quanh, Đức Phật mới phát hiện ra rằng ở cái mức độ thiền này vị đạo sư đó vẫn còn sơ suất về đạo đức, vẫn có những cái cử chỉ, những lời nói mà bộc lộ cái sự kiêu mạn ngấm ngầm, những cái bản ngã ngấm ngầm. Cho nên ngài ngài nghi ngờ, ngài nghi ngờ. Đây là chỗ tinh tế của một Đức Phật tương lai. Ngài mới đặt vấn đề, ngài hỏi vị thầy của mình, nói: "Thưa ngài, như đắc đạo như vậy là bản ngã còn hay không?" Mà vào thời đó người ta chưa hiểu nổi cái chỗ bản ngã, không bản ngã này.

[14:42]Là đắc đạo như vậy còn bản ngã hay không? Nếu còn bản ngã thì chưa thật sự là là tối cao, mà nếu đã hết bản ngã thì ai là người đi, đứng, nói năng, giáo hóa? Cái câu hỏi của ngài sắc bén quá, cho nên đạo sĩ Alara Kalama không giải đáp được. Ứng vì vậy Đức Phật biết rằng chỗ này là chưa phải cứu cánh, vì vậy mà chính đạo sĩ Alara cũng như là những người đệ tử còn sơ suất trong đạo đức, thế ngài từ giã ra đi. Ngài tìm đến ông là Uddaka Ramaputta, mình hay gọi là Uất Đầu Lam Phất á. Vị này chứng một cái định cao hơn nữa là Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Ở cái mức độ định này thì một vị đạo sĩ này có thể

[15:30]đằng vân, độn thổ được, có phép, có thần thông. Ở giai đoạn này đó thì biết rằng không có kéo ngược lại được cái ý muốn của thái tử, nên vua Tịnh Phạn đành phải cho những người hoàng thân, thân tín đi theo vừa tu với Đức Phật mà vừa bảo vệ Đức Phật. Đây là cái năm anh em Kiều Trần Như xuất hiện là ở giai đoạn này, là họ đều là những hoàng thân quốc thích mà theo lệnh vua Tịnh Phạn đi theo để tu và bảo vệ Đức Phật vì biết rằng không cưỡng lại nổi, chứ không phải Đức Phật tu mà vua cha không biết chỗ đâu nha, biết rất rõ ràng. Nhưng mà biết không kéo lại được, thôi đành cho đi luôn vì nghĩ rằng mình còn đứa cháu nội là La Hầu La,

[16:16]là đứa cháu nội này có thể sau này nối nghiệp nối nghiệp vua được. Lúc đó Đức Phật mới đến với ngài gọi là Ramaputta này, Uất Đầu Lam Phất á, ngài cũng nhanh chóng chứng được cái định Phi phi tưởng. Và nơi cái định này thì ngài cũng phát hiện rằng ông thầy của mình vẫn sơ suất về đạo đức, những điểm nho nhỏ, bí mật là ngài nhìn thấy vẫn chưa trọn vẹn. Đây là chỗ khác nhau giữa Đức Phật và những người chứng thấp hơn, hay mình nói giữa đạo Phật và ngoại đạo. Bây giờ chúng ta tu cũng vậy, chúng ta tu theo đạo Phật mà nếu mình cứ để sơ suất về đạo đức thì mình cũng vậy, cũng không đạt được cứu cánh mà cũng rất gần với ngoại đạo.

[17:02]Đó là lý do tại sao khi chúng ta tu tập, chúng ta phải lập cái nền tảng đạo đức thật kỹ, chứ không được coi thường là vậy. Chúng ta phải tu dưỡng đạo đức từng chi tiết nhỏ là như thế. Ở cái cái mức định của Phi phi tưởng này thì vị đạo sư đó cũng vậy, tiếng tăm rất là lớn vì có lý luận là thuyết pháp như mây như mưa và có thần thông. Bây giờ chúng ta gặp một người mà vừa thuyết pháp như mây như mưa mà vừa bay được thì mình sao? Mình sao? Bán hết nhà cửa đi theo liền không có nghi ngờ, phải không? Bán hết nhà cửa. Chúng tôi thuyết pháp được chút mà không bay được, cho nên quý Phật tử lên làm lễ chút rồi về lại, nhà ai nấy ở.

[17:43]Chứ nếu bay được là chắc ai nấy theo luôn. Mà ngày xưa những vị này là bay được đó, thuyết pháp được mà bay được, có thần thông, đặc biệt như vậy. Vậy mà vẫn chưa phải đắc đạo hoàn toàn. Vì vậy, cho nên chúng ta phải cẩn thận, chúng ta cẩn thận là vào trong thời đại này có những vị tu hành tự xưng mình có thần thông, nhưng mà đạo đức thì cực kỳ sơ suất. Đây là điểm Phật tử phải tỉnh giác, đừng có tin. Vì hiện nay có một số vị họ tự xưng họ là đạo sư đắc đạo, họ nói họ biết chuyện trên trời, dưới đất đủ hết, nhưng mà đạo đức rất là sơ suất. Đây là điểm mà nhiều người bị gạt lắm, không hiểu tại sao, có lẽ là do cái nợ đời trước á.

[18:26]Chúng tôi cũng nghe kể một câu chuyện, có một người bác sĩ tốt nghiệp ở nước ngoài, là người trí thức á, về Việt Nam đi theo một ông thầy, chúng ta không nói tông nào, mà ông thầy ổng xưng ổng là đắc đạo, ổng biết chuyện trên trời, dưới đất hết. Nông nghênh đủ thứ, rồi khi cái mẹ của người bác sĩ này bị bệnh thì ông thầy này ổng nói ổng lên cõi trời ổng lật sổ bộ, chưa thấy chấm tên, không sao. Thì sau khi ổng nói vậy xong một tuần sau bà kia chết. Vậy mà cái người bác sĩ vẫn tiếp tục tin, nói ông thầy này ổng cao siêu. Rồi ổng ngồi ổng nói chứ: "Bữa nọ thầy đi ngang cái nhà đó thấy có đứa bé bị bệnh,

[19:02]thầy dùng phép thầy chữa hết bệnh liền." Ổng nói mà không thấy, vậy mà vẫn tin. Cuộc đời vậy đó. Mà vấn đề mà đạo hạnh thì sơ suất, nhưng mà không hiểu tại sao ổng có cái thuật gì mà làm cái người bác sĩ kia, bác sĩ Việt kiều kia vẫn tiếp tục tin mà không hề phán đoán. Nên chúng ta thấy đây là chỗ khác nhau giữa đạo Phật và ngoại đạo, cái đạo đức mới là quan trọng, chứ không phải thần thông. Thần thông là kết quả bắt buộc phải có khi người đắc đạo, nhưng mà khi người Phật tử mình đi tìm thầy thì phải cẩn thận điều này, bởi vì ngày xưa Đức Phật cũng đã gặp và Đức Phật đã phải từ bỏ. Sau khi mà Ngài gặp hai vị thầy giỏi nhất,

[19:42]nổi tiếng nhất mà Ngài cũng đắc đạo, đắc luôn cái mức kết quả của hai vị đó, mà hai vị đó vẫn không thỏa mãn được cái cái nhìn sắc bén của Ngài, nên Ngài từ giã ra đi. Rồi cuối cùng Ngài không biết cách nào để vượt lên, Ngài nghĩ rằng con đường khổ hạnh có lẽ sẽ thành tựu giải thoát, nên Ngài thực hành khổ hạnh. Chúng ta nghe kể Ngài thực hành 6 năm, mà có lẽ không tới. Vì Ngài xuất gia từ năm 29 tuổi tới năm 35 tuổi thì thành Phật, mà trong suốt 6 năm đó thì có một thời gian Ngài cũng đi tham vấn nhiều nơi và ở lại với hai vị thầy đó nên cũng mất thời gian dài, nên thời gian khổ hạnh có lẽ không phải 6 năm.

[20:20]Một thời gian chừng một hai năm gì đó, không có lâu. Nếu khổ hạnh quá lâu không chịu nổi đâu. Thì Ngài thực hành một cái khổ hạnh khốc liệt chưa từng có trong cuộc đời. Đến lúc mà Ngài chỉ ăn một vài cái hạt hạt hạt bo bo, hạt kê, hạt gạo vậy thôi, nên Ngài kiệt sức. Đến khi mà Ngài kiệt sức sắp chết rồi thì Ngài mới tự nghĩ trong đầu thế này: "Trước ta chưa hề nghe nói có ai thực hành khổ hạnh như ta, mà ta đã thực hành khổ hạnh đến này vẫn chưa đắc đạo giải thoát, như vậy con đường khổ hạnh sai." Và Ngài nói rằng sau Ngài cũng khó có người nào thực hành khổ hạnh nhiều hơn Ngài, và như vậy con đường khổ hạnh là

[20:59]không đúng, phải ăn uống cho đầy đủ lại để tu con đường khác. Lúc đó Ngài quyết định từ bỏ khổ hạnh, ăn uống lại. Thì khi Ngài ăn uống lại thì năm anh em Kiều Trần Như mới bỏ Ngài, tưởng rằng Ngài đã thối đọa, tưởng rằng Ngài đã từ bỏ lý tưởng tu hành mà sống một đời sống tìm cái sung sướng, lợi dưỡng hơn, nên năm người đó đã bỏ ra đi. Nên đây là chỗ mà chúng ta thấy một lần nữa ở đời mình hay nghĩ xấu người khác, hay hiểu lầm người khác. Mình theo cái ý nghĩ chủ quan của mình nên mình hay nghĩ xấu người khác, hiểu lầm người khác và dễ mang tội. Nên vì vậy là dựa vào cái kinh nghiệm sự kiện năm anh em Kiều

[21:39]Trần Như, à chúng ta nguyện với lòng mình từ đây trong cuộc sống này, có khi chúng ta nhìn thấy một người nào đó có một cái biểu hiện không phải tốt, khoan đánh giá người ta xấu. Có khi người ta có một lý do rất chính đáng, có khi cái hiểu của mình hiểu không tới hết, ở đây là chỗ như vậy. Sau khi mà Ngài từ bỏ khổ hạnh, Ngài ăn uống khỏe, Ngài mới quyết định tự đi tìm con đường thiền định trở lại. Thì ở chỗ này thế này: là lúc trước á, ngang ở đắc được cái phi phi tưởng Ngài đã bế tắc, không có con đường đi tới. Nhưng bây giờ Ngài có cái mơ hồ quay lại con đường thiền định đó đi tới nữa, có khi tìm thấy được cái cái kết quả cuối cùng.

[22:23]Và đúng như vậy, sau đó khi mà thấy sức khỏe đã khỏe rồi, Ngài xuống sông Ni Liên Thiền Ngài tắm. Ngài mới phát nguyện là nếu mà Ngài đắc đạo thì xin cho cái bát mà Ngài đi khất thực á, trôi ngược dòng nước. Ngài thả cái nước, Ngài thả cái bát trôi xuôi dòng, mà từ từ cái bát trôi ngược dòng lên phía Ngài. Cái lời thề như vậy, và Ngài có càng có thêm niềm tin là Ngài sẽ đắc đạo. Ở đây đó, nó có một cái sự kiện mình gọi là phi khoa học, là tại sao thả một cái bình bát trôi xuôi dòng nước mà với một lời nguyện quyết định cái bát trôi ngược dòng nước nó lên lại? Cuộc đời vẫn có những điều lạ thường như vậy.

[23:04]Khoa học không phải giải thích được hết tất cả mọi điều. Trong đó còn có tâm linh chi phối, còn có những cái sự kiện siêu hình chi phối. Do đó, mà nếu chúng ta chỉ dựa vào khoa học, chúng ta không thể giải thích được hết mọi điều trong cuộc sống này. Và chuyện Đức Phật phát một lời thề mãnh liệt mà đã phát ra một cái điềm ứng là cái bát trôi ngược, điều đó không đúng với khoa học, nhưng nó là một điều có thực. Cũng như vô số điều có thực trong cuộc sống này mà khoa học không thể giải thích được. Ở bên Mỹ có một cái bộ phim gọi là X-Files là Hồ Sơ X. Bộ phim đó đại ý thế này: là có hai nhân viên của FBI là Cơ quan Điều tra Liên bang,

[23:49]thì trong đó có một cái anh này là anh tên là Mulder, ảnh có cái đam mê kỳ lạ là tìm hiểu những cái sự kiện lạ thường khoa học không giải thích được, ví dụ như hiện tượng đĩa bay, hiện tượng xuất hồn, hiện tượng tâm linh, hiện tượng đầu thai, hiện tượng bùa chú. Là FBI thì không có chấp nhận điều đó, nhưng anh này có cái đam mê kỳ lạ nên anh hay lao vào để xin đi điều tra những cái vụ án mà liên quan đến những sự kiện dị thường đó, mà thường hay đụng những vấn đề tâm linh. Nên anh rất là tỉnh táo, rất là thông minh mà phát hiện ra nhiều vụ lắm. Bộ phim đó ở Việt Nam mình chưa có chiếu, nhưng mà đó là bộ phim mà được đánh giá là hấp dẫn nhất hành tinh.

[24:31]Bộ phim đó rất là dài, nhiều tập nhiều tập lắm, mỗi tập chừng 45 phút mà coi say sưa là vì những sự kiện dị thường mà được xét nét dưới cái nhìn của khoa học, hợp lý và chấp nhận một cách cởi mở chứ không có cố chấp. Đó. Thì thời Đức Phật là như vậy đó. Rồi cuối cùng nơi cái công phu thiền định này, Ngài nhập vào định trở lại. Ngài nhập vào định mà lần này khác với những lần trước. Ở nơi những vị thầy trước á, Ngài nhập định nhưng mà giống như cái duyên chưa tới, giống như là cái quyết tâm chưa cao, Ngài xuất định khi mà Ngài chưa có đắc đạo hoàn toàn, nên Ngài vẫn ở cái mức độ là vô sở hữu xứ

[25:11]định hoặc là phi tưởng phi phi tưởng xứ định, mức định rất là cao. Mà khi lần này khác, lần này thì Ngài quyết tâm tới cùng, tức là nếu mà không đắc đạo, ngồi đó chết luôn. Chính cái chỗ này là một cái ắt yếu, ắt yếu, một cái điểm quan trọng, một cái mấu chốt làm cho Ngài đắc đạo, và quả thực như vậy. Ngài cũng vượt qua từng thiền từng lớp thiền từng lớp thiền như vậy, đến cái lớp thiền cuối cùng luôn và Ngài không chịu xuất định, nên trong đó cái trí tuệ mở ra giống như cái duyên của vô lượng kiếp thành tựu, bắt đầu Ngài chứng được tam minh lục thông. Thì chúng ta nói cái tam minh lục thông á, sáu loại thần thông

[25:52]thì chúng ta đã nghe rồi, nên hôm nay chúng tôi nói sơ sơ, không có giải thích. Thứ nhất á là là túc mạng thông, là tự mình nhớ được vô số kiếp trước của mình với từng chi tiết nhỏ: mình sinh trong gia đình nào, tên là gì, cha mẹ là ai, đã làm những hạnh nghiệp gì; rồi qua kiếp kế tiếp như vậy là mình đã thọ báo ra sao, là cũng sinh trong gia đình nào, tên tuổi nào, vân vân như vậy; mà vô lượng kiếp vô lượng kiếp vô lượng kiếp cho tới thấy được tới cái đầu mối của vô minh luôn. Đây là chỗ mà không có một lý luận nào, không tư tưởng nào, không một sự thông minh nào có thể hiểu được. Chỉ có người chứng đạo mới hiểu được cái cái điểm ban đầu của vô

[26:32]minh là gì, tại sao từ đó chúng ta lưu chuyển trong luân hồi. Đây là chỗ không một trí thông minh nào có thể giải thích được, không một ngôn ngữ nào diễn tả được ngoại trừ trí tuệ của Đức Phật. Đó. Và người chứng được túc mạng thông là thấy được hết tất cả điều đó. Thứ hai là thiên nhãn thông, là Đức Phật có thể thấy được vô số chúng sinh trong các cõi lưu chuyển luân hồi như thế nào, như là một người tạo cái nghiệp gì rồi tái sinh qua cõi khác, hưởng quả báo như thế nào mà vô số chúng sinh như vậy, bất cứ chúng sinh nào, gọi là thiên nhãn thông. Thứ ba là thiên nhĩ thông, là có thể nghe được tiếng

[27:11]nói, ngôn ngữ của tất cả các loài trong vô trong pháp giới, kể cả loài siêu hình, kể cả loài thú vật. Thứ tư là tha tâm thông. Tha tâm thông là biết được tâm niệm của tất cả chúng sinh trong khắp pháp giới, kể cả trên cõi trời. Chư thiên tử nghĩ gì biết hết, khi cần phải biết, biết hết. Thứ năm là thần túc thông, tức là có thể phi hành biến hóa, bay lên, hiện thân lớn, hiện thân nhỏ, biến mất chỗ này, hiện chỗ chỗ kia. Thì cái túc thần th- thần túc thông này dùng thần thông á, phép lạ đó, Đức Phật ít dùng, Đức Phật ít dùng nhưng mà khi cần phải dùng, Ngài vẫn thường dùng trong suốt cuộc đời giáo hóa của mình,

[27:55]mà đặc biệt có một cái thần thông mà Đức Phật luôn luôn dùng là đi qua sông. Thời đó Ấn Độ có những con sông lớn, có nhiều con sông lớn mà có những con sông chảy xiết, mà lúc đó dân Ấn Độ cũng không có giàu, không có nhiều thuyền bè để đi qua lại. Nên Đức Phật trong cuộc đời du hành giáo hóa của Ngài, luôn luôn Ngài qua sông bằng thần thông. Nghĩa là khi đến bờ sông, Ngài biến mất bờ sông bên này và hiện ra bờ sông bên kia liền trong trong nháy mắt. Chứ không phải là Ngài bay qua, không phải là đứng lên rồi bay lên hư không, bay từ từ đáp xuống, không có. Ngài đi tới bờ sông, biến mất cái hiện bờ sông bên kia,

[28:31]đi tiếp tục bình thường như không chuyện gì xảy ra. Và sau này, khi mà những đệ tử của Ngài đắc A-la-hán thì cũng giống như vậy luôn, nghĩa là một đoàn thầy trò như vậy gần cả 5 - 600 người cũng nối nhau đi du hành, khi tới bờ sông Đức Phật vừa biến mất thì một đoàn 5 - 600 Tỳ-kheo cũng biến mất luôn và xuất hiện bên bờ sông bên kia, hiện ra, thầy trò hiện ra và tiếp tục đi tiếp. Là là Đức Phật ít dùng thần thông nhưng riêng mà qua sông thì luôn luôn dùng thần thông. Đó là điều đặc biệt như vậy, chỉ có điều đó thôi. Tại sao vậy? Đố ai biết. Tại sao là khi qua sông thì Ngài luôn luôn dùng thần thông?

[29:11]Vì có một lý do nhỏ. Lý do nhỏ là thế này: Đức Phật là một vị mà giữ oai nghi tế hạnh rất kỹ, Nghĩa là khi mà Ngài ngồi, khi đứng, khi đi, khi nhìn, không bao giờ có một cử chỉ thừa. Nghĩa là như chúng tôi ngồi mà hơi ưỡn lưng vậy là trật với Phật rồi đó. Đức Phật không có nhúc nhích. Ngồi thuyết pháp là bất động, thẳng lưng từ đầu tới cuối không nhúc nhích. Không có nhúc nhích ngón tay chân này, không có. Nghĩa là Ngài kỹ lưỡng như vậy. Cái nhìn của Đức Phật cũng vậy, ví dụ như khi Ngài đang ngồi, Ngài muốn nhìn bên đây, Ngài nhìn trầm tĩnh từ từ Ngài nhìn. Đó là một cái nhìn rất chủ động, chứ không phải như mình liếc một cái qua, không có.

[29:46]Nghĩa là Ngài nhìn trầm tĩnh như vậy. Và Ngài đi cũng vậy. Ngài đi ví dụ như có một người mà chặn Ngài, quỳ xuống đảnh lễ Ngài đấy, Ngài cũng không có không có quay mà quay liền, mà chầm chậm quay lại nhìn. Cho nên gọi là cái nhìn của con voi chúa. Trong kinh ca ngợi như vậy: cái nhìn của con voi chúa. Cái bước đi của con tượng vương là vậy. Và Ngài bước đi đó nhẹ, nhìn thấy nhẹ như mây như gió, nhưng mà có cái gì trầm hùng, đầy uy lực. Đức Phật chú ý về cái oai nghi tế hạnh rất là kỹ. Và như vậy, khi qua sông thì phải sao? Qua sông thì phải sao? Cái bờ sông có những bờ sông nó lài lài, xuống gặp sình trước rồi tới nước.

[30:27]Có những bờ sông nó giật, có cái vực sụp xuống thẳng thế này. Ví dụ như khi mà lên đò xuống đò thì sao? Ở đây có ai đi đò chưa? Đi ghe chưa? Khi mình tới bến ghe, mình leo lên leo xuống lảo đảo qua lảo đảo lại, nên lúc đó không thích hợp. Nên Đức Phật gọn nhất là Ngài biến mất bên này, hiện bên kia và tiếp tục trầm tĩnh đi như không có chuyện gì. Đây là một điều lạ vậy thôi. Cái thần thông thứ sáu của Phật là lậu tận thông. Cái chữ lậu tận thông này hơi khó hiểu. Có nghĩa là cái trí tuệ chấm dứt vĩnh viễn vô minh bản ngã. Đây là điểm mấu chốt cuối cùng của một vị gọi là đắc đạo. Chấm dứt vĩnh viễn vô minh bản ngã.

[31:07]Cái chấm dứt vô minh bản ngã là gì? Thì đây mới là chỗ mà trời người không hiểu nổi. Đây là cái chỗ mà Đức Phật nói rằng cái sự giác ngộ của Ngài người thế gian khó hiểu mà khó hướng tới là vậy. Bây giờ chúng ta nói sơ sơ chút xíu. Đó là mình nói với nhau cũng nói trên cái hiểu tạm thời, chứ không phải là thể nào đạt được hết cái cái cái cái sự chứng ngộ của Đức Phật. Ở đây mấy bữa nay mà nếu ai có coi cái phim Thiền á thì chúng tôi cũng có nói sơ sơ trong cái phim Thiền. Trong tâm chúng ta có nhiều cái ý nghĩ trong đó, có nhiều cái tâm niệm. Bây giờ mỗi người nhìn vào trong tâm mình á thấy tâm mình có đang có mấy cái ý niệm ở trỏng?

[31:45]Đang có mấy cái suy nghĩ? Mấy cái? Ví dụ như bây giờ trong một lúc nè, trong tích tắc, mình đang suy nghĩ mấy điều? Mấy điều? Mấy điều? Một điều không? Ai nghĩ một điều giơ tay lên? Vì trong lúc này mình suy nghĩ cùng lúc là cùng lúc là mấy điều? Hai điều phải không? Cái người hai điều là người sắp thành Phật á. Chứ cùng một lúc, chúng ta đang suy nghĩ trong tâm mình hai triệu điều. Mà chúng ta nhìn vào tâm mình chỉ thấy một hai điều thôi. Là vì sao vậy? Vì mình không đủ trí tuệ. Chứ người có trí tuệ nhìn vào tâm mình mới thấy trong một lúc này tâm mình đang có hai triệu ý niệm ở trỏng. Một ngày nào đó, khi mà khoa học họ đo được từng hoạt động của não,

[32:36]quý thầy, quý cô, quý Phật tử sẽ thấy chúng tôi nói đúng ngày hôm nay. Là cùng một lúc, là lúc đó khoa học mới phát hiện là cùng một lúc tâm người ta đang hoạt động 20 triệu tư tưởng chứ không phải hai, chúng ta nói 2 triệu là nói hơi thấp. Nhưng mà nói thôi 2 triệu nghe nó nhiều quá sợ, kinh hoàng, không dám tu nữa. Cùng một lúc là tâm chúng ta quyện chặt như vậy, nhưng mà những cái tâm niệm nào mạnh nhất thì mình nhìn vô mình thấy. Còn vô số những tâm niệm tế mình không thấy được. Và như vậy những tâm niệm tế nó ở đâu? Nó trong bí mật và nó quyện chặt với nhau lại thành một cái khối. Cái khối đó giống như có cái bản ngã ở trong vậy.

[33:11]Nên thường là mình thấy mình có cái bản ngã, có một cái tôi trung tâm ở trong, khác với mọi người mọi vật bên ngoài. Khác với mọi người mọi vật bên ngoài. Là chúng ta thấy mình khác biệt, mà cái cảm giác về ngã này nó đè nặng tâm hồn mình lắm. Chỉ có sau này khi chúng ta lớn lên, chúng ta gặp Phật pháp thì chúng ta hay nghe nói về vô ngã, thì lần lần mình cởi nhẹ được cái bản ngã mình đi, mình thấy dễ chịu. Chứ còn nếu không gặp Phật pháp mà chúng ta bị cái cảm giác bản ngã đó nó đè nặng trong tâm hồn mình, mình khó chịu. Từ cái bản ngã này chúng ta hay

[33:49]hay hơn thua với người khác, chúng ta hay ích kỷ, chúng ta hay tham lam, hay hờn giận, vân vân. Đó là cái từ cái chấp ngã mà tạo thành cái cái cái tội lỗi. Thì bản ngã là như vậy. Thì cái người tu mà đắc đạo nghĩa là gì? Họ hóa giải lần cái lớp tâm niệm đang quấn chặt cả hai triệu tâm niệm đó, làm cho định dần, mất dần, định dần, mất dần cho đến cái ngày mà cái cái mà cái mấu chốt nhỏ nhất cuối cùng nhất tan vỡ luôn, thì không còn bản ngã nữa. Thì không còn bản ngã nữa thì người này đi đâu? Không còn cái tôi nữa thì mình đi đâu? Quý Phật tử tưởng tượng đi. Nếu bây giờ cái tôi mình biến mất, tôi không còn là tôi nữa thì mình đi đâu?

[34:35]Nên đây là điểm rất đặc biệt như vậy. Là khi mà mình không còn là mình nữa thì lập tức mình trở thành toàn thể vũ trụ. Toàn thể vũ trụ. Tại sao như vậy? Tại sao là khi mà cái ta này biến mất thì chúng ta lập tức biến thành toàn thể vũ trụ? Thì chỗ này khoa học hiện nay, khoa học cơ học lượng tử, nghiên cứu những chất nhỏ nhất của vật chất, mò mò mà chưa tới. Mò mò mém mí gần gần rồi trật, mí gần gần rồi trật, chưa tới được. Cho nên có lẽ chúng ta hy vọng 100 năm sau, 200 năm sau khoa học có thể giải... nghĩa là tìm thấy một điều gần với chỗ này. Đó là khi một cái gì nhỏ nhất biến mất thì cái nhỏ nhất đó cũng tức là toàn thể vũ trụ.

[35:20]Hiện nay thì cơ học lượng tử chưa tìm tới điều đó. Họ toàn là những giả thuyết, gần tới đúng rồi lại đi ra sai, gần tới đúng rồi đi ra sai. Trên thế giới là vậy. Nên chúng ta hy vọng một hai trăm năm nữa khoa học tìm được cái nhỏ nhất, tận cùng của cái nhỏ nhất thì lại chính là cái lớn nhất, cái vô tận, vô biên của vũ trụ. Chúng ta chờ đợi ngày đó. Nhưng mà hiện nay trong đạo Phật điều này đã có nói tới, là khi mà cái tâm niệm cuối cùng nhỏ nhất của chúng ta biến mất, cái chấp ngã cuối cùng nhỏ nhất biến mất rồi thì chúng ta trở thành toàn thể vũ trụ luôn. Mà khi trở thành toàn thể vũ trụ cũng tức là trở thành toàn thể chúng sinh.

[35:59]Thì một Đức Phật như vậy thì sao? Khi mà trở thành toàn thể vũ trụ thì vị này có trí tuệ biết rõ mọi điều trong vũ trụ. Khi trở thành toàn thể chúng sinh thì vị này có lòng từ bi thương yêu tất cả chúng sinh. Cái trí tuệ mà biết khắp điều trong vũ trụ nó không giống như mình học mình biết, giống như cũng như cái tình từ bi mà thương yêu chúng sinh nó không giống như cái lòng thương mà mình thương yêu con người bây giờ, không giống. Bây giờ chúng ta vẫn tập lòng từ bi, chúng ta vẫn rải lòng từ bi mỗi ngày, nhưng mà không hề giống với cái từ bi của một vị đắc đạo. Một vị đắc đạo họ thương người kia vì người kia chính là họ.

[36:38]Cái này chúng ta không có cảm nhận nổi. Chỉ một lúc nào đó mình tu hơi khá khá, tâm mình hơi định định một chút. Rồi chợt ví dụ mình đi trên đường cái mình thấy một cái người đó họ họ bị té xe họ đau đi, thì tự nhiên mình cảm nhận được cái nỗi đau của họ một phần nào và mình thấy thương. Thì đó một phần. Lúc đó mình sẽ thấy: "À, thì ra cái từ bi của chư Thánh là giông giống như vậy và hơn như vậy." Tức là chư Thánh cảm nhận được cái nỗi đau của chúng sinh như chính mình đau, cho nên rất là thương yêu. Cũng vậy, một Đức Phật, một vị A-la-hán, một vị Bồ-tát thấy được tất cả chúng sinh chỉ là một, là nhau cho nên tự nhiên thương.

[37:20]Thương mà không có người thương, không có người được thương, chỉ vì khắp vũ trụ này là một tình thương yêu lớn. Đây là điều rất là khó hiểu nhưng mà rất là lý tưởng. Là khắp vũ trụ này không còn có ta, không còn có người mà chỉ còn lại cái lòng đại bi thương yêu mênh mông trùm khắp thôi. Đây là một cái điều vô cùng cao đẹp trong cái giáo lý của đạo Phật, trong tâm của những vị chứng ngộ mà chúng ta hết lòng tôn kính, tán thán và hướng về đó dù chúng ta chưa chứng được. Bây giờ chúng ta nói thế này một chút xíu. Cái chữ "giác ngộ" đó là hàm cái ý là trí tuệ. Mà trí tuệ biết được những điều lớn lao của thân phận con

[37:58]người, biết được những điều lớn lao của vũ trụ, của thế giới và biết được cái luật nhân quả chi phối kiếp người. Chúng ta nói trở lại ba điều này. Thứ nhất là biết được những điều lớn lao của kiếp người là biết được Tứ diệu đế đó, tức là biết được đời là khổ. Đời là khổ. Lát nữa chúng ta xem vở kịch sẽ nghe một ông thầy ông nói đời là khổ. Cái chữ mà "đời là khổ" này đó dễ gây hiểu lầm lắm. Nhiều người nói: "Đạo Phật bi quan, nhìn cuộc đời thấy chỉ khổ trong khi mà mọi người thấy cuộc đời cũng có những lúc vui chứ không phải không." Nhưng mà chỉ có cái bậc có trí tuệ đó mới thấy cái mà mọi người gọi là vui đó kỳ thực bản chất nó là đau khổ.

[38:37]Mà chúng ta không biết, chúng ta chỉ tìm những trò vui tạm bợ nhưng không ngờ nó là khổ. Mà cái người thoát ra ra đó nhìn vô mới thấy khổ. Bây giờ ví dụ, ví dụ như là có những người thanh niên, thiếu nữ ở cái tuổi mới lớn, ham vui theo bạn bè, gia đình cũng giàu có, khá giả nhưng không được giáo dục kỹ lưỡng rồi theo bạn bè cái đi vào vũ trường khiêu vũ và uống thuốc lắc. Quý thầy, quý cô có biết thuốc lắc là gì không? Có biết không? Hên là không biết, thôi đừng bao giờ biết, đừng bao giờ biết. Quý Phật tử có biết không? Có nghe phải không? Có biết phải không? Có nghe. Dạ. Thuốc lắc là một cái thuốc mà khi uống vô mình bắt đầu lắc, đó vậy.

[39:20]Là nó có một cái khoái cảm gì đó không biết mà người ta phải múa may, kích động tay chân. Mà để cho kích động cho nó đầy hứng thú người ta cần cái điệu nhạc mạnh, giật và họ lắc. Thì khi mà uống thuốc lắc mà ở trong cái vũ trường mà giật múa lắc như vậy á, những hành vi ghê quái rợn như vậy đó thì họ thấy hạnh phúc sung sướng không? Thấy sướng không? Thì chắc là thấy sướng phải không? Mình thì không biết. Nhưng mà chắc là họ rất sung sướng họ mới thích đi là như vậy, tốn biết bao nhiêu tiền, bao nhiêu thời gian, bao nhiêu sức khỏe mà cứ dồn vào trong vũ trường để mà uống thuốc lắc mà lắc. Nhưng mà mình là người không ghiền,

[39:55]không lắc, mình nhìn vô mình thấy cái đó là làm sao? Mình thấy nó có sướng không? Thấy sướng không? Sướng không? Đúng, đó là trí tuệ đó. Khi mình thoát ra mình thấy nó không sướng. Mà mình thấy giống như gì? Giống như là khùng. Đúng. Tự nhiên khùng điên gì vô đó mà mà uống thuốc mà nhảy mà lắc như vậy, tốn tiền tốn bạc tốn sức khỏe mà hư hỏng hết con người. Đó, mình ở ngoài mình nhìn thấy đó là sướng hay khổ? Khổ, đó, là có trí tuệ rồi đó. Vậy mà người lúc dùng thuốc lắc, dùng ma túy lại thấy là sướng, nhưng mà mình thoát ra mình thấy đó là khổ, cũng vậy. Cuộc đời này là vậy. Cuộc đời này có nhiều cái mình thấy là sướng,

[40:37]mình thấy mình đi khiêu vũ là sướng, mình thấy mình đi ăn nhậu là sướng, nhưng mà cái người mà họ có trí tuệ họ nhìn vô thấy đó sướng hay khổ? Khổ. Mà còn nhiều điều vi diệu hơn nữa, nhiều điều tế nhị hơn nữa, khó nói hơn nữa, thì cái người có trí tuệ giác ngộ vẫn thấy đó là khổ. Chỉ có những người nào có trí tuệ thoát ra đó thì mới thấy đó là khổ. Thì cái khi một vị mà đắc đạo á, các vị thấy được bản chất cuộc đời này là khổ, khổ sâu thẳm, vi tế, vì các ngài đã tìm được một cái hạnh phúc tuyệt đối an lạc. Đó là cái thấy về thân phận con người là thấy về Tứ Diệu Đế. Cái thứ hai là biết mọi điều trong pháp giới vũ trụ,

[41:19]là vô số cõi giới chập chùng như thế nào các ngài thấy hết, địa ngục khổ như thế nào thấy hết, ngạ quỷ đói khổ như thế nào thấy hết, bao nhiêu tầng trời là trong mỗi tầng trời đó các thiên tử sống như thế nào, tu như thế nào, hưởng hạnh phúc thế nào, có những vị vua cõi trời cai quản như thế nào Đức Phật thấy hết, biết hết. Đó là cái biết về vũ trụ, vũ trụ quan. Nhân sinh quan cuộc đời là đau khổ. Vũ trụ quan bao nhiêu tầng lớp bao nhiêu cái điều cõi giới thấy hết. Và quan trọng là thấy được luật nhân quả chi phối thân phận của chúng sinh. Là tất cả chúng ta phải chịu cái sự chi phối của một luật rất bí mật là luật nhân quả nghiệp báo.

[41:59]Có một cái người nằm võng lắc khi nghe Pháp, không tôn trọng Pháp vĩnh viễn chúng ta sẽ mắc quả báo ngu si, ngồi không ngồi võng luôn bé á. Chúng ta bị chi phối bởi một cái luật bí mật là luật nhân quả nghiệp báo. Cái luật này bí mật đến độ như thế này, là ví dụ khi chúng ta đầu thai á chúng ta vào thai mẹ thì cái ban đầu cái phôi thai là cái trứng của mẹ

[42:26]là phân nửa gen của mẹ cộng với phân nửa gen của cha nằm trong cái tinh trùng của cha cộng lại, trộn lại thành cái con người chúng ta, thành cái gen của chúng ta. Nhưng mà cái gen của mẹ đó làm cái gen lựa ngẫu nhiên lựa chọn, gen của cha cũng là gen ngẫu nhiên lựa chọn, trộn hai cái gen ngẫu nhiên đó ra một cái ngẫu nhiên mới biến thành thân phận của chúng ta. Nó được sắp xếp thế nào bí mật để tạo thành con người chúng ta hiện nay là chúng ta cao như thế, đẹp như thế, gầy như thế, khỏe như thế, yếu như thế, bệnh như thế, là nó quy định thành cái trí tuệ, tâm hồn và thân thể chúng ta luôn. Mà nè ngay lúc đó, tự nhiên có sự sắp xếp mà sắp xếp từng gen

[43:11]một á, nên chúng ta thấy cái luật nhân quả tinh vi như vậy. Nói thế này, nói ví dụ bây giờ hôm đó mình đi ngoài đường cái tự nhiên có một chiếc xe họ quẹt mình té, trầy tay trầy chân. Mình nói đó là do gì? Do do nghiệp. Mình biết nhân quả mà mình nói là nghiệp. Thì mình nghĩ rằng nghiệp nó xui khiến, khiến cho cái xe kia họ đi không cẩn thận họ quẹt họ đụng mình, thì như vậy cái nghiệp nó lớn hay nhỏ? Nó lớn. Nó lớn bởi vì nó xô được cả một chiếc xe đi đi trật đi để mà đụng vào mình, nhưng mình không phải, không phải nhỏ lớn như vậy, mà thật ra nghiệp nó chi phối tới trong cái tâm của cái người kia, chi phối bí mật trong cái tâm niệm của

[43:52]người kia để người kia tự nhiên lúc đó lơ đãng, lạc tay lái để đâm đâm vào mình. Là cái nghiệp nó nhỏ như vậy. Cũng giống như nghiệp mà đã chi phối từng cái cái gen, gen cực kỳ nhỏ để sắp xếp thành cuộc đời của mình, là luật nhân quả nghiệp báo như vậy, chi phối trong tinh vi, trong từng thời điểm, trong từng tích tắc, trong từng sát na suốt cả cuộc đời của mình. Nên cái luật này, cái người chưa đắc đạo không thấy hết. Bây giờ chúng ta có nghe nói về luật nhân quả nghiệp báo cũng hiểu sơ sơ thôi, chứ không thể nào mà hiểu hết thấu đáo như là Đức Phật. Chỉ có bậc giác ngộ như Đức Phật mới thấu đáo hết toàn bộ về luật nhân quả.

[44:30]Nên đây là ba cái điều lớn mà một vị giác ngộ hiểu: Thứ nhất hiểu được bản chất cuộc đời là là gì, cái khổ là gì, khổ thâm sâu như thế nào. Thứ hai là hiểu hết toàn bộ vũ trụ như thế nào. Và thứ ba là hiểu được luật nhân quả chi phối kiếp người tinh vi như thế nào. Đó là cái sự giác ngộ là như vậy đó. Bây giờ để mình nói á là cái tâm này không phải là ta, không có bản ngã, chúng ta sẽ tìm hiểu một chút về bản chất của cái ý nghĩ. Mỗi khi mình nghĩ một cái điều gì đó thì mình thấy là do đâu mình có cái ý nghĩ đó? Ví dụ như ở nhà mình khởi ý nghĩ là mình lên chùa để dự lễ Thành Đạo. Cái ý nghĩ đó do đâu mà có? Do đâu?

[45:16]Thôi bây giờ nói lên lên chùa này mắc công lắm, bây giờ mình nói gần hơn chút đi. Mình nói gần hơn chút. Ví dụ như bây giờ mình tự nhiên mình có cái ý nghĩ là mình nhìn trong những bạn bè đi chùa thấy có người tự nhiên dễ thương mình muốn làm quen. Muốn làm quen. Ở đâu có ý nghĩ đó khởi lên? Mình xét lại coi, ở đâu có ý nghĩ đó? Mỗi một ý nghĩ chúng ta có một trong bốn yếu tố tạo thành. Yếu tố thứ nhất này thế này, là trong hai triệu cái ý nghĩ đang suy nghĩ có một cái ý nghĩ nào nó thắng thế nhất thì nó chi phối tâm mình. Là ví dụ như mình cũng nhìn một cái người dễ thương đó, nhưng mà lúc đó cái bụng nó đói quá, thì lúc đó cái ý nghĩ gì nó mạnh hơn?

[45:57]Đi kiếm ăn mạnh hơn là lại làm quen người kia, phải không? Đó, ý nghĩ nào mạnh nhất thì nó sẽ khởi mạnh lên và mình đi theo cái suy nghĩ đó. Trong hai triệu ý nghĩ thì cái nào mạnh nhất chiếm ưu thế, đó là lý do thứ nhất. Lý do thứ hai đó là do nghiệp quá khứ chi phối. Nghiệp quá khứ chi phối là thế nào? Là ví dụ như thế này, như có một cái người à phụ nữ đi ngang qua một cái chỗ đó tự nhiên thấy người ta đang bàn tán xôn xao, chạy lại coi chuyện gì, nói là không biết ai bỏ đứa con nằm đây. Tức là một người mẹ nào đó sinh ra đứa con nuôi được vài tháng rồi đem vứt bỏ đây rồi đi mất luôn. Bây giờ đứa bé coi như là một đứa con bị bỏ rơi. Thì mọi người đều nhìn, đều nói,

[46:38]đều bàn tán, nhưng mà chỉ có một người đàn bà tự nhiên khởi ý niệm lên là sẽ xin đứa con đó đi về nuôi. Do đâu vậy? Do đâu khởi ý nghĩ đó? Do do gì? Nghiệp duyên quá khứ. Nghiệp duyên quá khứ của người đàn bà đó với đứa bé đó nên khiến nhận đứa bé về nuôi. Là có duyên có nợ gì đó. Bao nhiêu người không khởi lên mà chính mình khởi mà thấy thương, tự nhiên nhìn thấy thương đứt ruột, nợ nằm ở chỗ đó. Lớn lên nó có hiếu thì đỡ, lớn lên nó quậy thì ráng mà chịu, vì đây là nợ, cái nghiệp của mình. Nên cái nguyên nhân thứ hai để mình có cái ý nghĩ là do do nghiệp quá khứ. Cái nguyên nhân thứ ba, nguyên nhân thứ ba á

[47:19]là là do do hoàn cảnh tác động bên ngoài. Ví dụ, ví dụ như là mình đi vào một cái cửa hàng, vì nói Phật tử đó, chứ quý thầy quý cô chắc không vào cửa hàng thời trang làm chi, hay là dám có mà không biết thì thôi không nói. Là đi vào một cửa hàng thời trang đó, mà thời trang bây giờ thì nhiều khi kinh dị lắm, kinh dị. Là có cắt cái này, nó méo chỗ kia, nó hở chỗ nọ nhìn thấy rùng rợn lắm. Cho nên quý thầy mà đi về Sài Gòn mà nhiều mà nhìn thời trang thì sợ quý thầy hơi hơi mệt. Đó. Cái thời trang không biết cái thời bây giờ họ chế ra cái điều gì lạ lùng. Cho nên cũng may là Phật tử lên đây không có mặc đồ thời trang,

[48:02]Phật tử lên đây mặc đồ thời trang nữa thì chắc thầy sẽ sẽ sẽ sẽ kinh hoàng. Thì ví dụ bây giờ mình vào một cửa hàng thời trang mình lựa cái món đồ, mình chưa biết lựa món gì, chợt ở bên cạnh mình có ba bốn người cũng đi lựa thời trang thì họ mới nói thế này, là thời trang mà bây giờ mà hàng hiệu mà đẹp nhất á là chỉ có cái hàng hiệu không không nhớ, vì cũng không lựa thời trang nên không nhớ. Ví dụ như là của đồ hãng Thái Tuấn đi, à ví dụ như nói ờ chỉ có hãng dệt Thái Tuấn mà may đồ là đẹp nhất, thời trang xịn nhất, chứ không ở đâu bằng. Cái mình nghe vậy cái do bên ngoài tác động bắt đầu mình đi dòm dòm mình tìm

[48:37]cái chỗ nào mà đề có cái hiệu Thái Tuấn cái mình hỏi mình mua mình thử, vì mình tin rằng à người ta nói như vậy thì mình mặc cái cái đồ của hãng này thì chắc không bị chê là là là là là thiếu model, chắc cũng được. Đó mình mua. Như vậy, cái nguyên nhân thứ ba để cho một tư tưởng khởi lên là do do ngoại cảnh tác động, đó do có người xúi. Ngoại cảnh tác động này nó có chuyện này nữa. Trong cái chữ Nho ngày xưa có nói câu này là mang tàng hối đạo, dung hối dâm. Đại khái, tôi tôi không nhớ hết nhưng đại khái cái ý nghĩa thế này, là khi mình để cái đồ quý mà để hớ hênh á làm xui khiến cái tâm trộm cắp của người khác.

[49:18]Có khi người ta chưa có muốn trộm, mà người ta thấy mình để tiền sắp sắp sắp sắp trước mặt thấy dễ lấy quá cái tự nhiên người ta khởi tâm muốn ăn trộm, ăn cắp. Nên người xưa đã cảnh giác mình là chính vì mình để đồ đạc hớ hênh mà xúi người khác trộm cắp. Đó là cái người mà khởi tâm trộm cắp cũng là do cái ngoại cảnh. Còn cái mình ăn mặc bừa bãi, hở hang làm khởi cái tâm dâm của người khác. Đó là người xưa đã nói là chính cái ngoại cảnh đã tác động vào tâm con người. Cho nên chúng ta nhiều khi cũng phải ca ngợi Hồi giáo đã bắt phụ nữ là mặc chỉ còn ló hai con mắt. Đó là nguyên nhân thứ ba là như vậy.

[49:54]Nguyên nhân thứ tư á làm cho chúng ta khởi ý nghĩ đó, đây là nguyên nhân rất đặc biệt là do thế lực siêu nhiên. Tức là cái ý nghĩ không phải của mình mà của cái thế lực siêu hình tác động vào tâm mình. Lạ như vậy. Cái thế lực vô hình siêu hình tác động vào tâm mình có khi tốt có khi xấu. Nếu mình là một người khiêm hạ, từ bi, tu tập, thường hay lạy Phật thì mình hay được cái ý nghĩ của chư Thiên, chư Bồ Tát, chư Phật tác động vào để cho mình có những ý nghĩ tốt. Nếu mình có cái tâm kiêu mạn, ích kỷ thì mình hay bị ma quỷ tác động vào tâm mình để mình có ý nghĩ xấu. Đây là điều có thật nha. Chúng ta đừng có nghĩ là mọi cái suy nghĩ của mình có khi của

[50:38]người khác tác động vào tâm mình, tác động vào tâm mình. Tác động vào tâm mình sao? Ví dụ thế này, ví dụ như là có một cái người chủ hàng cửa hàng đó họ buôn bán tạp hóa, nhưng mà họ có cái hay là họ hay cúng thí thực cô hồn. Ví dụ họ biết đi chùa cái ngày nào họ cũng hay cúng, họ cũng bày ra sân họ cúng này nọ, cúng thí thực. Thì quanh họ nguyên một cái xóm đó, những cái cô hồn cả xóm đó hay kéo lại cái nhà đó mỗi chiều để ăn. Vì cái người chủ họ cúng, cúng một tàn nhang vậy á. Thì cái cái những cái vong ở quanh quẩn cái khu vực đó họ mới luôn luôn họ muốn đền ơn cái người mà thường hay cúng cho họ. Họ đền ơn bằng cách gì?

[51:19]Ai biết? Đền ơn bằng cách gì? ...xúi người khác vô đó mua đồ. Đó là chuyện có thật. Cái xúi người khác, nghĩa là mình đi ngang, tiệm này không mua, tự nhiên cứ phải ghé vô cái tiệm đó để mua, mà không ngờ rằng lúc cái ý nghĩ đó của mình là do bị cái vong của con đường đó nó xúi. Mà cái vong đó là vì sao? Bởi vì được cái chủ tiệm đó họ cúng cho ăn hoài. Đó, đây là cái thế lực siêu nhiên. Và quý thầy quý cô mà đi làm việc đạo cũng vậy nữa. Quý thầy quý cô đi làm việc đạo mà nếu quý thầy quý cô là một người có đạo đức, hay lạy Phật, tâm mình khởi từ bi, lúc nào cũng khiêm tốn thì mình hay có những ý nghĩ đúng chính xác

[52:00]hoặc khi mình thuyết một bài pháp tự nhiên nó sâu sắc, nó tỉ mỉ là cái đó không phải của mình, của sự gia hộ của chư Phật, chư Bồ Tát. Cho nên vì vậy mình hiểu cái điều này đó mình không có kiêu mạn. Ví dụ sau này quý thầy hay quý cô đi nơi này nơi kia thuyết pháp như mây như mưa mà mình vẫn hiểu cái này không phải của mình. Mình bởi vì sao? Bởi vì mình chỉ có một chút khiêm hạ thôi rồi mình được Phật gia hộ để cho mình nói lên được những bài pháp thế này. Vì vậy mình không có không có kiêu mạn. Đó là bốn cái điều mà đã tạo thành ý nghĩ của mình. Thứ nhất là gì? Thứ nhất là là trong 2 triệu cái tâm niệm đó cái nào

[52:40]mạnh, ưu thế nó nổi lên, rồi nguyên nhân thứ nhất. Cái thứ hai đó là do nghiệp quá khứ chi phối khiến mình phải thương người này, mình ghét người kia, mình phải chọn cái nọ. Cái yếu tố thứ ba là bị tác động bởi hoàn cảnh, và yếu tố thứ tư là là do tác động của thế lực siêu nhiên. Thì trong bốn cái đó đó thì như vậy cái ý nghĩ này có phải thực sự là của mình hoàn toàn không? Có không? Có không? Như vậy ý nghĩ này của ai? Ý nghĩ của ai? Những ý nghĩ đang khởi lên trong tâm mình là của ai? Của của cái không phải mình. Đây là điểm chúng ta phải nhận định như vậy để hiểu được cái ý nghĩa vô ngã trong

[53:24]Đạo Phật là không có cái ta thực sự bên trong này, không có cái ta thực sự. Hiểu được như vậy là bước đầu để đi tới sự giác ngộ. Đó, mà chính Đức Phật đã thành tựu được cái vô ngã hoàn toàn như vậy, nên ngày hôm nay chúng ta vậy, chúng ta muốn hiểu được Đức Phật chúng ta phải tu tập vô ngã. Mà để tu tập vô ngã cái bước đầu là phải hiểu được cái ý nghĩ này không phải của mình, không phải của mình. Bây giờ nó có nghĩ điều này nghĩ điều kia, mình phải tách ra khỏi ý nghĩ của mình để nói rằng: "Cái này không phải là ta." Đó là bước đầu tu tập đó, đi đúng con đường giải thoát của Đức Phật. Ví dụ bây giờ vậy, là mình ngồi đây, chợt nhiên cái mình nói:

[54:08]"Phải bây giờ mà đừng nghe pháp mà lăn ra ngủ một giấc." Sau đó mình phải nghĩ, mình phải nghĩ sao? "Ý nghĩ này không phải là ta." Cho nên thôi ráng ngồi nghe giùm nha, ráng ngồi nghe giùm, đó vậy. Rồi khuya nay, 3:30 chúng ta phải dậy để chuẩn bị 4:00 làm lễ chính, mà lúc đó khi mà quý thầy báo mình thức, lúc đó chợt có ý nghĩ: "Chắc phải bữa nay mình đừng có đi dự lễ thành đạo, ở nhà ngủ cho sướng." Thì lúc đó mình phải nghĩ sao? "Không, ý nghĩ này không phải của ta, không phải là ta. Thôi chịu khó ngồi dậy giùm nha." Ngồi dậy lết lết đi mà rửa mặt rồi chuẩn bị làm lễ giùm, như vậy. Trong cuộc sống như vậy, ví dụ bây giờ có người nào đó làm

[54:46]cho mình ghét, người sao thấy cái mặt khó ưa quá, xong rồi chảnh quá, ví dụ vậy, thì mình phải nghĩ để thế nào? Nghĩ là: "Ý nghĩ này không phải của ta." Thật sự cái người kia rất là đáng đáng thương, đáng quý, là một chúng sinh mà mình phải yêu, phải mến. Còn nãy mình mới phê bình trong tâm mình ngầm ngầm cái đó không phải là ta, không phải của ta, phải bỏ cho lẹ, là như vậy, ha. Rồi mình nói: "Thôi, nghe ông thầy ổng nói nhiều, Đạo Phật rắc rối quá." Mình phải nói: "Cái ý nghĩ đó không phải là là ta, mà phải ông thầy đó dễ, ông thầy đó dễ thương. Thấy thấy như vậy, mình ráng đi chùa mà tu tiếp." Như vậy mới được.

[55:25]Là đó là con đường mà chúng ta gọi là tu tập vô ngã như vậy. Bây giờ mình nói qua cái vũ trụ vậy. Cái vũ trụ này thì mênh mông vô tận, nhưng mà

[55:36]sự thật á là với cái cái nhìn của mình á thì mình thấy cái gì chung quanh mình á mới là hiện hữu thôi, còn vũ trụ mênh mông lớn quá mình không quan trọng, không có mình không quan trọng, mình coi như không biết. Nhưng những nhà khoa học khi họ nghiên cứu ra họ mới thấy sợ, họ mới thấy sợ. Ví dụ thế này, mình nói ví dụ như vũ trụ là rộng bằng cái khu núi này của mình, ví dụ như vậy, vũ trụ rộng bằng cái khu núi này của mình, thì cái mặt trời của mình á, mặt trời của mình là lớn gấp mấy ngàn trái đất á, thì chưa được tính là một hạt bụi. Cái mặt trời của mình nhỏ hơn một hạt bụi nếu tính theo tỉ lệ.

[56:14]Nếu vũ trụ là cả một cái vùng núi này thì mặt trời không được tính là một hạt bụi nhỏ như vậy. Mà mặt trời là gấp mấy ngàn lần trái đất, mà trái đất thì gấp mấy lần mình? Tỉ tỉ gì lần mình. Thì như vậy so với vũ trụ này mình tính là cái gì? Mình là cái gì? Là cái gì? Không đáng nói tới, vô nghĩa. Không đáng nói tới, vô nghĩa. Cho nên các nhà thiên văn, các nhà khoa học á, khi nghiên cứu vũ trụ rồi các các ngài cũng buồn buồn trong bụng, tại thấy sao con người nó quá vô nghĩa trong vũ trụ này. Mà tuy nhiên có một điều làm cho các nhà khoa học an ủi à là cái con người nhỏ bé vô nghĩa này vậy mà có cái trí tuệ hiểu được vũ trụ. À!

[57:01]Cho nên cái con người cực kỳ nhỏ bé vô nghĩa này, nhưng mà bên trong đó hàm chứa một cái giá trị cực kỳ lớn. Đó là chỗ mà làm cho các nhà khoa học an ủi trở lại. Thì chúng ta trong đạo học cũng như vậy, là trong vũ trụ mênh mông này, chúng ta là vô nghĩa, là vứt đi, không đáng nói tới, không đáng là một hạt bụi, nhưng nếu chúng ta tu tập, giác ngộ, giải thoát thì chúng ta tức là cả vũ trụ này.

[57:31]Đó là điều chúng ta an ủi vậy. Chứ nếu so sánh với khắp pháp giới vũ trụ này mình không đáng kể về về khối lượng, về số lượng, nhưng về giá trị tinh thần thì nếu mình chịu khó tu tập thì mình có thể trở thành tuyệt đối. Đây là con đường của Đạo Phật. Con đường của Đạo Phật là con đường khiến cho một cái chúng sinh với thân phận tầm thường nhỏ bé như thế này có thể trở thành tuyệt đối được. Đây là điểm mà các nhà trí thức trên thế giới ca ngợi Đạo Phật, cho rằng Đạo Phật là một đạo rất nhân bản vì có một con đường để đưa con người đến giá trị tuyệt đối trên vũ trụ này. Như vậy đó. Nói nữa nha? Có ai chán không?

[58:13]Nếu chán thì mình phải thấy ý nghĩ đó không phải là là ta.

[58:19]Có một cái điều thế này nha, có một điều thế này là hồi xưa đó Đức Phật hay nói về thần cây, tức là cái cây này có ông thần ở trỏng á, hoặc là cái cây này là như là một thần một sinh vật sống, hồi xưa Đức Phật hay nói cái cái điều đó lắm. Mà mãi đến bây giờ là người ta cũng chưa nghe, chưa nghe điều đó rõ ràng. Mà mình hay nghe cái gì? Mình không nghe thần cây mà mình nghe cái gì? Nghe có ma ở trên cây, phải không? Trên cái cây đa xà đó có con con tinh tóc dài. Mà khi đêm khuya vắng, nghe tiếng đưa con não nuột, phải không, cọt kẹt. Có nghe không? Có nghe chuyện đó không? Có, mình có nghe chuyện đời xưa như vậy.

[59:00]Bây giờ thì mình bớt nghe chuyện đó vì sao vậy? Tại sao đời này mình ít nghe có chuyện có con tinh ở cây đa? Đố ai biết tại sao? Tại vì cây đa đó đã bị đốn mất rồi. Người ta cưa cây tàn phá hết trơn mọi chuyện. Cho nên những chuyện ma rùng rợn và đẹp đẽ của đời xưa từ từ biến mất khỏi đời sống này rất là uổng. Chứ hồi xưa cái hạnh phúc của tuổi thơ mình là gì? Là được ngồi túm húng lại, chụm lại để mà nghe kể chuyện chuyện ma. Bây giờ điều đó mất dần rất là uổng. Giờ phải ước gì có ai kể chuyện ma mình nghe lại, phải không? Hồi xưa vậy. Như chúng tôi hay nghe mẹ chúng tôi kể, mà không biết chuyện thiệt không?

[59:39]Bởi vì nói là ông cố thì có làm chuyện này mình không biết có thiệt không. Nói ổng ban đêm ổng đi câu cá ngoài thành ngoài thành ở ngoài thành nội Huế vậy. Thì tự nhiên cái ổng thấy trên thành nó có một cái người kêu ổng, xin cá, ổng kêu: "Xuống đây!" Thì cái người đó mới mới rớt xuống cái chân trước, rồi kế đó rớt cái chân thứ hai, rớt cái mình, rồi rớt cái tay, mới rớt cái đầu rồi mới thè lưỡi ra. Cái chuyện rùng rợn đời xưa thì lúc đó mình nghe chuyện đó xong thì sau đó tối đó mình không dám không dám ngủ một mình, mà phải chui vào chui vào nách mẹ để ngủ để mà đừng có bị ma ma nhát, như vậy.

[1:00:13]Bây giờ không còn chuyện. Mà lạ một cái là thời xưa Đức Phật hay nói về thần cây lắm, nói rất nhiều trong các kinh điển, chứ Ngài không phải nói hơi hơi mà không nói lấp lửng. Bây giờ chuyện đó có không? Chuyện đó vẫn có. Là có những cái cây to mọc ở ven chùa, ven đình mà ai lại phá là bị quở, bị bệnh liền. Nhiều người họ tin dữ lắm, không dám. Giống như dưới Cao Lãnh có cây gần cái chùa cây to mà khi cây đó bị bị bị sét đánh á, bị mưa gãy mưa gãy ngã cái nhánh xuống, không ai dám lại lặt một cành lá nữa. Bởi vì cái cây nổi tiếng mà ai lại gần phá là bị bị bệnh, vì vì vì có thần ở trên đó, có thần ở trên đó.

[1:00:54]Hồi xưa cái chuyện đó nhiều lắm, bây giờ hơi bớt. Mà trong thời Đức Đức Phật là hay nói điều đó nhiều. Lúc đó đó Đức Phật dạy các vị Tỳ kheo á là không được chặt phá cây cối vì cây cối là chỗ ở của quỷ thần. Đức Phật nói đó rất là rõ, rất là nhiều như vậy. Thì các vị Tỳ kheo thời Đức Phật bảo vệ thiên nhiên rất là tốt vì nghe lời Phật dạy cây cối là chỗ ở của quỷ thần. Nhưng mà thời đại hiện nay đó thì điều đó người ta không tuân thủ nên người ta vào người ta phá rừng quá nhiều. Thì những vị quỷ những vị quỷ thần đó bị mất cái chỗ ở rồi các vị đi đâu? Khi mà rừng trên thế giới bị phá tràn lan mất hết thì đi đâu?

[1:01:32]Các ngài đó đi kiện, đi kiện. Đi đến một cái chỗ có quan chức lớn ở trên trời đó, kiện. Kiện rằng cái loài người đã phá hết chỗ ở của chúng tôi. Đó, các ngài các vị đó mới phẫn nộ, trả thù. Trả thù bằng cái gì? Tạo thành thiên tai lụt lội. Nên những cái thiên tai trên Trái Đất này, chúng ta đừng tưởng là nó ngẫu nhiên. Nó có nguồn gốc của siêu nhiên, mà nguồn gốc siêu nhiên đó từ những vị quỷ thần ở trên cây. Mà cũng nguyên nhân từ cái tội lỗi của con người là phá rừng đó, có những điều như vậy. Nên ở đây chúng ta phải hiểu nhiều mặt của cuộc sống, chúng ta mới giải thích được, chứ không phải chỉ đơn sơ là

[1:02:15]dựa vào khoa học cạn cợt để giải thích mọi vấn đề đâu. Ngày nào đó mà trên thế giới người ta biết trồng rừng, trồng cây lại cho nhiều thì tự nhiên nhiệt độ, khí hậu sẽ điều hòa, sẽ bớt thiên tai, bớt mà lụt lội cho con người như vậy. Chúng ta nói về cái phát tâm Vô thượng Bồ đề một chút. Chúng ta hay nghe kể trong kinh Phật là có một vị đó phát tâm Vô thượng Bồ đề rồi từ đó tu hành. Nhưng mình hiểu phát tâm Vô thượng Bồ đề là gì? Phát tâm Vô thượng Bồ đề là nghĩa là thế này nè, mình nói theo ngôn ngữ bây giờ là thế này, là tự nhiên có một cái lý tưởng tu hành tìm cái sự đắc đạo tuyệt đối như Đức Phật, gọi là phát tâm Vô thượng Bồ đề.

[1:02:54]Nghĩa là trong chúng ta đó, chúng ta nhìn lại mình, ví dụ mình đến với đạo Phật mình tu hành, hay là quý thầy, quý cô cũng xuất gia tu hành, mà coi trong tâm mình có cái lý tưởng mạnh mẽ đó chưa? Cái lý tưởng là mình sẽ tu tập để đắc đạo như Phật. Đó, nếu mà mình có cái lý tưởng đó thì mình được định nghĩa mình là một người có phát tâm Vô thượng Bồ đề. Còn nếu mà mình không có cái lý tưởng đó thì chưa gọi là phát tâm Vô thượng Bồ đề. Đó. Thì bây giờ mình phân tích thêm chút nữa nè. Cái phát tâm Vô thượng Bồ đề nghĩa là tìm sự đắc đạo á, nó là một lý tưởng chứ không phải là một tham vọng. Mà lý tưởng và tham vọng khác nhau sao, ai nghe băng rồi nhớ không?

[1:03:35]Khác nhau làm sao? Lý tưởng và tham vọng giống nhau ở điểm nào? Giống nhau là cùng có những cái ước mơ lớn, phải không? Đều giống nhau là ở ước mơ lớn. Nghĩa là ví dụ một người ước mơ nữa làm thủ tướng. Đó là ước mơ lớn hay nhỏ? Lớn, ước mơ lớn. Nhưng mà ước mơ lớn đó là lý tưởng hay là tham vọng? Không, chưa biết, đừng kết luận. Không chắc là tham vọng đâu, mà có khi là lý tưởng. Khác nhau làm sao biết là lý tưởng, làm sao biết là tham vọng? Cái ước mơ lớn đó, nếu mình tìm cái đó là vinh quang cho mình thì đó là tham vọng. Nhưng mà nếu mình cái ước mơ lớn đó để mình làm có phương tiện để mình làm lợi ích cho nhiều người thì đó là lý tưởng.

[1:04:20]Đó, chúng ta nói với nhau trong nhiều cái băng giảng khác rồi, cho nên hôm nay chúng ta không đào sâu ở đây để phân biệt. Thì như vậy cái phát tâm Vô thượng Bồ đề cũng vậy. Là chúng ta phát tâm là thành Phật, nó là một lý tưởng. Mà nếu không khéo, nó là một tham vọng. Mà nếu đúng, nó là một lý tưởng. Là sao? Ví dụ mình thấy ông Phật tự nhiên người ta lạy, người ta kính trọng quá, trời người đều tôn kính, lúc đó mình nói phải chi mình làm Phật, thì cái phát tâm đó là tham vọng hay lý tưởng? Tham vọng. Nhưng mà nếu mình muốn đi tìm cái hạnh phúc tuyệt đối cho chúng sinh, mình hiểu được cuộc đời là khổ,

[1:04:57]chúng sinh trôi lăn là khổ, bây giờ làm sao cho chúng sinh ai nấy cũng trở thành thánh hết, ai nấy đều cũng được tự tại, được hạnh phúc hết, không bị chìm trong luân hồi đau khổ này nữa, nên mình muốn làm sao mình có cái năng lực để cứu độ chúng sinh như vậy thì cái đó là nên mình phải thành Phật, phải đắc đạo. Thì cái mà ước mơ đắc đạo như vậy là lý tưởng hay tham vọng? Lý tưởng. Đó, và như vậy, cái người mà lý tưởng đó mới gọi là phát tâm Vô thượng Bồ đề. Còn cái người ước mơ tu hành đắc đạo để được người khác tôn kính là rơi vào tham vọng liền. Mà hiện nay, có nhiều khi chúng ta đã bị như vậy.

[1:05:35]Vì có những người đến gặp một vị đạo sư nào đó, dạy: "À, con tu theo kiểu thầy một kiếp này đắc đạo liền, một kiếp này làm thầy trời người liền", thì coi chừng chúng ta đang rơi vào tham vọng. Vì tham vọng như vậy là sao? Vì tham vọng như vậy á là không hề có cái lý tưởng là phải độ chúng sinh trong vô lượng kiếp, mà chỉ mong mình thành Phật cho xong chuyện mình, đó là tham vọng. Nên ở đây chúng ta hiểu, cái phát tâm Vô thượng Bồ đề là như vậy đó. Cho nên vì chỉ có những người nào mà có lòng từ bi lớn, thương yêu tất cả chúng sinh, xót xa cái nỗi khổ của tất cả chúng sinh, muốn tìm con đường cứu độ cho tất cả chúng sinh,

[1:06:13]thì khi mà người đó ước mơ thành Phật, người đó đúng là phát tâm Vô thượng Bồ đề, người đó đúng là có lý tưởng, chứ không phải là tham vọng. Nhớ như vậy đó. Mà muốn đắc đạo thì phải làm sao? Thì phải đi qua cái con đường, con đường gì? Vô ngã. Là khi không còn bản ngã này đó, chúng ta mới đủ trí tuệ biết hết mọi điều và mới đủ từ bi để thương yêu muôn loài. Nên phải đi qua con đường vô ngã. À, như vậy là chúng ta thấy cái phát tâm Vô thượng Bồ đề là sự kết hợp giữa lý tưởng độ sinh, lòng từ bi tuyệt đối và kết quả chứng ngộ vô ngã. Đó, mấy cái đó kết hợp lại mới thành cái phát tâm Vô thượng Bồ đề, rồi hướng về đó.

[1:06:58]Còn nếu mà chúng ta không kết hợp được mấy cái điều đó thì không phải phát tâm Vô thượng Bồ đề. Cho nên chúng ta xem lại mình. Là thứ nhất, là mình ước mơ độ sinh, có lòng từ bi tuyệt đối thương yêu chúng sinh và mình nhắm đến cái đích vô ngã, tức là mình tu tập thiền định thế nào để phá tan bản ngã. Kết hợp được mấy điều đó mới gọi là phát tâm Vô thượng Bồ đề vậy. Mà do đâu mà chúng ta biết phát tâm Vô thượng Bồ đề? Nếu không có Đức Phật xuất hiện, nếu không có Đức Phật đắc đạo thành Phật để nói lên vô lượng cái giáo lý vi diệu, thì ngày hôm nay mình là những kẻ mù, kẻ điếc, những kẻ tội lỗi, không biết phát tâm Vô thượng Bồ đề là

[1:07:39]gì, không thể nào có cái lý tưởng thương yêu tất cả chúng sinh mà mong cho tất cả muôn loài đều được giải thoát, giác ngộ, thành thánh; không có cái ước mơ để cho muôn loài này thương yêu lẫn nhau; không có cái ước mơ làm cho cõi đời này thành cái cõi thiên đường thánh thiện. Chính vì có Đức Phật xuất hiện, chính vì có Đức Phật đã cực khổ tu tập trong vô lượng kiếp để rồi Ngài thành Phật, Ngài để lại một giáo lý vĩ đại, mà ngày hôm nay chúng ta ngồi đây với nhau, chúng ta biết nhìn nhau bằng ánh mắt thương yêu, thân thiện; chúng ta cùng với nhau chung cái ước mơ là để làm sao xây dựng cái cuộc đời này thành cõi đời vinh quang, hạnh phúc.

[1:08:18]Chính là nhờ Đức Phật, nhờ sự đắc đạo của Đức Phật mà ngày hôm nay chúng ta có con đường cao thượng để hướng tới. Đó cũng là lý do mà ngày hôm nay chúng ta có mặt ở đây, để khuya nay dậy chúng ta làm lễ, chúng ta tôn vinh cái sự giác ngộ của Đức Phật. Nên chúng ta nhớ, cái công đức mà tôn vinh sự giác ngộ của Đức Phật rất là lớn, vì đây là nhân quả. Chúng ta có ca ngợi, chúng ta có tôn vinh sự giác ngộ của Đức Phật thì sau này chúng ta mới được giác ngộ, đó là nhân quả. Còn nếu chúng ta theo đạo Phật, chúng ta thờ Đức Phật mà chúng ta không tôn vinh cái sự giác ngộ của Đức Phật, chúng ta không đủ nhân lành để giác ngộ như vậy.

[1:09:01]Nên vì vậy mà chúng tôi hay kêu gọi các chùa phải tổ chức Lễ Thành Đạo cho tăng ni, cho Phật tử cùng đến để tôn vinh sự giác ngộ của Đức Phật, chi vậy? Bởi vì một người nào đặt chân đến dự buổi lễ đó, rồi cùng cái tâm tôn vinh cái sự giác ngộ đó, thì người đó có cái nhân giác ngộ ở trong tâm mình, trong cuộc đời mình, thì không biết kiếp này hay kiếp khác sẽ đắc đạo. Nên vì vậy mà chúng tôi luôn luôn khuyến khích quý tăng ni, các chùa phải chịu khó tổ chức Lễ Thành Đạo cho tứ chúng mà vân tập lại mà cùng nhau tôn vinh cái sự giác ngộ của Đức Phật. Còn nếu không, chúng ta thiếu cái nhân giác ngộ rất là lớn.

[1:09:47]Giờ chúng tôi chúng tôi dặn ngày mai chút xíu vậy, để chúng ta biết. Là sau cái buổi nói pháp này chúng ta tới màn văn nghệ,

[1:09:58]thì có một số người đã đăng ký, còn ai thích thì đăng ký thêm. Thì đến khoảng 12:00 chúng ta nghỉ. À khi nghỉ thì xin ưu tiên cho những cái nhà đó, những nhà kín đáo đó cho người già, người yếu, người bệnh, trẻ em có mẹ đi theo, tức là mẹ và và con nhỏ vào trong ở. Người nào có sức khỏe thì chúng ta ở cái cái nhà có mái che phía trên thế này, ở theo hành lang chùa, ở ngoài sân cỏ, mà chúng ta chịu khó mặc áo ấm. Chúng ta dự Lễ Thành Đạo, chúng ta cực khổ vài tiếng đồng hồ qua đêm như vậy, à chịu lạnh như vậy thì chúng ta sẽ được được Phật thương ha, sau này mình dễ đắc đạo, không sao hết nha. Lại 3:30 chúng ta sẽ dậy để chúng ta vệ sinh.

[1:10:51]Trước 4:00 chúng ta có mặt. Chúng ta đứng lại đúng cái vị trí mà hồi nãy chúng ta ngồi thiền. Quý thầy cũng vậy, quý cô cũng vậy. Là à quý thầy, quý cô sẽ tập trung vào trong chánh điện như vị trí hồi nãy, và có một số quý thầy, quý cô đã quen thuộc thì chia ra đứng ra ngoài gần với Phật tử ở bên ngoài. Chứ quý thầy, quý cô không có tập trung vô hết. Tại vì có tăng ni đứng gần đó thì Phật tử mới có cái phấn khởi hơn. Là chúng ta đứng đúng vị trí hồi nãy vậy. Thì lúc đó tuyệt đối không nói chuyện, không đi tới đi lui, chúng ta im phăng phắc, nghiêm túc vì đó là lễ chính nha. Dưới nhà bếp là phải giữ im lặng hết.

[1:11:29]Chúng ta không cần ăn, lễ trước, ăn sau. Nhà bếp không có lộn xộn đi tới đi lui, không có tiếng động. Lúc mà chúng ta tập trung như vậy, tuyệt đối là giữ yên lặng, không nói chuyện, không xù xì, không gì hết. Chúng ta lắng nghe quý thầy cử lễ, trong đó đầu tiên chúng ta sẽ nghe ba tiếng chuông trước để báo hiệu lễ bắt đầu, ba tiếng chuông. Kế đó, cái tiếng chuông thứ tư là chúng ta lạy Phật một lạy thứ nhất. Tiếng chuông thứ năm, chúng ta lạy Phật thứ hai. Tiếng chuông thứ sáu, chúng ta lạy Phật cái thứ ba. Là sau tiếng chuông thứ sáu, sau cái lạy thứ ba, chúng ta bắt đầu ngồi xuống ngồi thiền trong yên lặng.

[1:12:11]Không ai nói ai, không ai nhắc ai, không có ai dám thì nữa hết. Đó, và chúng ta lấy kinh nghiệm mà ngồi hồi nãy chúng ta ngồi thiền. Và sau khi ngồi rồi, chúng ta không cần biết lúc nào sẽ xả thiền, không cần cần biết nữa. Rồi cứ như vậy nó tới đâu nó tới, tới nào đắc đạo thì thôi. Nghe như vậy thì nếu mà chúng ta run, thì chúng ta phải nói làm sao? Cái run đó không phải là không phải là ta, như vậy. Mà nếu nghe như vậy chúng ta định trốn, thì chúng ta phải biết rằng cái ý trốn đó không phải là ta. Cho nên chịu khó mà mà đi ra mà mà dự lễ phải không? Đó. Chúng ta ngồi thiền để chúng ta thấm được cái cực khổ của

[1:12:49]việc ngồi thiền, để chúng ta hiểu được cái giá trị, cái sự vĩ đại của Đức Phật mà đã ngồi suốt 49 ngày như vậy. Để mà thành đắc đạo được như vậy. Để trở thành một cái để lại một chân lý muôn đời cho con người như vậy. Như vậy. Thôi, bây giờ chúng ta nghỉ ha.