Lời giảng: Tứ Diệu Đế Bản Tuyên Ngôn Của Phật 18 - Đạo Đế, Chánh Kiến 03

  • Thuyết giảng: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Thời lượng: 1:57:50

Toàn văn lời giảng, chép từ phụ đề. Bấm vào mốc thời gian để nghe đúng đoạn đó.

[0:00]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Thưa tất cả quý Phật tử, hôm nay buổi thuyết pháp của hòa thượng pháp sư Đạo hiệu Thích Chân Quang sẽ diễn ra trong vòng 25 phút nữa.

[0:22]Và vào giờ này chúng ta ổn định đạo tràng, nơi chốn trang nghiêm để chúng ta chuẩn bị cho chương trình thuyết pháp sáng hôm nay.

[0:35]Lời đầu tiên, thầy thay mặt cho ban tổ chức xin nhiệt liệt chào mừng, đón tiếp tất cả quý vị mặc dù trời nắng gắt mà quý vị cũng đã quang lâm về đạo tràng để nghe thuyết pháp một cách đông đủ sáng hôm nay. Cầu nguyện ơn trên chư Phật Bồ Tát, thánh hiền hộ trì tất cả quý vị bình an, sức khỏe, vạn sự cát tường.

[1:05]Và trước khi đi vào chương trình thuyết pháp sáng hôm nay, chúng ta trong tay mỗi người đều đang có một bản nhạc. Bản nhạc đó rất đặc biệt, mới và của sư phụ Phật Quang tiêu đề "Lửa cháy cho quê hương". Và sáng hôm nay chúng ta sẽ có thời gian để hát tới hai bài. Đó. Và hai bài này là đặc biệt một bài này triệt tiêu bài kia. Bởi vì một bài là khúc hát mưa rơi và lửa cháy cho quê hương. Hi vọng là mưa rơi không làm tắt lửa.

[1:50]Và và ngọn lửa có lẽ là mình đốt lên trước rồi mưa rơi sau thì ổn hơn đúng không? Cho nên là trước hết thầy xin được giới thiệu quý vị bản nhạc "Lửa cháy cho quê hương" là bài này là bài ngợi ca Bồ Tát Thích Quảng Đức mà sắp sửa tới đây vào cái ngày 20 tháng 4 âm lịch sau lễ Phật Đản năm ngày là ngày kỉ niệm Đức Bồ Tát Thích Quảng Đức đã vì pháp thiêu thân.

[2:29]Và hình ảnh của Bồ Tát Thích Quảng Đức ngồi trong ngọn lửa một cách điềm nhiên, tự tại ở tại ngã tư Phan Đình Phùng

[2:42]và Lê Văn Duyệt cũ thì bây giờ ở nơi đó là gọi là Cách mạng Tháng Tám và hình như là Nguyễn Đình Chiểu. Và ở đó có một cái đài kỉ niệm Đức Bồ Tát rất là trang nghiêm, trọng thể, đẹp đẽ. Hình ảnh của Bồ Tát Thích Quảng Đức ngồi trong ngọn lửa đã đi vào trái tim của người Phật tử Việt Nam, đồng thời nó đi vào lương tâm, đánh thức lương tâm của nhân loại vào thời kì thế kỷ trước vào năm 1963. Mục đích của ngọn lửa được thắp lên là để vì bảo vệ đạo pháp. Phật pháp đang đứng trước nguy cơ bị áp bức, bị hoại diệt bởi một chế độ cầm quyền độc tài, kỳ thị tôn giáo, đưa đến sự bất bình đẳng trong vấn đề tôn giáo và xã hội.

[3:42]Và đã đưa đến một cuộc đứng lên của cái người Phật tử miền Nam thời đó. Và cái cuộc cách mạng của Phật tử Việt Nam thời đó, miền Nam thời đó thành công là

[3:57]nhờ vào cái trái tim của Bồ Tát Thích Quảng Đức, nhờ vào cái ngọn lửa của Bồ Tát thắp lên ở ngã tư Phan Đình Phùng - Lê Văn Duyệt. Và ngọn lửa đó đã khởi động một phong trào lớn và thức tỉnh toàn bộ lương tâm của nhân loại. Từ đó chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ. Và chắc chắn là công đức của Bồ Tát Thích Quảng Đức không phải chỉ riêng đối với Phật giáo Việt Nam thời bấy giờ mà còn là đóng góp vào việc giải phóng dân tộc để chúng ta có thể hoàn thành được giải phóng miền Nam, trở thành đó là thống nhất đất nước năm 1975. Và sang năm chúng ta sẽ có một cái lễ, chúng ta sẽ có một kỉ niệm 50 năm ngày giải phóng miền Nam.

[4:46]Và chắc chắn những cái bài hát như là "Lửa cháy cho quê hương" tôn vinh Bồ Tát Thích Quảng Đức của sư phụ Phật Quang, thầy tin rằng sẽ là một bản hát, bản bản nhạc đặc biệt. Cái đặc biệt ở đây chúng ta thấy: Lời rất giàu có, giai điệu rất là ổn định, gọi là trầm ổn, thiết tha, lay động trái tim của con người. Và đặc biệt sau khi Bồ Tát Thích Quảng Đức nằm xuống, có những bài ca ca ngợi, tuyên dương công đức của Ngài với tất cả tấm lòng thiết tha của người ca sĩ, người nhạc sĩ Việt Nam nhưng mà từ đó đến giờ thì chưa có bài nào mới. Không biết thầy có bị nhầm không nhưng mà thầy thấy thầy chưa tiếp xúc

[5:31]bài nào mới hơn những bài mà mình đã tiếp xúc trước đó rất lâu rồi. Hôm nay tiếp xúc với bài "Lửa cháy cho quê hương", mình cảm nhận lại ngọn lửa thuở ấy và trong trái tim của mình những hình ảnh đẹp đẽ, những cái động lực khích lệ tinh thần phụng sự đạo pháp nó trở nên càng ngày càng mạnh mẽ hơn. Một trong những cái điều phát nguyện của người xuất gia là "hủy khí thân mạng tôn sùng đạo pháp". Đó là một trong những năm nguyện vọng của người xuất gia. Người nào đi tu cũng đều phát nguyện năm điều và có trong đó có một điều là chuẩn sẵn sàng từ bỏ thân mạng của mình vì tôn sùng, bảo vệ Phật pháp.

[6:10]Và ngọn lửa Thích Quảng Đức chứng tỏ điều đó một cách cụ thể. Và nhờ vậy do vậy bài hát này bài hát này được hát lên hôm nay ở đây là cũng đã bắt đầu thắp lên ngọn lửa mà ngọn lửa này là vì chính nghĩa, vì đạo pháp. Ngọn lửa này ngọn lửa được thắp sáng tiếp nối những cái tấm lòng, trái tim của người Phật tử đối với những giá trị đạo học Phật giáo trong con đường xây dựng cá nhân, gia đình, xã hội, đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta.

[6:51]Và ngọn lửa

[6:55]không chỉ là ngọn lửa

[7:00]mà ngọn lửa chính là con tim thương yêu thắp lên bởi niềm tin vào chân lý. Và ngọn lửa đó đã nói lên tính thiêng liêng của con người khi mà đặt mình trong vòng tay của chân lý. Và ngọn lửa đó không chỉ dành cho quê hương mà còn dành cho cả thế giới. Những lời mở đầu của bài "Lửa cháy cho quê hương" như vậy là quá đẹp, quá đẹp! Và rồi lửa cháy như là một cái ánh đuốc, như là một trí tuệ, như là một cái ánh sáng để soi chiếu dẫn dẫn đường cho cuộc sống con người.

[7:43]"Đuốc soi dặm trường sáng lên lời kinh. Lửa cháy sáng soi cuộc đời giúp muôn loài thôi hết đơn côi." Quả thực là một ngọn lửa của trái tim đưa đến sự ấm áp cho trái tim này với trái tim kia,

[8:01]xua tan đi bóng đêm rồi xua tan đi sự lạnh lẽo của cái gọi là khô héo, đơn độc của kiếp người. Và đó là cái ngọn lửa mà đem đến ánh sáng giữa nhân gian, đem đến lẽ sống cho con người.

[8:22]Và những cái lẽ sống ấy xuất phát từ trái tim nhiệm màu của Bồ Tát.

[8:31]Những hình ảnh xác thân của Người ngồi trầm hùng ở trong ngọn lửa đang cháy tĩnh lặng như vậy nói lên sự hùng tráng, nói lên sự vượt thoát tất cả mọi sự giới hạn của vật lý và điều đó quả thực là ngọn lửa của thiêng liêng cao cả xôn xao cả bầu trời. Và ngọn lửa đó nó không phải chỉ tỏa ra hơi nóng mà nó tỏa ra hương thơm, tỏa ra sự tình yêu thương dịu mát và đưa đến vô biên, vô tận. Và trong cuộc sống bao muộn phiền, bao hận thù

[9:13]thì ngọn lửa xuất hiện với Đức Bồ Tát Thích Quảng Đức như một vầng trăng, như một ánh mặt trời và đó là những gì đẹp đẽ thực sự đối với nhân gian, đối với kiếp người của tất cả chúng ta.

[9:28]"Rồi ngọn lửa sẽ xóa tan ngục tù của con người tự giăng ra cho bản thân của mình.

[9:36]Những ghét, những hận, những đắng cay chúng ta đeo mang vào nhau. Ngọn lửa sẽ xóa tan ngục tù, người thương nhau đi qua nỗi đau. Lửa cháy sẽ xóa tan lạnh lùng, người thênh thang đi qua trái ngang. Lửa cháy thắp lên mặt trời cho lời kinh cất lên đẹp ngời. Lửa cháy khát khao nhiệm mầu như từ bi sáng tươi địa cầu." Và giờ đây chúng ta hãy lắng nghe và theo dõi bài ca khúc "Lửa cháy cho quê hương", Thượng tọa Hòa thượng Thích Chân Quang sáng tác.

[10:14]Và xin mời thầy Pháp Diện sẽ trình bày ca khúc này. Hi vọng với trái tim, với khối óc, với những con người tâm huyết con đường đạo sẽ diễn đạt hết những cái

[10:32]gọi là tinh hoa của bài hát sẽ đưa đến quý vị thưởng thức bản nhạc một cách trọn vẹn. Xin mời thầy! Đây, đây ở dưới này hả? Đẹp hả? Ca sĩ này đẹp.

[11:00]Giờ xin mời toàn thể đại chúng chúng ta hãy cùng hát vang ca khúc này ạ.

[11:28]Lửa cháy con tim yêu thương thắp lên niềm tin cho quê hương.

[11:39]Lửa cháy đuốc soi rực rỡ sáng lên lời kinh bay muôn phương.

[11:49]Người đem lẽ sống rất mênh mông, ngọn lửa thiêng vút cao trùng.

[12:01]Hòa trong tiếng khóc nỗi bi thương, xin được quỳ lòng yêu kính mãi.

[12:12]Nguyện ước mắt theo trái tim nhiệm mầu muôn năm sau xin ghi khắc sâu.

[12:23]Lửa bốc lên mây sắc thân của người như âm vang trong đất trời.

[12:34]Hư không bao la một làn khói bay đưa mang người về chốn linh giới.

[12:45]Hương thơm lan xa nước mắt nhạt nhòa vạn con tim chắp tay thở dài.

[12:57]Trong cuộc đời bao muộn phiền người đến như vầng trăng.

[13:08]Xây tiếng cười thêm nụ cười hiền tươi cần chi nói năng.

[13:18]Đến quy y vang tiếng chuông lành tiễn thôi xót xa.

[13:29]Bao nhiêu năm qua mỏi mệt chuông vòng đưa ánh xót chiều tà.

[13:40]Lửa cháy xua tan ngục tù, tình thương yêu đi qua nỗi đau.

[13:51]Lửa cháy thắp lên mặt trời cho loài người vươn lên đẹp ngời.

[14:02]Nghìn sao quá soi đêm thâu nhớ ơn người bên dòng lệ rơi.

[14:13]Quỳ đây dâng

[14:20]niềm tin yêu trái tim người bay vời muôn nơi.

[14:56]Lửa cháy bóng ai uy linh thắp lên bình minh khắp thế giới.

[15:07]Lửa cháy sáng soi cuộc đời giúp muôn loài thôi không đơn côi.

[15:17]Người đem lẽ sống rất mênh mông, ngọn lửa thiêng vút cao trùng.

[15:30]Hòa trong tiếng khóc ngút ca xa bay huyền hoặc nghìn năm vẫn nhớ.

[15:42]Nguyện ước mắt theo biển rộng tình người cho tương lai vui như nắng mai.

[15:53]Bừng cháy uy nghi sắc thân của người như âm vang trào dâng bất ngờ.

[16:04]Hư không bao la một làn khói bay thắp dâng lên người ngàn câu yêu kính.

[16:15]Hương thơm vô biên bay qua mọi miền vạn con tim ước mong hòa bình. Trong mịt mù bao hận thù người đến như vầng dương.

[16:38]Cho loài người con đường về lộng lẫy trong gió sương.

[16:48]Con tim ăn năn xin chắp tay quỳ đây nghe xót xa.

[16:59]Bao nhiêu năm qua gây lỗi lầm chẳng hay biết đâu là nhà.

[17:10]Lửa cháy xua tan lạnh lùng, tình thanh cao đi qua trái ngang.

[17:21]Lửa cháy thấu bao nhiệm mầu như từ bi sáng tươi địa cầu. Nghìn hoa tái rung chơi vơi, biết bao lời bao dòng lệ rơi.

[17:42]Trần gian chung niềm tin yêu dưới vầng đài vời vời tinh khôi.

[17:54]Trần gian chung niềm tin yêu dưới vầng đài vời vời tinh khôi.

[18:21]Hay. Quá hay. Và tiếp theo chương trình là chúng ta bắt đầu cho chương trình thuyết pháp sáng hôm nay. Xin mời toàn thể đại chúng chuẩn bị niệm Phật cầu gia bị cho ba hồi chuông trống Bát Nhã.

[18:38]Chúng con xin cung thỉnh Hòa thượng pháp sư cũng như toàn thể đại chúng niệm Phật cầu gia bị.

[18:46]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca

[18:56]Mâu Ni Phật.

[19:01]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[19:17]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni

[19:30]Phật. Chúng con xin cung thỉnh Hòa thượng pháp sư an tọa. Xin mời toàn thể đại chúng an tọa.

[19:42]Cái bài Lửa Cháy Cho Quê Hương cái nhạc đệm tạm do em Phật tử mình đánh piano, em đánh cũng hay, chứ ta chưa có cái bản hòa âm xong. Còn cái bài Khúc Hát Mưa Rơi cái bản hòa âm của anh Bảo Phúc là một tuyệt tác. Ảnh viết một bài nhạc bên cạnh một bài nhạc, một bài nhạc để đệm cho một bài nhạc. Ta nghe kỹ ta sẽ thấy như vậy, là một tuyệt tác. Hiếm khi nào mà ta nghe được một bài hòa âm xuất sắc như vậy, tại vì nó mất công lắm. Mà cái sức sáng tạo của người nhạc sĩ làm hòa âm phải rất là cao mới làm nổi như vậy. Lâu lâu ta mới gặp một một cái cái bản hòa âm như vậy, chứ thường thường là cái hòa âm nó chỉ phụ cho bản nhạc thôi.

[20:27]Và ngắt bỏ bản nhạc rồi thì bản hòa âm là vô nghĩa. Nhưng mà riêng có những loại nhạc như cái bài Khúc Hát Mưa Rơi vừa rồi, con ngắt bỏ cái bản nhạc chính đi thì cái bản hòa âm cũng là một tuyệt tác. Hay vô cùng, anh Bảo Phúc ta phải nhớ, mình phải nhớ công của ảnh. Ảnh có mấy bài ảnh làm được như vậy. Hồi lúc ảnh còn sống, Sư có khen ảnh. Hồi đó Sư có nghe vài bài nhạc trên thế giới là là một bài nhạc đệm cho một bài hát, có một bài của ABBA cũng được như vậy. Rồi sau này có nghe cái bài Níu Tay Nghìn Trùng của Trịnh Công Sơn, cũng anh Bảo Phúc ảnh phối đó, là một bài nhạc đệm cho một bài nhạc. Sư có khen ảnh.

[21:03]Về sau khi Sư viết cái bài Khúc Hát Mưa Rơi này, ảnh cũng hòa âm được như vậy, một bài nhạc đệm cho một bài nhạc. Sau này Sư có viết cái bài Nếu Không Có Người à Sư nói bài này Sư viết với một cái cảm xúc cho một nhân vật đặc biệt, thế ảnh cũng hòa âm kiểu đó, một bản nhạc đệm cho một bản nhạc, rất là hay. Nếu ta nghe, con mở lại cái đoạn đầu mà cái bài phối Khúc Hát Mưa Rơi đi. Đoạn đầu khúc đệm thôi chứ còn vào bài hát thì thì thì thì vào chút xíu một hai câu rồi ngưng nghỉ để chúng ta nghe giảng. Mở lại. Ta nghe kỹ lại cái đoạn đoạn đệm.

[22:12]Mưa

[22:41]rơi khắp đất trời,

[22:45]như lòng thương yêu không ngơi nghỉ.

[22:59]À sư viết bài này là lúc đó vào cái cuối mùa nắng, lúc đó trên núi hạn hán, cái chờ mãi không có mưa. Cái ngồi cứ người đứng, người trông mưa tại cây cứ héo dần héo dần. Cái buổi chiều đó buổi chiều đó bỗng nhiên cơn mưa nó tới, sư ngồi trước hiên nhà, sư cầm cái đàn guitar, cái đằng kia cơn mưa đang tới từ từ từ từ, cái sư đánh bật bài này lên luôn, sáng tác bài đó luôn trong một buổi chiều.

[23:30]Hôm giờ chùa mình bắt mọi người học nhạc.

[23:38]Tất cả mọi người phải học nhạc, nhạc lý căn bản, chuyên sâu, chuyên nghiệp đó, chứ không có học hời hợt. Vì thực tế có nhiều người hát rất hay, đàn rất hay, nhưng không giỏi nhạc lý, nhịp phách dở ẹc, không biết, rồi phát hiện ra điều đó. Còn bây giờ ta dạy nhạc lý là một cách hết sức là chuyên sâu, hết sức là căn bản. Thường thường âm nhạc nó là một cái thế giới rất là riêng, chỉ một vài người có khiếu học được. Cái tỷ lệ người biết âm nhạc đàng hoàng trên thế giới rất là thấp. Nhưng mà âm nhạc là một ngôn ngữ quan trọng của con người có văn hóa, có trí tuệ, và đặc biệt là của chư Thiên, nên chư Thiên sử dụng âm nhạc nhiều lắm.

[24:18]Ta đọc trong kinh ta sẽ thấy điều đó. Và các tôn giáo cũng như vậy. Khi mà nói về các cõi Trời, họ đều nói về âm nhạc, nên nên không biết rõ về âm nhạc là một khiếm khuyết rất là lớn của tâm hồn chúng ta. Đến nỗi trong kinh Đại thừa mà trong Đại Thừa Khởi Tín Luận cũng nói Bồ Tát phải có ngũ minh, trong ngũ minh đó có cái Thanh minh chính là âm nhạc. Nhưng kỳ này chúng ta bắt học âm nhạc hết. Nói do tu không lo, lo học hát. Học hát học nhạc rồi ta sẽ có một con đường dẫn vào thiền định. Sư phụ sẽ giải thích cho thấy, giải thích cho thấy. Cứ căn bản học cho căn bản đi, sẽ thấy có một con đường dẫn vào thiền định trong đó.

[25:05]Có có mấy thầy mấy cô mà học bị chậm, bị sư đánh đòn.

[25:11]Cư sĩ cũng vậy, sư hỏi ra mà học bị chậm cũng bị đánh đòn. Sư đánh đòn thiệt à, đánh roi thiệt á, chứ không phải không, không có đùa đâu nha, không có đùa đâu á. Nhớ là liệu nha, ông này là ông này là đó mấy đi ngang bất chừng hỏi một cái là đang học tới đâu, mà trả lời ú ớ ú ớ là ăn roi à nha, mấy người đó coi chừng đó nha.

[25:37]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Hôm nay chúng ta học tiếp bài Tứ Diệu Đế, qua tới phần Đạo đế. Phần trong Đạo đế thì cái đế cái cái cái Chánh đạo có Đạo đế trong Đạo đế này thì cái có Bát Chánh Đạo, và cái Chánh đạo đầu tiên là Chánh kiến. Về trong Chánh kiến ta đã học tới mấy bài rồi? Hai bài rồi, thấy không? Ngoài Bắc một bài rồi, này một bài. Hôm nay chúng ta học bài thứ ba là hết bài Chánh kiến rồi lần sau thì sẽ học tới tới Chánh tư duy. Chánh kiến Chánh kiến là hiểu biết cho đúng á, tại vì nếu hiểu sai thì chúng ta tu sai, đại khái vậy. Còn hiểu đúng thì chúng ta tu đúng, như vậy.

[26:22]Khi mà sau cái Chánh kiến này ta sẽ tới phần Chánh tư duy là những suy nghĩ trong đầu mình, là Chánh tư duy là ta nói với chính mình. Còn Chánh ngữ là ta nói với người khác. Tất cả đó đều là sự tu tập hết. Còn Chánh kiến là hiểu cho đúng mọi chuyện cái đã, như ta đã biết vậy. Hiểu cho đúng cái gì là đúng là mênh mông, lẽ phải trong cuộc đời này. Mà tà kiến là sao? Tà kiến cũng tràn ngập hết trong cuộc đời này. Nên nếu chúng ta không có cái cảnh giác như người kiếm sĩ lưỡi kiếm của Banzo thì chúng ta bị tà kiến bị tà kiến xâm nhập liền, ta sai liền. Mà nhiều khi thấy vậy đó, thấy một người là đệ tử Phật tu

[27:08]trong đạo Phật vậy chứ nhiều khi cũng là tà kiến không. Nên cái Chánh kiến cực kỳ là khó, giống như là ta đãi đất mà đi tìm vàng vậy, xúc lên một cái. Ở đây có ai đi đãi vàng chưa kìa? Có ai có ai biết việc đãi vàng chưa? Có những cái vùng đất mà nó có vàng ở dòng suối hoặc là bò đào dưới đất lên vậy bên cạnh dòng suối, người ta phải xúc một cái đống đất rất là lớn rồi người ta đưa xuống suối người ta đãi, đãi cho cái đất nó trôi đi, còn sót lại những cái mạt vàng ở trên cái cái cái cái mâm, cái khay hay là cái rổ rồi họ mới cất đó, nó ít lắm. Cái cái mạt vàng mà còn sót lại trên cái rổ rất là ít,

[27:50]còn cái lượng mà đất đá bị sàng để mà trôi đi thì rất là nhiều, nên những cái khu mà mỏ vàng là ở dưới bờ hạ nguồn là nước lúc nào cũng đục, là vì ở trên kia người ta cứ sàng sàng đất đi tìm vàng. Cũng vậy, giữa cái thế gian này, giữa cái cuộc sống này cái tà kiến nó như đất, mà cái Chánh kiến nó như như vàng. Rất là rất là khó, mà nếu chúng ta không tinh tế, chúng ta không cẩn thận, chúng ta ngu si, chúng ta dễ tin, chúng ta không biết chọn lọc là chúng ta hốt nhầm đất sình chứ không có lấy được vàng. Mà hốt nhầm đất sình mình có làm nên cái cục gì mình đeo ở cổ thòng teng thòng teng thì làm sao?

[28:33]Thì đeo đồ giả, đeo đồ fake nha, rất là tội nghiệp. Cho nên để mình đeo được một cái dây chuyền gì cho nó đẹp, óng ánh, đúng vàng thật thì đòi hỏi mình phải lấy đúng cái hạt vàng, đúng cái Chánh kiến. Những điều có ai nói bên tai mình, một cuốn sách mình đọc, một đoạn văn mình nghe, coi vậy chớ coi chừng ở trong đó nó lẫn sình bùn ở trỏng á, chứ không phải bất cứ điều gì được viết thành sách, được nói ra thành lời, được phát biểu công khai chưa chắc đã là là điều chánh kiến đâu, chưa chắc. Nên đòi hỏi ta có sự gạn lọc kỹ lưỡng, tinh tế vô cùng. Không bao giờ được dễ tin là như vậy. Học tới cái bài Chánh kiến này đòi hỏi chúng ta phải rất có bản lĩnh.

[29:16]Nhưng mà nó khổ cái này nè. Nói nếu tụi con mà biết đúng sai hết rồi tụi con cần chi học nữa? Để ai nói ra biết đúng biết sai liền thì cần chi học nữa, phải không? Bây giờ không biết mới học, nhưng mà khổ cái không biết mà học thì coi chừng học nhầm cái cái sai, chết là chỗ đó. Vậy phải làm sao?

[29:40]Vậy hên xui. Tới cái chỗ này thực sự là hên xui, may rủi. Vì chúng ta không phải là người đủ khả năng để thẩm định điều đúng sai khi nghe người khác nói, khi nghe một ông thầy nói. Nhiều khi thấy ông thầy ổng ổng đẹp trai, ổng ngồi ổng mặc áo cà sa ổng nói cứ tưởng ổng nói đúng, sự thực nhiều khi sình không ở trỏng chứ không phải vàng. Nhiều khi vậy mà ta nhầm. Giờ làm sao để biết được đánh giá? Thực sự đúng là may rủi thôi. Nên căn bản nhất là chúng ta phải cúi đầu lạy Phật, cứ xin Phật: Xin cho con lúc nào cũng nghe được điều điều đúng, điều chánh kiến. Vì chính bản thân con không tự biết đúng hay hay sai.

[30:25]Xin cho gặp con gặp được ông thầy nói những điều điều chánh kiến, dù ổng ốm ốm, xấu xấu cũng được, miễn ổng nói đúng là được. Bây giờ có một số điều Chánh kiến, hôm nay chúng ta liệt kê ra để để xác định lại.

[30:46]Đầu tiên là Niết bàn...

[30:50]Vì khi ta đến với đạo Phật ta tu tập thì cái đỉnh cao, cái tột cùng của sự tu tập trong đạo Phật là là giác ngộ, là chứng nhập Niết bàn. Cho nên cái mục tiêu này cũng rất khác với các tôn giáo khác. Vì các tôn giáo bạn họ chọn lựa cái mục tiêu của họ là như vậy thì ta tôn trọng. Ví dụ như bên đạo Kitô vậy là các vị linh mục cứ giảng dạy rằng là mục tiêu của ta là gì? Chết để được về với với Chúa, và họ dừng lại ngang đó. Vì cái tình đoàn kết, chính sách đoàn kết dân tộc của nhà nước, chính sách đoàn kết nhân loại của thế giới này, ta ta tôn trọng, không phê bình, không phê phán. Tuy nhiên, ta phải xác định cái mục tiêu của của đạo Phật là chứng nhập Niết bàn.

[31:36]Thì đôi khi có những người của tôn giáo bạn họ họ không đồng tình với ta, đôi khi họ cũng nói này nói kia, nhưng thôi ta cứ khéo léo giữ hòa khí. Vì khi ta chưa chết, khi ta chưa chứng đạo thì có một điều rất quan trọng đó là tình đoàn kết của con người với nhau, tình đoàn kết giữa các đồng bào với nhau trong một tổ quốc này, ý là như vậy. Cho nên mặc dù mục tiêu có thể khác nhau, nhưng ta cố gắng giữ tình đoàn kết. Nhưng mà ta xác định cái mục tiêu của mình là như vậy là chứng nhập Niết bàn, giải thoát, giác ngộ. Và cái Niết bàn, giải thoát, giác ngộ đó là cái gì? Thì ngôn ngữ không không đủ sức diễn tả.

[32:18]Nghĩa là nếu ta có nói về Niết bàn cũng chỉ gượng gạo mà nói, chứ không bao giờ ta có đủ ngôn ngữ để diễn tả, vì Niết bàn đó thuộc về một trạng thái vượt khỏi ngôn ngữ. Ví dụ nói vậy, "Anh uống nước ngon không?" Nói, "Ờ nước này ngon. Ngon sao?" Làm sao mà biết được. Tại vì cái lưỡi mình mới đụng vào cái nước mình này, còn cái lưỡi của người hỏi họ không có đụng với cái nước này, họ không biết. Chúng ta không có cái ngôn ngữ để diễn tả cái nước mà ta đang uống cho cho người khác, trừ trường hợp người đó đã uống nước đó rồi. Thì nói nhá nhá cái là biết liền. À. Ví dụ như bây giờ uống nước như các thiền sư hay dùng

[32:58]cái từ là uống nước nóng lạnh tự biết á, nói: "Nước đó nóng hay mát vậy anh?" "Dạ mát." Cái chữ mát không hề diễn tả được cái mát của nước, nhưng mà vì người kia họ đã từng uống nước mát, cho nên nghe ta nói cái chữ "nước mát", họ hiểu liền, họ nhận ra liền. Vì có sự đồng cảm, có sự tương đồng, có cái thực chứng giống như nhau nên hiểu nhau. Còn nếu một người chứng, một người không chứng á thì không có cái gì có thể diễn tả để hiểu nhau được cả. Thì đây là một cái hạn chế. Cho nên bây giờ vậy, nói Niết bàn là gì thì ta đừng bao giờ hy vọng rằng có một cái loại ngôn ngữ diễn tả được Niết bàn cho ta hiểu, mà chỉ có cái gì?

[33:41]Chỉ có ta tu ta tới thôi. Vậy cái người nào mà hay nhất là cái người dẫn ta một con đường đúng để ta đi tới Niết bàn, chứ đừng bao giờ hy vọng có một người dùng ngôn ngữ diễn tả Niết bàn cho ta nghe. Nên khi ta đọc các sách về đạo vậy, ta thấy họ diễn tả về cảnh giới chứng ngộ thì xin vui lòng đừng tin hết vào trong đó. Thì vì hễ đã là ngôn ngữ rồi thì không bao giờ đúng cả, không bao giờ đúng. Đó là lý do mà Đức Phật không bao giờ diễn tả cảnh giới Niết bàn rõ ràng. Ngài chỉ nói chữ Niết bàn thôi, rồi còn muốn hiểu Niết bàn, làm ơn tu giùm cho đúng Bát Chánh Đạo, tới khi nào chứng A-la-hán rồi, rồi sẽ biết.

[34:23]Mà Niết bàn là một trạng thái, bây giờ ta chỉ nói a là vô ngã, không còn cái ta. Niết bàn là một trạng thái hết vô minh, không còn, mà vô minh là gì ta cũng không hiểu luôn nữa. Tại vì người chứng A-la-hán mới hiểu vô minh là gì, khổ vậy. Rồi Niết bàn là một trạng thái giải thoát. Giải thoát nghĩa là gì? Ít nhất là ta không còn bị luân hồi tái sinh ràng buộc nữa. Vì khi ta chưa có đạt được Niết bàn, chưa đạt được giác ngộ giải thoát thì ta còn bị một sức mạnh vô hình buộc ta phải tái sinh. Nên khi cái người chứng Niết bàn rồi họ không bị cái sức mạnh nào để buộc họ phải tái sinh. Cái người bên đạo Ấn Độ họ cũng có

[35:12]nghe những bậc giác ngộ từ đời xưa nói về cái chấm dứt tái sinh, nên rất nhiều người đạo Ấn Độ họ hay quỳ xuống bên cạnh sông Hằng, hoặc là họ lễ lạy các vị thần của họ, nghĩa là thần Shiva này vân vân, và chỉ cầu một điều, cầu cho con không bị tái sinh. Nhưng mà cái không bị tái sinh không thể do cầu nguyện được, mà chỉ do cái gì? Chứng đạo mà thôi. Nhưng tuy nhiên họ có cái lời cầu nguyện vậy, cũng giống như là một cái mục tiêu giải thoát không bị tái sinh, nhưng khổ một cái là họ không có con đường, họ chỉ thay vào đó bằng điều cầu nguyện thì thôi hưu thôi vậy họ chỉ hiểu chừng đó thì ta cũng không nói gì.

[35:51]Rồi à rồi Niết bàn là gì? Niết bàn là giác ngộ. Đó, thì cái giác ngộ này ta cũng không định nghĩa được. Tuy nhiên, ta có thể tạm nói một cách là giác ngộ là sự tột cùng của trí tuệ, sự siêu đẳng của trí tuệ, mà tột cùng của trí tuệ là gì? Là cái gì cũng biết, điều nhỏ nhất, nhỏ hơn cả một nguyên tử cũng biết, và điều mênh mông lớn như vũ trụ vô tận cũng biết hết. Chỉ có một cái không biết, số lượng chúng sinh. Phật nói: "Số lượng chúng sinh Phật không biết hết, nhiều quá." Tràn ngập trong các cõi giới thế giới này, thế giới kia. Mỗi một thế giới vì nó từng con con ve, con bọ mà nằm rải rác, con kiến nằm ở đất tràn ngập hết cõi đất này, mình cũng bó tay luôn. À.

[36:41]Cho nên Phật nói câu đó rất là hay, nói số lượng chúng sinh Phật không biết hết. Thì cả cái vũ trụ này như vậy, mặc dầu bao nhiêu cái vận hành của các thiên thể, các thiên hà, Đức Phật giống như biết hết vì ngài cũng nói xa nói gần trong nhiều kinh điển. Như về vũ trụ mênh mông là biết hết. Rồi bản, rồi cái thế cái vũ trụ vật lý biết, vũ trụ trong thế giới siêu hình của các cõi, ngài cũng biết hết. Sự tương tác giữa các cõi biết hết. Ừ cái sự luân chuyển qua các cõi, Đức Phật biết hết. Bởi vì đó là sự sự giác ngộ. Rồi cái sự tái sinh của chúng sinh, rồi đi sâu vào trong nội tâm của chúng sinh,

[37:20]cái cấu trúc tâm thức của mỗi con người để tạo thành cái vô minh hay giác ngộ, biết hết. Rồi cái định luật cực kỳ quan trọng của vũ trụ này là luật gì? Luật nhân quả, Phật biết rất rõ. Nên nếu bây giờ ta có một cái môn gọi là môn nhân quả học mà dạy từ lớp một cho tới hết đại học cho tới tiến sĩ, vẫn chưa bao giờ hết được cái môn nhân quả học đó. Bởi vì môn nhân quả học cực kỳ tinh vi, cứ càng đào sâu là càng bất ngờ, càng đào sâu là càng có nhiều cái bất ngờ, và chỉ có Phật mới hiểu hết á. Nên cái sự giác ngộ là cái trí tuệ tột cùng. Thì cái chỗ trí tuệ giác ngộ này ta nói được, nãy giờ ta nói một loạt là vậy,

[38:02]chứ còn cái trạng thái của Niết bàn đúng là không nói được. Rồi ta nói nữa Niết bàn là gì? Là sự tột cùng của đạo đức. Cái này ta có thể nói được một số, sự tột cùng của đạo đức, hừm, đạo đức là lòng vị tha, là sự yêu thương. À. Nhưng mà cái yêu thương của Phật hoàn toàn không giống như người cha người mẹ thương con, hay bạn bè thương nhau, vợ chồng thương nhau, rất là khác nữa. À, cái cái tình yêu thương đó vô hình, vô tướng, không dấu không vết mà tràn đầy, cực kỳ rất là khó giải thích, rất là khó giải thích. À ta nói ví dụ thế này. Ví dụ như người mẹ thương con, nghe thấy con khóc lên cái lật đật chạy bồng con lên liền, hỏi:

[38:52]"Con cái gì vậy con?" Thấy nó có vẻ đói cái lật đật lấy gì? Lấy sữa cho nó cho nó bú là muốn cho con mình không bị cảm giác khó chịu, không bị đói, không bị khổ thế này thế kia. Đó là cái tình yêu thương bình thường của chúng sinh với nhau. Ta thương nhau thì ta muốn cho nhau mọi điều vui vẻ, thuận lợi, hạnh phúc. Đó là cái bình thường. Nhưng Phật thương ta thì Phật không hề muốn cho ta được mọi điều dễ dàng như vậy, mà điều quan trọng là Phật muốn cho ta cái gì? Đạo đức. Phật muốn cho ta có nhiều phúc, Phật muốn cho ta có con đường tu hành đưa đến giác ngộ. Cái đó mới là mục tiêu mà Phật thương ta,

[39:37]nên không hề giống như cái tình thương yêu bình thường của nhân thế, và đó là lý do mà nhiều khi ta không hiểu được, ta không hiểu được. Ta không hiểu được, ví dụ nơi, "Trời sao đời con khổ quá, con lạy Phật hoài mà không thấy Phật cứu?" Tại vì trong cái giai đoạn đó, Phật muốn cho ta trải nghiệm cái sự khổ đau lúc đó nó rất cần thiết của một con người như vậy. Của con người trong giai đoạn đó khổ đau như vậy là cơ hội để họ vượt lên. Chứ không giống như một cái người khổ đau rồi suy sụp là bởi vì họ không có duyên với Phật pháp khác, nhưng có những con người sau khổ đau họ vượt lên một cách cao

[40:17]thượng, tốt đẹp hơn, và cái khổ đau đó là điều cần thiết, là điều cần thiết. Cũng giống như ăn cơm vậy đó, cứ cho ăn cơm ngọt ngon mình ăn không được, phải có cái gì nữa mới ăn được? Ớt, làm ơn cho miếng ớt. Vậy chứ mà làm sao? Lại dễ ăn cơm. Cũng vậy, cuộc đời ta mà cứ cho đường hoài mình bị tiểu đường chết hết, cho nên cuộc đời này cũng cần phải có ớt, đúng như vậy, đời phải có ớt.

[40:45]Nên bây giờ nói về Niết bàn vậy thì ta đầu tiên là cái niềm tin của ta, cái chánh kiến của ta là đặt vào cái mục tiêu tối thượng để mà ta đi tới. Đó là cái gì? Sự giải thoát, sự tột cùng của thanh tịnh, tột cùng của trí tuệ, tột cùng của của đạo đức, rất khó diễn tả bằng lời. Và những ai may mắn, có bản lĩnh, có trí tuệ, có phước thì đặt niềm tin vào Niết bàn, vào cái mục tiêu mà mình đi tới. Còn cái người mà không có phước, không có bản lĩnh mờ mờ, do dự với cái mục tiêu của mình là người không đủ chánh kiến. Nên bây giờ nói đi vào ta học Bát Chánh Đạo là cái chánh kiến đầu tiên thì cái yêu cầu đầu tiên là ta phải

[41:30]xác định được cái mục tiêu mà ta tu tập đi tới đâu, chính là Niết bàn. Mà Niết bàn là cái gì? Không nói rõ được. Không nói rõ được mà ta có niềm tin rất là vững chắc, hướng về đó không không lay động, không lung lay, không dao động, không mơ hồ, không do dự thì cái người này là loại người gì? Một loại người nhắm đến một mục tiêu, đặt niềm tin tuyệt đối vào một mục tiêu mà mục tiêu đó nói không ra.

[42:02]Loại người này loại người gì? Hả? Coi chừng có người định nghĩa ta là khùng. Nhưng mà chỉ ta mới biết là ta anh hùng, không phải khùng. Chỉ những người rất bản lĩnh, rất có công đức mới chọn cái mục tiêu kỳ lạ như vậy. Chứ còn đa phần ta xác định một mục tiêu bởi vì mục tiêu đó được nói ra rất rõ ràng. Ví dụ như: "Anh học làm gì?", nói: "Học làm bác sĩ." Rõ ràng phải không? Đi chữa bệnh. Nói: "Anh anh đầu tư này làm gì?", "Để lên làm đại gia." Mục tiêu rất rõ ràng. Còn: "Anh tu làm gì?", "Niết bàn." "Niết bàn là cái gì?" Mình ẹo qua ẹo lại nói không được. Nói nói không được mà sao lại chọn nó là mục tiêu kiên định như vậy?

[42:41]Đó, đây mới là cái khó, đây mới là cái chánh kiến. Cái chánh kiến đầu tiên đã là cực kỳ khó khăn rồi. Vậy mà ai dám chọn cái mục tiêu này thì đây là người có chánh kiến, thực sự như vậy nha.

[42:59]Rồi có một cái chánh kiến này nữa là ta phải cẩn thận là cái chữ "không" trong đạo Phật.

[43:08]Với người bình thường của chúng ta cái gì cũng có hết trơn á, ta cần có tiền, ta cần có gia đình, ta cần có giàu sang, ta cần có danh vọng, cái gì ta cũng cần có hết á. Và chính những cái gì ta cũng cần có làm cho ta gì?

[43:24]Phiền não, bị cố chấp, bị vướng bận và đau khổ, mệt vô cùng. Nghĩa là thấy chúng sinh loay hoay loay hoay trong những cái có của mình, mới quá khổ đi. À, vì vậy những bậc Đạo sư bắt đầu nói ra cái gì? Không, không có gì hết, coi tất cả như như không. Tiền của như chiêm bao, như mây nổi. Rồi đến nỗi trong kinh là sao? Có ai xin vợ Bồ Tát cho vợ luôn. Còn ai xin chồng thì không cho, ta thường thường như vậy.

[44:05]Cứ coi tất cả như không và cái việc mà coi tất cả như không giống như là một dấu hiệu của một sự tự tại, giải thoát, ý là như vậy. Và cứ đi sâu vào trong đạo Phật, cái cái lý về không này cứ được đào xới, được phát triển rất là nhiều trong kinh tụng á, trong đạo lý, trong câu nói chuyện, trong thiền ngữ nhiều lắm á. Và cái người nào mà gọi là thấy cái gì cũng không được xem là một người tu tập cao siêu trong đạo Phật. À. Và ta cứ có cảm giác đó, hễ ai nói nhìn cái gì cũng không, người này tu giỏi. Và đây không ngờ cũng là một tà kiến. Không ngờ nó cũng là một tà kiến. Đầu tiên cái chữ không nó có tính đối trị với cái tham

[44:51]chấp của ta, nên các vị nói nhìn mọi cái như không. Nhưng mà khi ta đi sâu vào thiền, tâm ta vào định được, thực sự thấy cái gì cũng không. Đó là cái thấy rõ ràng luôn á, chứ không phải là cái gượng ép mà ai ép mình. Cái đầu tiên mà chúng ta nghe nói về không, cái gì cũng không á, đó là một cái ám thị, một quan điểm, một triết lý thôi. Nói ví dụ như mình mời người bạn tới nhà mình chơi, cái nhà mình thì giàu nha, có nhà lầu rồi mọi thứ đẹp. Cái ông bạn ổng khen, nói: "Ồ, anh có phước quá ha, nhà anh đẹp quá ha." Cái mình nói: "Ối, cái gì của cải thế gian này vô thường, vô nghĩa như không anh ơi." Nghĩa là giữa cái đang có mà mình

[45:33]thấy nó như không, đó là một quan điểm sống, một triết lý sống của đạo Phật. Và người ta lại càng nể mình, thấy: "À, giữa một cái cái cái cái sự giàu sang như vậy mà lòng mình vẫn thanh tịnh, vẫn nhẹ nhàng, không chấp không nhất gì hết, vẫn coi nó như không, mình tu giỏi thiệt, tu giỏi thiệt." Ý là như vậy, đó là một quan điểm sống. Nhưng mà khi mà mình thực hành thiền định mà tâm vào định được thì cái này không phải quan điểm nữa mà là thấy, thấy rõ nó như vậy, tất cả là không. Và ở trong cái giai đoạn mà thấy tất cả là không, xin thưa, đó là tà kiến. Đây rất là lạ. Mỗi một giai đoạn ta tiến bộ vào trong thiền,

[46:18]một loại tà kiến sẽ xuất hiện theo đó. Và có một giai đoạn như vậy, ta không thấy có gì thì thôi, có nữa, và nếu an trú đó ta sẽ nhập vô sở hữu xứ định, không có cái gì hết, coi như tất cả là không. Và thậm chí ta phủ nhận nhân quả luôn, không có cái gì hết và chuẩn bị đọa súc sinh. Nguy hiểm như vậy. Nghĩa là thấy mình tu tiến lên tới mức độ cao, tâm rất thanh tịnh rồi, bắt đầu tà kiến xuất hiện và có thể làm ta đọa, và đọa rất nặng luôn. Đây là điều rất là lạ. Nên cái chữ không này vô cùng nguy hiểm. Nên vì vậy, khi mà ta đầu tiên đến với đạo, cái chánh kiến mà quan trọng ta phải phải phải giữ rất kỹ đó là gì?

[47:08]Luật nhân quả. Hễ nhân này thì quả nọ, nhân này thì quả nọ. Mọi cái từng chi ly, nhỏ nhặt phải nắm cho hết để sau này khi mà bỗng nhiên cái tà kiến không nó khởi lên trong tâm mình thì ta còn có cái luật nhân quả giữ ta, giữ ta lại. Chứ còn không ta bác hết á, bác hết, rất là nguy hiểm. À, ví dụ gặp một người đáng kính, ta không kính trọng bởi vì tất cả là không, ta đọa liền, mất phước liền. Gặp một người làm điều bậy bạ, ta bỏ mặc vì tất cả là không, ta không cần giáo dục, ta không cần nhắc nhở, ta bị đọa liền, ta mất phước liền. Gặp người cần giúp đỡ, ta không giúp đỡ bởi vì tất cả là không, ta mất phước liền.

[47:52]Nên cái không coi vậy chứ là một tà kiến nguy hiểm. Và đạo Phật, nếu cái Phật giáo mà ai cũng bị nhiễm tà kiến không thì ta sẽ thấy một điều là Phật giáo sẽ suy tàn. Thứ nhất, những đệ tử của Phật không còn ai có phước, kể cả Tăng Ni hay là Phật tử. Tại không thích làm phước nữa, không thích làm phước nữa. Gì cũng không, không nỗ lực, không cố gắng để tạo phúc. Cái gì cũng buông bỏ, buông xả, bỏ mặc. Ta không tích lũy được phước lớn trong cuộc đời này. Mà toàn bộ đệ tử của Phật đều thiếu phước thì Phật giáo mạnh lên được không? Không. Phật giáo hưng thịnh hay không là sự góp lại cái phước của của toàn bộ những đệ tử Phật.

[48:38]Cũng giống như trong một quốc gia vậy, mình nói dân giàu thì nước mới mới mạnh. Tức là cái người dân mà ai cũng có phước hết thì quốc gia đó mới hùng mạnh được. Còn nếu trong quốc gia mà người dân không có phước, ai cũng nghèo nghèo nghèo thì làm sao quốc gia đó hùng mạnh được? Thì đạo Phật cũng vậy, tức là những đệ tử Phật phải có phước lớn thì Phật pháp mới hưng thịnh lâu dài. Và vì vậy là nếu chúng ta vướng bởi cái tà kiến không, coi chừng là chúng ta đang thúc đẩy sự suy tàn nhanh chóng của của đạo Phật. Đầu tiên ta phải nói về luật nhân quả cái đã. Không phải cái gì cũng không đâu, cái gì cũng bị chi phối bởi luật nhân quả.

[49:22]Nói câu đó là chuẩn nhất, chứ đừng có vội vàng nói cái gì cũng không, nguy hiểm vô cùng. Đời ta cũng tiêu mà ta góp phần làm suy yếu cả đất nước mình, cả đạo Phật của mình. Cứ phải làm phước, siêng năng làm phước. Khi ta làm việc trong cái môi trường của cơ quan, của xã hội, của nhà nước thì mình làm vô cùng tích cực, làm gấp mười lần cái đồng lương mình mình nhận. Thì như vậy mới là còn dư cái phần phước trở lại. Nha. Cái chữ không hết sức là là là cẩn thận, đây là một loại. Rồi bây giờ nói, ví dụ như nói có người hỏi câu này: Cái câu chuyện mà khi ngài Huệ Năng nhận được y bát của Tổ Hoằng Nhẫn, trong đêm là Tổ Hoằng Nhẫn đưa qua sông đi luôn,

[50:11]tại vì biết sáng hôm sau là thế nào cũng bị quậy. Sáng hôm sau mọi người phát hiện mà cái y tổ mà truyền cho một cái tên cư sĩ chẻ manh, lúc đó ngài khoảng mười mấy hai mươi tuổi thôi, mà là cư sĩ chưa xuất gia, quần áo thì tồi tàn, rách rưới, ngôn ngữ chữ Hoa nói chưa rành mà ôm mất cái ngôi tổ thì không ai chấp nhận, trong cái thành kiến con người không chấp nhận. Người mà nối ngôi tổ phải là Thượng tọa Thần Tú. Đó là một người mà giống như trưởng tử ở trong chùa, trong đại chúng, một người anh lớn cai quản hết mọi việc. Thì bây giờ nếu mà ông Ngũ Tổ mất thì ông Thần Tú này nối ngôi mới là điều hợp lý.

[50:49]Bỗng nhiên có một điều vô lý xuất hiện và cái tâm lý khủng khiếp đó không ai vượt qua nổi, không ai đủ đạo đức để vượt qua nổi. Cho nên là Tổ Hoằng Nhẫn phải kêu ngài Huệ Năng trốn đi luôn. Khi ngài trốn đi rồi, ôm vượt qua sông rồi ngài đi, thật ra ngài đi cũng không nhanh được, cũng không nhanh bởi vì cũng vừa vừa thôi. Nên sáng hôm sau mà khi mà biết cái chuyện đó rồi thì họ xúm họ đuổi theo, đuổi chút xíu gặp liền à. Có mấy ông giỏi võ rồi ổng thi triển khinh công à là chạy lướt lướt lướt trên mặt cỏ, mặt cây cành cây thế này, chạy bay bay bay. Hồi xưa họ giỏi võ lắm.

[51:25]Thì bắt được liền, bắt gặp ngài. Cái ngài để cái y bát bên cục đá, ngài nói: "Đây là cái pháp vi diệu của Phật, làm sao dùng sức mạnh lấy được?" Thì ông kia ổng thấy cái y bát xếp để trên đá ổng lại ổng chụp gỡ ra, gỡ không không nhúc nhích nổi. Thì bắt đầu cái mọi cái hung hăng, mọi cái toan tính này kia nọ từ từ biến mất hết mới chắp tay xin lỗi, nói. Rồi sau đó mới mới mới hỏi đạo lý thì Tổ Huệ Năng mới nói câu này: "Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, cái gì là bản lai diện mục của Thượng tọa Minh?" Thì trong kinh không ghi rõ sau đó ông kia có ngộ đạo hay không. Nhưng mà thường qua một câu hỏi mà dí vào tận cái tâm thức người ta dễ ngộ đạo lắm.

[52:09]Thường ngộ đạo hay do một câu hỏi, tự câu hỏi trong đầu mình bí mật cũng làm cho mình bùng ngộ lên, nhiều người đã được như vậy. Thì lần này là cái câu hỏi là do một người bên ngoài hỏi là ngài Huệ Năng mới hỏi cái ông mà ổng rượt theo đầu tiên á, tại ông này là giỏi võ nhất á: "Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, cái gì là bản lai diện mục của Thượng tọa Minh?" Thì không biết ổng có ngộ hay không, trong kinh không ghi rõ, vì sau đó là ổng mất tiêu luôn, không thấy nhắc lại. Và cái câu này nó trở thành cái câu truyền đời truyền thừa trong Thiền tông của Trung Hoa. Một người tâm thanh tịnh thì không nghĩ thiện,

[52:45]không nghĩ ác, vì cả thiện và ác đều là

[52:51]chuyện giả. Chỉ tâm thanh tịnh đó mới là cái lõi, mới là cái gốc. Ý là như vậy và từ đó trong đạo Phật ta xuất hiện một tà kiến hiểu lầm, coi thường điều điều thiện luôn, vì thiện với ác phải phải bỏ. Không ngờ đó là một tà kiến.

[53:13]Thiện và ác không phải là hai cái đứng ngang nhau,

[53:19]mà cái ác là một cảnh giới rất là thấp. Cao hơn cái ác mới là tới cái cái thiện, và cao hơn cái thiện là sự thanh tịnh của nội tâm. Chúng ta phải đi qua giai đoạn: bỏ cái ác, còn lại cái thiện, bỏ cái thiện mới còn lại cái cái thanh tịnh. Chứ còn cái câu nói mà bỏ thiện bỏ ác để còn lại cái thanh tịnh là cái câu đó hàm ý xếp thiện và ác bằng nhau. Đó là một tà kiến. Và tà kiến này gây hại cũng mấy nghìn năm trời. Ta coi thường việc thiện, coi thường cái tâm thiện, đâu biết rằng muốn đi vào cái cõi thanh tịnh phải đi xuyên qua cái cổng thiện lành. Phải rất thiện, tâm phải thuần thiện thì mới tới cái giai đoạn định tâm được.

[54:11]Nên ở cái chỗ này vậy, ta phải nhớ hễ tâm ta động thì chỉ động trong điều điều thiện. Hễ ta phải bận tâm thì phải bận tâm trong điều thiện, thì khi buông cái động đó ra, buông cái bận đó ra, rớt lại còn lại cái gì? Cái thanh tịnh, đó là đúng. Chứ không có được hễ mà động tâm thành ra cái ác, cái ác là phải trừ diệt từ từ rất lâu rồi. Nên ở đây vậy, chúng ta cẩn thận với cái chữ không, và cẩn thận với cái tà kiến mà coi thiện ác bằng nhau. Tại vì lúc đó quýnh quá, gấp quá không có thời gian, nên Tổ Huệ Năng đã hỏi một câu cho cái ông kia. Nhưng mà cái câu đó do không giải thích rõ làm cho mấy ngàn năm nay ta xếp thiện và ác bằng nhau.

[54:58]Hễ tâm động, tâm ác hay tâm thiện đều là động, và động là sai, bỏ hết thành một tà kiến rất nguy hiểm. Nên hôm nay vậy ta phải chỉnh cái đó lại. Chỉnh lại và khi ta chỉnh điều này, ta nghĩ ngài Huệ Năng sẽ vui, vì lúc đó quýnh quá, lúc có thời gian khẩn cấp quá ngài nói vội. Bây giờ có thời gian, mình ngồi ngâm nga, ca hát, mình ngồi mình nói nói lại cẩn thận một chút. Ác phải bỏ rồi mới cao hơn cái ác là điều thiện, vượt qua khỏi cái cái điều thiện rồi mới tới cái tâm tâm thanh tịnh, nó là một tiến trình có thấp, có có cao, chứ hai cái thiện ác không bằng nhau được, nhớ như vậy.

[55:47]Một cái chánh kiến nữa là ta phải hiểu về cõi Trời và hiểu về Thiên Chủ chính xác hơn.

[55:55]Ví dụ như bây giờ ta nói không có cõi Trời, tà kiến à. Không có ông Trời là một tà kiến. Thực sự có cõi Trời và thực sự có ông Trời. Trời tức là Thiên Chủ, chữ Chủ có thể đọc là Chúa cũng được. Ở trong chữ Nho cái chữ Chủ nó là giống như chữ Vương vậy, ở trên đầu nó có dấu chấm ở trên. Ai học chữ Tàu thì sẽ biết á, trên có cái chấm dưới là chữ Vương là đọc là Chủ cũng được mà đọc là Chúa cũng được. Nên ở đây là cái chữ ta nói chữ Thiên Chủ đọc là Thiên Chúa cũng không sao, cùng chữ. Và đặc biệt một điều nữa là trong cái vũ trụ quan của đạo Phật, Trời không phải một cõi, mà Trời nhiều cõi, nhiều tầng.

[56:37]Tùy theo cái mức độ tâm thức, tùy theo mức độ công đức, tùy theo mức độ tu tập mà chúng sinh sẽ đi về cái cõi Trời nào đó thích hợp. Và điều đặc biệt là trong cõi Trời có hai loại, ba loại luôn á, Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Những cái phải nói là cái vũ trụ quan của đạo Phật này ta không bao giờ có thể tìm thấy ở đâu nữa, chỉ bởi vì Đức Phật là đấng Đẳng Đẳng Chánh Giác mới nhìn thấy được cái vũ trụ quan. Cõi Trời mà tới ba loại: Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Cõi Trời Dục giới là gì? Là gồm những thiên tử nhưng vẫn còn yêu, vẫn còn yêu. Cho nên nói ví dụ nói: "Mày mày tu mà mày cứ yêu hoài." Nói:

[57:24]"Không, cõi Trời cũng còn yêu." Vậy đó ví dụ. Là trên cõi Trời vậy đó, có mấy tầng trời, kể cả cõi Trời Đâu Suất cũng là Dục giới. Nơi đó chúng sinh vẫn còn yêu, vẫn còn yêu đương. Rất rất giống với cái trần gian này. Nhưng mà nếu người ta ở trên đó người ta biết tu và khước từ thì có thể lên lên cao hơn nữa. Giống như ở dưới cái vùng Châu Đốc ta vậy đó, cái thời mà kháng chiến chống Pháp, cũng có những vị anh hùng chiến đấu rồi bị chết, chết rồi họ sinh vào trong cõi Thần. Mà khi trước khi chết vì là trong chiến đấu họ cũng có người yêu và hai người cùng chết. Hai người cùng chết thì trong cái cõi đó họ gặp

[58:05]lại nhau thì đáng lẽ họ họ kết đôi với nhau. Nhưng mà không biết làm sao trong cõi đó họ lại gặp được những vị cao những vị đạo sư, cao sư nào đó dạy dạy dỗ cái họ giữ tâm thanh tịnh để họ tiếp tục tiến tu lên. Mặc dù vẫn còn ở Dục giới nhưng giữ thanh tịnh như như Sắc giới để có thể lên cao hơn. À, đây là những cái điều đặc biệt như vậy. Và cái cõi cao hơn nữa là những cõi Trời cao hơn nữa là cõi Trời Sắc giới là chỉ có hình tướng thôi chứ không còn cái dục bên trong, không còn cái yêu đương bên trong, rất là đặc biệt. Là cái cõi những cõi đó cái chúng sinh ở cõi đó người họ lớn như cả cái núi á.

[58:48]Hào quang chói rực, hương thơm ngào ngạt. Thì đó là cái trong kinh nói như vậy và ta cũng tin vào điều đó vậy. Kháng vì họ thanh tịnh, họ đạo đức thì tự nhiên thân họ tỏa ra cái hào quang, tỏa ra cái uy lực. Như có người nói như có người hỏi nói: "Mẹ con tự nhiên cái tinh thần bất ổn, mất ngủ, tán loạn rồi giống như vong nhập." Nói: "Thì đúng rồi." Đó là dấu hiệu suy nhược thần kinh và vong nó nhập liền. Nghĩa là sao? Khi ta bị bệnh suy nhược thần kinh, ta mất cái cái hào quang và ma nó nhào vô chiếm thân liền, vì ma rất thèm cái cơ thể vật lý của con người. Ma họ thấy ai hở là nhào vô liền, còn họ chưa nhập ta được

[59:33]bởi vì ta có cái hào quang bảo vệ xung chung quanh ta. Ai cũng có cái hào quang, quậy cái hào quang nó mất liền, ngoan cái hào quang nó sáng ra trở lại, nên vui lòng đừng đừng quậy, giỏi.

[59:49]Quậy mất cái hào quang là ma vô tới liền á. Cho nên phải cẩn thận, ngoan, tự nhiên hào quang tỏa ra, ma không nhập vô người mình được. Thì ở trên các chư thiên các cõi Trời vậy, Sắc giới là những vị có những vị họ chứng quả Thánh chứ không phải không, không phải là chỉ do phước đâu, hay là do thiền định đâu, mà họ chứng tới quả Thánh họ lên tới cõi Sắc giới. Và cõi Vô sắc giới thì càng độc đáo hơn nữa, không có dục, không có hình tướng, không có thân xác luôn, chỉ còn cái tâm. Chư thiên mà không còn hình tướng chỉ còn cái tâm mênh mông thì ta gọi là gì? Ta cứ tưởng đó là Niết Bàn. Chỉ có Phật mới biết vẫn còn bản ngã ở trong.

[1:00:32]Mà bản ngã chỗ nào không ai nhìn thấy, tại vì cái vị đó Vô sắc giới rồi đâu còn vị trí nữa đâu. Cái vị đó không còn cái cõi giới nữa. Ví dụ như ở trên cái cõi Sắc giới ta còn có cõi, ở đây là cõi Phạm Thiên, cõi Quang Âm Thiên, cõi gì đó, cõi Sắc Cứu Cánh gì đó, còn cõi. Nhưng mà cõi Trời mà lên tới Vô sắc giới rồi thì không có cõi.

[1:00:57]Cái đó làm sao ai hiểu, thực sự đúng là chỉ có Phật mới nhìn ra. Cho nên chúng ta rất may mắn làm đệ tử của Phật để hiểu về vũ trụ một cách chính xác, làm cho ta có tăng thêm chánh kiến. Ví dụ một người tin có cõi Trời đã là chánh kiến rồi, nhưng chưa đủ, đúng mà chưa đủ. Hiểu về cõi Trời, tin về cõi Trời phải biết cõi Trời nhiều tầng, nhiều lớp, nhiều cõi và mỗi cõi đó có cái đặc điểm của cái chư thiên ở cõi đó thì cái chánh kiến đó mới gọi là đủ. Đúng mà phải đủ, thì chúng ta vậy, chúng ta theo Phật hiểu về cõi Trời vừa đúng vừa vừa đủ. À và như vậy và như vậy khi ta hiểu về vũ trụ này ta có cái tầm nhìn rất là lớn.

[1:01:43]Vũ trụ này không phải chỉ là vật chất, vũ trụ này còn còn tinh thần nữa, nên vũ trụ này gồm ba điều: một là vật chất, hai là tinh thần, ba là luật nhân quả chi phối tất cả. Vật chất, vô số những nguyên lý của vật chất mà khoa học đang khám phá. Tinh thần, có vô số những nguyên lý của tinh thần ta chưa hề biết, ta cứ đứng đó ngại ngần, do dự, không dám xác nhận. Và luật nhân quả thì lại là là vô số cái quy luật bên trong nữa, ta vậy cũng phải cứ dè dặt, ngần ngại, do dự không dám bước vào. Làm cho sao? Làm cho cái nền văn minh của ta bị kềm hãm lại, không tiến sâu vào vào cái chân lý của vũ trụ này, rất là tiếc.

[1:02:31]Hi vọng 1.000 năm sau, 2.000 năm sau thế giới sẽ khai mở, hiểu về vũ trụ này khác hơn hẳn, hiểu về vũ trụ này gồm ba thành tố: một là vật chất, hai là tinh thần, ba là luật nhân quả. Ta mong như vậy, nghìn năm sau, 2.000 năm sau. Hôm nay thì nếu mà nói về cõi Trời ta nói mênh mông không hết, nhưng mà thôi trong chánh kiến ta nói vậy thôi. Bây giờ ta nói về luật nhân quả, thì luật nhân quả lại là một cái điều thực sự là vi tế.

[1:03:10]Nó đặt trách nhiệm lên vai chúng sinh nhưng nó vẫn mở ra một cánh cửa để cho chúng sinh tương tác với nhau.

[1:03:20]Ví dụ thế này, ta đi ngang trên đường,

[1:03:26]ta thấy một cái người họ họ ngồi bên lề đường à họ họ bị cái gì đó ta không biết, rồi ta nói họ bị cái gì là nhân quả của họ, thôi ta đi luôn. Đúng không? Đúng không? Sai đó. Lấy luật nhân quả ra để biện minh cho hành động đi luôn của mình tưởng là đúng nhưng không ngờ là là sai, chưa hiểu nhân quả. Tại vì nhân quả đó đúng là nhân quả tạo nên cái xui, cái rủi, cái may mắn cho cuộc đời ta, nhưng nhân quả cũng mở ra một cánh cửa cho chúng ta tương tác với nhau, chứ nhân quả không phải là cái gì mà đóng cửa lại giữa người này và và người kia. Giống như thấy một người ngồi bên vệ đường trong cái hoàn cảnh mà có vẻ như họ cần giúp đỡ mà họ

[1:04:17]ngại ngùng hay sao á, thì ta nên tới hỏi có chuyện gì, có phải té xe hay là đi lỡ đường hết tiền bị móc túi, vân vân, có cái gì, coi ta có tương tác gì được hay không. Và trong lòng ta cũng đề phòng phải lừa đảo hay ngồi đây giả bộ hay không, tức là trong đầu mình cũng có tính toán tùm lum trỏng á, nhưng mà đừng tắt cái sự tương tác với với chúng sinh. Nếu mà ta cẩn thận đến mức độ đấy không bị lừa đảo nhưng ta cũng đừng đóng hết cái lòng từ bi của mình lại. Vì thực sự có khi người ta đang cần thật, giúp đỡ thật, mà mình vì lo sợ lừa đảo quá, mình đóng cái lòng từ bi mình lại, mình mất cái tương tác với chúng sinh cũng sai với luật nhân quả.

[1:04:58]Tại vì luật nhân quả ta nhớ vậy đó, vừa giải thích cho ta cái hậu quả kết quả của ta của quá khứ, nhưng mở cho chúng ta một con đường đi về tương lai bằng cái sự tương tác với chúng sinh với nhau, nhớ như vậy. Nên đây khoảng gần 50 năm trước vậy, có chuyện cũng đau lòng, hai anh em nó trong đêm bỏ nhà đi rồi bởi vì bà mẹ kế bả hành hạ quá chịu không nổi, cái hai anh em lén đi mà không biết đi đâu, đi ra đường đèo rồi nó té xuống cái chỗ đèo. Cái ông đó ổng chạy xe đi ngang ổng nghe tiếng khóc ổng dừng lại, thì ổng thấy hai đứa nhỏ nó kêu cứu, ổng ngồi ổng suy nghĩ ổng sợ đêm hôm vậy ổng bị lừa, ổng chạy luôn.

[1:05:36]Hai, sáng hôm sau hai đứa chết luôn, chịu không nổi cái giá lạnh của miền Trung mùa đó. Cho nên ta cũng cẩn thận, sau khi biết câu chuyện câu chuyện rõ ràng hai đứa nhỏ bị mẹ kế đày đọa hành hạ phải bỏ nhà đi đi dắt díu nhau đi tìm một chỗ nào khác rồi té xuống đường đèo rồi gặp được mình mà mình không giúp để hai đứa nhỏ chết, ta nhớ cái ám ảnh nó suốt cả cuộc đời, suốt cả cuộc đời, sợ vô cùng, nên cái nhân quả nên ta hiểu về nhân quả cũng phải hiểu cho có chánh kiến là vậy, chứ ta hiểu một vế là coi chừng hiểu nhân quả mà lại là tà kiến á. Thấy người ta nghèo quá cái nói tại nghèo tại bỏng xẻng

[1:06:17]đời trước nói gì đó ăn giựt ăn đồ vậy rồi thôi kệ nó. Cái chữ kệ nó là bắt đầu tà kiến. Cái câu đầu đúng rồi đó, câu đầu à nó nghèo quá là tại đời trước nó bỏn xẻn, tại đời trước nó lừa gạt, tại đời trước nó làm bất thiện thì câu đó đúng á. Qua câu thứ hai: "Nên nó phải trả quả, kệ nó!" câu sau bắt đầu tà kiến. Hiểu nhân quả là sai. Nên hiểu nhân quả mà đúng chánh kiến thì câu đầu có giải thích như vậy, nhưng câu vế sau vẫn chừa cho ta một cái tương tác, một lòng từ bi, yêu thương để nâng đỡ người ta vượt khỏi lỗi lầm của quá khứ, nâng đỡ cho người ta mở ra một cơ hội của tương lai. Thì hiểu như vậy mới là chánh kiến về về nhân quả, nghe không?

[1:07:07]Rồi bây giờ à

[1:07:13]trong tâm thức của chúng sinh nó có một cái loại hình tâm thức ta gọi là tình cảm. À cái tình cảm cái tình cảm cũng không định nghĩa được đâu. Ví dụ mình gặp người đó mình ghét, gặp người đó mình thương, gặp người đó mình ngưỡng mộ, gặp người đó mình kính trọng, gặp người đó mình tôn kính. Thì những cái loại đó nà ghét nà, khinh thường nà, yêu thương nà, tôn trọng nà, ngưỡng mộ, cái đó thuộc gọi là tình cảm. À và cái tình cảm này nó là một cái động lực rất là lớn để chúng sinh tạo nghiệp. Mà trong 12 nhân duyên nó gọi là cái gì? Ái. Ái sinh thủ, thủ sinh hữu. Nhớ giùm nha mấy cái gọi là mấy cái đạo lý căn bản của Phật dạy phải nhớ cho kỹ á, ừ.

[1:08:05]Ái duyên thủ, ta ngắt ngang ngay chỗ ái duyên thủ thôi. Ái tức là tình cảm, thủ là bắt đầu tạo nghiệp. Nghĩa là khi ta có tình cảm bắt đầu ta mới tạo nghiệp. Và cái nghiệp của chúng sinh hầu hết đều do tình cảm. Cái mắt xích tình cảm rất là quan trọng. À ta thương ai thì ta làm cái điều gì để mà cho người đó được vui vẻ, được hạnh phúc, đó là tạo nghiệp. Ta ghét ai, ta muốn người đó phải đau khổ, cái ta làm cho người đó đau khổ là tạo nghiệp. Ta tôn kính ai, ta muốn làm cái gì đó để vinh danh người đó, để cho mọi người biết đến người đó, để cho cái công nghiệp người đó lan tràn khắp trong cuộc đời này, đó là tạo nghiệp.

[1:08:50]Mà đây gọi là tạo phước á, tức là ái duyên thủ. Nên cái ái này quan trọng. Và nếu cái ái này được xử lý đúng thì cái nghiệp mà ta tạo ra phía sau toàn là những gì? Những điều tốt đẹp. Còn cái ái này mà xử lý sai thì những cái gì ở phía sau đó, cái thủ phía sau, tức là cái tạo nghiệp phía sau là những điều điều tồi tệ dẫn ta xuống địa ngục. Nên cái ái này quan trọng vô cùng. Và cái ái này nó là một cái gì? Là một môn học, một ngành học, một chuyên ngành, một đạo đức, một đạo lý, một khái niệm triết học, một bộ môn quan trọng chúng ta phải xử lý cả cuộc đời, cả cái con tim của mình.

[1:09:39]Ví dụ khi tâm mà thường khi ta đi vào thiền định á, cái ta muốn là giữ tâm thanh tịnh, cho nên những cái tình cảm thương ghét đó ta đè nó xuống, ta làm cho nó lắng dịu và ta nghĩ rằng khi tâm không còn ái, không còn cái tình cảm thương ghét, ta mới là người tự tại. Không phải. Cái đó cũng là một loại tà kiến không á, chứ sự thực cái ái cần được xử lý cho cho đúng. Tâm thanh tịnh gì thì thanh, nhưng gặp người nghèo phải thương xót. Ừ. Gặp một cây tràn ngập lá hoa phải yêu quý. Ừ. Gặp một con vật nó trong cái thân phận súc sinh của nó, mình phải xót xa, gặp người nghèo phải thương hại, gặp một người có đạo đức phải kính trọng,

[1:10:30]à gặp những cái người mà ví dụ lỡ sinh vào trong gia đình, có gia đình, buộc lòng cũng phải có trách nhiệm, có mối quan tâm. Gặp những bậc chân sư phải làm sao? Phải tôn kính. Và đối với Đức Phật thì làm sao? Tôn kính tuyệt đối luôn. Đó là những loại tình cảm mà ta phải xử lý cho nó hợp lý cho đúng. Không thể Chớ ta không phải có một con tim vô cảm, không phải không có ái mà là giải thoát, không phải. Mà chính là cái con tim đó, cái ái đó được xử lý đúng, đó mà tạo nên điều thiện, tạo thành những cái phước nghiệp mà nó mới là đạo đức. À. Bây giờ một người tu thiền tâm được thanh tịnh, gặp một bậc đáng kính không kính,

[1:11:17]cái cái thanh tịnh nó coi lại, nó sai tà kiến á, nó rơi vào hư vô á. À. Gặp một người khốn khổ không có khởi tâm từ bi thương xót thì cái không khởi, cái ái nó không không xử lý đúng thì người này cũng không có trí tuệ, cũng không có đạo đức. Nên cái ái phải được xử lý cho đúng. Và cái cái hay của chúng ta là ở cái gọi là cái văn hóa Á Đông chúng ta có cái xử lý cái ái này rất là khéo. Ví dụ đối với cha mẹ phải làm sao? Hiếu kính. Đó là cái xử lý. Đối với thầy cô giáo phải sao? Phải tôn trọng. À đối với bạn bè phải tương trợ. Đối với người nghèo phải lá lành đùm lá lá rách. À. Nói: "Con cũng rách, không ai đùm con." Không, nếu con rách thì con đùm luôn lá nát.

[1:12:02]Là nghĩa là còn vẫn còn người khổ hơn mình, đừng sợ nha. Vậy đó. Tức là cái ông bà ta, đạo lý của ông bà ta là xử lý cái ái này rất là kỹ. À, gặp bậc hiền nhân quân tử, vân vân, thì làm sao làm sao, là ông bà ta dạy nếu mà đọc kỹ lại những cái câu ngạn ngữ, tục ngữ, ca dao của Việt Nam, ta thấy ông bà mình dạy cái xử lý cái ái rất là hay. Nhờ vậy mà ta có bề dày văn hóa của dân tộc Việt Nam ta rất là hay. Và Đảng Cộng sản Việt Nam cũng vậy, trong cái nghị quyết của Đảng là phải bảo tồn bản sắc văn hóa của dân tộc, ừ đây là điều tuyệt vời sáng suốt của Đảng, rất là hay. Ừ.

[1:12:43]Rồi bây giờ cái văn hóa Tây phương họ tràn vào, nhiều khi đưa cái quyền trẻ em lên cao, cha mẹ không được quyền dạy con. Nó vô nó mách thầy cô giáo hay thưa cảnh sát thì cha mẹ đi ở tù. Cái đó là phá hoại văn hóa và xử lý cái ái này sai lầm. Vài trăm năm nữa Tây phương họ mới thức tỉnh. Rồi ở trong nhà vậy, nói ơ có một cái nhạc sĩ ổng kể chuyện: "Con nói con lại nhà người bà con chơi cái thấy cây đàn, nói con có học đàn không?" Đứa bé nó nói: "Không. Nói tại ba mẹ mua mà đàn mà không hỏi ý kiến con. Con có thích đâu mà mua, phải tôn trọng ý kiến con chứ!" Kêu hồi xưa mà đè ra đập cho nó một trận, nhưng bây giờ đập nó nó thưa cảnh sát á.

[1:13:25]Thì đó, đó là cái hỗn láo và coi mình quan trọng, không có cái khái niệm vâng lời bởi vì sao? Bởi vì không kính trọng cha mẹ, không có hiếu kính cha mẹ, còn ta kính trọng thì ta vâng lời. Ừ. Nên có nhiều người cũng vậy, nhiều người trong đầu cả một đời tới tuổi già rồi không bao giờ biết một cái nốt nhạc bẻ đôi là là gì. Nốt son nói son xón son son gì cũng không biết, đô đố đồ cũng không biết, học nốt nhạc chỉ biết đồ mi là đồ phá, không biết gì nữa. Nhưng mà bởi vì làm sao? Bởi vì vâng lời sư phụ.

[1:14:02]Vâng lời sư phụ lấy giấy lấy viết ra ngồi vẽ là một phách, hai phách, một phách rưỡi. Nhưng mà khổ vô cùng, rồi nhắn tin nói: "Con con thương sư phụ, con ráng học chứ con quá khổ." Nói: "Không, vậy là tốt, cứ vâng lời. Tại vì có kính sư phụ, có thương sư phụ phải vâng lời và làm cho xã hội nó tốt đẹp lên." Rồi sau này khi mà ai cũng biết nhạc hết, cái số lượng người mà giỏi nhạc tràn ngập trong xã hội, ta sẽ thấy cái nền văn minh, cái văn hóa của dân tộc ta bước lên một bước rất là cao, rất là hay. Nhưng mà sư phụ chưa nói tới còn mối liên hệ đối với thiên đình nữa đó, đó là chưa nói đó, hay vô cùng.

[1:14:35]Nên ta xử lý cái ái cho đúng chứ không phải là không ái. Chứ nói có như ví dụ nói vô Đức Phật sư phụ dạy là cứ phải tôn kính Phật tuyệt đối, có nhiều người nói: "Không, không có cái ái, lòng bằng phẳng không thương không ghét." Đó là tà kiến. Đối với Đức Phật mà không tôn kính rồi ta không có đường đi, ta không có phước và ta va vào đâu cũng gặp toàn mấy tà sư không à. Nói bậy nói bạ rồi tin, tại người ta không có phước, không có cái lòng tôn kính Phật nên ta không có phước, toàn gặp tà sư. Còn ta xác định ngay đầu tôn kính Phật tuyệt đối tự nhiên ta được cái phước là khiến ta gặp minh sư. Dù ông minh sư đó ổng xấu xấu chút cũng ok không sao hết, ờ không sao hết.

[1:15:20]Rồi một cái chánh kiến nữa là cái sự tương tác với thế giới vô hình. À, người chết rồi không hết, nhớ giùm câu đó. À, nếu họ mang tội nhiều quá thì họ xuống địa ngục làm súc sinh và lơ lửng, họ làm những cái vong linh lẩn quẩn quanh ta. Còn nếu họ rất có phước thì họ lên lên các cõi cao, chứ chết rồi không phải là hết, đó là cái chánh kiến, phải nhớ. Và cái số người mà quá ác để xuống địa ngục thực sự không nhiều lắm, nên có cái nên cái số người mà lơ lửng, không ác lắm, không thiện lắm, chưa có chỗ đầu thai rất nhiều. Nói: "Ủa, chết rồi chưa có chỗ đầu thai là sao?" Nói: "Làm gì dễ, bộ dễ có đầu thai lắm à?

[1:16:11]Đâu có dễ có đầu thai." Tại vì khi ta đầu thai vào nơi nào là cha mẹ phải rất là thương ta. Nhưng mà hồi xưa mình có gieo cái ơn nghĩa gì với cái cái cặp vợ chồng đó chưa? Mình có thương người ta nức nở chưa? Mà bây giờ mình bắt mình nhảy vô làm con người ta, người ta phải bồng, phải ẵm, phải đút từng muỗng cơm, muỗng sữa, là thức đêm thức hôm lo cho mình, mình bệnh mình khóc phải phải thức theo mình mệt gần chết luôn, nuôi một đứa con rồi thiếu điều người mẹ muốn chết theo. Không phải là đơn giản, ông chồng thì phải đi kiếm cơm, bà mẹ thì nuôi con rất là cực khổ, phải nói công lao cha mẹ là biển trời lai láng là là điều không thể phủ nhận.

[1:16:51]Nhưng mà cái ơn nghĩa gì để mình đầu thai vào nhà anh ta? Xưa giờ mình nói cái gì cũng không mà, mình không thương ai mà thì làm sao mình đầu thai vào nhà người ta được? Thấy không? Phải nói cái gì cũng có, cái gì cũng nhân quả, mình đã đã đã tạo nên ơn nghĩa rất nhiều cho cuộc đời thì mới có gia đình họ đón mình vô đầu thai chứ. Chứ còn không ai cho mình vô làm con, đâu có dễ đâu. Cho nên rất nhiều cái vong linh mà không có chỗ đầu thai là một điều có thật. Còn những người đang ngồi đây là những người đã có chỗ đầu thai rồi mới ngồi đây.

[1:17:28]Như hôm nay ví dụ trong cái pháp hội này không phải chỉ có những người mà ta nhìn thấy được ngồi đây, rất nhiều những người ta không nhìn thấy họ cũng tụ hội về đây để họ nghe và thậm chí cũng có chư thiên ở trên ngồi xuống kiểm soát cái bài giảng hôm nay chứ không phải là không phải là dễ đâu. Ừ, rồi còn có những người vô hình họ ngồi nhiều khi họ ngồi bên cạnh mình đó mình không hay. Đâu có dòm sau lưng coi, coi coi có ai không? Nhanh lên. Đó, những người đó và

[1:17:58]mình không thấy họ cho nên mình không quan tâm đến họ. Không quan tâm đến họ là một tà kiến. À, mình không thấy họ là chánh kiến, tại điều đó tự nhiên, không có thấy đâu, nó là một sự thật. Mình không quan tâm đến họ là một sự thật nên mình nói điều đó mình không sai. Nhưng vì mình không thấy họ nên mình phủ nhận họ, rơi vào tà kiến liền và cái tà kiến này rất nguy hiểm. Cái hay của đạo Phật Việt Nam á, nhất là những cái chùa đó hay cúng a chẩn tế siêu độ cho các vong linh rất là hay á. Nhờ mấy cái vị thầy đó lắm á chứ không phải không. Nhiều khi tụng thì không hiểu gì nhưng mà cái tấm lòng của vị đó đối với các vong linh á cũng một cái tác

[1:18:45]động lớn vào trong thế giới siêu hình, cũng làm cho thế giới này thêm thêm an ổn. Nên có lần sư phụ mới nói ở Việt Nam mình chứ đạo Phật mình hay có cái cầu siêu, coi vậy chứ cái người mất họ đỡ khổ lắm á. Chứ còn bên Tây phương không có, bên Tây phương họ chỉ có tặng cái hoa. Đi ra thăm mộ một năm một hai tặng hai ba lần, thảy xuống bó hoa ăn gì đó được ăn đi rồi thôi về nhà. Không cho cái bánh, không cho cái gì hết trơn á, để hoa đó thôi ăn được thì ăn. Ở đây có ai ăn hoa được không? Có không? Hoa thiên lý thì còn xào được một chút ha, hoa kim chi thì xào nấu canh được một chút, chứ gặp mà mấy cái hoa gì?

[1:19:25]Hoa gì đó? Hoa ly hoa đồ ăn vô nhiễm độc chết liền. Có mấy ông nhậu vậy, ngồi cái làm nồi nước lẩu cái thấy trên bàn thờ có cái bó hoa ly, nói hoa này ăn được, cắt nhúng nồi lẩu, thì nồi lẩu do nó có cái gia vị đó nên nó mất cái mùi. Ăn ngon quá sau là sáu ông vô bệnh viện sạch, tại nó có chất độc, nó có độc tố trong cái đó. Ông bà mình ngày xưa không ăn thì vui lòng đừng ăn, vậy đó. Còn cái gì ông bà mình đã ăn ngàn năm rồi thì cứ an toàn an tâm mà ăn, vậy đó. Thì trong cái thế giới siêu hình cũng vậy, ta không thấy họ nhưng vui lòng phải nghĩ lấy bản thân mình ra. Mình nghĩ mình chết mình có hết không? Không phải không?

[1:20:03]Thì những người khác cũng vậy, họ chết họ không hết, họ còn đâu đó và rất cần sự tương tác. Nếu những vị đó họ chết rồi họ có phước thì họ là những người đang giúp mình, đang bí mật hỗ trợ mình. Nhiều khi những ý nghĩ tốt đẹp, những phương án, những kế hoạch trong đầu mình hiện ra không phải của mình, là do ai đó họ đưa vào, họ gia hộ, họ giúp mình. Đó là những người họ có lực. Còn có những chúng sinh họ không có lực, họ đói họ khổ thì họ ngược lại họ cần mình giúp đỡ, tương tác. Trong đạo Phật Đức Phật có nói một trong những cái định nghĩa được gọi là tà kiến là không cúng tế. À, không cúng tế trong kinh Nikaya ghi rõ là một tà kiến.

[1:20:45]Nên đây gọi là sự tương tác giữa cõi người với các cõi siêu hình. Ta cúng cho các chư thiên tử cõi trời không biết họ ăn được hay không nhưng đó là tấm lòng. Ta cúng thức ăn cho các vong linh, họ có dùng được và đó cũng là lòng từ bi và đó là chánh kiến. Vì cái chánh kiến này phải xác định, đó là điều mà ta cũng biết ơn những cái vị kinh sư, như vậy á. Tuy nhiên khi ta tụng kinh cho những người âm, vui lòng tụng cái kinh mà người sống cũng hiểu được, bằng cái ngôn ngữ mà họ hiểu được. Ví dụ mình ra nước ngoài thì không có tụng kinh Việt Nam được, ta phải tụng cái ngôn ngữ nước họ.

[1:21:24]Họ hiểu được họ mới có được lợi ích, như vậy. Rồi một cái chánh kiến khác nữa, nếu mà lỡ sư phụ giảng dài quá thì chịu khó nghe nha, nhịn đói nghe luôn đó là chánh kiến á.

[1:21:45]Khi một vị chứng Tu-đà-hoàn, không biết vị đó nhìn thấy cái gì nhưng vị đó thường mở miệng nói một câu. Câu gì, ai nhớ? À, phàm cái gì có sinh thì có có diệt, cái gì có bắt đầu thì sẽ có chấm dứt. Không biết vị đó thấy cái gì. Ở đây có ai thấy chưa? Giơ tay lên nói, có ai thấy cái gì không? Ừ ừ, người nào tu sao đó không biết mà bỗng nhiên thấy cái gì đó cái buột miệng nói: "Ồ, phàm cái gì có sinh thì có diệt." Thì mình gặp mấy người đó thì mình làm ơn mình mình chắp tay mình mình xá, coi chừng chứng Tu-đà-hoàn rồi. Còn cái người nào cứ đầu hôm tới sáng, sáng tới chiều, chiều tới khuya lẩm nhẩm nói câu đó hoài thì mình phải làm sao?

[1:22:29]Đưa vô Biên Hòa. Chứ không phải, cẩn thận. Nên Thì cái người Tu-đà-hoàn á, cái gì có bắt đầu thì có chấm dứt, đó là một sự thật. Cái gì có bắt đầu thì có chấm dứt. Nhưng mà lỡ có những cái không có bắt đầu thì làm sao? Cũng sẽ không có chấm dứt. Ta suy luận ra cái thứ hai. Vì cái gì là cái có bắt đầu và cái gì là cái không có bắt đầu? Hầu hết cả hai đều là tính chất chung của vạn hữu là có bắt đầu và không có bắt đầu. Nên trong khoa học có nói cái câu đó vậy đó, là vật chất và năng lượng không có hoàn toàn mất đi mà chỉ là chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác. Đó, mấy cái ông mà kỹ sư là nghe câu đó là chịu liền đó.

[1:23:21]Giỏi vật lý là hiểu liền, phải không? Chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác, không có mất đi. Câu đó rất là hay. Nhưng mà ở trong một đoạn ngắn thì ta thấy có bắt đầu, có chấm dứt, thực sự có lúc ta sinh ra là một em bé và tới có lúc ta phải vô trong hòm, gọi là có sinh và có diệt. Nhưng mà nếu nhìn sâu hơn nữa thì trước khi ta sinh có phải ta đến từ hư vô không? Không, ta đến từ một kiếp trước, ta đến bằng một cái hương linh. Rồi sau khi ta chết, có phải là hoàn toàn là cát bụi không? Không. Ta cũng, hửm, còn vẫn còn một linh hồn để đi tiếp, nên thực sự là không bắt đầu và không chấm dứt.

[1:24:00]Nhưng ở trong nhìn ở một góc nào đó thì có bắt đầu, có chấm dứt. Vũ trụ này cũng vậy. Ta nhìn trong một đoạn có một cái ngôi sao nó vừa được thành hình, ta nhìn một đoạn nào ta thấy có ngôi sao nó bùng nổ, nó bị tiêu diệt và đất đá nó bắn bay đi tùm lum trong vũ trụ, có khi nó rơi vào trong trái đất mình tùm lum hết, ngày nào cũng có những thiên thạch nó bay xẹt xẹt là những thiên thạch nó rơi vào trong khí quyển mình nó cháy lên. Mấy cái thiên thạch đó ở đâu ra? Cũng là những ngôi sao nào trong vũ trụ nó bị nổ á, nó chấm dứt đời sống của nó, như vậy. Nhưng mà đối với nó là chấm dứt, nhưng mà nó có chấm dứt không?

[1:24:40]Không, những thiên thạch nó đi, nó phân phát rồi khắp nơi trong vũ trụ này. Và vũ trụ bắt đầu từ lúc nào? Coi chừng tà kiến à. Không có bắt đầu từ lúc nào cả. Vũ trụ này là bất sinh, bất diệt, không bắt đầu và không có chấm dứt. Chỉ thay đổi lúc này và thay đổi trạng thái khác. Vũ trụ không bắt đầu, không chấm dứt. Còn nếu ta cứ khư khư bắt buộc vũ trụ phải có bắt đầu, ta bắt đầu rơi vào tà kiến. Phải hiểu điều đó. Nhiều thứ trong cuộc đời này cũng như vậy. Nhưng khi ta nhìn, ta thấy một đoạn ngắn, ta hiểu có bắt đầu, có chấm dứt. Nhưng nếu nhìn xa hơn, không bắt đầu, không chấm dứt. Ừ, mà nhờ hiểu như vậy, ta không rơi vào đoạn kiến, không rơi vào thường kiến.

[1:25:29]Không rơi vào đoạn kiến là sao? Đừng nghĩ có một khúc ngắn có bắt đầu, có chấm dứt. Không rơi vào thường kiến là sao? Là đừng nghĩ rằng mọi thứ duy trì mãi một tình trạng mãi mãi. Không có cái gì duy trì mãi một một trạng thái mãi, nó phải luôn luôn biến đổi. Hiểu như vậy là không rơi vào đoạn kiến, không rơi vào thường kiến là ý là như vậy, nha.

[1:25:55]Khoa học đứng chỗ nào trong cái chánh kiến của đạo Phật?

[1:26:03]Khoa học nó gồm có Toán học, Vật lý học, Hóa học, Sinh học, nhiều thứ khác nữa. Có nhiều người nói triết học là khoa học? Không không, triết học không phải là khoa học. Triết học là lý luận vui chơi thôi, có khi đúng khi sai tùm lum trổng. Còn khoa học phải có thực nghiệm. Và chính vì có cái tính thực nghiệm đó, cho nên cái cái sự cái cái chứng cứ cứng của khoa học rất là chắc và nó được tính toán nữa. À nó được tính toán thành con số, nó được chứng minh qua thực nghiệm. Vừa là thực nghiệm vừa là tính toán lý thuyết, hai cái đó ăn khớp nhau, ta có những kết quả, ta có những nguyên nhân, ta có nguyên lý.

[1:26:48]Thì những kết quả, những nguyên nhân, những nguyên lý được tổng kết qua tính toán và thực nghiệm ta gọi là khoa học. Thì khoa học cứ càng lúc càng phát hiện, càng khám phá, càng tìm ra những điều mới ứng dụng cuộc sống của chúng ta rất là nhiều. Thì ngày hôm nay, khoa học đã tiến tới mức độ mà giống như con người ai cũng có thần thông vậy, chỉ cần có một cái điện thoại thôi. Chỉ cần có điện thoại thôi là ta có thể liên lạc với nhau trên khắp thế giới. Chỉ cần có cái điện thoại thôi, ta mở ra xem tin tức khắp thế giới. À, những cái điều mà mấy mươi năm trước ta không hình dung được nhưng ngày hôm nay bắt đầu là có hết nên cái điện thoại giống như là có thần

[1:27:27]thông và nó gây thành một cơn bệnh mới, gọi là bệnh gì? Bệnh nghiện điện thoại. Bệnh nghiện điện thoại. Trên a nó có mấy cái clip vừa thật vừa dàn dựng. Có một cái clip thật này nè. Trong cái nhà đó thì cái bà đó bả bồng đứa con bả mở cái tủ lạnh bả để đứa con trong cái tủ lạnh. Bắt đầu bả đóng cửa tủ lạnh bả nói chuyện điện thoại. Nói chuyện điện thoại, vì đây là cái camera nó quay trong gia đình á, cho nên nó nó nó không có dàn dựng. Ông chồng ổng về thì bả bả cũng tiếp tục nói chuyện điện thoại, bả lấy cái dĩa cơm cho ổng ăn mà trong cái dĩa không có gì hết trơn. Ổng cầm điện cái dĩa lên không có gì hết trơn. Ổng bắt đầu bực rồi.

[1:28:01]Nhưng mà có lẽ chắc ổng nào giờ cũng hơi nể vợ, ổng cũng thuộc hội của Phật Quang mình, ổng hơi nể nên cũng không dám cằn nhằn, ổng hơi nhăn nhăn cái mặt, đi làm về đói rồi đưa cái dĩa không có gì trển. Rồi bắt đầu ổng mới quay qua hỏi: "Đứa con đâu?", bả cũng không biết luôn. Bị cũng bắt đầu cầm cái điện thoại. Bắt đầu mới tức, mới mới bực tức quá, ổng mới mới mới khởi nghĩa, kháng chiến nổi lên, giựt cái điện thoại của bả ổng quăng mà không dám quăng xuống nền sợ nó bể rồi bả đánh ổng. Cho nên ổng quăng xuống cái cái ghế nệm để đừng có vỡ. Bắt đầu hai vợ chồng sấn nhau đi chạy vòng vòng, cho đến khi ổng nghe tiếng khóc, ổng đứng im lại nghe tiếng

[1:28:30]khóc, ổng nghe hình như trong tủ lạnh mở ra đứa nhỏ nằm trổng. Chậm chút xíu nữa nó chết. Rồi bà vợ bả mới khóc quá chừng rồi lỗi bả. Vì sau này mới gỡ camera ra coi thì bả đặt vô chứ ai đặt vô. Đó là cái câu chuyện có thật. Còn có clip nó dàn dựng vậy. Cái bà đó bả có đứa con nhỏ trên xe, bả đi xuống xe, bả đóng cửa lại. Bả nói chuyện điện thoại, cái thằng nhỏ nó loay hoay nó đùa nó đạp nhằm cần số, xe bắt đầu chạy, trôi. Bả không biết. Rồi có người phải sau này phải đuổi theo chiếc xe, phải lấy cục đá chặn xe lại để cứu đứa nhỏ. Đó là cái clip dàn dựng. Nhưng nó nói lên một cái thực tế là gì?

[1:29:05]Là ta bị bệnh nghiện điện thoại vì trong đó nó mê quá, hấp dẫn quá. Rồi có nhiều người nói lúc này người ta ít đi chùa, nói vì người ta mắc đi vô điện thoại. Tại trong chùa không có gì hết. Trong chùa có mấy thầy tụng bài kinh họ không hiểu. Trong điện thoại có nhiều thứ, tụng kinh trong điện thoại hay hơn. Trong đó có đủ, trong đó có Lê Bê La, có Angela Phương Trinh rồi trong đó đủ hết trơn á. À có cái gì con gì đó, con Thủy Tề phải không con? Con a ăn Thủy Tề. À đó. Thì trong đó nó có đủ hết thì thôi đi chùa làm chi nữa? Đi vô điện thoại hay hơn. Cái câu đó ta nói thì nghe đau lòng, chứ nhưng mà sự thật là khoa học

[1:29:44]nó tiến bộ cho đến cái ngày mà cái đạo học bị bỏ ra phía sau. Mà cái đạo học mà khi bị bỏ lại phía sau như vậy, nó là một tổn thương, tổn thất rất lớn cho nhân loại. Tại vì trong cái đạo học nó có đạo đức, có đạo lý và có con đường của sự giác ngộ. Bây giờ người ta không quan tâm tới đạo nữa, người ta chỉ quan tâm tới cái khoa học vật lý thì thực sự thấy giống như là tiến bộ nhưng đó là một sự gì? Một sự mất mát rất lớn của nhân loại này. Bây giờ phải làm sao? Thì bây giờ đạo học phải vượt lên, áp dụng khoa học vào trong đạo học để đem đạo học đến với mọi người qua con đường khoa học. Chứ đừng có ngắt bỏ khoa học, đừng có tách rời cái đạo học và

[1:30:32]khoa học mà phải sử dụng khoa học để truyền tải đạo học. Nhớ, sử dụng khoa học để truyền tải đạo học, chứ đừng có mà tin cái truyền thông bẩn ở trên điện thoại là chết nha, nha, nói bậy nói bạ chết á.

[1:30:49]Cho nên cái khoa học nó là sự tiến bộ của vật lý, vật chất ra tạo thành những cái sản phẩm cụ thể là những máy móc có thể cho con người bay lên trời, có thể giúp cho con người liên lạc với nhau từ rất là xa, cái hiệu quả nó rất là lớn. Nhưng nó cũng có thể là sự tàn phá khủng khiếp. Người ta có thể dùng khoa học để chế thành những cái vũ khí mà giết người hàng loạt, chế những quả bom hạt nhân, vân vân vậy, nổ một cái không biết bao nhiêu người chết, tàn phá hết cái nền cái sự sống của nhân loại này. Nên khoa học là con dao hai lưỡi. Vì sao vậy? Bởi vì khoa học thiếu đạo học. Đó là lý do trách nhiệm của tất cả chúng ta phải gắn đạo học vào

[1:31:30]khoa học, để cho khoa học đừng trở thành vũ khí giết người. Đây là trách nhiệm của tất cả chúng ta và đây là chánh kiến. Cái người mà tôn thờ khoa học mà không biết gì về đạo học, đó là cũng là một loại tà kiến. Còn cái người mê đạo học mà phủ nhận khoa học cũng là một tà kiến. Khoa học là một sự thật mà, được tính toán, có thực nghiệm, có kết quả, có sản phẩm thì khoa học là một sự thật, ta phải tôn trọng. Nhưng để yên ngang đó thì khoa học sẽ trở thành một con quái vật tiêu diệt hành tinh này. Nên vì vậy, ta công nhận cái giá trị của khoa học nhưng ta phải ghép đạo học vào với khoa học để bảo vệ cái thế giới này.

[1:32:13]Nhớ, đó là chánh kiến nha.

[1:32:24]Một cái chánh kiến nữa là sự cầu nguyện.

[1:32:30]Khi ta quỳ xuống ta chắp tay ta cầu nguyện lên đấng thần linh, thần thánh, thì đó là đúng hay sai?

[1:32:40]Đúng hay sai? Ví dụ với cái người mộ đạo thì đó là một hành vi đẹp, phải không ạ? Ta quỳ xuống trước một đấng trên cao ta cầu nguyện, à cầu nguyện không biết cầu cái gì nhưng mà cái hình ảnh đó là đẹp cái đã, nó nó biểu lộ một cái gì? Một sự khiêm tốn. Biết rằng ta nhỏ bé, còn những vị thần linh cao cả ở trên cao. Ờ nên cái thái độ đó rất là khiêm tốn, rất là đẹp. Còn nội dung cầu nguyện cái gì thì ta sẽ từ từ tính sau. Ví dụ như ta cầu nguyện, nói cầu nguyện Thần cho cái nhà bên cạnh con nó tán gia bại sản để nó bán cái nhà giá rẻ cho con, thì đó là một chuyện khác, hiểu không? Cái nội dung cầu nguyện là nó một cái điều khác là tà hay chánh là cái khác nữa.

[1:33:27]Chứ còn hình ảnh mà ngồi chắp tay quỳ nhìn rất là đẹp. Rồi hoặc là ví dụ như ta cầu nguyện, nói cầu nguyện cho thế giới hòa bình, cầu nguyện cho con người yêu thương nhau, cầu nguyện cho trời đừng có nóng gắt, cầu nguyện cho rừng cây xanh tốt, vân vân. Thì những cái nội dung cầu nguyện đó rất là đẹp. Tức là hình dáng ngồi chắp tay cầu nguyện đã đẹp, mà nội dung đẹp nữa thì rất là, là tuyệt vời. Do đó ta cần có bổ sung cái nội dung cầu nguyện, chứ hình ảnh ngồi cầu nguyện rất là đẹp, đó là một sự khiêm tốn. Nhưng mà tại sao bắt đầu nó bị chê cười, đôi khi cái người cầu nguyện bị chê cười là vì hai lý do.

[1:34:06]Lý do thứ nhất là cái nội dung cầu nguyện nó tào lao, nó ích kỷ và nhiều khi nó ác độc. À ví dụ như ta coi nghe những cái con cầu nguyện ở trên, ví dụ Thánh ban cho con, con nói người ta nghe, con đe người ta sợ, nói bài những bài cầu nguyện rất là hay mà nghe rất kỳ cục. Nó nó nó nó nó nó nó nó nó hơn thua và hung dữ quá. Cầu nguyện cái đó riết cái mình thành quái vật luôn á. Đó. Mình phải cầu nguyện sao cho mình hiền lành, mình thương yêu ha, mình giúp đỡ được mọi người. Nói người ta nghe, đe người ta sợ, nợ người ta không dám đòi. Trời ơi, thiệt là là là.

[1:34:44]Rồi cái, đó là cái thứ nhất là cái nội dung cầu nguyện nhiều khi nó tào lao cho nên cái việc cầu nguyện này bị chê trách. Cái thứ hai nữa là, đối tượng ta cầu là ai? Có thật không? Cái ông Thần mà ta cầu á có thật hay không? Mà nếu mà cái ông Thần ta cầu nó có vẻ nó không thật, làm cho mọi người chê trách. Mà sự thật là, có nhiều cái vị mà ta cầu không có thật, là do ông thầy bói ổng đặt ra. À ví dụ như là nhiều khi Cửu Thiên Huyền Nữ không biết ai, không có trong lịch sử, do ông thầy bói nào đặt ra rồi cứ tin nhau. Rồi hoặc là lạy cái sao La Hầu, Kế Đô, Đội Nồi đó, nay có sao Thái Bạch, Thái Dương gì đó.

[1:35:24]Cái đó, gì những cái nó không có thật, cái làm cho cái việc ta cầu nguyện nó trở thành cái việc như ta bị lừa gạt, ngô nghê giống như con nít dễ tin. Cho nên cái hành vi cầu nguyện coi bị nhiều khi chê trách. Chứ còn nếu nội dung cầu nguyện của ta rất là cao thượng và thứ hai, cái đấng mà ta cầu nguyện là đấng có thật, cao siêu, thánh thiện thì việc cầu nguyện là một điều tốt đẹp. Và phải siêng cầu nguyện. Đó là lý do mỗi ngày ta phải lễ Phật để sám hối, lễ Phật để phát nguyện và lễ Phật để cầu xin gia hộ những cái điều mà ta thấy nó có rủi ro, những điều chính đáng mà rủi ro. Ví dụ như như như Sư Phụ cũng vậy,

[1:36:11]là trước khi đi giảng đều phải cầu nguyện, đều phải xin Phật gia hộ. Chứ nói à, tôi giảng hay lắm, tôi giỏi lắm, lên giảng bậy liền. Chỉ cần một cái khởi tự cao thôi là lên nói bậy liền. Mà đã nói bậy cho nhiều người nghe rồi thì làm sao? Chết, đọa làm chồn liền. Hết sức cẩn thận, lúc nào cũng vậy, trước khi giảng đều phải lạy Phật, mà nếu không lạy kịp là phải thầm nguyện ở trong tâm mình xin Phật gia hộ cho con. Xin giảng làm sao mà phải đúng ý Phật, phải không? Giảng cho mọi người dễ tiếp thu, được chấp nhận, nhưng quan trọng phải đúng đạo lý của Phật. Bởi vì đạo lý của Phật là vi diệu, là mênh mông, là sâu xa mà trí tuệ của ta không bao giờ với tới được.

[1:36:54]Chúng ta chỉ nhờ sự gia hộ của Phật, của chư Bồ Tát, chư Thiên mà ta có thể mới nói lên lời đạo lý của Phật. Còn nếu ta có một chút tự cao là chết liền. Lúc nào mình nghĩ mình giỏi rồi là chết liền. Mà không phải riêng cái việc mà giảng đạo, ta làm việc gì trong đời này cũng vậy, lúc nào cũng phải cầu nguyện. Nỗi đi nghe giảng thôi cũng phải cầu nguyện, là sao? Đi tới nơi về tới chốn trên đường đừng có tai nạn, cũng là một cái lời cầu nguyện. Rồi khi đến đây cầu nguyện có người cho con ăn đừng bỏ con đói, cũng là một lời cầu nguyện. Ăn xong có cơm ăn á nghe giảng xong có cơm ăn ví dụ. Và quan trọng là gì?

[1:37:32]Quan trọng hôm nay ông giảng sư ổng giảng hay đừng để ổng giảng dở tội nghiệp con, đi xa cực quá, phải không? Tức là đều là cầu nguyện.

[1:37:42]Thực tế có nhiều cái việc trên đời

[1:37:46]ta đã tính toán hết 95% rồi, không chắc 5% còn lại là là đã như ý muốn. Dù một thiên tài là những vị tướng đánh trận mạc, những nhà đầu tư, những nhà kinh tế, những nhà chính trị, đủ hết, họ tính đủ hết rồi, cái tài của họ là khủng khiếp rồi nhưng lúc nào cũng sao? Vẫn còn 5% họ không kiểm soát được và cái phần 5% còn lại đó họ phải làm sao? Cầu nguyện thôi, chỉ cầu nguyện thôi. Tính được hết rồi đó nhưng vẫn còn một kẽ hở mà không tài năng nào trên thế gian này lấp đầy được, lúc nào cũng phải cầu nguyện. Nên cái cầu nguyện là một điều đẹp, một văn hóa đẹp. Nếu nội dung ta cầu nguyện là chính đáng và cái Đấng ta cầu nguyện

[1:38:33]là một đấng cao siêu, thánh thiện có thật, rất là tốt nha.

[1:38:42]Một cái chánh kiến nữa ta phải quan tâm nữa là hành vi bố thí, san sẻ. À cái ta sống trên đời do ta có phước cho nên ta có sở hữu một số tài sản, gồm tiền hay vàng hay nhà hay đất. Tức là ta có một số tiền, số vàng, ta tài sản nhà đất, vân vân, gọi là tài sản à tài à đại khái là vậy. Và cái tài sản đó là của ta, trong đạo Phật gọi là ngã sở, là tài sản của ta. Trong Hiến pháp của nước Pháp ghi rất rõ là, cái sở hữu của một người là quyền thiêng liêng của người đó, không ai được đụng tới. Hễ là của tôi rồi là cõi nhà nước cũng không được đụng, ý là như vậy, thiêng liêng vô cùng. Mà đó là chủ nghĩa tư bản á, chủ nghĩa tư bản,

[1:39:36]chủ nghĩa tư sản xem cái tài sản là cực kỳ quan trọng. Và cái điều mà nói là tài sản của mình là của mình không ai được đụng, làm cho mọi người rất thỏa mãn, rất thích. Chứ tài sản của mình mà bỗng nhiên không phải của mình, người khác có thể sử dụng được, lấy được, là một điều mình lo sợ vô cùng, lo sợ. Và ngay cả cái Hiến pháp của Việt Nam cũng vậy. Tuy chúng ta là chọn con đường chủ nghĩa xã hội, nhưng chúng ta cũng phải nhường cái bước về vấn đề sở hữu, rồi quyền thừa kế, quyền trao đổi mua bán các tài sản. Nói gì nói nhưng mà vẫn phải tôn trọng. Ví dụ như đất vậy, đất là sở hữu toàn dân, nhưng mà vẫn làm sao?

[1:40:12]Vẫn được quyền mua bán, chuyển nhượng, thừa kế giống như là tư tư tư hữu vậy. Mặc dù nguyên tắc của Hiến pháp, đất là tài sản chung, nhưng mà sự thật cái lô đất của mình thì nhà nước vẫn cho phép như là tài sản tư. Nên nhà nước cũng phải nhường một bước, vì nó là một điều lạ lùng như vậy. Tuy nhiên khi ta đến với đạo rồi, thì trong đạo có một cái lời khuyên dạy, ta cố gắng mà bố thí, san sẻ. Cái bố thí san sẻ của ta á, ở mức độ vừa phải thì nó là nghĩa vụ, ở mức độ cao cấp thì nó trở thành lòng từ thiện, lòng bác ái. Ở mức độ vừa phải nó là nghĩa vụ nghĩa là sao? Nghĩa là vấn đề ví dụ người ta đóng thuế.

[1:40:58]À trong cái vấn đề ta mua hàng trong đó có thuế ở trỏng á. Ta giao dịch cái gì chứ nhà nước đều lấy một phần thuế. Và chính nhờ cái thuế đó đưa vào ngân sách mà nhà nước mới vận hành cả một quốc gia như thế này. Biết bao nhiêu tiền lương phải trả, tiền điện, tiền đóm, tiền cầu, tiền đường, ôi chu cha, biết bao nhiêu rồi. Nuôi quân đội ta, quân đội ta phải chiến đấu để bảo vệ đất nước chứ. Tất cả đều là nằm trong ngân sách hết, nằm trong tiền thuế. Cho nên khi ta đóng thuế một phần nào đó thì đó là nghĩa vụ bắt buộc. Ta không đóng thuế ta mang tội liền, mang tội với quốc gia, mang tội với trời đất, mang tội với lương tâm của mình.

[1:41:31]Nên cái người trốn thuế là người người mang tội, đừng trốn thuế. Đừng trốn thuế. Nhưng mà nếu ta chia sẻ cái tài sản mình ra nó lớn hơn cái phần nghĩa vụ, thì bắt đầu đã bước vào lĩnh vực gì? Là thiện nguyện, là từ thiện, là là bác ái. Ví dụ như bây giờ ta đóng thuế nhà nước rồi, thì nhà nước lo cho dân chứ mình không lo nữa. Ví dụ bây giờ nhà nước thấy có cái gia đình nó nghèo không nhà không cửa, thì nhà nước bắt đầu cân đối ngân sách cất cho họ cái nhà tình tình thương, thì đó là việc của nhà nước. Còn ta đóng thuế rồi, xong rồi. Nhưng mà ở đây nhiều khi nhà nước ổng tính ra ngân sách cũng không đủ.

[1:42:10]Ví dụ địa phương đó đó có ba cái gia đình đó nghèo khổ quá ở nhà chật chội, cái nhà nước mới chính quyền xã họ mới muốn cất cái nhà tình thương để giúp cho mấy đứa nhỏ nhỏ nó có chỗ ở mà tính ra ngân sách của xã cũng không đủ. Mà xin thì trên huyện họ cũng nói, tao trên đây cũng quá khổ, quá nhiều việc phải lo, thôi tụi bay ráng dưới xã tụi bay lo đi. Biết lo đâu thì chạy tới mình, thấy mình mặt mày cũng đẹp trai, cũng bảnh bao, nha, hiểu không? Rồi mỗi tháng là đi chùa đi đồ, họ biết hết á chứ. Rồi họ tới họ vận động, nói bây giờ thôi có ba cái nhà tình thương này, thì nhờ chú Ngộ ráng đóng giùm cho anh đây.

[1:42:42]Cái ổng ổng thấy mủi lòng quá cái ổng đóng thêm nữa là ngoài cái thuế ổng đã đóng hết rồi, bây giờ ổng phải đau khổ ngắt thêm cái tiền ra để mà phụ xây nhà tình thương. Thì cái đó là ngoài nghĩa vụ, vượt khỏi nghĩa vụ, ta đã gọi đó là gì? Là từ thiện, là thiện nguyện, là lòng nhân ái, bắt đầu nó thành cái phước của ta rồi. Và sống trên cuộc đời này, bố thí, san sẻ là một chân lý, một lẽ phải, một đạo lý. Nhớ đừng bao giờ quên điều đó. Ta có khả năng, cố gắng làm ra nhiều tiền, làm ra nhiều tài sản. Nhưng đừng bao giờ nghĩ tài sản đó là của mình, dù luật pháp công nhận tài sản đó là của mình. Luật pháp công nhận vì luật pháp phải công nhận.

[1:43:31]Nhưng bản thân ta đừng bao giờ nghĩ tài sản là của mình. À. Giống như Sư Phụ vậy. Sư Phụ cũng có tài sản vậy. Sư Phụ cũng có nhà đất. Tại vì có nhiều người có tấm lòng, thấy Sư Phụ coi làm việc đạo tốt cũng hay cúng, con cúng miếng đất này, cúng miếng đất kia. Cúng đất mà có làm chùa nổi không? Không có đâu. Cái giá trị miếng đất một, để làm chùa tốn thêm một trăm lần nữa mới thành được ngôi chùa. Sư Phụ không bao giờ dám bán miếng đất nào, tại vì tâm nguyện của người ta ngay từ đầu người ta muốn làm chỗ tu. Đất có nhiều để đó à, không bán được. Rồi thôi để dành đó để cho các đệ tử mình sau này.

[1:44:09]Các đệ tử sau này thì biết à Sư Phụ đây là đất đây nè, là tụi con thừa kế, Sư Phụ có chết rồi nè. Đây sổ đỏ đây đây đây ghi ra hết tất cả, liệt kê ra hết. Rồi sau này rồi anh em tụi con tùy ý, mà nếu có duyên thì bắt đầu mình xin phép để mình làm điểm tu tập, làm chùa từ từ, từ từ. Không dám phí phạm miếng nào. Nhiều khi nghèo đói cũng không dám, tại vì cái cái đầu của người ta đầu tiên người ta nghĩ khi cúng miếng đất là người ta nghĩ tới làm chỗ tu, không dám phụ cái tâm đó, không dám phụ tấm lòng đó, thôi cứ để đó hoài. Mà cất chùa thì không đủ cất, gấp một trăm lần mới ra được ngôi chùa, vất vả.

[1:44:42]Nhưng mà trong tâm không bao giờ Sư Phụ nghĩ là tài sản của mình cả. Hễ tiếp nhận được một đồng cúng dường, tiếp nhận một cái tài sản gì thì nghĩ đây là của Tam Bảo, của Phật, và cố gắng giữ gìn sau này cho đệ tử của mình tiếp tục nối tiếp mà sử dụng cho đạo để lợi ích cho chúng sinh. Nói khắp nơi mình mà có nhiều cái điểm tu tập có lợi cho mọi người lắm, tại người ta đi xa không được. Quanh quẩn mà cái khu đó mà có một điểm tu, khu đó có điểm tu người ta tới tu nó dễ, nó có lợi, thì cứ nghĩ như vậy. Nên là bố thí, san sẻ là một chánh kiến, là một đạo lý mà ai cũng cố gắng giữ trong lòng mình.

[1:45:20]Nên kiểm tra lại trong cuộc đời mình đã được nhiều cơ hội bố thí, san sẻ, thêm chữ nữa cúng dường hay chưa. Hãy tự hào vì ta có cơ hội để bố thí, san sẻ, cúng dường. Nhiều lúc này ở trên mạng nó hay chê bai việc cúng dường. Nó chê thì kệ nó, nha, nhưng ta phải vui mừng vì mình được cúng dường. Vì khi ta cúng dường là ta đang bảo vệ đạo Phật. À, nha, nhớ như vậy, nhớ như vậy.

[1:45:49]Hết giờ rồi nhưng mà bài chưa hết. Đói bụng chưa? Chưa. Ờ, giỏi, ráng ha, nha. Có đói cũng ráng chịu. Bây giờ Sư Phụ cũng vậy thôi, phải giảng cho xong tại không thể để lấn qua bài hôm sau được. Sống vị tha là một chánh kiến. À. Thầm trong cái vô minh của ta, ta có cái bản ngã, và cái bản ngã nó tạo thành một cái khuynh hướng ích kỷ tự nhiên. Ta lo cho mình trước, ta thương mình trước, nó là điều tự nhiên khỏi cần dạy, ai cũng ích kỷ cả. À. Và ở đây, vì ta ích kỷ nên ta mất cái tương tác tốt đẹp với với mọi người, với mọi chúng sinh, và làm cho thế giới này tăm tối, đau khổ. Cho nên để phá vỡ cái tăm tối, đau khổ của thế giới này,

[1:46:38]ta buộc phải có tương tác tốt đẹp với với nhau. Mà muốn có tương tác tốt đẹp với nhau thì ta phải vị tha. Đừng có nghĩ tới cái lợi của mình mà nghĩ tới niềm đau, nỗi khổ, hạnh phúc, nỗi vui của mọi người. Mà không phải người không, tất cả chúng sinh. Cả con chó, con mèo, con chim, con kiến gì mình cũng nghĩ tới niềm vui của nó. Tức là lúc nào trong đầu phải thương hết mọi người, đó là cái đạo đức của một bậc thánh á. Ta chưa phải là thánh nhưng ta phải bắt chước đạo đức của bậc thánh là thương hết mọi người. Và từ cái lòng thương này nó tạo nên cái khuynh hướng vị tha. Khi ta có cái tâm vị tha, ta cố gắng tạo nên

[1:47:16]cái tương tác tốt đẹp với với mọi người. Và chính cái tương tác tốt đẹp này nó đem đến hai điều: Một, nó xây dựng cái thế giới này đỡ đau khổ. Hai, nó bào mòn cái bản ngã của ta để ta mới đi về được tới vô ngã là Niết Bàn. Cho nên cái việc mà tu tập đi tới Niết Bàn, nó không phải là một con đường duy nhất của thiền định, mà nó phải là con đường của đạo đức, của vị tha, của phước nghiệp. Phải sống rất là từ ái, rất là tử tế, rất là giúp đỡ thì ta mới đi được tới cái vô ngã. Bởi vì sao? Bởi vì ta đi ngược với bản ngã, ta đi ngược với sự ích kỷ. Mà muốn ngược với bản ngã, muốn ngược với sự ích kỷ thì buộc ta phải

[1:48:00]có cái tâm vị tha, hành động vị tha, lời nói vị tha, tương tác vị tha, đem đến lợi ích cho cho mọi người, bắt buộc như vậy. Cho nên con đường đi tới vô ngã là một con đường hành động, chứ không phải là một con đường tĩnh lặng. Con đường hành động, hành động gì? Tạo nên rất nhiều tương tác tốt đẹp với mọi loài, mọi người. Nhớ như vậy.

[1:48:30]Nó có một cái thế này nữa là do quá khứ chúng ta có khi chúng ta thiện, có khi chúng ta ác, vì ngày xưa vô minh mà. Ngày xưa mình chưa gặp đạo mình đâu có biết đâu. Cho nên có khi ta đã phạm sai lầm, cũng có khi ta làm được những điều tốt đẹp. Thì với những điều mà ta đã phạm sai lầm thì đời này ta phải làm sao? Gặp những bất hạnh. Với những điều mà ta đã làm nên điều tốt đẹp trong quá khứ thì đời này ta làm sao? Có những điều may mắn, có nhiều cơ hội. À. Nhưng mà nó khổ cái nè, phía sau cái tâm lý nó lại quậy lên một con đường khác. Ví dụ như đời xưa ta làm điều xấu ác, đời này ta chịu một cái nỗi bất hạnh,

[1:49:16]thì nỗi bất hạnh nó là đau khổ nhưng nỗi bất hạnh nó cũng làm cho ta khiêm tốn lại. Cái hay của vậy, cái hay của đau khổ vậy là mình không dám tự cao nữa. À, không dám tự cao. Ví dụ như có có một em như thanh niên nhắn tin hỏi Sư Phụ, nói Sư Phụ coi có công việc gì cho con làm, cái khả năng của con là có thể tư vấn, à có thể tham mưu ở những chuyên môn rất là cao trong các ngành nghề. Sư Phụ mới trả lời thế này: Khả năng con thì đủ làm thầy nhưng phước con chỉ làm tớ à. Con vui lòng con làm tớ cái đã, còn khả năng cứ để đó, chưa tới lúc tại phước con chưa tới lúc đó. Cứ làm tớ, vui lòng. Thời gian sau nhắn lại, nói:

[1:50:04]Sư Phụ nói đúng, bây giờ con toàn đi làm tớ không. Khiến người này nhờ, người kia nhờ toàn những việc phục vụ, việc giống như việc gia đình vậy đó, lau nhà, quét, rửa chén trong khi trong bụng là một một bụng học thuật, rồi giỏi rất nhiều ngôn ngữ, giỏi rất nhiều ngành nghề, có cái nhìn rất thông minh, nhưng mà không làm gì được hết, không ai nhờ mấy chuyện đó mà nhờ đi lau nhà, rửa chén. Nói Sư Phụ nói Sư Phụ nói phước ơ khả năng con thì làm thầy nhưng phước con làm tớ. Con cứ yên tâm làm tớ nhiều một thời gian cái đã. Mà đó có nghĩa là gì? Rèn cho ta sự khiêm tốn. Trong nghịch cảnh, trong đau khổ,

[1:50:40]trong sự thấp hèn, ta rèn luyện lại được cái tâm khiêm hạ. Mà cái khiêm hạ này mới là cái quý. Cái cơ hội giàu sang coi vậy chứ không quý, mà cái tâm khiêm hạ mới là cái quý. Còn người nào mà được cả hai thì quá tuyệt vời. Cái người nào mà vừa giàu sang mà vừa vẫn giữ được khiêm hạ thì rất là may mắn. Chứ còn đa phần khi đời xưa ta làm được những điều tốt đẹp, đời này ta được hưởng cái giàu sang, vinh quang, ta bị cái kiêu mạn rất là uổng, nó tàn phá trở lại. Nhưng may là nhờ có đạo, mình giàu sang, phú quý nhưng mà đến với đạo, Phật dạy mình khiêm hạ. Nhờ vậy mình được cả hai đều tốt đẹp, vừa có cơ hội tốt đẹp mà vừa khiêm hạ, rất là đáng quý.

[1:51:24]Chứ còn nếu không thì để cuộc đời nó dạy mình. Nếu không, để luật nhân quả nó dạy mình. Nó dồn mình vào khốn cùng đau khổ để cho mình khiêm hạ lại. Vì cái khiêm hạ mới là điều cần thiết. Giàu sang tiền bạc không cần, sự khiêm hạ mới đáng quý. Nhớ như vậy nha.

[1:51:46]Trong cuộc đời này vậy, có những điều ta không lý giải được mà ta không biết là nên phủ nhận hay nên chấp nhận. Trên cuộc đời này đó, có những điều mà thật sự là ta không biết nó đúng hay sai, không biết nên phủ nhận hay nên chấp nhận vì không có cơ sở nào để xác định được, không có cơ sở nào để xác định được. Ví dụ như thế này, ví dụ mình mua căn nhà, mua xong ở vui vẻ, nhưng bắt đầu qua tới tháng thứ hai là có chuyện xảy ra. Đêm là nghe cái tiếng chân đi trong nhà bếp, tiếng bàn ghế kéo, tiếng nồi niêu nó khua. Thì đi hỏi người ta, người ta nói: Trong nhà mày có ma. Mà nói ma là điều gì không khoa học.

[1:52:30]Mình lấn cấn giữa hiện tượng mình thấy và giữa những lời giải thích nó trái ngược nhau, mình không biết nên chấp nhận hay không nên chấp nhận. Trong cuộc đời này là như vậy, ngay cả khoa học cũng vậy, khoa học đến tận cùng thấp nhất của khoa học cũng không chứng minh được. Ví dụ như bây giờ mình nói là ta có cái định đề Ơ-clit là không bao giờ chứng minh được, nhớ không ạ? Ai còn nhớ định đề Ơ-clit? Giọng mặt thấy quên hết rồi. Chỉ còn ông già 80 này nhớ thôi. Từ một điểm ở ngoài một đường thẳng, ta chỉ có thể vẽ được một đường song song với đường ấy và chỉ một mà thôi. Nhớ nha, 80 tuổi rồi còn nhớ đó, còn da mặt quên hết rồi.

[1:53:15]Từ cái định đề không chứng minh đó mà ta dựng lên cả một nền khoa học mênh mông vĩ đại luôn. Đó gọi là niềm tin. Không chứng minh, nó vẫn là một niềm tin. Ví dụ như bây giờ luật nhân quả ta có chứng minh được chưa? Khoa học chưa đủ trình độ chứng minh, nhưng ta vẫn phải, phải tin. Mà nhờ tin được nhân quả, ta dựng lên cả một cuộc đời mình tốt đẹp. Mình sống gì hết sức cẩn thận, chỉn chu, đạo đức từng chút từng chút một, thành cả cuộc đời tốt đẹp. Còn nếu ta phủ nhận nhân quả đó rồi, cả cuộc đời ta sụp đổ. Cũng giống như nếu một người không chấp nhận định đề Ơ-clit rồi, ta không có một nền khoa học mênh mông kỳ vĩ như, như bây giờ.

[1:53:54]Thì bây giờ về nghe trong nhà bếp có tiếng khua thì vui lòng, dù không thấy, dù khoa học chưa chứng minh, nhưng hãy tin có ma trong nhà. Và ma là ai? Họ là người đã từng sống như ta vậy thôi. Họ là bạn của ta, ta tôn trọng họ và nên có một cái tương tác tốt đẹp với họ: cúng cho họ ăn, tụng kinh cho họ nghe. Thì những cái niềm tin mà không chứng minh được mà nó đúng thì cuộc đời ta tốt đẹp lên. Nhưng mà có những cái tin sai thì cuộc đời ta làm sao? Là tiêu tan. À ví dụ như có một người gọi điện thoại nói tới, "Anh có tên trong cái đường dây buôn ma túy trong danh sách đây, và bây giờ anh phải giao hết cái tài khoản ngân hàng của anh cho

[1:54:39]tôi để rồi tôi mới chứng minh rằng anh không có nằm trong đường dây này. Chuyển khoản qua nhanh lên đi". Nghe hù mình chuyển khoản hết thì cuộc đời mình tiêu. Nhớ như vậy. Đó là niềm tin sai, niềm tin sai. Nên vì có những điều ta không chứng minh được, chỉ tin thôi, nhưng làm sao tin đúng, làm sao tin sai? Mà tin sai, đời mình tiêu. Tin đúng, đời mình bay lên. Vậy làm sao mà biết nào mà tin đúng hay tin sai, chấp nhận hay phủ nhận? Đến chỗ này bắt đầu ta bó tay rồi đó, bí rồi đó. Cuối cùng phải làm gì? Quỳ xuống, chắp tay cầu nguyện Phật. À, vậy thôi. Có những cái có cái cái riềng mối cuối cùng nó ngoài khả năng của ta.

[1:55:23]Vì ta nói cái chánh kiến á nó thay đổi theo

[1:55:28]ba yếu tố: Một là theo trình độ văn hóa. Nghĩa là ta học càng cao thì ta nhìn mọi điều trong cuộc đời này nó càng sáng, càng rõ ra. Còn học thấp quá thì người ta nói gì mình không hiểu. Nên tùy theo trình độ. Cái thứ hai nữa là tùy theo thiền định. Cái thiền định ta càng sâu thì ta nhìn cái đạo lý nó rõ ra thêm. Và cái thứ ba là tùy theo quả thánh. Cái quả thánh ta chứng cao thì ta nhìn mọi điều trong cuộc đời này nó rõ ràng ra hết. Nên có ba cái điều ảnh hưởng tới cái chánh kiến của ta. Một là gì? Trình độ văn hóa. Hai là gì? Thiền định. Ba? Quả thánh. Nhớ như vậy. Và vì vậy ta không bao giờ phủ nhận cái trình

[1:56:13]độ văn hóa, cái người có học vẫn hơn. Là đừng phủ nhận những kiến thức vì kiến thức đó cũng là sự tích lũy của nhiều thế hệ, chỉ có cái là ta cẩn thận chắt lọc giống như một người đi, đi đãi vàng. Người ta cẩn thận đãi vàng, bỏ sình lầy đi, giữ lại những mạt vàng mà thôi. Cái vô minh, vô tận mênh mông kiến thức của nhân loại cũng là vậy. Ta cũng phải đãi để tìm vàng ở trong đó, tìm những đạo lý chân chính, tìm những chân lý ở trong cái kiến thức mênh mông của nhân loại như vậy nha.

[1:56:51]Cũng còn mấy ý nữa, thôi nghỉ được rồi. Nói nữa cái thành tà kiến. Nói trễ là, nói quá giờ là một tà kiến nha.

[1:57:03]À xin kính thỉnh đại chúng chúng ta cùng đứng dậy chắp tay hồi hướng.

[1:57:11]Nguyện pháp giới chúng sinh cùng

[1:57:26]tính tướng thoát chốn ngục vô minh đồng viên thành Phật đạo.