[0:10]Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Dạ, thưa các thầy ngồi xuống.
[0:25]Hôm nay mình qua tiếp phần thứ hai là Hạnh xứ. Lại nữa, vị Bồ Tát quán nhất thiết pháp không như thật tướng, chẳng điên đảo, chẳng động, chẳng thối, chẳng chuyển, như hư không không có thật tánh, tất cả lời nói đều dứt, chẳng sanh, chẳng xuất, chẳng khởi, không danh không tướng, thật không chỗ có, không lường, không ngằn, không ngại, không chướng, chỉ do nhân duyên mà có, từ điên đảo mà sanh. Cho nên nói: thường ưa quán sát pháp tướng như thế, đó gọi là chỗ thân cận thứ hai của vị đại Bồ Tát. Này là lý Bát Nhã, hôm trước mình cũng nói rồi phải không? Thôi khỏi nói lại, bỏ, ha, bỏ. Cái gì bỏ được bỏ, nó mau hết, kinh Pháp Hoa nhiều.
[1:24]Phía sau là đoạn kệ thì lặp lại những điều đã nói trong cái văn xuôi, cho nên chúng ta cũng không có lặp lại. Tới cái đoạn nào cần triển khai thì triển khai. Thì một vị mà muốn giảng kinh Pháp Hoa thì phải có cái Hạnh xứ và cái Thân cận xứ, là cái nơi mình sống trong cái môi trường nào và mình thực hành cái pháp gì thì mình đủ uy đức, đủ tư cách, đủ khả năng để nói lên kinh Pháp Hoa này. Đó là ý nghĩa của hai cái phần này. Mình ở trong cái môi trường nào để vừa thuận tiện cho việc tu của mình, mà
[2:10]giữ được cái uy tín của mình, đó là cái ý nghĩa của cái môi trường, là cái thân cận xứ, cái môi trường mà mình phải sống. Như vậy, một cái người mà muốn nói lên cái giáo lý của Phật thì người đó phải sống với những con người
[2:30]tốt, những cái người đàng hoàng, có giá trị để cho bản thân mình không bị ảnh hưởng và không bị mang tiếng lây. Đây là cái khéo của Phật, chỗ này không phải là Phật mà chê chúng sinh này, bỏ chúng sinh kia, nhưng nó là một cái thực tế của cuộc sống. Nếu mà chúng ta nói những lời đạo đức của Phật, nhưng người ta nhìn mình thấy thoạt bữa nay thì đánh bài với người này, mai chơi với cái nhóm đánh số đề với người kia, mốt lại đi vũ trường nhảy disco, vân vân, vân vân thì mình nói đạo đức người ta có nghe? Người ta không tin rằng mình là người thực hành được. Bởi vậy, cái môi trường mình sống nó là một cái
[3:22]gì nó thanh tịnh, êm ả, đàng hoàng, kín đáo. Nói điều này cũng là nói với Phật tử. Nhiều quý Phật tử đi chùa lâu năm, mình biết đạo, rồi trong cái quan hệ của mình với gia đình, với bà con thân quyến láng giềng, đôi khi mình cũng khuyên người này đạo đức, người kia đạo đức. Nhưng mà muốn được, muốn làm được điều đó cho có giá trị, thì chúng ta phải giữ cái uy tín của mình, phải giữ cái môi trường sống, những người mà mình giao tiếp. Những người mình giao tiếp bình đẳng, cái môi trường mình sống khác với người mình giáo hóa. Cái đoạn sau, Phật sẽ nói mình giáo hóa một cách từ bi rộng rãi vô lượng, nhưng mà cái môi trường mà tiêu biểu cho
[4:13]mình sống thì phải có cái chọn lọc, phải có chọn lọc. Cho nên ví dụ mình đối với người xấu ở trong làng, trong xóm, mình không có cái thái độ khinh bỉ họ quá đáng, cần thì vẫn giáo hóa, khuyên nhủ, giúp đỡ họ vì cái lòng từ bi của đạo Phật không có ngăn ngại, nhưng cái môi trường, cái tập thể của mình sống thì mình vẫn phải giữ cho nó đàng hoàng. Giống như đối với các thầy tu vậy, các thầy phải sống trong chùa, trong chúng, à giao tiếp với những người đàng hoàng, không có thân cận với người quyền quý để mình có cái vẻ nịnh bợ, mà không có la cà với những người họ nhậu nhẹt, chơi bời, đàn đúm để mà không có ảnh hưởng tới tai tiếng của thầy tu, vân vân.
[5:07]Thì như vậy mình nói đạo, mọi người dễ nghe. Nhưng không phải là vì cái môi trường sống mình như vậy, cuối cùng mình hắt hủi, xa lánh mọi chúng sinh khác. Những người nào mà độ được, đều cố gắng độ cho họ, phải không? Còn cái Hạnh xứ là những pháp mình phải thực hành, để mình có cái bản lĩnh, có cái khả năng mà giáo hóa. Cái bản lĩnh, cái khả năng đó là gì? Là cái tâm chứng ở bên trong. Tâm chứng ở bên trong: cái tâm mình được thanh tịnh, không chấp trước vì mình an trụ trên lý Bát Nhã; và tâm mình rất là từ bi, thương yêu chúng sinh, phải không, là cái thứ hai; và cái thứ ba là tâm mình hiền lành, nhẫn nhục,
[5:56]bình thản được trước những sóng gió, những nghịch cảnh, những biến động của cuộc đời. Đó, đó là cái tư cách của một người mà có được giáo pháp, có được chân lý, có được ánh sáng. Chứ không thể là một cái giáo pháp giải thoát, bình an mà được nói bởi một người xao động, bất an. Đó. Vì cái giá trị của giáo pháp đó, vì chúng ta nói lên giáo pháp đó, cho nên chúng ta phải thực hành, phải có cái biểu hiện của giáo pháp đó trong tư cách, trong đời sống của mình. Chúng ta thấy cái hình ảnh tiêu biểu vĩ đại nhất về đạo Phật là Đức Phật.
[6:45]Đức Phật là người giác ngộ, giải thoát, dạy nên chân lý, nhưng cả cuộc đời của Ngài không có một điểm sơ hở dù rất nhỏ trong cái tư cách, trong cử chỉ. Rất là nghiêm trang, phải không? Nghĩa là Đức Phật không có một cử chỉ thừa, từng cái lời nói, từng cái dáng đi, điệu đứng, tất cả đều là giáo pháp, đều là giáo pháp sống động hết. Ngài ngồi đó, thì nhìn vào Ngài, cả một bài pháp toát ra dù Ngài chưa nói một lời nào. Ngài nhìn mình, thì cái ánh nhìn đó cũng là cả một bài pháp dù Ngài chưa nói lời nào. Rồi từng cái nhấc chân đi, từng cái đứng quay lại nhìn, tất cả đều là bài pháp, không có một cái gì dư thừa hết.
[7:32]Rồi các vị đại đệ tử của Đức Phật như ngài Xá Lợi Phất, ngài Mục Kiền Liên thật cũng là vô cùng vĩ đại. Hai vị đó vĩ đại cỡ nào mình không biết, mà khi mà hai vị đó tịch, Đức Phật nói như thế này: "Giờ đây trong hội chúng không còn Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên, ta thấy tất cả đều trống lỏng." Tức là Ngài ca ngợi giá trị hai vị đó quá sức. Đức Phật là vị đỉnh núi tối cao, sừng sững làm chỗ quy hướng cho mọi người, nhưng mà những vị đại đệ tử tiêu biểu như ngài Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên thì theo sát với đại chúng để mà giáo hóa, mà dẫn dắt. Những cái tư cách các vị đó không một điểm sơ hở. Cho nên khi mà ngài Pháp Hiển
[8:22]cách Phật sau khoảng ngàn năm, ngài từ Trung Hoa, ngài đi sang Ấn Độ, ngài sang Ấn Độ vào đến những cái vùng mà có đạo Phật, có chư tăng, Tỳ-kheo, thì ngài mới thấy rằng là ở nơi này chư tăng, Tỳ-kheo còn ảnh hưởng được cái phong thái của Đức Phật ngày xưa, cho nên những vị Tỳ-kheo ở đây oai nghi tế hạnh vô cùng hoàn chỉnh. Ngài khen như vậy. Rồi ngài than là chư tăng ở Trung Hoa quá xa cái nơi Phật xuất thế cho nên cái tư cách mình không bằng chư tăng ở Ấn Độ. Nhưng mà chư tăng ở Ấn Độ cách Phật ngàn năm rồi, ở những cái vùng mà mà từ cái giọng nói, từ cái dáng đi, điệu đứng đều là nghiêm chỉnh,
[9:12]tề, chỉnh túc, đàng hoàng, không có sơ sứt. Thì một người tu hành cũng vậy, cái miệng chúng ta nói lên giáo pháp, nhưng cái thân chúng ta là sự thực hành, là biểu hiện không lời, mà chính cái biểu hiện không lời bằng cái hành động, bằng nơi cái thân mình nó là cái giá trị cho cái, cái lời nói. Không thể nào chúng ta nói một lời mà cái thân mình làm cái chuyện khác được. Giống như là thí dụ như là chúng ta đem tiền gửi ngân hàng, thì ngân hàng cho mình một cái cuốn sổ phải không, sổ tiết kiệm. Cái cuốn sổ đó nó chỉ là một cái xấp giấy ghi số, ghi chữ, nhưng nó có giá trị bởi vì sao? Bởi vì nó có tiền thật được, được gởi ở trong ngân hàng.
[10:06]Thì cũng vậy, cái lời nói chúng ta nó là cái hình thức bên ngoài, mà cái cuộc sống của chúng ta là cái giá trị bên trong. Điều đó làm cho chúng ta đủ tư cách để nói lên giáo pháp của Phật. Ở đây có đoạn Phật nói này: "Nếu có vị Tỳ-kheo sau khi ta diệt độ vào được Hạnh xứ này và Thân cận xứ đó thì lúc nói kinh này không có lòng e sợ."
[10:40]Không lòng e sợ là sao?
[10:44]Không sợ cái gì? Ai biết? Ta ví dụ chuyện này chúng ta sẽ thấy, chúng ta ví dụ cái chuyện của mấy ông công an chúng ta sẽ hiểu. Ví dụ như người công an điều tra cái vụ án ăn trộm, cái nhà đó bị ăn trộm, đột nhập vào, lấy đi chiếc xe. Thì công an họ điều tra xong cái họ nghi là cái anh chàng cách đó ba căn, mà không có chứng cớ. Bây giờ để thí nghiệm rằng cái nghi của mình đúng hay không,
[11:22]Cũng cũng nhứ thử, cũng nhứ thử nghen, ở trong người nào đó, giả bộ đánh tiếng với anh chàng đó: "Công an nghi anh lấy xe người ta, coi chừng đi trốn đi không về trễ người ta bắt." Thì anh chàng này nếu là người có lấy xe thì sao? Là phải nhảy liền phải không? Nhảy kịp được không? Cửa trước cửa sau công an đứng chặn hết, thấy nhảy ra chụp liền là đúng liền. Còn nói: "Công an nghi anh lấy xe người ta coi chừng", ổng tỉnh bơ ổng ở nhà bình thường, ổng đi tới đi lui ổng uống cà phê ổng đi tản bộ bình thường thì ổng đâu có lấy đâu. Do đó không có làm điều lầm lỗi nên đâu có sợ. Rồi cũng như trong nhà mình cũng vậy,
[12:04]như là mình ví dụ mình có làm cái gì lầm lỗi với cha mẹ đó, cái cha mẹ kêu mình mắng đúng ngay cái lỗi của mình thì mình cảm thấy cảm thấy làm sao?
[12:19]Mình sợ hãi phải không, bất an, mắc cỡ, tâm mình dao động vì có người nói đúng ngay cái lỗi của mình. Nhưng mà trường hợp mình không phạm mà kêu mình mắng cái lỗi đó thì cái tâm trạng mình lúc đó làm sao? Có sợ không? Không sợ, nhưng mà tùy người, có người thì tức có người không tức. Ví dụ cái người mà không biết tu á: "Trời ơi con không có làm vậy mà nói làm vậy", giận, cãi lại, tức. Còn có người biết tu: bình thản, mình không lỗi thôi không có sợ, không cần trả lời, đính chính. Quý thầy cũng vậy đó. Đâu không phải là quý thầy luôn luôn được tiếng tốt. Có nhiều quý thầy cũng bị những cái tiếng đồn,
[13:09]những cái tiếng oan, những sự vu khống, chống đối, công kích, chỉ trích cũng gay gắt lắm. Có những chuyện mình không hề làm mà không biết sao lại có tiếng nói là mình làm. Thì đối với quý thầy, người biết tu thì nghe người ta nói xấu mình những chuyện đó lòng làm sao? Lòng sao? Có gì phải bận tâm không? Không gì bận tâm, không cần trả lời nữa, không cần trả lời, cứ con đường mình mình đi. Ví dụ có một lần, cái này chuyện cá nhân của tôi mà vì tôi nhất thời tôi không biết nói chuyện ai, khi tôi ở trong cái cốc một thời gian, tôi gặp lại cái cô, cô ni cũng già thì tôi biết cô cũng lâu. Thời gian đó thì cổ tu hành trong cái pháp môn cổ dụng công
[14:05]á nó có cái gì nó chướng ngại không vượt qua được. Vô tình trong một lần cái đám giỗ của con cổ mà tôi đến dự, rồi cổ mới than là sao cổ nhiếp tâm không được. Thì sau khi nghe cổ than xong thì tôi mới chỉ cho cổ. Thì không biết trời xui đất khiến hay cái phước chủ may thầy sao không biết cái tôi nói cũng tầm bậy tầm bạ, thế nên cái cổ nhiếp tâm được. Cái sáng ra nói: "Con đắc được từ bi." Thì lâu gặp lại hỏi cổ, cổ nói: "Kể từ cái ngày đó đến bây giờ là con nhiếp được tâm con luôn." Thì thiệt tôi nói thiệt cũng lù khù có cù độ mạng chứ ông địa nào độ, hên cũng linh thiệt, khiến vậy đâm tôi cũng có chút uy tín, nói mình nói bùa cũng hay.
[14:50]Rồi tới 3 năm sau gặp lại cổ, cổ nhìn tôi cổ khóc. Tôi chả hiểu chuyện gì nói: "Sao có chuyện gì?" Nói: "Con nghe nói ông thầy đủ thứ chuyện hết." Nói: "Mà ví dụ chuyện gì?" "Cũng nhiều lắm." Mình nói: "Ví dụ một cái đi." Nói: "Thôi con nói cái nhẹ nhất." Nói: "Chuyện gì?" "Người ta nói thầy, thầy đi lùng mấy địa chỉ của mấy Phật tử nước ngoài thì gửi thư qua làm tiền người ta." Tôi nghe tôi cười, không trả lời. Thôi không nói nữa, không thèm trả lời nữa. Cổ mới nói: "Con biết thầy nào giờ không phải là người như vậy, mà tại sao người ta nói vậy?" Tôi cứ cười, không trả lời. Sẽ không phải trả lời, không bận tâm.
[15:26]Được thăm hỏi cổ là tôi lại ra đi, vậy thôi. Nhưng mà nếu ai mà nói mình cái lỗi nào mình có là mình giật mình liền à, sợ liền, tái mặt à. Cho nên cái kinh Pháp Hoa chỗ này Phật nói rất là chính xác: Người mà thực hành được giáo pháp, sống được trong môi trường tốt, khi nói pháp lòng không e sợ. Mình ngồi ở trên pháp tòa, mình nhìn mọi người với đôi mắt bình thản, không lo sợ. Nó tạo thành một cái uy lực tự nhiên á, cái điều này rất quan trọng. Cho nên không phải, không phải là chúng ta chỉ nói hay, chỉ nói hay là đủ, mà muốn cho cái lời nói mình có giá trị, nó còn phải kết tinh cả cuộc đời mình cố gắng,
[16:17]cả cuộc đời cố gắng tu hành, không phải là dễ. Đó là thế này, đó gọi là Bồ Tát an trụ trong sơ pháp mới căn bản thôi, mới sơ sơ thôi, chưa có gì. Nghĩa là mình phấn đấu cả cuộc đời mình để thực hành, giữ gìn uy tín sống trong môi trường tốt, mà đây mới nói là trong cái pháp sơ đẳng để xứng đáng nói kinh Pháp Hoa, chưa phải là cao ghê chưa. Quy định quá khó. "Lại Văn Thù Sư Lợi, sau khi Như Lai diệt độ, ở trong đời mạt pháp muốn nói kinh này phải trụ nơi hạnh an lạc, hoặc miệng tuyên nói hoặc lúc đọc kinh đều chẳng ưa nói lỗi của người và của kinh điển, cũng chẳng khinh mạn các pháp sư khác, chẳng nói việc hay dở, tốt xấu của người khác.
[17:07]Ở nơi hàng Thanh Văn cũng chẳng kêu tên nói lỗi quấy của người đó, cũng chẳng kêu tên khen ngợi việc tốt, hiềm oán." Cái điều tốt hay là thế này: Tại sao để nói kinh này thì mình đừng có nói lỗi người khác, không khinh mạn các pháp sư khác, chi vậy? Tại mình nói lỗi người khác á, dù mình có nói đúng vẫn bị quả báo. Vẫn bị quả báo, tự nhiên người ta nhìn nhìn mình người ta cứ tìm lỗi người ta nhìn, người ta nói à. Kỳ lạ hen. Thì cũng con người đó, mà con người thì không ai tránh khỏi khuyết điểm. Chúng ta luôn luôn vừa có ưu điểm, vừa có khuyết điểm. Nhưng mà nếu chúng ta không có gây cái nghiệp thị phi,
[17:52]nói xấu đầu này đầu kia thì người ta nhìn mình á cái người ta hay nhìn cái ưu điểm, mà người ta ít nhìn cái khuyết điểm, là cái phước á. Còn mình á, dĩ nhiên mình vừa có khuyết khuyết điểm vừa có ưu điểm, nhưng mình hay có cái tật nói lỗi người khác thì mình mắc cái quả báo là sao? Người ta nhìn mình người ta không nhìn cái ưu điểm mình, người ta cứ hay nhìn cái khuyết điểm không à. Đó là cái quả báo, chứ con người thì ai cũng vừa có khuyết điểm vừa có ưu điểm, phải không? Ví dụ như tôi nè, nhìn lên tôi thì cái ưu điểm là gì?
[18:29]Cái ưu điểm là biết giảng pháp, nhưng mà cái khuyết điểm nhìn một lát xong thấy cái ông này người ốm nhom ốm nhách, người teo mo teo móp, mặt mày xơ rơ xác rác mà coi. Đó ha. Thay vì nếu mà tôi có phước á, nhìn lên: "Ông thầy coi cũng dễ coi, nói cũng hay ha." Đó là nếu tôi không có mắc cái nghiệp thị phi, người ta nói nghe nó dễ tai, dễ chịu, an tai. Nhưng mà bởi nếu mà tôi mắc cái nghiệp thị phi hay công kích người này, người kia nhìn lên lát: "Ông này mặt mày coi thô lơ xơ rơ xác rác, mắt chõng lơ chõng lỏi, ốm nhom ốm nhách, mũi lòi thò ra nhìn hung quang ghê gớm", vân vân, đủ thứ hết. Rồi còn vô số những việc khác trong đời sống của mình nữa,
[19:07]nhiều khi mình làm đúng người ta cũng nói xấu nữa, ờ. Mình ví mình đi đứng đàng hoàng nói làm bộ làm điệu gồng đực này nọ, còn ví mình đi thoải mái: "Ôi cái người gì đi lất xất", ví dụ vậy. Cũng mình làm việc gì việc tốt người ta vẫn công kích như thường. Ví dụ như quý Phật tử, khi mình có nghiệp thị phi, mình đi làm phước, mình bố thí, làm việc từ thiện, ủy lạo xã hội, vân vân, mình mà mắc nghiệp thì người ta nói làm sao? "Nó làm lấy danh, được cái làm khoe."
[19:40]Còn mà nếu mình không có nghiệp thị phi, mình làm vậy người ta nói sao? "Thật là một người nhân ái, biết làm phước." Cũng cái đó thôi miệng thiên hạ, miệng người không biết đường sao mà nói. Bởi vậy người ta nói đó, tức là: "Ở sao cho vừa lòng người? Ở rộng người cười, ở hẹp người chê." Cái gì: "Béo thì chê béo trục béo tròn, gầy chê xương sống xương sườn lòi ra", vân vân. Đủ thứ để người ta công kích nếu mình có nghiệp, còn mình không có nghiệp thì người ta người ta nhìn khía cạnh tốt. Chẳng khinh mạn các pháp sư khác, tại sao? Ai biết? Vì mình không thích một pháp sư khác ở điểm nào đó mình mắc trúng cái lỗi đó luôn, mắc đúng cái lỗi đó.
[20:31]Ví dụ thường thường mình giảng hay ví dụ vậy, nhưng rồi cái bữa nào đó mình nghe ai giảng mình chê. Mình nói: "Ông này ổng giảng dở quá". Tự nhiên lần sau mình giảng dở ẹc, tổ trác cái khiến mình không còn ý, không còn tứ nói không ra lời nữa. Nói ngọng ngọng ngịu ngịu rồi lát đi xuống ai nhìn mình cũng cười. Là vì cái nghiệp nó đi từ trong tâm mình nó đi ra, nên nghiệp đó không phải là cái gì ở hoàn cảnh bên ngoài mà nó nằm ở trong tâm mình. Mình chê cái điều gì mình mắc trúng điều đó. Nên vì lý do đó mà Phật mới luôn khuyên chúng ta chỉ rải lòng từ bi, đừng có chê ai ngay cả những người xấu nữa.
[21:14]Hôm những lần trước nhắc nhở quý Phật tử tu tập lòng từ bi, quý Phật tử có thực hành được chút nào không? Có không? Nghĩa là khi mình nhìn thấy tất cả mọi chúng sinh, lòng mình đều khởi lên cái niệm là: "Con nguyện thương yêu tất cả chúng sinh này". Có không? Mình hằng thực hành chút nào không? Ráng nha. Bởi vì điều này rất quan trọng. Nó làm sao? Nó thành cái nhân rất tốt cho mình mãi mãi ở những kiếp sau nữa chứ không phải kiếp này đâu. Khi mà mình rải lòng từ bi thuần thục á, mình nhìn thấy một người họ làm điều lầm lỗi thì mình nghĩ gì? Ví dụ mình nghe tên cướp giết người bị bắt, xử toà,
[22:02]vậy nè, cái người rất là ác độc. À tôi ví dụ một ví dụ như là báo Công an mấy chiều có đăng á, cái ông Tương Tuyền gì đó có, có đọc không? Trùm mafia gì đó, có đọc không? Quý Phật tử có đọc không? Không buồn đọc báo ha.
[22:20]Thì cái ông này ổng ác độc dữ lắm. Ổng có đàn em tay chân rồi ổng thao túng các cô gái đó, bắt đi nộp tiền cho ổng rồi ổng đối xử đánh đập người ta rất tàn nhẫn. Rồi sau công an bắt được, điều tra ra. Nếu mà mình đọc những bài báo đó mình thấy ông này như một con ác quỷ, không còn một chút nhân tính, không còn một chút lòng tốt nào nữa hết thì nếu mà mình không biết đạo mình đọc câu chuyện đó mình sẽ khởi nghĩ như thế nào? Mình nghĩ là: "Mấy thằng này đem bắn chết cho rồi, để làm gì. Sống chật đất, hại cuộc đời". Đó, mình nghĩ thế này, lòng mình cảm thấy mình khinh bỉ, mình ghê tởm, mình căm thù những cái con người như vậy.
[23:04]Nhưng mà nếu mình là người biết đạo thì mình nghĩ sao? Nghĩ sao?
[23:12]Lập tức là mình nghĩ, mình biết nhân quả mà, mình biết đạo tức là biết nhân quả thì mình nghĩ thế này: Cái ông này khi mà bị bắt vô tù có thể bị chung thân, chung thân 20 năm gì đó, hoặc là tử hình, hết cuộc đời ổng. Nhưng chưa hết, với những tội lỗi mà phải gây tạo thì ổng sẽ xuống địa ngục. Dưới đó bị thiêu đốt, đau đớn bao nhiêu trăm năm ngàn năm, không phút nào được nghỉ. Cái nỗi đau đớn, hành hạ không chịu đựng được. Hết địa ngục, thoát khỏi địa ngục thì sẽ sinh làm cái loài quỷ đói. Quỷ đói thì không bao giờ được ăn. Tại vì giành giựt của người ta, mà cướp giựt của người ta mà, cho nên bây giờ mình mắc cái quả báo làm loài quỷ không bao giờ có được ăn uống no.
[24:01]Bao nhiêu trăm năm làm quỷ đói tốt qua bớt phước á, hết thân quỷ đói sẽ làm thân súc sinh. Súc sinh một cái loài mà luôn luôn bị người ta đánh đập, bị những con khác cắn xé, không bao giờ được ăn no, rồi người ta bỏ bê, coi thường, xa lánh, rồi phải giết thịt ăn luôn nữa. Rồi đãi bao nhiêu trăm năm ngàn năm bỏ cái thân súc sinh được thân làm người, là một người như thế nào? Một con người thấp hèn, tàn tật, xấu xí, ghẻ lác gì đó mà ai cũng khinh bỉ hết, ai cũng coi thường, xa lánh, nghèo khổ, người ta đày đoạ, hành hạ. Gặp lại những cái chúng sinh mà ngày xưa mình đã hành hạ thì người ta hành hạ lại mình.
[24:47]Cho nên khi mà mình nghe cái câu chuyện đó, mình hình dung ra được cái quả báo mà ông này phải chịu đựng thì lúc đó lòng mình khởi lên cái niệm gì? Thương xót, phải không? Không có căm hờn nữa mà thương xót. Dĩ nhiên mình biết cái quả báo không tránh được, vì cái người này đã làm tội quá nặng thì một điều công bình là phải đền trả. Mà do cái sự đền trả quá đáng nên lòng mình thương xót, không căm thù, mà chỉ cầu nguyện cho những chúng sinh đó làm sao biết được thiện ác, biết được đạo đức, biết được Phật pháp, để sau này vượt khỏi cái thân phận của mình. Đó, đó là người Phật tử sẽ nghĩ như vậy.
[25:31]Còn nếu không phải Phật tử thì mình chỉ căm thù, cái thứ này đem bắn bỏ. Quý Phật tử nhớ, những cái điều này hôm nay mà tôi nói cho quý Phật tử sẽ gặp hoài, gặp hoài trong cuộc đời mình. Mà mỗi lần gặp như vậy thì nhớ ngày hôm nay tôi nói điều này thì mình phải khởi cái niệm tốt đó, chứ đừng có khởi niệm ác, đừng khởi niệm ác. Như mình thấy một cái người mà họ keo mâu, bỏn xẻn, ích kỷ thì mình sao? Nếu mình không phải Phật tử thì mình mình sao, mình tức phải không? Mình chê. Con người gì mình giận, khinh cái người như vậy. Nhưng mà nếu mình là Phật tử thì mình sẽ nhìn thấy cái quả báo mà người đó phải chịu.
[26:18]Quả báo là gì? Để kể câu chuyện cho nghe, chắc có kể rồi đó. Giảng nhiều quá rồi kể tới kể lui hoài. À quý Phật tử có nghe chuyện Trưởng lão Losaka Tissa chưa? Có không? Trưởng lão mà bị đói suốt đời tới lúc mà làm Niết bàn luôn á, nghe chưa? Chưa hả? Câu chuyện như thế này: Ai là Trưởng lão Losaka Tissa? Đó là một đứa bé được sinh ở một cái làng đánh cá. Ngày nó sinh ra, cả làng không đánh được một con cá nào.
[27:01]Kể từ lúc nó sinh ra thì dân làng bị vua xử phạt bảy lần, hồ nước bị cạn bảy lần, nhà cửa của làng bị cháy bảy lần, và cả dân làng rơi vào tình trạng đói kém thê thảm. Thì những người trong làng mới nghĩ rằng: trong làng mình vừa xuất hiện một người nào đó rất là xui xẻo, cho nên phải tìm con người đó đuổi đi. Và họ tìm bằng cách họ cắt đôi cái làng đó ra làm hai. Thì cái làng nào đó mà không có Losaka đó thì làng đó bắt đầu phát triển trở lại. Còn cái nửa phần làng mà có Losaka thì tiếp tục đói kém. Thế là cái nửa đó họ lại chia đôi một lần nữa, phải không? Rồi cái phần nửa này được phát đạt trở lại,
[27:45]còn phần nửa mà dính cái chú bé này lại đói kém. Thế là họ cứ chia đôi chia đôi chia đôi chia đôi rốt ráo còn gia đình đúng đứa bé đó. Họ đuổi gia đình nó ra khỏi làng và cả cái làng đó sống bình yên trở lại. Thì cái gia đình nó bị đuổi đi thì cái người mẹ bị ông chồng ổng đuổi đi luôn, tại vì oán trách cái bà mà có đứa con dị hợm. Nhưng bà mẹ thương con thì nuôi nấng đứa con lên cho nó lẩm đẩm lẩm đẩm tập đi cái đưa cho nó một cái bát. Nói: "Con đến cái nhà đó xin ăn nha". Đứa bé lẩm đẩm đi tới bà mẹ trốn mất luôn. Rồi xong. Thế là thằng bé mới lên bảy tuổi sống như một con quỷ ăn bùn. Xin cơm người này lượm cơm ở mấy cái sàn nước người ta rửa rớt rớt,
[28:25]lượm rửa bỏ miệng ăn, đói khát, không biết cuộc đời là gì. Một hôm ngài Xá Lợi Phất ngài đi ngang ngài nhìn thấy đứa bé đó ngài động tâm, ngài hỏi: "Cha mẹ con là ai?". Nó nói: "Thưa, con không có cha mẹ. Cha mẹ con vì con sống quá cực khổ đã bỏ con". Nói: "Bây giờ con có muốn xuất gia không?". Nói: "Ai sẽ xuất gia cho một kẻ quá sức khốn khổ như con?". "Ta sẽ xuất gia cho con". Nó mừng quá, nó chịu. Thế là ngài dẫn về ngài thế phát cho xuất gia. Đến khi ngài lớn thì được gọi là Trưởng lão Losaka Tissa và ngài tu hành tinh tấn, cuối cùng chứng quả A La Hán. Nhưng dù ngài đã xuất gia, dù ngài đã chứng quả,
[29:11]không bao giờ ngài được ăn no, không bao giờ ngài được cho ăn no. Ví dụ một đoàn tỳ kheo đi vào trong làng cúng dường thì có những thí chủ họ mới bưng sành cả nồi cơm, thức ăn người ta để bên nhà hoặc là người ta thỉnh chư tăng đi ngang qua họ sớt vô từng bát, sớt từng bát, sớt. Cứ thầy đi ngang cái người này đã sớt cơm, đi lại chút nữa cái người kia sớt thức ăn. Người ta rất là màu đạo. Nhưng mà khi mà ngài Losaka Tissa vừa bước tới thì người ta tính sớt cơm bát ngài, người ta nhìn cái bát này đầy vun tới đê, người ta bỏ lại. Người ta mời ngài đi qua chỗ khác để sớt thức ăn. Người ta đưa tay thì ngài buộc lòng ngài phải đi chứ ngài đâu đứng lại được nữa.
[29:47]Thế là ngài ôm bát ngài đi tới, cái người kia sớt thức ăn nhìn vô thấy bát tràn trề hết, bỏ xuống mời người đi ra để cho người khác lên. Cứ là ngài luôn luôn đói kém thê thảm vậy đó. Thì do ngài đói quá nên cơ thể ngài suy dần suy dần cho đến lúc mà ngài phải tịch, cái ngày nhập Niết bàn đã tới. Thì lúc đó ngài Xá Lợi Phất là bổn sư đó, trong cơn nhập định mới thấy là cái duyên của người đệ tử mình đã tới lúc nhập Niết bàn, mà muốn cho người đệ tử mình ăn no một bữa cuối cùng mới dắt ngài đi vào làng khất thực, đi vào thành khất thực thành Xá Vệ. Nhưng mà ngày hôm đó ngài Xá Lợi Phất là một đại Trưởng lão nổi tiếng phải không?
[30:28]Một đại đệ tử Đức Phật mà ai cũng biết tiếng, ai cũng kính phục. Vậy mà hôm đó ngài đi chung với Trưởng lão Losaka Tissa đi vào không ai xá chào ngài một cái nào hết, huống hồ là xin được cái gì. Thế là ngài Xá-lợi-phất mới nói: Thôi, hiền giả hãy trở về lại căn phòng, tôi xin được tôi sẽ gởi về. Nghĩa là ông kia vừa quay đi cái là ngài Xá-lợi-phất xin người ta cho quá chừng luôn, cái ngài mới gởi một vị tỳ-kheo khác đem về cho trưởng lão Losakatissa. Nhưng khi ma ám quỷ ám quên trơn, không ai đem về hết trơn á. Thế là ngài ngồi lặng lẽ trong phòng ngồi chờ không có cái gì đem về ăn. Cái khi mà ngài Xá-lợi-phất về tới hỏi ra thì mới
[31:06]biết rằng ngài không nhận được chút gì hết. Ngài Xá-lợi-phất lúc đó mới dùng thần lực á, biến mất đây hiện vào trong cung vua Ba-tư-nặc, xin một cái loại bánh mà dùng phi thời được. Thì lúc vì mặt trời nó đang xế chừng chừng nè, vua mới cho lấy bánh đó xong ngài biến mất cung vua hiện trở lại trong phòng, cầm cái bình bát nè đưa cho ngài Losakatissa. Ngài Losakatissa đón lấy mà ngài Xá-lợi-phất vẫn cầm tay giữ lại, nói: Hiền giả hãy ăn, tôi buông tay ra là cái bánh này biến mất liền. Cho nên lúc đó là coi như ngài Losakatissa mới giữ chánh niệm tỉnh giác trong khi ngài Xá-lợi-phất đứng một bên cầm cái bát cho ăn.
[31:41]Và ăn bữa đó là ngày duy nhất trong bao nhiêu ngàn năm ngài mới được ăn một bữa no bụng đầy đủ. Chiều đó ngài nhập Niết-bàn luôn. Rồi Đức Phật tới một bên chứng kiến, thân ngài được thiêu lấy xá-lợi, rồi xây cho ngài một cái tháp. Các vị tỳ-kheo mới hỏi Phật sau cái đám táng đó: Bạch Thế Tôn, do nguyên duyên gì mà trưởng lão Losakatissa chịu một đời đói khát quá thê thảm? Đức Phật mới kể lại cái nhân quả ở đời quá khứ thì chúng ta sẽ thấy khủng khiếp không tưởng được. Vào thời Đức Phật Ca Diếp thì trưởng lão Losakatissa cũng là một tỳ-kheo. Một tỳ-kheo nhân hậu, hiền lành, mộc mạc, giữ giới, trụ trì một cái tịnh xá trong một cái làng quê.
[32:33]Có một vị điền chủ bảo trợ cúng dường cho cái tịnh xá đó. Một hôm có một vị tỳ-kheo đắc vị A-la-hán tới làng, thì ổng không có biết tịnh xá, ổng tới gặp cái điền chủ. Vị điền chủ mới thấy cái dung mạo của vị tỳ-kheo A-la-hán này đáng kính quá, mới mời về nhà cúng dường bữa cơm trưa, nghe pháp rồi nói rằng: Thỉnh ngài đến tịnh xá nghỉ, chiều con sẽ đến thăm ngài. Thế là vị tỳ-kheo A-la-hán đó đến, gặp vị tỳ-kheo trụ trì mới lễ ngài, nói là: Tôi đi đường xa đến đây, xin nghỉ. Nói: Được, được, mời hiền giả vào căn phòng nghỉ, có phòng đây. À, tu giả đã dùng trưa chưa? Nói: Thưa vâng, tôi đã dùng trưa nơi vị điền chủ trong làng. Nói:
[33:18]Được, được, phiền nghỉ. Chiều cái vị điền chủ mới mang hương hoa tới, hỏi vị trụ trì là: Cái vị tỳ-kheo hồi trưa đến ở đâu? Nói: Trong phòng. Cái vị mới đến đảnh lễ để xin nghe pháp. Sau khi nghe pháp xong, thì vị này nói: Con mời hai thầy, cả thầy trụ trì và thầy khách, ngày mai tới nhà con thọ thực. Khi vị điền chủ đi về rồi, thì vị tỳ-kheo trụ trì mới khởi lên cái gì? Nói rằng: Tâm vị điền chủ này đã bị phân tán. Hồi xưa không có ai, cúng có mình ta, bây giờ có ông tỳ-kheo này tới tâm ổng phân tán. Ta phải làm sao cho ổng đừng ở đây nữa. Nhưng vị kia biết tâm rồi, ổng là vị A-la-hán, ổng khởi động niệm cái là ổng biến mất tiêu.
[34:01]Sáng hôm sau, ổng giả vờ tới gõ cửa phòng nhè nhẹ để mời, nhưng mà gõ không muốn cho ông kia nghe. Rồi sau đó một mình ổng ôm bát đi về chỗ nhà người điền chủ để thọ thực. Ở đây, vị tỳ-kheo A-la-hán biết tâm niệm cho nên sáng đắp y, cầm bát bay lên hư không đi về nơi khác để mà khất thực rồi đi luôn. Khi mà đến nhà người điền chủ, người điền chủ mới hỏi rằng: Còn vị tỳ-kheo khách tăng đâu? Nói: À, ổng đang ngủ chưa dậy. Có lẽ trưa hôm qua ổng ăn đồ ăn nơi nhà ông chưa tiêu hóa nên mệt. Thì cũng ăn uống bình thường xong cái vị kia mới gói thức ăn mỹ vị, nói: Cho con gởi về cho vị khách tăng đó. Thì ông vị trụ trì mới mang thức ăn đó về,
[34:46]giữa đường thấy người ta đốt rẫy có cái đống than còn cháy á, ổng đổ hết thức ăn vào đó luôn. Khi về tới tịnh xá thì không thấy ông tỳ-kheo kia nữa, ổng mới giật mình. Nói: Hay là ông này đã chứng đạo biết được tâm ta? Ôi, ta vì ngu si, vì ích kỷ đã làm một điều không thích đáng. Thế ông hối hận. Với tâm u sầu, hối hận, ổng buồn rầu rồi ổng chết. Chết, ổng sinh vào than địa ngục một ngàn năm. Vì cái ý niệm đố kỵ vị A-la-hán và cái nghiệp đổ bỏ thức ăn cúng dường cho một vị A-la-hán, ngọn thiêu đốt tới một ngàn năm, không ngày nào chấm dứt. Hết than địa ngục một ngàn năm, làm thân quỷ đói 500 kiếp.
[35:32]Trong 500 kiếp đó chỉ một lần được ăn no với đồ ăn của một cái thai bị sẩy thai chết ra cùng với nhau đẻ ra, ăn cái đó mà sống, no được một lần. Bỏ thân quỷ đói sinh làm thân chó 500 kiếp. Trong 500 kiếp đó chỉ một lần được no do ăn cái đồ ăn bị người ta bệnh mà người ta mửa ra. Đến khi làm người thì làm người được sinh với cái tên là Mittavindaka, thì cái đời mà đầu tiên được làm người trở lại cũng vậy. Nơi cái làng mà cái Mittavindaka sinh ra thì người dân đó họ mạt cùng đường, không sống nổi được, họ đuổi mẹ con này đi. Thì cái Mittavindaka mới đến thành thị, thì lúc đó Phật Thích Ca đang còn là
[36:16]một Bồ-tát, ngài lúc đó ngài là vị giáo sư dạy nghề cho 500 thanh niên. Thì Mittavindaka vào xin học nghề để được nhân làng họ mới trợ cấp họ nuôi. Thì qua nhiều kiếp làm ngạ quỷ, làm súc sinh, cái ông này ổng không còn cái tính chất người tu nữa, ổng trở nên một người hung dữ, thích đánh bậy, thích đi chơi, thích cãi lộn. Mặc dù Bồ-tát khuyên bảo rất nhiều mà can chàng này không nghe. Đến cuối cùng ổng trong một cuộc gây gổ đánh lộn với cái bạn học ổng bỏ đi. Bỏ đi đến một cái làng biên địa, ở đó anh lấy người vợ có hai đứa con. Cái người dân họ mướn anh ở lại, cho anh cái chòi ở đầu làng để anh dạy cho họ những cái gì mà anh học được ở thành thị.
[37:00]Nhưng mà khi anh vừa đến đó ở, thời gian thì bắt đầu cái làng nó bị nạn. Thế là cũng nhà cháy, rồi vua phạt, rồi hồ nước cạn, đủ thứ hết. Coi thấy thằng này tới xui quá, đuổi đi mất. Anh dắt vợ, hai đứa con đi lang thang vào rừng, gặp khu rừng có phi nhân bắt vợ con anh ăn thịt mất, một mình anh chạy thoát. Anh chạy thoát đến cái bến tàu, anh xin lên tàu đi buôn. Lên tàu ra giữa biển cái thuyền tàu ấy đứng lại không đi, nó làm làm không đi. Thế người ta mới bắt thăm coi trên tàu ai là người xui xẻo, thì bảy lần cái thăm rớt trúng vào Mittavindaka. Thế là họ cho anh miếng nước, cho anh cái bè hất quăng xuống biển luôn.
[37:39]Khi bay rớt xuống biển, thì đây cái phước hựu đây, do công đức giữ giới từ thời Đức Phật Kassapa, thế là cái bè của ảnh trôi lạc vào một cái đảo của tiên nữ. Thế ở đó sống sung sướng được mười mấy ngày, thế là ảnh lên bè tre đi tiếp, gặp một cái đảo tiên nữ khác sống sung sướng mười mấy ngày, đi tiếp nữa. Cho đến hôm đến cái đảo chắc cũng gần bờ, vào cái đảo cũng là ác quỷ mà sống dưới hình thức của cái con dê. Bắt dê đem thịt, con dê nó dùng thần lực né quăng qua biển và rớt xuống trở lại đất liền trên một cái hào cát, không biết sao không chết, biết bơi dùng thần lực gì đó. Không ngờ là tại cái hào đó thì dê của vua hay bị ăn trộm,
[38:26]mấy cái người lính họ đang canh ở đó để họ bắt người ăn trộm. Anh này bị vô đó cái bắt được túm tóc đánh đánh quá chừng, giải về để mà bắt giao vua. Lúc đó Bồ-tát cùng với cái học trò của mình đi ra biển tắm, hỏi: Có chuyện gì đây? Nói: Cái người này ăn trộm dê. Nói: Thôi, cho ta xin, để đem về ta dạy lại. Thì câu chuyện đó Đức Phật kể tới lúc đó đó, là từ cái kiếp đó đó thì ngài mới được duyên Đức Phật nhiếp thọ giáo hóa giữ gìn mà trong thân phận rất là tầm thường. Mà bao nhiêu kiếp làm người là nhịn đói, tới cái kiếp cuối cùng mà ngài chứng đạo ngài chịu một đời quá thê thảm. Chúng ta thấy nhân quả khủng khiếp.
[39:10]Cho nên ngày hôm nay, khi mà chúng ta thấy một người họ làm việc ác, đừng tức giận họ, mình là người Phật tử đừng có tức giận, mà phải nhìn ra cái quả báo mà người này phải chịu, rồi sau đó mình sẽ cảm thấy xót, xót thương. Đó, đó là cái tính cách của Phật tử. Nhờ điều đó mà mình không có khinh chê ai, không chỉ trích, chỉ có từ bi thôi. Thêm nữa, khi mà nói pháp cho chúng sinh thì tùy cơ nghi chúng sinh tiếp nhận được mà chúng ta nói pháp thích hợp. Hễ họ tiếp nhận được tối đa cỡ nào thì nói pháp cao tối đa cỡ đó. Nói cao quá họ không có hiểu, mà nói thấp quá thì mình mắc cái tội là sao? Bỏn xẻn pháp, ừ, không làm cho người ta hiểu được thật nhiều Phật pháp, ha.
[40:05]Đây nè: "Vị Bồ-tát thường ưa an ổn mới thuyết pháp, ở nơi chỗ thanh tịnh mà sắp đặt sàng tòa, dùng hương dầu xoa thân, tắm gội các bụi dơ, mặc y mới sạch sẽ, trong ngoài đều sạch thơm, ngồi an nơi pháp tòa, theo chỗ hỏi mà nói." Nghĩa là cái tư cách của một người giảng pháp, ngoài những hạnh này kia, còn có cái là phải phải sao? Đừng có ở dơ, ha, Phật dạy rõ ràng ha. Trong ngoài đều thơm tho, nghĩa là khi mà chúng sinh họ đến gần mình thưa hỏi, vì ngày xưa không có cái micro á, không có amply, cái đôi khi ngồi gần gần mà lỡ có nghe cái mùi gì nó không có ấy đó thì khiến họ khó chịu. Nghe pháp mà họ họ cũng mất cái tín tâm.
[40:51]Do đó là phải giữ sạch sẽ, dùng hương dầu xoa thân. Mà sự thật á, chúng ta thấy điều này, đây là việc tuy là hình thức là nhỏ nhưng nó nói lên một cái chỉnh túc, cái đàng hoàng của tâm hồn.
[41:07]Cái người mà ở luộm thuộm, dơ bẩn thì mình có tin rằng cái tâm hồn người này đàng hoàng không? Có không? Tin không? Hử? Tuy rằng cái việc ở dơ sau này dứt nhưng mà nó có nói lên cái tâm hồn con người. Cái người mà chấp nhận những cái sơ suất, bê bối thì tâm hồn của họ không kỹ.
[41:36]Cho nên những người mà đàng hoàng thường họ cũng có cái biểu hiện bên ngoài nó sạch sẽ, tuy họ nghèo có thể áo họ vá nhưng vẫn lành, cũng vẫn sạch sẽ. Nhìn ở đây là mình biết ai đàng hoàng hết ha. Đàng hoàng, thấy ai cũng sạch sẽ.
[41:56]Theo chỗ hỏi mà nói, nghĩa là nãy coi lén cái đoạn này nói giống vầy, giống nè. "Nếu có người gặn hỏi theo đúng nghĩa mà đáp, nhân duyên hoặc ví dụ giải bày phân biệt nói, dùng trí phương tiện này đều khiến cho phát tâm, lần lần thêm đông nhiều vào ở trong Phật đạo." Nghĩa là giảng pháp mà làm cho người ta hiểu đạo, mến đạo, người ta đến với đạo Phật càng lúc càng đông thì đó là tốt, là điều có phước. "Trừ lòng lười biếng trễ cùng với tưởng đãi lãng, xa rời các u não, tâm từ lành nói pháp. Ngày đêm thường thuyết nói" Nghĩa là Đức Phật nói rõ ràng: phải siêng năng giáo hóa, phải siêng năng giáo hóa,
[42:35]mặc dù cái lời nói mình là vừa đủ, là vừa đủ, nhưng phải siêng năng giáo hóa làm cho đạo Phật càng lúc càng đông, cho nhiều Phật tử lên, ha. Ví dụ như quý Phật tử cũng vậy, mình đi nghe pháp hiểu đạo, sau đó mình giảng lại cho người thân của mình, mình giúp cho người đó cũng hiểu đạo, rồi đến với chùa quy y, rồi cùng nghe pháp, phước đó rất là lớn. "Cùng đồ nằm, đồ ăn, uống, thuốc thang mà ở nơi trong đó không có lòng mong cầu." Nghĩa là người giảng pháp đừng có cái tâm mong cầu rằng người ta sẽ cúng dường cho mình. Đây là cái điểm quan trọng, không mong được lợi dưỡng. Vì nếu mình giảng mà ở trong lòng mình cứ đau đáu là mong sao
[43:14]người ta nghe giảng người ta cúng mình cho nhiều, người ta nghe giảng cúng mình cho nhiều thì lúc đó là mình không vì đạo nữa, mình không vì pháp, không vì chúng sinh mà mình vì ai? Vì cái màng mọc của mình. Cho nên cái lời nói mình nó sẽ không còn hay nữa, không còn sâu sắc, không có cái đạo lực nữa, nó giảm bất ngờ. Không cúng thôi nhưng mà vì lòng từ bi cứ phải dè dặt cho người ta hiểu đạo. "Chỉ chuyên một lòng nhớ, nhân duyên nói kinh pháp, nguyện ta thành Phật đạo khiến mọi người cũng vậy." Ý này rất là hay ha. Ở đây cái chỗ này là chỗ đặc biệt của đạo Phật mà ít có đạo nào có được. Khi một người ngồi trên pháp tòa giảng pháp
[43:55]thì người đó có cái công đức để sau này được thành Phật đạo, phải không? Thành tựu sự giác ngộ, sự giải thoát thì Phật dạy cái chỗ này rất rõ. Mình vì bao nhiêu cái tâm nguyện cao cả đó để mình tu, giảng pháp thì hãy nhớ rằng cái lòng mình cũng mong cho những người ngồi trước mặt nghe mình cũng được thành tựu Phật đạo như vậy. Phải có cái tâm nguyện đó thì mới xứng đáng là người giảng giáo pháp của Phật. Còn mình ngồi trên pháp tòa mình giảng mà mình coi ờ ôi mấy chúng sinh này người nghe biết cái gì, mình giảng cho nghe họ hiểu được nhiêu hiểu, hiểu không hiểu thôi còn mình tu cứ tu chứ gì. Cái tâm niệm mà xem thường người nghe
[44:37]không phải là người giảng pháp chân chính của đạo Phật. Mà khi ngồi lên nhìn mọi người thì cái lòng chỉ mong là làm sao cho người ta nghe pháp này mà người sẽ được biết tu và thành Phật đạo hết. Thành giống như mình hoặc trước mình càng tốt, phải có tâm nguyện như vậy mình mới giảng pháp và có cái lòng khiêm hạ, không có độc tôn, không nghĩ mình là hay hơn hết. Quý Phật tử cái này là kiếp sau mà sinh ra làm giảng sư nhớ này ha. Kiếp sau mấy bà đi đầu thai này biết đâu ấy là được phước đi xuất gia làm tăng rồi đi giảng pháp thì nhớ tới chùa Tuyền Tân hỏi mượn cái băng này nghe lại chỗ này. Là khi mình giảng pháp mình nhìn mọi người mình phải có cái tâm nguyện mong cho những
[45:23]người nghe pháp này tu hành được thành Phật đạo hết, nha, mấy cụ nhớ nha. Mai mốt nhớ kiếm thầy sang băng lại. "Công đức của người đó trong nghìn muôn ức kiếp tính kể hay ví dụ không thể nói hết được." Thì người giảng pháp đạt phước vô lượng, phải không? Thôi đương nhiên mình hiểu rồi, khỏi nói lại. Ở đây, "Khi mà giảng pháp, không nên tranh cãi." Đây Đức Phật nói, "lại cũng chẳng nên nói đùa, không nên tranh cãi" là mình nói pháp mong muốn cho người Phật tử hiểu đạo, tu hành thành tựu chứ không phải mình ngồi nói pháp để mình tranh hơn với cái ông nào giảng ở đâu đó. Thường thường á mình dễ bị cái lỗi này lắm.
[46:10]Ví dụ như tôi, tôi giảng Pháp Hoa đây cái tôi nghe bên chùa kia có ông thầy ổng giảng Pháp Hoa, cái tôi hay giảng đây cái tôi mượn cái kích bên kia để nói rằng ông kia giảng Pháp Hoa không bằng tôi thì đó là rơi vào cái lỗi gì? Tranh hơn thua, tranh cãi. Mà lúc đó mình không còn lòng từ bi để nói cho người trước mặt mình nghe mà hiểu đạo nữa, mà cứ lo ngồi xỉa xói cái ông nào ở bên kia. Mà không phải là kinh Pháp Hoa, mọi pháp khác cũng vậy nữa. Mình nghe giảng pháp ở đâu đó cái mình hay cãi lý để cho mình hơn người. Phật nói cái giáo pháp của Phật để thực hành tu, không phải để đem ra làm sự hơn thua, đó.
[46:57]"Phải ở nơi tất cả chúng sinh khởi tưởng đại bi", thương xót chúng sinh, "đối với các đức Như Lai tưởng như là cha lành, đối với các vị Bồ tát tưởng như bậc đại sư, hãy thâm tâm lễ lạy, với tất cả chúng sinh đều bình đẳng nói pháp." Bình đẳng nói pháp là sao? Nghĩa là trong khi nói pháp, mình không phải là tình cảm với người này nhiều, tình cảm với người kia ít mà nói pháp, thương đều hết mà nói. "Vì thuận theo pháp nên chẳng nói nhiều, chẳng nói ít, cho đến người rất ưa pháp cũng chẳng vì nói nhiều." Đây là điểm quan trọng của người giảng pháp. Có một lần tôi hỏi là đến khi nào một người đủ tư cách để nói pháp?
[47:44]Tôi hỏi quý Phật tử nghe, không biết là tôi đã hỏi ở đây chưa? Chứ ngày xưa có một lần tôi giảng Pháp Hoa tôi cũng hỏi quý Phật tử câu đó. Có lẽ là tôi cũng đã giảng rồi ở mấy một hai phần đầu, tập đầu có, có điều là mấy năm rồi nó theo mây, theo gió hết rồi. Khi nào một người đủ bản lĩnh để nói pháp? Bây giờ hỏi lại: khi mà người đó biết im lặng. Lạ không? Tại sao khi một người biết im lặng thì người đó bắt đầu có bản lĩnh để nói pháp? Ai hiểu được câu này? Ai hiểu được nghe nghe. Im lặng tâm mới thanh tịnh, một ý. Mình nói được nè, còn ai có ý nào khác nữa hay không? Tại sao khi một người biết im lặng,
[48:35]người đó bắt đầu có bản lĩnh, có tư cách để nói pháp? Suy nghĩ đúng, ý thứ hai. Có tâm từ bi. Ai có ý gì nữa? Người ta nói đúng hết trơn, mỗi người đúng một nét ý này. Là khi mình biết im lặng á là lúc đó mình không còn ham nói nữa. Tâm lúc đó thanh tịnh, không còn muốn phô trương nữa. Cái người mà diệt được cái gốc tham ở trong, cái người đó đạo lực đã vững rồi, tương đối khá rồi. Thế cho nên cái người mà họ có kinh nghiệm tu trong tâm họ, họ diệt trừ hết mọi cái phô trương, mọi khoe khoang, hơn thua, mọi cái ham muốn, sự dụng công nhiều lắm rồi chứ không có ít đâu. Với một người mà có kinh nghiệm tu mà nắm được cái tâm mình như
[49:27]vậy, tâm thầm lặng không khoe khoang, không hơn thua nữa, và khi xuất hiện trước mọi người họ không cần nói điều gì, họ không muốn khoe, họ cứ im lặng ngồi cười cười cười cười, ha. Nhưng mà khi mình hỏi đến họ thì những lời họ nói ra rất là, rất là sâu sắc, súc tích, đầy ý nghĩa, có lợi cho người nghe.
[49:50]Đồng ý không? Còn người mà mình gặp đâu cũng nói lốp bốp lốp bốp, mình chưa hỏi đã đem giáo pháp ra giảng cho mình nghe liền thì người đó nắm được tâm họ chưa? Thì tuy họ nói giáo pháp được nhưng tâm họ họ chưa nắm được, thì cái giáo pháp của người này sẽ không sâu, không sâu, và trong đời sống họ sẽ còn sơ suất tại vì chưa nắm được tâm họ. Còn cái người nắm được tâm mình, chấm dứt mọi hoa, hơn thua, phe phang, không có tham muốn nữa họ ít nói lắm, ngồi trước mặt mình họ cứ im lặng im lặng, không cần, nhưng mà khi mình hỏi họ nói mà nói lời nào là
[50:31]đáng giá lời đó. Ha. Cho vì lý do đó là tuy nói rằng không nói nhiều hay phải im lặng mới có thể nói được thì lời nói này ta hiểu rằng phải dụng tâm công phu rất nhiều, chứ không có đơn giản. Nhưng thấy cái người ngồi nghe mà mắt nhắm nhắm lại hết á, đó những người đó rất là sâu sắc. Văn Thù Sư Lợi, vị đại Bồ Tát ở đời rốt sau, lúc pháp muốn diệt, nếu thành tựu được hạnh an lạc thứ ba đây thì lúc nói pháp này không ai có thể làm cho mình não loạn được, không ai lay động mình được ha. Nghĩa là khi mình ngồi để nói pháp, người ta không công kích mình được về tư cách, mà trường hợp một người nào đó đứng lên vấn nạn một cách ác ý, mình không sợ.
[51:21]Vì sao? Vì cái lời nói mình nó xuất phát từ cái công phu tu hành ở bên trong, không phải chỉ là cái hiểu. Một lát nữa mình sẽ học tới cái phẩm Tùng Địa Dũng Xuất, ta sẽ biết tại sao. Có đoạn này nữa, cái đoạn này của An Lạc Hạnh đây. Có những người mà khi nghe pháp của Phật thì chẳng nghe, chẳng biết, chẳng hay, chẳng hiểu, chẳng tin, chẳng hỏi, có những người như vậy, thì ta nguyện rằng Ừ người đó dù chẳng hỏi, chẳng tin, chẳng hiểu kinh này, thì lúc ta được vô thượng chánh đẳng chánh giác, thì ta đều cố gắng theo để độ cho người đó và dùng sức thần thông, dùng sức trí huệ dẫn dắt, khiến cho người đó trụ được trong pháp này.
[52:14]Đây là một trong những cái tâm nguyện của vị tu theo An Lạc Hạnh mà giảng kinh Pháp Hoa. Nghĩa là sao? Nghĩa là trước kia là bao nhiêu hạnh ha, đủ thứ hết: phải thương yêu chúng sinh, bình đẳng, quán pháp, đủ thứ hết. Thì tới cái hạnh thứ tư này là phát tâm nguyện độ những người khó độ, phát tâm nguyện độ những người khó độ. Nghĩa là những người đừng đừng nói xa xôi thời Đức Phật, mà nói bây giờ đi, là người họ không hiểu Phật pháp, không biết Phật pháp, không nghe Phật pháp, không tin Phật pháp. Những người đó bây giờ những người đó nhiều ít không? Rất nhiều, hơn đầy dẫy ở khắp nơi. Bây giờ nhiều người họ chẳng biết Phật pháp là gì,
[53:01]chẳng tin, chẳng nghe, chẳng hiểu, chẳng thèm tìm hiểu gì hết. Thì mình có lòng người mà muốn làm vị pháp sư giảng kinh Pháp Hoa thì phải có cái lòng bao nhiêu chúng sinh mà những người không tin hiểu Phật pháp thì con nguyện sau này khi con tu được con sẽ độ tất cả chúng sinh đó nữa. Nên nguyện độ những người khó độ.
[53:25]Như hôm trước có lần tôi đi về núi, thấy trên cái xe buýt gặp cái ông người Bắc. Ông thấy tôi là thầy tu cái ông đến ông xin ngồi gần bên. Thì ông mới xin phép ông hỏi vài câu giáo lý mà từ lâu ổng thắc mắc. Thì ông hỏi toàn giáo pháp rất là khó, ngay cả mấy thầy xuất gia nhiều thầy cũng chưa có nghiên cứu tới nữa, mà không biết ông nghiên cứu đâu mà ổng hỏi. Sau khi tôi trả lời, tôi mới nói rằng những điều anh hỏi tôi có viết trong một vài cuốn sách, thôi để tôi biếu anh, anh đọc thì anh sẽ dễ hiểu. Tôi hỏi: "Anh vào Nam lúc nào?" Nói: "Anh vào Nam từ năm 75." Thấy anh là cán bộ, đảng viên. Anh vào Nam và anh sau này thích đạo Phật.
[54:10]Ngộ đạo Phật nên nghiên cứu và trong nhà anh về con cái anh là anh thường hay khuyên bảo đạo đức. Anh có kể câu chuyện, anh nói là ở ngoài làng của tôi ờ ở ngoài Hải Hưng á, gần với chỗ mà các đời vua Trần lập nghiệp mới cách hai cây số anh ở ngoài Trần. Nói cái làng của tôi sau những năm cách mạng thì chùa chiền bị đập phá. Này do chiến tranh anh cũng xin lỗi đính chính đàng hoàng, bị đập phá tan hoang hết. Sau này tôi mới về tôi khuyên những người trong làng phụ lại xây lại cái chùa. Thì sau khi mà cái chùa làng xây lại được rồi thì cái kết quả kỳ lạ xảy ra là con cháu của làng đi khắp nơi bỗng nhiên thành danh à, lợi á, mà trước kia thì rất là bần bần.
[55:00]Mà tại cái góc làng được cái chùa xây lên thì con cháu đi nơi này nơi kia, có người làm tới đảng viên cao cấp, người tốt nghiệp tiến sĩ đại học lên cái chức cao mà được vẻ vang cả làng. Anh nói: "Cái điều mầu nhiệm cũng rất là lạ." Thì cái điều này chúng ta không biết, chứ từ nào giờ chúng ta cũng chưa từng nghe cái chuyện này phải không? Mình chỉ nghe các anh nói qua là vậy, cũng là lạ. Cho nên, chúng ta thấy cái gốc của cái chùa, cái miếu, của cái nguồn đạo đức nó làm cho những thế hệ về sau được phát triển tốt. Còn nếu chúng ta phá vỡ cái gốc đạo đức của mình thì con cháu về sau sẽ hư đốn, sẽ lụi bại lần lần.
[55:40]Nên cha mẹ hay ông bà mà có cái gốc đạo đức thì con cháu sẽ được hưởng, điều đó cũng rất là rõ.
[55:51]Vị Đại Bồ Tát thành tựu được pháp thứ tư này thì lúc nói pháp không có lầm lỗi. Này người mà ngoài cái mình phát nguyện độ chúng sinh mà dám phát nguyện độ chúng sinh khó độ thì cái phước mình được tăng trưởng rất lớn, lúc nói pháp không có lầm lỗi, mà được chư thiên ngày đêm thường vì pháp mà hộ vệ.
[56:14]Cái người mà có cái tâm nguyện lớn như vậy thì chư thiên thường hay theo gia hộ cho mình. Vì sao? Vì kinh này được sức thần của tất cả các Đức Phật thuở quá khứ, vị lai, hiện tại giữ gìn, như vậy. Cái đoạn kệ ta nghe, thường tu hành nhẫn nhục, thương xót tất cả chúng mới có thể diễn nói kinh của Phật khen ngợi. Là nếu mà chúng ta chưa đủ lòng từ bi thì khoan nói vì sẽ có sơ hở. Nhớ đây là cái điều kiện đạo đức ban đầu ha. Rồi, nguyện khi ta chứng Phật đạo dùng các sức phương tiện vì nói kinh pháp này làm cho những người chẳng tin được an trụ trong đó. Độ những người khó độ, đây là những cái căn bản ta phải theo Phật pháp.
[57:08]Người đọc tụng kinh này thường không bị ưu não, lại không có bệnh đau, nhan sắc được trắng sạch, chẳng sanh nhà bần cùng, dòng ti tiện xấu xa, chúng sinh thường ưa nhìn như hâm mộ hiền thánh. Người mà tu theo kinh này thì Phật nói là không bị phiền não, những chuyện đau khổ, không có bệnh đau, nhan sắc được trắng sạch, chẳng sinh vào nơi bần cùng, luôn luôn sinh vào nơi cao sang là cái pháp. Cái điều này trên nhân quả thì chúng ta không có hoài nghi. Vì sao? Vì người mà tu theo kinh Pháp Hoa, hiểu nhân quả, có những cái đại nguyện to lớn, trí tuệ vững vàng, đạo đức hoàn chỉnh thì người đó chắc chắn không có không có đọa, mà phước rất lớn.
[58:01]Sinh ra ở kiếp nào cũng luôn luôn được thân người đẹp đẽ, đoan trang, giàu sang, quý phái, sang trọng, chứ không phải là người bần cùng mà người ta nhìn người ta khinh mình. Mà sinh ra được ở kiếp nào người ta nhìn vào người ta cũng luôn cung kính, vì cái giáo pháp ở trong kinh này nó quá hoàn chỉnh, đầy đủ. Mình tìm hiểu cho hết ý nghĩa của kinh này mà sống thì cuộc đời sẽ tạo được rất nhiều công đức. Dao gậy chẳng đến được, độc dữ chẳng hại được, nếu người muốn mắng nhiếc, miệng thời liền ngậm bích, dạo đi không sợ sệt dường như sư tử vương, trí tuệ rất sáng suốt như mặt trời chói sáng. Cái đoạn này mình nói ẩn dụ cũng được,
[58:47]mà mình nói theo sự tướng cũng đúng, mà đúng theo sự tướng đúng hơn. Sự tướng đúng hơn. Như thiền sư Quy Sơn nè, chúng ta nói là theo nghĩa đen rất là đúng. Như ngài Quy Sơn lúc đang tu với ngài Bá Trượng thì có một ông thiền sư Tư Mã Đầu Đà đến, ông nói ở cái núi Quy Sơn cái cảnh đó mà dựng cái đạo tràng rất là thịnh. Thì ngài Bá Trượng nói ông xem trong chúng ta có ai có duyên đi hay không? Ông kia ổng xem trong chúng xong cái ổng chọn ngài Linh Hựu. Ngài Linh Hựu mới từ giã thầy lên cái hướng Quy Sơn ở trong rừng ẩn tu. Ở trên đó ngài ẩn tu, ngài chỉ lượm trái lật, trái dẻ ngài ăn. Dân làng không ai tới vì núi cao mà rừng rậm quá.
[59:33]Có khi ngài đi ngài gặp cọp, beo nữa. Nó đứng chặn đường ngài. Ngài mới nói thế này: "Nếu ta có duyên với núi này thì các ngươi nên tránh ra, còn nếu ta không có duyên với núi này, cứ ăn thịt ta đi." Nói rồi ngài xăm xăm đi tới nó luôn, là cọp nó tránh ra cho ngài đi. Đó là chuyện có thật. Thế nên, chúng ta thấy cái uy đức của một người tu hành chân chính làm được việc đó. Cái điều trong kinh nói mà, dao gậy không đến, độc dữ không hại, dạo đi như sư tử vương không một chút sợ sệt là điều có thật. Nên chúng ta mà tu hành chân chính, tích lũy công đức nhiều đời rồi á thì tạo được cái ác nghiệp nó không xâm nhập vào mình được.
[1:00:21]Có nghe chuyện ngài Ngộ Đạt quốc sư chưa? Bị cái mụn ghẻ mặt người ở đầu gối á, có tụng Thủy Sám chưa? Có phải không? Người nào chưa thì về đọc lại cái chuyện đó.
[1:00:37]Nếu ở trong chiêm bao chỉ thấy những việc tốt, thấy các đức Như Lai ngồi trên tòa sư tử, các hàng chúng Tỳ-kheo vây quanh nghe nói pháp;
[1:00:49]lại thấy các long thần cùng A-tu-la thảy, số như cát sông Hằng, đều cung kính chắp tay; tự ngó thấy thân mình mà vì chúng nói pháp; lại thấy các đức Phật thân tướng ửng sắc vàng, phóng vô lượng hào quang soi khắp đến tất cả, dùng giọng vi diệu âm mà diễn nói các pháp, vân vân. Là người mà tu đúng rồi, kể cả trong giấc mơ thường thấy Phật. Như chuyện ngài Ngưỡng Sơn ấy, lần cái ngài nằm mộng ngài thấy lên cung trời Đâu-suất. Thì lúc đó ngài thấy ngài ngồi ở cái tòa thứ hai, có một vị tôn giả đứng lên đập thiền trì mới nói rằng: "Hôm nay tòa thứ hai nói pháp". Cái ngài mới đứng lên ngài mới nói một câu pháp về Bát-nhã:
[1:01:36]"Tất cả pháp đều là không", đại khái cái câu đó vậy. Xong cái ngài tỉnh giấc lại. Ngài tỉnh giấc lại, mới đến trình cho thầy của mình là ngài Quy Sơn. Ngài Quy Sơn Linh Hựu mà nãy chiếc vạc đó, trong đó cũng có đệ tử là ngài Ngưỡng Sơn rất là giỏi. Thì khi mà ngài Ngưỡng Sơn mới trình cho thầy mình cái giấc mơ mà thấy lên cung trời giảng pháp, ngài Quy Sơn mới nói rằng: "Con đã vào vị thánh". Tức là con đã vào vị thánh. Đó là khen ngợi thì ứng với kinh Pháp Hoa cũng nói điều đó. Hoặc như ngài Hư Vân, một lần thấy ngài bệnh, ngài thiếp đi, ngài thấy lên trên cung trời Đâu-suất gặp Bồ Tát Di Lặc thuyết pháp, mà hàng cái là tứ chúng đông vô kể.
[1:02:27]Có những người quen của ngài mà tu hành chân chính đã mất ở trần gian này cũng thấy xuất hiện ngồi ở trên tòa trong cái pháp hội của ngài Di Lặc. Đó chúng ta thấy những vị thánh vào thánh vị chân chính thì nếu nằm mơ thường hay giấc mơ thấy Phật, thuyết pháp, là như vậy. Cho nên những cái đoạn kinh này là nói nghĩa đen, rất là... Có mấy người cũng đang chuẩn bị lên đến cõi trời Đâu-suất rồi đó. "Lại mộng làm quốc vương, bỏ cung điện quyến thuộc và ngũ dục thượng diệu, đi đến nơi đạo tràng, ở dưới cội bồ-đề mà ngồi tòa sư tử, cầu đạo quá bảy ngày, được trí của các Phật, thành đạo vô thượng rồi, dậy mà chuyển pháp luân,
[1:03:10]vì bốn chúng nói pháp, trải nghìn muôn ức kiếp, nói pháp mầu vô lậu, độ vô lượng chúng sinh, sau sẽ vào Niết-bàn, như khói hết đèn tắt. Nếu trong đời ác sau, nói pháp bực nhất này, người đó được lợi lớn, các công đức như trên." Cái đoạn này thú vị nha. Là mình sẽ nằm mộng, mình thấy mình làm quốc vương, bỏ ngôi vua, đi xuất gia, ngồi tòa, thành đạo, thuyết pháp vô lượng kiếp. Cái đoạn này nói lại cuộc đời của ai? Của Phật, phải không? Đó. Mà tại sao mình lại nằm mộng, mình thấy mình cũng như vậy? Đố ai biết? Hổng lẽ mình nằm mộng thấy mình làm Phật? Ai hiểu được đoạn này?
[1:03:59]Cái đoạn này ám chỉ cái gì biết không?
[1:04:04]Ám chỉ cả cuộc đời của Đức Phật Thích Ca cũng như một giấc, một giấc mộng mà thôi. Cũng ám chỉ rằng khi một vị Bồ Tát, một vị Phật mà đi vào sinh tử để giáo hóa chúng sinh đó, các ngài thấy chuyện đó là cái chuyện gì? Chuyện nó như thế nào?
[1:04:27]Cũng như một giấc, một giấc mộng mà thôi. Chỗ này rất là khéo. Chúng ta thấy một vị Bồ Tát sinh vào cung vua, thành Phật, chúng ta nghĩ cái chuyện đó cao siêu ha, thật là đặc biệt. Nhưng mà đối với chính bản thân của vị Phật đó thì ngài thấy cái việc đó có gì lạ không? Ngài làm như là làm việc trong mộng mà thôi, chứ không giống như chúng ta. Chúng ta còn chấp, chúng ta làm được việc gì, chúng ta phải thấy được cái công của mình rất là lớn, cái việc của mình rất là hay, rất là quan trọng, rất là thật. Thí dụ như là mình phụ cúng dường cho thầy trụ trì để cất được cái chùa thì mình thấy lòng mình sao?
[1:05:13]Rất là vui, rất là tự hào phải không? À mình nói mình đã làm được công đức phụ quý thầy cất chùa. Hoặc là đi cúng dường cái này cái kia là mình thấy cái việc đó rất là quan trọng, làm cực khổ, thấy ý nghĩa rất là lớn hay, vân vân. Nhưng mà trong khi Phật xuất hiện giữa đời, giáo hóa chúng sinh, mở ra cả một mối đạo cho chúng sinh như vậy, các ngài xem đó như một giấc mơ mà thôi. Cho nên đoạn này ám chỉ cái trí của Phật. Đừng tưởng ngài làm việc, đừng có nghĩ rằng ngài quá quan trọng, không có, ngài làm tất cả việc mà như không làm một việc nào hết. Là giống như người trong mộng, làm việc trong mộng mà thôi, ám chỉ.
[1:05:57]Và như vậy, chúng ta phải hiểu để mà làm mọi việc trên cuộc đời cũng cũng giống như vậy. Từ đây về sau, chúng ta sống trong cuộc đời này, chúng ta cứ nghĩ mình như sống trong một giấc giấc mơ thôi. Ngày hôm nay mình thức dậy ăn uống, như chuyện trong mơ; đi chùa, chuyện trong mơ; có mất mát cái gì, chuyện trong mộng; ai mắng chửi gì, chuyện trong mộng. Mình đem tiền ra cúng dường cái này, giúp đỡ người kia cũng là chuyện trong trong mộng mà thôi. Quý Phật tử nghĩ được như vậy, khởi được cái quán như vậy, là bước vào cái trí tuệ của Bồ Tát. Bởi vì các vị Bồ Tát làm mọi việc đều như mộng thôi. Quý Phật tử về thử thực hành cái này coi.
[1:06:50]Cái này nó hay giống như là cái tâm từ bi vậy đó. Như quý Phật tử nào giờ nghe tôi hướng dẫn là rải lòng từ bi thương yêu chúng sinh phải không, thì hôm giờ cũng có tập thực hành chút chút, chắc cũng mới chút chút thôi chứ chưa nhiều đâu. Thì hôm nay làm thêm một cái công hạnh nữa là
[1:07:13]như sống trong một giấc giấc mơ, làm tất cả như trong một giấc mơ vậy. Tuy là giấc mơ, nhưng đi ngang cái hàng quán người ta đừng có thò tay móc. Tại lúc đó người ta chụp tay mình, người ta làm cái gì đó thì coi chừng không phải là mơ, như vậy. Cho nên chúng ta làm mọi chuyện như trong một giấc mơ mà luôn luôn hiểu kỹ là vì cái nhân quả mà không sai trong cái giấc mơ này. Tuy mọi chuyện trên thế gian này như một giấc mộng, mà luật nhân quả vẫn chi phối chặt chặt chẽ đó. Cho nên mình cứ làm lợi cho người ta thì được, nhưng mà đừng thò tay lỡ lấy của ai cái gì hết. Mặc dù nó vẫn là một giấc mơ, nha.
[1:07:56]Người ta mắng mình là một giấc mơ. Tuy mơ nhưng đừng có đừng mắng lại. Thôi ráng. Bởi tu là lỗ vậy đó. Mà không tu thì khổ. Hiểu vậy. Giờ chúng ta qua cái phẩm Tùng Địa Dũng Xuất. Lúc bấy giờ, các vị đại Bồ Tát ở các cõi ức phương khác đông hơn số cát của tám sông Hằng, là bao nhiêu người? Bao nhiêu người? Khỏi hình dung nổi, mệt quá. Ở trong đại chúng đứng dậy chắp tay lễ Phật, bạch rằng: "Thế Tôn, nếu bằng lòng cho, chúng con lúc sau khi Phật diệt độ, ở tại cõi Ta-bà này siêng tu tinh tấn, giữ gìn, đọc tụng, biên chép, cung kính kinh điển này, thì chúng con sẽ ở trong cõi đây mà tuyên thuyết pháp này".
[1:08:47]Tức là cái số Bồ Tát đông hơn là cái dân số của địa cầu, phải không? Đông hơn số cát của tám sông Hằng mà. Nếu mà Phật cho đó, mỗi ông ở lại thì cứ mười ông kèm một chúng sinh, mười ông ở lại kèm chúng sinh mình thì bảo đảm mình tu. Đồi sao? Đắc đạo liền phải không? Mình nhúc nhích là có các ông kèm hết, tại vì cái số Bồ Tát đông hơn mà. Nhưng Phật lại ngộ, Phật không cho. Phật nói: "Thôi đi, chẳng cần các ông hộ trì kinh này. Vì sao? Vì cõi Ta-bà của ta tự có những đại Bồ Tát số đông bằng số cát của muôn sông Hằng, tám sông Hằng chưa ăn thua nha, muôn sông Hằng. Mỗi vị Bồ Tát có sáu muôn hằng hà sa quyến thuộc,
[1:09:30]những người đó có thể sau khi ta diệt độ hộ trì, đọc tụng, tuyên thuyết kinh này". Nghe lạ không? Cái điều này mình nghe giống như là một điều không có thật, phải không? Như nói cõi Ta-bà Bồ Tát đông như vậy, sao mình không thấy thằng nào hết trơn vậy? Toàn gặp những gương mặt hắc ám không à.
[1:09:52]Lúc Phật nói lời đó, cả Ta-bà, cõi Ta-bà tam thiên đại thiên quốc độ đều rúng động nứt ra, và trong đó vô lượng nghìn muôn ức vị đại Bồ Tát đồng thời vọt thăng từ trong kẽ đất vọt bay. Các vị Bồ Tát đó đều thân sắc vàng, đủ ba mươi hai tướng tốt, hào quang vô lượng, an hư không, trụ như không. Các vị đó đều thường phụng các hàng đại chúng đem theo hai muôn, một muôn, vô số vô số vô số quyến thuộc. Con số lượng tính tính không lường được. Nhưng mà con số tính đếm ví dụ không thể biết được. Các vị Bồ Tát từ dưới đất lên đến nơi tháp cúng Phật, lễ lạy chư Phật, đi quanh thân Phật. Cái đoạn này nói để ý nghĩa gì?
[1:10:43]Có phải thật là Bồ Tát vọt lên đông vô số không? Phải không? Hả? Phải. Đây là ẩn dụ. Bởi kinh Pháp Hoa giữa cái thật và cái hư, thật và cái hư nó lồng nhau trong bộ kinh này, cho nên đọc chúng ta khó hiểu là vậy. Cái đoạn Phật nói nghĩa đen, thoạt Phật nói nghĩa bóng, thoạt nghĩa đen, thoạt nghĩa bóng xen chen chen. Và qua phẩm Tùng Địa Dũng Xuất này lại là nghĩa bóng trở lại. Bồ Tát là tượng trưng cho cho gì? Cho gì nơi mình? Trí. Bồ Tát là tượng trưng cho trí. Bồ Tát từ nơi cái cõi Ta-bà này, cõi dơ dáy này vọt ra mà tượng trưng cho cái trí từ đâu mà ra? Từ đâu? Nơi mỗi chúng, nơi mỗi chúng sinh
[1:11:36]đều sẵn có trí tuệ của Bồ Tát, không thiếu, mà vô biên vô lượng. Phật nói là vô biên vô lượng, tượng trưng cho những vị Bồ Tát đông vô số từ nơi cõi đất vọt ra bên ngoài.
[1:11:50]Bây giờ để chúng ta hiểu tại sao mà nơi mình có cái trí tuệ vô lượng.
[1:11:59]Những vị mà tu hành khi tâm được thanh tịnh thì tự nhiên trở nên vô cùng sáng suốt. Trong cái vô cùng sáng suốt đó là các vị ứng duyên mà hành động. Không ai giống ai, mà có khi giống nhau. Cái trí đó tự mình biết mình phải làm cái gì, mình diệu đạo cái chung thế nào, mình kết thiện duyên với chúng sinh như thế nào, giáo hóa như thế nào để có hiệu quả. Cái trí đó nó tác ra vô lượng vô biên, mà tâm thì lúc nào cũng thanh tịnh. Mà đụng chuyện phát ra, đụng chuyện ứng lại thành hành động, thành thành cái lối xử lý. Mà không đụng chuyện thì nó thanh tịnh như hư vô. Chính vì nó thanh tịnh như hư vô cho nên cái trí nó phát ra vô biên vô lượng.
[1:12:48]Còn hễ tâm mình động một cái là cái trí dừng lại liền. Nên ta thấy các vị
[1:12:56]các vị Thiền sư tiêu biểu rất là hay. Nhưng ngài ngài Long Đàm với ngài Đức Sơn. Ngài Đức Sơn ngài ở phương Bắc, ngài chuyên về học kinh, mượn giải kinh Kim Cang mà ngài tu rất nghiêm chỉnh. Lúc ngài nghe ở phương Nam ở Trung Hoa có cái thiền tông nổi lên nói rằng là kiến tánh thành Phật. Ngài không tin. Ngài nói tu kinh cũng thành Phật đâu dễ, mà ngài nói thôi để ngài xuống ngài biên luận đối chiếu với những Thiền và Thiền sư phương Nam. Để đi cách ngài gánh một gánh kinh theo, mang kinh theo để nói đâu là dở sách ra chuyện đó. Lúc đó một lần ngài gặp bà già bán bánh. Ngài hỏi mua bánh ăn buổi sáng để điểm tâm.
[1:13:45]Cái bà già mới nói bây giờ tôi hỏi thầy một câu. Thầy mà trả lời được á thì tôi cúng dường bánh cho ăn, còn trả lời không được á thì xin không cho mà mua cũng không bán. Thầy đồng ý. Thì bà mới hỏi. Đó bà nói ổng nói là ổng thường giảng kinh Kim Cang thì bà lấy ngay câu kinh Kim Cang bà hỏi. Trong kinh Kim Cang nói rằng, phải không? Cái tâm quá khứ không có thật, tâm hiện tại không có thật, tâm vị lai không có thật. Vậy ngài mua bánh ngài điểm tâm nào? Ổng ngồi trên chữ rồi ổng vừa hỏi ổng bí, ổng chuyên giảng kinh Kim Cang mà lôi đúng câu kinh Kim Cang hỏi vào trong cuộc sống thực, bí. Thôi vậy thôi chịu bao nhịn, quảy gánh qua đi tiếp,
[1:14:32]ngài gánh gánh kinh lên ngài không đi tiếp. Nhưng từ đó trong lòng ngài có một cái hoài nghi. Ngài mới cảm thấy giữa một cái rừng lý thuyết mà ngài đã học được khi mà đụng vào cuộc sống tự nhiên bế tắc giải quyết không ra. Chúng ta thấy cái trí không có. Chứ còn có trí là trả lời, nhưng bà già đó là ai? Bà già không tên không tuổi gì trong sách sử hết mà dí một cái ông pháp sư bí liền, bà già đó là ai, ai
[1:14:59]biết? Ai? Đó? Chắc là Quan Âm? Cũng đúng thôi. Cũng đúng thôi. Cũng đúng thôi chứ không phải không đâu. Vì chúng ta thấy chúng ta đừng nghĩ là những vị Bồ Tát buông bỏ chúng sinh. Các ngài tùy duyên các ngài hiện ra làm việc mình không ngờ đâu. Thấy không? Như cái bà già đặc biệt rất trí tuệ, thì hiện làm bà già bán bánh để cho ngài đừng có kiêu mạn ở nơi cái học của mình. Từ cái bí này rồi ngài mới bắt đầu thao thức đi tìm một cái gì đó cao hơn. Thì giữa cái trần gian này Bồ Tát thị hiện mình không lường được, nên các quý phật tử coi chừng cái bà già ngồi bên cạnh mình á, coi chừng có bà Bồ Tát mấy người dòm lại coi phải không nha.
[1:15:49]Thì sau đó cái ngài mới nghe danh là có Thiền sư Long Đàm ở Long Đàm, ngài mới đến mà ngài mới bắt đầu ngài cũng trổ mòi, ngài nói nghe danh Long Đàm là cái đầm rồng á, đến đây sao đầm không có mà rồng cũng không hiện. Ngài Long Đàm nói vậy là ngươi gần đến được Long Đàm. Tức là biết hỏi được cái câu mà nó không còn kẹt trên sách vở nữa thì cũng bắt đầu khá rồi đó. Tại vì bị bà già quất một cú rồi, hỏi một câu ngoài cái ngôn ngữ ngoài cái điển, thấy không? Hôm nay ngài bắt đầu ngài tiến bộ ngài cũng bắt đầu hỏi một câu ngoài kinh điển. Nghe danh là Long Đàm, nghe không? Đến đây thì tằm không có mà rồng cũng không thấy.
[1:16:28]Ngài Long Đàm nói vậy là đến gần được Long Đàm. Tức là biết buông bớt sách vở của mình khá rồi đó. Thì ngài thường hay đến thăm vấn với ngài Long Đàm. Một đêm đó ngài đến thăm vấn, xong cái ngài đi về. Thì tối rồi ngài đi về, ngài bước ra trời tối quá, ngài mới nói: "Trời bên ngoài tối quá." Cái ngài Long Đàm mới kêu thị giả kêu đưa cái đưa cái đèn, cái ngài cầm đến cái đèn, đưa cái đèn vô, thắp bấc tim nhang vậy á, đèn cầy thắp, thì ngài vừa mới giơ tay đón lấy cái đèn đó, ngài Long Đàm ngài thổi một cái tắt cái đèn liền. Ngay tức khắc đó là Đức Sơn ngộ đạo, bừng ngộ lên liền. Bởi cái thủ cái thủ thuật của các Thiền sư đặc biệt, thì bừng ngộ liền.
[1:17:15]Ngài mới nói thật, từ đây không dám nghi lời của các Hòa thượng, các thiên hạ nói đến kiến tánh thành Phật nữa. Ngay nơi chớp nhoáng mà đốn ngộ một cái đạt được sự thanh tịnh, an vui liền, đúng. Chữ "thành Phật" này mình đừng có nghĩ là thành Phật ngồi tòa sen, tức là tâm mình được an vui, tự tại liền trong cái giây phút đốn ngộ đó. Trong chớp mắt bừng ngộ đó là mình trở thành một con người khác hẳn. Thấy không? Chúng ta thấy rằng ngài Long Đàm ngài khai ngộ cho ngài Đức Sơn không bằng cái ngôn ngữ mà chỉ bằng thổi tắt cái đèn ở trong kia ngộ đạo liền. Cái đó mình giải thích nổi không? Rất khó nổi.
[1:17:58]Trừ trường hợp người nào có tu thiền, có kinh nghiệm thì mới hiểu được cái chiều sâu của cái thổi tắt cái đèn, còn không là hiểu không nổi.
[1:18:09]Cho nên cái rồi trong đời sống chúng ta cũng vậy. Bình thường á thì ừm là cả trong đời sống thì quá nhiều việc cùng lúc thì mình thấy cái cách giải quyết, nhưng mà khi giải thoát nhiều khi không nhớ để mà kể ra làm ví dụ cho quý phật tử nghe. Nhưng mà quý phật tử cứ hiểu thế này, khi tâm mình thanh tịnh á, mình đụng chuyện tự nhiên mình có cái hướng giải quyết rất là sáng suốt mà chưa từng học qua ai. Trong cái tâm thanh tịnh mình hiểu được phải ở chỗ nào, trái ở chỗ nào, trước làm sao, sau này sẽ làm sao, tự nhiên nó rất sáng, bén để tìm ra giải pháp. Rất là hay, ha. Mà cái đó Phật gọi đó là trí tuệ vô biên vô lượng
[1:18:54]của mọi chúng sinh khi mà tâm đã đã thanh tịnh.
[1:19:05]Các vị Bồ Tát đó khi mà từ đất vọt lên đầy hết bầu trời, mới đi quanh bên Phật ba vòng để lễ Phật, khen ngợi Phật. Hình ảnh này tượng trưng cho điều gì, ai biết?
[1:19:28]Đức Phật ngồi bất động ở giữa, vô số Bồ Tát bay quanh.
[1:19:48]Tượng trưng cho gì?
[1:19:52]Phật ngồi bất động ở giữa, vô số Bồ Tát đi đi quanh đi quanh.
[1:20:04]Cụ chắp tay xá đứng lên đi không nói tiếng nào. Câu trả lời rất hay á. Trả lời như Thiền sư chứ không chơi
[1:20:22]đâu. Tới chừng hỏi kỹ lại mệt quá mỏi quá tôi đi.
[1:20:31]Tượng trưng cho là cái Dụng á, tức là bao nhiêu cái trí tuệ nó không có rời cái cái Thể an định của tâm. Dù người ta có sáng tạo vô biên, vô số giáo pháp, ứng thành bao nhiêu tu hạnh không bao giờ rời cái tâm an định. Tức là Bồ Tát vây quanh Phật, nhớ nha. Làm gì làm mà tâm mình động thì cái đó không phải là cái Dụng nữa, mà cái đó là cái cái vô minh, cái phiền não. Còn mình làm mọi chuyện mà tâm luôn thanh tịnh thì cái đó là đặt trong Trí á, trong Trí.
[1:21:05]Trí luôn luôn phải dựa vào cái Thể, cái Huệ luôn không có rời cái Định. Nghe nói tới cái trí tuệ, chúng ta nhớ tới một cái câu thơ của Goethe, nhà thơ Goethe của Đức cũng nổi tiếng. Ông nói rằng, ông nói câu này rất gần gũi với đạo Phật.
[1:21:26]Chúng ta nghe là rất là hay. Một nhà thơ Đức ha. Trí tuệ trưởng thành trong tĩnh lặng và được rèn luyện trong bão táp.
[1:21:38]Hai câu thơ của Goethe: Trí tuệ được trưởng thành trong tĩnh lặng và được rèn luyện trong bão táp. Nghĩa là gì? Giống đạo Phật không? Rất giống ha.
[1:21:58]Trí tuệ trưởng thành trong tĩnh lặng, nghĩa là khi mà tâm mình thanh tịnh á thì trí tuệ sẽ lớn dần, lớn dần. Nhưng mà được rèn luyện củng cố, xác định thì phải trong trong đau khổ, trong nghịch cảnh, trong khó khăn, trong bão táp. Là khi gặp những cảnh khó khăn gì đó thì mình dùng cái tâm thanh tịnh đó để giải quyết vấn đề, thì đó là mình củng cố cái cái trí tuệ của mình. Trí tuệ trưởng thành trong tĩnh lặng và rèn luyện trong bão táp, cũng rất là hay. Cho nên khi mà có những cái khó khăn đến với chúng ta, thì chúng ta nghĩ lúc đó là lúc gì?
[1:22:40]Lúc đó là lúc gì? Đúng, lúc đó là lúc mình được rèn luyện trí tuệ. Mình đừng có lui bước, đừng quay lưng, đừng chán nản. Còn lúc mà không có cái nghịch cảnh tới thì mình phải làm sao?
[1:22:58]Phải làm sao? Giữ tâm mình cho thanh tịnh để cho trí tuệ được trưởng trưởng thành, vì trưởng thành trong tĩnh lặng. Từ lúc các vị Bồ Tát đó từ dưới đất vọt lên dùng các cách ngợi khen Bồ Tát mà khen Đức Phật thời gian đó trải qua 50 tiểu kiếp.
[1:23:24]Bấy giờ, Đức Thích Ca Mâu Ni Phật nín lặng ngồi yên cùng hàng tứ chúng cũng đều nín lặng 50 tiểu kiếp. Vì do sức thần của Phật khiến hàng đại chúng cho là như nửa ngày. 50 tiểu kiếp là thời gian rất lâu xa, thời gian mà thái dương hệ này cũng hoại luôn chứ đừng nói Trái Đất mình. Nhưng mà Phật nói rằng cái thời gian mà chư Bồ Tát lên hiện 50 tiểu kiếp như vậy là có quá cái thời gian này không? Quá! Vì thời tiền Tây, từ đó tới đây mới 2.000 năm, 2.500 năm, mà một tiểu kiếp là nó mấy chục ngàn năm,
[1:23:59]một tiểu kiếp có khi cả triệu năm, mà tới 50 tiểu kiếp thì quá thời gian này. Thì như vậy cái khái niệm thời gian trong kinh này nghĩa là gì? Ai biết? Cái chỗ này rất là sâu xa, vi diệu của Phật pháp nè, rất là đặc biệt.
[1:24:34]Có ý nghĩa rằng cái thời gian chỉ là tương đối, không thật. Dài ngắn là chỉ tương đối mà thôi, không có thật. Điều này bây giờ đúng không? Đúng không? Bây giờ được khoa học công nhận là đúng. Chứ thời xưa mình mà nghe cái đoạn này là không chấp nhận nổi. Ba năm là ba năm, chứ sao ba năm mà coi như một ngày được? Nhưng mà bây giờ thì bắt đầu người ta chấp nhận, tại vì nhà bác học Einstein đã nói đến tính cách tương đối của thời gian. Ở một môi trường khác mình sẽ thấy thời gian nó khác, không giống với mình nữa, không giống với mình nữa. Ví dụ: người trên cõi Trời sống một ngày, mình ở đây bằng cả trăm năm, ví dụ vậy.
[1:25:19]Thì đây là điều bắt đầu có thật trong cuộc đời, mà nhà bác học Einstein dệt câu chuyện ví dỏm, viễn tưởng thôi nhưng mà minh họa cái ý thuyết này. Ví dụ như con người đem lên hai anh em sinh đôi ha, một người A, người B. Người B thì ở lại Trái Đất, còn người A bước lên một tàu vũ trụ đi du hành trong vũ trụ với vận tốc cực kỳ cao bằng vận tốc ánh sáng thì ổng đi. Ổng đi 15 năm trở về. Khi tới sau 15 năm trở về đậu lên Trái Đất, thì cái người em của mình, người B đứng ra, người em sinh đôi mình bắt đầu già, râu ria, bồng con, bồng cháu... Đêm nay trên trời cao, lấp lánh muôn vì sao. Cho nơi nơi mừng vui, rước lễ Thích Ca thành đạo.
[1:26:17]Em theo mẹ lên chùa, tay ôm bó hoa thật to. Xin dâng lên Đức Phật, bao nỗi kính yêu vô bờ. Khi xưa nơi hoàng cung, thấy biết bao lầm than. Nên trong đêm một hôm, Thái tử quyết xa ngai vàng. Năm qua năm âm thầm, tìm phương thuốc cho trần gian. Khi sao mai đọng tàn, soi chiếu ánh quang đạo vàng. Em nghe lại chuyện xưa tích xưa. Ôi thời gian như lắng đi tự bao giờ! Cho em lùi về ngàn năm trước, dâng bó hoa lên Đức Phật mãi tôn thờ.
[1:27:20]Bao nhiêu lời tạ ơn tán dương. Tâm từ bi công đức chư Phật vô lượng. Em xin được làm hoa sen trắng, thơm ngát hương dâng cúng dường đấng Vô Thượng.
[1:27:45]Đêm nay trong chùa em, tiếng hát vui triền miên. Cho nơi nơi bừng lên, ánh sáng của muôn ngọn đèn. Hương thơm hoa muôn màu, còn tươi đến muôn đời sau. Luôn trang nghiêm cõi trần,
[1:28:10]nơi Đức Thích
[1:28:24]Ca thành đạo. Em nghe lại chuyện xưa tích xưa.
[1:28:43]Ôi thời gian như lắng đi tự bao giờ! Cho em lùi về ngàn năm trước, dâng bó hoa lên Đức Phật mãi tôn thờ.
[1:29:00]Bao nhiêu lời tạ ơn tán dương. Tâm từ bi công đức chư Phật vô lượng. Em xin được làm hoa sen trắng, thơm ngát hương dâng cúng dường đấng Vô Thượng.
[1:29:26]Đêm nay trong chùa em, tiếng hát vui triền miên. Cho nơi nơi bừng lên, ánh sáng của muôn ngọn đèn. Hương thơm hoa muôn màu, còn tươi đến muôn đời sau. Luôn trang nghiêm cõi trần, nơi Đức Thích Ca thành đạo. Như cơn mưa nhẹ rơi, thấm ướt muôn ngàn nơi. Cho cây xanh đẹp tươi, dưới ánh nắng tia mặt trời. Giáo lý đấng cao vời, vọng vang pháp âm ngàn nơi. Đem an vui cho người, cho khắp chúng sanh trên đời. Đem an vui cho người, cho khắp chúng sanh trên đời.